Fwd: ĐIỂM TIN DIỄN ĐÀN 27-01-2026 (SỐ 019-2026)

5 views
Skip to first unread message

Giu Tran

unread,
Jan 27, 2026, 10:43:44 AMJan 27
to


---------- Forwarded message ---------
From: soan....@hotmail.com <soan....@hotmail.com>
Date: Tue, Jan 27, 2026 at 4:17 AM
Subject: ĐIỂM TIN DIỄN ĐÀN 27-01-2026 (SỐ 019-2026)
To:




GOOD MORNING VIET NAM - CANADA - USA

ĐIỂM TIN DIỄN ĐÀN 27-01-2026  (SỐ 019-2026)

Image insérée

Image insérée




MỤC LỤC

  1. Bệnh Tương Tư trong ca dao Việt Nam 
  2. Nợ ân tình
  3. NHỮNG CÂU TRẢ LỜI THÂM THÚY VỀ NHÂN SINH
  4.  Vĩnh Biệt Nguyễn Sơn
  5. TẠI SAO NGƯỜI MIỀN NAM ĐƯỢC KHEN LÀ THẬT THÀ, HIỀN LÀNH, NHÂN ĐẠO❓
  6. CÔ GÁI HÀ THÀNH LÝ LUẬN VỀ PHẢN ĐỘNG.
  7. Thập niên, thập kỷ
  8. Đi Thăm Nước Mỹ (Tr. Ngắn)
  9. Buồn Đến Kiếp Nào Nguôi
  10.  BIỆT ĐỘI 817, LIÊN ĐOÀN 81 BIỆT CÁCH DÙ
  11. CÔNG TÁC BÊN LÀO






Bệnh Tương Tư trong ca dao Việt Nam
  • Tương tư là một trạng thái tâm hồn... cực kỳ kỳ cục.

    Như mọi trạng thái... tâm thần khác, nó là hậu quả hay kết quả của một tình cảm bất thường, hào hứng và nguy hiểm nhất: Tình yêu!

    Có yêu người ta mới tương tư!
    Không yêu, người ta chẳng thèm dòm mặt, chẳng thèm để ý cho mệt.

    Thêm một chi tiết nữa là người ta chỉ tương tư khi tình yêu chưa được thoả mãn 

    Tương tư trở thành căn bệnh. Ðã là bệnh thì không kể già, trẻ, lớn bé, nam nữ hay đen trắng. Trái tim còn đập thình thịch trong ngực là người ta còn có thể mắc bệnh tương tư.
    **
              Tương Tư

    Nắng mưa là bệnh của trời
    Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.

    Hỡi cô tát nước bên đàng,
    Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi?

    Nước non một gánh chung tình.
    Nhớ ai, ai có nhớ mình hay chăng?

    Trên rừng có cây bông kiểng.
    Dưới biển có cá hóa long.
    Con cá lòng tong ẩn bóng ăn rong.
    Anh đi lục tỉnh giáp vòng.
    Tới đây trời khiến đem lòng thương em!

    Thò tay anh ngắt cọng ngò
    Thương em đứt ruột, giả đò ngó lơ!

    Lá này là lá soan đào
    Tương tư gọi nó thế nào hỡi em?

    Ðứt tay mấy chút chẳng đau.
    Xa em một chút như dao cắt lòng.

    Anh thương em trầu hết lá lươn.
    Cau hết nửa vườn cha mẹ nào hay.
    Dầu mà cha mẹ có hay.

    Nhất đánh nhì đầy hai lẽ mà thôi.
    Gươm vàng để đó em ơi.
    Chết thì chịu chết.
    Lìa đôi anh không lìa!

    Bước sang canh một, anh thắp ngọn đèn vàng.
    Chờ con bạn ngọc thở than đôi lời.
    Canh hai vật đổi sao dời.
    Tính sao nàng tính trọn đời thủy chung.
    Canh ba cờ phất trống rung.

    Mặc ai, ai thẳng ai dùn mặc ai.
    Canh tư hạc đậu cành mai.
    Sương sa lác đác khói bay mịt mờ
    Canh chầy tơ tưởng, tưởng tơ.
    Chiêm bao thấy bậu, dậy rờ chiếu không.

    Ngồi tựa song đào.
    Hỏi người tri kỷ ra vào vấn vương?
    Gió lạnh đêm trường.
    Nửa chăn, nửa chiếu, nửa giường chờ ai?
    Từ ngày ăn phải miếng trầu.

    Miệng ăn, môi đỏ, dạ sầu đăm chiêu.
    Biết là thuốc dấu, bùa yêu.
    Làm cho khúc mắc nhiều điều xót xa,
    Làm cho quên mẹ quên cha.
    Làm cho quên cả đường ra lối vào.
    Làm cho quên cá dưới ao.
    Quên sông tắm mát, quên sao trên trời

    Thương nhau cởi áo cho nhau.
    Về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay.
    Tại mẹ may áo rộng tay.
    Con quen gió mát, áo bay mất rồi.

    Qua đình ngả nón trông đình.
    Ðình bao nhiêu ngói, thương mình bấy nhiêu.
    Qua cầu ngả nón trông cầu
    Cầu bao nhiêu nhịp, dạ sầu bấy nhiêu.:

    Cầm lược thì nhớ đến gương.
    Ôm chăn nhớ chiếu, nằm giường nhớ …ai?

    Một thương hai nhớ ba sầu.
    Cơm ăn chẳng được ăn trầu cầm hơi.

    Khăn thương nhớ ai, khăn rơi xuống đất?
    Khăn thương nhớ ai, khăn vắt lên vai?
    Khăn thương nhớ ai, khăn chùi nước mắt?
    Khăn thương nhớ ai, khăn giặt để vai?
    Ðèn thương nhớ ai mà đèn không tắt?
    Mắt thương nhớ ai mắt ngủ chẳng yên?

    Anh buồn có chốn thở than.
    Em buồn như ngọn nhang tàn thắp khuya!

    Con chim buồn, con chim bay về cội
    Con cá buồn, con cá lội trong sông
    Em buồn, em đứng em trông
    Ngõ thì thấy ngõ, người không thấy người! 

    Ngày ngày em đứng em trông.
    Trông non, non ngất.
    Trông sông, sông dài.
    Trông mây, mây kéo ngang trời.
    Trông trăng, trăng khuyết.
    Trông người, người xa…”

    Vì mây cho núi lên trời.
    Vì cơn gió thổi, hoa cười với trăng
    Vì sương cho núi bạc đầu.
    Vì cơn gió mạnh cho rầu rĩ hoa
    Vì mây cho núi lên cao.
    Mây còn mờ mịt, núi nhòa mờ xanh.

    Non xanh bao tuổi non già?
    Vì chưng sương tuyết hóa ra bạc đầu?
    Lá khoai anh ngỡ lá sen
    Bóng trăng anh ngỡ bóng đèn anh khêu!

    Cầm vàng mà lội qua sông.
    Vàng rơi không tiếc, tiếc công cầm vàng!:

    Ai phụ tôi đất trời chứng giám
    Phận tôi nghèo đâu dám phụ ai
    Tưởng giếng sâu tôi nới sợi dây dài
    Ngờ đâu giếng cạn, tiếc hoài sợi dây!

    Ðờn cò lên trục kêu vang
    Qua còn thương bậu, bậu khoan có chồng
    Muốn cho đây đấy đạo đồng
    Qua đây thương bậu hơn chồng bậu thương.

    Chim khôn mắc phải lưới hồng
    Hễ ai gỡ được đền công lạng vàng
    Anh rằng anh chẳng lấy vàng
    Hễ anh gỡ được thì nàng lấy anh.

    Dế kêu dưới đống phân rơm
    Tui xa người nghĩa bưng chén cơm khóc ròng.

    Chồng gần không lấy
    Bậu lấy chồng xa
    Mai sau cha yếu, mẹ già
    Chén cơm, đôi đũa, kỷ trà ai dưng?

    Tiếc thay bác mẹ nhà nàng
    Cầm cân không biết là vàng hay thau
    Thật vàng chẳng phải thau đâu
    Mà đem thử lửa cho đau lòng vàng!!!”
    Nỗi đau này ai thấu cho chàng?
    **

    Có chăng là những người cùng cảnh đã lỡ một chuyến đò tình để mắc bệnh tương tư?
    Khuyết danh tác giả.

     
    Nợ ân tình

    Cách đây ba tháng, thằng con đang tuổi ăn tuổi lớn của tôi gây tai họa: nó làm nát bét chiếc xe gia đình vì mải nhắn tin lúc lái. Ơn trời, không ai bị thương, nhưng bảng báo giá sửa xe làm tôi muốn xỉu: 4.200 đô. Riêng tiền bảo hiểm bắt mình tự chịu đã là 2.500 đô rồi. Tôi vừa giận, vừa run. Nhà làm gì có số tiền đó. Tôi phải cày hai công việc một lúc, chồng tôi thì mất sức lao động. Có những tháng, cả nhà phải thắt lưng buộc bụng, đắn đo mãi giữa việc đóng tiền điện hay mua đồ ăn.

    Anh thợ sơn xe chỉ tôi đến một chỗ dưới mạn Nam thành phố. — "Dưới đó rẻ hơn," ảnh nói. "Nhưng chỉ nhận tiền mặt thôi nhé."

    Tôi lái xe đến một nơi trông chẳng khác gì bãi đồng nát. Xe cộ rỉ sét chất đống, cỏ dại mọc lởm chởm qua những vết nứt bê tông. Tấm biển hiệu thì bạc phếch, treo lủng lẳng sắp rụng. Tôi đã định quay đầu xe đi về cho rảnh nợ.

    Thế rồi, một ông lão lẹt bẹt bước ra. Chắc cũng phải 75 tuổi trở lên. Bộ đồ công nhân lấm lem dầu mỡ, đôi bàn tay hơi run run. Ông nói với cái giọng địa phương đặc sệt: — "Xe cần sửa hả cô?"

    Tôi kể hết nỗi khổ của mình. Ông nhìn cái xe, lầm bầm rồi đi vào trong. Một lúc sau, ông cầm ra cái bảng kẹp giấy: — "Tôi lấy 800 đô thôi." Tôi há hốc mồm: — "Nhưng người ta bảo tận..." — "Kệ họ. Họ đòi thay đồ mới, sơn xịn nên mới đắt," ông thản nhiên đáp. "Tôi có đồ tốt rồi, tôi sẽ làm cho nó chạy chắc chắn là được. 800 đô nhé." — "Dạ... rồi khi nào thì tôi phải gửi tiền ông?" — "Giờ đưa trước 50 đô cũng được. Còn lại bao giờ có thì đưa, không vội."

    Tôi đứng ngẩn tò te: — "Sao ông lại tin tôi thế?" Ông nhìn tôi bằng ánh mắt của một người đã trải đời: — "Hồi chiến tranh, có một người lạ đã giấu cả nhà tôi trong kho thóc của họ suốt nửa năm trời. Họ chẳng lấy một đồng, chỉ dặn: 'Sau này có điều kiện thì hãy giúp lại người khác'. Tôi thì chẳng có kho thóc nào để giấu ai cả, nhưng tôi biết sửa xe."

    Tôi đã đứng khóc ngon lành ngay giữa cái bãi xe cũ nát đó.

    Ông sửa xong trong ba ngày. Xe chạy êm ru, chắc chắn. Lúc đến lấy xe, tôi thấy một bà cụ đang vừa khóc vừa múa may bên chiếc xe móp méo của mình. Ông lão chỉ gật đầu, đặt tay lên vai bà cụ rồi cầm lấy chìa khóa. — "Lại một ca 'từ thiện' nữa hả ông?" — Tôi hỏi khẽ. Ông nhún vai: — "Chồng bà ấy mới mất, chưa có lương hưu. Không có xe thì bà ấy không đi thăm cháu được. Thôi, giúp bà ấy một tay."

    Suốt hai tháng sau, mỗi lần có chút tiền, 50 hay 100 đô, tôi lại mang qua trả ông. Lần nào ghé, tôi cũng thấy một người nào đó đang ở đó — khi thì anh bố đơn thân, lúc thì anh công nhân vừa mất việc. Họ đều lái những chiếc xe nát tưởng chỉ có nước bán sắt vụn, nhưng vẫn chạy tốt nhờ bàn tay ông lão — người chỉ lấy tiền theo kiểu "tùy tâm"... hoặc chẳng lấy xu nào.

    Lần cuối cùng sang trả nốt nợ, tôi tò mò hỏi: — "Ông cứ làm thế này mãi thì sống sao nổi?" Ông mỉm cười hiền từ: — "Cũng có người trả đủ tiền mà cô. Tiền của họ giúp tôi duy trì cửa hàng, còn những người trả ít giúp tôi duy trì... cái tâm mình. Thế là huề."

    Tuần trước, tôi chạy ngang qua xưởng của ông. Cửa đóng then cài, có tấm biển "Bán nhà" dựng trước sân. Tôi hoảng quá, gọi ngay vào số điện thoại trên danh thiếp. Con gái ông bắt máy, giọng nghẹn lại: — "Cha cháu mất hôm thứ Ba rồi cô ạ. Cụ bị đột quỵ ngay tại xưởng."

    Tôi lặng người, tim thắt lại. — "Chị em cháu đang kiểm kê sổ sách," cô ấy nói tiếp. "Trong ngân hàng cụ chỉ có 847 đô. Nhưng cuốn sổ tay của cụ... có tận 73 người vẫn còn nợ tiền. Tổng cộng hơn 30.000 đô." Cô ấy dừng lại một chút, rồi kể: — "Cụ để lại mảnh giấy ghi: 'Xóa nợ hết đi. Họ cần cái xe để mưu sinh hơn là cha cần tiền'."

    Đám tang ông hôm qua đông lắm. Cả 73 con người có tên trong sổ đều đến. Những người xa lạ không quen biết nhau, nhưng đều mang ơn ông lão — người đã không bỏ mặc chúng tôi lúc khốn khó. Chúng tôi gom tiền lại, trả hết các khoản nợ còn tồn của xưởng, rồi đưa phần còn lại cho con gái ông.

    Về nhà, con trai tôi hỏi: — "Mẹ ơi, sao mẹ khóc nhiều thế? Mẹ có thân với ông ấy lắm đâu." Tôi bảo con: — "Bởi vì ông ấy đã dạy mẹ một bài học mà thế hệ của con cần phải biết. Mỗi ngày, con nhìn thấy rất nhiều người — nhưng hãy thực sự nhìn thấy họ. Thấy cái xe họ hỏng, thấy lòng họ đau, thấy túi họ rỗng. Lúc đó con phải chọn: mình sẽ là người chìa tay ra giúp, hay là người quay lưng bỏ đi?"

    Thằng bé im lặng. Tháng trước, tôi thấy nó bắt đầu đi làm tình nguyện ở chỗ phát cơm từ thiện. Nó không khoe khoang, cứ lặng lẽ mà làm thôi.

    Cái xưởng của ông lão vẫn đang treo biển bán. Tấm biển "Chỉ nhận tiền mặt" vẫn còn đó. Nhưng 73 người chúng tôi đều hiểu ý nghĩa thật sự của nó là gì: Có bao nhiêu trả bấy nhiêu. Lúc nào có thì trả. Nếu có thể thì trả.

    Vì có những món nợ không thể tính bằng tiền. Đó là món nợ của lòng trắc ẩn: Nhớ rằng vào cái ngày ta tuyệt vọng nhất, đã có một người bằng lòng "sửa chữa" cuộc đời ta mà không đòi hỏi gì.

    TG Văn Chương

    NHỮNG CÂU TRẢ LỜI THÂM THÚY VỀ NHÂN SINH
    Nhân sinh là một hành trình không ngắn không dài, vừa đủ cho chúng ta học tập trưởng thành, nhưng có một số điều không phải ai cũng thấu hiểu.

    HỎI:
    1. Vật gì sắc bén nhất?
    2. Nơi nào xa nhất?
    3. Cái gì lớn nhất?
    4. Cái gì khó và nặng nhất?
    5. Cái gì nhẹ nhất?
    6. Cái gì gần với chúng ta nhất?
    7. Cái gì dễ làm nhất?
    8. Chiến thắng nào gian lao và khó thành công nhất? 

    1. Vật gì sắc bén nhất?
    Đó là lưỡi của con người. Lưỡi sắc như dao, lời nói như dao đâm có thể xuyên thẳng vào tim làm tổn thương người khác.
    Người Do Thái nói: “Thứ tốt nhất trong thiên hạ là miệng lưỡi, mà thứ xấu xa nhất cũng chính là miệng lưỡi”.
    Lời nói tốt đẹp có thể động viên an ủi người khác. Ngược lại, lời nói độc ác xấu xa có thể khiến người khác đau khổ tuyệt vọng; thậm chí là muốn tìm đến cái chết. Vậy nên nhất định phải kiểm soát thật tốt cái miệng của mình. 

    2. Nơi nào xa nhất?
    Đó là quá khứ. Cho dù bạn là ai, giàu có cỡ nào, quyền cao chức trọng ra sao thì cũng không thể quay trở về quá khứ. 
    Vậy nên làm người chớ để lại quá nhiều hối tiếc. Hãy cố gắng làm tốt nhất những gì có thể ở giây phút hiện tại. 
    Nhiều người thất bại cũng bởi hai chữ ‘đợi chờ’. Đợi chờ thời cơ thích hợp, đợi chờ tương lai tốt đẹp. Nhưng cơ hội chỉ đến một lần và không thể quay trở lại nữa.

    3. Cái gì lớn nhất?
    Đó là ham muốn. Dục vọng của con người là vô tận, không có điểm dừng; nếu không tìm cách kìm hãm nó lại, thì thật là hậu quả khôn lường.
    Người hạnh phúc không phải là có được nhiều bao nhiêu mà là trong tâm luôn biết đủ. Cổ nhân nói “biết đủ thường vui”, đừng để vật ngoại thân chi phối tâm trí của bạn.
    Hạn chế ham muốn thì tinh thần mới thăng hoa, tấm lòng mới rộng mở. Hãy để lòng bao dung của bạn lớn dần, chứ đừng để dục vọng vây kín thân.

    4. Cái gì khó và nặng nhất?
    Đó là lời hứa. Lời hứa dễ nói mà khó làm. Lời hứa nặng tựa ngàn cân, đã hứa rồi là phải có trách nhiệm đi thực hiện lời hứa.
    Người biết giữ chữ tín thì lại càng cẩn trọng với lời hứa của mình. Vì chỉ cần một lần thất hứa thì bao uy tín gây dựng trước đó coi như đổ sông đổ bể.
    “Người nói thì thầm, Trời nghe như sấm”, “trên đầu ba thước có Thần linh”, lời hứa không thể tùy tiện nói ra; đã nói ra thì chính là sợi dây ràng buộc lấy số phận; nếu không thực hiện thì có thể bị trời trách phạt.

    5. Cái gì nhẹ nhất?
    Đó là sự khiêm nhường. Không ai muốn tranh đấu với một người khiêm nhường cả. Khiêm nhường khiến lòng nhẹ thênh thang, mỗi bước đi là mỗi bước thanh nhàn.
    Xung đột, mâu thuẫn đa phần cũng vì người ta muốn thể hiện cái tôi của mình. Nếu chỉ cần một người có thể khiêm nhường thì chuyện gì cũng có thể hóa giải nhẹ nhàng.
    Người càng khiêm nhường lại càng được nhiều người yêu mến, ai cũng muốn gần gũi bầu bạn.

    6. Cái gì gần với chúng ta nhất?
    Đó là cái chết. Cuộc sống vô thường, sống nay chết mai không ai nói trước được điều gì.
    Có người nói rằng: “Hãy sống như thể hôm nay là ngày cuối cùng”. Có lẽ như vậy thì bạn mới biết trân quý thời gian và trân quý cuộc sống.
    Người ta sợ chết đa phần cũng vì vẫn còn nhiều điều tiếc nuối. Vì vậy hãy sống hết mình và trọn vẹn từng phút giây, để cho bất kể điều gì xảy ra thì cũng có thể vui vẻ đón nhận.

    7. Cái gì dễ làm nhất?
    Đó là làm người khác đau buồn. Chỉ cần một lời nói vô tâm, một cử chỉ thiếu tế nhị, bạn cũng có thể khiến cho đối phương suy nghĩ đau buồn mãi không thôi.
    Lời nói vô tình mà người nghe hữu ý, mỗi người đều có hoàn cảnh sống và tư tưởng khác nhau, vì vậy không thể ăn nói và hành động quá tùy tiện.
    Cũng không nên lấy lý do thẳng tính mà làm tổn thương người khác, chân thật nhưng cũng cần phải có thiện lương.

    8. Chiến thắng nào gian lao và khó thành công nhất? 
    Chiến thắng CHÍNH MÌNH...

    Những câu trả lời ngắn gọn, thâm thúy ở trên hy vọng đã giúp bạn thêm thấu hiểu nhân sinh muôn màu.

    Tổng hợp



    NGHIỆP BÁO
    Khi con chim còn sống, nó ăn kiến.
    Khi chim chết, kiến ăn nó.
    Thời gian và hoàn cảnh có thể thay đổi bất cứ lúc nào,
    Vì vậy, đừng nhục mạ, đừng làm khổ bất cứ ai trong đời sống này.
    Bạn có thế đầy quyền lực ngày hôm nay,
    Nhưng đừng quên rằng,
    Thời gian còn nhiều quyền lực hơn bạn.
    Một cây có thể làm được hàng triệu que diêm,
    Nhưng một que diêm cũng có thể thiêu hủy được hàng triệu cây.
    Hãy là người tốt và làm những điều tốt.
    Thử nghĩ mà xem  Thượng Đế cấu tạo cơ thể con người một cách rất hợp lý,
    Nhưng sao chúng ta lại không xử dụng nó theo đúng ý của Ngài:

    [[[[

    1-Ngài đặt hai mắt chúng ta ở đằng trước
    Ngài muốn chúng ta luôn hướng tới phía trước, chứ không phải để chúng ta cứ ngoái nhìn về những sự việc ở phía sau.

