NGÀY VỀ TỪ NÚI RỪNG HIỆP ĐỨC
Chiếc xe đò liên tỉnh chậm rãi rời bến Thăng Bình, quẹo trái trên quốc lộ 1 rồi ngược bắc, chạy về hướng Đà Nẵng. Quang cảnh ven đường không có gì khác lạ sau một năm thay đổi chủ, nhưng có vẻ lắng trầm hơn xưa, khi xe cộ thưa thớt và không còn cảnh tất bật cuối ngày như trước đây. Nắng xậm màu. Chiều đang xuống chậm. Gió lùa vào xe, rười rượi mát. Chúng tôi lại im lặng. Từ lúc chia tay với Trần Ngọc Dũng, chúng tôi càng thêm ít nói mặc dù trong lòng đang ngổn ngang mấy nỗi. Anh em Nguyễn văn Bôn, Nguyễn Văn Tài thiu thiu nhắm mắt; còn tôi thì nhìn bâng quơ ra phía trước, lòng nao nao một cảm giác vui, buồn lẫn lộn.
Khi rời khỏi trại tù của núi rừng Hiệp Đức, chắc chắn người nào cũng nhận vài mảnh giấy nhắn tin, nhờ chuyển cho gia đình hay thân nhân của bạn bè và chiến hữu đồng cảnh còn ở lại. Tôi trở ra Đà Nẵng, thay vì cùng với anh bạn tù gốc Tiểu Đoàn 2 Trâu Điên TQLC xuôi nam, là để trao thư của anh rể một người bạn cho vợ con anh ấy và thăm lại thành phố mà tôi gắn bó hơn một năm trước, khi đơn vị tức tưởi tan hàng.
Vừa vào tới Đà Nẵng đã thấy bóng dáng u hoài của một thành phố đô hội, mới một năm trước còn là biểu tượng về nhiều mặt của miền nam tự do. Cảm giác nôn nao chợt biến thành tâm trạng não lòng, khi xe quẹo phải trên ngã ba Huế và rồi lại càng ray rứt hơn, khi chiếc xe đò chậm rãi lướt qua khu cư xá Đoàn Kết và ngã ba Cây Lan trước khi vào bến. Sinh hoạt tại bến xe đã không còn mang dấu vết của thời phồn thịnh. Bây giờ mọi thứ đều như uể oải và gượng gạo mặc dù hôm nay, 20/02/2975, là ngày thứ Bảy. Ngày của những háo hức và náo nhiệt trong sinh hoạt cuối tuần của một năm trước đây, đã nhường chỗ cho khung cảnh ảm đạm đến mức tội nghiệp.
Tôi chia tay với anh em Tài, Bôn sau lời hẹn gặp lại tối nay tại góc đường Nguyễn Thái Học và Hùng Vương rồi rảo chân hướng về Cầu Vồng để qua đường Nguyễn Hoàng. Bước chân tưởng chừng như hăm hở bỗng dưng trì trệ rất lạ thường. Đi tới đâu cũng thấy lá cờ đỏ sao vàng treo đầy đường và loa phát thanh ở mọi khu phố, đều cho nghe những giọng điệu tuyên truyền có bài bản y hệt nhau.
Bỗng dưng quang cảnh phố phường trở thành nhạt nhòa và lắng đọng như trong một khúc phim chiếu chậm. Âm thanh nghe như vọng lại từ một nơi rất xa xôi nào đó, còn màu sắc thì nhòe nhoẹt như đang chập chờn trước mắt. Tôi có cảm giác như thời gian đứng lại khi ánh mắt dõi theo từng nhân ảnh, hay lặng nhìn cảnh vật lần lượt diễn biến thật chậm ngay trước mặt. Chân bước mà lòng nặng như treo đá. Vật đổi, sao dời, nên lòng người cũng chùng theo nghịch cảnh!
Đúng là bước chân vô hồn! Vì từ lúc nào không biết, tôi đã thấy mình đứng ngay trước căn nhà mang số 47 trên đường Nguyễn Hoàng. Đây là nhà của chị Nhạn, là chị Cả của Võ Đại Quảng, bạn tôi; hiện còn "trả nợ quỷ thần" trong Trại 2, cũng thuộc Tổng trại 1 trong vùng Hiệp Đức. Cổng không cài then, nên tôi thư thả bước qua khoảng sân nhỏ - lúc trước trông rất đẹp mắt vì được chăm sóc cẩn thận - bây giờ đã xác xơ cây cảnh. Chưa gõ thì cửa nhà đã mở. Chị Nhạn bước ra, trố mắt nhìn tôi, giọng run run:
- Đúng là em rồi. Mừng quá! Vào nhà rồi hãy nói!
