Fwd: ĐIỂM TIN DIỄN ĐÀN 13-04-2026 (SỐ 067-2026)

7 views
Skip to first unread message

Giu Tran

unread,
Apr 13, 2026, 10:09:23 PMApr 13
to


---------- Forwarded message ---------
From: soan....@hotmail.com <soan....@hotmail.com>
Date: Mon, Apr 13, 2026 at 9:05 AM
Subject: ĐIỂM TIN DIỄN ĐÀN 13-04-2026 (SỐ 067-2026)
To:


GOOD MORNING VIET NAM - CANADA - USA

ĐIỂM TIN DIỄN ĐÀN 13-04-2026  (SỐ 067-2026)

Image insérée




Image insérée



MỤC LỤC

  1. Tháng 4 ở An Lộc
  2. NẾU MAI ANH VỀ 
  3. TỔNG THỐNG TRUMP RA LỆNH PHONG TỎA EO BIỂN HORMUZ CẢNH CÁO IRAN CHẤM DỨT THAM VỌNG HẠCH TÂM NGAY LẬP TỨC
  4. Chuyện hai thằng
  5. Chuyện Năm Xưa
  6. ĐIỀU ĐÁNG SỢ NHẤT …!?
  7. *Làm thế nào để lâu già?
  8. Giáng Tiên
  9. Vẽ Trên Xương Lá
  10. Căn Nhà Năm Xưa




Tháng 4 ở An Lộc
  • Rạng sáng ngày 13 tháng 4 năm 1972, Cộng sản Bắc Việt sau khi chiếm được Lộc Ninh đã đánh vào An Lộc với một lực lượng và sức tàn phá chết chóc  kính hoàng đối với người dân chiến nạn ngày đó. Bài viết của một chứng nhân khi ấy mới vừa 16 tuổi, trên đường chạy giặc. 

NẾU MAI ANH VỀ 
(ý thơ Vô Danh, nhạc Phạm Anh Dũng) Mỹ Lệ hát, Quốc Dũng hòa âm: 
          https://youtu.be/TMKMdo8SRPM 

NEU MAI ANH VE c.jpg

NẾU MAI ANH VỀ 

(ý thơ Vô Danh, nhạc Phạm Anh Dũng)

Nếu anh về môi em phai màu thắm
Nắng ngoài sân vàng lỡ tuổi xuân qua
Nếu anh về mắt em hết màu xanh
Lệ tràn mi nhìn nhau đau tiếc nuối

Nếu anh về vai em có còn mềm ?
Gió chiều hôm buồn nhớ lụa trinh nguyên
Nếu anh về tóc em có còn thơm ?
Tóc nghìn năm dấu sầu bay gió lộng

Mai anh về cho anh đan lại mộng mơ
Mai anh về gặp nhau quên đi đời sương gió
Mai anh về cho nhau trọn nỗi nhớ nhau
Mai anh về cùng em anh nói chuyện năm sau

Mai anh về tô môi em lại mầu son
Mai anh về, về lau cho em hàng nước mắt
Mai anh về cho anh tà áo trắng trong
Mai anh về rồi anh vuốt tóc bờ vai ngoan

--


TỔNG THỐNG TRUMP RA LỆNH PHONG TỎA EO BIỂN HORMUZ CẢNH CÁO IRAN CHẤM DỨT THAM VỌNG HẠCH TÂM NGAY LẬP TỨC
 
Iran đã hứa sẽ mở Eo biển Hormuz, nhưng họ đã cố tình không thực hiện điều đó. Điều này đã gây ra lo âu, xáo trộn và đau khổ cho nhiều người dân và các quốc gia trên khắp thế giới. Họ nói rằng họ đã thả thủy lôi xuống biển, mặc dù toàn bộ hải quân của họ, cùng phần lớn các phương tiện thả thủy lôi, đã bị phá hủy hoàn toàn. Có thể họ đã làm như vậy, nhưng thủy thủ nào lại dám mạo hiểm đi qua? Đây là một sự ô nhục lớn và là tổn hại lâu dài đối với uy tín của Iran, cũng như đối với những gì còn lại của “giới lãnh đạo” của họ, nhưng chúng ta đã vượt qua điều đó. Như họ đã hứa, họ phải bắt đầu ngay tiến trình mở CÁC THỦY LỘ QUỐC TẾ, và phải làm NGAY LẬP TỨC! Mọi luật lệ hiện hành đều đang bị họ vi phạm. Tôi đã được Phó Tổng thống JD Vance, Đặc phái viên Steve Witkoff, và Jared Kushner báo cáo đầy đủ về cuộc họp diễn ra tại Islamabad, dưới sự lãnh đạo khéo léo và rất có năng lực của Thống chế Asim Munir và Thủ tướng Shehbaz Sharif của Pakistan. Họ là những con người hết sức phi thường, và liên tục cảm ơn tôi vì đã cứu sống 30 đến 50 triệu sinh mạng, trong một cuộc chiến khủng khiếp với Ấn Độ có thể đã xảy ra. Tôi luôn trân trọng khi được nghe điều đó. Tầm vóc nhân đạo được nói đến là điều khó có thể diễn tả hết.

Cuộc họp với Iran bắt đầu từ sáng sớm và kéo dài suốt đêm, gần 20 giờ. Tôi có thể đi vào chi tiết, và nói về nhiều điều đã đạt được, nhưng chỉ có một điều duy nhất là quan trọng: IRAN KHÔNG SẴN SÀNG TỪ BỎ THAM VỌNG HẠCH TÂM CỦA HỌ! Xét về nhiều mặt, những điểm đã đạt được còn tốt hơn cả việc tiếp tục các hoạt động quân sự, nhưng tất cả những điểm đó đều không quan trọng so với việc không thể để quyền lực hạch tâm rơi vào tay những con người bất ổn, khó lường và khó đoán như vậy. Ba đại diện của tôi, trong suốt thời gian này, đã trở nên, không có gì ngạc nhiên, rất thân thiện và tôn trọng các đại diện của Iran, gồm Mohammad-Bagher Ghalibaf, Abbas Araghchi, và Ali Bagheri, nhưng điều đó không có ý nghĩa, vì họ rất cứng rắn trong vấn đề quan trọng duy nhất này, và như tôi đã luôn nói ngay từ đầu, từ nhiều năm trước, IRAN SẼ KHÔNG BAO GIỜ CÓ VŨ KHÍ HẠCH TÂM!

Vậy thì, quý vị đã rõ, cuộc họp diễn ra tốt đẹp, phần lớn các điểm đã đạt được đồng thuận, nhưng điểm duy nhất thực sự quan trọng, đó là HẠCH TÂM, thì lại không đạt. Có hiệu lực ngay lập tức, Hải quân Hoa Kỳ, lực lượng tinh nhuệ nhất thế giới, sẽ bắt đầu tiến trình PHONG TỎA tất cả các tàu thuyền tìm cách đi vào hoặc rời khỏi Eo biển Hormuz.

Vào một thời điểm nào đó, chúng ta sẽ đạt tới nguyên tắc “TẤT CẢ ĐỀU ĐƯỢC PHÉP VÀO, TẤT CẢ ĐỀU ĐƯỢC PHÉP RA,” nhưng Iran đã không cho phép điều đó xảy ra chỉ bằng cách nói rằng, “Có thể có thủy lôi đâu đó ngoài kia,” điều mà không ai biết ngoài họ. ĐÂY LÀ HÀNH VI TỐNG TIỀN TOÀN CẦU, và các nhà lãnh đạo các quốc gia, đặc biệt là Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, sẽ không bao giờ bị tống tiền.

Tôi cũng đã chỉ thị cho Hải quân chúng ta truy tìm và ngăn chặn mọi tàu thuyền trên hải phận quốc tế đã trả tiền phí cho Iran. Không một ai trả khoản phí bất hợp pháp đó sẽ được bảo đảm an toàn lưu thông trên biển cả. Chúng ta cũng sẽ bắt đầu phá hủy các bãi thủy lôi mà Iran đã đặt tại các eo biển. Bất cứ người Iran nào nổ súng vào chúng ta, hoặc vào các tàu thuyền hòa bình, sẽ bị tiêu diệt ngay lập tức.

Iran hiểu rõ hơn ai hết cách chấm dứt tình hình này, vốn đã tàn phá đất nước họ. Hải quân của họ không còn, Không quân của họ không còn, hệ thống phòng không và radar của họ trở nên vô dụng, Khomeini, cùng phần lớn “lãnh đạo” của họ, đã thiệt mạng, tất cả chỉ vì tham vọng hạch tâm của họ.

Cuộc phong tỏa sẽ bắt đầu trong thời gian rất ngắn. Các quốc gia khác sẽ tham gia vào cuộc phong tỏa này. Iran sẽ không được phép hưởng lợi từ hành vi tống tiền bất hợp pháp này. Họ muốn tiền, và quan trọng hơn, họ muốn vũ khí hạch tâm.

Ngoài ra, vào thời điểm thích hợp, chúng ta đã hoàn toàn “SẴN SÀNG CHIẾN ĐẤU,” và quân lực của chúng ta sẽ hoàn tất những gì còn lại đối với Iran!

Tổng thống DONALD J. TRUMP.

Iran promised to open the Strait of Hormuz, and they knowingly failed to do so. This caused anxiety, dislocation, and pain to many people and Countries throughout the World. They say they put mines in the water, even though all of their Navy, and most of their “mine droppers,” have been completely blown up. They may have done so, but what ship owner would want to take the chance? There is great dishonor and permanent harm to the reputation of Iran, and what’s left of their “Leaders,” but we are beyond all of that. As they promised, they better begin the process of getting this INTERNATIONAL WATERWAY OPEN AND FAST! Every Law in the book is being violated by them. I have been fully debriefed by Vice President JD Vance, Special Envoy Steve Witkoff, and Jared Kushner, on the meeting that took place in Islamabad through the kind and very competent leadership of Field Marshal Asim Munir, and Prime Minister Shehbaz Sharif, of Pakistan. They are very extraordinary men, and continuously thank me for saving 30 to 50 million lives in what would have been a horrendous War with India. I always appreciate hearing that — The amount of Humanity spoken of is incomprehensible.
 
The meeting with Iran began early in the morning, and lasted throughout the night — Close to 20 hours. I could go into great detail, and talk about much that has been gotten but, there is only one thing that matters — IRAN IS UNWILLING TO GIVE UP ITS NUCLEAR AMBITIONS! In many ways, the points that were agreed to are better than us continuing our Military Operations to conclusion, but all of those points don’t matter compared to allowing Nuclear Power to be in the hands of such volatile, difficult, unpredictable people. My three Representatives, as all of this time went by, became, not surprisingly, very friendly and respectful of Iran’s Representatives, Mohammad-Bagher Ghalibaf, Abbas Araghchi, and Ali Bagheri, but that doesn’t matter because they were very unyielding as to the single most important issue and, as I have always said, right from the beginning, and many years ago, IRAN WILL NEVER HAVE A NUCLEAR WEAPON!

So, there you have it, the meeting went well, most points were agreed to, but the only point that really mattered, NUCLEAR, was not. Effective immediately, the United States Navy, the Finest in the World, will begin the process of BLOCKADING any and all Ships trying to enter, or leave, the Strait of Hormuz. At some point, we will reach an “ALL BEING ALLOWED TO GO IN, ALL BEING ALLOWED TO GO OUT” basis, but Iran has not allowed that to happen by merely saying, “There may be a mine out there somewhere,” that nobody knows about but them. THIS IS WORLD EXTORTION, and Leaders of Countries, especially the United States of America, will never be extorted. I have also instructed our Navy to seek and interdict every vessel in International Waters that has paid a toll to Iran. No one who pays an illegal toll will have safe passage on the high seas. We will also begin destroying the mines the Iranians laid in the Straits. Any Iranian who fires at us, or at peaceful vessels, will be BLOWN TO HELL! Iran knows, better than anyone, how to END this situation which has already devastated their Country. Their Navy is gone, their Air Force is gone, their Anti Aircraft and Radar are useless, Khomeini, and most of their “Leaders,” are dead, all because of their Nuclear ambition. The Blockade will begin shortly. Other Countries will be involved with this Blockade. Iran will not be allowed to profit off this Illegal Act of EXTORTION. They want money and, more importantly, they want Nuclear. Additionally and, at an appropriate moment, we are fully “LOCKED AND LOADED,” and our Military will finish up the little that is left of Iran! 
President DONALD J. TRUMP

The Trump card the president holds if Iran won’t bend: a naval blockade:
 