    2-Ngài đặt hai tai chúng ta ở hai bên là để chúng ta nghe từ hai phíacả lời khen lẫn tiếng chê, chứ không phải để chúng ta chỉ nghe từ một phía hoặc chỉ để nghe những lời tâng bốc êm tai.




     
     Vĩnh Biệt Nguyễn Sơn
    • Nói đến tên Nguyễn Sơn thì bất ai đã từng phục vụ ở Trung Tâm Hành Quân Delta (LLĐB), Liên Đoàn 81 BCD, Biệt Đoàn 222 CSDC cũng đều biết đến Anh, từ cấp Chỉ Huy Trưởng cho đến anh binh nhì vừa về đơn vị. Tính tình thâm trầm hiền hòa đôn hậu với mọi người mọi cấp, không le lói, không nỗ sảng mặc dù chiến công của Anh đã vang dội với những huy chương cao quý nhất của QLVNCH.
      Buổi chiều ngày mùng 5 Tết Mậu Thân, một buổi chiều nắng đẹp, vẫn với những ngọn gió hiền hòa từ biển khơi, vẫn với bãi biển cát trắng chạy dài bên đường Duy Tân mang nhiều kỹ niệm, nhưng sao có vẽ đìu hiu vì những cơn bạo loạn của cộng quân tấn công vào thành phố Nha Trang giữa đêm giao thừa. Tôi đang ngồi với vài sĩ quan ĐĐ3/81/BCD ở quán số 1 cạnh bờ biển, một vài trứng hột vịt lộn, một đĩa mực nướng và không thể thiếu món ốc bưu luộc chấm nước mắm gừng thì Nguyễn Sơn bước vào với 2 người khác. Mũ xanh gặp mũ xanh bắt buộc dơ tay vẫy vẫy vài ba cái rồi bàn ai nấy ngồi. Tôi hỏi Trung Úy Nguyễn Đăng Lâu:
      – Niên Trưởng, ai vậy?
      – Trung Úy Nguyễn Sơn, Liên Toán Trưởng Trung Tâm HLHQ Delta!
      Anh Lâu xoay người qua phía bên kia bàn:
      – Ê Sơn... qua ngồi với tụi này cho vui.
      Thế là cả bọn nhập cuộc. Delta-81 như anh em ruột, tuy một mẹ khác cha nhưng lúc nào cũng kề cận bên nhau khi xâm nhập. Mẹ là binh chủng LLĐB. Cha là khác nhau đơn vị. Các C, các B, các A, Mike Force, 81, Delta đều mang một huy hiệu giống nhau. Delta ở đâu thì 81 ở đó, bất kể không gian và thời gian. Các C,B,A trong tình trạng cần tăng viện thì Delta-81 có mặt trong vòng 24 tiếng đồng hồ cũng bất kể không và thời gian. Cho nên mặc dù chưa biết nhau nhưng cùng một lò, ngồi chung bàn thì chỉ năm ba phút sau pháo vang trời đất. Sơn tốt nghiệp tháng 8 năm 1965 Khóa 19 VKTĐ với cấp bậc Chuẩn Úy. Như vậy cuối năm 1967 Anh đã mang lon Trung Úy chứng tỏ công trạng anh cũng lẫy lừng. Tôi vừa mới ra trường chỉ được vài tuần lễ nên gặp đàn anh, tôi thường hay hỏi han vài ba câu cốt chỉ để làm quen, nhưng Anh vẫn cứ cười cười với điếu thuốc Ruby Queen trên tay. Chợt Anh đứng dậy bước vào trong vài phút rồi trở lại bàn. 5 phút sau bồi bàn mang ra 10 chai bia con Cọp và 2 dĩa bò lúc lắc nóng hổi. Khi mặt trời xuống dần chân trời góc biển Anh lại chợt đứng dậy bước vào trong rồi lại trở lại bàn. Trung Úy Lâu bảo tôi vào thanh toán tiền nong, vì anh em 81 đã gom góp trước và giao cho tôi rồi, đến khi vào quầy tính tiền thì cô cashier nói Trung Úy Sơn đã trả hết rồi.
      – Trung Úy Sơn! Tụi tui đến trước, Trung Úy đến sau mà! Làm vậy kỳ quá!
      – Đồng ý! Các anh đến trước, tụi tui đến sau... nhưng mà... tụi tui là Delta nên ai móc súng (bóp tiền) trước thì sống, móc súng chậm hay móc súng sau là... là gì tui cũng không biết nữa!
      Rồi anh cười khì! Tôi “kết” với Nguyễn Sơn từ đó.
      Rong ruổi trên những bước đường chinh chiến, tôi gặp Sơn rất thường. Làng Cùa, Huyện Hương Hóa, Mỏ Than Nông Sơn, Đức Dục, Đồng Xoài, Đồn Điền Hớn Quản. Có một lần ở Cùa, Sơn gọi tôi sang lều (bạt dã chiến) uống cà phê. Nhưng không phải cà phê mà là chai “Ông Già Chống gậy” với “cờ tây”. Mặt của anh đang ngụy trang với màu mực lá cây rừng và mặc bộ đồ Việt Cộng mang dép râu, tôi biết ngay anh sắp xâm nhập chiều nay, tôi hỏi:
      – Bộ rủ tôi làm vài cống để khỏi lạnh cẳng hả?
      – Coi ai lạnh cẳng trước. Tôi vào thung lủng Ashau-Alưới. Nhận lệnh sáng nay, nếu vào tới nơi phát hiện chúng nó là các ông nhào vô liền đó. Các ông (81) vô thì tụi tui (Delta) dìa!
      Rồi anh cười khì khì, cái điệu cười bất hủ của anh, anh nốc một cốc Johnnie Walker, gắp một miếng dồi chó bỏ vào chén của tôi:
      – Vô đi cha nội cho ấm cẳng.
      5 giờ chiều ngày hôm đó, toán của anh âm thầm lặng lẽ lên trực thăng của Phi Đoàn 281 không số của Mỹ vào vùng. Thung lũng Ashau Alưới nằm phía cực tây bắc tỉnh Quảng Trị, nơi tiếp vận hậu cần của quân CS Bắc Việt. Nhiệm vụ của Delta là thám sát mục tiêu, nhiệm vụ của 81BCD là khai thác mục tiêu. Anh nói đúng, khi anh rời khỏi trực thăng thì toán của anh đã nằm giữa lòng địch.Sau này anh kể cho tôi nghe: “Mẹ, giữa đoàn hùng binh (VC) có anh đang vùi đầu trong bụi rậm”....
      8 giờ sáng ngày hôm sau, 3 ĐĐ 81BCD (ĐĐ3, ĐĐ1, ĐĐ5) nhào vô thì anh đi dìa. Sau cuộc hành quân này, anh có ghé thăm tôi và Nguyễn Hiền ở Bệnh Viện Duy Tân Đà Nẵng, anh móc trong túi áo saut chai Remy Martell nhét dưới chân tôi, rồi lại cũng cười khì khì:
      - Cẳng có lạnh thì ướp cái này sẽ ấm ngay!
      Tháng tư 75 vất súng, lột lon Thiếu Tá mà nước mắt cứ chảy dài, anh trở về với vợ con, lòng nặng trĩu không phải vì mất lon thiếu tá mà vì mất màu áo hoa rừng đã ôm thân thể của anh trên một quảng đường dài binh nghiệp. Gia đình cha mẹ anh em của anh mang nặng một mối thù Cộng sản vì đã mang đến bao nhiêu nỗi bất hạnh cho gia đình anh. Anh căm thù CS một, nhưng anh căm thù Việt Gian tới mười, anh đã viết một bài viết tựa đề “CHÓ MÁ”, phân tích sự khác biệt giữa con Chó và con Má để ám chỉ những con Má đang sống lẩn quất bên cạnh anh. Sau ngày tự cởi bỏ quân phục và vào tù, tôi không còn có dịp gặp lại anh nữa. Người Bắc kẻ Nam, người lên non kẻ xuống biển, phận ai nấy giữ, thân ai nấy lo, gần 20 năm ly biệt tôi gặp lại anh ở trên phần đất này.
      – Út Bạch Lan hả? Tôi đã tới Dallas, có lẽ tôi sẽ tới nhà anh khoảng 6,7 giờ chiều nay.
      Anh đơn thân độc mã với cái xe “HO” từ Michigan về Houston tìm một sinh lộ cuối đời. Vật đổi sao dời sau khi anh được rời khỏi những rừng tre rừng nứa, những luống khoai mì khoai lang gần 13 năm tù tội, nay anh phải “rời khỏi” mái ấm gia đình một lần nữa và ngâm nga “đời tôi cô đơn nên tôi chẳng yêu ai, đời tôi cô đơn nên tôi yêu mấy bạn già”. Anh gọi tôi khi anh gần tới Humble (phía Bắc TP Houston vài chục mile).
      – Anh Sơn, anh ghé nhà anh Sáng trước, anh Sáng đang đợi anh, tôi sẽ có mặt ở đó khoảng 30 phút.
      Trung Tá Lai Văn Sáng, nguyên là Chỉ Huy Trưởng Biệt Đoàn 222 CSDC, anh Sơn về đơn vị này chỉ năm ba tháng với chức vụ Sĩ Quan Hành Quân Huấn Luyện, cùng là gốc eo eo đi bi (LLĐB) nên xem nhau như ruột thịt. Anh Sáng giữ Sơn lại tạm trú vài ngày rồi tính sau. Gọi điện thoại cho “Cò Quế”, nguyên là CHT Cảnh Sát quận Tân Bình Gia Định:
      – Help... Help... Help!
      Thế là một tuần lễ sau Sơn có việc làm và chỗ ăn chỗ ở ổn định, lương tháng hơn ngàn, bao ăn bao ở không phải chi phí gì cả, nhưng khổ nỗi cái job khiến anh nỗi nóng bất thường. Làm Cashier cho một Grocery. Cứ rình mò thằng nào vào chôm chỉa ba cái bánh kẹo lặt vặt là anh túm cổ ngay. Cái máu và tai mắt mũi họng của các toán Delta mà. Nghề của chàng, nhưng không đúng chỗ, vì nhiều lần sẽ gây thù hận, nhất là bọn mỹ đen, thì có ngày sẽ xảy ra những chuyện không hay. Ông Bà chủ khuyên anh:
      – Thôi kệ nó, ba cái lặt vặt đó, anh cứ giả bộ làm ngơ, cái mạng của anh quan trọng hơn.
      Sơn nhất quyết không chịu, khẳng định giữ vững lập trường và thái độ, tuyệt đối không nhân nhượng với bọn trộm ngày cướp đêm này, rồi cuối cùng anh xin thôi việc, anh tâm sự:
      – Ông Bà chủ (vợ chồng Cò Quế) rất tốt với tôi, tôi có thể làm việc cho ông bà đến chết để đáp lại ân tình này, nhưng mà cứ hể mỗi lần thấy thằng Mỹ đen vào cửa hàng ngông nghênh lận lưng bỏ túi rồi vênh váo bước ra cửa là tôi cứ nghĩ tới mấy thằng Việt Cộng nửa đêm xông vào nhà bố mẹ của tôi hôi của và bắt đóng thuế nữa. Tôi phải xin nghỉ việc vì chẳng đặng đừng, nếu còn tiếp tục chắc có ngày tôi bắn vỡ sọ một vài thằng rồi đi tù. Coi vậy mà đi tù ở Mỹ sướng hơn!
      Vài tháng sau, phóng viên chiến trường Phục Viên giới thiệu anh làm một việc khác: Nhà Quàn!!! Nếu mổ và tắm rửa hóa trang xác chết thì 15 US một giờ, còn cắm hoa quét dọn nhà xác thì 10 US một giờ. Anh chọn việc thứ hai. Nhưng cũng chỉ được vài tháng anh lại xin thôi việc, anh tâm sự:
      – Mẹ! Hồi xưa vừa chạy vừa cõng xác chết anh em đồng đội, rồi chui vào bụi rậm ôm xác chết ngủ qua đêm, sao người chết rồi mà vẫn còn sưởi ấm cho thân mình. Bây giờ làm cái nghề này sao tôi thấy nó tởm lợm làm sao! Đi ra, đi vào thấy mấy gương mặt đen thủi đen thui, bị bắn chết vì cướp giật, hiếp dâm, uống rượu say lái xe đụng người ta chết, rồi chết luôn, đôi khi mấy ông già bà cả chết già, tôi còn liếc mắt nhìn, rồi kiếm chuyện ra phòng sau cắm hoa vòng hoa phúng điếu...
      Có người giới thiệu anh làm một job khác: Lái xe Thiết giáp!!! Giờ làm việc anh lái chiếc xe Van bọc thép (Armor Vehicle) nhận tiền rồi đi đổi tiền, công việc nhàn nhả thư thả, nhưng đôi khi phải nhanh trí để giải quyết những trường hợp thay đổi khẩn cấp. Phần vì tiếng Mỹ chưa nhuần nhuyễn, lại đàm thoại trên vô tuyến (radio), mắt lại kém nên cứ lạc đường hoài, không theo đúng lời chỉ dẫn của supervise hay manager nên anh lại xin thôi việc, anh tâm sự:
      – Nhà tôi nghèo lắm. Thuở nhỏ mấy anh em đi học chỉ có một củ khoai lang hay một củ sắn dằn bụng buổi sáng, mãi tới chiều mới có được vài chén cơm với cá mắm Lăng Cô. Khi đi lính, có được đồng lương hằng tháng không cần đếm, chỉ cần tính nhẩm thôi cũng biết ăn xài được mấy ngày. Bây giờ làm công việc này, cứ lên xe là thấy giấy 100 dollar chất đống, tiền của người ta không phải tiền của mình, mất 100 đồng là bị trừ 100 đồng. Một tuần chỉ được vài ba trăm đô, bị sọt (short) một cái, là húp cháo, lại nữa ngựa già làm sao phi đường xa như mấy người trẻ, lên xe xuống xe phải vịn vào cửa xe hay thành xe, lọm khọm kiếm nắp bình xăng không nhớ nằm bên trái hay bên phải, lờ quờ chậm chạp kiểu đó có ngày thằng Mỹ đen lụi một dao vào sau lưng rồi lái xe Van chạy mất với mấy trăm ngàn trên đó thì có nước tự vận.
      Cái job cuối cùng của cuộc đời anh khi anh vừa 61 tuổi. Bờ lâm binh (plumbing)!!! Rotation job. Có khi làm từ 10 giờ tối cho đến 6 giờ sáng, có khi từ 2 giờ chiều đến 10 giờ đêm, công việc mà anh thường đùa là “thụt cầu tiêu”, nhưng anh rất happy với công việc này vì nó thuộc City nên benefit đầy đủ, anh tâm sự:
      – 13 năm tù, ngày ngày đi hốt và gánh phân tù rồi đổ nước quậy lên cho loảng ra, múc từng gào đi tưới cải xanh, cải bắp, quần áo tay chân mặt mũi lúc nào cũng dính cứt. Bây giờ đi làm lại việc này, nhưng nhiều điều khác nhau. Không bao giờ thấy cứt, cũng không thấy hôi hám, tất cả đều dùng máy móc, bơm thông thụt rửa chỉ bật điện rồi châm thuốc hút chờ, cuối tuần cầm cái check, cảm thấy cái job của mình nó thơm chi lạ.
      Nhiều khi ngồi với anh cả buổi, nghe anh tâm sự đời anh không khỏi ngậm ngùi. Thú thật, cho đến khi anh ra đi, tôi không biết anh theo đạo gì, không bao giờ anh nói đến chuyện đi lễ nhà thờ hay chùa chiền, cũng không bao giờ nhắc tới tôn giáo, nhưng trong những câu chuyện thường nhật anh gói ghém triết lý nhân sinh một cách khéo léo tài tình. Có lần chị Sơn hỏi tôi:
      – Anh Út có hiểu ảnh nói gì không, hay anh Út đọc bài của anh Sơn anh có biết ảnh nói cái gì không, còn tôi thì mù tịt.
      Sơn cười cười:
      – Tôi viết và tôi nói, đôi khi tôi cũng không biết tôi nói và tôi viết cái gì huống hồ chi người khác, bà sao hay lộn xộn!
      Nhưng tôi hiểu. Tánh tình anh điềm đạm, dè dặt cẩn trọng trong mọi việc suy tính, cách xử thế với tha nhân rất ôn hòa và lịch sự, nhưng cả cuộc đời anh từ thuở nhỏ cho đến khi nằm xuống quả là một cuộc đời bất hạnh mang nhiều nỗi khổ tâm. Chính vì những bất hạnh đó đã làm cho anh trở thành một người trầm lặng. Không màng danh lợi, không bon chen hơn kém với bất cứ ai, nhưng khi nói hay viết một điều gì đều mang máng một cái gì đó trong tâm thức sâu thẳm của anh. Ngôn ẩn ngữ, ngữ ẩn ngôn, ngôn ngữ ẩn ý, người nghe người đọc thoáng qua không hiểu anh muốn ngụ ý gì! Có lần anh hỏi tôi:
      – Tôi đố anh biết tại sao khi con người ta chết thì hai cái chân chết trước rồi mới dần dần lên tới cái đầu?
      – Tôi không biết!
      – Này nhé, khi con người sinh ra là cái đầu ra trước, chỉ trừ phi bị đẻ ngược, còn hai cái chân ra sau cùng. Ra trước chết sau, ra sau chết trước. Cũng giống như toán trưởng Delta lúc nào cũng nhảy trước nhưng chết sau, khi triệt xuất về sau nhưng chết trước.
      – Tôi không hiểu xin anh nói cho rõ.
      – Này nhé! Khi trực thăng vào tới điểm xâm nhập (LZ) thì toán trưởng phải hoặc là tuột dây cáp, tuột thang dây, hay nhảy từ độ cao 5,7 thước trước rồi mới tới toán viên. Chỉ trong vòng 30 giây theo tiếng đếm, cả toán phải xuống hết mặt đất. Nếu trong vòng 30 giây này mà Việt Cộng trở tay kịp thì có phải thằng tuột dây sau cùng bị bắn khi còn tòn teng trên không hay không? Còn khi triệt xuất (PZ) thì luôn luôn toán trưởng phải đu dây cuối cùng khi cả toán đã ngồi trên trực thăng, cũng trong vòng 30 tiếng đếm, nếu mà Việt Cộng đuổi theo kịp thì có phải toán trưởng lãnh đủ hay không? Đi trước chết sau, về sau chết trước là thế đó.
      Rồi anh giảng giải cho tôi nghe về Tứ Đại, Ngũ Uẩn, Lục Căn, con người từ đâu đến, chết sẽ đi về đâu. Tôi ngồi hằng giờ nghe anh nói và có cảm tưởng như ngồi trước mặt một vị thiền sư. Anh vói tay mồi một điếu thuốc, không biết điếu thứ mấy tự nãy giờ, rồi tiếp:
      – Anh biết không, hồi nhỏ cha tôi dạy rằng, khi người ta chết thì thân xác lạnh ngắt nhưng còn một điểm vẫn còn nóng (trong Tứ Đại). Nếu điểm nóng này hội tụ trên đỉnh đầu thì người chết sẽ thoát vòng luân hồi sinh tử siêu thoát về nơi thánh cảnh. Nếu ở mắt thì sẽ siêu thoát về cõi trời. Ở ngực thì đáo sinh kiếp người. Ở bụng thì vào loài ngạ quỷ. Nếu ở đầu gối thì là, thì là súc sanh. Cho nên mấy thằng súc sanh, thường đi bằng hai đầu gối là như vậy đó.
      11 giờ sáng ngày 6/12/2014. Bầu trời Houston âm u ảm đạm, mưa không nặng hạt nhưng buồn tê tái, lòng người buồn lòng trời cũng buồn theo, người nhỏ giọt lệ trời cũng nhỏ lệ theo.
      Cất bước quay về thăm chốn xưa
      Buồn ơi biết ngỏ hết sao vừa
      Khi hay bạn đã lìa trần thế
      Bỏ lại lòng tôi những giọt mưa
      Bồi hồi mượn bút hạ vần đan
      Mặn đắng bờ mi chợt lệ tràn
      Gởi gió về Anh lời vĩnh biệt
      Cầu xin giấc ngủ mãi bình an.
      Tôi đưa anh về cõi vĩnh hằng, nơi thánh cảnh anh sống yên bình vĩnh cửu. Anh đã theo mây về trời, đã theo gió đến miền Cực lạc, trút bỏ mọi ưu phiền khổ lụy chẳng một chút tơ vương. Khi nắp quan tài khép lại, tôi sờ vầng trán cao rộng của anh, để nhỏ giọt lệ cuối cùng tiễn đưa anh, bàn tay tôi bỗng thấy nóng ấm lạ thường.
      Như vậy theo lời anh giảng, thì anh đã thoát vòng luân hồi sinh tử siêu thoát về nơi không còn vướng bận trần ai tục lụy và khôngcòn nhìn thấy những con chó con má mà lúc sinh tiền anh thường hay khinh bỉ và phỉ nhổ./.
      Houston 
      Mũ Đỏ Út Bạch Lan



