Fwd: ĐIỂM TIN DIỄN ĐÀN 24-03-2026 (SỐ 055-2026)

2 views
Skip to first unread message

Giu Tran

unread,
Mar 24, 2026, 10:57:51 AM (12 days ago) Mar 24
to


---------- Forwarded message ---------
From: soan....@hotmail.com <soan....@hotmail.com>
Date: Tue, Mar 24, 2026 at 3:29 AM
Subject: ĐIỂM TIN DIỄN ĐÀN 24-03-2026 (SỐ 055-2026)
To:


GOOD MORNING VIET NAM - CANADA - USA

ĐIỂM TIN DIỄN ĐÀN 24-03-2026  (SỐ 055-2026)

Image insérée


Image insérée




MỤC LỤC

  1. Bầy Vịt Của Tui ( Tr. Ngắn)
  2. TRONG RỦI CÓ MAY MẮN
  3. Trung học xưa: MỘT MÔ HÌNH GIÁO DỤC RẤT HAY BỊ ĐỨT GÃY SAU 1975
  4. CƯỚI “CHẠY XĂNG”
  5. Một người không chân nhưng đứng rất cao
  6. Ôi... Sài Gòn cũ, ai cười đó...
  7. NGÀY VỀ TỪ NÚI RỪNG HIỆP ĐỨC
  8. LỚP HỌC ĐẶC BIỆT


Bầy Vịt Của Tui
Nguyễn Thị Thêm
5222 BatVitCuaTuiNgThiThem
       Hôm nay là một ngày thật bận rộn. Để tui kể quý vị nghe, để biết tại sao hôm nay tui quá mệt nhưng mà vui.
Sáng hơn 6 giờ thằng rể bấm chuông cửa đưa hai đứa cháu ngoại vào nhà.
- Má ơi! Hôm nay hai đứa con đều phải làm ca sáng vì bệnh viện thiếu người bất ngờ. Ngoại cho con gửi hai cháu một bửa.
Hai con bé ùa vào. Hai đứa lôi trong giỏ ra mấy tờ giấy. Con em dấu dấu cái gì ở sau lưng;
- Tèng tèng teng....Bà ngoại, hôm qua con được nhận trophy . Đây là giấy khen thưởng nữa nè.
Mindy hí hửng khoe khoang. Shannie cũng không chịu thua lôi mấy tờ giấy dấu ở sau lưng ra:
- Còn con hai giấy khen nè ngoại.
       Tui ôm hai đứa hôn lên đôi má còn thơm mùi kem đánh răng và vào phòng lấy bao lì xì ra, thưởng mỗi đứa một cái. Bên trong là hai đồng mới tinh.
- Thưởng cho con. Đồng tiền này hên, lần sau học giỏi hơn nữa.
       Loay hoay lo cho hai đứa ăn sáng. Người tình trăm năm của tui nghe xôn xao cũng thức dậy. Vậy là lo vệ sinh buổi sáng cho chàng rồi phục vụ chàng ăn sáng. Tui hâm sữa, hâm cái bánh giò tui làm hôm qua cho chàng dễ nuốt. Đút cho chàng ăn xong, tôi cho chàng uống thuốc rồi dìu chàng nằm trên cái ghế dựa to để ở góc nhà. Tôi phải lo dọn bàn và coi chừng hai đứa cháu đang chơi trong phòng khách.
       Chưa kịp cho con cún Lucy ăn thì chuông cửa lại reo. Mở cửa. Một bầy cháu lao vào nhà ríu rít như chim. Đứa thưa, đứa kể. Wow! tui chẳng nghe được gì rõ ràng. Mẹ nó tới sau cùng:
- Má cho con gửi mấy đứa, con đi tụng kinh ở nhà quàn với sư cô.
       Tui đã biết tin này từ hôm qua, vì mắc chăm sóc ông chồng tui không đi tụng kinh được. Tui đồng ý ở nhà làm vú em cho con nó kiếm chút phước. Nhưng không ngờ nó tới sớm vậy.
       Bầy cháu có lẽ mới thức dậy, dòm tụi nó như tàn binh bại trận. Tóc tai còn bù xù, gương mặt ngái ngủ, quần áo xốc xếch. Có đứa còn ôm theo cái gối ôm.
        Mẹ nó không cần vào nhà, lùa bầy vịt vô tới nhà ngoại là ra xe rồ máy chạy đi. Cả bọn đồng thanh:
- Bà ngoại! Con đói bụng.
Tui chới với. Bầy vịt 6 đứa chưa ăn sáng?. Bà ngoại bỏ ông ngoại một bên vội vàng vào bếp.
       Vi Vi và Lina, hai đứa lớn mỗi đứa bưng một giỏ đồ dơ vào nhà và tự túc xuống mở máy giặt, giặt đồ. Tui bảo con chị chải tóc cho con em. Bảo con em bỏ cái gối ôm vào phòng ngoại. Mấy đứa vào chơi với Shannie và Mindy để bà ngoại làm đồ ăn sáng.
       Tui hì hục chiên trứng, nướng bánh mì, rót sữa. Thôi tạm cho nó ăn giống Mỹ đi, giờ nấu cái gì cũng không kịp. Mỗi đứa mỗi cái dĩa giấy, ăn xong khỏi rửa. Chúng vừa ăn vừa nói và cãi nhau như giặc. Con bé Donna không chịu ăn bánh mì ngồi nhơi nhơi miếng trứng. Lina lại méc:
- Bà ngoại Donna không chịu ăn kìa.
- Anna lấy bánh mì bỏ qua dĩa của con.
- Ai lấy. Không chịu ăn chút nữa bà ngoại phạt không cho chơi bây giờ.
       Tui bước tới, cố gắng làm trọng tài để bầy vịt ăn cho xong tui còn dọn dẹp. Kêu Lina đút cho Donna, nói Anna ăn hết phần bánh mì. Dặn Nina uống cho hết sữa không được bỏ mứa.
       Tụi nó la, méc vang trời như vậy mà người tình trăm năm của tui vẫn nằm ngủ ngon lành. Cũng may chàng nằm ngủ, chàng mà thức đòi đi vệ sinh nữa thì bà ngoại tui mới chết một cửa. Bởi vì vấn đề đại tiện của chàng vô cùng, vô cùng nhiêu khê.
       Sau một màn dọn dẹp ly dĩa ăn sáng. Tui bắt tay liền để lo bữa ăn trưa cho bầy vịt. Chúng mà kêu lên đòi ăn một lượt thì sông hồ ao suối gì cũng vang rền không ai chịu nỗi.
       Tui cũng đã chuẩn bị sẵn trong đầu, hôm nay phải nấu gì vừa dễ, tiện lợi lại hạp với ý thích của bầy vịt con và cả ông ngoại vịt. Cho nên hôm nay tui nấu bún bò Huế để phục vụ 8 đứa cháu ngoại và ông chồng già. Tui trụng xương bò, bắp bò rồi bỏ vào nồi áp suất, cắm điện để nó tự nấu. Tui vào bếp luộc bún và chuẩn bị rau ăn kèm. Chừng nào thịt mềm tui sẽ đem vào và bắt đầu nấu hoàn chỉnh nồi bún bò Huế.
       Các bạn có biết 8 đứa con gái quậy là thế nào không? Chúng nói, chúng cười, ca hát, tô màu, chạy chơi và méc. Cứ một hồi là con bé Donna chạy tới thưa gửi, đòi bà ngoại đánh mấy đứa chọc nó. Để rảnh tay nấu nướng, tui bằng lòng cho cả bọn ra vườn sau chơi với con chó Lucy. Sân nhà sau tui khá rộng. Mấy cây táo cây ổi che tàn bóng mát. Mấy đứa cháu mặc sức chạy nhảy.
Có tiếng la thất thanh và một đứa chạy vào, mặt mày tái mét:
-Bà ngoại, con Lucy chảy máu. Con sợ nó chết. Bà ngoại ra mau, ra mau... hurry, hurry.. bà ngoại.
       Thì ra chơi chạy đuổi, bụng con chó bị xước một đường máu rịn ra đỏ lòm. Có lẽ nó chạy đuổi mất trớn lao vào cây chanh nên bị gai quào. Mấy đứa nhỏ thấy máu như bầy vịt ở dưới hồ, sợ hãi cùng la lối, cùng nói và lăng xăng thấy bắt mệt. Lau máu và xức thuốc xong cho con chó, bắt mấy chị vào rửa tay để ăn trưa.
- Bà ngoại, bà ngoại kiến... kiến
Anna nhảy tưng tưng la vang trời. Tui chạy lại ôm lấy nó.
- Kiến đâu? Kiến cắn con hả? Chỗ nào?
       Nó vừa khóc, vừa chỉ ở cánh tay. Thì ra chị vịt này hái bông cúc ở sau vườn. Bông cúc hay có kiến núp trong hoa nên kiến bò ra tay chị. Lôi cháu vào nhà, rửa tay và xức dầu xong tui bắt cả bầy ngưng chơi vào nhà ăn trưa.
       Tui làm cho mỗi chị mỗi tô. Đứa lớn tô lớn, đứa nhỏ tô nhỏ. Con chị giúp con em, Donna tô nhỏ xíu và Lina phải đút cho em. Nhưng đâu phải vậy là xong đâu. Đứa đòi thịt không huyết, đứa không ăn thịt chỉ ăn huyết. Đứa không thịt, không huyết chỉ ăn chả, đứa không ăn rau, đứa ăn rau không ăn hành. Đứa la cay, đứa bảo không có cay. Ngon mà..... Uý chu choa, ăn thôi mà như cái chợ Bến Thành.
       Bún nhiều, bún ít, đứa đòi múc thêm, đứa bỏ mứa. Con chị la con em, mấy đứa em méc con chị. Con nhỏ nhất cứ đụng một chút là méc khiến tui làm quan toà mệt nghỉ với nó. Hết màn ăn tới màn uống, lại lấy lộn ly, lại thưa, lại méc. Mỗi đứa tui đã ghi tên trên ly để khỏi lộn. Vậy mà Tina méc Donna giành cái ly của nó. Tui phải nói Donna chưa đi học chưa đọc được tên nên em lấy lộn. Hôm nay tui xay strawberry để làm món nước uống. Xay không kịp với mấy cái ly cứ chìa ra liên tiếp.
       Lùa bầy vịt ra vườn chơi để tui dọn dẹp và phục vụ người tình. Ông chồng tui hôm nay cũng bận rộn theo bầy cháu. Ổng muốn lấy cái này, rờ cái kia. Tay ông run run làm đổ ly nước. Nước chảy tràn lan ra trên nền nhà. Tui bắt ổng ngồi yên để cho tui lau sạch Mấy con vịt con mà trợt té thì tui không biết làm sao xoay sở. Ông chồng trợt té một cái thì chỉ có nước kêu 911 mà thôi.
       Ông ngoại ngồi nhìn mấy đứa cháu chơi. Ông la mấy cháu đừng chạy nhanh quá. Dỗ dành bé Donna đừng khóc mà tiếng ông nhỏ xíu chẳng có tác dụng chút nào. Ổng muốn giúp, muốn vui mà rờ tới đâu hư tới đó.Thấy thiệt thương.
       Lại có tiếng khóc. Con bé Donna chạy vào chìa cái tay chảy máu, mấy đứa tràn vào phân bua, giải thích. Tui lau tay cháu, xức thuốc, dán băng keo. Lỗi tại ai không là vấn đề, vấn đề là để con bé hết sợ và im để băng bó. Vừa xong Donna, tới phiên Nina chạy vào chìa cái chân bị trầy, lại rướm máu. Nina nói con Lucy chạy lấn nó té, Tina thì cải chính hổng phải tại con Lucy. Mindy và Shannie thì giơ cả hai tay lên phân bua là tại con Nina chạy đua với con chó.
       Thiệt là tình, bà ngoại tui như lạc vô mê hồn trận. Đành lùa cả bầy vịt vào nhà, mở TiVi cho coi và vào bếp chuẩn bị đồ ăn chơi, vì chạy một hồi vịt sẽ đói. Tui lấy bột mì đánh với trứng, đường, một chút bột nổi nhồi và ủ lại. Tui lên coi ông chồng có ổn không? Ổng lại liu riu ngủ. Tui yên tâm xuống bếp. Tui vò bột thành những viên nho nhỏ dài dài như con sâu rồi bỏ vào chảo dầu chiên. Mùi bánh bay lên thơm ngát, mấy con vịt nhào ra đòi ăn. Thấy mấy đứa cháu ăn ngon lành, bà ngoại tui cũng vui.
      Lúc này bầy vịt ở trong nhà. Sau một hồi khóc, Donna được Lina dỗ ngủ. Nhóm nhỏ tập trung chơi vẽ hình, cắt giấy. Nhóm lớn hơn một chút chơi trình diễn thời trang. Chúng lấy khăn của ngoại, lấy áo của ngoại mặc và làm đủ trò. Nhóm nhỏ bỏ chơi vẽ hình, đứng xung quanh cổ vũ, vỗ tay rộn ràng. Cuối cùng chúng cũng được các chị lôi ra catwalk luôn. Chúng đi lững lờ ưỡn ẹo trông thật tếu và dễ thương. Ba đứa lên giường bà ngoại ca hát nhảy nhót loạn xà ngầu.  Đứng ở cửa nhìn vào tui không nỡ la. Thôi thì con nít phải có mục để chơi đùa. Cứ cho chúng quậy bằng thích miễn đừng khóc, đừng đánh lộn là được rồi.
       Buổi chiều hơn 4 giờ con gái xong việc đám ma ghé nhà ngoại rước con. Con mua cho ba mẹ hai phần phở gà. Bầy vịt lại lao nhao ra xe. Bà ngoại phải gọi lại đưa cái gối ôm của Donna bỏ quên. Hai đứa Mindy và Shannie cũng chuẩn bị mẹ chúng tới giờ rước về.
       Chúng đi về hết rồi. Trong nhà là một bãi chiến trường. Giấy mấy vịt con cắt và tô màu còn vương vãi khắp nơi. Trên giường mền, ra nhăn nhúm vì chúng đứng lên đó nhảy nhót, ca hát.  Mấy cái khăn, áo bỏ ngổn ngang do chúng chơi màn catwalk Ngoài sân chúng đào đất trồng cây.  Mấy bụi rau thơm bị nhổ lên trồng lại. Lá cây, trái chanh, trái ổi non bị mấy chị hái làm đồ hàng... quăng bỏ ngổn ngang với mấy chai lọ.
       Con Lucy hết người chơi nằm ở thềm sau ngó ra lười biếng. Tất cả chìm vào không gian vắng vẻ, lạnh tanh thường ngày. Tất cả sinh khí năng lượng, tiếng cười, tiếng la hét, tiếng khóc đã theo chúng đi về. Tui lui cui dọn dẹp trong ngoài trước khi ông mặt trời bỏ trái đất đi ngủ.
       Tui vào nhà, cho ông chồng ăn bữa chiều và uống thuốc. Tui đóng cửa khóa lại, đem ông lên tắm rửa và dìu ông lên giường. Tui cũng đi tắm và đi về chiếc giường quen thuộc của mình. Vẫn còn như nghe tiếng hát của mấy đứa cháu, tiếng cười và tiếng vỗ tay.
       Một ngày thật bận rộn nhưng cũng thật vui. Cám ơn bầy cháu ngoại đã quậy một ngày ra trò để tối nay bà ngoại mệt quá sẽ khò ngon giấc.
       Nhưng không phải như vậy, hôm qua bà ngoại có một ngày túi bụi với bầy vịt. Hôm nay bà ngoại bị bệnh rồi. Khi bà ngoại bệnh chả có con vịt con hay vịt mẹ nào ở một bên. Bà ngoại vừa ho, vừa hắt xì. Chà ! Cái vi khuẩn của hắt xì có thể khiến ông ngoại bệnh thì còn chết một cửa tứ. Thế là bà ngoại phải mang khẩu trang. Bi giờ bà ngoại giống hiệp khách hay điệp viên không không thấy.
       Hôm nay cái đầu bà ngoại nặng trịch, hai tay thật mỏi và cái lưỡi đắng đắng. Hổng lẽ có ai lây bệnh qua đường vi tính? Hay hôm qua có đứa cháu nào bị bệnh lây qua mình? Bà ngoại lại gọi phone hỏi thăm và được con gái trả lời là tụi nó OK đang phá như giặc. Con gái nói hay con qua nấu cháo cho má. Tui vội trả lời:
- Thôi! Thôi khỏi. Má tự lo được. Qua đây lỡ má lây con thì bầy vịt không xong. Yên tâm đi má không sao.
       Gì thì gì! bà ngoại phải uống thuốc để vùng dậy lo cho ông ngoại đang lơ tơ mơ trong kia. Hồi sáng lên Facetime nói chuyện với thằng cháu nội ở Ý. Nó đã biết đi, chạy phá khắp nhà. Ước gì nó ở gần ôm nó một phát cho đỡ ghiền. Nó mà về đây, thêm bầy cháu ngoại nó sẽ thành gươm lạc giữa rừng hoa. Thôi thì hổng có cháu, ôm ông nội đỡ vậy. Mà cũng không được, coi chừng ổng tưởng quân địch tấn công, ổng tung một chưởng tui sẽ lọt xuống giường càng nguy to. ha ha ha...
***
       Đây là bài tui viết hồi lâu lắm. Lúc bầy vịt của tui còn là vịt con. Chúng chỉ biết cái ao nhà và tung tăng bơi lội để lớn lên. Chúng sống bình yên hạnh phúc trong bóng mát của khu vườn gia đình. Bây giờ bầy vịt đã đủ lông đủ cánh biến thành thiên nga hay vịt trời bay đi mất. Đôi khi con thiên nga gặp vấn đề cũng không thể bay xa bay cao. Chúng bị rớt hay tạm cư ở một nơi không được an lành như cái ao nhỏ sau nhà ngày xưa.
       Khi xưa là con vịt con chúng thật đáng yêu. lớp lông tơ vàng mịn màng, thơm tho dễ thương biết mấy. Cái ao nhỏ của gia đình đầy ắp tình thương và an toàn. Vịt con tha hồ bơi lội theo mẹ. Tiếng kêu của nó chỉ là đòi ăn đôi khi hoảng hốt vì một tiếng động khi người ta quăng một viên đá xuống hồ. Chuyện nhỏ như con thỏ, tui và cha mẹ chúng có thể ra tay giúp đở, giải quyết dễ dàng.
       Bây giờ chúng đã lớn, bước ra khỏi vùng an toàn bầy vịt đủ lông đủ cánh nên phải đương đầu với nhiều nguy hiểm bên ngoài. Tui đã từng nói với bầy vịt của tui:
- Đừng dại dột đi ra giữa đường sẽ bị xe cán. Đừng nhẹ dạ đi theo người không tốt sẽ bị họ làm thịt. Phải dè chừng, cẩn thận từng bước đi. Là con gái lúc nào cũng có thể là mồi ngon cho những người xấu. Xã hội này cạm bẫy rất nhiều.
- Ngày xưa các con có thể méc ngoại để những khó khăn ngoại giải quyết dùm cho. Bây giờ ra đời, con phải đương đầu và đối phó một mình. Không phải con bị bỏ rơi mà bản thân con phải biết mình đã lớn đã trưởng thành. Con phải nhìn mọi việc một cách sáng suốt để ứng phó vì đến lúc con phải sống độc lập.
       Bầy vịt của tui bây giờ gặp chúng cũng khó. Chúng đã lớn hết rồi, đa số đều học đại học và đi làm thêm. Ngày xưa khi chúng còn ở trung học, ngày Tết VN tất cả phái nữ đều phải mặc áo dài. Nhỏ đứng ở dưới cùng và thứ tự lớn dần đứng kế. Chúng đứng dài theo bậc thang lên lầu nhà ông cậu chụp hình thật đẹp.
       Bây giờ tui không những có 8 đứa cháu ngoại gái mà có thêm 4 đứa cháu nội gái nữa. Nếu mà chúng về hết tập trung ngày Tết thì vui và đẹp biết bao nhiêu. Nhưng đó chỉ là ước mơ vì có một trăm lẻ một lý do chính đáng để chúng không thể có mặt đầy đủ.
       Thôi thì bà già tui chỉ tự nhủ rằng "Tre tàn măng mọc" Những mục măng non giờ đã thành tre. Những con vịt con giờ đã trưởng thành. Chúng đang sống trong một nước văn minh nhiều tự do và phức tạp. Chúng sẽ sống đúng theo những gì chúng nghĩ, chúng muốn, chúng yêu. Không ai có quyền ngăn cản những ước vọng chính đáng của chúng. Chúng có thể sẽ gặp trắc trở trong sự nghiệp, trong tình yêu. Nhưng những va vấp đó sẽ làm chúng trưởng thành hơn để tiếp tục bước tới.
       Và tui khi chỉ còn một mình, ngồi trước bàn máy computer tay nhấp chuột. Những con chữ nhảy múa trước màn hình tui cám ơn trời đất. Cảm tạ ơn trên cho tui còn đủ sức khỏe để ngồi viết không quá đau lưng. Tay vẫn còn bấm máy không bị co rút. Tui vẫn còn một trái tim nồng nàn biết yêu cái đẹp. Cái đẹp của thiên nhiên và con người bằng nụ cười hạnh phúc hay một câu nói tiếu lâm.
       Bầy vịt ơi! Bà ngoại không cần các con giàu có. Không ép các con làm điều gì các con không thích. Bà ngoại chỉ muốn các con sống vui vẻ hạnh phúc, lương thiện và bình an.
TG : Nguyễn thị Thêm
26/7/2024
(TKH VL)

