Fwd: ĐIỂM TIN DIỄN ĐÀN 01-04-2026 (SỐ 060-2026)

3 views
Skip to first unread message

Giu Tran

unread,
Apr 1, 2026, 10:54:38 AM (4 days ago) Apr 1
to


---------- Forwarded message ---------
From: soan....@hotmail.com <soan....@hotmail.com>
Date: Wed, Apr 1, 2026 at 6:17 AM
Subject: ĐIỂM TIN DIỄN ĐÀN 01-04-2026 (SỐ 060-2026)
To:




GOOD MORNING VIET NAM - CANADA - USA

ĐIỂM TIN DIỄN ĐÀN 01-04-2026  (SỐ 060-2026)

Image insérée



Image insérée


MỤC LỤC

  1. KHÔNG BAO GIỜ QUÊN NGÀY THÁNG TƯ ĐEN CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM.
  2. Tôi Tìm Lại Chính Tôi
  3. CỐ TRUNG TÁ NGUYỄN VĂN NINH PĐ/518/SĐ3/KQ BIÊN HÒA
  4. NGƯỜI LÍNH CỦA NGÀY CŨ
  5. NHỚ AI 
  6. NGƯỜI NỮ TU ĐẸP LỘNG LẪY TÌNH NGUYỆN Ở LẠI TRẠI PHONG CÙI DI LINH SUỐT ĐỜI.
  7. MỘT NÉN HƯƠNG CHO NHỮNG NGƯỜI NẰM XUỐNG
  8. LỜI ĐẦU NĂM CHO CON
  9. HAI ANH EM MỘT MÀU MŨ ĐỎ



KHÔNG BAO GIỜ QUÊN NGÀY THÁNG TƯ ĐEN CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM.
ddd50460-908c-42f1-aeb5-007fe44b636e.jpg final da xong.jpg

Từ Biệt Tháng 3 Gãy Súng!… Bước Vào Tháng Tư Đen!

Lời kêu gọi Quý Cựu Quân Nhân VNCH, Quý Đồng Hương, tham dự Lễ Chào Cờ Rũ – 1 Tháng 4, 2026 tại San Jose.

Một trong những sinh hoạt ý nghĩa nhất, Tưởng Niệm 51 Năm Tháng Tư Đen Năm Nay!

Ngày: Thứ Tư, 1 Tháng 4, 2026 (ngày mốt!)

Giờ: 4:00 PM – 5:30 PM

Địa điểm: Tiền Đình Quận Hạt Santa Clara, 70 W. Hedding Street, San Jose, CA 95110.


tyi8t7it7it7ituitui.jpg

(Người Lính VNCH – Lê Văn Hải xin đóng góp lời kêu gọi)

 

e7c2a3a0-bd83-4efa-a590-f777a4fddfaa copy.jpg final da xong.jpg

-Giã từ Tháng 3 gãy súng!… Chúng ta lại bước vào Tháng Tư Đen — tháng của những trái tim nhỏ máu, của những ký ức không bao giờ phai nhạt trong đời người lính và trong lòng người dân, của dân tộc Việt Nam.

Năm mươi mốt năm đã trôi qua… Nhưng đối với những người Lính Việt Nam Cộng Hòa, Người Dân Miền Nam, tháng Tư vẫn như vừa xảy ra hôm qua!


35005785805_4b8674bc10_bnknmknmkl.jpg

Tháng 3… Ban Mê Thuột thất thủ…Cao Nguyên tan hàng…Tỉnh Lộ 7 trở thành “Tỉnh Lộ Máu!”… Hàng trăm ngàn Quân dân chen nhau di tản trong tuyệt vọng… Lọt vào vòng vây, CS pháo kích dội xuống như mưa! trên đoàn người chen chúc… Trẻ thơ, phụ nữ, người già… ngã xuống… Máu nhuộm thành sông,  đỏ con đường chạy loạn di tản…Triệt Thoái Cao Nguyên!


HQPD_1363132198mlm,lml',m,'.jpg

Và rồi…Tháng Tư đến… Những tỉnh thành miền Trung lần lượt mất…Quân đội tan rã…Gia đình ly tán… Sài Gòn chìm trong cơn hấp hối!…

Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — Một dân tộc bước vào đêm dài…Một đất nước mất tự do… Một thế hệ bắt đầu cuộc đời lưu vong…

Có hàng ngàn những người lính đã nằm xuống… Có những người tù bị đày ải trong trại cải tạo… Có những gia đình tan nát… Có những con thuyền vượt biển, gần nửa triệu người, không bao giờ đến bến bờ tự do!…

Tháng Tư…Không chỉ là một tháng trong năm… Đó là chiếc khăn tang chung của người Việt tỵ nạn…Đó là những giọt lệ chưa bao giờ khô, trong đôi mắt…

Vì vậy, bước vào Tháng Tư Đen 2026 — Xin chúng ta hãy dành một giây phút lắng lòng… Xin hãy đến bên nhau…Xin hãy cùng nhau tưởng niệm…


Kính mời tham dự: LỄ CHÀO QUỐC KỲ & LỄ RŨ KỲ- Tưởng Niệm 51 Năm Tháng Tư Đen

Ngày: Thứ Tư, 1 Tháng 4, 2026. Giờ: 4:00 PM – 5:30 PM

Địa điểm: Tiền Đình Quận Hạt Santa Clara. 70 W. Hedding Street. San Jose, CA 95110


Trong suốt tháng Tư, Quốc Kỳ Việt Nam Cộng Hòa sẽ được treo rũ tại Tiền Đình Quận Hạt Santa Clara, để tưởng niệm: Những người lính vị quốc vong thân. Những người tù cải tạo. Những thuyền nhân bỏ mình trên biển. Những gia đình ly tán. Những đồng bào chết trên đường di tản

Đây không chỉ là một buổi lễ… Đây là lời nhắc nhở cho thế hệ mai sau… Đây là tiếng gọi của lương tâm… Đây là nghĩa tình với những người đã nằm xuống…


Quận Hạt Santa Clara — Có thành phố San Jose. Nơi có hơn 140,000 người Việt sinh sống — Chúng ta càng phải cùng nhau đứng lên giữ gìn ký ức lịch sử và truyền lại cho thế hệ con cháu.

Xin hãy đến… Đứng bên nhau… Trong giây phút trang nghiêm… Dưới lá cờ rũ, trong Tháng Tư đau buồn…

Để nhắc rằng: Chúng ta chưa bao giờ quên… Và sẽ không bao giờ quên…

Tháng Tư Đen… Những trái tim vẫn còn nhỏ máu… Sự hiện diện của quý vị là lời tri ân đẹp nhất

cho những người đã hy sinh…


3a1a47db-9601-40e8-a0a0-7d534cf56c65 final da xong.jpg

Kính mời Quý đồng hương tham dự đông đảo.

Trân trọng,

Người Lính Việt Nam Cộng Hòa

Lê Văn Hải (*)

*Xin được xung phong bảo trợ nước uống và thực phẩm nhẹ!

"Tháng Tư…Không chỉ là ký ức…Mà là vết thương vẫn rỉ máu, vẫn còn đập trong tim!…"

 

unnamednjbjnlnlknlnklnkl.png

nhionnklnm;nk;knkn.png

 

 

Tôi Tìm Lại Chính Tôi
  • Chiếc xe vòng vòng chạy quanh co lên từng dốc núi, có khúc thật chật chội bé choắt, có khúc rộng hẳn ra làm những người ngồi trong chiếc bus lúc thì lên ruột lo lắng, lúc thì thở phào nhẹ nhõm; những con đường của tỉnh Orly miền Nam nước Pháp sao giống quê hương nhỏ bé của mình thế! Cũng những rác rến lá cây báo chí vứt đầy dọc theo hai bên lề đường, cây cối ngả nghiêng chả ai buồn chăm chút như nơi đô hội hào nhoáng của thủ đô nước Pháp, Paris.

    Orly nhỏ bé, yên lặng, con người sống khép kín, không vội vàng như nơi chốn đô thành. Những con người thầm lặng bước đi dưới cơn mưa phùn nhỏ, người cuộn chặt dưới lớp áo đen dầy phủ kín của mùa thu lạnh lẽo, đàn ông đội nón đen che kín cả mặt, phụ nữ cũng chỉ hở hai con mắt để nhìn thôi. Đã mấy lần tôi muốn ngừng họ lại để hỏi thăm địa chỉ cần đến, nhưng họ đi ngang qua tôi, không để ý đến tôi, mắt cũng không liếc ngang qua tôi, họ cứ thế đi thật thẳng, tôi cứ như người... vô hình vậy!

    Chiếc bus chở khách du lịch rốt cuộc dừng lại trước một hotel thật sang trọng đẹp đẽ, trang trí thật hấp dẫn, ngược lại với khu phố không chút gì làm vừa lòng khách! Mọi người ngạc nhiên bước xuống xe, nhìn xung quanh khách sạn, ai nấy cũng dường như tự hỏi cùng một câu “sao khách sạn lại đẹp thế? mà con đường dẫn đến thì hoàn toàn ngược lại”. Ai cũng mệt mỏi vì chuyến du lịch dài, tập họp những người từ đủ mọi đất nước trên thế giới đổ về Pháp, với đủ thành phần, họ vội vã kéo valises vào trong, vội vã làm thủ tục check in và rút nhanh về phòng.

    Chỉ còn một mình, tôi bước ra bên ngoài khách sạn, trời đang là mùa thu. Những lá úa màu đỏ vàng đầy dưới chân, ngập cả vườn vì mưa phùn nhẹ nên lá lại càng rụng nhiều hơn nữa.