Tôi bước vào trong là nhận ra ngay sự trống trải của phòng khách. Bắt được tia nhìn của tôi, chị Nhạn cười buồn:
- Phải bán bớt những thứ không cần thiết thôi em. Cứ vậy mà đắp đổi qua ngày. Khi nào anh Dũng về thì tính sau.
Tôi đưa chị Nhạn lá thư của anh Dũng. Chị nhận, nhưng không đọc ngay, chỉ đặt thư trên bàn rồi liên tục hỏi thăm về sức khỏe và tinh thần của chồng mình, cùng những chuyện liên quan tới cảnh lao động khổ sai trong lao tù cộng sản.
- Nó lì lắm. Chị Nhạn chắc lưỡi khi nhắc tới Quãng. Thư gởi về cho ba mẹ chị lúc nào cũng chỉ có mấy chữ "... Con vẫn khỏe. Nhờ ơn cách mạng nên con được lao động đều đều, được theo dõi, chiếu cố và chăm sóc rất tận tình. Ba mẹ đừng lo cho con!" Kiểu nó viết như vậy ai mà không lo lắng. Mẹ chị cứ đòi đi thăm. Ba và chị cản muốn hết hơi, mẹ mới xiêu lòng đó em!
Hàn huyên một lúc, chị Nhạn đưa tôi qua phòng của Quảng. Mọi thứ đều như lúc chúng tôi nằm đốt thuốc, nghe nhạc cho qua ngày giờ khi Đà Nẵng lọt vào tay cộng sản, ngoại trừ mấy tấm ảnh của bạn chụp lúc còn trong quân trường và khi ở ngoài đơn vị là...
- Chị đã cất giấu kỹ lắm! Mọi thứ hình ảnh và giấy tờ khác của anh Dũng cũng vậy. Kỷ niệm mà em!
Chị Nhạn khẳng khái nói ngay, rồi tiếp:
- Đêm nay ở lại đây nghe em. Út Hương và hai cháu gặp em thì sẽ mừng lắm!
Tôi dạ, rồi cho biết là cần phải qua Trần Cao Vân để thăm gia đình Trần Hiền, cũng là bạn học cùng lớp của Quảng trước khi vào lính.
- Thì em cứ đi. Nhưng nhớ về ăn cơm tối với chị và mấy cháu nghe!...
Con đường qua Tam Tòa không xa, nên chân bước không mấy chốc đã đến trước tiệm ảnh khiêm nhường không có bảng hiệu tại số 38 Trần Cao Vân. Đây là nhà của gia đình Trần Hiền, bạn cùng Khóa 8 CTKD trên Đà Lạt, kiêm Đồng Môn quân trường tại Đồng Đế. Bạn cũng là chiến hữu Mũ Nâu, phục vụ tại Tiểu Đoàn 21/ LĐ12 BĐQ. Thuận, cô em kế của Trần Hiền vừa gặp là đã buông giỏ đi chợ, để ôm choàng lấy tôi mà khóc, rồi mới kéo vào nhà.
Nhìn ba mẹ của Trần Hiền mà thấy nhớ ba má tôi quá đỗi. Gia cảnh và hoàn cảnh của chúng tôi giống nhau như khuôn đúc. Chúng tôi đều là anh cả, đều dấn thân để đứa em trai được hoãn dịch gia cảnh và đều có em gái kế đã lập gia đình. Chỉ khác một điều là Ngoạn, chồng của Thuận làm nghề chụp ảnh, mở tiệm ngay trong nhà ba mẹ vợ, còn cô em kế của tôi ở bên nhà cha mẹ chồng và em rể tôi làm trong bộ Tư Lệnh Hải Quân.
