Fwd: ĐIỂM TIN DIỄN ĐÀN 05-03-2026 (SỐ 043-2026)

2 views
Skip to first unread message

Giu Tran

unread,
Mar 5, 2026, 10:21:35 AM (7 days ago) Mar 5
to


---------- Forwarded message ---------
From: soan....@hotmail.com <soan....@hotmail.com>
Date: Thu, Mar 5, 2026 at 6:43 AM
Subject: ĐIỂM TIN DIỄN ĐÀN 05-03-2026 (SỐ 043-2026)
To:


GOOD MORNING VIET NAM - CANADA - USA

ĐIỂM TIN DIỄN ĐÀN 05-03-2026  (SỐ 043-2026)

Image insérée


Image insérée




MỤC LỤC

  1. Tuy Hòa và Con Lộ Máu
  2. CẦM TAY & LÀM TÌNH 
  3. CÁI NÚT ÁO
  4. Ơn Người
  5. NÍU MỘT SỢI DÂY ĐỨT
  6. Tình rớt



Tuy Hòa và Con Lộ Máu

  • Riêng tặng cho cố Trung Tá Khưu Văn Phát, nguyên Phi đoàn Trưởng phi đoàn 215, Thần Tượng, người đã đề nghị và khuyến khích tôi viết bài Tuy Hòa và Con Lộ Máu khi anh đang còn hiện hữu trong cuộc đời nầy.
    Một nén hương thắp đến cho vong hồn anh được an vui nơi vùng trời miên viễn.
    Phần mở đầu:
    Sau khi Ban Mê Thuột thất thủ, ngày 14 tháng 3 năm 1975, trong cuộc họp khẩn cấp của các tướng lãnh cao cấp và TổngThống Nguyễn Văn Thiệu tại Cam Ranh đã đưa đến quyết định triệt thoái tất cả chủ lực quân của Quân Đoàn 2 và tất cả chiến xa, pháo binh cũng như máy bay ra khỏi Pleiku và Kontum.Lệnh triệt thoái được giữ kín trong vòng bí mật giữa những cấp chỉ huy Quân đoàn để tránh sự hoang mang cho tầng lớp hành chánh cũng như dân chúng địa phương. Phần còn lại của các lực lượng Địa Phương Quân và các cơ sở hành chánh vẫn tiếp tục làm việc với cấp tỉnh trưởng cũng như các cấp quận trưởng, như không có gì thay đổi (!).
    Con đường cho cuộc triệt thoái lịch sử này đã được chọn là con đường hoang phế Liên Tỉnh Lộ 7B.
    Từ Pleiku theo con Quốc lộ 14 về hướng Ban Mê Thuột khoảng 40 cây số sẽ gặp đầu mối đường Liên Tỉnh Lộ 7B. Ngã ba đường này thường được gọi là "chĩa ba" Mỹ Thạnh. Từ đây, con lộ 7B dài hơn 200 cây số xuyên qua vùng rừng núi hiểm trở, đi ngang qua thị xã Phú Bổn (Cheo Reo) và huyện Phú Túc trước khi đến Tuy Hòa. Con đường đất này uốn lượn theo những ngọn đồi cao, đôi khi ôm dài theo mé bờ sông hay băng ngang những con suối cạn; có những đoạn, đường đã bị sụp lở vì bị mưa xoi mòn hay cây cối chắn ngang lối đi. 3 chiếc cầu chính trên con lộ này là Phú Thiện (50m) , Lê Bạc (600m) và Cà Lúi (40m), lâu ngày không sửa chữa tu bổ, hư hao, gãy đổ... và đây là con đường cho hàng trăm ngàn người và gần 4 ngàn chiếc xe đủ loại, đủ cỡ, ngay cả cho những chiếc chiến xa M48 nặng gần 50 tấn đi ngang qua.
    Đêm 16 tháng 3/75 tất cả lực lượng của Quân Đoàn 2 hơn cả trăm ngàn quân nhân đủ mọi thành phần cùng hàng ngàn quân xa và chiến xa hạng nặng được lệnh di chuyển. Cuộc triệt thoái âm thầm bất ngờ được êm xuôi trong đêm đầu tiên cho đến sáng hôm sau. Khi tin đồn về cuộc lui quân tới tai quần chúng địa phương, dân chúng hoang mang, hốt hoảng tột cùng, cả thành phố vội vã ùa chạy theo đuôi đoàn quân với bất cứ phương tiện di chuyển nào sẵn có trong tay. Một cuộc triệt thoái hỗn loạn bắt đầu...
    Nguyên tắc căn bản của một cuộc lui quân, phần đoạn hậu tối thiểu phải có một lực lượng đủ khả năng chặn đường truy kích hoặc làm chậm bước tiến của địch quân nếu bị truy đuổi, để bảo vệ cho sự an toàn của đoàn quân. Mỉa mai thay, phần đuôi của đoàn quân này là hàng trăm ngàn người dân vô tội, tất tả bám theo mang trên tay chỉ là những gói áo quần hay những đồ cần thiết tối thiểu. Con đường lộ hiểm trở, đổ nát này đã thành một con lộ kinh hoàng, một dòng sông của xác người và máu. Những cái chết kiệt lực vì đói, khát, thời tiết ngày nóng đêm lạnh, của những trận mưa pháo, địch quân ngày đêm rót vào đoàn người không ngưng nghỉ. Một ký giả lão thành Nguyễn Tú đã viết lại:
    Thật thương tâm khi phải mục kích cảnh người dân không có khả năng di tản bằng xe hơi, xe vận tải, hay bất kỳ phương tiện chuyên chở nào có được. Họ thật cơ cực, phải di tản bằng đôi chân, và họ chiếm đa số, bao gồm phụ nữ, trẻ em, người lớn tuổi, đi tất tả như chạy, không được dù chỉ một giọt nước để làm dịu cơn khát như cháy cổ....
    Không thể nào đếm được bao nhiêu trẻ em đã ngã xuống trên đường đi, bao nhiêu cụ già bơ vơ phải đứng lại dọc đường, không còn cất bước đi được nữa, và còn bao nhiêu người khác phải chịu đựng đói khát trên suốt chặng đường tìm đến Tự do và Dân chủ.
    Một sĩ quan biệt động bảo tôi: "Lần này, tôi không thể nào còn nhìn thẳng vào mặt đồng bào mình lần nữa."
    Một anh binh nhì nói: "Thật khốn kiếp, chúng ta rút lui không hề kháng cự. Tôi thà chiến đấu, rồi chạy trốn nếu thua và tôi chấp nhận như vậy."
    Một Đại Úy Không Quân than: "Thật thảm thương, nhất là khi nhìn lại Pleiku, giờ chỉ còn là một thành phố bỏ hoang. Chỉ còn thấy lửa cháy khắp nơi. Tôi buồn quá!
    Một người lính khác nói thêm: "Tôi ngạc nhiên quá. Hãy nhìn những con người này, những trẻ em này. Thật khốn khổ, đáng thương quá!"
    Dưới ngòi bút của nhà văn Phan Nhật Nam đã mô tả:
    Cuộc di tản lớn quá, mối đau thương dài đặt trên 200 cây số đường núi với 200 ngàn người dân thường đi từ Kontum, Pleiku... Trời cao nguyên buổi tàn Xuân gây gây rét vào sáng, càng về trưa nắng cao và nóng khô khan, đường bụi mù tung đỏ bám vào thành xe, nòng pháo, khí cụ, tóc và da mặt người,vạn tròng mắt đỏ rực. Những tròng mắt mệt mỏi, lo âu, tuyệt vọng, lính gục ngã trên mũi súng, đàn bà, con trẻ nằm rũ trên hành lý, thành xe, đất cát. Được sống, được ngủ là hạnh phúc quá lớn hở trời? Còn biết kêu vào đâu? Với ai?
    Nhà văn Phạm Huấn đã viết:
    Liên Tỉnh Lộ 7 Pleiku-Phú Bổn-Phú Yên con đường máu dài 300 cây số đã là nơi chôn vùi hàng ngàn xác đồng bào và trẻ thơ vô tội.
    Thật kinh hoàng, khủng khiếp. Biển người và biển máu.
    Và sau cùng một nhân chứng trong đoàn người khốn cùng đó đã viết về những chiến sĩ Không Quân Việt Nam Cộng Hòa:
    10 phi tuần phản lực A 37 đánh bom CBU và Napalm yểm trợ cho đoàn quân triệt thoái ngày 24-3-1975 sau đó đã được thực hiện đúng như Đại Tá Thảo, Chỉ Huy Trưởng Căn Cứ Không Quân Phan Rang "hứa" với Tướng Phú. Những phi công anh hùng đã khắc phục, chế ngự mọi hiểm nguy, mọi trở ngại kỹ thuật, thời tiết và sự an toàn cho chính bản thân mình; để cứu đồng bào và các chiến hữu anh em. Những phi công cảm tử anh hùng của QLVNCH đã bay xuất trận hôm ấy trong tinh thần của những hiệp sĩ. Trên vùng trời Phú Yên lúc 17 giờ ngày 24-3-1975, khi những cánh đại bàng xuất hiện "họ" thật sự là những cứu tinh, là những người đã mang theo sự sống cho Đoàn người, Đoàn quân phía dưới. Như hàng trăm ngàn đồng bào và các chiến hữu khác có mặt hôm đó tại Liên Tỉnh Lộ 7, tôi muốn được bày tỏ sự kính phục đặc biệt và ca ngợi những phi công anh hùng này.

    Những điều đã được mô tả chỉ là một giọt nước mắt trong đại dương thống khổ của tất cả những ai đã đi trên con lộ này. Hàng vạn người dân vô tội đã bỏ mạng cũng như hằng vạn những chiến sĩ đã gục ngã dưới lằn đạn địch quân mà chưa hề có cơ hội để chống trả. Tất cả đó là hậu quả của một quyết định vội vã, sai lầm của cấp lãnh đạo.
    Súng đạn và bánh mì 
    8 giờ sáng, tại Không Đoàn 62 Chiến Thuật, những chiếc máy bay đủ loại bận rộn chuẩn bị rời phi trường. Vừa cất cánh chiếc trực thăng võ trang ra khỏi phi đạo, tôi cho con tàu giữ ở cao độ thấp bay dọc theo ven biển Nha Trang hướng về phía bắc, trực chỉ thành phố Tuy Hòa. Sáng hôm nay nắng đẹp, những giải mây như lụa trắng nhẹ nhàng treo lơ lững trên bầu trời trong xanh. Trên mặt biển mênh mông lấp lánh như một tấm gương bạc khổng lồ, những chiếc thuyền đánh cá cỏn con nuối đuôi nhấp nhô hướng về phía chân trời. Ngoài khơi lác đác vài hòn đảo một màu xanh thẩm đang im lìm tắm nắng mai. Ngồi trên chiếc ghế bay từ căn phòng lái tôi lặng yên thưởng thức vẻ đẹp thiên nhiên tuyệt vời của miền duyên hải, chiêm ngưỡng một không gian diễm lệ trữ tình của quê hương. Trong tiếng nổ đều đặn của động cơ cùng tiếng chém gió của cánh quạt quen thuộc từ khoảng không gian nhỏ bé này, tôi cảm thấy mình như là một cánh chim tự do đang xoải cánh bay lượn trên vòm trời thân yêu. Cho dù mỗi ngày phải đương đầu với hiểm nghèo, với cái sống chết, với phong sương gian khổ tôi thấy mình vẫn còn được may mắn và hạnh phúc hơn nhiều người trai cùng thế hệ. Nhưng từ khi Ban Mê Thuột đột nhiên rơi vào tay địch quân, tâm tư tôi bắt đầu lo ngại và hoài nghi về cuộc chiến, viễn ảnh chiến thắng quân thù mỗi lúc một xa vời. Thời thế đã đổi thay quá nhanh, tôi vẫn chưa chấp nhận được tình huống của thực tại, những tư tưởng bi quan, yếm thế thường lẩn quẩn trong đầu óc tôi. Rít dài hơi thuốc phà vào khoảng không gian trước mặt, tôi trầm ngâm, suy tư...