TẠI SAO NGƯỜI MIỀN NAM ĐƯỢC KHEN LÀ THẬT THÀ, HIỀN LÀNH, NHÂN ĐẠO❓
  •   Nam Giang được may mắn sống trong hàng ngủ của chế độ VNCH . Và,được giáo dục căn bản,ăn sâu vào tiềm thức bắt đầu từ lớp 6 mẫu giáo . Trên Bảng Đen của lớp học đã có ghi"Tiên học lễ,hậu học văn". TẠI SAO NGƯỜI MIỀN NAM ĐƯỢC KHEN LÀ THẬT THÀ, HIỀN LÀNH, NHÂN ĐẠO❓: Tựa đề xem như đã trả lời đầy đủ chính xác về người dân Nam Bộ . VỰA LÚA VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG"CÒ BAY THẲNG CÁNH". Sông rạch bạt ngàn,chiếc thuyền dài mà nhỏ với máy đuôi tôm,chỉ thấy một lần trên đường "Rạch Giá -Phú Quốc" 1975. Không bao giờ quên . Người dân no đủ là một trong những yếu tố làm cho tâm hồn thư thái,hài hòa bớt phần bon chen .
              Nguyễn văn Bang(Lính VNCH)
     
    TẠI SAO NGƯỜI MIỀN NAM ĐƯỢC KHEN LÀ THẬT THÀ, HIỀN LÀNH, NHÂN ĐẠO❓
    ������ Lúc tôi còn nhỏ, thỉnh thoảng mẹ tôi dẫn tôi theo bà đi chợ để xách đồ phụ bà. Lúc mua trái cây, tôi nghe mẹ tôi hỏi giá, trả giá và nhiều khi mua "một chục" không phải là 10 trái xoài mà nhiều khi thành "một tá" 12 trái, hay có khi "đại hạ giá" lên tới 14 trái! Các cô, các bà bán hàng nói chuyện, tiếp đãi mẹ tôi thật tự nhiên, vui vẻ, niềm nở, lịch sự và họ rất bình dân, mộc mạc. Đây là đức tính dễ thương, hiền hòa, đầy thiện cảm của người miền Nam!
    ������ Quý vị còn nhớ thời xưa trước năm 1975, con cua được cột bằng xợi dây cói giống như dây gói bánh chưng, bánh tét đúng không? Thứ nhất là dây cói nhẹ, không làm ảnh hưởng bao nhiêu đến trọng lượng con cua khi được cân bán. Người ta buôn bán, làm ăn, cân đo đàng hoàng. Thứ hai là vựa bán cua chỉ cột hai càng cua cho nó khỏi kẹp tay, con cua tha hồ cựa quậy. Đó là điều nhân đạo đáng khen!
    Ngược lại, tôi tình cờ coi YouTube video thấy người trong nước bây giờ xài một loại dây gì đó thật bự bọc hết con cua, làm nó không cựa quậy được nữa, giống như hành hạ, tra tấn con cua! Và tôi nghĩ dây bự đó thấm nước nên trọng lượng con cua không đúng nữa, nếu người bán chỉ trừ trọng lượng dây khô sau khi cân. Làm ăn, buôn bán gian manh, hành hạ thú vật, thất đức là đây! Xin quý vị cho tôi biết, nếu tôi nghĩ sai, đoán sai!
    ����️��‍✈️ Điều mà tôi kính phục, khâm phục người lính và chính phủ Việt Nam Cộng Hòa nhiều nhất là họ đối xử với tù binh Việt cộng nhân đạo, đàng hoàng, tử tế. Đây là chuyện "rất khó làm" vì người tù binh trước đó là kẻ thù, có thể giết người lính tích tắc trong một giây với cây súng trong tay!
    ������ KẾT LUẬN
    Chỉ trong một chế độ, xã hội phát triển, văn minh, tiến bộ, luôn coi trọng tình thương, đạo đức, bác ái thì công dân quốc gia đó mới có thể cư xử với kẻ thù bao dung, vị tha như vậy được‼
    Mong quý vị góp ý kiến, comment!
    ��

CÔ GÁI HÀ THÀNH LÝ LUẬN VỀ PHẢN ĐỘNG.
  • - Chúng tôi không tham nhũng ngân sách quốc gia, chúng tôi không ăn chặn tiền thuế của các bạn một đồng nào. Nếu chúng tôi có làm những việc đó chúng tôi mới là phản động.
    - Chúng tôi không cướp đất của dân, đẩy người dân ra đường, để cụ già phải ăn xin, em bé phải bán vé số, phụ nữ phải bán dâm. Nếu chúng tôi làm những điều đó chúng tôi mới là phản động.
    - Chúng tôi không cấp phép cho những gian thương, cho những doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam kinh doanh nhưng phá hoại môi trường để rừng trơ trọi, để biển ô nhiễm gây ảnh hưởng xấu đến cuộc sống người dân. Nếu chúng tôi có làm những việc đó chúng tôi mới là phản động.
    - Chúng tôi không ra đường chặn xe bạn vô cớ, không vu khống bạn vi phạm luật, không bắt bạn những lỗi vớ vẩn... rồi tìm cách vòi tiền bạn. Nếu chúng tôi làm việc đó chúng tôi mới là phản động.
    - Chúng tôi không có quyền kiểm soát việc nhập khẩu hàng hóa vào Việt Nam. Chúng tôi không nhập hàng giả, thức ăn độc hại vào thị trường Việt Nam để bạn dùng, vì lợi nhuận mà làm hại giống nòi người Việt. Nếu chúng tôi làm điều đó, chúng tôi mới là phản động.
    - Chúng tôi không đến công ty, cửa tiệm, ki ốt của bạn để hạch sách, nhũng nhiễu để bắt bạn đóng tiền lậu mãi. Khi nào chúng tôi làm vậy chúng tôi mới là phản động.
    - Chúng tôi không tạo ra bất công trong xã hội. Chúng tôi không bao che những người làm sai, không nâng đỡ con cháu thiếu năng lực vào những vị trí cao. Nếu chúng tôi làm điều đó hãy gọi chúng tôi là phản động.
    - Chúng tôi không mượn nợ nước ngoài cho con cháu du học, xây biệt thự, sắm xe, tiêu xài hàng hiệu, uống rượu ngoại, nuôi bồ nhí... để mỗi người dân gánh $1200 tiền nợ. Nếu chúng tôi làm thế bạn cứ gọi chúng tôi là phản động. - Chúng tôi không ăn chặn tiền cứu trợ đồng bào lũ lụt, không bòn rút tiền từ thiện dành cho bệnh nhân tâm thần, người già neo đơn. Nếu có làm việc đó, gọi chúng tôi là phản động còn nhẹ... hãy xử bắn chúng tôi ngay.
    Bạn nói khi tôi và những người giống như tôi chưa có quyền thì kêu gào hay lắm... nhưng đến lúc nắm quyền thì cũng hành xử như những gì chúng tôi lên án thôi. Bạn nói đúng nếu như guồng quay xã hội hiện tại cứ mãi mãi tiếp tục còn kéo dài, thì ai lên nắm quyền cũng sẽ bị biến chất. Và những gì chúng tôi làm chính là muốn thay đổi guồng quay xã hội đó.
    Chúng tôi muốn tạo ra 1 guồng quay xã hội khác để người nào lên nắm quyền cũng phải tuân thủ luật pháp, làm đúng trách nhiệm cần có... nếu tắc trách, sai phạm, biến chất phải bị đẩy đi cho người xứng đáng tốt hơn thay thế. Chúng tôi muốn xã hội tốt hơn bằng việc thay đổi cái gốc, thay đổi hệ thống vận hành... và bạn gọi chúng tôi là phản động có đúng không?
    Nguyễn Thủy Tiên