Gia đình bạn xem tôi như con, như một người anh cả. Những ngày chờ bị lùa đi "cải tạo" thì tôi tá túc ở đây. Còn Trần Hiền, khi theo bộ chỉ huy BĐQ/ QĐI&QK1 di tản vào tận Sài Gòn, đã đến ở với gia đình tôi cho đến khi cả nước rơi vào tay cộng sản. Ngay sau ngày CSBV chiếm trọn miền Nam, bạn tôi từ Sài gòn tìm cách trở về Đà Nẵng, để rồi bị gom vào một trại lao động khổ sai nào đó trong vùng núi Tiên Phước của tỉnh Quảng Tín.
Mọi người đều có mặt để cùng tíu tít hỏi thăm nhau về tình hình sinh hoạt trong một năm qua. Câu chuyện hàn huyên sau đó dẫn đến những thở than về hoàn cảnh hiện tại và lòng tưởng tiếc thời vàng son của nền cộng hòa son trẻ. Qua gia đình bạn, tôi được biết cuộc sống hiện tại chỉ toàn là những phập phồng trong lo nghĩ về tương lai vô định. Cộng thêm những cặp mắt cú vọ cứ rình rập ngày đêm của an ninh khu vực, hoặc của đám cờ đỏ "ăng ten", càng làm dân chúng thêm im hơi, kín tiếng và đâm ra nghi ngờ tất cả những ai không phải là thân thuộc hay họ hàng.
- Người già như hai bác còn dễ thở một chút, chứ như mấy đứa nhỏ như thằng Nam hay con Vy thì hầu như tối nào cũng bị kêu đi sinh hoạt thanh niên để bị tụi nó nhồi sọ và tuyên truyền!
Mẹ của Trần Hiền chép miệng thở dài sau câu nói. Ngoạn, em rể của Thuận cũng không dấu nỗi ưu tư khi nói đến việc sinh nhai của gia đình. Trước đây, tiệm hình của hai vợ chồng có thu nhập đủ để lo cho cả nhà. Bây giờ, việc chụp ảnh đã trở thành một sinh hoạt trưởng giả không hơn, không kém; nên cũng như chị Nhạn, cả nhà bạn tôi phải thường xuyên thắt lưng, buộc bụng và những thứ còn giá trị đều lần lượt ra khỏi cửa để có tiền đong gạo...
Tôi rời nhà Trần Hiền mà trong lòng muộn phiền quá đỗi. Chia tay hôm nay biết mai này còn có dịp gặp lại gia đình của bạn nữa hay không!? Bước chân tư lự đưa tôi qua Ông Ích Khiêm rồi vòng xuống Chợ Cồn. Hãy còn sớm để về nhà ăn cơm tối với chị Nhạn, nên tôi chợt nảy ra ý định lên xe Lam về Hòa Khánh, để vào thôn Phú Lộc thăm lại doanh trại của liên đoàn 12 BĐQ cùng chiếc quán có tên Hương Xưa - nằm ven quốc lộ 1 - vốn là nơi gặp gỡ của những tâm hồn văn nghệ không phân biệt màu áo trận của xã Hòa Minh và chi khu Hòa Khánh.
Đang còn rảo bước giữa đám đông xuôi ngược, thì có người bỗng chắn ngang trước mặt, nhìn tôi một thoáng rồi reo lên, giọng mừng rỡ:
- Đúng là ông rồi!
Tôi nhận ra ngay Qúy "đen", người khinh binh kỳ cựu của Đại Đội 3, Tiểu Đoàn 37 BĐQ. Đúng là anh chàng có nét da sậm màu như dân Nam Mỹ mà anh em trong đơn vị đặt cho biệt danh "cột nhà cháy".
Anh chàng cũng là người đã từng thoải mái "đệm" một tiếng, rồi phán ngay một câu xanh dờn: "... Nhìn tướng nhỏ xíu con như vậy thì lính nào sợ ông chứ?! Đã vậy lại còn cận thị nữa thì làm sao đánh đấm!?..." Hôm đó là ngày tôi nhận trung đội tại Phong Thử, quận Điện Bàn, một ngày đông giá rét của Quảng Nam cuối năm 1973.
Chưa kịp nói gì thì Qúy "đen" đã một tay dắt chiếc xe đạp, tay kia kéo tôi vào con hẻm gần đó, vừa đi vừa nói:
- Vô nhà cái đã. Ngoài này không tiện nói nhiều. Gặp lại ông thiệt là mừng quá!