    Hồi xưa trong sách vở, được biết mùa thu là mùa đẹp nhất, nên thơ nhất ở Pháp, những thi văn hào đua nhau viết sách, làm thơ ca ngợi cảnh đẹp, sao..trước mắt tôi chỉ thấy như..đống rác...lá! Hay tôi thực tế quá, không biết lãng mạn, không biết thơ thẩn nên nhìn lá rơi không thấy xao xuyến tâm hồn mà chỉ thấy cần phải quét dọn!

    Rảo bước xuống đường, ra khỏi nơi sang trọng ấy, thọc tay vào túi quần, tôi xuống con dốc để vào trung tâm của Orly.

    Tôi tưởng tượng lại khuôn mặt còn nữ sinh của người con gái ấp ủ trong tim, 30 năm đã trôi qua, người ấy có còn nhận ra tôi không!

    Đưa tay vuốt lại mái tóc bồng bềnh của một thời xa xưa, bây giờ chỉ còn lại một phần ba, cũng may là không phải hói. Tôi nhớ lại khuôn mặt thật ngây thơ, non trẻ, dễ mến, xinh xắn với nụ cười thật tươi và đôi mắt trong sáng thông minh, nàng không sắc nước hương trời nhưng thật duyên dáng dễ yêu, vẻ bẻn lẻn thẹn thùng ở tuổi 16 như khắc sâu trong tim óc. Tôi không hiểu sao tôi lại yêu nàng, không hiểu sao hình bóng nàng cứ ở lỳ trong tim mà đuổi, bứng đi cũng không được! 30 năm trôi qua, tôi cố gắng học cao, có công ăn việc làm, tất cả cũng chỉ vì NÀNG!

    Nàng trong trái tim tôi đầy quyền năng, mỗi lần nghĩ đến nàng, là tôi ra công mài sức để học. Những kỳ thi hóc búa, nghĩ đến nàng là tôi có đủ năng lực vượt qua mọi khó khăn, chông gai. Đến khi ra trường, qua những phần phỏng vấn “khó ăn”, tôi chỉ tưởng tượng đến nàng là có câu trả lời thật đúng, đánh bại tất cả đối thủ để được chọn vào vòng trong.

    Cứ như thế, tôi thăng quan tiến chức nhờ hình bóng Nàng! Bận rộn đi làm, đi từ nước này sang nước khác để trao đổi kiến thức, hội họp...Tôi chẳng để ý đến phái nữ, vì trái tim tôi thật trung thành với hình ảo của Nàng! Nhiều lúc từ sâu trong tâm, rất muốn đi tìm nàng, nhưng kỳ lạ một điều tôi lại đặt ra cho mình một mục đích hơi khó là phải tậu được một căn nhà thật đẹp, đầy đủ tiện nghi... thì lúc ấy mới đi tìm nàng và rước nàng về dinh! Tôi muốn nàng phải tâm phục khẩu phục vì không những tôi có tài, có danh vọng địa vị xã hội, mà biết giữ chữ tín với nàng nữa; nhưng tôi quên mất một điều thật quan trọng là phải chinh phục trái tim nàng!

    Tôi không hiểu sao tôi lại ấu trĩ đến thế, không hiểu sao tôi lại đặt ra cái cầy trước con trâu, làm những điều dở hơi như thế mà học cao hiểu rộng để làm gì!

    Quay cuồng với những ý nghĩ phải đạt được mọi ước vọng rồi mới đi hỏi Nàng, ấy mà đã 30 năm trôi qua... như chỉ một hơi thở ngắn.

    Tôi phải tốn biết bao thời giờ để hỏi thăm qua người nhà, bạn bè thân quen hồi trung học của nàng một cách thật khôn khéo mới biết nơi nàng hiện cư ngụ tại Orly.

    Nếu gặp lại làm sao tôi có thể mở miệng nói tiếng yêu nàng mà đã qua 30 năm chứ! Có ai tin không!? Nếu nàng có biết được điều này thì chắc cũng chả dám “chịu” một tên dở hơi gàn gàn, khùng khùng như tôi!

    Không biết còn cách nào hay hơn nữa, tôi xin nghỉ việc 3 tháng để đến Orly, nhất định phải tìm ra nơi chốn nàng ở! Và phải cho nàng biết tình cảm của tôi cho dù điều gì xảy ra tôi cũng xin gánh chịu.

    Bụng đói vì chưa có gì lót dạ từ sáng đến giờ, tôi bước ngay vào quán ăn đầu tiên, mắt dán lên màn hình với những menus trong ngày, đang đọc để chọn lựa món ăn, tôi nghe tiếng chân chạy nhanh và nhẹ đàng sau lưng, quay lại thấy một cô gái trẻ thật xinh xắn:

    - Chú ơi, chú có gọi gì thì gọi nhanh đi, tiệm sắp đóng cửa rồi ạ!

    - ... Sao sớm thế?

    - Hôm nay... nhà có chuyện, nên đóng cửa sớm, với lại bây giờ cũng 8:00 tối rồi, thường ngày tiệm đóng 9:00.

    - Vậy... ở đây có món nào ngon nhất, xin cô làm cho tôi...

    - Bây giờ không thể nào làm món ngon nhất đâu, xin chú cảm phiền vì nhà có chuyện... cháu sẽ làm tạm cho chú tô mì với rau thịt đầy đủ được không ạ?

    - Lại mì nữa sao? Còn món nào khác không?

    - Cơm với 3 món thịt được không?

    - Cơm hả? tôi kỵ ăn cơm đó!

    - Hay là... chú dùng bánh mì với cary??

    - Cary có cay không?

    - Cary cửa tiệm cháu lúc nào cũng cay hết, còn nếu chú muốn nhiều chọn lựa xin hãy qua tiệm bên cạnh, vì cháu sẽ đóng cửa đó ạ!

    - ừ thôi được... để tôi qua tiệm kế bên!

    - Dạ cám ơn chú, hẹn chú dịp sau vậy.

    Tôi bước ra cửa, nghe tiếng gọi của một người đàn ông từ bên trong:

    - Quế Nhung, sao chưa đóng cửa tiệm đi!?

    Tôi giật mình quay lại khi nghe hai chữ Quế Nhung, tôi vội vàng đứng yên lặng, tay giữ cửa làm bộ đang bước ra để nghe tiếp chuyện, người đàn ông trung niên nói với cô bé:

    - Con đón em về rồi về thẳng nhà liền nhe, mẹ chờ con về trông nhà đó!

    - Dạ vâng thưa ba!

    Tên Quế Nhung rất hiếm, làm tôi nhìn lại cô bé đang dọn dẹp lại chén dĩa.

    Đôi mắt tròn to với đôi môi tươi tắn, y hệt Quỳ Nhung vào thời trạc tuổi cô bé. Cô bé phải có quan hệ máu mủ với Nàng! Nếu là con gái của nàng thì người đàn ông lúc nãy cô bé gọi là ba phải là chồng nàng!

    Trái tim tôi bỗng dưng quặn thắt, cả người hâm hấp mồ hôi rịn ra... nàng...nàng đã có chồng, lập gia đình rồi sao? Nàng không nói gì cho tôi biết cả, mà...tôi đã thổ lộ gì với nàng đâu, tất cả chỉ là tôi thường theo dõi, thường trốn ở góc đường nhìn nàng mà thôi! Làm sao bắt nàng phải chung thủy với mối tình một chiều của tôi?!

    Len lén nhìn người đàn ông đang đứng giữa phòng ăn trong buổi chiều tối sắp đóng cửa, dáng người cao lớn, đôi lông mày đậm nét, chứng tỏ một người cương trực, thẳng thắn và hào phóng. Tôi tự thẹn với lòng vì cứ nghĩ cái “tôi” quá cao!

    Bước ra ngoài cửa tiệm ăn, thất vọng tràn ngập cõi lòng, thế là từ đây tôi không còn hy vọng gì nữa, không còn hình bóng yêu thương trong trái tim để hy vọng, để tin tưởng vượt qua mọi thử thách ở đời nữa rồi! Tôi đã ngu si không biết nắm bắt thời cơ, tất cả như đã vượt khỏi tầm tay với. Con người nếu chỉ có khối tài sản kếch xù, có chức tước địa vị cao trong xã hội, mà không có gia đình làm nền tảng, không có hạnh phúc yêu thương bên cạnh... thật đáng thương lắm, tất cả... vất cả vào xọt rác!

    Thực tế như phơi bày trước mắt, sự thất vọng làm tôi thật nản chí, công việc tôi đang theo đuổi bỗng chốc trở thành vô nghĩa, tôi kiếm tiền để làm gì nữa chứ??!!!

    Như trở thành đứa bé, tôi rất muốn khóc và gào to lên rằng tại sao tôi ngu quá thế! Tại sao học cao hiểu rộng để làm gì mà việc nhỏ nhoi như thế tôi lại không biết suy tính! Tôi thật quá ích kỷ chỉ nghĩ cho riêng bản thân mình! Người con gái ấy làm sao có thể chờ đợi lời cầu hôn của tôi với chừng ấy năm tháng chứ! Thật là hoang đường mà!!

    Vừa đi vừa suy nghĩ, chưa ăn gì nhưng không còn thấy đói, tôi bước vào quán café, gọi ly café một cách máy móc, tôi trầm ngâm nhìn vào ly café đen, đen đến không thể thấy đáy cốc, làn nước quay tròn theo chiếc thìa quậy, màu đen như sự tuyệt vọng của tôi, tôi cảm thấy trên đời này không còn gì đáng sống và chả còn gì nâng đỡ tinh thần suy sụp của tôi nữa.

    Những chuyện quá khứ như dần hiện ra... Tôi và nàng chỉ nói chuyện với nhau vài lần về bài vở trong lớp, nàng thông minh học giỏi, còn tôi thì lười biếng ham chơi, nên tôi hâm mộ nàng mỗi lần nàng được thầy cô gọi lên khen thưởng, đôi má đỏ ửng vì mắc cỡ, chiếc miệng hơi nhoẻn cười với chiếc răng khểnh, hai tay thì không ngừng nắm chéo áo vặt tới vặt lui cho bớt thừa thãi. Lúc ấy nàng thật dễ thương xinh xắn.