TRONG RỦI CÓ MAY MẮN

  • Theo yêu cầu của Mỹ và các quốc gia Ả Rập, Ukraine đã đưa 230 chuyên gia quân sự mang theo lô hàng lớn máy bay không người lái ( UAV) giá rẻ tích hợp tác chiến điện tử do Ukraine sản xuất tới các nước Ả Rập, Trung Đông để huấn luyện và thực chiến với các nước vùng vịnh Ả rập. Trong 5 ngày qua. UAV của Ukraine đã bắn hạ hàng trăm UAV của Iran rơi lả tả như xung rụng. Với kinh nghiệm xương máu đối phó với UAV của Iran do Nga sử dụng giết hại dân thường Ukraine. Nay UAV của Ukraine là khắc tinh của UAV do Iran sản xuất và viện trợ cho Nga.
    Vô tình, Iran đã đẩy các quốc gia Ả Rập giàu có trở thành đồng minh chiến lược và thân thiết với Ukraine lâu dài. Hiện nay, Ukraine đã nhận nhiều hợp đồng bán UAV cho Mỹ và các nước Ả Rập. Ukraine từ một quốc gia bị Nga xâm lược đã vươn lên thành một quốc gia công nghiệp phát triển vũ khí quốc phòng hiện đại theo mô hình chiến tranh mới, học thuyết quân sự mới, còn Nga thì ngày càng sa lầy và tuột dốc. Sau vụ này, các quốc gia Ả rập giàu có sẽ giúp Ukraine phát triển công nghiệp quốc phòng mạnh nhất nhì ở Châu Âu. Cho thấy, Ukraine sẽ trở thành thung lũng công nghiệp quốc phòng trong nay mai.

    Inline image

    • Trung học xưa: MỘT MÔ HÌNH GIÁO DỤC RẤT HAY BỊ ĐỨT GÃY SAU 1975

      Sau hai năm học lớp Đệ Thất và Đệ Lục ở trường Phổ thông Trung học, tôi quyết định thi tuyển vào Trường Kỹ Thuật Đà Nẵng. Tôi chọn trường này với lý do rất kỳ cục chỉ là vì đây là ngôi trường đẹp và hiện đại nhất lúc bấy giờ. Không chỉ ở Việt Nam mà còn là nhất Đông Nam Á. Trường khai giảng khoá đầu tiên năm 1962. Trường được chính phủ Hoa Kỳ viện trợ xây dựng và trang bị những thiết bị máy móc cần thiết cho một trường dạy nghề không khác gì các trường quốc tế. Trường được xây dựng trên khu đất sát bãi biển Thanh Bình lúc đó còn hoang sơ và dân cư thưa thớt. Như vậy, ở miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ song song hai mô hình giáo dục: Trung học Phổ thông và Trung học Kỹ thuật.

      Thật ra, từ thời Pháp thuộc, miền Nam đã có hai trường dạy văn hoá kết hợp với đào tạo nghề cơ khí, tiện, điện, mộc, sắt...

      Đó là Trường Bá Nghệ Huế (Kỹ nghệ thực hành Huế). Thành lập khoảng 1899, với tên Pháp École Pratique d’Industrie de Hué. Đây là một trong những trường dạy nghề sớm nhất ở Trung Kỳ. Mục tiêu đào tạo thợ thủ công, kỹ nghệ thực hành phục vụ bộ máy thuộc địa và nhu cầu kỹ thuật bản địa. Điểm đáng chú ý là khác với giáo dục Nho học, đây là mô hình “thực học, thực nghiệp” rất sớm, gần với triết lý giáo dục công nghiệp châu Âu.

      Ở Sài Gòn còn có trường Bá Nghệ Sài Gòn thành lập năm 1906 với tên École des Mécaniciens Asiatiques, dân gian gọi là Trường Bá Nghệ và là một trong những trường dạy nghề đầu tiên ở Đông Dương. Một thời trường còn có tên là Trường Kỹ thuật Đỗ Hữu Vị, đặt theo tên của người phi công Việt Nam đầu tiên trong quân đội Pháp.
      Trường đào tạo thợ máy và kỹ thuật cơ khí nhằm phục vụ cho lực lượng Hải quân và Công nghiệp thuộc địa. Học sinh được học lý thuyết song song với thực hành. Trường có ký túc xá, xưởng sản xuất. Trong Thế chiến I, trường sản xuất đạn pháo và đào tạo thợ cho chiến tranh. Sau 1954, Trường đổi tên thành Trung học Kỹ thuật Cao Thắng chuyên đào tạo Kỹ thuật viên trung cấp và Tú tài kỹ thuật để học lên kỹ sư hoặc cán sự, thợ bậc cao. Là một trường trung học kỹ thuật quan trọng ở Sài Gòn trước 1975.

      Hai trường này ảnh hưởng từ mô hình Écoles professionnelles của Pháp. Đây là nền móng cho toàn bộ hệ Trung học Kỹ thuật sau này. 

      Thập niên 60 của thế kỷ trước, miền Nam Việt Nam mở thêm Trường Trung học Kỹ Thuật Đà Nẵng, Quy Nhơn và Vĩnh Long. Ưu điểm nổi bật của các Trường Trung học Kỹ Thuật là học sinh vừa học văn hoá như các Trường Phổ thông, vừa học nghề chọn lựa nên cung ứng cho xã hội những người thợ vừa có nghề vừa có văn hoá. Trường Trung học Kỹ Thuật có 2 ban. Ban Toán trước năm 1965 tuyển từ Đệ Thất, học 7 năm đến lớp Đệ nhị thi Tú Tài 1 Kỹ Thuật, tiếp đến lớp Đệ nhất lấy Tú Tài 2. Đến 1966 thì tuyển từ lớp Đệ ngũ, học 5 năm tốt nghiệp thi vào Trường Kỹ sư Phú Thọ, học 4 năm có bằng Kỹ sư. Một số thi tuyển vào Trường Kiến trúc. 