Chuyện hai thằng

  • Image en ligne

    Để tưởng nhớ đến một người bạn đã nằm xuống với vô vàn nhớ thương!....
    -----
    Tôi với hắn cùng tuổi canh dần sinh 1950. Nhưng ngoài chuyện tuổi tác ra thì hai đứa hoàn toàn đối ngược, một bên cao lêu nghêu, một bên lùn tịt, tôi thì trắng bóc thư sinh, hắn thì đen xì và lì đòn trầm tĩnh, không biết sợ hãi là gì. Hắn ở tận Cầu Hai gần đèo Phước Tượng quốc lộ 1, còn tôi ở cống Lương Y trong Thành Nội. Hai thằng từ lúc mạ sinh ra không hề quen biết, ấy vậy mà ở chung nhà, ngủ cùng giường, đi học với nhau từ đệ thất lên đến đệ tứ và suốt 4 năm tuổi thơ, chúng tôi đã song hành với không biết bao nhiêu là kỷ niệm... mà mãi cho tới hôm nay, dù đã quá tuổi lục tuần, tôi vẫn không khỏi rơm rớm nước mắt mỗi lần nhớ đến hắn...
    Bạn tôi, thằng bé cục mịch năm xưa ấy, có cái tên cũng khá dữ dằn không kém nét mặt, Huỳnh Tấn Khiêm. Lúc mới lên 2,Khiêm đã sớm đối diện một bất hạnh lớn nhất đời người,đó là mẹ của hắn mất khi sinh đứa em trai do chứng "sản hậu", chẳng bao lâu sau thì cha có vợ khác.
    Mẹ tôi nhìn thấu suốt hoàn cảnh thương tâm của hắn, nên đã luôn ứng xử như con ruột, do vậy mà 2 thằng tôi giống như hai anh em, cái miếng ăn chi cũng được chia đôi ngang bằng, từ chén cơm với nước mắm đong buổi sáng, đến củ khoai, trái bắp và lâu lâu có miếng ngon mỗi lần mẹ tôi trúng mánh ngoài chợ. Khoanh chả, miếng thịt đều được ngắm nghía trước khi cắt đôi. Mẹ hay đưa ánh mắt bảo bọc nhìn hắn rồi lại nhìn tôi và thì thầm "thằng Khiêm... chứ thằng Phiếu mà như rứa thì mần răng giữa Trời đây hè!?"...
    Cuộc đời mỗi người theo tôi thấy, hình như bất luận điều chi cũng có nhân duyên đưa đẩy. Ngay cả chuyện tôi đựợc đi học dưới mái trường làng Tây Lộc, rồi gặp và cùng với hắn sánh bước mỗi ngày trong suốt thời gian đệ nhất cấp cũng không ngoại lệ. Tính đến hôm nay đây đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, và hiện giờ thằng tôi thì đang phiêu bạt nơi xứ người, còn thằng bạn nhỏ năm xưa của tôi đã không còn trên cõi đời này nữa!... Khiêm đã sớm bỏ mình trong cuộc chiến huynh đệ tương tàn lúc tuổi đời chưa qua 24, chết tức tưởi dưới lằn đạn man rợ của quân thù và thân xác vùi dập một nơi nào trong lòng đất mẹ, không ai hay ai biết mà tôi sẽ kể tiếp trong phần cuối...
    Bây giờ xin nói về cái thằng tôi. Niên khóa 60-61 tôi đang học lớp nhì trường Bồ Đề Thành Nội, nơi dãy nhà gỗ dài ngăn ra thành 5 lớp dành riêng cho bậc tiểu học nằm khuất bên hông trái cổng chính của trường. Dãy phòng sơn màu lam, lợp mái tôn này vào giờ ra chơi rất là ồn ào nhưng trong giờ học im phắt và luôn được đóng kín các cửa, nhất là về mùa đông. Ngoài trời thì mưa gió, bên trong lớp có nhiều ống đèn điện nê ông được bật lên. Tôi thích vô cùng cái ánh sáng màu trắng lan tỏa ấm cúng (nhà tôi thắp đèn dầu hỏa vào thời đó). Vậy mà sau khi cô Lan quê Hội An dẫn tôi lên văn phòng để lãnh quà dành cho học sinh nghèo, gồm gói kẹo nhỏ và cái áo thun sọc màu xanh lá chuối, cũng là lúc tôi bị cho nghỉ học ngày hôm sau vì thiếu tiền đóng học phí. Lúc bấy giờ tôi nào biết chi... còn mừng "húm" hí hửng chờ tan buổi học để chạy về đem áo, kẹo khoe và đưa tờ giấy cho ba đọc.... Có ai thông cảm cho cái "tội" cha mẹ nghèo làm khổ lây con cái!? Sáng hôm sau ngủ dậy, tôi đã khóc nhiều lắm khi tới giờ đi học, mẹ tôi dỗ dành tôi càng khóc to hơn, nước mắt ràn rụa... Tôi buồn ảo nảo và cho đến hết hè năm đó, vẫn chưa thể nguôi ngoai được nỗi nhớ cái màu trắng đèn nê ông và các bạn nhỏ vui đùa. Qua đến tháng 9 năm 1961, một buổi sáng cuối thu, ba tôi đã không hỏi không han mà cứ việc chở tôi đến nhà anh rể tôi, tiệm may nhỏ Việt Cường (cũng là tên của anh) ở khu Canh Nông, hóa ra người lớn đã sắp đặt xong xuôi. Từ đây tôi sẽ phải theo học nghề may do anh rể dạy. Xin được nói qua, Ba tôi là "cựu binh sĩ" thời lính Pháp sống nhờ cuốn sổ hưu, mẹ tôi bán nón lá Huế dạo ở chợ Đông Ba. Gạo đong từng ngày. Anh tôi học trường Hàm Nghi và đang vào mùa thi lấy bằng "Thành chung" được cả nhà nuôi hy vọng, dồn hết nổ lực... thỉnh thoảng được tẫm bổ, khi thì cái trứng vịt lộn, khi thì tô phở bò viên giữa khuya để thức học bài. Có một đêm mẹ tôi tay bưng đồ ăn mới mua về và liếc mắt vô giường tôi đang nằm khi đi ngang qua rồi chép miệng "ngủ say rồi, tội nghiệp!.." Mẹ nói rất khẽ nhưng tôi vẫn nghe đựợc và nhắm mắt lại ngay để giả vờ ngủ... Thỉnh thoảng tôi cũng nghe câu "nhà mình nghèo con ạ", m tôi chỉ góp ý chừng ấy lời là hai người chị tôi nín thinh ngay không đòi hỏi nữa... Tôi út ôi bé nhỏ nhất nhà luôn đựợc cưng chiều mà cũng không ngoại lệ. Cho nên chuyện tôi đi học thành thợ may, một quyết định hệ lụy cả cuộc đời, tôi chỉ biết ngoan ngoãn vâng theo. Thế nhưng, như tôi đã nói ở trên, mỗi con người ta đều có nhân duyên định đoạt, cái số của tôi vẫn còn được chữ "sĩ" chiếu mạng nên chỉ mấy ngày sau... trong lúc dạy đơm khuy áo, bỗng dưng ông anh rể nhìn chăm chăm vào cái mặt sáng sủa, trắng trẻo của tôi rồi biểu đứng dậy đi thay áo quần. Liền sau đó anh rể đã chở tôi qua cống Vĩnh Lợi rồi rẽ trái ghé chợ mua hai cuốn tập cây viết, tiếp tục đạp tới ngã tư Thái Phiên thì ngừng xe trước hai cổng trụ xi măng lớn. Tôi ngước thấy cái bảng hiệu Bồ Đề Tây Lộc. Ôi! Lạy Phật! Lần này thì tôi đã được đi học thiệt rồi... trong lòng tôi reo lên!
    Đào Hòa là thằng bạn đầu tiên, trống đánh ra chơi là chạy ngay tới bên tôi làm quen và gạ gẫm.. Đã 55 năm, tôi vẫn còn nhớ như in trong đầu cái cười môi mỏng dính, mặt rổ hoa và lời hắn nói, "nhìn cái sẹo bên màng tang là biết ngay đá "xuya" (hay) rồi! Vô đội tui nha!" Tôi nhìn Hòa hơi hoảng hốt!.. Tan trường buổi học đầu tiên hôm đó,tôi đi bộ về một mình với cõi lòng hân hoan đến đỗi bị lạc đường hồi nào không hay.Ngay tại chỗ ngã ba cống Vĩnh Lợi, thay vì quẹo trái tôi đã đi hướng ngược lại. Ở nhà thấy đã quá trưa mà chưa về, anh rể đạp xe đi tìm và tôi đã khóc òa mùi mẫn khi thấy mặt anh rể.
    Lớp nhất C là lớp lớn nhất trường, có chương trình dạy riêng cho học sinh đã thi rớt "càng-cua" năm trước. Tôi thuộc nhóm "lớp nhất mới lên" nhưng vẫn là lớp đàn anh, lâu lâu tới phiên đựợc phân công cầm thước dài, cho ra trước đứng ở ngoài đường cái để giữ trật tự giờ tan học. Tha hồ trợn mắt la lối lũ "nhí" dưới lớp, cũng oai phong nên thích lắm!
    Dân húi "cua" chúng tôi vào thời điểm lúc bấy giờ, nhìn con gái cũng đã biết phân biệt và cả thẹn, như Bùi Thị Bé tròn trắng mủm mỉm, Trần Thị Lệ Hiền đen mà có duyên. Nguyễn Thị Hè già và xấu hoắc luôn cười toét miệng..v.v... Vậy mà hầu như cả bọn chúng tôi tỉnh bơ mặc tà lỏn, áo may ô, đi chân đất đến trường, chỉ trừ Lê Văn Mau cao quá khổ là không thể bày chân, bày đùi và Lê Duy Đóa tí hon nhất lớp là mặc quần dài áo sơ mi mang giày. Tôi quên, có thêm một lớp sát vách không biết từ đâu tới là hoàn toàn khác hẳn, luôn đồng phục quần dài xanh, áo trắng và bảng tên trên túi áo nghiêm chỉnh thật đẹp mắt, nhìn vào chẳng khác chi trẻ em người kinh giữa đám con nít dân thiểu số! Sau này tôi mới biết đó Tây Lộc "du học sinh" đệ nhất cấp trường công, đang ăn nhờ ở đậu Bồ Đề tiểu học tư thục của tôi. Chê bai nói xấu theo lối trẻ con là thế, nhưng trong lòng tôi vẫn rất chiêm ngưỡng và thầm ước ao. May mắn thay cuối năm đó tôi đã thi đậu vào Đệ thất còn gọi là lớp TL2, vậy là cái duyên được học trường "Tây" của tôi đã thành sự thật (1962-1966) và chỉ duy nhất mình tôi, ở tận cống Lương Y ra tới cuối cửa Đông Ba không còn bạn nào khác nữa, một mình lội ngược dòng để đi học mỗi sáng (thường phải ở lại trưa vì quá xa). Trường nhỏ, thiếu thốn đủ mọi thứ nhưng tình thầy trò bạn hữu càng gần gũi đậm đà, chỉ khổ nỗi là cuốc bộ quá xa, rất vất vả nắng nôi nên lắm lúc tôi cũng cảm thấy tủi thân.
    Nhưng đến giữa niên học 62-63 và liên tục 3 năm sau đó, cái bóng nhỏ của tôi không còn độc hành trên con đường làng nữa, mà đã có thêm hắn, thằng bạn tuy xấu xí mà tốt bụng và nóng như lửa, Huỳnh Tấn Khiêm. Hắn ta thân nhỏ mà đầu rất to, tóc cứng lởm chởm, môi dày thâm đen và đặc biệt hai lòng bàn tay của hắn, chỉ có duy nhất một đường chỉ tay nằm bắt ngang, coi Trời bằng vung...
    Tôi còn nhớ giờ cổ văn 1 sáng nọ, thầy Lê Văn Chưởng dành 10 phút đầu để cho 1 thằng nhóc chuyển trường từ Cầu Hai lên, tự giới thiệu và làm quen..Hắn vòng tay, lim dim mắt, giọng cố lên xuống nhưng chẳng ai hiểu chi hết, hắn đang thao thao thì thầy Chưởng ra dấu thôi, ngưng! Cả lớp cười "ồ" hắn cũng cười theo, cái miệng rộng toác hoác. Lúc đó tôi không thích mà cũng không thấy ghét hắn nhưng chẳng để tâm tới. Cho đến khoảng tuần sau thì có một sự kiện đã xảy ra và gắn chặt tôi với hắn. Lúc vừa tan học buổi chiều, nhóc con Nguyễn Văn Tường rủ tôi theo sau cô Ngân lên xe buýt Tây Lộc-Đông Ba. Cô ngồi, 2 đứa tôi đứng hai bên ghế. Cô trả tiền xe cho cô rồi trả luôn thêm một xuất cho hai đứa. Tường xuống giữa chừng vì nhà hắn ở ngã tư cửa Thượng Tứ. Xe đỗ bến Đông Ba,cô còn đi thêm chuyến về "Chợ Nọ" còn tôi lội bộ ngược vô cống Lương Y, thực tình tôi chỉ thích ngồi xe, ngắm phố xá chứ thời gian về đến nhà còn trễ hơn là đi bộ.
    Đang bươn qua cầu để vô cửa Đông Ba thì gió dưới hồ thổi tốc ngược làm bay chiếc mũ pht nylon. Tôi cố chạy theo để lượm... vừa đúng lúc một thằng nhóc con xuống xe đạp, dùng chân chặn chiếc mũ lại, tôi lại gần, thì ra là hắn, thằng đầu to Huỳnh Tấn Khiêm, hắn dùng ngón tay cái ra dấu tôi leo lên xe hắn chở về nhà... Mấy ngày sau mỗi lần tan học hắn đều chở tôi về nhưng chỉ ngang ngã tư Đinh Bộ Lĩnh và Lê Văn Hưu, Khiêm đi thẳng vì nhà hắn ở sát bên nhà sách Khánh Quỳnh. Sau này tôi được biết thêm hắn ở với chị Điểm vợ sắp cưới của anh Khuê là anh ruột của hắn. Anh chị rất thương hắn, mua cho cả xe đạp nhỏ (về sau không vừa cho hai đứa ngồi) và thỉnh thoảng được dắt đi ăn tiệm nhưng hắn luôn trề môi phụng phịu đòi cho được dẫn tôi theo mới chịu (sau khi đã về ở chung nhà). Thân nhau chưa tới tuần lễ và hắn chưa bao giờ đề cập với tôi điều chi. Vậy mà một chiều chủ nhật, tôi đi chơi về thì thấy một bác đang ngồi nói chuyện rất tâm đắc với ba mẹ tôi, có thêm chú nhỏ đứng bên cạnh, thì ra ba hắn đã từ dưới làng Cầu Hai lên gởi gấm hắn. Tôi là út, cách khoảng anh chị nhiều năm, ba mẹ thì lo tảo tần, nay có thêm thằng bé trong nhà để bầu bạn cùng tôi, cũng nên lắm! Ba mẹ tôi đồng ý ngay. Tôi như bắt được nhịp cầu qua sông, hai đứa mau chóng trở thành đôi bạn chí thân sau cái đêm nằm chung mùng đầu tiên, rồi cặp kè bên nhau gây nên không biết bao nhiêu "bão tố" cho người lớn trong suốt thời gian 4 năm đệ nhất cấp mà mọi rắc rối hư đốn đều do hắn chủ đạo... Tôi không hiểu lắm nhưng hình như để bù trừ cho cân bằng hay sao!? Hắn chỉ thích lân la chơi thân với loại thư sinh mảnh mai như tôi, Lê Phước Lộc thầy chùa, Nguyễn Văn Tường bước không qua ngọn cỏ, để cuối cùng ngay cả hiền khô như tôi cũng trở thành thứ "học trò quỷ quái" những lần "hú hồn hú vía".
    Chuyện bẻ trộm bắp:
    Nhà tôi nằm gần sát mí thượng thành, đó là một vòng đai kiên cố xây bằng gạch bọc quanh Đại Nội, xưa kia là cung cấm triều đình nhà Nguyễn. Đứng ở trên nhìn xuống "ngợp" lắm vì vừa cao vừa trống trải, nhìn gần thì bụi cây dây leo đủ loại chằng chịt um tùm, đương nhiên là chỗ ở lý tưởng của bao loài rắn rết hoang dã... Còn nhìn ra xa là cầu Thanh Long mãnh mai thẳng đuột không có vài cầu, bên trái dưới cầu nếu nhìn từ phía nhà tôi là vạt dài cồn cát giữa có nhánh sông nhỏ nối liền tới cống Lương Y. Đó là nói về mùa đông chứ ra tết qua hè thì nơi đây trở thành rừng bắp, một màu xanh bát ngát phủ kín... Tôi và hắn đứng trên Thượng thành đang chơi thả diều, bóng hai thằng nhỏ xíu. Gió rất tốt để diều căng nhưng bỗng nhiên hắn ngưng thả thêm dây mà nhìn xuống cánh đồng xanh và như suy nghĩ điều chi, sống ở vùng quê từ bé hắn rất rành biết đựợc bắp đã già trái, thế là kế hoạch đã thành hình trong cái đầu to mà cổ ngắn rất mất cân xứng... Hắn rỉ tai tôi, "khuya này trèo thành xuống bẻ bắp"... Tôi gật đầu.
    Học bài xong, hai đứa leo lên giường bỏ mùng. Hắn cố thở bằng mũi, mẹ tôi nằm góc đối diện nói vọng qua "ui chao! Con nít thiệt dễ ngủ..."
    Chờ mẹ tôi tới thổi tắt cây đèn dầu xong, hai đứa bò ra.
    Trời tối om, hắn leo xuống trước, dò dẫm từng đoạn rể cây bồ đề rồi đặt bàn chân tôi vào chỗ hốc an toàn, từng công đoạn rất công phu vừa mạo hiểm vừa rất nguy hiểm đến tánh mạng con người mà mục tiêu chỉ để có được mươi trái bắp cắn trong miệng khi leo lên... chưa nói đến mấy chòi canh, bắt được đánh què giò, bị té ngữa hay rắn rít cắn giữa đêm khuya, ai biết được!? Cái giá phải trả quá khủng khiểp mà chỉ đáng 5-7 đồng đi ra chợ mua. Eo ơi! Cái tuổi học trò ngu muội. Ngu ơi là ngu!
    Chuyện pháo kích "liệng đá":
    Có một đêm vào giữa khuya, hắn và tôi thức dậy ra sau vườn tiểu tiện cùng lúc. Đứng nhìn cảnh thanh vắng, bóng dáng mờ mờ, im ắng cao thấp vô trật tự của từng căn nhà mái tôn hiện ra giữa nền trời đêm, một ý nghĩ lạ đời nẩy sinh trong cái đầu to dị thường của hắn, thế là hai đứa tôi đã cong ngón trỏ để "ngoéo", hể thức giấc bất luận giờ nào là rủ nhau ra đây liệng đá thật nhanh liên tiếp 3 lần trên 3 mái nhà khác nhau (nhà của bà xã tôi lúc đó cũng là một mục tiêu). Hai thằng khởi sự thực hành ngay và nhiều đêm xảy ra liên tiếp như thế đều trót lọt, rồi không hiểu do đâu và từ lúc nào mà cả hai thằng tôi riết đâm "ghiền" cái thứ âm thanh ma quái giữa đêm khuya khoắt, khởi đầu chát chúa tiếp theo sau là tiếng đá lăn loảng xoảng dọc theo đường xối tôn trước khi rơi "bịch" xuống đất, cảm giác "ghiền" của tôi và hắn cũng là cơn ác mộng kinh hoàng của người lớn đang say ngủ... Thứ âm thanh nhất quỷ nhì ma thứ ba học trò này vang lên giữa đêm khuya khoắt, bất kể giờ gic kéo dài gần cả tháng làm chấn động toàn khu phố Thuận Lộc, một số đưa tin đồn "ma trả thù", nhất là xóm tôi ở có cái "pháo lộ" nghe nói xưa kia Tây chết ở đó nhiều lắm. Một số người trẻ không tin chuyện nhảm nhí, âm thầm chia nhóm để thức "canh". Riêng hai thằng tôi, một cao, một thấp, bên trắng nỏn, bên đen xì, một nho sinh đi bên cạnh tướng cướp vị thành niên, thật khó ai mà đoán được.2 thằng cứ tủm tỉm cười lấy làm đắc chí.
    Và giá như không có cái lần hai thằng đi đại tiện ban ngày tại "lỗ châu mai" mà tầm đạn đạo rất thuận lợi để tác xạ mục tiêu mới khiến hai thằng hứng chí đổi tông "pháo" ban ngày và xui xẻo làm sao cho tôi và hắn vì khổ chủ mới lúc bấy giờ là một lão bắc kỳ Bùi Chu thứ thiệt có biệt danh là "Địt mẹ cái nập nà" mỗi lần lão gây gỗ với vợ, cả xóm thường gọi "Nhơn sứt môi", tướng tá rất dữ dằn... Lão ta dõi mắt định hướng và đợi đến tiếng pháo kích thứ ba mới từ bên kia bụi chè tàu lộ diện, lăm lăm trên tay thanh st dài thòng thật khiếp vía! Đi bên cạnh còn có thằng Khánh răng cời con của lão và cũng là bạn của tôi mới chết chứ! Cả 2 cha con hùng hổ lùng bắt hai thằng phi pháo. Nhưng địa thế nơi này nhiều ngõ ngách mà cả hắn và tôi đều thuộc làu nên hai thằng dễ dàng né tránh, cuối cùng lách được vô nhà ông thầy Giáo dạy học (tên thầy là Giáo) giàu lòng nhân ái, hai thằng đã được thầy giấu vô phòng riêng của "ái nữ" tị nạn (đã vậy hai thằng còn tha hồ lục đồ của tiểu thư), chờ cho tới tối ba mẹ tôi về và lão Nhơn phần nào hạ hỏa, đôi bên người lớn thương lượng ngã ngũ xong xuôi thầy Giáo lúc đó mới chịu mở cửa phòng ái nữ...