    Tôi nhớ có lần đã bỏ vào ngăn học nàng gói ô mai, bài thơ con cóc mặc dù học rất dở nhưng làm thơ lại rất nghề, nàng chả nói chả rằng, học càng giỏi hơn.Mỗi lần ra về tôi cứ hay đứng chờ nàng trước cửa lớp, không biết nói gì, chỉ biết nhìn theo nàng cho đến khi khuất bóng, cũng có lúc hai cặp mắt chúng tôi chạm nhau, chả nói gì, nhưng trong sâu thẳm hình như theo tôi đoán cả hai chúng tôi vô cùng vui sướng!

    4 năm trung học trôi qua, tôi vẫn là chiếc bóng trung thành của nàng. Nàng cũng quen dần với tiếng xe đạp lọc cọc của tôi phía sau xe nàng, hôm nào thiếu tiếng xe tôi thì tôi lại mừng thầm thấy nàng quay lại nhìn và tìm kiếm xem vì nguyên do nào mà không nghe tiếng xe máy sau lưng nữa.

    Ngày cuối năm, ai cũng chia tay ra về, bao nhiêu quyến luyến thân thương gởi lại trường lớp, thầy cô. Lần đầu tiên tôi thấy cặp mắt nàng đỏ hoe, chạnh lòng tôi tiến lại gần:

    - Sau 3 tháng hè... mình sẽ gặp lại mà, đừng buồn nhe!

    Nàng nhướng cặp mắt long lanh những giọt lệ còn đọng trên mi:

    - Nhưng... nhưng gia đình Quỳ Nhung sẽ không còn ở đây nữa.

    Tôi hốt hoảng:

    - Vậy... Quỳ Nhung thì sao? Cũng không còn học ở đây nữa sao? Mà... đi đâu chứ??

    - Không biết! Quỳ Nhung phải theo bố mẹ... sẽ không còn...

    Không còn... gặp Thái nữa sao? Không phải, gặp các bạn trong lớp nữa.

    -  ...

    Tôi đã lấy hết can đảm, nắm bàn tay nhỏ nhắn của nàng đang vặn vẹo cái chéo áo, xiết chặt:

    - Quỳ Nhung... Viết thư cho mình nhe!

    Nàng nhìn tôi khá lâu không chớp mắt, một giọt nước mắt lăn xuống má, nàng khẽ gật đầu.

    Cả người tôi nóng hổi như lên cơn sốt, tôi không ngờ nàng lại ngoan ngoãn gật đầu, cũng không chờ đợi sự đáp lại mối tình một chiều của tôi, tôi sung sướng muốn điên lên trong giây phút ấy. Bàn tay nàng ấm áp run nhè nhẹ trong bàn tay tôi, tôi cầm lên áp vào má, cảm động nói:

    - Thái sẽ cố gắng học hành, sẽ thành người tốt, sẽ tìm lại Quỳ Nhung! Tin tưởng mình nhe!

    Nàng lại gật đầu nhè nhẹ, ngoan như con cá vàng bơi lăn tăn trong chậu nước, lần đầu tiên tôi biết chữ yêu đánh vần như thế nào trong trái tim, nó làm cả lòng tôi rung động, tôi lại ấp bàn tay với năm ngón tay xinh xắn lên môi hôn nhẹ, nàng rút nhẹ tay về:

    - Thôi, Quỳ Nhung phải về rồi, Thái ráng giữ sức khỏe nhe, đừng ham chơi nữa, ráng học để sau này...

    - Thái sẽ tìm lại Quỳ Nhung khi thành tài mà! Mình hứa mà!

    Sau lần ấy chúng tôi bẵng đi 30 năm...

    Chúng tôi thư từ cho nhau được hai lần là mất tin luôn, nhưng tôi vẫn sống trong hy vọng tìm lại nàng, nàng đã là chỗ dựa tinh thần cho tôi học, đi thi tốt, tìm việc làm khả quan, tất cả đều là công của nàng! Bỗng dưng hôm nay tôi thấy như mình bị hụt hẫng, mất cả niềm tin, mất cả tương lai! Lỗi này do ai tạo ra đây?

    Trời bên ngoài mưa phùn vẫn cứ âm ỉ, tiệm café ngày càng đông đúc, tôi lơ đãng đưa mắt nhìn lên phía quầy trả tiền, người phụ nữ đang gục đầu tính toán sổ sách, mái tóc điểm vài sợi bạc búi lại phía sau gáy, trông thanh lịch sang trọng, lại là người Á Đông nữa, nàng nhanh nhẹn tính hóa đơn cho khách mua café, bánh ngọt, nụ cười luôn nở trên môi, nói cười lịch thiệp.

    Nàng trở thành điểm bắt mắt của tôi, mỗi cử chỉ có một chút gì đó thật duyên dáng dễ thương. Càng ngắm nàng, tôi lại thấy rất quen, có phải nụ cười, chiếc răng khểnh ấy tôi đã gặp ở đâu trong sâu thẳm trái tim. Có phải người giống người không? Có phải đôi mắt tôi đã có vấn đề, nhìn ai cũng thấy giống người tôi yêu?

    Tôi dụi mắt, xoa mặt cho tỉnh táo, hớp thêm vài ngụm café. Mở mắt thật to và nhìn thẳng nàng từ trong góc tối. Phải rồi, đúng rồi! đúng là nàng của trái tim tôi đây mà! Đúng là Quỳ Nhung rồi, nàng bằng xương bằng thịt đây sao?! Nàng vẫn như xưa chỉ đổi khác một chút với mái tóc điểm sương, đã 30 năm rồi còn gì!!! Chúng tôi đã gần 50!!!

    Tôi hết đứng lại ngồi, trái tim trong ngực đập thật rõ, muốn tung ra khỏi lớp áo chemise mỏng của tôi, đôi chân như cuống quít, dòng máu như ngừng chảy, tôi muốn chạy ngay đến gọi tên nàng, muốn ôm chầm đến người của 30 năm tôi mong đợi, muốn nhắc tất cả kỷ niệm và muốn hỏi cuộc sống hiện giờ của nàng ra sao...Thế nhưng...không phải dễ, người cũ nhưng hoàn cảnh mới, tôi phải làm sao đây? Lẽ nào lại phải đợi thêm vài ngày điều tra nơi chốn hành tung nữa sao chứ?! Tôi không thể nào chịu đựng nổi nữa rồi, tôi sẽ phải nói chuyện với nàng ngay chút nữa khi đến giờ đóng cửa. Tôi sợ qua một đêm nay, con người ấy sẽ biến mất thêm vài chục năm nữa!

    Dáng người thanh nhỏ, bàn tay thoăn thoắt bấm máy tính tiền cho khách, những câu chúc tụng không rời khỏi đôi môi, tôi thầm phục nàng là nữ chủ nhân của tiệm café khang trang, đông đúc giữa thành phố nhỏ này! Nàng chỉ làm việc với hai cô nhân viên mà thôi, gọn gàng và tươm tất.

    Tôi cảm thấy mình thật may mắn quá, may mắn đã tìm lại được người xưa mà không khó nhọc, xuýt chút nữa tôi đã âm thầm bỏ về Mỹ một cách vô vọng rồi!

    Mắt vẫn không rời nàng từ xa, quán thưa dần, trời bên ngoài đã tối, nhưng thơ mộng và yên ấm dưới những tàng cây bao phủ trông thật quyến rũ.

    Khi người cuối cùng ra khỏi tiệm, hai cô nhân viên đã về, nàng khóa cửa dợm bước quay lưng, tôi mới dám rời khỏi chỗ, trống ngực đập thình thịch, lấy hết can đảm, sửa soạn định gọi, thì...

    bên kia đường cô bé Quế Nhung xuất hiện, vừa gọi vừa vẫy:

    - Mẹ! mẹ ơi con ở bên này, xe ba đang đậu đàng kia kìa.

    Tôi vội vàng trốn lại vào bên cạnh tiệm, trong bóng khuất, nàng ôm lấy con:

    - Đã ăn uống gì chưa? Hôm nay con làm cơm hay dì mười?

    - Dạ.

    Bóng hai người vừa đi vừa nói chuyện thật ấm cúng, hạnh phúc... họ xa dần, tôi trở lại với bóng đêm. Trở lại với thực tại. Thất vọng!!

    Phải rồi! nàng đã có gia đình! có con ngoan, chồng tốt! tôi trở lại để làm gì?? Làm xáo trộn cuộc sống của họ hay sao?? Hay làm trò cười cho nàng? Nhưng...nhưng mà... nàng là của tôi... từ hồi xưa cơ mà! Tôi đã không biết nắm giữ, đã không chọn sự hạnh phúc gia đình mà đã đổi lấy tương lai công danh sự nghiệp, của cải vật chất giàu có của ngày hôm nay!

    Tôi không tiếc thời gian đã qua đã cật lực làm lụng học hỏi cho sự nghiệp của ngày hôm nay, nhưng nếu cho tôi chọn lại, tôi sẽ chọn con đường của trái tim để được có một mái ấm gia đình vào cuối đời như tất cả mọi người.

    Tự hỏi có nên để lại mẩu giấy cho nàng hay không??

    Màn đêm dầy đặc hơn khi quán café lọt vào cuối đường, không ai qua lại. Tôi đặt trên chiếc ghế mây ở ngoài quán quyển lưu bút ngày xưa khi còn học ở trung học, những tấm hình còn rất trẻ, rất ngây thơ và dễ thương, cuối quyển vở ấy là số phone của tôi. Tôi muốn biết khi xem xong nàng có muốn gặp tôi?