    - Chút nữa mình đáp Tuy Hòa hay bay thẳng ra vùng luôn vậy?
    Trong intercom đột nhiên câu hỏi của Thiếu úy Nguyễn Đức Liên đưa tôi trở lại với hiện tại. Tôi quay qua nhìn người bạn đồng nghiệp, rồi trả lời:
    - Chắc mình ghé phi trường Đồng Tác đổ thêm xăng và liên lạc với Bộ binh xem thử có phi vụ nào không, sau đó mình sẽ bay tới vùng thả bánh mì cho đồng bào sau cũng được.
    Từ khi tuyến phòng thủ của Liên Đoàn 3 Dù tại Khánh Dương trên Quốc Lộ 21 nối liền Ban Mê Thuột và Nha Trang bị Bắc Quân áp đảo lung lay, phi đoàn Thần Tượng đã được lệnh thay đổi vùng hành quân, chuyển hướng qua yểm trợ cho cuộc rút quân của Quân Đoàn 2 tại Pleiku về Tuy Hòa. Hằng ngày nhiều phi vụ đơn độc của Phi đoàn 215 được biệt phái ra vùng đồng bằng Phú Yên hổ trợ cho đoàn người di tản trên con lộ 7B. Ngoài mục đích tiếp tế, rải thức ăn của tiểu khu Tuy Hòa cho đồng bào, mục đích chính yếu của những chiếc trực thăng là bốc tất cả những ai có thể chở được từ con lộ 7B đem về tập trung tại vài trung tâm tiếp cư như phi trường Đồng Tác, một phi trường khổng lồ của Mỹ đã bỏ lại, nằm phía nam Tuy Hòa chừng 5-7 cây số.
    Trong thời gian rối loạn này với những biến cố dồn dập, những phi vụ ít được kiểm soát, công việc của những hoa tiêu được đặt nặng trên tinh thần tự giác và trách nhiệm của mỗi người. Như ngày hôm nay, tôi được chỉ thị ra vùng hành quân trên chiếc trực thăng võ trang, không có chiếc C@C (Command and Control) đi dẩn đầu để tiếp xúc với Bộ binh, không có chiếc Hổ 2 (chiếc võ trang số 2) theo sát cánh như bao ngày qua. Một mình một ngựa lên vùng, tùy cơ ứng biến. Gunship bay vào vùng hành quân đơn độc là trái với chiến thuật và nguyên tắc căn bản của trực thăng võ trang. Nhưng đây là lệnh của cấp trên, tôi không có sự chọn lựa nào hơn là cố chu toàn nhiệm vụ được giao phó.
    Tôi tiếp tục cho con tàu bay thật thấp trên đầu con Quốc lộ 1. Gió biển mát lạnh lộng vào khung cửa mở toang, phía sau khoang tàu 2 người mê vô xạ thủ đang ngồi bên nhau trên chiếc ghế sát cửa, nhìn xuống con đường trải nhựa đen chạy viền theo bờ biển cát trắng. Những ghềnh đá nằm sát bên đường, sóng vỗ tung lên trắng xóa. Vài chiếc xe hàng, trên nóc chất đầy hành lý, chạy ngược chiều, những cánh tay vẫy chào khi chiếc trực thăng bay ngang. Một vài chiếc xe hai bánh đang phóng nhanh trên đường, trên xe mang nặng những bao bị,vội vã rời xa vùng lửa đạn hướng về nơi an toàn. Sau sàn tàu, những bao vải lớn nằm chất đống chứa đầy bánh mì tôi đã mua đem theo, kế bên, ông anh rể tôi tháp tùng theo từ sáng sớm đang thích thú quan sát cảnh vật chạy lùi phía dưới bụng chiếc trực thăng.
    Hôm qua khi cả nhà đang quây quần trong bữa cơm chiều, sau một vài câu chuyện qua lại trong ngày, bỗng Me tôi chợt nhìn tôi rồi hỏi:
    - Này con..., Me thấy hình như con có điều gì không vui phải không? Con đang có vấn đề gì không?
    Tôi ngập ngừng chưa trả lời, nhưng vì không muốn để cho bà lo lắng tôi nói:
    - Dạ..., đâu có vấn đề gì, con chỉ hơi mệt vì bay hơi nhiều... thêm vào đó... ngày hôm nay con đã gặp nhiều đồng bào mình chạy loạn, đói khát khổ sở, thấy tội nghiệp cho họ quá.
    Ông anh rể tôi đang ngồi ăn kế bên với bà chị ruột của tôi, nghe câu chuyện xen vào hỏi:
    - Nè, mấy hôm nay tôi đọc báo thấy tin về vụ rút quân trên Pleiku về Tuy Hòa, có phải em bay trên vùng đó không? 
    Tôi gật đầu:
    - Đúng rồi... hằng trăm ngàn người bỏ chạy, thiếu thốn cực khổ... không có ai giúp đỡ gì cả. Tụi Việt Cộng pháo kích và bắn loạn xạ vào dân lành không phân biệt già trẻ, đàn bà con nít. Chết nhiều lắm. 
    Tôi nói tiếp:
    - Hồi trưa nay tôi có gặp một nhóm người nhỏ chạy vào trong rừng trốn đạn rồi bị lạc luôn,tôi đáp tàu xuống bốc tất cả về Tuy Hòa.Nguyên phi hànhđoàn lấy bánh mì ăn trưa của mình cho họ ăn làm cả ngày tụi này đói meo.
    Nghe nói tới đây, Me tôi chắc lưỡi, lắc đầu:
    - Tội nghiệp quá... vậy mình có thể làm gì được để giúp họ không con?
    - Dạ, con đã có ý định mai mua bánh mì đem theo thả cho họ đó. Con biết đó chỉ như là muối bỏ biển thôi, nhưng có lẽ mình giúp được người nào hay người nấy. Vả lại con nghĩ một ổ bánh mì cũng có thể làm cho một người bớt đói một ngày để họ có sức tiếp tục đi tới nơi. Tôi nói tiếp:
    - Nhưng chỉ có một mình con nên hơi khó khăn vì không biết làm sao chở được nhiều bánh mì vào phi đoàn được?
    Nghe tôi nói xong, mọi người im lặng. Tôi chợt nhìn ông anh rể rồi đột ngột nói:
    - Này anh Lộc, ngày mai đi bay với tôi không?
    Bất ngờ bị hỏi, anh rể tôi lúng túng nhìn qua bà chị tôi đang chăm chú theo dõi câu chuyện.
    - Tôi à, tôi đi theo để làm gì hả?
    - Anh đi theo tôi ngày mai để phụ tôi mua và chở bánh mì đem vô phi trường thôi, rồi anh có thể về nhà sau đó hay là đi bay với tôi luôn thì tùy anh.
    Nghe tôi nói xong, anh Lộc ngập ngừng rồi xoay qua nhìn vợ nói:
    - Sao em, em nghĩ sao? Có để cho anh đi theo giúp hay không?
    Bà chị tôi nuốt xong miếng cơm trong miệng, lúng búng trả lời:
    - Này, đi bay có nguy hiểm không vậy? Chứ giúp đồng bào mình trong lúc này thì là chuyện nên làm, anh muốn thì cứ đi, tùy ý anh thôi.
    Được sự đồng ý của bà chị tôi, anh rể tôi quyết định:
    - Được, mai anh sẽ đi giúp em.
    Me tôi nghe tới đó chen vào:
    - Còn vấn đề tiền bạc, con có nhiều tiền đâu mà mua, để Me đưa phụ cho con mua bánh mì thêm. Con cần bao nhiêu cứ nói.
    Nghe tới đây miếng cơm trong miệng tôi chưa kịp nuốt, bỗng dưng bị nghẹn lại, tôi không ngờ Me tôi dám để đứa con rể cưng độc nhất cũng như chị tôi dám để cho người chồng mới cưới, một ông thầy giáo mạo hiểm ra một mặt trận nóng bỏng như thế này. Tôi nhắc lại cho ông anh rể trước khi đứng dậy rút lui về phòng mình:
    - Anh chắc chưa? Suy nghĩ cho kỹ đó, sáng mai tôi sẽ đánh thức anh dậy, tối nay đi ngủ sớm đi nghe. 
    Sáng hôm sau thức dậy sớm hơn mọi khi, trời còn tờ mờ tối tôi gõ cửa phòng ông anh rể. Anh đã dậy từ lúc nào, áo quần sẵn sàng đang ngồi uống trà nóng chờ tôi. Tôi đưa cho anh chiếc áo bay của tôi bảo anh mặc để vào cổng phi trường khỏi bị hỏi giấy.
    Hai anh em chở nhau trên chiếc xe Honda 90 già nua của tôi chạy ra lò bánh mì ở chợ. Khả năng xe chỉ chở được 4 bao bố bột mì nhét đầy những ổ bánh mới ra lò. Tôi cột từng cặp hai bao lại với nhau, đeo hai bên xe rồi chạy thẳng vào phi đoàn. Xe phóng ngang cổng Long Vân, mấy anh Quân Cảnh quen đưa tay chào rồi chỉ vào mấy bao bánh mì, có lẽ tò mò về những cái túi vải lớn treo hai bên chiếc xe.
    Vào tới phi đoàn, tôi dựng xe trước cửa bảo ông anh rể đứng chờ, xong hấp tấp chạy ngay vào phòng phi đoàn trưởng. Trước cửa phi đoàn một đám hoa tiêu nai nịt gọn gàng tay xách túi nón bay, đang đứng nói chuyện hút thuốc lá chờ xe chở ra bãi đi bay, tò mò nhìn tôi đưa tay chào. Bước vào phòng phi đoàn trưởng, tôi gặp ngay Trung Tá Khưu Văn Phát đang ngồi sau bàn giấy:
    - Chào Trung Tá, hôm nay tôi đi bay phi vụ ở Tuy Hòa, nhân tiện chở theo một số bánh mì thả giúp đồng bào, xin hỏi ý kiến Trung Tá trước. 
    Trung Tá Phát mở mắt lớn nhìn tôi có vẻ ngạc nhiên, ngần ngừ một lúc rồi nói:
    - À, chuyện đó cũng tốt thôi, nhưng anh bay gunship nặng đi thả bánh mình thì nên cẩn thận.
    - Không sao đâu Trung Tá đừng lo. 
    - Tôi chỉ nhắc cho anh biết thôi, tốt nhất là sau khi bắn đạn dược hết rồi thì làm gì cũng an toàn hơn. Hôm qua phi đoàn mình có một chiếc đáp chở đồng bào bị "over run" nặng quá cất cánh không nổi bị "crash" anh có biết không? Thôi, tôi nói vậy anh nên cẩn thận.
    Tôi nghe xong, đưa tay chào rồi vội vã trở lui. Vừa ra khỏi phòng gặp ngay Thiếu tá phi đoàn phó Sơn Thái Huyền đang bước vào. Vị Thiếu tá này là một huyền thoại trong phi đoàn 215, gốc người Miên, da ngăm đen và nhỏ con. Nghe anh em nói rằng Thiếu tá Huyền rất tin tưởng vào bùa ngải, thần chú. Có một lần đi bay với Trung úy Tôn Thất Kim trên một mặt trận lớn đang bùng nổ, bị phòng không bắn như pháo bông xung quanh tàu. Trung úy Kim ngồi trên ghế bay mặt xanh như tàu lá chuối, rút người trong chiếc áo giáp mang trước ngực liếc mắt nhìn qua ghế bên cạnh, Thiếu tá Huyền đang cầm cần lái, tỉnh bơ không hề có một phản ứng, nhưng miệng thì đọc to những câu thần chú khó hiểu. Lạ lùng thay, không biết vì sự mầu nhiệm huyền bí của những lời thần chú đó hay là vì số mạng lớn của phi hành đoàn,hôm đó tàu không hề bị 1 miểng đạn nào cả.
    Chạy ra tới chiếc xe Honda, ông anh rể đang đứng chờ bên 4 bao bánh mì, tôi vội nói:
    - Tôi nghĩ mình nên gửi bánh mì tại đây, rồi chạy ra lò bánh làm 1 chuyến nữa còn kịp giờ, tàu còn trống lắm.
    Một khoảng thời gian sau, chiếc trực thăng võ trang đơn thương độc mã cất cánh rời thành phố Nha Trang hướng về Tuy Hòa chở đầy súng đạn hỏa tiễn và những bao bánh mì nóng hổi.
    Sau hơn 20 phút bay dọc trên Quốc Lộ 1, con tàu vừa tới trên đầu một vườn dừa xanh tươi bao la nằm kế bên bãi biển Đại Lãnh hình vòng cung cát trắng phau. Trước mặt không xa là đèo Cả cao ngất, tôi kéo con tàu vươn lên cao, mặt đất rời xa, con đường lộ và vườn dừa xanh nhỏ dần. Trước mặt tôi, dãy núi Đại Lãnh chạy dài ra ngoài biển theo hình dáng một cái móc câu bao bọc một vùng nước xanh, tạo thành một vùng vịnh lý tưởng, đó là vịnh Vũng Rô.Tại đây, Cộng Sản Bắc Việt lợi dụng địa thế kín đáo này đã dùng làm địa điểm tiếp nhận vũ khí của những tàu từ ngoài bắc vào. Ngày 16 tháng 2 năm 1965, Không Quân Việt Nam do hai phi công "Phượng Hoàng Kim Cương" và Trung úy Chánh bay hai chiếc A1 đã đánh đắm một chiếc tàu của địch đang bỏ neo tại đây chứa đầy vũ khí đạn dược.

    Chiếc trực thăng bắt đầu vào vùng vịnh Vũng Rô. Con tàu đột nhiên chao đảo, rung chuyển, nhồi lên rớt xuống như chiếc ghe con bồng bềnh trên giòng nước lũ. Đằng sau khoang tàu ông anh rể tôi ngồi trên thùng đạn, mặt mày hốt hoảng nhợt nhạt, tôi ghì cần lái cố giữ cho con tàu bớt rung. Chiếc trực thăng đang đi vào một vùng "nổi tiếng" về không khí nhiểu loạn (turbulence), nhiều phi hành đoàn thường tránh bay qua vùng này, nhất là trực thăng bay ở cao độ thấp.
    Cách đây mấy năm, Thiếu úy Sơn, với cái tên Sơn "phu gạo" vì một thân thể "vai u thịt bắp" của anh, là một hoa tiêu trong phi đội trực thăng võ trang của tôi,trên đường từ Phù Cát về Nha Trang, phòng Hành Quân Chiến Cuộc đã được báo cáo vị trí của Sơn đang ở trên Vũng Rô và từ đó phi hành đoàn cùng chiếc trực thăng biệt vô âm tín. Suốt 1 tuần lễ sau, mỗi ngày phi đoàn đều cử một phi vụ đặc biệt đến vùng này tìm chiếc tàu mất tích, nhưng không ai hề thấy một dấu vết nào của chiếc trực thăng này. Riêng tôi còn nhớ, trong phi vụ đi tìm chiếc tàu của Sơn "phu gạo", tôi suy luận rằng nếu chiếc trực thăng bị rơi xuống biển thì một vài ngày sau xác của phi hành đoàn sẽ nổi lên và trôi dạt vào bãi cát hay 1 ghềnh đá nào đó. Sau hơn 1 tiếng đồng hồ bay ở cao độ để mắt tìm kiếm xục xạo dọc theo bờ biển hay mõm đá, bỗng trước mũi tàu dưới thấp, xuất hiện 2 vật màu đen nho nhỏ nằm kế bên nhau nổi bật trên bãi cát vàng sát mé nước, hình thù như 2 xác người bị cháy đen trôi dạt lên bờ. Vừa mừng vừa hồi hộp, tôi chỉ cho người hoa tiêu phụ và 2 anh mê vô xạ thủ xem. Tất cả chồm lên phía trước chăm chú nhìn, trong lòng phấn khởi hy vọng đã tìm được xác phi hành đoàn. Tôi hạ cao độ, khi con tàu chỉ còn chừng một vài trăm bộ trên mặt biển, trước sự ngạc nhiên của tất cả mọi người, 2 "xác chết" cháy đen bỗng dưng di động về mé biển rồi biến mất dạng dưới làn nước trong. Tò mò tôi cho chiếc trực thăng xuống thấp, bay vòng nhìn xuống mặt nước. Qua làn nước trong vắt, 2 "chú" kỳ đà khổng lồ đen đủi như 2 con cá sấu lớn đang nằm sát bên nhau dưới đáy cát, im ru bất động. Vừa ngạc nhiên lẫn thất vọng, tôi kéo con tàu lên cao, khi vừa đủ năm bảy trăm bộ, đột ngột tôi quay đầu trở lại mở nút rockets "on" rồi chúi mũi "dộng" 2 trái hỏa tiễn xuống ngay chỗ 2 con kỳ đà "vô tội" sát mé biển. Mặt nước đang phẳng lặng bỗng nổ tung, hai cột nước trắng xóa phụt lên cao xao động cả vùng biển đang êm ả. 3 người trong tàu có vẻ ngạc nhiên trước hành động bất ngờ không lý do của tôi, nhưng không ai nói một câu gì, cho đến khi tôi quay đầu chuyển hướng bay thì người xạ thủ lên tiếng:
    - "Ông Thầy", sao mình không xuống coi thử có con nào chết không? Tôi nghe nói mấy con kỳ đà biển này thịt ăn ngon lắm.
    Trong lòng đang bực dọc không vui và nhất là khi liên tưởng tới hình dạng xấu xí của con vật, tôi im lặng không trả lời tiếp tục bay thẳng, trong lòng phân vân tự hỏi về những hành động hung hăng hay háo sát vô lối của mình vừa qua,không biết có phải làdo bản chất hay là do hậu quả của những ngày tháng vào sanh ra tử? 
    Con tàu đi quá Vũng Rô, tôi cho chiếc trực thăng băng qua rặng núi cao án ngữ trước mặt chia đôi hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa, dưới thấp đèo Cả ngoằn ngoèo giữa vùng núi xanh. Đèo Cả không hùng vĩ như đèo Hải Vân, nhưng là một nơi có nhiều di tích lịch sử. Nhiều trận chiến giữa hai nhà Nguyễn, Tây Sơn và Nguyễn Ánh trong 3 thập niên nội chiến (1771-1802) đã xảy ra tại đây, và ngọn đèo này được coi như là "Đệ nhất Hùng Sơn". Bên phải tôi, ngọn Núi Đá Bia sừng sững, một trong những danh lam thắng cảnh của miền Trung. Khối đá to lớn, trơ trụi cao hơn 80 mét tọa lạc ngay trên đỉnh núi cao sát phía đông ngọn đèo Cả, ở xa hàng chục cây số vẫn nhìn thấy rõ. Khối đá này người Phú Yên thường gọi là Linga, biểu tượng của thần Siva theo tín ngưỡng Chămpa (Chàm) là sinh thực khí của nam giới. Lúc xưa khi công phá Chiêm Thành, theo truyền thuyết năm 1471, Vua Lê Thánh Tông đã cho khắc chữ vào khối đá của ngọn núi này, nên được gọi là núi Đá Bia, tuy nhiên đời sau này chưa ai có được cơ may để đọc những dòng chữ đó, có lẽ thời gian đã xóa mất dấu tích.
     
    Vượt qua đèo Cả, trước mũi tàu hiện ra một vùng đồng bằng tỉnh Phú Yên bao la bát ngát, đây là một vựa lúa lớn nhất của miền Trung phần được bồi bổ bởi nước sông Đà Rằng chảy qua trước khi ra cửa biển. Sông Đà Rằng theo tiếng Chàm có nghĩa là "con sông lau sậy", mạch máu chính của nền kinh tế thị trấn Tuy Hòa, rất rộng lớn và có độ dốc cao nên mùa khô nước cạn trơ ra những cồn cát vàng nằm giữa lòng sông, hai bên bờ mọc đầy lau sậy. Phần thượng lưu của con sông này thường được gọi là Sông Ba.
    Hướng về phi trường Đồng Tác nằm sát bờ biển, một phi trường khổng lồ của quân đội Mỹ bỏ lại, cách Tuy Hòa khoảng 7 cây số phía nam, tôi cho tàu giảm cao độ chuẩn bị đáp lấy thêm nhiên liệu.Từ trên tàu nhìn xuống phi trường một vùng đất mênh mông bỏ hoang còn lại chỉ là phi đạo chạy dài, đa số nhà cửa đã bị tháo gở hết chỉ còn chừa những nền xi măng. Cho con tàu chạy dọc theo taxiway, từ xa tôi có thể thấy 2 tòa nhà hậu trạm quân đội, bên ngoài hàng ngàn người đang tụ tập gồm những những nguòi tỵ nạn hoặc những quân nhân vừa mới được trực thăng bốc về từ con lộ 7B cùng với thân nhân đến hỏi thăm hoặc chờ đợi tin tức người nhà. Đây cũng là trung tâm hoạt động của những cơ quan cứu giúp người tỵ nạn và cũng là nơi dùng cho những ban điều hành Bộ binh phối hợp với những phi vụ trực thăng của Không quân.
    Tôi cho tàu đến trạm đổ xăng dã chiến gần đó, bên những bọc cao su đen khổng lồ căng phồng đựng JP-4 (xăng máy bay phản lực). Trong khi chờ đợi, tôi mở cửa bước xuống đất làm vài động tác cho giãn gân cốt thì một chiếc xe Jeep vừa đến đậu sát bên tôi, trên xe viên Đại úy tay áo mang phù hiệu đầu con cọp đen của Biệt Động Quân bước xuống, tay xách một cái máy radio FM. Sau khi đưa tay chào, viên Đại úy hỏi tôi:
    - Đây có phải là trực thăng võ trang của phi đoàn Thần Tượng biệt phái cho Tiểu khu Tuy Hòa không? Hiện tại một đơn vị của chúng tôi trên đường lộ 7 tại Phú Túc bị một nhóm chốt của tiền sát của tụi VC pháo kích súng cối và đang cần sự yểm trợ của trực thăng võ trang. Mình có thể đi ngay bây giờ hay không?
    - Đại úy chờ đổ xăng xong rồi mình sẽ đi. Nhân tiện tôi có đem theo một số bánh mì trên tàu để giúp đồng bào trên đường chạy loạn về đây, sau khi yểm trợ xong tôi sẽ bay đi thả bánh mì xuống cho họ, nói cho Đại úy biết trước.
    Người sĩ quan này quay đầu nhìn vào khoang tàu tỏ vẻ ngạc nhiên rồi trả lời:
    - Vâng, tôi sẽ phụ với phi hành đoàn làm chuyện này. Viên Đai úy vừa nói xong thì từ xa một người đàn ông ngoại quốc cỡ trung niên trong bộ đồ kaki bốn túi vội vã chạy đến, trên người đeo mấy cái mấy ảnh. Gặp tôi đứng dưới đất kế bên cửa cockpit, anh ta bắt tay tôi và tự giới thiệu bằng tiếng Anh:
    - Tôi là Richard Blystone*, đặc phái viên của thông tấn xã AP (Associated Press). Tôi đang làm việc tại vùng này, nếu có thể được xin anh vui lòng cho tôi đi theo tàu, cám ơn anh rất nhiều.
    Chuyện xảy ra hơi bất ngờ, tôi chưa trả lời, im lặng nhìn người đàn ông ngoại quốc này một lúc, thấy ông ta có đeo tấm thẻ ký giả trên túi áo, tôi gật đầu đồng ý xong mở cửa leo lên ghế bay. Con tàu đã đầy xăng, tôi chuẩn bị cất cánh. Trên sàn tàu chiếc trực thăng võ trang là một hỗn hợp lạ lùng: một viên Đại úy Biệt Động Quân, một anh ký giả ngoại quốc, một ông thầy giáo, hai anh phụ tá và một đống bánh mì chất cao ngay giữa sàn. Chiếc trực thăng chúi mũi rời mặt đất bay về hướng Tây, trước mắt con sông Đà Rằng lững lờ uốn quanh những cồn cát vàng và những bãi lau sậy.
    Sau hơn 20 phút bay, tàu đã đến khu vực huyện Phú Túc nằm kế con lộ 7B nơi đơn vị Biệt Động Quân đang đụng độ với đám tiền quân Cộng sản. Viên Đại úy chồm lên trên cockpit chỉ cho tôi ngọn đồi kế con sông nơi Cộng quân đặt súng pháo xuống con lộ phía dưới. Dưới chân đồi chạy dài ra là bãi cỏ lau mọc song song với bờ sông rồi đến bãi cát kế dòng nước.
    Đang quan sát địa thế trước khi ước định vị trí tác xạ, bỗng tôi giật mình nghe tiếng người xạ thủ bên cánh phải la hốt hoảng trong intercom:
    - Việt Cộng...Việt Cộng...a...ngay bờ lau...hướng 3 giờ ... tụi nó đang chạy trong bụi lau... đó.. đó...
    Tôi nghiêng đầu nhìn xuống dưới, qua tấm thép sắt chắn đạn, sát bãi cát 3-4 bóng đen nhỏ nổi bật trong đám lau đang vạch cỏ chạy nhanh hướng về cái miểu nhỏ. Ở trên cao cái miểu trông nhỏ xíu như con tem, mái nâu đậm tường gạch vàng nhạt chỉ cách những bóng người đang chạy chừng vài chục mét. Tôi tức thời chỉ cho viên Đại úy đang chồm sau lưng tôi. Viên Đại úy nhìn theo qua khung cửa và trong một cử chỉ vội vã ghé tai tôi hét:
    - Bắn đi... bắn đi... tụi nó đó... mau lên... coi chừng tụi nó chạy mất...
    Vừa nghe xong câu nói, mạch đập tim tôi đột nhiên tăng vọt, tôi tức khắc vòng con tàu ra xa để lấy trục tác xạ đồng thời hạ chiếc máy nhắm hỏa tiễn đem xuống trước mặt, nheo mắt nhìn vào hồng tâm. Cái máy nhắm bị cháy bóng đèn, tắt ngúm không xử dụng được. Tôi nghiến răng bực mình chửi thầm trong bụng, đẩy nhanh cái máy vô dụng về vị trí cũ. Chợt nghĩ đến ổ bánh mì nhét dưới túi quần bay, tôi thò tay xuống mò mẫm móc ra một mẩu ruột nhỏ vo tròn lại xong ịn vào mặt kiếng chắn gió trước mặt làm điểm chuẩn để tác xạ. Không còn thì giờ để chậm trễ tôi đẩy con tàu chúi mũi xuống mục tiêu. Mấy tên Việt Cộng chạy vào ẩn náu bên trong chiếc miểu con vẫn còn đó, tin chắc chúng chưa bị phát giác. Tôi đưa viên bánh mì nhỏ dán trên tấm kiếng vào cái miểu con đang hiện rõ dần trước mặt, khi mẩu ruột bánh mì vừa vào đúng ngay trên mục tiêu tôi bấm nút... Xoẹt...trái hỏa tiễn đầu tiên rời dàn phóng lao xuống nổ tung ngoài bãi cát, cách xa cái miểu cả trăm thước. Mẩu bánh mì gắn quá thấp! Tôi tiếp tục đẩy cần lái về phía trước, chiếc trực thăng chúi mũi xuống mục tiêu gia tăng tốc độ, bắt đầu rung lên bần bật, lắc lư như chiếc võng, tôi cảm tưởng trục cánh quạt có thể gãy lìa bất cứ lúc nào...Xoẹt...xoẹt...xoẹt... 3 trái hỏa tiễn nối đuôi nhau lao xuống mục tiêu, 1 trái chui ngay vào mái ngói đen nổ tung khói mù mịt.
    Trong khóe mắt tôi, Thiếu úy Liên ngồi im bất động, hai tay đang bấu chặt vào thành ghế bay, bỗng nhảy chồm lên reo to:
    - Hay quá!... Hay quá!...
    Trong đám khói bụi đen đang bốc lên cao, một bóng đen đang bò lết ra hướng bờ cỏ lau... Con tàu quẹo lại, rung chuyển. Tay bật qua nút minigun tôi hét lên trong intercom:
    - Minigun!... minigun!...
    Người xạ thủ bên phải nhoài người ra hẳn bên ngoài bóp cò súng, khẩu minigun quay vù, rống lên âm thanh nhức nhối, hàng ngàn viên đan tua tủa bắn xuống vào đám bụi mù, đất cát văng lên khắp nơi. Thoáng đâu đây trong những tiếng động hổn độn, tôi nghe tiếng cóc... cóc... của khẩu AK47 bắn trả. Tôi quẹo gắt con tàu lấy lại cao độ, vội vàng bay ra khỏi vùng, trong đầu tôi thần kinh vẫn còn căng thẳng. Đây là lần đầu tiên trong những ngày chinh chiến tôi đã vào vùng địch một mình, không có chiếc gun số 2 theo sau yểm trợ. Điều này đã làm cho tôi cảm thấy rất bất an trong lòng.