    Cả xóm bu quanh và hai thằng giặc ngồi giữa sân, chịu trói hai tay với nhau bằng cái khăn lau mặt cho có lệ vì dù sao hắn và tôi lúc đó chỉ mới 13. Tuy nhiên cũng biết cố ráng thút thít hối cải để người lớn vui lòng. Và cũng từ đêm đó tiếng pháo kích bằng liệng đá giữa khuya đã im bặt...
    "Đi xem tuồng hát bội":
    Thằng Khiêm "đại soái", sở dĩ bạn tôi có thêm biệt hiệu này là do Trần Mỹ miệng méo, ngồi cùng bàn sát với hắn đã cố tình nhổ tóc ngứa mà hắn cứ để yên, ngày qua ngày đến lúc mất một mảng tóc lớn giữa đỉnh đầu, "Đại Soái" có tên trong danh sách TL2 được khoảng chừng 2 tháng thì xuất hiện thêm Lê Minh Hiệu dân Sài Gòn chính thống, trước kia không biết học đâu rồi chuyển vào TL2, chỉ thấy sống với má, hai mẹ con ở trong rạp hát bội Đồng Xuân Lâu, nước da thằng này cũng ngăm đen, cũng láu lĩnh ba trợn không thua chi hắn... Chúng tôi trở thành bộ ba vì Hiệu còn ở chỗ xa hơn hai đứa tôi, ra khỏi cửa Đông Ba. Buổi trưa phải ở lại trường, nói đúng hơn là cái đình làng nhiều cột, kèo, gươm, giáo, mác bằng gỗ xưa sơn màu đỏ và trắng dụ. Thế là chúng tôi tha hồ mà múa và la hét, không ai cản ai, thầy cô đến 2 giờ mới trở lại dạy buổi chiều. Thằng Hiệu có lẽ đã bị lây nhiễm nặng vì hằng đêm phải xem tuồng và thỉnh thoảng phụ trách kéo màn hoặc cho làm quân sĩ, hắn đứng ngồi không yên, chân tay lúc nào cũng múa máy rất đúng điệu, nhưng cái giọng nam rè rè, ngắt ngắt không giống ai. Khán giả chỉ có tôi và thằng Khiêm vẫn rất nhiệt tình hâm mộ, khoái chí nhất là cái dậm chân điêu luyện của Hiệu đen, kéo theo cà men, chén bát và vài thứ đồ lĩnh kĩnh khác dưới gầm bàn rung lên phụ họa, thằng Hiệu lắc lắc cái đầu diễn xuất hay ra phết!!.. Được một lúc sau thì tiêu hết cơm, bụng đói, thằng Hiệu ngồi bệt xuống đất kêu cái "bịch", hai thằng tôi vỗ tay... hết tuồng, cả 3 đứa đứng dậy và cùng ý nghĩ như đã có hẹn trước trong đầu, kéo nhau qua cộng đồng Xuân Lộc trộm ổi. Tôi phụ trách đứng dưới lượm, hai thằng đen cùng leo lên một lượt, thân ổi nhỏ mà rất dai, hai đứa nằm úp cong người trên mỗi nhánh và chỉ một thoáng là nhặt hết già lẫn non, tôi đứng dưới lượm không xuể...
    Màn độc diễn hát bội của nghệ sĩ Minh Hiệu riết rồi đâm ra chán ngắt! Một buổi chiều hẹn hò nhau trước, ăn cơm xong tôi và Khiêm đi ra Đồng Xuân Lâu coi hát bội rạp, trong túi cả hai thằng không có 1 xu, nhưng thằng Hiệu hứa sẽ ra dẫn vô, vở tuồng tôi còn nhớ là "Tơ vương đến thác", nghe thằng Hiệu nói hay lắm và hai thằng tôi rất háo hức dù không hiểu nghĩa tựa đề là gì và thằng Hiệu cũng chẳng biết giải thích ra sao, hắn chỉ nói vai chính là anh Răng, anh Tít đóng còn có chị Nuôi "độc lắm!" Hai thằng tôi mù tịt mà chẳng cần hỏi chi thêm, miễn sao lọt được vô trong chứ đứng ngoài nghe tiếng trống, phèn la vọng ra cũng ấm ức lắm!
    Ngang qua "pháo lộ" nơi trú thân miễn phí của hai mẹ con thằng bạn Lê Quang Nghĩa, mẹ chằm nón, con nức vành đủ kiếm cơm qua ngày, Nghĩa tuổi sửu, sinh trước hai thằng tôi 1 năm, học Hàm Nghi trường phố nhưng dưới lớp và "đệt" chứ không được "văn võ" song hành như hai đứa tôi, mỗi thằng một vẻ. Nhớ nhiều lần nấp sau hàng rào, tôi và Khiêm dùng ná cao su bắn rách nát lá cờ bằng giấy học trò mà sáng nào hắn cũng kéo lên trước khi đi học, cột cờ làm bằng thanh tre dài mạ hắn mua chẻ ra làm nón mà hắn nài nỉ xin cho được rồi cột trên cao ngay cửa vòm mạ hắn cúi lưng mỗi lần ra vào, những lần bị bắn rách như thế hắn chỉ biểt đứng mếu máo và dậm chân mét mạ, được thể hai thằng tôi càng làm tới bắn tiếp...
    Lần này để khoe có bạn quen giữ cửa rạp hát, hơn nữa quá tin tưởng lời hứa của thằng Hiệu, tôi rủ Nghĩa cùng đi coi tuồng, mạ hắn tế nhị dúi cho đồng bạc để ngồi coi mua bắp ăn xã giao, 3 thằng sau đó đứng đợi trước cửa rạp, đã quá giờ hẹn và tuồng đã diễn mà chẳng thấy tăm hơi thằng Hiệu đâu.. Tôi gợi ý Khiêm lấy đồng bạc của Nghĩa "dúi" gác cửa để vô tìm thằng Hiệu đen, quả là công hiệu, chỉ 15 phút sau là hai thằng đen đi ra, Hiệu và Khiêm đứng bên trong hàng gỗ làm rào ngăn chỉ chỏ một hồi, Hiệu lại gần cho tôi biết chỉ được cho dắt vô một người, quá mừng và nôn nóng sợ trễ tuồng, tôi quên mất thằng Nghĩa, đến khi ngoãnh lại thì thấy thằng bạn cùng xóm đang đứng khóc, hắn khóc nghe rõ cả tiếng "tớt! tớt!" vì nghẹn trong cổ, nên tôi dù còn là con nít, hai chữ đạo nghĩa vẫn hiện ra trong lòng và chính tôi đã nhanh chóng đưa ra đề nghị một cách cương quyết làm "Đại Soái" Khiêm chưng hững nhưng phải vâng lệnh ngay. Thương lượng đổi hai lấy một, Nghĩa vô coi, hai thằng tôi ra, thằng Hiệu lúc đó đã vội vã chạy đi làm quân sĩ hay kéo màn đâu mất tiêu...
    Chuyện tới đây chưa hết, quỷ dữ vẫn còn đang giăng bẫy tôi và Đại Soái... tiếng chiên trống, giọng ngân ư.. ư.. ư.. của tuồng hát bội cứ réo rắt bên tai, tưởng tượng thằng Nghĩa đang há miệng ngồi coi... hai thằng tôi như lửa đốt, bèn tính kế vòng ra phía sau biết đâu tìm ra cái lỗ nhỏ để dán mắt vô. Một tốp thiếu niên mới lớn tụ tập đứng dựa vách thành nói chuyên vang trời. Phía bên trong bức thành tối thui... một đứa trong bọn xúi 2 thằng tôi leo bờ thành nhảy xuống. Lì đòn như thằng Khiêm đầu bự mà hắn còn thấy ớn huống chi tôi, một màu đen hơn mực, có thấy chi dưới mà nhảy! Biết ý hai thằng tôi đang nghĩ gì, tên ác độc bèn chuyển hướng "Sợ à! có chi đâu mà sợ!? Cứ đứng đây chờ nghe!" Hắn bỏ đi một hồi khoảng chừng mươi phút sau thì bên dưới có tiếng vỗ tay ra hiệu vọng lên, thằng Khiêm "ùm" ngay xuống liền, tôi không suy nghĩ nhảy theo luôn. Trời ơi! gió rít cả hai tai... Sao lâu chạm đất vậy!? Thật ra nơi nầy là hầm chứa đồ, sâu ơi là sâu!.. Cũng may như có ông bà đỡ đần, mò mẫm từng bước tôi đụng thằng Khiêm cũng đang quơ quơ tay tìm lối ra. Vừa lúc có ánh đèn pin chiếu vào mặt tôi, sau đó một người xuất hiện dắt tay hai thằng kéo đi tới trình diện một bà mập ú ngồi ghế bành, trên đầu có treo tấm giấy thùng to tướng lâu lâu có người tới giật dây để thành cái quạt đong đưa qua lại.. Nghe tiếng nói chính là hắn, thằng khốn nạn xúi giục, nhưng có lẽ thấy hai thằng tôi còn quá nhỏ cũng động lòng. Bà không quát tháo mà chỉ thiết tha: "Lỡ chết thì răng con, răng mà dại lắm rứa!? Thôi lên đó mà ngồi coi, lần sau đừng có liều."
    Vở tuồng "Tơ vương đến thác" tối hôm nọ tôi vẫn chưa hiểu ý muốn nói cái gì nhưng sao nghe na ná chuyện hai thằng tôi vậy? Làm tôi cứ nhớ mãi tới bây giờ... Giã từ tuổi thơ và từ giã cuộc đời !..
    Suốt 4 năm trung học đệ nhất cấp, tôi với Khiêm là hình với bóng, bất luận giờ giấc và ở nơi đâu đều luôn có mặt cả hai thằng, một đen một trắng, bên thấp bên cao, thằng trông hung dữ, thằng hiền như con gái nhà lành... Thấy tôi mãi ru rú trong nhà, mẹ tôi bấm bụng cho tôi được một lần theo hắn về thăm quê dưới làng Cầu Hai vào dịp cuối tuần, lúc đó hai thằng đã ở tuổi 15 bắt đầu vô toán khó "quỹ tích" lớp Đệ tứ và hắn đã biết tự làm ra tiền bằng sức lao động chính mình. Giai đoạn miền trung bãi khóa (64-65) chống chính phủ mới,các trường học đóng cửa vô thời hạn, hắn đã ở lại luôn dưới làng và khi trở lên hắn kể chuyện làm ăn đi "cây", sáng sớm tinh mơ trai tráng cả làng trong đó có cả hắn, đùm cơm nước vô rừng, chiều tối mỗi người vác về một thân cây trên vai để làm cột nhà thế là có tiền bỏ túi. Cây lớn nhỏ tùy vào sức vóc, đồng tiền vô túi cũng thế, thằng Khiêm nhỏ tuổi nhất trong đám người khổ cực vậy mà 2 túi áo hắn nhiều tiền hơn ai hết. Hôm nay được ngồi chung xe hàng xuyên huyện Huế-Cầu Hai với hắn, đối với tôi đây là lần đầu tiên xa nhà, xa ba mạ và ở lại đêm, lòng tôi không khỏi bồi hồi!.. Còn hắn như sóc thả vô rừng, nhìn thấy và nghe giọng điệu đối đáp giữa hắn và lơ xe tôi mới nhận ra cái khoảng cách, thằng Khiêm trong nhà tôi và "đại soái" ngoài đời, theo hắn lần này tôi cũng hiểu thêm vì sao về sau này hắn không còn lủi vô vườn nhà người ta trộm ổi trên đường đi học về chiều thứ sáu để làm quà thăm nhà cuối tuần và có khi vô quán bên đường vào ban đêm, giả vờ chọn kẹo rồi "bợ" luôn cả thẩu loại Thủy tinh đắt tiền của Pháp nhưng hắn chỉ cần cái ăn còn cái dùng thì giá trị gấp chục lần cũng bị quăng xuống cống Lương Y để phi tang. Rồi nào là dép nhật, áo quần, đồ chơi trẻ con... hắn rất bình tĩnh và lẹ tay lanh mắt, hớ hênh là chộp ngay, gọn lỏn...tt cả đều để dành cho em hắn gọi là "quà mua từ trên Huế" về...
    Bây giờ thì khác hẳn, về thăm nhà lần này không biết do có tôi cùng đi, hay nay đã làm ra tiền và đôi chút trưởng thành hiểu biết, mà ngoài quà "mua" cho em, hắn còn biết nghĩ đến sở thích của ba hắn nữa, một hộp bánh quy mặn và gói trà "mai hạc". Thì ra khi đã có tiền, con người ta cũng bớt nghĩ đến điều xấu...
    Đúng 2 ngày và một đêm được ở nơi sinh đẻ của thằng Khiêm, tôi theo sau lưng hắn len lỏi mọi ngỏ ngách, thức gần suốt đêm chỉ để ngồi coi và nghe hắn tán dóc với tốp con gái làng gói bánh chưng bánh lọc để sáng sớm túa ra bán cho khách đi tàu lửa dừng trạm, chung đụng với họ mới thấy hết cảnh khổ! Có một con bé khá trắng trẻo tên là Khánh mà nhà cô ta, nói đúng ra là cái lều tre lợp tranh nằm sát biển, ngồi bên trong nghe rõ cả tiếng sóng vỗ rì rào, thằng Khiêm dẫn tôi tới chơi mà không giới thiệu cũng không nói một lời nào, con bé kể chuyện vu vơ tôi cũng chẳng để tâm... Sau đó con bé cho riêng tôi cái thẩu rất nhỏ có hai con cá cũng rất nhỏ màu đen đang bơi. Về lại nhà tôi nói Khiêm mới biết và cứ hỏi hoài "Tại sao cho!?" mà lúc đó làm sao tôi biết được tại sao để trả lời!? Giờ thì đã hiểu nhưng cũng may là tôi đã vô tình để quên thẩu cá trong nhà hắn khi lên xe về lại Huế, không thì cũng là một điều hối tiếc cho tôi bây giờ!? Mà không riêng chi bé Khánh, hình như cái nước da trắng hồng, lời nói nhẹ êm của tôi quá nổi bật giữa đám dân làng mà cuộc sống hầu hết là dầm sương dãi nắng... ai cũng nhìn tôi như món lạ dễ vỡ, họ bắt chuyện với tôi cũng khác hơn giữa họ với nhau. Một thằng "Ben" (tên gọi) không quen biết kéo tôi về nhà. Đỗ ra giữa thềm xi măng thùng đồ đạc, tìm cái quẹt lửa "zippo" tặng tôi và rút ra cái hình cũ rích đề thêm hàng chữ xiêu vẹo trình độ cở lớp 3 (viết chậm lắm) "tặng bạn Phiếu, Ký tên BEN". Không biết Ben bao nhiêu tuổi nhưng thấp và nhỏ con hơn tôi nhiều, Ben khoe có người chị đầu làm sở Mỹ, hắn nhìn tôi và hỏi một câu vô tích sự, "Phiếu như rứa mà răng chơi thân được với thằng Khiêm!?" Tôi quay lại nhìn thằng bạn mới, dáng dấp Ben lụ khụ như một cụ đồ trong tranh vẽ và không biết phải trả lời sao!?
    3 tháng hè của năm học cuối lớp Đệ tứ đã trôi qua và như mọi khi tôi ngong ngóng chờ.... Thông thường hắn lên sớm trước 3 ngày gặp nhau chỗ mẹ tôi đứng bán nón, hắn luôn có nhiều đồ mới vào lúc đó, áo quần, giày mũ. Rồi trước hết hai đứa xuống rạp Châu Tinh coi phim, đi ăn chè hắn bao hết, thằng Khiêm tuy cục mịch nhưng rất biết ý. Ngh hè được về quê, hắn vui, háo hức bao nhiêu thì tôi cảm thấy hụt hẫng bấy nhiêu, không có hắn, lại ở trên phố không tiền xi nê biết đi chơi đâu!? Thế nên gặp lại là hắn như để bù đắp... Vậy mà kỳ này ngày mốt đã đi học trường mới Quốc Học, danh tiếng lẫy lừng, hắn không mê sao? Hay có chuyện gì bất trắc ấy!? Tôi lại ra chợ đứng bên mạ, vừa nhớ vừa lo, mẹ tôi cũng không kém, vắng hắn trong nhà như thiếu cái gì, nhất là hắn luôn biết giữ khuôn phép...
    Ngày khai giảng trường mới, tôi không còn lội ngược dòng như trước, mà hiên ngang ra hướng cửa Đông Ba, nhan nhãn học sinh trên đường phố Phan Bội Châu rồi Trần Hưng Đạo, tôi cứ ao ước... giá như có hắn thì vui biết mấy! Thế nhưng tôi lại chỉ một mình, vừa đi vừa nhớ... Hắn đang ở đâu và làm gì vào lúc này!? Có đang đi đến trường như tôi!? Chờ tới cuối tuần nghỉ học là tôi đến nhà thăm thầy Chưởng ngay mà mục đích là hỏi tin tức về hắn vì anh Khuê của hắn là bạn của thầy. Tôi bước ra cửa và muốn bật khóc, thầy Chưởng đã cho biết Khiêm không lên Huế nữa vì dưới đó năm nay đã mở thêm lớp đệ tam,tôi không tin lắm biết đâu cái thằng mắc dịch này ham tiền đi "gỗ" (vô rừng đốn cây như đã nói ở trên) và đã bỏ học rồi! Vì thương mà tôi quá tức nhưng không biết làm sao liên lạc được Khiêm!!
    Mãi đến 2 năm sau, tôi thi đậu tú tài 1, còn hắn không biết đã bỏ học hay thi rớt mà đi lính trung sĩ Quân cảnh, thôi như vậy cũng yên tâm nhưng tôi chỉ nghe nói chứ chưa gặp lại hắn bao giờ. Mẹ tôi nói có một lần thằng Khiêm ghé chợ mua nón bài thơ chắc là tặng bồ, lúc ni mặc đồ lính, cũng ra dáng nhìn không ra. Qua đầu năm 1969, tôi cũng tình nguyện vào Không Quân rồi du học Mỹ mất 2 năm, trở về nước lái phản lực A37 phi đoàn 516 ở Đà Nẵng đúng vào lúc cuộc chiến đang hồi khốc liệt, cuốn hút bao tuổi thanh xuân vào cơn lốc bom đạn mà cái chết và sự sống chỉ biết được từng ngày... Tôi đã quên bẵng thằng Khiêm đen!
    Biến cố 75 xảy ra. Vợ tôi lúc đó đang mang thai đứa con đầu lòng sắp tới ngày sinh và chiếc F5 của tôi chỉ duy nhất một ghế ngồi... Tr/u Thành, sĩ quan kỹ thuật đích thân hối thúc nhưng tôi đã không thể nào bỏ lại vợ mình với đứa con trong bụng mà ra đi! Đà Nẵng thất thủ và tôi đã bị kẹt lại...
    Rồi sau hơn 1 năm ở trên trại tù Ái Tử. Một hôm đi rừng để đốn cây, trên đường về bỗng dưng tôi lại thấy nhớ hắn, nhớ đến quay quắt, nhất là khi nhìn xuống con suối ngay dưới lối mòn, một thằng đang dùng tay vốc nước để uống, cái đầu bự cổ ngắn, dáng dấp giống hệt thằng Khiêm... Tôi quăng khúc cây trên vai và bước xuống, đúng là cái miệng rộng, vành môi thâm tím, chỉ khác thân thể cao to hơn trước, không lẽ là hắn đây sao!? Tôi nhủ thầm, Quân Cảnh hạ sĩ quan cũng bị coi là ác ôn và biết đâu thằng Khiêm cũng bị dưới làng đưa đi cải tạo!? Tôi mon men lại gần... đúng là hắn rồi!
    Tôi tin chắc như thế, nhưng dù sao cũng đã hơn 10 năm xa cách với lại sao hắn chẳng có chút phản ứng chi khi thấy tôi!? Không nghĩ lôi thôi, tôi tới đứng ngay trước mặt:
    - Xin lỗi có phải anh tên Khiêm? Tôi có người bạn giống anh y hệt.
    Bạn kia trả lời ngay:
    - Đúng như rứa! Mà bạn của anh là Huỳnh Tấn Khiêm phải không?
    Tôi giật cả người và đang còn ngơ ngác thì bạn kia nói tiếp:
    - Tôi là Huỳnh Sĩ Khiêm, Tấn Khiêm là anh tôi, anh Khiêm chết rồi, chết năm 74...
    Thằng Khiêm em, chẳng ai xa lạ, tôi đã gặp một lần lúc về làng, tôi nhớ ra rồi... nay đã là chuẩn úy QLVNCH, cũng đen đủi lì đòn như Khiêm anh, nhưng mặt mày, giọng nói vẫn còn non choẹt...
    Khiêm em buồn bã kể tiếp, tôi cũng đau cả tấc lòng ngồi lắng nghe... "Anh Khiêm ra trung sĩ Quân Cảnh, được ở phố nhưng anh chỉ muốn ra trận, tình nguyện đổi qua Biệt động Quân, VC công đồn bắt luôn vợ con trại gia cư, chia thành hai, nhốt riêng mỗi bên, đêm sau thì anh vượt trốn và đã bị bắn chết trước mặt vợ con, xác bị kéo đi chôn đâu mất tới nay vẫn không tìm ra!.." Khiêm em còn cho tôi biết có thêm người anh cả là Tr/tá Huỳnh Tấn Khoa ở cùng Trại 1 với tôi nhưng bọn VC ác ôn canh me suốt ngày đêm cho tới lúc xáo trại, tôi vẫn không gặp được...
    Hôm nay đây dù đã hơn 40 năm nhưng với chương trình HO, hy vọng anh Khoa và Khiêm em hiện đang được ở nơi nào đó trên đất Mỹ này, mong sao có một ngày hạnh ngộ mình gặp nhau để cùng chia sẻ phần nào niềm đau chung bởi lẽ Lê Phiếu và Khiêm anh cũng đã từng như là anh em song sinh một thời thơ dại.
    Một nén hương lòng xin chân thành gởi đến hương linh bạn tôi Huỳnh Tấn Khiêm.