Đến lúc này tôi mới nhận ra khu phố khiêm nhường nằm ngay bên cạnh Chợ Cồn và con hẻm có khá nhiều nhánh len lỏi chằng chịt qua những con đường lân cận. Xóm lao động sau một năm xáo động theo thời vận không có gì thay đổi. Vẫn là những ngôi nhà nhỏ, thấp, nằm san sát nhau như thể cần phải nương nhau mà sinh tồn. Buổi chiều. Hẻm nhỏ. Người lưa thưa qua, lại trong xóm. Dường như ai nấy còn đang tất tả mưu sinh đâu đó nên nhà nào cũng có vẻ vắng lặng và...ảm đạm.
- Bà xã và con gái em còn buôn bán ngoài đó. Lát nữa mới về.
Qúy "đen" vừa rót nước, vừa nói.
- Thôi đừng xưng em nữa anh Quý! Dù sao anh cũng lớn tuổi hơn tôi...
- Quen rồi thiếu úy! Lính mà! Xưa hay nay cũng vậy thôi!
- Nhưng nay thì khác. Anh gọi như vậy kẹt cho tôi.
- Tôi hiểu rồi! Vậy thì gọi bằng anh! ...Anh mới "về" phải không?
- Mới "về" hôm nay.
Tôi đáp, rồi kể sơ cho người thuộc cấp cũ những gì xảy ra cho tôi sau khi mất Đà Nẵng và những truân chuyên trên núi rừng Hiệp Đức. Khi hỏi thăm về những đồng đội thuộc Tiểu Đoàn 37 BĐQ và tin tức của những vị khác trong Liên Đoàn 12 BĐQ, thì Qúy "đen" lắc đầu, thở dài:
- Những ngày cuối, lúc từ Quảng Tín rút về, tôi có thấy anh ghé qua hậu cứ, nhưng chưa kịp chào hỏi thì ông và thiếu úy Vân kéo nhau đi nhậu mất tiêu. Lúc đó đại úy Vương của mình đã nằm trong bệnh viện Duy Tân còn Đại Đội 3 thì do một ông bên Liên Đoàn đưa qua chỉ huy, chứ không phải Thiếu Úy Lợi của mình lên thay.
Qúy "đen" thở dài rồi nói tiếp:
- Mấy ngày đó lộn xộn lắm! Mạnh ai nấy vọt về lo cho cho gia đình. Thậm chí ở nhà luôn. Cả năm qua tôi không gặp lại ai. Sĩ quan thì khỏi nói! Mấy ông bị tụi nó gom bi cả rồi. Sau khi mình tan hàng thì mấy đứa độc thân như thằng Thanh "máy" và tà lọt của ông là Hồ Viết Sành cũng biệt tăm. Chắc là tụi nói về quê làm ruộng, làm rẫy. Ở lại đây chỉ có nước chết đói. Mấy đứa như tôi - dân Đà Nẵng này - thì ai có gia đình là phải chạy gạo đầu tắt mặt tối. Cái gì cũng làm hết! Đan mây tre, phụ hồ, phụ mộc, đạp xe thồ hay khuân vác mệt nghỉ. Nhưng gần đây, tôi bon chen ngoài chợ trời. Hai mẹ con nó thì bán cà phê vỉa hè và thuốc lá lẻ ở đầu chợ, trên đường Hùng Vương. Nhờ Trời cũng đắp đổi qua ngày!
Đến đây thì Qúy "đen" chợt reo lên:
- Phải rồi! Để tôi gọi mẹ nó về sớm làm cơm ăn! Bả gặp lại thiếu...Chắc sẽ mừng ghê lắm.
- Thôi đừng!
Tôi cản anh ta lại rồi kể chuyện có hẹn với hai anh em Bôn, Tài, rồi chuyện chắc chắn phải cho gia đình Trần Hiền leo cây vì không có nhiều thì giờ để đáp trả thạnh tình của hai, ba nơi cùng một lúc. Đặc biệt là lời hứa với chị Nhạn. Sau cùng, tôi cũng không giấu ý định muốn ra Chợ Cồn đón xe Lam vào Phú Lộc thăm lại doanh trại cũ của Liên Đoàn 12 Biệt Động Quân.