    Quay người lại phía sau tôi nhìn ông anh rể giáo sư của tôi ngồi trên sàn tàu kế bên những bao bánh mì, mặt mày thất thần, chưa hoàn hồn, còn anh ký giả ngoại quốc tóc tai rối bời vì gió lộng, đang hí hoáy viết, nhưng tôi chắc chắn rằng anh ta chẳng hiểu chuyện gì đã xảy ra trong vài phút ngắn ngủi vừa qua. Vói tay ra hiệu cho vị sĩ quan Biệt Động Quân đang liên lạc với quân bạn bên dưới trên tầng số FM, tôi nói:
    - Đại úy... tôi muốn đi thanh toán mấy bao bánh mì này cho xong, sợ không đủ xăng. Sau đó trên đường về tôi sẽ tống hết đạn dược xuống ngọn đồi này, nếu Đại úy đồng ý.
    Nói xong không đợi câu trả lời tôi quay mũi về hướng bắc bay dọc theo dòng sông Ba đang ngoằn ngoèo uốn khúc giữa vùng rừng cây rời rạc. Chỉ dăm ba phút sau, từ xa vài cây số tôi đã thấy đoàn người chạy giặc chen chúc trên con lộ, phần đầu của đoàn người dừng lại tại bờ phía bắc đầu cầu sông Ba. Chiếc cầu một phần giữa bị sập, một nửa nhịp chìm dưới đáy sông cạn. Xung quanh đó, một nhóm công binh đang xúm lại nối cây cầu. Từ xa trên cao tôi thấy 1 chiếc trực thăng Chinook đang bay đến, dưới bụng treo "tòng teng" (sling) tấm sắt rất lớn trông như một nhịp cầu.
    Tại đây đoàn người đang dậm chân tại chỗ. Đàng sau cả hàng cây số những người chạy nạn cùng hàng ngàn chiếc xe vẫn tiếp tục đi tới, dồn cục càng ngày càng đông tràn ra hai bên phía bìa rừng. Đủ mọi loại xe, cam nhông nhà binh, chiến xa M113, xe hàng, xe ba bánh và cả hàng ngàn chiếc xe hai bánh của dân chúng chất chứa đèo bồng tất cả những gì có thể mang theo được. Nhìn hàng vạn người nối đuôi nhau chen chúc đói khát bên dưới, 5-7 bao bánh mì trên sàn tàu của tôi như một giọt nước nhỏ bé trên bãi sa mạc mênh mông nắng cháy, sự hăng say phấn khởi trong lòng tôi buổi sáng hôm nay tự nhiên tan biến tự lúc nào.
    - Chắc mình phải đem thả nơi nào có ít người, chứ thả đây người ta đạp nhau đủ chết. 
    Tiếng người mê vô phía sau tàu đề nghị. Thấy hợp lý, tôi cho tàu rời con đường lộ, bay dọc theo bãi cát bên bờ sông.
    - Phía sau sẵn sàng nghe, mở hết mấy bao bánh mì ra đi, khi nào tôi bảo thì mọi người bắt đầu thả xuống. 
    Tôi nói với 2 anh mê vô xạ thủ: 
    - Nhờ mấy người kia thả phụ cho nhanh.
    Tại bờ sông cạn kế trên những cồn cát, từng nhóm người đang tắm rửa, hoặc lấy nước uống. Tôi cho con tàu bay rà xuống thấp, hàng trăm cánh tay đưa lên cao, như van xin cầu khẩn hơn là chào đón. Một số khác, trên tay cầm những xấp giấy hình như là tiền đưa lên vẫy vẫy như mời mọc, "khiêu gợi" chiếc trực thăng đang bay ngang qua đầu. Hình ảnh những xấp tiền trên bàn tay của những người dân chạy giặc, có thể là cả một gia tài mồ hôi nước mắt của họ dành dụm mang theo được, và ngay giây phút này sẵn sàng đánh đổi một chỗ ngồi trên chiếc trực thăng để bay ra khỏi con lộ máu. Tôi bỗng dưng thấy mủi lòng thương xót cho đồng bào đang đau khổ cùng cực, nhưng đồng thời hành động vô tình của họ đã làm va chạm và tổn thương tự ái của tôi không ít. Tôi quay qua Thiếu úy Liên ngồi bên ghế trái đang nhìn xuống phía dưới, bất giác cả 2 cùng quay lại, không ai nói gì nhưng trong đầu hình như cùng có một ý nghĩ cay đắng và xót xa. Con tàu lướt qua một đám người nhỏ, tôi bay chậm lại rồi nói vội trong intercom:
    - Thả đi...
    Hàng chục ổ bánh mì rơi rải rác trên bãi các vàng, từng nhóm người ùa chạy theo, nhào trên đất vồ vập, chen lấn giành giựt, một vài người già, con nít ngã lăn trên cát. Chỉ trong chốc lát, những bao bánh mì đã sạch nhẵn. Tôi lấy cao độ bay trở về, chợt nghĩ rằng mặc dù tàu còn một số đạn dược và rockets nhưng còn có thể chở được 5-7 người. Tôi bay vòng lại nhìn dọc theo dòng sông, tìm một nhóm người nhỏ, riêng rẽ để có thể bốc họ mà không bị tràn ngập như chiếc trực thăng của Thần Tượng đã bị rơi ngày hôm qua.

    Bay qua một vùng rừng cây thấp, tôi thấy chừng 5-7 người đang núp nắng dưới bóng cây, hình như là một gia đình. Tôi lạng chiếc trực thăng xuống thấp và đáp kế bên tàn cây chừng vài chục mét, cát bụi bay mù mịt, nhóm người trong bụi cây ùa ra. Người đàn bà khuôn mặt mếu máo vì khủng hoảng, lấy chiếc nón lá che đứa bé đang ôm trong lòng cúi đầu chạy đến cùng với vài người đàn ông nhảy lên tàu. Phía sau không xa chừng vài chục người đang tràn tới chiếc trực thăng. Không một giây chậm trể, tôi nhấc tàu quay mũi ra hướng bờ sông cất cánh, để lại sau lưng một đám bụi mù và đám người đứng khựng lại vì thất vọng. Tàu lên cao, gió mát lồng lộng vào khung cửa, khác hẳn với cái nóng hừng hực trên cồn cát nắng cháy.Phía dưới đất, những người tỵ nạn đứng bên những bờ lau sậy đưa tay vẫy vẫy trong tuyệt vọng. Tôi quay đầu nhìn xuống một lần cuối cùng trước khi quyết định rời vùng. Chợt bên mé bờ sông tôi nhìn thấy 2 người, đúng hơn là 2 cô bé hình như đang giặt áo quần. Nghĩ rằng tàu có thể đủ chỗ cho 2 người nhỏ nữa tôi lạng một vòng và hạ con tàu xuống cách 2 cô bé chừng vài chục mét. Mọi người trong khoang tàu nhìn ra chờ,anh xạ thủ đưa tay ngoắc, 2 cô bé thản nhiên bỏ đi về phía đám người đang đứng dưới những tàn cây đằng xa. Gần đó 2 đứa trẻ con đứng tắm sợ hãi bỏ chạy, vấp té ngã lăn trên đám cỏ dại. Tôi kéo con tàu cất cánh và nói với phi hành đoàn:
    - Chắc 2 cô bé này đang đi với gia đình, không muốn đi một mình.
    Thiếu úy Liên gật đầu đồng ý. Nhìn đồng hồ xăng đã xuống khá thấp, tôi vội vã hướng về Tuy Hòa. Trong tiếng động ầm ỉ của tiếng động cơ, tôi bỗng nghe tiếng người xa thủ nói rất to sau khoang tàu, hình như đang có gì lộn xộn. Tôi quay qua hỏi người hoa tiêu phụ:
    - Liên, coi thử chuyện gì vậy?
    - Mấy người mới lên tàu dành nhau vô ngồi giữa, thấy tàu mở cửa họ sợ bị rớt ra ngoài.

    Đang suy nghĩ vì con tàu bay qua ngọn đồi lúc nãy, phân vân không biết nên bắn xuống ngọn đồi như đã hứa với viên Đại úy trong khi tình trạng xăng trên tàu chỉ còn đủ để bay trở về. Tôi hơi bực mình quay qua nhìn Thiếu úy Liên và nói:
    - Liên, bạn giải quyết giùm đi, biểu họ ngồi yên và coi chừng, tôi sắp sửa bắn rockets xuống ngọn đồi này đó.
    Nói xong tôi quay lại ra hiệu cho viên Đại úy Biệt Động Quân biết, rồi quay đầu tàu vòng lại, chúi mũi phóng những trái rockets còn lại xuống ngay lưng đồi. Người xạ thủ nhoài người ra ngoài trút hết những viên đạn cuối cùng xuống đầu địch trước khi con tàu rời vùng. Âm thanh của những trái hỏa tiễn rít lên cùng với tiếng súng 6 nòng minigun rú lên như bò rống đinh tai nhức óc, đứa bé trong lòng người mẹ sau khoang tàu khóc thét lên, còn đứa con trai lớn hơn kế bên, mở trừng mắt, trên khuôn mặt lộ vẻ kinh hoàng, ngồi chết cứng, mếu máo vì sợ hãi, khóc không ra tiếng.
    Tàu đã cạn xăng và đạn dược, tôi phóng nhanh về Tuy Hòa. Bên cạnh, tôi thấy Liên móc gói thuốc mời người đàn ông hút và 2 người nói chuyện rất hăng say. Người đàn ông trong bộ áo quần nhàu nát, xốc xếch có lẽ là chồng của người đàn bà đang ôm đứa bé, trên khuôn mặt gầy ốm, mệt mỏi và xạm đen vì nắng nhưng đôi mắt lộ vẻ sung sướng với nụ cười nở rạng rỡ trên môi. Tôi hỏi Liên:
    - Quen à ?
    - Anh có tin không, đây là thằng bạn học cùng lớp với tôi hồi xưa, em ruột của Thượng Sĩ Kim y tá phi đoàn mình đó. Thật là một chuyện hi hữu, đúng là ý trời. Trong giọng nói của Liên tôi nghe như đang ẩn chứa một niềm vui bất chợt. Tôi trao cần lái cho Liên rồi móc thuốc ra hút, nghĩ xả hơi sau 1 thời gian dài căng thẳng.
    Tôi hỏi Liên:
    - Hôm qua bạn làm gì? 
    - À, tôi bay cho tiểu khu Tuy Hòa thả cơm vắt, mía khúc xuống cho dân chạy loạn và bốc người. Có chuyện này tôi quên kể cho anh nghe. Lúc bay ra vùng có một Ma Soeur đi theo tàu để thả đồ tiếp tế của tiểu khu TuyHòa. Khi tôi đáp xuống bãi cát, một toán người tràn tới leo lên tàu, Ma Soeur lẵng lặng nhảy xuống đất nhường chỗ không lên lại tàu, tôi cứ chần chờ, bà ngoắc tay bảo tôi bay đi. Thấy một đám người đang chạy đến, tôi không thể chờ lâu hơn nữa được phải cất cánh. Trước đó tôi có nghe Ma Soeur nói là muốn được xuống con lộ gia nhập với đoàn người chạy nạn để giúp đỡ họ, nhưng tôi không ngờ.
    Liên nói tiếp:
    - Anh có biết không, khi chiếc tàu cất cánh, nhìn xuống thấy người nữ tu trong bộ áo dòng đứng chơ vơ, hai tay giữ chiếc khăn bịt đầu trên bãi cát nóng cháy, gió bụi mịt mù như muốn cuốn thổi bay tấm thân nhỏ bé, hình ảnh đó có lẽ sẽ không bao giờ phai nhạt trong trí óc của tôi anh à.
    Khi nói tới đây, giọng của Liên đột nhiên như nghẹn ngào vì xúc động. Tôi vội quay mặt nhìn ra ngoài khung cửa, bất giác liên tưởng đến cái gọi là "giải phóng miền Nam" của quân CộngSản khát máu và những nổi thống khổ tận cùng mà cả hàng trăm ngàn người dân lành vô tội đang phải chịu đựng trêncon lộ máu kinh hoàng này.
    Thành phố Tuy Hòa ẩn hiện trước mặt, nằm im lìm bên cửa sông Đà Rằng mênh mông mở rộng. Trên bầu trời trong xanh, những chiếc trực thăng như những con ong dập dìu bay tìm kiếm những người dân trên con lộ Liên tỉnh 7B, chở về trung tâm tỵ nạn.Tôi hạ cánh đáp xuống phi trường Đồng Tác, đám đông bu quanh những bãi đậu trực thăng, ào chạy đến gần nhìn những người trên tàu tôi vừa thả xuống đất, hy vọng sẽ gặp lại được những khuôn mặt thân quen của họ.