    Inline image

Thập niên, thập kỷ
  • Một bác fker vừa than thở, dạo này thiên hạ dùng tiếng Việt sai tùm lum, trong đó có từ "thập kỷ". Tôi bảo, để rảnh tôi sẽ đề cập. Lúc này nói về ngôn ngữ là lành nhất, ít rắc rối nhất.
    Trên báo chí và tivi, người ta hay dùng từ "thập kỷ", với ý để chỉ khoảng thời gian 10 năm. Có người còn diễn giải, thập là 10, kỷ là thế kỷ, thập kỷ tức là 10 năm của thế kỷ. Mà chẳng riêng nhà báo (phóng viên, biên tập viên), ngay cả một số cán bộ to, trí thức lớn cũng vẫn dùng “thập kỷ” theo nghĩa ấy. Tuy nhiên dùng thế là sai. Vì sao?
    “Kỷ” là từ Hán Việt, có nhiều nghĩa: Để chỉ thời gian địa chất từ ngàn năm trở lên, ví dụ kỷ phấn trắng, kỷ Jura, kỷ băng hà...; là khoảng thời gian gồm 12 năm theo quy định, cách tính của người xưa, cứ 12 năm gọi là một kỷ; là sự kết hợp với một từ nào đó, để chỉ thời gian nhất định, ví dụ: thế + kỷ = thế kỷ (100 năm), kỷ nhà Lê, kỷ nhà Nguyễn...
    “Từ điển Hán Việt” của học giả Đào Duy Anh cũng giải nghĩa rất rõ: Kỷ là 12 năm.
    Như vậy, muốn chỉ 10 năm thì phải viết thập niên (niên là năm) chứ không phải thập kỷ, bởi thập kỷ (10 kỷ) tính ra những 120 năm. Mà ngay cả dùng “thập niên” cũng không thể tùy tiện. Một thập niên, theo quy ước để tính chục năm từ năm có số đuôi là 0 tới năm có số đuôi là 9, ví dụ thập niên 60 của thế kỷ 20 tính từ năm 1960 tới năm 1969 (1960 - 1969). Không thể tính năm dở dang từ thập niên này vắt qua thập niên khác dù 10 năm, rồi gọi là thập niên, chẳng hạn thập niên 1967 - 1976. Tình trạng nhầm này rất phổ biến.
    Sau đây là một ví dụ về cách viết chính xác của người xưa (tôi trích nguyên đoạn dịch, không sai chữ nào):
    "Hoàng tử thứ sáu là Nhật Duật. Trước có đạo sĩ ở cung Thái Thanh tên là Thậm làm lễ cầu tự cho vua. Khi đọc sớ xong, Thậm tâu với vua rằng: Thượng đế đã y lời sớ tâu, sẽ sai Chiêu Văn đồng tử giáng sinh, ở trần thế này 4 kỷ. Rồi thì hậu cung có mang, quả nhiên sinh con trai, trên cánh tay có chữ "Chiêu Văn đồng tử", nét chữ rõ ràng, vì thế đặt hiệu là Chiêu Văn (tức Trần Nhật Duật). Đến khi lớn lên chữ mới mất đi. Năm Chiêu Văn vương Nhật Duật 48 tuổi, ốm nặng hơn 1 tháng, các con Duật làm chay, xin giảm bớt tuổi của chúng để cha được sống lâu. Đạo sĩ đọc sớ xong, đứng dậy nói: Thượng đế xem sớ, cười và bảo rằng: "Sao lại quyến luyến trần tục ở lại lâu thế. Song các con thực là có hiếu, vậy cho Duật được sống thêm hơn 2 kỷ nữa". Rồi khỏi bệnh. Đến khi Duật mất, tuổi 77, được đủ 6 kỷ lẻ 5 năm" (Đại Việt sử ký toàn thư, quyển 5, kỷ nhà Trần).
    Sau này người ta còn sáng tạo ra từ "thiên niên kỷ", ví dụ “mục tiêu thiên niên kỷ”, nhưng viết như vậy cũng không chính xác, đúng ra chỉ cần viết "thiên niên" là được, để áng chừng 1 nghìn năm.
    Nguyễn Thông
Đi Thăm Nước Mỹ (Tr. Ngắn)
Nguyễn Thị Thanh Dương
5660 DiThamNuocMyNTTD
       Ông Sĩ ngồi ở bàn, bên ấm chè nóng, ông đang tra thuốc vào chiếc điếu cày và châm lửa hít một hơi, xong khoan khoái ngửa mặt ra thả một làn khói bay mù mịt. Bà Sĩ ngồi dưới đất, cạnh bàn, đang lo gói ghém lại các món qùa trước khi bỏ vào túi xách cho chồng. Bà hài lòng khoe:
– Toàn là cây nhà lá vườn ông nhá, long nhãn khô, măng khô, bột sắn giây, tự tay tôi làm cả… Những thức này nghe nói ở bên Mỹ quý hiếm lắm, tìm không có, đào không ra đâu…
Ông Sĩ ra vẻ hiểu biết:
– Thiếu giống gì, hàng của ta xuất khẩu sang Mỹ nhiều lắm, đến củ giềng ăn thịt chó cũng có nữa là. Để sang Mỹ tôi sẽ ăn thịt chó Mỹ xem có béo không? Chó tư bản nhà giàu mà.
Ông Sĩ hớp một ngụm chè để vài giây cho thấm thía mới gật gù:
– Chè mộc Thái Nguyên ngon thật. Bà có mua chè này mang sang Mỹ làm quà  không, hử?
– Sao không chứ. Những gì ông dặn tôi mua tất….
Bà Sĩ đứng lên, phủi bụi quần và ân cần bảo chồng:
– Xong hết cả rồi, ông đi ngủ sớm mai còn ra phi trường Nội Bài, mai tôi cũng dậy sớm nấu cho ông nắm cơm nếp ăn đi đường.
– Gớm, bà cứ làm như ngày xưa lúc tiễn tôi lên đường trở về đơn vị sau lần tôi hiếm hoi về phép thăm nhà không bằng. Nhưng mà đi xuất cảnh sang Mỹ ai lại mang món cơm nếp nhà quê này chứ?
Bà Sĩ âu yếm gắt:
– Ăn cho nó chắc bụng, không gì bằng cơm nhà quà vợ.  Ông đừng có mà sĩ diện.
       Suốt mấy ngày nay, biết tin ông Sĩ sắp đi Mỹ du lịch, họ hàng, làng xóm đã thăm hỏi, chúc mừng không ngớt, và nội bộ nhà ông cũng bận rộn tíu tít, lo sửa soạn hành lý và … tâm lý không ngớt.
       Đời cứ như là mơ, ông Tượng, người em của ông Sĩ di cư vào Nam từ năm 1954 và di tản sang Mỹ năm 1975 đã mời ông Sĩ chuyến đi du lịch này.
       Ngày di cư ấy bố ông đã dẫn thằng em 12 tuổi vào Nam trước, ông Sĩ ở nhà với mẹ, sẽ vào Nam sau. Nhưng chuyến đi Nam ấy không thực hiện được, gây ra cảnh chia lìa một gia đình 4 người mà nửa Nam nửa Bắc. Ông Tượng quyết không bao giờ trở về Việt Nam nếu đất nước còn chế độ cộng sản, ông chỉ liên lạc với người anh duy nhất của mình qua thư từ hay điện thoại và thỉnh thoảng gởi tiền về giúp anh chị. Ông Tượng mời anh sang Mỹ chơi, coi như một món quà hào hiệp tặng anh, trước là thăm thân nhân sau là đi cho biết đó biết đây.
       Hai anh em hai lý tưởng khác nhau, ông Sĩ đi bộ đội miền Bắc suốt một thời tuổi trẻ để giải phóng miền Nam cho đến khi đúng tuổi giải ngũ. Ông Tượng là lính miền Nam, chiến đấu chống lại quân đội Bắc Việt. Sau chiến tranh hai anh em đều sống sót, nhà ông may mắn thế, nhưng biết đâu có những nhà khác, anh em, cha con hay chú cháu đã đối diện nhau nơi chiến trường, xả súng vào nhau để giành phần chiến thắng mà nào hay tình máu mủ liên hệ… 
       Cha mẹ đều lần lượt qua đời mà chẳng thấy mặt nhau sau lần chia ly vì thời cuộc ấy, chỉ còn hai anh em nên ông Sĩ háo hức muốn gặp lại thằng Tượng em ruột của mình lắm...
       Ngày xưa bố ông rất mê chơi cờ tướng, nên đặt tên các con theo từng quân cờ, người anh cả mang tên Nguyễn văn Tướng qua đời khi lên 3 tuổi vì một cơn bạo bệnh, người con thứ hai là ông Sĩ và người kế tiếp là Tượng thì mẹ ông phát bệnh gì đó mà không thể sinh đẻ được nữa, nếu không thì anh em ông còn … kéo dài thêm mấy quân cờ nữa như Xe, Pháo, Mã, Tốt, vì thuở ấy nhà nào cũng bảy, tám đứa con là chuyện thường. Ông Sĩ cũng háo hức muốn biết mặt mũi nước Mỹ nó ra làm sao mà ghê gớm thế, có thể làm ảnh hưởng cả thế giới và một thời đã xâm chiếm miền Nam Việt Nam để miền Bắc của ông phải vất vả, bao nhiêu thanh niên nam nữ lên đường thi hành nghĩa vụ quân sự và bao nhiêu người đã gởi thây nơi rừng núi chiến trường miền Nam, mất xác, mất tăm tích cho đến tận bây giờ.
      Tất cả chi phí chuyến du lịch qua Mỹ dĩ nhiên đều do người em lo. Nhà nghèo xác nghèo xơ, chuyện đi Tây đi Mỹ du lịch là một giấc mơ vĩ đại cả đời ông không dám nghĩ tới, thì bây giờ cơ hội trong bàn tay dại gì ông từ chối. 
       Sáng hôm sau ông Sĩ thức dậy sớm, nhưng bà đã dậy sớm hơn ông từ lúc nào, cơm  nếp nấu xong bà gói trong lá chuối, với một gói muối vừng để tiện mở ra ăn. Đám con cháu cũng lần lượt đến tiễn ông Sĩ lên đường. Thằng con trai cả sẽ làm nhiệm vụ chở bố ra phi trường Nội Bài. Từ quê ông ra Hà Nội mất gần 1 tiếng, từ Hà Nội ra phi trường Nội Bài mất thêm khoảng 40 phút nữa.
       Hai bố con đến phi trường Nội Bài, bố con dặn dò nhau xong thì ông Sĩ bước vào trong, ông hoa mắt vì lần đầu tiên trong đời mới được biết  phi trường là gì. Ông cầm cuốn hộ chiếu chìa ra để trình bày và hỏi thăm, người ta chỉ cho ông chỗ xét gởi hành lý trước..
       Cô hải quan đanh đá thô bạo đưa tay bới túi hành lý, cô định mở từng bọc một thì ông Sĩ biết điều móc túi ra, ông tần ngần suy nghĩ, nó trông phong lưu và đẹp người thế, trong khung cảnh phi trường hoành tráng thế, mà đưa tiền ít chắc không xứng đáng lại thêm rắc rối?
       Ông đành lấy ra 5 trăm ngàn đồng Việt Nam dúi vào tay cô, kẻo cô mở tung toé ra thì giờ đâu ông xếp lại cho được :
– Chẳng có gì đâu, ít thực phẩm khô làm quà thôi mà…
Nhận được tiềncô hải quan dịu dàng, tươi tỉnh ngay:
– Thế mà bác không nói cho cháu biết trước. Thôi, bác yên chí, hành lý này sẽ chuyển lên chuyến bay với bác.
      Kinh nghiệm lo xa của ông thật hữu ích, ông đã bảo bà để một số tiền mặt cho ông “đi đường”, hễ có giao thiệp với bất cứ nhân viên cấp nào, ngành nghề nào phải có tiền mới giải quyết được sự việc. Tiền có sức mạnh ghê gớm, tiền cất tiếng nói thay người.
       Xong việc ký gởi hành lý, ông Sĩ thảnh thơi ôm cái xách tay và lại hỏi thăm chỗ đăng ký lên máy bay, lại hết chỗ nọ đến chỗ kia, cuối cùng ông đã tìm ra đúng chỗ, ông đang ngơ ngác chưa biết phải làm gì thì bị anh hải quan ngồi sau chiếc bàn dài, mặt non choẹt, quát xa xả:
– Ông kia, đưa giấy tờ đây, làm mất cả thì giờ của người khác!!
– Vâng ạ, có hộ chiếu xuất cảnh đầy đủ đây ạ… người xuất cảnh là tôi Nguyễn Văn Sĩ, sinh năm.…
Anh Hải Quan bực mình ngắt ngang:
– Khi nào cần tôi hỏi, ông không phải khai. Giấy nhập cảnh nữa, xuất khỏi đây ông sẽ đến đâu. Đấy là thủ tục.
       Ông lại móc túi quần qua hai ba lớp gói, lớp bọc để lôi ra giấy nhập cảnh trân trọng đặt lên mặt quầy cho anh hải quan. Tướng tá sang cả và mặt anh ta lạnh lùng càng làm ông Sĩ cảm thấy mình thấp hèn và hồi hộp như một kẻ đang đợi được ban ơn:
– Thưa anh, thế đủ chưa ạ? cần gì nữa không ạ?
Anh hải quan lại quát:
– Ông ạ, ạ... gì mà lắm thế? có im đi không cho người ta làm việc.
       Ông Sĩ im ngay tức khắc, liếc nhìn sang anh hải quan bên cạnh đang “làm việc” với một người nước ngoài, nhã nhặn, lịch sự, ông ngạc nhiên tự hỏi :” Hai anh hải quan này cùng làm một việc, nhưng tính khí khác nhau? hay chắc tại mình và ông nước ngoài kia khác nhau?  mà hai cảnh đối xử một trời một vực thế nhỉ?”
       Anh hải quan của ông đã xét giấy tờ xong, anh ta đẩy mạnh mớ giấy tờ về phía ông, suýt nữa thì cuốn sổ hộ chiếu quá đà rơi xuống đất nếu ông Sĩ không nhanh tay đỡ kịp. Anh hải quan không thèm nói một câu, nhưng ông biết là đã xong, vội thu gom giấy tờ của mình bỏ vào bọc, vào túi và bước theo lối có mũi tên chỉ dẫn để ra chỗ cổng vào máy bay, để nhường chỗ cho người khác tiến lên.
       Tới đây tưởng đã được yên thân, nhưng khi ông cẩn thận và thân ái hỏi một cô mặc đồng phục nhân viên phi trường đang ngược chiều đi đến :
– Có phải lối này ra chỗ máy bay không cháu?
       Thay vì trả lời 3 chữ “vâng đúng rồi” để tiết kiệm năng lượng trong người, cô gái tốn công cau có, gắt gỏng bằng một câu dài hơn:
– Có một lối này ông còn hỏi gì nữa…?
Ông Sĩ bất chấp lối ăn nói “sinh sự” ấy,  vẫn tươi cười và thân ái:
– Thế hả, bác cám ơn cháu.
       Vừa trả lời ông Sĩ vừa rảo bước thật nhanh, kịp lúc người ta đang gọi loa mời hành khách lên máy bay.
       Vào trong máy bay gặp các cô tiếp viên Việt Nam, ông Sĩ lại… giật mình vì cảm thấy chưa thoát nạn, nhưng ông tự trấn an :  “Đã ngồi vào trong máy bay là chắc ăn rồi, có bị chúng nó gắt gỏng nữa cũng không thành vấn đề”.
       Các cô tiếp viên hàng không Việt Nam trông ai cũng sáng sủa, trẻ đẹp và sang cả như mấy người  hải quan lúc nãy, ông Sĩ tự kết luận phi trường là chỗ làm việc của những đứa con nhà giàu quyền thế, khác hẳn với mấy đứa cùng trang lứa ở quê ông, mặt mày tối tăm, ngu dốt và đáng thương như miếng thịt ôi trên phản thịt chợ chiều 30 Tết.
       Các cô tiếp viên hàng không đẹp mà kiêu kỳ xa cách quá, ông lại tưởng như mình không phải là hành khách trên chuyến bay, mà đang đi nhờ họ thì đúng hơn, nên ông không dám làm phiền, biết thân biết phận ngồi gọn gàng và im thin thít tại chỗ, dù có nhiều thứ lạ, ông muốn cất tiếng hỏi han lắm, nhưng chẳng dại gì mở miệng để bị mắng như lúc nãy hỏi đường cô nhân viên.
       Máy bay rời Việt Nam đến phi trường Nhật Bản, ông lại lạc vào mê cung lần nữa, kinh hoàng hơn vì chung quanh không còn nhiều người Việt Nam. Thà bị mắng, bị gắt như ở phi trường Nội Bài còn là đất nước Việt Nam, con người Việt Nam, còn dễ dàng hỏi thăm, đằng này xứ lạ quê người. Nhưng khi ông chìa vé, chìa hộ chiếu ra chẳng biết nói câu tiếng Nhật nào mà cũng được người ta giúp đỡ rất tận tình, dẫn tay ông ra tận chỗ cổng máy bay mà ông cần. Thế là ông nhẹ cả lòng, ngồi tại chỗ quyết không đi đâu xa, sợ lạc mất cái cổng máy bay này. Bây giờ ông Sĩ mới thong thả mở gói cơm nếp của bà vợ ra ăn trong thời gian chờ máy bay mấy tiếng đồng hồ. Từ phi trường Nội Bài gặp các sự sách nhiễu vô lý, ông thấy gói cơm nếp của vợ thật có lý, có tình.
       Lên chuyến bay ở Nhật, từ Nhật cách Việt Nam chẳng bao xa, mà không khí, con người đã khác nhau xa, nhân viên trên máy bay ân cần giúp đỡ ông tìm ghế ngồi, chỉ cách cài dây an toàn, và giúp ông để túi hành lý vào khoang tàu với nụ cười và nét mặt tươi tắn...
      Tiếp viên hàng không Nhật nổi tiếng khắp thế giới về việc phục vụ lịch thiệp, nhã nhặn, chu đáo đối với hành khách trên các chuyến bay. Họ quả là những người có giáo dục rất tốt, rất đáng khâm phục!
       Lần này ông ngồi gần khung cửa sổ và tâm hồn tự tin thanh thản hơn nên tha hồ làm chủ tình hình, ông ngả đầu ra ghế để nhìn ngắm bên ngoài, từ lúc máy bay từ từ lăn bánh, rồi lấy đà cất cánh lên cao dần, thành phố càng lúc càng xa ở phía dưới, ông sợ lắm, nhưng cũng thú vị lắm, không ngờ trong đời mình có lúc được đặt chân vào phi trường để xuất ngoại, được “đi mây về gió” thế này.
       Các cô tiếp viên Nhật Bản cũng xinh đẹp, lịch lãm, cao sang không thua gì các cô tiếp viên hàng không Việt Nam nhưng họ thật là thân thiện, họ mỉm cười kiên nhẫn nhìn ông ra dấu chỉ trỏ các món thức ăn, nước uống nào mà ông muốn trên suốt chuyến bay dài từ Nhật đến nước Mỹ xa xôi. Bây giờ ông thật sự là một hành khách được phục vụ tận tình và trân trọng.
       Ông náo nức nghĩ đến nước Mỹ, nghĩ đến thằng em và đám con cháu nhà nó, cũng như họ hàng làng nước mà ông có thể sẽ gặp trong thời gian thăm viếng.
       Xuống tới phi trường Los Angeles tiểu bang California lúc 12 giờ trưa hôm sau, ông Sĩ thêm một phen choáng váng đến hoang mang, phi trường to lớn và náo nhiệt như cả thế giới, toàn thể nhân loại đều tụ họp ở đây, người ta nói đủ thứ tiếng làm ông nghe mà điếc cả tai.
       Ông lắng tìm nghe tiếng Việt Nam, nhìn khuôn mặt Việt Nam và đi theo họ cho chắc ăn, ông chỉ có một túi hành lý ký gởi nên hải quan Mỹ làm rất nhanh chóng. Họ hỏi, thì có người hành khách Việt Nam bên cạnh dịch lại cho ông, ông trả lời không mang thực phẩm có thịt, cá. Thế là anh hải quan xét hàng tin ngay, chẳng buồn mở ra kiểm tra ông nói thật hay không. Người Mỹ sao mà dễ tin người thế chứ.
       Xong ông xếp hàng dài chờ trình giấy tờ nhập cảnh vào Mỹ mà lòng vẫn chưa hết kinh ngạc vì anh hải quan Mỹ xét hàng vừa rồi, ông vui lây và tự hào vì đã được người ta tin tưởng vào lời nói của mình.
       Người này tử tế bao nhiêu ông lại nghĩ đến người kia bấy nhiêu, nét mặt câng câng đáng ghét của cô hải quan xét hàng hóa ở phi trường Nội Bài khi lục mở túi hành lý của ông, và bộ mặt ấy bỗng biến thành tươi cười hơn hớn khi nhận được tiền ông đút lót.
Bây giờ so sánh hai sự khác biệt, ông mới thấy đau đớn vì tiếc tiền, ông lẩm bẩm chửi khẽ:
– Tiên sư con quạ mổ! Tiên nhân con nặc nô! làm tao mất toi năm trăm nghìn đồng bạc.
      Đến lượt ông Sĩ đối diện với ông hải quan Mỹ, ông nộp giấy xuất nhập cảnh ra, nhìn ông hải quan Mỹ to béo kềnh càng, ông Sĩ khiếp vía, ông Mỹ chưa quát tháo gì mà ông Sĩ đã hồi hộp, mồ hôi như rịn cả ra dù trong điều kiện không khí mát lạnh.
Xem xong các giấy tờ một cách thành thạo và nhanh chóng, ông hải quan Mỹ nhìn ông Sĩ và nói:
– Welcome to USA .
       Ông Sĩ chẳng hiểu gì, hồn vía lên mây, vội vàng lục túi áo, túi quần, thì chị Việt Nam đứng cạnh bên ngạc nhiên hỏi:
– Bác tìm gì thế?
Ông ghé tai chị Việt Nam nói nhỏ:
– Chẳng biết ông hải quan Mỹ hoạnh họe gì, giấy tờ tôi đủ cả, thôi cứ biếu tiền cho xong chuyện. Ở đây họ có tiêu tiền Việt Nam không?
Chị Việt Nam bật cười như vừa bị ai thọc vào nách:
– Bác ơi là bác, ai hoạnh họe gì bác, ông hải quan nói lời chào mừng bác vào đất nước Mỹ đấy.
Ông Sĩ ngạc nhiên kêu lên:
– Thế à? Ai quen biết gì nhà ông ấy mà chào mừng nhỉ …
– Thì họ lịch sự xã giao mà bác.
       Giây phút này ông Sĩ nhớ ngay đến bộ mặt trơ trơ lạnh lùng và cách ăn nói hỗn hào, trịch thượng của anh hải quan ở phi trường Nội Bài, anh ta là người Việt Nam, đáng tuổi con cháu ông mà cư xử với ông còn thua ông hải quan người Mỹ khác dòng, khác giống này nữa.
Chị Việt Nam giục:
– Thôi bác cất giấy tờ kẻo rơi mất và ra ngoài đi, chắc người nhà bác đang đợi bên ngoài đấy…
       Ông Sĩ hớn hở khoác túi xách lên vai, tay còn lại xách cái túi lớn và đi theo dòng người ra ngoài…
       Ông đi từ ngơ ngác này đến ngơ ngác kia khi nhìn cảnh và người xung quanh, cho đến khi cả đám thân nhân chạy ùa ra đón ông:
– Anh Sĩ đấy à? Em là Nguyễn văn Tượng đây…
– Chào bác Sĩ, chúng cháu là con ông Tượng.
       Ông không thể nào nhận ra thằng Tượng em ông ngày xưa, ông từng cõng nó trên vai dù hai anh em suýt soát tuổi nhau, bây giờ nó bệ vệ hồng hào, khiến ông phải thốt lên:
– Giời ạ, chú Tượng mà tôi cứ tưởng ai, dù nhìn hình rồi mà tôi vẫn không nhận  ra chú, trông cứ như tổng giám đốc hay thủ trưởng cơ quan ở thủ đô Hà Nội. Nhưng sao chú vẫn nhận ra tôi, hở?
Ông Tượng thành thật:
– Dĩ nhiên là qua hình anh gởi, nhưng nhìn thấy một ông Bắc kỳ ngơ ngác giữa phi trường Los. này thì không ai ngoài anh.
Ông Sĩ vẫn chưa tỉnh cơn mê:
– Người ở đâu mà lắm thế! cứ ồn ào và nhốn nháo như tôm tươi nhảy trong rổ …
       Mọi người lên xe hơi để về nhà, vì con cháu ông Tượng ra đón đông nên phải đi làm ba xe làm ông Sĩ thầm thán phục khi biết chúng nó đứa nào cũng có ô tô riêng. Ông chợt nhớ ra vội dặn dò con ông Tượng:
– Này các cháu, chạy xe cẩn thận nhé kẻo xe bốc cháy như ở Việt Nam đấy.
Ông Tượng trấn an lại ông anh:
– Anh đừng lo, hiện tượng xe gắn máy và xe hơi bốc cháy chỉ có ở Việt Nam, chắc vì xăng dầu bị pha chế do lòng tham của con người mà ra thôi.
       Xe hơi chở ông Sĩ từ phi trường Los Angeles đi vù vù qua những con đường, lên đến highway 405 song song là 6 hàng xe làm ông Sĩ không tin vào mắt mình, ông cẩn thận đếm đi đếm lại mấy lần. Trên đầu ông cũng là cầu highway, ông nhìn phía trước, những đường cầu highway chạy dài chồng chất hai ba tầng, tạo thành những đường cong uốn lượn, chỗ cao chỗ thấp vừa hoa mỹ vừa hiện đại với dòng xe cộ nườm nượp mà chóng cả mặt.
       Đường xá ở Mỹ sao mà cao siêu và vĩ đại thế, nơi đâu cũng toàn xe là xe, đông như đi trẩy hội, mà tuyệt nhiên ông Sĩ không nghe một tiếng còi xe nào, chả bù cho tại Việt Nam, chỉ phố huyện của ông thôi mà xe cộ ngược xuôi, xe nọ qua mặt xe kia, bất chấp ai trước ai sau và còi xe thì luôn kêu inh ỏi để người ta biết mà tránh né nhau, chứ đèn đường hay dấu hiệu luật lệ giao thông chẳng hiệu quả gì, hình như chỉ để phô trương và triển lãm, đến nỗi người ta có cảm tưởng rằng nếu xe không có còi thì đừng hòng ra đường. 
Ông Sĩ phải thốt lên:
– Sao mà nhiều cầu vượt đến thế, sao mà nhiều xe cộ đến thế? chỉ riêng nước Mỹ này đã ngốn hết bao nhiêu xăng dầu của thế giới rồi còn gì!
Los Angeles
       Qua khỏi cầu highway 405, xe chở ông Sĩ đang đi vào một thành phố, rồi đến những khu đường vắng vẻ dần, khi xe dừng lại trước một bảng hiệu stop màu đỏ khá lâu thì ông Sĩ ngạc nhiên hỏi ông Tượng:
– Sao ngừng lâu thế?
– Bảng “Stop” là phải ngừng hẳn xe anh ạ.
– Ối giời, bảng gì thì bảng, nhưng chỗ này vắng vẻ không có ai thì ta cứ linh động mà đi chứ ngừng làm gì cho phí thì giờ?
– Luật lệ ở Mỹ ai cũng phải tôn trọng, dù là lúc nửa đêm không một bóng người cũng vậy.
Ông Sĩ gật gù khen:
– Ở Mỹ thật là tự giác, chả bù cho ở Việt Nam ta cứ làm liều cho đến khi bị phát giác.…
       Những khu nhà cư dân hiện ra, ông Sĩ thất vọng khi nghĩ nhà em trai mình ở một nơi vắng vẻ như thế này chắc không khá giả gì. Ông Tượng như đọc được ý tưởng trong đầu ông anh, bèn giải thích:
– Nhà em ở trong khu này, một trong những khu vực nhà cửa có giá của California
Ông Sĩ hỏi lại:
– Ở nơi hiu quạnh thế này mà lại đắt đỏ thế kia à?
– Vâng, ăn thua địa thế, nhà trên đồi, trên núi còn đắt hơn nhà dưới mặt đất. Chỉ những ai tiền triệu trở lên mới mua nổi nhà trên ấy thôi.
– Lạ nhỉ, ở Mỹ cái gì cũng ngược đời, ở quê mình, đồi núi bỏ không, làng xã phải khuyến khích người dân lên phát quang làm rẫy trồng khoai sắn tăng gia vì lúa gạo không đủ ăn, chứ làm gì có chuyện dọn lên đồi, lên núi mà ở cho hoang lạnh lẻ loi.
Ông Tượng kể thêm:
– Nhà ở càng gần biển càng đắt, nhất là những căn nhà sát ngay bờ biển.
– Ối giời, ở Việt Nam chỉ những nhà nghèo mới ở sát biển, đối diện với sóng gió làm hao mòn nhà cửa, biển lấn đất liền có ngày nuốt chửng cả nhà và người chứ quý hóa gì.
Ông Tượng hỏi thăm sang chuyện nhà :
– Nghe nói thằng út nhà anh làm việc ở công ty gì trên huyện, có khá không ?
– Chỉ “túc tắc” thôi. Được mỗi ưu điểm là khỏi chân lấm tay bùn như làm ruộng.
Ông Tượng ngạc nhiên:
– Anh nói “túc tắc” là gì? Em không hiểu…
– Là công việc lằng nhằng tạm đủ sống qua ngày. Trước anh có cho nó học tiếng Trung mà không xin được việc làm ở thành phố đành về làm công nhân phố huyện vậy.
Ông Tượng lại hỏi và chép miệng than thở:
– Tiếng Trung là gì? Việt Nam bây giờ nói nhiều từ lạ quá em không hiểu nổi…
Ông Sĩ giải thích:
– Cuộc sống tất bật quá nên người ta phải nói tắt và hình tượng cho nhanh hiểu chú ạ. Tiếng Trung là Trung quốc, còn Singapore thì gọi là “Sing” cho ngắn gọn, chú hơi đâu mà lăn tăn. À, hai từ “Lăn tăn” là hình tượng đấy, nghĩa là chú cứ để tâm hồn thanh thản như dòng nước bình lặng, đừng suy nghĩ, thắc mắc như khi dòng nước gợn sóng lăn tăn. Hiểu chưa?
Ông Tượng trả lời mà nét mặt vẫn còn hoang mang:
– Vâng, em sẽ cố gắng hiểu.
       Về đến nhà, sau vài phút chào mừng thăm hỏi nhau rối rít, ông  Sĩ lại lục đục với mớ hành lý, lôi ra giấy tờ và nghiêm chỉnh nói với em:
– Chú đưa anh ra công an khu vực khai tạm trú cho xong việc đã….
Ông Tượng bật cười không khác gì chị Việt Nam lúc nãy ở phi trường Los Angeles :
– Ở Mỹ không ai xét hỏi giấy tờ anh đâu.
Ông Sĩ không tin:
– Chú nói thế nào?  Nếu công an khu vực không xét giấy tờ, thì chú cứ dẫn anh ra chào họ một tiếng cho phải lẽ, sau này họ không kiếm cớ bắt bẻ, làm tiền mình chú ạ… với lại chị có dự trù sẵn một ký chè Thái Nguyên để biếu họ đây.
Ông Tượng ngưng cười, cũng nghiêm chỉnh để giải thích:
– Nước Mỹ không có anh công an khu vực, không ai phải khai tạm trú tạm vắng. Họ đã xét giấy nhập cảnh của anh ở cửa  khẩu phi trường, thế là xong.
– Thế anh đi ngoài đường họ có xét hỏi giấy tờ không?
– Không tin ngay bây giờ anh cứ ra đường đi khơi khơi xem có ai biết anh mới vừa đến Mỹ không? Ngay cả người hàng xóm bên cạnh cũng không hề biết nữa là…
Ông Sĩ vẫn ngơ ngác:
– Thật thế ư? Chẳng lẽ người Mỹ lại sơ hở thế? quản lý đất nước và con người lỏng lẻo đến thế?
       Ông Sĩ  ngồi thừ người vì chưa hết sửng sốt, cả đời ông quen thuộc với nếp sống xã hội chủ nghĩa, đã ngấm vào thịt da xương tủy ông những thủ tục, luật lệ, nên ông tưởng nó theo ông dù ông đi đâu, đến đâu.
       Hôm nay, ông là một cựu chiến binh cộng sản, cựu kẻ thù của Mỹ, kẻ đã một thời từng mong tiêu diệt những lính Mỹ trên quê hương Việt Nam, theo đúng câu tuyên truyền “Đánh cho Mỹ cút Ngụy nhào” đang chễm chệ ngồi ngay trong lòng nước Mỹ, vậy mà không hề bị họ để ý, nghi ngờ hay làm khó khăn gì cả, quả là chuyện lạ lùng.
       Buổi chiều, ông Sĩ ăn cơm cùng gia đình ông Tượng, có cả các con ông Tượng ở gần đấy sang chơi, trò chuyện đủ thứ. Gia đình ông Tượng bàn nhau kế hoạch sẽ đưa ông Sĩ đi chơi những nơi trong thành phố, rồi đi thăm thân nhân khác, tại những thành phố hay tiểu bang khác. Thật là nồng nhiệt, thân tình và vui vẻ.
       Tối hôm đầu tiên nằm ngủ ở Mỹ, trong nhà của em trai mình, trong một căn phòng riêng sạch sẽ đầy đủ tiện nghi, giường nệm, chăn gối thơm tho, phòng tắm, cầu tiêu ngay bên cạnh, ông Sĩ tưởng như mình lạc vào cõi mộng nào.
       Bao nhiêu năm đời bộ đội nằm bờ bụi, đói khổ, hết chiến tranh thì về quê, cảnh nhà nghèo nàn túng thiếu, ông nào biết có những cảnh đời tiện nghi sung sướng như thế này, ông Sĩ ao ước giá mà bà vợ cùng đi với ông để cùng được hưởng, vì mai kia ông có kể lại chắc gì bà ấy hình dung ra được .
       Ông thao thức mãi chưa ngủ được, phần vì thay đổi giờ giấc, phần vì lạ nhà, lạ cảnh. Ông lan man nhớ lại lúc ở phi trường Los. Anh hải quan đã tin cậy lời ông, một người xa lạ, mới gặp lần đầu một cách dễ dàng mà không xét hỏi thêm gì về hành lý của ông cả.
       Ông chạnh lòng nhớ đến chuyện xa hơn, sau ngày đất nước hoà bình, ông Sĩ làm đơn xin hưởng lương hưu cựu chiến binh. Từ làng xã, đến các đơn vị đều biết ông bao năm đi bộ đội, vậy mà  người ta hành hạ ông phải chạy từ quê lên huyện, lên thành phố, trở về đơn vị cũ, gặp thủ trưởng xưa, xin bao nhiêu chữ ký, bao nhiêu thứ xác nhận chòng chéo, vòng vo đến dư thừa thì họ mới cho hoàn tất hồ sơ.
       Bao nhiêu công lao và xương máu của ông đã đổ ra trong chiến tranh, mà chút quyền lợi đền bù cho ông sao nhiêu khê, khó khăn đến thế !
       Lòng ông  lại chập chờn những nỗi vui buồn, vui vì anh em ông có ngày đoàn tụ nhìn thấy nhau, ông sẽ có mấy tháng rong chơi ở nước Mỹ to đẹp này, buồn vì ông thấy hai cảnh đời khác biệt.
       Gia đình ông Tượng sang Mỹ, 3 đứa con đều ăn học thành tài cả, đứa nào cũng có bằng cấp đại học trở lên, có nhà cửa riêng, còn gia đình ông Sĩ cũng 3 đứa con thì 2 đứa lớn theo nghiệp cha ông làm ruộng, cuộc sống nghèo nàn lam lũ chẳng biết đời nào mới ngóc đầu lên nổi, thằng út đậu xong cái bằng phổ thông trung học, ông đã tìm cách cho nó thoát ly cảnh đồng ruộng, để cuộc đời đỡ vất vả, xin làm công nhân ở một hãng sản xuất đồ gốm trên huyện mà cũng tốn bao nhiêu công phu nhờ cậy giới thiệu và đút lót quà cáp mới được nhận vào.
       Ông ngậm ngùi thầm trách bố ông sao ngày xưa không đem cả vợ con đi, mà kẻ trước người sau cho mộng đời dang dở, thì ngày nay cha con ông chắc cũng chẳng thua kém gì cha con ông Tượng.
       Bố ông yêu thích môn cờ tướng, chơi cờ tướng giỏi, vậy mà ván cờ cuộc đời ông chỉ tính sai một nước cờ mà thiệt thòi cả mấy đời người.
       Hết nghĩ chuyện nọ đến chuyện kia, ông Sĩ bỗng lo xa khi nghĩ đến 3 tháng du lịch ở Mỹ rồi sẽ trôi qua, ông sẽ trở lại Việt Nam, đối diện với cảnh sống nghèo nàn thường lệ, và  trước mắt là đối diện với cuộc hành trình trở về từ Mỹ. Xưa nay ông đã quen bị đối xử bất công trong mọi tình huống của cuộc sống rồi, có bị quát, bị mắng cũng chai đá rồi. Nhưng từ phi trường ở Nhật Bản đến phi trường ở Mỹ ông đã được đối xử một cách công bằng, lịch sự, hoàn toàn khác biệt ở phi trường Nội Bài, ông chợt thấy một thế giới khác tử tế hơn nơi ông sinh ra và lớn lên cho đến bây giờ.
       Trời ơi, lượt về ông sẽ gặp lại những bộ mặt từ chuyến bay hãng hàng không Việt Nam ấy, đến phi trường Nội Bài gặp mấy đứa hải quan ấy, mà ông thêm ngao ngán… 
       Ông chỉ muốn chúng nó biến mất trong đầu óc ông để ông ngủ yên tối nay và thoải mái tận hưởng những ngày du lịch một đất nước lạ đời và thăm lại các người thân sau bao nhiêu năm dài xa cách.
Nguyễn Thị Thanh Dương