    Lê Phiếu
    PĐ HỒNG TIỂN 538

Chuyện Năm Xưa

  • Image en ligne

    Cái mộng trở thành phi công nó đã ăn sâu vào tâm khảm của tôi từ lúc nào thì tôi không biết, nhưng có điều mà tôi nhớ rõ là ngay từ thủa nhỏ, lúc đó vào ngày sinh nhật thứ năm của tôi, tôi rất mừng rỡ khi nhận được món quà từ bà cô. Đó là chiếc máy bay nhỏ chạy bằng dây cót. Tôi rất thích thú và quý nó vô vàn. Tôi hãnh diện với đám bạn trong xóm vì không ai có được món đồ chơi giống như của tôi.

    Những năm đầu sau ngày tôi theo gia đình di cư vào Nam, năm 1954, mỗi lúc vào dịp lễ Trung Thu là tôi đều được ba tôi giúp làm một cái lồng đèn hình tàu bay để rước, khi mà các bạn lối xóm chỉ có đèn xếp mà thôi. Tôi dẫn đầu đám trẻ, nâng cao chiếc lồng đèn máy bay, tuần tự đi qua nhiều ngõ hẻm trong xóm. Trông nó oai làm sao ấy...

    Cũng vì thế, đến khi có lệnh động viên là tôi sẵn sàng xếp bút nghiên xin gia nhập vào quân chủng Không Quân ngay lập tức, chẳng hề do dự. Thời gian sống trong quân ngũ, tôi có cơ hội quen thêm nhiều bạn mới. Tôi quen được họ là nhờ những lần đi thụ huấn các khóa học khác nhau chẳng hạn như khóa căn bản quân sự Quang Trung, khóa Sinh Ngữ Quân Đội, và khóa học bay ở Hoa Kỳ. Đến năm 1971, sau khi tốt nghiệp để trở thành phi công tác chiến A-37, tôi hồi hương và được phục vụ tại sư đoàn 4 và sư đoàn 4 Không Quân. Tuy chúng tôi đồn trú rải rác trên khắp vùng chiến thuật nhưng thỉnh thoảng cũng có cơ hội gặp lại nhau ở những nơi như hậu trạm, trong lúc chờ đợi những chuyến bay hay những lần đi biệt phái. Những lần gặp gỡ này tuy ngắn ngủi nhưng nó cũng cho chúng tôi có cơ hội, tay bắt mặt mừng và hỏi han nhau đủ thứ.

    Vào đầu năm 1972 tình hình chiến sự càng lúc càng trở nên sôi động, tin dữ cứ lần lượt kéo đến, lúc có tin người bạn bị bắn rơi ở chiến trường An Lộc của phi vụ tiếp tế, lúc ở trên bầu trời Chu Pao, Quảng Trị hay Thượng Đức của những phi vụ yểm trợ cho quân bạn. Một lần đi và không bao giờ trở lại hay đi không ai tìm xác rơi... Những lúc như thế tôi hay xà vào một quán cóc, uống cho vùi đầu, uống thương tiếc những người bạn vắn số đã nằm xuống hy sinh cuộc đời quá son trẻ của mình để bảo vệ mảnh đất tự do.

    Suốt khoảng thời gian sống đời tỵ nạn, cứ mỗi khi đến tháng Tư là lòng tôi lại chùng xuống, bồi hồi nhớ đến những người bạn cũ, cùng một binh chủng, một thời đã cùng chiến đấu bên nhau. Trong đó có một người mà tôi muốn nhắc đến, tên là Tâm. Anh chỉ hơn tôi 1 tuổi nhưng trông rất già dặn, nên anh em đặt cho biệt hiệu "bác Tâm Già". Tôi quen anh vào dịp ra Nha Trang thụ huấn giai đoạn 2 quân sự, anh đã cho tôi tá túc cùng phòng của anh trong cư xá Sĩ Quan Độc Thân. Khi ấy anh là hoa tiêu tác chiến A-37, hàng ngày vào phi đoàn trực bay còn tôi phải đi học quân sự. Khi xong xuôi mọi việc, chúng tôi rủ nhau ra phố ăn cơm tối. Đêm đến, trước khi ngủ chúng tôi thường trò chuyện và tâm sự với nhau. Nhờ vậy tôi được biết khi xưa anh sinh ở Nam Định và bị mồ côi từ lúc 4 tuổi, cha mẹ anh đều bị sát hại qua lần đấu tố diệt tư sản của Việt Cộng. Anh đã được một gia đình nhận về nuôi và họ đã đưa anh vào Nam theo đợt di cư năm 1954. Gia đình ân nhân của anh chỉ sinh được một người con gái, thua anh 4 tuổi. Cha mẹ của cô làm nghề buôn bán, hàng ngày rất bận bịu với công việc cho nên anh đã thay thế họ, dành rất nhiều thì giờ chăm sóc cô em gái này.

    Một buổi chiều tôi đã về cư xá trước anh, rồi sửa soạn để khi anh về chúng tôi cùng nhau ra phố ăn cơm tối. Một tiếng đồng hồ trôi qua vẫn chưa thấy anh, tôi đâm ra lo lắng không biết có chuyện gì xẩy ra, tôi ra ngoài hướng mắt nhìn phía phi đạo xem có phi vụ nào về đáp không.

    Chừng độ 5 phút sau bỗng có một phi cơ A-37 trở về, lúc này nỗi lo âu trong lòng tôi càng gia tăng bởi vì thông thường một hợp đoàn phải có tối thiểu là 2 chiếc trở lên, giờ đây chỉ có một chiếc thôi thì chắc chắn phải có chuyện chẳng lành.

    Đang suy nghĩ vẩn vơ thì anh bạn của tôi xuất hiện và đậu xe trước chỗ tôi đứng. Nét mặt anh trông tái mét. Tôi vội hỏi xem có chuyện gì đã xẩy ra. Anh cho biết là anh phải bỏ tàu ở trên phi trường Pleiku và đã về cùng tàu với phi công số 2. Tôi khuyên anh hãy tạm quên chuyện đó và giao chìa khóa xe cho tôi. Tôi chở anh ra phố, đến một quán nhỏ, uống để cố quên đi những điều không may đã xẩy ra cho anh.

    Sau một vài ly rượu anh tâm sự, khi thi hành xong phi vụ yểm trợ cho quân bạn tại vùng tam biên (VN-Lào-CB), phi tuần của anh phải đáp xuống phi trường Pleiku để lấy nhiên liệu trước khi bay về Nha Trang. Khi phi cơ chạm bánh, anh đạp thắng thì thắng không ăn, phi cơ cứ tiếp tục chạy gần cuối phi đạo, lúc đó anh không còn đủ đường bay cho phi cơ cất cánh lên lại, trước mặt là một vực thẳm, anh vội nâng cần emergency dở bánh đáp lên cho máy bay xập xuống, máy bay tiếp tục trườn ra khỏi phi đạo và khi chỉ còn vài thước là tới miệng vực bỗng nó dừng lại.

    Nghe vậy tôi rất mừng cho anh đã thoát nạn. Nét mặt anh vẫn đăm chiêu và tiếp tục kể, cùng lúc đó một ý nghĩ thoáng qua trong đầu anh là cứ để tàu băng xuống vực thẳm vì trong lòng anh đang bị day dứt bởi nỗi buồn khiến anh không còn muốn sống nữa. Người con gái của ông bà ân nhân đã nuôi anh trước đây nay sắp lấy chồng! Bấy lâu nay anh thầm yêu cô ta nhưng không dám thưa chuyện này với cha mẹ của cô, sợ bị từ chối. Tuy họ chưa một lần chính thức nói nhận anh làm con nuôi nhưng họ đã đối xử với anh không kém gì đối với người con ruột của họ. Mối tình đơn phương đã được ấp ủ bao lâu nay qua sự gần gũi và chăm sóc của anh với cô ta. Nó hao hao giống như câu chuyện tình yêu của Lệnh Hồ Xung yêu con gái của Nhạc Bất Quần là cô Nhạc Linh San trong truyện kiếm hiệp của tác giả nổi tiếng Kim Dung.

    Bẵng độ khoảng 3 năm sau ngày chúng tôi chia tay, bất ngờ tôi nhận được tin anh bị bắn rơi trên vùng trời lửa đạn, anh bị bắt và chết để lại người vợ trẻ và một con thơ.

    Giờ đây, khi nghĩ về anh, tôi tin là anh đang có một đôi cánh nhiệm mầu thay thế chiếc áo cũ khổ đau, bay tung tăng khắp nơi trong bầu trời vô tận... Tôi xin thắp một nén hương lòng để tưởng nhớ đến anh, một người bạn đồng nghiệp thân thiết mến thương đã Vị Quốc Vong Thân và cầu mong cho vợ và con của anh luôn gặp nhiều may mắn. 
    Huy Sơn


ĐIỀU ĐÁNG SỢ NHẤT …!?
Tại sân bay Kennedy ở Mỹ, một phóng viên đã tiến hành cuộc phỏng vấn truyền hình. Anh đặt câu hỏi cho những người đi qua:
“Theo bạn thứ gì đáng sợ nhất trên đời?”.
Có người nói “chiến tranh”, người khác nói “sự nghèo đói, bệnh tật, sự phản bội” v.v…
Khi thấy một tu sĩ Phật giáo, Thiền Sư Seung Sahn, phóng viên liền đưa câu hỏi này cho ông.
Thay vì trả lời, thiền sư lại hỏi:
- “Anh là ai?”
- “John Smith” - Phóng viên nói.
- “Đây là tên của anh, nhưng anh là ai?”
- “Tôi là một phóng viên truyền hình…”
- “Đó là công việc của anh, nhưng anh là ai?”
Bắt đầu căng thẳng và gương mặt biểu lộ sự hoảng loạn, rồi anh ta kết luận:
- “Nói cho cùng, tôi là một con người!”
Vị thiền sư vẫn rất nhã nhặn và lịch sự đáp lời:
- “Đó là tên gọi phân biệt loài người và loài vật, nhưng còn anh là ai?”
Đến đây thì người phóng viên càng trở nên bối rối, và dường như không biết phải trả lời cho câu hỏi “mình là ai”…tưởng chừng rất đơn giản của vị thiền sư.....
Vị thiền sư liền ôn tồn và đầy sự tinh tế với một nụ cười nói: “KHÔNG BIẾT MÌNH LÀ AI… - đây chính là điều đáng sợ nhất trên đời.”
(sưu tầm)
(Từ Facebook Dinh Dung)

Inline image


*Làm thế nào để lâu già?
Lê Tấn Tài
 
Khi nào các bộ phận trong cơ thể của con người bắt đầu thoái hóa? Già là một điều không ai tránh khỏi. Hiện nay các viện nghiên cứu y khoa đã cho biết một cách chính xác các bộ phận trong cơ thể của con người bắt đầu thoái hóa từ lúc nào.Các bác sĩ người Pháp đã tìm thấy chất lượng tinh trùng bắt đầu suy thoái từ tuổi 35, bởi thế khi người đàn ông 45 tuổi thì một phần ba số lần mang thai sẽ dẫn đến sảy thai.