    Một chiếc xe Jeep chạy đến kế bên tàu, viên Đại úy tay xách chiếc radio FM nhảy xuống đất, leo lên xe rồi đưa tay chào phi hành đoàn. Người ký giả Mỹ còn nấn ná ở lại trên sàn tàu, trong tiếng ầm ĩ của động cơ, anh ta chồm lên từ phía sau ghé vào tai tôi nói lớn:
    - Cám ơn anh rất nhiều về chuyến bay vừa qua. Tôi rất muốn giúp đỡ những người chạy loạn nhưng bất ngờ không đem theo nhiều tiền.Tôi chỉ có hơn 10 ngàn đồng trong túi, xin gửi hết cho anh để ngày mai mua bánh mì giùm tôi. 
    Nói xong anh dúi vội vào tay tôi xấp giấy bạc rồi nhảy xuống đất đưa tay vẫy chào. Cầm xấp giấy bạc trong tay, tôi ngỡ ngàng nhìn theo người ký giả biến mất hút vào đám đông người...
    Đà Nẵng Di Tản và Một Sự Gặp Gở Bất Ngờ

    Tỉnh đường Tuy Hòa là một tòa nhà lớn nằm trên một vị trí đẹp nhất thành phố, kế bên bờ biển, mặt đông khu vườn cỏ nhìn xuống bãi cát vàng, phía nam nhìn ra cửa sông Đà Rằng mênh mông bát ngát. Từ trên cao nhìn xuống sân cỏ rộng của tỉnh đường đã có 7-8 chiếc trực thăng tắt máy đậu sẵn. Tôi lượn một vòng nhìn xuống, thấy có chỗ trống vừa đủ cho 1 chiếc trực thăng, tôi hạ cao độ và chen vào đáp. Trên bãi cỏ của tỉnh đường, đứng lố nhố những phi hành đoàn và nhiều người ngoại quốc đủ mọi quốc tịch, trên người đeo đầy máy ảnh chạy lui chạy tới rất là bận rộn. Có lẽ họ là những nhà báo khắp thế giới đến săn tin tức về mặt trận đang sôi động tại chiến trường vùng 2. Tắt máy tàu, mở cửa bước xuống sân cởi chiếc áo giáp nặng chịch trên người, trước mặt tôi đậu những chiếc trực thăng lẫn lộn của nhiều phi đoàn mang đủ loại phù hiệu như Hoàng Ưng, Thiên Ưng, Song Chùy v...v... từ Đà Nẵng di tản vào. Một chiếc trực thăng tản thương của phi đoàn 257 Cứu Tinh vừa đáp xuống, bụi mù tung lên, những người ký giả chạy ùa đến săn tin tức.
    Ngày 27 tháng 3 năm 75, Cộng Quân gia tăng áp lực vào thị trấn Đà Nẵng, phi trường bị pháo kích liên tục. Tất cả máy bay được lịnh cất cánh lên trời để tránh thiệt hại. Pháo kích kéo dài không ngưng, tất cả trực thăng được lệnh rời bỏ phi trường Đà Nẵng đáp xuống phi trường Non Nước đậu qua đêm.Đây là 1 phi trường nhỏ của Mỹ bỏ lại cách trung tâm thành phố Đà Nẵng khoảng 5 cây số hướng đông nam. Suốt đêm đó tất cả phi hành đoàn đều ngủ tại những "bunker" hoặc giao thông hào của những đơn vị Thủy Quân Lục Chiến trú đóng tại đó, đang chờ các tàu Hải Quân trên đường cập bến di tản tất cả lực lượng tại đây.
    Sáng hôm sau, tình thế tại Đà Nẵng rất nguy ngập, Cộng quân tiến sát vào thành phố. Trong tình thế hỗn loạn đó, tất cả trực thăng của các phi đoàn đậu tại phi trường Non Nước được lệnh cất cánh di tản về Phù Cát. Thời tiết ngày đó rất xấu, trần mây thấp không hơn 500 bộ che kín bầu trời (overcast). Tất cả hoa tiêu trực thăng cất cánh tại phi trường Non Nước về căn cứ Phù Cát, Bình Định có 2 giải pháp phải chọn lựa, một là bay trên trần mây mù mịt, hai là bay thấp dọc theo bờ biển. Đa số trực thăng tối hôm qua bay chờ khá lâu trên trời để tránh pháo của địch đã tiêu thụ một số xăng khá nhiều, bây giờ bình xăng không còn đầy để có thể bay xa. Nếu phải chọn con đường bay trên trần mây, và khi đến phi trường Phù Cát không tìm được khoảng trống để đáp xuống thì tàu có thể rớt vì hết xăng. Cũng nên biết rằng, đa số trực thăng không được trang bị những khí cụ hay máy móc để bay trong mây hay thời tiết xấu, cho nên đối với những hoa tiêu trực thăng bay trên trần mây không thấy được mặt đất là một điều tối kỵ. Giải pháp thứ hai bay thấp dưới trần mây, dọc theo bờ biển, nhưng những chiếc trực thăng phải đối phó với hỏa lực phòng không của địch qua nhiều vùng đã bị chiếm đóng. Cả 2 giải pháp đều là nan giải cho những phi hành đoàn trong hoàn cảnh nguy ngập đó. Một trong những hoa tiêu của Phi đoàn tản thương Cứu Tinh 257 đang đậu tại phi trường Non Nước là Trung úy Phạm Mẫn, cựu hoa tiêu phi đoàn Thần Tượng 215, đã chọn con đường thứ hai, bay thấp dưới trần mây về Phù Cát. Trên tàu khi đó chở đầy những quân nhân Không quân cũng như một số dân sự. Để tránh những súng nhỏ có thể bắn từ những làng mạc đã bị địch chiếm đóng, Trung úy Mẫn bay con tàu cách xa bờ biển chừng nửa cây số. Trên đường đi, trong tần số radio, những hoa tiêu liên lạc với nhau, kêu nhau ơi ới. Những chiếc trực thăng bay thấp bị đủ mọi loại súng của địch từ những ngôi làng dọc theo Quốc Lộ 1 bắn tới tấp, những chiếc máy bay bay trên cao thì trần mây mù mịt không tìm được đường xuống. Tình trạng rất bi đát.
    Riêng Trung úy Mẫn, sau chừng nửa tiếng đồng hồ bay, khi vừa đi ngang quận Dục Đức, từ trong bờ một tràng đạn phòng không cỡ lớn nổ liên tục nhắm vào chiếc trực thăng đang bay thấp trên mặt biển. Một viên đạn trúng tàu nổ tung, một số người chết ngay trên sàn tàu, Trung úy Mẫn cố lết con tàu bay sát mặt biển tới được gần đèo Phù Củ thì rơi xuống bãi cát sát bờ nước. Từ phía sau đuôi của chiếc trực thăng, một nhóm Việt cộng từ một làng sát mé biển chạy đến. Những người nào còn sống sót trên tàu mạnh ai nấy chạy. Mẫn bị một vết thương ngay chân, lết ra khỏi tàu chạy về phía trước dọc theo bờ biển, những tiếng súng AK47 nổ dòn vang vọng đàng sau. Chạy được chừng 3-4 cây số thì trước mặt khoảng 5-7 trăm mét, chừng 4-5 tên đầu đội nón cối chạy ngược lại chận đường, biết là không còn đường thoát, trong một hành động tuyệt vọng Trung úy Phạm Mẫn nhảy xuống biển bơi vòng ra khơi, hy vọng sẽ lẩn tránh được quân thù. Trên bờ mấy tên Việt Cộng vừa tới nơi đứng giương súng chờ đợi. Sức người có hạn, sau một chặng đường dài chạy trên biển với vết thương ngay chân, anh đã kiệt lực và đành buông xuôi giao thân cho địch. Anh bị trói thúc ké dẩn đi vào hướng đất liền, giữa một vùng bụi cây thấp mọc dọc theo ven biển. Trên trời cao những chiếc trực thăng của phi đoàn 243 Mãnh Sư tại căn cứ Phù Cát được lệnh bay ngược về hướng Đà Nẵng, hy vọng cứu cấp những phi hành đoàn bị rơi rớt dọc đường. Một chiếc trực thăng của phi đoàn Mãnh sư vừa bay ngang, tiếng động cơ và tiếng cánh quạt kêu ầm ỉ, bên dưới Trung úy Mẫn bị mấy tên Cộng Sản xô chúi nhủi vào một bụi rậm, dí súng AK47 vào đầu không cho anh nhúc nhích. Trong giây phút dưới áp lực của mũi súng quân thù, Mẫn* vẫn còn đủ bình tĩnh để ngửng lên nhìn chiếc trực thăng đang bay qua đầu, lòng thầm biết ơn những người hoa tiêu bạn trong giây phút tận cùng của cuộc chiến vẫn "không bỏ anh em không bỏ bạn bè", đúng như tinh thần bất diệt của Quân chủng Không quân.
    - Ê, Mãnh Hổ!
    Đang đứng hút thuốc kế bên tàu tôi nghe tiếng ai kêu từ phía sau. Tôi quay lại. Một hoa tiêu mang phù hiệu trực thăng của phi đoàn 239 Hoàng Ưng đang đứng sau lưng nhìn tôi cười. Tôi nhíu mắt nhìn. Khuôn mặt rất quen thuộc, tôi cố moi lại trong trí nhớ.
    - Mày quên tao rồi à, Nguyễn Hào đây!
    - Hào,trời đất! Hào"gàn"phải không? Mẹ, lâu ngày quá!
    Vừa nói xong tôi mừng rỡ ôm choàng lấy người bạn thân cùng khóa bay. Từ lúc chia tay nhau sau khi du học ở Mỹ trở về nước, mỗi thằng đi một vùng chiến thuật, chưa bao giờ chúng tôi có cơ hội gặp lại nhau. Hình ảnh của thằng bạn có giọng nói Bắc kỳ Hà Nội chậm rãi, ngọt ngào như mía lùi lại ẩn chứa một tánh tình "ngang tàng" nếu không nói là có tí "ngông", trên một khuôn mặt rất là "boyish" đã trở lại trong tâm trí tôi. Những ngày bên trường bay vào những buổi đi học về, trong khi mấy anh "hoa tiêu học trò" vội vã chen nhau xuống chiếc xe buýt thì Hào lửng thửng một tay xách túi bay, một tay đút vào túi quần chậm rãi đi từng bước một về phòng, hình như chưa bao giờ tôi thấy anh ta vội vã cả. Tôi ngạc nhiên hỏi:
    - Chuyện gì đã đưa đẩy bạn lưu lạc nơi phương trời này vậy, Hào?
    - Thì lúc Ban Mê Thuột bị tụi nó chiếm, từ Đà Nẵng tao tình nguyện biệt phái dẫn 5 chiếc tàu lên Pleiku cho phi vụ không vận Sư đoàn 23 về tái chiếm Ban Mê Thuột. Chừng 2 ngày sau thì phi vụ đó bị "xù", tụi tao bị "xỉ" về vùng này bốc dân. Mấy lần tao nghe tiếng mày trên tần số mà chưa có cơ hội để gặp. Này, mày bay gunship phải không, tao có chuyện này muốn nói với mày.
    - Có gì quan trọng không? 
    Vừa nói tôi vừa móc ổ bánh mì dưới túi bay rồi hỏi:
    - Mày ăn chưa?
    - Tao ăn rồi, mày ăn đi. Lúc nãy tao đi chở dân về, gần tới TuyHòa bên mấy thửa ruộng hoang tao thấy 2-3 con bò đang đứng ăn cỏ, tao định xuống "dớt" một con đem về cho lính mình ăn, tao thấy nhiều lính bộ binh đi lạc trong rừng được bốc về phi trường Đồng Tác tơi tả, tội nghiệp quá. Một mình không có gunship "cover" tao hơi ngại, bây giờ gặp mày đây tao mới hỏi mày đi bay yễm trợ cho tao "dớt" con bò về được không?
    - Chuyện nhỏ thôi, nhưng coi chừng, nhiều lúc là bò của dân đó mày.
    - Dân đếch gì, xa tuốt trong rừng, giờ này dân chạy hết rồi, để lại cho tụi Việt Cộng ăn cũng vậy thôi.
    Cầm ổ bánh mì trên tay tôi vừa ăn vừa nói:
    - OK, làm gì thì làm để tao "thanh toán" ổ bánh mì này cho xong đã rồi đi đâu thì đi.

    Hơn 10 phút sau 2 chiếc trực thăng bắt đầu quay máy, tôi cất cánh chiếc trực thăng võ trang nối đuôi theo chiếc Hoàng Ưng của Hào rời bãi đậu. Hai con tàu lấy cao độ hướng ra phía bờ sông. Trên cao nhìn xuống, từ cửa sông Đà Rằng chạy dài về phía tây, cửa sông trông giống như đầu của một con bạch tuột với những sợi râu nằm giữa vựa lúa lớn nhất miền Trung phần, những mảnh ruộng hình vuông con con màu vàng cỏ rạ, nối tiếp nhau từ bờ sông chạy dài đến gần chân núi Đại Lãnh. Nhìn thằng bạn thân cắm đầu bay trước mặt, trên tần số riêng tôi gọi:
    - Hào, mày còn nhớ chỗ không đó?
    - Yên chí đi, cứ theo tao, 5 phút nữa sẽ đến, cách con sông vài cây số ngay bìa rừng tao nhớ rõ.
    Đúng như lời Hào nói, chỉ trong vài phút bay tôi thấy chiếc trực thăng trước mặt nghiêng cánh, hạ cao độ. Từ trên cao nhìn xuống, tôi có thể thấy một vùng ruộng bỏ hoang, không canh tác, cỏ vàng úa mọc đầy, nằm kế bên bìa rừng, ở giữa là một con suối cạn uốn éo, cỏ mọc xanh hai bên bờ.
    - Hổ, mày thấy chưa, bãi ruộng gần con suối, cách đây 2 tiếng đồng hồ tao đã bay qua đây rồi.
    Tôi nhìn theo nôn nóng:
    - Biết rồi, mấy con bò đâu không thấy?
    - Từ từ đừng nóng, lẩn quẩn đâu đây thôi.
    Hào bay dưới thấp chừng vài trăm bộ, tôi giữ vị thế cao hơn để quan sát tình hình, theo dõi tàu của Hào trong trường hợp có biến cố nào tôi có thể phản ứng kịp thời. Bỗng tôi nghe tiếng Hào trong tần số, giọng nói phấn khởi:
    - Đây rồi, đây rồi, 3 "chú" đang ăn cỏ đây.
    Nhìn xuống dưới thấp, tàu Hào đang bay bỗng quay vòng lại, cánh quạt chiếc trực thăng chấp chóa, 3 con bò đang đứng thản nhiên gặm cỏ trên một bãi ruộng hoang, kế bên một đám cỏ tranh vàng úa. Hào nói:
    - Hổ, mày trên cao cover nghe, tao xuống đây. 
    Tôi hạ cao độ, bay vòng rộng quanh chiếc tàu phía dưới, quan sát tình hình. Xung quanh đều là đồng không mông quạnh, không có dấu vết gì khả nghi cả, trừ đám rừng xa xa khoảng vài cây số. Chiếc trực thăng của Hào bay chậm lại và ngừng lại trên đầu 3 con bò màu nâu đang bình thản đứng kế bên nhau. Bên hông cửa tàu của chiếc trực thăng phía dưới tôi có thể nhìn thấy khẩu đại liên đang khạc đạn, phóng ra những làn khói trắng nho nhỏ. Một con bò nhỏ nhất trong đám ngã quỵ xuống, hai con kia tức thời phóng chạy.
    - Hổ, tao đáp xuống đây... coi chừng dùm tao nghe...
    Quay qua khung cửa, tay cầm cần lái, mắt tôi chăm chú theo dõi tất cả mọi diễn tiến bên dưới. Chiếc trực thăng đáp kế con bò đang nằm trên mặt đất,cách đó 1 khoảng gần là một đám cỏ tranh cao tới ngực. 2 người mê vô xạ thủ nhảy xuống đất đồng thời một bên cánh cửa cockpit mở ra, người hoa tiêu phụ nhảy xuống theo. 
    3 người chạy đến kế bên con bò. Từ trên cao tôi theo dõi một hoạt cảnh ngoạn mục, 3 anh phi hành trong bộ đồ bay, người mặc áo giáp, đội nón helmet ì ạch kéo con bò không nhúc nhích. Mấy ông mê vô xạ thủ và ông anh rể tôi ngồi sau sàn tàu chồm ra ngoài cửa hồi hộp nhìn xuống phía dưới theo dõi. Từ trên cao nhìn xuống, tôi thầm nghĩ con bò quá nặng không thể nào 3 người có thể đủ sức đem nó lên sàn tàu. Đúng như tôi đã dự đoán, trên tần số tiếng nói của Hà:
    - Nặng quá tụi nó kéo không nổi, Hổ, tao xuống phụ với tụi nó, cover cho tao nghe...
    Hào nói xong chưa chờ tôi trả lời, mở cửa nhảy xuống, chạy đến bên con bò. 4 người xúm nhau, tiếp tục kéo. Cho con tàu bay thấp vài trăm bộ tôi nghiêng đầu theo dõi. Bỗng dưng cách chiếc trực thăng đang đậu phía dưới chừng vài chục mét, tôi phát giác một bóng người bận đồ đen vừa mới đứng lên giữa đám cỏ tranh mọc cao ngang ngực. Tôi la lớn cho mấy anh mê vô xạ thủ tôi nghe thấy để chuẩn bị:
    - Có người, đằng sau, coi chừng...
    Người xạ thủ hình như cũng thấy như tôi đã thấy, đến chụp khẩu minigun chỉa xuống ngay chỗ đám cỏ tranh. Phía dưới là chiếc tàu của Hào đang nổ máy hoàn toàn không có người nào ở trên tàu, tôi không biết làm cách nào để thông báo cho phi hành đoàn bên dưới biết tình trạng đang xảy ra. Tôi sà con tàu xuống thấp bay ngang đầu chiếc trực thăng đang đậu dưới đất, bay vòng thật nhỏ như để báo hiệu cho bạn mình biết để đề phòng có người lạ khả nghi đang ở gần đấy.
    Một cuộc diễn tiến bất ngờ xảy ra phía dưới như một cuốn phim đang quay chậm. Bóng người đang đứng giữa đám cỏ tranh bỗng vạch cỏ bước hẳn ra ngoài, tiến về hướng chiếc trực thăng đang đậu kế con bò, hai tay cầm khẩu AK47 đưa cao lên khỏi đầu. 4 người đang hì hục kéo con bò, bất ngờ ngưng lại, quay mặt về phía bóng người đang bước tới. Tôi thấy Hào rút khẩu "rouleaux" chỉa về phía người lạ. Hình như có một cuộc đối thoại ngắn đang xảy ra, tôi đoán vậy. Hào bước đến gần, tay vẫn chỉa súng vào người lạ, tay kia vói giật khẩu AK47. Bây giờ một người xạ thủ của Hào đã tỉnh hồn, nhảy lên tàu chĩa khẩu đại liên M60 về phía "nhân vật" mới xuất hiện. Hình như cuộc đối thoại vẫn đang còn tiếp diễn.Đột nhiên trước sự ngạc nhiên, nếu không nói là sửng sốt của tất cả mọi người trên tàu tôi, "nhân vật" mới cùng phi hành đoàn 4 người của Hào xúm nhau lại kéo con bò lên sàn tàu. Nôn nóng muốn biết chuyện gì đã xảy ra, chờ khi Hào đã an tọa trên ghế bay, tôi la trên tần số:
    - Hào, chuyện gì vậy, chuyện gì đã xảy ra vậy? 
    Trong hơi thở hổn hển có lẽ vì quá mệt sau khi khiêng con bò lên sàn tàu, tiếng nói của Hào đứt đoạn:
    - Thằng... Việt cộng... nó muốn hồi chánh... nó xin tao chở về Tuy Hòa...
    Tôi ngắt lời:
    - Mày có chắc không? Coi chừng đó!
    - Không sao...đâu, tao lấy súng nó rồi. Nó là dân du kích địa phương... có gia đình ở Tuy Hòa...
    Nghe xong tôi thở phào nhẹ nhõm. Có lẽ tên Việt Cộng này đang chăn bò, thấy trực thăng đến chạy núp trong đám cỏ tranh, và sau khi thấy chiếc gunship quần trên đầu tưởng là đã bị phát giác nên ra đầu hàng. 
    Tôi gọi Hào:
    - Mày làm tao hú hồn, thôi, chở con bò về phi trường Đồng Tác giao cho bộ binh và nhân tiện giao thằng Việt Cộng luôn.
    Rồi tôi nói tiếp:
    - Nhớ cắt một cái đùi tối về Nha Trang tụi mình nhậu nghe. 
    Vĩnh Hiếu
    Phi đoàn Thần Tượng, 215

    *Richard
     Blystone was a correspondent for Associated Press (ap) for 15 years, reporting mainly from Southeast Asia, where he was bureau chief in Bangkok, before moving on to Cable News Network. He is also an Associate of Producers International Media, and one of the world’s top journalists and writers... Now he is a retired senior correspondent for CNN...