      Ngoài ra còn có ban Chuyên Nghiệp, học 3 năm, cũng thi vào Trường Phú Thọ nhưng hệ Cán sự. Tốt nghiệp làm thợ bậc cao hoặc học tiếp Trường Sư Phạm Kỹ Thuật, ra trường đi dạy nghề các trường nghề hoặc Trường Trung học Kỹ Thuật. Nếu vì lý do nào đấy mà không học lên đại học, người học sinh có thể đi làm công nhân có trình độ. Họ biết xem bản vẽ, có văn hoá để xử sự, có kiến thức để làm nghề. Đây là mô hình rất gần với nước Đức (Dual System) và Nhật (KOSEN).

      Đặc biệt trong chế độ cũ, khi bị động viên, những người có bằng cấp từ các Trường Kỹ Thuật thường được điều chuyển về Tiếp vận, Quân cụ, Công binh, Truyền tin….

      Thi tuyển vào các Trường Trung học Kỹ Thuật cũng khá khó vì hàng năm chỉ tuyển không nhiều, thường chỉ 2 hoặc 3 lớp ban Toán và 5 lớp ban Chuyên Nghiệp các ngành Điện, Tiện, Kỹ nghệ gỗ, Kỹ nghệ sắt và Cơ khí Ô tô. Mỗi lớp khoảng 25 đến 30 học sinh.

      Chương trình học ban Toán khá nặng, nhất là các môn khoa học tự nhiên như Toán, Lý, Hoá và thêm môn vẽ Kỹ Nghệ hoạ. Học suốt hai buổi từ thứ hai đến thứ bảy. Ban Chuyên Nghiệp học văn hoá 3 ngày một tuần, cũng học Toán, Lý, Hoá, văn học, Sử Địa nhưng chương trình nhẹ hơn. Cũng có môn Kỹ Nghệ hoạ để có thể nhìn bản vẽ mà làm việc. 3 ngày còn lại học nghề ở xưởng, lý thuyết lẫn thực hành trực tiếp trên máy như những người thợ.

      Từ niên khoá 1968, Trường Kỹ Thuật Đà Nẵng mở thêm Ban Nữ công Gia chánh dành cho nữ sinh. Chương trình học dạy nấu ăn, cắt may, dinh dưỡng…Kể từ đó, ngôi trường vốn chỉ toàn nam sinh mặc đồng phục xanh xuất hiện thêm những tà áo dài trắng của nữ sinh. Hình như hình ảnh đó làm sân trường đẹp hơn, dịu dàng hơn. Cũng học 3 năm thi vào Phú Thọ, rồi tiếp tục học Sư Phạm Kỹ Thuật ra làm cô giáo. Nếu không thì cũng là những người nội trợ giỏi, những người thợ may, chủ tiệm may, làm bánh, nấu nướng có văn hoá. Một chủ trương dạy Công Dung Ngôn Hạnh có bài bản, bằng cấp, chương trình, trường lớp chính quy.

      Như vậy, ngay từ 12 hay 14 tuổi, học sinh Trường Kỹ Thuật đã được hướng nghiệp một cách có bài bản, được huấn luyện, dạy dỗ và trang bị những bước cơ bản cho ngành nghề tương lai của cuộc đời.

      Trở lại ngôi trường của tôi, một ngôi trường hiện đại bậc nhất thời bấy giờ. Trường rộng rãi, có sân bóng rổ, sân bóng chuyền và một sân bóng đá đúng tiêu chuẩn. Có những phòng học đúng nghĩa, mỗi học sinh có một ghế và mặt bàn riêng, cuối mỗi phòng có dãy tủ để chứa vật dụng, sách vở, phòng học môn Kỹ Nghệ hoạ có bàn vẽ như một hoạ viên thực thụ. Phòng học lúc nào cũng đủ ánh sáng và nhiệt độ được cân bằng bởi hệ thống cửa sổ chạy dài tường phòng học nhìn ra và đón gió biển. Ở đó, phóng tầm mắt nhìn ra, thấy được biển xanh và sóng vỗ. Sau này cũng từ hướng nhìn ấy, chỉ thấy toàn những mái nhà san sát nhau, chen lấn nhau.
      Trường cũng có ký túc xá cho những học sinh đi học xa nhà, có nhà công vụ đầy tiện nghi cho Hiệu trưởng, có nhà cho các nhân viên bảo vệ, thời ấy gọi là cai trường. Có dãy xưởng gồm 5 xưởng cho từng nghề riêng như xưởng Điện, xưởng Tiện còn gọi là Máy Dụng cụ, xưởng Kỹ Nghệ Gỗ, xưởng Kỹ Nghệ Sắt và xưởng Cơ khí Ô Tô. Mỗi xưởng đều được trang bị máy móc tương đối hiện đại để học sinh thực hành trực tiếp.

      Hồi đó, tôi vốn thấp bé, nhẹ cân nên ngày đầu tiên vào xưởng Cơ khí Ô Tô mênh mông với một dãy máy móc, tôi khá choáng ngợp. 14 tuổi, tôi đứng vừa nhỉnh hơn cái bàn gắn éteaux một chút. Bài học đầu tiên không phải là những trang sách mà là thỏi sắt với yêu cầu giũa, cưa, đục thành một mộng xương cá. Tôi không đạt yêu cầu vì tay cầm giũa cứ phải với lên vì chiều cao thân thể không thuận lợi. Bữa học đầu tiên đấy không phấn trắng, bảng đen mà làm quen với những cục sắt lạnh. Những bàn tay lần đầu còn vụng về, rồi dần dần quen với giũa, với búa, với kìm, với thước cặp. Dần dà rồi cũng quen với mùi dầu máy, quen với tiếng nổ của động cơ.

      Ở cái tuổi mười bốn, chúng tôi chưa biết nhiều về triết học hay sâu sắc của văn chương. Nhưng chúng tôi biết một điều rất cụ thể là một chi tiết sai là máy không chạy. Một đường cắt lệch là sản phẩm bỏ đi. Nếu canh sai thứ tự thì nổ, máy không nổ. Kỹ thuật dạy chúng tôi sự chính xác trước khi dạy chúng tôi ước mơ. Dạy cho tôi cẩn trọng và biết tính toán cụ thể lúc làm việc.

      Dù trước đó tôi học rất khá, nhưng tôi lại chọn ban Chuyên Nghiệp vì muốn sau ba năm học sẽ được vào Sài Gòn, thoả được ước mơ. Tôi thi tuyển vào đậu đầu bảng, Thầy Hiệu trưởng gọi tôi lên văn phòng bảo tôi nên chuyển qua ban Toán vì qua bài thi thấy tôi học ban Toán sẽ tốt cho tương lai hơn. Tôi không đồng ý, nhưng có lẽ số tôi phải thế nên sau 3 năm học Cơ khí Ô Tô tôi lại chuyển qua ban Toán và phải học lại trễ một năm. Tôi học thêm lớp đêm của Trường Phổ thông, học nhảy và thi lấy luôn 4 bằng Tú Tài, hai bằng Kỹ Thuật, hai bằng phổ thông. Trường hợp có nhiều bằng như vậy đối với học sinh Kỹ Thuật không hiếm. Tôi có người bạn lấy đến 6 bằng Tú Tài, bạn ấy bảo lấy chơi xem sức mình tới đâu. Bạn ấy tên Nguyễn Phúc Bửu Dương, con trai của một Giáo sư dạy Pháp văn. Anh ta có đủ bằng phổ thông ban A, ban B, ban C và bằng Kỹ Thuật. Điều này nghe có vẻ lạ lùng thời nay, nhưng lại là kết quả rất tự nhiên của một mô hình giáo dục biết cách liên thông và thí sinh đạt kết quả do kiến thức tự thân chứ không dựa vào một đặc ân đặc biệt nào.

      Bởi học nhảy nên ở Trường Kỹ Thuật, tôi không học lớp Đệ nhất. Và rồi tôi không tiếp tục đường đi của học sinh Kỹ Thuật, tôi rẽ sang lối khác, tôi chọn văn chương, nghệ thuật khi bước vào Đại học. Một lựa chọn mà sau này, đôi khi nhìn lại, tôi vẫn tự hỏi rằng mình có bỏ phí những kiến thức đã học thời Trung học không? Nhưng nghĩ kỹ lại Trường Kỹ thuật đã giúp tôi nhiều kỹ năng trong những công việc. Đó là thói quen lao động, đó là sự cẩn trọng trong suy nghĩ, đó là hiểu đúng nguyên lý của việc mình làm, đó là kỷ luật và tinh thẩn tập thể trong lao động. Tôi không tiếp tục với nghề kỹ thuật nhưng tôi vẫn đọc được bản vẽ của máy móc, của sơ đồ điện, biết cách vận hành của động cơ. Tôi ý thức về cấu trúc, về tỷ lệ, về sự chính xác như đã từng vẽ những bài vẽ môn Kỹ Nghệ hoạ. 

      Đến thập niên 70, hệ thống Trường Kỹ Thuật được mở rộng. Nha Trang, Quảng Ngãi mở thêm trường. 
      Đó không phải là sự mở rộng ngẫu nhiên. Nó đi theo nhu cầu phát triển của một xã hội đang đô thị hóa, hiện đại hoá. Thời kỳ đang cần những con người biết làm việc bằng tay, nhưng không phải là những bàn tay vô thức.

      Trung học Kỹ thuật không đào tạo ra những người chỉ biết làm. Nó đào tạo ra một kiểu người mà hôm nay ta không còn gọi tên được nữa. Đó là người thợ có văn hóa.

      Họ học toán, học lý, học vẽ kỹ thuật. Họ vào xưởng, làm ra sản phẩm thật. Họ hiểu rằng mỗi sai số đều có hậu quả. Họ quen với kỷ luật lao động trước khi bước vào đời. Nhưng họ cũng đọc sách. Họ có khả năng suy nghĩ. Họ không bị tách khỏi thế giới của tri thức.

      Họ đứng ở một vị trí rất đặc biệt: không hoàn toàn là trí thức bàn giấy, nhưng cũng không phải lao động tay chân thuần túy. Họ là những “trí thức lao động”, nếu cần một cách gọi.

      Nhìn ra thế giới, mô hình này không hề lạc hậu.
      Đức có hệ thống đào tạo kép. Pháp có các lycée technique. Nhật Bản có các trường kỹ thuật cao cấp.

      Điều đáng nói là, miền Nam Việt Nam đã có một mô hình tương tự từ những năm 1960. Không phải vay mượn một cách hình thức, mà đã vận hành thực sự, đã đào tạo ra con người thật, làm việc trong xã hội thật.

      Thế nhưng sau năm 1975, mọi thứ thay đổi. Nhiều trường Trung học Kỹ thuật lần lượt được nâng cấp thành cao đẳng, đại học. Nghe qua thì đó là một bước tiến. Nhưng trong thực tế, một tầng quan trọng đã biến mất: tầng trung học nghề có văn hóa. Và xã hội nhiều thầy hơn thợ.

      Xã hội bắt đầu đi theo một hướng khác. Đó là đại học hóa. Ai cũng muốn có bằng cấp cao. Ai cũng muốn làm thầy. Nhưng là những thầy thất nghiệp, lấy Cử nhân để rồi về chạy xe ôm.
      Và dần dần, người thợ biến mất khỏi trung tâm của xã hội.

      Hậu quả của sự thay đổi đó, chúng ta thấy rõ hôm nay. Một xã hội thiếu thợ giỏi, nhưng dư cử nhân. Một nền giáo dục nặng lý thuyết, nhưng thiếu kỹ năng. Một lớp người có thể nói nhiều, nhưng không làm được bao nhiêu.

      Tôi không trở thành một kỹ sư. Tôi không thành ông thầy dạy nghề Cơ khí. Tôi dạy văn học, tôi làm mỹ thuật.

      Tôi đi vào văn chương, hội họa, những con đường tưởng như không liên quan đến kỹ thuật. Nhưng càng về sau, tôi càng nhận ra rằng những gì tôi học được từ Trường Trung học Kỹ thuật không hề mất đi. Nó nằm trong cách tôi suy nghĩ. Trong cách tôi cấu trúc một bài viết. Trong cách tôi nhìn một bức tranh, không chỉ bằng cảm xúc, mà bằng cả một ý thức về cấu trúc, về tỷ lệ, về sự chính xác.

      Như thế, tôi không bỏ kỹ thuật. Tôi chỉ mang nó sang một địa hạt khác.

      Nhưng bây giờ, với thực trạng của các trường nghề, nhìn nền giáo dục Phổ thông hiện nay, tôi vẫn thấy tiếc. Không phải tiếc cho riêng mình. Mà tiếc cho một mô hình đã từng rất hiện đại, rất hợp lý, rất nhân bản, rất thực tiễn. Một mô hình giáo dục hướng nghiệp rất tốt cho học sinh khi mới bước vào trung học, nhưng đã không được tiếp tục, đã bị đứt gãy và được thay thế những thứ thiếu thực tiễn, nặng phô trương.

      Tiếc cho một mô hình giáo dục để không phải ai cũng cần trở thành kỹ sư, nhưng ai cũng cần được học để làm việc một cách tử tế, trở thành người lao động có ý thức kỹ thuật và kỷ luật. Những người làm nhiều, nói ít.

      Chúng tôi, những học sinh Trung học Kỹ thuật ngày ấy, đã từng sống trong một thế giới mà ở đó một tay cầm búa, thước T, bảng vẽ, một tay cầm bút. Chúng tôi học cách làm ra một vật thể, vẽ ra mọi chi tiết trước khi học cách nói về nó. Chúng tôi hiểu rằng một ý tưởng, nếu không thực hiện được, thì chỉ là một ý tưởng dang dở.