Angela Epstein đã viết trong DailyMail, tuổi của các bộ phận trong cơ thể bắt đầu suy thoái như sau:

1./ Não bắt đầu suy thoái lúc 20 tuổi. Khi chúng ta trưởng thành, các tế bào não bị giảm dần. Và não cũng teo nhỏ lại. Khởi đầu con người có 100 tỉ tế bào não, nhưng đến tuổi 20 con số nầy giảm dần, và đến tuổi 40 con người mất mỗi ngày 10.000 tế bào ảnh hưởng rất nhiều đến trí nhớ và có tác dụng rất lớn đến tâm sinh lý người già.

2./ Ruột bắt đầu suy giảm từ tuổi 55. Ruột tốt có sự cân bằng giữa các vi khuẩn có ích và có hại. Vi khuẩn có ích sẽ giảm đi đáng kể sau tuổi 55, đặc biệt ở phần ruột già. Sau 55 tuổi bộ tiêu hóa bắt đầu xấu đi và sẽ gây hại cho các bệnh đường ruột. Táo bón là một bệnh thông thường của tuổi già, cũng như dịch vị từ bao tử, gan, tuyến tụy, ruột non bị suy giảm.

3./ Bọng đái bắt đầu suy thoái từ tuổI 65. Người già thường mất kiểm soát bọng đái. Nó bắt đầu co lại đột ngột, ngay cả khi không đầy. Phụ nữ dễ gặp trục trặc này hơn khi chấm dứt kinh nguyệt. Khả năng chứa nước tiểu của bọng đái một người già chỉ bằng nửa so với người trẻ tuổi, khoảng 2 cốc ở tuổi 30 và 1 cốc ở tuổi 70. Ðiều này khiến người già phải đi tiểu nhiều hơn, và dễ nhiễm trùng đường tiểu.

4./ Vú bắt đầu thoái hóa từ năm 35 tuổi. Khi người đàn bà đến 30 tuổi thì vú mất dần các mô và mở, sự đầy đặn và kích cỡ của bộ vú bị suy giảm. Khi 40 tuổi núm vú bị teo lại và vú thòng xuống

5./ Phổi lão hóa từ tuổi 20. Sụn sườn vôi hóa, lồng ngực biến dạng, khớp cứng ảnh hưởng tới thở, nhu mô phổi giảm đàn hồi, giãn phế nang. Dung tích của phổi bắt đầu giảm dần từ tuổi 20. Ðến tuổi 40 có nhiều người đã bắt đầu khó thở vì các cơ bắp và xương sườn buồng phổi bắt đầu xơ cứng.

6./ Giọng nói bắt đầu yếu và khàn kể từ tuổi 65. Phụ nữ có giọng khàn và nhỏ trong khi đàn ông giọng cao và nhẹ.

7./ Mắt lão hóa từ năm 40 và phần lớn phải mang kiếng, không còn nhìn rõ một vật ở xa. Khả năng tập trung của mắt kém hơn do cơ mắt yếu hơn.

8./ Tim lão hóa từ tuổi 40. Khối lượng cơ tim giảm. Tuần hoàn nuôi cơ tim cũng giảm, suy tim tiềm tàng, huyết áp tăng dần. Sức bơm của tim giảm dần vì các mạch máu giảm sự đàn hồi. Các động mạch cứng dần và bị mở đóng vào các thành mạch. Máu cung cấp cho tim cũng bị giảm bớt. Ðàn ông 45 tuổi và đàn bà 55 dễ bị đau tim.

9./ Gan lão hóa từ năm 70. Chức năng chuyển hóa và giải độc giảm. Tuy nhiên gan là một bộ phận gần như không chịu khuất phục tuổi tác. Người ta có thể ghép gan của một ông già 70 tuổi cho một người 20 tuổi.

10./ Thận lão hóa năm 50. Số đơn vị lọc chất thải khỏi máu bắt đầu giảm xuống ở tuổi trung niên.

11./ Tuyến tiền liệt lão hóa vào năm 50. Hệ thống sinh dục nam gồm có: tinh hoàn và bộ phận sinh dục phụ như đường dẫn tinh, tuyến tiền liệt, tuyến hành niệu đạo, túi tinh và dương vật. Tuyến tiền liệt thường lớn dần theo tuổi tác. Khi tuyến tiền liệt tăng kích thước sẽ ép vào niệu đạo và bàng quang, gây khó khăn cho tiểu tiện. Nó gây nên triệu chứng tiểu ngập ngừng, tiểu nhiều lần, tăng nguy cơ nhiễm trùng tiết niệu và tiểu khó.

12./ Xương lão hóa hóa vào tuổi 35. Cho đến giữa những năm 20 tuổi, mật độ xương vẫn còn tăng. Trẻ em xương lớn rất nhanh, cứ mỗi 2 năm lại thay đổi toàn bộ xương cũ nhưng đến tuổi 35 thì xương đã lão, hiện tượng mất xương bắt đầu như một quá trình già cả tự nhiên.

13./ Răng suy từ tuổi 40. Răng bị hao mòn. Dễ bị bệnh nha chu. Niêm mạc bị teo dần.

14./ Bắp thịt lão hóa từ năm 30. Thông thường bắp thịt khi bị lão hóa thì được tái tạo ngay, nhưng đến tuổi 30 thì tái tạo ít hơn là lão hóa. Ðến tuổi 40, mỗi năm bắp thịt bị sút giảm từ 0.5 đến 2 % . Vì thế người già khó giữ thăng bằng, trở thành chậm chạp, dễ bị ngã và gẫy xương.

15./ Nghe [thính giác] giảm đi kể từ giữa năm 50. Rất nhiều người bị lãng tai kể từ năm 60.

16./ Da suy giảm kể từ năm 20. Chúng ta đã giảm dần việc sản xuất chất keo dính của da từ giữa tuổi 20. Việc thay thế các tế bào chết cũng chậm dần.

17./ Vị giác và khứu giác giảm từ năm 60. Thông thường chúng ta có thể nếm được 100.000 vị trên lưỡi. Các vị này chúng ta chỉ nếm được phân nửa khi già và đến tuổi 60 thì không còn ngửi và nếm một cách chính xác được nữa.

18./ Sinh sản mất khả năng từ năm 35. Khả năng sinh nở của phụ nữ bắt đầu giảm sau tuổi 35, vì số lượng và chất lượng trứng trong tử cung giảm xuống.

19./ Tóc lão hóa từ tuổi 30. Thông thường cứ 3 năm thì tóc cũ sẽ được thay thế toàn bộ tóc mới. Và đến năm 35 tuổi thì tóc không còn đen nhánh nữa mà ngã màu đen xám và rụng dần đi.

 

Làm thế nào để làm chậm sự lão hóa ?

Già không phải là một bệnh nhưng già tạo điều kiện cho bệnh phát sinh và phát triển; cần chú ý một số đặc điểm sau:

- Người già thường mắc nhiều bệnh cùng một lúc, có bệnh dễ phát hiện, nhưng cũng có bệnh rất kín đáo, tiềm tàng, nguy hiểm.

- Triệu chứng ít khi điển hình, không ồ ạt, không rõ rệt, nên khó chẩn đoán, dễ sai lạc nếu ít kinh nghiệm.

- Khả năng phục hồi sức khỏe sau các trận ốm thường chậm hơn so với người trẻ, nên sau điều trị phải có thời gian an dưỡng.

 

Một số biện pháp làm giảm tốc độ lão hóa:

Học thuyết âm dương của y học cổ truyền chứng minh con người là một chỉnh thể giữa âm dương, giữa khí và huyết. Luôn luôn thăng bằng với nhau từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên, từ trong ra ngoài, từ ngoài vào trong theo một quy luật nhất định, để duy trì sự sống của con người được bền vững dài lâu.

 

Vì thế muốn giảm tốc độ lão hóa cần phải:

  • Về tư tưởng luôn luôn lạc quan yêu đời, chủ động gạt bỏ những cái làm ảnh hưởng đến bộ não, hạn chế tối đa nỗi cô đơn, giải quyết tốt nhất mối quan hệ xã hội và gia đình, có triết lý sống đúng; phải chú ý cả 3 vấn đề: lẽ sống, lối sống và hành động sao cho khoa học văn minh để loại trừ 7 nguyên nhân gây bệnh của Ðông y là : hỷ, nộ, ưu, tư, bi, kinh, khủng.
  • Muốn được thảnh thơi phải có kiến thức, phải có hiểu biết để nhìn nhận vấn đề sao cho đúng đắn qua báo chí, đài phát thanh, truyền hình để làm chủ được mình và giáo dục cho gia đình, con cháu giảm các nỗi bực dọc và tự chăm lo cho mình.
  • Thường xuyên luyện tập đều đặn về trí tuệ và thể lực như đọc sách báo, nghe đài, xem TV, internet… đồng thời tập thể dục thể thao, đi bộ, tập thở, tĩnh tâm thư giãn, v.v… phù hợp với hoàn cảnh và sức khỏe từng người.
  • Sinh hoạt điều độ, không làm gì quá sức bình thường, giữ gìn trạng thái cân bằng giữa ngủ và nghỉ, giữa ăn và làm, giữa trí óc và chân tay, giữa trong nhà và ngoài trời, giữa lười và chăm, v.v… cũng rất quan trọng.
  • Ăn uống đúng và đủ theo khả năng của mình, không nên nghiện bất cứ thứ gì, hạn chế thịt nhất là mỡ, ăn nhiều rau quả tươi, giảm chất bột, giảm bánh kẹo, bảo đảm cân bằng thức ăn âm và dương, giữ người không béo và cũng không gầy.
  • Nên nhớ con người là giống ăn ngũ cốc, nên thức ăn cho người phải 80% là ngũ cốc còn 20% là rau quả và các thứ khác, không nên ăn quá no, người già rất cần đạm ở đậu tương, vừng lạc, tôm cua, ốc hến…
  • Cần có môi trường sống tự nhiên tốt, phần lớn các cụ sống 100 tuổi trở lên đều ở vùng núi, ở nông thôn còn ở thành phố thì rất ít và gốc cũng không phải thành thị.
  • Hiện nay môi trường sống đang bị tàn phá nghiêm trọng đó là tự hủy hoại mình (chặt cây, phá rừng, chất thải, phân hóa học, thuốc trừ sâu….) đã làm mất đi cảnh thanh bình của thiên nhiên, là điều cũng nên hết sức tránh.


Kiên trì áp dụng 10 bài học về sức khỏe của Nhật Bản, đất nước được mệnh danh là ‘vương quốc của tuổi thọ’ vì có tuổi thọ cao nhất thế giới hiện nay.

10 bài học đó là:

- Bớt ăn thịt, ăn nhiều rau

- Bớt ăn mặn, ăn nhiều chất chua

- Bớt ăn đường, ăn nhiều hoa quả

- Bớt ăn chất bột, ăn nhiều sữa

- Bớt mặc nhiều quần áo, tắm nhiều lần

- Bớt đi xe, năng đi bộ

- Bớt phiền muộn, ngủ nhiều hơn

- Bớt nóng giận, cười nhiều hơn

- Bớt nói, làm nhiều hơn

- Bớt ham muốn, chia sẻ nhiều hơn.


Những bài học trên có tác dụng rất lớn đối với những người bị tăng huyết áp, bệnh tim mạch, ung thư dạ dày, viêm gan…

Tóm lại: Biết cách sống, ta có thể làm chậm được quá trình lão hóa, kéo dài được tuổi thọ, có thể điều chỉnh được chiếc đồng hồ sinh học trong con người chúng ta chạy chậm lại, ta cũng có thể giữ bộ máy cực kỳ tinh vi của ta được bền vững lâu dài hơn.

 
 
  
                                   


Giáng Tiên

  • Nàng bảo ta nàng hãy còn son
    Ta đi qua cửa thấy con nàng bò
    Con nàng những trấu cùng tro
    Ta đi gánh nước tắm cho con nàng.

    ( Ca dao)


    Hồi  ấy tôi bắt đầu làm thơ. Làm thơ thực là vất vả, tôi ngồi trước tờ giấy trắng cả giờ chẳng biết viết gì. Tôi thử chọn đề tài trời, trăng, mây, nước, bướm, ong, hoa lá... nhưng không sao viết được bài nào hay. Tôi chẳng khám phá ra tứ thơ nào mới cả. Những điều tôi viết ra đã có người viết cả rồi. Người ta khuyên nên làm thơ tình vì chỉ có thơ tình mới dễ cảm sâu vào lòng người, nhưng muốn làm thơ tình thì phải yêu mà tôi thì chưa yêu. Thế là tôi ráo riết đi tìm người yêu, tôi cần một nàng thơ giống như con tàu vũ trụ cần tên lửa để phóng mình chu du chín tầng hư ảo tìm hái những vần thơ lạ cống hiến cho đời. Người ta lại còn nói mối tình đau thương, trắc trở ngang trái, tuyệt vọng thì mới sản sinh ra được những áng văn thơ sầu não dễ làm dễ hay, nói vắn tắt là "thơ thất tình".Muốn có thất tình thì theo tôi cũng chẳng phải là điều khó. Tôi sẽ chọn cho mình một nàng công chúa cao sang còn tôi tự mình đày đọa mình, hóa thân thành anh chàng bán than xấu xí bần hàn, những "cuộc tình không cân sức" kiểu này thế nào cũng dẫn đến một kết cục não lòng lúc đó tha hồ mà làm thơ, vì sự nghiệp thơ ca tôi quyết định làm cuộc thí nghiệm. Tôi bắt đầu lạnh nhạt với với những niềm vui và hạnh phúc tầm thường. Tôi thèm khát sự đau khổ, tôi tin rằng một sự đau khổ thanh khiết có khả năng thăng hoa thành thơ ca bất tử, tôi phiêu lưu đi tìm cội nguồn của sự khổ đau, tuyệt vọng.
    Kế hoạch đã vạch ra, cứ thế mà thi hành.Tôi chẳng mất nhiều thời gian thì đã hoàn thành bước đầu. Mấy ngày sau đã có nàng công chúa, đã có chàng bán than, đã có cuộc tình đơn phương, não lòng. Tôi đã gặp nàng "giáng tiên" đến lần thứ ba thì đã có thể tôn nàng lên ngôi thần tượng, nàng thơ, niềm kiêu hãnh đau thương, niềm hoang lạc tàn nhẫn, sự đau đớn diệu kì. Giáng Tiên là ca sĩ phòng trà, hàng đêm tôi có thể đến chiêm ngưỡng nhan sắc ảo não và nhấm nháp no nê giọng ca thánh thót của nàng. Dưới ánh đèn sân khấu nàng rực rỡ như một bà hoàng. Nàng thanh khiết cao vợi lấp lánh hào quang như khuôn mặt thánh nữ thấp thoáng trong bảy sắc cầu vồng. Nhiều hôm tôi thấy chiếc áo kim tuyến nàng mặc trên người sáng lên như một ngọn pháo hoa, đốt cháy một cách ngây ngất mọi giác quan trong tôi. Có khi chiếc áo dài trắng thêu hoa nàng mặc trên người đẹp tới làm cho tiếng đàn dương cầm bỗng chốc hóa thành xanh đỏ chen chúc nhau rơi xuống cõi trần như cơn mưa xác pháo. Nàng đi giống như con rắn nước lượn lờ trôi theo dòng nhạc, bao nhiêu cặp mắt nhìn lên đói khát thèm thuồng, bao nhiêu pháo tay, bao nhiêu hoa tươi... nàng bay thật cao trong một thứ gió hào quang, danh vọng, còn tôi thì tự đày đọa mình trong chốn thấp hèn tối tăm cũng chỉ với mục đích: Làm thơ yêu nàng. Tôi cấm mình không được mon men đến gần, tôi không cho mình yêu theo cái kiểu phàm phu tục tử, tôi sợ nàng thơ mỏng manh như bọt xà phòng tan vỡ vì những ý nghĩ thô tục, thường tình của tôi. Chẳng bao giờ tôi dám tưởng tượng xa xôi nghĩ về một sự chung đụng tầm thường như những cặp trai gái khác. Mỗi đêm sau buổi biểu diễn, bao nhiêu chàng công tử hào hoa đưa đón nàng , còn tôi dựng chiếc xe đạp cà tàng dưới gốc cây từ xa đứng nhìn nàng lên xe, rồi tôi đi về lòng mang một nỗi buồn thật dễ chịu. Sau đó tôi đắm mình trong sự cô đơn sầu thảm não nề. Tôi cố gắng giữ sự cách biệt giữa tôi và "Giáng tiên", tôi lại cố gắng đẩy thêm cho sư tương phản giữa cao trọng và thấp hèn của nàng và tôi thêm rộng ra. Tôi tin sự tương phản đó sẽ tạo ra một loại phản ứng dây chuyền thúc đẩy những "phân tử thơ" bắn phá nhau mà kết quả là một năng lượng thơ khổng lồ sinh ra. Quả nhiên phản ứng có xảy ra thật. Đêm đêm tôi về viết được những bài thơ trường giang đại hải nhưng lạ quá, thơ thì dài viết thì dễ nhưng vẫn chưa có bài thơ hay. Tôi tin chắc mình không phải là kẻ bất tài, có thể mình còn mắc phải một sai lầm nào đây chỉ vì mình chưa yêu hay đã yêu nhưng chưa yêu đủ liều lượng, hoặc chỉ mới còn đứng giữa ranh giới của lãnh địa thần tình ái chứ chưa hẳn ở trong đó và thế là tôi càng phải cố gắng. Tôi phải dùng chữ "cố gắng" vì tôi thấy yêu người cũng là công việc khó khăn tột bực, tôi đem hết cả năng lực dự trữ ra dùng vào công việc yêu nàng Giáng tiên.
    Giai đoạn đầu xảy ra đúng như dự liệu nhưng về sau điều mong mỏi kỳ quặc tưởng đâu dễ dàng thực hiện nhưng cuộc sống lại có những bất ngờ ghê gớm, chính sự ngẫu nhiên phi lý của cuộc sống lại đưa nàng Giáng tiên đến với tôi, lấp hẳn cái hố cách biệt mà tôi cố tình đào ra.
    Đó là vào một đêm mưa cuối đông, trời mưa tầm tã, phòng trà vắng tanh, đêm đó mấy vị công tử hào hoa bỏ về trước để lại nàng Giáng tiên bơ vơ một mình, tôi thấy nàng đứng đợi xe rất lâu vẫn không có chiếc xích lô nào đi qua, Giáng tiên nhìn thấy tôi, nàng kêu tôi lại chỉ bằng một nụ cười thân thiện. Không biết đây có phải lần đầu tiên nàng biết có tôi hiện hữu trên cõi đời này không? Chiếc xe đạp của tôi có diễm phúc được nàng chọn, tôi dắt xe lại gần, quanh nàng sực nức hương thơm. Giáng tiên thỏ thẻ: "Anh cho em về nhà đi!" Giáng tiên lên xe, tay nàng vòng qua cái bụng chỉ toàn thơ lép kép của tôi. Tôi cũng cảm tưởng như hai vòng bánh xe trôi theo làn hương quấn quýt sau lưng tôi. Trên đường đi, Giáng tiên làm quen và hỏi tôi nhiều chuyện, tôi nghe giọng nói và giọng hát của nàng khác hẳn nhau, giọng nói thì đầy âm sắc quê mùa mộc mạc thế mà khi lên sân khấu đứng trước micrô nàng bắt chước cái giọng gì nghe lạ quá, giống như tây nói tiếng ta, một thứ giọng nói nửa nam nửa bắc và khi nàng hát lại còn lạ hơn nữa, nàng hát tiếng Pháp, Anh, Hoa, Ấn độ...  Không biết nàng hiểu những điều nàng hát không?

