GOOD MORNING VIET NAM - CANADA - USAĐIỂM TIN DIỄN ĐÀN 05-05-2026 (SỐ 082-2026)MỤC LỤC
- ADIEU SAÏGON I SAIGON ƠI VĨNH BIỆT
- Phương Nam, Ánh Sao Nơi Cuối Trời, Tháng 4/1975
- Cô chỉ nói một câu trong một cửa hàng ở làng quê
- Đại sát thủ Polonium là ai?
- Những quốc gia đồ tể.
- Phi Đoàn Khu Trục 518
- UKRAINA KHÔNG QUẤY RỐI NGA BẰNG VÀI CÁI DRONE — MÀ ĐANG PHÁ THỦNG KÉT SẮT CỦA NGA
- NHỮNG NGƯỜI LÍNH MỸ XÓM TÔI
- NƯỚC TRÔI QUA CẦU - HƯƠNG THỦY
- Thảm sát các chiến sĩ Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù
Phương Nam, Ánh Sao Nơi Cuối Trời, Tháng 4/1975
Đường đi khó,Không khó vì ngăn sông cách núi,Mà khó vì lòng người ngại núi e sông (Ng. Bá Học)Lệnh Triệt Thoái Bất Ngờ:(Tự truyện 20 ngày là tù binh và vượt thoát từ Đà Nẳng đến Vũng Tàu, từ 30/3/1975 đến 18/4/1975)Những ngày trong tháng 3 và tháng 4, 1975:Xin đừng hỏi vì sao, tôi vẫn nhớMỹ Khê chiều sóng dậy, pháo rền vangQuân triệt thoái, Tàu không vào bến đỗLối sanh đào, vượt thoát phá vòng vâyTrên đầu súng, khói vương niềm uất hậnChiến trận tàn, báo tử thiếu hồi chuôngĐà thành mất, sử xanh còn ghi dấuMãnh Hổ tình, huynh đệ nói chia lyTim rướm máu, xót đau lời tanCố tìm về quê Mẹ, đất phương Nam.(Tây Đô)Thành phố bỏ ngõ trong ngỡ ngàng:Tuyến kháng cự, phòng thủ sau cùng của Tiểu Đoàn 9 TQLC là đại chủng viện thánh Phao Lồ (thuộc nhà thờ Chánh Tòa Công Giáo Đà Nẳng) nằm dọc theo bãi biển Mỹ Khê, Non Nước, trong bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng, đây là một kiến trúc kiên cố với những bức tường che chắn, vững chắc có thể hạn chế sự xuyên thủng của các loại vũ khí cá nhân, tạo sự an toàn tối thiểu cho các quân nhân đang sẳn sàng chiến đấu, vị trí nầy được liên kết với nhau bằng nhiều dãy nhà cao tầng, rất tiện lợi và hữu ích cho việc quan sát, phòng thủ, ngăn chận các đợt tiến công, trong cuộc trì hoãn cuộc chiến không cân sức nhưng cần thiết nầy.Kể từ 11g 30 sáng ngày 29 tháng 3 năm 1975, mọi cố gắng liên lạc với Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn 369 TQLC và các đơn vị yểm trợ, chỉ được trả lời bằng sự im lặng khó hiểu. Trong lúc đang di chuyển ngang qua 1 phi đạo cũ trong căn cứ Non Nước, tình cờ tôi gặp Đ/Úy Trần Văn Hên là bạn cùng Khóa 17/TĐ, Đại Đội Trưởng Đại Đội Duyên Hải thuộc Tiểu Đoàn Yểm Trợ Thủy Bộ TQLC.Đ/Úy Hên là người nhận lệnh và có trọng trách thiết lập đầu cầu di tản, triệt thoái..v,v.. (Trích thư của Đ/Úy Hên: Chiều ngày 26 tháng 3 năm 1975, nhận lệnh của Sư Đoàn, Tiểu Đoàn Yểm Trợ Thủy Bộ chuẩn bị lập đầu cầu di tản cho các đơn vị TQLC tại bãi biển Non Nước vào sáng ngày 29 tháng 3 năm 1975. ĐĐ Duyên Hải phụ trách an ninh bãi và phương tiện cấp cứu trên biển như áo phao, xuồng máy an toàn bải v..v..). (Tiểu Đoàn 9 hoàn toàn không biết về Lệnh HQ nầy).Tôi và Hên cùng nhau trao đổi một số chi tiết liên quan đến tình hình triệt thoái, lui binh. Hên khuyên tôi phải rời căn cứ Non Nước, tìm một phương cách, giải pháp khác, để bảo toàn đơn vị. Chúng tôi chia tay nhau mà chưa ai biết được cuộc diện và số phận sẽ ra sao. Cuối cùng khoảng 12g 30 trưa qua tần số liên lạc truyền tin với các đơn vị bạn, tôi tiếp xúc được với Hà Nội (Cố Thiếu Tá Trần Văn Hợp Tiểu Đoàn Trưởng TĐ2/TQLC đã chết trong Trại Tù khổ sai cộng sản ở miền Bắc vào năm 1978 ). Sau đây là đàm thoại giữa tôi và Th/Tá Hợp mà tôi còn nhớ như mới xảy ra.- Hà Nội đây Tây Đô.- Tôi nghe Tây Đô 5/5.- Hà Nội đang ở đâu?- Tôi đang cưỡi cá.(Lúc nầy các loa tăng âm của máy truyền tin PRC 25 theo lệnh tôi đã được tháo bỏ để tránh sự xôn xao, bàn tán, bất lợi cho đơn vị).- Hà Nội có số nhà của Hồng Hà Quang Trung Hải Quân) cho tôi, để tôi 2 lần Lê Lai (liên lạc) yêu cầu họ vào "Zulu" (di chuyển) con cái tôi.Im lặng trong vòng 1 phút:- Tây Đô sẳn sàng chưa?Tôi ra dấu cho âm thoại viên Lương (?) chuẩn bị ghi xuống.- Hà Nội cho qua.Sau khi lập lại 4 con số chính xác cho âm thoại viên Lương, tôi nhờ anh Hợp báo cho phía Hải Quân biết trước, danh hiệu liên lạc của tôi, nhằm tránh sự "hiểu lầm địch xen vào tần số". Anh Hợp trả lời OK và chúc Tây Đô may mắn. Cuộc điện đàm chấm dứt trong tiếng đạn nổ rền vang bởi các đợt pháo kích của pháo binh cộng sản, nhằm chuẩn bị mở đường cho các đơn vị chánh quy bộ binh Bắc Việt, còn đang trên đường "tiến quân" từ xa vào thành phố Đà Nẳng. Tôi lặng lẽ trao trả ống liên hợp cho âm thoại viên Lương và tự hỏi với chính mình: Làm sao đây? Kế hoạch nào có thể thực hiện được để đưa đơn vị ra biển với tình hình gần như tuyệt vọng nầy, trong khi Đại Đội 3 ĐĐT là Tr/Úy Trương Văn Ba và Thiếu Tá Nguyễn Văn Lộc Tiểu Đoàn Phó còn đang cố gắng, tìm về với BCH Tiểu Đoàn 9, hiện nay “dậm chân” tại chỗ vì các xuồng cao su của Công Binh TQLC có nhiệm vụ đưa toàn bộ Tiểu Đoàn 9 vượt qua nhánh nhỏ sông Hàn, nằm kế bên một trại cưa theo lộ trình, kế hoạch lui binh, triệt thoái của... để ra bãi biển Non Nước, đã không còn ai phụ trách, những quân nhân làm nhiệm vụ đã bỏ nhiệm sở, sự việc nầy gây khó khăn, làm chậm bước tiến của ĐĐ3, trên đường tìm về hội tụ cùng BCH Tiểu Đoàn lúc nầy đang chuẩn bị di chuyển hướng về vị trí phòng thủ sau cùng ở đại chủng viện (trước đó khi được báo tin về tình hình biến chuyển không thuận lợi cho ĐĐ3 và Th/Tá Tiểu Đoàn Phó, tôi đã bàn thảo với Th/Tá Lộc cho ĐĐ3 đổi hướng, len lỏi trong các xóm nhà ngoại ô, đi ngược về phía cầu Trịnh Minh Thế tìm đường khác đến điểm hẹn). Tôi xử dụng máy liên lạc với không lực, chuyển qua tần số của Hải Quân. Sau vài lần gọi, tôi nói chuyện được với hạm trưởng Hải vận hạm Ninh Giang 403 (Thiếu Tá Nam, ám danh đàm thoại là Nam Hổ?). Hiểu được sự cần thiết phải nhờ cậy Hải Quân trong giây phút sanh tử nầy nên tôi phải xuống giọng gần như "năn nỉ" hầu có thể cứu lấy đơn vị, nhưng tiếc thay với lý do địch pháo kích, thiếu an toàn nên Hải quân không thể vào “ủi bãi” đón TĐ9 trước 8 giờ tối nay ngày 29 tháng 3 năm 1975.- Cái gì?Qua ống liên hợp tôi hét lên:- Nam Hổ đây Tây Đô, các đơn vị chánh quy Bắc Việt chưa vào Đà Nẳng nếu chờ đến 8 giờ tối, tôi nghĩ rằng quá trễ cho việc "zulu"; Nam Hổ có "ủi bãi" thì chỉ vào lấy xác chúng tôi mà thôi!Im lặng trong khoảng một phút:- Tây Đô đây Nam Hổ,tôi nghe.Rất tiếc, lệnh trên không cho ủi bãi lúc này,bạn ráng chờ đến tối, chúc may mắn.Không có sự lựa chọn nào khác, như dòng sông phải đổ ra biển, như cuộc tình khi không còn mộng đẹp ban đầu thì phải nói lời chia tay. Tôi đồng ý và khẳng định với hạm trưởng Hải Quân là TĐ9/TQLC sẽ giữ vững phòng tuyến cố thủ, chờ đợi đến giờ hẹn.Tôi cũng yêu cầu hạm trưởng Hải Quân giữ liên lạc thường xuyên với tôi.Một cảm nhận chua chát, cay đắng đè nặng lồng ngực, khi nghe lời chúc may mắn lần thứ hai trong ngày, từ hạm trưởng Hải Quân. Liệu có chiếc đũa thần nào, phép lạ nào mang lại may mắn cho cùng một lúc hơn 700 trăm chiến sĩ đang trong tuyệt tử lộ, với sự lạnh lùng, quên lãng như các cơn sóng vô tình không cảm xúc, đang đập vào bờ, cuốn trôi theo toàn bộ những gì đã bị bỏ lại, dọc theo bãi biển Mỹ Khê, kể cả những thân xác con người bất hạnh, nằm rải rác hay đang trôi nổi bồng bềnh ngoài biển khơi. Thật tội nghiệp, họ cũng chỉ là những con người bình thường, cũng "tham sanh húy tử" như mọi con người khác, nhưng lúc nào cũng cố gắng thi hành "quân lệnh" đến khi biết, họ chỉ là những "con chốt chậm chân" trong ván cờ "báo tử thiếu hồi chuông", họ tìm sanh lộ, trong hy vọng tìm một lối về, đoàn tụ gia đình tổ ấm, với nắng đẹp phương Nam, tiếc thay sự may mắn đã không đến với họ. Tiếng kèn truy điệu, lá cờ của tổ quốc thân yêu, mãi mãi là "món nợ muôn đời" không thể trả, cho những "anh hùng vô danh" đã chết vào những giờ phút sau cùng của cuộc chiến. Báo cáo nào, Quân sử nào sẽ ghi lại toàn bộ sự "lạnh lùng, tàn nhẫn của chiến tranh đây".Hồn tử sĩ gió ù ù thổiMặt chinh phu trăng dõi dõi soiChinh phu tử sĩ mấy ngườiNào ai mạc mặt nào ai gọi hồn. (Chinh phụ ngâm)Sau vài phút suy nghĩ, tôi tự lấy máy liên lạc nội bộ, đứng riêng ra một góc, không quá gần các quân nhân trong ban chỉ huy Tiểu Đoàn. Tôi không muốn những đối thoại, trao đổi giữa tôi và Th/Tá Lộc TĐ Phó sẽ làm cho tinh thần quân nhân dưới quyền bị giao động. Tôi kể lại cuộc đối thoại giữa tôi và Th/Tá Hợp TĐ2 cũng như lời hứa của Hải Quân! Chúng ta không thể kỳ vọng vào lời hứa của họ. Chúng ta phải tự lo liệu mà cứu lấy đơn vị. Tôi kết luận và nói với Th/Tá Lộc về kế hoạch "tự cứu" như sau: ĐĐ3 dưới sự điều động của TĐ Phó Lộc phải đổi hướng di chuyển, khi đi đến các xóm nhà có đông dân cư hành nghề đi biển, dọc theo con sông Hàn, bằng bất cứ giá nào, kể cả dùng "vũ lực" thu, gom tất cả các phương tiện ghe, xuồng dùng vào việc đi biển và nếu cần thiết, bắt giữ luôn các ngư dân biết xử dụng các phương tiện đó, rồi xuôi theo nhánh sông Hàn ra điểm hẹn gặp tôi tại tọa độ X. Th/Tá Lộc cho biết: Hiện nay ĐĐ3 đang bị quấy rối bắn tỉa bởi bọn đặc công cộng sản nằm vùng và du kích địa phương đang bám sát, dẩn đường cho quân chánh quy Bắc Việt truy kích. Anh còn cho biết thêm, qua tin tức của dân chúng chạy loạn, thành phố Đà Nẳng đã hoàn toàn bỏ ngỏ, toàn bộ các đơn vị của Quân Khu 1 đã "tan hàng" lúc giữa trưa mà chẳng có "trận đánh giữ sĩ diện" nào được thực hiện ngoại trừ 2 cánh quân còn đội hình và sẵn sàng tác chiến của Tiểu Đoàn 9/TQLC. Anh hoàn toàn đồng ý với kế hoạch tôi đề xướng và sẽ cho Đại Đội 3 thi hành ngay lập tức. (Thiếu tá Lâm tài Thạnh, Tiểu Đoàn Trưởng TĐ9/TQLC, người anh cả của đơn vị, cho tập hợp từ Tiểu Đội Trưởng trở lên nói những lời chân tình trước thuộc cấp: Tôi không bỏ đơn vị được, giờ phút nầy tôi và các anh em hãy tự lo liệu! (Trích thư của Tr/úy Lưu minh Quan).3 giờ chiều ngày 29 tháng 3 năm 1975, tôi ra lệnh cho nhân viên truyền tin (Hạ sĩ 1 Kim Anh và Vũ quang Bình người phụ trách quay đầu bò) xử dụng máy truyền tin PRC 79, gởi công điện cuối cùng cho Tr/úy Trần Trung (Chỉ huy hậu cứ TĐ9/TQLC) nhằm mục đích cho hậu cứ biết rõ tình hình của đơn vị, còn đang tiếp tục chiến đấu, chưa bị thiệt hại nhiều, cũng như các tin tức liên quan đến những giây phút cuối cùng của Tiểu Đoàn. Tôi chỉ thị trong công điện là đích thân chỉ huy hậu cứ, phải thông báo cho thân nhân của mọi quân nhân Tiểu Đoàn 9/TQLC hiểu rõ tình trạng của đơn vị, hầu sau nầy trong tình huống xấu nhất, các thân nhân còn có được một sự an tâm tối thiểu về sinh mạng của người thân, kể cả có ngày để nhớ cho "lễ giỗ" sau nầy!!!Trong bóng chiều, ánh nắng cuối ngày tắt dần về hướng Tây, mặt trời còn chút màu đỏ ráng, chiếu các tia nắng sau cùng trên các hàng cây nhấp nhô, mênh mông như một biển máu đang chờ đợi những con người "chí không nản, lòng không sờn" dù biết niềm tin khó thành hiện thực, khi dõi mắt nhìn theo hình dạng các con tàu, xa dần nơi biển khơi. Tôi thật sự nát lòng, khi ra lệnh phá hủy máy truyền tin PRC 79, phương tiện còn lại duy nhất có thể liên lạc tầm xa với thế giới tự do, vùng đất quê mẹ phương Nam, nơi đã sản sinh, nuôi dưởng, đào tạo tôi nên người, để có một vị trí chỉ huy như hôm nay; đó cũng là nơi chan chứa những yêu thương vô vàn gắn bó, ràng buộc của Mẹ, Cha, Anh, Em, Bè Bạn, của tình Chồng, nghĩa Vợ, của tiếng cười, khóc vô tư, hồn nhiên con trẻ. Nay mọi thứ đã bị cuốn trôi theo "cơn hồng thủy nghiệt ngã nầy" trong nỗi nghẹn ngào, uất ức của những chứng nhân bất đắc dĩ.Cuối cùng Tiểu Đoàn 9 TQLC đã không hoàn tất được cả 2 kế hoạch lui binh triệt thoái của chính đơn vị và của mình. (Riêng Tiểu Đoàn 9 TQLC vì phải bảo vệ cho 2 Tiểu Đoàn 2 và 6 rút nên bị địch tấn công, sau cùng bị kẹt lại trên bờ. Trích "Can trường trong chiến bại" của phó đề đốc H.V. Kỳ Thoại, trang 271 dòng 18 - 20).Toàn thể chúng tôi trở thành tù binh của lực lượng võ trang Tỉnh Đội Quảng Nam Đà Nẵng rạng sáng ngày 30 tháng 3 Năm 1975. (Trích thư của cựu Tr/úy Lưu minh Quan Cựu ĐĐT/ĐĐ1/TĐ9: Bãi biển Mỹ khê, địa danh mà tôi phải ghi nhớ trong đời. Trời càng tối, đêm hôm ấy tôi, Tây Đô (Th/tá Thạnh), Tân An (Đ/úy Tịnh) Phú Sĩ (Đ/úy Phán) phải luồn lách trong những đám rau lang và cây chuối để tìm lối ra lại TP Đà Nẵng, hơn 1 giờ sáng thì bị du kích bắt giữ). (Trích thư Th/úy Trương phước Dĩnh, Sĩ quan truyền tin TĐ9: Em có nhớ một chi tiết, xin nhắc anh, xem anh còn nhớ không, sự việc xảy ra chỉ có anh, Đ/úy Tịnh, truyền tin mang máy và tài xế của anh, việc xẩy ra trên đường trở về, sau khi anh xuống Lữ Đoàn 369 họp (thứ tư 26 tháng 3 năm 1975) có một con mễn (con mang) chận đầu xe của anh, sau này nghiệm lại thấy trùng hợp với câu người đời thường nói "mễn (mang) lạc, nát làng" chỉ vài ngày sau Tiểu Đoàn mình tan hàng).(Ghi chú: sáng ngày 28 tháng 3 năm 1975, T/úy Trương phước Dĩnh, Sĩ quan truyền tin của TĐ9 nguyên quán ở Hội An, được tôi cho đi phép để xem tình hình gia đình, cha, mẹ ra sao, không ngờ bất thình lình, lệnh tử thủ trong phiên họp 26 tháng 3 năm 1975 bị hủy bỏ, với lệnh mới TĐ9 TQLC phải cho phá hủy đạn dược dự trữ, cấp tốc di chuyển lúc 11g 30 tối ngày 28 tháng 3 năm 1975 để về phòng thủ giữ Đà Nẵng. Sau cùng Th/úy Dĩnh may mắn lội ra biển, lên được tàu HQ với TĐ2 TQLC trong ngày 29/3/1975).Giã Từ Vũ Khí - Bài Thương Ca Cá Chậu Chim Lồng:Tiếng gà gáy sáng, văng vẳng bên ngoài, báo hiệu một ngày mới với những bất trắc, rủi ro không lường trước, đang chờ đợi kẻ chiến bại trong tức tưởi, xen lẩn cay đắng. Những người mới hôm qua đây, còn là một đoàn binh kiêu hùng với tinh thần chiến đấu cao độ, vũ khí đạn dược còn đủ, để giáng trả kẻ thù những đòn sấm sét và chận bước chúng như đã từng làm trước đây, thế mà bỗng chốc trở thành kẻ trắng tay trong một cuộc triệt thoái, lui binh, thật sự không có trong binh pháp.Dưới ánh sáng chiếu le lói qua các khung cửa sổ, tôi chăm chú nhìn vào mặt dạ quang của cái đồng hồ Seiko 5, tài sản duy nhất còn sót lại, sau khi bị bắt rạng sáng hôm nay, nhờ bọn du kích chủ yếu tìm vũ khí nên không lục soát kỹ.6 giờ sáng, cảm giác thiếu vắng ly cà phê và điếu thuốc đầu ngày khiến tôi bức rức, khó chịu. Tôi không cảm thấy mệt mỏi, dù gần như thức trắng, trong khoảng thời gian chờ đợi sáng, thức đêm mới biết đêm dài, bao nhiêu suy tư lẫn lộn, cứ nhảy múa lung tung trong đầu óc, kể cả từ trong tiềm thức.Tôi chợt nhớ đến trong khoảng năm 1961-1962 tôi có được xem một phim chiến tranh thời Đệ nhị thế chiến với tựa đề: Dunkirk evacuation (cuộc di tản triệt thoái ở Dunkirk/Dunkerque) nội dung kể lại cuộc di tản các đoàn quân Đồng minh gồm Anh, Pháp và Nam Tư tại bải biển Dunkerque nước Pháp, trước viễn ảnh bị quân Đức bao vây và tiêu diệt. Lệnh di tản do chính Thủ tướng Anh lúc bấy giờ là Sir Winton Churchill ban hành. Dưới sự yểm trợ tối đa hỏa lực của hải pháo và không lực Hoàng Gia Anh, sau 9 ngày (trong khi chỉ trong 9 ngày Quân Đoàn 1 VNCH hoàn toàn bị xóa sổ) đã di tản được tổng số 338.226 quân nhân của Anh, Pháp: The next day, the BBC reported, Major General Harold Alexander (the commander of the rearguard "chỉ huy trưởng quân đoạn hậu") inspected the shores of Dunkirk from a motorboat this morning to make sure no-one was left behind before boarding the last ship back to Britain (Trích tài liệu từ trang web Wikipedia).Tiếng vo ve của những con muỗi lượn quanh, đang cố gắng tìm mồi trước khi bình minh rọi sáng giúp tôi trở về thực tế. Tôi nhìn quanh căn phòng nhỏ hẹp đang dùng làm nơi tạm giam giữ tù binh. Tôi biết đây là một lớp học của một trường tiểu học VNCH nằm trong khu vực Non Nước, hiện nay có khoảng 40 quân nhân cùng chung số phận "bị bỏ rơi",hơn phân nửa là TQLC, trong số nầy có người mặc quần áo dân sự, có người mặc quần trận áo thun hay áo trận quần ngắn, những khuôn mặt thất thần, mệt mỏi, lo lắng với các ánh mắt dò hỏi, ngần ngại không biết phải xưng hô như thế nào cho phải lẽ, bởi sự thay đổi đến quá bất ngờ như trong giấc mộng, tiếng chắc lưỡi, thở dài cho sự thiếu may mắn, chậm chưn, bên cạnh cũng không thiếu vắng những tiếng chửi thề để giải tỏa sự bực tức. Tôi thông cảm và hiểu được vì các quân nhân ấy cũng chỉ là những con người bình thường với hỉ, nộ, ái, ố, ai, lạc, dục, nay bỗng nhiên mất hết tự do và mạng sống đang bị de dọa trầm trọng. Tiếng hỏi thì thầm khe khẽ của 1 quân nhân: - Ông Thầy bây giờ tính làm sao? Không biết tụi nó đối xử với mình như thế nào Thiếu tá? Tụi nó xem mình là tù binh hay hàng binh, Ông Thầy?Cách xưng hô bất nhất cho thấy sự kích động, chứa đựng sự âu lo như thế nầy là điều dễ hiểu. Tôi nhìn thẳng vào mặt người quân nhân đang mặc áo thun, quần trận và chậm rãi nói lớncho mọi ngườicùng nghe:- Em đừng có quá lo lắng, chúng ta vẫn còn Chính Phủ, còn Sài Gòn, còn Vùng 3 và 4, còn hiệp định ngưng bắn Paris 1973 thì thế nào Quốc Tế và người Mỹ cũng phải lên tiếng can thiệp, để ngưng bắn và trao trả tù binh, phải giữ vững tinh thần, chịu đựng những khó khăn, thiệt thòi hiện nay, cũng như luôn cầu nguyện theo tôn giáo của em.Sau câu nói của tôi, tình hình trong phòng giảm bớt sự căng thẳng. Riêng tôi tự hỏi: có phải đây là một câu nói để tự an ủi, trấn an cho chính mình? Từ phía cuối phòng, khi ánh sáng còn chưa đủ để nhận diện là ai, một người đến sát bên tôi và nói nhỏ:- Thiếu Tá hãy thay bộ đồ nầy, cho đỡ nguy hiểm.Tôi nhìn các thứ đang nằm trên tay của B1 Phụng (cần vụ) đó là 1 cái áo gió loại mỏng và 1 cái quần jeans.Tôi buộc miệng hỏi:- Phụng hả? Sao cũng ở đây? Làm sao mà có các thứ nầy?Phụng cho biết, khi TĐ9 vào trong chủng viện, lúc tôi đang lo điều động việc bố trí phòng thủ, Phụng nhận thấy tình hình quá nguy cấp, khó thể thoát thân, Phụng đã đi xin quần áo dân sự, từ các nhóm người tản cư vì chiến loạn đang tá túc trong chủng viện, phòng khi cần đến cho tôi. Tôi cầm lấy những vật dụng có thể giúp tôi tạm thời không còn là cái gai trong mắt của những kẻ đang chiến thắng trong "ngạc nhiên và bất ngờ". Tôi nói tiếng cám ơn trong cảm động, bùi ngùi gần rơi lệ. Tôi nghiệm ra một điều, có lẽ trước đây tôi chưa cảm nhận được, đó là trong cuộc sống của 11 năm quân ngũ, bên cạnh những con người chỉ biết có lợi ích của bản thân (khi mâm tiệc còn đủ món ngon, vật lạ thì chiếu trên, chiếu dưới giành nhau công trạng nhưng đến khi tiệc tàn, rượu hết, bình vơi, chỉ còn lại xương xẩu, khó ăn, khó nuốt, thì đến lời nói an ủi cũng chẳng màng) vẫn còn có những tấm lòng chân chất, trung thực, dễ thương; tặng phẩm bất ngờ của B1 Phụng trong một đổi đời, lúc mà, chưa ai biết được số mệnh sẽ đi về đâu là biểu trưng vô giá cho tình chiến hữu, sống chết có nhau, hoạn nạn cùng chia sẻ với một ý tưởng đơn giản duy nhất, giúp ngụy trang phần nào lai lịch, nhằm che chắn cho sinh mạng, đang bị nhiều đe dọa của tôi, trong lúc tôi chỉ còn là con số không vô giá trị. Ôi thật cao quý cho nghĩa cử tương thân, tương ái nầy, bây giờ tôi mới thấu hiểu sâu sắc câu nói của người xưa: Trong nghèo khổ mới biết ai là người con hiếu thảo. Lúc đất nước lâm nguy mới biết ai là trung thần (Gia bần tri hiếu tử. Quốc loạn thức trung thần). Tôi tự hỏi với chính mình: biết đâu, trong quá khứ B1 Phụng đã từng bị tôi quở trách vì một lỗi lầm nào đó, thế mà bây giờ trong hoàn cảnh "tù binh" giống nhau, thế thì điều gì đã khiến Phụng còn lo lắng cho tôi đến giờ nầy? Phải chăng đó là "tình người cao cả?"Tiếngđộng mở dây xích dùng để khóa cửa phòng giam, mọi người ngưng nói chuyện. Tôi nhìn đồng hồ, 7 giờ sáng của ngày 30 tháng 3 năm 1975, trong im lặng chờ đợi, 2 người có dáng dấp trung bình, quần áo dân sự bình thường với vũ khí trên tay là 1 AK47 và 1 K54 bước vào phòng, đứng cách xa chúng tôi khoảng 3 thước, một người có dáng vẻ là chỉ huy lên tiếng trong âm ngữ miền Trung khó nghe, thông báo là Cách mạng đã thành công v.v...sau vài phút khoác lác, khoe khoang thành tích, đột nhiên hắn ngưng lại, bất chợt hắn buông ra câu hỏi và im lặng chờ đợi:- Trong các ông có ai là sĩ quan không?Tôi quyết định thật nhanh và lên tiếng “Có!” trước các khuôn mặt đầy căng thẳng, lo lắng của mọi quân nhân trong phòng (khi bị bắt giải về Trường học tôi đã lạc mất Đ/úy Tịnh, Đ/úy Phán và Tr/úy Quan).- Quân hàm của ông là gì?Tôi chẳng hiểu hắn hỏi điều gì, nên chưa trả lời. Tên cùng đi có lẽ là "nằm vùng, hoạt động nội thành" thấy thế liền lên tiếng:- Cấp bậc của anh là gì?Tôi trả lời:- Thiếu Tá.Cả hai cùng nhìn nhau và tên kia hỏi tiếp:- Cấp chức của ông?Tôi trả lời trước khi tên kia diễn dịch:- Tôi không biết chữ cấp chức ông dùng là gì nhưng chức vụ của tôi là Tiểu Đoàn Trưởng.- Phiên hiệu của đơn vị ông?Tôi lại "chới với" vì chẳng biết phiên hiệu là cái giống gì! Tên nằm vùng lập lại câu hỏi:- Anh thuộc quân binh chủng nào của Sài gòn?Tôi trả lời:- Thủy Quân Lục Chiến.Khi nghe tôi trả lời,hắn nói ngay với tên cóvẻ là chỉ huy: - Anh ta là Lính Thủy đánh bộ.Tên chỉ huy phán ngay một câu:- Bọn lính ngoan cố, ác ôn đấy à!!!Tôi không trả lời nhưng cảm thấy tim đập nhanh hơn, một ý nghĩ thoáng qua: Không lẽ hôm nay là ngày cuối cùng của đời mình!! Những hình ảnh thảm sát kinh hoàng trong Tết Mậu thân 1968 tại Huế, chợt trở về trong trí nhớ. Tôi tự nhủ với chính mình, phải tìm cách thoát thân bằng mọi giá dù phải đánh đổi mạng sống.- Còn ai là sĩ quan trong phòng nầy không?Mọi người cùng im lặng. Tên chỉ huy nói thêm vài điều quy định nơi giam giữ cũng như hứa sẽ có người mang nước uống, thực phẩm đến cho tù binh.