Nghe vậy, Qúy "đen" trợn mắt:
- Vào đó làm gì nữa! Đã thành doanh trại của đám nón cối lâu nay rồi ông ơi! Đi làm gì cho mất thì giờ. Chỉ thêm bực mình, tức tối thôi!...Mẹ! Khi không mất nước ngang xương!
Thấy tôi im lặng, anh ta đứng bật dậy:
- Ông ở nhà chờ nghe! Tôi ra gọi mẹ con nó về ngay.
Tôi cản anh ta lại:
- Không được đâu anh Quý. Tôi có hứa về ăn tối với...
- À! Tui quên!
Qúy "đen" ngắt lời tôi, rồi nói tiếp:
- Thôi thì như vầy! Tôi chở ông ra chỗ hai mẹ con nó, rồi qua Nguyễn Hoàng để ông báo tin. Ăn tối với tôi xong, ông đi gặp bạn cũng chưa muộn. Vậy đi nghe!?
Tôi chỉ có nước gật đầu khi biết mình không thể từ chối thạnh tình của người đồng đội cũ. Nhưng khi đến trước cổng nhà chị Nhạn thì đột nhiên Qúy "đen" nói:
- Hay là ông về nhà tui đêm nay đi! Gần bến xe hơn. Chỗ này hơi xa đó!
Tôi chưa kịp trả lời, thì Út Hương đã từ trong nhà ra cổng chào đón, rồi nói ngay:
- Chị Nhạn vừa đi mua mấy món gì đó với hai chị bạn, để sáng sớm hai chị ấy lên Hiệp Đức thăm nuôi. Đêm nay họ sẽ ở lại đây. Chị có dặn em là hai anh em mình và các cháu ăn cơm trước.
Trong tích tắc, tôi quyết định ngay:
- Anh gặp bạn cũ cùng đơn vị, nên cũng muốn về nói cho chị Nhạn biết là đêm nay anh sẽ ở lại nhà anh ấy cho tiện. Út nói lại với chị Nhạn dùm anh nghe!
Cô em của bạn tôi tròn mắt, ngạc nhiên, nhưng rồi cũng nở nụ cười thông cảm. Sau mấy chữ cáo lỗi để lại trong phòng của Quảng và vò đầu hai đứa cháu của bạn, là tôi vác ba lô ra cổng, lòng thầm áy náy khi phải phụ lòng của những người đã coi mình như thân thuộc. Qúy "đen" cũng làm tôi thật cảm động khi anh chàng mừng rỡ ra mặt. Tình đồng đội đến lúc này vẫn thắm thiết làm sao! Tháng 3, Đà Nẵng thường trở lạnh vào buổi chiều tối nhưng hôm nay thì ấm áp lạ thường...
...Ra khỏi nhà Qúy "đen" thì trời đã tối. Bữa cơm đạm bạc nhưng thân tình với gia đình người lính cũ làm tôi cảm động. Phải nén lòng thương cảm mấy lần mới khỏi ứa nước mắt. Thứ Bảy thường là ngày buôn may, bán đắt trong mọi thời kỳ, nhưng Qúy "đen" và cả nhà đã không màng chuyện bạc tiền ngay khi đang tất tả mưu sinh để đãi tôi một bữa cơm đầy ắp tình huynh đệ, nghĩa chi binh. Người khinh binh cứ luôn miệng nhắc chuyện tôi làm văn nghệ Tết cho đơn vị hai năm trước, còn chị Quý thì kể chuyện cô nữ sinh đệ nhị ban C bên kia rào thường hỏi thăm "Anh chuẩn úy ấy bây giờ ra sao!"
Chị cười thật dòn:
- Ông Qúy đây là bạn thân của anh nó mà nó không hỏi câu nào! Cứ luôn miệng nhắc tới anh không hà!
Bé Tâm thì "Con hết thèm ăn kem rồi chú ơi!", làm tôi nhớ tới trung sĩ Cao Kim Rắc, người tiểu đội trưởng khinh binh đã hy sinh tại Suối Đá, Tiên Phước - vốn chơi rất thân với Qúy "đen" - thường ghé qua thăm và dẫn bé Tâm đi ăn kem mỗi khi đơn vị về hậu cứ dưỡng quân...