    Tới nơi nàng không cho tôi đưa tận nhà. Giáng tiên nói, khuya rồi hàng xóm họ dị nghị. Ban ngày lại chơi. Rồi Giáng tiên chỉ cho tôi căn nhà cuối con hẻm có ngọn đèn vàng ngoài hiên.

    Tôi quay xe về, lòng hoang mang vô kể, thực tình thì tôi không muốn có cuộc tiếp xúc vừa qua, cuộc gặp gỡ  chỉ có mấy phút ngắn ngủi đã làm rạn nứt phần nào thần tượng mong manh pha lê của tôi mà tôi vẫn xây một lâu đài cổ tích dành cho nàng công chúa chứ không phải căn nhà nhỏ tồi tàn cuối con hẻm tối tăm đó. Tôi không ngờ da thịt trong trẻo tinh khiết của nàng công chúa lại có thể chạm vào cái bụng phàm phu tục tử nào dù đó là cái bụng chứa đầy tứ thơ của tôi. Thôi đã thế thì hãy thâm nhập vào chốn bồng lai tiên cảnh một chuyến xem nàng tiên sống như thế nào. Và thế là sáng hôm sau, 9 giờ tôi đến gõ cửa nhà nàng.

    Tôi gõ hồi lâu mới nghe tiếng dép lê trong nhà, tiếng mở khóa lách cách và một khuôn mặt ngái ngủ hiện ra. Dưới ánh sáng ban ngày chói chang, nét mặt của Giáng Tiên làm cho tôi sững sờ. Đây có phải nàng Giáng Tiên ướt sũng ánh đèn sân khấu mỗi đêm dâng tiếng ca huyền hoặc cho đời? Bộ mặt mà tôi gặp sáng nay khác hẳn. Ôi bao nhiêu sự bê trễ cẩu thả hiện ra rõ mồn một. Đâu rồi hình bóng giai nhân mà tôi vẫn từng chiêm ngưỡng hằng đêm dưới ngọn đèn sân khấu? Hình như tối qua nàng lên giường mà không kịp rửa mặt. May mắn lắm nàng chỉ lau qua khuôn mặt mình bằng chiếc khăn ướt. Tội nghiệp cặp lông mày nàng tỉa tót nhỏ như sợi chỉ rồi bôi đen bằng bút chì than, màu than bôi đen như bị một nhát chổi quét lấy lệ về hướng thái dương để lại vết lọ dài. Màu đỏ son môi cũng chẳng hơn gì, đêm qua nó bị bôi xóa lấy lệ cho nên sáng nay nó bị nham nhở chỗ còn, chỗ mất, trông giống như người bị đánh dập môi. Đâu rồi cặp môi mọng ướt và trông như trái chín mà bây giờ chỉ còn cái miệng vô duyên với cặp môi héo hắt đậu trên khuôn mặt giống mặt hề. Tai hại hơn cả là lớp phấn trắng, phấn hồng, kem lót, kem dưỡng da, đủ thứ sắc màu ô hợp sau một đêm nó trộn lẫn với mồ hôi nhễ nhại trông giống như bức tường ẩm mốc loang lổ. Tệ hơn nữa nhiều chỗ trông như có dòng nước ngấm qua. Chiếc cổ cao mà trước tôi đã làm thơ ca tụng đẹp như cổ thiên nga giờ đây phấn đọng lại trong mấy nếp nhăn giống như có mấy sợi chỉ quấn quanh. Tóc tai nàng bơ phờ có chỗ còn dính mấy cái kẹp, có nơi còn ống xốp cuộn tóc nhưng tất cả tả tơi trông tóc nàng giống như khu vườn sau cơn mưa gió.

    Bộ quần áo nàng khoác trên người nhăn và bẩn, nó giống như dưa cải để quá ngày, còn màu của nó thì văn chương một tí gọi là màu hoàng yến. Nhưng đây là con chim hoàng yến bị  ám khói và bị bắn thủng nhiều chỗ! Gần nách áo sứt đường chỉ, nàng gài tạm  bằng chiếc kim găm. Từ đó tôi có thể kết luận rằng trong căn nhà của người phụ nữ này chắc chắn không "tồn tại" cây kim sợi chỉ. Khi nàng cúi xuống, qua cổ áo rộng tôi thấy cặp vú không gì nâng đỡ xẹp lép lòng thòng như vú chó cái nuôi con. Tôi phân vân, nào đâu bộ ngực núi lửa khiêu khích và kiêu hãnh trên sân khấu?

    Giáng Tiên mở cửa mời tôi vào nhà. Trong khung cảnh đặc biệt này chúng tôi không cần giữ phép lịch sự kiểu chủ khách. Tôi thấy Giáng Tiên vén mùng. Trong giường giữa đống mền gối lộn xộn có một  khối tròn đầy vết mực xanh đỏ lăn lộn.Sau khi nhìn kỹ thì đó là một cái đầu cạo trọc của thằng bé. Có lẽ nó là con của nàng. Đứa bé có cái đầu ngũ sắc vì nó bị ghẻ chốc, mẹ nó cạo trọc và xức thuốc đỏ, thuốc xanh, chỗ còn tóc, chỗ không, trông thật buồn cười. Thằng bé vừa thức dậy, nó lăn lộn đi tìm chỗ khô, đêm qua nó tè ra ướt nhiều chỗ. Thì ra nàng tiên nữ đã có con và không chồng. Phòng nàng trông chẳng khác gì tổ chuột, tới gần đầy mùi nước tiểu. Cạnh giường ngủ là chỗ móc quần áo. Bao nhiêu bộ cánh xanh đỏ, cái thì mỏng như tơ nhện cái lại dày như mo, cái dài cái ngắn, còn kiểu cách thì kỳ quái dị dạng giống như đồ hát tuồng.

    Bên dưới giường của nàng tiên phải nói là một thế giới huyền bí, một thứ hang động chẳng có người dám thám hiểm. Tôi chắc cả năm chẳng có cái chổi nào lai vãng đến nơi đó. Nó đầy bụi bặm, váng nhện, rác rưởi, nước tiểu, giày dép đứt, tàn thuốc lá và bao cao su của những người bạn tình.

    Đang còn ngẩn ngơ thì Giáng Tiên kêu tôi cuống quít nhờ lấy giấy cho nàng. Tôi đưa mắt nhìn nhưng chẳng có quyển sách báo nào. Nàng bảo tôi dỡ nệm ghế lên. Trời ơi! tôi khui đúng cái "viện bảo tàng của tình yêu", bao nhiêu là thư từ của những người ái mộ gửi cho nàng đều dồn cả vào chỗ này. Tôi nhặt lên một xấp giấy, có cả thơ lẫn thư, màu thiên thanh có mà màu hồng nhạt cũng có, bây giờ thì những áng văn thơ tuyệt tác này sắp sửa chịu sự tuẫn tiết cuối cùng để cho Giáng Tiên làm công tác dọn dẹp vì thằng bé vừa mới bậy ra!

    Tôi tần ngần hồi lâu trước chiếc bàn phấn của nàng tiên nữ. Tôi chắc rằng chiếc bàn phấn này cũng là tặng phẩm của một kẻ si tình nào đó. Trước đây chắc nó sang trọng lộng lẫy, nhưng nay thì bệ rạc ngó thấy. Tấm gương nứt làm hai, mặt gương mờ mịt thức mây. Đứng soi vào gương trông thấy bóng dáng mình mờ ảo như nhìn qua màn sương. Tôi tưởng người như Giáng Tiên phải có những dụng cụ trang điểm loại đắt tiền mua ở những cửa hiệu sang trọng nhất. Sự thật thì không phải như thế. Hình như chỗ này cũng là nơi mà cái thằng bé đầu xanh đỏ chơi đùa. Nó chọn chỗ này cũng phải vì có rất nhiều thứ có thể làm đồ chơi. Bao nhiêu là vòng đeo tay đủ kiểu, hoa tai đủ thứ. Phấn son của mẹ nó cũng là thứ đồ chơi rất tốt. Tôi thấy nhiều hộp phấn không, nhiều hộp phấn khô bể ra như bánh in, mấy thỏi son cạn tới đáy mà dù Giáng Tiên với ngón tay út có móng dài cũng không móc ra được. Mấy ống kem thì teo tóp, hộp phấn mi mắt cái còn cái mất, kềm kẹp lông mi đã gãy, chổi quét phấn rụng tả tơi, mặt bàn chỗ nào cũng lem  luốc. Thực là một thế giới hỗn độn của mùi hương và màu sắc. Thằng bé đã chơi chán chê chỗ này. Tôi thấy lọ nước hoa không còn một giọt cắm đầy chân nhang. Với cái chỗ như thế này mà nàng Giáng Tiên có thể tô điểm thành một bà hoàng để hàng đêm ra trước công chúng thì nàng quả thực đáng cấp bằng đại học về khoa trang điểm!

    Trên bàn còn nhiều thứ nữa chẳng ăn nhập gì tới việc làm  đẹp. Có một con dao cùn với trái xoài xanh ăn dở cùng với chén mắm ruốc. Nàng tiên có thể vừa nhấm nháp xoài xanh mắm ruốc vừa nhìn vào gương tô điểm dung nhan của mình. Cô ta được nuôi dưỡng bằng loại thực phẩm đặc biệt này nên vẫn giữ được vóc dáng thanh mảnh gọn gàng chứ chưa phát phì. Cạnh giường tôi thấy có dắt một mảnh giấy ghi:

    - Hụi chết còn 8 tháng

    - Xấp hàng trả góp cho con Lan còn 50

    - Trễ kinh 16 ngày!

    Ôi thực là những con số rất đáng cho nàng tiên phải quan tâm. Giáng tiên nhờ tôi xuống bếp lấy bình sữa. Tôi lần mò ra phía sau. Trong chạn nhiều chén bát đĩa ăn xong chưa rửa. Bên trong đầy phân gián, phân chuột. Một cái tô đựng thứ nước gì đục lờ lờ nổi váng mỡ không biết từ ngày nào bốc mùi chua. Một chiếc thẩu nhỏ đựng mỡ, mỡ đã đông và đông luôn một chú gián với đầy đủ râu và chân trông giống như một xác ướp trong băng. Trong chạn còn có một chén nước mắm ớt xanh, chắc là phần còn lại của một bữa tiệc bánh bèo, bánh nậm Huế. Tỏi, ớt, đường, muối vung vãi khắp nơi. Cạnh đó là ông lò đất sứt mẻ lạnh lẽo. Điều này cho biết nàng tiên ít khi nấu bữa ăn cho mình. Trong chốn tối tăm nầy cũng có sự hiện hữu của thần thánh. Một vị thần, không rõ là táo quân, thần tài hay thổ địa, ngồi trong chỗ nhang tàn khói lạnh, còn ngài thì giống như từ ống khói vừa mới chui ra.
    Tôi chính là kẻ phải ngồi xuống phồng miệng thổi lửa nấu nước sôi pha sữa cho thằng bé đầu xanh đỏ. Tôi không ngờ cuộc phiêu lưu ngỡ là tình cảm trong buổi sáng hôm nay lại có thể đưa tôi đi xa tới thế nầy. Trong khi chờ nước sôi, tôi tiến về "thám hiểm" phía sau nhà. Quang cảnh chỗ nầy càng làm tôi ngao ngán. Trên chiếc dây phơi nối nhiều chỗ cột từ cây chùm ruột tới cây khế là điểm "tập kết" của đồ lót. Xì líp, xú chiêng, đủ kiểu, đủ màu, mới có, cũ có, thủng lỗ, teo tóp... giống như lá cờ của đám tàn quân. Bên dưới là một thau nhôm cũ đựng đầy quần áo trong một thứ nước đục lờ lờ có xác lá vàng rơi. Mấy chiếc áo quần chẳng biết tới lúc nào mới được bàn tay tiên nữ chạm tới giặt giũ phơi lên? Chỗ này cũng là giang sơn của rác rưởi, mùi chua của thùng nước cơm và mùi cống rãnh. Cuối vườn cũng có cái thùng rác. Tôi lấy hết can đảm nhìn vào trong. May quá, cái mà tôi tưởng sẽ thấy đã không có. Tôi chợt nhớ lại con số 16 viết trong tờ giấy mà tôi đã đọc từ lúc nãy.

    Ngay buổi đó chúng tôi có được một bữa cơm thân mật. Tôi nói rằng thân mật chính vì nồi cơm thì do tôi nấu, Giáng Tiên đi mua thức ăn. Tôi ở lại với nàng suốt buổi sáng, buổi trưa và cả buổi chiều.Tôi muốn cuộc phiêu lưu của mình phải đi tới cùng đường. Tôi biết thêm nhiều điều thuộc về đời thường của Giáng Tiên. Cả cái tên "Giáng Tiên" người ta gán cho nàng, nàng cũng chẳng hiểu ý nghĩa của nó là gì. Nàng đích thị là cô Lê Thị Lụa chuyên đi làm cỏ lúa quê xã Đồng Sơn, huyện Hòa Đồng, tỉnh Gò Công, một cô gái quê chính hiệu. Thời gian đó còn cho tôi cơ hội khám phá thế giới nội tâm của cô gái nầy. Thực là một cô gái hồn nhiên, mộc mạc và thật đáng yêu, còn cô Giáng Tiên trên sân khấu chỉ là cái xác không hồn, là của giả, là cuộc sống giả phù phiếm vô vị. Trong lúc ngồi xổm trên nền nhà  ăn cơm, tôi nhìn nàng không nhịn  được cười. Nàng hỏi:

    -  Cười chi?