      Hôm nay, sau hơn 60 năm, khi nhìn lại, tôi không chỉ nhớ về một ngôi trường. Tôi nhớ về một kiểu người, một kiểu dạy tạo ra một kiểu người biết làm và biết nghĩ. Đó là kiểu người mà xã hội hôm nay đang thiếu.

      Và có lẽ, điều đáng tiếc nhất không phải là một hệ thống, một mô hình giáo dục thiết thực đã bị mất. Mà chúng ta tiếc giá trị của chính con người mà hệ thống ấy từng tạo ra. Đó là thế hệ của những người thợ có văn hóa. Những người trí thức nhưng hiểu rất rõ giá trị của kết quả từ bàn tay lao động có tri thức

      DODUYNGOC
      Sài Gòn. Tháng Ba. 2026

CƯỚI “CHẠY XĂNG”
Bùi Ngọc Phúc

    • Outlook-ctwzudzk.jpg


      Buổi sáng khi gà bên nhà hàng xóm còn chưa thò cổ qua khe hở để gáy báo hiệu một ngày mới tôi đã thức giấc, chẳng vội dắt xe đi xếp hàng đổ xăng từ sớm, hôm nay tôi ăn mặc chỉn chu để sang nhà ông trưởng họ đón khách. Ở làng Văn Xá này, mọi người đều đề cao tính đoàn kết giữa anh em nội tộc, bởi vậy dù bận rộn kiếm tiền, hễ ông trưởng họ triệu thỉnh, dù ở đâu tôi cũng vội quay xe về ngôi từ đường không chậm trễ. Đặt trước mặt tôi bát mì tôm vừa đổ nước sôi và úp đĩa cho chín, ông trưởng họ không quên kèm thêm hai chiếc kẹo Sìu Châu vốn chỉ dành đãi khách quý. Bằng giọng nghiêm trọng, ông đi ngay vào phần chính:

      -Năm nay anh tổ chức cưới cho con bé Thoa, sang năm sẽ lấy vợ cho thằng cu Thược, như vậy một đi một về là vừa đẹp.
      Vừa ăn bát mì tôm nóng hổi, tôi vừa góp lời:

      -Vâng, bác trưởng cưới con đầu, cháu sớm nên bọn em xúm vào giúp một tay.

      -Giá kể đợi sang tháng mát trời thì vừa đẹp, bây giờ ăn cỗ khí nóng.

      Bắn bi thuốc lào rồi khoan khoái nhả khói lên trần nhà, ông giải thích;

      -Chú chạy xe ôm mà không cập nhật tin tức, xăng dầu lên giá ầm ầm do chiến sự bên Uy Kiên, anh sợ giá cả leo thang nên hối nhà trai tổ chức sớm. Nói như các cụ là “cưới chạy xăng”
      Ngày xưa ở làng hay có kiểu cưới chạy tang nhằm lo vuông tròn việc hỷ rồi quay sang lo việc hiếu, đây là lần đầu tiên tôi nghe đến đám cưới chạy xăng. Biết tính ông trưởng họ luôn tính sâu xa mọi nhẽ, nhưng nếu nước dâng thì thuyền cũng dâng, xăng tăng giá khiến mọi thứ tăng theo cũng chẳng đến mức phải lo xa quá. Tỏ ra là người hiểu biết, tôi nói ngay:

      -Bác tính xa hơn cả Bộ Công thương, họ đã có quỹ bình ổn xăng dầu rồi sao phải cưới vội.

      Chẳng buồn chấp nhặt lời nói của kẻ chỉ nghe thời sự trên vê tê vê, ông trưởng họ nhắc tôi diện áo the khăn xếp rồi ra cổng đón đoàn nhà trai đến dạm ngõ. Do sợ tắc đường nên họ sẽ có mặt tại đây vào lúc bảy giờ sáng, sau khi trao đổi và thoả thuận xong xuôi, chậm nhất là tám giờ đã giải tán. Chẳng cần quá giỏi toán tôi cũng biết, như vậy mình không mất một buổi đi đong khách ngoài đường.

      Nhà trai từ Hà Nội về làng đúng giờ đã hẹn, ngoài bà mẹ chồng tương lai cùng chú rể, tôi thấy họ còn đi thêm năm người vừa xoẳn xe bảy chỗ.
      Nhìn con xe biển vàng rực như màu lúa chín ngoài đồng, do chạy xe ôm trên phố nhiều nên tôi đoán ngay đây là xe chạy dịch vụ, như vậy nhà chú rể cũng thường thường bậc trung. Chưa cần biết ông trưởng họ nói gì, tôi đoán ngay chắc chắn sẽ có bài văn mẫu bao năm các cụ để lại, hễ con cháu trong họ là gái đến ngày đón nhà trai, bao giờ các cụ cũng lôi văn mẫu ra để thách cao dao bầu, đại loại như thế này “họ nhà tôi rất đông lại có nề nếp gia phong, do vậy cháu vu quy ít nhất phải xin ngàn cau để chia cho cả họ, ngoài ra sẽ xin thêm chín cái lễ gọi là tùng tiệm để dâng lên cao tằng tổ khảo, cao tằng tổ tỷ”. Đúng như tôi dự đoán, hết tuần trà thứ nhất, đợi bà thông gia tương lai đứng lên thưa gửi đôi lời, ông trưởng họ khẽ e hèm một tiếng rồi bắt đầu đọc bài văn mẫu, tuy nhiên không như tôi nghĩ, bởi ông có chỉnh sửa cho hợp cảnh:

      -Thưa bà, họ nhà tôi đông lại có nề nếp gia phong, do vậy cháu Thoa vu quy, ít nhất phải xin ngàn lít xăng để chia cho cả họ, ngoài ra tôi xin thêm chín cái lễ gọi là tùng tiệm để dâng lên cao tằng tổ khảo, cao tằng tổ tỷ”.

      Vụ thách cưới không đòi trầu cau lại đòi tận năm thùng phuy xăng khiến bà thông gia tương lai lăn đùng ngã ngửa, do thường xuyên xếp hàng mua xăng cả tiếng đồng hồ, tôi phải thán phục ông trưởng họ dù đã hiu nhưng không hắt, bởi ông dám bỏ văn mẫu của tổ tiên khi đưa hơi thở cuộc sống vào ngày trọng đại của con gái. Chẳng cần biết ông trưởng họ sẽ làm gì với ngàn lít xăng, tiễn khách xong, tôi dắt con xe Dim ghẻ đi kiếm cuốc khách, bởi chỉ hai tuần nữa đã phải lo tiền mừng cưới.

      Đúng ngày ăn hỏi, nhà trai dù xa nhưng vẫn thuê chín chiếc xích lô lọng vàng đi dọc đường làng, tuy nhiên thay vì bưng tráp đựng bánh phu thê cùng mâm trầu cau phủ vuông vài đỏ theo truyền thống, trên mỗi xe xích lô có một can xăng loại 50 lít màu xanh buộc nơ đỏ và dán chữ hỷ. Nhìn gương mặt nhễ nhại mồ hôi của mấy ông đạp xích lô, tôi cảm thông cho họ vì phải chở người cùng 50 lít sính lễ tương đương 50 cân chẳng ít. Nhẩm tính nhanh trong đầu, vị chi chín can xăng là 450 lít, như vậy còn thiếu 550 lít mới đủ sính lễ.

      Biết tính ông trưởng họ chi li, tôi sợ ông huỷ hôn ngay nếu chẳng nhận đủ, tuy nhiên sự lo lắng hoá thừa, bởi đi sau đoàn xích lô lọng vàng có đoàn xe ba bánh của bên thương binh, trên mỗi xe có một thùng phuy sơn đỏ dán giấy trang kim vàng óng, như vậy số xăng còn lại được nhà trai biện lễ không thiếu một giọt. Sau khi thỉnh chuông mời tổ tiên về chứng giám cho đôi trẻ đẹp duyên vợ chồng, quan viên hai họ được mời trầu, mời thuốc và ăn kẹo. Của đáng tội, nhìn chín can xăng bày trước bàn thờ, nói dại mồm nếu rụng tàn hương hay ông nào vô ý hút thuốc rồi vảy tàn, nghĩ đến đó khiến tôi chẳng còn tâm trí ngồi tiếp khách.

      Sau khi nhà trai ra về, gọi tôi vào rót đầy bình xăng vào con xe máy, ông trưởng họ sai đám con cháu sang chiết từ can xăng sang những can nhựa có loại một lít, có loại ba lít. Thấy tôi ngạc nhiên, ông chép miệng;

      -Thay vì đi mời cưới đưa tấm thiệp hồng cùng quả cau héo, dăm hạt sen chảy nước cùng túi trà mốc, anh gửi mỗi nhà can một lít xăng để họ đỡ phải xếp hàng mua rồi lỡ giờ đẹp của cháu Thoa. Riêng chú đổ đầy bình vì còn chở anh đi mời cưới, như vậy vẹn cả đôi đường.
      -Nhưng còn can ba lít thì sao.

      -Họ nhà mình nhiều người có ô tô, dù ba lít chỉ đủ tráng bình chẳng khiến kim xăng nhúc nhích, nhưng thôi của ít lòng nhiều.

      Tầm nhìn xa của ông trưởng họ được đền bù xứng đáng, trước đó cả tuần nhiều cây xăng treo biển hết hàng nghỉ bán, có người chạy nửa vòng thành phố rồi xếp hàng đến khuya mới đổ được bình xăng. Đến lúc này không những trong họ, cả làng Văn Xá đều thán phục thiên nhãn của ông trưởng họ. Ngày cưới mọi người đến đông đủ, dù ở quê nhưng học theo thành phố, không có cảnh cô dâu cùng bố mẹ đi chúc tụng các bàn rồi mọi người tranh nhau nhét phong bì, ngay ở ngoài sảnh đã có cái hòm hình quả tim do tôi mua trên phố Hàng Mã để mọi người nhét tiền mừng. Tuy vậy do nhiều người không sẵn tiền mặt, họ rút xăng từ xe máy rồi xách chai 0,65 lít mang tới mừng cưới.

      Ngày trước đám cưới nhiều vàng đeo nặng cổ cô dâu là sang, nhưng đám cưới con gái ông trưởng họ còn sang hơn vì các ông chú, bà thím nhất loạt xách can xăng đến mừng cho cháu gái ngày vu quy. Một lần nữa tôi chỉ lo nhỡ có tàn lửa bay qua, nói dại mồm nhưng thôi chẳng dám nghĩ tiếp. Sau đám cưới vài ngày, ông trưởng họ nhờ tôi vần hai thùng phuy đựng xăng xuống ao, kiểu như người ta ngâm tre trước khi làm nhà.

      Bồi dưỡng cái kẹo Sìu Châu cho tôi, ông rỉ rả nói, xăng để dưới ao cho an toàn không lo cháy nổ, sang năm tổ chức cưới cho con trai, biết đâu nhà gái cũng thách cưới bằng xăng, khi đó sẽ không bị động. Các cụ nói “gần đèn thì sáng” chẳng sai, tôi vinh dự được góp mặt cùng ông trưởng họ từ buổi dạm ngõ đến lễ ăn hỏi và ngày vu quy của đứa cháu gái nên khôn ra ít nhiều. Chỉ tay vào con xe Dim ghẻ của mình, tôi ngậm ngùi:

      -Học theo bác nên từ mai em thay đổi cách chở khách, ai muốn đi xe tự mang xăng đến đổ vào bình, em chỉ lấy tiền công vận chuyển.
      – Đổ nhiều hay ít phụ thuộc vào quãng đường xa hay gần, tính ra mình tiết kiệm được khối thời gian xếp hàng mua xăng.
      —-
      Văn Xá, ngày thiếu xăng, năm Nhâm Dần.

        Bùi Ngọc Phúc
Một người không chân nhưng đứng rất cao
  • Đây là câu chuyện của cậu tôi. Một câu chuyện bi thảm với những tình tiết khó có thể tưởng tượng cho dù đường đời muôn nẻo luôn không thiếu những chuyện xúc động lòng người. Chuyện cậu tôi cho thấy nghịch cảnh và định mệnh dù khắc nghiệt tàn nhẫn như thế nào vẫn có khi phải gục đầu khuất phục trước ý chí mãnh liệt của con người.
    Xã Bình Đào, Huyện Thăng Bình, Tỉnh Quảng Nam. Một buổi trưa hè định mệnh, năm 1947. Ở cái xứ sở cằn cỗi nóng bỏng da này, sỏi đá nhiều hơn cơm gạo, xương rồng nhiều hơn cây lá. Dân tình nghèo xác xơ, cơm bữa no bữa đói. 

    Bình Đào nằm trong vùng thả bom oanh tạc của Pháp, vì có nhiều căn cứ Việt Minh. Nhà nào cũng có cái hầm trú bom để lao xuống núp mỗi khi nghe tiếng máy bay, cái thứ âm thanh chẳng khác gì khúc nhạc hiệu của thần chết.
    Vậy mà trưa hôm đó, máy bay tới quá nhanh, bất ngờ, không ai trở tay kịp.

    2 trái bom xé toạc không trung với tiếng rú rít ghê hồn, đâm thẳng xuống nơi một nhóm trai làng đang chất rơm. 5 người đàn ông chết tức tưởi. Xương thịt quyện với rơm, máu tươi trộn vào đất. Chưa hết, một mảnh bom văng vào ngôi nhà sát bên, giết thêm một phụ nữ bụng chửa vượt mặt, và một em bé gái mới 2 tuổi. 

    Chỉ trong vòng vài phút, 8 sinh linh vô tội, trong đó có một hình hài chưa một lần kịp thấy ánh mặt trời, bỗng chốc trở thành tro bụi. Tất cả đều là người nhà của cậu Hai Nhật tôi, lúc ấy vừa 4 tuổi. Trong chớp mắt, cậu bé nói còn chưa rành phải mồ côi cha mẹ và mất đi luôn 2 người em nhỏ. Từ đó, cậu Hai Nhật về ở với ông bà ngoại của cậu. Trưa hôm đó, cũng nhờ chạy qua nhà ông bà ngoại chơi mà cậu thoát chết.