Buồn Đến Kiếp Nào Nguôi

  • Quận Hoài Nhơn, 1969, một năm sau Tết Mậu Thân: Tôi nhận lệnh dẫn một nửa Đại đội 202 CTCT, từ Ba Gi (Qui Nhơn), đại bản doanh của Sư Đoàn 22BB, ra tăng phái cho Trung đoàn 40, lúc ấy đóng tại Đệ Đức, trên đường Bồng Sơn và Tam Quan. Nửa đại đội được chia làm 2 toán. Mỗi toán gồm trên dưới 10 người do một Chuẩn Úy chỉ huy, hằng ngày, theo lịch trình, đi xuống các xã ấp thuộc quận, hoặc bằng xe dodge cơ hữu, hoặc thỉnh thoảng, vì lý do an ninh, bằng trực thăng của Sư đoàn 1 Không Kỵ (1st Cav) Hoa Kỳ, để làm công tác, một cách độc lập, nhưng đôi khi phối hợp với một toán Dân sự vụ Mỹ. 
    Xuống những xã ấp xa xôi, 2 toán chúng tôi phải tự bảo vệ lấy, và vì thế được trang bị tương đối đầy đủ, và các toán viên thường là lính tác chiến lâu năm hoặc bị thương đổi về, có nhiều kinh nghiệm chiến trường. Ít khi phải nhờ đến sự trợ giúp của những đơn vị địa phương quân hay nghĩa quân.
    Tôi nhớ buổi sáng hôm đó là ngày 25 tháng 12, đúng lễ Giáng Sinh.Chuẩn Úy Hoàng, mt trưởng toán, bị bệnh. Tôi phải đi thay, dẫn toán của anh đến ấp Vĩnh Phụng, xã Hoài Xuân – nằm dọc, cũng như những xã khác của quận Hoài Nhơn, trên hai bờ sông Lại chảy lững lờ ra biển. Không khí cuối năm vắng lặng, đơn điệu, đến độ nhàm chán. Tại những vùng quê hẻo lánh Việt Nam thời ấy không có nhà thờ, không tổ chức mừng Giáng Sinh rầm rộ như dân thành thị Sài Gòn hay Nha Trang của tôi, chẳng hạn, dù có đạo hay không. Không có tiếng chuông giáo đường ngân nga, rộn rã. Không có, như bây giờ, cây sapin giăng đèn lấp lánh, và ông già Nô-En đứng trước cửa siêu thị, rung chuông leng keng, chúc lễ và phát quà cho trẻ em. Chỉ có một ngôi nhà thờ duy nhất tại thị trấn Bồng Sơn cho toàn quận Hoài Nhơn, và dân Công giáo, từ các xã ấp, phải lên đó để dự lễ mỗi sáng Chúa Nhật.
    Chúng tôi đến Vĩnh Phụng làm công tác Dân sự vụ và Tâm lý chiến. Như thường lệ. Nghĩa là bắc loa kêu gọi dân trong ấp đến tập họp trên một khoảng đất trống, rộng, và chung quanh có bóng cây xanh mát, gần trụ sở ấp, rất an toàn. Tại đây, họ được y tá khám bệnh thông thường, phát thuốc tại chỗ, hoặc được xe của toán chở về bệnh xá Bồng Sơn trong trường hợp bệnh nặng, cấp cứu... Hay được nghe một toán viên nói chuyện, nhắc nhở: đề cao chính nghĩa quốc gia, kêu gọi đồng bào đừng bỏ xóm làng, “lên núi thoát ly” theo Việt Cộng, đừng “ăn cơm quốc gia thờ ma Cộng sản” v.v... Các em nhỏ được phát kẹo bánh, tập vở, bút mực, và sau đó được tập bài quốc ca VNCH hay những bài hát quen thuộc, ví dụ, tôi nhớ, Việt Nam, Việt Nam nghe từ vào đời... Việt Nam, nước tôi... hay Đây Bạch Đằng giang, sông hùng dũng của nòi giống Tiên Rồng...
    Làm xong bấy nhiêu công việc thì đã hết buổi sáng. Tôi cho cả toán nghỉ ngơi, ăn trưa và tự do đi lại trong ấp, nhưng không quá xa, chờ đến giờ trở về Đệ Đức. Còn tôi và một vài anh lính trải poncho nằm trên cỏ, bên gốc cây, ngước nhìn ánh nắng lấp lánh chiếu qua vòm lá và nghe tiếng chim hót líu lo trên cành. Một số toán viên, còn trẻ, xin đi vào nhà dân, để thăm hỏi các cụ già và, tôi đoán, để nhân dịp, tán gẫu với các cô mơn mởn đào tơ, má hồng môi thắm tự nhiên. Thực vậy, theo nhận xét cá nhân hoàn toàn chủ quan, gái Bồng Sơn và Tam Quan nổi tiếng đẹp nhất vùng Bình Định.
    Tôi đang lim dim mắt, miên man suy nghĩ chuyện đời, và một anh lính đang nghêu ngao một bài vọng cổ, thì bỗng một tiếng mìn nổ vang từ bờ ruộng, không xa chỗ tôi nằm. Giật mình nhổm dậy, chụp vội cây súng, và thấy một làn khói đen tỏa bay trong không gian. Nghe tiếng kêu la của vài em nhỏ hớt hải chạy về phía tôi: “Ông Thiếu Úy ơi có con nhỏ Út bị thương nằm kia kìa”. Cũng đoán biết được chuyện gì đã xảy ra, chúng tôi tất tả đi theo các em, về phía cánh đồng, súng cầm tay, trong tư thế sẵn sàng nhả đạn. Đến nơi, thấy nằm gục nửa dưới ruộng, nửa trên bờ, một bé gái, tức “con nhỏ Út”, độ 8, 9 tuổi, cao và gầy đét như khúc củi, mình mẩy đầy máu, nhuộm đỏ cả chiếc áo cụt trắng. Mấy đứa trẻ mách: Út ra ruộng sớm, mót lúa, đã đạp phải mìn gài sẵn. Chưa biết của bên nào. Tôi thận trọng, đưa mắt quan sát hiện trường, xem có trái mìn hay lựu đạn nào chưa nổ hay 1 tên du kích nào đang rình chờ chúng tôi.
    Y tá Thám cúi xuống, cầm lấy tay Út bắt mạch, rồi đặt ống lên ngực nghe nhịp thở, tiêm một mũi thuốc không tên, mà anh nói để “cầm máu”, và cho uống 2 viên aspirine để giảm đau, trong khi tôi choàng tay, cẩn thận, đỡ bé ngồi dậy. Người bé mềm nhũn, miệng rên nho nhỏ. Vì trái mìn bẫy đặt ngược hướng, sợi dây kíp khá dài, và nổ khi Út đứng khá xa, nên thân thể còn nguyên vẹn, không nát bấy, chỉ bị ghim đầy những miểng sắt li ti. Gương mặt xinh xắn của bé, có vẻ già dặn trước tuổi, lúc ấy xanh như tàu lá, và cặp mắt lờ đờ ngước nhìn tôi. Thám quay sang, kín đáo khẽ lắc đầu, và tôi hiểu. Từ thân thể Út máu tiếp tục chảy từng giọt, chắc bé đau đớn lắm. Bé kêu khát. Tôi mở bi đông, đổ nước vào nắp, cho bé uống vài hớp nhỏ, vừa suy tính rất nhanh. Tại các ấp, như Vĩnh Phụng, làm gì có trạm cấp cứu, nhân viên y tế, hay thuốc men. Chở đi Bồng Sơn không kịp nữa, vì bé đã yếu lắm rồi, lả người trong vòng tay tôi. Gọi máy PRC 25 về trung đoàn, buổi trưa, không gặp ai. Gọi thẳng Sư đoàn 1st Cav Mỹ xin trực thăng tải thương thì không biết tần số, và tốn thời gian lắm, lại sợ họ không tin mình. Không còn biết làm gì hơn, tôi dùng khăn ướt lau sơ máu trên mặt, trên tay của bé và cầu nguyện cho bé gắng gượng thêm độ nửa giờ nữa thôi, thời gian vừa đủ để xe chúng tôi chở kịp về tới Bồng Sơn.
    Bỗng Út mở to mắt, nhìn thẳng vào tôi, ngơ ngác, như vừa tỉnh cơn mê từ một cõi nào rất xa xôi. 
    Bé thều thào hỏi:
    – Con qua nổi không chú?
    Tôi liếc nhanh về phía y tá Thám, rồi gật đầu:
    – Qua nổi chứ con! Nếu con hứa là con gượng thêm nửa giờ nữa.
    Bé mở hé đôi môi, cố gắng mỉm cười khó khăn, lắc nhẹ đầu, và đáp khẽ:
    – Không kịp đâu chú, con biết con không sống nổi, con mệt quá rồi. Khi nãy trong giấc mơ, con có gặp 3 cô mặc áo trắng tinh, có hai cánh trên lưng, nói đang chờ để rước con đi...
    Rồi Út tiếp, giọng rời rạc, càng lúc càng nhỏ dần, nhỏ dần:
    – Chú ơi, con muốn được ôm, trước khi chết... con là đứa mồ côi, không cha không mẹ, không người thân thích...con ở đợ, mót lúa cho nhà người ta...không có ai thương con hết...con muốn được ôm, một lần này thôi...
    Tôi bật khóc, ôm bé vào lòng, hôn lên trán, lên tóc, mà nước mắt tuôn rơi như mưa, chảy xuống ướt chiếc áo trận, hòa lẫn với máu của bé chưa khô. Vừa lúc ấy, trên cặp môi tím ngắt bé như cố nở một nụ cười mãn nguyện, rồi ngoẹo đầu vào ngực tôi, bé làm động tác muốn giơ hai cánh tay lên, nhưng không đủ sức, lại bỏ xuống, và nửa giây sau, bé từ từ nhăm mắt và trút hơi thở cuối cùng trong tay tôi. Tất cả diễn ra không đầy 4 phút, từ lúc gặp bé nằm ở bờ ruộng.
    Tôi nhẹ nhàng buông xác bé xuống, đặt nằm ngay ngắn trong tấm poncho còn mới của tôi. Bé đã được liệm bằng poncho, giống như một người lính chiến thật sự. Giống như những đồng đội của tôi chết trận tại Ban Mê Thuột, Kontum, Phan Thiết... năm nào. Chung quanh, mọi người vẫn đứng yên, lặng thinh, mắt đỏ hoe, kể cả tốp lính địa phương quân vừa kịp đến để chứng kiến cảnh tượng thương tâm này. Tôi biết, cũng như tôi, những người lính, rất chai lì vì phải thường trực thách đố với cái chết cận kề và định mệnh tàn nhẫn, không khóc dễ dàng. Nhưng trước thân xác gầy guộc, đẫm máu, của Út, một bé gái nạn nhân vô tội của chiến tranh khốc liệt, phi lý, cây cỏ cũng khóc theo, huống chi người. Khi tôi hỏi, mìn do ai gài, một anh địa phương quân nói lớn, có vẻ tức giận:
    – Mìn của mấy thằng du kích Việt Cộng gài đó, ông thầy. Còn ai trồng khoai đất này. Sáng nay, tụi em chưa kịp đi gỡ thì con nhỏ Út ra ruộng sớm, đạp trúng. Tội nghiệp nó quá!
    Tôi giao tấm poncho gói xác Út cho nhóm địa phương quân và moi tiền từ bốn túi quần, cộng với tiền gom góp của anh em tự nguyện trong toán, không đếm bao nhiêu, nhưng đoán khá bộn, đưa hết cho trung sĩ trưởng nhóm, và nói:
    – Tôi nghe nói bé Út mồ côi, nghèo khổ, nên nhờ các anh mua cái hòm cho bé và làm phước, chôn cất tử tế giùm. Còn thiếu bao nhiêu các anh bù giúp cho.
    Trên đường về lại Bồng Sơn, cả toán không ai nói với ai một lời nào. Giống như một lần trước đó không lâu, khi chúng tôi chở đến bệnh xá quận lỵ một bé trai 10 tuổi từ một ấp, xã khác, gần hơn, đã đạp phải lựu đạn cũng của Việt Cộng, bị thương khá nặng nhưng sống sót vì được cứu kịp thời, chỉ phải cưa một chân. Tôi ngồi im như tượng đá và mắt vẫn còn cay sè. Đến Bồng Sơn, đi ngang nhà trọ của Thơ Thơ, tôi bảo tài xế dừng lại, chờ tôi 10 phút. Nàng mở cửa, thấy quần áo tôi dính bê bết máu, hoảng hốt hỏi dồn:
    – Trời ơi, anh bị thương phải không?
    Tôi lắc đầu, gượng mỉm cười. Nàng ôm tôi vào lòng, siết chặt, như sợ tôi biến thành mây bay đi, và tôi kể hết câu chuyện bé Út. Nàng vừa nghe vừa rơm rớm nước mắt. Rồi nghẹn ngào nói nhỏ:
    – Tội nghiệp bé quá! Tối nay em sẽ thắp nhang khấn vái cho hồn bé được siêu thoát. Sau khi nghe chuyện này, em yêu anh quá, em yêu anh hơn, em yêu anh mãi mãi. Mãi mãi, anh biết không? Cái chết cũng không bao giờ có thể chia lìa hai đứa chúng ta.
    Hôm sau, Hoàng hết bệnh, tôi trả lại toán để anh dẫn xuống Vĩnh Phụng tiếp tục công tác thường nhật. Còn tôi, từ đó cho đến ngày rời bỏ Bồng Sơn trở về Bà Gi, tức hơn nửa năm sau, không bao giờ đặt chân lên ấp đó nữa, dù chỉ ghé qua một lần. Để tránh nhớ một trong những kỷ niệm thảm thương nhất, nếu không muốn nói một kỷ niệm thảm thương nhất trong suốt đời lính. Sau 3 tháng, tôi được lệnh của trung đoàn ngưng công tác tại quận Hoài Nhơn và điều động cả 2 toán ra Tam Quan, một quận lỵ nguy hiểm nhất của Bắc Bình Định.
    Rồi qua bao nhiêu thăng trầm, trong suốt 47 năm kể từ Noël 1969 đó, tôi cố quên cái chết của bé Út cũng như của Thơ Thơ đã gục ngã trên đường di tản tháng 4 năm 1975, khi đoàn người chạy loạn bị Việt Cộng pháo kích. Cố quên và xem tất cả như một dĩ vãng tàn khốc và kỷ niệm thảm thương của chiến tranh, của một thời để yêu và một thời để chết. Cố quên, nhưng không thể được.
    Đặc biệt bé Út. Quả thế, cứ mỗi cuối năm khi mùa Giáng Sinh tới, và cứ mỗi lần tôi giơ tay ôm hug ai, thì hình bóng tội nghiệp của bé bỗng dưng lại hiện về trong tâm trí, với thân xác đầy máu và thương tích, với vẻ mặt đau đớn tột cùng, với những lời trối trăng, đứt quãng, “con muốn được ôm..không ai thương con hết..” Hỡi ơi, buồn này biết đến kiếp nào mới nguôi? Bé hiện về như một ám ảnh dịu dàng, vời vợi. Như một linh hồn nhỏ mồ côi, trắng tinh như tờ giấy mới, lạc loài giữa trần ai quỷ ma ác độc. Như một quý nhân phù trợ mà hương linh lẻ loi còn mãi lẩn quất bên người, hơn cả chiêm bao, qua suốt nửa thế kỷ. Để cùng với Thơ Thơ, người rất yêu dấu bên dòng sông tương tư ngày nào, nắm tay tôi, dắt đi qua những phong ba của cuộc đời.
    Portland, ngày Giáng Sinh
    Kim Thanh