- Anh đi theo chúng tôi.Tên chỉ huy nói và ra hiệu cho tên mang AK47 tiến về phía tôi, áp giải tôi ra khỏi phòng, trong những tiếng chất vấn của B1 Phụng và một số quân nhân khác thuộc TĐ9/TQLC. Tôi bước ra ngoài, cửa phòng giam đóng, khóa lại, luồng gió mát của không khí trong lành buổi sáng giúp tôi thấy dễ chịu, sự tự do thong thả không còn bị giam giữ trong bốn bức tường dù chỉ tạm bợ trong chốc lát cũng cho tôi thêm nghị lực và sẳn sàng đối phó với tình huống xấu. Nhìn một lượt quang cảnh chung quanh, tôi thấy có khoảng 8-10 lớp học được dùng làm nơi tạm giam giữ tù binh, các du kích địa phương bao gồm đàn ông lẩn đàn bà tới lui chuyện trò ồn ào, khoe khoang thành tích cũng như các loại vũ khí chúng thu gom được dọc theo bải biển Mỹ Khê Non Nước, chúng xưng hô với nhau: anh Tư, chị Sáu, chú Mười trong sự đắc chí, hả hê, nghe mà nóng mặt, tôi tự nhủ lòng: ngày nào có cơ hội trở lại đây thì chắc là giết lầm hơn bỏ sót.…Phải quyết định nhanh trước khi chúng nổ súngbắn sau lưng mình.Tôi đi chậm bước và xoay người lại khi đang hướng về lớp học nằm cuối dãy. Tôi hỏi tên nằm vùng:- Có thuốc hút cho tôi một điếu?Cả 2 tên dừng lại, tên chỉ huy hỏi:- Có hút được thuốc lá cẩm lệ không?Tôi lắc đầu, vừa tính lợi dụng sự chểnh mảng của bọn chúng khi đang nói chuyện để "liều mạng cướp súng" thì tên chỉ huy nói tiếp:- Đồng chí chủ tịch ủy ban quân quản bảo phải "cách ly" các sĩ quan, để chiều nay giao lại cho bộ đội Sư 304. (Sư đoàn 304 Bắc Việt).Tôi thở phào nhẹ nhõm, như thế là chưa tàn đời, đến lớp học cuối cùng, chúng giam tôi vào trong đó, bỏ đi sau khi hứa sẽ có người mang cơm, nước đến cho tôi.Tù binh tại BộTư Lệnh Sư đoàn 3 VNCH Trại Hòa Cầm:Qua 24 tiếng đồng hồ đầy căng thẳng, xen lẫn các câu tự hỏi mà không có câu trả lời,tôi ngã lưng,nằm dài trên chiếc bàn học sinh,sau khi bao tử tạm ổn với 1 vắt cơm có con cá khô nhỏ và ca nhựa nước!! Làm sao có thể tin được các lời nói của tên Việt Cộng có vẻ là chỉ huy? Hắn nói để cho tôi yên tâm chờ chết hay như thế nào?Họ có áp dụng "đúng đắn quy chế Geneve về tù binh" hay không? Phần quân ta liệu có còn cơ hội phản công hay không? Tôi rơi vào giấc ngủ ngắn, buổi trưa với tâm tư xốn xang, bồn chồn. Đột nhiên những âm thanh vang dội của các loại xe vận tải lớn, ầm ỉ bên ngoài lớp học khiến tôi giật mình tỉnh giấc, tiếp theo là những tiếng quát tháo, thúc giục, dọa nạt với giọng nói sặc mùi Bắc Việt, tiếng lên cơ bẩm các loại súng cá nhân, tiếng chân người chạy tới lui các dãy phòng lớp học, tiếng loa cầm tay nghe rõ ràng với lệnh là tất cả các tù binh ra khỏi phòng, tập trung ở sân trường. Tôi đoán biết là quân chánh quy Bắc Việt đã tới để áp giải tù binh. Tôi cảm thấy an tâm phần nào, vì dù sao với một số lượng tù binh đông đảo, cũng như giữa buổi trưa như thế này thì chắc chắn họ không thể "thủ tiêu" tù binh được. Tôi nhìn đồng hồ, 2 giờ chiều ngày 30 tháng 3 năm 1975.Tiếng mở cửa phòng với sự xuất hiện trở lại của tên có vẻ là chỉ huy của lực lượng địa phương đã bắt tôi:- Anh ra ngoài và "khẩn trương" chuẩn bị hành quân đi về Trại giam. Chúng tôi đã hoàn thành công tác bước đầu v..v...Tôi muốn bật cười ra tiếng, vì cái lối nói nghe trái tai, ngộ nghĩnh của hắn. Tôi vừa bước ra sân cũng là lúc các tên lính Bắc Việt mặt mũi non choẹt (khoảng 16-18 tuổi)đang đi tới đi lui nhắc nhở các quy định trên đường "hành quân về trại tù binh" và “Anh nào cố tình làm sai quy định sẽ bị xử lý ngay.” Thấp thoáng ở đầu sân trường tôi nhìn thấy hình dáng của Phán, Tịnh và Quan. Khoảng gần 3 giờ chiều, đoàn tù binh bắt đầu rời khu vực Mỹ Khê Non Nước trong sự bố trí canh giữ nghiêm ngặt của nhiều đơn vị chánh quy quân Bắc Việt.Trong 30 năm của đời sống, chưa bao giờ tôi cảm nhận được sự nhục nhã đến ê chề, tủi thẹn đến tê tái cả người, khi bị dẫn giải qua những khu phố của TP Đà Nẵng, trước hàng đoàn người dân, đứng dọc theo lộ trình tù binh đi qua với những lời bàn tán khen, chê, chỉ chỏ, cười đùa, có kẻ còn thốt ra những lời chướng tai, ngụ ý cho đáng đời lính ác ôn tuy nhiên cũng có những ánh mắt đỏ hoe ái ngại, lặng lẽ quay mặt, che giấu những dòng lệ thương cảm cho thân phận "cá chậu, chim lồng" trong đó có cả thân nhân của họ. Tôi không trách những con người vô tình, thiếu sự hiểu biết, trong hoàn cảnh gió chiều nào che chiều ấy của buổi giao thời với những bất chợt thay đổi trong nghiệt ngã và không tưởng; có trách chăng là trách chính chúng tôi, những người với các mỹ từ đẹp đẽ là chiến sĩ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã không vuông tròn trách nhiệm bảo quốc, an dân, để mất đi một phần lãnh thổ của Miền Nam trong tinh thần chủ bại và hổn loạn. Quân sử nào sẽ ghi lại đầy đủ nỗi đau thương, mất mát không đáng có và nhục nhã nầy?Đoàn tù binh cuối cùng được đưa vào giam giữ ở Trại Hòa Cầm, đây là nơi trú đóng của Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 3 Bộ Binh VNCH, các dãy doanh trại hầu như đều còn nguyên vẹn ngoại trừ một vài chỗ có khói nhỏ bốc lên do việc thiêu hủy hồ sơ. Sau khi tất cả tù binh đã vào bên trong, ở 2 cổng ra vào, được ngăn chận lại bởi các cuộn dây kẽm gai khoanh tròn (concertina) với một vài lính chánh quy mang súng AK47 đứng gác, các thành phần áp giải lần lượt rút đi. Trong khu vực rộng lớn của doanh trại cũ, các tù binh bắt đầu thoải mái đi tìm bạn bè cùng đơn vị, tiếng gọi trong ngạc nhiên, tiếng cười trong mừng rỡ khi gặp lại nhau để biết rằng bản thân và những người quen biết vẫn còn sống. Tôi ước tính có vào khoảng 4,000 - 5,000 tù binh đủ các quân binh chủng bị giam giữ tại đây.Gần 6 giờ chiều thì tôi gặp lại hầu hết các sĩ quan đầu não thuộc TĐ9 gồm có Đ/úy Tịnh Tr Ban 3, Đ/úy Phán ĐĐT/ĐĐ2, Tr/úy Lưu minh Quan ĐĐT/ĐĐ1, Đ/úy Lê hồng Quang ĐĐT/ĐĐCH, Tr/úy Công ĐĐT/ĐĐ4, T/úy Xuân, Trưởng Ban 2 (phần Th/Tá Lộc TĐPhó và Tr/úy Ba ĐĐT/ĐĐ3 thì ngày hôm sau mới gặp lại nhau ở ngoài phố chợ Đà Nẵng).Chúng tôi quy tụ lại, chọn một khu vực riêng biệt để cùng nhau bàn bạc, phải làm gì khi có cơ hội. Tôi bảo Th/úy Dương thanh Xuân đi vòng quanh, tìm hiểu, nghe ngóng các tin tức từ các quân nhân khác, cũng như để ý đến việc bố trí canh gác của Viêt Cộng.Khoảng hơn 6 giờ tối, có 1 nhóm quân Bắc Việt đến với những xe GMC tịch thu được chở theo rất nhiều quần áo trận còn mới, lấy được từ các kho dự trữ của Quân Đoàn 1. Họ phân phát cho những tù binh nào chỉ có áo thun, quần ngắn (sau nầy mới biết họ có chủ đích muốn quay phim để tuyên truyền,làm lũng đoạn thêm tinh thần chiến đấu của quân ta). Màn đêm dần buông xuống, mọi người kiếm chổ ngã lưng trên các băng ghế dùng cho các tân binh trong quân trường với bụng đói meo và khát nước. Tiếng Th/úy Xuân thì thầm bên tai tôi báo cho biết về sự canh phòng lỏng lẻo của bọn Việt cộng (theo sự nhận xét của tôi thì quân Bắc Việt hoàn toàn không quan tâm đến tình hình tù binh trong giai đoạn nầy, khi các cánh quân tiến công của họ chưa bao giờ gặp sự kháng cự mãnh liệt của quân ta.Mọi nỗ lực và quan tâm của họ trong lúc nầy là "đánh lấy Sài gòn". Những chiến thắng bất ngờ đến với họ, qua các cuộc rút quân vội vã, không kế hoạch chu đáo của ta để rồi sau đó trở thành những thất bại mang tính hệ thống dây chuyền ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của mọi quân nhân). Tôi nói với Th/úy Xuân ngày mai chúng ta sẽ tìm cách trốn ra khỏi chỗ nầy. Tôi hỏi Xuân có gặp hay thấy B1 Phụng hay không, Xuân cho biết không thấy. Tôi nghĩ có lẽ Phụng đã trốn được.Trong ánh sáng chập chờn của các ngọn đèn thiết lập chung quanh căn cứ, tôi thầm nghĩ, thế là thêm một đêm dài sống trong suy tư với chập chùng vấn vương, thương nhớ. Ký ức chợt hiện về trong trí nhớ mới đây thôi, chưa đến 60 ngày, BCH/TĐ9 đóng quân ở bải biển Mỹ Thủy, trong dịp Tết Nguyên Đán Ất Mão 1975 (11/2/ 1975, dịp nầy, Th/Tướng Tư Lệnh SĐ có đến thăm TĐ9 và Pháo Đội C/TĐ1/PB của Tr/úy Nguyễn văn Tuấn). Được sự chấp thuận của Sư Đoàn, tôi đón gia đình từ Sài Gòn ra thăm, sau các ngày xuân. Tôi xin phép Lữ Đoàn đưa gia đình đi Đà Nẵng để thăm cậu em của YT (Ng Chí Thiện Radio Bolsa, Nam California, cũng là anh của nghệ sĩ hài Chí Tài), lúc bấy giờ đang phục vụ ở Sư Đoàn 3BB/Ban quân nhạc tại Trại Hòa Cầm nầy). Trong vai trò của một sĩ quan trung cấp, tôi được sự tiếp đón nghiêm chỉnh, lịch sự, hữu ích của toán quân cảnh gác cổng BTL/Sư Đoàn 3/BB, đã giúp cho việc thăm gặp dễ dàng và nhanh chóng. Thế mà nay, vật đổi sao dời, mọi chuyện thay đổi như trong giấc mơ, tôi dõi mắt nhìn lên khoảng không gian vô tận trên cao với muôn vàn ánh sao lấp lánh, tôi tự hỏi đâu là ngôi sao số mạng của mình, liệu nó có trở thành ánh sao băng quá sớm, trong giải ngân hà sáng chói, rực rỡ, ở tận cuối trời phương Nam và ngôi sao nào sẽ đưa lối dẩn đuờng tôi tìm về tổ ấm như ánh sáng nhiệm mầu của một thuở xa xưa, dẩn dắt con người đến với các Đấng thiêng liêng. Tôi thiếp đi, trong văng vẳng đâu đây tiếng gọi thương yêu của con trẻ cùng tiếng thở dài não ruột của thiếu phụ Nam sương.Phố chợ Đà Nẵng - May mắn lần thứ nhất:Ánh sáng ban mai rọi chiếu khắp nơi báo hiệu một ngày mới bắt đầu trong sự ồn ào như ong vở tổ, khi toàn thể tù binh trở dậy, sau một giấc ngủ không trọn vẹn. Mọi người tụ tập thành từng nhóm theo đơn vị cũ hay bạn bè quen biết. Mối quan tâm chung của tất cả tù binh là: Việc gì sẽ xãy ra trong ngày hôm nay? Số phận tù binh sẽ được giải quyết như thế nào? Vấn đề ăn uống sẽ ra sao? v..v.. Th/úy Xuân trở về sau khi đi thu thập tin tức tình hình (ám số chuyên nghiệp của B2) cho biết, hiện nay chỉ có vài tên du kích đứng gác ngoài cổng. Tôi bảo Xuân, ban ngày lộ diện, khó trốn sự truy đuổi, nên cố gắng tiếp tục tìm lối thoát dọc theo hàng rào phòng thủ ở mặt trước của Trại (ít có nguy hiểm hơn bởi các bãi mìn xung quanh Trại). Không ngờ sự may mắn đầu tiên đến với tù binh chúng tôi. Khoảng 11 giờ trưa, có một xe GMC chở đến 4-6 giỏ cần xé đựng cơm, cá khô. Sau khi chuyển giao các thứ hàng cho bọn du kích gác cổng (bọn lính chánh quy Bắc Việt đã rút đi trong đêm), xe tiếp tục chạy đi. Tù binh chúng tôi để ý, theo dõi diễn biến tại cổng gác, thấy mấy tên du kích tụ họp, bàn tán với nhau khoảng 10 phút, có 2 tên đi vào sát hàng rào ngăn cách, thông báo tù binh cho người ra nhận các giỏ cơm, tù binh bắt đầu lớn tiếng chất vấn tại sao số lượng tù binh thì nhiều mà chỉ có mấy giỏ cơm thì làm sao cho đủ..v..v..., tiếng náo động phản đối, càng lúc càng to nghe vang rền cả khu vực.Bọn du kích canh giữ không biết phải xử trí như thế nào trước làn sóng la hét phản đối của tù binh. Sau cùng cả toán du kích lẳng lặng kéo nhau bỏ đi mà không có bất cứ phản ứng gì; thế là tất cả tù binh cũng tự động tan hàng theo sở thích từng nhóm hay đơn vị cũ.(Thứ hai 31/3/1975). Hội tụ và may mắn lần thứ hai:Nhóm chúng tôi khi rời khỏi Trại giam giữ Hòa Cầm, hướng về phố chợ Đà Nẵng gồm có: Tôi, Tịnh, Phán, Xuân Quan, cùng một số quân nhân TĐ9 khác. Trên đường đi vì cần có tiền để xử dụng, khi mọi sinh hoạt của Đà Nẵng còn tương đối bình thường với sự lo lắng, e ngại của những người dân trong một thành phố mới bị chiếm đóng, tôi phải bán đi chiếc đồng hồ Seiko 5 và Phán phải bán sợi dây chuyền mang trên cổ, cũng may không bị những người mua ép giá, cho nên có tiền chia nhau xài tạm (ký ức của Phán và Xuân). Ly cà phê đen đá và tô mì quảng đầu tiên sau 36 tiếng đồng hồ làm thân tù binh với những lo lắng "chết người" đã được mọi người trong nhóm tận tình chiếu cố. Tôi thả hồn theo làn khói thuốc lá mỏng (tôi vừa mua được gói thuốc lá Ruby quân tiếp vụ) được khéo léo nhả ra một cách chuyên nghiệp, cuộn tròn như hình chữ O đang quyện vòng, xoay quanh, nhảy nhót trước mặt, cố thoát sự kìm hãm để tan dần trong bầu không khí.Tôi tự nghĩ, “một vật thể vô tri như thế mà còn muốn có được sự tự do, huống chi là con người”. Tôi lẩm bẩm nói với chính mình: “Trốn, bằng mọi cách phải trốn, tìm đường về phương Nam!!!” Xuân xoay người hỏi tôi:- Anh Tư nói cái gì?Tôi trả lời:- Không có chi. Anh sẽ bàn thảo với mọi người sau nầy. Trên đường đi chúng tôi luôn tránh né những nơi mà từ xa, chúng tôi có thể thấy bóng dáng của bọn quân Bắc Việt (phân biệt qua quần áo) hay là bọn du kích, mặc dù việc chận xét trên đường đi hầu như không có (theo nhận xét của tôi, trong thời điểm nầy mọi hoạt động của thành phố Đà Nẵng chưa bị bọn "xâm chiếm" kiểm soát được hoàn toàn. Đúng nhất phải nói: “Đà Nẵng là của trên Trời rơi xuống” mà bọn Bắc bộ phủ chưa bao giờ nghĩ tới, đến khi "lượm được" cho vào túi mà chẳng biết phải làm gì!Sau khi mất Đà Nẵng, kể như quân lực VNCH đã mất hơn phân nửa lực lượng. Đáng buồn hơn nữa là khi sự tan rã xảy ra tại mặt trận miền Trung, thì chỉ riêng tại Quảng Trị, Huế và Đà Nẵng, quân lực VNCH đã có sẳn kho lương thực và đạn dược đủ để chiến đấu trong vòng ít ra là 1 năm. (Trích trong: Cái chết của Nam Việt Nam. Tác giả Phạm kim Vinh. Trang 320 giòng 6-11).Khoảng 2 giờ chiều, chúng tôi có mặt tại các con phố chính của TP Đà Nẵng như là: Đại lộ Độc Lập, đường Bạch Đằng (chạy dọc theo sông Hàn), đường Lý Thường Kiệt, đường Quang Trung..v..v... Từ các con đường giao điểm nầy, những con người ngơ ngơ, ngác ngác, ăn mặc không giống ai, chỉ nhìn qua là biết "phe ta" do quần áo dân sự xin được, cái dài, cái ngắn, cái rộng, cái hẹp, lại thêm khi nói chuyện thì rõ ngay là dân gốc miền Nam. Mọi người cứ thế mà đi lên, đi xuống, rồi lại đụng đầu nhau ở một góc phố cũ vừa bước qua để: “Nhìn nhau nói chẳng nên lời. Lệ ứa tim đau nổi đoạn trường”. Tại các con phố chính ấy, chúng tôi tình cờ gặp lại Th/tá Lộc, Tiểu đoàn phó, Hạ sĩ Thương (người Huế) là cần vụ của Th/tá Lộc cũng như "tái ngộ" Đ/úy Trần Văn Hên (ĐĐT/ĐĐDuyên hải/TDYTTB). Tôi hỏi thăm anh Lộc thì được biết là ĐĐ3/TĐ9 "bỏ cuộc" trước áp lực, ngày càng gia tăng truy đuổi của quân Bắc Việt khi trên đường thực hiện kế hoạch đã được giao phó. Tôi có hỏi về tình trạng của ĐĐT/ĐĐ3 là Tr/úy Ba thì anh Lộc cho biết còn sống nhưng không biết bị bắt giữ ở đâu. Tôi chuyện trò và nói đùa với Đ/úy Hên là: ĐĐT Duyên hải mà bị mắc cạn mới là chuyện lạ. Tôi còn hát đùa “Mình có 3 thằng “rơi rớt” chốn binh đao, biết tìm nơi phương nào, cho thoát đám quân gian”.... (Tôi,Lộc và Hên cùng tốt nghiệp Khóa 17 Thủ Đức cùng về TQLC tháng 11 năm 1964 với tổng số là 36 Chuẩn Úy).Sau một lúc hàn huyên thăm hỏi, chúng tôi mới bàn về việc phải tìm nơi trú ngụ tối hôm nay (31/3/1975).Tôi chợt nhớ có Tr/úy Phạm Minh Sơn (Không Quân chuyển về, phụ trách XLTV Ban 3/TĐ9, khi Đ/úy Tịnh từ LĐ 258 chưa thuyên chuyển về TĐ9 và sau này làm phụ tá B3 cho Đại/úy Tịnh, vốn là người nguyên quán Đà Nẵng). Tôi nhắc về Sơn nhưng tiếc thay chẳng ai biết nhà của Sơn ở đâu trong TP Đà Nẵng. May mắn lại đến với chúng tôi khi chính hạ sĩ Thương (cần vụ) cho biết là có thân nhân quen biết ở Xóm đạo Thanh Bồ, Đà Nẵng nên sẵn lòng hướng dẫn chúng tôi về đó, cùng lúc ấy Đ/úy Hên gặp lại Tr/úy Quân (ĐĐ Bảo Toàn/ TĐYTTB) cùng một quân nhân cũng có thân nhân, gần trong khu vực Xóm đạo, thế là chúng tôi cùng dẩn nhau về đấy, tuy nhiên khi về đến nơi mới biết là “nhà trống người không” vì thân nhân quen biết của Thương và quân nhân trong ĐĐBT đều đã bỏ nhà chạy “tỵ nạn” nơi khác,Quân và Thương phải đi hỏi thăm các người hàng xóm quen biết,sau cùng có được chìa khóa để vào nhà. Nhằm tránh sự "tò mò dòm ngó" của các người dân chung quanh trong cảnh "tranh tối, tranh sáng" nầy, hơn nữa "cẩn tắc vô áy náy", chúng tôi quyết định chia ra thành 2 nhóm ở 2 nơi riêng biệt, chỉ cách nhau một con đường. Chúng tôi tắm giặt thoải mái, ăn uống no đủ, nhờ vào các thực phẩm còn sót lại trong nhà. Sau đó mạnh ai nấy lăn ra ngủ bù, mọi phiền muộn, lo lắng, giờ đây tạm bỏ lại đâu đó trong ngăn kéo của thời gian, để tận hưởng cái hạnh phúc, khi biết mình vẫn còn sống và tự do dù trong vòng “kềm kẹp” của quân thù. Thủ đoạn dối trá của Cộng sản và may mắn lần thứ ba: Sáng sớm hôm sau thứ Ba 1 tháng 4 năm 1975, chúng tôi rời nơi trú ngụ sau một đêm say ngủ, không chập chờn vì ác mộng, trở lại các con đường hôm qua, tìm một quán bên đường,mỗi người một ly cà phê đầu ngày và thu thập tin tức, tình hình thời cuộc với các diễn biến không vui "quân ta rút lui chiến thuật khỏi Quy Nhơn" v...v...Tôi bàn với mọi người phải vượt thoát tìm về phương Nam, bằng cách lợi dụng khi địch quân còn mãi mê cuộc tiến công, chưa tổ chức hoàn hảo việc kiểm soát, giam giữ chặt chẽ các tù binh, cũng như các cấp chánh quyền hành chánh địa phương chưa quen việc, áp dụng chiến thuật "họ tới đâu thì chúng ta theo sau lưng họ, cho đến khi có cơ hội vượt tuyến".Khoảng giữa trưa, trước khi chúng tôi trở về nơi tạm trú, qua tin truyền miệng, sau đó từ các xe phóng thanh do bọn "theo đóm ăn tàn" làm tài xế, chạy quanh trong TP Đà Nẵng với lời kêu gọi trình diện của Ủy ban quân quản Đà Nẵng, cho các quân nhân của Sài Gòn trong 3 ngày, kể từ ngày 2/4 năm 1975 đến ngày 5/4/1975. Chúng tôi trở về chỗ ở với tâm trạng phân vân, đắn đo trong sự cân nhắc của câu hỏi: có nên ra trình diện hay không? Chưa ai trong số chúng tôi có được một kinh nghiệm về cộng sản, từ trước đây cho đến ngày triệt thoái không bài bản, mỗi khi chạm trán với bọn họ là chỉ có "Pằng, Pằng" như cao bồi Mỹ bắn chậm thì chết. Nay phải ra trình diện họ, rồi thì kết cuộc sẽ ra sao đây? Còn như không trình diện, nếu mai đây, có sự can thiệp của quốc tế, ngưng bắn lần nữa, rồi trao trả tù binh, số phận sẽ ra sao, khi không có tên trong danh sách trình diện thật là nan giải. Sau cùng mọi người, phó mặc cho số phận với kết luận: “Ai sao mình vậy”. Nỗi xúc động đến nghẹn ngào, khi trở về nơi trú ngụ nhìn thấy buổi cơm chiều đã được Hạ sĩ Thương nấu nướng, bày biện, đem từ nhà bên cạnh đến cho mọi người cùng ăn với cơm nóng, canh ngon, dù đạm bạc nhưng nói lên tấm lòng chân chất của người quân nhân dưới quyền trước đây. Chúng tôi ngỏ lời cám ơn sự chân tình của Thương, Thương nói: “Em chỉ mong mấy ông thầy làm răng mà về được trong Nam là em vui rồi”.Bản đồ Phan Rang:Buổi tối đến, tôi triệu tập phiên họp, bao gồm tất cả mọi người ở cả 2 nhà tạm trú. Tôi đưa ra ý kiến dung hòa và ăn chắc như sau: “Theo thông báo, chúng ta có 3 ngày để trình diện, như vậy ngày mai chúng ta đi trình diện cho có tên trong danh sách với tên tuổi, cấp bậc, chức vụ chính xác. Sau đó chúng ta còn 2 ngày để tìm phương cách vượt thoát khỏi TP Đà Nẵng, trước khi bị "gom bi"!” Mọi người đều đồng ý (riêng Đ/úy Tịnh Ban 3 và Hạ sĩ Thương vì nguyên quán ở Miền Trung cho nên sau nầy ở lại, không tìm đường về Nam) rồi giải tán, đi ngủ. Hôm sau thứ Tư ngày 2 tháng 4 năm 1975, chúng tôi cùng nhau trở ra phố, đến các địa diểm quy định đã được thông báo để trình diện, chỉ sau vài giờ mọi người đều có trong tay giấy đã trình diện với UBQQ Đà Nẵng, trong đó có đầy đủ các thông tin cá nhân trước đây, khi còn phục vụ cho chính phủ Sài gòn, họ cũng bắt khai luôn nơi đang tạm trú hiện nay (sau nầy mới biết họ thanh lọc danh sách ngay trong ngày hôm đó và họ cho lực lượng an ninh đến "bắt nguội" ngay trong đêm). Chúng tôi lang thang trong TP Đà Nẵng cho đến buổi chiều mới trở về lại nơi trú ngụ, lúc nầy trong nhà của Quân đã có thêm một số người vừa mới vượt thoát từ Huế vào cho nên chỗ ở trở nên đông đúc chật kín. Đ/úy Hên thấy thế nên bảo tôi và Lộc di chuyển qua nhà bên kia đường ở tạm. Nhờ thế chúng tôi thoát khỏi màn bắt nguội giữa đêm của an ninh Cộng sản...!!(Trích thư của Đ/úy Hên: Vào khoảng 1 giờ sáng, có nhiều chiếc xe gắn máy, dừng lại trước nhà, có tiếng đập cửa thật mạnh, tiếng người tiếp theo: “Ban quân quản, mau mở cửa kiểm tra.” Vị Th/tá Bộ binh ra mở cửa, tôi nghe có tiếng người bước vào nhà, từ chỗ tôi nằm không nhìn thấy cửa chính, tôi nghe một giọng nói miền Bắc, “Ở trong nhà nầy, ai là Thiếu tá Lâm tài Thạnh, Thiếu tá Nguyễn văn Lộc, Đại Úy Trần văn Hên, lính thủy đánh bộ, chúng tôi cần kiểm tra.” Tôi nghe vị Thiếu tá Bộ binh trả lời: “Hồi chiều, 3 ông nầy có dùng cơm ở đây, sau đó nói đi ra phố, giờ chưa thấy trở về”. Sau câu trả lời, bọn Việt cộng ập vào hẳn trong nhà thật nhanh, rọi đèn, người vợ của vị Th/tá Bộ binh nằm ngủ phía ngoài cùng các đứa con nhỏ, vội vàng nói nhanh với tôi: “Ông nằm yên để tôi xử trí”. Từ trong bóng tối ở sâu dưới chân cầu thang lầu, tôi thấy có 3 tên mặc quần áo quân chánh quy Bắc việt, 2 tên mang AK-47 rọi đèn lục soát, tên còn lại mang K-54 tiến về phía cầu thang, rọi đèn vào 3 cái mùng của gia đình vị Th/tá Bộ binh, khi thấy bà vợ của vị Th/tá đang cho con nhỏ bú, nên không rọi đèn tìm kiếm tiếp nơi chân cầu thang, mà bước vòng trở lại phía trước và đi thẳng lên lầu. Họ rọi đèn, lục soát khắp nhà khoảng 10 phút, tất cả kéo ra ngoài, nổ máy xe, rời căn nhà tôi đang tạm trú). Khoảng gần 4 giờ sáng, Đ/úy Hên, bằng cửa sau, chạy qua nhà chúng tôi đang ngủ, báo động tình hình nguy hiểm và chúng tôi quyết định vượt thoát khỏi Đà Nẵng lúc 5 giờ sáng cùng ngày.