Fwd: ĐIỂM TIN DIỄN ĐÀN 14-04-2021

15 views
Skip to first unread message

Giu Tran

unread,
Apr 14, 2021, 1:36:26 PM4/14/21
to


---------- Forwarded message ---------
From: TNS <thucsoa...@yahoo.ca>
Date: Wed, Apr 14, 2021 at 7:14 AM
Subject: ĐIỂM TIN DIỄN ĐÀN 14-04-2021
To:






GOOD MORNING VIET NAM


Image insérée
 







ĐIỂM TIN DIỄN ĐÀN 14-04-2021

  MỤC LỤC

1.       Đại tá Lê Cầu đã KHÔNG “Tự sát ngày 10/3/1975” (Hàn Giang Trần Lệ Tuyền)
2.       NHA TRANG XUỐNG CHỤT BAO XA…
3.       Trôi Dạt Về Đâu
4.       Có một đất nước buộc phải mua đàn ông ở nước ngoài
5.       Tấm Bia Thờ 626 Người Tù Chính Trị
6.       Phóng sự ngắn về cuộc sống dân thiểu số cao nguyên bên Tầu.
7.       Boat People, Thảm Kịch Trên Biển Cả
8.       CON SỐ KINH HOÀNG
9.       GÁC CHÂN NHÌN ĐỐI THỦ
10.    VÀI PHƯƠNG PHÁP TỰ VỆ "CHỐNG KỲ THỊ DA VÀNG"
11.    Đi b ch 20 phút có tác dng gì? Bn s bt ng
12.    QUÊ HƯƠNG VIỆT NAM - VIỄN CẢNH TÀN ÁC & NGHIỆT NGÃ GIÁNG XUỐNG QUÂN DÂN CÁN CHÍNH VNCH SAU NGÀY QUỐC HẬN 30.4.1975
13.    Bây giờ là Mùa Thu, tôi đi tìm dĩ vãng
14.    Cuộc Di Tản Của Không Quân VNCH
15.    Thằng Khùng (Thanh Ngang Trên Thập Tự Giá)
16.   
Tìm dấu chân trên cát !




Đại tá Lê Cầu đã KHÔNG “Tự sát ngày 10/3/1975” (Hàn Giang Trần Lệ Tuyền)

 

http://hon-viet.co.uk/HanGiangTranLeTuyen_DaiTaLeCauKhongCoTuSat.htm





NHA TRANG XUỐNG CHỤT BAO XA…


Du khách đến Nha Trang, có dịp đi thăm Biệt thự Cầu Đá (còn gọi là Lầu Bảo Đại), Viện Nghiên cứu Biển hay Hồ cá Trí Nguyên đều phải qua Chụt, một xóm biển nằm cuối đường Trần Phú nối dài, nổi tiếng với những cửa hàng lâu đời bán đồ mỹ nghệ vỏ hải sản và cả món ăn dân dã bánh canh chả cá.

 

 

Nhưng Chụt nghĩa là gì ? Tại sao gọi là xóm Chụt ? Khi có người tò mò hỏi như vậy thì hầu như dân địa phương đều trả lời: Chụt là do tiếng Pháp mà ra. Người Pháp viết Chutt, mình đọc là Chụt. Có đúng vậy không?

Thời Pháp thuộc, khi chính quyền thực dân tráng nhựa con đường ven bờ biển từ Tòa Sứ chạy thẳng xuống Cầu Đá (lúc đó có tên là Avenue de la Plage), họ đã đặt trụ cây số và khắc lên đó chữ CHUTT. Theo đó, các hàng quán nằm hai bên đường xóm Chụt có lẽ muốn Tây hóa nên đều ghi địa chỉ trên bảng hiệu là Chutt. Và chữ Chutt dần dần ăn sâu trong cách viết, cách nói của người địa phương, cho tới bây giờ, nhiều người vẫn tin chắc đó là tiếng Pháp.

Thực ra, trong tiếng Pháp không có từ Chutt mà chỉ có Chut - một thán từ có nghĩa là “im, làm thinh”, hoặc từ Chute nghĩa là “rơi, rớt, sụp đổ”...

Vậy CHUTT, theo chúng tôi, chỉ là cách người Pháp ghi âm tiếng Chụt, một từ thuần Việt có mặt đàng hoàng trong tự điển.

Sách “Đại Nam Quấc Âm Tự Vị ” của Huình Tịnh Paulus Của xuất bản tại Sài Gòn năm 1895, một trong những quyển tự điển cổ về tiếng Việt Nam bộ, giải thích như sau:

- Chụt: vũng nhỏ ở dựa gành có thể cho ghe thuyền núp gió.

Lại còn ghi rõ địa danh “Chụt Nha Trang” là “Chỗ núp gió ở tại Nha Trang về tỉnh Khánh Hòa” (1).

Trong một bài vè kể lại thủy trình từ Huế vô Sài Gòn của dân ghe bầu - tức dân đi buôn bằng ghe thuyền trên biển ngày xưa - có đoạn:

“Nha Trang xuống Chụt bao xa

Kẻ vô mua đệm, người ra mua chằng

Anh em mừng rỡ lăng xăng

Người hỏi thăm vào, kẻ hỏi thăm ra

Anh em chè rượu hỉ ha ...” (2)

Sách “Đại Nam nhất thống chí ” (ĐNNTC) - quyển XI: tỉnh Khánh Hòa, bản in đời Tự Đức - khi viết về “Tấn Cửa Bé Cù Huân” cũng chép như sau: “Hòn Lam Nguyên có dân cư, phố xá liên tiếp nhau, gần đó là thôn Trường Tây, tục gọi là phố Đột, lưng tựa vào núi, mặt trông ra biển, mùa thu mùa đông gió to tung cát không thể ở được, phải dời đến hòn Lam Nguyên, đến mùa xuân mùa hạ lại trở về.” (3)

Trong đoạn văn trên, có mấy chi tiết đáng chú ý:

- Hòn Lam Nguyên - sách ĐNNTC bản in đời Duy Tân lại chép là Bồng Nguyên (ở đây có thể có nhầm lẫm trong khi sao chép, vì chữ Lam và chữ Bồng trong Hán tự có tự dạng rất giống nhau) - chính là đảo Trí Nguyên hiện nay, một làng đảo thuộc phường Vĩnh Nguyên, T.P Nha Trang, chỉ cách Cảng Cầu Đá khoảng vài mươi phút đi đò. Đa số người dân sống trên đảo đều là bà con, dòng họ với dân xóm Chụt.

- Trong nguyên tác chữ Hán, ĐNNTC chép tục danh của thôn Trường Tây là “Đột phố”, bản tiếng Việt của NXB Khoa học xã hội phiên là “phố Đột”. Ở Nha Trang không có địa danh nào gọi là phố Đột. Theo chúng tôi, đúng ra từ này phải phiên là “cửa Chụt” hoặc “bến Chụt”. Từ “phố” trong tiếng Hán cổ có nghĩa là cửa biển hoặc bến cảng (ví dụ cảng thị Hội An xưa kia có tên là Hoài Phố). Còn “đột”, thật ra là cách ký mã Hán-Việt của âm Nôm “Chụt”.

Qua đó, có thể rút ra một số nhận xét như sau:

- Chụt là một địa danh thuần Việt đã có trước khi người Pháp đặt chân tới Nha Trang.

 

 

- Xóm Chụt là tục danh của làng Trường Tây - trước đây thuộc xã Vĩnh Nguyên, huyện Vĩnh Xương, phủ Diên Khánh, nay là khóm dân cư Tây Hải thuộc phường Vĩnh Nguyên, T.P Nha Trang. Xưa kia cuộc sống, sinh hoạt ở Chụt diễn ra khá xô bồ, tấp nập. Dân ghe bầu từ Nam ra Bắc hoặc từ Bắc vô Nam đều ghé Chụt. Họ mừng rỡ gặp nhau, chén thù chén tạc vui vẻ, trao đổi tin tức, tình hình mua bán. Họ cũng không quên mua lá buông để kết đệm buồm và song mây để chằng cột buồm - hai loại lâm đặc sản của rừng núi Khánh Hòa hồi đó được bày bán rất nhiều ở Chụt.

CHÚ THÍCH:

(1) Huình Tịnh Paulus Của, Đại Nam Quấc Âm Tự Vị, bản in lại của nhà sách Khai Trí Sài Gòn, tr. 172.

(2) Bửu Cầm, Hải môn ca, Văn hóa nguyệt san, tập XIII quyển 9, Sài Gòn 1964.

(3) Đại Nam nhất thống chí, tập III, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1971, tr. 106.

(4) Một trường hợp tương tự: địa danh “Lư Cấm” ở phường Ngọc Hiệp, TP. Nha Trang thật ra chỉ là cách ký mã Hán Việt của “Lò Gốm” (vùng này vốn có nghề làm gốm lâu đời) chứ không có nghĩa là cái “lư cắm nhang” như một số người đã giải thích!

Nguyễn Man Nhiên





Trôi Dạt Về Đâu

Nguyễn Hoàng Hôn

 

Nếu bây giờ có ai hỏi tôi: “Có phải bạn là một thuyền nhân Việt Nam tị nạn vượt biển không?”, chắc chắn tôi sẽ trả lời người đó là: “Không! Tôi không phải!!!”.

Cái quá khứ hãi hùng năm xưa dù nhiều lần tôi chối bỏ, muốn quên đi, vẫn thỉnh thoảng trở lại trong tôi, qua những cơn ác mộng mà khi tỉnh dậy, đã làm cho tôi ú ớ kinh sợ, với mồ hôi toát ra ướt đẫm cả thân người.

Không bao giờ tôi có thể quên được ngày thứ ba hôm đó, trời âm u với những cơn mưa như trút nước. Tôi cùng Duy tay trong tay với niềm chan chứa hy vọng sẽ được con tầu bé nhỏ mong manh, do cha mẹ chúng tôi gửi gấm, mang hai đứa con thân yêu đi tìm tự do, đến được một bến bờ nào đó, an toàn gửi một bức điện thư về báo tin mừng.

Duy hơn tôi ba tuổi, năm đó Duy hai mươi, tôi mười bảy “tuổi bẻ gãy sừng trâu”. Không biết ai đã nói câu đó, nhưng với tôi thì tôi chỉ là một cô bé yếu đuối.
Duy chăm sóc cho tôi từng ly từng tí. Chúng tôi là bạn cùng xóm, ba mẹ chúng tôi đã có lời đính ước cho hai đứa khi mẹ tôi sinh ra tôi. Chúng tôi lại hợp nhau, chơi với nhau từ nhỏ.
Khi tôi gần xong trung học thì Duy đã đi dậy học thêm ở một trường Trung Học, và đang là sinh viên năm thứ hai của Đại Học Luật Khoa.

Vì tương lai của hai đứa, ba mẹ chúng tôi đành phải gạt nước mắt cho chúng tôi ra nước ngoài, sau khi tổ chức lễ đính ước thật vội vàng cho chúng tôi.
Chuyến đi lúc đầu thì trót lọt, nhưng càng lúc càng thấy rối rắm, khó khăn. Trước hết là máy tầu bị quấn lưới không quay cánh quạt được. Phải sửa hết gần nửa ngày với hai người thi nhau lặn xuống dưới nước để tháo gỡ những sợi dây chằng chịt dính trong đó.

Đi thêm ba ngày nữa, khám phá ra mấy thùng nước ngọt dự trữ không hiểu sao ai đó vặn lỏng nút đậy, nước chảy hết ra ngoài. Thế là người ta không còn nước uống! Khỏi nói thì ai cũng lo âu, chỉ biết chắp tay cầu Trời khấn Phật ra tay tế độ.

Trên tầu có hơn bốn mươi người, khủng hoảng đã xảy ra khi ba ngày sau có đứa con gái của bà kia rú lên những tiếng kinh dị vì khát quá.
Tinh thần mọi người lúc đó bất an, bị tiếng hét của cô gái đó càng làm cho bấn loạn thêm. Duy ôm tôi thật chặt trong tay.
Dù sao tụi tôi cũng còn vài trái chanh trong túi xách có thể cầm cự được vài ngày, nhưng đây là một điều nguy hiểm, vì nếu có ai thấy, họ dám giết chúng tôi để cướp mấy trái chanh như chơi!
Chắc cũng có một số người trên tầu có giấu đồ ăn riêng như chúng tôi, nhưng ai dại gì chia sẻ lúc này. Biết tình hình ngày mai sẽ ra sao?

Không ai dám ăn nhiều, vì ăn vào thì khát nước. Thức ăn thì cũng sắp cạn vì chỉ chuẩn bị chuyến đi có hai tuần. Người ta cầm cự bằng cách ăn cam, ăn chanh, ăn bưởi.
Thuyền của chúng tôi gặp rất nhiều tầu lớn nhưng những tầu đó, cuối cùng đều chạy rất xa.
Vài ngày sau nữa, ai nấy đều lừ đừ. Bây giờ thì vừa đói vừa khát. Mẹ của cô gái hét ngày hôm qua đã phải cắt tay nhỏ máu vào miệng cho cô đỡ khát.
Một vài người cũng bắt chước cắt máu nhỏ vào miệng cho con mình.

Người ta cầu trời cho mưa xuống. Mưa mà xuống lúc này thì đỡ lắm vì chủ tầu đã chuẩn bị mấy tấm ván hứng nước mưa dự trữ. Nhưng mưa chưa xuống dù bầu trời đen nghịt!
Ngồi cạnh tôi, một ông bố ôm đứa con gái nhỏ lên bảy với khuôn mặt hốt hoảng thống khổ. Con bé đã nhắm nghiền hai con mắt mệt lả vì thiếu nước uống, nói mê sảng: “Bố ơi con chết bố đừng ăn thịt con nghe bố.” Không biết cô bé đã nghe những điều này từ đâu, có thể từ những chiếc thuyền vượt biên khác đã xảy ra thảm trạng đau lòng này.

Tôi run lên từng cơn, không phải vì lạnh mà vì đói! Đói mà chỉ có vài giọt chanh vào miệng càng xót ruột hơn!
Duy thì chịu đói giỏi hơn tôi. Duy ôm tôi thật chặt trong hai tay, cố xốc cho tôi ngồi tựa vào người Duy để tỉnh táo hơn.
Duy sợ tôi ngủ. Ngủ rồi không thức dậy là điều mà Duy sợ lắm!
Người đàn ông nấc lên từng hồi. Ông xoay qua Duy rồi bất chợt chấp tay vái Duy mấy cái:
– Tôi lạy cậu. Cậu làm ơn cho tôi xin một ít nước tiểu tôi cho con tôi uống không cháu chết mất.

Duy lúng túng nhìn ông… mấy ngày rồi, có được giọt nước nào vào bụng đâu rồi làm sao mà đái! Tôi thều thào: “Ráng thử đi Duy”. Duy xoay qua một bên, cầm cái ly cúi xuống, một lát Duy quay ra, lắc đầu: “Anh không thể làm được” người đàn ông thất vọng. Ông nói to hơn, xin những cậu con trai trên thuyền. Chẳng có nước đái mà cho. Ông khóc mà khuôn mặt mếu máo, không một giọt nước mắt nào chảy ra.

Tôi chỉ còn một nửa trái chanh cuối cùng, nửa trái chanh đã vắt nước gần hết. Nếu tôi cho cô bé vài giọt thì cũng tốt, dù không biết có cứu sống được cô bé không! Rất mệt nhọc, tôi bỏ tay vào túi thì chiếc thuyền lắc nhẹ, càng lúc càng mạnh hơn. Một người ở trên lái la to:
– Có tầu.

Mọi người vui mừng như muốn đứng hết dậy để nhìn, dù sức khoẻ họ không cho phép. Lát sau, một ca-nô chạy lại gần thuyền chúng tôi. Đó là một chiếc tầu của nước Nga. Khi biết chúng tôi cần thức ăn, nước uống, họ tiếp tế cho những thứ chúng tôi cần sau đó họ đi thẳng, mặc cho lời van xin cầu cứu của những người trên thuyền.

Ngày hôm sau, ai nấy đều có vẻ khoẻ hơn vì được ăn cháo, uống nước từ tối hôm qua cho đến sáng. Tôi cũng đỡ hơn nhưng còn rất mệt, dù vậy tôi cũng cố ngồi lên để đón những ngọn gió biển mát mẻ giữa đại dương xanh thẳm không biết đâu là bến bờ.

Chủ ghe cho biết:” Còn vài ngày nữa là đến Mã Lai, tương lai của chúng ta có mòi tươi sáng rồi bà con ơi.”
Ai nấy đều phấn khởi trong lòng. Hai bố con ngồi cạnh tôi thì da mặt cô bé đã có vẻ tươi hơn một chút. Cô gái có tiếng hét lanh lảnh ở góc kia bây giờ ngu ngơ cười một mình. Hình như có cái gì không ổn trong đầu cô rồi!
Còn bao nhiêu người trong kia mà tôi không biết mặt. Cả tôi và Duy nữa. Tội nghiệp cho Duy, cái gì cũng nhịn cho tôi mà không than thở một lời nào.

Nhìn Duy đang ngủ ngon lành tôi chợt thấy thương Duy hết sức. Mới có hơn hai tuần mà Duy ốm hẳn đi. Không chỉ mình Duy, tất cả mọi người trên thuyền hình như ai nấy đều hốc hác thấy rõ.

Qua một đêm bình yên, giờ thì mọi người gần như lại sức. Nắng rực rỡ lên cao. Tôi ngước mắt tìm cho ra một cánh chim. Không có. Bầu trời xanh ở phía trên, ở dưới nước cũng xanh. Người ta nói có thấy chim thì mới mong tới gần đất bằng…. Chừng nào chúng tôi mới đến được đất bằng thì chủ ghe lại reo lên:
– Có tầu.
Mọi người vui mừng sắp được cứu rồi. Duy ôm tôi:
– Mình sắp đến bờ tự do rồi Hoàng ơi.
Chúng tôi ngóng về chiếc tầu. Nhưng tôi thấy ông chủ ghe biến sắc, ông xua vợ con xuống hầm:
– Thuyền hải tặc, tụi nó có súng…. Đi xuống mau. Trét đồ dơ lên người.
Rồi ông xoay qua chúng tôi:
– Coi chừng thuyền hải tặc đó bà con ơi !!!

Người ta nhốn nháo lên. Ai nấy mặt mũi tái nhợt, người thì lo cất giấu nữ trang vàng bạc, kẻ thì la lối phải đối phó làm sao.
Duy kéo tôi đến bên nồi cơm trên bếp, lấy lọ nồi trét tùm lum trên tay, lên mặt tôi rồi chà lan trên da một cách vội vã, Duy thì thầm:
– Hoàng làm bộ bịnh nặng nghe không… nằm úp mặt xuống đừng cho tụi nó thấy.
Vài cô gái trên tầu cũng được cha mẹ làm y như Duy lo cho tôi. Mọi người run rẩy chờ đợi tai họa tiến đến.

Chiếc tầu lớn cặp sát ghe của chúng tôi. Mấy thằng hải tặc thật kinh dị, khuôn mặt chúng bóng lẫy và đen thui, đứa nào đứa nấy bắp thịt cuồn cuộn rất khoẻ mạnh, như những con trâu nước! Chúng nhẩy sang ghe tị nạn, tay lăm lăm khẩu súng.
Đàn ông bị lùa ra sau, đàn bà con nít một góc, con gái một góc. Mấy cô gái cỡ tôi khóc như ri…

Đợt đầu chúng thu nhặt tất cả tiền bạc vòng vàng, sau khi khám xét thật kỹ trên từng thân thể con người. Có thằng mất dạy vừa khám vừa bóp mông ngực con gái mấy bà rồi cười hô hố khiến ai nấy bất mãn ra mặt mà không dám nói.

Tôi giả bộ đau cũng bị một tên lôi dậy. Tên này có lẽ là Chúa đảng nên thấy hắn hay ra lệnh cho tụi kia. Hắn bắt tôi đứng thẳng trước mặt hắn rồi đưa tay kéo áo tôi xuống. Bộ ngực thanh tân của tôi hiện ra, tôi xấu hổ lấy tay ghì chiếc áo lại thì hắn chĩa súng vào đầu tôi.
Phía sau tôi, mấy cô gái trên tầu cũng bị bắt cởi truồng tồng ngồng đứng đó không mảnh vải che thân.
Gia đình và những bà mẹ các cô khóc lóc van xin, những tên cướp mặt lạnh như tiền!

Mấy tên khốn nạn này nếu tôi đoán không lầm thì chúng bắt chúng tôi thoát y để lựa cô nào ưng ý nhất bắt đem theo đây mà.
Không, tôi không thể để cho hắn làm nhục như thế này được. Tôi cảm thấy tức tối khi bị súc phạm. Tại sao mấy cô kia lại im chịu cho hắn làm nhục chứ.
Khi hắn đưa khẩu súng hạ xuống để hất cái quần tôi đang mặc, thì tôi nhào vô người hắn đánh đấm lung tung, cùng một lúc Duy ở phía cuối ghe cũng chạy xông vào cứu tôi.

Mấy tên trong bọn nhảy vào trận. Duy bị một tên quất một báng súng ngay đầu, Duy gục xuống còn bị bọn chúng đánh đập tàn nhẫn trong lúc tôi hét lên đau đớn “Trời ơi! Duy. Duy..” Sau cùng bọn cướp vất xác Duy xuống biển.
Lần cuối cùng tôi nhìn thấy Duy là thân xác chàng máu me cùng khắp, bồng bềnh trên mặt biển từ từ trôi xa.

Tôi gào lên muốn giết hết bọn chúng. Nhưng tôi không phải là “17 bẻ gãy sừng trâu.” Bọn chúng lại có súng và đông quá! Chúng đè tôi xuống lột quần tôi ra dù tôi phản ứng dữ dội.
Có tên giận quá vung tay tính đánh vào mặt tôi, trả thù khi tôi cắn vào tay hắn thì tên Chúa đảng ngăn lại.
Bọn chúng nói với nhau bằng thứ tiếng gì tôi không hiểu, sau cùng hắn trói tôi lại bằng sợi dây dù mà chúng mang theo từ tầu của chúng qua.

Nước mắt tôi chảy dài khi nghĩ đến Duy, chàng còn sống hay đã chết. Làm sao chàng sống nổi với trận đòn chí tử của bọn khốn nạn này.
Lúc đó bọn cướp vẫn tiếp tục lôi những cô gái trên ghe ra đọa đầy. Có đứa bé mới chỉ 12 cũng bị hành hạ tận tình. Nước mắt tôi biến thành một lòng căm giận và tôi như hóa đá!

Sau đó, mười mấy đứa con gái bị bắt qua tầu bọn cướp. Trước khi rời thuyền tị nạn, bọn chúng còn đục thủng vài lỗ cho nước tràn vào, với những trận cười ha hả trước khi quay thuyền đi.
Những ngày lênh đênh theo bọn cướp trên thuyền, không nói gì thì cũng biết chúng tôi là những người mang lại niềm vui thể xác cho bọn chúng! Riêng tôi, tôi được cái may mắn là: “Người tình của Chúa đảng!”

Tên Chúa đảng dù hắn yêu thích tôi, chiều chuộng tôi, nhưng hắn đâu có biết rằng trong thâm tâm tôi thù hắn tận xương tủy.
Tôi nghĩ đến Duy, tôi nghĩ đến con bé 7 tuổi với khuôn mặt thiên thần của nó, tôi nghĩ đến lúc bọn chúng lột quần áo tôi. Niềm căm thù của tôi dâng cao như ngọn sóng thần.

Tôi phải giết bọn chúng nó mới hả giận. Tôi phải trả thù cho dân tộc tôi. Chúng đã ăn cướp, hãm hiếp, còn giết người không gớm tay. Con bé cạnh tôi không biết giờ ra sao??? Phải mất một tháng tôi mới biết cách bắn như thế nào.
Tôi phải nhìn cách tên Chúa đảng lau súng, bỏ đạn vào, lấy đạn ra, lên nòng… tôi biết giờ ăn giấc ngủ của tụi nó. Tôi biết tôi phải làm gì. Và tôi sẽ hành động một mình.
Tôi được tên Chúa đảng cho lên đất Thái Lan chơi vài lần. Tôi biết cách gọi taxi bằng tiếng Thái, học lõm bõm vài câu Thái Lan, quen biết vài người ngoài chợ nhờ mua thứ mình cần.

Thế rồi một ngày phải đến, khi thuyền vừa cập bến đất Thái, tôi mời chúng buổi chiều ghé lại thuyền ăn cơm do tôi đãi.
Chúng vui vẻ trở lại chiều đó. Những cô gái bị bắt cùng với tôi đã bị chúng đem ra những nhà thổ bán. Tôi là người may mắn nhất trong mười cô.

Chuyện phải đến đã đến. Các tên cướp biển đã bị tôi cho thuốc mê nằm ngủ như chết. Tôi định giết chúng bằng khẩu súng có sẵn trên thuyền, nhưng rồi tôi cảm thấy tôi không nên bạo động như thế hại cho đời tôi. Ba má tôi và ba má chàng đang đợi chúng tôi ở quê nhà.
Tôi ra phố, không quên lấy theo những bằng chứng cướp của giết người của bọn chúng. Tôi đi tìm những người Việt Nam sinh sống tại đây kể đầu đuôi câu chuyện và xin giúp đỡ.

Máu chảy ruột mềm, tình đồng hương thắm thiết. Tôi đã được giúp đỡ tận tình, được cả báo chí ngoại quốc phỏng vấn, được qua Mỹ định cư vì là trường hợp đặc biệt, vì ước muốn của tôi là được đến Mỹ.

Bọn cướp đã bị bắt, chúng sẽ phải đền tội “Thiên dung bất gian” tôi rất tin tưởng điều đó. Trong những ngày còn ở Thái Lan, tôi đã tình nguyện đi tìm những người con gái bị hải tặc đem bán cho các động mãi dâm tại Thái.
Cũng không ít con gái Việt Nam trong những nơi này. Tôi cũng đi vào trại tỵ nạn Thái để tìm cho ra những người đi cùng tàu của tôi, hỏi thăm về Duy người yêu quí của đời tôi.

Cuối cùng thì tôi không gặp được ai. Những người đó đã đi về đâu, hay họ xuất trại, hoặc trôi giạt đi một trại tỵ nạn nào khác?
Tôi không biết, tôi hoàn toàn không biết, và không bao giờ tôi muốn nghĩ rằng, con thuyền tỵ nạn nhỏ nhoi, mong manh đi tìm tự do có hai chúng tôi trên đó, chính mắt tôi thấy đã bị bọn cướp đục lỗ cho nước tràn vô, để tầu chìm giữa đại dương, dễ dàng phi tang những tội ác do chúng gây ra mà không ai biết, không hề có một bằng chứng nào để tố cáo.

Bây giờ chỉ còn mình tôi và chín cô gái bị bắt, số phận lẽ ra ở trong nhà thổ làm nô lệ tình dục suốt đời. May mắn được cứu sống, tương lai có thể sẽ được sáng sủa.
Còn tất cả những đồng bào đi chung trên ghe, mục đích tìm hai chữ tự do, trong đó có Duy và tôi, đã biến mất tăm mất tích như truyện đời xưa, như một cơn ác mộng dữ dằn.


Có một đất nước buộc phải mua đàn ông ở nước ngoài

Chênh lệch tỷ lệ sinh dẫn đến thừa nam thiếu nữ như ở Trung Cộng. Nhưng tại Iceland nữ lại gấp đôi nam. Iceland phải “mua” đàn ông ngoại quốc.
Tình hình dân số của Iceland đang gặp khó khăn khi số lượng nữ giới tại đây nhiều gấp đôi nam giới. Để tránh nguy cơ xuất hiện “đảo quốc nữ giới”, 
chính phủ Iceland đã quyết định triển khai chương trình “mua” nam giới nước ngoài.
Cụ thể, bất kỳ nam giới nước ngoài nào đến Iceland để kết hôn với phụ nữ địa phương đều được “tặng” 5.000 euro.
  
Image result for girls in jeans gif

Image result for girl group pictures





Image result for Slip Bikini Girl Groups

Ngoài ra, người đó còn được nhận ngay lập tức quốc tịch Iceland và được cung cấp công ăn việc làm thích hợp. Và nếu muốn, người đó sẽ được 
chính quyền tổ chức giúp một hôn lễ "hoành tráng".
Cụ có thể liên lạc về địa web này ở Ice...@andy.com for more info.
Blush




Ở quốc gia thiếu đàn ông nhất thế giới, phụ nữ chiếm 90% dân số, dù xinh đẹp nhưng vẫn rất lo lắng khi đến tuổi kết hôn


 

Đối với một quốc gia có diện tích nhỏ và dân số tương đối ít, nếu có sự chênh lệch đáng kể về số lượng nam và nữ thì có thể sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của một quốc gia, ví dụ như đất nước Latvia.

Quốc gia này được coi là thiếu nam nhất thế giới, nhưng lại có tỉ lệ nam hơn nữ. Con số này đạt đến mức đáng kinh ngạc 1:10, tức là số phụ nữ chiếm đến 90%, không có gì lạ khi người đẹp Latvia lo lắng khi đến tuổi kết hôn, sau khi nghe sự thật này, nhiều cư dân mạng thậm chí đã kêu gọi các cô gái Latvia hãy đến các nước để lấy chồng!

0z1.jpg

Latvia nằm ở phía bắc châu Âu, giáp biển Baltic về phía tây như Nga và Ukraine, họ cũng vượt trội về chất lượng nhan sắc, nhìn chung đều là những người đẹp chân dài. Các cô gái Latvia cũng rất cởi mở và nhiệt tình.

Chỉ cần bước chân ra đường ở đất nước Latvia, bạn có thể dễ dàng bắt gặp những cô gái chân dài đẹp như hoa hậu, thân hình nóng bỏng. Mỗi năm, có hàng nghìn người tới Latvia du lịch, trong đó có rất nhiều chàng trai ngoại quốc đến đất nước nhỏ xinh này để tìm kiếm một nửa của đời mình.

0z2.jpeg

Đất nước Latvia không chỉ khan hiếm nam, mà ở đây các cô gái cũng thích cân bằng giữa công việc và gia đình. Người Latvia cũng là một trong những quốc gia có trình độ học vấn cao, chính vì vậy nếu chàng trai nước ngoài nào cưới được một cô gái Latvia thì sau này sẽ có quý nhân phù trợ trong công việc và cuộc sống. Họ không cần mua nhà hay xe hơi.

0z3.jpeg

Nguyên nhân sâu xa dẫn đến thực trạng này là do từ thời Chiến tranh thế giới thứ 2, nhiều người đàn ông ở Latvia được gửi đi chiến trường thực hiện nhiệm vụ, chỉ có phụ nữ ở lại. Khi cuộc chiến mở rộng, rất nhiều đàn ông đã tử vong. Cho đến nay, sự chênh lệch này vẫn chưa được cân bằng.