    Sáng hôm sau và cả ngày hôm ấy, tôi thấp thỏm đợi chờ, đứng ngồi không yên nhìn chiếc phone, mong nó reng lên, nhưng... tất cả vẫn im lìm! Chắc nàng đã bận rộn quá nên quên rồi!

    Buổi tối đến, tôi lại kéo cao chiếc cổ áo để đừng ai nhận ra, lén lén lút lút vào một góc tối của quán, từ đó tôi có thể ngắm nhìn nàng đang nhanh nhẹn cười nói tính tiền ở quầy.

    Nàng không thể nào không thấy quyển vở lưu bút đặt trên ghế mây khi bước vào tiệm! Thế nhưng... hình như nàng đã không màng đến, không thèm đọc?! hay đọc qua rồi mà không muốn liên lạc với tôi?!

    Quyển vở lưu bút vẫn cứ nằm im lìm, cô đơn trên chiếc ghế nhỏ bên ngoài cửa tiệm, mặc cho những giọt mưa phùn bắn văng vãi lên những trang sách, vết mực tím loang ra, gió ban chiều thổi lật tung những trang sách, kỷ niệm thuở xưa xô ùa ra, không còn vẻ gìn giữ ấp ủ...

    Trái tim tôi se thắt, đứt đoạn, kho kỷ niệm đẹp ấy tôi đã trân quý cất giữ mấy chục năm nay, nay bị xem thường như thế, tôi thật đau lòng! Trách ai đây??

    Phải rồi! chả cần phải nói ra bằng lời, cũng chẳng cần phải nhìn lại nhau nữa, nàng đã cho tôi một câu trả lời thật ý nghĩa!

    Nhặt lại quyển lưu bút, lau đi hết những vết mực lem, những giọt mưa phũ phàng, tôi cất kín vào bên trong áo, nơi trái tim đang thổn thức, tôi bước ra khỏi tiệm, không còn lén lút như lúc ban đầu nữa, đôi chân mới thật thảnh thơi làm sao!

    Tôi cảm thấy sau lưng như có ai đang theo dõi, đang thầm tiếc nuối, xin lỗi những gì họ đã làm đau lòng tôi... Tôi hiểu! Họ không thể nào làm khác hơn được nữa!

     

     Mtl, Dec’2020

    Sỏi Ngọc



CỐ TRUNG TÁ NGUYỄN VĂN NINH PĐ/518/SĐ3/KQ BIÊN HÒA
  • Ninh Đờ Gôn (De Gaulle)
    Cái biệt danh “Đờ Gôn” (De Gaulle) mà bạn bè đặt cho anh thật là đúng với vóc dáng của một người Việt Nam to lớn ngoại khổ. Anh cao khoảng 1m75 với đôi vai rộng thật rộng làm cho bộ đồ bay màu xám, dù là cỡ lớn nhất, trông cũng ngắn cũn cỡn. Cặp vai rộng làm cho người đứng sau lưng nhìn anh tưởng như là anh mặc áo bay mà quên chưa lấy cái móc áo ra vậy.
    Tôi không dám gọi anh là Ninh Đờ Gôn vì khi tôi là Thiếu Úy mới về nước, anh đã mang lon Đại Úy được 3, 4 năm rồi. Anh là Sĩ Quan An Phi của Phi Đoàn, một nhiệm vụ xem ra hiền hòa nhất trong một cuộc chiến đang trong thời kỳ gay go. Anh rất hiền, thật là hiền làm đôi khi tôi thầm nghi ngờ về tài đánh giặc của anh. Anh ít đùa giỡn, không bài bạc, rượu chè, ăn chơi như những bạn bè đồng trang lứa. Những lần đi bay các phi vụ hành quân chung với anh, tôi mới thấy mình đã nhận xét lầm; vì trong cái bề ngoài hiền hòa ấy, anh xông pha, vùng vẫy một cách rất dũng cảm và chính xác mỗi khi tấn công mục tiêu.
    Tôi làm quen với anh rất mau, có thể vì cùng giọng nói Bắc Kỳ với nhau, hoặc là vì tôi thường được sắp xếp đi bay chung phi tuần với anh trong nhiều phi vụ yểm trợ quân bạn, đặc biệt là trong vùng Tây Bắc hoặc phía Bắc của phi trường Biên Hòa: tôi bay phi cơ số 2 và anh là người bay phi cơ số 1. Những lúc chúng tôi “sánh vai” ra đi từ phòng trực Phi Đoàn, đến phòng nai nịt áo lưới, đai dù và những dụng cụ cứu nạn, rồi phòng Hành Quân Chiến Cuộc nhận tọa độ mục tiêu, rồi ra bãi đậu phi cơ, ai nhìn anh và tôi đi bên nhau chắc cũng phải nực cười, vì anh và tôi trông cứ như một đôi đũa lệch: anh cao hơn tôi đến một cái đầu.
    Tôi bay theo anh Ninh đến những mục tiêu nóng bỏng nhất, nơi quân bạn dưới đất cần yểm trợ: Lộc Ninh, An Lộc, Kà Tum, Tống Lê Chân, Chơn Thành, Lai Khê, Xa Cam, Minh Thạnh, Bến Cát, Tân Khai, Đức Hòa, Đức Huệ, v.v...Sau mỗi phi vụ, anh đều vội vã lái chiếc xe du lịch cũ kỹ trực chỉ về Khu Cư Xá Sĩ Quan với vợ con. Anh có hai cháu gái, chị Ninh đang mang thai và anh chị thì hy vọng làm thế nào có được một đứa con trai.
    Không biết từ thời nào mà hình như những người mang nghiệp bay rất hay tin dị đoan. Dù theo đạo Công Giáo, anh Ninh cũng có vẻ ăn ở không yên khi thấy việc mang thai của vợ mình là một trong những điềm xui truyền khẩu, ngoài việc săn bắn chim, đi bay thế chỗ cho nhau và... vợ có bầu, v.v... Rồi một tai nạn xẩy đến làm anh Ninh càng thêm lo nghĩ và có vẻ tin vào những điều xui truyền khẩu của nhân gian.
    Hôm ấy, anh Ninh và tôi đi yểm trợ quân bạn mở đường tại Rừng Lá, Phan Thiết, đang bị Cộng Quân đắp mô, chặn đường quấy phá. Đến mục tiêu chúng tôi bay xuống thấp và nhìn rõ hai đoàn xe bị kẹt hai bên mục tiêu và đồng bào tràn xuống đầy hai bên đường lộ chờ đợi. Ninh gọi tôi trên tần số:
    - Phi Long 42, đây 41 gọi.
    - Hai nghe!
    - Cẩn thận nghe hai. Đồng bào và xe cộ rất sát mục tiêu. Đừng để tai nạn nào xẩy ra nghe không, hai!
    - Hai nghe! Tôi đi skip Napalm sát đọt cây nghe!
    - Ok! Nhưng đừng xuống thấp quá kẻo vướng xe đò, cột đèn thì phiền nghe!
    - Hai nghe rõ!