Vừa đi vừa suy tưởng nên chẳng mấy chốc đã ra tới chỗ hẹn với Bôn và Tài. Hai bạn đồng cảnh đã chờ sẵn ngay ngã tư trước rạp xinê TrưngVương. Sau vài câu hỏi thăm nhau về buổi chiều đầu tiên được nhìn lại phố thị, là câu chuyện tâm tình trong chiếc quán cà phê, ngay cạnh khách sạn Trung Nam. Vẫn chỉ là chuyện của những ngày lao động khổ sai, những buồn, vui và nhẫn nhục để sinh tồn; cùng những kỷ niệm đã có với nhau suốt từ Hội An, qua Hòa Cầm và sau cùng là trên trại tù Hiệp Đức.
Nhìn chung quanh rồi hướng tầm mắt ra ngoài phồ, chúng tôi ngao ngán lắc đầu khi đường xá vắng tanh mặc dù trời mới vừa sụp tối. Mới ngày nào Đà Nẵng sầm uất và linh động bao nhiêu, thì ngày nay tối tăm và buồn bã bấy nhiêu. Thành phố sau một năm thay đổi chủ đã trở thành một con bệnh xanh xao, hom hem, vàng vọt gần như vô hồn. Ánh mắt dành cho nhau lúc nào cũng mang dáng vẻ dò xét. Lời nói chỉ vừa đủ cho người ngồi quanh chiếc bàn con trao đổi cho nhau nghe.
Trong số những người đang im lặng rít từng hơi thuốc lá, hay xì xào câu chuyện, ai là tai mắt, là ăng ten của chế độ mới!? Ai trong số những người qua lại trên đường là những "con bò vàng" cải trang thành thường dân?! Có phải vì chúng tôi chẳng khác gì loài thú bị thương nên nhìn đâu cũng có cảm giác hay nghi ngờ chung quanh mình đều là công an, hoặc là đám "30 tháng 4" từng mang băng đỏ chạy khắp phố, để tước súng và trả thù Quân - Cán - Chính của Việt Nam Cộng Hòa mới một năm trước đây?
Những lời dặn dò của chị Nhạn, của gia đình Trần Hiền và của "Qúy đen" về sự thận trọng trong lời nói và hành động khi ra phố, làm tôi ngao ngán cho thân phận của một tù tàn binh vừa ra khỏi nhà tù nhỏ, để bước vào ngục tù bao là hơn và phức tạp hơn rất nhiều. Bôn và Tài có lẽ cùng chung một tâm trạng nên sau khi rời khỏi quán một đoạn khá xa, chúng tôi mới kín đáo và lặng lẽ chúc nhau mọi sự an lành sau cái bắt tay thật chặc.
Còn lại một mình tôi rả chân thả bước mà lòng xa vắng hơn cả phố phường đã bắt đầu lắng đọng dù chưa đến 9 giờ tối! Qúy " đen " chờ đón tôi ngay đầu hẻm. Thật ấm lòng làm sao khi nhìn thấy nụ cười trên mặt người đồng đội cũ!
- Tui định vào lấy xe chạy tìm ông. Thời buổi này đi khuya quá không tốt!
Khuya! Chỉ mới một năm trước đây thôi, thì giờ phút này chỉ là khoảng thời gian khởi động cho nhịp sống về đêm của thành phố lớn thứ nhì của miền Nam này. Bây giờ chỉ mới 9 giờ tối là ai nấy đã không muốn ra khỏi nhà. Bởi không ai muốn mình trở thành đích ngắm của những cặp mắt cú vọ luôn rình rập đó đây. Cũng không ai muốn nhìn thấy bóng dáng của loài ngạ quỷ lầm lỳ ôm súng ngược xuôi, khi bóng tối bắt đầu phủ trùm lên thành phố như chỉ đang gượng sống.
Tôi bất giác thở dài rồi hỏi Qúy "đen":
- Có cần trình giấy tờ cho phường, khóm gì không?
Anh chàng lắc đầu:
- Không cần đâu! Tụi nó ít khi léo hánh vào trong xóm này lắm! Anh cứ yên tâm.
Lại thêm một màn cà phê, thuốc là và những tâm tình vụn vặt quanh chuyện chiến đấu trước đây. Sau khi tức tưởi tan hàng mới thấy nghĩa tình của Lính dành cho nhau thật khắn khít biết bao!