Điều này đã ảnh hưởng trực tiếp tới chuyện hôn nhân đại sự của phụ nữ Latvia. Thực tế, phụ nữ Latvia có ngoại hình đẹp và nhiều tài năng nhưng vì sự chênh lệch giới tính quá lớn mà nhiều cô gái đành ngậm ngùi hạ tiêu chuẩn kiếm chồng của mình xuống để có thể kết hôn.

Đến mức vào năm 2007, chính quyền đất nước Latvia thậm chí đã thông qua luật hôn nhân mới, cho phép một người đàn ông được lấy 10 người vợ. Sau khi đạo luật này được thông qua, nó đã gây ra nhiều tranh cãi trên thế giới. Nhiều người cho rằng, Latvia thật sự là thiên đường của nam giới. Tuy vậy, vẫn rất nhiều cô gái Latvia phải chịu cảnh sống độc thân.

Tỷ lệ chênh lệch giới tính ở Latvia là cao nhất thế giới.

Để giải quyết thực trạng này, những năm gần đây, nhiều trang web hẹn hò và trung tâm mai mối quốc tế đã phát triển mạnh, giúp nhiều phụ nữ Latvia có cơ hội tuyển chồng theo ý muốn hơn.

Bên cạnh đó, cũng có rất nhiều kẻ gian đã lợi dụng dịch vụ này để lừa các cô gái hoặc trẻ em gái, ép họ tham gia vào những cuộc hôn nhân phi pháp. Chính vì vậy, chính quyền Latvia luôn nhắc nhở phụ nữ phải cẩn thận khi tìm kiếm hạnh phúc, không để bản thân trở thành nạn nhân của kẻ xấu.




Hysteria - bệnh... thiếu đàn ông



Hiện tượng mấy chục cô thanh niên xung phong sống trong rừng lên cơn co giật, la hét từ những năm chiến tranh và hàng trăm nữ sinh Phú Thọ đột nhiên ngất xỉu gần đây được các nhà chuyên môn xác định là mắc cùng một chứng bệnh: hysteria.

Trong dân gian, người ta gọi biểu hiện này bằng một cái tên khó hiểu, với một thái độ giễu cợt, không mấy thiện cảm: “bệnh cà hước”, hay nói nôm na là... bệnh thiếu đàn ông! Trong bảng phân loại bệnh quốc tế, nó được gọi là rối loạn phân ly, gặp ở 0,3-0,5% dân số, thường là phụ nữ (gấp 10 lần so với nam).

Bệnh hysteria được biết đến từ thời cổ Hy Lạp nhưng mãi tới năm 1859, Briquet mới mô tả đầy đủ căn bệnh này một cách khoa học và hệ thống. Hiện nay, tâm thần học hiện đại xếp hysteria vào nhóm các bệnh loạn thần tâm căn. Bệnh thường xuất hiện sau một chấn thương tâm lý ở những người nhân cách yếu (thuật ngữ nhân cách dùng trong y học hoàn toàn khác với khái niệm nhân cách về mặt đạo đức xã hội). Biểu hiện và dạng lâm sàng thường gặp:

Cơn hysteria: Cơn co giật, co cứng sững sờ sau một chấn thương tâm lý. Bệnh nhân giãy giụa la hét, đập giường... nhưng ý thức vẫn tỉnh táo và nhận biết được xung quanh, thích được mọi người chú ý.

Cơn rối loạn cảm xúc: Kêu khóc, cảm xúc hỗn độn, nói không chuẩn, không ăn nhập với chủ đề xung quanh, gào thét không rõ lý do, ý thức ít bị rối loạn. Trong một số trường hợp, bệnh nhân có ảo giác (thường là ảo thị - nhìn thấy những hiện tượng không có từ bên ngoài). Bệnh nhân rất dễ bị ám thị và tự ám thị (nhận thức không đúng về sự vật hiện tượng xảy ra ).
 
Cơn ngất lịm hysteria: Đột nhiên ngất lịm nhưng ý thức không bị ảnh hưởng nhiều, mắt có thể còn chớp nháy (khác hẳn cơn ngất do tim, bệnh nhân mệt mỏi trước khi có cơn, tiền sử có bệnh tim mạch, khi cơn xảy ra ý thức bị mất hoàn toàn).
 
Cơn ngủ hysteria: Lên cơn co giật nhẹ rồi đi vào giấc ngủ nhưng mắt vẫn lim dim. Giấc ngủ có thể kéo dài 1-2 ngày.
 
Rối loạn vận động: Có thể gặp rối loạn vận động như run, co giật, liệt chức năng mơ hồ không rõ định khu, không rõ ràng, có khi như giả vờ, lan tỏa khắp cơ thể.
 
Rối loạn cảm giác: Rối loạn cảm giác mất hoặc tăng cảm (một kích thích nhỏ nhưng bệnh nhân cảm nhận lớn hơn bình thường); cảm giác đau và sơ đồ cảm giác cơ thể; cảm giác nội tạng cũng bị rối loạn như đau bụng, đau ngực, đau vùng tim...

Rối loạn giác quan: Đột nhiên điếc sau một chấn thương tâm lý mà không hề có tổn thương thực thể ở hệ thống thính giác. Khả năng phục hồi bằng thôi miên hầu như có kết quả rất rõ. Có khi bệnh nhân đột nhiên chẳng nhìn thấy gì trong khi mắt vẫn mở, vẫn mơ hồ nhận thấy le lói vật thể xung quanh.

Nguyên nhân gây bệnh hysteria thường là chấn thương tâm lý, lo sợ cao độ, tức giận bi quan, có bệnh cơ thể mà theo người bệnh hiểu là hiểm nghèo. Yếu tố thuận lợi là nhân cách yếu, kém ý chí, thần kinh bất bình thường, bị nhiễm độc, nhiễm trùng, bệnh tim mạch...

Về cơ chế phát sinh hysteria, có nhiều học thuyết khác nhau. Các nhà thần kinh học hiện đại cho rằng bệnh phát sinh do tăng cảm xúc, ám thị ở những người có nhân cách yếu. Ở những người này, vỏ não suy yếu, hệ thống dưới vỏ não thoát ly nên khi bị kích thích thì không thể kiềm chế được, tăng ức chế vỏ não. Cuối cùng là sự tăng hoạt động dưới vỏ mà biểu hiện trên lâm sàng là nhiều triệu chứng đa dạng, tùy theo vùng não bị kích thích tập trung. Chính từ đặc điểm này mà bệnh có thể xuất hiện và giảm bớt bằng cách ám thị. Cảm ứng thành cao trào khi có sang chấn tạo phản ứng dây chuyền trong cộng đồng (có cùng hoàn cảnh), làm gây bệnh tập thể, một lúc có thể lên đến cả trăm người.
 
Bệnh được điều trị bằng phương pháp tâm lý, thôi miên, tạo quan hệ tốt giữa bác sĩ và bệnh nhân, cơn bệnh sẽ qua đi trong thời gian ngắn. Trong một số trường hợp khó khăn hơn, cần sử dụng ngay thuốc Benzodiazepin, sau đó dùng thuốc chống trầm cảm liều thấp, ví dụ như Elavil, hoặc các thuốc mới như Prozac, Remeron, Sertralin...

Việc phòng bệnh phải mang tính chiến lược bằng các chương trình chăm sóc sức khỏe tâm lý học đường. Cần tập cho con người rèn luyện trong các môi trường khác nhau kể cả các điều kiện khó khăn. Phổ cập các kiến thức về bệnh này. Kêu gọi mọi người sống chan hòa, có tinh thần tập thể, tình thương yêu và giúp đỡ lẫn nhau. Loại trừ các yếu tố gây căng thẳng, các yếu tố môi trường thuận lợi làm phát sinh bệnh như đã nêu ở trên.
 
Khi có người bệnh, cần tránh tập trung, chăm sóc quá chu đáo khiến bệnh nặng thêm, nhưng phải tôn trọng bệnh nhân. Trong điều trị có thể dùng một số thuốc giảm lo âu, thuốc làm giảm các triệu chứng cơ thể.



Latvia: Đất nước gái đẹp "ế cả rổ" vì không lấy được chồng


Điều kỳ lạ ở đất nước Latvia, nơi mà phụ nữ xinh đẹp không lấy được chồng. Nguyên nhân là do tỷ lệ mất cân bằng giới tính khá cao.

Kỳ lạ một đất nước có quá nhiều phụ nữ xinh đẹp nhưng đều “ế” vì quá thiếu đàn ông. Thậm chí, có rất nhiều người ngoại quốc đến đây để tìm được người vợ vừa xinh đẹp lại tài năng. 

Đất nước thiếu thốn đàn ông 

Nằm trên bờ biển Baltic, Latvia là một đất nước xinh đẹp và lãng mạn nằm ở châu Âu. Latvia nổi tiếng là đất nước có nhiều cô gái xinh đẹp nhất trên thế giới. Phụ nữ ở đất nước này rất xinh đẹp, quyến rũ, tính cách ngọt ngào, phóng khoáng và hiếu khách. Bất kì đâu trên đường phố Latvia bạn cũng có thể bắt gặp một cô gái chân dài, nóng bỏng chẳng kém gì một nàng hoa hậu. 


Đất nước Latvia xinh đẹp.

00z1.jpg


Phụ nữ Latvia vô cùng xinh đẹp, quyễn rũ.


Nhưng có một thực trạng chung là hầu như các cô gái ở đây đều độc thân. Nguyên nhân chính là do sự chênh lệch giới tính. Tỷ lệ chênh lệch giới tính ở đất nước này là 18%, được cho là cao nhất thế giới, tức là khoảng 10 bé gái mới có một bé trai. Thế nên, những cô gái ở đây khó có thể tìm một chàng hoàng tử dành riêng cho mình. Mỗi năm, có hàng nghìn người tới Latvia du lịch, trong đó có rất nhiều chàng trai ngoại quốc đến đất nước nhỏ xinh này họ cũng mong muốn tìm được một nửa của đời mình như những cô gái ở đây. 


Thông qua luật hôn nhân mới 

Tỷ lệ chênh lệch giới tính quá cao ảnh hưởng trực tiếp đến chuyện hôn nhân của phụ nữ Latvia. Phụ nữ ở đây quá hoàn hảo, không những xinh đẹp mà còn tài năng, thông minh. Họ buộc phải hạ tiêu chuẩn chọn chồng để có thể kết hôn nếu không muốn độc thân đến già.

Tình trạng này cũng kéo theo một điều luật vô cùng thú vị tại đất nước mọi phụ nữ đều xinh đẹp này. Vào năm 2017, đã thông qua luật hôn nhân mới, cho phép một người đàn ông được lấy 10 người vợ. Thời điểm đó, đạo luật này được thông qua đã gây tranh cãi lớn trên thế giới. Có người nghĩ rằng, Latvia thật sự là thiên đường của nam giới. Cũng có người lại cho rằng như vậy không công bằng  với phụ nữ.


00z2.jpg

Latvia có quá nhiều phụ nữ nhưng lại rất thiếu đàn ông.

00z3.jpg

Ở bất kì đâu tại Latvia bạn cũng có thể bắt gặp những cô gái chân dài, xinh đẹp.


00z4.jpg


Dù xinh đẹp, có tài nhưng phụ nữ Latvia đa phần đều độc thân.

Latvia cũng đã cho hoạt động nhiều trang web hẹn hò và trung tâm mai mối quốc tế giúp nhiều phụ nữ nước này có cơ hội tuyển chồng theo ý muốn. Tuy nhiên để tránh rủi ro đáng tiếc, Chính phủ cũng nhắc nhở phụ nữ phải cẩn thận khi tìm kiếm hạnh phúc, không để bản thân trở thành nạn nhân của kẻ xấu.

Câu chuyện thú vị về Latvia - đất nước thiếu đàn ông nhất giới chỉ là mẩu chuyện hài hước rất nhỏ trên giới. Nếu đang độc thân hãy học cách tận hưởng nó. 

Tìm hiểu những điều thú vị trên thế giới tại Oh!man

Nguồn ảnh: Internet. 


Tấm Bia Thờ 626 Người Tù Chính Trị



“Có một tấm bia thờ những người tù đã chết ở trại Ba Sao, Nam Hà. Nghe nói tấm bia được đặt trong một ngôi chùa ở Miền Bắc. Ngoài tấm bia ra còn có một ngôi Am thờ (3) những người tù này được dựng ngay khu đất thuộc trại giam. Người làm tấm bia này là một cựu giám thị nhà tù Ba Sao. Em cố gắng đi tìm các anh ấy nhé!”.

Một người anh, cũng là cựu tù chính trị hiện sinh sống tại Pháp đã nhắn tôi như thế. Tôi chưa bao giờ trải qua cảm xúc đặc biệt và đầy ám ảnh như lần này. Chuyện thật khó tin: Một trùm cai tù Cộng Sản dựng một tấm bia và Am thờ những người tù Việt Nam Cộng Hòa!

Câu dặn dò “em cố gắng đi tìm các anh ấy nhé” làm tôi xót xa. Hình như tôi sắp làm một công việc rất khó khăn và cũng rất thiêng liêng. Hai chữ “các anh” không còn là cách xưng hô nữa mà là tiếng gọi gần gũi, thân thương của những người chung khát vọng. Chứ theo tuổi tác, họ là bậc cha chú của tôi – đứa nhóc Bắc Kỳ sinh sau biến cố 1975.

Mãn án tù nhà, tôi lên đường.

Địa chỉ ngôi Chùa không chính xác nên tôi phải đi tìm hơn hai ngày mới đến nơi. Đó là một ngôi Chùa nhỏ, nằm khiêm tốn bên một con phố khá đông đúc. Sư trụ trì đi vắng, tôi lang thang cho hết thời gian rồi trở lại vào buổi chiều.

– Thưa thầy, con được người quen giới thiệu đến đây. Nghe nói nhà Chùa có đặt một tấm bia thờ những người tù đã chết ở trại Ba Sao, Nam Hà?
Nghe tôi nhắc đến tấm bia, nét mặt thầy tái đi, không giấu được vẻ bối rối.
– Bác Thanh giới thiệu con đến đây.
Nhận ra người quen, sư thầy trở nên cởi mở hẳn.

Sư thầy kể rằng vài năm trước, cô Thu Hương (một Phật tử) đưa viên cựu giám thị đến gặp sư thầy. Viên giám thị trao cho sư thầy một danh sách gồm 626 người tù đã chết trong trại Ba Sao từ năm 1975 đến 1988. Vị này ngỏ ý muốn làm một tấm bia đặt trong nhà Chùa để thờ cúng các hương linh. Đây không phải ngôi Chùa đầu tiên họ gõ cửa. Những ngôi Chùa trước đều từ chối vì sợ. Các vị sư trụ trì không muốn giữ một danh sách toàn “sĩ quan ngụy” và công khai đặt tấm bia thờ người tù ngay trong Chùa.
– Có cách nào liên lạc với hai người ấy không thưa thầy?
– Khó lắm. Người giám thị sau khi làm xong tấm bia thì không trở lại đây nữa. Chỉ có cô Thu Hương thời gian đầu vẫn hay tới Chùa tụng kinh và thắp hương cho 626 vị ấy. Nhưng kể từ khi đứa con trai 15 tuổi của Thu Hương bị tai nạn giao thông chết hai năm trước, cô ấy không tiếp xúc với ai nữa.
– Thầy có nghe nói đến ngôi Am thờ 626 vị này không?
Tôi hỏi, không giấu nổi vẻ hồi hộp khi chờ câu trả lời.
– Đúng là có cái Am thờ. Nhưng tôi chưa tới thăm bao giờ. Nghe nói nằm trong vùng đất của trại giam thì phải.
– Vậy ai có thể đưa con tới đó?
– Chỉ có người giám thị và cô Thu Hương thôi. Nhưng Thu Hương thì như tôi vừa nói đấy, cô ấy buồn chán, tuyệt vọng từ ngày mất con nên không còn thiết chuyện gì. Còn người giám thị thì từ đó không thấy trở lại nữa. Số điện thoại cũng đổi rồi.
Tôi bắt đầu nhìn thấy sự mịt mù phía trước.

Người giữ sổ sách đi vắng. Sư thầy hẹn tôi dịp khác trở lại, sẽ cho tôi xem danh sách 626 người tù. Thầy dẫn tôi xuống nhà linh, nơi đặt tấm bia.
Tôi cảm thấy rợn rợn khi bước chân vào nhà linh, nơi đặt di ảnh của những người quá cố. Có mấy người đội khăn tang đang ngồi tụng kinh cho người thân mới qua đời.
Tìm mãi không thấy tấm bia đâu. Tôi bắt đầu lo. Sư thầy quả quyết rằng tấm bia đặt ở phòng này nhưng lâu ngày không nhìn lại nên ngài không nhớ chính xác vị trí nào.
– Ôi đây rồi! Sư thầy reo lên.
Tôi sững người lại. Vừa nhìn thấy tấm bia, nước mắt tôi ứa ra.

Bia Ba Sao ptn

Tôi không xác định được cảm xúc của mình lúc đó. Vui vì đã “tìm thấy các anh”, như lời người anh đồng tù nhắn nhủ, hay buồn vì tôi lại chứng kiến thêm một nỗi đau đớn của quê hương?
Tôi lập cập lục tìm trong túi xách chiếc máy ảnh. Tôi hay bị lúng túng mỗi khi cảm xúc bị “quá độ”. Sư thầy dặn chỉ chụp tấm bia thôi, đừng để những di ảnh xung quanh lọt vào ống kính. Cảm giác tủi thân và xót xa khiến tôi không nói nổi tiếng “vâng” một cách rõ ràng.
Trước khi về, tôi gửi một ít tiền để sư thầy giúp việc nhang khói cho “các anh”. Tôi cầm theo nải chuối, mấy quả cam thầy vừa cho, chậm rãi cuốc bộ trên con phố. Tôi không khóc, nhưng cổ họng nghèn nghẹn và bước chân nặng nề.

Một tuần sau tôi trở lại Chùa. Sư thầy đi vắng. Vừa nghe tiếng tôi trong điện thoại, sư thầy nhận ra ngay:
– Chị Nghiên hả? Tiếc quá! Thầy đã hỏi người trông coi sổ sách của nhà Chùa rồi. Nhưng chị ấy nói là danh sách đã được hóa (4) đi từ hôm Rằm tháng Bảy.
Tôi chết đứng người. Cố gắng lắm tôi mới thốt lên được một câu nghe như không phải giọng của mình.
– Sao lại đốt hả thầy, sao thế được?
– Thì nhà Chùa nghĩ là không cần dùng đến danh sách ấy nữa nên tiện dịp lễ Vu Lan thì hóa luôn cùng với áo mũ, vàng mã chị ạ.
– Thầy ơi! Thầy làm ơn kiểm tra lại giúp con với. Cái danh sách ấy… 626 người tù… thầy ơi, thầy làm ơn!
Tôi cố gắng trấn tĩnh để van lơn.
– Thầy không thể làm gì hơn chị Nghiên ạ. Chúng tôi sẽ hương khói đầy đủ cho các vị ấy.
Nói xong, sư thầy cúp máy.

Một cảm giác còn tệ hơn sự tuyệt vọng. Tôi ôm mặt ngồi thụp xuống giữa đường. Một đứa bé từ đâu chạy lại, trân trân nhìn tôi. Hình như bộ dạng tôi làm đứa bé sợ. Nó co chân chạy, không ngoái lại nhìn.
Bấy giờ tôi nhận thấy, có một thứ cảm xúc rất giống với nỗi buồn, rất giống với niềm tuyệt vọng. Nhưng không hoàn toàn như thế. Thứ cảm xúc thật khó gọi tên.
Tôi về nhà, lầm lì đến vài hôm.

Không thể dễ dàng bỏ cuộc được, tôi quyết định đi Nam Hà để tìm đến ngôi Am thờ. Người anh đồng tù buồn rầu bảo:
– Không có cô Thu Hương hay vị giám thị dẫn đường, em không tìm được đâu.
Lần này thì tôi thật sự tuyệt vọng. Tấm bia, danh sách và Am thờ, tôi chỉ hoàn thành một phần ba công việc.
Tôi nghĩ đến người giám thị.

Không biết vì lý do gì viên giám thị lại làm một việc cấm kỵ và mạo hiểm như thế. Hơn ai hết, người này phải ý thức được mức độ nguy hiểm của việc mình làm, nhất là nếu thông tin bị lộ ra ngoài. Chắc chắn phải có một lý do sâu xa và rất đặc biệt để người này làm thế. Vì lợi nhuận ư? Không ai dại dột vì chút giá trị vật chất mà đánh đổi cuộc sống bình yên của mình. Vả lại, bản thân nghề cai tù đã là một cơ hội để làm giàu một cách rất an toàn.
Người anh đồng tù và bác Thanh lý giải rằng, niềm tin tâm linh đã thúc đẩy người giám thị và cô Thu Hương làm như thế. Có thể người giám thị sợ bị vong hồn của những người tù tìm đến hỏi tội chăng? Lý giải này không hẳn là vô lý. Tôi đã từng nghe và được biết những chuyện tương tự như thế khi còn trong nhà tù Thanh Hóa. Đã là cai tù, không ít thì nhiều, không chủ ý thì cũng bắt buộc phải dính vào tội ác. Song dù với lý do gì, thì hy vọng cũng có phần trăm nào đó của sự ăn năn, của chút lương tâm bị hối thúc.

Tôi vốn không mê tín, không tin chuyện dị đoan nhưng tin rằng luôn có một thế giới tâm linh đang nhìn ngó thế giới con người. Ước gì một ngày nào đó, duyên cớ run rủi để chúng ta được biết trọn vẹn câu chuyện về 626 người tù chính trị Ba Sao, Nam Hà. Chúng ta cần được biết về số phận của những người từng bị cộng sản bách hại để hiểu về một giai đoạn lịch sử đã tạo nên thân phận đau thương của dân tộc này.

Chị Nghiên



Phóng sự ngắn về cuộc sống dân thiểu số cao nguyên bên Tầu.



Boat People, Thảm Kịch Trên Biển Cả


Từ Thức
image.png


ILE DE LUMIÈRE, CHIẾC TÀU ĐÃ CỨU HÀNG CHỤC NGÀN THUYỀN NHÂN VN

Hai biến cố lịch sử trong thế kỷ 20 đã làm thế giới thức tỉnh, vỡ mộng về thiên đường Cộng Sản: Bức tường Bá Linh và boat people.

Hàng triệu người VN đã bất chấp hiểm nguy vượt biển tìm đất sống, khi Cộng Sản Bắc Việt chiếm miền Nam tháng Tư 1975.
Một phần ba đã bỏ mình trên biển cả, những người khác phải đối phó với cái chết, hải tặc, đói khát..


Thảm kịch boat people đã tạo một phong trào tương trợ lớn lao chưa từng thấy tại các nước Tây Phương đối với thuyền nhân VN

CÁI BẮT TAY LỊCH SỬ


Ile de Lumière (Đảo Ánh Sáng) cũng tạo ra cái bắt tay lịch sử của hai trí thức, triết gia hàng đầu của Pháp: Một của phe tả, Jean Paul Sartre, một của phe hữu, Raymond Aron. Và làm lung lay, nếu không tan vỡ, giấc mộng thiên đường XHCN, thế giới đại đồng của cả một lớp trí thức không tưởng.

Ile de Lumière ra đời do sáng kiến của Bernard Kouchner, được gọi là French Doctor, vì đã sáng lập Médecins Sans Frontières, tổ chức Bác Sĩ Không Biên Giới, đưa các y sĩ Pháp đi giúp đỡ nạn nhân chiến tranh hay thiên tai trên khắp thế giới.
Trí thức Pháp thời đó có một ranh giới không ai muốn, hay có can đảm, vượt qua : tả và hữu

Sartre và Aron chống nhau kịch liệt. Sartre thiên Cộng, đã từng nói ‘’những người chống Cộng là những con chó ‘’ ( Tout anticommuniste est un chien ) . Và không lỡ một cơ hội đả kích, miệt thị Aron.
Aron là triết gia, bình luận gia chính trị hiếm hoi đã viết sách, báo không ngừng nghỉ, để vạch trần bộ mặt thực của Cộng Sản, thực chất của chiến tranh VN, và hiểm họa độc tài toàn trị đe dọa thế giới.

Hai địch thủ chính trị tạm quên hiềm khích, bắt tay nhau vì một mục tiêu chung : cứu boat people. Bên trái : Sartre, bên phải, Aron. Đứng giữa là André Glucksmann, triết gia Maoiste sau đó trở thành cây bút chống Cộng tích cực.

Đó là một thái độ can đảm hiếm có ở một nước, một thời điểm, thiên tả đồng nghĩa với trí thức.

Những người chống Cộng không dám bày tỏ ý kiến của mình, sợ bị coi là phản động ( réactionnaire ), chưa nói tới chống Cộng kiên trì , với những lập luận sắc bén như Raymond Aron hay Jean François Revel.
Câu nói quen thuộc của trí thức thời đó : ‘’Thà lầm lẫn với Sartre còn hơn có lý với Aron ‘’ ( Il vaut mieux avoir tort avec Sartre que raison avec Aron ). Đó là cái phi lý của tinh thần mù quáng vì ý thức hệ.

Sartre được ngưỡng mộ , Aron bị đả kích, chế nhạo, mặc dù với thời gian, người ta thấy , về chính trị, Sartre lầm từ đầu tới cuối, trong khi Aron có lý trên mọi phương diện.
Sartre đã mua chuộc những lầm lẫn của mình bằng một thái độ đáng phục : khi tuổi đã cao, gác bỏ tự ái, đã cùng với Aron gõ cửa chính quyền, kêu gọi cứu giúp khẩn cấp các thuyền nhân VN

TỪ HẢI HỒNG TỚI ILE DE LUMIÈRE

Một ngày gần cuối năm 1979, chuyện khó tin nhưng có thực đã xẩy ra : hai ông lãnh tụ trí thức không đội trời chung, Satre và Aron, ngồi lại với nhau, lên tiếng ủng dự án Île de Lumière, kêu gọi dân Pháp mở rộng bàn tay tiếp đón thuyền nhân, nạn nhân của cái mà trước đó những trí thức như Sartre nghĩ là một cuộc giải phóng.

Khi quân Khmer Đỏ tiến vào Pnom Penh, tờ báo trí thức thiên tả Le Monde viết : dân chúng chen lấn hai bên đường đón rước.
Bác sĩ Bernard KOUCHNER

Thảm trạng của boat people trên chiếc thuyền Hải Hồng trên màn ảnh truyền hình đã làm họ tỉnh ngủ.
Hình ảnh lạ hơn nữa là Sartre cùng với Aron vào điện Elysée, yêu cầu tổng thống Giscard d’Estaing đón nhận những thuyền nhân trên lãnh thổ Pháp.
Sartre là một trí thức anarchiste, không nhìn nhận nhà cầm quyền, hay những cơ cấu của xã hội trưởng giả, đã từng từ chối giải Nobel Văn chương.

Nước Pháp còn là nơi tiếng nói của những trí thức lớn có ảnh hưởng đáng kể. Việc Sartre cùng với Aron vào dinh Tổng thống kêu gọi giúp boat people gây mộ tiếng vang lớn trong dư luận.

Tổng thống Giscard d’Estaing chấp thuận, dân chúng vui lòng đón tiếp và tận tình giúp đỡ trên 128. 000 thuyền nhân, chỉ trong những năm đầu, trong đó nhiều người đã được tàu Ile de Lumière cứu vớt ngoài khơi.
Nên nhớ lúc đó kinh tế Pháp đang kiệt quệ. Chính phủ Pháp đã quyết định ngưng nhận di dân.

Việc đón tiếp, giúp đỡ, cấp giấy cư trú và giấy phép hành nghề dễ dàng cho hàng trăm ngàn boat people đi ngược lại chích sách nhà nước đã được dân Pháp ủng hộ.
Hầu như không có một phản ứng tiêu cực nào, tại một xứ chia làm hai ; cái gì phe tả cho là tốt, phe hữu cho là xấu. Hay ngược lại.

Thuyền trưởng HERBELIN

Là sáng kiến của Bernard Kouchner, dự án Một Con Tàu cho Việt Nam được sự ủng hộ tích cực của các trí thức tả phái nổi danh như triết gia Michel Foucault, ca sĩ Yves Montand, tài tử Simone Signoret, trước đó chống Mỹ, chống chiến tranh VN.

Hình Sarte ngồi họp báo với Aron sau khi gặp tổng thống Pháp chạy trên trang nhất tất cả các tờ báo lớn nhỏ.
Ngồi giữa là André Glucksmann, triết gia thiên tả, maoiste (người tôn thờ Mao), sau vụ này trở thành chống Cộng.
Ngày nay, tất cả đều đã qua đời, Sartre, Foucault, Aron, Gluckmann , Signoret, Montand. Bernard Kouchner về hưu.

Sau khi tàu Ile de Lumière ngưng hoạt động, Kouchner rời Médecins Sans Frontières, sáng lập và điều hành tổ chức Médecins Du Monde (Y Sĩ Thế Giới), trước khi trở thành tổng trưởng Ngoại Giao dưới thời Sarkozy.

NHÀ THƯƠNG NỔI

Ile de Lumière là một chiếc tàu cũ, 1500 tonnes, 90m chiều dài, được sửa cấp tốc, chạy tới đảo Poulo Bidong, ngoài khơi Mã lai , khởi đầu dùng làm nhà thương nổi, với 100 giường, chữa trị cho 20.000 thuyền nhân trên đảo.

Thuyền trưởng François Herbelin, 29 tuổi, nói đó là những kỷ niệm sâu đậm nhất trên đời ông. ‘’ Tôi rất cảm phục những người Việt rất bình tĩnh, có tổ chức, có tư cách (dignes), quyết tâm ra khỏi đại nạn. Khi mới tới, họ kiệt lực, nhưng hồi phục rất nhanh, nghĩ tới tương lai‘’.
Chín tháng sau, Ile de Lumière bắt đầu sứ mạng mới: Ra khơi cứu vớt những thuyền nhân phấn đấu trên biển cả, giữa cái sống và cái chết, giữa mưa bão và hải tặc.

Hàng triệu người đã liều mạng vượt biển tìm tự do, với những phương tiện thô sơ gây kinh ngạc cho người Tây phương.
Hàng trăm ngàn người bỏ mạng trên biển cả.

Ile de Lumière đã cứu hàng chục ngàn người, chở về Poulo Bidong chờ ngày được nhận đi định cư ở Hoa Kỳ, Canada hay Âu Châu.
Sau 14 tháng ngược xuôi, Ile de Lumière được thay thế bởi một chiếc tầu mới, Ile de Lumière II .
Herbelin thành hôn với một phụ nữ thuyền nhân Việt Nam, trở thành thuyền trưởng một tàu thương mại.