    Mục tiêu chỉ cách Quốc Lộ 1 chừng 100 mét và quân bạn đang dàn hàng ngang đẩy Cộng quân ra xa khỏi Quốc Lộ. Chúng tôi bay thật thấp trên đoàn người và nhìn thấy họ nhảy lên vẫy tay chào. Tôi lắc đôi cánh nng trĩu 6 trái bom Napalm cồng kềnh đáp lễ. Ninh mang 10 trái bom nổ 500 pounds nên anh đánh từ 3 ngàn bộ xuống, từng trái một theo sự chỉ dẫn của phi cơ quan sát L-19 trên mục tiêu. Còn tôi đánh từng trái Napalm sát ngọn cây, tạo ra một hàng rào lửa phân cách giữa bạn và thù. Mỗi lần đến sát mục tiêu, tôi đều nhìn thấy những vệt đạn lửa của địch quân bằng những vũ khí cá nhân hạng nhẹ nhắm bắn vào phi cơ của mình. Xong việc, Ninh gọi tôi:
    - Hai, đây Một gọi!
    - Hai nghe!
    - Tôi còn kẹt 2 trái bom không chịu rơi. Tôi sẽ vào mục tiêu một lần nữa. Anh bắn cà-nông bảo vệ cho tôi nhé!
    - Hai nghe rõ!
    Ninh nhào xuống mục tiêu một lần nữa, vẫy vùng, nhả từng loạt đạn cà-nông, nhưng 2 trái bom bị kẹt vẫn không chịu rơi xuống. Tôi bay sau Ninh và khi anh bắt đầu kéo lên khỏi mục tiêu, tôi xả hết 800 viên cà-nông 20 ly dọc theo hàng rào lửa do bom Napalm đang cháy ở bên phía địch quân. Nhìn về phía đám đông và đoàn xe bị kẹt trên Quốc Lộ, tôi thấy dân chúng vỗ tay nhảy mừng. Tôi lắc đôi cánh vẫy chào và phóng theo sau phi cơ của Ninh. Ninh gọi tôi:
    - Hai, đây Một gọi!
    - Hai nghe!
    - Theo tôi về khu oanh kích tự do để mình giải tỏa mấy trái bom này!
    - Hai nghe rõ. Tôi đang bay sau lưng bạn!
    Trước khi tới khu giải tỏa, Ninh thông báo và xin phép đài kiểm báo Paris tại phi trường Tân Sơn Nhứt. Sau khi được phép, Ninh nhào 5, 6 lần xuống mục tiêu tự do, vận dụng hết mọi phương pháp, vùng vẫy, giằng co, cố làm cho 2 trái bom lìa ra khỏi cánh phi cơ, nhưng mãi mà chỉ có một trái chịu rơi, còn một trái vẫn đeo chặt vào cánh phải của máy bay. Mệt quá, Ninh gọi đài kiểm soát phi trường Biên Hòa để xin về đáp:
    - Biên Hòa đài, Phi Long 41 gọi!
    - Biên Hòa đài nghe bạn!
    - Phi tuần 2 phi cơ A-1 xin đáp. Phi cơ số 1 kẹt một trái bom 500 pounds.
    - Ok. Thuận cho bạn về đáp “straight in” (bay thẳng từ xa vào) phi đạo 09, gió từ hướng 120 độ, mạnh 10 knotts. Sẽ có xe cứu hỏa và xe cứu thương túc trực sẵn cho bạn.
    Rồi Ninh ra lệnh cho tôi:
    - Phi Long 42, tactical formation (Bay xa tôi ra!) Trông chừng trái bom và phi cơ của tôi nghe!
    - Phi Long 42 nhận 5!
    Đài Kiểm Soát Biên Hòa lại gọi Ninh:
    - Phi Long 41, Biên Hòa đài gọi!
    - Biên Hòa nghe bạn!
    - Bạn phải bay tuyến downwind (hướng gió xuôi) ở phía Bắc của phi trường, trước khi vào final approach, không được bay vào khu dân cư phía Nam là thành phố Biên Hòa. Nghe rõ trả lời!
    - Phi Long 41 nhận rõ!
    Theo lệnh của Đài Kiểm Soát, Ninh và tôi cẩn thận nhẹ nhàng đem 2 chiếc máy bay men dọc theo hướng Bắc của phi trường, song song với phi đạo. Tôi bay xa xa phía sau Ninh vừa để ý nhìn phía trước, vừa để ý nhìn trái bom còn kẹt bên cánh phải của Ninh. Bất thình lình, tôi thấy trái bom rớt ra khỏi cánh máy của Ninh, dù phi cơ Ninh vẫn bình phi nhẹ nhàng ở 1,500 bộ. Tôi bấm máy la lên:
    - Phi Long 41, trái bom của anh rớt rồi!
    - Ok, hai! Tách xa tôi ra! Theo dõi kỹ trái bom xem sao!
    Tôi dõi mắt nhìn theo trái bom, nhưng màu olive của nó mau mắn mất hút hòa lẫn theo màu cỏ cây dưới đất. Phía Bắc phi trường là những đồng ruộng bao la bát ngát, ở trên nhìn xuống chỉ thấy lác đác vài căn nhà nằm giữa những lùm dừa, lùm cau nho nhỏ. Thế mà đúng là “họa vô đơn chí”, trái bom rớt trúng vào 1 trong những lùm cau nhỏ ấy. Trong chớp mắt, tôi thấy một nhoáng lửa, một cái rùng mình thật mạnh của phi cơ, rồi bụi mù và khói lửa bùng lên từ xóm nhà nhỏ bé ấy.
    - Phi Long 41, đây Hai gọi!
    - Nghe Hai!
    - Chết rồi! Bom rớt trúng nhà dân rồi Một ơi!
    - Tôi thấy rồi! Trời ơi! Sao xui quá! Biên Hòa Đài, Phi Long 41 gọi!
    - Biên Hòa Đài nhận rõ vấn đề! Xin bạn cho biết vị trí!
    - Tôi đang ở 1,500 bộ, khoảng 5 miles hướng Bắc của phi trường. Xin bạn cho phi cơ tản thương gấp!
    - Biên Hòa Đài nhận rõ! Sẽ điều động các phương tiện Emergency liền cho bạn!
    Ninh và tôi cùng bay vòng lại phía mấy căn nhà nhỏ. Lửa và khói bay ngút trời. Người ta chạy túa ra những con đường đất, tay cầm vải trắng phất qua phất lại như ra hiệu đầu hàng xin chúng tôi đừng thả bom nữa. Ruột tôi thắt lại. Tim tôi đập liên hồi. Đau xót đến tận cùng! Chừng 5 phút sau, một phi cơ trực thăng cấp cứu của Mỹ, danh hiệu Pedro, vẫn túc trực thường xuyên trong phi trường Biên Hòa bay tới và đáp xuống cạnh đám cháy. Ninh gọi tôi trên tần số và bảo tôi về đáp.
    Suốt đoạn đường từ bãi đậu phi cơ vào tới Phi Đoàn, Ninh không nói với tôi một lời. Anh đăm chiêu, mắt nhìn xa xăm. Tôi nghĩ anh đang vô cùng khổ tâm nên cũng không muốn bắt chuyện với anh làm gì. Sau khi trút bỏ đai dù và các thiết bị an toàn xong, tôi lấy Honda phóng thẳng đến Bệnh Xá, vừa đúng lúc chiếc trực thăng Pedro đáp xuống thả những nạn nhân vào phòng cấp cứu: 2 người đàn bà, 3 đứa trẻ con và 1 em bé mình mẩy băng bó, máu me đỏ thắm. Tôi rùng mình chạy Honda vội về Phi Đoàn. Trong phòng trực hành quân, Ninh đang ngồi viết Tờ Tự Khai. Tôi nói cho Ninh những điều tôi nhìn thấy ở Bệnh Xá. Ninh gục đầu xuống bàn viết, khóc nức nở.