    Năm 1963, Tổng thống Ngô Đình Diệm bị giết. Bình Đào lọt vào tay Cộng sản. Không còn gì níu chân ở quê, cậu lên Sài Gòn, gia nhập quân đội, mang trong tim mối thù không đội trời chung với Cộng sản. Tiểu đoàn 1 của cậu đóng quân tại thị trấn Phú Thứ thuộc tỉnh Thừa Thiên-Huế. Lại một buổi chiều định mệnh. Trên đường hành quân, một trái mìn Cộng sản gài đã nổ tung dưới chân cậu. Tỉnh dậy trong bệnh viện, nhìn xuống tấm drap mỏng đắp trên người, cậu đau đớn nhận ra đôi chân đã bị trái mìn cướp mất. Hai chân bị cưa đến gần háng.
    Tủi thân và đau đớn tột cùng, cậu chỉ nghĩ đến cái chết. 20 tuổi, không cha mẹ anh em, chưa một lần nắm tay một người con gái. Tại sao số phận có thể bất công như vậy! 

    Nghiệt ngã hơn, khi vết thương bắt đầu khép miệng thì hai cái xương đùi bướng bỉnh lại mọc, chọc thủng da thịt để trồi ra ngoài. Bác sĩ phải cưa, rồi ít lâu sau chúng lại mọc tiếp... Cuối cùng cậu ra bệnh viện, sau vô số lần mổ xẻ tan nát da thịt. Cậu ngồi xe lăn, và tập làm quen với đôi nạng gỗ. Một người bà con giúp cậu có được một căn nhà nhỏ tại chung cư Phạm Thế Hiển ở Sài Gòn và gửi cậu đi học sửa điện tử gia dụng. Cậu ra nghề, mở một tiệm nho nhỏ ngay trong căn nhà mình.

    1769707100005blob.jpg

    Mỗi ngày cậu ngồi nơi cửa sổ, cặm cụi sửa máy. Cậu lặng lẽ quen với cuộc sống mới. Một ngày kia, số phận vốn khắc nghiệt bắt đầu mỉm cười với cậu. Một cô gái nết na trong xóm sáng nào cũng xách giỏ đi chợ ngang ô cửa sổ cậu ngồi…
    Như trong chuyện cổ tích, họ yêu rồi cưới nhau. Cậu không còn thui thủi một mình. Mợ làm ấm áp căn hộ nhỏ. Cậu yêu quý mợ vô vàn vì mợ là tất cả những gì cậu có trên đời này. 

    Mợ yêu cậu khôn tả. Rồi những đứa con lần lượt ra đời. 2 cô con gái đầu đẹp như thiên thần. Rồi đến 2 anh con trai. Tên của 2 anh là địa danh mà cậu đã gửi lại đôi chân: Phú và Thứ. Rồi một người con gái nữa. Cậu mợ có tất cả 5 người con.
    Sau 1975, như bao nhiêu người miền Nam khác hứng chịu thảm kịch “giải phóng”, cậu mợ xoay sở đủ thứ để nuôi đàn con. Cậu mua máy dệt vải. Nhà cậu lúc nào cũng xoành xoạch tiếng con thoi. Cậu mợ làm thêm kem chuối bán trong xóm. Một tay cậu coi sóc hết tất cả máy móc. Máy dệt, tủ kem, tủ lạnh... cậu sửa được hết. Cậu thoăn thoắt nhảy qua lại giữa xe lăn và chiếc ghế đẩu mà làm đủ việc. Khi cần ra ngoài, cậu có hẳn một chiếc xe máy ba bánh tự chế.

    Một đêm nọ, cô con gái giữa – lúc ấy chừng 5-6 tuổi – đột nhiên lên cơn sốt dữ dội. Cậu mợ bế vô bệnh viện thì hôm sau cô bé qua đời. Cậu mợ như muốn điên lên, đau khổ tột cùng. Tôi vẫn còn nhớ rõ bàn thờ nhà cậu có khung ảnh cô bé mặc áo đầm bông xinh như một búp bê, bên cạnh khung hình là đôi giày màu trắng. Mỗi lần đi ngang bàn thờ, tôi len lén nhìn gương mặt bầu bĩnh ấy, đôi giày như giày của búp bê ấy, với một cảm giác sờ sợ chen lẫn cảm thương.

    10 năm sau bi kịch 1975, cậu biết mình không thể sống chung với Cộng sản. Cậu xoay sở đủ cách để có thể mua được đủ “vé” cho chuyến tàu vượt biên đi cùng cả nhà. Cuối cùng, gia đình cậu đến được nước Mỹ. Họ định cư ở Seattle. Không tiền bạc, tiếng Anh không rành, hai vợ chồng chỉ có... một đôi chân, với 4 đứa con nhỏ. Cậu mợ làm đủ mọi việc có thể để kiếm tiền. Mợ còng lưng từ sáng đến tối bên chiếc máy may. Cậu ngồi cạnh, dưới sàn, giữa đống áo quần vải vóc. Mợ may xong cái nào thì thảy qua; cậu cắt chỉ xếp lại ngay ngắn.

    Như lúc còn ở Việt Nam, cậu tôi, người đàn ông không chân, vẫn là trụ cột của cả gia đình. Cậu xông xáo không nề hà bất cứ việc gì. Để có thể lái xe hơi, cậu có chiếc xe van đặc chế, “đạp” thắng hay ga đều dùng tay. Vậy mà cậu lái bon bon chở mợ đi chợ, đi giao hàng, hay đưa rước các con ở trường. Nhà cậu có 2 chiếc ghế gỗ bóng nhẵn: Đó là “đôi chân” trong nhà của cậu. Cậu dùng tay thoăn thoắt di chuyển thân mình trên 2 chiếc ghế. Thế mà cậu làm được hết, từ cắt cỏ, nấu ăn, rửa chén đến sửa chữa điện nước…

    Mấy anh chị không phụ lòng cậu mợ. Tất cả đều học rất giỏi. Đặc biệt anh Thứ. Năm đó khi ra trường, anh được bằng khen của Tổng thống Bill Clinton, và được chọn đọc diễn văn trong lễ tốt nghiệp. Chiều hôm trước lễ ra trường, 3 anh em chở nhau đi mướn complet cho anh Thứ...

    Và không ai có thể tin nổi, một lần nữa số phận nghiệt ngã lại giáng xuống gia đình cậu tôi. Một tai nạn giao thông thảm khốc xảy ra. Chiếc xe chở 3 người con của cậu bị một xe khác vượt đèn đỏ tông vào nát bấy. Khi được báo tin, cậu mợ như muốn chết đứng. Khi họ đến bệnh viện, 3 đứa con nằm ở 3 chuyên khoa khác nhau. 

    Tôi không biết trong cuộc đời cậu, giây phút nào là kinh hoàng nhất? Khi cha mẹ và 2 em bị thịt nát xương tan vì bom Pháp? Khi nhận ra mình mất đôi chân? Khi ôm xác đứa con gái bé bỏng? Hay cảnh tượng 3 đứa con yêu giờ đang nằm trong bệnh viện? Dường như lịch sử cứ qua một khúc quanh thì cậu lại bị cắt đi một khúc ruột.

    Lần qua Seattle thăm cậu mợ, sáng thức dậy, tôi nghe tiếng máy cắt cỏ ngoài vườn. Mợ tôi đang đẩy máy cắt cỏ đi trước; sau lưng mợ là cậu, ngồi bệt trên đôi chân cụt. Cậu di chuyển bằng tay. Cỏ vừa cắt đến đâu, cậu dùng tay quây lại rồi hốt bỏ vào bao đến đó. Trong đời, tôi chưa bao giờ chứng kiến một cảnh tượng nào đẹp hơn vậy, cảm động hơn vậy.

    Tôi nhớ lại lời cô con gái của cậu kể: Trái mìn năm xưa lấy đi đôi chân vẫn không buông tha cậu. Thân thể cậu vẫn còn vô số mảnh kim loại li ti không thể lấy ra hết, khiến thỉnh thoảng làm cậu đau nhức kinh khủng. Nhưng rất ít người biết điều đó, vì chẳng bao giờ cậu than van kể lại. Cô chị họ của tôi nói, trên phim chụp x-quang, có thể thấy vô số mảnh kim loại ấy khắp cơ thể cậu.

    *******
    Khi tôi đang viết những hàng này, tôi không thể cầm được nước mắt: Số phận cậu tôi vẫn chưa dứt được bi ai. Người vợ yêu quý của cậu đang bị ung thư não giai đoạn cuối! Tôi không dám hình dung gì thêm. Tôi không thể miêu tả cảm giác và tâm trạng hiện tại của cậu, khi cậu ngồi bên mợ cạnh giường bệnh. Tôi không thể viết thêm bất cứ gì về cậu. Điều duy nhất làm tôi nhẹ lòng và có phần an ủi, có lẽ cũng an ủi cậu: Quanh cậu bây giờ là 8 người con, dâu rể, và hơn chục cháu nội ngoại. Cậu tôi – một đứa trẻ mồ côi – giờ đã có một tổ ấm lớn. Cậu như một gốc đa to.

    Người đàn ông không chân ấy đã đi một quãng đường rất dài, vượt qua không biết bao nhiêu tai ương nghịch cảnh. Người đàn ông không chân ấy đã đến đích. Trên con đường đời đầy chông gai khốc liệt, cậu cùng mợ cuối cùng cũng gặt hái được thành quả hạnh phúc. Mợ hẳn đã có thể mãn nguyện, mỉm cười tự hào và thanh thản sau bao nhiêu năm tháng thăng trầm với một người chồng luôn đứng cao trên “đôi chân” của sức mạnh ý chí phi thường.