Làn sóng vượt biển bớt đi từ 1986, khi VN bắt đầu cởi trói, ít nhất về kinh tế, nhưng chưa bao giờ chấm dứt, mặc dầu ngày nay boat people VN nhường chỗ trên các médias cho thuyền nhân từ các vùng khác.

DEVOIR D’INGÉRENCE


Ile de Lumière đánh dấu một phong trào tương trợ đáng cảm phục ở Pháp, và sau đó ở các nước Tây Phương.
Bernard Kouchner nhân đó đưa ra chủ thuyết ‘’ Devoir d’ingérence ‘’ ( Bổn phận phải can thiệp ), theo đó các nước dân chủ Tây phương có bổn phận phải can thiệp , để cứu các nạn nhân, tại những nơi nhân quyền bị chà đạp.
Sau đó, các nước Tây phương đã nhân danh nguyên tắc này để đổ bộ can thiệp ở Kosovo.

Ile de Lumière cũng đánh dấu sự thức tỉnh của trí thức thiên tả Pháp. Trước đó, từ 1975 tới 1979, Khmer Đỏ thảnh thơi tàn sát ở Cambodge, không ai phản ứng gì. Silence, on tue ( xin yên lặng, người ta đang giết người ).

Người ta bịt tai, bịt mắt, bịt miệng để khỏi nghe, khỏi thấy, khỏi nói tới những sự thực phũ phàng.
Người ta không quên câu nói nổi tiếng của Sartre, khi giải thích tại sao ông ta không đề cập đến Goulag và những chà đạp nhân quyền ở Nga Xô Viết : Il ne faut pas désespérer Billancourt.
Không nên làm Billancourt tuyệt vọng. Boulogne Billancourt là một ngoại ô của Paris, nơi có trụ sở của hãng xe hơi Renault, tượng trưng cho thợ thuyền Pháp.

Không đả động gì tới những tệ hại ở Nga để khỏi làm tuyệt vọng giới thợ thuyền, đang mơ thiên đường XHCN như ông già trong thơ Tố Hữu, ngồi đan rổ mơ nước Nga.
Raymond Aron, tác giả cuốn L’Opium Des Intélectuels ( Thuốc phiên của trí thức ) viết : những trí thức thiên tả là những nhà cách mạng phòng khách, căm ghét xã hội đang sống, một xã hội cho họ một đời sống sung túc và đủ mọi quyền tự do, trong đó có quyền tự do ngôn luận.

image.png

Sau làn sóng boat people, sau khi bức tường Bá Linh sụp đổ, phong trào thiên tả đi xuống, đảng Cộng Sản Pháp trước đó là một trong hai chính đảng lớn nhất, làm mưa làm gió ở Pháp, ngày nay trở thành một đảng bỏ túi, với trên 1% phiếu bầu.
Tây Phương đã tận tình giúp đỡ boat people VN.


Đổi lại, thuyền nhân VN, bằng máu và nước mắt, đã giúp Tây phương mở mắt trước thực tế của ”xã hội chủ nghĩa” theo mô hình Cộng Sản.

RUPERT NEUDECK và tàu CAP ANAMUR

Một số đoàn thể VN tại Đức đã xây một tượng đồng để vinh danh và tri ân ông Rupert Neudeck, ân nhân lớn của thuyền nhân VN trong lâu đài Wissem, thành phố Troisdorf.
Rupert Neudeck, là một trong những người Đức được kính trọng nhất , đã được trao tặng nhiều giải về nhân quyền. Ông cùng bà, Rachel Neudeck, đã lập ‘’ Một con tầu cho VN ‘’ và đã cứu ít nhất 10.000 thuyền nhân VN những năm 80 .

Chiếc thuyền nhỏ, chở 52 thuyền nhân kiệt sức, được tầu Cap Anamur hiện còn trưng bày ở Troisdorf, một thị trấn gần Bonn
Là ký giả, triết gia, ông Neudeck đã bỏ trọn cuộc đời để cứu giúp những người thiếu may mắn.
Ông đã sáng lập tổ chức Cap Anamur, giúp nạn nhân chiến tranh ở Phi Châu, tổ chức Mũ Xanh ( Greenhelms ) giúp dân chúng ở Trung Đông.
Đôi khi được coi như một ông thánh, Rupert Neudeck mất năm 2016 , hưởng thụ 77 tuổi. Hiện nay có 4 trường học ở Đức mang tên Rupert Neudeck.

Rupert Neudeck cũng là thuyền nhân, khi chữ boat people chưa được dùng để chỉ những người vượt biển tìm tự do. Ông đã theo gia đình trốn khỏi Ba Lan khi còn 6 tuổi để tránh Hồng Quân N
Tượng đồng do Joost Mayer, nghệ sĩ điêu khắc và giảng viên tại đại học nghệ thuật Aachen thực hiện.

Dưới tượng ghi câu châm ngôn của thành phố Danzig, ngày nay là Gdansk, Ba Lan, nơi ông sinh ra: ‘’ Không táo bạo, cũng chẳng sợ hãi ‘’ và một hàng chữ đơn giản : ‘’ Robert Neudeck 1939-2016 . Do thuyền nhân VN tại Đức xây dựng ‘’.
Không liều lĩnh, nhẹ dạ, cũng không sợ hãi, không cúi đầu trước bất cứ bạo lực nào, suốt đời làm hết sức mình để giúp người khác, đó cũng là nhân sinh quan của Rupert Neudeck

Việc vinh danh để bày tỏ lòng tri ơn đối với những nhân vật địa phương đã hết lòng giúp chúng ta trong những bước đầu cực kỳ khó khăn là một thái độ đẹp, một việc rất nên làm.
Biết nhớ ơn những ân nhân của mình là dấu hiệu của một dân tộc có văn hóa, của những người tử tế.

Việc làm càng có ý nghĩa hơn khi tập đoàn cầm quyền VN dùng mọi áp lực và hành vi côn đồ để xoá bỏ mọi dấu vết của thảm kịch thuyền nhân tại các nước láng giềng

--

CON SỐ KINH HOÀNG

TT-Thái An

 

Đêm 31 tháng 12 năm 2019, một đám bạn bè tụ họp tại nhà một người bạn để đón giao thừa tết Tây hay gọi là tết Dương Lịch để cùng đếm ngược (count down) giờ khắc bước qua năm 2020.

Một người bạn nhanh nhẩu chạy qua Maryland, đến sòng bài để lấy cho bằng được cặp mắt kính nhựa thiết kế số 2020, và dĩ nhiên không có tròng.  Anh bạn đem về cho mỗi người một cặp, đeo lên để chụp hình đón năm mới 2020.

Mặc dù tuổi đời chẳng còn teen để làm những chuyện khác người, nhưng ai nấy vui vẻ đeo lên và cùng nhau chụp vài tấm ảnh đầu năm.

Một người dõng dạc nói rằng: “Năm 2020 là một con số đặc biệt: hai số đầu và hai số cuối giống nhau, rất cân xứng, rất đẹp.  Cả ngàn năm sau mới có con số “3030” cân xứng và đẹp đẽ như thế.  Nhưng lúc đó chúng ta đã không còn trên trái đất này. Vậy chúng ta hãy vui vẻ hưởng con số đẹp, năm 2020”

Ai nấy đồng ý và hết lòng chào đón năm 2020 với một tinh thần vui tươi, hy vọng một năm tốt đẹp như con số 2020 tròn trịa.

 

Ấy thế mà trước Tết Ta hay còn gọi là Tết Âm Lịch 2020, rơi vào thứ Bảy, 1-25-2020 tin thất thường bắt đầu xuất phát từ Trung Cộng: Một loại bệnh mới phát xuất từ thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, khiến người ta ho, sốt, khó thở và chết nhanh chóng.  Các bệnh viện ở thành phố Vũ Hán không còn giường, bệnh nhân chen chúc la liệt ở các hành lang. Đã thế, cái bệnh mới toanh này còn lây lan nhanh chóng cách bí hiểm, khiến chánh phủ Trung Cộng phong tỏa thành phố này.  Dân chúng Vũ Hán cuống cuồng kiếm đường chạy qua các tỉnh thành khác nhưng các trạm xăng bị đóng cửa và các ngã đường qua tỉnh khác bị quân đội chặn đóng. 

Tin tức thế giới nhanh chóng bá cáo từng ngày bệnh dịch đang được tìm hiểu xem nó phát ra từ đâu và truyền nhiễm cách nào.  Mặc dù chánh phủ Trung Cộng tuyên bố rằng bệnh được phát sinh từ một chợ bán thú vật hoang dã và con virus này do thú hoang tryền cho con người, nhưng chỉ có dân Trung Quốc tin, dân chúng thế giới nghi ngờ hành động mờ ám của chánh phủ Trung cộng.  Chính phủ Hoa Kỳ xin được đưa phái đoàn y tế đến Vũ Hán để tìm hiểu con virus mới toanh này.  Nhưng dĩ nhiên, chính phủ Trung cộng từ chối.

 

Chánh phủ Hoa Kỳ phải cho phi cơ đi đón công dân Hoa Kỳ đang kẹt tại thành phố Vũ Hán về nước.  Có hơn 500 công dân Hoa Kỳ được di tản thế này; về đến Hoa Kỳ thì phải chịu cách ly 2 tuần tại một căn cứ của quân đội.  Chuyện nhỏ! Miễn là về đến nước mình là cảm thấy an toàn rồi, ở trại cách ly vẫn được săn sóc đàng hoàng, ăn uống và giải trí thoải mái.

Dân chúng Hoa Kỳ và thế giới cứ nghe đâu chuyện cúm Vũ Hán ở bên Tàu, còn xa mình quá chừng, hơi đâu mà lo xa!

Nhưng chánh phủ Hoa Kỳ cấm không cho máy bay từ các thành phố bên Tàu vào Hoa Kỳ một thời gian. 

Thế rồi cái tên cúm Wuhan cũng được WHO đổi tên thành Covid-19 để đánh dấu cái năm nó phát sinh.  Vì nó phát ra vào tháng 12, 2019 tại thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, nước Trung Hoa, mà mãi đến đầu năm 2020 chánh phủ Trung Cộng mới cho WHO và thế giới hay.

Thế là lại có bàn cãi, nhiều người cho rằng Trung Cộng hối lộ ông chủ tịch của WHO khá nhiều tiền nên ông chịu đổi tên theo đề nghị của Trung Cộng, bỏ tên cúm Vũ Hán, lấy tên Covid-19.

Bên ngoài Trung Cộng, nước Ý Đại Lợi bị dịch cúm Vũ Hán tràn lan trước tiên. Lý do đơn giản vì nước Ý ngày nay đã nghèo, nên cho rất nhiều người Tàu Trung Cộng vào đầu tư xưởng may quần áo và giầy dép.  Những nhà đầu tư Trung Cộng cũng về Tàu là quê hương của họ để ăn tết Âm Lịch (Chinese New Year) 2020. Ăn tết xong, họ quay lại Ý và đem theo con virus cúm Vũ Hán vào Ý.  Thế là dân Ý biết mùi cúm Vũ Hán đau thương ra sao, biết cảnh phong tỏa và chạy trốn phong tỏa ra sao.  Có nhiều người biết lệnh phong tỏa sắp ban hành nên vội vàng lên xe hơi, xe tải, ráo riết ra khỏi vùng sắp bị phong tỏa.  Vì thế con cúm Vũ Hán cũng được họ đem theo ra nơi khác, lan sang khắp Âu châu.

Dân Ý chết vì cúm Vũ Hán nhiều nhất, chết không kịp chôn.

Khoảng đầu tháng 4, 2020, chánh phủ Trump lại cấm không cho các chuyến bay từ Âu châu vào Mỹ một thời gian.

Mỹ cũng bắt đầu có cúm Vũ Hán, khởi đầu ở thành phố Seatle, Washington.

Nhưng New York và New Jersey là hai nơi tiếp theo bị nặng nhất vì trước đó, nhiều chuyến bay từ Âu châu vào Mỹ đem theo những người đã có dịch Covid-19 vào.  Sau đó các thành phố lớn trên toàn lãnh thổ Hoa Kỳ bị dịch tràn lan nặng nề.  Các cụ già trong các viện dưỡng lão chết như sung rụng. Nhà thương và nhà quàn không đủ chỗ chứa xác nên phải thuê thêm các xe truck đông lạnh để bên ngoài.  Ở New York, xác nạn nhân Covid không có thân nhân nên chánh phủ cho đem xác của họ qua đảo Hart Island để chôn tập thể.

Bác sỹ và y tá làm việc không ngừng tay, có nhiều vị ở tuyến đầu bị lây bệnh. Có người qua khỏi, có người không qua khỏi. 

Báo chí phe tả lại có dịp kiếm chuyện công kích Tổng Thống Trump không nhập hàng bảo hộ và máy trợ thở từ lúc đầu khi dịch mới phát bên Tàu.  Họ còn tuyên truyền rằng chánh phủ Trump biết dịch cúm Vũ Hán phát ra từ khi Trung Công chưa công khai tuyên bố nữa. 

Hỏng biết nếu là ông Tổng Thống phe Tả nắm quyền lúc đó, báo chí phe Tả có công kích như thế không?

Chưa hết, tự nhiên một anh cảnh sát da trắng đè một anh tội phạm da đen quá trớn khiến anh này chết nghẹt, bị quay phim chiếu lên mạng. Thế là đảng đối lập và truyền thông phe tả đã chụp bắt ngay cơ hội sắp có cuộc tranh cử Tổng Thống đã lợi dụng ngay tình hình, làm to chuyện ra, càng to càng tốt.  Họ hợp tác ngay với Black Life Matter xách động làn sóng phẫn nộ của dân da màu nổi lên kéo theo phong trào biểu tình, đốt phá và hôi của. Các cửa tiệm sang trọng ở các thành phố lớn bị đập phá, cướp sạch.  Cảnh sát bị giết, người dân vô tội làm cảnh vệ cho các building gần đám biểu tình cũng bị giết hay đánh đập tan nát.  Đám biểu tình không cho cảnh sát vào can thiệp để giúp các nạn nhân ở các vụ cướp giết này.  Nhưng họ bảo rằng BLM không đốt phá và ăn cướp, mấy người ăn cướp không phải là BLM.  Vậy tại sao các nhân chứng đang đứng chung quanh các tiệm bị đập phá không ngăn chặn việc cướp của, đốt phá và giết người mà thản nhiên như việc của phe mình?  Và tại sao không cho cảnh sát đến giúp nạn nhân?  Đòi được “Tôn trọng sinh mạng của dân da đen” mà giết mạng người khác sao?

 

Dân các nước khác nhìn tin tức trên TV mà sợ hãi cho nước Mỹ. Vì đám biểu tình hình như cho mình cái quyền được cướp giết công khai.

 

Trong thời điểm này, các trung tâm buôn bán của người Việt ở rải rác các tiểu bang cũng bị đập phá vào ban đêm và cướp của. 

 

Lại thêm đám người tự xưng Antifa xuất hiện chiếm đoạt thành phố Seatle vài ngày và chặn trước cửa nhà thờ ngăn cản không cho giáo dân đi lễ.  Họ cướp phá, và không cho cảnh sát vào cứu nạn nhân.

 

Bên Ý Đại Lợi xa xôi cũng bầy trò đến trước tòa đại sứ Hoa Kỳ biểu tình và dương biểu ngữ “Black Life Matter” cứ y như là người da đen bị đàn áp ở Mỹ “thứ thật”.  Nhìn vào bức hình dân Ý biểu tình trước tòa đại sứ Hoa Kỳ, ai mà không nghĩ có bàn tay Trung Cộng giật dây, dàn xếp để bôi bẩn chánh phủ Mỹ.  Thế mới biết Tàu cộng có thế lực trên dân Ý lớn lao như thế nào.  Trong khi chẳng thấy người Ý nào đến trước tòa đại sứ Trung cộng đòi dân chủ cho dân Tàu sống trên đất Trung cộng.  Cũng chẳng thấy dân Ý nào đến trước cửa tòa đại sứ Trung cộng phản đối việc dấu kín dịch covid Vũ Hán cho đến nỗi lan tràn nhanh chóng trên nước Ý khiến người Ý chết không kịp chôn.  Dân Ý non lòng nhẹ dạ như dân miền Nam Việt Nam trước 1975 vậy.  Họ không nhìn cho kỹ thành phần người Mỹ gốc Phi Châu được nắm nhiều chức vụ quan trong trong chánh quyền Hoa Kỳ hơn dân da đen đang sống ở Ý hay ở Âu Châu nữa.

 

Họ làm như chánh phủ Trump đào tạo và huấn luyện cảnh sát để đàn áp dân da đen hay sao ấy.  Anh cảnh sát da trắng làm bậy thì anh đã bị xử theo tội của anh, anh được thâu nạp và huấn luyện làm cảnh sát từ năm nảo năm nao chứ đâu phải Tổng Thống Trump phỏng vấn anh và tuyển mộ anh vào ngành cảnh sát!

Năm 1995, có bốn chị em người tị nạn Việt Nam họ Vũ tại tiểu bang Lusiana mở tiệm ăn rất phát đạt. Tiệm của họ lấy tên Kim Anh.   Nhưng có lẽ khu này không yên ổn lúc trời tối nên họ phải thuê hai cảnh sát viên thay nhau đến làm cảnh vệ mỗi tối sau giờ làm việc của cảnh sát: Một cảnh sát phụ nữ người da đen tên Antoinette Frank và một cảnh sát nam người da trắng tên Ronald Williams II.

Hễ ngày nào không cần làm cảnh vệ tại tiệm, bà cảnh sát da đen hay ghé vào lấy soda hay thức ăn miễn phí.  Hôm đó, ngày 4, tháng 3, 1995, không phải ngày trực của bà, bà ghé vào tiệm lúc người cảnh sát nam kia đang trực.  Vì đã quen như thế nên khi bà cảnh sát này đi vào tiệm, chẳng ai để ý, bà bắn hai chị em chủ tiệm dù một người quỳ xuống xin tha mạng.  Hai chị em khác, một trai, một gái vội chạy vào cái tủ lạnh to lớn trong bếp núp trong đó.  Người cảnh sát da trắng nghe tiếng súng vội chạy vào thì bị bạn trai của bà cảnh sát cũng người da đen từ ngoài tiến vào bắn nhiều phát, khiến ông cảnh sát này chết tại chỗ.  Sau đó bà cảnh sát lấy hết số tiền dấu trong microwave và cùng bạn trai rút êm.

Sau khi bà cảnh sát bỏ đi, người em trai chạy ra cửa sau, qua nhà quen gần đó gọi điện thoại cho cảnh sát xin cấp cứu.

Sau một thời gian rất ngắn, cảnh sát đến ngay.  Bà cảnh sát da đen vừa giết người xong cũng theo đến để điều tra xem “thằng nào dám giết người hàng loạt thế này?”  Nhưng người chị còn sống sót đã chỉ tay vào bà cảnh sát da đen kêu lên rằng “chính bà này giết chết hai em tôi và ông cảnh sát kia!”

Hồi đó dân Việt mới qua tị nạn được 10 năm hoặc ít hơn, tiếng Anh chưa rành, chỉ biết cắm đầu cắm cổ đi làm hay đi học chữ, học nghề để sống.  Cộng đồng người Việt còn nhỏ nên chẳng ai dám xông pha xuống đường kêu đòi: “Yellow Life Matter”. 

Cộng đồng người Việt trên toàn quốc Hoa Kỳ chỉ là số nhỏ, nếu trúng mùa bầu cử Tổng Thống, chắc ứng cử viên cỡ “Bidden” cũng chẳng thèm đến quỳ gối để xin phiếu làm gì.

 

Ông cảnh sát da trắng bị giết chết bởi bà cảnh sát da đen, để lại một vợ và hai con thơ dại thì được đội cảnh sát làm đám tang cho long trọng, diễn hành qua con đường chính của thành phố, được dân chúng đứng dọc theo hai bên đường ngã mũ kính cẩn tiễn đưa. 

Ông là một người cảnh sát tốt, một người chồng tốt, một người cha tốt, chịu khó làm thêm nghề cảnh vệ để kiếm thêm chút tiền lo cho vợ con.  Ai ngờ ông có một người đồng nghiệp không chút lương tâm, chỉ biết cướp tiền, cướp mạng của người tị nạn vì họ mới qua mà giầu có hơn bà nên bà ghen tức chăng?  Hoặc vì động lực nào khác mà bà giết người, cướp của thì cũng chẳng luật pháp nào cho phép.

 

Chẳng thấy người da trắng nào ở Lusiana biểu tình vì cái chết của ông cảnh sát da trắng để kêu đòi “White Life Matter”

Báo chí phe tả cũng chẳng hơi đâu thổi phồng thêm cho thế giới để ý đến vì chẳng ích lợi gì cho phe tả.  Hơn nữa, người Á châu chỉ là thiểu số ở Mỹ, không thể dùng để làm bàn đạp chính trị.

Cái bà cảnh sát da đen giết người da vàng và da trắng thì bị án tử hình, cũng chẳng lấy lại được 3 mạng người vô tội mà bà và bạn trai của bà đã giết.  Ba nạn nhân đã chết, có bao nhiêu thân nhân của họ đau đớn suốt đời vì mất cha, mất chồng, mất con, mất chị em vĩnh viễn?

Gia đình các nạn nhân cũng chẳng kiện cáo sở Cảnh Sát đòi bồi thường.

Lỗi tại ông Tổng Thống hay tại cảnh sát lựa sai người vào làm cảnh sát?

 

Nước Mỹ này mỗi ngày vẫn xẩy ra nhiều vụ án mạng, Trắng giết Đen, Đen giết Trắng, Xì giết Đen, Đen giết Xì.  Đã bao nhiêu vụ Đen chuyên bắt cóc các cô gái Trắng để hãm hiếp và giết chết để diệt khẩu.  Nhưng truyền thông phe tả không moi móc ra để làm áp lực chính trị vì không có lợi cho phe Tả.

Nhìn thấy cảnh biểu tình bạo động, cướp của, giết người trước ngày bầu cử Tổng Thống Hoa Kỳ năm 2020, ai cũng hiểu phe tả đang làm áp lực với Tổng Thống Trump.  Và không ít người nhìn thấy bàn tay nham hiểm của Tàu cộng đang đứng đàng sau các cuộc biểu tình bạo động này.  Tàu cộng có tiền tỷ dư thừa, làm chủ nợ của Mỹ, chúng không có ngân sách cho sự ấm no và an toàn mạng sống của dân trong nước Tàu cộng, nhưng có ngân sách cho các dịch vụ phá hoại nước Mỹ và những nước không hợp tác với chúng chứ!

 

Những người Việt sống tại miền Nam Việt Nam trước 1975 chưa quên được các cuộc biểu tình của những người “Phật giáo” chống chính quyền Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu.  Mặc dù phe đảo chánh đã giết chết anh em Tổng Thống Ngô Đình Diệm, để Việt Cộng không còn lý do xúi dục dân chúng biểu tình dưới chiêu bài “Chánh phủ đàn áp Phật giáo” hoặc chiêu bài “Chánh phủ miền Nam không cho dân được Tự Do, Dân Chủ”.  Nhưng sau khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị thảm sát, Việt cộng vẫn nắm đầu và xách động các cuộc biểu tình tại miền Nam, nhất là tại Sài Gòn rất dễ dàng, chỉ vì lòng dân non nớt, dễ nghe tuyên truyền, xúi bẫy.

Các ký giả ngoại quốc khi vào Sài Gòn chạy theo các đám biều tình chống chánh phủ dưới những chiêu bài trên đã tiên đoán thế nào miền Nam cũng lọt vào tay cộng sản Bắc Việt.  Và y như rằng!

Sau khi miền Nam hoàn toàn bị Việt cộng miền Bắc cưỡng chiếm, “Thượng Tọa” Thích Trí Quang hiện nguyên hình là cán bộ Cộng Sản cao cấp. Được nhà nước cộng sản Việt Nam tuyên dương công trạng vì có công trong việc kéo sập chánh quyền Việt Nam Cộng Hòa của miền Nam.

Bây giờ toàn quốc Việt Nam sống dưới chế độ cộng sản, có người dân miền Nam nào dám tập họp biểu tình đòi chánh phủ cho dân được “Tự Do, Dân Chủ” nữa không?

 

Vì không quên được những ngày đen tối trên mảnh đất miền Nam trước 1975 với những cuộc biểu tình nổi loạn chống chính phủ, nên khi nhìn thấy cảnh biểu tình ở Mỹ năm 2020 trước kỳ tuyển cử Tổng Thống, vì lý do “sinh mạng người da Đen cần được coi trọng”, cách dàn dựng từa tựa như ở miền Nam Việt Nam trước kia. Có phải do Trung Cộng đứng đằng sau cố vấn và hợp tác với đảng Dân Chủ không? Vì Trung cộng đâu muốn Tổng Thống Trump tái đắc cử, không có lợi cho chúng chút nào!  Hơn nữa, Trung cộng muốn cho dân của họ và thế giới thấy rằng nước Mỹ chẳng tốt đẹp gì, chỉ có nước Trung Hoa nhờ sự lãnh đạo của đảng cộng sản mà tấn lên giàu có, mạnh mẽ và an ninh hơn Mỹ nhiều. 

 

Nước Tàu an ninh hơn nước Mỹ cũng phải, vì dân chúng kéo nhau đi biểu tình kiểu dân Mỹ là đảng cộng sản ra lệnh cho quân đội đến xả súng bắn tưới hết.  Chuyện đó đã từng xảy ra ở Thiên An Môn vào tháng 6, năm 1989 rồi.

                           

Nhiều người tị nạn Việt Nam kêu Trời vì “chúng tôi bỏ xứ cộng sản Việt Nam, qua Mỹ để hưởng tự do, dân chủ, sống cho ra sống, nhưng bây giờ nhìn thấy nước Mỹ đang biến dạng thành một xứ cộng sản trá hình.”  Đảng Dân Chủ chỉ có cái tên nghe “dân chủ” chứ đảng này đang từng chút, từng chút biến nước Mỹ thành cộng sản hoặc xã hội chủ nghĩa. Đảng Dân Chủ dùng mọi thủ đoạn để đạt chính quyền cho đảng vì đối với họ thì Đảng là trên hết chứ không phải Quốc Gia trên hết.  Đường lối này cũng giống y như đường lối của Tàu cộng và Việt cộng hoặc các nước cộng sản Nga Sô và Đông Âu trước khi chế độ cộng sản sụp đổ.

Bây giờ đã là tháng 3, 2021.  Số người bị thất nghiệp tại Mỹ vì cái dịch Covid-19 vẫn còn nhiều, khiến sự kỳ thị người Á Châu tại Mỹ tăng cao.  Vài cá nhân đã hành hung những người phụ nữ Á Châu già nua, hay yếu đuối ngay trên đường phố.  Tuần trước có tin một nhóm người Đại Hàn bị một anh da Trắng bắn chết; đây là thái độ “Giận cá, chém thớt” không công bình và không anh hùng chút nào. 

Tại sao không thấy đám người Trắng hay người Đen nổi cơn tức giận của mình đúng chỗ, đúng đối tượng?  Những người đang phẫn nộ dịch Covid-19 hãy kéo nhau đến trước tòa Đại Sứ Trung Cộng mà biểu tình, mà đốt phá, mà chửi rủa, mà đòi bồi thường. 

 

Nếu đếm theo bài cào, số 2020 cộng lại là 4 nút. 

Nhưng hãy nghe người Trung Hoa bàn về con số 2020 như thế này: 2020 cộng lại là 4.  Cách phát âm của người Tàu số 4 là “Tứ”.  “Tứ” thì gần như trùng âm với “Tử”, nghĩa là “Chết”. 

Vì thế người Tàu rất kỵ con số 4 vì tin là con số xui, con số đem đến chết chóc.  Nhà thương xây cả chục tầng, nhưng không có tầng nào mang số 4, nghĩa là họ loại bỏ số 4, từ lầu 3 là tới lầu 5, trong thang máy không có số “lầu 4”.  Các building vài chục từng cũng thế, họ loại bỏ con số bốn trong thang máy cũng như số tầng lầu ghi bên ngoài thang máy, khi bước chân ra là đọc thấy ngay.  Đi ăn cưới, cho tiền mừng thì cũng không được cho 4 trăm, chỉ được cho 3 trăm hoặc 5 trăm.

Vậy thì con số 2020 vô tình hay cố ý có sự trùng hợp xẩy ra cơn đại dịch Covid-19, xuất phát từ thành phố Vũ Hán, bên Tàu vào tháng 12, 2019.  Bắt đầu tháng 2, 2020 lan ra thế giới cho đến tháng 3, 2021 vẫn chưa dứt. Con số nạn nhân chết vì cúm Vũ Hán trên toàn cầu đã gần 3 triệu.  Riêng tại nước Mỹ, vào thời điểm tháng 3, 2021 đã có hơn 500 ngàn nạn nhân chết vì cúm Vũ Hán hay Covid-19.

 

Năm 2020 cũng là năm nước Mỹ có nhiều cuộc biểu tình bạo động chưa từng thấy. Khiến nước Mỹ không còn là nơi an bình, hiền hòa như xưa. 

Năm 2020 cũng là năm có nhiều lời tiên tri của các nhà ngoại cảm về vận mệnh Hoa Kỳ trước kỳ bầu cử Tổng Thống mà trật lất.

Cũng có vài người tiên tri về nhiều bệnh dịch khác hoặc tai ương khác sẽ xuất hiện trên thế giới tiếp theo cơn đại dịch này như thế nào. Cứ thế người này chuyển email cho người kia xem như gặp được nhà tiên tri đại tài.

Họ có thể là nhà tiên tri “đại tài” của những người chưa từng đọc Kinh Thánh bao giờ. 

Vì mấy “nhà tiên tri” này toàn lấy trong kinh thánh ra, sao đi sao lại cho thành “của mình”. 

 

Hơn 2 ngàn năm trước, khoảng năm 30 sau Công nguyên, khi các môn đệ và Chúa Jesus đi ngang đền thờ Jerusalem, môn đệ nói với Chúa trong kinh thánh, sách Lu Ca, chương 21, từ câu 5-11:

 

“ 5 Có mấy người nói về đền thờ, về đá đẹp và đồ dâng làm rực rỡ trong đền thờ. Đức Chúa Jêsus phán rằng: 6 Những ngày sẽ đến, mọi điều các ngươi ngó thấy đây, sẽ không còn một hòn đá nào chồng trên hòn khác mà không đổ xuống7 Họ bèn hỏi Ngài rằng: Lạy thầy, vậy việc đó chừng nào sẽ xảy đến, và có điềm gì cho người ta biết rằng việc gần xảy đến không? 8 Ngài đáp rằng: Các ngươi hãy giữ, kẻo bị cám dỗ; vì có nhiều người sẽ mạo danh ta mà đến, và nói rằng: Ấy chính ta là Đấng Christ, thì giờ đã đến gần. Các ngươi đừng theo họ. 9 Lại khi các ngươi nghe nói về giặc giã loạn lạc, thì đừng kinh khiếp, vì các điều đó phải đến trước; nhưng chưa phải cuối cùng liền đâu.