    *Trung úy Phạm Mẫn bị Cộng quân bắt làm tù binh sau khi chiếc tàu anh bị bắn rớt trên bờ biển Quảng Nam ngày 28 tháng 3 năm 1975. Sau 3 năm bị cầm tù, năm 1981 anh cùng hai đứa con trai vượt biển đến được bến bờ tự do.
    Xin cám ơn KQ Nguyễn Đức Liên, Phạm Mẫn, Nguyễn Hào đã đóng góp những chi tiết trong bài Ngày Tàn Cuộc Chiến (Phần 2), cùng anh Herky428 về tác phẩm rất đẹp của Mãnh Hổ trên biển Nha Trang.
    Riêng cám ơn Cánh Thép.com, là nguyên nhân để tôi tìm lại được Thiếu úy Nguyễn Đức Liên, một hoa tiêu phi đoànThần Tượng mà tôi đã mất liên lạc từ năm 1975, qua những bài viết về cuộc chiến của tôi.
    Một bài viết của đặc phái viên AP, Richard Blyslone, về phi vụ tại Tuy Hòa.



CẦM TAY & LÀM TÌNH 

  • Ai cũng có một ngày kỷ niệm, ngày thay đổi cuộc sống của mình, thường thì ngày kỷ niệm lưu dấu nhiều nhất cũng không thoát khỏi chữ tình, ngày mà tay trong tay...thế đấy!!!
    Người mình cũng có cái "ngộ" lắm, xem phim, nhìn người khác quàng tay nhau đi trên phố thì trầm trồ khen là đẹp đôi, là "tình" quá, vậy mà khi đến phiên mình đa số lại tỏ ra ngại ngùng, nhất là khi đã về chung sống ít khi ra đường mà tay trong tay và đến tuổi nào đó thì ông bà càng lúc càng xa cách; người này chê người kia là ngáy quá lớn, không ngủ được rồi mỗi người mỗi phòng không còn nằm bên nhau nữa, nếu có dịp ra đường, đi chung thì có nhưng kẻ trước người sau.
    Vợ chồng hắn khó khăn mới đến được với nhau nên quý những lúc cận kề, mỗi khi ra đường, vợ chồng thường quàng tay nhau.
    Hắn gởi đến các bác bài viết của một nữ văn sĩ sống ở Đức có tựa đề CẦM TAY & LÀM TÌNH nhân ngày phụ nữ 8/3.
    Cả thế giới có ngày 8/3 vinh danh phụ nữ, ngoài ra hắn còn có ngày dành cho phụ nữ của riêng hắn, đến với hắn vào ngày 4/3, là ngày lần đầu hắn ghé môi hôn Chả Quế ngày 4/3/1978, đã 48 lần kỷ niệm, 48 lần hắn có được chiếc "vỏ quýt tơ hồng". Bài này hắn có lần gửi đi, nay gửi lại cho những bạn bè hắn, người nào chưa xem.
    Mời các bác vào đọc "CẦM TAY & LÀM TÌNH" nhân ngày phụ nữ 8/3, cũng có kèm vài chữ của Chả Quế và hắn cũng mượn hoa hiến phật bài "Vỏ quýt tơ hồng" để kể lại chuyện tình 48 năm trước của hắn.
    Ara

    CẦM TAY & LÀM TÌNH
    Thymianka Thảo Nguyên


    Có cô bạn phàn nàn rằng chồng cô, vào lúc cô lâm nguy nhất, đã không biết cách an ủi dù chỉ bằng một cái nắm tay.
     
    Lâm nguy ở đây là khi cô nằm trên bàn đẻ. Bác sĩ người ta cho chồng vào ngồi cạnh vợ trong lúc lâm bồn để vợ chồng chia sẻ với nhau nỗi đau đớn của sản phụ cũng như sự gắn bó của cha mẹ ngay khi đứa trẻ ra đời. Khi cô quằn quại trong đau đớn, ông chồng ngồi cạnh, mắt thờ ơ nhìn ra cửa sổ.

    Cô, một cô giáo trẻ, năn nỉ rằng anh hãy nắm tay em đi, cho em đỡ sợ, cho em cảm thấy có anh ở bên. Và lúc ấy, lần đầu tiên trong đời, hai vợ chồng mới biết đến cái nắm tay, mà theo cô sau này nhớ lại, vụng về đến mức gần như vô cảm của ông chồng vốn được coi là rất mực yêu thương vợ.
     
    Mình nhớ lại hình ảnh hai ông bà già ngày ngày đi qua nhà, tay trong tay. Lần đầu tiên nhìn thấy ông đâu như vào mùa hè năm trước. Ông lưng còng tóc bạc, tỷ mẩn chọn cho bà những bông hoa hồng màu tro, vì theo ông, đó là mầu của kỷ niệm. Bà, một phụ nữ Đức gốc Ý, dịu dàng và bẽn lẽn như gái mới lớn, bồi hồi kể lại chuyện hai người hồi mới yêu nhau.

    Hóa ra họ là đôi tình nhân của thể kỷ trước, chiến tranh đã chia rẽ họ và sau này, khi ông lâm vào cảnh góa bụa, bà đã đón ông sang Đức để chăm sóc ông những ngày cuối đời... Và họ, đôi tình nhân muôn năm cũ, ngày ngày tay trong tay, xiêu vẹo dựa vào nhau đi những bước cuối cùng trong cuộc đời...
     
    Những cái nắm tay của những đôi nhân tình trên đường phố luôn là một hình ảnh rất nhã ở thủ đô văn minh này. Nó luôn làm cho mình thấy ngưỡng mộ và ấn tượng hơn là những cái hôn ngốn ngấu nơi công cộng.
     
    Bàn tay, đâu chỉ đơn giản là cơ quan cầm nắm. Loài người thoát được kiếp động vật cũng nhờ sự tiến hóa của bàn tay. Bàn tay, mà các ngón tay vốn là nơi có nhiều giác quan nhất, đặc biệt ngón cái có ngôn ngữ riêng, không đơn thuần chỉ là một bộ phận của cơ thể. Chẳng phải ngẫu nhiên mà người ta dùng đôi tay để làm nhiều thứ hơn là việc chỉ dùng nó để lao động.
     
    Hôn và nắm tay đều là những ngôn ngữ của cơ thể. Khó có thể nói ngôn ngữ nào biểu cảm hơn ngôn ngữ nào. Nắm tay - cầm tay, ngôn ngữ ấy nói nhiều hơn cả nỗi khát khao - đó là ân tình. Khát khao có thể chỉ là khoảnh khắc, thậm chí, nhiều khoảnh khắc, trong khi ân tình thì còn mãi. Một ân tình có thể bắt đầu từ một sự khát khao những khi đã có được ân tình, thì khát khao ấy còn là sự thăng hoa.

    Ít năm trước, Trang Hạ có dịch một đoản văn “Nắm tay và làm tình” của một tác giả châu Á, hình như người Đài Loan. Hồi đó, đâu như năm 2010, chủ đề này làm dấy lên những cuộc tranh luân sôi nổi ở một số diễn đàn. Trong khi nắm tay là hành vi văn hóa thì, ở một đất nước mà đái bậy vẫn được chấp nhận, hôn nhau và cầm tay nơi công cộng vẫn là hình ảnh nghịch nhãn đối với những nhà đạo đức của một nền văn minh ưa chỉ trích.
     
    Trở lại chuyện cầm tay & làm tình, có ai trong số chúng ta chợt nhận ra, cả đời nhiều lần làm việc này mà chưa bao giờ làm việc kia? Có nhiều người phụ nữ chưa bao giờ một lần được chồng một lần nắm tay, dù anh ta đã bao lần leo lên bụng vợ. Mình tin, những bàn tay đàn ông biết nắm lấy tay người đàn bà của mình một cách ân cần không bao giờ lại là bàn tay đánh đập người phụ nữ mình yêu thương.
     
    Cô bạn mình, người đã nhắc đến trong đầu bài viết, nói rằng, cô không bao giờ quên cái nắm tay quá đỗi thờ ơ của người chồng. Sau nhiều năm sống chung, cô mới nhận ra khoảng cách có thật giữa hai người cũng bắt đầu từ lần ấy.
     
    Vâng, cái nắm tay đâu chỉ đơn thuần chỉ là hai vật thể quắp lấy nhau. Trong sự cọ sát của làn da, những ngón tay tìm lấy nhau trong hơi ấm rất thật thà. Người nồng nàn, cái nắm tay dường như rất chặt. Người chứa chan, tay cũng ấm áp. Không thể tìm thấy ở một bàn tay thờ ơ lạnh lẽo một tấm lòng sẻ chia. Cầm tay, trong cử chỉ tưởng như câm lặng ấy, có biết bao điều san sẻ cho nhau. Ngôn ngữ lưỡi có thể mật ngọt dối trá, nhưng ngôn ngữ bàn tay thì không.

    Cầm tay, nắm tay và bắt tay, còn cho ta biết rất nhiều tính cách của đối phương. Ai từng đọc “David Copperfield” của nhà văn Charles Dickens, hẳn còn nhớ cái bàn tay nhớp nhúa của Uriah Heep. Bàn tay đớn hèn, mưu mô và phản trắc đã được Dickens lột tả rất thần. Người ta có thể quên ông, quên Uriah Heep, nhưng khó mà quên ngôn ngữ của bàn tay ấy.
     
    Mùa hè năm trước, ngày ngày, đôi tình nhân người Ý già vẫn đi qua nhà mình, tay trong tay, xiêu vẹo mà rưng rưng gắn bó. Ông vẫn chọn mua cho bà những đóa hồng màu tro như thủa mới hẹn hò. Mùa hè năm nay, bà chỉ còn đi có một mình. Ông đã mất, bên cạnh bà, tay trong tay. Mình tin, đó là cái nắm tay dắt ông đi những ngày cuối đời hạnh phúc nhất. Hơn tất cả những ái ân mà ông bà nếu còn có thể, chắc chắn không còn được thăng hoa bởi tuổi tác.
     
    Đã bao giờ bạn quên rằng đâu đó bên cạnh mình, còn một người chưa hề được cầm tay?

    Có bao nhiêu người, vẫn ngày ngày làm tình mà chưa một lần biết cầm tay?

    Thymianka Thảo Nguyên, từ Berlin

    1772473884132blob.jpg
    Đây là hình ảnh ghi lại lúc ông Hắn nắm bàn tay vợ. Chúng tôi có thói quen lúc nào cũng nắm tay nhau (ngoại trừ những lúc Ara làm tôi giận).
    Ara rất thật lòng lúc nào cũng bảo bọc yêu thương che chở cho vợ của mình.
    Lúc tôi đi sanh con gái út, Ara cũng có đứng bên cạnh chia xẻ đau đớn cùng tôi. 
    Chả Quế



CÁI NÚT ÁO
  • Giật mình thức giấc. Cảm thấy khát khô ở cổ, tôi lồm cồm ngồi dậy mở tủ lạnh nốc một hơi.
    Nước lạnh làm tôi tỉnh người. Nhìn đồng hồ đã hơn 4g sáng. Tôi đến bên máy vi tính bật máy lên. Mở chương trình Nhật Ký định nhập vào những việc mình đã làm hoặc những suy nghĩ về một ngày đã qua. Nhưng chương trình lại bật lên thông báo nhấp nháy màu đỏ chói: "Tuần sau là đến ngày đầu tiên quen M". Tôi chỉnh chương trình để xem lại cái ngày đầu tiên đó và mỉm cười khi thấy lúc đó mình trẻ con hết sức.
    Tôi quyết định sẽ lục tung hết Internet để tìm ra một cái thiệp độc chiêu gửi nàng. Cuối cùng tôi cũng mãn nguyện với một cái thiệp nhiều ý nghĩa. Tôi kéo ngăn tủ ra để lấy cái đĩa CD hình mình để ghép vào thiệp, nhưng chợt nhìn thấy trong đó có một gói quà xinh xắn. Biết là của M tôi hồi hộp mở gói quà. Bên trên là một tấm thiệp to, còn bên dưới là một chiếc đồng hồ để bàn rất dễ thương và một cái nút áo. Hơi ngạc nhiên khi nhìn cái nút áo, tôi vội mở thiệp ra xem.
    "Anh thân mến!
    Thế là chúng mình quen nhau đã 3 năm rồi. Trong 3 năm qua em rất vui vì đã quen được anh. Em đã học được rất nhiều điều từ anh.
    Anh là người rất giỏi, làm được rất nhiều việc lại sống rất tốt với mọi người. Anh sống hết sức chan hoà không câu nệ giàu nghèo, chức vị. Anh hết lòng với mọi người và được rất nhiều anh em bè bạn mến yêu, kính nể.
    Tối nay, cũng như bao ngày em đến nhà anh, đã 9g tối anh vẫn chưa về nhà. Khi đến nhà anh, em nhìn thấy mẹ đang khâu lại chiếc áo bị bỏng thuốc lá của anh. Nhìn mẹ chợt em nhớ đến anh, rồi nhớ đến những gì em đã thấy ở nhà anh.
    Em xin phép được tặng cho anh cái đồng hồ với lời nhắn: "Thời gian luôn trôi đi lạnh lùng. Có những thứ ngày mai làm được, nhưng có những thứ ngày mai không thể nào làm được".
    Và một cái nút áo với lời nhắn chân tình: "Đôi khi người ta biết được rất nhiều điều nhưng lại không biết một điều đơn giản là áo mình đang mặc có bao nhiêu cái nút!" Anh đã sống vì mọi người nhưng trong mọi người lại thiếu một người quan trọng nhất. Anh hãy xem tờ giấy bên dưới. Chúc Anh luôn vui vẻ và thành đạt".
    Tôi cầm đồng hồ và cái nút lên, bên dưới có một tờ giấy xếp làm tư nằm ngay ngắn, tôi mở ra xem và thấy ngẩn ngơ với những dòng chữ dưới đây:
    "Em thấy anh rủ bạn về nhà cùng vui vẻ, làm xả láng mấy thùng Ken, anh em bàn tán chuyện đời, chuyện cơ quan, chuyện nhà sếp, chuyện quan trường, đủ thứ chuyện nhậu... bàn hoài hổng hết.
    Em thấy mẹ cặm cụi dọn dẹp thức ăn dư, lom khom nhặt từng vỏ lon xếp lại, sáng mai ra chợ đổi lấy chục chanh pha nước, cho thằng con tỉnh rượu mỗi khi say.
    Em thấy anh sáng ra sạp gom gần hết báo, đọc ngấu nghiến từng bài từng mục. Ngẫm chuyện đời, chuyện quan liêu, chuyện cửa quyền, chuyện Mỹ, chuyện I rắc, chuyện SEA Games...
    Em thấy mẹ cẩn thận sắp từng tờ báo, lựa riêng ra những phần quảng cáo rồi ngập ngừng hỏi cái này cân ký bán được hông con?
    Em thấy anh chơi hết lòng với bạn, chẳng bỏ về dù tăng 4 hay tăng 3...
    Em thấy mẹ cứ trằn trọc ra vô mãi, 2g rồi mà phòng nó vắng tanh.
    Em thấy anh sau một ngày làm mệt mỏi, về nhà bật máy lạnh, bật quạt, ngả lưng nằm thẳng chân, chẳng muộn phiền.
    Em thấy mẹ ra hiên nằm những ngày trời nóng, rồi lẩm bẩm xem điện tháng này có quá định mức chưa.
    Em thấy anh ghiền chơi vi tính, cứ băn khoăn hoài chuyện nâng cấp CPU lên 2 hay 3 Gb.
    Em thấy mẹ rất ghiền xem cải lương, cứ chặm nước mắt, cứ cười vui thoải mái khi xem hoài cái tivi cà giật, cái Tivi từ lúc anh tắm mưa.
    Em thấy anh chuyên viên vi tính, viết phần mềm để quản lý công ty, xem công nợ, lãi lỗ, bấm một phát là có ngay. Thế mà chẳng thể nào tính đúng được tình thương của người mẹ.
    Em thấy mẹ chẳng cần vi tính, vẫn âm thầm lập trình cơm, cá, rau. Biết chị Hai ủi cái áo không ngay, còn anh nữa đôi giày cả tuần chưa chịu đánh!
    Em thấy anh chuyên làm chuyện lớn mà quên đi những chuyện nhỏ xung quanh.
    Em thấy mẹ suốt đời vụn vặt mà dạy con mình những bài học lớn lao...