    Phan Hoàng My

Ôi... Sài Gòn cũ, ai cười đó...
  • Image en ligne
    Hoàng Hải Thủy

    Phở Hòa, đường Pasteur. Khoảng năm 1965, ông bán Phở tên là Hòa đặt xe Phở trên vỉa hè đoạn đường này. Xe Phở không có tên, vì phở ngon nên đông khách, đuợc khách gọi theo tên ông chủ là Phở Hòa. Vì là Phở Vỉa Hè nên chỉ bán từ 5 giờ chiều đến 12 giờ đêm. Hòa Chủ Tiệm thường bận áo thun ba lỗ, quần đùi xanh, đứng bán phở. Sau 1975 ông Phở Hòa biến mất. Những tiệm Phở Hòa sau 1975 đều do người ta lấy tên Phở Hòa mà mở. Tên Phở Hòa theo người Việt tị nạn sang Kỳ Hoa.
    Tôi ra Trung Tâm Eden gửi quà Noel cho Văn Quang, Thuyền Trưởng Hai Tàu, hiện ở Sài Gòn. Những ngày trước Christmas năm nay ởVirginia trời lạnh hơn những năm trước một chút, nhưng hôm nay tôi thấy lạnh quá trời là lạnh. Tôi lạnh từ trong hồn, trong tim lạnh ra, lạnh từ mỗi khớp xương, mỗi tế bào, mỗi giọt máu.
    “...Chú Năm ơi..! Hôm nay trời lạnh quá!” Bỗng dưng tôi thấy tôi thầm nói với Văn Quang câu ấy. Lâu rồi, tôi gọi Văn Quang là Thuyền Trưởng Hai Tàu - có thời - xưa lắm - những năm 1960, anh là Thuyền Trưởng chạy hai tàu cùng một lúc, nhưng anh không chịu danh hiệu Thuyền Trưởng Hai Tàu, anh nói anh là Thuyền Trưởng Năm Tàu, nên tôi gọi anh là chú Năm.
    Cái lạnh giá của nước người tháng cuối năm Tây làm tôi nhớ cái lạnh dìu dịu mùa Giáng Sinh ở Sài Gòn, cái lạnh man mát, cái lạnh lành lạnh đủ để cho những người Sài Gòn đi sớm về chiều - chiều thôi, không cần khuya - mặc thêm cái áo blouson, cái áo gió, cái lạnh mơn mơn làm ửng hồng đôi má những người phụ nữ Sài Gòn đẹp, duyên, đa tình, chung thủy, những người phụ nữ Sài Gòn mà trong những năm 1980/1985 Sài Gòn có câu phong dao ca tụng:
    “Thương biết mấy nghe chồng tập nói,
    Tiếng đầu ngày, chồng hỏi... Cà phê?
    Chồng tôi tù cải tạo về,
    Thương chồng, thuốc lá, cà phê cho chồng.
    Trống cơm ai vỗ nên bông,
    Tay không tôi vỗ cơm, chồng, áo con.
    Trăm năm bia đá thì mòn,
    Ngàn năm Phụ Nữ Sài Gòn vẫn thơm!
    Bỗng dưng tôi thấy tôi thầm nói với Văn Quang:
    – Chú Năm ơi..! Tôi nhớ đêm Giao Thừa, hay đêm mùng 1 Tết năm 1977, Tết năm ấy, tôi nằm rã rời như người chết rồi bên cái radio Sony cũng rệu rã như tôi trong căn gác lửng của vợ chồng tôi ở Cư Xá Tự Do, Ngã Ba Ông Tạ, Sài Gòn. Gác nhỏ tối om, vo ve tiếng muỗi, tôi nằm trong mùng nghe Đài BBC. Năm ấy quí anh biên tập Ban Việt ngữ Đài BBC có sáng kiến cho một số thính giả Việt tị nạn, đi khỏi nước trước Ngày 30 Tháng Tư 1975, sống tản mát trên thế giới, nói với người thân ở Sài Gòn qua làn sóng điện của Đài. Người muốn nói ghi tên trước, đến giờ Giao Thừa đuợc Đài gọi điện thoại đến nhà mời nói qua điện thoại, phát thanh về Sài Gòn. Mỗi người được nói một phút. Đêm xưa ấy tôi nghe một thiếu nữ, nhà ở Ngã Ba Ông T, ở khu tôi đang sống, nói về với ba má cô đang ở khu Ngã Ba Ông Tạ. Cô nói nghẹn ngào như khóc:
    – Ba má ơi..! Con ở nơi đây trời lạnh lắm. Con đang rất thèm được hưởng cái nắng, cái nóng 3 ngày Tết ở quê hương ta...!
    Từ Ngã Ba Ông Tạ, ngày 30 Tháng Tư ghê khiếp ngàn năm mới có một ngày, người thiếu nữ Ngã Ba Ông Tạ chạy được ra nước ngoài, cô đến sống ở Pháp. Đêm Giao Thừa xưa ấy nghe cô nói nơi cô ở trời lạnh quá, cô thèm được hưởng cái nắng, cái nóng 3 ngày Tết ở quê hương, tôi thương cô quá là thương. Tôi có ngờ đâu cuộc đời dâu biển, cuộc tình tan tác như khói mây, 40 năm sau hôm nay lưu lạc quê người, tôi cũng ngậm ngùi thầm nói qua biển rộng, nói qua trời xanh, nói về Sài Gòn với chú rằng:
    – Ôi... Chú Năm ơi! Tôi ở nơi đây trời lạnh quá, tôi đang rất thèm được hưởng cái mát dìu dịu của những buổi sáng hồng, những đêm xanh mùa Giáng Sinh ở Sài Gòn Xưa của chúng ta..!
    Rồi tâm viên, ý mãn, tôi nghĩ vẩn vơ, tôi nhớ vương sang những chuyện khác. Tôi nhớ mấy câu Thơ của Thi sĩ Nguyễn Bính, Thi sĩ làm bài thơ này ở Sài Gòn những ngày Tết Nguyên Đán năm 1942 hay 1943:
    “Em ở mình đây, trời nắng lắm
    Sài Thành không biết có xuân sang.
    Một đêm trăng khuyết đầy thương nhớ,
    Đất Bắc xa vời không tiếng vang.
    ... Ôi vườn dâu cũ, ai cười đó,
    Xào xạc bên sông tiếng chợ tàn.
    Mây bay đầy ngõ, hoa đào rụng
    Này đã giao thừa pháo nổ ran...”
    Tôi sửa vài tiếng trong bài thơ để tả tâm sự tôi:
    “Anh ở nơi này trời lạnh lắm
    Kỳ Hoa không biết có xuân sang.
    Một đêm trăng khuyết đầy thương nhớ,
    Đất Việt xa vời không tiếng vang.
    ... Ôi!!! Sài Gòn cũ ai cười đó?
    Man mác tim ta tiếng ngọc vàng
    Hương bay đầy ngõ, hoa mai nở
    Này đã giao thừa pháo nổ ran...”
    Ôi...Sài Gòn cũ, ai cười đó?? Ôi..Sài Gòn ngày xưa của tôi, Sài Gòn trong 20 năm tôi trẻ, tôi sống, tôi viết truyện, tôi làm báo, tôi yêu, tôi vui, Sài Gòn yêu dấu của tôi trong 20 năm vui ấy có biết bao nhiêu tiếng ai cười!
    Ôi... Sài Gòn cũ, ai cười đó??? Hỏi vậy thôi, tôi làm sao quên được những người cười, những người khóc trong đời tôi ở Sài Gòn yêu dấu ngày xưa! Dư âm những tiếng cười, tiếng khóc xưa ấy chiều nay, ở xứ người, làm tim tôi vỡ!
    Nhưng thôi, tôi viết sang chuyện khác. Đang sầu buồn mà thả lòng theo nỗi sầu buồn, mà viết vung tí mẹt về sầu buồn, lời văn sẽ thành cải lương, chua như bún thiu, sìu như cơm vữa. Tôi thả hồn tôi trở về những đường phố Sài Gòn mùa cưới ngày xưa. Những thiếu nữ Sài Gòn thơm như múi mít chín, đậm như thịt sầu riêng, ngọt như sa-bô-chê, chua ứa nước miếng như trái cóc chín, những người thường lên xe bông vào những tháng cuối năm, đông nhất, rộn rịp nhất, tưng bừng nhất là những ngày trước, sau Lễ Noel đến những ngày gần Tết Nguyên Đán. 3 tháng cuối năm là mùa cưới của thiếu nữ Sài Gòn.
    Xe hoa đám cưới, xe ô-tô rước dâu, gọi tắt là xe bông, trước ngày 30 Tháng Tư 1975, quanh năm lúc nào cũng có 5, 7 chiếc nằm đợi khách ở đầu đường Nguyễn Huệ, Sài Gòn, ở đường Tổng Đốc Phương gần Bưu Điện Chợ Lớn. Toàn là xe Huê Kỳ to nồng nỗng, dài đuồng đuỗng, lớn như cái suồng, ngốn xăng như trâu đực khát uống như nước suối mơ, những chiếc xe hiệu Chrysler, Chevrolet, Dodge, Rambler, Mercury... như được các hãng Mỹ chế tạo dành riêng để chở những Cô Dâu Sài Gòn đến nhà thờ, đến chùa, đến cao lâu.
    Sau 1975, những tưởng Sài Gòn sẽ không bao giờ còn có xe bông, những tưởng những cô dâu Sài Gòn sẽ về nhà chồng trên xe 3 bánh. Nhưng không lâu, chỉ 4, 5 năm thôi, chỉ khoảng thời gian ngắn ngủi, Sài Gòn ngã và Sài Gòn gượng dậy. 
    Người ta lại thấy trong những chiều thứ bẩy nắng vàng, những sáng chủ nhật trời trong, những chiếc xe bông hai màu trắng đỏ chạy lên, chạy xuống, chạy ngang, chạy dọc trong thành phố Sài Gòn. Trước cảnh những cô gái Sài Gòn lên xe bông với áo dài cô dâu, khăn voan, xuyến vàng, pháo hồng.. v.v... tuy không làm thơ tôi vẫn sống nhăn, các nàng vẫn cứ thơ thới hân hoan lên xe bông về nhà chồng, tôi đã mần thơ:
    “Sáu năm vất vả ở Thành Đồng
    Cứ tưởng là em ế chổng mông
    Ai ngờ đám cưới em ra rít
    Em vẫn xe bông, vẫn pháo hồng.
    Sáu năm cả nước xếp vào hàng
    Cứ tưởng bà con đói cả làng
    Ai ngờ đám cưới em ra rít
    Em vẫn khăn voan, vẫn xuyến vàng”.
    Hoàng Hải Thủy


NGÀY VỀ TỪ NÚI RỪNG HIỆP ĐỨC
Chiếc xe đò liên tỉnh chậm rãi rời bến Thăng Bình, quẹo trái trên quốc lộ 1 rồi ngược bắc, chạy về hướng Đà Nẵng. Quang cảnh ven đường không có gì khác lạ sau một năm thay đổi chủ, nhưng có vẻ lắng trầm hơn xưa, khi xe cộ thưa thớt và không còn cảnh tất bật cuối ngày như trước đây. Nắng xậm màu. Chiều đang xuống chậm. Gió lùa vào xe, rười rượi mát. Chúng tôi lại im lặng. Từ lúc chia tay với Trần Ngọc Dũng, chúng tôi càng thêm ít nói mặc dù trong lòng đang ngổn ngang mấy nỗi. Anh em Nguyễn văn Bôn, Nguyễn Văn Tài thiu thiu nhắm mắt; còn tôi thì nhìn bâng quơ ra phía trước, lòng nao nao một cảm giác vui, buồn lẫn lộn. 

Khi rời khỏi trại tù của núi rừng Hiệp Đức, chắc chắn người nào cũng nhận vài mảnh giấy nhắn tin, nhờ chuyển cho gia đình hay thân nhân của bạn bè và chiến hữu đồng cảnh còn ở lại. Tôi trở ra Đà Nẵng, thay vì cùng với anh bạn tù gốc Tiểu Đoàn 2 Trâu Điên TQLC xuôi nam, là để trao thư của anh rể một người bạn cho vợ con anh ấy và thăm lại thành phố mà tôi gắn bó hơn một năm trước, khi đơn vị tức tưởi tan hàng.

Vừa vào tới Đà Nẵng đã thấy bóng dáng u hoài của một thành phố đô hội, mới một năm trước còn là biểu tượng về nhiều mặt của miền nam tự do. Cảm giác nôn nao chợt biến thành tâm trạng não lòng, khi xe quẹo phải trên ngã ba Huế và rồi lại càng ray rứt hơn, khi chiếc xe đò chậm rãi lướt qua khu cư xá Đoàn Kết và ngã ba Cây Lan trước khi vào bến. Sinh hoạt tại bến xe đã không còn mang dấu vết của thời phồn thịnh. Bây giờ mọi thứ đều như uể oải và gượng gạo mặc dù hôm nay, 20/02/2975, là ngày thứ Bảy. Ngày của những háo hức và náo nhiệt trong sinh hoạt cuối tuần của một năm trước đây, đã nhường chỗ cho khung cảnh ảm đạm đến mức tội nghiệp. 

Tôi chia tay với anh em Tài, Bôn sau lời hẹn gặp lại tối nay tại góc đường Nguyễn Thái Học và Hùng Vương rồi rảo chân hướng về Cầu Vồng để qua đường Nguyễn Hoàng. Bước chân tưởng chừng như hăm hở bỗng dưng trì trệ rất lạ thường. Đi tới đâu cũng thấy lá cờ đỏ sao vàng treo đầy đường và loa phát thanh ở mọi khu phố, đều cho nghe những giọng điệu tuyên truyền có bài bản y hệt nhau. 

Bỗng dưng quang cảnh phố phường trở thành nhạt nhòa và lắng đọng như trong một khúc phim chiếu chậm. Âm thanh nghe như vọng lại từ một nơi rất xa xôi nào đó, còn màu sắc thì nhòe nhoẹt như đang chập chờn trước mắt. Tôi có cảm giác như thời gian đứng lại khi ánh mắt dõi theo từng nhân ảnh, hay lặng nhìn cảnh vật lần lượt diễn biến thật chậm ngay trước mặt. Chân bước mà lòng nặng như treo đá. Vật đổi, sao dời, nên lòng người cũng chùng theo nghịch cảnh!

Đúng là bước chân vô hồn! Vì từ lúc nào không biết, tôi đã thấy mình đứng ngay trước căn nhà mang số 47 trên đường Nguyễn Hoàng. Đây là nhà của chị Nhạn, là chị Cả của Võ Đại Quảng, bạn tôi; hiện còn "trả nợ quỷ thần" trong Trại 2, cũng thuộc Tổng trại 1 trong vùng Hiệp Đức. Cổng không cài then, nên tôi thư thả bước qua khoảng sân nhỏ - lúc trước trông rất đẹp mắt vì được chăm sóc cẩn thận - bây giờ đã xác xơ cây cảnh. Chưa gõ thì cửa nhà đã mở. Chị Nhạn bước ra, trố mắt nhìn tôi, giọng run run:
- Đúng là em rồi. Mừng quá! Vào nhà rồi hãy nói!

Tôi bước vào trong là nhận ra ngay sự trống trải của phòng khách. Bắt được tia nhìn của tôi, chị Nhạn cười buồn:
- Phải bán bớt những thứ không cần thiết thôi em. Cứ vậy mà đắp đổi qua ngày. Khi nào anh Dũng về thì tính sau.
Tôi đưa chị Nhạn lá thư của anh Dũng. Chị nhận, nhưng không đọc ngay, chỉ đặt thư trên bàn rồi liên tục hỏi thăm về sức khỏe và tinh thần của chồng mình, cùng những chuyện liên quan tới cảnh lao động khổ sai trong lao tù cộng sản. 

- Nó lì lắm. Chị Nhạn chắc lưỡi khi nhắc tới Quãng. Thư gởi về cho ba mẹ chị lúc nào cũng chỉ có mấy chữ "... Con vẫn khỏe. Nhờ ơn cách mạng nên con được lao động đều đều, được theo dõi, chiếu cố và chăm sóc rất tận tình. Ba mẹ đừng lo cho con!" Kiểu nó viết như vậy ai mà không lo lắng. Mẹ chị cứ đòi đi thăm. Ba và chị cản muốn hết hơi, mẹ mới xiêu lòng đó em! 
Hàn huyên một lúc, chị Nhạn đưa tôi qua phòng của Quảng. Mọi thứ đều như lúc chúng tôi nằm đốt thuốc, nghe nhạc cho qua ngày giờ khi Đà Nẵng lọt vào tay cộng sản, ngoại trừ mấy tấm ảnh của bạn chụp lúc còn trong quân trường và khi ở ngoài đơn vị là...

- Chị đã cất giấu kỹ lắm! Mọi thứ hình ảnh và giấy tờ khác của anh Dũng cũng vậy. Kỷ niệm mà em!
Chị Nhạn khẳng khái nói ngay, rồi tiếp:
- Đêm nay ở lại đây nghe em. Út Hương và hai cháu gặp em thì sẽ mừng lắm!
Tôi dạ, rồi cho biết là cần phải qua Trần Cao Vân để thăm gia đình Trần Hiền, cũng là bạn học cùng lớp của Quảng trước khi vào lính.
- Thì em cứ đi. Nhưng nhớ về ăn cơm tối với chị và mấy cháu nghe!...