- ...Mẹ! Hồi đó nhìn thấy ông, đứa nào cũng than là ông giống như thầy giáo hoặc...Xin lỗi! Giống như dân xì ke gì đâu!
Chàng khinh binh thoải mái cười xòa, lại văng tục một phát rồi mới nói tiếp:
- Không có thằng nào sợ ông cả! Nghe lệnh rồi thi hành chứ trong bụng thì tụi này chỉ ngán Thượng Sĩ Trữ và sau đó là ông Trung Sĩ I Thái mà thôi! Nói ông đừng giận! Thằng nào cũng chê ông ốm nhom ốm nhách. Còn cặp mắt kiếng thì dày cộm như vậy thì đánh đấm cái nỗi gì!?
- Tôi biết! Không phải chỉ có một mình mấy anh đâu! Cả thiếu tá Gio lúc đầu cũng không tin tưởng tôi và cũng nói y chang như mấy anh. Chỉ có đại úy Vương của bọn mình hiểu rõ tôi mà thôi!
- Nhưng mà tụi nó thương ông lắm! Nhứt là khi ông đem đồng hồ đi cầm để có tiền đãi nguyên băng Sài Gòn ăn Tết. Rồi còn cái vụ văn nghệ mừng Xuân nữa. Cười chảy nước mắt luôn!
Tôi cũng cười khi nhớ đến chuyện dân tác chiến mà phải lấy văn nghệ, để chiếm cảm tình của đơn vị và thuộc cấp. Qủa là hình dáng bên ngoài của tôi không hề xứng hợp với mẫu người vào sinh, ra tử và nhứt là phải chỉ huy những gương mặt "ngầu hầm" của một trung đội Biệt Động Quân. Thậm chí cả gia đình tôi, từ ba má cho đến các em không ai tin là tôi đã suýt chết mấy lần "Nó cận thị như vậy mà cho chỉ huy thì lính chết hết còn gì?" Chắc họ chỉ cho nó làm việc ở văn phòng thôi!"
Má tôi đã tin chắc như vậy đó!
Câu chuyện quanh ngọn đèn dầu cứ thế mà lan dần qua những người đã đền xong nợ nước, hay đã đổ máu xương rồi sau đó giải ngũ. Chúng tôi bùi ngùi hỏi và nhắc nhau về những người Lính Mũ Nâu đã đến với trung đội trước đây. Thời gian làm trung đội trưởng của tôi tại Tiểu Đoàn 37 BĐQ không dài, nhưng có đến 5 lần bổ sung trong 10 tháng tác chiến, trước khi tôi đi học một khóa Tiếp Liệu Binh Đoàn rồi về ban 4 Hành Quân của Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn 12 BĐQ. Lính đến rồi "đi" chỉ trong vài ba hôm. Tông tích của họ chỉ còn là Họ và Tên trong sổ tay trung đội trưởng của tôi lúc bấy giờ.
Hỏi thăm về những tay súng kỳ cựu của trung đội thì Qúy "đen" lắc đầu:
- Tôi không có tin tức gì về tụi nó! Chắc đã về quê hay đi ra vùng giản dân không chừng!
Câu chuyện có lẽ sẽ còn kéo dài hơn nữa nếu chị Qúy không ra nhắc chồng mình là đã quá nửa đêm từ lâu rồi.
- Anh phải để anh ấy ngủ lấy sức để sáng dậy sớm! Chỉ còn vài tiếng nửa thôi đó!
Đèn tắt. Trên chiếc ghế bố nhà binh kề bên đã không nghe tiếng động. Người đồng đội cũ nằm xuống là ngủ ngay vì đang có tiếng thở nhẹ và đều đặn. Riêng tôi cứ lan man ôn lại một ngày vừa trôi qua trong đời. Hơn một ngày hầu như không chợp mắt, nhưng tôi không thấy mệt mỏi hay buồn ngủ, bởi mọi thứ trôi qua như trong giấc mộng. Mọi thứ đều rất thực! Một ngày tự do - dù là thú tự do tạm bợ - cộng thêm thân tình của những người quen biết cũ đã làm tôi bồi hồi cảm động.