- Đường trường xa, ta quyết đi cho đến cùng.Vượt thoát: Ngày N, thứ năm 3 tháng 4 năm 1975: Trong hơi lạnh ban mai của Ngày N. vượt thoát; chúng tôi âm thầm rời nơi trú ngụ, sau khi nói lời chia tay Đ/úy Tịnh và Thương. Chúng tôi phân thành 2 nhóm, đi cách nhau khoảng 100 mét, lấy Quốc lộ 1 làm trục lộ chính và căn cứ vào các cột mốc cây số dọc theo đường đi, để biết khoảng cách các nơi sẽ phải đến. Nhóm 1 gồm có tôi, Tr/úy Quan, Th/úy Xuân, nhóm 2 còn lại là Th/tá Lộc, Đ/úy Phán. Riêng nhóm của Đ/úy Hên, Tr/úy Quân (ĐĐBảo toàn) vì có người quen dự trù kế hoạch vượt thoát bằng đường biển, nên chúng tôi cũng chia tay. (Sau nầy Đ/úy Hên về tới Vũng tàu trước tôi 2 ngày). Mọi người trong 2 nhóm của chúng tôi đều đồng ý, trên đường đi, ai thoát được sẽ tiếp tục cuộc hành trình, để có thể mang tin tức sau cùng về cho thân nhân những người bị bắt giữ lại. Dù chưa biết kết cuộc sẽ ra sao với đoạn đường trước mặt dài đăng đẳng có nhiều bất trắc chờ đợi, chúng tôi đều cảm thấy tinh thần phấn chấn, sau các ngày được nghỉ ngơi, ăn uống tạm đầy đủ và nhất là với viễn ảnh được tự do và đoàn tụ. Trong suốt khoảng đường từ nơi trú ngụ ra đến ngoại ô Đà Nẵng, chúng tôi chưa bị chận xét bởi các chốt kiểm soát của Việt Cộng, mặc dù trên QL1 các đoàn xe ngụy trang, chở quân Bắc Việt cùng các vũ khí nặng bao gồm các loại súng phòng không 37-57 ly di chuyển rầm rộ và liên tục. Trời vừa rạng sáng chúng tôi tới cầu Đỏ bắt qua sông Thu Bồn, chúng tôi phải tạm dừng lại nơi đây vì cây cầu nầy đã bị không quân VNCH phá hủy, nhằm ngăn chận bước tiến quân của Việt Cộng. Một số lượng đông đảo dân chúng và các loại xe chuyên chở dân sự cũng đang tập trung ngay đầu, mọi người cùng nhau chờ công binh Cộng sản bắt cầu phao nổi để qua sông, nơi đây có một nhóm nhỏ quân Bắc Việt canh gác với sự hời hợt và lỏng lẽo.Qua thăm hỏi, tìm hiểu, được biết đại đa số là thường dân chạy trốn chiến trận từ các vùng của tỉnh Quảng Ngãi nay đang hồi cư. Chúng tôi cùng nhau trà trộn vào với dân chúng và chờ đợi. Khoảng gần 8 giờ sáng, có lệnh cho người đi bộ qua cầu, cả 2 nhóm chúng tôi vượt nhanh qua phía trước, trong khi bọn lính chánh quy mãi mê nói chuyện với các o xứ Quảng. Cách cây cầu khoảng 500 mét, chúng tôi tạm ngừng lại với ý định chờ đón các xe dân sự xin quá giang. Tôi nhìn thấy cột mốc chỉ đường ghi Quảng Ngãi 115 km. Tôi thực sự không tin ở mắt mình và tự hỏi sẽ đi bộ trong bao nhiêu ngày mới tới được Quảng Ngãi đây! Sau cùng thật là may mắn, chúng tôi được một chủ xe có lòng tốt đã cho chúng tôi lên xe quá giang mà không lấy tiền, khi nghe chúng tôi tả oán đủ thứ, mẹ già, vợ trẻ, con thơ, đang trông chờ tin tức ở Nha Trang.Khi lên xe, chúng tôi chia nhau ngồi lẫn lộn với các hành khách. Phần tôi thì ngồi phía trước cách tài xế một dãy ghế và sát cửa sổ. Từ chỗ ngồi tôi nhìn ra phía sau, anh Lộc và Phán đưa ngón tay cái, biểu tỏ mọi chuyện tốt đẹp trong khi Quan và Xuân thì đánh đu trên tấm bửng sau xe. Sau gần 3 giờ xe chạy bon bon trên đường, các cột mốc cây số lùi dần về phía sau, để cuối cùng, một cột mốc loang lổ vết đạn ghi Quảng Ngãi 45 km. Xe bắt đầu chạy chậm và ngừng hẳn khi có 1 nhóm đông người đi diễn hành trên quốc lộ với các biểu ngữ cầm tay, nội dung chào mừng cách mạng thành công trong tiếng hoan hô, đã đảo, vv..Tôi nghĩ thầm: Chỗ nầy "hắc ám" đây vì là "hang ổ" của Quân khu 5 Việt Cộng. Trong quá khứ tôi đã từng tham dự hành quân trong các vùng chung quanh tỉnh Quảng Ngãi trong vai trò là Trung đội trưởng của ĐĐ1/TĐ2/ TQLC vào những năm 1965-1966.Tôi không xa lạ gì với các địa danh Mộ Đức, Đức Phổ, Ba Tơ, Nghĩa Hành, Sơn Tịnh, Trà Bồng, Ba Gia, Trà Khúc, Núi Thiên Ấn..... Thêm chia tay xót xa bên cạnh sự may mắn lần 4:Ngay trước tấm bảng viết hàng chữ Ủy ban cách mạng Xã Châu Ổ Huyện Bình Sơn là 1 toán du kích 7-10 tên đứng canh gác,mọi sự lưu thông đều bị chận lại xét hỏi. Chúng tôi không còn lối thoát nào khả dĩ có thể lẩn trốn, vì không ai biết trước có trạm kiểm soát trên đường, bây giờ chỉ biết trông chờ may rủi và số mạng của mỗi người. Khi xe vừa ngừng lại cho du kích kiểm tra, tôi nghe câu nói của người tài xế đại khái: Giấu được cứ giấu. Nghe nhưng chưa kịp hiểu ý, tôi xoay người nhìn về phía sau xe thì thấy bóng Quan và Xuân nhảy xuống khỏi xe, rồi biến mất trong nhóm người biểu tình đông đúc, cùng một lúc tôi thấy có 2 tên du kích đi dọc theo hai bên hông xe, từ phía sau đi lần ra phía trước, đến băng ghế ngồi của Th/Tá Lộc và Đ/úy Phán, chúng ngưng lại hỏi chuyện gì đó. Tôi thấy Lộc và Phán lấy tờ giấy trình diện ở Đà Nẵng cho chúng xem, sau đó tôi thấy chúng chỉa súng AK-47 vào 2 người và ra hiệu cho Lộc và Phán xuống xe và chúng gọi thêm người đến canh giữ, đồng thời tiếp tục đi đến chỗ tôi ngồi, tên du kích hỏi:- Anh nầy có giấy tờ gì không?Trong tích tắc tôi kịp nhớ câu nói bâng quơ của người tài xế, cộng thêm sự việc vừa xảy trước mắt cho Lộc và Phán, tôi trả lời với giọng mệt mỏi, để giảm bớt âm hưởng miền Nam:- Không có, tôi là lao công đào binh ở Đà Nẵng, cách mạng thành công, mở cửa nhà tù thả tôi và mấy ông cách mạng, rồi bảo tôi đi về nơi trú quán!Tên du kích hỏi tiếp:- Lao công đào binh là cái gì?Tôi giải thích:- Tôi trốn quân dịch, không chịu đi lính, nên bị bắt đi tù!! Tên du kích hỏi một câu ngu ngốc “Thiệt không?” Và bỏ đi. Người tài xế nhìn tôi cười thông cảm. Khi xe vừa nổ máy chạy qua khỏi trạm kiểm soát, tôi nhìn lui lại phía sau xe, thấy các tên du kích đang áp giải Th/tá Lộc và Đ/úy Phán trở lại con đường, xe đã chạy qua. Xe chạy khoảng 100-200 thước, tôi lên tiếng xin người tài xế dừng xe lại. Người tài xế ngạc nhiên hỏi, nhưng cũng đạp thắng và ngưng xe lại: “Sao vậy, đã thoát rồi còn quay trở lại đó làm gì?” Tôi chỉ trả lời cám ơn, xuống xe, đi ngược lại về nơi trạm kiểm soát với các ý tưởng đơn giản: “Phải biết, xem bọn du kích đưa Lộc và Phán đi đâu, đối xử thế nào, còn mọi chuyện khác thì tùy cơ ứng biến cho dù như đã nói ở phần trên, trước khi rời Đà Nẵng, mọi người đều đồng ý trên đường vượt thoát, người nào may mắn thì cứ tiếp tục cuộc hành trình để mang tin tức hữu ích cho gia đình thân nhân đang trông chờ”.Tôi đi thật nhanh vì sợ mất dấu những tên du kích. Tôi thở phào nhẹ nhõm khi thấy bóng dáng Lộc, Phán cùng toán du kích đang chậm rãi đi theo con đường mòn trong xóm sát cạnh Quốc lộ 1. Tôi len lỏi đi theo phía sau, qua các đường mòn có các ngôi nhà lá, trống trước, hở sau với một khoảng cách tương đối để không bị phát hiện, sau cùng toán du kích ngừng lại, vào một ngôi nhà có các hàng cây bao quanh, hình như là trụ sở Ủy ban gì đó của họ. Tôi trốn sau các lùm cây phía trước ngôi nhà và theo dõi tình hình. Thời gian khoảng 30 phút tôi thấy cả 4 tên du kích kéo nhau bỏ đi. Tôi đoán có lẽ chúng đi ăn cơm vì nhìn bóng mặt trời đã quá đỉnh đầu. Tôi chờ thêm khoảng 10 phút để chắc chắn bọn chúng không bất ngờ trở lại. Tôi quyết định dứt khoát, phải giữ bình tỉnh, giả như là du kích vào thật nhanh, ra thật lẹ.Tôi lên tiếng gọi, khi còn cách cửa ra vào 2-3 thước “Anh Lộc, Phán, tụi nó bỏ đi hết rồi, ra lẹ, đi cho mau với tôi”. Tôi lập lại 2-3 lần mới thấy Đ/úy Phán buồn bả, ủ rũ, đi ra nói với tôi: “Anh Lộc nói, anh Cả đi đi. Anh Cả có thoát thì thông báo tin tức cho gia đình tụi em”. Suýt chút nữa là tôi “chửi thề” tuy nhiên, tôi chỉ nói: “Tụi nó đi mất hết rồi, sợ cái gì mà không trốn đi?” Đ/úy Phán cho biết, mấy tên du kích nói nếu trốn đi, khi bị bắt lại thì chúng sẽ xử bắn, trước đó chúng cũng đã bắn chết một người! Nhìn dáng điệu cam chịu của Phán khiến tôi bùi ngùi vì tôi và Phán đã từng phục vụ chung ở TĐ2 Trâu điên, khi tôi là ĐĐPhó ĐĐ1 (1968) thì Phán là Trung đội Trưởng ở ĐĐ4, Phán tốt nghiệp K25TĐ, là một sĩ quan có nhiều triển vọng. (Sau nầy khi gặp lại Đ/úy Phán trong Đại Hội TQLC 2008 tại Nam California, khi nhắc lại chuyện ở Bình Sơn 3/4/1975, tôi thông cảm cho anh Lộc và Phán trong tình hình bó buộc lúc bấy giờ). Không còn lựa chọn nào khác, tôi lặng lẽ, thất thểu bước nhanh ra khỏi khu vực giam giữ với nỗi buồn nặng trĩu trong lòng và câu hỏi: mai đây nếu tôi có thoát được trở về, sẽ trả lời với các thân nhân của anh Lộc và Phán thế nào đây? Có ai tin rằng tôi đã hết lòng, quên cả nguy hiểm bản thân vì bè bạn và chiến hữu. Thôi thì chỉ cầu mong các đấng thiêng liêng độ trì cho cả hai tai qua nạn khỏi. Trở ra lại quốc lộ 1, tôi tính toán, khoảng cách đến Quảng Ngãi là 20 cây số, nếu phải đi bộ thì khoảng 3 tiếng đồng hồ là tới. Tôi cấm cúi rảo bước trên đường, trong ánh nắng nóng hâm hấp của miền Trung, nhìn trước mặt, đường còn xa diệu vợi, khách độc hành, ai thấu hiểu bước cô đơn; mới sáng nay còn đông đủ anh em, bạn hữu, trong niềm tin vượt thoát sẽ thành công mà nay chỉ còn lại đơn độc. Tiếng kèn xe làm tôi giật mình và câu hỏi lớn của ai đó trên xe: “Anh ni đi mô?” Và xe ngừng lại. Tôi đi ngang qua đầu xe, gặp người tài xế tuổi trung niên. Tôi ngỏ ý xin đi nhờ xe ra tỉnh lỵ Quảng Ngãi, đưọc sự đồng ý tôi lên xe, khoảng 30 phút sau tôi bước ra khỏi xe,nói lời cám ơn,thả bộ đi về hướng chợ. Lúc nầy tôi đang ở trong phạm vi ngoại ô tỉnh Quảng Ngãi. Tôi tiếp tục đi cho đến khi vào đến cổng chào là cửa ngỏ của thành phố. Quảng Ngãi là nơi có nhiều kỷ niệm của TĐ2 TQLC. Đặc biệt trong vụ việc Phật giáo Miền Trung (1966).Trước đó TĐ2 đã có lệnh trở về Hậu cứ để nghỉ dưỡng quân sau 3 tháng tăng phái choQuân đoàn 2, quân nhân trong đơn vị đều vui vẻ, mừng rỡ, còn bao nhiêu tiền đều mang ra mua kẹo mè xửng và nón lá bài thơ để làm quà tặng người thân sau một chuyến đi xa. Sáng hôm sau, ra phi trường Quảng Ngãi, chờ khoảng 1 giờ đồng hồ thì có nhiều máy bay từ Sài Gòn đáp xuống, lại toàn là C47 của Không quân VNCH với 2 chiếc máy bay dân sự của hàng không Việt Nam. Lính nhà ta chẳng biết chuyện gì, cứ có lệnh là "xung phong" lên máy bay liền, bay chưa tới 30 phút toàn bộ máy bay hạ cánh xuống phi trường Đà Nẵng, xong có lệnh "án binh bất động", nằm chờ lệnh trong phi trường để "mấy quan to nói chuyện phải quấy với nhau". Lính nhà ta vỡ mộng chỉ có nước chửi thề, thế là bao nhiêu kẹo mè xửng, nón lá bài thơ trở thành nạn nhân của sự giận dữ. Thế mới gọi là đời lính.Tôi vào một quán nhỏ bên đường Quốc lộ 1 uống một ly nước và tô phở nấu theo cách miền Trung. Tôi nhìn đồng hồ trong quán ăn hơn 3 giờ chiều. Trong cảnh vắng lặng của một thành phố vừa mới đổi chủ, tôi nhận thấy mọi sinh hoạt của thành phố đầy áp sự uể oải, cầm chừng, ngại ngùng, bẻn lẻn như một cô dâu mới về nhà chồng, chưa biết phải làm gì. Thỉnh thoảng chỉ thấy vài chiếc xe đạp, vài người đi bộ có vẻ lạc loài như tôi, chắc là thuộc phe ta. Trước khi rời quán ăn, tôi hỏi thăm người đàn ông chủ quán có biết một ngôi chùa nào gần nhất trong khu vực nầy hay không? Trong e dè cẩn trọng đối với người lạ, ông ta chỉ cho tôi, đường đi đến chùa Hội Phước trong khu phố gần trung tâm chợ. Tôi bước ra khỏi quán, đi lần theo Quốc lộ 1 cũng là con đường chính hướng về phố chợ, được một khoảng khá xa, nhận thấy mặt trời chưa lặn bóng e rằng khi tới Chùa còn sớm, khó xin chỗ trú ngụ qua đêm. Nhìn thấy một tàn cây có bóng mát bên đường, tôi ngừng lại, ngồi xuống lề đường, mông lung suy nghĩ vẫn vơ, không biết ngày xưa, khi Hạng Võ thất trận, 10,000 tử đệ bỏ đi, thì tình trạng có thê thãm như tôi hôm nay hay không? Một bóng dáng quen thuộc từ đàng sau, đang cắm cúi đi tới, tôi nhận ra đó là Tr/úy Quan, khi Quan đến gần chỗ tôi ngồi, trông thấy tôi, Quan kêu lớn trong sự ngạc nhiên: “Anh Tư, anh không bị bắt lại hả?” Tôi ra hiệu cho Quan tiếp tục đi rồi tôi rảo bước theo Quan sau khi thật nhanh quan sát cẩn thận chung quanh.Đến một ngã tư đường, chúng tôi dừng lại, chọn một nơi kín đáo và trao đổi các tin tức liên quan đến các thành viên của 2 nhóm. Tôi cho Quan biết về tình trạng của Lộc và Phán, tôi hỏi Quan về Xuân, Quan cho biết đã lạc mất Xuân khi cả 2 nhìn thấy bọn du kích ra hiệu cho xe ngừng lại, nên vội vã nhảy xuống xe, hòa nhập vào đám đông đang đi tuần hành, lẩn trốn trong các xóm nhà ven quốc lộ, sau cùng vuợt qua các cánh đồng ruộng, đi khỏi phạm vi vùng du kích kiểm soát.Việc gặp lại Tr/úy Quan bất ngờ trên lộ trình vượt thoát giúp tinh thần tôi thêm phấn chấn, lạc quan vì từ nay có bạn đồng hành trênchặng đường thiên lý tìmvề phương Nam, bên cạnh đó Quan sẽ là chứng nhân sau nầy cho cuộc hành trình đường trường xa nầy. (Cuộc sống đôi lúc có những bất ngờ, ngạc nhiên thú vị vì tôi chợt nhớ: Tr/úy Quan là người có cùng nguyên quán tỉnh Ba Xuyên (Sóc Trăng) và là bạn học cùng lớp với cậu em thứ năm của tôi, như vậy từ nay trên đường vượt thoát chắc sẽ có nhiều điều để nhắc nhớ về xứ sở.Buổi chiều đang xuống dần, ánh nắng le lói nhạt mờ, báo hiệu một ngày sắp hết. Tôi cho Quan biết ý định tìm nơi trú ngụ qua đêm ở ngôi chùa Hội Phước trong nội ô chợ Quảng Ngãi, do người chủ quán ăn đã chỉ dẩn, sau vài lần hỏi thêm các khách qua đường, chúng tôi đến nơi. Đây là một ngôi chùa rộng lớn với chiếc cổng tam quan bề thế, bên trong sân chùa đã có rất nhiều dân chúng, đa số là phụ nữ và trẻ em, hỏi ra, mới biết là dân “tỵ nạn chiến loạn” từ các nơi dồn vào đây, tạm nương nhờ cửa Phật, chờ thời cuộc cho phép sẽ hồi cư về lại Bình Định (Quy Nhơn), thật là một cơ hội tốt cho chúng tôi lẫn lộn, hòa nhập vào đám đông, tương đối an toàn. Chùa có một giếng nước sâu do các tăng nhân trẻ phụ trách việc phân phối nước, tôi và Quan mượn được một chiếc chiếu lớn cũng như được cấp phát cho mỗi người 1 ổ bánh mì chay. Ăn xong, cả 2 co ro quấn mình trong chiếc chiếu lớn, bên hông phía sau căn bếp của Chùa. Chúng tôi thì thầm to nhỏ về chương trình dự tính ra đi ngày mai. (Trước đó qua tin tức thu thập được từ các chị phụ nữ nấu bếp, chúng tôi được biết các lực luợng chánh quy Bắc Việt đang bị cầm chân ở tuyến phòng ngự Khánh Dương trước khi vào Nha trang). Tôi báo cho Quan biết, căn cứ vào các cột mốc cây số, chúng tôi đã vượt thoát được khoảng 120 cây số chỉ trong 1 ngày, một kết quả đáng mừng trên đường vượt thoát của ngày đầu tiên. Quan ngỏ ý, đề nghị tìm lối đi ra phía biển, để kiếm phương tiện ghe, thuyền đi cho nhanh và tránh được các trạm chốt kiểm soát sẽ gặp phải, nếu đi theo Quốc lộ. Tôi nghe Quan nói cũng có lý, tuy nhiên suy nghĩ lại tôi thấy bất lợi vì lộ trình tìm đường đi ra hướng có các làng đánh cá, có ghe đi biển, rất dễ bị phát hiện vì không lẩn lộn được vào trong dân chúng, thêm nữa với giọng nói âm hưởng chính gốc miền Nam, trong túi không có tiền thì làm sao mua chỗ đi, cũng như khi đã lên thuyền, bị chận xét là bó tay hết xoay sở. Trong khi xử dụng lộ trình đi bộ sẽ khó bị phát hiện do việc lẩn lộn vào đám đông, xe cộ qua lại nhiều, dễ cho việc quá giang và thăm hỏi tin tức tình hình, miễn sau chỉ cần để ý, khéo luồn lách, nhảy khỏi xe (nếu quá giang được xe) trước khi xe vào các nơi trọng điểm trung tâm, sau đó băng đồng đi vòng, tránh né, như thế xác suất trốn thoát thành công rất cao. Sau các phân tích của tôi, Quan hoàn toàn đồng ý. Chúng tôi rơi vào giấc ngủ trong lành lạnh của những cơn gió nhẹ, đánh dấu ngày thứ 5 "tù binh và vượt thoát", thiếu nệm ấm, chăn êm. Văng vẳng đâu đây tiếng mõ chuông từ chánh điện, xen lẩn tiếng đọc kinh chú Quan thế âm, hình như tôi mỉm cười trong ánh hào quang sáng chói của Đức thế tôn (lúc nầy tôi chưa chuyển đạo).Quảng Ngãi với Núi Thiên Ấn, Sông Trà Khúc và lần may mắn thứ năm: N+1, 4/4/1975:Tiếng la hét, ồn ào của trẻ con, tiếng gọi nhau của người lớn làm chúng tôi giật mình tỉnh giấc, xuyên qua các cành cây trên cao, mặt trời đã ló dạng nơi phương đông, trong căn bếp chùa có nhiều chị phụ nữ đang phụ lo việc cơm nước với các tăng nhân mặc áo màu nâu. Qua câu chuyện trao đổi của họ, chúng tôi được biết: tuyến phòng ngự của QLVNCH do Nhảy dù, Trung đoàn 40 Sư đoàn 22 Bộ binh v..v.. tại Khánh Dương là một thị trấn nhỏ, nằm ở độ cao 1000m, cạnh quốc lộ 21 nối liền vùng cao nguyên Ban Mê Thuộc với vùng duyên hải tỉnh Khánh Hòa, Nha Trang, cách Quốc lộ 1 khoảng 60 km, đã thất thủ ngày hôm qua (sau này qua các tài liệu, bài viết sưu tầm, được biết tuyến kháng cự Khánh Dương tan rã vào ngày 2 tháng 4 năm 1975).Thế là thêm một trở ngại và thất vọng cho chương trình vượt thoát. Chúng tôi mang chiếc chiếu trả lại cho Chùa thì được biết Chùa sẽ có thí thực (cơm miễn phí) cho mọi người. Khoảng 8 giờ sáng, chúng tôi rời Chùa cùng với một số dân hồi cư về lại Bình Định Quy Nhơn, hành trang tương đối ấm lòng với 2 nắm cơm vắt lớn, một hủ chao lớn, một bình nhựa chứa nước. Chúng tôi đi ngược lại các con đường cũ để ra Quốc lộ 1, để tránh bị để ý tôi và Quan giữ khoảng cách, cùng lẫn lộn trong nhóm đông phụ nữ và trẻ con. Các khu phố chợ, các con đường trong nội ô Quảng Ngãi của buổi sáng sớm, trông nhợt nhạt, u ám, buồn tẻ, âu lo, căng thẳng vốn dỉ phải có trong các nơi vừa mới bị chiếm đóng. Theo bước chân của dòng người hồi cư, chúng tôi tới một tòa nhà lớn sau mới biết đó là tòa hành chánh cũ của tỉnh Quảng Ngãi, tại đây có dán 1 thông báo, viết bằng tay, nét chữ không ngay hàng thẳng lối với nhiều lỗi chánh tả. Theo quy định ghi trên bảng thông báo: Muốn hồi cư phải ghi danh với các loại giấy tờ của chánh quyền cũ. Đọc xong tôi và Quan kín đáo, vội vã nhanh chóng ca bài tẩu vi thượng sách. Chúng tôi quay lại Quốc lộ 1, quyết định bắt đầu hành trình đi bộ, tuy nhiên chưa ra khỏi ngoại vi tỉnh Quảng Ngãi thì "đụng đầu" ngay Trạm kiểm soát hổn hợp gồm du kích địa phương và quân chánh quy Bắc Việt. Lại một lần nữa chúng tôi phải thối lui, vì địa thế trống trải không thể đi vòng băng ruộng mà không bị phát hiện.Chúng tôi đành phải trở lại khu phố chợ, tìm chỗ vắng ẩn náo, dự trù chờ chiều tối khi không còn chốt kiểm soát thì sẽ vượt thoát. Thật không ngờ bọn Việt Cộng lại duy trì trạm kiểm soát nầy liên tục cả ngày lẩn đêm. Tối đến chúng tôi xin tá túc dưới mái hiên của một ngôi nhà lớn, bên cạnh Quốc lộ 1, được chủ nhà cho mượn đầy đủ mùng và mền, nên chúng tôi qua đêm có được cảm giác bình yên, ấm cúng. Buổi sáng khi gõ cửa gọi chủ nhà để hoàn trả mùng mền đã mượn, gặp ngay một phụ nữ trẻ, tay cầm một dĩa cơm chiên lớn, vừa đưa cho tôi vừa rơi lệ nói nhỏ: “Tôi biết 2 anh là lính Sài Gòn, đây là nhà cha mẹ tôi, ông xã tôi ở Sư đoàn 22, cũng chưa thấy tin tức không biết sống chết ra sao.”Tôi cầm dĩa cơm chiên nói vài lời an ủi, cám ơn; rồi vội vã bước ra ngoài sân, trong lòng nặng trĩu khi chợt nghĩ đến hoàn cảnh tương tự ở nơi chốn thành đô hoa lệ kia, cũng có người đang mỏi mắt trông chờ, đợi ngày trở về của tôi.Ngày kế tiếp chúng tôi tiếp tục canh me trạm kiểm soát, đến buổi chiều chúng tôi quay lại ngôi chùa Hội Phước, hưởng phước của nhà Chùa thêm lần nữa. Tôi không muốn ghé qua ngôi nhà đã ngủ tối qua vì chỉ để buồn thêm, hôm sau cũng chưa có gì sáng sủa, tôi và Quan cứ lang thang qua các con đường nhỏ, trong nội ô tỉnh Quảng Ngãi mà chưa biết tìm lối thoát như thế nào. Sáng của ngày thứ ba dậm chân vì bị đấp mô (N+4, thứ hai 7/4/1975) thì “thần may mắn”lại mỉm cười với chúng tôi. Trong khi đang thả bộ dọc theo một con đường nhỏ, vắng người qua lại, gần trung tâm chợ, nơi có vài ba căn nhà bỏ trống, không thấy người ở, tôi chợt nhìn thấy một tấm biển nhỏ bằng đồng ngay trước cổng vào, tôi cúi xuống cầm lên xem: Tiểu đội quân cảnh tư pháp Quảng Ngãi. Tôi bỏ tấm bảng xuống và rủ Quan đi vào trong nhà, sau khi nhìn chung quanh không thấy có bóng dáng người qua lại, bước vào căn nhà chính, thấy có 3 cái bàn làm việc và các loại giấy tờ nằm tung tóe trên mặt sàn gạch. Sau một lúc xem xét, chúng tôi tìm thấy có 2 giấy chứng nhận, ghi đầy đủ các chi tiết liên quan đến 1 người tên là B1 Cao văn Nghiêm Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 4 Sư đoàn 2 Bộ binh, còn giấy chứng nhận kia ghi tên Hạ sĩ Lâm hoàng Dân Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 4 Sư đoàn 2 BB. Tôi cầm cả 2 giấy chứng nhận, hối thúc Quan rời khỏi căn nhà thật nhanh. Ra đến đường lớn, tôi đưa ngay giấy chứng nhận là Hạ sĩ Lâm hoàng Dân cho Tr/úy Quan (tôi sợ theo thói quen khi nghe kêu họ Lâm sẽ dễ bị giật mình) phần tôi giữ giấy chứng nhận là B1 Cao văn Nghiêm. Đã có giấy chứng nhận của chánh quyền cũ với dấu mộc đàng hoàng, chúng tôi vội vã đến ghi danh với Ban hồi cư của Việt Cộng ở tòa hành chánh cũ.Một phụ nữ khoảng 40, cạp lưng có súng K54, cổ quấn vải dù ngụy trang, tiếp chúng tôi trong cái nhìn thiếu thân thiện, mắt liếc đọc 2 tờ giấy chứng nhận, chúng tôi hồi hộp trong chờ đợi và khấn nguyện Phật Bà Quan âm, khi thấy bà ta chẳng hạch hỏi, lấy 2 mẩu giấy có in sẳn, viết lên đó, ký tên xong gọi 1 thanh niên trẻ bảo mang 2 giấy đi đường nầy đóng dấu. Khi đưa trả lại cho chúng tôi 2 tờ giấy đi đường, có dấu mộc đóng rõ ràng của Ủy Ban Quân Quản Quảng Ngãi, bà ta còn căn dặn bước qua bên kia đường sẽ có “các đồng chí lo cho chế độ ăn uống và cơ động” (lần đầu tiên nghe, tôi cố nhịn cười, sợ bà ta nổi quạo là tiêu tùng). Tôi và Quan bước ra khỏi tòa hành chánh cũ mà như đang bay bổng trên mây vì từ nay đã có "bùa hộ mệnh". Chúng tôi qua bên kia đường thì đã có ngay vài tên du kích, hỏi xem giấy, sau đó là cấp phát cho tiêu chuẩn ăn là mấy ổ bánh mì cũ kèm với một nhúm ruốc khô và nước uống, xong xuôi các tên du kích bảo chúng tôi ngồi chờ xe để "cơ động", trong lúc nầy cũng đãcó khoảng 15-20 người dân cũng đang chờ xe để hồi cư về Bình Định và Nha Trang (1-3/4/1975).Cả 2 nơi nầy cũng di tản để Việt Cộng chiếm mà chẳng có trận đánh nào cả. Khoảng 12 giờ trưa thì có xe chở khách cũ, có lẽ bị trưng dụng, đến chở hết số người đang chờ đợi, trong đó có tôi và Quan. Xe cũng phải ngưng lại tại chốt kiểm soát, mọi người xuất trình giấy đi đường cho 2 tên du kích, tôi đoán là học sinh trung học mới chạy theo Việt Cộng, chúng xem giấy, nhìn tôi mà không nói gì, xong cho xe chạy. Từng hàng cây bên đường, từng cột cây số chỉ khoảng cách lui dần sau lưng để phía trước là con đường rộng mở của tự do và đoàn tụ. Xe chạy theo Quốc lộ 1, lần lượt lướt qua các địa danh quen thuộc Mộ Đức, Đức Phổ.... các trận đánh vang tiếng một thời ở Ba Gia, Thạch Trụ của QLVNCH nói chung và TQLC nói riêng. Khoảng cách thu ngắn theo từng thời gian trôi qua, tôi nói đùa với Tr/úy Quan: “Khi nào cuộc hành quân nầy chấm dứt, Hạ sĩ cho B1 Nghiêm nầy đi phép vợ sanh nghe”. Quan trả lời: “Hổng dám đâu”, rồi cả hai chúng tôi cùng cười, có lẽ "Cười là tiếng khóc khô không lệ". Xe tự nhiên chạy chậm lại và ngừng hẳn khi vào ranh giới của tỉnh Bình Định Quy Nhơn, mọi người lo lắng, cùng nhau lên tiếng hỏi tài xế, không có tiếng trả lời, chỉ thấy tài xế xuống xe đi kiểm tra nơi đầu máy, xong quay lại nổ máy xe nhưng vẫn không chạy được, sau vài lần thử, tài xế thông báo xe hư hộp số, không chạy được, ông ta đã cho người phụ xế quá giang xe ngược chiều xin “chi viện” (nghe thật tức cười) xe khác. Chờ mãi đến tối, thế là mọi người cùng ngủ lại trong xe. Đúng là "phước bất trùng lai, họa vô đơn chí".Sáng hôm sau (N+5, 8/4/1975) chờ mãi đến mệt mõi, chán nản mà không thấy xe thay thế, trong khi những xe chạy qua không ngưng lại vì đã đông đầy người. Tôi và Quan quyết định bỏ xe đi bộ với một số người có ít hành lý. Sau hơn 5 giờ đi bộ, khi bóng chiều đang ngã dần về phương Đông, chúng tôi vào tới địa phận tỉnh Bình Định quận Hoài Nhơn, chúng tôi cảm thấy mệt mỏi sau chặng đường dài đầu tiên phải đi bộ, nên bàn nhau kiếm chỗ tá túc qua đêm, tuy nhiên ghé hỏi mấy chỗ khi thấy thái độ không thân thiện "truy hỏi" đủ thứ chuyện, chúng tôi đành phải bỏ đi nơi khác, cuối cùng thấy một ngôi nhà không có dấu hiệu sinh hoạt, sau khi lên tiếng kêu hỏi, không thấy có ai trả lời, chúng tôi biết là nhà vắng chủ,có thể ở tạm qua đêm ở phía hàng hiên trước nhà. Tôi và Quan bẻ các cành cây làm chổi, quét sạch các rác rưới trước cửa, xong đi quan sát vòng quanh khu nhà, tìm đuợc 1 lu nước có nấp đậy bằng gỗ cùng vài ba trái dừa khô bỏ lăn lóc kế bên, thế là chúng tôi có cách giải quyết cho bao tử, xong xuôi tôi trải tấm nylon cũ, xin được lúc trên xe, thế rồi chúng tôi qua đêm trong cảm giác không bình yên chút nào của giấc ngủ bụi đời. Cát Bụi Đường Xa: Tiếp tục cuộc trường chinh bộ hành: N+6, 9/4/1975:Tiếng chim hót trên cành cây, tiếng lá cây dừa chạm nhau kêu xào xạc mỗi khi có cơn gió thổi qua, xen lẩn tiếng động cơ các loại xe cơ giới hạng nặng ngoài đường Quốc lộ 1 khiến chúng tôi giật mình tỉnh dậy. Tôi cuốn vội tấm nylon, xếp nhỏ gọn, giấu trong bụng phía trước. Chúng tôi cẩn thận đi lần ra sát mé lộ, núp sau các thân cây dừa, trông thấy hàng đoàn dài, các loại xe Molotova chở quân chánh quy Bắc việt, xe kéo các loại súng pháo binh, hỏa tiển Sam phòng không có cả chiến xa. Tôi nói nhỏ với Quan: “Phải chi có vài đợt B-52 thì hay biết mấy!!!” Đoàn xe chạy kéo dài cả tiếng đồng hồ. Chúng tôi trở vào căn nhà vắng chủ, rửa mặt, xong đi vòng quanh sân phía sau nhà, đến các gốc cây dừa, lượm mỗi người 2 trái dừa khô, dùng các cục đá có đầu nhọn, đập tách phần vỏ dừa, xong khoét lổ xỏ dây dừa cột lại, đeo trên vai (giống như các khinh binh trong khẩu đội súng cối 60/81 ly mang mấy trái đạn khi đi hành quân) rồi ca bài “lên đường” tiếp tục cuộc “bộ trình” với hy vọng sẽ đón được xe xin quá giang.