    (Sưu tầm từ Internet)


Ơn Người
  •  
    Thật khó ngờ rằng, bước vào tuổi nghỉ hưu, tôi vẫn còn dịp lo liệu cho tuổi già của ba mẹ. Chính trong những ngày ấy, tôi bắt đầu nghĩ về tuổi già, không của ai khác mà của chính mình. Khi va chạm với thực tế, tôi thấy hình bóng tương lai của mình trong từng chi tiết nhỏ: nào khó khăn lúc bước vào trong xe, nào không thể tự mặc cho mình manh quần tấm áo.
    Tôi là con cả trong một gia tộc đông anh em. Dù đã sống trên đất Mỹ lâu hơn khoảng gần 30 năm so với thời gian tôi từng sinh sống ở quê nhà, tôi vẫn giữ lối nghĩ của người Việt: phận làm con là phải chăm sóc cha mẹ lúc xế chiều, như một phần máu thịt, chẳng cần ai nhắc. Có lúc đứng một mình, tôi tự hỏi rằng đã sẵn sàng cho vai trò đó đến đâu, và câu trả lời luôn dẫn tôi về với trách nhiệm không thể thoái thác. Dẫu tôi có đến 7 đứa em và mấy chục đứa cháu, tôi vẫn coi phần chính của bổn phận ấy thuộc về mình.
    Cũng như nhiều người Việt ở nơi đây, ba mẹ tôi thường bóng gió nhắc về nỗi sợ bị đưa vào "nhà già". Tôi hiểu sự ám ảnh ấy: phần đông người lớn tuổi gốc Việt không quen tiếng Anh, ít hợp với thức ăn bản xứ, và hơn hết họ mong được dưỡng bệnh tại nhà, nằm trên chiếc giường quen thuộc giữa hơi ấm con cháu.
    Tôi vẫn thắc mắc tại sao người Việt gọi nursing home là "nhà già" hay "viện dưỡng lão", hai cách gọi nghe quen mà chua chát, như chứa một nỗi buồn, một hàm ý bị bỏ rơi. Có lẽ trong ký ức nhiều người, nơi ấy không gắn với hình ảnh yêu thương mà chỉ là trạm dừng cuối đời: vắng con cháu, vắng tiếng cười thân quen. Nghe ba mẹ nói đến điều đó, lòng tôi xót xa, vừa muốn tìm cách giữ ông bà ở nhà, vừa lo rằng đôi khi người nhà cũng bất lực trước những nhu cầu chăm sóc chuyên môn. Tôi hiểu rằng điều ba mẹ cần không chỉ là chỗ ở, mà là phẩm giá, là kỷ niệm và những gì thân thuộc thường dùng.
    Thật ra, ở Mỹ nursing home không chỉ dành cho người già, mà cho bất kỳ ai cần chăm sóc y tế dài hạn, đó là một phần trong hệ thống chăm sóc sức khỏe chuyên nghiệp. Tuy nhiên khác biệt văn hóa và quan niệm về sống chết khiến nhiều người Việt giữ khoảng cách với nơi ấy. Vì vậy, tôi xin gọi đúng tên: nursing home.
    Mỗi lần nghĩ đến tuổi già của ba mẹ, tôi lại nhớ đến Dick, người bạn Mỹ gốc Mexico từng làm chung hãng với tôi. Dick thường kể về mẹ già của anh: bà không thể tự lo suốt hơn 10 năm cuối đời. Thay vì đưa bà vào nursing home, các anh chị em quyết định thuê 2 phụ nữ người Mễ thay phiên nhau đến nhà chăm sóc cho bà cả ngày lẫn đêm. Con cái, cháu chắt ai rảnh thì ghé thăm, ai nấy đều yên tâm vì bà luôn có người kề cận. Nghe Dick kể, trong tôi hiện lên hình ảnh những bàn tay quen thuộc chăm sóc, tiếng Tây Ban Nha thì thầm và mùi bột ngô trên bếp, một khung cảnh ấm áp khác hẳn với chiếc giường lạnh lẽo cô đơn nơi nursing home.
    Từ chuyện của Dick, tôi thầm nghĩ: nếu đến lúc ba mẹ tôi cần, tôi cũng sẽ làm như vậy. Tôi tự hứa với lòng: tôi sẽ cố gắng giữ ba mẹ ở nhà, dù phải sắp xếp lại cuộc sống hay nhờ đến sự giúp đỡ chuyên môn, để ông bà được quanh quẩn bên gia đình, bên cạnh những gì thân thuộc nhất.

    *****
    Và rồi, ngày ấy cũng đến. Sau buổi tiệc mừng thượng thọ, ba tôi bỗng lên cơn đau tim, phải đưa vào cấp cứu. Gần 2 tuần sau, từ phòng hồi sức ông được chuyển sang nursing home để phục hồi chức năng. Sau hơn 3 tháng, tuy đã đi lại được, nhưng trí nhớ suy giảm rõ rệt và ông không còn tự lo vệ sinh cá nhân được.
    May thay, mẹ tôi vẫn khỏe, cố gắng chăm sóc chồng. Nhưng ai cũng hiểu bà không thể gồng gánh mãi 1 mình. Suốt 3 tháng luân phiên vào nursing home chăm sóc ba, anh em con cháu ai nấy đều thấm mệt. Khi ba được cho về nhà, mọi người đồng thuận phải tìm người giúp việc toàn thời gian.
    Tôi đứng ra đăng báo tìm người, nhưng quyền quyết định hoàn toàn thuộc về mẹ tôi. Sau vài lần thay người, cuối cùng mẹ tôi mướn được một chị tên Trần Thị Ái Hoa. Chị không chỉ có cái tên đẹp, mà còn là người đoan trang, khuôn mặt sáng, giọng nói nhẹ nhàng, chừng mực. Sau này tôi mới biết chồng đầu của chị từng là bác sĩ quân y trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa, tử trận không lâu sau biến cố 1963.Từ đó đời chị gập ghềnh, nhưng vẫn giữ phẩm hạnh và lòng kiên nhẫn đáng quý.
    Lần đầu gặp chị, tôi thấy tóc chị còn đen nhánh, áo quần tươm tất, cử chỉ nghiêm trang; nhưng chỉ hơn một tháng sau, tôi sững sờ khi thấy tóc chị bạc trắng như sương. Lúc ấy chị mới thú thật: chị đã gần 70. Khi đến xin việc, sợ bị chê già, chị đã nhuộm tóc và khai ít tuổi hơn. Chị còn giấu việc mình theo đạo Công giáo, e ngại ba mẹ tôi, vốn theo tín ngưỡng khác, có thể ngại ngùng.
    Dần dà, tôi hiểu thêm hoàn cảnh chị. Chị sang Mỹ theo diện du lịch, làm đủ nghề: trông nhà, nấu bếp, chăm người già, từng đi qua nhiều thành phố và nhiều tiểu bang; có nơi không hợp, có nơi bị đối xử tệ. Về đến San Diego, chị nương nhờ người anh họ, rồi đọc tin tìm người của gia đình tôi và đến xin việc. Mẹ tôi nhận ngay, chị mừng đến rơi nước mắt.
    Ngay lần gặp đầu, tôi có một linh cảm khó tả: nếu chị Hoa về sống với ba mẹ tôi, đó sẽ là sự kết hợp tốt đẹp. Một người cần một mái ấm, một gia đình cần một tấm lòng. Chị cần chốn nương thân, một căn phòng riêng và góc yên bình để an trú tuổi già. Căn nhà của ba mẹ tôi dư ra đúng một phòng ngủ có nhà tắm riêng. Chị là người ngoan đạo, lại cách thánh đường có lễ tiếng Việt vài trăm thước, vừa đủ để chị thong thả đi bộ đến dự lễ sớm chiều.
    Gia đình chúng tôi cần một người luôn túc trực trong nhà, không chỉ chăm sóc ba mà còn đỡ đần mẹ trong bếp núc, dọn dẹp. Ngay từ những ngày đầu, chị xin phép được gọi ba mẹ tôi là Ba và Mẹ, và xin được coi như con trong nhà. Tôi nghe chị gọi hai tiếng ấy, không khách sáo, không gượng gạo, chỉ thấy thân thuộc, tự nhiên và đầy tình cảm.
    Việc khó khăn và tế nhị nhất là chuyện vệ sinh cá nhân; đó là điều rất nhạy cảm mà ít ai chịu làm nếu không thật lòng thương. Thời gian trôi, sức khỏe của ba dần khá hơn: ông ăn uống được, đi lại quanh nhà, nhưng vẫn phải mang tã và chưa thể tự lo vệ sinh. Thấy chồng khỏe lên, mẹ tôi bắt đầu có ý định giảm bớt tiền công cho chị. Một chiều, vợ tôi tìm chị để nói riêng:
    - Chị đừng lo. Mẹ trả bao nhiêu, chị cứ nhận. Phần còn lại, các em sẽ bù riêng cho chị.
    Nói những lời ấy,lòng tôi vui vì chị sẽ không phải lo lắng chuyện tiền bạc trong những ngày tuổi già.

    ****
    Khi quyết định sang Mỹ, chị Hoa để lại sau lưng một gánh lo không nhỏ: người mẹ già ngoài 90 và cô con gái sống đơn độc, chật vật nuôi 2 đứa con dù chúng đã quá tuổi trưởng thành. Cũng như nhiều gia đình Việt có thân nhân ở xứ người, người nhà ít khi hỏi han chị sống ra sao, làm nghề gì, họ mặc nhiên nghĩ rằng ở bển thì dễ kiếm tiền, như nhặt lá mùa thu.
    Mỗi lá thư nhà gửi sang thường kèm theo một danh sách: lúc xin thuốc bổ, lúc nhờ mua điện thoại, máy đo huyết áp, áo ấm, đồng hồ... Có khi chẳng xin gì, chỉ vỏn vẹn mấy chữ: "Ở đây khổ quá, má à!" Chị làm được bao nhiêu đều chắt chiu gửi về: phần cho mẹ, phần cho con và 2 đứa cháu ngoại. Ngoài ra, chị còn đóng góp cho giáo hội Việt Nam, cho giáo xứ quê nhà, nơi in đậm dấu chân tuổi thơ và biết bao kỷ niệm. Mỗi khi quê nhà gặp thiên tai, lũ lụt, chị lại nhờ người quen quyên góp, gửi về cho bà con khốn khó.Nghe những việc chị làm, tôi cảm nhận một tấm lòng luôn hướng về nguồn cội. Trong những món quà gửi về có cả nỗi nhớ, cả niềm hy vọng chị muốn giữ cho gia đình mình.
    Nhắc đến quê, mắt chị thường đỏ hoe. Có khi đang kể, chị bỗng lặng thinh, đưa tay quệt vội giọt nước mắt. Tôi hiểu đó không chỉ là nỗi nhớ mà còn là nỗi xót xa cho những thân phận gần gũi mà chị không thể ở bên. Một chiều cuối tuần, tôi đưa cả nhà đi dạo công viên Balboa. Trong nắng nhạt, gió nhẹ, hoa nở rực bên lối đi, thấy chị đứng lặng, quay mặt lau nước mắt, vợ tôi hỏi:
    - Sao chị khóc?
    Chị nhỏ nhẹ:
    - Trời ơi, xứ người ta đẹp quá. Không biết chừng nào nước mình mới được như vầy?
    Câu nói như một tiếng thở dài. Từ đó, tôi hiểu vì sao, dù sống trong căn phòng nhỏ nơi đất khách, với công việc chẳng nhẹ nhàng gì, chị vẫn chan chứa tình thương và hy vọng. Những khoảnh khắc ấy khiến tôi thấy mình có một trách nhiệm mới: chăm sóc chị như người nhà, vì chị đã chọn gắn bó cuộc đời mình với gia đình chúng tôi.
    Thay vì nhắc chị phải thương yêu và chăm sóc ba mẹ tôi, chính tôi mới cần học cách thương và lo cho chị. Vợ chồng tôi đối đãi với chị bằng tất cả lòng tin, không dè dặt, không toan tính. Nhiều buổi trưa chiều đi dạo, tôi thấy chị lặng lẽ đi sau, mắt không rời ba mẹ tôi, như sợ ông bà trượt chân, sẵn sàng đưa tay ra đỡ. Chị ít nói, nhưng trong lòng chị, ông bà đã thành cha mẹ ruột tự thuở nào.

    ****
    Ông Minh, anh bạn thân, thấy vợ chồng tôi tất bật lo cho ba mẹ, có lần khuyên:
    - Ông bà có 8 người con. Trừ một người ở xa, còn lại 7 đứa đều gần. Sao chú thím không chia nhau, mỗi người phụ trách một ngày? Vừa công bằng, vừa giúp chú thím đỡ vất vả.
    Tôi chỉ cười:
    - Tụi em nghỉ hưu rồi, thời gian rảnh rỗi nhiều hơn. Mấy đứa em còn bận con cái, cơm áo, công việc, lo cho nhà mình chưa xuể, làm sao ngồi cả buổi ở nursing home trông ba em được.
    Nói vậy cho xuôi chuyện, chứ tôi nghĩ khác. Chăm sóc cha mẹ không phải là chuyện chia phần cho công bằng, càng không thể tính thiệt hơn. Đó là việc của trái tim, của tình cảm chảy từ huyết quản, chẳng thể đo đếm bằng giờ giấc hay công sức. Tôi không đòi hỏi gì ở các em, cũng không trách ai, mỗi người có hoàn cảnh và nhịp sống riêng mà người ngoài khó hiểu hết. Tôi chỉ âm thầm làm phần mình, tận hưởng những ngày còn được nhìn thấy ông bà khi tuổi đã xế chiều. Với tôi đó là một ân phước không thể tính toán, so bì được.

    *****
    Một lần, khi tôi đang ghé thăm một người bạn, ở cách nhà ba mẹ vài dặm, điện thoại reo dồn dập. Vừa áp máy vào tai, đã nghe giọng vợ tôi hốt hoảng:
    - Anh ơi, ba trốn khỏi nhà hơn 15 phút rồi!
    Tôi như chết lặng, lao ra xe phóng ngay về. Vừa tới nơi, thấy chị Hoa đứng thẫn thờ ở cửa, mặt tái nhợt. Nhận ra tôi, chị òa lên khóc:
    - Thấy ba ngủ say, chị tranh thủ giặt đồ. Ai ngờ chỉ mới vài phút là ông mở cửa lẻn đi mất…
    Mẹ tôi run run nói: 
    - Mẹ với chị Hoa và mấy người hàng xóm tìm khắp nơi mà không thấy…
    Tôi đưa mẹ và chị Hoa lên xe, bắt đầu tìm kiếm. Tôi lái, mẹ nhìn bên trái, chị Hoa nhìn bên phải. Xe chạy hết con dốc này sang con đường kia, vòng quanh khu xóm. Mẹ không ngừng nhắc:
    - Hồi sáng ba đi dọc khúc này... Hôm qua thì ghé coi mấy bụi hồng chỗ kia...
    Chạy theo hướng mẹ chỉ đến mấy lần vẫn không thấy. Lo lắng cứ quấn chặt đầu óc, mọi thứ xung quanh chợt lặng thinh. Lòng tôi nóng như lửa đốt. Đây là lần đầu tiên tôi gặp cảnh như vậy: một cụ già lẫn trí nhớ, lang thang ngoài đường, không biết mình là ai, chẳng biết đi về đâu. 
    Tôi quay sang hỏi mẹ:
    - Hay mình về nhà, gọi 911 đi mẹ?
    Mẹ gật đầu. Về đến nhà, tôi gọi liền tức khắc. Nghe tôi trình bày, tổng đài viên trả lời ngay rằng họ sẽ cử người hỗ trợ. Độ 10 phút sau, 3 xe cảnh sát hú còi tới. Sau khi hỏi kỹ lưỡng nào: tên, tuổi, đặc điểm nhận dạng, quần áo ông mặc khi rời nhà, họ tỏa ra khắp khu vực, kiểm tra từng ngõ ngách, gõ cửa hàng xóm. Mọi hành động nhanh nhẹn, chuyên nghiệp.
    Chị Hoa đứng ngồi không yên, hết nhìn đồng hồ lại liếc ra cửa. Mỗi lần có tiếng động lạ hay dáng người lướt qua, chị khựng lại rồi thở dài. Lâu lâu chị nhìn vợ chồng tôi, lẩm bẩm:
    - Ba đi đúng 1 tiếng 15 phút rồi đó cậu mợ ơi!
    Rồi chị bước vào phòng, quỳ trước tượng Đức Mẹ Maria, chắp tay khấn nguyện. Khi trở ra, chị ngồi xuống bên mẹ tôi, vòng tay ôm bà:
    - Sao ba đi lâu quá vậy mẹ ơi! Không biết có khát không, có ai cho uống nước không? Hay là... ba đang ngồi hoặc nằm đâu đó, không ai hay biết?
    Chị lại khẩn khoản:
    - Cậu chở chị đi tìm ba nữa. Chị nhớ rõ mấy đoạn đường ba thích đi lắm... luôn cả mấy nhánh hoa ven đường…
    Tôi gật đầu, cùng chị lên đường thêm một lần, nhưng suốt chặng quẩn quanh khu phố vẫn không thấy bóng dáng ba tôi. Mỗi phút trôi qua như kéo dài vô tận; tôi chỉ mong thấy bóng dáng quen thuộc đang lầm lũi bước trên đường.