 BIỆT ĐỘI 817, LIÊN ĐOÀN 81 BIỆT CÁCH DÙ

  • Image en ligne
    Image en ligne
    Image en ligne


    Vâng ! Chúng tôi thuộc Biệt đội 817 của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù, một biệt đội tân lập để nhằm đáp ứng nhu cầu chiến trường thật sôi động vào những ngày cuối tháng tư đen.
    NHẬN ĐƠN VỊ:
    Sau lễ ra trường vội vã tại căn cứ Long Thành, tôi và một số anh em khóa 28/29VBĐL, những người trai trẻ khát khao gió mưa cùng nguy hiểm, đã chọn bộ đồ dù với chiếc nón xanh ngạo nghễ làm chiến y. Nếu ai hỏi tôi: Cái gì làm mày chọn binh chủng oai hùng đó, tôi sẽ trả lời bằng hai câu thơ cảm khái của một nữ sinh ở chiến trường đẫm máu An Lộc:
    An Lộc địa, sử lưu chiến tích,
    Biệt Cách Dù, vị quốc vong thân.
    Tuổi trẻ là vậy đó: thèm khát chiến trường, sau gần 4 năm trui rèn gian khổ mong được thử lửa, thêm với bầu máu nóng của tuổi trẻ muốn bảo quốc an dân, chúng tôi đã xông pha vào trận chiến vói hành trang thật đầy đủ từ tinh thần, thể lực lẫn trí tuệ của 1 sĩ quan đa hiệu, và còn nữa: trên vai chúng tôi còn cả một truyền thống oai hùng của các bậc đàn anh. Ôi ! Kể sao cho hết lòng tự tin, hăng say náo nức của ngày đầu tiên tôi được khoác lên mình bộ quân phục khét tiếng chiến trường ấy.
    Tôi và Xuân, một tay có dáng người cao, đen, đẹp trai của khóa 29, sau khi cùng anh em trình diện Trung tá Thông ở bộ Tư Lệnh Tiền Phương 2 Suối Máu, được phân phối ngay về Biệt Đội 817 do Đại úy L. chỉ huy, không một ngày giờ phép.
    Tôi xin nói sơ qua về cách phối trí đơn vị và danh xưng trong liên đoàn một cách tóm lược vì sự hiểu biết hạn hẹp và cũng để bảo mật cho một đơn vị đặc biệt này. Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn là Đại tá Huấn, Hậu cứ của Liên đoàn đóng ở An Sương,Hóc Môn,có 2 Bộ Tư Lệnh Tiền Phương đặc nhiệm cho từng vùng hoạt động. Dưới quyền của Bộ Tư Lệnh Tiền Phương là những Biệt Đội.Biệt Đội có quân số của 1 đại đội, lúc nào cũng được bổ sung thật đầy đủ, và được chia ra làm 3 Trung Đội Xung Kích, 1 Trung Đội Thám Kích và 1 Trung Đội Súng Nặng. Sau đó được chia thành Toán và Tổ. Khi hành quân, các trung đội xung kích thường đánh trực diện và trung đội thám kích được phân phối thành 6 toán để nhảy thăm dò, đột kích, tìm diệt, thu thập tin tức, hay hoa nở trong lòng địch. Biệt Đội được yểm trợ đặc biệt như 1 Tiểu Đoàn khi hành quân.
    Đại Úy L. là một người chỉ huy dày dạn và bình tĩnh. Sau khi chúng tôi chào trình diện, ông chỉ nói vỏn vẹn “Chào hai anh” rồi lặng yên nhìn hai đứa tôi như dò xét khả năng, nhưng chúng tôi như một cặp gà nòi ế độ, đứng lặng yên chờ nhận nhiệm vụ, không chút bồn chồn, dù trong lòng có chút băn khoăn. Sau khi yên lặng soi vảy và xem giò cẳng, Đại Úy L. từ từ nói: 
     Biệt Đội cần 1 Trung Đội Trưởng súng nặng và 1 Trưởng toán Thám Kích, 2 anh chọn cái nào?
    Xuân K 29 e dè nhìn qua tôi, bắt gặp cái nhìn của Xuân tôi hiểu rằng “em muốn nhường anh”. 
    Tôi không ngần ngại, bước lên một bước, đưa tay lên chào và dõng dạc nói: 
     Tôi nhận Trưởng toán Thám Kích.
    Quả thật cái gì đã in sâu trong tôi: Truyền Thống, Tình Anh Em? Em nhường Anh và Anh gánh vác hiểm nguy cho Em... và cùng lúc đó trong đầu tôi thoáng qua hình ảnh người tôi yêu với đôi mắt đợi chờ sâu thẳm.
    Sau thủ tục giấy tờ và giới thiệu sơ qua về đơn vị do một Sĩ quan khác đảm nhiệm, 2 đứa tôi được đi ăn bữa tối đầu tiên của đời lính thật sự trong căn lều lớn có những lớp bao cát dày che chở chung quanh.
    Trên đường đi, Xuân lo ngại hỏi tôi: 
     Làm sao Niên trưởng, tôi quên hết rồi, Niên trưởng chỉ tôi với.
    Tôi trấn an Xuân: 
     Ông đừng lo, chỉ cần ông định điểm đứng và chấm tọa độ cho chính xác là đủ, tụi nó sẽ làm hết cho ông.
    Xuân vẫn còn lo ngại nói tiếp: 
     Tối nay tôi qua hỏi thêm Niên trưởng vài chuyện. 
    Tôi gật đầu và suỵt khẽ với Xuân khi có vài người lính đi lại gần. Trong đầu tôi lúc đó cũng mang nặng nỗi lo không kém: Làm sao để thu phục được những người lính gan lì đã từng vào sinh ra tử này.
    Buổi tối hẹn với Xuân không bao giờ đến, vì sau bữa cơm chiều, chúng tôi đã nhận được lệnh hành quân cấp tốc vào sáng sớm ngày mai.
    VÀO VÙNG TRÁCH NHIỆM:
    Biệt đội chúng tôi được chuyển vận về sân vận động quận Nhất ở bên hông bộ Tổng Tham Mưu đúng vào ngày 23 tháng Tư của năm định mệnh 1975.
    Trên đường về Sài gòn, ngang qua đại lộ Phan Thanh Giản, chúng tôi đã nhìn thấy những căn cứ phòng thủ được vội vàng thiết lập dọc hai bên đường, nhưng Sài Gòn vẫn còn ngơ ngác, chưa sẵn sàng cho một cuộc phòng thủ qui mô rộng lớn trong chiến tranh. Dân chúng hốt hoảng, sợ VC, ủng hộ quân đội Quốc gia, nhưng họ vẫn xem cuộc chiến chống lại VC là của Quân Đội VNCH, người dân chỉ đóng vai trò như một cổ động viên trong một trận tranh tài thể thao không hơn không kém. Những căn cứ phòng thủ được thiết lập lẻ loi trơ trọi, không kết hợp được với địa hình bao quát chung quanh, chưa thiết lập được sự liên kết chặt chẽ cần thiết giữa dân và quân cũng như giữa những đơn vị chính qui và địa phương cho một phòng tuyến liên hợp cần thiết khi chiến tranh đã đi vào thành phố.
    Nhìn những lô cốt bằng bao cát nằm lẻ loi trơ trọi hai bên xa lộ, quan sát những tòa nhà cao ốc chung quanh không một sự phòng thủ thích nghi, tôi lo ngại cho sự an toàn bền vững của nhng chốt phòng thủ này. Chúng là miếng mồi béo bở của một trái B40 hay cối 61 của một toán đặc công vô danh nào đó len lỏi vào các tòa cao ốc trước khi tank hay lưc lượng chính qui tiến chiếm trận địa.
    Suy nghĩ bâng quơ một lúc, thì đoàn xe đã đến ngã tư Công Lý và quẹo phải để chạy về hướng BộTổng Tham Mưu. Đến đây, chúng tôi phải chạy chậm lại vì dân hai bên đường di chuyển hỗn loạn khác thường, một số đã nhận ra chúng tôi và bắt đầu hô lên “Biệt Cách Dù về! Biệt Cách Dù Về!” và làn sóng âm thanh ấy từ từ rộ lên nhịp nhàng lấn át cả mọi tiếng động ồn ào trong thành phố và rồi tỏa rộng ngân vang: Biệt Cách Dù về! Biệt Cách Dù về! Biệt Cách Dù về! hòa với tiếng vỗ tay cách nhịp của các em thiếu niên, và trên khuôn mặt hốt hoảng của những người dân đã dấy lên ánh mắt lóe sáng của niềm tin. Vâng! chúng tôi, những người lính của chiến trường đẫm máu, đã về thành phố. Bất giác, tay tôi nắm chặt lại, nhìn gương mặt của những người lính vốn đã gan lì nay lại rạng ngời lên ánh mắt cương quyết. Trong lòng chúng tôi như cùng thầm nguyện lời hứa Kinh Kha. Chúng tôi đổ quân xuống sân vận động quận Nhất, sau khi bố trí canh gác phòng thủ, các sĩ quan trong biệt đội được lệnh họp và chúng tôi được tiếp xúc với một vị Trung Tá từ Bộ Tổng tham Mưu phái đến. Sau khi sơ lược ngắn gọn tình hình và nhiệm vụ, ông ta dỏng dạc nói: “Các anh là đơn vị cuối cùng được cấp trên tin tưởng đưa về đây phòng thủ BTTM và chúng tôi tin rằng đơn vị các anh không phụ lòng tin đó.” Sau lời phát biểu ngắn gọn hàm chứa ý nghĩa ủy thác, ông ta lên vội xe jeep về lại TTM, chúng tôi về đơn vị mình và tôi bt đầu làm quen với những người lính chai lỳ có gương mặt lạnh lùng u uất, những nét chỉ có trên những người đã từng về từ cõi chết. Quả thật họ là những người đáng gờm, những người lính lạnh lùng ít nói này sẽ gầm lên như hổ dữ khi chạm trán địch quân.
    Chiều hôm đó, chúng tôi được cấp phát mỗi người một bộ quân phục của cán binh VC và được huấn luyện sơ qua về các hoạt động trà trộn trong lòng địch cùng cách xưng hô địch quân thường gọi nhau trong đơn v... Mãi sau này, tôi mới biết cấp trên đã dự trù một kế hoạch rút vào rừng và tiếp tục chiến đấu nếu Sài gòn thất thủ. Sau đó, sĩ quan và các trưởng toán được phát một bản đồ quân sự của Sài gòn.
    Chúng tôi đóng quân 2 ngày đêm trong sân vận động để dưỡng quân, huấn luyện và cũng để các binh lính và sĩ quan làm quen với đơn vị mới. Sáng ngày 26/4/75, theo từng vùng trách nhiệm đã phân định sẵn, chúng tôi âm thầm rải quân trấn ngự các địa điểm trọng yếu. Toán Thám Kích do tôi chỉ huy trấn đóng nhà thương Cơ Đốc lúc bấy giờ còn đang xây cất dở dang và một dãy cao ốc đối diện.
    Đã được chỉ thị từ trước, tôi cho anh Trung sĩ toán phó chọn 2 người lính có kinh nghiệm xử dụng M72, thiết lập 2 tổ chống tank di động trải dài dọc theo bờ rào bằng gạch táp- lô (concrete block) nằm cạnh lề đường. Một tổ khác nằm trên cao ốc đối diện. Tôi theo tổ thứ tư đóng ở nhà thương Cơ Đốc...
    Phối trí đơn vị xong thì trời cũng đã đứng bóng, trong lòng tôi đầy ắp những lo âu và căng thẳng tột cùng: giặc vào Đô Thành dân chúng sẽ ra sao!!! Đánh giặc trong thành phố thật là điều mới mẻ trong kiến thức quân sự nhỏ bé của tôi.
    Từ cao ốc nhìn xuống nhng dãy phố chung quanh, tôi tưởng như những dãy đồi trùng điệp với nhng địa đạo bí hiểm bên trong. Trong đầu tôi loé lên kế hoạch xử dụng những toán trẻ đưa tin như Huân tước Baden Powell (ông tổ của Phong trào Hướng đạo) để chống lại sự xâm nhập bằng đặc công của đch. Tôi lịm người thiếp đi trên vai người hạ sĩ mang máy PRC25 với giấc mơ tuổi thơ của những trò chơi lớn. Những đêm mất ngủ lo âu đã kéo đôi mi tôi sụp xuống.
    TÌNH QUÂN DÂN:
    Tôi giật mình tỉnh giấc vì những tiếng rè rè cuả PRC 25 từ Tổ 1 gọi lại: 
     K a đây Hắc báo! nghe rõ trả lời. 
    Tôi đáp: 5/5”. 
     Có 2 con tôm đang bò lại nghe rõ trả lời! 
    Tôi đáp gọn: “5/5” nhưng trong lòng hoang mang với danh từ mới mẻ này. Cua là tank của địch, én hay chuồn chuồn là các loại phi cơ, còn tôm... tôi đảo mắt nhìn xuống mặt đường, 2 chiếc xích lô đang đậu lại, trên mỗi xe là một giỏ cần xé đầy được phủ bao đệm, không biết cái gì bên trong. Tôi giật mình thét lên: “Đ.M. coi chừng!” Rồi nhảy từ lầu một xuống một đụn cát bên dưới, người Hạ sĩ mang máy cũng nhảy theo. Toán phó H. đã nhanh chóng dẫn tổ 3 người của anh tràn lên mặt đường, phối hợp với tổ trực đang gác trên đường để cô lập hiện trường, một mặt kềm chế những chiếc xích lô, một mặt chận đứng giao thông. Tôi đích thân gọi các toán trưởng khác cùng lên máy. Một người đàn bà ăn mặc bình dân từ sau giỏ cần xé của chiếc xích lô bước xuống với vẻ ngạc nhiên lẫn hốt hoảng:  
     Tôi đem đồ ăn tới cho lính mình mà. 
    Trung sĩ nhất H. quay nhìn tôi chờ lệnh. Thấy hơi quê với đàn em, tôi làm như tay sành điệu, đưa bàn tay phải ra,chúm 5 đầu ngón tay lại rồi dùng ngón chỉ của tay kia chạm vào chúm tay nọ rồi bung 5 đầu ngón tay ra (hiệu lệnh lục soát tôi mới học lóm được). H. hiểu ý, sai một lính dưới quyền trải tấm poncho mỏng bên lề đường, (đời lính ăn ngủ và hy sinh gói trọn trong tấm poncho).
    Người đàn bà cùng 2 phu xích lô lần lượt chất chả và bánh mì xuống poncho dưới sự quan sát cẩn thận của H. rồi tất tả cùng đạp đi như sợ người khác nhận diện, không kịp nhận một lời cảm ơn. Tôi giao cho H. xử lý mọi việc, không quên nhắc anh ta chia đều cho các toán khác và “cúng dường” ban chỉ huy Biệt đội.
    Bữa cơm trưa thật ngon miệng, những lát chả thơm ngon lạ lùng sau một tuần lễ gạo sấy, cá hộp làm ấm cả lòng người (ration C chỉ còn là huyền thoại). Nhìn khuôn mặt những người lính tươi lên, có lẽ họ cũng thấy ấm lòng như tôi và tay súng của họ sẽ ghì chặt thêm trong trận chiến.
    Trời dần về chiều, những tin tức bất lợi dồn dập đưa tới, tiếng nổ xa gần của đại pháo không làm tôi quan tâm đến nữa. Những chiếc xe buýt chật cứng người được Mỹ cho đặc ân di tản chạy về hướng Tân Sơn Nht báo trước sự chạy làng của cái gọi là“Đồng Minh”, chúng tôi chỉ chận lại xem xét giấy tờ và tịch thâu tất cả vũ khí trên xe để phòng ngừa rối loạn có thể xảy ra.
    Họ ra đi cho bản thân riêng, chúng tôi ở lại vì nhiệm vụ chung của người lính cho đến giờ phút cuối, không mảy may than phiền thắc mắc. Tối đến trong căng thẳng, sau bữa cơm chiều tôi ra lệnh cho các tổ giữ vững cách phối trí nhưng thayđổi vị trí để ngừa đặc công. Tổ chỉ huy của tôi di chuyển qua bên kia đường đóng trên một cao ốc. Khuya hôm đó, H. Toán phó, chuyền tay đến tôi một chai Johny Walker với hàng chữ thật dễ thương ghi bên ngoài: “tặng các anh”. Chúng tôi chuyền tay nhau hết chai, đỏ mắt lên chờ sáng.
    NGAO DU SÀI GÒN:
    Hôm nay đã là ngày 29, 8 ngày mang chiếc lon Thiếu Úy mới toanh trên trên cổ áo với nhng nhiệm vụ thật mới lạ và bất ngờ không có trong binh thư, tôi cũng đã quen dần với đời sống lính rừng trong thành phố. Suốt gần 4 năm quân trường, có bao giờ tôi nghĩ đến tình huống ngộ nghĩnh như thế này: Đường đường 1 đơn vị lính trận mà phải chia nhauđứng gác đường như những anh chàng cảnh sát bạn dân không bằng. Thật rõ chán, lòng lại nóng như lửa đốt vì những tin tức bất lợi dồn dập đưa đến không ngừng qua các đài phát thanh. Đất nước tan hoang, gia đình di tản không nơi ăn chốn ở.
    Người yêu duy nhất của tôi lúc bấy giờ đã một lần đến thăm tôi nắm tay để nói lời từ biệt, nàng muốn ra đi với một ông lớn nào đó trong Bộ Dân Vận Chiêu hồi, nơi nàng đang làm việc. Lòng tôi thật rối như tơ vò nhưng ngoài mặt vẫn lạnh như băng.
    Tội nghiệp những người lính đang trông chờ tất cả vào tôi, họ nhìn thẳng vào mắt tôi mỗi khi có biến động dầu chỉ là tiếng nổ của đạn pháo xa xa.
    Quả thật phòng thủ không phải là sở trường của một đơn vị đầy tính chất linh động như thế này. Và chúng tôi bắt đầu cảm thấy mình như những con vật nửa người nửa ngợm. Bộ đồ dù này chỉ đẹp trong những buổi sớm chiều trong rừng già trùng điệp, hay trên bãi chiến trường khét mùi thuốc súng.
    Ngày 29 trôi qua thật nhàm chán, thỉnh thoảng chỉ nghe vài tràng liên thanh nhỏ, không khí ngột ngạt, một sự yên lặng ngấm ngầm ghê rợn. Lệnh tử thủ vẫn được nhấn mạnh từ Bộ Tư Lệnh tiền phương. Trong ánh mắt những người lính gan lì đã thoáng lên sự nhàm chán. Tôi chợt nghĩ ra một cách để giải khuây: 2 tiếng đồng hồ phép cho tất cả mọi người, một quyết định thật táo bạo trong tình huống bấy giờ, nhưng không biết tại sao tôi lại tin tưởng hoàn toàn ở những người lính chịu chơi này.Tôi im lặng phối trí lại các tổ tam đầu chế, mỗi tổ có một người biết đường đi nước bước ở Sài Gòn. Đúng 8 giờ tối, tôi cho tổ đầu tiên âm thầm lên trình diện.
    Tôi ra lệnh ngắn gọn:
     Tao cho tụi bây đi chơi đúng 2 tiếng, mi đứa chỉ được mang theo 1 trái mini, súng đạn để hết lại đây, thằng tổ trưởng giữ cây P38 này của tao nghe. Đi về cho đúng giờ để thằng khác còn đi. Nhớ cẩn thận.
    Đầu tiên là ngạc nhiên và sauđó là những nụ cười sáng rỡ, hồn lính thật ngây thơ.Một tiếng dạ ngắn rồi 3 chàng Ngự Lâm biến mất trong màn đêm, tôi bắt đầu lo âu chờ đợi... Và họ đã trở về đầy đủ, đúng giờ với những nụ cười hồn nhiên pha một chút bẽn lẽn khi nghe tôi hỏi “Dzui không tụi bây?”
    Khi các tổ đã về đầy đủ, tôi cũng tự cho phép tôi, mượn chiếc Honda, chạy vội về thăm gia đình đang tạm trú ở nhà người quen gần đó sau khi di tản từ Qui Nhơn. Tôi chỉ kịp ôm hôn Mẹ tôi, trấn an Bà vài câu rồi vội vã ra đi, mang theo ánh mắt luyến lưu chịu đựng của một bà Mẹ VN tiễn con đi trong những giờ phút cuối.
    ĐÔI CO TRÊN LỬA ĐỐT:
    Khoảng 5 giờ rạng sáng ngày 30 tháng tư, toán thám kích chúng tôi như một chú sư tử ngái ngủ trong cũi sắt giữa một thanh phố bỏ hoang. Bỗng nhiên tiếng gầm của đại pháo và súng chống tank vang lên dữ dội từ hướng Lăng Cha Cả, cùng lúc tiếng rè rè của máy PRC25 vang lên, tôi vươn mình chụp vội cần liên hợp không kịp chờ anh Hạ sĩ mang máy. Lệnh chuẩn bị hành quân từ Đ/U Biệt đội trưởng.
    Qua đối thoại ngắn ngủi, tôi biết rằng biệt đội đang chận đứng một đoàn Tank của cng quân không rõ bao nhiêu chiếc và đã nướng được 4 con. Chúng tôi được lệnh chuẩn bị thật nhẹ để nhảy chân chim, một lối nhảy trải mỏng từng tổ một và thay đổi vị trí liên tục để gây hoang mang trên đường tiến của địch quân, khu vực và phương tiện sẽ được chỉ định sau.
    Tôi ra lệnh cho thuộc cấp chỉ mang theo những trang bị nhẹ nhàng nhất và chuẩn bị tinh thần cho những trận cận chiến và chống Tank. Vài người lính rút chiếc dao găm ra ngắm, liếc nhẹ vào nòng súng vài cái, đút lại vào bao rồi vỗ mạnh, tôi biết họ đã sẵn sàng và thật điệu nghệ. Có người còn nhổ một bãi nước bọt vào nòng súng, có lẽ vì một thói quen cố hữu.
    Chúng tôi nóng lòng đợi chờ lệnh hành quân như những con ngựa chiến bị ghìm cương, mắt trợn trừng lồng lộn, bạn bè cùng đơn vị chúng tôi đang sống chết với giặc ngoài kia, sao chúng tôi đành ôm vó đợi chờ vô tích sự, và tôi như một chàng trai tân đang chờ đợi cuộc hẹn đầu đời với con gái của Ma Vương.
    Cái đợi chờ làm tôi bồn chồn nóng nảy lẫn lo âu như một chú cá đang bị nướng sống trên lò lửa nóng, mắt tôi đỏ ngừ, hơi thở dồn dập, mặt tôi tê dại đi không còn cảm giác. Tôi cắn chặt hàm răng, cố thở thật sâu để nén đi cảm xúc của mình rồi lừ mắt nhìn thẳng vào mặt của từng người lính. Bất giác, tôi chưởi thề lớn tiếng: 
    “ĐM. tao như đứng trên lửa...” và cứ thế thời gian trôi qua như thử thách sự dẻo dai của những dây thần kinh đang căng thẳng đến cùng cực. Để đốt thời gian, trấn an tinh thần lính, tôi trải rộng tấm bản đồ, định hướng chính xác, rồi gọi các tổ trưởng đến phân tách và giải thích từng cứ điểm quan trọng trong vùng.
    Tuy sẵn sàng nhưng chúng tôi vẫn duy trì nhiệm vụ của mình trong vùng trách nhiệm, các tổ vẫn thay phiên nhau cho người đứng gác đường, chứng tỏ sự có mặt của mình để duy trì trật tự. Đang trong tình thế căng thẳng đó, một sự kiện buồn cười nhưng cảm động xảy đến làm tôi nhớ mãi.