    *****
    Ít tháng sau, vào một buổi chiều tháng Tư năm 1973, trong một phi vụ yểm trợ cho Sư Đoàn 7 Bộ Binh tại Cai Lậy, 2 chiếc phi cơ thuộc PhiĐoàn 514 và 2 chiếc thuộc Phi Đoàn 518 là 2 phi tuần Skyraider được điều động từ phi trường Biên Hòa xuống trợ lực. Ninh và Thiếu Úy Toàn (Toàn Cu-Li) với danh hiệu Phi Long 61, cất cánh sau 2 phi cơ của Phi Đoàn 514. Như thường lệ, Ninh đeo 10 trái bom nổ 500 pounds và Toàn mang 6 trái napalm nặng nề, cồng kềnh.
    Bầu trời Miền Tây hôm đó khá nhiều mây, cộng thêm những màn khói mịt mù do nông dân đốt cỏ cây bên dưới bay lên làm cho tầm nhìn xa của phi công cũng bị giới hạn phần nào. Trần mây lơ lửng cao chừng 4 ngàn bộ và những cụm mây cumulus đầy hơi nước với độ dầy cả ngàn bộ. Dù tầng mây có những lỗ hổng lác đác, nhưng cũng đủ bắt buộc phi công phải bay dưới 4 ngàn bộ để quan sát cho rõ mục tiêu.
    Theo lời Toàn kể thì lúc 2 phi cơ còn ở xa xa là đã nhìn thấy hỏa lực phòng không của địch “dàn chào” rất kỹ, 2 chiếc Skyraider của Phi Đoàn 514 Phượng Hoàng đến trước đang quần thảo trên mục tiêu. Nào là đạn 23 ly, nào là đạn 37 ly phòng không nổ tung tóe xung quanh 2 chiếc Skyraider lì lợm. Ninh lên tiếng cảnh giác Toàn:
    - Phi Long 62, Một gọi!
    - Hai nghe!
    - Bọn nó bắn rát lắm. Cẩn thận nghe Hai! Đi ra xa mục tiêu một chút chờ Phượng Hoàng làm việc xong thì mình sẽ vào.
    - Hai nghe rõ!
    - Vùng này có rất nhiều (hỏa tiễn tầm nhiệt) SA-7. Anh bay xa tôi ra. Trông chừng cho nhau. Có gì la lên liền nghe Hai!
    - Hai nhận 5!
    Ninh và Toàn làm vòng chờ xa xa theo sự hướng dẫn của phi cơ quan sát tại hiện trường. Bỗng Toàn thấy một vệt lửa màu cam từ dưới đất bay lên nhắm thẳng về hướng phi cơ của Ninh, lúc đầu chậm rãi rồi vụt nhanh như chớp nổ tung vào ống khói ở vùng đầu máy bay của Ninh. Toàn vừa há miệng định la lên thì đã thấy Ninh bay vụt ra khỏi phi cơ và chiếc dù hai màu trắng đỏ bung ra với Ninh lơ lửng bên dưới. Chiếc Skyraider đầy bom đạn bốc lửa, quay tròn như con vụ được hai vòng rồi đâm xuống đất nổ tung. Mặc dù đeo trên thân tàu 6 trái napalm nặng nề, Toàn vẫn lì lợm và cố gắng lượn theo sát chiếc dù để xác định là Ninh còn sống và đã thoát ra khỏi chiếc phi cơ lâm nạn.
    Rồi Toàn đưa chiếc máy bay vút lên trên tầng mây để che khuất tầm nhìn của địch quân. Toàn đổi tần số và báo cho Trung Tâm Kiểm Báo Paris tại phi trường Tân Sơn Nhứt:
    - Paris đây Phi Long 62!
    - Paris nghe bạn.
    - Thông báo cho bạn: phi cơ số 1 của tôi bị trúng SA-7 và rớt ở Cai Lậy.
    - Xin bạn cho biết tọa độ!
    - Phòng không bắn nhiều quá, và trời rất nhiều mây nên tôi không thể xác nhận được tọa độ ngay bây giờ bạn!
    - Tình trạng phi công ra sao?
    - Phi công đã bung dù ra. Bạn liên lạc với phi cơ quan sát L-19 tại mục tiêu, có thể sẽ có tọa độ chính xác cho bạn. Tôi về đáp tại phi trường Biên Hòa nghe bạn.
    - Nhận 5, Phi Long 62 về đáp Biên Hòa! Bạn yên chí! Chúng tôi sẽ liên lạc và chuyển lệnh điều động cấp cứu Phi Long 61!
    Cho đến tối, vẫn không có tin tức gì của Ninh, mặc dù Toàn thề độc là nó đã bay vòng quanh dù của Ninh trước khi chui lên mây né đạn phòng không. Tôi được Thiếu Tá Phi Đoàn Trưởng (PĐT) Nguyễn Quan Vĩnh giao nhiệm vụ đi đến nhà báo tin cho chị Ninh. Tôi gõ cửa và bước vào căn nhà lính thô sơ. Chị Ninh đang ngồi ẵm đứa con gái nhỏ. Trên bàn ăn, mâm cơm đạm bạc đã dọn sẵn và chừng như đã nguội. Thấy tôi, chị uể oải, nặng nề đứng dậy. Bụng chị đã lớn lắm. Chị mỉm cười hỏi:
    - Có chuyện gì đấy chú?
    - Dạ, Thiếu Tá PĐT sai em đến báo tin cho chị hay là tối nay anh Ninh không về được.
    - Sao thế hả chú?
    - Dạ, anh ấy bị hư máy bay, phải đáp khẩn cấp ở dưới Cần Thơ. Phi trường mình đã gởi chuyên viên xuống để sửa chữa, hy vọng 1-2 bữa nữa thì anh ấy sẽ về đến.
    Nét mặt chị Ninh lộ vẻ lo lắng. Vài giọt lệ tủi thân trào lăn trên má. Chị ôm chặt lấy đứa con gái nhỏ vào lòng, trong khi đứa gái lớn e thẹn bám lấy chân chị. Chị thở dài lẩm bẩm với các con, lớn vừa đủ để tôi nghe thấy:
    - Thôi, đi ăn cơm các con. Bố không về được thì ba mẹ con mình ăn vậy!
    Tôi chào từ giã chị Ninh, bước vội ra khỏi cửa. Một mặc cảm tội lỗi tràn ngập tâm tư tôi vì tôi biết tôi đã nói dối chị Ninh. Tôi chỉ biết là Ninh không về, nhưng tôi biết rõ không phải vì máy bay của Ninh hư và càng không phải là Ninh đáp xuống phi trường Cần Thơ!
    Ngày hôm sau, cả phi đoàn vẫn chờ đợi tin tức của Ninh. Bặt vô âm tín từ các phi vụ quan sát và trực thăng tìm kiếm chung quanh khu vực mục tiêu. Vì quá nóng lòng, Thiếu Tá PĐT đã lấy xe pick up của Phi Đoàn, đích thân chở Thiếu Úy Toàn xuống tận Bộ Tư Lệnh của Sư Đoàn 7 Bộ Binh để yêu cầu đơn vị này phụ một tay trong công tác đi tìm kiếm Ninh. Theo Toàn cho biết, hai người đã được một sĩ quan trung cấp tiếp đón, dùng xe Jeep của đơn vị chở hai người đi loanh quanh đến một vài địa danh gần mục tiêu thăm hỏi, nhưng cuối cùng không được kết quả gì và hai người đã thất vọng trở về Biên Hòa.
    Cuối cùng Đại Úy Nguyễn Khoa Hoài trong Phi Đoàn đã nẩy ra một ý kiến. Sau khi hội ý với Phi Đoàn Trưởng, Đại Úy Hoài lấy điện thoại xin tổng đài nối liên lạc với văn phòng Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh. Khi tướng Nguyễn Khoa Nam lên tiếng bên kia đầu máy, Đại Úy Hoài nói:
    - Chào chú, cháu là Hoài đây.
    Chẳng hiểu hai chú cháu tướng Nguyễn Khoa Nam nói chuyện gì, chỉ thấy Đại Úy Nguyễn Khoa Hoài vâng dạ lia lịa bằng giọng Huế của anh. Cả Phi Đoàn quây quần xung quanh Đại Úy Hoài, hồi hộp chờ đợi. Sau cùng, Đại Úy Hoài nói:
    - Cháu cần nhờ chú một việc. Cần lắm!
    - ???
    - Cháu có người bạn rất thân, hôm qua bay yểm trợ cho quân bạn trong vùng trách nhiệm của chú, bị bắn rớt, có nhảy dù ra mà mấy toán cấp cứu của Không Quân kiếm mãi không thấy. Chú ra lệnh cho thuộc cấp đi hành quân tìm nó dùm cháu được không?
    - ???
    - Dạ đúng rồi! Tại mặt trận Cai Lậy ngày hôm qua đó chú! Khi có tin gì chú báo ngay cho cháu ở Phi Đoàn nghe. Cảm ơn chú!
    Đại Úy Hoài gác điện thoại xuống. Mọi người đều mừng vì may mắn có cháu ruột của Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh bay chung trong Phi Đoàn. 2 ngày qua, rồi 3 ngày, vẫn không có tin tức gì của Ninh. Và mỗi ngày, tôi đều được phái đến Khu Cư Xá Sĩ Quan để..nói dối chị Ninh. Không ai có can đảm nói sự thật cho chị. Sau ngày thứ ba, chị nói với tôi:
    - Mong sao anh ấy về kịp. Chỉ còn có vài ngày nữa là tôi sanh rồi chú ạ!
    Đến ngày thứ tư thì tin dữ về đến Phi Đoàn: Ninh đã chết! Cả Phi Đoàn bàng hoàng khi hung tin được Bộ Tư Lệnh Không Quân điện thoại lên. Cùng lúc ấy, Tướng Nguyễn Khoa Nam gọi điện thoại cho Đại Úy Hoài than phiền rằng vì đi vào tìm và lấy được xác của Ninh, ông đã mất một vài quân nhân dưới quyền. Nhưng ông cũng thông cảm vì sự yểm trợ của Không Quân mấy hôm trước và vì Ninh bị bắn rơi trong phi vụ yểm trợ cho đơn vị Bộ Binh trong vùng trách nhiệm của ông.