    *****
    Sau hơn cả giờ tìm khắp khu phố mà vẫn không thấy bóng dáng ba tôi, 2 nhân viên cảnh sát quay trở lại. Một người đẩy cánh cửa lưới bước nhanh vào nhà, người kia theo sau dắt một con chó nghiệp vụ cao lớn, lông xám, đôi mắt sáng rực. Vừa thấy tôi đến, viên cảnh sát nói ngay:
    - Thưa ông, vẫn chưa tìm thấy ông cụ. Giờ chúng tôi sẽ dùng chó nghiệp vụ. Xin ông lấy ra mấy món đồ của ông cụ thường dùng, như quần áo, khăn hoặc bất cứ thứ gì có mùi quen thuộc.
    Tôi vừa dịch lại xong, chị Hoa tức tốc bước vội vào phòng. Chỉ lát sau chị trở ra, tay ôm chiếc áo len và cái quần ngủ cũ của ba, run run chìa ra:
    - Đây… áo ba mặc hôm qua… quần này sáng nay chị mới thay cho ba…
    Giọng chị nghèn nghẹn, tay nắm chặt mớ quần áo như ôm vật quý giá. Một viên cảnh sát nhận lấy chiếc áo, cúi xuống đưa sát mũi con chó; con vật rít khẽ, vểnh tai rồi bắt đầu đánh hơi quanh phòng. Viên cảnh sát trấn an:
    - Chúng tôi đang cho chó bắt mùi. Giờ chỉ còn trông vào nó dẫn đường.
    Chị Hoa nép sang một bên, hai tay đan chặt. Trước khi rời đi, viên cảnh sát còn nói thêm:
    - Nếu chó nghiệp vụ không tìm được, chúng tôi sẽ xin trực thăng hỗ trợ.
    Tôi lặng người. Trước mắt tôi, 2 viên cảnh sát Mỹ, một con chó nghiệp vụ, một người phụ nữ Việt tóc pha sương, và cả căn nhà đang nín thở trong lo âu. Tất cả vì một ông cụ gốc Việt, đã già, đã lẫn, đang đi lạc giữa một thành phố rộng lớn. Tôi dõi theo bóng họ khuất dần ngoài ngõ, cổ họng nghẹn lại. Không ngờ để tìm một người già lại quan trọng đến như vậy. Lòng tôi dâng lên một niềm biết ơn sâu sắc đối với những con người đang đứng trước mặt tôi. Tôi thấy mình mang một món nợ ân tình quá lớn với đất nước này.
    Cánh cửa khép lại; căn nhà yên ắng nhưng không bình yên, mà là thứ lặng ngắt căng thẳng. Chị Hoa đi ra đi vào, mắt không rời chiếc đồng hồ treo tường; mỗi tiếng "tích tắc" như đè nặng lên từng phút chờ đợi. Chốc chốc chị khựng giữa phòng, môi mấp máy lời cầu nguyện.
    Bất chợt, điện thoại tôi rung. Là cảnh sát, giọng ông ta reo vui:
    - Chúng tôi đã tìm thấy ông cụ. Con chó đã lần ra dấu, cách nhà hơn 3 dặm. Ông cụ lang thang một mình, không hề hấn gì. Chúng tôi sẽ đưa ông về trong vòng 10 phút.
    Tôi buông điện thoại, nghẹn giọng báo tin. Cả nhà như vỡ òa. Mẹ chắp tay ngước lên trần, lẩm bẩm tạ ơn. Chị Hoa vội chạy vào phòng, quỳ rạp xuống sàn; tượng Đức Mẹ trong ánh sáng lờ mờ như đang lắng nghe tiếng khấn của một đứa con đầy niềm tin.
    Chẳng bao lâu sau, viên cảnh sát trẻ dìu ba tôi vào hành lang. Dáng ông lom khom, bước chậm nhưng tỉnh táo. Vừa thấy ông, chị Hoa lao ra, quỳ sụp trước viên cảnh sát, chắp tay lạy lia lịa:
    - Con cám ơn ông cảnh sát. Con cám ơn ông đã cứu ba con.
    Viên cảnh sát hơi khựng, nhìn ngơ ngác; tôi bước tới giải thích:
    - Xin lỗi anh, đây là cách người Việt tạ ơn người giúp đỡ. Chị xúc động quá.
    Anh gật đầu, mỉm cười, dìu ba tôi đến ghế salon. Ba vừa đặt người xuống, chị Hoa ngồi bệt dưới chân, bóp nhẹ đũng quần ông rồi lo lắng hỏi:
    - Ba đi gần 3 tiếng đồng hồ mà không có đái sao ba?
    Tôi chết lặng. Từng cử chỉ của chị, từ quỳ tạ ơn cảnh sát đến chăm sóc tỉ mỉ cho ba tôi, khiến tôi không nói nên lời. Trong khoảnh khắc đó, lòng tôi vừa trào dâng sự biết ơn vừa chua xót vì nhận ra có những việc người khác đang làm thay cho mình. Chị Hoa đã làm tất cả những việc lẽ ra một người con trưởng phải làm: chờ đợi, tìm kiếm, cầu nguyện, chăm sóc từng ly từng tí.
    Vợ chồng tôi nhiều lần bàn bạc: phải làm gì để đền đáp tấm lòng chị. Có nên tăng lương? Nhưng rồi tự hỏi tiền bạc có phải điều thiết thực nhất cho chị? Tôi hiểu lẽ sống của chị là vì người khác; bao nhiêu công khó chị đều gửi về quê, phần cho mẹ già, phần cho con và 2 đứa cháu ngoại. Cuối cùng, chúng tôi quyết định một phương án thực tế và lâu dài: giữ lại phần tiền công trả thêm mỗi tháng cho chị, tính luôn từ đầu năm, để trao lại vào ngày chị không còn làm cho ba tôi nữa.
    Hôm ấy, vợ tôi nhẹ nhàng nói:
    - Chị an tâm, khi nào chị nghỉ hẳn, tụi em sẽ đưa lại đầy đủ. Không phải để ép chị làm mãi; nghỉ lúc nào là quyền của chị. Tụi em chỉ mong chị yên tâm mà lo cho ba.
    Chị Hoa ngơ ngác, mắt chớp nhanh:
    - Sao cô chú lại cho chị nhiều thế?
    Tôi chỉ mỉm cười. Thành thật mà nói, đó là tất cả những gì vợ chồng tôi có thể làm để bày tỏ lòng biết ơn, một sự đáp đền giản dị cho tấm lòng chị đã trao cho gia đình chúng tôi.

    *****
    Rồi cũng đến ngày không ai mong muốn. Một buổi sáng như mọi khi, cả nhà ngồi ăn thì ba tôi bỗng đổ gục xuống bàn, đột quỵ. Mẹ tôi hốt hoảng gọi cấp cứu; xe đến rất nhanh, đưa ông vào bệnh viện. Tôi cũng chỉ biết đứng lặng yên nhìn cha mình nằm bất động, thoi thóp trên giường với dây nhợ giăng khắp thân người. Nhờ có chị, những ngày cuối đời của ba, con cháu đỡ vất vả nhiều. Không ai phải bỏ việc hay đảo lộn cuộc sống để túc trực liên tục bên giường bệnh. Khi có người nhà ở cạnh, chị nhẹ nhàng rút lui; khi vắng, chị lại ngồi kề bên ông, canh từng giấc ngủ, lau mặt, vuốt trán, trò chuyện vu vơ như đang nói với một người còn nghe, còn hiểu. Những cử chỉ ấy giản dị nhưng ấm áp hơn mọi lời an ủi.
    Ngày ba tôi ra đi, giữa những người khóc tiễn đưa có lẽ chị Hoa khóc nhiều nhất, không phải vì bổn phận, mà vì tình thương âm thầm tích tụ qua từng bữa cơm, từng lần thay áo, tắm rửa, từng ngày sống bên ông như người thân ruột thịt. Nhìn chị ôm lấy bàn tay ba tôi khi ông rời đi, tôi nhận ra tình thương không đo được bằng lời, chỉ bằng những hành động thầm lặng mà người ở lại sẽ nhớ mãi.
    Từ dạo ấy, vợ chồng tôi không còn coi chị là người giúp việc nữa, mà xem chị như một người chị trong nhà. Phần tiền lương tăng, chị vẫn gửi lại, chân tình nói:
    - Cô chú mà không thương giữ giúp chị, thì biết đưa cho ai?
    Tôi cũng xin nói rõ rằng mọi chi phí chăm sóc ba mẹ đều có sự góp sức của từng đứa em trong gia đình. Nhờ vậy, tình nghĩa anh em vẫn bền chặt và trong nỗi mất mát, chúng tôi tìm thấy nhau nhiều hơn.

    *****
    Rồi cũng đến ngày chị Hoa gặp lại người bạn cũ, ông Lành, người đứng ra làm hôn thú trên danh nghĩa để chị đủ điều kiện hợp pháp ở lại Mỹ. Vợ chồng tôi tình nguyện ký bảo trợ tài chính. Mỗi lần gặp, chị đều rưng rưng cảm ơn; còn chúng tôi luôn nghĩ: gia đình mình mới là người mang ơn lớn nhất, vì chị đã tận tình thay chúng tôi chăm sóc cho ba suốt những năm cuối đời.
    Chị có thẻ xanh, rồi nhập tịch, bắt đầu hưởng các quyền lợi an sinh dành cho người cao tuổi không có thu nhập. Chúng tôi mừng cho chị vì cuối cùng chị cũng tìm được chỗ đứng vững vàng nơi xứ người. Đáp lại ân nghĩa xưa, chị chuyển sang chăm sóc ông Lành khi đã già yếu. Chị tận tụy như từng dành cho ba tôi. Ông Lành mất trong bình an; các con ông cảm mến tấm lòng chị, xem chị như mẹ ruột và thường xuyên qua lại thăm nom.
    Nghĩ đến thân phận một mình nơi đất khách, chị dặn vợ chồng tôi:
    - Sau này chị có mệnh hệ gì, nhờ cô chú lo giùm tang lễ.
    Chúng tôi đã hứa, lòng nhẹ như ký gửi một ân tình. Lời dặn ấy buộc tôi suy nghĩ về trách nhiệm mà chị đã trao gửi, như một sự tin tưởng lớn lao mà tôi cảm thấy luôn phải cưu mang.
    Rồi dịch Covid ập đến. Con cái ông Lành năn nỉ chị ở yên trong nhà; mỗi tuần đôi ba lần họ mang thực phẩm để trước cửa rồi gọi chị ra lấy. Một sáng, chị gọi cho vợ tôi, giọng đầy hứng khởi:
    - Hôm nay chị liều ra ngoài. Bịt mũi, bịt miệng, vô nhà thờ xưng tội, dự lễ. Xong ghé vào chỗ chuyển tiền, gửi ít cho con với 2 đứa cháu ngoại. Cả năm trốn dịch, chưa gửi được đồng nào, lòng cứ canh cánh hoài. Giờ chị nhẹ nhõm lắm rồi.
    Đó là cú điện thoại cuối cùng chị gọi cho nhà tôi. Vài ngày sau, xe cứu thương đưa chị vào bệnh viện. Covid cướp chị quá nhanh, khi những lời hứa vẫn còn dang dở. Tang lễ vợ chồng tôi dự định lo cho chị không thể thực hiện vì lệnh cách ly nghiêm ngặt; chúng tôi chỉ còn biết âm thầm lần chuỗi, cầu nguyện cho chị ra đi bình an. Tiền bạc và tro cốt chị để lại đã được con cháu ông Lành lần lượt đưa về quê hương.
    Nhưng trong tim tôi, chị vẫn ở lại như một người chị lớn của gia đình vừa lặng lẽ đi về cõi vĩnh hằng. Mỗi khi thắp nén nhang trước bàn thờ ba tôi, nhìn tấm ảnh người đã khuất, tôi lại nhớ mái tóc bạc trắng của chị, nhớ từng cử chỉ ân cần chị dành cho ba trong những ngày cuối đời. Những hình ảnh ấy không phai theo thời gian; chúng trở thành bài học lặng lẽ về lòng tử tế, một thứ tình thương không cần huyết thống nhưng bền bỉ đến cùng.
    Chị Hoa ra đi, để lại cho tôi niềm biết ơn sâu sắc và một tấm gương sống: yêu thương bằng hành động, ở lại bằng tấm lòng, và cho những người ở lại một phúc lành khó quên.  
    Sapy Nguyễn Văn Hưởng
     


NÍU MỘT SỢI DÂY ĐỨT

  • Một buổi sáng, người đàn bà chừng 50 tuổi bước vào sân nhà tôi, vẻ tự tin như đây là chốn quen. Gặp tôi ở sân, bà hỏi cháu có phải con ba Bình không. Tôi gật đầu dạ đúng. Bà nói “hèn chi giống đúc” rồi đi thẳng vào nhà, không chút khách sáo.
    Ông nội tôi đau ốm mấy năm nay đang nằm liệt trên giường, nghe có người vào liền ngoái đầu lên. Giọng ông tự dưng khỏe hẳn:
    - Có thằng Hòa về không con?
    - Dạ ông. Nó mất rồi ông ạ.
    - Mất thì mày còn về đây làm chi.
    Nói rồi ông nằm xuống như không có chuyện gì xảy ra. Tôi không rõ người đàn bà này là ai, Hòa là ai. Và tại sao chỉ 2 câu nói của ông nội lại có đến 2 từ dành cho người đàn bà, đầu tiên ông kêu con, sau ông kêu mày.
    Tôi chạy ra đồng gọi ba mẹ về, nhà có khách. Nghe tôi kể ngắn gọn chuyện người đàn bà ở nhà, ba tôi luống cuống dộng cái cuốc bên vệ cỏ định chạy về ngay. Nhưng ông kịp liếc nhìn mẹ tôi, bà đang đứng chết lặng. Mẹ nói: 
    - Anh về gặp chị ấy đi. 
    Ba cứ nấn ná: 
    - Có về thì mẹ mày về luôn, mà thôi, vội chi. 
    Phải tới trưa, cả ba và mẹ tôi mới về tới, khi đó trong nhà đông đủ các cô các chú của tôi đã có mặt.
    Chú Ba bảo tôi phải gọi người đàn bà là dì Nga. Dì Nga là vợ đầu tiên của ba tôi. Trước 75, ba tôi làm trợ lý phiên dịch cho một nhóm lính Mỹ ở miền Nam. Dì Nga lúc ấy cũng làm lặt vặt trong sở Mỹ. Ba gặp dì Nga trong cái sở Mỹ đó.
    Sau 30 tháng tư năm 75, ba tôi đưa dì Nga về quê, nơi ngôi làng miền Trung thuần nông này. Năm sau, dì Nga bồng đứa con trai là cu Hòa mới 7 tháng tuổi trốn đi. Từ đó nhà tôi không hề biết tin tức của dì.
    30 năm rồi, nay dì mới tìm về lại quê chồng. Các cô các chú xúm vào hỏi chuyện dì. 30 năm xa cách khi gặp lại hóa ra cũng chỉ mỗi chuyện nay dì sống ở đâu, làm nghề nghiệp chi. Thực tình tất cả các cô các chú rất muốn hỏi chuyện đứa cháu trai tên Hòa, nhưng ai cũng chỉ gợi chuyện bóng gió, không dám nói thẳng.
    Kể ra, người tên Hòa đó mới là sợi dây thân thích níu kéo, giằng giữ dì Nga với gia đình tôi. Nếu không thì dì cũng chỉ người dưng mà thôi. Vì ba tôi đã lấy mẹ tôi và có đến 3 mặt con trai gái đủ cả.
    Mẹ tôi ngồi dưới bếp, lặng lẽ như một thanh củi khô. Cứ như thể chính mẹ mới là người vừa trở về, ngại ngùng rụt rè lo lắng xa lạ. Các cô các chú, kể cả anh em tôi đều quấn lấy dì Nga bắt chuyện.
    Dì Nga bước xuống bếp gọi mẹ tôi:
    - Dì Bưởi lên đây đi. Sao dì tránh tôi? Hay dì khó chịu khi thấy tôi về? Nói cho dì hay, dì mới là người... cướp chồng tôi nhé. Nên nếu tôi bình thường, thì ít ra dì cũng phải vui vẻ với tôi chứ.
    Tôi thương mẹ, nhưng tôi cũng giận mẹ. Đúng như dì Nga nói, lẽ ra mẹ cần phải niềm nở vui vẻ khi người vợ đầu của ba tôi vừa trở về sau 30 năm. Thái độ của mẹ cũng khiến cho ba tôi khó xử.Ba không dám tỏ vẻ mừng khi dì Nga trở về, sợ mẹ tôi buồn.Ba cứ ngồi ngoài hiên đốt thuốc lá hết điếu này sang điếu khác. Thỉnh thoảng dì Nga liếc mắt ra chỗ ba tôi ngồi, rồi mỉm cười bảo: 
    - Có gì tâm tư lắm đâu mà đốt thuốc hoài vậy ông Bình. Vô nói chuyện chơi.
    Dì Nga là người miền Nam đầu tiên tôi gặp, đúng như người ta hay bảo, dân trong đó sống vô tư thoải mái, ruột để ngoài da. Mọi người hỏi vòng vo đâu đâu nhưng dường như dì Nga đoán ra tất cả đều muốn nghe chuyện về thằng cu Hòa. Dì kể:
    - Khi tôi bồng cháu nó vào lại miền Nam, cũng kiếm được cái lán nhỏ để ở và nhận bán hàng đầu chợ. Lên bốn, một hôm nó chạy về sau nhà chơi thì rớt xuống hồ nước.
    Dì Nga chỉ kể chừng đó về đứa con trai tên Hòa. Chỉ mấy chữ thôi nhưng câu chuyện cách đây 30 năm nhắc lại vẫn thấy rùng rợn. Chừng ấy thời gian, có lẽ đã đủ để nỗi đau trong lòng người mẹ lắng xuống.
    Phải vì thế nên dì kể rất bình tĩnh, không chút cảm xúc buồn bã. Dì không khóc ủy mị như khi người ta thuật lại một câu chuyện buồn có phần lỗi của mình trong đó.
    Nhưng chính cái sự bình tĩnh đó của dì khiến cả nhà tôi nghi nghi. Biết đâu dì đang bịa ra tình huống xui xẻo, chứ thực ra đứa bé tên Hòa vẫn đang sống và là một chàng trai 30 tuổi đời. Vì một lý do nào đó, dì không muốn đưa anh Hòa về quê chẳng hạn.
    Sự nghi ngờ này cứ âm thầm, len lỏi, nhen nhúm dần lên. Các cô các chú cứ rục rịch rỉ tai nhau, bàn cách cố moi thêm thông tin về đứa cháu. Tôi cũng được giao trách nhiệm. Cô Năm bảo tôi: 
    - Mày cố hỏi dì Nga về anh Hòa nhé, có khi anh mày còn sống đấy. Cô nghi lắm.
    Mấy ngày dì Nga ở quê, tôi là người tiếp xúc với dì nhiều nhất. Có mấy chỗ thăm chơi, dì cũng bảo tôi lấy xe máy chở đi. Nhờ vậy tôi được nghe nhiều chuyện của dì hồi ở đây. Mà dì chỉ ở có một năm rưỡi, sau đó lại đi xa gần 30 năm nên kỷ niệm cũng không còn nhớ nhiều. Dì kể lúc theo ba tôi về đây, cảnh làng xóm tiêu điều buồn tẻ. Lúc đó vẫn còn kiểu làm ăn tập thể, dì được xếp vào đội cấy gặt, đội cắt cỏ.
    Mới ngoài 20 tuổi, dì đẹp và thon thả, da dẻ trắng trẻo, ra đồng làm chả được bao nhiêu đã đuối sức. Nghĩ cảnh lao động chân tay này còn dài dài, dì lượng sức không chịu nổi cực nhọc, nên mới bồng cu Hòa bỏ đi.
    Mãi 6 năm sau ngày dì Nga đi khỏi làng, biết khó tìm được dì nên ba tôi cưới mẹ tôi, sinh ra 3 anh em tôi. Chúng tôi lớn lên không hề nghe kể về dì Nga. Bà con thân thích cũng không ai nhắc lại chuyện về người đàn bà miền Nam từng về sống trong ngôi nhà này.
    Tôi vẫn nhớ nhiệm vụ các cô các chú giao phó, nhưng tôi không muốn hỏi thêm dì Nga về anh Hòa. Chuyện nếu kể được, người ta sẽ tự kể, không cần khơi gợi. Mà có khi dì kể hết rồi đấy. Chỉ vì gia đình tôi cần nghe một cái kết khác, lạc quan hơn.
    Tôi chở dì đi loanh quanh chơi. Dì bảo làng xã bữa nay khác quá, đẹp hơn trước nhiều, dì chẳng nhận ra chỗ nào cả. Tôi nói vui: 
    - Hồi đó mà khang trang thế này chắc dì chẳng bỏ đi đâu nhỉ. 
    Dì cú vào đâu tôi: 
    - Thế thì không có cháu đâu.
    Những ngày ở quê chính dì Nga đi chợ, vào bếp chuẩn bị bữa ăn. Vừa làm dì vừa kể hồi trước về đây dì không rành chuyện nấu nướng với lại bếp củi lửa rơm khói um lên, dì toàn bị chê nấu ăn dở ẹc. Bây giờ khác, thậm chí chúng tôi cảm giác dì Nga nấu ăn ngon hơn mẹ tôi. Mấy món ăn nấu theo kiểu miền Nam hơi ngọt, nhưng chúng tôi thích. Cả nhà ăn cơm dì nấu ai cũng khen. Có thể chỉ khen cho dì vui lòng. Mấy chục năm người dâu cả trở về, lại đa công đi chợ nấu nướng, không khen sao đành.
    Mẹ tôi vẫn không tự nhiên được, cứ cố tình tránh dì Nga. Ban ngày mẹ tôi ra đồng, tới bữa về ăn cơm. Buổi tối mẹ ngồi miết trong bếp nấu rau cám cho heo, rồi đổ gạo ra giần sàng hết mẹt này tới mẹt khác.
    Dì Nga lại bảo mẹ tôi: 
    - Dì vui vẻ đi. Tôi chơi mấy bữa rồi vào lại chứ có ở đây đời kiếp đâu mà dì tỏ vẻ. Tôi mà thích ở đây thì hồi đó chẳng bỏ đi làm chi.
    Ba tôi vẫn ngồi đốt thuốc mỗi đêm, thỉnh thoảng đưa mắt nhìn liếc qua hai người đàn bà của đời mình. 
    Một người vợ đầu tiên nay đã trở về hoạt bát nhẹ nhàng như chỉ mới đi chơi loanh quanh đâu đó. Một người vợ sau hơn 20 năm sống với nhau giờ bỗng lạnh lùng im lặng. 
    Dì đi lại tự nhiên trong nhà, nói cười trò chuyện, dọn dẹp lặt vặt, điều đó làm cho mọi người cảm thấy dì gần gũi, chân tình và cuộc sống gia đình không bị xáo trộn gì nhiều. Anh em chúng tôi cố gắng quấn lấy dì, không có chút cảm giác kiểu đó là “bà dì ghẻ”. Đứa út còn rủ dì về đây sống luôn cho vui. Chắc vì nó thích kiểu nấu ăn vừa đậm đà vừa có bỏ đường ngọt của dì.
    Ông nội tôi đã yếu nhưng mắt vẫn nhìn thấy, tai vẫn nghe tinh tường, chỉ không đi lại được thôi. Thế nhưng mấy ngày dì về và nhất là những khi dì ngồi bên giường quạt thì ông nhắm mắt như giả vờ... chết. Đó là kiểu biểu hiện ông đang giận. Lẽ ra cái hôm mới về, dì Nga đừng đáp lời ông vội vàng như thế, tránh cho ông biết chuyện cu Hòa, có khi ông không nằm yên như vậy.
    Ngày chia tay, dì Nga vẫn không khóc. Từ lúc về cho tới lúc đi là 4 ngày, tuyệt nhiên dì không chảy một giọt nước mắt. Dì đến chào ông: 
    - Ông ơi ông tha tội cho con. Tại hồi đó cực khổ quá con làm nông không nổi nên mới phải bỏ đi.
    Ông tôi vẫn nằm yên nhắm mắt như kiểu không nghe không biết không quan tâm. Rồi dì cũng chào các cô các chú của tôi với câu nói cầu xin tha thứ đó. Mọi người hỏi địa chỉ của dì Nga nhưng dì vòng vo lảng tránh. Chắc dì nghĩ rằng nếu có cuộc thăm chơi thì dì là người chủ động về, còn những người ở đây chẳng ai đi tìm thăm dì đâu. Giá như lúc chia tay dì tiết lộ thêm một chút thông tin về cu Hòa, hoặc nếu dì khóc chẳng hạn, chắc cả nhà tôi sẽ dễ chấp nhận chuyện đứa cháu đích tôn của ông nội đã rơi xuống hồ nước thật.
    Sau ngày dì Nga đi, cô Năm bảo: 
    - Dứt khoát thằng Hòa còn sống. Chỉ tại chị Nga không thích cho nó về thôi. Hoặc chị về thăm dò coi nhà này bây giờ sống sao, rồi mới tính chuyện đưa nó về thăm ruột rà chuyến sau cũng nên.
    Mấy lời của cô Năm cũng chỉ suy đoán, nhưng nó như tiếp thêm chút hy vọng cho cả nhà. Dì Nga cũng không cho ai biết địa chỉ nơi dì đang sống, nên chẳng ai biết đường đâu để lần mò tìm kiếm điều tra. Sau cùng các cô các chú bảo việc tìm kiếm đó giao cho tôi, vì tôi còn trẻ có thể đi nhiều được, và đằng nào “anh em nó cũng phải tìm nhau”.
    Ông nội tôi mất. Khi làm đám, cả nhà băn khoăn không biết có đưa tên anh Hòa vào danh sách ghi trong tờ văn sớ không. Nếu anh Hòa còn sống thì mới được đưa tên vào, và tất nhiên anh phải đứng đầu trong đám cháu, vì anh đích tôn.Hỏi ý ba tôi, ba chỉ im lặng suốt buổi chiều. Tất cả mọi người đều muốn đưa tên anh Hòa vào, như một cách tin rằng anh vẫn còn sống đâu đó. Đến tối, lúc vị thầy chủ sám đã đến, ba tôi mới bảo thôi, không cần đưa tên Hòa vào nữa. Không hẳn ông chịu chấp nhận đứa con đầu tiên đã mất, mà có lẽ ba muốn làm cho mẹ tôi đỡ buồn lòng thêm. Cả tên dì Nga cũng không có trong danh sách, dù dì vẫn còn sống.