    Người đứng gác đường lúc bấy giờ là một anh Trung sĩ tổ trưởng với bộ quân phục đẹp nhất mà anh có được trong túi quân trang. Bỗng nhiên, có chiếc cyclo đậu xịch lại sát bên anh, mọi người đều giật mình chưa kịp phản ứng thì một cô gái trẻ ăn mặc diêm dúa nhảy ra, cô ta cười toe toét, ăn nói líu lo rồi rút ra một xấp tiền dúi vào tay anh chàng Trung sĩ trẻ, anh ta đẩy tay cô này ra, nhìn về hướng tôi có vẻ lo lắng vì tôi rất nghiêm ngặt trong nhiệm vụ đứng gác này, sau một hồi đôi co, cô gái tìm cách dúi đại tiền vào túi quần trận của anh Trung sĩ rồi leo lên cyclo chạy đi mất. Tôi ra lệnh cho người khác lên thay gác, kêu anh chàng này đến chấn chỉnh để làm gương. Anh Trung sĩ này chỉ biết gãi đầu bứt tai rồi phân trần với giọng đặc sệt miền Nam:
    – Hồi hôm, Trung úy cho tụi em đi chơi (lại lên lon), em quằm con nhỏ này, tiền bạc đàng hoàng, sáng nay ngang qua đây, nhận ra mặt em đứng gác, nó tội nghiệp, nằng nặc đòi trả tiền lại cho được.
    Tôi mĩm cười trong bụng, ra lệnh anh ta quay lưng lại, đá nhẹ một cái vào đít cảm thông. Anh ta xoay người chào tôi với nụ cười trên khóe mắt rồi vội vàng chạy đi thi hành tiếp nhiệm vụ canh gác đang được tạm thời thay thế.
    NGƯỜI LÍNH MANG MÁY:
    Lúc bấy giờ đã hơn 10 giờ 30 phút trưa ngày 30, lệnh tử thủ vẫn được duy trì, lệnh hành quân tôi vẫn đang chờ đợi mặc dù trên đài phát thanh, Tướng Minh đã tuyên bố và kêu gọi đầu hàng. Chúng tôi, những người lính, chỉ biết tuân lệnh cấp chỉ huy trực tiếp của mình. Tôi thấy được trong ánh mắt lính sự hoang mang, trong lòng tôi cũng tự đặt câu hỏi không biết phải làm gì.
    Tuy đã quá mệt mỏi với sự đợi chờ và lo âu kéo dài, nhưng tinh thần trách nhiệm trong tôi vẫn còn tỉnh thức: mạng sống của thuộc cấp và sự an toàn ổn định của người dân trong khu vực trách nhiệm lúc bấy giờ là mối quan tâm chính yếu của tôi.
    Trên vai trái 2 khẩu M72, trong túi áo 4 trái mini,vai phải là cây M16 với cấp số đạn đầy đủ trong túi quần, giắt khẩu P38 ngắn nòng vào dây nịt dưới chiếc áo 4 túi, tôi cố gắng tạo cho mình một dáng đi chững chạc bình tỉnh dẫn anh Hạ sĩ mang máy đi một vòng thăm hỏi nói chuyện với từng người lính, tinh thần họ hơi xao động vì không biết việc gì sẽ xảy ra, nhưng những người lính gan lì này vẫn quyết tâm sát cánh bên tôi cho đến giờ phút cuối, thật không hổ danh là những con cọp biết nhảy dù. Không biết tôi trấn an họ hay chính họ đã làm lòng tôi ấm lại và vững vàng hơn.
    Tôi biết rằng một sơ sẩy của tôi trong lúc này có thểđưa đến cái chết thật oan uổng cho những người lính quả cảm trung thành ấy. Chúng tôi như keo sơn sống chết có nhau, quan cũng như lính, sự hiểm nguy thật công bằng trong những đơn vị nhảy toán này. Đây đã là giờ thứ 25, tất cả đều im lặng vô tuyến, tôi rít một hơi thuốc dài cuối cùng rồi dùng ngón tay bóp nát đóm thuốc lúc nào không biết. Mãi lo nghĩ đến sự an nguy của thuộc cấp, tôi quên hẵn đi thân phận của chính mình.
    Đang suy nghĩ vẫn vơ, bỗng nhiên, một chiếc Pờ-giô 404 màu trắng bóng loáng thắng rít cạnh lề đường, gần chỗ tôi đang đứng, một người đàn bà đứng tuổi, ăn mặc sang trọng xuống xe, chạy vội lại ôm chầm lấy người hạ sĩ mang máy, bù lu bù loa:
    – Con ơi con! Sao giờ này con còn ở đây con! Về với má đi con!
    Trong tình huống này, tôi không biết phải làm gì, có nên giữ anh ta ở lại đơn vị trong giờ phút thứ 25 này không. Suy nghĩ thoáng nhanh trong đầu, tôi vội bước lui vài bước, quay đi hướng khác, để tùy anh ta định đoạt. Qua ánh nắng đỗ nghiêng, tôi thấy bóng anh ta quay lại phía tôi im lặng hồi lâu, rồi với giọng trầm buồn nhưng quả quyết:
    – Má về đi, con ở lại với Thiếu úy à.
    Tôi bất giác quay lại nhìn anh, nén vội dòng lệ đang trào dâng lên mắt. Tình đồng đội, tinh thần trách nhiệm hay khí phách của một người trai đã giữ anh ở lại với chúng tôi trong những giờ phút cuối cùng tuyệt vọng đó. Đơn giản quá một câu trả lời ngắn ngủi, nhưng nó hàm chứa tâm tình của một hào kiệt, và tâm tình đó không thiếu trong đơn vị dù mũ xanh này.
    Người Mẹ không biết làm gì, quay lại phía tôi với ánh mắt nhìn cầu cứu, một lần nữa tôi lại phải ngoảnh mặt để tránh đi một tình huống ngỡ ngàng khó xử. Trong đầu tôi thoáng hiện lên hình ảnh luyến lưu chịu đựng của Mẹ tôi đêm hôm trước.
    – Thôi, Mẹ về, con nhớ lời Mẹ dặn.
    Bà chỉ nói được bao nhiêu, rồi ôm chầm lấy con thổn thức. Người lính mang máy đứng thẳng người, hai tay trong túi quần trận, đầu ngẫng cao, cắn chặt răng, quai hàm bạnh ra, trông anh vững vàng như một cổ thụ đang cố đè nén những cơn bão táp phong ba dữ dội trong lòng. Người Mẹ sau đó lau vội nước mắt, đi chậm chậm về hướng chiếc xe, tôi đưa mắt ra hiệu cho anh trung sĩ toán phó đang ở gần đó đến mở cửa đứng chờ. Bà lẳng lặng bước lên xe nổ máy, ngồi nhìn con một lúc rồi từ từ lái xe đi sau khi quay lại đón nhận cái gập mình cúi đầu chào tôn kính của tôi.
    Quả cảm thay người lính, bao la thay lòng hy sinh của người Mẹ trong chiến tranh. Lòng tôi chạnh lại dưới ánh nắng dã dượi của Sài gòn trong ngày tàn cuộc.
    ĐỊT MẸ NÓ, ĐẦU HÀNG RỒI:
    Lòng bàng hoàng xúc động về lòng trung thành của anh Hạ sĩ mang máy đối với đơn vị, tôi ngẩn ngơ đứng lặng người, nhìn bâng quơ lên bầu trời ám khói hanh vàng.
    Lúc bấy giờ đã gần 11 giờ, dân chúng di chuyển tấp nập, thỉnh thoảng họ lén đưa ánh mắt ái ngại nhìn về phía chúng tôi. Họ đang nghĩ gì về chúng tôi? Những nhân chứng của chiến tranh, hình ảnh hào hùng đã trôi vào quá khứ, hay những hình nộm được trưng bày không đúng thời hợp lúc. Mặc cho những suy nghĩ thị phi, chúng tôi vẫn chu toàn nhiệm vụ của mình trong vùng trách nhiệm: bảo vệ mạng sống của binh sĩ dưới quyền và sự an toàn ổn định của người dân cho đến khi có lệnh mới.
    Một tràng M16 nổ dòn tan kéo tôi ra khỏi những suy nghĩ vẩn vơ, tiếp theo là tiếng thét thất thanh phẫn nộ: 
    – Địt mẹ nó! Đầu hàng rồi. Địt mẹ nó! Đầu hàng rồi.
    Một toán lính Dù gồm một người có vẻ là cấp chỉ huy và 3 người lính xuất hiện ở ngã ba cuối phố, họ di chuyển về phía chúng tôi không được bình tĩnh. Thỉnh thoảng, người chỉ huy bắn một tràng M16 rồi lại thét lên: “Địt mẹ nó! Đầu hàng rồi.” Trên vai anh, một dòng máu chảy dài xuống cánh tay còn nhỏ giọt, 3 người lính với khuôn mặt đanh lại lạnh lùng im lặng đi theo bảo vệ.
    Tôi ra dấu cho thuộc cấp giữ ổn định tại vị trí của mình. Chúng tôi đã dùng áp lực tước vũ khí nhiều toán quân lẻ tẻ không tổ chức khi họ qua phòng tuyến của chúng tôi để vào Sài gòn nhằm tránh những hỗn loạn đáng tiếc trong thành phố. Nhưng đây là một trường hợp thật nguy hiểm và khó khăn.
    Chúng tôi tôn trọng những người anh em lính Dù mũ đỏ này với những chiến công lừng lẫy. Nhìn tình đồng đội của họ trong hoàn cảnh tuyệt vọng hiện nay cũng đủ thấy tinh thần và hiệu quả chiến đấu của họ như thế nào khi lâm chiến. Làm sao đây để chận đứng những hành động nguy hiểm chết người có thể xảy ra bất cứ lúc nào trong cơn cuồng nộ phẫn uất ấy.
    Một suy nghĩ táo bạo thoáng qua trong đầu, tôi lột chiếc nón sắt đưa cho một thuộc cấp, gác hai khẩu M72 bên vệ đường, rút trong túi áo ra chiếc nón xanh của binh chủng đội lên đầu, mang cây M16 trên vai, khoác tay ra dấu cho thuộc cấp cùng đứng lên, rồi với thái độ bình tĩnh ung dung, tôi dẫn anh Hạ sĩ mang máy chậm bước đến vị trí người lính đang đứng gác giữa đường. Một tràng M16 nữa lại nổ vang, toán lính Dù này chỉ còn cách chúng tôi khoảng 30 thước, và họ vẫn chưa nhận thấy sự hiện diện của chúng tôi. Họ tiến gần chúng tôi khoảng 20 thước nữa, một tràng đạn chỉ thiên lại nổ dòn trên không. Tôi hít một hơi thở sâu, dùng hết sức thét lên: N-G-H-I-Ê-M!” Đúng là Lính, họ giật mình dừng lại nhìn quanh, thấy chúng tôi với quân trang và vũ khí đầy đủ, có lẽ cảm thấy ấm lòng trong vùng kiểm soát của một đơn vị bạn, họ dừng chân và hơi bình tĩnh trở lại, chúng tôi nhìn nhau, chung bộ đồ Dù, một là chiếc nón đỏ với những trận chiến vang danh, một là chiếc nón xanh với những hoạt động biệt cách đởm lược. Tôi tiến đến bắt tay anh, người chỉ huy toán lính Dù quả cảm. Chúng tôi im lặng nhìn nhau, anh vẫn còn thì thào: Địt mẹ nó!……
    Tôi đích thân đưa anh vào một căn bỏ trống trong tòa cao ốc, kêu toán phó băng bó vết thương ở vai và lưng cho anh rồi vội vã bỏ ra ngoài sau khi đưa cho anh chiếc áo dù còn mới toanh của tôi để thay chiếc áo đã bết máu khô. 3 người lính Dù vẫn lặng lẽ bám theo anh không rời một bước.
    Tôi không nhớ anh mang cấp bậc nào, nhưng chỉ biết toán lính Dù này rút về đây khi trại Hoàng Hoa Thám đã hoàn toàn thất thủ. Sau khi chuyện trò thuyết phục, họ đã đồng ý ở lại với chúng tôi và trở thành một tổ mới trong toán. Về sau toán lính Dù này đã theo chúng tôi cho đến tọa độ cuối cùng.
    TỌA ĐỘ CUỐI CÙNG:
    Thời gian như dừng lại, cái nắng ảm đạm của Sài gòn như chuyên chở tâm tư tôi trở về với những thực tại phũ phàng: Sụp đổ rồi ư những hoài bão ước mơ vá trời ngang dọc, có làm được gì không trong cơn tuyệt vọng cùng đường này!
    Đầu óc tôi trống không mụ mẫm. Cổ họng tôi khô quánh lại. Những người lính của tôi dễ thương và tội nghiệp quá, làm sao để bảo vệ mạng sống của họ trong hiện tại và dẫn dắt họ trong đời sống vô định của một tương lai đen tối. Vì trách nhiệm, tôi bám chặt họ để làm lẽ sống.Vì quả cảm trung thành, họ quyết theo tôi cho đến bước đường cùng. Tôi đứng như trời trồng, nhìn sững xuống chân thấy bóng mình dần thu ngắn lại.
    Tiếng rè rè của PRC25 làm tôi giật mình, đích thân Đại úy Biệt đội trưởng ra lệnh hành quân, các sĩ quan trong ban chỉ huy Biệt đội đã đồng ý một kế hoạch rút quân về tòa nhà Quốc Hội, giá súng tại đây, tuyệt đối không buông súng trong vùng trách nhiệm. Trung đội Thám kích mở đường và tập hậu, chiếm các cao ốc làm điểm tựa cho cuộc rút quân. Tôi tê dại đánh rơi cần liên hợp xuống mặt đường. Vậy là hết!
    Sững người trong phút chốc, tôi buông thõng:
    – Đi.
    Người toán phó nôn nóng hỏi:
    – Đi đâu thiếu úy
    Tôi nhìn anh ta với đôi mắt ngầu lên uất hờn tủi nhục rít qua kẽ răng đang nghiến chặt:
    – Lệnh hành quân về quốc hội. 
    Tôi đáp gọn rồi kịp quay đi giấu đôi dòng lệ trào tuôn không cầm được.
    Biệt đội đã bắt đầu di chuyển, 3 toán nhảy theo chân sáo mà điểm đậu là các tòa cao ốc để bảo vệ các trung đội xung kích di chuyển trên mặt đường. Toán chúng tôi tuy vẫn giữ nguyên tắc tổ tam đầu nhưng tụ lại cho ấm cúng hơn.
    Bỗng nhiên, tiếng máy của T54 đồng loạt gầm lên trên khắp ngã đường, những khối sắt đen đồng loạt bò ra dừng lại án ngữ những điểm chính yếu rồi đứng lại đe dọa, có tiếng click nhẹ của những khẩu M72 giương nòng, tôi chưa kịp phản ứng gì thì nhìn quanh, những người lính thiện nghệ của tôi đã vào vị trí sẵn sàng chiến đấu, tôi vụng về giương nòng cây M72 rồi ẩn mình sau một gốc cây lớn vệ đường quan sát.
    Một sự im lặng căng thẳng cùng cực, T54 gục nòng trong tư thế trực xạ, M72 đã sẵn sàng với biểu xích đã bật lên, súng ghìm súng, mắt long lên theo từng động tỉnh của đối phương, chỉ cần một tiếng súng nổ là khai hỏa một trận chiến không ai lường được hậu quả. Lúc bấy giờ khả năng tham chiến của biệt đội 817 chúng tôi vẫn đầy đủ.
    Chiến công cuối cùng của Biệt Đội 817 Liên Đoàn 81 BCD ngay giữa Thủ đô Sài Gòn sáng ngày 30/4/1975:
    Đang trong phút im lặng tử thần đó, một sĩ quan, nếu tôi nhớ không lầm là một toán trưởng kỳ cựu trong trung đội thám kích, một cánh tay phải của Biệt đội trưởng, đứng thẳng người, mạnh dạn bước ra, nhìn về hướng Biệt đội trưởng như chờ sự chấp thuận. Nhận được thủ lệnh, anh từ tốn cởi bỏ vũ khí để xuống mặt đường, rồi dỏng dạc bước ra đứng giữa đường lớn tiếng:
    – Chúng tôi, biệt đội 817 Biệt cách Dù, chúng tôi không buông súng trong vùng trách nhiệm, chúng tôi đang hành quân về quốc hội để trả vũ khí lại cho dân. 
    Giọng anh sang sảng bằng tiếng Bắc 54.
    Phía đối phương không động tĩnh một hồi lâu, có lẽ họ đang liên lạc để chờ lệnh trên hay để đánh giá lực lượng chúng tôi trước khi quyết định việc gì. Sau đó, từ chiếc T54 phía sau, một người bên đối phương bước xuống nói chuyện với anh Sĩ quan toán trưởng này, hai bên tranh luận giằng co, lúc nhẹ nhàng, khi lớn tiếng, cuối cùng, anh toán trưởng quay trở lại, khuôn mặt đỏ ngầu. Vì sự an nguy của đồng đội, anh đã cố nén đi sự phẫn nộ, có lẽ anh đã quen nói chuyện với địch quân bằng một phương pháp cứng rắn hơn.
    Sau khi về lại vị trí, anh toán trưởng này đã gọi mọi người cùng lên máy và chúng tôi nói chuyện bằng bạch văn. Tôi được biết đối phương đã đồng ý để chúng tôi tiếp tục hành quân về tòa nhà quốc hội, nhưng hai bên cùng thỏa thuận: trên lộ trình hành quân, nếu gặp nơi đối phương đang trú quân, chúng tôi phải vác súng lên vai và ngược lại, khi chúng tôi nghỉ chân thì bất cứ đơn vị nào của đối phương di chuyển qua cũng phải vác súng lên vai không được ở tư thế tác chiến.
    Đại úy Biệt đội trưởng ra lệnh tiếp tục hành quân.
    Chúng tôi câm lặng di chuyển, trong lòng thấm dần niềm đau nỗi nhục, nhìn quang cảnh phố phường lẫn lộn đỏ xanh của màu cờ gạt lừa dối trá.
    Dân chúng hai bên đường nhìn chúng tôi như những bóng ma đang di chuyển trong một nghĩa địa hoang tàn của Sài gòn sau cơn binh lửa.
    Đến ngã tư Trương minh Giảng-Công lý, một lần nữa tiếng gầm rú của T54 lại vang lên như đang cố gắng nghiền nát tinh thần chúng tôi. Đối phương đã huy động một lực lượng chiến xa lẫn chủ lực đáng kể nhằm khống chế chúng tôi tại chỗ. Toán nhảy tiền phương đã bị chận đứng không thi hành được nhiệm vụ vì đối đầu với những khẩu 3.5 đang theo dõi bước chân của từng người lính thám kích. Nhìn chung quanh, đại pháo của chiến xa trên các ngã đường đang gục nòng sẵn sàng khai hỏa.Toán nhảy tập hậu đã gọi về báo một tình trạng tương tự ở sau lưng, trên các cao ốc đối phương đã hoàn toàn trấn giữ.
    Chúng tôi nhìn nhau không biết phải làm gì, Biệt đội trưởng lắc đầu chậm chạp, từng khuôn mặt lặng câm không cảm xúc. Một cảm giác tê dại chạy khắp người tôi từ bàn chân lên đến đỉnh đầu. Tâm trí hoàn toàn trống không, tôi đứng như trời trồng uất nghẹn, mắt trợn trừng nhìn vào cõi hư vô, tai ù lên chỉ còn nghe tiếng mạch máu nhảy lên trong lồng ngực. 
    Tôi nói như trong mơ:
    – Các anh về với gia đình đi.....
    Từng người lính rời xa, trái tim tôi quặn thắt.
    …………………………
    Tôi không nhớ việc gì đã xảy ra sau đó, nhìn chung quanh trống vắng lạnh lùng, nòng đại pháo trên các chiến xa T54 vẫn còn nhìn tôi với con mắt chột đen ngòm lạnh lẽo.
    Tôi lặng lẽ trút bỏ quân trang và vũ khí trên người, giắt khẩu P38 ngắn nòng vào thắt lưng, đặt chiếc nón sắt nhẹ nhàng xuống một gốc cây gần đó, rút chiếc nón xanh của binh chủng đội lên đầu, vuốt sơ lại bộ quân phục đã nhàu nát và bước đi giữa những vết tích tàn lụn ngổn ngang của binh sĩ, như kẻ mộng du, nhắm về hướng Suối Máu, như loài cá vô tri tìm về nơi chốn đã khởi đầu một cuộc hành trình dĩ vãng.
    Tôi bước đi như vào chốn không tên, tất cả giác quan đều ngưng hoạt động, mắt nhìn đăm đăm trơ dại, tai ù lên những tiếng vo ve nhức nhối, miệng lưỡi đắng khô và chân tôi đều bước nhịp quân hành... Lúc bấy giờ trời đã nghiêng bóng, có lẽ đã hơn 2 giờ......
    – Niên trưởng! Niên trưởng! Trời ơi, giờ này mà Niên trưởng còn mặc đồ này đi coi chừng tụi nó bắn chết.
    Một khóa đàn em hay một nguời lính nào đó nắm tay tôi, vừa la thất thanh vừa kéo tôi vào một hẻm nhỏ bên kia cầu xa lộ. Anh ta giằng lấy nón, cởi phăng áo tôi ra, rút khẩu P38 gói vào trong áo chung với chiếc nón xanh giấu vào một góc nhà, rồi khoác vào tôi một chiếc áo sơ mi cũ nhàu nát loang đốm vết dầu.Sau đó quăng cho tôi một chiếc quần cũng nhàu nát không kém và một đôi dép Nhật, tôi lặng lờ theo lời anh thay đôi giày và chiếc quần trận ra như một kẻ không hồn. Anh dẫn tôi ra lại xa lộ, nắm tay khẽ bảo: 
    – Niên trưởng về nhà đi.
    Và tôi lại lững thững bước đi... Như một xác âm binh lạc lối... Bước chân tôi dừng lại trước căn nhà trọ của gia đình đã di tản từ Qui nhơn hơn tháng qua. Nhìn qua khe cửa hé mở, tôi thấy Mẹ tôi ngồi im lặng một góc theo lối Kiết già, Bà đang niệm Phật để nguyện cầu cho Quốc thái Dân an, hay cho 2 đứa con trai đang còn mãi mê ở chiến trường đâu đó. Tôi khẽ lách cửa bước vào, hai người chị gái tôi ngồi bệt dưới đất trong tư thế đợi chờ ngột ngạt không biết chuyện gì sẽ xảy đến.
    Tôi khẽ kêu lên:
    – Mạ!
    Cả nhà nhìn lên tôi, ngạc nhiên, sững sờ, bể dâu của cuộc đời đã thể hiện cả lên hình hài tôi qua bộ đồ dân sự nhàu nát. Mẹ tôi nhìn tôi từ trên xuống dưới, cái nhìn đau đớn đến vô hồn của một bà Mẹ đi nhận xác con.
    Vâng! con của Mẹ đã chết trong ngậm ngùi, mang theo những hoài bão ước mơ vá trời lấp biển, và nó đang về đây với cái xác không hồn từ cõi âm ti....
    Tôi viết lên những dòng chữ này để nhớ đến những người lính quả cảm trung thành cùng binh chủng. Đây là dấu tích sau cùng của riêng tôi trong đoạn đường binh nghiệp ngắn ngủi.
    Trong những ngày cuối tháng tư đen, hãy chia xẻ niềm đau với biết bao nhiêu người trai trẻ đã bị sống trong cảnh bức tử oan nghiệt.
    Thượng cấp, vì quá lệ thuộc vào ngoại bang, đã tước bỏ đi của chúng tôi cái quyền căn bản của các cấp sĩ quan trẻ đầy lý tưởng và nhiệt huyết:
    QUYỀN ĐƯỢC CHIẾN ĐẤU ĐỂ ĐI ĐẾN CHIẾN THẮNG HOẶC HY SINH BÊN CẠNH NHỮNG NGƯỜI LÍNH THÂN YÊU.
    MINH CUI
    Khóa 28 Võ Bị Đà Lạt