Đi mãi, đi mãi, đi mãi mà chẳng thấy có bóng dáng xe dân sự nào chạy qua, tôi đoán có lẻ hôm nay bọn chúng “cấm đường” dân chúng, để cho các đoàn xe quân sự ưu tiên đi qua vì trong suốt đoạn đường đi, rất nhiều đoàn xe của Bắc việt di chuyển, trong đó có cả các loại xe quân đội cũ của VNCH, trên xe toàn là bọn lính "con nít" 16-17 tuổi, chúng chỉ chỏ, bàn tán xem rất là đáng ghét khiến tôi ao ước những điều không tưởng: phải chi có máy bay oanh kích, phải chi "quân ta một lòng cố thủ" thì dễ gì có 1 chung cuộc "dễ dàng" như tôi vừa thấy. (Cuộc triệt thoái cao nguyên đã tai hại cho sự sống còn của Nam Việt Nam, nhưng sự tan rã tại miền Trung còn tai hại nhiều hơn nữa. Tại cao nguyên, ít ra cũng còn có các trận đánh lớn của cộng quân vào Ban Mê Thuột bằng một lực lượng quá mạnh so với lực lượng của quân trú phòng. Nhưng tại miền Trung, rõ ràng là phía VNCH tự gây ra sự "sụp đổ tinh thần" rồi đi tới "chủ bại" và "tan rã" (Trích trong: Cái chết của Nam Việt Nam. Tác giả Phạm kim Vinh, trang 317, dòng 1-8).Sau nhiều giờ đi bộ với các chặng nghỉ "giải lao" bằng nước và cơm dừa khô, chúng tôi tới được quận Bồng Sơn Tam Quan khoảng 4 giờ chiều, nơi đây đang có một phiên họp chợ trễ, trong túi tôi còn chút ít tiền nên tôi rũ Quan ghé lại một quán nhỏ bên đường, chúng tôi mua vài bánh tráng nướng, bánh có nhưn dừa trộn đường cùng một chai nước ngọt không có nước đá. Sau khi trả tiền, tôi hỏi thăm chủ quán xem trong khu vực gần đây có Chùa hay Am nhỏ của Phật giáo hay không, theo sự hướng dẩn của chủ quán, chúng tôi đi bộ khoảng thêm 2 cây số thì đến một ngôi chùa nhỏ. Trên đường đi, dấu vết chiến tranh còn để lại ở khắp mọi nơi với các nhà cửa, công sự phòng thủ bị phá hũy tan hoang. Ngắm cảnh sinh tình khiến tôi nhớ lại thời gian nầy của 10 năm về trước (8/4/1965) cũng ở tại ấp Phụng Dư xã Tam quan quận Bồng sơn nầy, Tiểu Đoàn 2 TQLC đã có một chiến công lừng lẩy với gần 150 VC bỏ xác, 10 tên bị bắt sống, hơn 100 vũ khí bị tịch thu, khi thiệt hại của Tiểu Đoàn 2 là không đáng kể. Trong trận nầy tôi là Trung đội trưởng Trung đội vũ khí nặng của ĐĐ1 với vị ĐĐT là NT/Tr/úy Phạm Nhã. Tôi được ân thưởng huy chương bạc (Sư đoàn) đầu tiên trong binh nghiệp. Một thời gian sau đó, cũng tại xã Hoài Ân Tam Quan, ĐĐ1/TĐ2 cũng tạo một chiến thắng vừa phải, khi ĐĐ1 hoạt động riêng lẻ, làm tiền đồn cho TĐ2, vị trí đóng quân bị tấn công bởi 1 TĐ địa phương Việt Cộng, ĐĐ1 giữ vững khu vực phòng thủ, loại khỏi vòng chiến 45 VC và 30 vũ khí bị tịch thu. Lúc bấy giờ ĐĐT là Tr/úy Trần kim Hoàng (K17VB), tôi là Trung đội Trưởng Trung đội 16.Khi vào đến sân chùa nhìn thấy có treo 2 lá cờ, một của cái gọi là MTGPMN bên cạnh là cờ biểu trưng cho Phật giáo, tôi và Quan vội vã quay bước trở ra thì gặp ngay một vị sư già chặn chúng tôi lại và hỏi: “Các thí chủ có cần nhà chùa giúp gì hay không?” Tôi còn đang ú ớ thì vị sư già nói tiếp: “Các thí chủ đừng ngại, gặp thế thời thì phải thế thôi!” Nghe nói như vậy tôi và Quan mới an tâm ngỏ ý xin tá túc qua đêm nhưng chúng tôi chỉ nói là dân hồi cư chứ không tỏ lộ thân phận. Chúng tôi được vị sư già, dẩn đi vòng bên hông vào chùa, phía sau hậu liêu, chỉ cho 1 chiếc giường ngủ đủ rộng cho 2 người, dặn dò vài câu, sau đó bỏ đi. Tôi ra dấu cho Quan kín đáo theo sau, xem động tỉnh. Quan trở lui, cho biết vị sư già đi xuống bếp, khoảng 30 phút sau, chúng tôi có được buổi cơm nóng thí thực của đức Quan âm bồ tát qua vị sư già. Sáng hôm sau, trước khi từ giã vị sư già để lên đường, tôi và Quan có xin phép lên chính điện để thắp nhang cầu nguyện và tạ ơn các Đức Phật từ bi đã độ trì, gia hộ cho chúng tôi may mắn tồn tại, sống sót cho đến lúc này. Lại thêm một buổi cơm chay nóng, no bụng, dù chỉ có rau luộc, nước tương. Vị sư già tiễn chúng tôi ra đến tận đường QL, niệm câu "A di đà Phật" sau khi chúc 2 thí chủ lên đường may mắn.Họa vô đơn chí: N+7, 10/4/1975:Rời nhà chùa chúng tôi tiếp tục đi theo Quốc lộ 1, dọc đường có những chiếc xe dân sự chạy qua nhưng việc xin quá giang không thuận lợi, vì đại đa số các xe đều đầy ấp người hồi cư. Tất cả các nơi chúng tôi đi qua, hầu như không bị bất cứ một "chặn hỏi" nào của các chánh quyền địa phương, có thể do "chiến dịch" xâm chiếm miền Nam, đã thành công quá bất ngờ, nhanh chóng, so với kế hoạch dứt điểm vào năm 1976 của Bộ Chính trị cộng sản Bắc Việt. Khoảng giữa trưa, sau một đoạn đường dài dưới cơn nóng nắng tôi bỗng nhiên thấy trong người khó chịu, một cơn chóng mặt và cảm giác nhức đầu từ đâu kéo tới không báo trước. Tôi cho Quan biết, tôi nói Quan kiếm chỗ nào thuận tiện, tạm dừng chân. Cuối cùng chúng tôi được sự giúp đở của một thiếu phụ còn trẻ, ở một căn nhà bên đường, cho tá túc qua đêm, sau khi cho tôi uống vài viên thuốc giải cãm, buổi sáng hôm sau còn cho 2 chúng tôi, một buổi điểm tâm với những con cá nhỏ, trộn lẫn với những con tép mòng, kho chung với dừa khô thái mỏng, có cả ớt thật cay. Đây là một trong những kỷ niệm khó quên trong chặng đường dài vượt thoát.Rời ngôi nhà, tôi tự hỏi không biết người phụ nữ đó thuộc phe nào trong cuộc chiến của vùng nổi tiếng là chết như không vì mỹ nhân kế, ban ngày bắn sẻ, ban đêm thì gỏ phèn la, gỏ mõ, bắt loa tay alô, alô, alô kêu gọi lính quốc gia đầu hàng; chỉ khi nào pháo binh 75 ly của TQLC ở Đồi 10 bắn quấy rối, đáp lễ thì mới chịu im tiếng (1965-1966). Dù sao thì tôi cũng đã nhận được một "tấm lòng nhân ái".Tiếp tục di hành. Hết cơn bỉ cực đến hồi thái lai: N+8, 11/4/1975:Theo khoảng cách ghi trên các cột cây số dọc theo QL1, chúng tôi đang bắt đầu đi vào ranh giới của quận Phù Cát, nơi có căn cứ của Sư Đoàn 6 Không quân VNCH, từ đây chúng tôi chỉ còn cách trung tâm tỉnh Quy Nhơn là 35 cây số. Chúng tôi ước tính với sức khỏe và tốc độ di chuyển bộ thì phải mất ít nhất là 7-8 tiếng đồng hồ, mới tới được TP Quy Nhơn. Sau khoảng 2 giờ đi bộ, chúng tôi được một người đàn ông chạy xe Honda 67 dừng lại và hỏi trống không: “Đi đâu đó?” Chúng tôi trả lời muốn đi về Quy Nhơn. “Có giấy tờ Cách mạng cấp hay không? Chúng tôi trả lời: “Có.” Ông ta bảo tôi và Quan lên ngồi phía sau và xe phóng đi. Tôi có cảm giác ở thắt lưng ông ta, có vật gì cờm cợm như là khẩu súng nhỏ (Colt 45 hay K54 không biết), đã lỡ lên lưng cọp thì phải chịu vậy.Lúc xe Honda chạy, ông ta có hỏi vài câu gì đó nhưng do ngược chiều gió tôi nghe không rõ nên chẳng có trả lời. Gần 1 tiếng đồng hồ sau, ông ta ngừng lại cho chúng tôi xuống xe ở chỗ trường Sư phạm hay Kỹ thuật gì đó (?) hình như ở đường Quang Trung hay Nguyễn Huệ? (lâu quá không còn nhớ). Chưa kịp nói tiếng cám ơn thì ông ta đã vội vã chạy ngay. Chúng tôi lại áp dụng chiến thuật cũ, là đi hỏi thăm tìm nơi có chùa để xin tá túc. Có người chỉ cho chúng tôi, ngôi chùa có tên là Long Khánh (sở dỉ tôi nhớ tên là vì trùng tên với tỉnh Long Khánh nơi sinh sống của anh tôi). Vốn đã có kinh nghiệm "ngủ Chùa" (Chùa thật chứ không phải là ngủ chùa, là ngủ với ai đó mà không phải trả tiền!!!) cho nên chúng tôi đợi đến chiều tối mới đi vào xin tá túc qua đêm. Ở đây chúng tôi bị hỏi giấy tờ, trước khi được cho trú ngụ (tỉnh Quy Nhơn mất vào tay cộng sản ngày 31 tháng 3 năm 1975, theo cơn sóng rối loạn và tự tan rã dây chuyền). Chúng tôi đưa giấy đi đường của Ban Quân Quản tỉnh Quảng Ngãi cấp, cho một tăng nhân trung niên, dáng dấp giống như an ninh Việt cộng. Sau khi xem giấy tờ xong, ông ta chỉ cho chúng tôi đi về hướng dãy nhà nhỏ phía sau có một phòng lớn, dùng làm lớp học cho các người mới vào tu trước đây, trong căn phòng này đã có sẳn một số nam, phụ, lão, ấu, số người nầy đã chạy loạn từ Nha Trang vào đã ở đây cả tuần lễ, không biết lý do nào mà chưa trở lại nơi chốn cũ. Mọi việc diễn tiến bình thường cho chúng tôi, như là có cái ăn uống, chỗ ngủ qua đêm, tắm giặt.Buổi tối tôi và Quan đi vòng vòng, thăm hỏi tin tức, sau cùng làm quen được với một gia đình có vẻ giàu có với một chiếc xe riêng, loại vận tải nhẹ, hiệu Ford Falcon, gia đình gồm 2 vợ chồng và 2 con nhỏ, khi biết chúng tôi là lính Sài Gòn, qua giấy đi đường, họ hứa cho chúng tôi đi theo họ khi ngày mai chúng tôi cùng họ đi ghi danh với Ban hồi cư tỉnh Quy Nhơn.Ban Quân quản TP Quy Nhơn, may mắn lần thứ sáu: N+9, 12/4/1975:Sáng sớm trong khi chúng tôi còn đang chực chờ ở gần cửa bếp nhà Chùa để lảnh "thí thực" như đã được thông báo tối qua, người đàn ông của gia đình có vẻ giàu có, đi vội vã đến bên tôi và Quan, bảo chúng tôi đi theo ông ta ngay, còn phần cơm thí thực thì bà xã của ông ta sẽ lãnh dùm. Chúng tôi chẳng biết chuyện gì tuy nhiên qua tiếp xúc tối hôm qua, thấy vợ chồng ông ta có thể tin được nên chúng tôi đồng ý. Lên xe ông ta chạy qua 4-5 ngả đường, thì tới một tòa nhà lớn có tấm bảng đỏ ghi: UB Quân quản tỉnh Bình Định Ban hồi cư.Chúng tôi xuống xe, đi vào trong như một số người đã có mặt từ trước, theo chỉ dẩn, dặn dò chúng tôi yên tâm cứ trình Giấy đi đường của tỉnh Quảng Ngãi là được (lời của người đàn ông tốt bụng, mà sau nầy mới biết là tên Hùng). Mọi chuyện đều trôi chảy, khi chúng tôi nhận được Giấy đi đường mới của tỉnh Bình Định, chúng tôi trở ra thì đã gặp anh Hùng đang chờ đợi, cùng nhau trở về Chùa Long Khánh. Chúng tôi phụ thu dọn vật dụng hành lý của gia đình anh Hùng tốt bụng, sau đó toàn bộ chúng tôi rời Quy Nhơn khi ánh nắng bắt đầu rọi chiếu trên khắp thành phố. Tôi và Quan ngồi phía sau thùng xe, chung quanh là đồ đạc hành lý của gia đình anh Hùng. Có lẽ chưa phút giây nào, trên chặng đường vượt thoát, chúng tôi cảm thấy sung sướng và thoải mái như lúc nầy vì chỗ ngồi rộng rãi thoáng mát, xe chạy nhanh, không bị làm phiền vì các người chung quanh. Tôi nói với Quan: “Kỳ nầy về được chắc phải cạo đầu, ăn chay 3 tháng”. Quan cũng biểu đồng tình nhưng còn kèo nài thêm một câu “nhưng phải cho nhậu vài bữa cho đã rồi mới tính, anh Tư”. Tôi trả lời: “Anh Tư chỉ biết phá mồi mà thôi”. Thỉnh thoảng tài xế Hùng từ phía trước nói vói ra phía sau, đại khái cho biết chi tiết lộ trình xe tới đâu v...v...Xe chạy khoảng hơn 2 giờ, tài xế Hùng cho xe dừng lại ở Tuy Hòa Phú Yên (cách Quy Nhơn khoảng 95 cây số) để cùng nhau nghỉ ngơi, ăn uống mọi thứ do anh Hùng đài thọ, lần đầu tiên uống lại một lon cocacola ngon hết biết, chúng tôi nói lời cám ơn cả 2 vợ chồng anh Hùng, lúc đó mới lộ tẩy là thuộc phe ta, Hạ sĩ quan của Trung tâm huấn luyện KQ Nha Trang. Khi đã tỏ tường, lúc đó tôi và Quan mới lộ thân phận thật. Theo Thượng sĩ Hùng thì Nha Trang lọt vào tay Cộng Sản "lãng xẹt", lúc đầu chỉ có 1 vài tên "đặc công" ném lựu đạn (1/4/1975), gây sự hổn loạn, hoang mang, rồi từ tâm lý lo sợ, tinh thần chủ bại do các cuộc rút quân, triệt thoái "vô tổ chức, thiếu chỉ huy" của Quân Đoàn 2 và 1, thế là mọi người "khăn gói quả mướp, kẻ trước người sau, kéo nhau, ùn ùn bỏ chạy, mãi tới ngày 4 tháng 4 năm 1975 Việt cộng mới vào thành phố Nha Trang! Chúng tôi chỉ biết lắc đầu thở dài ngao ngán.Sau 1 tiếng nghỉ ngơi, chúng tôi lại tiếp tục lên đường và đến Nha trang lúc khoảng 4 giờ chiều. Th/sĩ Hùng có mời chúng tôi về nhà mẹ vợ của anh để nghỉ đêm, nhận thấy chúng tôi đã làm phiền gia đình anh quá nhiều, với lại e ngại sự có mặt của chúng tôi sẽ có thể gây phiền toái cho anh, chúng tôi lấy cớ phải đi tìm nhà bà con nên chào tạm biệt. Th/sĩ Hùng còn cố dúi trong tay tôi và Quan mỗi người một ít tiền bảo để dằn túi. Chúng tôi không bao giờ có cơ hội đền đáp những ân tình cao quý như thế; có lẽ phải đợi chờ đến kiếp sau!! Đêm nay chúng tôi xin ngủ nhờ trước hàng hiên một ngôi nhà ở ven đường Độc Lập là đường phố chánh của Nha Trang, trong đêm thỉnh thoảng có những toán tuần tra Việt cộng đi ngang qua nhưng không xét hỏi.Nha Trang, lối về thu ngắn, may mắn lần thứ 7: N+10, 13/4/1975:Buổi sáng sớm, trước khi thành phố Nha Trang bắt đầu một ngày mới trong không khí nặng nề, uể oải, nghi kỵ dưới sự điều hành của những "người chủ mới", chúng tôi ngỏ lời cám ơn gia chủ đã cho ngủ nhờ trước hàng hiên, chúng tôi đi lang thang dọc theo dãy phố ở đường Độc Lập, có tiền trong túi do Thượng sĩ Hùng cho hôm qua, chúng tôi ghé vào một quán cà phê bên đường. Khuôn mặt kém vui của cô chủ quán cũng đủ nói lên tâm trạng thấp thõm âu lo chung của tất cả người dân miền Nam tự nhiên "bị đổi đời" ngoài ý muốn.Khi mang cà phê đến cho chúng tôi, cô chủ quán kín đáo nhìn ra phía cửa rồi hỏi nhỏ: “Hai anh chắc là lính VNCH ở Sài Gòn?” Chúng tôi không trả lời mà chỉ gật đầu. Cô chủ quán nói tiếp: “Đang đánh nhau ở Phan Rang, không biết có giữ được không! Khổ quá, chưa có chi mà bỏ chạy hết”.Tôi thấy đau nhói trong tim bởi câu nói "vô tình" mang lời trách móc cay đắng chua chát như vậy. Lời nói của một cô gái trẻ (20-25 tuổi) có lẽ cũng là lời nói chung cho những người dân từ Quảng Trị đến Nha Trang ở thời điểm nầy, trong nỗi u uất, ấm ức, bực tức không biết điều gì, lý do nào, khiến cho 1 quân lực anh dũng, kiêu hùng, từng trải qua bao cơn sóng dữ trong cuộc chiến bảo vệ đất nước, vẫn hiên ngang tồn tại từ 20 năm qua (1955-1975) nay chỉ chưa tới 3 tuần lễ, đã để mất một phần lớn lảnh thổ của Quốc gia với nhiều đau thương, tang tóc, mà không có bất cứ một thể hiện chứng tỏ tinh thần trách nhiệm do dân và vì dân. Trong chia sẻ chung tâm tư với cô chủ quán, chúng tôi chỉ nói những lời an ủi chiếu lệ kèm theo những hy vọng ảo tưởng nhằm giảm bớt sự phiền muộn cho cô. Hiện tại, chính bản thân của chúng tôi cũng còn chưa biết sẽ đi về đâu, kết cuộc sẽ như thế nào!!!Rời quán cà phê, chúng tôi còn đang phân vân, tiến thoái lưỡng nan vì những tin tức chiến sự liên quan đến mặt trận Phan Rang của Quân đoàn 3. Căn cứ vào các cột cây số, khoảng cách từ Nha Trang đi Ninh Thuận (Phan Rang) chỉ có trên dưới 80 cây số, như thế nếu may mắn có được phương tiện xe để di chuyển thì chỉ trong khoảng 2 giờ đồng hồ sẽ đến vùng đang giao tranh, lúc đó sẽ hậu xét. Tr/úy Quan bàn với tôi trở lại đường cũ, tìm nhà Th/sĩ Hùng Không quân nhờ giúp đỡ, trong khi tôi còn đang lưỡng lự chưa quyết định, có một phụ nữ trung niên trạc 60 tuổi, trên tay là cái giỏ đi chợ, khi bước ngang qua có lẽ nghe giọng nói miền Nam của chúng tôi, nên bà dừng lại, hỏi luôn: “Hai cháu là người Sài Gòn phải không? Đi lính gì vậy?” Thấy bà là người lớn tuổi, gương mặt phúc hậu, nên chúng tôi nói thật với bà về tình cảnh hiện nay, tuy nhiên tuyệt đối chúng tôi không nói rõ cấp bậc cũ. Nghe xong bà bảo chúng tôi đứng chờ, bà đi chợ mua ít món hàng sẽ trở lại ngay. Khoảng 20 phút sau bà trở lại, ra dấu cho chúng tôi đi theo bà, qua một ngả tư là đến một ngôi nhà có lầu, không lớn lắm, phía trước có khoảng sân nhỏ với vài chậu bông (tôi còn nhớ tên là Phường Phương Sài, hiện nay vẫn còn). Bà lên tiếng gọi, phía trong có tiếng một thanh niên trả lời, qua cách xưng hô tôi đoán là con hay cháu của bà, khi cánh cửa được mở ra, bà lên tiếng: “Mẹ gặp hai cậu nầy là lính Cộng hòa giống như con, tội nghiệp, chạy từ Đà Nẳng vào đây.....Khi đã vào hẳn trong nhà, qua sự giới thiệu của bà, được biết người thanh niên đó là con rể, tên Thắng, cấp bậc Tr/úy, Khóa 3 Chiến tranh Chính trị, phục vụ ở Tiểu khu Khánh Hòa (Nha Trang); sau khi thành phố Nha Trang tự nhiên "bỏ ngỏ", Thắng cũng như mọi người khác, phải trốn về nhà hiện nay cũng chưa biết tính sao. Sau màn chào hỏi làm quen, chúng tôi được Thắng chỉ cho nhà tắm, khi trở ra chúng tôi đã có sẳn 2 bộ áo quần còn mới, tương đối vừa vặn, chỉ có điều hơi ngắn so với chiều cao của tôi.Khoảng trưa, chúng tôi được một bữa ăn đầy đủ và ngon miệng, ăn xong chúng tôi, Tr/úy Thắng cùng ngồi ở khoảng sân nhỏ chia sẻ tâm sự. Thắng tỏ ra rất chán chường cũng như không biết phải đưa vợ, con nhỏ đi tỵ nạn ở đâu, vì theo Thắng chạy đâu rồi cũng phải sa vào cái rọ do chính chúng ta tạo ra khi "giá trị tinh thần trong quân đội là yếu tố chính để quân đội chiến đấu giữ gìn bờ cỏi,ngày nay tinh thần vì nước quên mình không còn trong quân lực là do lãnh đạo chỉ biết đến bản thân vv... Tôi không muốn tranh cãi về nhận định có vẻ tiêu cực của Thắng vã lại ngay từ đầu khi gặp bà mẹ vợ của Thắng tôi đã che giấu cấp bậc cũ, nay nói ra thật là bất tiện. Khoảng 3 giờ chiều,chúng tôi đang nằm nghỉ ngơi, bà cụ từ phía trong buồng chạy ra, cho biết vừa nghe trên đài phát thanh thông báo, kêu gọi Sĩ quan và Công chức chánh quyền Sài Gòn đi trình diện trong 3 ngày kể từ ngày mai 14/4/1975. Thấy sự lo lắng thể hiện trong gia đình nên chúng tôi bày tỏ lời cám ơn và xin phép ra đi để tìm phương tiện vào trong Nam. Lòng hiếu khách, sự quyến luyến của tình chiến hữu khiến chúng tôi rời căn nhà trong bùi ngùi vì biết rằng sẽ không bao giờ có cơ hội trở lại để đền đáp mối ân tình từ những con người có trái tim chân chính và thân thiện.Trên đường đi, tình cờ ngang qua chùa Tỉnh Hội, thấy có đông đúc người ra vô nên chúng tôi cũng vào trong quan sát, thì ra nơi đây cũng có rất nhiều dân chạy loạn từ Cam Ranh và Phan Rang đang trú ngụ,thế là bài bản cũ lại được đem ra áp dụng. Chỗ ở, cơm nước thì đã có thí thực của nhà Chùa. Chúng tôi qua đêm tại Chùa nầy, cũng lại nhìn sao trên trời và tiếp tục cầu nguyện.Cam Ranh không đánh mà mất và gặp lại Đ/Úy Hên: N+11, 14/4/1975:Chúng tôi rời Chùa Tỉnh Hội rất sớm, trên đường đi đã thấy xuất hiện nhiều toán người mang băng đỏ ở cánh tay trái,vũ khí trang bị phần lớn là súng M16 của VNCH. Tôi đoán là bọn "ruồi bu" có mặt do hôm nay là ngày kêu gọi trình diện đầu tiên nên chúng hiện diện ở đường phố để "hù thiên hạ". Tôi và Quan quyết định rời Nha Trang ngay lập tức, chúng tôi đi bộ chậm rãi với hy vọng đón được xe xin quá giang về Cam Ranh. Trời không phụ kẻ khốn cùng, sau cùng có 1 xe hiệu Ladalat (xe sản xuất ở Sài gòn trước 1975) đã cho quá giang, không phải trả tiền, chúng tôi về tới Cam Ranh,Phường Cam Nghĩa trước 12 giờ trưa.