10 Ngài cũng phán cùng họ rằng: Dân nầy sẽ dấy lên nghịch cùng dân khác, nước nọ nghịch cùng nước kia; 11 sẽ có sự động đất lớn, có đói kém và dịch lệ trong nhiều nơi, có những điềm lạ kinh khiếp dấu lớn ở trên trời.”

 

Lời tiên tri của Chúa Jesus về sự tàn phá thành Jerusalem và đền thờ đã ứng nghiệm vào năm 70 sau Công Nguyên khi quân La Mã vào đánh thành Jerusalem và đốt phá đền thờ của người Do Thái, là nơi họ thờ phượng Đức Chúa Trời. Từ đó, người Do Thái đi lưu vong khắp Âu Châu và cả Phi Châu, chỉ còn một số ít dân Do Thái ở lại quê hương mình.  Nhưng nước Do Thái không còn vì không còn Vua và chánh phủ.  Cho đến ngày 14, tháng 5, 1948 người Do Thái mới được trở về lập quốc trở lại.

 

Những lời Chúa Jesus báo trước về chiến tranh, động đất, đói kém, dịch lệ đã và đang xảy ra.  Hơn 2 ngàn năm trước, ai có thể ngờ sẽ có loại virus Sars-Cov-2 kinh khủng như bây giờ không?  Lúc đó, có ai ngờ con người ở thế kỷ 20-21 di chuyển dễ dàng bằng phi cơ, bằng tàu thủy nhanh chóng nên dịch lệ lây lan nhanh chóng, xuất phát từ thành phố Vũ Hán và lan tỏa ra khắp toàn cầu chỉ trong vòng một vài tháng?

 

Tháng 1, 2021 chánh phủ Hoa Kỳ đã làm lễ truy điệu cho trên 400 ngàn nạn nhân Covid-19.  Chưa kể tổng số nạn nhân covid trên toàn cầu lúc đó đã trên 2 triệu.

 

Nhờ chánh quyền Trump nổ lực đẩy mạnh việc làm vaccine chống bệnh Covid Vũ Hán hay Covid-19 mà giữa tháng 12, 2020, các bệnh viện, các viện dưỡng lão tại Hoa Kỳ đã có thuốc chủng ngừa cho các bác sỹ, y tá và nhân viên các ngành, kể cả các người lau chùi dọn dẹp, sau đó ra đến dân chúng theo thứ tự tuổi tác, già trước, trẻ sau.  Chánh phủ Hoa Kỳ hy vọng đến cuối tháng 5, 2021 sẽ chích ngừa xong cho mọi người.   

Các nhà khoa học đã nỗ lực không ngừng để có thể làm ra vaccine trong khoảng thời gian gần 1 năm là đã phá kỷ lục rồi.  Chúng ta phải biết tri ơn họ.

 

Những người trong ngành y được ưu tiên chích ngừa cũng phải vì họ là nhân viên tuyến đầu (phase 1A).  Những người săn sóc bệnh nhân tại gia được gọi là Personal Care Aid (PCA) cũng thuộc tuyến đầu nên cũng được ưu tiên chích ngừa.  Thế mà có vài người không chịu chích, lấy lý do “thuốc này quá mới, sợ chích sẽ có phản ứng không tốt”.

Nói như thế là họ chỉ nghĩ đến cá nhân mình, chứ không nghĩ đến bệnh nhân mà họ săn sóc. Vì những bệnh nhân lớn tuổi, có bệnh nền rất nhiều.  Nếu người PCA có bệnh Covid trong người và lây cho bệnh nhân thì họ khó lòng thoát chết.  

Cái ác là có trường hợp người PCA và gia đình họ đã mắc bệnh mà không chịu đi thử nghiệm Covid.  Họ bảo rằng họ chỉ bị cúm mùa mà thôi.  Họ vẫn tiếp tục đi làm cho dù công ty đã dặn dò hễ có triệu chứng cảm cúm thì phải nghỉ ờ nhà và bá cáo với công ty.  Nhưng họ không nghe vì nghĩ rằng họ chỉ ho sơ sơ, mệt sơ sơ. Thế là bệnh nhân của họ bị lây bệnh Covid từ nơi họ.  Khi bệnh nhân thấy khó thở và đuối sức, vào nhà thương thì được thử covid. Kết quả là bệnh nhân đã nhiễm bệnh Covid nặng, vào nhà thương từ 1-2 tuần là chết.

Con số nạn nhân chết vì Covid-19 đâu ai tự tạo ra bệnh cho mình!  Họ bị những người khác lây cho họ.  Có thể do con cháu họ, bạn bè của họ, hàng xóm của họ, người ở cùng nhà với họ (housemate), người làm chung hãng xưởng, chung văn phòng, những người đi chung nhà thờ hoặc chùa chiền với họ hoặc đi chung chuyến xe bus, chuyến tàu điện, chuyến máy bay, chuyến tàu thủy, hoặc đi chung cái chợ, dùng chung nhà vệ sinh v.v. Virus cúm Vũ Hán hay Sars-cov-2 lan tràn khắp nơi, chỉ có cặp mắt thần mới nhìn thấy chúng hiện diện khắp nơi, khắp chốn ở những thành phố có dịch lên cao điểm.

Bộ y tế của Anh quốc xác nhận năm 2020 bệnh cúm mùa hầu như bị diệt chủng ở Anh vì ai cũng đeo khẩu trang và giữ khoảng cách khi ra đường nên con cúm mùa không có cơ hội lây lan.  Thay vì mỗi năm có 10 ngàn người Anh chết vì cúm mùa, năm 2020 không có ai chết vì cúm mùa mà thay vào đó có 100 ngàn người Anh chết vì cúmVũ Hán hay Covid-19.

Ở Mỹ hay ở nước nào khác cũng tương tự như nước Anh.  Nghĩa là những ai có triệu chứng từa tựa như đang bị cảm, cúm thì đừng bảo rằng “Tôi chỉ bị cảm thôi”.  Làm ơn đi thử Covid-19, và cách ly với mọi người để tránh gieo tai họa cho người khác. 

 

Cả năm 2020 kéo dài đến nay tháng 3,2021 chưa thấy hy vọng cơn đại dịch Covid Vũ Hán này có dấu hiệu sớm chấm dứt, con Sars-CoV-2 đã biến ra nhiều chủng mới.  Các chuyên gia dịch tễ học hy vọng có ít nhất 75 % dân số toàn cầu được chích ngừa thì cơn đại dịch này sẽ có hy vọng kết thúc.

Có nghĩa là nếu không đủ số người chích ngừa thì nhân loại sẽ tiếp tục sống với dịch lệ Covid-19 cho đến khi tận thế.

Chúng ta may mắn ở Hoa Kỳ, được chánh quyền cung cấp thuốc chích ngừa miễn phí cho toàn dân và những thường trú nhân kể cả sinh viên ngoại quốc đang học tại Hoa Kỳ; hoặc những người Việt qua Mỹ thăm thân nhân rồi bị kẹt lại vì không có máy bay về Việt Nam cũng được chích ngừa Covid-19.  Ở nhiều nước khác, người giầu muốn bỏ tiền ra mua thuốc chích ngừa mà không có thuốc để mua. Ấy thế mà ở Mỹ có người không chích còn xúi người khác đừng chích ngừa nữa.  Họ nêu lý do thuốc này mới quá nên không tin được, có thể khiến họ bị nguy hiểm hay bị phản ứng không tốt.  Vâng, các chuyên gia y tế nói rằng trừ trường hợp bạn từng bị sốc phản vệ với đồ ăn hay thuốc men trước đây thì cần tham khảo với bác sỹ trước khi chích.  Nếu bạn chỉ dị ứng sơ sơ với đồ ăn như nổi ngứa thì không sao cả.

Lại còn lắm tin vịt trên các trang mạng xã hội, giả hiệu của CDC để gieo rắc hoang mang cho những người nhẹ dạ, thích nghe tin đồn hơn tin của bộ y tế Hoa Kỳ, rằng thuốc ngừa Covid có thể làm biến đổi DNA của con người.

Chưa hết, có tin đồn từ những người tiên tri rởm rằng, chánh phủ muốn cấy con chip bằng chất lỏng có ba số sáu “666” vào dân qua việc chích ngừa để kiểm soát nhất cử nhất động của dân nên khuyên người ta đừng chích.  Những ai tin lời của các tiên tri rởm này?  Đó là những người tin Chúa hết lòng, nhưng nhẹ dạ, dễ tin lời người ta mà không tự suy xét, vì trong kinh thánh có nói đến ba con số sáu “666” là con dấu của những người thuộc về Satan, bị nó đóng dấu vào trán hoặc trên tay. Chỉ có Satan và binh lính của nó nhìn thấy, con mắt loài người không thấy được.

 

Kinh thánh, sách Khải Huyền, chương 13, câu 16-17:

16 Nó cũng khiến mọi người, nhỏ và lớn, giàu và nghèo, tự chủ và tôi mọi, đều chịu ghi dấu hoặc trên tay hữu, hoặc trên trán, 17 hầu cho người nào không có dấu ấy, nghĩa là không có danh con thú hay số của tên nó, thì không thể mua cùng bán được.
18 Đây tỏ ra sự khôn ngoan: Kẻ nào thông minh, hãy tính số con thú, vì đó là một số người; số nó là sáu trăm sáu mươi sáu.

 

Nên nhớ rằng những người tin Chúa cũng được Đức Thánh Linh của Đức Chúa Trời đóng dấu, chỉ có thiên sứ của Chúa và các tà linh của Satan nhìn thấy.  Satan không dành được những người đã có dấu ấn của Thánh Linh của Đức Chúa Trời.  Cho dù bất kỳ chánh phủ nào có cấy một thứ gì đó vào da thịt những người theo Chúa thì cũng vô ích, nó chỉ là vật thể, không thể thay thế dấu ấn Thuộc Linh Đức Chúa Trời đã ấn chứng trên dân sự của Ngài được đâu.  Đức Chúa Trời có quyền bính cao hơn Satan và loài người chứ!  Ngài có đủ khôn ngoan để phân biệt con dấu vật thể hay con dấu thuộc linh, và Ngài có quyền năng bảo vệ dân sự của Ngài chứ!

Kinh thánh, sách Ê-phê-sô, chương 4, câu 30 “ Anh em chớ làm buồn cho Đức Thánh Linh của Đức Chúa Trời, vì nhờ Ngài anh em được ấn chứng đến ngày cứu chuộc.”

 

Nhìn đi, có ai đi chích ngừa ở Mỹ hay ở Âu châu bị các y tá hay nhân viên y tế cấy ba con số 666 vào người chưa?

Nhưng chúng ta phải biết một điều là người Trung Hoa tự xưng mình là “Con cháu của Rồng.” 

Trong kinh thánh nói đến “Rồng” là Satan, là con “Rắn” xưa.  Là con rắn đã dụ Eva ăn trái cấm.  Vì thế con rồng Satan đã ban quyền lực cho “con cháu” của nó để tạo ra cơn đại dịch này.  Nhìn lại xem, cúm gà, cúm heo cũng đều xuất phát từ nước Trung Hoa vĩ đại.  Giờ thì đến cúm Vũ Hán, cũng từ nước Trung Hoa mà ra, được đổi tên thành Covid-19.   Trong tương lai, biết đâu sẽ còn nhiều con Virus khác, kinh khủng hơn xuất phát từ con cháu của con rồng nữa đấy.

Cũng may, số người tin vào các tiên tri “rởm” này không nhiều.

 

Bạn không muốn chích ngừa, đó là quyền của bạn.  Nhưng nếu bạn không bảo đảm được người kia sẽ không trúng dịch và không truyền dịch bệnh lại cho người khác, thì xin đừng xúi xiển hay khuyên can họ “Đừng chích ngừa”.  Đừng lên các trang mạng xã hội kêu gọi mọi người đừng chích ngừa và đưa ra những tin vịt để hù dọa những người kém hiểu biết.   Hãy nhìn con số gần 3 triệu người đã chết vì Covid-19 trên toàn cầu và vào tháng 3 năm 2021, tổng số nạn nhân tử vong vì Covid-19 trên nước Mỹ đã hơn nửa triệu người mà đón nhận thuốc vaccine như một cứu cánh cho nhân loại! 

Một thiểu số người tin Chúa bảo rằng chủng ngừa Covid là không tin vào quyền năng của Chúa bảo vệ mình, thế khi bạn sinh con ra, bạn có cho chúng trồng trái và chủng ngừa các thứ bệnh như sốt tê liệt, uốn ván, ho gà, ho lao? Nhất là nếu con bạn sống tại Mỹ và các quốc gia văn minh, khi trẻ con bắt đầu đăng ký đi học tiểu học đã phải nộp cho trường sổ chủng ngừa chứng minh đã chủng ngừa các loại mà bộ giáo dục đưa ra. Sau đó học sinh còn phải chủng ngừa thêm viêm gan siêu vi B để bổ túc hồ sơ cho trường.  Cả khi năm đầu đăng ký vào đại học tại Hoa Kỳ, các em sinh viên đã phải nộp sổ chích ngừa đầy đủ cho các đại học.

Nhưng nếu bạn tin như thế là đúng, xin đừng truyền dạy người khác tin như bạn vì bạn còn mâu thuẫn với hành động của mình quá. Hơn nữa, bạn không bảo đảm được sự an toàn hay sinh mạng cho người khác mà dám khuyên người ta đừng chích ngừa thì tai hại chừng nào.

Chích ngừa không phải vì cá nhân mình sợ chết hay không sợ chết, nhưng vì chúng ta muốn góp một bàn tay với nhân loại để kết thúc cơn đại dịch này và cũng là cách chúng ta kết thúc công việc của Satan.  Satan đến để cướp, giết và hủy diệt! 

 

Không những cơn đại dịch cúm Vũ Hán lấy đi vài triệu sinh mạng, nó còn làm sụp đổ ngành du lịch trên toàn cầu.  Nó kéo theo nhiều ngành nghề sụp xuống, khiến kinh tế thế giới sụp theo.  Hàng triệu, triệu người thất nghiệp vì nó.  Ngành hàng không, du thuyền, resort,  khách sạn, hướng dẫn viên du lịch, nhà hàng, bar, quán, giải trí, sân khấu ca vũ nhạc kịch sa thải nhân viên.  Con người đi từ nước này qua nước kia bị hạn chế hoặc bị cách ly từ 2-3 tuần nếu có việc cần phải đi đến nước đó.  Trường học đóng cửa.  Đám tang, đám cưới, đoàn thể hội họp phải hạn chế lại.  Đi đâu cũng phải đeo khẩu trang và đem theo nước rửa tay (hand sanitizer) để dùng thường xuyên.  Sinh hoạt hằng ngày không còn bình thường như trước khi có đại dịch.

Chúng ta có muốn kéo dài tình trạng này cho đến hết đời chúng ta và đến đời con, đời cháu, đời chắt của chúng ta không?  Nghĩa là sống với dịch Covid-19 cho đến tận thế?

Con số 2020 quả là con số của sự chết.  Vô tình hay cố ý?

 

Năm 2021 hy vọng nhân loại trên toàn cầu sẽ được chích ngừa đầy đủ để sớm kết thúc cơn đại dịch cúm Vũ Hán hay Covid-19 này.  Mọi ngành nghề sẽ phục hồi, sẽ không còn người thất nghiệp vì cúm Vũ Hán.

Khi nào hết dịch lệ, khi đó mọi người tha hồ bay đi đó đi đây như chim trời, mọi việc sẽ trở lại như xưa, như thời chưa có dịch Covid Vũ Hán.  Và người ta sẽ quên đi nỗi tang thương chết chóc của cơn đại dịch Cúm Vũ Hán, hay Covid-19.

 

Nhưng xin nhớ một điều, dịch cúm Covid-19 này đến từ Trung Cộng. Vì thế, những ông bà người Đen, người Trắng xin làm ơn đừng trả thù người Á Châu da Vàng đang sồng tại bên ngoài nước Tàu cộng.

 

TT-Thái An

3/20/2021




GÁC CHÂN NHÌN ĐỐI THỦ




Inline image


Lương Hải

Hình ảnh “gác chân nhìn đối thủ” của Hạm trưởng Khu trục hạm USS Mustin (DDG - 89) của Mỹ... đã trở nên nổi tiếng trên toàn thế giới! (xem thường đối thủ)
Tất nhiên, hình ảnh do Đệ Nhất Hạm đội 7, Mỹ - công bố ngày 11/4 này... không phải để chơi cho vui đâu các bạn... mà nó có chủ đích rõ ràng!
Bối cảnh của tấm ảnh này là “cuộc đụng độ” trên Biển Đông giữa Khu trục hạm trang bị tên lửa dẫn đường USS Mustin (DDG - 89) của Mỹ với nhóm tàu sân bay Liêu Ninh của Tàu!
Ngày 4/4, Khu trục hạm USS Mustin đang tuần tra trên Biển Đông... thì nhận được tin nhóm tàu sân bay Liêu Ninh của Tàu đã vào Biển Đông, và định tiến vào “rình mò kiếm ăn” sát vùng Biển của Philippines (nơi đang có hơn 200 “tàu cá” trá hình của Tàu đang hoạt động)... ngay lập tức Khu trục hạm USS Mustin của Mỹ đã nhận được lệnh “tiếp đón”!
Lúc đó, tuy các biên đội tấn công nguyên tử của HKMH USS Theodore Roosevelt (CVN-71), cũng như biên đội tấn công đổ bộ của USS Makin Island LHD-8 và USS San Diego LPD-22 vẫn chưa có mặt trên Biển Đông... và lúc đó chỉ có một mình Khu trục hạm USS Mustin trong khu vực!
Và USS Mustin đã “tiếp đón” nhóm tàu sân bay Liêu Ninh bằng cách chạy cắt ngang đội hình - “xuyên thủng”, “xé toạc” đội hình của nhóm tàu sân bay Liêu Ninh!
Trong Hải Quân (và Quân đội nói chung) thì cách “hành quân” XUYÊN THỦNG - XÉ TOẠC đội hình của đối thủ như vậy là một cách DẰN MẶT cực mạnh!
Đặc biệt, các bạn hãy nhìn dáng ngồi “gác chân ngắm cảnh” cực kỳ TỰ TIN của Hạm trưởng Robert J Briggs cùng Hạm phó Richard D Slye cũng “khoanh tay trước ngực”... khi Khu trục hạm USS Mustin của họ “đơn thân độc mã” thực hiện cú “xuyên thủng”, “xé toạc” đội hình tác chiến của nhóm Tàu Sân Bay Liêu Ninh của Tàu trên Biển Đông... phải nói đó là sự tự tin tới mức độ gần như là khinh thường đối thủ!
Để tự tin được như vậy, với người Mỹ - ngoài LẼ PHẢI ra, còn phải là bằng thực lực và hiểu biết rất rõ đối thủ... chứ không phải kiểu “chụp ảnh tự sướng tuyên truyền” như của Tàu!
Vậy sức mạnh Khu trục hạm USS Mustin của Mỹ “khủng” đến cỡ nào!?... Và nhóm tàu sân bay Liêu Ninh của Tàu có gì!?
Khu trục hạm USS Mustin (DDG 89) là chiếc thứ 39 thuộc lớp Arleigh Burke của hải quân Mỹ - trực thuộc Hạm đội 7, đóng tại Nhật Bản!
USS Mustin tải trọng 9.200 tấn, tốc độ 56km/giờ, gồm 380 sỹ quan và thủy thủ đoàn... chính thức hoạt động từ năm 2003... được trang bị tên lửa dẫn đường với hệ thống chiến đấu AEGIS tối Tân nhất - bao trùm cả ĐẤT - KHÔNG - BIỂN - NGẦM, cả tầm xa lẫn tầm gần...!.
Trong đó, hệ thống tên lửa TẦM XA của Khu trục hạm USS Mustin “phủ sóng” cả ĐẤT - KHÔNG - BIỂN gồm các phiên bản tiêu chuẩn như;
Hệ thống tên lửa hành trình Tomahawk - tấn công ĐẤT LIỀN (gồm 2 phiên bản RIM-662 và BGM-109, một số đã được trang bị cả đầu đạn HẠT NHÂN CHIẾN THUẬT W80)!
Hệ thống tên lửa TLAM - tấn công cả ĐẤT LIỀN lẫn DIỆT HẠM!
Hệ thống tên lửa ĐỐI KHÔNG - ĐỐI ĐẤT Standard SM-2MR Block 4... và đây chính là hệ thống CÔNG - THỦ trung tâm của hệ thống chiến đấu Aegis!
Hệ thống chiến đấu TẦM GẦN của Khu trục hạm USS Mustin gồm;
Hệ thống pháo hạm Mk 45 127mm!
Hệ thống pháo phòng không tầm gần Mk-15 Phalanx 20mm!
Hệ thống SĂN NGẦM và phóng ngư lôi 324mm Mk32 Mod 14 (6 ống phóng)... cùng nhiều vũ khí hiện đại khác...!
Ngoài hệ thống chiếu đấu AEGIS, thì hệ thống liên lạc điện tử tối Tân của USS Mustin là hệ thống định vị Tercom và Radar mảng pha quét điện tử thụ động SPY - 1D... có thể phát hiện tất cả mọi mục tiêu cùng lúc từ khoảng cách rất xa - vượt khỏi “đường chân trời”...!
Vậy nhóm tàu sân bay Liêu Ninh của Tàu có gì!?
Theo “qui ước” kể từ khi thành lập nhóm tác chiến tàu sân bay Liêu Ninh - nhóm tàu sân bay đầu tiên của Tàu, sẽ bao gồm... 1 tàu sân bay, 1 tàu khu trục Type 055, 2 tàu khu trục Type 052D, 1 tàu hộ tống Type 054A và 1 tàu hỗ trợ Type 901!.
Về tàu sân bay Liêu Ninh đầu tiên của Tàu thì chúng ta đều biết nó là cái xác tàu phế liệu Varyag của Liên Xô (Ukraine thừa kế) - đóng năm 1985, thuộc lớp Admiral Kuznetsov từ thời thế chiến 2... và Tàu mua về tân trang lại, đặt tiên là Liêu Ninh... với mục tiêu chỉ là để “bằng chị bằng em” và... “tập bơi”!
Còn tàu sân bay thứ 2 của Tàu vừa hạ thủy thì ngoài một số Công Nghệ mà Tàu đã “ăn trộm” và mang ra thử nghiệm... thì nó cũng chỉ là phiên bản “hàng nhái” của Liêu Ninh với các công nghệ đóng tàu sân bay kiểu “nhảy cóc” đã quá lạc hậu từ thời Liên Bang Xô Viết... nên nó cũng chẳng khác gì Liêu Ninh là mấy!
Về tàu trục Type 055 (NATO đặt tên là lớp Renhai, còn Mỹ phân loại lớp này là Tuần Dương) thì hiện tại Tàu mới chỉ có 2 chiếc chính thức hoạt động, hạ thủy năm 2017... Type 055 thuộc nhóm tàu hiện đại nhất mà Tàu hiện có... nó được trang bị tên lửa đối không HHQ-9, tên lửa hành trình tầm xa chống hạm YJ-18, tên lửa hành trình đối đất CJ-10... hệ thống pháo chủ lực 130 mm, pháo cận chiến 30 mm (cả cận chiến và phòng không), ống phóng ngư lôi, tác chiến điện tử... hệ thống radar “X - S” thế hệ mới nhất của Tàu là phiên bản 346X... về công nghệ thì radar 346X này còn thua cả radar thế hệ cũ nhất của Mỹ là AN/SPY-1 trang bị trên khu trục hạm Aegis lớp Arleigh Burke Flight I - đời đầu tiên (các lớp Khu trục hạm hiện nay của Mỹ như DDG 1000 đã trang bị tới radar AN/SPY - 3, tức là thế hệ thứ 3)!
Về tàu khu trục Type 052C... lớp tàu này cũng được trang bị một số hệ thống tên lửa KHÔNG - BIỂN tầm xa như của Type 055, như tên lửa HaiHongQi 9A (HHQ-9A) - đây là phiên bản “hàng nhái” mà Tàu sao chép “mỗi thứ một chút” từ S-300 của Nga ngố và Patriot của Mỹ... hệ thống radar của 052C là AESE - radar quét mảng pha đa chức năng...!
Về tàu hộ tống Type 054A... lớp tàu này cũng được trang bị một số vũ khí như các lớp tàu khu trục của Tàu... tuy nhiên, nếu nói về nhiệm vụ HỘ TỐNG thì nó có rất nhiều điểm yếu - trong đó, ĐIỂM YẾU lớn nhất của Type 054A là KHÔNG THỂ SĂN NGẦM... đây là điểm yếu chí tử của không chỉ mỗi lớp tàu 054A mà còn của cả Hải quân Tàu... bởi đơn giản là công nghệ của Tàu không thể theo kịp Phương Tây - nhất là Mỹ...!
Chúng ta đều biết, trong chiến tranh hiện đại thì chỉ sức mạnh Vũ Khí là không đủ... mà phải “tàng hình” và “phát hiện ra đối phương trước”... mới là điều quyết định cho Chiến Thắng!
Ngoài ra, còn có một điều khá đặc biệt dẫn tới việc Hạm Đội 7 của Mỹ quyết định công bố tấm ảnh này, mà có lẽ ít người chú ý... đó chính là việc Mỹ “DẰN MẶT” Tàu vì tuyên bố “đã đuổi tàu chiến Mỹ ra khỏi Biển Đông” của Tàu vào ngày 28/5/2020 trên vùng biển Trường Sa - Biển Đông!
Khi đó, Khu trục hạm USS Mustin thực hiện tuần tra tự do hàng Hải trên Biển Đông và tiến vào trong phạm vi 12 hải lý quanh các đảo nhân tạo mà Tàu đã chiếm và xây dựng trái phép trên Quần đảo Trường Sa... sau đó USS Mustin đã TỰ RÚT ĐI!
Nhưng phía Tàu đã công bố rầm rộ trên truyền thông trong nước (và một số hãng tin thế giới đã dẫn lại) là... “tàu chiến của Tàu đã xua đuổi tàu Mỹ ra khỏi khu vực”... (!?)
Tất nhiên, như thường lệ, người Mỹ chỉ “cười khẩy” và gọi đó là “TRÒ HỀ” (tuyên bố của tư lệnh Hạm đội 7)... bởi với Kẻ Thống Trị Hoa Kỳ thì Tàu chỉ thuộc hạng “tép riu”!
Cũng nói thêm một chuyện “thật như đùa” về tàu sân bay của Tàu, mà chắc có lẽ cũng ít người chịu để ý... đó là Tàu KHÔNG CÓ ĐỦ tiêm kích hạm J -15 để trang bị cho tàu sân bay!
Đúng là chuyện thật như đùa phải không các bạn!?
Hiện tại, Tàu chỉ có 40 tiêm kích hạm J - 15 (tiêm kích hạm khác với tiêm kích thông thường vì nó đòi hỏi nhiều công nghệ cao. Còn các loại tiêm kích hạm J -26, J -31 mới chỉ là trên giấy)... nhưng Tàu lại đang chuẩn bị xuất xưởng chiếc tàu sân bay thứ 3... vậy suy ra, mỗi tàu sân bay của Tàu chỉ được trang bị khoảng hơn chục chiếc tiêm kích hạm J - 15!
Đó là chưa kể tới việc tiêm kích hạm J-15 của Tàu có đầy những sai sót - những điểm yếu chết người... mà chính Nga Ngố đã không ngần ngại chỉ thẳng ra những điểm yếu “chí mạng” này cho Tàu “nhìn thấy”... và nếu so sức mạnh không chiến của J - 15 “hiện đại nhất” của Tàu, thì nó chỉ là hạng “ruổi” so với chiến đấu cơ “cổ” nhất hiện nay của Mỹ là F - 15... chứ chưa cần nói tới F - 16, F - 18, F - 22, F - 35... !
Theo Lương Hải, với tương quan Sức mạnh Công Nghệ trang bị hiện có... thì chỉ một mình Khu trục hạm USS Mustin DDG - 89 của Mỹ cũng thừa sức “thổi bay” cả nhóm tàu sân bay Liêu Ninh của Tàu!
Và tất cả sức mạnh đó của USS Mustin đã được thể hiện rõ nét nhất qua sự TỰ TIN đến mức độ gần như xem thường đối thủ của Hạm Trưởng Robert J Briggs... trong ảnh!
Với Kẻ Thống Trị luôn rất đơn giản... không cần nói nhiều... chỉ cần một tấm ảnh... cũng đủ nói lên tất cả!
So với Đại Bàng... thì Gà “chưa hề đủ tuổi”!
Và bất kể là Gà đã “quáng gà” đến mức mà nó không thể “nhìn thấy” rằng nó “chưa hề đủ tuổi”... hay Gà đã “bị lừa” (bị thổi phồng sức mạnh) khiến nó không thể “nhìn thấy” tầm mức “trẻ trâu” của nó... thì nó cũng đều sẽ phải... “lên dĩa”!

Lương Hải





VÀI PHƯƠNG PHÁP TỰ VỆ "CHỐNG KỲ THỊ DA VÀNG"

Bài CHU TẤT TIẾN

Gần đây, sự việc tấn công người Á Châu mỗi ngày mỗi tăng. Đa số nguyên nhân những vụ tấn công là vì người Mỹ cho rằng chính người Trung Hoa đã tạo ra Coronavirus làm chết hơn nửa triệu người Hoa Kỳ.

Theo báo cáo của FBI được ghi nhận lại của Trường Đại Học San Bernadino, số lượng các vụ thù ghét người Mỹ gốc Á Châu, đã giảm từ năm 1996 đến 2019, nhưng tăng mạnh từ cuối năm 2019 là khi Covid-19 bắt đầu hoành hành. Chỉ riêng hai năm 2019 và năm 2020, số tội ác kỳ thị chống Á Châu tăng 149%, đặc biệt là trong tháng 3 và tháng 6 năm 2020, là thời gian Bạch Cung đặt tên cho Coronavirus là “CHINA VIRUS,” số lượng tội ác chống Á Châu tăng vọt từ 0 vụ đến gần 100 vụ. Sau đó, giảm dần gần như không có vụ nào nhưng bất ngờ đến tháng Giêng năm 2021, khi con số người chết vì Coronavirus được báo cáo đã lên đến trên 500,000 thì số vụ tấn công người Á Châu lại bùng lên.