CÔNG TÁC BÊN LÀO


  • Image en ligne


    Toán chiêu hồi 
    Tựa:
    (Lạc và Dũng không phải là những người lính bình thường. Chỉ 12 tháng trước, họ còn đứng ở bên kia chiến tuyến. Lạc đào ngũ sau một trận bom B-52 kinh hoàng tại đường 9; còn Dũng, người đã quá mệt mỏi với những cơn sốt rét rừng hành hạ, đã quyết định tìm đến ánh sáng chiêu hồi. Họ mang trong đầu "bản đồ sống" về các kho tàng bí mật của đối phương. Hôm nay, họ trở lại Lào không phải để chiến đấu, mà để dẫn đường cho một bóng ma). 
    Trạm tiền phương Khe Sanh một buổi sớm mờ đục. Ban ngày, mây thật thấp ngang nóc hầm. Ban đêm, rừng thở. Gió từ thung lũng thổi về mang theo mùi thuốc súng và hơi ẩm của đồi núi rừng. Khe sanh như một cái gai cắm vào sống lưng Trường Sơn.
    Lạc và Dũng đứng đó, lọt thỏm trong bộ đồ chính quy, không phù hiệu. Họ là những kẻ "đi giữa hai lằn đạn". Lạc từng là một đặc công tinh nhuệ, kẻ có thể đi xuyên qua hàng rào kẽm gai mà không làm rung một chiếc lá. Dũng là gã thợ rừng chuyên nghiệp của đường dây 559, người có khả năng "ngửi" thấy mùi sắt thép của kho đạn từ khoảng cách cả cây số. Họ quay lại Lào không phải để tìm cái chết, mà để bán đi những bí mật mà họ đã từng thề bảo vệ. Bản đồ Lào trải trên bàn gỗ thô, mép bản đồ cong vì ẩm. Những đường mực xanh đỏ chằng chịt như mạch máu.
    Thiếu úy Hoàng Như Bá, trưởng toán, đứng nghiêm, giọng khàn thấp, đều, không thừa một chữ:
    - Công tác 7 ngày. Không giao tranh. Không nổ súng, trừ khi!
    Công tác: dò kho tiếp tế, kho đạn, đường mòn mới. Chụp hình. Ghi tọa độ. Rút êm. 
    Hai người đứng quanh anh là Lạc và Dũng, 2 toán viên
    thanh lọc từ các nhóm chiêu hồi. Không ai gọi họ là tù binh. Cũng không ai gọi họ là lính mình. Họ đứng giữa hai chiến tuyến.
    Lạc gầy, da xám, mắt sâu như người đã quen nhìn rừng ban đêm.
    Dũng thấp, vai xuôi, cổ lúc nào cũng căng như sợ có bàn tay vô hình bóp lại. Họ từng đi những con đường bên kia bản đồ. Từng gùi đạn. Từng ngủ cạnh kho. Giờ họ dẫn đường...chỉ điểm cho người sẽ phá nó. Thiếu úy Hoàng như Bá chỉ tay lên bản đồ, dừng lại ở một chấm đỏ chì nhỏ: 
    - Khu này. Có kho. Không biết lớn cỡ nào.Nhiệm vụ của 2 anh: chỉ đúng. Nhiệm vụ của tôi: đưa mọi người về.
    Không ai hỏi thêm. Trong công tác, hỏi nhiều là chết sớm. Trên bãi đáp, chiếc Kingbee H-34 của Phi đoàn 219 nổ máy chờ sẵn, luồng hơi nóng từ động cơ làm méo mó cả không gian. 3 bóng người bước lên tàu. Thiếu úy Hoàng Như Bá và 2 Hồi Chánh Viên.
    Tiếng cánh quạt quật không khí như xé rừng thành từng mảnh. Đèn trong khoang tắt phụt. Chỉ còn ánh đỏ lờ mờ, soi gương mặt ai cũng giống mặt người chết.
    Chiếc trực thăng H-34 "Kingbee" của Phi đoàn 219, với hình con Ong gầm thét bên sườn, nghiêng mình lao xuống một trảng cây cỏ nhỏ hẹp. Tiếng động cơ như xé nát bầu không khí đặc quánh.
    Thiếu úy Hoàng Như Bá ra hiệu lần cuối. Không bắt tay. Không vỗ vai. Chỉ một cái gật đầu, thứ duy nhất còn giữ được giữa sống và chết.
    Cửa mở. Gió mạnh ùa vào như một cú đấm. Rừng Lào bên dưới đen đặc, sâu hun hút, không đáy.
    Dây tuột. Người trượt. Bóng rơi. Không có tiếng động khi chạm đất, nhẹ như nuốt hơi thở.
    3 bóng người lao mình vào bụi rậm,ngay lập tức bị rừng già nuốt chửng. Tiếng trực thăng xa dần, trả lại một sự im lặng đáng sợ, im lặng đến ghê rợn.Ở đây, sự im lặng không có nghĩa là bình yên, nó là sự rình rập của hàng ngàn họng súng đang ẩn mình. Họ bắt đầu di chuyển như những bóng ma, bước chân không được phép chạm vào cành khô, hơi thở phải nén lại sau lồng ngực. Rừng Lào không có đường. Chỉ có những nơi từng có người đi qua. Lạc đi trước. Anh ta bước đúng chỗ đất mềm hơn nửa tấc. Đặt chân tránh đúng rễ trồi. Thiếu úy Hoàng Như Bá nhìn cách đi là biết: Không phải bịa.
    Dũng đi sau, thỉnh thoảng quay đầu, mắt liếc như con thú quen bị săn. Toán đi chậm đến mức tưởng như không di chuyển. Mỗi giờ được vài trăm mét.
    Không hút thuốc. Không nói chuyện. Không để lại một dấu gãy nào không cần thiết.
    Đêm đầu tiên, họ ngủ treo. Không lửa. Không mùi.
    Càng đi sâu, không khí càng đặc quánh mùi ẩm mốc và thuốc súng...
    Đến ngày thứ 4, họ tìm thấy "mỏ vàng". Nằm sâu dưới một triền núi đá vôi là hệ thống hầm ngầm.Lạc thì thầm: - Kho đạn của Sư đoàn 304. 
    Rừng bên dưới có tiếng người nói xa xa.Dũng dừng lại, ra hiệu bằng tay. Cách đó hơn trăm mét, một trạm giao liên đang hoạt động. 3 bóng người bất động như tượng đá suốt hơn tiếng đồng hồ dưới tán lá rừng. Những bước đi gần hơn nữa. Tiếng kim loại va nhẹ, rừng già bắt đầu lộ diện những "mạch máu" của đối phương. Những sợi dây điện tín chăng ngang lối đi, những vết bánh xe xích lún sâu vào bùn đất. Dũng ra hiệu dừng lại nữa, cách họ chưa đầy 10 mét, một tiểu đội đối phương đang lầm lũi hành quân. Kho ở gần. Kho không phải là hầm bê tông, chỉ là rừng dày hơn bình thường.
    Lạc nằm sấp, tay vạch rất khẽ, một khe lá mở ra, lộ những thùng phủ bạt xanh sẫm.
    Bá nằm rạp xuống lớp lá mục, dán người dính vào mặt đất, tay lăm lăm khẩu AK-47. Anh nhìn thấy rõ khuôn mặt mệt mỏi của những người lính bên kia chiến tuyến, nghe được cả tiếng lách cách của bi đông nước chạm vào súng. Một phút trôi qua dài như một thế kỷ. Chỉ cần một con muỗi rừng đốt làm ai đó giật mình, một tiếng ho khan, hay một hơi thở quá mạnh, tất cả sẽ có đáp số kết thúc trong một trận mưa đạn.
    Không có lính gác lộ thiên. Chỉ có những cặp mắt không bao giờ thấy. 
    Bá rút chiếc máy ảnh Leica. Mỗi cú bấm như một nhịp tim rơi xuống hố.
    Những khối hầm ngầm chứa đầy hòm đạn gỗ, những khẩu 12.7mm nằm chễm chệ trên giá súng hiện lên trong ống kính... Chụp ảnh, ghi tọa độ. Từng con số được Hòa ghi chép bằng bút chì lên mảnh giấy pelure mỏng dính, mồ hôi nhỏ xuống làm nhòe cả những ký tự chết người.
    Dũng thì thầm, giọng run:
    - Đạn pháo... Có cả hỏa tiễn... Họ mới chuyển tới... Công tác: Ghi tọa độ, chụp hình xong. Không ai tham thêm một giây. Ở đây, tham thì thâm, tham là chết.
    Rừng đổi mùi. Không phải mùi lá. Không phải mùi đất.
    Mùi người.
    Lạc dừng lại đột ngột. Bàn tay giơ lên cứng như gỗ.
    Xa xa, có tiếng ho. Tiếng kim loại kéo lê. Một toán khác đang di chuyển. Khoảng cách dưới 200 mét.
    Toán nằm ép dán đất suốt cả giờ. Kiến bò lên cổ. Vắt bám vào bắp chân. Không ai cựa. Không nhúc nhích.
    Khi tiếng động tan đi, ai cũng ướt đẫm mồ hôi lạnh.
    Thiếu úy Bá đưa tay ra hiệu: “Rút.”
    Rừng không im nữa. Rừng nghe ngóng.
    Thiếu úy Bá đã biết điều đó từ lúc chim bay nhiều hướng. Từ lúc gió đổi mùi, mùi khét kim loại, mùi mồ hôi người lâu ngày.
    Cuộc xâm nhập bị bại lộ vào giờ thứ 25. Một tiếng quát lớn vang lên từ phía chốt canh: “Ai đó?” Không đợi câu trả lời, một loạt đạn AK xé toạc không gian. Toán công tác lồng lên chạy. Đây không còn là lúc trốn tìm, đây là cuộc tranh đua với tử thần. Tiếng súng nổ rộ phía sau, đạn rít "chíu chíu" trên đầu, cày nát những thân cây mục. Lạc và Dũng vừa chạy vừa tung những trái lựu đạn khói để ngăn chặn tầm nhìn.
    Bãi bốc được chọn là khe chữ V, hai sườn dốc dựng đứng, cây thấp, gió xoáy. Một bãi xấu. Nhưng không còn bãi nào khác. Bãi bốc không phải bãi. Chỉ là một khoảng rừng ít cây hơn bình thường. Chỉ có một khoảng trống vừa đủ cho cái chết chen vào. 
    Máy PRC-25 mở rất ngắn. Ăng ten không dựng thẳng.
    Chỉ nghiêng vừa đủ để trời nghe mà đất không nghe.
    Thiếu úy Bá không nói “xin bốc”. Anh nói bằng mật mã:  số 2. Im lặng. 10 giây dài như 10 năm. Rồi tiếng trả lời bật lên, méo mó, như nói từ đáy giếng: mở cửa, số 3, cho mở cửa
    Trái khói màu vàng tung ra cho biết cửa sổ, đó là điểm đang đứng của toán...
    Tiếng gunship không đến từ trên cao. Nó đến từ sau núi, thấp, nặng, như tiếng kim loại kéo lê linh hồn ra khỏi xác, 2 chiếc Kingbee lao xuống như những con chim ưng thèm mồi. Phi công phi đoàn 219 liều mạng hạ độ cao, cánh quạt chém sát ngọn cây, thổi bay tung cả một vùng lá khô.
    Rồi bầu trời nổ tung xung quanh cửa sổ vừa mở. Hỏa tiễn cắm xuống sườn rừng. Cây bật gốc. Đất đá bay như mưa đạn. Đại bác quay gầm, xé từng mảng rừng, cắt lá như cắt thịt.
    Rừng Lào cháy. Không bùng. Mà rỉ lửa, âm ỉ, khét, cay cả mắt.
    Trên bản đồ, bãi bốc chỉ là một vòng tròn bút chì. Ngoài đời, nó là một cái miệng đang há.
    Gunship báo trước, giọng bình tĩnh đến lạnh:
    - Mở bãi xong. Có hỏa lực nhẹ... đang tăng.
    Minh không trả lời “rõ”. Anh chỉ đẩy cần, hạ độ cao.
    Trong tai nghe, tiếng quạt gió hòa với tiếng tim.
    Trong buồng lái, Đại úy Lê Minh nghe rõ từng nhịp tim của chính mình qua tai nghe. Gunship báo: 
    - Ổ súng chưa câm. Đạn nhẹ,  trung liên, có phòng không thấp.
    Minh trả lời ngắn: “Biết.”
    Anh không hỏi bao nhiêu ổ. Ở độ cao này, biết nhiều không cứu được gì. Kingbees hạ thấp. Thấp đến mức ngọn cây cào vào bụng máy bay. Ngay khi mũi máy ló qua khe núi, đạn lên. Không phải loạt đạn lẻ. Mà là mưa đạn. Đạn vạch đỏ bay ngang kính trước. Đạn đập vào thân nghe như ai ném đá liên tục vào thùng sắt.
    Xạ thủ hét: 
    - Bên trái! Trên sườn! 
    Pilot Minh nghiêng máy. Không né hết. Chỉ né đủ để chưa trúng chết.
    Thiếu úy Bá hét không thành tiếng, chỉ ra hiệu bằng tay:
    - Giữ vị trí! Không chạy!
    Lạc nằm ép sát đất, tay run đến mức không giữ nổi súng. Dũng cắn chặt hàm, máu rỉ nơi khóe miệng.
    Gunship lượn trở lại lần hai. Lần này thấp hơn. Đạn chạm đất, nảy lên, rít qua tai như tiếng quỷ cười, ma nhát. Bãi đã mở thêm rồi. Nhưng rừng không chịu chết.
    Kingbees xuất hiện giữa khói, không phải như thiên thần, mà như một con quái thú điên bay chui vào mưa đạn. Ngay giây đầu tiên, đạn phòng không bật lên, chiếu tường vào thân tàu. Không nhìn thấy. Chỉ nghe những tiếng bụp bụp... chui ngọt lịm vào thân tàu.
    Bảng đồng hồ rung. Kim nhảy loạn. Một viên đạn xuyên qua khoang sau, đập vào vách, tóe lửa. 
    Phi công phụ la lớn: 
    - Áp suất tụt! 
    Minh gằn giọng: 
    - Giữ độ cao. Đừng cho nó rơi.
    Anh nhìn xuống. Không thấy bãi. Chỉ thấy lửa lẻm nhẻm trong rừng và đạn bắn ngược lên trời. Dây thả xuống. Nó run như biết sắp ăn đạn. Dây thừng thả xuống không thẳng, gió mạnh làm dây quẫy như con rắn bị chặt đầu. Gunship lao vào, bắn thẳng sườn đồi. Rừng bật lửa. Nhưng ổ súng chưa chết. Một viên đạn đập thẳng vào mũi máy bay. Kính nứt. Gió lùa vào như bão gió! Minh nghiến răng, nói qua kẽ răng:
    - Lấy người. Nhanh...
    Máy rung bần bật. Đèn ca bin trong trực thăng tiếp tục nhảy múa chớp loạn. Trong máy, xạ thủ hét: 
    - Trúng rồi! Trúng rồi!
    Kingbees không đứng yên. Không thể. Nó lơ lửng, nghiêng, cố giữ độ cao trong khói và lửa. 
    Một ổ đại liên quét lửa đạn lên. Gunship trả lời bằng đạn. Hỏa tiễn quét thẳng sườn đồi đối diện. Một ổ súng im bặt. Nhưng một ổ khác lên tiếng...
    Dũng chạy ra để lên trước. Anh ta chụp dây. Gió quật. Khói xộc thẳng mặt. Một loạt đạn xé ngang bãi. Đất bắn lên như ai ném đá. Dũng trượt, dây treo lơ lửng.
    Thiếu úy Bá lao tới, không cúi, không bò. Chạy thẳng như kẻ đã ký giấy chết. Anh nắm cổ áo Dũng, đập người lên dây và quát: “LEO!” 
    Lạc lên sau. Một viên đạn cắm ngay gốc cây cạnh anh, nổ bụp, mảnh gỗ rơi bám đầy ba lô trên lưng. Lạc không kêu, chỉ leo. Như leo khỏi địa ngục. Đến lượt thiếu úy Bá, anh vừa chạm dây thì Kingbees rung dữ dội. Xạ thủ gào: 
    - Mất áp! Mất áp!
    Gunship gầm lên, lao xuống thấp hơn mức an toàn, bắn như điên. Thiếu úy Bá không leo bằng tay nữa. Anh ôm dây bằng cả thân người, để gió và đạn kéo mình lên. Một viên đạn xé ngang vai anh, rách áo, nóng rát. Anh không cảm thấy đau. Chỉ cảm thấy phải lên nhanh hơn.
    Tiếng bụp không lớn. Nhưng Minh biết ngay:
    - Trúng rồi.
    Bảng điều khiển sáng lên những đèn không nên sáng.
    Dưới kia, bóng người đang leo lên tàu. Minh thấy họ quá chậm. Nhưng anh cũng biết: chậm là còn sống.
    Một loạt đạn quét ngang bãi. Đất bắn lên che kín kính.
    Xạ thủ gào: 
    - Trúng nữa! Trúng nữa!
    Đèn báo đỏ. Minh không nhìn đèn. Anh nhìn vòng tua. Chừng nào cánh còn quay, anh còn giữ máy. Minh nói:
    - Không vòng nữa. Lấy đủ là đi. 
    Một tiếng “rầm” nặng vào thân. Máy nghiêng mạnh. Phi công phụ hét:
    - Mất điều khiển phụ!
    Minh kéo cần bằng toàn bộ sức tay. Vai rát. Cơ tay tê. Kingbee khựng lại trong không trung, như con thú bị bắn nhưng chưa chịu ngã.
    Thủy lực tụt. Vòng tua nhỏ không đều.
    Phi công phụ quay sang:
    - Mất áp số 2.
    Minh không thở dài. Anh khóa hàm, nói chậm:
    - Giữ. Đừng cho nó rơi.
    Gunship gào trong tai nghe:
    - Đạn 12 ly! Bên phải! Bên phải!
    Minh kéo cần. Máy không nghe đủ. Một viên đạn xuyên qua thân, đập vào ghế sau, xé toạc tấm giáp mỏng.
    Xạ thủ hét đau. Không chết. Chưa. 
    Minh vẫn giữ máy đứng trên cái chết thêm vài giây nữa. Chỉ để lấy đủ người. Ngay khi người cuối cùng lọt vào khoang, Kingbee quật mạnh mũi, nghiêng hẳn sang trái.
    Ngay khoảnh khắc đó, một viên đạn xé qua khoảng không anh vừa chiếm. Nếu chậm nửa giây....
    Minh kéo cần hết cỡ. Kingbees khựng lại, rồi nhấc mũi như con thú bị thương bật dậy lần cuối.
    Dưới đất không còn ai. Chỉ còn đạn bắn vào chỗ trống, đạn vẫn bám theo như đàn ong điên. 
    Đuôi máy quét ngọn cây. Lá văng như mưa. 
    Đạn vẫn đuổi theo, nhưng chậm lại.
    Rừng cháy, nhưng không có người chết nằm lại.
    Rừng lùi lại. Lửa nhỏ dần. Chỉ còn khói đen bám theo như bóng ma. Kingbees xé khỏi bãi, Gunship lao lên che phía sau. Ăn đạn thay.
    Khi khoảng rừng tụt xuống phía dưới, Minh mới thở ra được một hơi.
    Không ai trong buồng lái nói câu nào. Tất cả đều biết: Chỉ cần chậm thêm vài giây, là: “Xuân này con không về”... Trong khoang, những người vừa thoát địa ngục ngồi im như tượng. Minh vẫn nắm cần lái. Tay run rất nhẹ. Không phải vì sợ. Mà vì nếu buông ra, anh sợ mình sẽ nhớ lại từng giây đã giữ cả bọn lơ lửng giữa sống và chết.
    Những ngày bên kia biên giới, toán Chiêu hồi không mang về chiến lợi phẩm nào ngoài vài tấm ảnh mờ và tọa độ lạnh lùng, nhưng mỗi người đều biết rất rõ: có một phút đã lấy đi cả đời ngủ yên của họ, và không ai trong số đó thực sự trở về nguyên vẹn.
    Phạm Sơn Liêm




--
====================================================================
Trên Facebook :
http://www.facebook.com/DaiHocKhoaHocSaiGon
====================================================================
 
Bạn đã nhận được bài viết này vì bạn đã đăng ký vào Nhóm "KhoaHocSG" của Google Groups.
* Để đăng bài lên nhóm này, hãy gửi email đến "khoa...@googlegroups.com"
* Để RÚT TÊN ra khỏi nhóm này, gửi email đến "khoahocSG+...@googlegroups.com"
* Để có thêm tuỳ chọn (preference set up), hãy truy cập vào nhóm này tại: http://groups.google.com/group/khoahocSG?hl=vi
---
Bạn nhận được thư này vì bạn đã đăng ký vào nhóm Google Groups "KhoaHocSG".
Để hủy đăng ký khỏi nhóm này và ngừng nhận email từ nhóm, hãy gửi email đến khoahocsg+...@googlegroups.com.
Để xem cuộc thảo luận này, hãy truy cập vào https://groups.google.com/d/msgid/khoahocsg/MN2PR02MB6592CDDEEF757A1F5BD748EFFC90A%40MN2PR02MB6592.namprd02.prod.outlook.com.
Reply all
Reply to author
Forward
0 new messages