Đang đi lang thang tại cây số 1, tôi gặp lại Đ/úy Hên và Tr/úy Quân, chúng tôi vô cùng mừng rở, khi nghe tôi kể về tình trạng của Lộc và Phán đã bị bắt giữ, Hên chỉ thở dài nói nhỏ, số mạng cả. Sau đó chúng tôi lại chia tay vì theo lời Hên cho biết là Tr/úy Quân đã tìm được 1 chủ ghe đồng ý vượt biển, tuy nhiên Hên cũng không tin tưởng lắm cho nên không dám rủ tôi đi theo. Sau nầy Đ/úy Hên kể lại đã may mắn thoát chết khi bị du kích địa phương phục kích tại bãi biển chận bắt và nổ súng làm thiệt mạng một số lớn dân chúng (Đ/úy Hên về đến Vũng Tàu trước tôi 2 ngày). Sau khi từ giã Đ/úy Hên, tôi và Quan tiếp tục cuộc hành trình theo QL1, đến khoảng 5 giờ chiều thì gặp một quán nhỏ bên đường, ghé vào hỏi thăm tình hình phía trước, mua mỗi người 4 cái bánh ú để ăn tối nay. Theo lời khuyên của bà chủ quán, chúng tôi cố gắng đi thêm vài cây số cho đến khi gặp được một cái Miếu thờ khá lớn, nằm cạnh một con sông, trong lúc nầy chúng tôi đã nghe văng vẳng xa xa tiếng máy bay. Khi chúng tôi vào trong Miếu thờ thì đụng đầu với một gia đình chạy loạn, cũng vừa mới quay lại, sau khi cả nhà đang tìm về lại quận Du Long thuộc tỉnh Ninh Thuận thì rơi vào vùng đang giao tranh nên chạy bán sống bán chết về đây, chúng tôi chia nhau cùng trú ngụ và qua đêm trong Miếu Thờ.Theo lời kể lại của người đàn ông chủ chiếc xe, thì hiện nay lực lượng Nhảy dù (sau nầy được biết là Lữ đoàn 2 Dù gồm các TĐ 3,5,7,11 và LĐTrưởng là Đ/Tá Nguyễn thu Lương bị bắt làm tù binh trong mặt trận Phan Rang, kể cả Tư Lệnh Tiền phương QĐ3 Tr/Tướng Nguyễn vĩnh Nghi và Tư lệnh Sư đoàn 6 Không quân Phạm ngọc Sang. Biệt động quân Liên Đoàn 31 của Đ/Tá Nguyễn văn Biết và Sư đoàn 2 đã tái chỉnh trang, Phan Rang cũng là quê cha đất tổ của cựu TT Nguyễn văn Thiệu) đang lập phòng tuyến ở Du Long nhằm ngăn chận sự tiến quân của Bắc việt.Trong suốt chặng đường từ Nha Trang đi xuống Cam Ranh, chúng tôi hoàn toàn không ghi nhận bất cứ cuộc chuyển quân nào của phía Bắc Việt, có lẻ sợ bị Không quân ta oanh kích. Trong đêm thanh vắng theo chiều gió, tôi nghe rõ tiếng máy bay rầm rì ở phương Nam, điều nầy khiến cho tôi hy vọng quân ta sẽ mạnh mẽ phản kích chiếm lại những phần đất đã mất, ít ra cũng tới Quy Nhơn (vùng đất mới phân chia lại, theo các tin đồn). Trước khi đi ngủ tôi có dịp trò chuyện với người đàn ông (tôi tin chắc cũng thuộc phe ta nhưng tôn trọng việc riêng tư nên không hỏi), mới biết rằng ở Cam Ranh cũng chẳng có đánh nhau gì cả, tự nhiên di tản hết, rồi sau đó Việt cộng mới vào (ngày 3 tháng 4 năm 1975, Cam Ranh là nơi tập trung dân tỵ nạn và binh sĩ VNCH di tản từ các tỉnh phía Bắc. Cam Ranh bị bỏ ngỏ rồi thì các đơn vị của Sư đoàn 10 Bắc việt mới kéo tới (Trích trong: Cái chết của Nam Việt Nam. Tác giả Phạm kim Vinh. Trang 328 dòng số 21- 25).Suýt chết vì bị Không quân phe ta oanh kích: N+12, 15/4/1975:Mặt trời chưa kịp lên ở phương Đông, chúng tôi vừa mới tỉnh ngủ, bỗng nhiên nghe tiếng máy bay từ xa, ào ào bay tới, tiếng động cơ kêu vang dội trên bầu trời, tôi và Quan vội chạy ra khỏi Miếu thờ để xem chuyện gì đang xãy ra, trong khi cả gia đình của người đàn ông kia, kiếm chỗ trốn sau các bàn thờ; chúng tôi núp sau một thân cây lớn cách Miểu khoảng 20-30 thước. Chúng tôi thấy 2 chiếc A 37 đang xé gió lao xuống theo hướng Tây Bắc qua Đông Nam. Trong phản ứng tự nhiên của 11 năm tác chiến, tôi kêu lớn với Quan: “Chết rồi! Nằm xuống, nó chuẩn bị đánh bom!” Chúng tôi dán mình xuống sát mặt đất và chờ đợi, tiếng rít gió của mấy trái bom nghe rõ như bom sẽ rớt ngay cạnh.Hai tiếng nổ long trời vỡ đất, cách chúng tôi chỉ khoảng 100 - 200 mét ở phía ngoài đường QL1, thì ra ở đó có một cái cầu, bắt ngang qua con sông nhỏ, Không quân oanh kích cây cầu nhằm không cho địch dễ dàng chuyển quân.Sau 3 đợt đánh mà chúng tôi không biết kết quả ra sao, 2 chiếc A 37 bay mất khuất dạng nơi phía Nam (sau này nghe nói 1 trong 2 phi công là ông Lý Tống). Chúng tôi quay trở vào trong Miểu thờ, thì thấy cả gia đình người đàn ông đang quỳ lạy tạ ơn, trước bàn thờ Phật. Sau khi mọi người đã tỉnh hồn vì chuyện máy bay oanh kích, người đàn ông tỏ ý sẽ chở gia đình ông ta về lại Cam Ranh chờ tình hình biến chuyển sau nầy. Chúng tôi ngỏ ý xin đi theo thì được ông ta đồng ý. Thế là chúng tôi trở lại Cam Ranh. Ngôi nhà của thân nhân người đàn ông, ở tại phường Cam Linh TP Cam Ranh, đêm ấy chúng tôi xin người đàn ông ngủ trong xe của ông ta với lý do trông chừng đồ đạc cho gia đình. Tôi và Quan cùng nhau trao đổi về việc quân ta có giữ được Ninh Thuận hay không?Theo suy nghĩ của riêng tôi thì chắc chắn quân lực VNCH phải lập một tuyến phòng thủ vững chắc ở Phan Rang vì đó là quê hương xứ sở cũng là nơi có mồ mã tổ tiên ông bà bao nhiêu đời của TT Thiệu, đồng thời có một phi trường quân sự lớn tại Phan Rang và rất gần với phi trường Biên Hòa cho nên việc không yểm sẽ nhanh chóng, dễ dàng hơn. Chúng rơi vào giấc ngủ với những mệt mỏi, âu lo triền miên vô tận.Đường Đi Đã Tới: (03/28/2012):Phan Rang thất thủ, tạo cơ hội cho vượt thoát bằng đường biển: N+13, 16/4/1975:Khoảng 10 giờ sáng, chúng tôi đang ngồi trao đổi với nhau về chiến trận ở Phan Rang, đột nhiên có tiếng xe Honda thắng gấp, ngừng trước nhà, một thanh niên trẻ hấp tấp, chạy vào nhà kêu lớn: “Anh Bình, Phan Rang đã mất rồi!” (Lúc nầy chúng tôi mới biết tên thật của chủ nhà). Mọi người trong nhà cùng kéo nhau chạy ra gặp một thanh niên trẻ, với các câu hỏi dồn dập: “Phan Rang mất thiệt không, ai nói?” Cậu thanh niên sau khi hết thở dốc chậm rãi kể lại: “Khoảng 10 giờ sáng, tại các phố chợ Cam Ranh, Việt cộng cho rất nhiều người, chạy xe gắn máy với các loa cầm tay, thông báo là họ đã chiếm được Phan Rang”. Nghe xong tin tức, tôi không biết nên vui hay buồn. Cảm nhận và phán đoán của tôi hoàn toàn sai, sự sụp đổ từng mãng các tuyến kháng cự của quân lực VNCH, đặc biệt là phòng tuyến Phan Rang, nơi có mối liên hệ sâu đậm với TT Thiệu còn không giữ được thì rõ ràng đó là những chỉ dấu cuộc chiến đang đi vào thế "bất lợi" nếu người Mỹ và Quốc tế không can thiệp như thỏa thuận đã ký kết trong Hiệp định ngưng bắn 27/1/1973. Trong khi tôi còn đang suy nghĩ vẫn vơ, ông Bình la lối, thúc hối vợ con mau chóng lên xe để chạy về Phan Rang nhằm biết tin tức Cha, Mẹ ông còn kẹt lại. Lẽ dĩ nhiên tôi và Quan cũng tháp tùng, khi xe đến Miếu thờ, chạy qua cây cầu, hôm qua đã bị Không quân ta oanh kích, cầu vẫn còn nguyên vẹn, ngoại trừ các hố bom chung quanh cách cầu 50-100 mét. Tôi suy đoán cuộc oanh kích chỉ nhằm giải tỏa bom để trở lại căn cứ cho nhanh.Khoảng 11g 30 trưa, xe tới quận Du Long thì phải chạy chậm lại, vì trên đường ngoài các đoàn xe chở quân tăng viện của Bắc Việt từ hướng QL20, QL21 đổ xuống, còn có rất nhiều xe dân sự hồi cư. Cuối cùng anh Bình ngừng xe ở ngoại ô TP Phan Rang, chỉ đường cho chúng tôi, trước khi xe chạy anh chỉ nói võn vẹn 5 chữ: “phe ta, chúc may mắn”.Bến cá phường Tấn Thành, Phan Rang. Lần may mắn sau cùng. N+14, 17/4/1975:Chúng tôi đi bộ, từ từ vào thành phố Phan Rang, mọi ngã đường đều có quân Bắc Việt hiện diện mà không kiểm soát dân chúng đi qua lại, riêng các công sở cũ đều có lính BV canh gác với cờ ngụy trang là MTGPMN. Đang đi gần đến một tòa nhà lớn, chúng tôi thấy một đám đông dân chúng, đổ xô chen lấn chạy vào trong, với những tiếng la hét, kêu réo: “Vào lấy gạo, vào lấy gạo, nhiều lắm v..v..” Tôi và Quan nhìn nhau, rồi không ai bảo ai tự động chạy theo sau đám đông, vào trong chúng tôi thấy có rất nhiều bao gạo loại 50 kg, chất chồng cao đến gần đụng trần nhà. Tôi và Quan mỗi người kê vai, vác ngay 1 bao gạo (lúc nầy chưa tới 30 tuổi nên vác bao gạo 50 kg là chuyện nhỏ) và chạy trở ra lối cũ, băng qua đường, xong bỏ 2 bao gạo xuống. Quan nói nhanh: “Anh Tư coi chừng, em chạy đi lấy một bao nữa.” Khoảng 10 phút Quan trở lại với một bao gạo khác trên vai, phía sau lại có thêm 4 người cũng đang vác gạo. Khi đến chỗ tôi đang đứng, lúc tôi còn chưa biết những người theo sau Quan là ai thì đã nghe: “Thiếu tá, tụi em ở Tiểu đoàn 9”. Cả người tôi run lên, một luồng điện chạy dài từ đỉnh đầu xuống tận chân, trong một cảm giác khó diễn tả; lần đầu tiên sau 18 ngày sa cơ thất thế, giấu diếm thân phận, mang một tên giả hoàn toàn xa lạ, nay bỗng có người “gợi lại giấc mơ xưa” bảo sao tôi không bồi hồi, sung sướng trong ngạc nhiên. Thầy, trò, kéo nhau núp sau các hàng cây to trao đổi tin tức.Trong số 4 người có Th/úy Trung là Trung đội Trưởng Trung đội 3 ĐĐ1 của Tr/úy Quan. 3 người còn lại thì có Hội là người quê quán tại Phan Rang, còn 2 quân nhân kia (không còn nhớ tên) quê quán ở Bình Tuy chung với Th/úy Trung, cả 4 người cũng mới vừa nhập vào Phan Rang, trước chúng tôi khoảng 1 giờ. Phần Hội khi nghe chúng tôi nói ý định tìm phương tiện ghe đi biển để vượt thoát về phía Nam thì Hội đã sốt sắng mời tôi và Quan theo Hội về nhà; cùng lúc ấy có vài ba thương buôn đến hỏi mua gạo, họ ra giá khá cao là 10.000 đồng cho mỗi bao gạo 50 kg, thế là chúng tôi có được 30.000, khi nhận tiền xong, Quan đưa thêm cho tôi 5000 bảo để dành, phòng khi anh Tư cần đến.Việc buôn bán gạo vừa xong, chúng tôi chia tay với Th/úy Trung và 2 quân nhân kia. Phần chúng tôi đi theo Hội, đi được khoảng 100m, chúng tôi nghe có nhiều tiếng xe gắn máy chạy đến chỗ mấy người vừa mua gạo, nhìn lại thấy họ có mang vũ khí, thế là chúng tôi đi thật nhanh và quẹo qua đường khác theo hướng dẩn của Hội. Sau khi đi bộ khoảng 15 phút, qua rất nhiều đường phố, chúng tôi tới một căn nhà trệt nhỏ nằm trong một hẽm lớn, đây là nhà cha mẹ của Hội. Sau phần giới thiệu của Hội, chúng tôi được cha mẹ và cả gia đình dành cho sự tiếp đãi nồng nhiệt, ân cần, thân mật, sau đó việc ăn uống, tắm rửa, nghỉ ngơi đều chu đáo, đầy đủ. Buổi chiều tối, chúng tôi có dịp ngồi nói chuyện riêng với ba của Hội khi biết chúng tôi có ý định tìm phương tiện vượt biển để về Nam, ông đã sốt sắng tán thành và hứa ngày mai ông sẽ đi tìm các người bạn quen, có ghe đi biển, để lo cho chuyến đi của chúng tôi. Theo ông, thì TP Phan Rang mới bị "tiếp thu" (ông tránh dùng chữ "giải phóng" vì sợ làm phiền lòng chúng tôi), việc kiểm soát còn lỏng lẻo nên việc vượt thoát bằng đường biển có mức độ thành công rất lớn. Ông khuyên chúng tôi yên lòng đi ngủ, các chuyện khác để ông lo.Thời điểm nầy Ba của Hội vào khoảng 45-50 tuổi cho nên tôi gọi bằng anh. Tôi và Quan ngủ trong một chiếc mùng lớn, trắng tinh, còn thơm mùi xà bông giặt, bên ngoài tiếng muỗi bay vo ve, tôi khẽ bảo với Quan: “Hết cơn bỉ cực đến hồi thới lai”. Chúng tôi chìm vào giấc ngủ với mộng đẹp hội ngộ và đoàn tụ. Khi chúng tôi thức dậy thấy Hội đã ngồi chờ sẳn, hướng dẩn chúng tôi đi rửa mặt, xong xuống bếp nơi đã có 2 tô hủ tiếu và 2 ly cà phê đen. Chúng tôi ngỏ lời cám ơn Hội, trong khi chúng tôi đang ăn, Hội báo cho biết, Ba của Hội đã ra đi từ sáng, để lo việc kiếm ghe đi biển cho chúng tôi, Ba của Hội cũng căn dặn chúng tôi phải ở trong nhà chờ kết quả, không nên đi ra đường.Khoảng giữa trưa trong dáng điệu hấp tấp nhưng nét mặt thì vui vẻ, rạng rỡ, ông ra dấu cho tôi, Quan theo ông vào buồng ngủ, nói nhỏ bên tai chúng tôi, báo cho biết là đã tìm được một chủ ghe chịu chở về Vũng Tàu với giá là 10.000 đồng một người. Ông hỏi chúng tôi có tiền hay không,nếu không có thì ông sẽ tính cho. Chúng tôi cám ơn lòng tốt của ông, cho ông biết chúng tôi có đủ tiền (do bán gạo đã lấy được) để trả cho chuyến đi.Thế là chúng tôi giao cho ông 20000 để ông đi thanh toán cho chủ ghe là người quen biết với ông nên chúng tôi không phải lo bị lường gạt. Ông lại ra đi và trở về khoảng 1 giờ sau. Ông cho biết chuyến đi sẽ bắt đầu lúc 3 giờ chiều. Ông khuyên chúng tôi ăn cơm sớm và đi nghỉ dưỡng sức cho chuyến đi. Chúng tôi làm sao có thể an tâm nghỉ ngơi được trước canh bạc sau cùng nầy, 1 canh bạc "được ăn cả, ngã về không", bao nhiêu công sức, mồ hôi với những ân tình không còn cơ hội đền đáp, trên suốt chặng đường vượt thoát đã qua.Cả hai chúng tôi không thể nào ăn hết chén cơm với những món ăn đặc sản do các chị của Hội, trong đó tôi còn nhớ có cô Loan với đôi mắt to, đen láy, trên khuôn mặt lúc nào cũng đượm một nét buồn (qua lời kể của Hội, cô Loan có người yêu là 1 Th/úy Biệt động Quân, khi Phan Rang thất thủ, cho tới khi chúng tôi tới nhà, cô chưa có được tin tức về Th/úy BĐQ đó). Khoảng 2 giờ 30, chúng tôi rời nhà, sau khi cám ơn, chào từ biệt mẹ và các chị của Hội. Theo sự dẩn đường của ba Hội và Hội, đi khoảng 30 phút, chúng tôi tới một khu vực có một tấm bảng ghi Bến cá phường Tấn Thành, ba của Hội bảo chúng tôi vào trong quán cà phê, kêu nước uống và chờ ông trở lại, trong khi Hội thì đi vòng vòng bên ngoài quan sát động tỉnh, vào trong quán tôi nói ngay với Quan:- Anh thấy chuyến đi nầy sẽ thành công vì đã có điềm báo trước của 2 chữ Tấn Thành.Tôi giải nghĩa nhanh cho Quan:- Tấn là tới, thành là đạt được có nghĩa là đi tới sẽ thành công.Quan trả lời:- Hy vọng giống như anh Tư nói.Uống chưa hết ly cà phê thì đã thấy ba của Hội và Hội đã xuất hiện trước cửa quán, ra dấu hiệu cho chúng tôi rời quán, Quan nhanh chóng trả tiền, tôi và Quan lẻo đẻo theo sau, chúng tôi tới một bến đậu của một con thuyền có chiều dài từ 10 mét-15 mét, hiện đang có vài phụ nữ đang đi xuống thuyền bằng tấm ván bắt ngang.Ba của Hội ngừng lại, nắm tay tôi và nói nhỏ: “Th/tá xuống thuyền đi và chúc Th/tá đi bình an”. Tôi cám ơn và khi Hội đến bắt tay tôi từ giã, tôi rút vội số tiền còn lại trong túi (5000$) nhét vào tay Hội, đi xuống thuyền và phía sau là Quan với nét mặt buồn buồn. Khi vào trong thuyền, chúng tôi được ông chủ thuyền hướng dẩn đi thẳng về phía sau gần buồng lái, ông ta nói, cho phụ nữ và trẻ con ngồi phía trước để dễ qua mặt bọn canh gác ở đầu vàm (nơi sông đổ ra biển).Khoảng gần 4 giờ chiều, thuyền bắt đầu rời bến với tổng số trên 20 người cùng đi. Thuyền chạy chầm chậm trên sông, hướng ra biển khoảng 15 phút, thuyền phải chạy chậm lại, chủ thuyền phải trả lời các câu hỏi của các “lính Bắc Việt” đang đóng chốt tại đầu vàm. Sau khi lên tiếng hăm dọa sẽ bắn theo nếu thấy thuyền chạy về hướng Nam, chúng để thuyền tiếp tục chạy, từ từ tăng tốc độ, đến khi ra đến biển, sóng đánh nhấp nhô đưa con thuyền lên xuống, ông chủ tàu hỏi trống không:- Bây giờ đổi hướng được chưa?Tôi và Quan cùng cười nói:- Đổi đi, bây giờ nó có bắn thì trúng hà bá, chứ làm sao trúng tụi mình được.Quan xoay người lại nắm lấy tay tôi lắc lắc và nói “Mình thoát rồi anh Tư ơi!” trong nghẹn ngào của mừng vui.Thuyền chỉ chạy cách bờ khoảng 3-5 cây số cho nên chúng tôi có thể quan sát thấy rõ cảnh vật xa xa trong bờ. Khi thuyền vừa đi ngang Mũi Né (chủ thuyền cho biết), lúc khoảng 6 giờ chiều, chúng tôi chứng kiến màn "đấu súng" giữa các chiến hạm của Hải quân cùng với quân chánh quy Bắc Việt từ trong bờ bắn ra, nơi đây thuộc tỉnh Bình Thuận, thuyền chúng tôi đang chạy ở giữa 2 lằn đạn nếu xui xẻo có trái đạn nào ngắn tầm thì thiệt là số con rệp, chúng tôi nghe trong khoan phía trước mũi thuyền, đủ các loại kinh cầu nguyện của mấy chị phụ nữ đọc to, át cả tiếng sóng vỗ vào mạn thuyền.Khoảng giữa khuya, thuyền chạy tới đảo Phú Quý, nơi đây thuyền phải ngừng lại, cặp vào các thuyền xi măng của Hải quân để cho Hải quân kiểm soát an ninh. Chúng tôi thực sự an tâm thở phào nhẹ nhõm vì biết chắc chắn chúng tôi đã ở trong hải phận an toàn của VNCH. Tôi tạm ngã lưng vào vách thuyền, ngước mắt nhìn bầu trời cao mênh mông với muôn vàn ánh sao chiếu lấp lánh, trong đó ánh sao nơi phương Nam bây giờ hào quang sáng chói, trông thật gần gũi, đáng yêu của niềm hân hoan sum họp và đoàn tụ.Long Hải-Vũng Tàu. Ánh sao Phương Nam, đường đi phải tới: N+15, 18/4/1975:Mặt trời chưa ló dạng nơi phương Đông cũng là lúc tôi bị say sóng, nằm vật vã phía sau gần đuôi thuyền để tránh làm dơ thuyền.Thuyền chạy gần 24 giờ thì vào hải phận Vũng Tàu, tuy nhiên vì lý do an ninh, nên tất cả các thuyền từ phía Bắc về, đều phải ghé bến vào Long Hải. Khoảng 3 giờ chiều, chúng tôi đặt chân lên mảnh đất tự do Long Hải. Luồng gió mát lạnh mang mùi hăng hắc của muối, cùng nỗi mừng vui của vượt thoát thành công và trở về từ cỏi chết, làm tan biến ngay các cơn say sóng mới cách đây không lâu. Ôi tự do ta chào mi! Tôi thầm nói với chính mình: “Ba đã về với các con”.Bước lên bờ, vừa đi được một khoảng đường ngắn thì đã bị hỏi thăm sức khỏe bởi 2 quân cảnh Bộ binh, sau khi cho biết lai lịch và ý định của chúng tôi là muốn về Hậu cứ TĐ4 TQLC ở Vũng Tàu, họ cho đi và vẫy tay chào tạm biệt. Khoảng 30 phút sau chúng tôi xuống xe, ngay trước cổng ra vào của TĐ4 (Trại Hoàng hoa Thám). Quan vội vã lấy tiền trả cho người lái xe ôm vì biết tôi không còn tiền. Chúng tôi đi vào trạm canh của toán trực gác, nơi đây giờ nầy chỉ có 1 người đang làm nhiệm vụ, khi nghe chúng tôi muốn gặp NT Th/tá Trần ngọc Toàn Tiểu ĐoànTrưởng TĐ4 TQLC, người lính đang gác cổng hỏi lại là chúng tôi gặp Th/tá Toàn làm gì (trong khi trước đó tôi đã tự giới thiệu chúng tôi là ai). Có lẽ nhìn cách ăn mặc không giống ai, cộng thêm nét phong trần, tiều tụy của chúng tôi nên “lính ta” mới giỡn mặt. Tôi lập lại một lần nữa cấp bậc và chức vụ của tôi và yêu cầu đương sự gọi điện thoại thông báo ngay cho Th/tá Toàn, lần nầy thấy tôi có vẻ quạo nên đương sự quay điện thoại ngay, trong khi Tr/úy Quan đứng kế bên lầm bầm “lính vô kỷ luật”. Khoảng 5 phút sau, NT Toàn lái xe ra, tay bắt mặt mừng, xong bảo tôi và Quan lên xe chở vào BCH/TĐ để dùng điện thoại báo cho BTL/ Sư đoàn HQ biết sự trở về của tôi và Quan. Nhìn quanh tìm kiếm người lính gác đã biến mất dạng, thay thế là một Hạ sĩ quan lớn tuổi, có lẽ là trưởng điếm canh. Tôi cũng bỏ qua, không kể lại câu chuyện đó cho Th/tá Toàn. Khi vừa uống xong 2 lon Cocacola, chúng tôi được NT Toàn chở đến BTL/HQ đóng ở bãi Dâu trong căn cứ của quân đội Úc trước kia. Tại Trung Tâm HQ (TOC) tôi gặp rất nhiều người quen biết, mọi người đều chúc mừng cho sự trở về của chúng tôi, nhờ thế mới biết là Đ/úy Hên về trước chúng tôi 2 ngày, Th/úy Xuân thì về sớm hơn bên cạnh đó cũng đã có khoảng 100- 200 các quân nhân khác của TĐ9 trở về an toàn, hiện nay đang bổ sung tạm về các Tiểu Đoàn 14 và 16. Chúng tôi nhận lại quân trang, quân phục đầy đủ (do cố Trung Tá Nhiều Trg/P4 cung cấp. (Trên đường di chuyển Tù (Sĩ quan cấp Tá tháng 6/1976) từ Bãi Cháy, Hải Phòng lên Yên Bái, để vào Sơn La Bắc Việt, trong các toa xe lửa chở Tù đóng kín, Tr/tá Nhiều đã tự sát).Khoảng 7 giờ tối, tôi vào trình diện Thiếu Tướng Tư Lệnh, sau khi thuyết trình các điều mắt thấy, tai nghe, trên suốt chặng đường vượt thoát. Tôi nhận lệnh thành lập lại TĐ9 sau 3 ngày nghỉ phép. Tôi có xin Th/tướng Tư lệnh gởi công điện cho các đơn vị, hoàn trả tất cả các quân nhân thuộc Tiểu Đoàn 9 TQLC, trở về hậu cứ ở căn cứ Sóng Thần Thủ Đức để tái lập lại đơn vị.Khi trình diện xong, vừa bước ra ngoài, đã có NT Tr/tá Nguyễn Văn Phán (TĐT/TĐ/THD) cùng một số các sĩ quan quen biết (Th/tá L.Đ.Bảo, Đ/úy L.V.Châm là bạn cùng K17TĐ) đang chờ sẳn, chở chúng tôi ra chợ Vũng Tàu, đãi ăn một buổi tối thật ngon miệng (nhân đây xin được cám ơn NT Phán cùng các bạn có mặt trong buổi cơm tối đầy tình nghĩa chiến hữu, kỷ niệm của 37 năm trước nhưng Tây Đô và Tr/úy Quan vẫn nhớ như là mới đây. (Trích thư của Tr/úy Quan: Trung tá Phán bảo Tây Đô và tôi cứ ăn uống thoải mái, bù đắp lại những ngày vất vả ở miền Trung).Sau buổi cơm tối, tôi trở về TTHQ (TOC) dùng điện thoại viễn liên liên lạc với Tr/úy Trung (CHHC/TĐ9) chỉ thị thông báo cho gia đình sự trở về của tôi. Ngã lưng trên chiếc ghế bố dã chiến để trong một góc của TOC, toàn bộ ký ức, cuốn phim tìm về phương Nam của 20 ngày từ tù binh, vượt thoát và thành công lần lượt trở về trong hồi tưởng. Đoạn đường dài 700 cây số, bao gồm biết bao gian nan, cực khổ, hồi hộp, lo sợ, bên cạnh là các chân tình của những con người không quen biết nhưng có trái tim nhân ái, rộng mở, đầy ắp tình người cũng là một trong những nhân tố quan trọng giúp cho giấc mơ Phương Nam: Ánh sao nơi cuối trời đã trở thành hiện thực. Tôi rơi vào giấc ngủ, trong văng vẳng tiếng hờn ai oán, kêu đòi khúc kèn truy điệu cùng lá cờ tổ quốc thân yêu của các oan hồn tử sĩ còn vất vưởng đâu đây của biển trời Thuận An, Huế, Mỹ Khê, Non Nước, Đà Nẵng và còn nhiều, nhiều nữa!.....Xin dành một vài giây phút tưởng niệm những chiến sĩ đã hy sinh trong cuộc chiến vinh quang nhưng nhiều máu và nước mắt của 1 thời chinh chiến (1964-1975).Thay lời kết: Năm 1980 trong lần được "thăm tù" duy nhất, tại Trại A Hà Nam Ninh, Phủ Lý Nam Định, Bắc Việt, bởi mẹ và anh. Khi chia tay, mẹ nói nhỏ vào tai tôi: “Số con là số phải ở Tù, Chạy Trời không khỏi Nắng!”(Sau đó bà vượt biển thành công, được định cư ở Mỹ từ năm 1984, bà mất năm 2003).Ghi chú cuối bài: Xin chân thành cám ơn quý cựu quân nhân Tiểu đoàn 9 TQLC và bạn hữu liệt kê dưới đây về những đóng góp “ký ức quý báu” giúp cho bài tự thuật trung thực, chính xác, không cường điệu, không hư cấu. Đa tạ tất cả quý chiến hữu.1) Cựu Th/tá Nguyễn văn Lộc TĐPhó/TĐ9 (K17TĐ) (Florida, US)2) Cựu Đ/úy Lưu văn Phán ĐĐT/ĐĐ4/TĐ9 (Hawaii, US)3) Cựu Tr/úy Trương chí Công ĐĐT/ĐĐ2/TĐ9 (Philadelphia, US)4) Cựu T/úy Trương phước Dĩnh SQTT/TĐ9 (Georgia, US)5) Cựu T/úy Dương minh Xuân SQ Ban 2 TĐ9 (Houston Texas, US)6) Cựu T/úy Nguyễn vũ Tuệ SQ Ban 5 TĐ9 (Westminster CA, US)7) Cựu Đ/úy Trần văn Hên ĐĐT/ĐĐDH/TĐYTTB (Georgia, US)8) Cựu Tr/úy Lưu minh Quan ĐĐT/ĐĐ1/TĐ9 (Việt Nam)9) Cựu Tr/úy Trương văn Ba ĐĐT/ĐĐ3/TĐ9 (Việt Nam)10) Cựu Đ/úy Lê hồng Quang ĐĐT/ĐĐCH/TĐ9 (Việt Nam)11) Cựu T/úy Hồ Khen SQ Ban 4/TĐ9 (Việt Nam)12) Cựu Tr/úy Nguyễn văn Tuấn PĐT/Pháo đội C/TĐ1 PB/TQLC (San Jose, CA)13) Cựu Tr/sĩ Vũ văn Tám, Hậu trạm TĐ9 (Việt Nam)14) Cựu Hạ sĩ Nguyễn văn Dần, Biệt kích (Việt Nam)15) Cựu Hạ sĩ Nguyễn công Ba, Truyền tin ĐĐ1/TĐ9 (Việt Nam).Riêng cựu Đ/ĩy Đoàn văn Tịnh Trg/Ban 3 TĐ9 đã có đóng góp ký ức trong bài Trận chiến sau cùng của TĐ9.Cựu Mũ Xanh Tây Đô Lâm tài ThạnhCựu Thiếu tá Tiểu đoàn Trưởng TĐ9 Mãnh HổThủy Quân Lục Chiến
Login - Sign in to Yahoo
Sign in to access the best in class Yahoo Mail, breaking local, national and global news, finance, sports, music...