Nhiều tiểu bang trước đây hoàn toàn không có vụ tấn công người Mỹ gốc Á nào rồi cũng xảy ra một số vụ. Đại Học San Bernadino đã ghi nhận con số tội ác chống Á Châu tại một số thành phố tiêu biểu tăng từ năm 2019 đến 2020 như sau:
(số đầu là năm 2019, số sau là 2020): Washington State: 0 – 3, San Diego: 0 - 1, Chicago: 2 - 2, Philadelphia: 2 - 6, Cleveland: 2 - 6, San Jose: 4 - 10, Seattle: 9 - 12, Boston: 6 - 14, New York: 3 - 28, Los Angeles: 7 - 15…

Trong các thành phố này, New York đứng đầu với sự tăng từ 3 vụ lên 28 vụ, Los Angeles tăng từ 7 đến 15 vụ, khu vực San Jose tăng từ 4 vụ lên 10 vụ… 

Sang năm 2021, nhiều vụ tấn công đẫm máu đã xảy ra. Tại Atlanta, Georgia, một thanh niên 21 tuổi đã bắn chết một lúc 8 người gồm 7 nữ, 1 nam trong đó có 6 phụ nữ Á Châu. Mới cách đây mấy ngày, hôm mùng 6 tháng 4, một phụ nữ Á Châu, khi đang dẫn chó đi dạo tại Irvine, đã bị đâm chết không có lý do.

Tổng quát, đa số các vụ tấn công người Mỹ gốc Á đều xảy ra dưới hình thức bị đấm, đá, đạp, bị nhổ nước bọt vào mặt, bị mắng chửi, đuổi về nước, lẫn trong các vụ bị bắn, bị đâm đến chết.

Vì thế, những người Việt chúng ta ở Mỹ, nhất là phụ nữ trung niên hoặc lớn tuổi, phải tự đề cao cảnh giác, nên áp dụng nguyên tắc sau đây, không những chỉ trong thời gian Covid, mà trong mọi hoàn cảnh khác, tránh bị tấn công, bị bắt cóc, hãm hiếp hoặc bị giết chết:

Về việc đi bộ

Không đi bộ một mình giữa chỗ đông người Mỹ, Mễ, Mỹ Đen. Không đi ra ngoài lúc sáng sớm hay lúc tối đèn. Không đi xe buýt, xe điện một mình, nhất là xe điện ở New York (nơi tội phạm rất cao).

Không chạy hoặc tập thể thao một mình tại các công viên đông người. Cũng không chạy bộ một mình ngay trong khu mình ở, vì có thể có một kẻ ác lái xe đi qua, thình lình mở bung cửa xe ra, đập cánh cửa xe vào nạn nhân làm ngã xuống, rồi kẻ ác chạy vòng qua lôi nạn nhân vào xe, đóng cửa, chạy vù đi, chỉ chưa đầy MỘT PHÚT!

Nếu phải đi bộ, chạy bộ gần nhà, thì hãy vừa nhìn đằng trước vừa ngó chung quanh, thấy có kẻ lạ đi bộ đến gần, ngược chiều hay cùng chiều, là đứng lại, thủ thế ngay. Kẻ ác thấy mình thủ thế liền khựng lại và bỏ đi. Chúng chỉ hành động khi nạn nhân không đề phòng mà thôi. Nhưng cũng có khi kẻ ác, lúc đó đã lên cơn, mà cứ xấn tới thì rút ngay cái bình xịt Pepper Spray ra cầm tay hoặc cái còi điện, bấm vào cho còi hú lên inh ỏi, sẽ bảo vệ được tính mạng mình.

Tuyệt đối không giúp CHỈ ĐƯỜNG cho ai hỏi đường đi, ngay cả với phụ nữ khác. Chúng làm bộ hỏi đường để chờ “người tốt” sơ hở là dí dao, dí súng vào bụng.

Về việc lái xe

- Khi ra xe đậu ở Parking, nếu thấy có dấu hiệu lạ dính vào xe, giấy dán trên kính, dây buộc cửa xe, một vật gì để trên cốp xe phía sau, kính xe phía trước bị đổ cà phê... thì nên lái xe đi một mạch luôn, không nên loay hoay đứng lại để gỡ mấy cái món đó ra. Lý do: kẻ ác chỉ chờ khi tài xế loay hoay đi tìm giẻ lau, tìm cách gỡ đồ dính vào xe, quay mặt vào phía xe, bỏ trống phía sau lưng thì sẽ từ phía sau, nhảy đến, đập vào đầu tài xế, hoặc chụp túi vào đầu tài xế mà bắt đi.

- Khi ra lấy xe, nếu thấy có một xe Van lớn đậu cạnh xe mình, thì nên từ từ đi xa ra, ngó vào cái xe Van lớn đó, xem có người ngồi trong đó không. Nếu có người ngồi trên ghế lái xe thì lảng đi luôn, rồi gọi người nhà đến đón. Nếu gần cửa tiệm nào đó, thì trở vào tiệm và nhờ một người đi theo mình ra. Nếu không có ai, thì gọi 911 nhờ họ hộ tống mình ra xe. Không bao giờ đi qua cửa hông xe Van, cho dù không thấy ai ngồi trên ghế tài xế, vì kẻ ác có thể thình lình mở cửa xe ra và lôi mình vào trong xe... CHỈ CÓ 30 GIÂY!

- Vào buổi chiều hay buổi tối, khi ra lấy xe ở Parking, phải luôn ngó vào phía ghế sau của xe mình, xem có tên nào nằm phục trong đó không. Kẻ gian có thể mở cửa xe, rồi chui vào nằm phục ở ghế sau, chờ tài xế vừa lái đi là dí dao, dí súng vào đầu.

- Buổi chiều, hay tối: Phụ nữ ra lấy xe mà thấy bánh xe xì lốp, hoặc đề máy mà xe không nổ thì tuyệt đối không nhờ bất cứ ai đứng gần đó thay bánh xe hộ hoặc câu bình giùm. Kẻ nào đứng gần đó, làm bộ muốn ra tay nghĩa hiệp, chính là kẻ gian! Trở vào trong nhà hàng, cửa hàng mà gọi người nhà đến giúp, nếu không có ai ở nhà thì gọi 911, cảnh sát sẽ đến thay bánh xe cho “free”. Ban ngày, trời sáng thì có thể đứng chờ có người nào đậu xe cạnh mình, đi ra, thì nhờ họ giúp. Người có xe đậu sẵn chắc không phải kẻ gian. (Nhớ là tránh xa xe Van lớn, xe nhà thầu…)

- Đang lái xe mà thấy có xe nào đi cạnh, chỉ trỏ vào bánh xe của mình, ra hiệu là cái bánh xe của mình đang bị xẹp thì cứ tỉnh bơ mà đi. Kẻ chỉ trỏ đó chính là thằng Ác muốn mình dừng xe lại mà thi hành kế gian.

- Trường hợp xui xẻo: Nếu lỡ bị bắt cóc, bị trói, bị nhốt vào xe, thì sử dụng hai chân đạp tối đa vào cửa. Nếu bị đặt nằm ghế sau thì lăn lộn lung tung, đạp, dẫy dụa làm cho xe bị lạng quạng, người đi đường sẽ thấy và gọi cảnh sát. Nếu bị nhốt trong thùng xe phía sau thì lấy chân đạp mạnh vào cái đèn trái, phải ở sau cho nó bung ra… Người khác lái xe phía sau sẽ lưu ý và cũng gọi cảnh sát

- Cuối cùng: Nếu bị kẻ gian ngồi trong xe sẵn, dí dao hay dí súng vào người và buộc phải lái xe đi thì cũng lái xe đi và bất thình lình nhấn ga, đâm vào một chiếc xe khác, vào một thân cây, một thùng rác… nhất định không nghe lời chúng, vì đằng nào thì cũng CHẾT, nếu nghe theo lệnh chúng, thì nhất định sau khi bị hãm hiếp, chúng sẽ vất xác trong rừng rậm, thân nhân không bao giờ tìm thấy. Thà Chết ngay tại chỗ, mà kẻ gian sẽ bị tử hình, và thân nhân còn có xác mà chôn.

Tóm lại, “Cẩn tắc, vô Ưu”, có đề phòng thì không lo sợ. Biết tự bảo vệ mình thì sống lâu, sống khỏe, mà nếu ơ hờ, hoặc tự tin vào bản lãnh của mình quá, thì có ngày... hối hận không kịp, trừ trường hợp võ nghệ đầy mình!


(Ngày 7 tháng 4, 2021)



Đi b ch 20 phút có tác dng gì? Bn s bt ng

Đi bộ nhanh 20 phút bạn sẽ đi được khoảng một dặm (1,6 km) và đi được từ 2.000 đến 3.000 bước, dẫn đến đốt cháy được 90 đến 110 calo. (Mỗi lần đi bộ, hãy biết rằng về cơ bản bạn đang đốt cháy calo tương đương với số calo khi bạn ăn một túi khoai tây chiên!).
Bằng cách đảm bảo rằng bạn sẽ đi bộ nhanh, tim của bạn sẽ đập “vào số” để tăng lưu lượng máu đến các cơ của bạn, và bạn “sẽ tối đa hóa lượng calo đốt cháy của bạn”. Theo thời gian, những lợi ích thu được sẽ bao gồm sức khỏe tim mạch tốt hơn, mức cholesterol và huyết áp tốt hơn, và ít viêm hơn.

2. Bạn sẽ giảm ngay nguy cơ tử vong

Một nghiên cứu lớn được công bố vào năm 2015 trên Tạp chí Dinh dưỡng Lâm sàng Mỹ cho thấy rằng đi bộ nhanh 20 phút mỗi ngày có thể giảm nguy cơ tử vong lên tới 30%. Trong số những người tham gia nghiên cứu, những người sống cuộc sống ít vận động và chỉ đơn giản là đi bộ ngắn hằng ngày đã có được lợi ích đáng kể nhất trong tất cả các nhóm được nghiên cứu.

Nói cách khác, chỉ cần xuống ghế đi bộ một quãng ngắn thôi cũng có tác động lớn đến tuổi thọ của bạn.

3. Bạn sẽ nhận được năng lượng

Theo nghiên cứu của Đại học Georgia (Mỹ) và được công bố trên tạp chí Psychotherapy and Psychosomatics, đi bộ 20 phút chỉ 3 ngày một tuần trong 6 tuần có thể giúp tăng thêm 20% mức năng lượng và giảm bớt cảm giác mệt mỏi.

4. Bạn sẽ cảm thấy sáng tạo và giàu trí tưởng tượng hơn

Một nghiên cứu mới được công bố trên tạp chí Scientific Reports cho biết bạn nên đi bộ để tăng cường khả năng sáng tạo. Hơn nữa, bạn càng đi bộ nhiều, bạn càng sáng tạo hơn.

The New York Times giải thích: “Những người hoạt động tích cực nhất cũng là những người sáng tạo nhất, đặc biệt là nếu họ thường xuyên đi bộ hoặc tập thể dục vừa phải”. Nghiên cứu cũng lưu ý rằng bạn càng năng động, bạn càng có nhiều khả năng trở thành một người hạnh phúc hơn về mọi mặt.

5. Bạn sẽ tắt các gien thúc đẩy… béo phì

Bạn sẽ phải đi xa hơn nữa để gặt hái được những lợi ích đầy đủ của điều này, nhưng theo một nghiên cứu lớn từ năm 2011 trên 7.740 phụ nữ và 4.564 nam giới, một nhóm nghiên cứu do Khoa Dinh dưỡng tại Trường Y tế Công cộng Harvard (Mỹ) đã phát hiện ra rằng "Đi bộ nhanh một giờ mỗi ngày" thực sự có thể làm giảm "ảnh hưởng của di truyền đối với bệnh béo phì" của cơ thể bạn.

Nghiên cứu cho thấy rằng ngồi và xem TV đến hai giờ mỗi ngày thực sự làm trầm trọng thêm ảnh hưởng của các gien liên quan đến bệnh béo phì của bạn lên đến 25%. Trong khi đó, một giờ đi bộ tương đương với việc tắt các gien đó, theo Eat This, Not That!

 



QUÊ HƯƠNG VIỆT NAM - VIỄN CẢNH TÀN ÁC & NGHIỆT NGÃ GIÁNG XUỐNG QUÂN DÂN CÁN CHÍNH VNCH SAU NGÀY QUỐC HẬN 30.4.1975


Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 , tất cả quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa đều trở thành đối tượng "có nợ máu" của chế độ toàn trị dã man cộng sán khát máu trả thù thâm độc đày ải giết chết trong các trại tù. Một chính sách do cộng sản Việt Nam du nhập từ Trung cộng và được tôi luyện từ miền Tây Bá Lợi Á của thiên đường mù Nga Sô viết.

Tài liệu của Viện Bảo Tàng Việt Nam tại San Jose ghi nhận số lượng tù cải tạo như sau:

* - Năm 1975 QLVNCH có 980.000 quân nhân gồm 1/10 cấp Tá và cấp Tướng tổng cộng 9.600, cấp úy là 80.000, còn lại là hạ sỹ quan và binh sĩ.

- Cấp Tướng tại ngũ đến 30 tháng 4 năm 75 là 112; bị tù cải tạo: 32 vị, 80 tướng lãnh di tản và 1 số nhỏ không bị bắt giam.

- Đại tá có 600, bị tù 366.

- Trung tá có 2.500, bị tù 1.700.

- Thiếu tá có 6.500, bị tù 5.500.

- Cấp úy có 80.000, bị tù 72.000. Trong số này bao gồm cả nữ quân nhân cũng như thành viên đảng phái và các cấp chính quyền.

Đây là con số ghi nhận được từ phía Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa, không có tài liệu của các trại giam phía cộng sản để đối chiếu; và không có con số chính xác tù cải tạo bị chết trong khi giam cầm.

Ghi chú: Tất cả danh từ “cải tạo” thực sự chỉ là trò lừa bịp. Tất cả quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa bị giam cầm sau năm 1975 đều là tù chính trị không bản án.

NHỮNG NGƯỜI TÙ KHÔNG ÁN
Không kể thành phần bị bắt trước 1975, nhưng, không được trao trả tù binh sau năm 1973, thời gian bị tù “cải tạo” sau năm 1975 kéo dài từ 1 năm đến 17 năm - từ 1975 đến 1992.

Năm 1988 gần như là năm cuối cùng, hầu hết tù của chánh thể Việt Nam Cộng Hòa được trả tự do. Suốt 4 năm sau cùng, tù chánh bị nhốt ở trại giam Z30D chỉ còn lại 120 tù bị  tại Z30D gọi là Trại Thủ Đức - Rừng lá - Hàm Tân. Trong số này có 9 vị tướng lãnh. Đại tá Phạm Duy Khang khóa 6 Võ bị, làm thư ký Trại còn nhớ tên từng người. 4 Thiếu tướng: Lê Minh Đảo, Đỗ kế Giai, Trần Bá Di, Nguyễn Ngọc Sang, và 5 Chuẩn Tướng: Lê Văn Thân,(để tránh nhầm lẫn: Tư Lệnh SĐ 9 BB trước 30.4.1975 là Chuẩn Tướng Huỳnh Văn Lạc, sanh năm 1927 tại Phú Yên, 1 sao, bị tù cộng sản 13 năm - Thiếu Tướng Hoàng Văn Lạc, cũng sinh năm 1927, tại Nam Định, 2 sao - đơn vị cuối cùng  Tư Lệnh Phó Lãnh Thổ Quân Khu I, sang Mỹ năm 1975, định cư ở Houston - Texas) Mạch Văn Trường, Trần Quang Khôi, Phạm Duy Tất (thiếu tên một vị Chuẩn Tướng).

Cấp Đại tá có 22 người, 20 thiếu tá và các thành viên cảnh sát, đảng phái.

Thiếu tướng Đỗ Kế Giai tả lại quang cảnh khi tất cả mọi người được thả hết chỉ còn mấy người và mấy ông Tướng. Trại Hàm Tân hoàn toàn vắng lặng. Cộng sản cho xe chở 5 ông tướng về chuyến cuối cùng. Vì đường đi thuận tiện, xe về Saigon đến nhà các vị Tướng khác hết 1 vòng, Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai là người về sau cùng. Ông bước xuống xe, tâm trạng thực băn khoăn khó tả. Tù vừa tròn 17 năm. Những ông tướng khác về trước ông chừng nửa giờ nên tướng Giai là người sau cùng, theo ý nghĩa tiêu biểu của lịch sử.

Hỏi chuyện ngục tù, ông Giai nhắc lại câu danh ngôn của người xưa: “Bại binh chi tướng, bất khả ngôn dũng“ (Tướng quân thua trận, không thể nói mạnh).

Lại hỏi rằng, suốt thời kỳ 17 năm có thấy cộng sản hay thế giới tự do vào quay phim hay chụp hình để bây giờ có thể đi tìm dấu tích của những năm dài “cải tạo”; vị chỉ huy trưởng binh chủng Biệt Động Quân cho biết, dường như chẳng thấy gì.

:mgppy0n2nZxqyMubbx-8Ip2TUirhLdi6yqDtun8u7hC9VJKXm49vDgpmZ8gt0eOe1xLU_DtiRc378R0w2HPMenOhl7MkB00ID-JyJIiICIPvxipS-7njgqhjkjRzcCOOl5b8qSg





Bây giờ là Mùa Thu, tôi đi tìm dĩ vãng

 
Văn Quang
 
 
 
Thật ra 99.9% ca khúc “bất hủ” của Trịnh Công Sơn được sáng tác vào thời trước 75 ở Sài Gòn và Huế. Cho nên ngày nay khi người ta “vinh danh” Trịnh Công Sơn chính là vinh danh nền văn hóa của Miền Nam VN vào thời trước 75.
 
Bây giờ là mùa thu ở Sài Gòn và cũng là mùa lá rụng ở Rừng Phong trên đất Mỹ. Buổi chiều ngồi trong căn chung cư nhỏ hẹp nghèo nàn nhìn mưa dăng nhẹ ngoài khung trời ngoài kia, tôi bỗng muốn thoát khỏi mình trở lại sống với những ngày xưa. Những ngày xưa có bạn bè, có mộng ước xa vời, có yêu thương giận hờn, có quá nhiều thứ như ở một thế giới khác.
 
Tôi ngồi vào computer đi tìm dĩ vãng. Gõ bàn phím vào những bài hát về Mùa Thu, bỗng hiện ra đầy đủ cả lời ca tiếng hát, những cuốn phim xưa, những danh ca tài tử đi mãi vào lòng người, đi mãi vào bất tận trong ký ức. Tôi bay bổng vào đó để gặp lại những người tôi đã từng quen, đã từng là bạn, đã từng kề vai nhau một thời xa vắng. Ở đây, tôi chỉ gặp những người đã từng có mặt trên các sân khấu ca nhạc và trong những cuốn phim đã từng chiếu ở VN trước năm 1975, gọi chung là những người trong “làng giải trí” mà tôi đã quen hay đã từng coi nhau như bạn bè.
 
Tiếng hát ngày xưa


 

Kim Vui và Nhật Trường
 
Tiếng hát Lệ Thu, Khánh Ly, Thái Thanh, Thanh Lan… và quái lạ sao lại có cả tiếng hát Kim Vui. Tôi quen Kim Vui và cùng đi làm phim Chân Trời Tím nhưng chưa bao giờ nghe cô hát bài này của Nhật Trường. Hôm nay tôi mới được nghe lần đầu. Hình ảnh Kim Vui và Nhật Trường hiện ra trước mắt tôi. Sao mà thân quen đến thế. Kim Vui đóng phim như mang cả cuộc đời mình vào nhân vật, lãng mạn “cực kỳ,” táo bạo như Ava Gardner. Nhưng khi hát cô đằm thắm dịu dàng như ve vuốt bên người tình. Lần đầu tiên nghe Kim Vui đấy Kim Vui ơi. Và lần cuối cách đây vài năm, tôi nhận được e mail của Kim Vui chỉ có đúng hai chữ “Helo, anh.” Hai chữ thôi nhưng thân thiết lạ thường.
 
Và Nhật Trường, khi vừa đọc cuốn truyện này anh đã làm bài hát đó. Buổi trưa hè anh nhảy vào phòng tôi ở Đài Phát Thanh Quân Đội, anh khẽ cất tiếng hát rồi rỉ tai tôi, “Tối nay Minh Hiếu sẽ hát lần đầu tiên bài này trên dancing Paramount.”
 
Rap Casino Saigon ngày xưa
 
Tối đó tôi lên nghe Minh Hiếu hát lần đầu. Đó là người hát Chân Trời Tím hay nhất. Dường như cô mang cả chuyện tình của mình gửi theo từng lời ca. Mấy lần về Sài Gòn, đến thăm tôi, cô cũng mang nguyên dáng vẻ ấy. Cô bước vào trong ánh sáng chập choạng cũng một buổi chiều mưa, cười, “Tôi về đến VN sáng nay, người đầu tiên tôi đến thăm là anh đấy. Anh cho tôi biết về tình hình bạn bè ở Sài Gòn.”
 
Trong thế giới riêng chiều nay trong tâm tưởng tôi có nhiều thứ quá. Lại nhìn đến hàng loạt những bài ca, những tác giả, những đạo diễn, diễn viên mà tôi đã từng quen biết.
 
Đóng phim cho vui
 
Lại nhảy sang gặp cuốn phim “Người Tình Không Chân Dung” của đạo diễn Hoàng Vĩnh Lộc. Trước tháng Tư 1975, anh thường sang nhà tôi ở ngõ Chu Mạnh Trinh nằm dài trên ghế sofa. Con người nghệ sĩ lúc nào cũng ôm ấp những ý tưởng “đặc biệt” quá tầm tay. Anh thích những nhân vật như Steve McQueen trong Les Sept Mercenaires. Lầm lì mà gan dạ, cuốn phim “nổ như bom tấn” lại mang một triết lý “siêu đẳng” nhưng chẳng “đại gia” nào dám bỏ tiền ra cho anh thực hiện hoài bão gần như ngông cuồng đó. Anh làm phim với tất cả những gì xin được.
 
Trong cái ê kíp làm phim ấy, tôi gặp lại Kiều Chinh và Vũ Xuân Thông.
 
Trước khi làm phim này Kiều Chinh và Hoàng Vĩnh Lộc đến gặp tôi ở Nha CTTL. Chúng tôi băn khoăn tìm kiếm những đơn vị quân đội có thể yểm trợ cho cuốn phim này. Khi quay phim, chúng tôi đến ăn ngủ ở ngay tư dinh của ông Thị Trưởng Cam Ranh, Đại tá Vũ Thế Quang tức Quang Dù. Hôm sau quay ngay mấy cảnh trên hòn đảo Cam Ranh. Hoàng Vĩnh Lộc mời một loạt những ông văn nghệ sĩ chỉ biết viết văn làm thơ, chẳng biết một xu diễn xuất nào như Duyên Anh, Hà Huyền Chi, Dương Hùng Cường, có cả Hùng Sùi đóng phim… cho vui.

Kiều Chinh và Vũ Xuân Thông
trong phim Người Tình Không Chân Dung
 
Vũ Xuân Thông đóng vai chính với Kiều Chinh, trông đẹp đôi ra trò. Tôi và Vũ Xuân Thông đi “trình diện vào tù cộng sản” cùng một lúc. Thông có tài nằm sấp ngủ ngon lành và còn nhiều tài vặt khác, chạm trổ, vẽ vời rất điêu luyện. Tác phẩm lớn nhất của anh với chúng tôi trong trại cải tạo là những cái nõ điếu cày được mài dũa bằng đá và những chiếc điếu cày được “sáng tạo” khắc trổ rất công phu. Hút bằng nõ điếu đá, vừa không nóng vừa kêu tanh tách.
 
Còn Kiều Chinh lần nào về VN, dù rất bận với việc quay phim, cô cũng tìm thăm bạn bè. Chúng tôi thường gặp nhau ở nhà vợ chồng họa sĩ Đằng Giao - Chu Vị Thủy. Cái dáng dấp thanh mảnh và quý phái của cô như Grace Kelly cùng với tài diễn xuất thiên phú khiến nhiều hãng phim Mỹ, phim Việt mời cô cộng tác. Mấy năm nay không thấy cô về VN, mệt mỏi rồi phải không Kiều Chinh?
 
Từ trái qua: Văn Quang, Kiều Chinh, Đằng Giao, Phan Nghị năm 2004
 
Hai thằng quỷ này cái gì cũng chơi được


 

Hà Huyền Chi và Dương Hùng Cường
xem đóng phim là một trò chơi
 
Bên cạnh Vũ Xuân Thông là Hà Huyền Chi và Dương Hùng Cường. Tôi thầm nghĩ: Hai thằng quỷ này cái gì cũng “chơi” được. Dương Hùng Cường đã từng viết chung với tôi truyện dài “Người Lính Hào Hoa” trên nhật báo Tiền Tuyến. Nó cũng là dân Thái Bình nên viết truyện Pilot Thái Bình, thật hay. Tôi giới thiệu bài viết của Dương Hùng Cường trên báo Chiến Sĩ Cộng Hòa với lời giới thiệu truyện mang cả mùi dầu nhớt của người lính thợ rất tinh tế và thật hơn những truyện bay bướm khác. Bạn tôi “ra đi” bao giờ tôi cũng không biết, có lẽ lúc đó tôi đang ngụp lặn trong nhà tù cải tạo.
 
Hà Huyền Chi ngoài tài làm thơ về “lính nhảy dù” rất hay còn đóng phim. Hồi đó rách tả tơi, ở cái nhà thấp lè tè đằng sau Viện Ung Thư Gia Định. Vậy mà cũng lập bàn mạt chược còm, khách “giang hồ” đến chơi khá đông. Ngày “tan hàng” nó rủ tôi chuồn xuống tàu Đại Hàn, nhưng tôi vô duyên không thể đi cùng. Vài năm sau, nó ở Seattle nghe tin tôi chết trong nhà tù, HHC viết bài khóc lóc thảm thiết. Tôi còn sống quay về, viết thư cho HHC, nó lại làm thơ “ngậm ngùi nhớ bạn.”
 
Vinh danh văn hóa miền Nam trước 1975
 
Tôi trở lại với những bài ca bất hủ về mùa thu. Trong âm nhạc, mùa thu là mùa được các ông nhạc sĩ nhắc đến nhiều nhất. Từ thuở tiền chiến như Văn Cao, Đoàn Chuẩn… đến thời hiện đại như Cung Tiến, Vũ Thành An, Trịnh Công Sơn… Lạc vào đây như lạc vào rừng bởi những cái tên bản nhạc, tên tác giả. Tôi bất chợt nghe “Gió heo may đã về/ Chiều tím loang vỉa hè/ Và gió hôn tóc thề/ Rồi mùa thu bay đi…” Đó là tình khúc “Nhìn Những Mùa Thu Đi” của Trịnh Công Sơn. Có rất nhiều nam nữ ca sĩ hát bài này, Lệ Thu, Hồng Nhung, Thanh Lam, Hồng Hạnh, Trâm Đăng, Khánh Hà, kể không hết.
 
Tôi nhớ lại những ngày cùng Trịnh Công Sơn, Khánh Ly, Ngọc Anh rủ nhau đi ăn cơm bụi Bà Cả Đọi. Và tôi khẳng định nhạc của Sơn chỉ hay vào thời trước năm 1975. Thời kỳ vàng son của nền văn hóa Miền Nam, khác hẳn với miền Bắc. Sau những năm đó nhạc Trịnh chỉ còn một, hai bài “nghe được” như “mùa thu Hà Nội.” Thật ra 99.9% ca khúc “bất hủ” của Trịnh Công Sơn được sáng tác vào thời trước 75 ở Sài Gòn và Huế. Cho nên ngày nay khi người ta “vinh danh” Trịnh Công Sơn chính là vinh danh nền văn hóa của Miền Nam VN vào thời trước 75. Tôi mỉm cười một mình giữa đêm mùa thu Sài Gòn.
 
Tài tử Anh Ngọc với tôi
 
Bật sang những ca khúc bất hủ khác, tôi gặp lại danh ca Anh Ngọc với vô số những bài hát có vẻ hơi “cổ điển” như tính cách của anh vậy. Thiên Thai, Con Thuyền Không Bến, Mùa Thu Chết, Nguyệt Cầm và còn nhiều nữa. Bước lên sân khấu, ông luôn chững chạc, trong bộ complet và nghiêm chỉnh trình bày bài hát. Không điệu nghệ như Nhật Trường luôn vắt chiếc áo veston trên cánh tay như Frank Sinatra. Vì ông đẹp trai “quá cỡ thợ mộc” nên chúng tôi thường gọi ông là “tài tử Anh Ngọc.”


Anh Ngọc và Mạnh Đan, hai lão bối
nhiều tuổi nhất hiện nay đều ở tuổi 90. Một cụ ở VN, một cụ ở Mỹ
 
Ông sinh năm 1925, hơn tôi 8 tuổi. Chẳng hiểu từ bao giờ, tôi quen biết ông, chúng tôi thường gặp nhau trong căn nhà thuê ở con hẻm hẹp đường Cao Thắng của Thanh Nam, Hoàng Thư, Thái Thủy... Và những buổi chiều tà lại cùng Mai Thảo, Phạm Đình Chương ngồi ở nhà hàng Point des Blagueurs, tục gọi là “Mỏm Đấu Láo” dưới chân Cột Cờ Thủ Ngữ, bên sông Sài Gòn. Bây giờ ông và gia đình sống ở vùng Virginia bên cạnh một loạt các ông bạn tôi Hoàng Hải Thủy, Tạ Quang Khôi, Uyên Thao, Hoàng Song Liêm.
 
Mấy lần ông cùng vợ ông (bà Nhung đi công tác cho đài VOA) về VN, lần nào cũng đến thăm tôi. Lần sau cùng cách đây khoảng hai năm, tôi bị ốm không thể mời ông ăn bữa cơm với những món gia truyền như nộm rau muống, cuốn ngỏ, cháo cá ám đã thất truyền ở VN, không nhà hàng nào làm được. Ông mời tôi ra quán Cơm Niêu cùng vài người bạn.
 
Trước khi chia tay, đứng trên vỉa hè, ông ôm vai tôi nói lớn, “Bây giờ ở đây chỉ còn mình mày.” Đây là lần thứ nhất ông xưng hô “mày tao” với tôi, chưa bao giờ tôi nghe ông xưng “mày tao” với bất cứ ai. Cái tình thân 60 năm đọng lại ở đó, sâu lắng ở đó. Tôi ngẩn ngơ nhìn bóng dáng ông cùng bà Nhung bước lên chiếc Taxi màu vàng. Bóng dáng ông khuất sau ngã tư con đường Sài Gòn thân thuộc.
 