    Thiếu Tá PĐT lái xe đưa tôi và Đại Úy Trương Phùng là Ủy Viên Xã Hội của Phi Đoàn xuống Bộ Tư Lệnh KQ nhận xác Ninh. Con đường từ Biên Hòa về đến Sài Gòn dài thật dài, dù chiếc xe pick up của Phi Đoàn Trưởng đã chạy hết tốc lực. Chúng tôi đi thẳng đến Nhà Vĩnh Biệt trong phi trường Tân Sơn Nhứt. Hệ thống máy lạnh có lẽ không làm việc tốt lắm, nên vừa mở cửa ra là cả 3 chúng tôi bị dội ngược lại vì mùi hôi thối của Ninh xông ra. Xác Ninh với khổ người cao lớn trong bộ đồ bay lấm bùn chương lên thật to nằm trên bàn.
    Tôi không thể ngờ rằng đời sống con người lại có thể qua mau được như vậy. Một người mà mọi người quen biết đang yêu mến, đang trông chờ có thể đến nỗi như thế này sao?! Bất chợt, tôi lại nhớ đến thân phận mình, đến thân phận những bạn bè, chiến hữu khác đang bay vào lửa đạn khắp 4 Vùng Chiến Thuật, đang đùa giỡn với tử thần, đang vì Tổ Quốc, Danh Dự, Trách Nhiệm mà quên đi sự an lành cho chính mình. Tôi nhìn xác anh Ninh, lại nhớ đến chị Ninh và hai cháu gái nhỏ ở nhà và bật khóc.
    Phải khó lòng lắm,Thiếu Tá PĐT, Đại Úy Trương Phùng và tôi mới moi được cái bóp trong túi áo bay trên ngực của Ninh ra. Đúng là Ninh rồi! Thẻ bài, giấy tờ tùy thân, hình vợ con và Thẻ Chủ Quyền của chiếc xe cũ kỹ anh vẫn lái hằng ngày. Tôi để ý không thấy sợi dây chuyền vàng với cây thánh giá Ninh đeo trước ngực và chiếc cà rá pilot anh vẫn đeo trên tay cũng không còn. Chúng tôi phải xem xét kỹ như vậy vì khuôn mặt của Ninh không giống như lúc Ninh còn sống nữa. Da mặt Ninh đen như than vì nằm phơi nắng 3-4 ngày ngoài ruộng. Những con trùng sống dưới nước vẫn còn bò lổm ngổm bên xác Ninh. Theo lệnh của Thiếu Tá PĐT, tôi lấy tờ báo cuộn cái bóp của Ninh lại và bỏ vào túi áo bay dưới ống quần phải để mang về trao lại cho chị Ninh.
    Dùng hết sức lực, cả 3 chúng tôi vần nghiêng được xác Ninh, cố tìm xem nguyên nhân nào đã gây ra cái chết cho anh. Chẳng mấy khó khăn, chúng tôi thấy một vết đạn xuyên từ sau gáy trổ thẳng lên phía sau đầu của Ninh. Lúc đó, chúng tôi đoán biết là Ninh đã bị bắn chết khi đang treo lơ lửng trên trời. Chiếc dù hai màu đỏ trắng của phi công khi rơi xuống ruộng nước đã bị hòa lẫn với màu bùn đất làm cho nỗ lực tìm kiếm Ninh của các máy bay quan sát và trực thăng trong những ngày đầu đã không đưa đến kết quả nào.
    Chúng tôi trở về Biên Hòa sau khi liên lạc và trao cái bóp của Ninh cho gia đình vợ anh ở Sài Gòn. Thiếu Tá PĐT bảo chúng tôi ra ngồi phía sau, để dành cabin chiếc xe pick up cho thân nhân của chị Ninh cùng đi lên Khu Cư Xá Sĩ Quan để đưa chị Ninh về Sài Gòn chăm sóc. Khi tôi thúc giục mau ra xe, chị Ninh tỏ vẻ nghi ngờ và phân vân, hỏi tôi:
    - Tại sao tôi phải về Sài Gòn hả chú Chuyên?
    - Dạ, vì phi cơ anh Ninh vẫn còn hư ở dưới Cần Thơ, mà chị thì sắp sanh, nên cần có người nhà phụ giúp chị và các cháu.
    Rồi chị Ninh và các cháu lên chiếc xe du lịch cũ kỹ đi về Sài Gòn trước. Khi thấy chúng tôi đến sau bằng những chiếc xe pick up chở đồ đạc lỉnh kỉnh của nhà chị dọn từ Biên Hòa về, chị đoán già đoán non sự thể và òa lên khóc. Tôi nhìn thân hình nhỏ bé và cái bụng to của chị, miệng chị lẩm bẩm gì đó tôi nghe không rõ, rồi tự nhiên nước mắt tôi cũng dâng trào và tôi bật khóc thành tiếng. Cả nhà chị cùng những người hàng xóm hiếu kỳ đang vây quanh cũng không cầm được nước mắt và khóc theo. Chị hỏi tôi:
    - Anh Ninh chết rồi hả chú Chuyên?
    - ???
    - Trời ơi! Sao chú lại nói dối tôi? Dẫn tôi đến thăm chồng tôi đi chú! Trời ơi! Anh ơi! Nỡ lòng nào anh bỏ em và các con thế này?!
    Chị khóc lóc rên rỉ. Cái bụng quá lớn làm chị khó xoay xở. Chị không thể vật vã như những góa phụ khác. Chị ngồi bệt xuống chiếc phản gỗ, gương mặt bỗng tái nhợt đi, rồi bất tỉnh. Người thì lo bôi dầu gió, người thì quạt cho chị tỉnh lại.Không ai đồng ý cho chị đi thăm anhNinh cả vì hai lý do: Ninh đã chương lên to và nặng mùi lắm rồi. Chị lại sắp sanh tới nơi có thể bất lợi cho thai nhi.
    Sau một hồi được người thân “phù phép” bằng dầu gió, chị Ninh tỉnh lại. Chỉ chỉ ngồi yên mà không khóc nữa, tuy hai hàng nước mắt vẫn tuôn trào. Trước khi ngất xỉu đi lần thứ hai, chị mơ màng nói với theo:
    - Chú Chuyên à, nếu chú không cho tôi đến nhìn mặt anh Ninh lần chót,... “tôi sẽ không đẻ cho mà coi!”
    2 ngày sau, tôi và một vài chiến hữu trong Phi Đoàn được đưa xuống Nhà Vĩnh Biệt để đứng gác quan tài của Ninh, trước khi anh được an táng tại nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi. Buổi tối trước ngày tiễn biệt Ninh, người ta mới đưa chị Ninh và hai cháu bé đến. Chị Ninh và hai cháu đều mặc bộ đồ tang vải màn thưa trắng, riêng chị còn có thêm một cái khăn trào mào trùm kín đầu và mặt. 3 mẹ con bước vào phòng để quan tài, đang khóc lóc ồn ào nhưng bỗng nín bặt. Chị lẩm bẩm lớn đủ cho mọi người nghe thấy:
    - Tôi đã hứa rồi, tôi đã hứa rồi! Tôi sẽ không khóc. Tôi sẽ không khóc lóc, không vật vã đâu! Ninh ơi, em đến thăm anh lần cuối, rồi em sẽ về đi sanh đây anh! Sao anh lừa dối em? Sao anh lừa dối các con hả anh? Anh hứa anh sẽ về nhà ngay với em và các con sau phi vụ mà sao đã cả tuần lễ rồi mà anh vẫn còn nằm đây? Sao anh chẳng nói một lời, Ninh ơi! Em khổ quá Ninh ơi, anh có biết không, Ninh ơi!!
    Chị Ninh cứ lẩm bẩm như thế và cả hai cháu gái nhỏ cùng bám lấy chân mẹ đi vòng quanh ve vuốt cỗ quan tài. Những người có mặt không ai cầm được nước mắt và tất cả cùng khóc theo chị Ninh.
    Lúc ấy, một sĩ quan cao cấp thuộc Bộ Tư Lệnh Không Quân đến cử hành nghi thức gắn lên chiếc gối nhỏ bằng nhung đỏ trên quan tài của Ninh một Bảo Quốc Huân Chương, một Phi Dũng Bội Tinh và truy thăng Đại Úy Nguyễn Văn Ninh lên...Cố Trung Tá. Lý do là vì Ninh đã có Nghị Định lên Thiếu Tá, nhưng khi Ninh tử trận, Nghị Định thăng cấp của Ninh chưa kịp về đến Phi Đoàn. Người ta trao cho chị Ninh chiếc gối nhỏ màu máu đỏ tươi ấy với những huy chương được cài cẩn thận cạnh hai bông mai bạc. Chị ôm lấy nó, nức nở và khuỵu gối xuống bất tỉnh trong vòng tay thân nhân.
    Đêm hôm ấy, chị Ninh hạ sanh một cháu trai, đúng như nguyện ước của chị và anh Ninh Đờ Gôn.
    Lời người viết:
    Đã 40 năm qua kể từ ngày Ninh anh dũng hy sinh, không biết chị Ninh, hai cháu gái và cháu trai bây giờ ra sao, sau sự mất mát đớn đau tuyệt đỉnh ấy?! Trong những tháng năm khói lửa của cuộc chiến sau khi anh hy sinh và rồi qua những thăng trầm dâu bể của đất nước, cầu mong chị và các cháu vẫn được Ơn Trên và anh linh của Ninh phù trợ, để có can đảm và hy vọng trong đời sống. Dù đớn đau, dù cay đắng, dù bạc bẽo, mong rằng chị và các cháu lúc nào cũng có thể tự nhủ được trong lòng mình rằng, sự chiến đấu anh dũng và hy sinh cao cả của anh Ninh cho quê hương dân tộc Việt Nam sẽ vẫn mãi mãi được quê hương và dân tộc tri ân. Kính.
    Nguyễn Văn Chuyên