Cô chỉ nói một câu trong một cửa hàng ở làng quêGiờ đây, ở một đất nước độc tài nào đó, không chỉ một mà nhiều người cũng sẽ bị rơi vào địa ngục như bà, bởi một câu nói rất thẳng và thật!___________________Cô chỉ nói một câu trong một cửa hàng ở làng quê. Và cái giá phải trả là bốn năm trong địa ngục.Ngày 10 tháng 8 năm 1940, tại Mötz, một ngôi làng nhỏ ở vùng Tyrol.Nữ tu Angela Maria Autsch bước vào cửa hàng để mua sữa. Bà 40 tuổi, thuộc dòng Trinitarian, đã sống trong tu viện bảy năm.Trong cửa hàng, bà gặp vài người quen. Họ đang nói về chiến tranh. Một con tàu Đức vừa bị đánh chìm ngoài khơi Na Uy, nhiều thủy thủ đã thiệt mạng.Nữ tu Angela nói: “Hitler là một tai họa đối với châu Âu.”Chỉ một câu. Một câu nói thật. Trong một cửa hàng. Với những người bà quen biết.Một trong số họ đã tố cáo bà với Gestapo.Hai ngày sau, Gestapo đến bắt bà.Tội danh: “xúc phạm Führer” và “kích động nổi loạn.”Không xét xử. Không luật sư. Không cơ hội tự bào chữa.Bà bị đưa đến trại tập trung Ravensbrück concentration camp. Tù nhân số 4651. Tam giác đỏ. Tù nhân chính trị.Bà 40 tuổi. Một nữ tu đã dành cả đời dạy trẻ mẫu giáo và chăm sóc người bệnh.Giờ đây bà ở trong một nơi được tạo ra để hủy diệt con người.Và bà bắt đầu hành động ngay lập tức.Bà làm việc tại khu y tế. Chăm sóc phụ nữ mang thai. Chăm sóc những người đang hấp hối. Lén lấy thuốc từ kho của SS và chuyển cho các tù nhân bệnh. Lấy trộm xà phòng. Lấy thức ăn thừa. Rồi cho đi tất cả.Bà thường xuyên bị lính canh đánh đập. Nhưng bà vẫn mỉm cười.Một tù nhân sau này nói: “Nụ cười và lòng can đảm của bà là một tia nắng giữa địa ngục sâu thẳm.”Tháng 3 năm 1942, Đức Quốc xã chuyển bà đến một trại mới đang được xây dựng.Auschwitz concentration camp.Bà làm việc tại khu y tế, điều trị cho những phụ nữ đang chết dần vì sốt phát ban, đói khát, đòn roi và các thí nghiệm y khoa.Tại đây, bà gặp Margarita Schwalbova, một bác sĩ Do Thái đến từ Slovakia. Bị giam vì là người Do Thái. Bị buộc làm việc trong bệnh xá trại. Một người vô thần đã mất hết hy vọng.Một ngày nọ, nữ tu Angela bước đến gần bà. Nhẹ nhàng vuốt tóc bà. Không nói một lời. Chỉ là một cái chạm đầy dịu dàng.Phẩm giá con người được trao lại cho một người đã bị tước đoạt tất cả.Bác sĩ Schwalbova không bao giờ quên điều đó.Họ trở thành bạn. Một bác sĩ Do Thái vô thần và một nữ tu Công giáo. Trong Auschwitz. Giữ cho nhau sống tiếp.Khi Schwalbova bị bệnh, Angela chia sẻ khẩu phần ít ỏi của mình. Điều này bị cấm tuyệt đối và có thể bị xử tử. Nhưng bà vẫn làm.Tháng 5 năm 1943, SS chuyển bà đến bệnh viện của chính họ làm y tá. Bà chăm sóc cho chính những kẻ đã hành hạ mình, những người đã đánh bà, những kẻ điều hành các buồng hơi ngạt.SS đưa ra một đề nghị.Từ bỏ lời khấn. Rời bỏ đời sống tu trì. Họ sẽ thả bà. Bà có thể về nhà.Bà từ chối.Bà đã tuyên khấn với Chúa. Bà không phá bỏ lời hứa đó để thoát khỏi trại của Đức Quốc xã.Bà ở lại thêm 19 tháng nữa.Các tù nhân bắt đầu gọi bà bằng một cái tên.Thiên thần của Auschwitz.Câu chuyện của bà lan khắp các barrack. Tù nhân Do Thái, Ba Lan, người Roma, tù nhân chính trị. Ai cũng biết về nữ tu Công giáo luôn mỉm cười với bạn khi bạn đang hấp hối.Ngày 23 tháng 12 năm 1944, quân Đồng Minh ném bom khu công nghiệp Auschwitz.Bà đang ở trong bệnh viện, chăm sóc bệnh nhân.Một mảnh đạn xuyên qua ngực bà.Bà chết ngay lập tức.Thi thể của bà bị thiêu trong lò hỏa táng của trại, cùng những lò đã thiêu hơn một triệu người Do Thái.Ba mươi bốn ngày sau, Hồng quân Liên Xô giải phóng Auschwitz.Bà đã lỡ ngày tự do đúng 34 ngày.Bà 44 tuổi.Điều khiến câu chuyện này trở nên đau lòng là:Bà không tổ chức kháng chiến. Không che giấu người Do Thái. Không buôn lậu vũ khí.Bà chỉ nói một câu. Trong một cửa hàng làng quê. Với những người quen.“Hitler là một tai họa đối với châu Âu.”Và bà đã trải qua bốn năm trong các trại tập trung. Bị đánh đập. Mắc bệnh. Chứng kiến hàng ngàn cái chết. Và chết trước ngày tự do chỉ 34 ngày.Chỉ vì một câu nói.Đó chính là bản chất của chế độ toàn trị. Không chỉ là trại tử thần, mà là một hệ thống nơi việc nói ra sự thật trong một cửa hàng cũng có thể khiến bạn mất tất cả.Bác sĩ Schwalbova đã sống sót. Trở về Slovakia. Làm việc như một bác sĩ. Và kể cho mọi người nghe về nữ tu đã vuốt tóc bà khi mọi hy vọng đã biến mất.Tháng 5 năm 2018, Pope Francis tuyên bố Angela là “Đáng kính”, bước đầu trong tiến trình phong thánh.Nhưng bà vẫn gần như vô danh.Phần lớn mọi người chưa từng nghe về bà. Tu viện của bà ở Áo vẫn gìn giữ ký ức. Có vài cuốn sách bằng tiếng Đức. Chưa có nhiều tài liệu phổ biến rộng rãi.Thiên thần của Auschwitz. Đã qua đời hơn 80 năm. Vẫn chờ thế giới nhớ đến.Angela Maria Autsch. 44 tuổi. Chết tại Auschwitz. Vì đã nói một câu sự thật.Nữ tu đã vuốt tóc một bác sĩ Do Thái...* Pycop by fb:(Fb My Lan Pham)Đại sát thủ Polonium là ai?Chất cực độc Polonium-210 là chất do bà Bác Học Marie Curie khám phá. Chử Polo, là Poland, viết tắt tên quê hương của bà. Vài năm sau, con gái bà chết vì ung thư máu, và giới khoa học tin rằng con bà cũng vì nhiễm chất độc này do chính bà khám phá.Polonium 210 không mùi vị, không màu sắc và cực độc gấp triệu lần chất hydrogen cyanide, thứ chất độc mà các điệp viên ngậm trong miệng, khi bị bắt thì cắn vỡ để tự tử, tránh tiết lộ khi bị tra tấn. Điều đáng sợ là đến nay, chưa có cách nào khám phá ra chất này nếu sát thủ tìm cách dấu, đem vào một quốc gia nào đó để ra tay. Điều đáng mừng là cho dù ở gần nạn nhân, thí dụ ông Trần Đại Quang, Nguyễn Bá Thanh, hay ông Nguyễn Chí Vịnh bị nhiễm Polonium-210, thì những người thân, gia đình chung quanh ông không bị nhiễm phóng xạ mà lây bệnh. Tuy nhiên, nếu các chất lõng, máu, nước miếng, nước tiểu từ ông Quang hay ông Vịnh mà thấm vào trong người bất cứ ai qua nhiều ngõ ngách, thì người đó coi như sẽ bị nhiễm độc, và tuỳ theo liều lượng mà chết theo ông Quang ông Vịnh luôn. Trường hợp ông Arafat, lãnh tụ của Palestine cho thấy họ bôi trên bàn chải đánh răng, khi đánh răng thì chất Polonium thấm vào máu, và từ đó hủy diệt các cơ phận, tế bào. Đối với điệp viên Litvinenko, thì sát thủ pha vào trong bình trà, khi ông uống thì nó đi vô dạ dày, ngấm vào trong máu, chỉ có 3 tuần sau thì chết. Polonium-210 cũng có thể như một dạng bột, chỉ cần rải một nấm nhỏ như muối vào thức ăn là người ăn sẽ đi xuống điạ ngục. Không một thứ thuốc nào có thể chửa bệnh khi con bệnh bị nhiễm Polonium.Giờ ra tay hạ độc thủ rất dễ nếu thủ đắc Polonium trong tay. Sát thủ chỉ cần bỏ vài giọt trong bình trà, cafe, bia rượu hay rải trong bình đựng muối , thì coi như xong chuyện. Một khi Polonium đi vào cơ thể, thấm vào máu rồi thì gia đình nên chuẩn bị sắm hòm, tìm đất chôn, chuẩn bị ma chay. Nói trước các đồng chí csVN liệu mà tính, đừng có chết nhiều quá thì tốn đất, tốn tiền, làm đình làm đám, suốt ngày mướn thầy chùa, tụng kinh gõ mõ cũng làm phiền tới nhân dân Việt Nam lắm.Fb. Đỗ T. Công
Những quốc gia đồ tể.Người ta thích Iran? Được thôi, đó là cá nhân. Nhưng bảo thích Iran vì họ có thiện cảm với phong trào cộng sản thì đúng là nực cười.Trong bài viết " Hổ Khiếu Sơn Hà " em viết rằng : https://www.facebook.com/share/p/1NckZZnk8D/Không như Triều Tiên hay Cuba, vốn chỉ ghét Mỹ. Iran thuộc loại nhà nước cá biệt của cá biệt: ghét tư bản, ghét luôn nhà nước xã hội chủ nghĩa, ghét cộng sản, ghét Do Thái, ghét vô thần, ghét tất cả các tôn giáo ngoại trừ dòng Shia.Rất hiếm, nếu không muốn nói là không có quốc gia nào trên thế giới này coi tất cả các quốc gia khác là kẻ thù như Iran.Iran chống Liên Xô, chống tư tưởng cộng sản, chống tư bản. Chống luôn các quốc gia trong khu vực Arab theo dòng Hồi giáo Sunni.Thật vậy, Rùa em khẳng định chính quyền hiện nay của Iram là một loại nhà nước phản nhân văn nhất trong hệ thống quốc gia trên thế giới này.Sau 1979, có một đám người vẫn ôm ảo tưởng Iran là chống Mỹ, vậy chắc cũng có chút thiện cảm với cánh tả - cộng sản. Nhưng thực tế chế độ Hồi giáo Iran coi cộng sản là thứ cần phải xóa sổ – và họ đã làm đúng như vậy ở cấp độ cay độc nhất.Giai đoạn 1981–1983, chiến dịch đàn áp bắt đầu. Đảng Tudeh - đảng cộng sản lớn nhất Iran bị đập nát. Lãnh đạo bị bắt, tra tấn, ép nhận tội gián điệp. Hàng nghìn người bị tống vào tù.Nhưng cái mốc phải nhớ là 1988.Một sắc lệnh từ Khomeini biến cả hệ thống nhà tù thành dây chuyền giết người. gọi từng người ra, hỏi vài câu "có tin vào Thượng đế không?", "có từ bỏ tư tưởng cũ không?" bất kể là người cộng sản, hay cấp tiến, trả lời sai đều chết. Khomeini lập lên cái gọi là " Ủy Ban Tử Hình" bắt bớ vô tội vạ, không cần tòa án nào cả.Khomeini đã trực tiếp gia lệnh giết đến 30.000 người theo chủ nghĩa cộng sản và cấp tiến- cánh tả. Những người đã giúp ông ta lật đổ chế độ Shah nhưng năm 79.Những mộ chôn tập thể mọc lên ở sa mạc, nơi nó không bao giờ được cho ai tìm thấy. Ai đó nếu nói Iran có thiện cảm với chủ nghĩa cộng sản hay chủ nghĩa xã hội thì đúng là không những ngu mà còn mù lịch sử.Sự hài hước nhất của chủ nghĩa cộng sản của những nước phát triển mạnh nhất về chủ nghĩa xã hội lại là những nước giết chính đồng bào của mình nhiều nhất.Liên Xô - tiền đồn của chủ nghĩa cộng sản thế giới, giết đồng bào- đồng chí của mình trong thời bình chỉ thua mỗi Trung Quốc.Chủ nghĩa cộng sản của Stalin với Đại Thanh Trừng từ năm 1937 đến 1938 đã xử bắn khoảng 681.000 người chỉ trong 2 năm, hàng triệu người bị đưa vào Gulag. Quy mô thì vượt xa Iran, đúng là cối xay thịt cấp nhà nước.Tổng số nạn nhân thời Stalin trên toàn liên bang Xô Viết là hàng chục triệu, ước tính 10–12 triệu người chết trong các cuộc thanh trừng và đổi mới dưới thời ông ta. Không có chiến tranh, sống trong hòa bình nhưng Liên Xô là nhà nước giết người nhiều nhất trên lục địa Châu Âu, không ít hơn 20 triệu người đã chết.Quy mô Liên Xô là cỗ máy nghiền thịt cấp công nghiệp. Nhưng cách vận hành thì nhìn sang Iran giống y hệtStalin gọi những người ông ta thanh trừng là " kẻ thù nhân dân".Iran gọi là "kẻ thù của Thượng đế".Bản chất giống nhau - ai không cùng hệ tư tưởng, ắt phải chết. Lũ chúng nó đều tàn ác như nhau.Còn đối với Trung Quốc, nước này vô địch về giết đồng bào của mình.Thời Mao Trạch Đông, các chiến dịch như.Cải cách ruộng đất đã giết 1–2 triệu người.Đại Nhảy Vọt : đây phải gọi là một cuộc diệt chủng quy mô quốc tế, số người chết tương đương với một quốc gia có dân số tầm trung ở Châu Âu, có nhiều tài liệu nới rằng trong Đại Nhảy Vọt, nó đã làm 40 triệu người chết vì đói. Không có nhà nước nào trong thời cần đại mà có thể giết số người nhiều đến mức không thể tin nỗi như vậy.Cách mạng Văn hóa: 1–2 triệu người chết, hàng chục triệu người bị đấu tố và chết sau đó một thời gian ngắn. Tính tất cả số người chết của Trung Quốc từ khi thành lập nhà nước xã hội chủ nghĩa, nó đã trực tiếp hay gián tiếp giết không dưới 50 triệu người, gần tương đương với toàn bộ dân số Việt Nam nhưng năm sau 1975.Trung Quốc không coi thanh trừng chỉ là chính trị, mà quy mô của nó là phá hủy triệt để cả xã hội, để lập nên cái gọi là "cải cách cách mạng" để duy trì quyền lực tuyệt đối của đảng độc tôn.Iran không đạt tới quy mô đó, nhưng nó liên tục và duy trì không ngừng nghỉ.Cho em Rùa em nói, Iran tồn tại một cách kỳ quái. Nó ghét hết tất cả mọi thứ.Iran không phải "bạn" của cộng sản.Iran là một chế độ thần quyền, có thể nói là loại tà quyền và cộng sản trong mắt họ là tà đạo cần phải diệt chứ không phải bạn bè gì cả.Cái logic vận hành tư tưởng của Iran nó rất cụ thể:Một hệ tư tưởng độc tôn (Hồi giáo chính trị)Một lãnh tụ tối caoMột nỗi sợ: bất kỳ ai khác mình đều là mối đe dọaThế là phải giết, phải tiêu diệt hết thảy chúng nó.Stalin giết để giữ Đảng.Mao giết để giữ Cách mạng.Iran giết để giữ Đức tin.Ba cái khác nhau về cách gọi, nhưng còn cái lõi thì giống nhau đến không cãi được.Những nhà nước đồ tể, lịch sử của nó không chạy đi đâu được, phương tây gọi đây là trục ma quỷ là còn quái nhẹ trong ngôn từ chính trị, nó phải là trục của những thằng đồ tể thế giới.Fbk. Rùa Tiên Sinh*** Tác giả bài viết kêu thiếu tên băng đảng cướp csVN hay sợ bị phạt 7,5 triệu đấy?Phi Đoàn Khu Trục 518
Lời người viết: Ðể tưởng niệm 37 năm ra đi của hai phi công Trần Thế Vinh và Phan Quang Tuấn thuộc PÐ/518 ở Quảng Trị trong Mùa Hè Ðỏ Lửa, tháng 4 năm 1972. Ðể chia sẻ với thân nhân những người đã bỏ mình sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 mà bọn CS cho họ là những người mang “nợ máu”.Ðã 37 năm rồi mà tôi khó quên đi hai người bạn Trần Thế Vinh và Phan Quang Tuấn trong cùng skyraider đơn vị đã nêu cao gương anh dũng, không lùi bước trước phòng không địch và hy sinh cho Tổ Quốc. Các anh tô đậm màu cờ, làm rạng rỡ sắc áo và xứng đáng là những người trai hùng. Các anh đã đóng góp cho cuộc chiến thắng ở Quảng Trị và ra đi cho mọi người được tiếp tục cuộc sống tự do.PÐ/518 với danh hiệu Phi Long thuộc Sư Đoàn 3/KQ (SĐ3/KQ) ở Biên Hòa, được trang bị loại phi cơ cánh quạt Skyraider có khả năng chở 4000 cân(lbs) bom,hỏa tiễn và 800 viên đại bác 20ly. Hầu hết các phi vụ là yểm trợ tiếp cận cho quân bạn do sự chính xác, khả dụng trong thời tiết xấu và thời gian ở lâu trên vùng làm việc.Vào đầu tháng tư năm 1972, nếu tôi nhớ không nhầm, đó là ngày 4/4/1972. Mọi sinh hoạt của phi đoàn được coi là bình thường cho đến 9 giờ 30 sáng, tiếng gọi họp khẩn cấp của vị Phi đoàn Trưởng (PĐT), Thiếu tá Hùng còn gọi là “Hùng râu” được loan đi. Cái không khí ồn ào, hoang mang lẫn nghiêm trọng bắt đầu đến trong phòng hành quân của phi đoàn. Những người hiện diện bắt đầu liên lạc người vắng mặt kể cả các phi công nghỉ trong ngày. Tất cả các phi công có mặt tập họp ở phòng họp của phi đoàn ngay sau đó. Buổi họp chỉ kéo dài 5 phút. Thiếu tá Hùng tiếp: “PÐ/518 được lệnh đem phi cơ và tăng phái cho Ðà Nẵng một tuần. Tất cả Phi Long có hai tiếng đồng hồ để chuẩn bị. Thiếu tá T, PÐ Phó (PĐP), sắp xếp các phi tuần bay ra Ðà Nẵng. Phi đoàn chia làm 5 phi tuần và mỗi phi tuần 4 chiếc khu trục.Tất cả rời phòng họp.Tôi phóng nhanh để liên lạc người em vợ trong căn cứ và nhờ nó chuyển tin đi biệt phái về nhà tôi. Tôi trở về phòng để lấy những gì cần thiết cho 7 ngày tăng phái, rồi ghé qua câu lạc bộ và ăn vội một dĩa cơm trưa truớc khi trở lại phi đoàn. Tất cả phi công có mặt lần lượt ra phi cơ và cất cánh đi Ðà Nẵng.Ðây là lần đầu cả phi đoàn được biệt phái xa. Không ai biết cái nguyên nhân của chuyến đi. Nhưng mọi người đều liên tưởng đến cái nhu cầu khẩn thiết về hỏa lực hùng hậu của phi đoàn và khả năng tác chiến của phi công và phi cơ. Tôi thoáng nghĩ rồi đây người dân lành vô tội phải trả một giá khá đắt cho cuộc chiến mà CS gọi là “giải phóng miền Nam.” Chúng không ngần ngại chui trốn trong dân, dùng dân làm bia đỡ đạn và rồi tuyên truyền những gì bất lợi cho phía Quốc gia. CS đến đâu gieo tang tóc đến đó!Cái không khí mát mẻ trên một cao độ bình phi xoa dịu cái nóng chói chang trên bãi đậu phi cơ và làm khô đi cái lưng tẩm ướt mồ hôi. Những áng mây trắng bồng bềnh dưới đôi cánh nhẹ nhàng trôi qua trên nền xanh biếc của biển Ðông. Dãy trường sơn Tây im lìm nhấp nhô núi đồi. Ôi, miền Nam tươi đẹp!Phi tuần bắt đầu giảm cao độ, hợp đoàn sát cánh của 4 chiếc khu trục trông thật hùng hồn như được đơn vị địa đầu giới tuyến chào mừng. Sau 3 tiếng rưỡi, tất cả phi cơ đến nơi an toàn vào lúc 4 giờ chiều. Chúng tôi được chuyển đến 2 căn nhà di động (trailers) gần bãi đậu phi cơ, đó là chỗ tạm trú cho phi đoàn trong mấy ngày tới.2 chiếc pick-up trucks màu xanh chở chúng tôi đến một nhà ăn trong căn cứ cho bữa cơm chiều lúc 6 giờ. Ðây là bữa cơm vui nhộn nhất từ trước đến giờ với sự họp mặt của tất cả các Phi Long. Không ai nghĩ đến chuyện không may sẽ xảy đến, nhưng rồi đây một vài người trong chúng tôi sẽ ra đi vĩnh viễn trong mấy ngày tới. Trong khi chờ đợi thức ăn chúng tôi thưởng thức những ly trà đá sau một ngày thiếu nước. Kẻ nói người nghe trong bầu không khí ồn ào của nhà ăn. Vinh hay đùa để trấn an đồng đội trước những phi vụ nguy hiểm với câu: “Nghĩ đến đạn bắn lên làm gì? Chưa chi đã rét thì còn đánh đấm thế quái nào được?”Sau bữa cơm chiều, chúng tôi họp tại phòng hành quân để nghe thuyết trình về tình hình chiến sự, thời tiết và địa thế vào lúc 8 giờ tối. Ðây là mùa thời tiết xấu trong năm mà CSBV dùng nó để mở đầu cho cuộc Tổng tấn công nhằm mục đích chiếm trọn vùng 1. Bọn chúng vượt vĩ tuyến 17 với nhiều chiến xa T-54, PT-76 và quân xa, cùng nhiều Sư Đoàn chính huy đánh chiếm các căn cứ ở phía Bắc và Tây-Bắc Thị xã Đông Hà (phía Tây-Bắc Quảng Trị) trong mấy ngày qua. Ðoàn chiến xa đang hướng về Ðông Hà trên Quốc lộ 1 như chỗ không người. Sư Ðoàn 1/KQ (SĐ1KQ) không thể sử dụng phi cơ phản lực A-37 vì thời tiết xấu. Buổi họp kết thúc lúc 9 giờ tối, một ngày tăng phái trôi qua.Ngày thứ hai đã làm cho CSBV biết thế nào là hỏa lực của KQ/PÐ/518. Bọn chúng không còn được ưu đãi với thời tiết xấu như mấy ngày qua, hay định mệnh đã an bài cho kẻ xâm lăng. Vào lúc 3 giờ chiều, thời tiết bắt đầu tốt từ Ðà Nẵng đến Ðông Hà. Những đám mây trắng nhỏ ở cao độ 5 ngàn bộ. Tất cả phi cơ A-1 được điều động cất cánh. Phi tuần do tôi hướng dẫn là phi tuần thứ nhất trên mục tiêu với 2 chiếc AD-6 được trang bị 12 trái 500 cân (lbs). Sau khi liên lạc phi cơ quan sát (L-19) trên vùng để nhận tin về mục tiêu, phi tuần cách thị xã Ðông Hà 5 dặm. Ðông Hà nằm về hướng Bắc sông Miêu Giang. Một chiếc cầu đúc bắt qua sông Miêu Giang trên quốc lộ 1 hướng về Quảng Trị. Tôi nhận ngay mục tiêu là 1 đoàn xe hơn 100 chiếc nối sát nhau dài khoảng 3 cây số về phía Tây Bắc Ðông Hà. Chiếc T-54 dẫn đầu cách đầu cầu 300 thước. Tôi quẹo trái về hướng Tây để điều chỉnh vòng đánh theo trục Tây Bắc-Ðông Nam dọc theo Quốc lộ 1 và quẹo trái sau khi thả bom. Tôi đánh 10 chiếc xe tăng đầu trong khi phi cơ số 2 đánh những chiếc tăng kế tiếp. Sau lần thả thứ hai, đang lúc kéo phi cơ lên, một tiếng nổ long trời, chiếc phi cơ của tôi bị nảy lên. Tôi hốt hoảng không biết chuyện gì, nhưng nghĩ ngay là chiếc cầu Ðông Hà đã được quân bạn cho mìn nổ sập. Tôi thấy phòng không từ đoàn xe và những cụm khói đen của 37 ly trên bầu trời. Chúng tôi thả hết bom lên đoạn đầu của đoàn xe và rời mục tiêu để 7 phi tuần A-1 kế tiếp vào đánh suốt buổi chiều hôm đó. Chiến xa BV tìm đường tẩu thoát ra hai bên quốc lộ một cách chậm chạp và khó khăn do sự cản trở lưu thông, phía Ðông và Tây của quốc lộ hầu hết là ruộng lúa, trừ đoạn đầu của đoàn xe. Tất cả các phi công đã hoàn tất nhiệm vụ giao phó trong tinh thần hăng say, bất chấp phòng không và trở về đáp an toàn.Ngày thứ ba 6/4/72, thời tiết trên vùng rất tốt. Sau một đêm CSBV mất hết tinh thần và cố tìm đường tránh không tập, các chiến xa ẩn núp dưới những tàng cây to, nhưng không che giấu được cặp mắt của phi công quan sát. Phi tuần của tôi