Những rạp hát xưa của tôi
 
Nói đến phim ảnh và ca nhạc kịch phải nói đến những rạp chiếu phim, rạp hát, sân khấu ca nhạc thời xưa. Tràn lan, tôi không thể kể hết tên những nơi chốn ấy. Từ những rạp hát phố nhỏ đến rạp phố lớn, hàng trăm rạp. Nhìn lại vài rạp nhỏ như Cẩm Vân - Võ Di Nguy, Phú Nhuận; rạp Cao Đồng Hưng – Bạch Đằng chợ Bà Chiểu, Gia Định; rạp Đại Đồng – Cao Thắng; Nam Quang – Lê Văn Duyệt và Trần Quý Cáp… Nhưng vài rạp mang nhiều dấu ấn nhất cho tình yêu tuổi trẻ của phần đông anh em chúng tôi là Rạp Eden nằm giữa đường Catinat, rạp Majestic cũng nằm cuối con đường này, rạp Rex - góc đường Lê Lợi & Nguyễn Huệ, ba rạp được coi là đẹp nhất Sài Gòn.
 
Nơi ấy khi mới biết yêu, những cặp tình nhân thường đưa nhau đến đấy xem những cuốn phim tình cảm lãng mạn. Ở Eden, Majestic có những lô riêng cho bốn người, thường chỉ có hai người cùng nắm tay nhau, vai kề vai xem phim mà đôi khi chẳng biết nó chiếu cái gì. Họ quá bận với tình tự kiểu học trò. Bây giờ còn thấy nóng cả môi.
 
Những phòng trà đi vào ký ức
 
Có vài sân khấu nhiều kỷ niệm nhất với chúng tôi. Đó là phòng trà Hòa Bình của nhạc sĩ Ngọc Bích, với những ca sĩ thành danh rồi bay đi như Bích Chiêu, Bạch Yến, Bạch Quyên, Trúc Mai, Băng Tâm… Phòng trà đáng nhớ hơn là Đêm Màu Hồng của ông công tử Trần Quý Phong chủ hotel Catinat. Nơi đó những ông Vũ Khắc Khoan, Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo vẫn ngồi uống rượu. Có ban nhạc của gia đình Phạm Đình Chương, Thái Thanh.
 
Thái Thanh là đệ nhất danh ca VN ai cũng biết rồi, nhưng còn chuyện rất ít người biết. Tôi nhớ lại những năm còn trẻ, chúng tôi thường đến nhà thân mẫu Phạm Đình Chương (chúng tôi gọi là bà cụ Hoài Bắc) đánh chắn.
 
Hồi đó Thái Thanh mới lấy chồng, ở trên căn lầu nhỏ xíu phía sau nhà. Cô thường ngồi sau mẹ, chia bài nhanh thoăn thoắt. 120 quân bài chia làm 6 phần, rất ít khi nhầm. Thỉnh thoảng cô nhỏm vào nhìn bài của mẹ, tay vẫn chia đều… chia đều. Ván bài chưa xong cô đã chia xong. Ở Sài Gòn không ai chia bài nhanh hơn cô. Bây giờ nghe chị Tâm Vấn kể lại, mấy tháng trước, khi sang Mỹ, đến thăm Thái Thanh không còn nhận ra ai nữa. Sao bỗng thấy bùi ngùi quá Thái Thanh ơi.
 
Làm sao tôi kể hết được những “huyền thoại” đó, nay đã thành “thần thoại” như chẳng bao giờ có thật vì không thể tìm lại được nữa. Một đêm mùa thu đi tìm dĩ vãng để được sống lại với thời xa xưa. Bây giờ là mùa thu. Mùa thu vàng hoa cúc. Mùa thu ở Sài Gòn, mùa thu ở Rừng Phong và ở khắp nơi trên thế giới, nơi có những người bạn của tôi. Nói đến bao giờ cho hết. Trong tôi chỉ còn vương vất mấy câu thơ của Xuân Quỳnh:
 
“Thời gian như ngọn gió
Mùa đi cùng tháng năm
Tuổi theo mùa đi mãi…
Chỉ còn anh và em
Cùng tình yêu ở lại…”
 
 
Văn Quang
Sài Gòn một đêm giữa mùa Thu
4 tháng 9, 2015



Cuộc Di Tản Của Không Quân VNCH



Ngày Chim Vỡ Tổ:


Tập 'Quân sử Không Quân' trang 199 ghi lại: 'Về Không Quân VNCH, ngoài một số nhỏ quân nhân và gia đình được di tản bằng phi cơ C130, C141 của KQHK từ ngày 20/4, đa số còn lại chỉ di tản sau ngày 28/4/1975, khi Bộ Tư lệnh KQ không còn hoạt động theo đúng chức năng của một Bộ Tư lệnh nữa.

Số lượng phi cơ của KQVN bay thoát được sang Utapao, Thái Lan, do các tác giả đưa ra, không thống nhất, theo Robert Miskesh trong 'Flying Dragons: the South Vietnamese Air Force thì tổng cộng vào khoảng 132 chiếc, gồm khoảng 25 F-5, 27 A-37, 11 A-1, 13 C-47, 6 C-130, 3 AC-119, 5 C-7 và 45 UH-1., theo Wayne Muntza trong "The A-1 Skyraider in Viet Nam": The Spad's Last War, và Ralph Wetterhahn trong 'Escape to Itupao thì con số máy bay được cho là 165 chiếc, thêm vào đó là các U-17 và O-1, ngoài ra không kể vài phi cơ dân sự của Air VN.

Cũng vào ngày cuối cùng, một số trực thăng đã bay ra đáp xuống các chiến hạm của HQHK, con số này được ước lượng là khoảng 100 chiếc, đa số là UH-1 và CH-47. Cũng có những chiếc tuy bay được ra biển nhưng do trục trặc kỹ thuật, hoặc hết nhiên liệu đã rớt xuống biển. Con số này được ước lượng là khoảng 18 chiếc.

37 năm sau ngày 30/4/1975, các tài liệu quân sự được giải mật và những bài hồi ký, bút ký của nhiều tác giả trong cuộc đã giúp 'vẽ lại' toàn cảnh (có thể chưa hoàn toàn chính xác) về cuộc di tản hay đúng hơn là 'tự tan hàng' của KQ VNCH.

Cuộc di tản chiến thuật, rút bỏ Quân Đoàn II vào ngày 6/3/1975 đã bỏ lại tại Pleiku 64 phi cơ các loại.

Ngày Quân Đoàn I tan hàng tại Đà Nẵng (30/3/1975), 180 phi cơ đã bị bỏ lại, trong số này có 33 phi cơ vận tải C-7 Caribou đang bị đình động còn bọc kin trong bao tồn trữ.

Trong những tháng cuối cùng của cuộc chiến, khả năng chiến đấu của KQ VNCH càng ngày càng bị giới hạn do không còn một hệ thống chỉ huy và kiểm soát hữu hiệu. KQ VNCH không có những phi cơ trang bị hệ thống chỉ huy, dẫn đạo không trợ bay trên vùng cần yểm trợ hành quân (theo phương pháp của KQ HK: dùng các C-130 làm trạm chỉ huy trên vùng). Trong khi đó sự kiện bị mất các đài Kiểm Báo và Không Trợ như Trung Tâm CRC (Combat Report Center), Panama Đà Nẵng, các Trạm CRP (Combat Report Point) Peacock PleiKu, Pyramid Ban Mê Thuột đã khiến Hệ thống Kiểm Báo Chiến Thuật trở thành tê liệt, vô hiệu. Tuy Trung Tâm CRC Tân Sơn Nhất vẫn còn hoạt động nhưng nhiệm vụ chinh lại không phải là để điều hành các phi vụ yểm trợ chiến trường, hoặc hướng dẫn oanh tạc các mục tiêu dưới đất. Các phi vụ oanh tạc tùy thuộc vào các phi cơ quan sát FAC (Forward Air Controller = Điều Không tiền tuyến) và tùy phi công có mặt trên vùng, nhận định mục tiêu bằng mắt thường.

Vào thời điểm của trận Xuân Lộc: KQVNCH còn 1492 phi cơ các loại, trong đó có 976 chiếc hoạt động được, 135 chiếc hư hỏng không bay được và 381 chiếc kể như phế thải. Lực lượng phi cơ chiến đấu gồm 169 chiếc A-37 (trong đó 92 chiếc khả dụng) và 109 F-5s (93 chiếc khả dụng).

Những phi vụ hành quân cuối cùng của KQ VNCH trên không phận Sài Gòn:

Trong những ngày cuối cùng của VNCH, KQVN vẫn còn hoạt động với một số phi vụ yểm trợ bộ binh và chống pháo kích. Đ/úy phi công Trần văn Phúc PĐ 518 ghi nhận một số phi xuất trong những ngày 28 và 29/4 như:

PĐ 518 với phi vụ Phi Long 51 do một phi tuần gồm 2 Skyraiders (một do Đ/úy Phúc và một do Th/tá Trương Phùng) bay vào sáng 29/4. Phi cơ của Th/tá Phùng bị phòng không cộng quân bắn hạ. Ông đáp xuống ruộng gần cầu Bình Điền, bị bắt và sau đó bị cộng quân hành quyết vào ngày 30/4.

PĐ 514 với một phi tuần 2 Skyraiders cất cánh từ Cần Thơ để bay trên không phận Sài gòn vào sáng 29, do các Th/tá Hồ ngọc Ân và Đ/úy Nguyễn Tiến Thụy điều khiển.

Những phi vụ Tinh Long của các AC-119 như Tinh Long 06, Tinh Long 07:

Tinh Long 07 (sáng 29/4) do Tr/úy Trang văn Thành điều khiển đã bị SA-7 của cộng quân bắn hạ, phi cơ gẫy làm đôi và rơi ngày tại vòng đai phi trường. Phi hành đoàn gồm 9 người, 8 hy sinh ngoại trừ nhân viên nhảy dù thoát được.

Theo Đ/úy Phúc: 'Ngoài Tinh Long 07, còn có thể có thêm 2 AC 119 khác bị bắn hạ (?) (một rơi tại đường Ngô Quyền và một rơi tại Tân Tạo)'.

Sáng 30/4, một phi xuất A-37 (Tr/úy Nguyễn Mạnh Dũng PĐ 526 lái) từ Cần Thơ, phối hợp với O-1 (Đ/úy Mai Trí Dũng PĐ112 lái) từ Đồng Tâm, bay yểm trợ khu vực Hoàng Hoa Thám ngay trước giờ Dương văn Minh tuyên bố đầu hàng. Đây có thể là phi vụ hành quân cuối cùng của KQ VNCH.

(Xin xem bài: Những Phi vụ hành quân sau cùng của KQ VNCH, của Trần Lý)

Những giờ phút cuối cùng tại Bộ Tư lệnh KQVNCH

Chiều 28/4, CSBV đã dùng 4 A-37 (lấy được từ Phan Rang) oanh kich phi trường TSN, gây tổn hại cho 3 chiếc C-119 và nhiều C-47.

Tối 28/4: một sự kiện 'kỳ lạ' đầy bí ẩn đã xẩy ra tại TSN: Tác giả Thiên Lôi Ngô Đức Cửu trong 'Chuyện 30 năm trước' (website bgkq.net/hoiky) ghi lại như sau:

... '8 giờ tối 28/4/1975, tôi trở về ụ đậu phi cơ đầu phi đạo 07 phải, nơi tạm trú của 3 Phi đoàn 524, 534 và 548 di tản từ các căn cứ về. Bước xuống xe, tôi thấy các nhân viên phi đạo đang bận rộn kéo các A-37 trang bị đầy bom đạn từ trong vòm trú ẩn ra đậu hàng ngang dài phía trước, cách ụ 50 feet. Tôi bước đến hỏi trưởng phi đạo tại sao dời phi cơ khỏi ụ ? Anh ta trả lời: "Theo lệnh Trung tá kỹ thuật và Bộ CH Hành quân." Tôi vào phòng trong ụ, nhắc điện thoại gọi Trung tâm Hành quân, thì sĩ quan trực cho biết hình như lệnh của Bộ Tư lệnh KQ hay Bộ TTM gì đó ? Tôi hỏi: "Anh có biêt là hồi chiều phi đạo 07 vừa bị dội bom không ? Tôi liên lạc với Đ/tá Ước, nhưng không được. Trở lại bãi đậu, tôi yêu cầu trưởng phi đạo di chuyển phi cơ trở lại ụ nhưng không được.

Tôi tự hào trong hàng ngũ phi công khu trục KL VNCH, nhất là Không Đoàn 92 có các PĐ 524, 534, và 548 cho đến giờ phút này, 22 giờ 18 tối 28/4,  tât cả phi công đều có mặt ứng chiến, không thiếu một ai.

Suốt đêm tất cả anh em 3 phi đoàn chờ đợi, điều động cất cánh nhưng tuyệt nhiên không một tiếng điện thoại reo.

Nửa đêm, VC bắt đầu pháo kích và hơn 50 chục A-37 bị phá hủy. Giờ đây hơn trăm phi công chiến đấu bằng tay không ư?

6 giờ 15 sáng 29/4, tất cả phi công lên xe chạy về Bộ Chỉ huy KĐ 33. Đ/tá Thảo chạy vào rồi chạy trở ra. Đến nơi các phòng vắng lặng, không còn ai cả. Trở lại sân cờ KĐ 33, Đ/tá Thảo tuyên bố tạm thời tan hàng, anh em rán tự tìm lấy phương tiện di tản.

Mọi người xuống xe, nhưng chạy về đâu bây giờ ? Tan hàng, nghe thảm thiết quá. Một trong những đơn vị chiến đấu kiên cường nhất của QL VNCH, giờ đang bị bó tay. Lệnh ai cho sắp trên 50 chiếc A-37 hàng ngang, cánh liền cánh, xăng nhớt bom đạn trang bị đầy đủ để hủy diệt? Nếu không cho chúng tôi chiến đấu thì cũng để chúng tôi có phương tiện ra khỏi phi trường chứ ? Chúng tôi đâu có rã ngũ. 

Sự kiện phi cơ bị 'tự hủy'(?) này cũng được ghi nhận trong 'Can trường trong Chiến bại' của Tướng Hải Quân Hồ văn Kỳ Thoại, trang 306-307' như sau:

... 'Tới đêm 28/4, tại căn cứ Duyên đoàn ở Vũng Tàu, một sĩ quan KQ cấp tá xin vào gặp tôi và cho biết có một số trực thăng đang đậu tại Vũng Tàu, có Tướng Huỳnh Bá Tính, Sư đoàn trưởng SĐ 3 KQ muốn đến gặp tôi, cần trình bầy một sự kiện quan trọng.

Tướng Tính vào căn cứ duyên đoàn gặp tôi và các tướng lãnh khác (Nguyễn duy Hinh, Trần văn Nhựt...) kể chuyện xẩy ra, rất bi thảm Ông không biết lịnh từ đâu... bỗng nhiên một số phi cơ phát nổ, sau đó được biết có lệnh của Saigon, cho phá hủy các phi cơ của KQ ?

Tướng Tính phân vân, không muốn về trình diện Bộ TLKQ khi ông chưa biết ai ra lệnh hủy phi cơ thuộc SĐ của ông ? Chúng tôi thuyết phục ông Tính liên lạc trực tiếp với Tướng Minh Tư Lệnh KQ.

Đêm 28 rạng sáng 29/4, cộng quân bắt đầu pháo kích vào phi trường TSN, phá hủy nhiều phi cơ.

Khoảng 8 giờ sáng, Tướng Phan Phụng Tiên, Sư đoàn trưởng SĐ5 KQ, đến gặp Tướng Minh, và sau đó bỏ đi.

10 giờ 30 phút sáng 29/4, sau khi họp riêng với Tướng Minh Tư lệnh KQVN, Tướng Nguyễn Cao Kỳ (không có một chức vụ chính thức nào trong Chính Phủ cũng như trong Quân lực VNCH) bay trực thăng riêng về Bộ TTM. Thấy không còn ai. Tướng Kỳ gặp Tướng Ngô Quang Trưởng đang ngồi không nên rủ Tướng Trưởng lên trực thăng, theo đoàn tùy tùng bay ra USS Midway đang đậu ngoài khơi Vũng Tàu.

Khoảng 11 giờ, Trung tướng Nguyễn văn Mạnh Cựu TMT Liên quân cùng với Trung tướng Dư Quốc Đống vào gặp Tướng Minh. Không thấy HK liên lạc như đã dự trù, Tướng Minh cùng các tướng tá Bộ binh và KQ tùy tùng đã di chuyển sang DAO để chờ di tản.

Từ 1 giờ trưa, Trung Tâm Hành quân KQ coi như bỏ trống. Các Phi đoàn trưởng ra lệnh tan hàng. Phi công bay đi đâu hoặc chạy đâu, tự ý quyết định.

Riêng SĐ 4 KQ tại Trà Nóc Cần Thơ, còn hoạt động (cho đến sáng 30/4 một số phi vụ vẫn từ Cần Thơ bay lên yểm trợ chiến trường quanh Sài Gòn) và Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Tần, Sư đoàn trưởng có thể được xem là vị Tư lệnh sau cùng của KQ VNCH (?)

Trong bài bút ký 'Giây phút nát lòng' (Lý Tưởng Tháng 4/2002) Tác giả Không Quân Liệt Lão, Chỉ huy trưởng Phòng vệ BTLKQ đã kể lại những giây phút tan hàng tại Tân Sơn Nhất với những đoạn tạm trích như sau:

... ' Tôi lên trình diện Tư lệnh bộ, toan phúc trình tình hình phòng thủ, nhưng chẳng ai bận tâm. Người người nhìn nhau đăm chiêu dường như trong thâm tâm ai cũng muốn buông rơi tât cả. Ai cũng thần sắc không còn, dũng khí tiêu tan như 'đại bàng xệ cánh'. 'Tôi trông chờ một lệnh họp khẩn cấp, duyệt xét tình hình chung, lấy quyết định tối hậu 'Chiến' hay 'lui' Chiến thì chiến ra sao ? Lùi thì lùi thế nào ? Có tuần tự, trước sau, không bỏ một ai hay hỗn loạn mạnh ai nấy chuồn ? Tôi chờ lệnh, nhưng không có lệnh!

Bài viết có thêm những chi tiết di tản của một số Tướng KQ và BB như:

... ' Tôi đưa tay chào nghiêm túc theo quân cách, Cửu Long (danh hiệu của Tướng Minh, Tư lệnh KQ), chào trả, ngập ngừng chân bước, ái ngại nhìn tôi và đột nhiên dứt khoát:
- Toa ở lại, đi sau với Lành (Tướng Võ Xuân Lành) nghe.

... ' Tôi mỉm cười, quay bước vào phòng tình hình, lúc này chỉ còn ông Linh, ông Lành. Ông Lượng đã đi đâu lúc nào tôi không biết. Được một lúc khoảng 10 giờ gì đó, Đ/Tá Vũ văn Ước đáp trực thăng trên sân banh, chạy vội vào gặp ông Lành, xong cùng ông Lành trở ra, kéo luôn theo tôi, miệng nói:
- Đi mày.
Tôi nhìn Lành, quay qua hỏi Ước: 
- Đi đâu ?
- Qua Tổng Tham Mưu (TTM) xem tìmh hình ra sao ?
Ước nói và nắm tay tôi lôi đi. Tôi, Ước, và Linh lên trực thăng qua đáp tại sân cờ trươc tiền đình Bộ TTM. Linh và Ước chạy lên văn phòng TTM trưởng.Tôi không theo.

Đảo mắt chỗ khác thấy trực thăng Tướng Kỳ. Đàn em trước kia của tôi hiện là cận vệ ông Kỳ, từ trực thăng nhảy xuống, chạy đến tôi nói nhỏ: 
- Trực thăng sẽ bay ra Blue Ridge. Ông hảy lên, cùng đi.
Tôi hỏi: 
- Tướng đâu ?
- Họp trên văn phòng TTM Trưởng.

Tôi bước lại trực thăng, nhìn vào thấy Đ/tá Hà Xuân Vịnh ngồi trên đó từ hồi nào. Tôi leo lên ngồi cạnh. Đang miên man suy nghĩ cho mạt vận của đất nước, mạt kiếp của mình thì ông Linh từ bộ TTM chạy ra một mình đến bên trực thăng có tôi và Vịnh đang ngồi đăm chiêu, mỗi người một ý nghĩ. Ông Linh cứ loanh quanh ở dưới chẳng chịu lên. Tôi vội leo xuống, lại gần Linh nhỏ to: ' Linh! Kỳ sẽ rút ra Đệ Thất hạm đội. Lên đi, hết cách thôi.'
Linh có điều gì bất ưng, nhất định không lên tàu.
Tôi hỏi: Sao ? Linh nói: "Thiếu gì máy bay." 
Tôi vội báo động: "Máy bay nào ? Còn duy nhất chiếc này thôi." 
"Chiếc kia kìa." Linh vừa nói vừa chỉ tay về chiếc trực thăng mà tôi, Ước và Linh vừa đáp hồi nẫy. 
"Tàu còn đó, hoa tiêu bỏ đi rồi." Tôi nói với Linh vì thấy họ phóng xe jeep ra khỏi TTM.

Linh nhất định không lên tàu. Tôi đành ở lại bên anh. Tôi còn đang phân vân bàn thảo với Linh những bước kế tiếp thì ông Kỳ từ đại sảnh bộ TTM bước ra, đi về hướng trực thăng và dẫn theo số đông tướng lãnh, bay đi cùng Ước, để lại tôi và Linh tự quyết định lấy phận mình.

Tôi và Linh, cùng với Đặng Duy Lạc (Đ/tá Không Đoàn trưởng KĐ 62) không biết từ đâu chui ra, yêu cầu Quân Cảnh TTM hộ tống chúng tôi về lại Bộ TL KQ. Xe rồ máy phóng đi trực chỉ cổng Phi Long.

Tinh cầu trên vai, Linh cho lệnh mở cửa. Quân ta phớt tỉnh... không nghe. Đặng Duy Lạc vẫn ngồi yên như khúc gỗ. Tình hình thực gây cấn. Thấy ông Linh hết 'linh', tôi bước xuống xe tiến thẳng đến chỗ anh KQ bất tuân thượng lệnh, điềm đạm ra lệnh mở cổng. Anh líu ríu vâng lời.

Chúng tôi vào Bộ Tư lệnh KQ gặp ông Lành. Niềm tự hào của KQ đang ở chỗ này: Tướng Lành trước thế quân tan vỡ, quân binh đang đua nhau bỏ ngũ, ông vẫn trầm tĩnh, kiên trì thủ đài Chỉ huy Hành quân Chiến cuộc KQ. Ông giữ vững liên lạc với SĐ 4 KQ, SĐ KQ duy nhất còn hăng say chiến đấu trong khi nhiều đơn vị đã tự ngừng nghỉ.

Ông Linh tóm lược tình hình bên Bộ TTM cho ông Lành rõ. Ông Linh đề nghị rút khỏi Tân Sơn Nhứt. Tướng Lành nói với Linh trươc sự hiện diện của tôi và Đặng Duy Lạc:
- Moa chưa có lệnh..
Ông vẫn đợi lệnh. Chúng tôi vẫn đợi, vẫn chờ... nhưng chờ lệnh ai đây ? Mọi người đã bỏ đi cả rồi, tội cho ông Lành vẫn ngồi chờ lệnh, mà lệnh của ai đây ? Tôi buột miệng:
- Ông chờ lệnh ai ? Còn ai đây nữa mà ra lệnh cho mình?
Ông Lành trầm ngâm không nói, chúng tôi lặng yên chờ (lại chờ) quyết định của ông, chợt Tướng Lê quang Lưỡng (Nhảy dù) xịch xe jeep đến, thấy tụi này còn đương nhìn nhau, hỏi:
- Tụi toa định làm gì đây ?
Ông Lành ngượng nghịu chưa biết phải nói sao cho đỡ khó nói? Tôi nhìn thẳng Tướng dù nói nhanh:
- Tụi này zulu đây. Ông có theo thì cùng đi ?
- Zulu ? Zulu bỏ mấy đứa con (ý nói quân dù) lang thang. Sao đành!
Ông Lành hỏi:
- Toa còn mấy đứa con ?
- Sáu đứa chung quanh đô thành.

Lúc này trực thăng TQLC Mỹ đổ bộ và bốc người loạn cào cào trên không phận SàiGòn. Tôi đỡ lời ông Lành:
- Tân sơn Nhất không giữ được. Không Quân chúng tôi phải rút khỏi tầm pháo địch trước đã.
Ông Lưỡng vội hỏi: 
- Tụi toa định rút đi đâu ?
Tôi nhanh nhẩu: 
- Có thể vùng 4... Có thể đi luôn!
- Chờ moa một chút, cho moa về thu xếp với mấy đứa con cái đã.
Nói xong, ông Lưỡng lên xe jeep về sư đoàn Dù.

Trong khi chờ Tướng Dù trở lại, các sĩ quan cấp Không đoàn và Tham mưu Bộ Tư lệnh KQ hiện diện cùng với một số binh sĩ thuộc Tổng hành dinh KQ vội tập họp quanh chúng tôi tại tiền đình Bộ TL nghe ngóng tình hình. Tôi nói thẳng:
- Dưới áp lực của pháo Cộng, Bộ TLKQ buộc phải rút khỏi đây. Ai muốn đi theo, hãy sẵn sàng. Kể từ giờ phút này, các anh không còn trách nhiệm gì với KQ nữa. Các anh có thể rời đơn vị, lo cho sự an nguy của vợ con càng sớm càng tốt.

Cùng trong lúc đó, Tướng Dù đã trở lại. Chúng tôi thảo luận kế rút đi. Sau k hi xét kỷ lại nghề bay trong chúng tôi, không có ai là hoa tiêu vận tải. Tướng Lành, Thảo nâu, Duy Lạc... đều là hoa tiêu phóng pháo. Ông Linh đề nghị qua DAO. Tôi hỏi nhỏ ông Linh: 
- SĐ 5 KQ thì sao ?
 Linh thở dài trả lời:
- Các hoa tiêu đã tự ý rút cả rồi.
Sau phút suy tính, vị chỉ huy đoạn hậu BTLKQ cho lệnh rút. Tất cả lên 3 xe jeep trực chỉ cơ quan DAO. Tới cổng DAO, một dân sự Mẽo, mặc áo giáp, M17 cầm tay chặn lại và hách dịch ra lệnh:
- Generals only.

Hai Tướng KQ, một Tướng Dù bước vào trong hàng rào kẽm gai. Tôi lắc đầu quay ra, tự tay gỡ kẽm gai bước khỏi vùng phân ranh Mỹ-Việt. Anh Mẽo gác cửa chẳng hiểu tại sao cái anh phi hành đã vào rồi lại bỏ ra trong khi nhiều người muốn vào lại không được.

Tác giả sau đó, cùng một số sĩ quan cấp Tá quay lại BTL KQ để tìm phương cách khác tự di tản.

(Ghi chú: Danh sách một số Tướng, Tá và chức vụ tại Bộ TLKQ, trong những ngày cuối cùng của VNCH
  • Trung Tướng Trần văn Minh, Tư lệnh KQVN
  • Thiếu Tướng Võ Xuân Lành, Tư lệnh phó
  • Chuẩn Tướng Võ Dinh, TM Trưởng
  • Ch/Tướng Đặng Đình Linh, TM Phó Kỹ thuật/Tiếp vận

Bác sĩ Phạm gia Lữ trong bài 'Tân sơn Nhất trong giờ hấp hối' (Lý Tưởng, tháng 4/2002) kể lại một số diễn biến tại Trung Tâm Y Khoa KQ..với nhiều tiết khá chua chát của một đơn vị hầu như bị... bỏ quên ?

...'Chiều thứ Hai 28/4, lệnh giới nghiêm 24/24 bắt đầu. Cổng Phi Long đóng cửa. Phi trường TSN vừa bị A-37 oanh kích trước đó.

Khoảng nửa đêm, Th/t L. nhào vào bô bô nói: 
- Tình hình thế này mà các cậu ngủ được thì lạ thật. Đàn anh biến đi đâu hết rồi.(hắn ám chỉ các anh lớn của KQ). Họ đang lập cầu không vận đi Côn Sơn kia kìa. SĐ5 KQ đang tổ chức di tản cho thân nhân binh sĩ thuộc sư doàn đi Côn Sơn.

Đêm 28/4, CQ pháo kich vào phi trường gây thiệt hại cho nhiều máy bay.

Khoảng 7 giờ sáng 29/4, trong lúc quanh quẩn tại BCHHKQ, tôi gặp Đ/tá H Giám đốc Trường Chỉ huy và Tham mưu Trung cấp KQ trước cửa văn phòng ông, vẻ buồn bã lộ trên nét mặt. Tuy thuộc cấp chỉ huy nhưng không có cánh, máy bay không có trong tay, nên cũng chẳng xoay sở gì được. Đ/tá Th. Chỉ huy trưởng Trung Tâm Kiểm báo, cũng là người rất kỷ luật, cứ nằm lỳ trong đơn vị để làm gương cho thuộc cấp nên cũng bị kẹt trong cơn hấp hối của TSN.

Khoảng 10 giờ, cùng Th/t Vũ BH thuộc trường CH/TM lái xe đi thăm tình hình.Trên đường chạy ra phi đạo, một dẫy dài xe hơi bỏ trống, nối dài từ cửa chính vào văn phòng Tư lệnh ra đến ngoài đường. Tôi gặp chiếc Falcon màu vàng nhạt của Th/tá Khoa (đen), vẫy tay ra hiệu cho anh ngưng lại và hỏi: 
- Đi đâu bây giờ ?
Khoa trả lời vắn tắt: 
- Theo moa.
Vừa khỏi vòng rào BTL, Khoa quẹo phải rồi quẹo trái, thì ra anh ở nhà cũ của LCK. Sau khi vợ con hành lý lên xe, chúng tôi nối đuôi nhau trở ra phi đạo. Trạm canh ra phi đạo không còn quân cảnh canh gác.

Bay đi Utapao:

Để thoát khỏi Việt Nam, các phi cơ vận tải, phản lực nếu đủ nhiên liệu có thể tự bay sang Singapore ( 590 miles về phia Tây-Nam) hoặc gần hơn là sang Utapao, Thái Lan (350 miles phia Tây-Bắc). Đa số các phi cơ vận tải và phản lực đã chọn Utapao, chỉ một số rất ít C-130 bay đến Singapore.

Bài viết chinh thức về cuộc di tản của các phi cơ VNCH đến Utapao trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến VN: Escape to Utapao của Tác giả Ralph Westerhaan đã được đăng trên Tập san Air and Space/ Smithsonian Số Dec-Jan 1997.