    - Cười sân khấu và cười cuộc đời sao lại khác nhau tới mức độ này.

    -  Cái nào hơn?

    -  Cuộc  đời!

    Trên đường về nhà lòng tôi nao nao. Trong chính chốn sâu thẳm của con tim tôi đã có sự thay bực đổi ngôi. Cô Lụa mộc mạc có cuộc sống vô cùng bê bối luộm thuộm từ cách ăn mặc cho tới mọi sinh hoạt khác đã đè bẹp cô Giáng Tiên lộng lẫy xa hoa nhạt nhẽo và giả tạo.

    Tôi phân vân mãi không hiểu tại làm sao cuộc đời thực không mấy khi dành chỗ cho sự lãng mạn, ảo tưởng, mơ mộng. Cuộc đời thực vừa mới trông qua chẳng có gì là đẹp đẽ nên thơ cả thế mà cuộc đời thực, cuộc sống thực đáng yêu biết là dường nào!

    Bây giờ thì tôi đã "giác ngộ". Tôi sẽ ra giữa chợ quỳ xuống chiêm ngưỡng cuộc đời và làm thơ...

    Quý Thể


Vẽ Trên Xương Lá


  • “Bởi chữ nghĩa không đủ lớn để tả đời người
    Tôi xin một lần vẽ trên xương lá.”
    Cuối năm, trời thật lạnh, chỉ có mấy độ F mà thôi. Miền Đông.
    Tôi chợt nhớ những ngày còn bé. Trời lạnh, tôi hay hà hơi lên cửa kính, rồi vẽ chữ trên đó. Chữ sẽ mau tan vì hơi nước sớm bay đi. Lúc tôi quen nàng, cũng hay vẽ chữ kiểu đó. Viết lên kính coi bộ dễ hơn nói. Bản tính nàng vốn rụt rè. Mà con gái ngày xưa ai cũng rụt rè như vậy. Tôi thì hùng hổ hơn, nhưng cũng rất ngại ngùng sợ nàng e thẹn, mất lòng. Đành vẽ chữ vậy! “Anh yêu em.”
    Tôi muốn trở lại. Vâng, tôi rất muốn trở lại, khoảng thời gian đẹp như mơ đó. Nàng vẫn ở bên tôi. Tôi rủ rê:
    – Đi, em!
    Nàng hỏi trong khi mở to đôi mắt:
    – Đi đâu? 
    – Về nơi khi xưa mình hẹn nhau lần đầu.
    – Nơi nào?
    Nàng hỏi rồi tự trả lời:
    – Nhớ rồi… Không đi được.
    – Tại sao?
    – Chân tôi… đã không thể đi được.
    Tôi như vụt thoát ra khỏi giấc mơ. Trong đôi mắt của nàng, lệ đã cạn từ lúc nào.
    – Mình nè, “đi” không có nghĩa là phải dùng đôi chân. Tôi giúp mình, tôi đẩy xe lăn cho mình. Mình vẫn có thể lên xe, lên tàu, lên máy bay, mình hiểu không?
    Nàng lắc đầu, thở dài:
    – Không dễ đâu mình à! Mình cũng đau yếu, tôi không nỡ…
    Chúng tôi cùng im lặng. Tôi len lén thở dài, sợ nàng nghe thấy. Mới hồi đêm, tôi trải qua một cơn đau thấu trời. Tôi tưởng mình không đi được nữa. Ban đầu còn ráng vịn tường mà đi, sau thì quỵ xuống, lê lết trên nền nhà. Tôi tưởng mình sẽ nằm luôn trên đất. Nhưng có một tiếng vọng từ đâu thúc giục, nhắc tôi ngày mai đem thức ăn vào cho nàng. Nàng trông ngóng tôi lắm đấy! Tôi lầm bầm nguyền rủa chứng bệnh gout quái ác. Mày không đánh gục được tao đâu! Không bao giờ đâu!

    *****
    – Ngon không?
    – Cái gì ngon?
    – Trời!.. Thì thức ăn có ngon không? Tôi nấu đó!
    – Biết rồi! Mình nấu. Nhưng tôi nấu mới ngon.
    Hôm nay thấy nàng biết trêu đùa, tôi lấy làm mừng. Tôi sợ những lúc nét mặt nàng lạnh tanh không lộ cảm xúc, trông không giống người yêu của tôi khi xưa chút nào. Khi xưa chúng tôi đâu có mấy khi được gần nhau. Và những khi có nhau, nàng vui vẻ, nhiệt thành. Tôi là lính, một thứ lính rất dữ – nói “dữ” là vì chúng tôi chịu quá nhiều nguy hiểm – ở rừng nhiều hơn ở thành phố. Ngay cả ngày đám cưới chúng tôi cũng vội vàng, chú rể mặc bộ quân phục, cô dâu mặc áo dài giản dị, trang điểm đơn sơ. Đám cưới xong, tôi lại đi. Rồi từ đó về sau, nàng cứ phải nói hai chữ “Lại đi!” Như một điệp khúc, không chán.
    Tôi lấy chiếc khăn giấy lau cho nàng miếng cơm dính ở phía trên môi. Nàng nhìn tôi, tia mắt lạ lùng. Rồi như chợt hiểu ra – lúc này nàng hiểu khá chậm – nàng lộ vẻ cám ơn. Khi nàng ăn, tôi phải đút. Nếu không thì tôi phải giữ chén cho chắc để nàng múc cơm bằng một tay. Có rất nhiều lúc nàng không muốn ăn. Tôi phải năn nỉ, thậm chí dọa nạt để khiến nàng ăn. Tôi hiểu rằng trong tâm trí của nàng, cuộc sống đã trở nên nặng nề quá đỗi.
    Ăn xong tôi đẩy xe cho nàng ra hưởng chút không khí ngoài sân. Có nhiều người đã ở đó. Họ là “hàng xóm” của nàng. Có cả “bà cụ share phòng” với nàng nữa. Khi hơi khỏe trong người, bà cụ tỏ vẻ dễ chịu. Nhưng khi cơn bệnh trở lại, bà cụ sẵn sàng la lối, khóc lóc, nói bậy. Và nàng thì im lặng chịu đựng.
    Mọi người chào nhau trong hành lang. Rồi thì hai chúng tôi tìm một chỗ vắng cho mình. Nàng nhìn thấy trời xanh, cây lá, nét mặt sáng lên. Tôi kéo một chiếc ghế, ngồi bên nàng. Nàng nói:
    – Mình mệt đó!
    – Sao mình biết?
    – Mình đau chân, mất ngủ, còn lo nấu ăn cho tôi.
    – Thì tại mình chê thức ăn kiểu Mỹ trong này, tôi nấu món Việt cho mình. Cũng đâu có mất công bao nhiêu. Miễn mình vui là được.
    Giọng của nàng như chùng xuống:
    – Tôi chỉ vui khi được ở trong căn nhà của mình.
    Tôi nói nhỏ:
    – Tôi sẽ xin cho mình về.
    – Đừng, mình! Tôi sẽ không về. Chính tôi muốn ở đây. Mình không săn sóc tôi nổi đâu. Trong đây có bác sĩ, có người tập tành.
    – Nhưng…
    – Xin mình đừng nói gì hết. Mình hãy để mọi việc như bây giờ, đừng thay đổi gì nữa.
    Nghe câu “Đừng thay đổi gì nữa” như một lời cam phận. Từ lúc nàng té xuống, chúng tôi đã mong có sự thay đổi, mong ở phép lạ. Mấy năm qua rồi, phép lạ không đến với chúng tôi. Giải thích sao đây? Tôi bây giờ chỉ còn lại hai chữ “khổ nạn.” Nàng đang gánh khổ nạn. Không ai có thể gánh thay nàng.
    *****
    Tôi đi xuống tầng hầm. “Xưởng in” của tôi là đây! Rón rén, rón rén… cứ như là đi hành quân. “Chiến trận” của tôi cũng ngổn ngang tệ! Máy in, máy cắt, toàn là do tôi tự chế, giấy má, bì thư… khắp nơi. Những khi ngủ không được, tôi đều đi xuống giang sơn riêng của mình. Lúc nàng còn khỏe, còn ở nhà, cũng đã là như vậy.
    Tôi ngồi vào máy computer. Phải “layout” cho xong số tới. Bạn bè, em út gửi bài, sửa bài xong rồi, công việc này là của mình. Ngày mai, ngày mốt cho báo “lên khuôn”, rồi mình tự tay cắt xén, khâu gáy. Trời ơi, những từ ngữ này nghe sao mà thân thiết, sao mà hấp dẫn quá vậy? Tôi thừ người, nhớ ra một điều. Bài của mình đâu? Mình là nhân vật chủ chốt, phải có bài chứ! Ngày xưa băng rừng lội suối mà viết lách cũng dễ dàng làm sao! Bạn bè viết văn, làm thơ, có người bài chưa kịp gửi đăng báo đã ngã xuống mãi mãi. Có bạn gửi bớt thịt da vào trong đất. Chính vì vậy mà tôi đã không mệt mỏi làm cho bạn văn bạn thơ sống lại, trả vinh dự cho những người lính cầm bút, là bởi vì họ xứng đáng được như thế. Và còn nhiều, nhiều nữa, những tạp chí vang bóng một thời mà ngày nay bị quên lãng, tôi đã tìm tòi, làm hồi sinh. Tôi sẽ không làm được chuyện này dễ dàng nếu không có nàng cùng gánh vác. Hai vợ chồng đã đến Thư viện Cornell cách nhà năm, sáu tiếng đồng hồ lái xe, tìm đọc những bài xưa cũ, copy đem về. Sau này thì sắm máy “scan”, công việc nhanh hơn và đỡ tốn tiền hơn một chút. “Khâu vá di sản văn chương miền Nam!” Bạn bè tặng cho chúng tôi câu đó. Nghe mà cảm động.
    Bài của mình đâu? Không cần cầm bút, tôi gõ bằng máy computer. “Theo Em.” Ngày xưa theo em trên con đường hoa, nhặt những chiếc lá vàng đẹp mang về ép, ép khô xong chúng tôi vẽ thơ lên đó. Có khoảng đời theo em vào thư viện, là thư viện Cornell. Bây giờ theo em vào nursing home, em ngồi trên xe lăn với nửa thân tê dại. Tự nhiên nước mắt tôi chảy tuôn, dào dạt. Sao tôi thương em, thương thân quá đi!  
    Tôi giật mình thức dậy sau giấc ngủ mê thiếp. Hai chân tôi đau nhừ. Bệnh gout lại hành hạ. Nhưng kìa, chồng sách mình hoàn thành đêm qua! Tôi đã ngủ vùi sau đó, ngay trong tầng hầm này. Tôi nâng niu từng cuốn. “Lão gàn!” Tôi tự mắng yêu mình như vậy. Sách chỉ in tặng, không bán. Không phải bạ ai cũng tặng. Ai quý, ai yêu cầu thì mới in, mới tặng. Nghe gàn thật!
    Như một quán tính, tôi nghĩ mình sẽ gọi vợ, khoe với nàng là đã xong xuôi, công việc còn lại là của nàng: cho vào bì thư, hoặc gói lại, ghi địa chỉ, đem đi bưu điện, dán tem hay đóng dấu… Nhưng tôi chưng hửng. Nàng không còn làm được cái việc này nữa. Nàng đang nằm trong nursing home, nhớ không? Tôi thở dài, lặng lẽ ôm từng chồng sách ra garage, chất vào thùng xe. Tôi lại phải tự mình làm thôi! Lặng lẽ và chăm chỉ. Như con ong, cái kiến.
    Rồi cũng xong việc. Tôi cũng đã quen rồi! Trong thùng xe chỉ còn lại hộp thức ăn cho nàng. Tôi lái xe chạy vào nursing home. Tôi tự khen mình giỏi, mỉm cười.
    Nàng vẫn ngồi trên giường, chờ tôi. Đã quen với hình ảnh này rồi, không còn cách nào hơn. Nàng lên tiếng hỏi trước:
    – Mình đã gửi sách đi xong?
    – Sao mình biết?
    – Việc này là của tôi mà! Mình làm tới đâu, tôi cũng đoán ra hết.
    – Mình giỏi lắm! Mình vui là được.
    – Tôi vui lắm chứ!
    – Tôi giúp mình ăn nhé!
    Nàng lắc đầu:
    – Tôi chưa muốn ăn. Đêm qua tôi ngủ không được, sáng dậy hơi đau mình.
    – Tôi báo y tá, xin thuốc cho mình nhé!
    – Không cần uống thuốc đâu! Mình ơi, tôi chỉ muốn mình cạo gió cho tôi.
    – Được.
    Xem ra ở đất Mỹ mấy mươi năm mà nàng vẫn còn giữ thói quen của người Việt thời xưa, thích cạo gió, cũng như thích xông nồi lá giải cảm khi ở nhà. Dĩ nhiên tôi phải ra xin phép y tá. Bà ấy bảo không sao. Với một lọ dầu, một đồng tiền xu, tôi cạo gió cho nàng. Chẳng có ai khác trong phòng để mắc cỡ, “bà cụ share phòng” đã có con đến đẩy ra phòng ngoài chơi.
    Tôi giúp nàng xắn lưng áo lên, rồi thoa dầu, dùng đồng xu cạo nhè nhẹ lên đường xương sống, từ đó cạo ra hai bên. Nàng tỏ vẻ dễ chịu. Hình ảnh một bộ gân lá dần dần hiện lên, cùng lúc tôi xót xa nhận ra nàng đã ốm đi nhiều quá! Tôi gượng tay, như sợ đồng xu cọ sát làm đau những vùng xương lộ rõ. Tôi không còn như người cạo gió nữa, mà tôi vẽ. Vẽ trên gánh đời. Vẽ trên cây thập giá mỗi người chúng tôi phải mang vác. Mình ơi, hãy cố gắng. Em ơi, hãy cố gắng. Cho dù ngày mai có ra sao, anh vẫn theo em. Theo em! (*)
    Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh
    (*) “Theo Em”: xin mượn tựa đề loạt bài “Theo Em” của Nhà văn Trần Hoài Thư- Blog Trần Hoài Thư


Căn Nhà Năm Xưa

  • Bài viết mới nhất của ông ôn lại nhiều kỷ niệm đẹp về những căn nhà trải dài theo từng chặng đường từ bôn ba, vất vả đến thành công, an cư lạc nghiệp của gia đình ông.
     
    ***
    Nhớ lại 50 năm trước, một điều dĩ nhiên là thế giới không phải như ngày hôm nay, nước Mỹ không phải như ngày hôm nay và người Việt ở Mỹ hay ở khắp các nơi cũng không hẳn là người Việt ngày hôm nay. Trong thời gian ấy, ít nhất hai thế hệ mới đã ra đời.

    Nhớ lại 50 năm trước, đêm cuối cùng, một phép lạ đã đưa chúng tôi lọt được vào quân cảng Saigon và trèo lên được chiếc chiến hạm cuối cùng đang nằm ụ, bỏ nước ra đi. Những ngày dài chen chúc nhau trong một con tầu chết máy trôi trên biển mãi mới đến được đảo Guam. Những ngày lang bạt, tất tưởi rời trại này qua trại khác, cuối cùng được đưa vào vào đất liền, và tạm trú tại Camp Pendleton trại Thủy Quân Lục Chiến miền Nam Cali. Trại trải dài hàng cây số, với hàng trăm căn lều vải đón nhận hàng trăm ngàn người tị nạn.  

    Lúc đó, còn có nhau, ngủ trên ghế bố nhà binh chung lều, ngày ba bữa xếp hàng đi ăn, còn lại ngoài giờ thì đi từ trại này sang trại khác tìm người thân, lo cho những người ở lại, và chờ gọi lên làm thủ tục, đợi xem có ai bảo trợ ra bên ngoài định cư. Nghĩ đến đó, ai cũng cũng có cùng một suy nghĩ vừa mừng vừa lo âu, mừng là mình sẽ có một cuộc đời mới, lo là mình sẽ bị tách rời khỏi đồng bào mình để đưa đi mất hút vào một miền đất mới lục địa mênh mông.

    Cuối cùng, sau hơn 3 tháng chúng tôi được một nhà thờ Baptist tại một vùng lân cận Seattle bảo trợ. Vợ chồng ông bà mục sư cùng một vài người của nhà thờ ân cần đón chúng tôi tại phi trường và đưa đến một căn nhà có 4 phòng tại một thành phố nhỏ gần đó. Họ cẩn thận chu đáo lo mọi thứ cho chúng tôi, gần như đủ cả, giường, bàn ghế, chăn gối sạch sẽ, lại có cả máy giặt và máy sấy, tủ lạnh thì đầy thức ăn cả tuần… Hàng ngày, họ đến giúp đỡ và hướng dẫn hội nhập vào đời sống mới. Chúng tôi cám ơn họ suốt đời, nhiều người không còn nữa và nhiều người chúng tôi đã đến dự tang lễ cuối cùng của họ. 