có mặt trên mục tiêu vào lúc 8 giờ sáng cho 2 mục tiêu gồm 4 chiến xa dưới 1 tàng cây gần bờ sông ở hướng Ðông Quốc lộ 1 và một chiến xa ở hướng Tây. Phi tuần phá hủy 2 mục tiêu dễ dàng. Phi cơ tôi bị trúng 1 viên phòng không 12.7 ly ở phần che bánh đáp bên phải được tìm thấy lúc vào bãi đậu. Nhiều phi tuần kế tiếp thanh toán các chiến xa ở hướng Tây và Tây Bắc Ðông Hà. Thiếu tá Hùng oanh kích nhiều chiến xa ở 6 cây số về phía Tây Bắc Ðông Hà. Phi cơ của anh bị trúng đạn phòng không, anh cố lái phi cơ ra khỏi mục tiêu, phi cơ mất dần cao độ và cuối cùng bị cháy. Anh nhảy dù và lái chiếc dù về phía Nam Ðông Hà. CS bắn theo chiếc dù nhưng may cho anh và cuối cùng anh được quân bạn tiếp cứu.Ngày thứ tư 7/4/72 CSBV tiếp tục di chuyển về hướng Tây Ðông Hà trong rừng cây cao để tìm đường vào mạn Nam sông Miêu Giang. Các phi tuần khu trục tiếp tục truy kích địch về hướng Tây Ðông Hà. Đại úy Phan Quang Tuấn sau khi hạ nhiều chiến xa và không may cho anh, chiếc phi cơ bị phòng không địch bắn rớt, không bóng dáng của chiếc dù, không một lời giã biệt, anh đã ra đi và để lại bao thương tiếc. Tôi được lệnh đi lấy một chiếc khu trục đáp khẩn cấp ở Quảng Ngãi vì lý do kỹ thuật nên mất một phi vụ hành quân.Thời tiết bắt đầu xấu trở lại, không một phi vụ nào được thực hiện trong ngày 8/4/72. Sáng ngày 9/4/72, các chiến xa đã di chuyển xuống hướng Nam sông Miêu Giang gần chân núi và tiến về hướng Ðông, đồng thời uy hiếp 1 căn cứ QLVNCH nằm về hướng Tây Nam của Ðông Hà khoảng 7 cây số. Phi tuần của tôi gồm 2 chiếc A-1 được trang bị 12 trái 500 cân (bls) cũng là phi tuần đầu tiên được điều động cất cánh lúc 9 giờ sáng. Thời tiết rất xấu bắt đầu từ Huế, phi tuần hạ dần cao độ và bay dọc theo bờ biển với cao độ thật thấp vừa đủ thấy bờ biển trong lúc xuyên qua một đám mưa. Thật nguy hiểm! Thông thường phi vụ này phải được hủy bỏ vì thời tiết, nhưng vì nhu cầu khẩn thiết của quân bạn, sự nhiệt tâm của phi công, tôi tiếp tục hướng về mục tiêu. Sau 3 phút phi tuần ra khỏi mưa, tôi lấy cao độ và sắp đến Ðông Hà. Tôi liên lạc phi cơ quan sát và nhận rõ mục tiêu là 20 chiến xa đang dàn hàng ngang về hướng Tây và cách căn cứ 200 thước. Trần mây dầy đặc ở cao độ 1900 bộ (ft) đã làm cho vũ khí mang theo không mấy thích ứng với mục tiêu vì phi tuần cần có một độ cao tối thiểu để thả bom cho chính xác, nếu được trang bị hỏa tiễn (rocket) chống chiến xa thì tốt hơn. Phi tuần vừa đến mục tiêu thì các chiến xa xả khói đen chạy về hướng Tây. Chúng tôi vào thả hết bom ngay tức khắc trước khi chúng chạy vào bìa rừng, phi tuần xuyên qua một màn lưới phòng không của địch. Khi kéo phi cơ lên, cả 2 chúng tôi đều bị chui vào mây nhưng đã gỡ ra được. Phi tuần kế tiếp do Đại úy C. hướng dẫn cũng báo cáo phòng không của địch bắn lên rất mạnh. Anh nói chưa bao giờ thấy phòng không bắn nhiều như vậy trong cuộc đời bay bổng của anh và tưởng sẽ bị rớt trong phi vụ này. Phi tuần thứ ba do Đại úy Trần Thế Vinh dẫn, tiếp tục thanh toán mục tiêu, sau khi đánh hết bom anh còn dùng đến đại bác 20 ly. Không may cho anh, đây là Phi Vụ Cuối Cùng trong nghiệp bay của anh. Phi đoàn mất thêm một Phi Long tài ba lỗi lạc trong chuyến tăng phái này.Ngày mai là ngày đổi phi hành đoàn, PÐ Khu trục cánh quạt 514 từ Biên Hòa ra thay chúng tôi, đây cũng là lần tăng phái cuối cùng. Tôi cũng được biết một số anh em trong PÐ/514 kể lại là CSBV rất lo sợ mỗi khi có phi cơ khu trục đến mục tiêu.Một phái đoàn Mỹ từ hạm đội đến thăm viếng PÐ Khu trục, họ rất ngạc nhiên trước những phi vụ mà phi công A-1 đã thực hiện trong thời tiết rất xấu và gọi các phi công là những người làm xiệc trên không. Lực lượng xâm lăng của CSBV đã bị QLVNCH dập nát và không còn khả năng chiếm vùng 1 trong cuộc Tổng tấn công. Do bản thống kê của phòng Quân báo, Đại úy Trần Thế Vinh hạ 21 chiến xa, tôi, Đại úy L. hạ 17 chiến xa và Đại úy Trương Phùng hạ 16 chiến xa. (Trương Phùng đã hy sinh cho Tổ Quốc rạng sáng 29-4-75 tại phi trường Tân Sơn Nhứt). Tôi được chọn và đại diện cho KQ để tham dự lễ chiến thắng tại Sài Gòn.Về phía ta BTL/KQ đã quyết định đúng lúc và kịp thời gởi hai PÐ Khu trục để tăng cường hỏa lực cho vùng địa đầu giới tuyến và đối phó với thời tiết xấu trên mục tiêu vì phản lực cơ A-37 ở Ðà Nẵng không thể sử dụng được. Với kinh nghiệm của phi công và tầm chính xác của Khu trục cơ A1 đã gây thiệt hại nặng nề cho CSBV. Một khuyết điểm nhỏ là vũ khí mang đến mục tiêu đôi khi không thích ứng với thời tiết trên mục tiêu. PÐ/518 thực hiện 52 phi xuất và thả 78 tấn bom trong chuyến tăng phái. Hai phi công của PÐ/518 đã hy sinh cho Tổ Quốc và 3 chiếc A-1 bị bắn rớt.Về phía CSBV họ đã thua trận, hàng chục chiến xa bị đánh tan nát hoặc hư hại, cùng với sự thiệt hại nặng nề về nhân mạng. Họ trốn chạy khi thấy phi cơ xuất hiện, điều này cho thấy tinh thần chiến đấu của họ bị sa sút. Vị tướng chỉ huy của họ không có kế hoạch an toàn cho đoàn xe hơn trăm chiếc khi thời tiết bắt đầu tốt, dĩ nhiên là đoàn xe đã bị một trận mưa bom trong ngày đầu ở gần Ðông Hà. Tôi có cảm tưởng như trận Trân Châu Cảng khi quân Nhật đánh bom vào hạm đội Mỹ ở Hạ Uy Di. CS thiếu khả năng và yếu kém về chiến thuật để làm vô hiệu việc đặt mìn và phá sập cầu Ðông Hà của quân ta, trong khi CS cần chiếc cầu này để đoàn xe đi qua. Với chiến thuật “rừng” của các tướng lãnh đã đưa CSBV đi vào chỗ chết và thảm bại.Tuy thời gian trôi qua theo năm tháng nhưng lòng tôi không quên sự chiến đấu oai hùng, dũng cảm và hy sinh của người lính Cộng Hòa để bảo vệ tự do và an lành cho người dân miền Nam. Chúng ta xin thắp nén hương lòng và nguyện cầu cho hương linh người quá cố sớm siêu thoát. Người lính Không quân cho dù mai một bao giờ cũng thể hiện tinh thần “không bỏ anh em, không bỏ bạn bè”.lanhnguyenPhi Long 31Cựu PÐ Trưởng Trung tá L.Q. Hùng hiện ở Hawaii sau hơn 13 năm tù cải tạo.Cựu PÐ Phó và 21 Phi Long hiện sống rải rác trên các tiểu bang Hoa Kỳ.UKRAINA KHÔNG QUẤY RỐI NGA BẰNG VÀI CÁI DRONE — MÀ ĐANG PHÁ THỦNG KÉT SẮT CỦA NGAHôm qua ông Trump đứng ở Nhà Trắng lẫn lộn Iran với Ukraina rồi phán một câu xanh rờn rằng “Ukraina đã bị đánh bại về mặt quân sự”.Nhưng đúng một ngày sau, Bloomberg tung ra bản tin như một cái tát thẳng vào miệng những kẻ đang vội viết cáo phó cho Kyiv: Các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái của Ukraina đã đẩy sản lượng chế biến dầu của Nga xuống mức thấp nhất kể từ năm 2009.Xin nhắc lại: thấp nhất kể từ năm 2009. Không phải một kho xăng cháy lẻ tẻ để tuyên truyền. Không phải vài clip drone bay cho vui mắt.Mà là toàn bộ công suất lọc dầu của quốc gia xuất khẩu dầu lớn thứ hai thế giới bị kéo tụt xuống còn 4,69 triệu thùng/ngày, giảm 12% so với năm ngoái và giảm 18% so với thời điểm trước khi Putin mở cuộc xâm lược toàn diện.Nói cách khác, Ukraina không còn chỉ bắn vào chiến hào. Ukraina đang bắn vào két tiền.Người ta hay nhìn chiến tranh bằng hình ảnh xe tăng, chiến tuyến, bản đồ đỏ xanh, nhưng chiến tranh của Putin được nuôi không phải bằng lòng yêu nước. Nó được nuôi bằng tiền dầu.Tiền dầu trả lương lính hợp đồng, tiền dầu mua linh kiện từ Trung Quốc, tiền dầu đúc đạn pháo, tiền dầu nuôi bộ máy tuyên truyền và đàn áp.Cho nên mỗi nhà máy lọc dầu Nga bốc cháy không chỉ là vài cột khói. Đó là diesel cho hậu cần bị hụt, nhiên liệu quân sự bị gián đoạn, ngoại tệ xuất khẩu bị mất, và ngân sách chiến tranh bị rút máu từng ngày.Nói trắng ra, mỗi cú drone của Kyiv đang là một mũi khoan chọc vào két sắt của Điện Kremlin.Điều làm Moscow đau nhất không phải là Ukraina đánh được, mà là Ukraina đánh đi đánh lại cùng một chỗ cho đến khi nhà máy chết hẳn.Nhà máy lọc dầu Tuapse ở Krasnodar vừa sửa xong thì drone lại tới! Ngày 31/3 bị đánh, 1/4 lại đánh, rồi 16/4, 20/4, 28/4, 30/4 tiếp tục cháy. Đám cháy gần như kéo dài liên tục suốt nửa tháng.Nghĩa là kỹ sư Nga chưa kịp hàn xong đường ống thì Kyiv đã gửi đợt quà kế tiếp. Đây không còn là quấy rối (như có bạn viết cmt trên một status của tôi vài ngày nay), mà là chiến thuật làm cho đối phương kiệt sức trong một vòng sửa chữa vô tận.Đáng sợ hơn nữa là drone Ukraina giờ không chỉ lảng vảng biên giới, nó bay sâu tới vùng Ural, Perm, Chelyabinsk, tận Ukhta gần Bắc Cực, ở khoảng cách 1.600 đến gần 1.900 km.Tức là toàn bộ huyền thoại “hậu phương an toàn” của nước Nga đang thủng lỗ chỗ như cái sàng.Putin có thể đem phòng không che Kremlin, nhưng Putin không thể đem phòng không phủ kín hàng trăm cơ sở dầu khí trên lãnh thổ mênh mông. Và khi phải chọn giữa bảo vệ ngai vàng ở Moscow với bảo vệ một nhà máy lọc dầu ở Samara hay Perm, dĩ nhiên Kremlin sẽ cứu Kremlin trước.Thế là những tỉnh xa trở thành mồi ngon cho đàn drone giá rẻ. Đây mới là nghịch lý cay đắng nhất cho Putin: Một chiếc drone Ukraina giá vài chục nghìn đô có thể buộc Nga phóng lên những tên lửa phòng không trị giá hàng triệu đô.Nếu drone lọt qua Nga mất thêm hàng chục triệu, thậm chí hàng trăm triệu doanh thu vì nhà máy ngừng hoạt động. Rõ ràng là một kiểu chiến tranh mà mỗi vòng cánh quạt quay là mỗi lần tiền trong két Putin rung lên bần bật.Bởi vậy, nói Ukraina đã bị đánh bại lúc này chẳng khác nào đứng trước một ngân hàng đang bị khoan thủng két mà bảo rằng “mọi thứ vẫn ổn”.Không. Rất không ổn cho Moscow!Vì sau gần hai năm Nga khoe rằng họ đang nghiền nát Ukraina bằng biển người và bom đạn, thì hôm nay Bloomberg vừa xác nhận điều ngược lại: Kyiv đang âm thầm nghiền nát nền tài chính chiến tranh của Nga bằng công nghệ rẻ, chính xác và dai dẳng.Ukraina không “quấy rối” Nga bằng vài cái drone. Ukraina đang phá thủng két sắt của Nga!LÊ DIỄN ĐỨCNHỮNG NGƯỜI LÍNH MỸ XÓM TÔI
Dù chỉ được sống dưới chính quyền tự do VNCH 9 năm, nhưng những kỷ niệm của thời gian ấy không bao giờ phai nhòa trong tôi.
Căn nhà của ba má tôi cũng là quán nước cà phê giải khát đối diện trại Quân Cụ Đoàn Dư Khương. Xung quanh đó trong vòng một cây số, có trại Quân Trang, Quân Nhu, Truyền Tin. Cách nhà tôi vài bước là một Câu Lạc Bộ Mỹ, bao bọc bởi các khu gia binh. Cuộc sống xóm tôi, thời binh lửa, êm đềm lẫn xôn xao buồn vui thời chiến, nơi có những vọng gác, bao cát, hàng rào B40, xe cam nhông và hình ảnh những người lính VNCH, lính Mỹ, lính các nước đồng minh...
Tôi xin kể về những người lính Mỹ tôi đã gặp, khi tôi là cô bé 8-9 tuổi.
Sau ngày “giải phóng”, đi học, bài vở nói lính Mỹ ác, lính Mỹ xấu, tui có thấy xấu thấy ác gì đâu nà! Tôi nhớ ngày xưa thỉnh thoảng có những xe nhà binh đổ xuống mấy chàng lính Đại Hàn từ tiền tuyến xa về, ồn ào vào quán tôi, hoặc có khi mấy lính Mỹ trẻ từ Câu lạc bộ Mỹ bên kia rảnh rang vào quán ngồi uống café, chai bia con cọp, hút điếu thuốc lá Pall Mall, để vừa nghỉ ngơi, vừa thoải mái tiếp xúc với người dân, nhất là với lũ con nít xóm tôi.
Chẳng hiểu sao với lính Đại Hàn mũi tẹt mắt hí thì lũ chúng tôi chẳng đến gần, nhưng khi thấy lính Mỹ vào quán là tôi và mấy đứa bạn hàng xóm thích lắm, vì họ luôn vui vẻ cười nói, rồi nghe họ “xi xô” tiếng Mỹ tuy như vịt nghe sấm, nhưng mà... vui tai. Có anh khách quen thỉnh thoảng cho chúng tôi “sô-cô-la” và có lần tôi còn mạnh dạn hát cho anh lính Mỹ ấy nghe chỉ một câu hát trong bài đồng dao Mỹ mà tôi nghe lỏm anh Ba tôi đi học Hội Việt-Mỹ về ôm đàn nghêu ngao: “Oh my darling, oh my darling, oh my darling, Clementine...” anh lính thích thú vỗ tay và hát tiếp cả bài hát, cả đám nhóc tì chúng tôi nhảy tưng tưng, vỗ tay rần rần theo từng lời anh hát, vui thiệt là vui!Anh rể tôi là Đại Úy Huấn Luyện Viên chiến thuật tại Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, bữa đó anh có việc cần gì đó, đến quân trường rồi về ngay, nên anh chở tôi đi theo chơi (từ nhà tôi đến quân trường đi xe chừng nửa tiếng). Trời trưa nắng, anh để tôi ngồi trong căn phòng giữa quân trường xung quanh đầy cỏ lau, rồi anh đi ra ngoài nói chuyện với mấy anh lính cấp dưới, rồi có anh lính vô tình mở trái lựu đạn cay, tiếng nổ và khói đen mù mịt cả một vùng, bên trong phòng tôi khóc ré lên vì sợ hãi. Một hồi sau, bớt khói, chả thấy anh tôi đâu, có một anh lính Mỹ bước vào dỗ dành tôi, (dù là anh nói với tôi bằng tiếng Mỹ nhưng tôi vẫn... hiểu, vì giọng nói và cử chỉ thương mến ân cần), rồi móc túi ra cho tôi một hộp bơ đậu phộng, vài viên kẹo sữa, chờ tôi nín khóc, anh tôi trở lại người lính Mỹ này mới đi khỏi.
Ở đâu còn có ánh mắt e dè ngại ngùng khi có những người con gái Việt Nam lấy lính Mỹ, chớ xóm tôi thì không, “công đầu” là nhờ gia đình bác Phan.
Bác Phan trai là một chủ thầu xây cất khá lớn, luôn mặc đồ xi-vin, đồ vest lịch sự, hòa nhã với chòm xóm, bác Phan gái dáng vẻ sang cả đẹp đẽ, hai vợ chồng bác Phan rất xứng đôi. Hai bác có 2 người con, anh Tuấn đi du học bên Mỹ, về Sài Gòn làm cho bác Phan, còn chị Phượng tuy không đi du học nhưng nói tiếng Mỹ khá lưu loát không thua gì bác Phan trai và anh Tuấn (chị Phượng từng là dân học Hội Việt Mỹ, nơi 3 người anh trai của tôi cũng đang vào học). Gia đình bác Phan là biểu tượng học thức, đạo đức, sống thân thiện nên được cả xóm nể nang.
Bỗng một hôm cả xóm xôn xao tin vui, chị Phượng lấy chồng... Mỹ! Chàng rể là sĩ quan quen biết với chị Phượng trong phi trường Tân Sơn Nhứt, nơi chị là thông dịch viên. Ngày cưới, chúng tôi chen chúc len lỏi ngay cửa nhìn vào trong nhóm người lớn đi dự (trong đó có ba má tôi) ăn cưới nhộn nhịp. Chàng Mỹ mặc khăn đống áo dài của Việt Nam mà vẫn oai phong, cao to, đẹp trai, chị Phượng, cô dâu rạng rỡ trong chiếc áo dài khăn đống màu đỏ, mái tóc dài, cài cành hoa trắng trên đầu. Họ làm phép cưới trong Nhà Thờ do Cha xứ xóm tôi chủ tế. Trong đám cưới còn có một vài người Mỹ sĩ quan khác nữa, chắc là đồng cấp hoặc cấp trên của chú rể. Ai nấy đều tấm tắc khen chú rể Mỹ hiền ngoan, tuân theo phong tục Việt Nam mỗi khi chú rể cúi đầu vái lạy ông bà tổ tiên.Dư âm cái đám cưới Mỹ-Việt nhà bác Phan vẫn còn, thì vài tháng sau lại nổ ra một cặp Việt-Mỹ khác, nhưng lần này hổng được ủng hộ ngay từ đầu, bị phản đối từ phía nhà cô dâu.
Đó là chị Đê, con bà Tư Đinh (nghe tên Tư Đinh hơi... gai góc dữ dội, chớ bà Tư hiền khô à, nhà bà sống trong trại gia binh vì chồng bà chết trận cũng khá lâu). Chị Đê vừa đủ 18 tuổi là đi làm phụ bếp trong căn cứ Long Bình, đùng một cái vác bụng bầu về nhà. Bà Tư tra hỏi, mới biết tác giả cái bào thai là một anh lính Mỹ, mà lại là Mỹ đen, bà khóc lóc bù lu bù loa cả xóm đều nghe:
– Trời ơi con ơi, sao mày ngu thế, đã lấy Mỹ thì phải biết mở mắt ra mà tìm Mỹ sĩ quan, Mỹ trắng như con Phượng nhà bà Phan kìa! Sao mày lại chui đầu vào cái thằng lính Mỹ quèn, nước da đen thui, đen hơn ông kem đánh răng Hynos, mày muốn cả xóm cười tao thúi mũi, mày muốn linh hồn Ba mày phải trốn chui trốn nhủi nơi chín suối mày mới vừa lòng hở cái con bất hiếu kia!!!
Chị Đê giọt vắn giọt dài năn nỉ:
– Má ơi, anh Joseph là Mỹ đen thì có tội tình gì đâu má? Ảnh hiền lành và thương con lắm. Vả lại, con gái nhà quê ít học như con, làm sao so sánh với chị Phượng được, hả má?
Dù gì thì gạo cũng đã nấu thành cơm, chị Đê bụng bầu cũng đã lum lúp rồi, bà Tư cũng không phải loại người ác nhân ác đức mà ép uổng con mình bỏ cái thai nhưng bà cũng sĩ diện nói eo xèo với chị Đê, để rồi có 1 ngày có buổi cơm nho nhỏ, gọi là ra mắt ông bà tổ tiên và hàng xóm. Bữa tiệc cưới không ồn ào rộn rã xập xình như nhà bác Phan, mà chỉ đúng 3 mâm với vài người rất thân thiết. Tôi cũng có mặt trong đám con nít lộn xộn và các hàng xóm “nhiều chuyện” khác, bu lại xem mặt mũi chàng rể da đen của xóm. Mà công nhận, chàng Joseph này nhìn là thấy có thiện cảm liền, đôi mắt to, nước da đen nâu chớ đâu có “đen hơn thằng kem đánh răng Hynos” như bà Tư phóng đại, đặc biệt là chàng rể này luôn mở miệng cười trước khi nói, rất có duyên.
Rồi thì mọi chuyện cũng trở nên bình thường, Joseph hễ đi tác chiến thì thôi, chớ lần nào nghỉ phép về nhà cũng chăm chỉ, phụ chị Đê cơm nước giặt giũ khi bụng bầu của chị nặng nề, khó di chuyển.
Chị Đê sinh một bé trai, đặt tên là Tom, nhưng chòm xóm ai cũng gọi nó là thằng Tôm vì tưởng chị Đê quên cái dấu mũ trên chữ Tom chớ nào ai biết đó là tên Mỹ! Ui chu choa, thằng Tôm nhìn cưng hết biết. Tóc lơ thơ quăn tít, đôi mắt cái miệng lúc nào cũng toe toét cười, y chang ba Joseph của nó, các bà các cô trong xóm tha hồ ẵm bồng đi khắp xóm. Joseph lại còng lưng phụ vợ giặt tã, cho con bú, chạy ra hàng tạp hóa mua sữa cho con, thấy mà thương. Bà Tư Đinh thấy mọi người quý mến Joseph cũng vui lây, quên hết những lời bà chửi rủa khi trước, không còn thấy màu da đen của Joseph là xấu xí nữa.
Vài tháng sau, bà Tư hớn hở khoe ba má của Joseph từ Mỹ gửi quà qua cho thằng Tôm, đứa cháu nội yêu quý. Mọi người lại chạy qua nhà bà Tư khi Joseph mang thùng quà về nhà, trịnh trọng lôi ra các món đồ: sữa bột, áo quần trẻ con, vớ, bao tay, khăn tắm, bánh kẹo cho người lớn và một lá thư có mấy tấm hình. Ai cũng hồi hộp chờ xem mặt mũi ba má của Joseph, thì bà Tư là người được xem trước, nét mặt ngạc nhiên khó hiểu. Một bà vội giựt xem tấm hình rồi la lớn:
– Ủa ủa, sao thằng Joseph nước da đen thui mà ba má nó trắng bóc như trứng lột vậy trời??
Chị Đê mỉm cười, giải thích:
– Dạ thưa cô bác, anh Joseph chỉ là con nuôi của ba má ảnh mà thôi. Họ đem ảnh về nhà từ trại mồ côi, khi ảnh còn đỏ hỏn như thằng Tôm này nè, rồi cho ảnh ăn học tử tế đàng hoàng. Khi đến tuổi trưởng thành, học xong Trung Học, ảnh xin tình nguyện vào Lính, ba má thương lắm nhưng cũng phải đồng ý, bắt ảnh hứa viết thư về thường xuyên đó.
Mọi người vỡ lẽ, lại được dịp bàn tán:
– Người Mỹ họ tốt quá trời! Đã xin con nuôi sao không xin con da trắng xinh đẹp mà lại nhận con nuôi đen như nhọ nồi vậy cà?
– Nhìn mặt ông bà Mỹ da trắng thiệt là phúc hậu, anh Joseph này thiệt có phước, chị Đê với thằng Tôm cũng được hưởng lây.
– Người Mỹ không nuôi con nuôi thì thôi, chớ một khi đã nuôi thì chăm lo đầy đủ như con ruột, không phân biệt màu da, như thế mới gọi là nhân đạo, tình thương không biên giới, tui nể người Mỹ ghê nơi!
Trong lúc Joseph chia bánh kẹo cho mọi người, Chị Đê hãnh diện nói thêm:
– Dạ, ba anh Joseph ở bển làm giáo sư dạy học, còn má ảnh là y tá trong bệnh viện đó đa!
Đêm đó, bà Tư nằm xem lại mấy tấm hình ông bà “sui gia”, suy nghĩ mông lung mà cảm động lắm, họ là dân Mỹ trắng trí thức, còn xin đứa bé da đen về làm con và thương yêu nó. Trong khi con gái bà yêu thương Joseph thì bà đã chửi mắng thậm tệ và có ý nghĩ khinh thường Joseph. Nghĩ mà mắc cở. Bà Tư hối hận lắm, bà tự nhủ thầm, và thề hứa, từ nay thằng Joseph sẽ có một bà má Việt Nam... tuyệt vời, yêu thương nó không thua gì ba má Mỹ trắng kia. Sớm mai Joseph phải trở về đơn vị, phải chi nó hiểu tiếng Việt thì lần tới nó về nhà, bà sẽ nói một câu âu yếm chân tình để chuộc lại lỗi lầm:
– “Sẹp” ơi! Má thương con lắm, để má đổ bánh xèo cho con ăn nha!