Con đường qua Tam Tòa không xa, nên chân bước không mấy chốc đã đến trước tiệm ảnh khiêm nhường không có bảng hiệu tại số 38 Trần Cao Vân. Đây là nhà của gia đình Trần Hiền, bạn cùng Khóa 8 CTKD trên Đà Lạt, kiêm Đồng Môn quân trường tại Đồng Đế. Bạn cũng là chiến hữu Mũ Nâu, phục vụ tại Tiểu Đoàn 21/ LĐ12 BĐQ. Thuận, cô em kế của Trần Hiền vừa gặp là đã buông giỏ đi chợ, để ôm choàng lấy tôi mà khóc, rồi mới kéo vào nhà. 

Nhìn ba mẹ của Trần Hiền mà thấy nhớ ba má tôi quá đỗi. Gia cảnh và hoàn cảnh của chúng tôi giống nhau như khuôn đúc. Chúng tôi đều là anh cả, đều dấn thân để đứa em trai được hoãn dịch gia cảnh và đều có em gái kế đã lập gia đình. Chỉ khác một điều là Ngoạn, chồng của Thuận làm nghề chụp ảnh, mở tiệm ngay trong nhà ba mẹ vợ, còn cô em kế của tôi ở bên nhà cha mẹ chồng và em rể tôi làm trong bộ Tư Lệnh Hải Quân. 

Gia đình bạn xem tôi như con, như một người anh cả. Những ngày chờ bị lùa đi "cải tạo" thì tôi tá túc ở đây. Còn Trần Hiền, khi theo bộ chỉ huy BĐQ/ QĐI&QK1 di tản vào tận Sài Gòn, đã đến ở với gia đình tôi cho đến khi cả nước rơi vào tay cộng sản. Ngay sau ngày CSBV chiếm trọn miền Nam, bạn tôi từ Sài gòn tìm cách trở về Đà Nẵng, để rồi bị gom vào một trại lao động khổ sai nào đó trong vùng núi Tiên Phước của tỉnh Quảng Tín. 

Mọi người đều có mặt để cùng tíu tít hỏi thăm nhau về tình hình sinh hoạt trong một năm qua. Câu chuyện hàn huyên sau đó dẫn đến những thở than về hoàn cảnh hiện tại và lòng tưởng tiếc thời vàng son của nền cộng hòa son trẻ. Qua gia đình bạn, tôi được biết cuộc sống hiện tại chỉ toàn là những phập phồng trong lo nghĩ về tương lai vô định. Cộng thêm những cặp mắt cú vọ cứ rình rập ngày đêm của an ninh khu vực, hoặc của đám cờ đỏ "ăng ten", càng làm dân chúng thêm im hơi, kín tiếng và đâm ra nghi ngờ tất cả những ai không phải là thân thuộc hay họ hàng.

Người già như hai bác còn dễ thở một chút, chứ như mấy đứa nhỏ như thằng Nam hay con Vy thì hầu như tối nào cũng bị kêu đi sinh hoạt thanh niên để bị tụi nó nhồi sọ và tuyên truyền!
Mẹ của Trần Hiền chép miệng thở dài sau câu nói. Ngoạn, em rể của Thuận cũng không dấu nỗi ưu tư khi nói đến việc sinh nhai của gia đình. Trước đây, tiệm hình của hai vợ chồng có thu nhập đủ để lo cho cả nhà. Bây giờ, việc chụp ảnh đã trở thành một sinh hoạt trưởng giả không hơn, không kém; nên cũng như chị Nhạn, cả nhà bạn tôi phải thường xuyên thắt lưng, buộc bụng và những thứ còn giá trị đều lần lượt ra khỏi cửa để có tiền đong gạo... 

Tôi rời nhà Trần Hiền mà trong lòng muộn phiền quá đỗi. Chia tay hôm nay biết mai này còn có dịp gặp lại gia đình của bạn nữa hay không!? Bước chân tư lự đưa tôi qua Ông Ích Khiêm rồi vòng xuống Chợ Cồn. Hãy còn sớm để về nhà ăn cơm tối với chị Nhạn, nên tôi chợt nảy ra ý định lên xe Lam về Hòa Khánh, để vào thôn Phú Lộc thăm lại doanh trại của liên đoàn 12 BĐQ cùng chiếc quán có tên Hương Xưa - nằm ven quốc lộ 1 - vốn là nơi gặp gỡ của những tâm hồn văn nghệ không phân biệt màu áo trận của xã Hòa Minh và chi khu Hòa Khánh. 

Đang còn rảo bước giữa đám đông xuôi ngược, thì có người bỗng chắn ngang trước mặt, nhìn tôi một thoáng rồi reo lên, giọng mừng rỡ:
- Đúng là ông rồi!
Tôi nhận ra ngay Qúy "đen", người khinh binh kỳ cựu của Đại Đội 3, Tiểu Đoàn 37 BĐQ. Đúng là anh chàng có nét da sậm màu như dân Nam Mỹ mà anh em trong đơn vị đặt cho biệt danh "cột nhà cháy". 
Anh chàng cũng là người đã từng thoải mái "đệm" một tiếng, rồi phán ngay một câu xanh dờn: "... Nhìn tướng nhỏ xíu con như vậy thì lính nào sợ ông chứ?! Đã vậy lại còn cận thị nữa thì làm sao đánh đấm!?..." Hôm đó là ngày tôi nhận trung đội tại Phong Thử, quận Điện Bàn, một ngày đông giá rét của Quảng Nam cuối năm 1973.

Chưa kịp nói gì thì Qúy "đen" đã một tay dắt chiếc xe đạp, tay kia kéo tôi vào con hẻm gần đó, vừa đi vừa nói:
- Vô nhà cái đã. Ngoài này không tiện nói nhiều. Gặp lại ông thiệt là mừng quá!
Đến lúc này tôi mới nhận ra khu phố khiêm nhường nằm ngay bên cạnh Chợ Cồn và con hẻm có khá nhiều nhánh len lỏi chằng chịt qua những con đường lân cận. Xóm lao động sau một năm xáo động theo thời vận không có gì thay đổi. Vẫn là những ngôi nhà nhỏ, thấp, nằm san sát nhau như thể cần phải nương nhau mà sinh tồn. Buổi chiều. Hẻm nhỏ. Người lưa thưa qua, lại trong xóm. Dường như ai nấy còn đang tất tả mưu sinh đâu đó nên nhà nào cũng có vẻ vắng lặng và...ảm đạm.

- Bà xã và con gái em còn buôn bán ngoài đó. Lát nữa mới về.
Qúy "đen" vừa rót nước, vừa nói.
- Thôi đừng xưng em nữa anh Quý! Dù sao anh cũng lớn tuổi hơn tôi...
- Quen rồi thiếu úy! Lính mà! Xưa hay nay cũng vậy thôi!
- Nhưng nay thì khác. Anh gọi như vậy kẹt cho tôi.
- Tôi hiểu rồi! Vậy thì gọi bằng anh! ...Anh mới "về" phải không?
- Mới "về" hôm nay.

Tôi đáp, rồi kể sơ cho người thuộc cấp cũ những gì xảy ra cho tôi sau khi mất Đà Nẵng và những truân chuyên trên núi rừng Hiệp Đức. Khi hỏi thăm về những đồng đội thuộc Tiểu Đoàn 37 BĐQ và tin tức của những vị khác trong Liên Đoàn 12 BĐQ, thì Qúy "đen" lắc đầu, thở dài:
- Những ngày cuối, lúc từ Quảng Tín rút về, tôi có thấy anh ghé qua hậu cứ, nhưng chưa kịp chào hỏi thì ông và  thiếu úy Vân kéo nhau đi nhậu mất tiêu. Lúc đó đại úy Vương của mình đã nằm trong bệnh viện Duy Tân còn Đại Đội 3 thì do một ông bên Liên Đoàn đưa qua chỉ huy, chứ không phải Thiếu Úy Lợi của mình lên thay. 

Qúy "đen" thở dài rồi nói tiếp:
- Mấy ngày đó lộn xộn lắm! Mạnh ai nấy vọt về lo cho cho gia đình. Thậm chí ở nhà luôn. Cả năm qua tôi không gặp lại ai. Sĩ quan thì khỏi nói! Mấy ông bị tụi nó gom bi cả rồi. Sau khi mình tan hàng thì mấy đứa độc thân như thằng Thanh "máy" và tà lọt của ông là Hồ Viết Sành cũng biệt tăm. Chắc là tụi nói về quê làm ruộng, làm rẫy. Ở lại đây chỉ có nước chết đói.  Mấy đứa như tôi - dân Đà Nẵng này -  thì ai có gia đình là phải chạy gạo đầu tắt mặt tối. Cái gì cũng làm hết! Đan mây tre, phụ hồ, phụ mộc, đạp xe thồ hay khuân vác mệt nghỉ. Nhưng gần đây, tôi bon chen ngoài chợ trời. Hai mẹ con nó thì bán cà phê vỉa hè và thuốc lá lẻ ở đầu chợ, trên đường Hùng Vương. Nhờ Trời cũng đắp đổi qua ngày!

Đến đây thì Qúy "đen" chợt reo lên:
- Phải rồi! Để tôi gọi mẹ nó về sớm làm cơm ăn! Bả gặp lại thiếu...Chắc sẽ mừng ghê lắm.
- Thôi đừng!
Tôi cản anh ta lại rồi kể chuyện có hẹn với hai anh em Bôn, Tài, rồi chuyện chắc chắn phải cho gia đình Trần Hiền leo cây vì không có nhiều thì giờ để đáp trả thạnh tình của hai, ba nơi cùng một lúc. Đặc biệt là lời hứa với chị Nhạn. Sau cùng, tôi cũng không giấu ý định muốn ra Chợ Cồn đón xe Lam vào Phú Lộc thăm lại doanh trại cũ của Liên Đoàn 12 Biệt Động Quân.

Nghe vậy, Qúy "đen" trợn mắt:
- Vào đó làm gì nữa! Đã thành doanh trại của đám nón cối lâu nay rồi ông ơi! Đi làm gì cho mất thì giờ. Chỉ thêm bực mình, tức tối thôi!...Mẹ! Khi không mất nước ngang xương!
Thấy tôi im lặng, anh ta đứng bật dậy:
- Ông ở nhà chờ nghe! Tôi ra gọi mẹ con nó về ngay.
Tôi cản anh ta lại:
- Không được đâu anh Quý. Tôi có hứa về ăn tối với...
- À! Tui quên!
Qúy  "đen" ngắt lời tôi, rồi nói tiếp:
- Thôi thì như vầy! Tôi chở ông ra chỗ hai mẹ con nó, rồi qua Nguyễn Hoàng để ông báo tin. Ăn tối với tôi xong, ông đi gặp bạn cũng chưa muộn. Vậy đi nghe!?

Tôi chỉ có nước gật đầu khi biết mình không thể từ chối thạnh tình của người đồng đội cũ. Nhưng khi đến trước cổng nhà chị Nhạn thì đột nhiên Qúy "đen" nói:
- Hay là ông về nhà tui đêm nay đi! Gần bến xe hơn. Chỗ này hơi xa đó!
Tôi chưa kịp trả lời, thì Út Hương đã từ trong nhà ra cổng chào đón, rồi nói ngay:
- Chị Nhạn vừa đi mua mấy món gì đó với hai chị bạn, để sáng sớm hai chị ấy lên Hiệp Đức thăm nuôi. Đêm nay họ sẽ ở lại đây. Chị có dặn em là hai anh em mình và các cháu ăn cơm trước.

Trong tích tắc, tôi quyết định ngay:
- Anh gặp bạn cũ cùng đơn vị, nên cũng muốn về nói cho chị Nhạn biết là đêm nay anh sẽ ở lại nhà anh ấy cho tiện. Út nói lại với chị Nhạn dùm anh nghe!
Cô em của bạn tôi tròn mắt, ngạc nhiên, nhưng rồi cũng nở nụ cười thông cảm. Sau mấy chữ cáo lỗi để lại trong phòng của Quảng và vò đầu hai đứa cháu của bạn, là tôi vác ba lô ra cổng, lòng thầm áy náy khi phải phụ lòng của những người đã coi mình như thân thuộc. Qúy "đen" cũng làm tôi thật cảm động khi anh chàng mừng rỡ ra mặt. Tình đồng đội đến lúc này vẫn thắm thiết làm sao! Tháng 3, Đà Nẵng thường trở lạnh vào buổi chiều tối nhưng hôm nay thì ấm áp lạ thường...

...Ra khỏi nhà Qúy "đen" thì trời đã tối. Bữa cơm đạm bạc nhưng thân tình với gia đình người lính cũ làm tôi cảm động. Phải nén lòng thương cảm mấy lần mới khỏi ứa nước mắt. Thứ Bảy thường là ngày buôn may, bán đắt trong mọi thời kỳ, nhưng Qúy "đen" và cả nhà đã không màng chuyện bạc tiền ngay khi đang tất tả mưu sinh để đãi tôi một bữa cơm đầy ắp tình huynh đệ, nghĩa chi binh. Người khinh binh cứ luôn miệng nhắc chuyện tôi làm văn nghệ Tết cho đơn vị hai năm trước, còn chị Quý thì kể chuyện cô nữ sinh đệ nhị ban C bên kia rào thường hỏi thăm "Anh chuẩn úy ấy bây giờ ra sao!" 

Chị cười thật dòn:
- Ông Qúy đây là bạn thân của anh nó mà nó không hỏi câu nào! Cứ luôn miệng nhắc tới anh không hà!
Bé Tâm thì "Con hết thèm ăn kem rồi chú ơi!", làm tôi nhớ tới trung sĩ Cao Kim Rắc, người tiểu đội trưởng khinh binh đã hy sinh tại Suối Đá, Tiên Phước - vốn chơi rất thân với Qúy "đen" - thường ghé qua thăm và dẫn bé Tâm đi ăn kem mỗi khi đơn vị về hậu cứ dưỡng quân...