Vài tiếng nữa thôi là tôi sẽ rời Đà Nẵng, nơi mà món nợ máu xương đối với đồng đội và chiến hữu đã luôn chất ngất trong lòng. Việt Nam Cộng Hòa đã không còn. Đà Nẵng thì sắp chia xa. Mai này sẽ ra sao? Nào ai biết chuyện ngày sau, nhưng chắc chắn Đà Nẵng và tấm chân tình dành cho nhau trong ngày hôm qua, sẽ là dấu ấn của tình Huynh Đệ Chi Binh ngàn đời không phai trong lòng tôi.
HUY VĂN
LỚP HỌC ĐẶC BIỆT
Đọc xả trét chơi, lụm được trên mạng:
- MỸ: là lớp trưởng, giàu nhứt lớp. Nó chính là đứa quyền lực và đặt ra luật chơi cho cả lớp.
- TÀU ĐẠI LỤC: lớp phó tự phong, không ai bầu nhưng nó tự phong là lớp phó. Hầu hết cả lớp ghét nó vì nó có tính tham lam, độc ác và hay bắt nạt những thằng yếu hơn nó. Thằng này có tài copy y chang bài của đứa khác nhanh như chớp.
- DO THÁI (Israel): Thông minh và học giỏi toán nhứt lớp nên giữ chức lớp phó học tập, nhưng hơi có tính keo, không cho ai cóp bài hay mượn tài liệu bao giờ.
- PHÁP: là dân chơi, rất đỏm dáng, mỗi lần đi học là xịt nước hoa nồng nặc.
- ANH : Thằng này học dẫn đầu lớp môn … English, nhưng hay hờn dỗi, suốt ngày đòi nghỉ chơi với mấy đứa bạn thân lâu năm.
- Ý: con bé xinh xắn, thấp người, nhỏ nhưng... có võ. Con bé thường cười ngạo trước thằng Pháp, đờn ông gì mà xịt nước hoa còn quá đờn bà.
- BA TƯ (Iran): trong lớp chỉ lo lúi húi nghịch làm giàu uranium bất chấp trên bảng giáo viên đang dạy cái gì.
- NGA: thằng này lạnh lùng và “gấu” nhứt lớp. Có tật xấu hay say sưa, hở ra là chuốc rượu vodka bạn bè.
- THÁI LAN: Thằng này đi lại ưỡn ẹo như con gái, bị bạn bè gọi là bóng.
- TRIỀU TIÊN: Thằng này bị bệnh tự kỷ cộng thêm chứng hoang tưởng, suốt ngày mang hàng nóng dỏm ra dọa thằng lớp trưởng để tống tiền.
- ỦY NỘI THỤY LẠP (Venezuela): Con bé này rất khoái thi sắc đẹp, hoa khôi của lớp, có tật ưỡn ngực coi trời bằng vung; nhưng vừa mới đây ở xứ con bé, gã Má-đù-rồ bị bắt còn ly kỳ hơn phim Hollywood khiến con bé phân vân có nên vênh mặt nữa không, sợ bị… lạc đạn.
- Ả RẬP SA ĐẶC (Arab Saudi): Có thể là một con bé xinh đẹp, tuy nhiên chưa ai nhìn thấy mặt nó (che mặt kín như bưng).
- TÂN GIA BA (Singapore): Lớp phó lao động-vệ sinh. Thằng này giữ vệ sinh rất kỹ, tính khó chịu. Đừng bao giờ nhai chewingum với hút thuốc trước mặt nó, hay vẽ bậy lên tường, coi chừng ăn roi của nó vào đít.
- THỤY SĨ: Thằng này tính cẩn thận, nghiêm túc, được giao làm thủ quỹ của lớp.
- ÚC: Cả trường có mình nó cưỡi kangaroo đi học.
- BA TÂY (Brazil): Thằng này giỏi đá bóng với nhảy nhót nên được bầu làm lớp phó phụ trách văn nghệ thể thao.
- ĐẠI HÀN: Nhóm trưởng nhóm nhảy hiện đại của lớp. Mấy đứa trong nhóm của nó mặt giống nhau y chang.
- NHỰT BỔN: Thằng này cũng con nhà giàu, lái Lexus đi học, nhưng lễ phép… quá xá, chào bạn bè mà cũng cúi gập đầu thiệt sâu, thiếu điều muốn gãy lưng.