Nhưng Joseph đã không bao giờ về nhà thăm vợ con nữa, trong một cuộc hành quân ở cao nguyên Trung phần, anh đã bị mất tích, chẳng biết sống chết ra sao!
Chị Đê, được niềm an ủi lớn lao là ba má Joseph nơi tiểu bang Alabama xa xôi, vẫn theo dõi chiến sự hàng ngày, gần đến ngày Sài Gòn sụp đổ, đã liên lạc nhờ người quen trong quân đội đưa chị Đê và thằng Tôm lên máy bay rời Việt Nam trong những ngày hỗn loạn cuối cùng năm ấy. Bà Tư Đinh không chịu đi, bà biểu chị Đê cứ mang thằng Tôm qua bển vì đó là quê Cha của nó, còn bà muốn ở lại với mồ mả ông bà tổ tiên. Nhưng sau vài năm “nếm mùi” Cộng Sản, bà đã đồng ý cho chị Đê bảo lãnh qua Mỹ.
Đó là những ký ức nhỏ nhoi của tôi về những người lính Mỹ mà tôi có tiếp xúc, có chứng kiến, dù chỉ là thoáng qua.
Rồi sau 14 năm sống với chế độ Cộng Sản Việt Nam, tôi cũng thoát được đến bến bờ Thailand trong chuyến vượt biên cuối cùng tháng 12/1989.
Nay đã 51 năm kể từ ngày tháng Tư tang thương năm ấy. Những người lính Mỹ tôi đã gặp thuở bé, những cục kẹo “sô-cô-la”, kẹo sữa và hộp bơ đậu phộng vẫn mãi ngọt ngào trong ký ức của tôi.
Cám ơn tất cả những người lính Mỹ, đã cùng với những người lính VNCH và đồng minh, gìn giữ Miền Nam Việt Nam thân yêu, cho chúng ta những tháng ngày hòa bình trong thời chiến, ngắn ngủi nhưng hạnh phúc vô vàn.
Kim Loan (Edmonton Tháng 4/2026)
NƯỚC TRÔI QUA CẦU - HƯƠNG THỦY
Sự việc qua đi có bao giờ quay trở lại, hình ảnh đó gợi lên câu nói "nước trôi qua cầu", nước sông Hương lững lờ trôi có bao giờ lại yên một chỗ. Trôi nổi, đẩy đưa như câu chuyện "tắt lửa lòng" của nhà văn Nguyễn công Hoan hay còn được gọi là "chuyện tình Lan và Điệp" .... nhiều người đánh mất liêm sỉ, chuyện thay lòng đổi dạ cũng chỉ là chuyện bình thường nhất là sau biến cố năm 75, những chuyện đổi đời này xảy ra nhan nhản, khó mà tìm được câu chuyện happy ending.
Một trong những thay đổi của con người sau ngày 30/4 qua câu chuyện của nhà văn đất thần kinh Hương Thủy "Nước trôi qua cầu"
AraNƯỚC TRÔI QUA CẦU
HƯƠNG THỦY
“Những lời yêu ấy nay đà quá xa… “
(Cho người tình lỡ -Nhạc Hoàng Nguyên)
Hai đứa ở cùng xóm, chung một ngõ, biết nhau từ thuở còn thơ. Thời Ni học mẫu giáo, mỗi chiều tan trường, chính Cu Tí - tên móc nôi của Hoàng - phải cầm que xua hai con ngỗng chặn đường trước vẻ mặt xanh xám của Ni.
Nhà Ni ở cuối ngõ. Căn nhà lợp ngói âm dương cổ kính với hàng chè tàu bao bọc chung quanh. Mùi hoa dạ lý thơm nức trong vườn. Ba Ni dạy trường Trung học Hàm Nghi, ngày hai buổi đi chiếc Honda Dame màu xanh qua Thành Nội. Nhà Hoàng ở đầu ngõ. Cha mất sớm, mạ tần tảo gánh bún bò nuôi ba anh em. Biết thân phận nghèo khổ của gia đình, Hoàng chăm chú học hành và nổi tiếng học giỏi toàn xóm. Cuối bậc Tiểu học, Hoàng ngồi trên chiếc xích lô của chú Tư với chồng phần thưởng Danh dự toàn trường ngập mặt trong tiếng xuýt xoa của ba Ni “Thằng này sau chắc khá!”
Ni thi vào đệ thất. Ba qua nhà xin với mạ Hoàng “cho Cu Tí qua kèm cặp em Ni”. Năm đó, Hoàng mới học đệ ngũ trường Quốc Học. Cứ ba giờ chiều, Hoàng ôm cuốn “300 bài Toán khó “của Trần Tiếu đi vào nhà dạy Ni. Mỗi lần giảng lâu mà Ni cứ giương mắt không hiểu, Hoàng lại lấy cái thước kẻ khẻ vào tay mặc kệ nước mắt Ni rươm rướm. Có lẽ nhờ sự nghiêm khắc của Hoàng, Ni thi đậu vào trường Đồng Khánh với thứ hạng khá cao. Phần thưởng ba Ni dành cho Hoàng là chiếc xe đạp Peugeot với điều kiện “ngày hai buổi chở em Ni đến trường, coi sóc nó cho Bác”. Mạ Hoàng cảm động, không nói thành lời.
Từ đó trên yên sau chiếc xe đạp của Hoàng là Ni. Ni mặc áo dài trắng tinh khôi, thắt nơ đỏ xinh xắn. Hoàng bắt Ni gọi mình là “anh Hoàng”, không được nhắc tên Cu Tí trước mặt bè bạn. Ni ngoan ngoãn vâng theo. Đoạn đường từ Nguyệt Biều thẳng xuống Lê Lợi không xa lắm. Hai anh em chuyện trò ríu ran suốt cả con đường Huyền Trân Công chúa. Hai trường cách nhau một con đường nhỏ. Đồng Khánh tan trước Quốc Học 15 phút. Ni ôm cặp đợi Hoàng ở nhà mụ Cai. Đám bạn Hoàng cứ khen “Mi có một đứa em thiệt là ngoan”.
Một lần, xe bị xẹp lốp ở ngay Cầu Lòn, hai đứa phải dắt đi bộ. Có một thằng nhóc mất dạy cứ chạy theo tốc tà áo dài của Ni lên. Ni xấu hổ đến phát khóc. Nạt ba lần không được, Hoàng chống xe xuống đập nhau với thằng nhóc. Hậu quả là chiếc áo trắng đã cũ của Hoàng rách một vệt dài ở nách. Hai đứa bàn nhau giấu ba mạ. Buổi trưa Ni trốn ngủ ra sau vườn may lại áo . Những mũi kim vụng dại nhăn nhúm.
Ni lớn dần lên và bắt đầu biết “dị”. Năm lên lớp đệ ngũ, Ni đã mặc áo dài chít eo và đỏ mặt xấu hổ trước sự cắp đôi của mấy đứa trong xóm. Nhất là những lời trêu chọc độc ác của Luyến, đứa con gái không đẹp lắm ở gần nhà Hoàng. Luyến học đến lớp Nhất thì nghỉ ở nhà theo mẹ bán buôn. Mỗi lần thấy Hoàng chở Ni đi ngang, cái miệng của Luyến lại rống lên “Con gái chơi với con trai. Về sau cái vú bằng hai quả dừa”. Mặt Ni tía tai . Hoàng càu nhàu “Kệ nó. Đồ con gái vô duyên thúi.”
Lên đệ tứ- đổi tên mới là lớp 9- thì Ni nhất quyết không ngồi sau yên xe Hoàng nữa. Bây giờ tụi trong lớp cũng biết Ni với Hoàng không phải là anh em. Mặc kệ lời phân trần của Ni, tụi nó trêu “Chắc hai đứa bây đã có chi với nhau”. Chiều Ni, ba mua cho con gái một chiếc mini màu trắng xinh xắn. Bây chừ thì hai chiếc xe đạp đi song song hàng ngày trên con đường Công chúa Huyền Trân.
Ni chọn ban C khi lên đệ nhị cấp. Ni nói với Hoàng “Em sợ Toán lắm. Mai sau em sẽ thi vào Đại học Sư Phạm và làm cô giáo dạy Văn”. Hoàng nói “Còn anh sẽ thi vào Đại Học Khoa học. Anh muốn làm Giảng viên. Mà Giảng Viên thì phải giỏi Toán Lý Hóa”. Hai đứa cứ thế lớn dần lên.
Một bữa Hoàng rủ Ni lên chùa Thiên Mụ cầu cho anh thi đậu Tú tài. Kỳ thi IBM đầu tiên nhiều bỡ ngỡ và hồi hộp. Lo cho Hoàng, Ni đồng ý, lại còn đem theo một thẻ nhang. Hai đứa leo lên những bậc tầng cấp rồi nhìn ra dòng sông Hương lộng gió. Nước sông xanh ngắt. Hoàng đọc cho Ni nghe bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử rồi nói “Ông Hàn Mặc Tử là Thi Thánh. Ni có thấy đúng là “dòng nước buồn thiu" không?”. Ni ngạc nhiên dân ban B như anh Hoàng mà tâm hồn cũng lãng mạn rứa a?
Đến dưới chân tháp Phước Duyên, Hoàng thắp nhang rồi lầm thầm khấn. Ni hỏi “Anh khấn thi đỗ hạng ưu à?” Hoàng cười “Bí mật”. Hai đứa ăn bánh bèo Kim Long rồi đi về.
Một bữa Ni chạy qua nhà Hoàng nhờ bày cho cách làm một bài Essay. Học ban C Anh văn phải thiệt giỏi. Hoàng đang ngủ. Chắc đêm qua anh thức khuya quá. Ni lục bàn học của Hoàng tìm cuốn tự điển. Thấy một quyển sổ đèm đẹp, Ni cầm và lật ra xem. Trên nền giấy trắng, có hàng chục dòng chữ cả Anh lẫn Pháp: I love you , Je t’aime…Chu cha. Anh Hoàng có bồ. Ni nghe tưng tức trong bụng. Cô mô đây?. Ni lật qua trang thứ hai. Hàng trăm chữ Hoàng Ni nối tiếp nhau. Trống ngực Ni đánh thình thịch. Ni chạy về nhà, vào phòng nằm trên giường tim vẫn còn run.
Sáng hôm sau, bé Na kêu “ Chị Ni nhanh lên, anh Hoàng chờ hơn mười phút rồi”. Ni dắt xe đạp ra. Trên quảng đường dài, hai đứa không nói với nhau câu nào.
Hôm nay được nghỉ hai giờ cuối, Ni định về trước nhưng không hiểu sao lại đứng chờ Hoàng ở bức bình phong Long mã trước trường Quốc Học. Sông Hương mùa này nước đục, báo động mùa lũ sắp đến. Ni nhớ ngày còn nhỏ, hai đứa đi lội nước lụt, xem người ta rớ cá thật vui. Ni lại nhớ những dòng chữ trên cuốn tập ngày qua, lòng xôn xao… Hoàng đứng sau lưng Ni từ lúc nào. Anh trao cho Ni cuốn sách bọc giấy màu xanh da trời. “Anh tặng Ni nè”. Đó là cuốn “Lá tương tư ” của nhà văn Mường Mán, cuốn truyện đang làm xôn xao nữ sinh Đồng Khánh. Trên trang cuối cùng, Hoàng đề ba chữ nhỏ xíu bằng bút chì “Anh thương Ni”.
Chuyện của hai đứa bắt đầu như rứa đó. Ba mạ không cấm, chỉ khuyên hai đứa cứ như anh em xưa nay, khi nào tốt nghiệp đại học hẵng hay. Mạ Hoàng xuýt xoa “Thằng Hoàng thiệt có phước. Được gia đình ông Giáo thương”. Bác Tám sửa xe dưới gốc đa đầu xóm kêu “Hai đứa bây như Lục Vân Tiên với Kiều Nguyệt Nga”. Rồi bác ngâm nga “ Vân Tiên ngơ mặt chẳng nhìn. Nguyệt Nga ngó thấy càng thìn nết na”.
Hoàng thi tú tài IBM đậu hạng Bình. Ba thưởng tờ hai trăm kêu đi ăn bù lại thời kì sôi kinh nấu sử. Hai đứa chẳng biết ăn chi ngoài bánh bột lọc học trò của mụ Đỏ bên Chi Lăng. Hoàng rủ Ni lên chùa Thiên Mụ tạ ơn. Ni hỏi có phải anh tạ ơn thi đậu? Hoàng cười “Không, hôm nớ anh cầu cho Ni thương anh”. Ni lo lắng “Người ta nói thương nhau mà lên chùa Thiên Mụ là xui lắm”. Hoàng cả quyết “Có sông Hương làm chứng cho anh”.
Hoàng vào Đại học Khoa Học, Ni lớp 11. Hai đứa quyết tâm học thật giỏi. Hoàng sẽ là kỹ sư , Ni sẽ là cô giáo. Bao nhiêu là ước mơ…
Vậy mà đùng một cái. Biến cố 75. Cái xóm nhỏ của hai đứa thay đổi như bom B52 nổ. Ba của Luyến không chết mà ông ta tập kết ra Bắc bây chừ trở về trên chiếc xe Com măng ca màu xanh bộ đội, nghe nói làm chức gì to lắm. Căn nhà ba tầng của Thiếu tá Huyền Trung đoàn 54 bị trưng thu thành Cửa hàng Thương nghiệp. Cô Luyến đứng vênh váo sau quầy trong chiếc áo mậu dịch viên, quyền hành to như giám đốc.
Bất ngờ hơn, ba Ni bị Công an khu vực đưa giấy gọi đi “cải tạo” vì có hai năm là Trung úy biệt phái. Mặc dù ba cố giải thích đây là chức vụ quân sự dự bị của ngành giáo dục, thực sự ba chưa cầm súng ngày nào. Nhưng ông Công an lạnh lùng nói “Nguyên tắc thiếu úy là đã phải đi học tập. Huống gì ông lại là Trung úy. Trung úy biệt phái có nghĩa là ông được phái qua giáo dục làm nhiêm vụ gì đó rất đặc biệt”. Mạ nước mắt lưng tròng chuẩn bị áo quần cho ba lên trại Cải tạo Bình Điền. Chị em Ni khóc rấm rứt. Xóm nhỏ ngậm ngùi thương cho ông giáo hiền lành chuyên làm việc phúc đức.
Hoàng chở Ni đi thăm ba. Con đường ngót hơn 20 cây số về phía Tây thành phố. Qua lăng Minh Mạng, qua buôn Tà Rầu lại thêm một con dốc cao vút mà người thăm nuôi phải lè lưỡi kêu “Mạ ơi!”. Lâu dần thành cái tên “Dốc Mạ ơi!”. Lên đỉnh dốc, hai đứa ngồi nghỉ ở một bụi tre.Thấy Ni buồn Hoàng nói “Bữa ni nhà có việc chi nặng cứ kêu anh”. Ba cũng dặn dò “Nhà còn có ba mẹ con. Đêm hôm có chuyện chi cứ nhờ anh Hoàng”.
♣ ♣
Đời sống ngày càng khó khăn. Đói xanh mặt. Đói vàng mắt. Khẩu phần mỗi người một tháng chỉ được mua 3kg gạo, còn toàn là bo bo, sắn lát. Ni đi mua gạo theo phân phối. Luyến cầm sổ gạo vất cái chạch, miệng mỉa mai “Hoàng thị Ni Ni. Cái tên nghe sặc mùi đế quốc”. Gạo vàng khè, ẩm mốc. Mạ phải ngồi sàng từng con mọt. Sang nhà Hoàng, mạ Hoàng khoe “Bác mua được gạo trắng tinh. Con Luyến ngó rứa mà tốt”.
Một đêm mạ buồn buồn bảo Ni “Ba đi học tập không biết khi nào về. Mạ ốm yếu không làm chi được. Thôi con nghỉ học, tìm cái ngành nghề chi giúp mạ, giúp em qua ngày”.
Ni ứa nước mắt. Thôi rồi ước mơ. Đành vậy thôi. Ni bỏ trường, bỏ lớp, xếp mấy cái áo dài trắng vào tủ đi học thêu ren ở Hợp tác xã Vĩnh Ninh. Giá một bức tranh thêu được hai đồng bạc Bắc. Hoàng an ủi “Thôi để anh học gấp đôi, bù cho Ni”.
Lần thăm nuôi thứ hai, Hoàng đưa cho Ni một gói đường cát. Ni hỏi ở đâu ra. Hoàng nói cửa hàng nhờ làm sổ sách, cô Luyến tạ ơn. Ni mừng húm. Gói đường giúp ba có thêm calory sau những buổi lao động mệt nhọc. Lần này Ni đi một mình. Mấy tháng nay Hoàng cũng phải kiếm việc làm thêm. Mạ Hoàng cũng phải giải nghệ gánh bún bò. Thời buổi không ai có tiền để ăn thứ hàng xa xỉ này. Lên con dốc “Mạ ơi!”, Ni ngồi nghỉ đúng chỗ hai đứa ngồi hôm trước. Ba gầy và xanh hơn. Ba an ủi Ni “Chắc Ba học tập cũng nhanh thôi. Ba đâu có làm gì hại dân hại nước”.
♣ ♣
Bé Na kêu “Ui chị Ni, em thấy anh Hoàng chở bà Luyến”. Ni gạt phắt “Đừng nói tào lao. Công việc đó em”.Thâm tâm Ni cũng nghĩ bé Na nói bậy. Ni tự tin nhớ lời Hoàng “Con gái con lứa ăn nói cục mịch, cười ha hả. Vô duyên”.
Dạo này Ni thêu đẹp, chăm chút từng đường kim mủi chỉ cố tăng thêm thu nhập. Chị tổ trưởng khen “Bé Ni có năng khiếu”. Ni cười buồn “Gặp thời thế thế thời phải thế!”. Ni nhớ tuổi thơ năm nào vụng về may cái áo rách cho Hoàng. Mai sau mình sẽ vá áo cho anh ấy thật đẹp.
Ni lên Cửa hàng Thương nghiệp Thành phố xin duyệt cái giấy giới thiệu mua chỉ màu cho tổ hợp thêu. Lâu rồi Ni không đi đâu, chỉ biết cắm mặt vào cái khung thêu. Con đường Lê Lợi thênh thang với hàng cây long não xanh ngắt trên đầu. Ni nghe lòng chùng lại khi đi qua trường cũ. Ngay cả ngôi trường cũng đã thay tên. Ni tò mò đưa mắt nhìn vào. Môt đám học sinh vừa nam vừa nữ đang quét dọn trong sân. Ngôi trường cũng không còn độc quyền giành cho đàn bướm trắng của Huế. Ni nhớ cái phòng học tôi tối của lớp 10C; nhớ giờ Anh văn của thầy Hạnh; nhớ cây thước của cô giám thị Hạnh Phước; nhớ giờ ra chơi chạy xuống mua yaourt với mục đích chỉ để ngắm khuôn mặt duyên dáng của chị Minh Đức rồi bàn tán chị nào đẹp nhất trường mình. Chị Tiểu Kiều hay Mộng Vân,Tường Vy… Tất cả bây chừ như một thế giới mơ hồ xa lắc.
Chực chờ cả hai tiếng đồng hồ, bà chủ nhiệm mới duyệt cho Ni với một chữ ký loằng ngoằng không rõ nét. Ni thở phào nhẹ nhõm bước ra. Chiều đã về trên thành phố. Những đám mây trắng lang thang trên bầu trời. Ni yêu Huế, một xứ Huế cơ cực nhưng duyên dáng, những con người hiền lành với những mối tình dài lâu như ba mạ, như Ni với Hoàng. Ni tự nhắc mình nhớ nhờ Hoàng qua sửa cái công tắc điện nhà bếp tối nay.
Ni ngồi ở chỗ sửa xe của bác Tám chờ Hoàng. Mạ Hoàng nói anh đang quyết toán sổ sách cuối quý cho cửa hàng. Ni ngại khi phải chạm mặt Luyến. Bao giờ mặt cô ta cũng đăm đăm khi thấy Ni. Bác Tám hỏi thăm tình hình của ba Ni rồi thở dài.
Chờ lâu lắm rồi Hoàng cũng bước ra, sau lưng là Luyến. Luyến nhảy lên sau yên chiếc xe đạp rồi vòng tay ôm lấy lưng Hoàng. Trên giỏ xe đầy ắp thuốc lá, đường, sữa… Hoàng cong lưng nhấn cái bàn đạp. Anh ngó lơ khi nhìn thấy Ni. Nụ cười của Luyến vang vọng khanh khách. Ni cúi mặt nghe lòng chênh chao. Bác Tám lầm bầm “Đồ ngựa Thượng Tứ !”.
Ni đi thăm ba. Dĩ nhiên là không còn Hoàng. Cái giỏ xách nhẹ mà lòng Ni nặng trĩu. Đẩy chiếc xe đạp lên dốc “Mạ ơi!” tưởng không muốn nổi nhưng Ni không dừng lại nghỉ, không ngó đến nơi hai người đã từng ngồi. Câu nói hôm nào đau thắt trong ngực Ni “Có sông Hương làm chứng cho anh”.
Ba hỏi thăm tình hình mấy mạ con ở nhà và rồi “Thằng Hoàng mô? Răng con đi một mình?” Ni giả đò như không nghe ba hỏi. Ba bóp nhẹ tay Ni không nói gì. Bàn tay quen cầm phấn của ba nay đã chai sần, nổi u nổi cục.
Lượt về, đứng trên dốc nhìn xuống. Nếu không có ba mạ, bé Na, chắc Ni sẽ cho xe lao xuống và buông hai tay…
♣ ♣
Ni cúi mặt trên khung thêu. Cái tin Hoàng cưới cô Luyến rồi đi học Đại Học Thương nghiệp tận ngoài Hà Nội mấy hôm nay xôn xao xóm nhỏ. Nhà Hoàng được quét vôi sạch sẽ. Ông bố Luyến còn cho người tới tô xi măng cái sân. Mạ Hoàng nói với người trong xóm “Tui tội con Ni nhưng lấy con Luyến thằng Hoàng mới có tương lai”. Chú Tám sửa xe lại nói lối “Xin đừng tham đó bỏ đăng. Chơi lê quên lựu chơi trăng quên đèn”. Mỗi lần bắt buộc phải đi ngang nhà, Ni che nón cúi mặt bước nhanh như chạy trốn.
Chị Tổ trưởng xếp lại mấy cái khăn thêu nói bâng quơ “Ở xứ ni con gái bao giờ cũng thiệt thòi vì cái tình nặng quá. Con trai rủ một cái nhẹ tênh”. Cây kim đâm vào ngón tay Ni. Một giọt máu rơi xuống bức tranh thêu. Mắt Ni long lanh. Chỉ tại chiều hôm nay trời nhiều gió…
♣ ♣ ♣
Ni mở cái hộp gỗ cẩn xà cừ mạ cho hôm sinh nhật mười sáu tuổi. Mùi hương trầm thoang thoảng bay lên. Tất cả gồm ba mươi hai tờ giấy perlure màu xanh, màu hồng được buộc lại bằng một sợi ruy băng đỏ. Niềm tin của Ni đó. Tình yêu của Ni đó.
Ni châm ngọn nến trắng. Tay run run cầm những tờ thư.
Này là hai câu thơ của Nguyễn Công Trứ trong bài Tương Tư: ”Trăng soi trước mặt ngờ chân bước. Gió thổi bên tai ngỡ miệng chào”.
Này là thơ Xuân Diệu: “Anh chỉ có một tình yêu thứ nhất. Anh trao em cùng với một phong thư ”.
Này là đóa tường vi được ép khô hôm hai đứa đi vô Đại Nội. Này là cây viết Pilot màu tím có khắc hai chữ Hoàng Ni…
Một tấm ảnh rơi ra. Ảnh của Hoàng hôm thi đậu Tú tài IBM kỳ đầu tiên được thầy Hiệu trưởng Quốc Học Phan Khắc Tuân trao phần thưởng. Nụ cười Hoàng trong sáng rạng rỡ. Ni thẫn thờ đưa bức ảnh vào lửa. Gương mặt Hoàng méo mó, nhăn nhúm, cong queo.
Ni mở to mắt nhìn trừng trừng đống tro tàn. Đầu xóm tiếng pháo đón dâu nổ ran…
Hương ThủyThảm sát các chiến sĩ Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù
6 toán Thám Sát của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù trong chiến khu D do trực thăng thả sâu vô mật khu việt cộng. Toán nầy làm việc bằng máy PRC 25, UHF-1, nên phải qua hệ thống trạm chuyển tiếp (Radio Relay Station) bằng phi cơ L-19, hoặc các đài tiếp vận truyền tin ở các núi cao.Sau ngày 29/4/75, nhóm họ hoàn toàn bị mất liên lạc bằng truyền tin với bộ chỉ huy LĐ81/BCND. Vì những đài yểm trợ tiếp vận truyền tin đã không còn, bộ chỉ huy đã bỏ cửa trống, không hoạt động. Các đài nầy không hề thông báo cho những cộng tác viên thám sát được biết tình trạng đất nước Việt Nam ở những ngày cuối cùng dầu sôi lửa bỏng ra sao!Ôi! thiệt đau khổ khi các toán Thám Sát không hề hay biết lệnh buông súng đầu hàng ác ôn của Dương văn Minh ngày 30/4/75. Nên 18 anh em Thám sát LĐ/81/ BCND của 3 toán Thám Sát khi đó lương khô hết sạch, họ đã nhịn đói, khát, họ phải lặn lội từ rừng sâu tìm về tới một làng thuộc quận Tân Uyên cạnh sông Đồng Nai, gần thác Trị An. Họ bị việt cộng bắt giam bỏ đói, bắn chết, rồi thả xác họ trôi lềnh bềnh trên sông. Những xác anh em sình thối, việt cộng bắt dân vớt xác lên đem chôn dọc theo bờ sông Đồng Nai.Cũng có mấy xác anh em Thám sát LĐ/81/BCND khác đã bị vùi lấp tập thể trong một cái giếng bỏ hoang. Phần mộ sĩ quan Toán trưởng là anh Tuấn đã được gia đình tới bốc cốt vào năm 1993.Toán viên tên Nguyễn Văn Một đã chết rất thảm thiết. Anh Nguyễn Văn Sơn và Trung sĩ Võ Văn Hiệp đã chết, do bị việt cộng giam giữ tra tấn vô cùng kinh khủng ở quận Tân Uyên. Có một anh tên Đức lúc đó ngáp ngáp chưa chết được vợ chồng cụ già trong làng đem giấu, lo thuốc men, anh được cứu sống.Mỗi năm khi Tết đến, anh Đức đều trở lại chốn cũ ít ngày ân cần chăm sóc hai cụ, anh đền đáp ơn cao đức dày hai cụ như cha mẹ tái sinh, anh đã tạ ơn cứu tử.Anh Tâm kể lại các anh trong toán Thám Sát của Liên Đoàn 81/Binh Chủng Nhảy Dù bị việt cộng đánh đập, tra tấn dã man cho đến chết. Đó là những vị anh hùng sa cơ trong thảm cảnh tháng Tư ở Đại An, họ đã nhận lãnh những viên đạn oan nghiệt.(Trích dẫn từ trang facebook của anh Tâm 888).Còn rất nhiều những anh hùng sĩ quan vô danh khác, kể cả các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa thuộc các binh chủng Địa Phương Quân, Nghĩa Quân, Dân Vệ, v..v... mà chúng ta chưa thu thập hết được danh tánh. Đó là những người lính kiên cường đã dũng cảm hy sinh từ ngày mất nước, ngày đau thương uất hận của Miền Nam. Họ là những người vị quốc vong thân. Những bậc anh tài sinh vi tướng tử vi thần, những anh hùng tử khí hùng bất tử! Họ là những binh sĩ đầy nhiệt huyết, yêu đồng đội. Họ hy sinh vì dân vì đất nước quê hương, vì danh dự quân nhân Việt Nam Cộng Hòa. Họ oai dũng tự quyết định mạng sống riêng mình, họ không chịu khuất phục trước kẻ chiến thắng.Giống như chí sĩ Trần Hữu Lực thời xưa đã có câu tuyệt mệnh:“Non sông đã chết. Ta há lại sống thừa. Từ mười năm giũa kiếm, mài dao. Chí mạnh, những mong phò Tổ Quốc. Lông cánh chưa thành. Việc bỗng đâu hóa hỏng. Dưới chín suối điều binh khiển tướng, hồn nhiên ngầm giúp bọn thiếu niên...”Đó là sự trả giá tuyệt vời của những con người coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. Họ đặt TỔ QUỐC - DANH DỰ - TRÁCH NHIỆM lên trên đầu. Họ can trường chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, tới khi thủ đô Sài Gòn đớn đau vỡ vụn! Họ không đầu hàng, không hề "thua cuộc" vì lý tưởng tự do cao cả muôn đời. Họ đã lưu danh thơm lẫy lừng thiên cổ, họ anh dũng hiên ngang đứng giữa quê cha đất tổ. Máu của họ đã chảy ra chan hòa vào Đất Mẹ. Họ sống mãi trong lòng dân tộc Việt Nam với bốn ngàn năm văn hiến.Tình Hoài Hương