    ***
    Tôi là người duy nhất biết địa chỉ của dì Nga. Bữa về thăm quê dì đọc địa chỉ cho tôi ghi và không bảo giữ bí mật. Nhưng lúc chép xong dì bảo cất kỹ đi, tôi đoán như vậy tức là dì không muốn có thêm ai khác biết nơi dì đang sống. Tôi giữ bí mật cho riêng mình, dù có vài lần ba tôi, các cô các chú đều hỏi bóng gió xem dì Nga có tiết lộ chỗ ở không.
    Có địa chỉ của dì trong tay, nhưng mãi đến 3 năm sau, khi công ty cử tôi vào miền Nam dự khóa tập huấn ngắn hạn, tôi mới tìm đến nhà dì Nga. Dì sống một mình, ở cái chỗ không quá đông đúc cũng không quá thưa thớt. Tôi xin phép dì được vào phòng thờ thắp hương. Tôi không có ý tò mò, đấy chỉ là lễ nghĩa được ông nội chỉ dạy. Dì đồng ý, còn khen tôi biết sống theo phong tục cổ truyền, đúng là cháu của ông nội.
    Bàn thờ sạch sẽ và thanh tịnh. Chỉ có 2 bát nhang, kèm theo ảnh của hai ông bà mà tôi đoán là các cụ thân sinh dì. Tôi ngó quanh, không thấy còn bát nhang nào nữa.
    Nếu anh Hòa mất, thì phải có một bức ảnh hoặc chí ít là một cái bát nhang ở phòng thờ này chứ. Tôi có chút nghi ngờ, có lẽ như cô Năm từng nói là anh Hòa vẫn còn sống. Nghĩ vậy nhưng tôi không dám hỏi dì.
    - Con vào được đây thăm dì thật quý. Dì nghĩ con là một người đàn ông độ lượng, rồi đây đứa con gái nào lấy được chắc hạnh phúc lắm.
    - Dạ. Con đi công tác, tiện đường thăm dì luôn cho biết chỗ. Dì cũng như... mẹ của con thôi.
    - Làm kỹ sư mà ăn nói khéo thế. À, mà kể ra giữa dì và con đâu có mối quan hệ thân thích ruột rà gì đâu, đúng không?
    Câu nói có vẻ hơi phũ phàng nhưng cả hai dì cháu bật cười vui vẻ. Dì lấy tập album ảnh, lật lật rồi rút một bức đưa tôi xem. Trong hình cặp vợ chồng và đứa con trai kháu khỉnh. Người chồng chừng 30 tuổi.
    - Vợ chồng Hòa đó con. Chúng nó ở trên Sài Gòn làm ăn. Cuối tuần, hoặc muộn nhất là 2 tuần là về đây chơi với dì.
    Tôi lặng người đi, rồi gờn gợn nhớ lại hình ảnh từng tưởng tượng: một đứa bé vùng vẫy dưới nước. Chắc hẳn các cô các chú của tôi cũng từng tưởng tượng như vậy. Hóa ra chẳng có đứa trẻ nào đuối nước cả. Vậy là dì Nga đã nói dối cả gia đình tôi. Anh Hòa vẫn đang sống sờ sờ đây. Tại sao dì lại đi nói dối chuyện tày trời như vậy được. Tôi mừng thầm, mình vẫn còn một người anh cùng cha. Và chắc cả nhà tôi ngoài quê sẽ vui lắm khi biết tin này. Tôi mân mê bức ảnh, săm soi khuôn mặt anh Hòa. Nhưng, tôi chả thấy giữa anh và tôi có nét nào giống nhau cả.
    - Dì biết con độ lượng nên mới cho con biết tin này. Thứ lỗi cho dì trước đây phải nói dối. Nhưng dì có chuyện khó nói, nên chẳng đặng đừng mới phải bảo thằng Hòa nó mất rồi. Thực ra... Hòa không phải con của ba Bình.
    Tôi hơi choáng. Niềm vui biết tin anh Hòa còn sống đã bị dội một gáo nước lạnh.
    - Dì không cố ý lừa cả nhà đâu. Dì thương ba Bình của con thật lòng. Dì theo ba con về quê lúc đang mang thai và nghĩ là con của ba Bình thật. Chỉ đến khi cu Hòa hơn một tuổi, ngó cái nét mặt dì mới biết là con một người khác ở trong sở Mỹ. Dì thấy xấu hổ nên mới phải bỏ quê mà đi, chứ việc đồng áng làm ăn tập thể, dì tuy yếu ốm nhưng đâu có ngại.
    Đúng như dì nói lúc nãy, giữa tôi và dì Nga đâu có mối quan hệ thân thiết gì. Hóa ra lâu nay sợi dây mà cả gia đình tôi cố gắng nối với dì là một sợi dây bị đứt. Chỉ có dì thấy được chỗ đứt. Còn cả nhà tôi vẫn tưởng dây lành, và khi vớ được sợi dây, mọi người nghĩ lần theo đó sẽ hàn gắn lại được.
    Tôi không ở lại chơi thêm hai ba hôm để đợi anh Hòa về gặp nhau. Dì Nga cũng không níu giữ thêm nữa. Chắc dì cũng linh cảm cái sợi dây đứt đó, nó đã bị buông thật rồi. Tôi chỉ ăn với dì một bữa cơm trưa đạm bạc, để cả dì cả tôi đều cảm thấy dễ chịu hơn.
    Tôi cũng không có ý định, và chắc chắn không bao giờ tiết lộ chuyện này với gia đình mình. Cứ để ba tôi và các cô các chú đinh ninh anh Hòa còn sống, hoặc đinh ninh anh Hòa đã chết nhưng vẫn là máu mủ gia đình, như thế hay hơn.
    Chiến tranh đi qua đất nước này, dù đó là nơi bình lặng nhất, nơi không có bóng đạn bom, thì vẫn để lại những nỗi đau. Không nên biết nhiều, và không nhắc lại có khi hay hơn. Đúng như câu nói của dì Nga lúc tiễn tôi: “Có nhiều chuyện trong sở Mỹ con không biết đâu. Và cũng không nên biết làm gì”.
    Hoàng Công Danh
Tình rớt
  • Sau một tháng nằm bệnh viện vì bị đột quỵ, hôm nay anh được bác sĩ cho xuất viện.
    Cả tháng vừa rồi vợ anh cặm cụi chăm sóc anh ngày đêm, bóp chân bóp tay, đẩy xe lăn đưa anh đi tập vật lý trị liệu... nên giờ anh mới nhúc nhắc đi được. Quái lạ, mọi ngày mới 6 giờ đã thấy chị mang vác đủ thứ vào mà giờ hơn 10 giờ cũng chưa thấy bóng dáng đâu. Anh cứ ngồi ngây ra chờ cho đến lúc có người vỗ vai anh, là cô em vợ:
    - Anh làm thủ tục xuất viện rồi về, chị em không vào nữa, chị ấy gửi thư cho anh này.
    Anh từ từ mở lá thư ra. Chị viết:
    “Gửi anh, người sắp là chồng cũ của em.
    Khi anh nhận được thư này thì em đã bay rồi, em sang Úc thăm con và dự tính sẽ ở lại lâu với nó.
    Vợ chồng chúng mình đã có bao nhiêu ngày tháng ngọt ngào, hạnh phúc bên nhau cho đến cách đây 10 năm em bước vào giai đoạn mãn kinh và mắc rất nhiều bệnh. Tệ nhất là em mắc bệnh phụ nữ, phải điều trị rất lâu dài. Thay vì động viên, an ủi, cùng em vượt qua giai đoạn khó khăn nhất của đời người, thì anh trở nên dằn hắt, chửi chó, mắng mèo rồi nói những lời khó nghe. Bản thân anh bị huyết áp cao và bệnh tim nhưng anh bỏ qua tất cả, tối ngày bắt đầu lê la ở vũ trường với các cô bạn cũ, bạn mới. Anh có biết mỗi lần anh sửa soạn quần áo, đầu tóc đỏm dáng, miệng lẩm bẩm mấy câu thơ của Olga Becgon: Nhưng ta nhớ, trời ơi ta vẫn nhớ
    Tình yêu đâu... Rừng lặng, bóng sao im. Là tim em như có ai lấy dao cứa vào. Anh cũng muốn bùng cháy lên lần cuối với những cô bồ anh cặp ở vũ trường. Có lần một người bạn thân của em kể cho em nghe rằng anh đi tâm sự với tất cả bạn bè là đến giờ anh mới biết thế nào là tình yêu đích thực. Vậy ai là người đã cùng anh đi qua những năm tháng khó khăn nhất của cuộc đời, cùng anh chăm sóc cha mẹ già, cùng anh nuôi dạy hai đứa con khôn lớn, công thành danh toại, cùng anh làm quần quật hàng chục năm để có nhà lầu, xe hơi sang trọng...? Có lẽ nào 40 năm về trước anh theo đuổi em suốt hơn 3 năm em mới nhận lời, thì chỉ là phù du, bèo bọt sao? Chỉ có sự thỏa mãn xác thịt mới mang lại tình yêu đích thực cho anh?
    10 năm nay em sống vật vờ bên cạnh anh mà tâm hồn đã chết lặng. Anh mải chơi bời, anh có bao giờ nhận thấy những cơn đau nhức của em khi trái gió trở trời?!! Đó là hậu quả của những lần sinh nở không được kiêng cữ, con mới có mấy ngày đã gượng dậy làm việc nhà, cùng anh kiếm tiền. Anh có bao giờ để ý mới 60 tuổi mà tóc em đã bạc trắng, phải nhuộm thường xuyên không?
    Tháng trước khi em nhận được điện thoại người ta gọi báo anh bị đột quỵ ở vũ trường, em cứ đinh ninh là bồ của anh sẽ chăm sóc anh nhưng không ngờ cả tháng trời chỉ có mình em sớm tối vào ra bên cạnh anh.
    Em gửi kèm theo thư là đơn ly hôn. Coi như mình không còn duyên nợ với nhau.
    Em từ giờ trở đi sẽ được sống cuộc sống đúng nghĩa, không còn phải đóng vai vợ chồng khắng khít khi ra ngoài đường nữa.
    Chúc anh hạnh phúc trên đoạn đường tiếp theo không có em!
    Đọc xong thư chị, anh ngồi chết lặng. Anh cứ ngỡ mỗi lần đi chơi về bao giờ chị cũng để phần cơm canh chu đáo. Nhà bao giờ cũng sáng đèn đợi anh về. Trải qua lần bệnh nặng này anh mới thấm thía không có ai tử tế, tốt bụng như chị.
    Tiếc rằng khi anh biết quay đầu thì đã mất chị vĩnh viễn.
    Có không biết trân trọng, mất ráng chịu, đừng tìm!

    Chu Thị Hồng Hạnh



--
====================================================================
Trên Facebook :
http://www.facebook.com/DaiHocKhoaHocSaiGon
====================================================================
 
Bạn đã nhận được bài viết này vì bạn đã đăng ký vào Nhóm "KhoaHocSG" của Google Groups.
* Để đăng bài lên nhóm này, hãy gửi email đến "khoa...@googlegroups.com"
* Để RÚT TÊN ra khỏi nhóm này, gửi email đến "khoahocSG+...@googlegroups.com"
* Để có thêm tuỳ chọn (preference set up), hãy truy cập vào nhóm này tại: http://groups.google.com/group/khoahocSG?hl=vi
---
Bạn nhận được thư này vì bạn đã đăng ký vào nhóm Google Groups "KhoaHocSG".
Để hủy đăng ký khỏi nhóm này và ngừng nhận email từ nhóm, hãy gửi email đến khoahocsg+...@googlegroups.com.
Để xem cuộc thảo luận này, hãy truy cập vào https://groups.google.com/d/msgid/khoahocsg/MN2PR02MB6592A6B474E58D4BDF44AEE7FC7DA%40MN2PR02MB6592.namprd02.prod.outlook.com.
Reply all
Reply to author
Forward
0 new messages