Vừa đi vừa suy tưởng nên chẳng mấy chốc đã ra tới chỗ hẹn với Bôn và Tài. Hai bạn đồng cảnh đã chờ sẵn ngay ngã tư trước rạp xinê TrưngVương. Sau vài câu hỏi thăm nhau về buổi chiều đầu tiên được nhìn lại phố thị, là câu chuyện tâm tình trong chiếc quán cà phê, ngay cạnh khách sạn Trung Nam. Vẫn chỉ là chuyện của những ngày lao động khổ sai, những buồn, vui và nhẫn nhục để sinh tồn; cùng những kỷ niệm đã có với nhau suốt từ Hội An, qua Hòa Cầm và sau cùng là trên trại tù Hiệp Đức. 

Nhìn chung quanh rồi hướng tầm mắt ra ngoài phồ, chúng tôi ngao ngán lắc đầu khi đường xá vắng tanh mặc dù trời mới vừa sụp tối. Mới ngày nào Đà Nẵng sầm uất và linh động bao nhiêu, thì ngày nay tối tăm và buồn bã bấy nhiêu. Thành phố sau một năm thay đổi chủ đã trở thành một con bệnh xanh xao, hom hem, vàng vọt gần như vô hồn. Ánh mắt dành cho nhau lúc nào cũng mang dáng vẻ dò xét. Lời nói chỉ vừa đủ cho người ngồi quanh chiếc bàn con trao đổi cho nhau nghe. 

Trong số những người đang im lặng rít từng hơi thuốc lá, hay xì xào câu chuyện, ai là tai mắt, là ăng ten của chế độ mới!? Ai trong số những người qua lại trên đường là những "con bò vàng" cải trang thành thường dân?! Có phải vì chúng tôi chẳng khác gì loài thú bị thương nên nhìn đâu cũng có cảm giác hay nghi ngờ chung quanh mình đều là công an, hoặc là đám "30 tháng 4" từng mang băng đỏ chạy khắp phố, để tước súng và trả thù Quân - Cán - Chính của Việt Nam Cộng Hòa mới một năm trước đây?

Những lời dặn dò của chị Nhạn, của gia đình Trần Hiền và của "Qúy đen" về sự thận trọng trong lời nói và hành động khi ra phố, làm tôi ngao ngán cho thân phận của một tù tàn binh vừa ra khỏi nhà tù nhỏ, để bước vào ngục tù bao là hơn và phức tạp hơn rất nhiều. Bôn và Tài có lẽ cùng chung một tâm trạng nên sau khi rời khỏi quán một đoạn khá xa, chúng tôi mới kín đáo và lặng lẽ chúc nhau mọi sự an lành sau cái bắt tay thật chặc. 

Còn lại một mình tôi rả chân thả bước mà lòng xa vắng hơn cả phố phường đã bắt đầu lắng đọng dù chưa đến 9 giờ tối! Qúy " đen " chờ đón tôi ngay đầu hẻm. Thật ấm lòng làm sao khi nhìn thấy nụ cười trên mặt người đồng đội cũ!
- Tui định vào lấy xe chạy tìm ông. Thời buổi này đi khuya quá không tốt!

Khuya! Chỉ mới một năm trước đây thôi, thì giờ phút này chỉ là khoảng thời gian khởi động cho nhịp sống về đêm của thành phố lớn thứ nhì của miền Nam này. Bây giờ chỉ mới 9 giờ tối là ai nấy đã không muốn ra khỏi nhà. Bởi không ai muốn mình trở thành đích ngắm của những cặp mắt cú vọ luôn rình rập đó đây. Cũng không ai muốn nhìn thấy bóng dáng của loài ngạ quỷ lầm lỳ ôm súng ngược xuôi, khi bóng tối bắt đầu phủ trùm lên thành phố như chỉ đang gượng sống. 

Tôi bất giác thở dài rồi hỏi Qúy "đen":
- Có cần trình giấy tờ cho phường, khóm gì không?
Anh chàng lắc đầu:
- Không cần đâu! Tụi nó ít khi léo hánh vào trong xóm này lắm! Anh cứ yên tâm.
Lại thêm một màn cà phê, thuốc là và những tâm tình vụn vặt quanh chuyện chiến đấu trước đây. Sau khi tức tưởi tan hàng mới thấy nghĩa tình của Lính dành cho nhau thật khắn khít biết bao!
- ...Mẹ! Hồi đó nhìn thấy ông, đứa nào cũng than là ông giống như thầy giáo hoặc...Xin lỗi! Giống như dân xì ke gì đâu!
Chàng khinh binh thoải mái cười xòa, lại văng tục một phát rồi mới nói tiếp:
- Không có thằng nào sợ ông cả! Nghe lệnh rồi thi hành chứ trong bụng thì tụi này chỉ ngán Thượng Sĩ Trữ và sau đó là ông Trung Sĩ I Thái mà thôi! Nói ông đừng giận! Thằng nào cũng chê ông ốm nhom ốm nhách. Còn cặp mắt kiếng thì dày cộm như vậy thì đánh đấm cái nỗi gì!?
- Tôi biết! Không phải chỉ có một mình mấy anh đâu! Cả thiếu tá Gio lúc đầu cũng không tin tưởng tôi và cũng nói y chang như mấy anh. Chỉ có đại úy Vương của bọn mình hiểu rõ tôi mà thôi!
- Nhưng mà tụi nó thương ông lắm! Nhứt là khi ông đem đồng hồ đi cầm để có tiền đãi nguyên băng Sài Gòn ăn Tết. Rồi còn cái vụ văn nghệ mừng Xuân nữa. Cười chảy nước mắt luôn!

Tôi cũng cười khi nhớ đến chuyện dân tác chiến mà phải lấy văn nghệ, để chiếm cảm tình của đơn vị và thuộc cấp. Qủa là hình dáng bên ngoài của tôi không hề xứng hợp với mẫu người vào sinh, ra tử và nhứt là phải chỉ huy những gương mặt "ngầu hầm" của một trung đội Biệt Động Quân. Thậm chí cả gia đình tôi, từ ba má cho đến các em không ai tin là tôi đã suýt chết mấy lần "Nó cận thị như vậy mà cho chỉ huy thì lính chết hết còn gì?" Chắc họ chỉ cho nó làm việc ở văn phòng thôi!" 
Má tôi đã tin chắc như vậy đó!

Câu chuyện quanh ngọn đèn dầu cứ thế mà lan dần qua những người đã đền xong nợ nước, hay đã đổ máu xương rồi sau đó giải ngũ. Chúng tôi bùi ngùi hỏi và nhắc nhau về những người Lính Mũ Nâu đã đến với trung đội trước đây. Thời gian làm trung đội trưởng của tôi tại Tiểu Đoàn 37 BĐQ không dài, nhưng có đến 5 lần bổ sung trong 10 tháng tác chiến, trước khi tôi đi học một khóa Tiếp Liệu Binh Đoàn rồi về ban 4 Hành Quân của Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn 12 BĐQ. Lính đến rồi "đi" chỉ trong vài ba hôm. Tông tích của họ chỉ còn là Họ và Tên trong sổ tay trung đội trưởng của tôi lúc bấy giờ. 

Hỏi thăm về những tay súng kỳ cựu của trung đội thì Qúy "đen" lắc đầu:
- Tôi không có tin tức gì về tụi nó! Chắc đã về quê hay đi ra vùng giản dân không chừng!
Câu chuyện có lẽ sẽ còn kéo dài hơn nữa nếu chị Qúy không ra nhắc chồng mình là đã quá nửa đêm từ lâu rồi.
- Anh phải để anh ấy ngủ lấy sức để sáng dậy sớm! Chỉ còn vài tiếng nửa thôi đó!

Đèn tắt. Trên chiếc ghế bố nhà binh kề bên đã không nghe tiếng động. Người đồng đội cũ nằm xuống là ngủ ngay vì đang có tiếng thở nhẹ và đều đặn. Riêng tôi cứ lan man ôn lại một ngày vừa trôi qua trong đời. Hơn một ngày hầu như không chợp mắt, nhưng tôi không thấy mệt mỏi hay buồn ngủ, bởi mọi thứ trôi qua như trong giấc mộng. Mọi thứ đều rất thực! Một ngày tự do - dù là thú tự do tạm bợ - cộng thêm thân tình của những người quen biết cũ đã làm tôi bồi hồi cảm động. 

Vài tiếng nữa thôi là tôi sẽ rời Đà Nẵng, nơi mà món nợ máu xương đối với đồng đội và chiến hữu đã luôn chất ngất trong lòng. Việt Nam Cộng Hòa đã không còn. Đà Nẵng thì sắp chia xa. Mai này sẽ ra sao? Nào ai biết chuyện ngày sau, nhưng chắc chắn Đà Nẵng và tấm chân tình dành cho nhau trong ngày hôm qua, sẽ là dấu ấn của tình Huynh Đệ Chi Binh ngàn đời không phai trong lòng tôi.
HUY VĂN

LỚP HỌC ĐẶC BIỆT

Đọc xả trét chơi, lụm được trên mạng:

- MỸ: là lớp trưởng, giàu nhứt lớp. Nó chính là đứa quyền lực và đặt ra luật chơi cho cả lớp.
- TÀU ĐẠI LỤC: lớp phó tự phong, không ai bầu nhưng nó tự phong là lớp phó. Hầu hết cả lớp ghét nó vì nó có tính tham lam, độc ác và hay bắt nạt những thằng yếu hơn nó. Thằng này có tài copy y chang bài của đứa khác nhanh như chớp.
- DO THÁI (Israel): Thông minh và học giỏi toán nhứt lớp nên giữ chức lớp phó học tập, nhưng hơi có tính keo, không cho ai cóp bài hay mượn tài liệu bao giờ.
- PHÁP: là dân chơi, rất đỏm dáng, mỗi lần đi học là xịt nước hoa nồng nặc.
- ANH : Thằng này học dẫn đầu lớp môn … English, nhưng hay hờn dỗi, suốt ngày đòi nghỉ chơi với mấy đứa bạn thân lâu năm.
- Ý: con bé xinh xắn, thấp người, nhỏ nhưng... có võ. Con bé thường cười ngạo trước thằng Pháp, đờn ông gì mà xịt nước hoa còn quá đờn bà.
- BA TƯ (Iran): trong lớp chỉ lo lúi húi nghịch làm giàu uranium bất chấp trên bảng giáo viên đang dạy cái gì.
- NGA: thằng này lạnh lùng và “gấu” nhứt lớp. Có tật xấu hay say sưa, hở ra là chuốc rượu vodka bạn bè.
- THÁI LAN: Thằng này đi lại ưỡn ẹo như con gái, bị bạn bè gọi là bóng.
- TRIỀU TIÊN: Thằng này bị bệnh tự kỷ cộng thêm chứng hoang tưởng, suốt ngày mang hàng nóng dỏm ra dọa thằng lớp trưởng để tống tiền.
- ỦY NỘI THỤY LẠP (Venezuela): Con bé này rất khoái thi sắc đẹp, hoa khôi của lớp, có tật ưỡn ngực coi trời bằng vung; nhưng vừa mới đây ở xứ con bé, gã Má-đù-rồ bị bắt còn ly kỳ hơn phim Hollywood khiến con bé phân vân có nên vênh mặt nữa không, sợ bị… lạc đạn.
- Ả RẬP SA ĐẶC (Arab Saudi): Có thể là một con bé xinh đẹp, tuy nhiên chưa ai nhìn thấy mặt nó (che mặt kín như bưng).
- TÂN GIA BA (Singapore): Lớp phó lao động-vệ sinh. Thằng này giữ vệ sinh rất kỹ, tính khó chịu. Đừng bao giờ nhai chewingum với hút thuốc trước mặt nó, hay vẽ bậy lên tường, coi chừng ăn roi của nó vào đít.
- THỤY SĨ: Thằng này tính cẩn thận, nghiêm túc, được giao làm thủ quỹ của lớp.
- ÚC: Cả trường có mình nó cưỡi kangaroo đi học.
- BA TÂY (Brazil): Thằng này giỏi đá bóng với nhảy nhót nên được bầu làm lớp phó phụ trách văn nghệ thể thao.
- ĐẠI HÀN: Nhóm trưởng nhóm nhảy hiện đại của lớp. Mấy đứa trong nhóm của nó mặt giống nhau y chang.
- NHỰT BỔN: Thằng này cũng con nhà giàu, lái Lexus đi học, nhưng lễ phép… quá xá, chào bạn bè mà cũng cúi gập đầu thiệt sâu, thiếu điều muốn gãy lưng.




--
====================================================================
Trên Facebook :
http://www.facebook.com/DaiHocKhoaHocSaiGon
====================================================================
 
Bạn đã nhận được bài viết này vì bạn đã đăng ký vào Nhóm "KhoaHocSG" của Google Groups.
* Để đăng bài lên nhóm này, hãy gửi email đến "khoa...@googlegroups.com"
* Để RÚT TÊN ra khỏi nhóm này, gửi email đến "khoahocSG+...@googlegroups.com"
* Để có thêm tuỳ chọn (preference set up), hãy truy cập vào nhóm này tại: http://groups.google.com/group/khoahocSG?hl=vi
---
Bạn nhận được thư này vì bạn đã đăng ký vào nhóm Google Groups "KhoaHocSG".
Để hủy đăng ký khỏi nhóm này và ngừng nhận email từ nhóm, hãy gửi email đến khoahocsg+...@googlegroups.com.
Để xem cuộc thảo luận này, hãy truy cập vào https://groups.google.com/d/msgid/khoahocsg/CH2PR02MB6581240834625CD11125AAC9FC48A%40CH2PR02MB6581.namprd02.prod.outlook.com.
Reply all
Reply to author
Forward
0 new messages