... ' Vài ngày trước khi có cuộc di tản của KQVNCH ra khỏi Sài gon, Tướng KQHK Harry Aderholt, Chỉ huy trưởng Phái bộ Quân viện HK tại Thái Lan (MAC-Thai) đã gửi Đại úy KQ Roger L YoungBlood bay đến Phi trường Trat, nằm sát biên giới Thái-Miên. Bay trên một chiếc phi cơ AU-23 của Không lực Thái Lan (AU -23 là một phi cơ cải biến từ loại Pilatus PC-6, có khả năng đáp được xuống những phi đạo thật ngắn) YoungBlood bay vòng vòng trên không phận Thái Lan cùng một phi công phụ VNCH. Phi công phụ này giữ tần số vô tuyến và hướng dẫn các phi cơ VN bay về Utapao.'

Skyraiders A-1:

11 chiếc Skyraiders đã đến được Utapao, gồm 5 A-1E, một A-1G và 5 A-1H. Trong số này 7 chiếc thuộc Phi đoàn 514, 3 chiếc thuộc PĐ 518 và 1 thuộc PĐ 530:

Chiếc Skyraider A-1H, số hiệu 139606 thuộc PĐ 518 là chiếc Skyraider sau cùng bay khỏi VN đến Utapao, phi công đã chở cả gia đình 'nêm' chật cứng trong phòng lái (danh từ lóng của KQ Mỹ gọi đây là một hell hole).

Trên một chiếc A-1E, phi công (Th/tá Hồ văn Hiển PD 514) đã cất cánh, chở theo 15 người, nhét cứng trong..'blue room'. Tác giả Phi Long 51 trong bài 'Chuyến bay định mệnh' (trên Diễn đàn Cánh thép) ghi lại:

... ' Sáng 29/4, tôi trở lại Bộ chỉ huy Hành quân KQ sau 10 giờ và khám phá ra PĐ 518 đã cất cánh đi Cần Thơ. Tôi gặp Tr/tá NCP trong BCH và tìm phi cơ để đi. Do cơ trưởng Lợi huớng dẫn, chúng tôi tìm được một AD-5 (chiếc này có 2 chỗ ngồi lái và một phòng trống khoảng 3x4x3 feet cao ở phía sau ghế pilot). Phi cơ trang bị đầy bom đạn. Sau khi thay bình điện, phi cơ rời ụ và tuy quá tải cũng cất cánh được. Không liên lạc được với đài kiểm soát, phi cơ bay đi Cần Thơ xin đáp nhưng bị từ chối, sau đó đành bay ra An Thới (Phú Quốc), thả bớt bom xuống biển. Tại An Thới, phi cơ được bỏ bớt đạn đại bác, bị tạm giữ không cho cất cánh. Đến 10 giờ sáng, sau khi có lệnh đầu hàng, phi cơ bay đi Utapao cùng với 15 người trên phi cơ.

Số Skyraiders bị bỏ lại là 40 chiếc, trong đó 26 chiếc bỏ lại ở TSN.

F-5s:

Trong số 26 chiếc F-5s bay thoát khỏi VN (gồm 22 chiếc F-5E và 4 chiếc F-5A/B), có 2 trường hợp đặc biệt được Anthony Tambini ghi lại trong F-5 Tigers over Việt Nam:

Một chiếc F-5F (loại 2 chỗ ngồi), đã chở theo 4 phi công trong 2 phòng lái, bằng cách tháo bỏ các dù, hạ ghế xuống thấp hết mức, một phi công ngồi và phi công thứ nhì đứng khom lưng đối mặt, lưng dựa vào cockpit. Phi cơ cất cánh khi phi trường đang bị pháo kích. Lúc đầu, phi cơ định bay lên với hệ thống thắng để mở. Cảm nhận được tình hình không thể bay lên, phi công đã phải mở dù 'drag chute) để làm chậm vận tốc, sau đó đóng hệ thống thắng để phi cơ bay lên được và bay đi Thái Lan. Tuy nhiên, có lẽ hệ thống thắng đã bị hư hại khi bị pháo kích nên không còn sử dụng được. Phi cơ đáp xuống một phi dạo thô sơ và chật hẹp. Không ngừng được nên đâm vào cây và phát nổ, gây tử thương cho cả 4 phi công (Th/tá Mai Tiến Đạt, Nguyễn Đức Toàn, Ngô văn Trung và Đ/úy Lê Thiện Hữu.)

Một F-5A khác, cất cánh với 3 phi công, cất cánh ngược hướng bay, bay qua đầu các phi cơ đang đậu trên phi đạo chờ đến lượt bay lên. Phi cơ đến được Utapao.

Số F-5 bị bỏ lại gồm 87 chiếc, trong đó có 27 F-5E

A-37s:

Gần 50 chiếc A-37 đã bị hủy diệt trong đợt pháo kich đêm 28/4 (xem phần trên) và Đ/tá Thảo (KĐ trưởng KĐ 33) đã cho lệnh tan hàng vào khoảng 8 giờ sáng 29.

Th/tá Ngô Đức Cửu đón được một L-19 và về đáp Trà Nóc (Cần Thơ). Tại đây ông trình bày tình hình của Bộ Tư lệnh KQ Sàigòn (đã bỏ ngỏ) và hướng dẫn các PĐ A-37 còn lại bay đi Utapao: ... 'Từ Bình Thủy đi Utapao, hướng 300, khoảng 45 phút là đến. Anh em nên lấy bản đồ ra kiểm soát lại và ghi các chi tiết tần số tower.'

10 giờ sáng 30/4 sau khi có lệnh 'đầu hàng', căn cứ Bình Thủy cũng tự động tan hàng. Bãi đậu phi cơ vắng lặng, không còn quân cảnh, không còn chuyên viên kỹ thuật.

... 'tôi rất thán phục anh em A-37 Cần Thơ, có nôn nóng nhưng rất trật tự, có thể nói là lịch sự. Tôi lên tiếng vì nhu cầu, tất cả hoa tiêu A-37 phải rời VN, anh em bắt cặp lấy, mỗi phi cơ phải đi được 3 người, không dù không hành lý. Ngoại trừ phi công bay ghế trái phải đội helmet để liên lạc. Tất cả phi cơ phải bay ở 12 ngàn bộ, không cần dưỡng khí.'

Đa số bình điện của các phi cơ yếu, Th/tá Cửu và Th/tá Kim (Liên đoàn trưởng Kỹ thuật) đã dùng APU khởi động từng phi cơ theo thứ tự. Th/tá Cửu lên chiếc sau cùng rời phi đạo để hợp đoàn với gần 30 chiếc A-37, bay về hướng Utapao.

Đây có thể được xem là 'chuyến di tản' trật tự và 'thành công' nhất của KQ VNCH.

Ngoài ra, còn có một A-37 đáp xuống một xa lộ gần căn cứ KQ Korat, phía Bắc Bangkok, gần một trường học, bom đạn còn đầy dưới cánh và Tướng Aderholt đã phải gửi một Đ/úy phi công Mỹ đến để bay chiếc này về căn cứ Udorn.

Theo thống kê 27 chiếc A-37 đến được Utapao. 95 chiếc bị bỏ lại VN.

Phi cơ vận tải:

Tân Sơn Nhất là căn cứ tập trung của nhiều phi đoàn vận tải của KQVNCH. Cuộc di tản cũng rất hỗn loạn, nhiều phi cơ bị bỏ lại vì không có phi công, không người đổ xăng. Có những trường hợp phi cơ không cất cánh nổi do quá tải, hay do quá vội. Một số phi cơ vận tải đã bay được sang Utapao vì đã ở sẵn và cất cánh từ Côn đảo. Tất cả đều chở vượt quy định. Có những C-47 bay đến Utapao với cả trăm hành khách (bình thường chỉ chở 30 binh sĩ), bánh đáp bị gãy khi chạm đất.

Phi công Hungphan trong bài hồi ký 'Những giờ phút sau Tinh Long 07' ghi lại: Sáng 29/04/75

...' Đồng loạt không ai bảo ai, chúng tôi tháo chạy về phia Không đoàn bộ (PĐ 437), bên cạnh là đại bản doanh của PĐ 435, chúng tôi đang ngơ ngác tìm nơi trú ẩn, thì thấy ông PĐ trưởng Tr/tá MMC bước ra, nhìn chúng tôi lên tiếng: ' Giờ này pilot quý lắm, ai ở phi đoàn nào về phi đoàn nấy.' Chúng tôi im lặng rút sâu vào tầng dưới của SĐ bộ, thấy đủ mặt văn võ bá quan. T/Tá Vinh con 435, T/Tá Vinh Trô 437, Tr/Tá Dinh, Đ/úy Chư... đã có mặt từ lúc nào, gần giống một cuộc họp của Không đoàn.

Không biết thời gian nặng nề dai dẵng này kéo dài bao lâu, thỉnh thoảng có tiếng pháo kích như để phá tan bầu im lặng. Tiếng pháo vẫn vang lên bên ngoài, bỗng có tiếng điện thoại reo trên lầu, rồi im lặng. Tất cả khuôn mặt không dấu vẻ lo lắng đợi chờ. Tình hình căng thẳng, khoảng mười phút sau, tiếng chuông điện thoại lại reo lên. Chưa hết tiếng reo đột nhiên có tiếng của ai đó hét to: "Ra xe (chưa ai nghe điện thoại)." Không ai bảo ai, chúng tôi chạy nhanh lên xe.

Tôi cũng nhảy lên một chiếc Step van. Chạy được một quảng, 4, 5 anh phòng thủ với súng ống đầy mình, chạy ra chận xe lại. Có tiếng trong xe la lớn: 'ĐM, lên xe luôn, giờ này mà chặn cái gì?' thế là thêm đông. Đến parking, tôi chạy về chiếc GZA 027, Herky 027 mà tôi biết tàu tốt vì tôi mới bay về tối hôm qua. Trên phòng lái, có độ 10 ông pilot C-130 !!! Phí thật.

Chỉ một phút sau, chúng tôi take-off. Hai phút sau đã lên cao độ an toàn (T/Tá Nhân nhẩy vào ghế pilot thay Đ/úy Chuân, ngồi co-pilot là Tr/Tá Đinh).

(14 chiếc C-130 bị bỏ lại, 9 chiếc đến được Utapao, ngoài ra còn 1 chiếc đã đào thoát sang Singapore từ khoảng đầu tháng 4)

Tác giả 'Không quân liệt lão' trong bài 'Giây phút não lòng' (xem phần trên) ghi tiếp:

... "Thảo bảo tôi: "Mình ra khu trực thăng, moa thấy nhiều lắm, đậu phía gần phi đạo hướng Bà quẹo đó." Đến khu trực thăng, lên chiếc nào mở máy cũng không nổ, tàu nào cũng khô ran (Tướng Tiên cho lệnh rút xăng khỏi tàu vì sợ các phi công... tự động tan hàng). Chọn trực thăng không xong, Thảo Nâu chở tôi trên jeep đi tìm Cessna. Gặp Cessna, Thảo leo lên, bảo tôi ngồi ghế phài. Thảo quay máy, máy nổ. Bỗng nhiên con tàu xao động dữ dội. Quan quân ở đâu đông thế đang dành nhau leo lên tàu. Cessna chỉ có 5 chỗ, làm sao chở nỗi cả chục người. Không ai chịu xuống.

Tôi tự quyết định, nhường chỗ, mở cửa buớc xuống leo lên jeep để lái đi. ,có QC Vân cùng bỏ Cessna lái đi..tìm xem còn chiếc nào để quá giang..

Trên đường rời khỏi SĐ 5KQ, ngang qua văn phòng Tư lệnh phó SĐ, thấy có ánh đèn, cửa mở, tôi đậu xe bước vào.. Gặp Đinh thạch On ngồi thẫn thờ sau bàn giấy..Tôi hỏi:

- On, sao còn ngồi đây? Tât cả bỏ đi hết rồi, anh cũng đi đi thôi.
On như người mất hồn: "C-130 tụi nó lấy trốn cả rồi."
Tôi nhắc: "Còn C-47 mà." 
On thở dài: Đã lâu lắm, tôi không lái C-47.

.. Sau khi ngồi chờ ông On lôi quyển kỹ thuật C-47 ra 'ôn bài', cả đám đi tìm C-47 để chạy. Đến bãi đậu, các phi cơ đều bất khả dụng: hoặc không xăng, hoặc bị trúng đạn pháo kích. Đang tuyệt vọng, cả đám tìm được một C-47 đang nằm trong hangar. khóa kín..Đó là chiếc phi cơ riêng của Tư lệnh Vùng II. Sau đó có thêm Đ/úy Qui chạy đến. Phi cơ chở đến gần 80 người cộng theo thiết bị linh tinh... cố gắng cất cánh... sau cùng đến được Utapao.

Nhóm của BS Phạm gia Lữ (xem phần trên) sau đó đến phi đạo C-47 để tìm máy bay di tản, có chiếc không khởi động được do bình điện yếu. Chiếc DC-6 'Bình Long Anh Dũng' tuy nằm cạnh nhưng được canh giữ. Sau đó tìm được chiếc C-47 của Tư lệnh KQ, Kh bắn bể khóa. Tất cả leo lên tàu để bay ra Côn sơn. Sau những trục trặc như không có bản đồ phi hành, phi cơ hết dầu thắng (tìm được 2 gallon nơi đuôi phi cơ), phi cơ đáp được xuống Côn Sơn. Th/tá Khoa bay thêm một chuyến trở lại Saigon (TSN đã bỏ ngỏ) để đón thân nhân và bay lại ra Côn Sơn. Dùng nón sắt để chuyển xăng, phi cơ đã bay đi Utapao sáng 30/4 khi DV Minh ra lệnh đầu hàng.

Tác giả Nguyễn Cao Thiên trong bài 'PĐ 314, Chuyến bay không phi vụ lệnh '(Đặc san Liên khóa 64SVSQ, 2009) ghi lại một số chi tiết mô tả tình trạng hoảng loạn, vô trật tự tại TSN khi phi trường bị pháo kich. Sau khi PĐ phó Tấn từ KĐ trở về cho biết 'Trên đó có ai đâu ? vắng hoe ?'.. Mạnh ai nấy chạy tự tìm phi cơ để bay đi. Có phi cơ cất cánh quá vội, quên cả gỡ kẹp đuôi nên rơi ngay tại phi trường. Chiếc C-47 của PĐ 314 bay đến Utapao với trên 40 người.

(16 chiếc C-47, đủ loại kể cả EC, AC đến được Utapao. 38 chiếc bỏ lại.)

Ngoài ra cũng có 3 AC-119 và 6 C-7A Caribou đến Utapao, 37 chiếc AC-119 cùng 6 chiếc C-119 vận tải bị bỏ lại. Số Caribou lên đến 33 (trong tình trạng đình động)

Tại Utapao còn có:

- 14 chiếc Cessna U-17 Skywagon

- 12 chiếc UH-1

- 3 chiếc O-1 Bird dog

Bảng tổng kết của HK ghi nhận: số phi cơ của KQVN bỏ lại còn có 434 chiếc UH-1, 114 chiếc O-1, 32 chiếc CH-47 Chinook và 72 phi cơ các loại khác gồm U-17, O-2A, T-37, T-41 và cả U-6 Beaver..

Bay ra biển:

Các phi cơ trực thăng (UH-1 và Chinook) khi tự động tan hàng, đa số tìm đường thoát bằng cách bay ra biển để đáp xuống bất cứ tàu bè nào đang di chuyển ngoài khơi: đáp trên chiến hạm Mỹ, nếu có chỗ đáp là tốt nhất, đáp trên chiến hạm VN và trong tình trạng 'bi thảm 'nhất' là đáp xuống biển, phi công tự thoát, nếu may mắn sẽ được tiếp cứu và vớt lên tàu.

Trường hợp đặc biệt nhất được ghi vào lịch sử KQ và HQ Hoa Kỳ là trường hợp đáp của một L-19 chở đầy 'hành khách' trên Hàng Không Mẫu hạm..

Sau đây là một số trường hợp được kể lại trong các bài hồi ký:

Phi đoàn Thần Tượng 215

Khoảng 10 giờ sáng 29/4, bộ chỉ huy Phi đoàn 215 đã dùng 3 trực thăng để 'di tản 'về Côn Sơn. Trên các trực thăng có Phi đoàn trưởng (Tr/tá Khưu văn Phát), PĐ phó (Th/tá Đức) và các phi đội trưởng. Tuy nhiên do hết xăng nên cả 3 chiếc sau khi gặp tàu chở dầu của hãng Shell đã cố gắng thả người (nhảy từ máy bay xuống sàn tàu từ cao độ chừng 3 m) và phi công còn lại sau cùng đã đáp xuống biển, bơi thoát khỏi chiếc phi cơ đang chìm và được canô vớt. Cả 3 phi công (Đ/úy Chín, Đ/u Vĩnh và Th/tá Lương) đều được an toàn. (Vĩnh Hiếu: Phi đoàn Thần tượng Giờ thứ 25)

Phi đoàn Lôi Vũ 221:

Phi đoàn di tản từ Biên Hòa về TSN trong đêm 27/4, khi phi trường bị pháo kích. Chiều 29/4, Tr/Tá Nguyễn văn Trọng, PĐT tuyên bố giải tán phi đoàn. 13 trực thăng của phi đoàn bay được ra hạm đội HK. Trong đoàn di tản còn có Đ/tá Phước, Đ/tá Vy (Sư đoàn phó SĐ 1 KQ) (Tâm tư Lôi Vũ -52, Van Nguyên).

Phi đoàn Lôi Thanh 237 (Chinook CH-47)

Ngày 29/4, lúc 4 giờ sáng, 4 trực thăng Chinook CH-47 đậu song song với nhau trước phi cảng Hàng Không dân sự. Các nhân viên phi hành chờ quyết định của Th/tá Nguyễn văn Ba, Phi đoàn phó, nhưng ông vẩn trì hoãn chờ PĐ trưởng (Tr/tá Ch.) còn đang kẹt ở Biên Hòa. Các sỉ quan tham mưu của PĐ đều vắng mặt. Sau đó, ông quyết định di tản 4 phi cơ khả dụng đi Vũng Tàu. Khi 4 phi cơ vứa đáp xuống Vũng Tàu thì phi trường này cũng vừa bị pháo kích. Chỉ 3 phi cơ bay về Cần Thơ, một chiếc đã tự tách khỏi hợp đoàn. Ba phi cơ đáp xuống Mỹ Tho, 1 bay trở lại Sàigòn để đón gia đình Khi trở lại Mỹ Tho, phi cơ bị trục trặc nên đành bỏ lại nơi bờ sông. Hai chiêc còn lại cất cánh lúc 2 giờ trưa, bay ra hạm đội HK, thả người xuống chiến hạm Kirk và phi công 'ditching' để sau đó được vớt (Chuyến bay cuối cùng - Nguyển văn Ba - Lý Tưởng Úc châu, số kỷ niệm Ngày Không Lực 1-7-2011)

O-1 Birđ Dog (L-19) đáp trên Hàng Không Mẫu hạm:

Một trường hợp đặc biệt nhất của cuộc di tản, được ghi vào quân sử Hoa Kỳ, phi cơ hiện được lưu giữ tại viện bảo tàng là trường hợp dùng L-19 đáp xuống Hàng không Mẫu hạm Midway của Thiếu tá Lý Bửng, Sĩ quan trưởng phòng hành quân của PĐ Sao Mai 114/ KĐ 62 CT/ SĐ 2 KQ.

Việc O-1 đáp trên Hàng không Mẫu hạm đang di chuyển là chuyện không thể tưởng tượng nổi, ngay cả với các phi công Hoa Kỳ và những chuyên viên thiết kế máy bay của hãng Cessna.

Điều gây 'kinh ngạc' hơn nữa là trên phi cơ còn có thêm 6 người (vợ và 5 đứa con) ngồi chật cứng trên ghế sau.

Phi công Lý Bửng kể lại như sau (Chuyến bay về vùng tự do của KQ Lý Bửng- Đặc san Lý Tưởng số 02/2010):

... 'Sáng 29/4, tôi, Hường, và Nhị cùng bay chiếc O-1 này ra Côn Sơn. Vợ con tôi đã ra Côn Sơn bằng phương tiện trực thăng trước, hình như của PĐ 215. Chiếc O-1 này tình trạng máy tốt, chỉ có vô tuyến là không hoạt động được. Tôi cất cánh từ TSN trong lúc phi trường đang bị pháo kich. Chúng tôi quyết định bay ra Côn sơn vì không rõ tình hình Cần Thơ. Đêm nghỉ tại Côn Sơn, chúng tôi chưa biết chắc sẽ đi Thái Lan bằng phi cơ gì. 

Sáng 30/4, có lệnh đầu hàng. Tôi sắp xếp cho tất cả anh em PĐ 114 trật tự lên các C-123 và C-130 đi Thái Lan. Tôi và gia đình dự trù sẽ đi chiếc C-123 sau cùng nhưng chiếc này bị hư không cất cánh được. Khoảng 130 người còn lại đành chờ tàu HQ. Cảnh tượng xuống tàu rất hỗn loạn. Tôi quyết định dùng chiếc O-1 mà tôi đã bay ra Côn Sơn hôm qua để chở cả gia đình để bay đi nhưng chưa biết đi đâu? Trời rất xấu, mưa mù mịt, tôi bay rase motte trên mặt biển, khoảng từ 500 đến 700 bộ. Trong lúc bay, tôi thấy nhiều trực thăng bay ra biển, tôi cũng lấy hướng bay này cho đến khi thấy chiếc hàng không mẫu hạm.

Chiếc O-1 bị hỏng hệ thống vô tuyến nên tôi không thể liên lạc được với ai. Tôi dùng phương thức bay qua đài kiểm soat của chiến hạm, lắc cánh để cho biết hệ thống vô tuyến bị hỏng và xin đáp. Dưới mẫu hạm bắn hỏa pháo đỏ liên tiếp ra dấu cho biết là họ không chấp thuận cho hạ cánh có lẽ vì không còn chỗ ? Tôi lấy bản đồ, giấy tờ trong máy bay viết chữ xin hạ cánh vì phi cơ còn có vợ con và buộc vào botte để thả xuống sàn tàu. Sau đó nhân viên trên tàu xô một số trực thăng xuống biển và dọn các trực thăng khác để lấy chỗ cho tôi đáp. Phi đạo họ dành cho cho tôi đáp là cạnh ngắn, khoãng 150 feet...'

Sau một lần đáp thử để ước lượng các thông số kỹ thuật, như gió ngang, sự di chuyển của mẫu hạm. Phi công Lý Bửng đã đáp thành công xuống Mẫu hạm Midway trước sự kinh ngạc và thán phục của nhân viên thủy thủ trên tàu.

Trong 'chiến dịch di tản' Frequent Wind':

Hàng không mẫu hạm Midway đã tiếp nhận khoảng 60 trực thăng của KQ VNCH, trong đó có chiếc UH-1 của Tướng Kỳ và cả vài trực thăng của Air America..

Chiến hạm USS Kirk, trong thời gian yểm trợ đoàn tàu di tản của HQ VNCH đã là nơi đáp cho 16 chiếc trực thăng của KQ VNCH. Sàn đáp của chiến hạm chỉ dành cho một trực thăng nên sau khi đáp, trực thăng phải đẩy xuống biển để lấy chỗ cho chiếc kế tiếp. Ngoài 16 chiếc UH-1, còn có 1 Chinook sau khi thả người trên sàn đáp đã phải đáp xuống biển, phi công được cứu thoát. Số người trên các trực thăng đáp xuống USS Kirk lên đến gần 200 người. USS Kirk chở được về Subic Bay 3 chiếc UH-1.

Các chiến hạm khác như Blue Ridge, Mobile (LK 115) đều tiếp nhận các trực thăng của KQVN.

Tài liệu của Air America ghi nhận một số trường hợp các phi công VN dùng súng 'tạm mượn' phi cơ của Air America để bay ra Hạm đội Hoa Kỳ: Chiếc UH-1H (69-16715) của Air America màng dấu hiệu ICSS (Ủy Ban Liên hợp 4 bên) đã do phi công VN bay ra đáp tại Chiến hạm Blue Ridge trưa ngày 29/4. Tất cả có 6 chiếc trực thăng bị phi công VN "mượn tạm", trong đó 5 chiếc loại UH-1 và một chiếc Bell 204B (?), chiếc Bell này sau đó đáp trên USS Kirk. (Air America in South Viet Nam: The Collapse. Tác giả Joe Leeker)

Số phận những phi cơ... đến được Utapao:

Ngay khi các phi cơ của KQ VNCH đáp xuống Utapao, vừa ngừng bánh, tắt máy, các nhân viên phi đạo lập tức sơn lại cờ chuyển từ VNCH sang thành máy bay của Hoa Kỳ. Người Thái Lan không muốn 'chứa chấp' những người Việt vừa phải bỏ nước ra đi nên HK đã phải lập cầu không vận, dùng các C-141 để đưa người tỵ nạn sang Guam.

Một trục trặc nhỏ đã xẩy ra: 65 người, tất cả trên cùng một chuyến C-130 đến Utapao đã đòi trở về VN. Dưới sự lãnh đạo của Tr/úy Cao van Le (?), những nhân viên KQVN này khi bay khỏi TSN, không biết là họ sẽ phải biệt xứ trong khi gia đình còn kẹt lại tại VN... và dọa sẽ tự tử nếu không được như ý. Một Đại tá KQVN và một Tuyên úy quân đội HK đã giúp điều đình để giải quyết vấn đề, chỉ còn 13 người cương quyết đòi về. Sau cùng cả 13 người đã được chích thuốc ngủ để đưa lên C-141 đi Guam.

CSVN đã lên tiếng đòi hỏi chủ quyền về những máy bay tỵ nạn tại Thái. Hà Nội đã đòi đưa một phái đoàn đến Thái để kiểm kê các phi cơ. Chính quyền Thái do áp lực của Hà Nội đã đòi' tạm giữ' các máy bay đang ở Utapao. 

Tướng Aderholt cho biết' các phi cơ này thuộc quyền sở hữu của HK theo một điều khoản có ghi trong Thỏa ước Viện trợ Quân sự Mỹ-Việt' nhưng chưa chắc Thái Lan đồng ý nên ông tìm cách chuyển các phi cơ khỏi Thái càng nhanh càng tốt. Trước hết, Aderholt 'tặng' cho Tư lệnh KQ Thái Lan 5 chiếc F-5 để mua chuộc giới quân sự Thái (Thật ra Aderholt không có quyền nhưng trước chuyện đã rồi, HK khó lấy lại được 5 phi cơ này). Khi Hàng không mẫu hạm Midway ghé một căn cứ HQ Thái Lan gần Utapao ngày 5/5, khoảng 140 phi cơ đủ loại đã được chở ra khỏi Thái Lan (trong số này có lẽ gồm cả một số phi cơ, trong tổng số 93 chiếc của Không lực Kmer đã bay sang Thái khi Nam Vang thất thủ). Bốn chiếc Skyraiders được Aderholt cho bay đi, cất giấu tại Căn cứ Takhli. Mẫu hạm Midway đã chở về Guam 101 phi cơ của KQVN, trong đó có 21 chiếc F-5E.

Theo 'Escape to Utapao' một chiếc C-123K được đưa ra khỏi Thái (số đuôi 54-00592). Chiếc này hiện ở Phi trường Avra Valley và không ai biết về trường hợp này. (Theo danh mục trong Flying Dragons trang 164 thì chiếc này của KQVN)

Tài liệu của Hải Quân Thái Lan ghi nhận: Trong danh mục phi cơ thuộc HQ Thái Lan có một số phi cơ 'cũ' của KQVN như:

- C-47A (43-48101, VNAF)

- VC-47D (43-48777, VNAF 'EY'

- AC-47D (43-49095, VNAF 'EK'

- RC-47 (43-49701, VNAF) và (43-49925, VNAF 'EF') và (44-76418, VNAF 'EB')

- EC-47 P (45-1044, VNAF 'WA')

Ngoài ra còn 3 chiếc U-7 mang các số đuôi 71-1438; 71-1442 và 7-1455 được ghi là VNAF(?)

Trần Lý
(tháng 4/2012)




Thằng Khùng (Thanh Ngang Trên Thập Tự Giá)

( THẰNG KHÙNG trong tù này là Cha Chính Vinh, tức là Linh mục Gioan Lasan NGUYỄN VĂN VINH (1912-1971), của Nhà thờ lớn Hà Nội. Bài viết của Phùng Quán đã kể lại chuyện thật những năm, những ngày cuối trong ngục tù của Ngài. Phùng Quán viết lại theo lời kể của nhà thơ Nguyễn Tuân - không phải là nhà văn có cùng tên - khi cùng ở trong tù)

"… Anh ta vào trại trước mình khá lâu, bị trừng phạt vì tội gì, mình không rõ. Người thì bảo anh ta phạm tội hình sự, người lại bảo mắc tội chính trị. Nhưng cả hai tội mình đều thấy khó tin. Anh ta không có dáng dấp của kẻ cướp bóc, sát nhân, và cũng không có phong độ của người làm chính trị. Bộ dạng anh ta ngu ngơ, dở dại dở khùng. Mình có cảm giác anh ta là một khúc củi rều, do một trận lũ cuốn từ một xó rừng nào về, trôi ngang qua trại, bị vướng vào hàng rào của trại rồi mắc kẹt luôn ở đó. Nhìn anh ta, rất khó đoán tuổi, có thể ba mươi, mà cũng có thể năm mươi. Gương mặt anh ta gầy choắt, rúm ró, tàn tạ, như một cái bị cói rách, lăn lóc ở các đống rác. Người anh ta cao lòng khòng, tay chân thẳng đuồn đuỗn, đen cháy, chỉ toàn da, gân với xương.

Trên người, tứ thời một mớ giẻ rách thay cho quần áo. Lúc đầu mình cứ tưởng anh ta bị câm vì suốt ngày ít khi thấy anh ta mở miệng dù là chỉ để nhếch mép cười. Thật ra anh ta chỉ là người quá ít lời. Gặp ai trong trại, cả cán bộ quản giáo lẫn phạm nhân, anh ta đều cúi chào cung kính, nhưng không chuyện trò với bất cứ ai. Nhưng không hiểu sao, ở con người anh ta có một cái gì đó làm mình đặc biệt chú ý, cứ muốn làm quen… Nhiều lần mình định bắt chuyện, nhưng anh ta nhìn mình với ánh mắt rất lạ, rồi lảng tránh sau khi đã cúi chào cung kính.

Hầu như tất cả các trại viên, kể cả những tay hung dữ nhất, cũng đều thương anh ta. Những trại viên được gia đình tiếp tế người để dành cho anh ta viên kẹo, miếng bánh, người cho điếu thuốc.