    Qua suốt một ngày di chuyển khá mệt, buổi sáng đầu tiên, chúng tôi thức giấc muộn. Đó là một buổi sáng mùa Hè, nhưng vẫn cảm thấy lạnh. Tôi ra khỏi phòng, mở cửa nhìn ra bên ngoài, ngỡ ngàng trong một thinh không không tiếng động, một không gian không một bóng người, không thấy một chiếc xe chạy qua. Cái không gian vắng lặng này tôi nghĩ vẫn không thay đổi trong nhiều khu phố tại Mỹ cho tới ngày hôm nay.

    Những người hàng xóm đầu tiên mà chúng tôi tiếp xúc là những đứa trẻ hàng xóm hiếu kỳ lân la đến đứng xa nhìn, nhưng chỉ ít ngày sau, chúng tôi làm quen được và các con chúng tôi ra chơi với chúng. Tôi còn nhớ một kỷ niệm khó quên, là chúng muốn tôi dạy cách cầm đũa. Tôi tin rằng những trẻ này thời ấy chưa bao giờ được bố mẹ đưa đi ăn cơm Tàu và đây là lần đầu thấy có người dùng đũa để ăn. Bài thi cuối cùng trong lớp huấn luyện đó là, tôi đưa cho mỗi đứa trẻ một đôi đũa và đặt mấy hòn bi ve tròn thủy tinh bên một cái đĩa. Đứa nào gắp được lên bỏ vào đĩa hai lần là đỗ. Sau một hồi chật vật, một đứa đầu tiên sung sướng hét lên “I did it, I did it!”. Tôi cũng sung sướng không kém vì đã làm tròn nhiệm vụ. Tôi tặng cho chúng đôi đũa và còn muốn ký trao cho chúng “Chứng Chỉ Cầm Đũa”.  

    Tôi còn muốn viết thêm những gì đầu tiên, chân ướt chân ráo trên một miền đất xa lạ, bao la. Người Việt Nam đầu tiên tôi đã gặp. Chén nước mắm đầu tiên mà mấy tháng trời không có trong bữa ăn đã khiến tôi phải cầm lên húp một hơi và ngồi một lúc lâu để cái chất mặn của quê hương ấy thấm dần vào cơ thể. 

    Những bát phở đầu tiên, những bát phở dò dẫm, khám phá ở nhà hay của bạn bè. Mọi người quây quần, vừa ăn vừa khen. Người thì gật gù, giọng khuyến khích: “Cũng gần giống phở”, người thì nhiệt thành hơn, kêu:“Giống quá! Giống quá!” và ngậm ngùi nhớ đến những bát phở ở nơi mà mình vừa rời bỏ.
    Nhớ đến cái Tết đầu tiên, hai vợ chồng chúng tôi làm một bàn thờ nhỏ, thắp hương cúng vọng tổ tiên ở quê hương xa. Tối đó tuyết vừa tan, tôi lái xe đưa gia đình đến họp mặt đầu năm, đồng bào từ các thành phố lân cận tụ họp đông nghẹt cả hội trường lớn. Cô ca sĩ Thanh Thúy được mời từ Cali lên, áo lạnh khoác bên ngoài dầy cộm, lướt mướt từ bên ngoài bước vào.  Những bài cô hát tối nay, nghe rất quen thuộc mà tôi đã được nghe bao nhiêu lần từ bao nhiêu năm qua, sao lần này nghe thấy rưng rưng khôn tả, muốn khóc.

    Chiếc xe đầu tiên tôi có là một chiếc xe cũ đời 62, tôi đã lái đi quanh vùng thăm bạn bè, dự các buổi họp cộng đồng và đúng là “Điếc không sợ súng” đã dùng cái xe đó lái hơn ngàn dặm xuống miền Nam Cali thăm bạn bè, khiến nhà thờ phải viết lời cầu nguyện an lành cho chúng tôi trên bản tin của họ. Xe không có máy lạnh chở 8 người, trời Cali nắng gắt, sờ vào thành xe nóng bỏng. Đường thì nhiều đèo, máy nóng khiến bình nước nhiều lần bốc hơi ngùn ngụt, nhưng may mắn chúng tôi cũng đi được đến nơi về đến chốn.

    Nhớ đến cái “job” đầu tiên, lúc đó chúng tôi và bạn bè đều nghĩ rằng mình như người đuối nước nên chấp nhận bất cứ một cái gì để tồn tại. Khi người bảo trợ hỏi có muốn đi làm không, ai cũng trả lời là có và “I can do any job”. 

    Chúng tôi cũng vừa quen với một gia đình Viêt Nam mới đến.  Chồng vốn là phi công, vợ là thư ký ngân hàng. Bà vợ được giới thiệu làm “Housekeeper”, trong phần công việc lại có vụ lau cầu tiêu, bà ta đi làm về tủi thân, ngồi khóc ấm ức. Tôi cũng không khá gì hơn, được cái job part-time có tên là “Maintenant” trong một khu người già; suốt buổi công việc là “móp” sàn nhà và dùng máy hút bụi nơi có thảm. Tôi đã không nề hà vì công việc, nhưng lương của tôi lúc đó là lương tối thiểu có $2.25 một giờ, nghĩ đến làm sao nuôi nổi một gia đình 7 người và tương lai thì mù mịt. Ít lâu sau, tôi xin nghỉ và tìm cách đi học lại tìm một nghề thích hợp hơn. Phải cám ơn nước Mỹ một lần nữa, lúc nào cũng sẵn sàng cung cấp cơ hội cho mọi người. 

    Nói đến những thứ đầu tiên, mà không kể đến căn nhà đầu tiên là một điều thiếu sót. Người Việt thường coi câu “An cư lập nghiệp” làm châm ngôn. 3 năm sau, chúng tôi đã mua căn nhà đang ở khi người chủ muốn bán. Mua nhà lúc đó quá dễ dàng, giá nhà chỉ chừng trên 30 ngàn, tiền “down” khoảng 3 ngàn, trả hàng tháng dưới 300. Chúng tôi sửa sang, sơn lại căn nhà giống như “Căn nhà trong mộng”, trong bài học thuộc lòng văn chương Pháp hồi trung học mà khi chúng tôi mới lấy nhau thường mong ước: “Căn nhà màu trắng có những cửa sổ sơn màu lá cây”. Chúng tôi làm thêm hàng rào thưa theo kiểu pickle cũng sơn theo màu trắng và trồng thêm các loại hoa. Nhà chúng tôi ở ngay đầu dẫy nổi bật, nên làm khu phố được sáng sủa thêm, thay vì một căn nhà cho thuê như trước kia. Hàng xóm đi qua thường hay dừng lại cám ơn. Chúng tôi ở đó 6 năm. Sau khi dọn đi một thời gian, tôi gặp lại vợ chồng ông hàng xóm bên cạnh, thay vì mừng rỡ, ông giơ tay đấm vào bụng tôi, đấm đùa thôi, nhưng giọng đầy trách móc là tôi đã bán nhà cho một tên lười biếng để căn nhà nhếch nhác, lại mang đầy đồ cũ ở đâu về, làm hỏng cả khu phố.

    Trong từng năm ấy đến nay, chúng tôi đã đổi đến 4 căn nhà, căn nhà thứ hai là một căn nhà mới, từ trên bao lơn chúng tôi có thể nhìn thấy biển qua ngọn cây và những hoàng hôn rực rỡ, mặt trời tròn đỏ ửng lặn dần. Đây là một thành phố ven biển yên bình, trong cơn gió có mùi rong biển và đêm nào cũng nghe thấy tiếng những con tàu hụ từ xa vọng lại. Tôi còn nhớ có những chiều hè cả gia đình thường hay lội bộ trên bãi biển và đi ra cầu tàu ngắm biển ngoài xa. Chúng tôi ở đó gần 20 năm, con cái đều xong trung học ở đó. 

    Căn nhà thứ ba chúng tôi mua lại, có lẽ vì hàng đào, khoảng 10 cây đào Nhật Akibono trồng sau nhà, mùa Xuân hoa nở phủ rợp đầy sân. Con cái chúng tôi lúc đó đã xong cấp Đại học và tung cánh đi các nơi xa. Thay vào đó chúng tôi cần bạn, nên mỗi mùa hoa đào nở lại có dịp mời các bạn đến nhà dự “Hội Hoa Đào”. Cùng các bạn uống trà, ngâm các bài thơ xưa và hát những bài ca của một thời… Nhưng chúng tôi lại chỉ ở căn nhà này có 4 năm.    
    Khi gần về hưu, chúng tôi lại đổi nhà lần nữa, đáng lẽ là phải mua một căn nhà trệt nhỏ hơn, không hiểu sao khi chúng tôi đến một khu mới, một khu cũng bình thường, lại chọn một căn nhà phía trên lưng chừng đồi, tầng nào cũng có thể nhìn xuống một vùng thung lũng mà ban đêm đèn sáng như sao sa. Hai bên đường, một bên họ trồng hàng đào Thunder Cloud, bên đối diên họ trồng hàng cây phong nên hai hàng cây đó khi nở hoa, khi lá đổi màu, khi lá rụng trơ trọi đều báo hiệu cho mọi người biết sự thay đổi của bốn mùa.
     
    Căn nhà thứ tư 2004
    Căn nhà thứ tư 2004
     
    Trong khu này có 24 căn nhà, gồm nhiều sắc dân. Họ bầu tôi làm chủ tịch của HOA, tạm gọi là ông Trưởng Khóm.

    Ai đến thăm nhà cũng kêu, sao đến tuổi này còn chọn căn nhà 3 tầng như thế, đã leo dốc lại còn leo hơn 20 bậc thang. Nhưng chúng tôi lại thích ở căn nhà khoáng đãng này vì gần đủ các nơi mà chúng tôi cần đến, nhất là nghĩ rằng có đủ phòng ốc để các con của chúng tôi dễ dàng khi từ các tiểu bang khác về thăm, và dù mùa đông có nhiều lần phải bỏ xe dưới đường lội bộ lên đồi. Hai mặt nhà là khu rừng thông cao ngất còn lại, có lần một cơn bão đã thổi ngã luôn 3 cây, may quá chiều gió lại về phía rừng, nếu không thì cả nhà sẽ bị sập.

    Vườn sau, đi thẳng từ phòng khách ra, tôi thuê trải sỏi và lát gạch nên không phải cắt cỏ chăm sóc thường xuyên. Nhớ lại căn nhà trước tôi trồng 6 cây đào Yoshino, mùa Xuân hoa nở không thấy trời, lúc hoa rụng trắng xóa cả sân. Tôi chép lại mấy câu thơ hợp cảnh của một người bạn thơ:

    Ta về ở ẩn lưng đồi
    Rạng đông bắt gặp mây trôi ngang nhà
    Tự tay đun nước pha trà
    Ngắm đào nở rộ tháng ba quanh vườn.
    (Thơ Trần Thiện Hiệp)

    Tôi dựng thêm một gazebo. Những buổi sáng, buổi chiều, ngồi trong đó uống cà phê nhìn lên phía đồi sau, thấy những con chim lạ đến nhẩy nhót trên cành, những con cáo nhỏ vừa ra khỏi rừng đứng ngơ ngác nhìn xuống thung lũng xa. Năm vừa rồi hai mẹ con nai đến vườn ăn cỏ và gặm những quả táo non. Tôi theo dõi, thấy nai con lớn dần và cho đến một hôm chỉ thấy có nai con đến, tôi vừa buồn vừa vui là nai con đã trưởng thành và nai mẹ bao lâu nay đã dẫn con đến những nơi quen thuộc để tự mình kiếm ăn. Có lần một con công lạc đến và ở lại trong khu vườn của tôi hai tháng trời. Người ta nói công đến nhà là có tin vui, quả nhiên năm đó hai đứa con tôi lấy vợ lấy chồng mà chúng tôi nhiều năm mong đợi. 

    Căn nhà này chúng tôi ở đã 20 năm rồi, chắc còn ở nữa cho đến khi phải “Downsize” rời đi một địa chỉ khác. Tôi cũng không hiểu sao, qua nhiều lần dọn nhà như thế chúng tôi lại không nghĩ đó là những dịp giúp tôi dọn về Cali như chúng tôi và các bạn cũ đều mong muốn trong nhiều năm qua, mà chỉ dọn luẩn quẩn quanh vùng. Có những lần, cùng các con ở xa về, lái xe vòng qua thăm những căn nhà xưa, chúng tôi đậu xe bên đường, ngồi bên trong yên lặng ngắm lại căn nhà ngày nào mình ở, biết bao nhiêu kỷ niệm tràn về…

    Có phải chúng tôi đã mọc rễ khá sâu ở đây, nhổ đi cũng khó. Có phải chúng tôi đã thấm những gì quá đậm ở nơi này. Cha mẹ chúng tôi đã yên nghỉ ở đây, các con cháu và các thế hệ tiếp theo cũng sẽ ở đây. Năm nay tôi đang đứng ở ngưỡng cửa 90, tôi sinh ra ở Hà nội và rời Hà nội “năm tôi 18”, cả một thời thanh lịch, phong lưu, lãng mạn di cư theo cả thành phố khi đất nước chia đôi. Sống ở Saigon hơn 20 năm, chào đón, ngọt ngào với những năm hưng thịnh. Và đến nay đã ở Mỹ 50 năm, dài hơn ở Việt Nam rồi.

    Chúng tôi cũng chỉ là những người bình thường, không hiểu “Giấc mơ” mà mọi người thường nói đã đạt được chưa? Mỗi lần đi xa lại muốn trở về căn nhà của mình, “Home! Home sweet home!” Về một miền “Xanh mãi ngàn năm”, về những vũng biển yên bình có những chuyến phà qua đảo, có những cánh hải âu rập rờn trong gió, có những rặng núi tuyết phủ quanh năm, nhất là có những quán cà phê trong chiều mưa… Dù rằng đây là một miền mưa lạnh rỉ rả gần suốt nửa năm, dù rằng ở đây đường xá quanh co, lên đồi xuống dốc …

    Các nhà văn, các nhạc sĩ Việt Nam thường viết về tình yêu quê hương mà mọi người cho đó là “Tình tự quê hương. Tình tự dân tộc”, với lũy tre xanh, căn nhà nhỏ bé với vườn rau, con trâu già nằm yên trong ngõ, bến đò với dòng sông hiền hòa, chùm khế ngọt, tiếng võng đưa lẫn với tiếng gà gáy trưa...Những hình ảnh này chắc không còn nữa, đã bị bật gốc xóa nhòa, chỉ còn trong ký ức ảo tưởng, nhưng người ta vẫn hát, cả những người chưa từng sống với những tình tự này, và khi hát lên vẫn tưởng như cô lái đò vẫn còn neo thuyền, cô hàng xóm năm xưa vẫn còn tựa cửa chờ mình.

    Một nhà văn quốc tế đã viết “Nơi nào có tự do, nơi đó chính là quê hương”. Không hiểu trong thời gian mình đã sống ở đây nửa thế kỷ, hơn nửa đời người dài hơn nơi mình phải rời bỏ. Trong thời gian ấy đã có 4 thế hệ, với biết bao nhiêu gắn bó, gắn bó với căn nhà mình ở, với bạn bè, với cộng đồng, với một đất nước với biết bao nhiêu là ân tình. Không hiểu như thế mọi người có cho đó là đã đủ cái tình tự quê hương, cái tình tự dân tộc cho một quê hương mới hay chưa? 
     
    Nguyễn Công Khanh
    10/04/2026



--
====================================================================
Trên Facebook :
http://www.facebook.com/DaiHocKhoaHocSaiGon
====================================================================
 
Bạn đã nhận được bài viết này vì bạn đã đăng ký vào Nhóm "KhoaHocSG" của Google Groups.
* Để đăng bài lên nhóm này, hãy gửi email đến "khoa...@googlegroups.com"
* Để RÚT TÊN ra khỏi nhóm này, gửi email đến "khoahocSG+...@googlegroups.com"
* Để có thêm tuỳ chọn (preference set up), hãy truy cập vào nhóm này tại: http://groups.google.com/group/khoahocSG?hl=vi
---
Bạn nhận được thư này vì bạn đã đăng ký vào nhóm Google Groups "KhoaHocSG".
Để hủy đăng ký khỏi nhóm này và ngừng nhận email từ nhóm, hãy gửi email đến khoahocsg+...@googlegroups.com.
Để xem cuộc thảo luận này, hãy truy cập vào https://groups.google.com/d/msgid/khoahocsg/SA9SPR01MB0002D8B96BCCD01F770E158CFC242%40SA9SPR01MB0002.namprd02.prod.outlook.com.
Reply all
Reply to author
Forward
0 new messages