Ở trại, anh ta có một đặc quyền không ai tranh được, và cũng không ai muốn tranh. Đó là khâm liệm tù chết. Mỗi lần có tù chết, giám thị trại đều cho gọi "thằng khùng" (tên họ đặt cho anh ta) và giao cho việc khâm liệm. Với bất cứ trại viên chết nào, kể cả những trại viên đã từng đánh đập anh ta, anh ta đều khâm liệm chu đáo giống nhau. Anh ta nấu nước lá rừng, tắm rửa cho người chết, kỳ cọ ghét trên cái cơ thể lạnh ngắt cứng queo, với hai bàn tay của người mẹ tắm rửa cho đứa con nhỏ.

Lúc tắm rửa, kỳ cọ, miệng anh ta cứ mấp máy nói cái gì đó không ai nghe rõ. Anh ta rút trong túi áo một mẩu lược gãy, chải tóc cho người chết, nếu người chết có tóc. Anh ta chọn bộ áo quần lành lặn nhất của người tù, mặc vào rồi nhẹ nhàng nâng xác đặt vào áo quan được đóng bằng gỗ tạp sơ sài.

Anh ta cuộn những bộ áo quần khác thành cái gói vuông vắn, đặt làm gối cho người chết. Nếu người tù không có áo xống gì, anh ta đẽo gọt một khúc cây làm gối. Khi đã hoàn tất những việc trên, anh ta quỳ xuống bên áo quan, cúi hôn lên trán người tù chết, và bật khóc.

Anh ta khóc đau đớn và thống thiết đến nỗi mọi người đều có cảm giác người nằm trong áo quan là anh em máu mủ ruột thịt của anh ta. Với bất cứ người tù nào anh ta cũng khóc như vậy. Một lần giám thị trại gọi anh ta lên:

- Thằng tù chết ấy là cái gì với mày mà mày khóc như cha chết vậy?

Anh ta chấp tay khúm núm thưa:

- Thưa cán bộ, tôi khóc vờ ấy mà. Người chết mà không có tiếng khóc tống tiễn thì vong hồn cứ lẩn quẩn trong trại. Có thể nó tìm cách làm hại cán bộ. Lúc hắn còn sống, cán bộ có thể trừng trị hắn, nhưng đây là vong hồn hắn, cán bộ muốn xích cổ, cũng không xích được.

Thằng khùng nói có lý. Giám thị trại mặc, cho nó muốn khóc bao nhiêu thì khóc. Nhưng mình không tin là anh ta khóc vờ. Lúc khóc, cả gương mặt vàng úa, nhăn nhúm của anh ta chan hòa nước mắt. Cả thân hình gầy guộc của anh ta run rẩy. Mình có cảm giác cả cái mớ giẻ rách khoác trên người anh ta cũng khóc… Trong tiếng khóc và nước mắt của anh ta chan chứa một niềm thương xót khôn tả. Nghe anh ta khóc, cả những trại viên khét tiếng lỳ lợm, chai sạn, "đầu chày, đít thớt, mặt bù loong" cũng phải rơm rớm nước mắt. Chỉ có nỗi đau đớn chân thật mới có khả năng xuyên thẳng vào trái tim người. Mình thường nghĩ ngợi rất nhiều về anh ta. Con người này là ai vậy? Một thằng khùng hay người có mối từ tâm lớn lao của bậc đại hiền?…

Thế rồi, một lần, mình và anh ta cùng đi lùa trâu xuống con sông gần trại cho dầm nước. Trời nóng như dội lửa. Bãi sông đầy cát và sỏi bị nóng rang bỏng như than đỏ. Trên bãi sông mọc độc một cây mủng già gốc sần sùi tán lá xác xơ trải một mảng bóng râm bằng chiếc chiếu cá nhân xuống cát và sỏi. Người lính gác ngồi trên bờ sông dốc đứng, ôm súng trú nắng dưới một lùm cây. Anh ta và mình phải ngồi trú nắng dưới gốc cây mủng, canh đàn trâu ngụp lặn dưới sông. Vì mảng bóng râm quá hẹp nên hai người gần sát lưng nhau. Anh ta bỗng lên tiếng trước, hỏi mà đầu không quay lại:

- Anh Tuân này - không rõ anh ta biết tên mình lúc nào - sống ở đây anh thèm cái gì nhất?

- Thèm được đọc sách - mình buột miệng trả lời, và chợt nghĩ, có lẽ anh ta chưa thấy một cuốn sách bao giờ, có thể anh ta cũng không biết đọc biết viết cũng nên.

- Nếu bây giờ có sách thì anh thích đọc ai? - anh ta hỏi.

- Voltaire! - một lần nữa mình lại buột miệng. Và lại nghĩ: Nói với anh ta về Voltaire thì cũng chẳng khác gì nói với gốc cây mủng mà mình đang ngồi dựa lưng. Nhưng nhu cầu được chuyện trò bộc bạch với con người nó cũng lớn như nhu cầu được ăn, được uống… Nhiều lúc chẳng cần biết có ai nghe mình, hiểu mình hay không. Đó chính là tâm trạng của anh công chức nát rượu Marmeladov bất chợt nói to lên những điều tủi hổ nung nấu trong lòng với những người vớ vẩn trong một quán rượu tồi tàn, mà Dostoievsky miêu tả trong “Tội ác và Trừng phạt”.

Anh ta ngồi bó gối, mắt không rời mặt sông loá nắng, hỏi lại:

- Trong các tác phẩm của Voltaire, anh thích nhất tác phẩm nào?

Mình sửng sốt nhìn anh ta, và tự nhiên trong đầu nảy ra một ý nghĩ kỳ lạ: một người nào khác đã ngồi thay vào chỗ anh ta… Mình lại liên tưởng đến một cậu làm việc cùng phòng hồi còn ở Đài phát thanh, tốt nghiệp đại học hẳn hoi, đọc tên nhạc sĩ Chopin (Sôpanh) là Cho Pin.

Mình trả lời anh ta:

- Tôi thích nhất là Candide.

- Anh có thích đọc Candide ngay bây giờ không?

Không đợi mình trả lời, anh ta nói tiếp:

- Không phải đọc mà nghe… Tôi sẽ đọc cho anh nghe ngay bây giờ.

Rồi anh ta cất giọng đều đều đọc nguyên bản Candide. Anh đọc chậm rãi, phát âm chuẩn và hay như mấy cha cố người Pháp, thầy dạy mình ở trường Providence. Mình trân trân nhìn cái miệng rúm ró, răng vàng khè đầy bựa của anh ta như nhìn phép lạ. Còn anh ta, mắt vẫn không rời dòng sông loá nắng, tưởng chừng như anh ta đang đọc thiên truyện Candide nguyên bản được chép lên mặt sông…

Anh đọc đến câu cuối cùng thì kẻng ở trại cũng vang lên từng hồi, báo đến giờ lùa trâu về trại. Người lính gác trên bờ cao nói vọng xuống: "Hai đứa xuống lùa trâu, nhanh lên!".

- Chúng mình lùa trâu lên bờ đi! - anh nói.

Lội ra đến giữa sông, mình hỏi anh ta:

- Anh là ai vậy?

Anh ta cỡi lên lưng một con trâu, vừa vung roi xua những con trâu khác, trả lời:

- Tôi là cái thanh ngang trên cây thập tự đóng đinh Chúa.

Rồi anh ta tiếp:

- Đừng nói với bất cứ ai chuyện vừa rồi…

Giáp mặt người lính canh, bộ mặt anh ta thay đổi hẳn - ngu ngơ, đần độn như thường ngày.

Cuối mùa đông năm đó, anh ta ngã bệnh. Nghe các trại viên kháo nhau mình mới biết.

Thằng chuyên gia khâm liệm e đi đong. Thế là nếu bọn mình ngoẻo, sẽ không còn được khâm liệm tử tế và chẳng có ai khóc tống tiễn vong hồn… - những người tù nói, giọng buồn.

Mình gặp giám thị trại, xin được thăm anh ta.

Giám thị hỏi:

- Trước kia anh có quen biết gì thằng này không?

Mình nói:

- Thưa cán bộ, không. Chúng tôi hay đi lùa trâu với nhau nên quen nhau thôi.

Giám thị đồng ý cho mình đến thăm, có lính đi kèm. Anh ta nằm cách ly trong gian lán dành cho người ốm nặng. Anh ta nằm như dán người xuống sạp nằm, hai hốc mắt sâu trũng, nhắm nghiền, chốc chốc lại lên cơn co giật…

Mình cúi xuống sát người anh ta, gọi hai ba lần, anh ta mới mở mắt, chăm chăm nhìn mình. Trên khoé môi rúm ró như thoáng một nét cười. Nước mắt mình tự nhiên trào ra rơi lã chã xuống mặt anh ta. Anh ta thè luỡi liếm mấy giọt nước mắt rớt trúng vành môi. Anh ta thều thào nói:

- Tuân ở lại, mình đi đây… Đưa bàn tay đây cho mình…

Anh ta nắm chặt bàn tay mình hồi lâu. Một tay anh ta rờ rẫm mớ giẻ rách khoác trên người, lấy ra một viên than củi, được mài tròn nhẵn như viên phấn viết. Với một sức cố gắng phi thường, anh ta dùng viên than viết vào lòng bàn tay mình một chữ nho. Chữ NHẪN.

Viết xong, anh ta hoàn toàn kiệt sức, đánh rớt viên than, và lên cơn co giật.

Người lính canh dẫn mình lên giám thị trại với bàn tay có viết chữ Nhẫn ngửa ra. Người lính canh ngờ rằng đó là một ám hiệu.

Giám thị hỏi:

- Cái hình nguệch ngoạc này có ý nghĩa gì? Anh mà không thành khẩn khai báo, tôi tống cổ anh ngay lập tức vào biệt giam.

Mình nói:

- Thưa cán bộ, thật tình tôi không rõ. Anh ta chỉ nói: tôi vẽ tặng cậu một đạo bùa để xua đuổi bệnh tật và tà khí.

Nghe ra cũng có lý, giám thị trại tha cho mình về lán…

Phùng Quán

________

Ghi Chú:

(*) THẰNG KHÙNG trong tù này là Cha Chính Vinh, tức là Linh mục Gioan Lasan NGUYỄN VĂN VINH (1912-1971), của Nhà thờ lớn Hà Nội. Bài viết của Phùng Quán đã kể lại chuyện thật những năm, những ngày cuối trong ngục tù của Ngài.

Xin mời đọc thêm (bài kèm theo dưới đây) tiểu sử của Cha Vinh để chúng ta biết thêm nhiều chi tiết về cuộc đời Ngài; và cũng để hiểu thêm gương phụng sự Chúa của Ngài….

Linh mục Gioan Lasan NGUYỄN VĂN VINH,

Cha chính Hà Nội, (1912 – 1971).

Tấm gương can trường.

Linh mục Gioan Lasan NGUYỄN VĂN VINH*

Cha Gioan Lasan Nguyễn Văn Vinh chào đời ngày 2 tháng 10 năm 1912 tại làng Ngọc Lũ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.

Cậu Vinh, một thiếu niên vui vẻ, thông minh, có năng khiếu nghệ thuật bẩm sinh về âm nhạc, ca hát. Cậu biết kính trên, nhường dưới, trong xứ đạo, ai cũng quý yêu. Cha xứ Ngọc Lũ thời đó là Cố Hương, một cha người Pháp tên là Dépaulis giới thiệu cậu lên học tại trường Puginier Hà Nội. Năm 1928, cậu học Tiểu Chủng viện Hoàng Nguyên, Phú Xuyên, Hà Tây.

Năm 1930, thầy Vinh được cố Hương dẫn sang Pháp du học. Năm 1935, thầy vào Đại Chủng viện St Sulpice, Paris. Ngày 20-6-1940, thầy được thụ phong linh mục ở Limoges.

Chiến tranh thế giới xảy ra, cha Vinh phải ở lại Pháp và tiếp tục học tập.
Ngài học Văn Khoa - Triết tại Đại Học Sorbone, học sáng tác và hòa âm tại
Nhạc viện Quốc Gia. Ngài phải vừa học vừa làm. Vóc dáng nhỏ nhắn dễ thương của ngài đã làm cho nhiều người Pháp tưởng lầm ngài là phụ nữ nên cứ chào: “Bonjour Madame!”

Nhưng ẩn trong cái dáng vóc nhỏ bé đó là một tâm hồn rộng lớn, sau đôi mắt sáng là tính cương trực, dưới nụ cười là ý chí sắt son.

Sau khi tốt nghiệp cử nhân Văn Triết ở Sorbone, ngài gia nhập dòng khổ tu Biển Đức tại Đan Viện Ste Marie.

Sau 17 năm du học, năm 1947 cha Vinh về nước, nhằm góp sức xây dựng Giáo Hội Công Giáo Việt Nam vững mạnh về mọi mặt. Khi ấy, Đức cha François Chaize - Thịnh, Bề trên Giáo phận đã bổ nhiệm ngài làm cha xứ Nhà Thờ Lớn Hà Nội. Ngài xin Bề trên lập dòng Biển Đức ở Việt Nam, nhưng không thành.

Cha Vinh, dù tu học ở Pháp nhưng luôn có tinh thần yêu nước, độc lập, không nệ Pháp. Năm 1951, Nhà Thờ Lớn Hà Nội tổ chức lễ an táng cho Bernard, con trai tướng De Lattre de Tassigni. Trong thánh lễ, tướng De Lattre kiêu căng đòi đặt ghế của ông trên cung thánh và bắt chuyển ghế của Trần Văn Hữu, Thủ tướng Việt Nam xuống dưới lòng nhà thờ. Vì lòng tự trọng dân tộc, danh dự quốc gia, cha Vinh cương quyết không chịu.
Tướng De Lattre rất tức giận, gọi cha Vinh tới, đập bàn quát tháo, đe dọa. Cha Vinh cũng đập bàn, lớn tiếng đáp lại, quyết không nhượng bộ, nhưng Thủ Tướng ngại khó nên tự nguyện rút lui. Sau vụ đó, để tránh căng thẳng, Đức Cha Khuê đã chuyển cha Vinh làm giáo sư của Tiểu Chủng Viện Piô XII, phụ trách Anh văn, Pháp văn, âm nhạc, triết học; ngài khiêm tốn vâng lời. Ngài cũng giảng dạy Văn Triết ở trường Chu Văn An.

Năm 1954, Đức cha Trịnh Như Khuê cho phép cha Vinh và cha Nhân đưa chủng sinh đi Nam, nhưng cả hai đều xin ở lại sống chết với giáo phận Hà Nội, dù biết hoàn cảnh đầy khó khăn, nguy hiểm. Đức Cha Khuê bổ nhiệm ngài làm Cha Chính, kiêm Hiệu Trưởng trường Dũng Lạc.

Ngài tổ chức lớp học giáo lý cho các giới, có những linh mục trẻ thông minh, đạo đức cộng tác, như cha Nguyễn Ngọc Oánh, cha Nguyễn Minh Thông, cha Phạm Hân Quynh. Lúc đầu, lớp học được tổ chức thành nhóm nhỏ tại phòng khách Tòa Giám Mục, về sau, con số người tham dự tăng dần, lớp học được chuyển tới nhà préau, và ngồi ra cả ngoài sân. Lớp học hiệu quả rất lớn, những tín hữu khô khan trở thành đạo đức nhiệt thành, ảnh hưởng lan tới cả giới sinh viên và giáo sư đại học, nhiều người gia nhập đạo. Sau chính quyền ra lệnh ngừng hoạt động vì lý do an ninh.

Khi cha Vinh đang làm Hiệu Trưởng Dũng Lạc, Chính phủ ra chỉ thị phải treo ảnh lãnh tụ thay vào ảnh Thánh Giá ở các lớp học. Ngài không tuyên đọc chỉ thị cũng không tháo bỏ Thánh giá, nên năm 1957, trường bị đóng cửa.

Thời bấy giờ, Đại học Y khoa Hà Nội thiếu giáo sư, nên đã đề nghị Đức Cha Khuê cử cha Vinh đến trường dạy La tinh. Nhiều sinh viên cảm phục ngài. Một hôm, Chu Ân Lai, thủ tướng Trung Quốc đến thăm trường, thấy bóng dáng chiếc áo chùng thâm linh mục, ông nói với đoàn tháp tùng: “Đến giờ này mà còn có linh mục dạy ở Đại Học quốc gia ư?” Ít lâu sau trường Đại học Y khoa không mời cha dạy nữa.

Biết tài năng và kiến thức âm nhạc của ngài, nhiều nhạc sĩ ở Hà Nội tìm cha Vinh tham khảo ý kiến và nhờ xem lại những bản nhạc, bài ca họ mới viết.

Cha Vinh, một trong những nhạc sĩ tiên phong của Thánh nhạc Việt Nam, và là một nhạc sĩ toàn tài. Ngài chơi vĩ cầm và dương cầm thật tuyệt, chính ngài là người Việt Nam đầu tiên chơi vĩ cầm ở Hà Nội.

Ngài có năng khiếu đặc biệt về âm nhạc, lại được học tập chu đáo nên đã sáng tác và để lại nhiều nhạc phẩm thánh ca tuyệt vời. Cha Vinh trình bày bản hợp tấu “Ở Dưới Vực Sâu” nhân cuộc đón tiếp phái đoàn Việt Nam do ông Hồ Chí Minh dẫn đầu sang dự Hội Nghị Fontainebleau năm 1946.

Ngài cộng tác với Hùng Lân sáng tác “Tôn Giáo Nhạc Kịch Đa-Vít.” Sáng tác nhiều nhạc phẩm lớn: “Mở Đường Phúc Thật,” “Tôn Vinh Thiên Chúa Ba Ngôi,” “Ôi GiaVi,” “Lạy Mừng Thánh Tử Đạo.” Ngài phổ nhạc cho các Ca Vịnh 8, Ca vịnh 16, Ca vịnh 23, Ca vịnh 41, Ca vịnh 115 và nhiều bài hát khác như Đức Mẹ Vô Nhiễm, Thánh Tâm Giêsu. Ngài còn viết những bài ca sinh hoạt: Sao Mai, Đời Người, phổ nhạc bài “Bước Tới Đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan.

Hằng tuần ngài đến dạy nhạc, xướng âm và tập hát bên chủng viện Gioan. Cha Vinh có giọng nam cao, âm hưởng thanh thoát, lôi cuốn. Ngài tổ chức và chỉ huy dàn đồng ca trong nhiều cuộc lễ và rước kiệu lớn như cuộc Cung Nghinh Thánh Thể từ Hàm Long về Nhà Thờ Lớn Hà Nội.

Năm 1957, Nhà nước muốn tỏ cho dân chúng trong nước và thế giới thấy là ở Việt Nam đạo Công giáo vẫn được tự do hành đạo và tổ chức được những lễ nghi long trọng, tưng bừng. Dịp Lễ Noel, chính quyền tự động cho người đến chăng dây, kết đèn quanh Nhà Thờ Lớn, sau lễ họ vào đòi nhà xứ Hà Nội phải thanh toán một số tiền chi phí lớn về vật liệu và tiền công.

Năm 1958 cũng thế, gần đến lễ Noel, không hề hỏi han, xin phép, một số người của Nhà nước ngang nhiên đưa xe ô tô chuyển vật liệu, tự động bắc thang, chăng dây treo bóng điện màu trang trí ở mặt tiền và trên hai tháp Nhà Thờ Lớn. Cha xứ thời đó là cha Trịnh Văn Căn bảo vệ chủ quyền Giáo Hội trong khuôn viên cơ sở tôn giáo, không đồng ý, nhưng họ cứ làm. Để phản đối, cha Căn liền cho kéo chuông nhà thờ cấp báo, giáo dân kéo đến quảng trường nhà thờ rất đông ủng hộ cha xứ, hai bên to tiếng.

Cha Căn gọi Cha Vinh ra can thiệp, sau một hồi tranh luận không kết quả, cha Vinh kéo những người của Nhà nước đang leo thang chăng đèn xuống, rồi chính ngài leo lên thang, hai tay đưa cao trước mặt, hai bàn tay nắm lại, hai cườm tay đặt lên nhau, làm dấu hiệu còng tay số 8, và nói lớn:

“Tự do thế này à!”

Vụ giằng co lộn xộn kéo dài suốt buổi sáng, công cuộc trang trí không thành. Cha Căn, cha Vinh cùng một số giáo dân bị cơ quan an ninh thẩm vấn, đem ra xét xử. Tòa án Hà Nội tuyên án: Cha Trịnh Văn Căn, Chính xứ Nhà Thờ Lớn, người chịu trách nhiệm tổ chức lễ Noel năm 1958 chịu án 12 tháng tù treo.

Cha Chính Nguyễn Văn Vinh chịu án 18 tháng tù giam, với tội danh: “Vô cớ tập hợp quần chúng trái phép, phá rối trị an, cố tình vu khống, xuyên tạc chế độ, gây chia rẽ trong nhân dân” (!).

Sau phiên tòa, cha Vinh bị đưa đi giam ở Hỏa Lò, sau bị chuyển đi nhiều trại giam khác như Chợ Ngọc, Yên Bái, cuối cùng là trại “Cổng Trời”, nơi dành riêng cho các tù nhân tử tội.

Khi cha Vinh mới đến trại Yên Bái, ngài còn được ở chung với các tù nhân khác, nhiều giáo dân, chủng sinh, tu sĩ đến xin cha giải tội, vì thế ngài bị kỷ luật, phải biệt giam, bị cùm chân trong xà lim tối. Mấy tháng sau được ra, ngài lại ban phép giải tội. Cán bộ hỏi:

“Tại sao bị cùm, bị kỷ luật, được ra, anh tiếp tục phạm quy?”

Ngài đáp:

“Cấm là việc của các ông, giải tội là việc của tôi, còn sống ngày nào, tôi phải làm bổn phận mình!”

Ở tù đói rét là đương nhiên, lúc nào cũng đói, hằng ngày mỗi bữa một bát sắn độn cơm, ăn với lá bắp cải già nấu muối, khi chia cơm phải cân đong từng chút một... Một lần cha Vinh nhận được gói bưu kiện do cha Cương, quản lý Nhà Chung Hà Nội, gửi lên, trong đó có ít thức ăn, lương khô và vài đồ dùng cá nhân, ngài đem chia sẻ cho anh em trong nhóm, cả Công giáo lẫn lương dân, ăn chung, dùng chung. Anh em tù hình sự thân thương gọi ngài là “Bố.”

Ngay trong nhà tù, cha Vinh vẫn can đảm bảo vệ người bị áp bức, có lần một tổ trưởng đánh đập tù nhân, ngài lên tiếng bênh vực, liền bị người tổ trưởng này xông đến giang tay đánh, ngài đưa tay gạt, anh ta ngã khụy. Từ đó trong trại có tiếng đồn cha Vinh giỏi võ, mọi người phải nể vì.

Một cán bộ cao cấp ở Hà Nội lên Cổng Trời gặp cha Vinh, nói: “Đảng và Chính phủ muốn anh được tha về, nhưng với điều kiện phải cộng tác với linh mục Nguyễn Thế Vịnh (Chủ tịch Ủy Ban Liên Lạc Công Giáo). Nếu anh đồng ý, anh có thể về Hà Nội ngay bây giờ với tôi”. Ngài khẳng khái đáp: “Ông Vịnh có đường lối của ông Vịnh. Tôi có đường lối của tôi”.

Vì không khuất phục được ngài, nên bản án từ 18 tháng tù giam, không qua một thủ tục pháp lý án lệnh nào, đã biến thành 12 năm tù kiên giam, xà lim, biệt giam và án tử.

Năm 1971, khi ngài từ trần không ai được biết, một năm sau, chính quyền mới báo cho Đức Cha Khuê và cha Cương quản lý Nhà Chung: “Ông Vinh đã chết. Không được làm lễ áo đỏ cho ông Vinh!”

Suốt đời mình, trong mọi tình huống cha Chính Vinh làm tròn trách vụ của mình. Ngài đã mạnh mẽ rao giảng Tin Mừng và làm chứng cho đức tin, khi thuận tiện cũng như khó khăn. Vượt mọi thử thách gian khó, không chịu khuất phục trước cường quyền, luôn trung kiên với Thiên Chúa và Giáo Hội.

Cha Chính Gioan Lasan Nguyễn Văn Vinh là một chứng nhân của thời đại, một linh mục Công Giáo Việt Nam can trường, hậu thế kính tôn và ghi ân ngài.

TGP Hà Nội

BBT (Theo HĐGMVN)

Trần Văn Giang sưu tầm.


Tìm dấu chân trên cát !

Tác giả : Duy Nhiên
Căn phòng lạnh. Tôi bước xuống nhà mở thêm chút sưởi và pha một tách trà cho ấm. Trăng sáng ngoài cửa sổ. Đêm nay lạnh nên bầu trời thật trong và li ti những vì tinh tú, không một chút mây.
   Trời cũng đã khuya, tôi đi thu dọn lại mấy quyển sách còn đọc dở dang, đặt lại trên kệ cho yên một ngày, sắp xếp lại những cây viết trên bàn cho gọn.

   Ánh trăng dường như sáng hơn vào những đêm mùa đông. Ánh trăng màu trắng xanh. Có những đêm sau giờ ngồi thiền, bước đến cửa sổ nhìn xuống vườn, thấy những bóng cây đổ dài trên sân tôi cứ ngỡ là mình quên tắt đèn ngoài hiên.

Vô ngã không có nghĩa là không có mặt

Bạn có bao giờ đi dạo trên một con đường làng vào những đêm trăng sáng chưa? Những giây phút ấy, ta cảm thấy được sự sống mãnh liệt của thiên nhiên. Có lần tôi đi dạo với người thân trên một con đường quê. Không gian ở vùng xa thành phố thật yên tĩnh, và trăng thật sáng.

   Đi giữa thiên nhiên trong đêm, dường như thính giác của ta trở nên bén nhạy hơn. Tôi có thể nghe được âm thanh của lá, của mây, của gió, của sự sống trong cây cỏ.
   Bạn biết không, có lẽ trong đạo Phật, chúng ta ai cũng hiểu được về vô thường, nhưng không dễ mấy ai hiểu và chấp nhận được lý vô ngã (no-self). Ta đang có mặt nơi đây, với những buồn vui, lo âu, suy tính… thì làm sao ta lại có thể nói rằng là mình không hiện hữu được?

   Tôi nghĩ, vô thường cũng chỉ là một biểu hiện khác của vô ngã. Sự vật là vô thường vì bản chất của nó là vô ngã. Bỡi vì bản chất của nước là vô ngã, mà mùa hè ta có mây trôi, mùa thu ta có những hạt mưa bay, mùa đông có tuyết rơi, và sương mù phủ kín rừng non xanh lá vào những sáng mùa xuân. Vì bản chất của nước là vô ngã nên nó có bao giờ mất đi đâu, mà chỉ thay đổi hình tướng!

   Vô ngã không có nghĩa là ta không có mặt, mà chỉ có nghĩa là mỗi chúng ta không bao giờ là một thực tại riêng biệt và cố định, a separate entity.

Những khổ đau không cần thiết.

Khi ta bị vương mắc vào một cái tôi riêng rẽ và độc lập nào đó, ta sẽ tạo nên những khổ đau không cần thiết.
   Từ một cái tôi ấy, ta muốn sự việc chung quanh phải xảy ra theo sự mong muốn của mình. Ta muốn buổi sáng có bình minh chim hót, có nắng ấm trên đầu, và con đường đến đi hằng ngày nhất định phải luôn là những sự kiện bình thường, không biến đổi…

   Nhưng đổi thay cũng là những yếu tố mầu nhiệm để giúp cho ta thấy rõ lại được chính mình và thực tại này một cách chân thật hơn. Trên con đường tu học, chúng ta thường được nhắc nhở rằng, những biến đổi có thể giúp cho cái nhìn của ta được sâu sắc hơn, và hạnh phúc mình được rộng lớn hơn!

   Tôi nghĩ nghệ thuật tu tập là biết tiếp nhận và buông xả, nó giúp ta thấy được những diễn biến tự nhiên của thực tại này. Nhờ có đổi thay mà đêm dài sẽ qua đi, thân ta bớt đau nhức, những chiều mưa sẽ thành bình minh mới, và những lo âu rồi cũng trở nên những bình yên...

Cảnh cũ người mới

Tôi đi xa nhà đã lâu. Lần đầu tiên trở về là cũng sau gần 30 năm. Và tôi cũng có dịp trở về thăm lại ngôi trường cũ của mình sau một thời gian dài.
   Tôi ghé ngang qua vào một buổi chiều hè, sau giờ tan học nên ngôi trường vắng tênh. Bước vào lớp học cũ, ngồi vào chiếc bàn ngày nào, nhìn lên bảng đen, vẫn chiếc bục bằng xi măng, vẫn khung cửa sổ với tàng cây xanh lớn ngoài kia. Dường như tôi vẫn ngữi thấy cũng một mùi gỗ ấy!

   Tôi đi theo dãy hành lang rộng và im vắng, tìm đến một góc sân, ngày xưa cùng đám bè ngồi bàn chuyện tương lai, chuyện của tuổi mới lớn. Bước lên chiếc cầu thang rộng mà mỗi giờ tan học, bọn chúng tôi ồn ào chen nhau ra về.

   Ngôi trường xưa dường như vẫn không có gì thay đổi bao nhiêu, tất cả vẫn còn như xưa, vẫn sân trường rộng, vẫn mấy cây phượng bóng mát, dãy lớp học vẫn có mặt y như những ngày nào…
   Đi dạo quanh ngôi trường cũ, tôi bất chợt nhận thấy mình không có những xúc động như mình vẫn tưởng trước khi về lại thăm. Có gì thay đổi rồi chăng? Cảnh vật không thay đổi, hay có lẽ chính mình đã thay đổi? Chắc là vậy! Nhưng chúng ta nhiều khi lại vô tình ít chịu nghĩ đến điều ấy.

Hãy là mây thong dong

Tôi bây giờ đâu phải là tôi của mấy mươi năm trước, tôi đâu có những suy tư, những hoài bão, những ước mơ của ngày xưa nữa. Nhưng trong ký ức mình vẫn cứ giữ nguyên và đóng khung quá khứ lại, như đó là một thực tại không bao giờ biến đổi.

   Đôi khi, chúng ta đứng nhìn những bước chân của mình trên cát, đang bị những làn sóng cuộc đời cuốn trôi đi, tiếc nuối, nhưng đâu hay rằng chính mình cũng đang bị xoá tan đi trong từng mỗi giây phút.

   Khi ta thấy được những phiền não cũng như một tảng đá băng to cứng, và rồi cũng sẽ tan chảy và trở thành mây thong dong bay trên bầu trời cao. Đó là luật tự nhiên, dầu ta có sự mong cầu nào hay chăng...

Duy Nhiên




1618269073974blob.jpg
Reply all
Reply to author
Forward
0 new messages