NGƯỜI LÍNH CỦA NGÀY CŨ


  • Image en ligne

    Chiều mùng 3 Tết.
    Trời California lạnh nhẹ. Ánh nắng vàng mỏng như một lớp bụi rơi trên những bãi cỏ mùa đông. Tôi đang ngồi uống cà phê thì điện thoại reo. 
    Là Hùng. Thằng bạn cùng đơn vị ngày xưa.
    Trong đoàn có 3 liên toán, mỗi liên toán có 3 toán, 10 người tùy theo nếu đầy đủ. Thường thì không đủ quân số. Tôi ở toán 2. Hùng ở toán 3.Còn anh Phước “Rừng” ở toán 1. Chúng tôi không cùng toán, nhưng cùng sống chung đoàn, những năm tháng mà mạng người nhẹ như chiếc lá. Giọng Hùng hôm đó chậm lạ:
    – Liêm hả...?
    – Ừ, tao đây.
    Nó nói nhỏ:
    – Tao vừa vô viện dưỡng lão thăm ông anh vợ. Đi ngang hành lang... thấy một ông già ngồi xe lăn nhìn ra cửa sổ. Tao nhìn kỹ... giống anh Phước lắm.
    Tôi ngừng tay:
    – Sao mày không lại hỏi?
    Hùng im lặng một chút:
    – Tao cũng định hỏi, nhưng đứng nhìn một hồi, tự nhiên thấy không dám.
    – Sao vậy?
    Nó thở dài:
    – Ông già quá rồi Liêm. Tóc bạc trắng. Lưng còng. Gầy lắm. Tao đứng phía sau nhìn hoài, mà không chắc nữa. Mấy chục năm rồi còn gì.
    Rồi nó nói nhỏ:
    – Tao sợ nhận lầm, làm người ta khó xử. Nên tao gọi mày. Mày qua coi thử.
    Tôi hiểu. Có những gương mặt từng rất quen, nhưng sau nửa đời người, mình không còn dám tin vào ký ức nữa. Tôi nói:
    – Gửi địa chỉ cho tao.
    Cái tên Phước “Rừng” làm ký ức bật mở.
    Ngày đó anh lớn hơn tụi tôi vài tuổi. Dáng cao, vai gầy, da đen sạm vì nắng rừng. Ánh mắt lúc nào cũng bình tĩnh, như người đã quen nhìn cái sống cái chết ở rất gần. Anh ít nói. Nhưng mỗi lần toán anh từ rừng trở về, anh thường ghé qua chỗ tụi tôi uống cà phê. Ngồi đó.
    Cười hiền. Có lần tôi hỏi:
    – Anh Phước đi rừng hoài vậy, có sợ không?
    Anh cười, một nụ cười rất hiền:
    – Sợ chứ.
    Rồi anh nói chậm:
    – Nhưng lính mà. Chỉ mong mỗi lần trực thăng quay lại, mình còn đủ người để bước lên.
    Lúc đó tụi tôi còn trẻ. Nghe xong chỉ cười.
    Không ai nghĩ có ngày mình sẽ sống tới già.
    Sau năm 1975. Các toán tan. Người đi tù. Người vượt biển. Người bặt tin. Những gương mặt ngày đó... lần lượt biến mất khỏi cuộc đời nhau. Tôi không nghe tin anh Phước nữa. Cho đến cuộc điện thoại chiều hôm ấy.
    Hôm sau tôi lái xe tới viện dưỡng lão. Hành lang dài, im lặng. Mùi thuốc sát trùng và mùi quần áo vừa giặt trộn lẫn trong không khí.
    Cuối hành lang, cạnh cửa sổ nhìn ra bãi cỏ mùa đông, một ông già ngồi trên xe lăn. Tóc bạc trắng. Vai gầy.
    Hai bàn tay gân guốc đặt trên thành ghế. Ông đang nhìn ra ngoài trời, một mình. Tôi bước lại gần, tim tự nhiên đập hơi nhanh, tôi khẽ hỏi:
    – Dạ... xin lỗi... bác có phải là anh Phước... Phước “Rừng” không?
    Ông quay lại, đôi mắt già nua nhìn tôi rất lâu rồi ông hỏi:
    – Anh... ở đơn vị nào?
    Tôi nói:
    – Dạ... Liêm. Toán 757... liên toán 3 đoàn công tác 75 ngày xưa.
    Ông nhìn tôi thêm một lúc. Rồi đôi mắt chợt sáng lên:
    – À...
    Ông gật đầu chậm:
    – Nhớ rồi... thằng lính trẻ hay cười.
    Tôi bật cười, mắt tự nhiên cay:
    – Dạ... đúng em đó anh.
    Chúng tôi ngồi cạnh cửa sổ suốt buổi chiều.
    Hai người lính già nói chuyện của một thời rất xa.
    Anh hỏi từng người:
    – Thằng Hải sao rồi?
    – Mất lâu rồi anh.
    – Còn thằng Lộc?
    – Ở Texas, chạy xe tải.
    Anh gật đầu. Nghe từng cái tên... như nhặt lại từng mảnh đời đã trôi mất. Một lúc lâu anh nói khẽ:
    – Vậy là... mình còn sống tới giờ... cũng là may.
    Tôi hỏi anh về cuộc đời sau chiến tranh. 
    Anh kể chậm rãi:
    – Ra tù... anh vượt biển. Qua Mỹ làm đủ nghề. Vợ anh mất mười năm trước.
    Anh nhìn ra cửa sổ:
    – Con cái thì mỗi đứa một tiểu bang. Nhưng tụi nó thương anh lắm.
    Giọng anh bình thản. Không một lời than. Nhưng tôi thấy trong ánh mắt anh... có một khoảng trống rất sâu.
    Khi tôi đứng lên ra về, tôi nói:
    – Cuối tuần em ghé thăm anh nữa.
    Anh gật đầu:
    – Ừ, ghé.
    Tôi bắt tay anh. Bàn tay lạnh, khô. Một bàn tay từng cầm súng, từng bước qua bao cánh rừng.
    Khi tôi quay lại nhìn lần cuối, anh vẫn ngồi đó, nhìn ra cửa sổ. 
    Một người lính già... giữa buổi chiều rất yên tĩnh.
    Hai ngày sau Hùng gọi. Giọng nó thấp xuống:
    – Liêm... Anh Phước đi rồi.
    Tôi không nói được gì....
    Đám tang tổ chức trong một nhà quàn nhỏ.Không đông.
    Nhưng không cô đơn. Hai người con của anh bay về.
    Mấy đứa cháu đứng quanh, im lặng.
    Chúng tôi, vài người lính cũ đứng phía sau.
    Người con trai nói về cha mình. Anh nói:
    – Ba tôi ít khi kể về chiến tranh. Nhưng ông luôn nhắc đến những người bạn lính.
    Hùng đứng cạnh tôi quay mặt lau nước mắt. Tôi nhìn lên di ảnh anh Phước. Nụ cười hiền của anh vẫn vậy.
    Giống như buổi chiều nào trong trại... khi anh ngồi uống cà phê với tụi tôi....
    Khi linh cữu được đưa ra nghĩa trang, trời bắt đầu mưa.
    Mưa nhỏ thôi, nhưng lạnh. 
    Con cháu anh đứng gần mộ. Chúng tôi đứng phía sau. Tôi nhìn quan tài từ từ hạ xuống.
    Trong đầu chợt hiện lại những cánh rừng xa xưa. Những chuyến trực thăng. Những gương mặt lính trẻ của các toán trong liên toán ngày cũ.
    Bao nhiêu người đã nằm lại. Bao nhiêu người trôi dạt khắp nơi. Và hôm nay... thêm một người nữa ra đi.
    Tôi cúi đầu, nói thật khẽ:
    – Anh Phước... Hết công tác hành quân rồi. Anh nghỉ đi.
    Gió thổi qua bãi cỏ ướt.
    Những người lính còn sống đứng lặng, nhìn theo một người đồng đội của ngày xưa...vừa đi hết chặng đường cuối cùng của đời mình.
    Phạm Sơn Liêm


NHỚ AI 
(nhạc Phạm Anh Dũng, lời Thanh Lan) AI hát

  • NHO AI c.jpg

    NHỚ AI

    (nhạc Phạm Anh Dũng-lời Thanh Lan) 

    Thương nhớ ai đêm này 
    Vầng trăng lấp lánh ngoài hiên 
    Nhung nhớ thêm những ngày 
    Mình yêu say đắm vô biên 

    Em nhớ chăng đêm nào 
    Dặt dìu ta bước cùng nhau 
    Tay nắm tay ân cần 
    Cùng nhau vui bước nhịp chân 

    Con đường tình ái 
    Nhiều cay đắng ngọt ngào 
    Nay đã xa nhau rồi 
    Mà lòng còn nhiều hoang mang 

    Thương nhớ ai đêm này 
    Nụ cười đã tắt bờ môi 
    Nhung nhớ chi những ngày 
    Chuyện tình mình vừa lên ngôi 

    Một mình nhẹ bước 
    Vòng tay ấy còn đâu 
    Cho nhớ thương điên cuồng 
    Chờ bờ môi người anh thương 

    Thương nhớ ai đêm này 
    Nụ cười đã tắt bờ môi 
    Nhung nhớ chi những ngày 
    Chuyện tình mình vừa lên ngôi

    --
NGƯỜI NỮ TU ĐẸP LỘNG LẪY TÌNH NGUYỆN Ở LẠI TRẠI PHONG CÙI DI LINH SUỐT ĐỜI.

  • Một ngày cuối năm 1965. Trên chuyến máy bay PanAm đưa các giám mục người Mỹ trở về từ Ý sau khi họ đã dự Đại hội Công đồng Vatican II, có một nữ tiếp viên hàng không rất xinh đẹp, tận tình và nhã nhặn.
    ... Nhưng suốt hành trình ấy, cô lại rất mất tự nhiên và thấy “khó ở” vì có một người đàn ông lớn tuổi mặc áo dòng, xem ra thiếu tế nhị, cứ chăm chú nhìn cô.

    1774781593079blob.jpg

    Dù rất không vui, sau đó cô cũng được biết, người ấy chính là Đức cha Fulton Sheen, Tổng Giám mục New York, một người nổi tiếng về giảng dạy và đạo đức - Ngài là một nhà văn, cũng là Giám mục tông đồ lừng danh nước Mỹ. Đến lúc máy bay hạ cánh, càng lạ hơn khi vị Giám mục già bị coi là “thiếu đứng đắn” kia trong mắt cô gái lại không đi ra cùng lúc với các hành khách khác. Ngài có vẻ chần chừ để mình phải là người xuống sau cùng và khi đến cầu thang máy bay, ngài còn nói thầm vào tai cô tiếp viên hàng không ấy những lời gì đó mà ngoài cô, chẳng ai nghe thấy.

    … Khá lâu sau, một buổi trưa, Đức Cha Fulton Sheen nghe tiếng gõ cửa và sau đó, ngài bất ngờ khi nhận ra người ấy là cô tiếp viên hàng không trẻ tuổi trên chuyến bay hôm nào. Cô lên tiếng: “Thưa Đức Cha, Người có nhớ con không?”. Đức Cha Fulton Sheen từ tốn: “Cha nhớ. Con chính là cô tiếp viên hàng không trên chuyến bay đưa cha và nhiều đạo hữu trở về từ Công đồng Vatican II”. Cô gái tiếp: “Thưa, Đức Cha có nhớ mình đã nói với con điều gì không?”. Đức Cha trả lời: “À, Cha đã khen con là đẹp lắm. Và cha hỏi con rằng, có bao giờ con đã cảm tạ Chúa vì Người đã ban cho con sắc đẹp nhường ấy chưa?”. Cô gái tỏ vẻ băn khoăn: “Thưa Đức Cha, điều Người nói đã làm con nghĩ ngợi nhiều. Vì thế, hôm nay con xin đến gặp Cha và theo Cha, con phải làm gì để tạ ơn Chúa?”. Do bất ngờ, Đức Cha Fulton Sheen lặng người một lúc.

    Sau đó, Ngài dẫn cô gái ấy tới trước một tấm bản đồ treo trên tường. Ngài ôn tồn: “Có bao giờ con nghe nói tới một trại phong cùi nào ở Việt Nam, mang tên là Trại cùi Di Linh chưa?”. Cô gái ngước lên: “Thưa Đức Cha, có lần con đã đọc được về nó trên báo. Con cũng đã được nghe ai đó kể một vài chuyện về trại ấy!”. Đức Cha nhìn mông lung đâu đó: “Này con, cách đây chưa lâu, cha nghe nói Đức Giám mục giáo phận Sài Gòn là ngài Juan Cassen đã từ chức để đến phục vụ anh chị em tại trại Di Linh. Con có muốn cảm tạ Chúa bằng cách thử một lần đến đó, gặp Đức Giám mục và ở lại với anh chị em bệnh nhân khoảng 6 tháng không?”.

    Quá bất ngờ trước lời đề nghị ấy của Đức Giám mục thành New York, cô gái không thốt lên được lời nào, chỉ lặng lẽ cúi chào rồi rút lui trong sự bàng hoàng của chính nội tâm mình. Và thật lạ lùng, chỉ bằng ấy lời đề nghị nhẹ nhàng của Đức Cha Fulton Sheen, chúng đã làm thay đổi hoàn toàn cuộc đời cô.

    Sang đầu năm 1966, người ta đọc thấy một bản tin giống nhau trên các phương tiện truyền thông của Sài Gòn và của Việt Nam: Một nữ tiếp viên hàng không rất trẻ, rất đẹp của một hãng hàng không Hoa Kỳ đã xin nghỉ việc để đến trại phong Di Linh của Việt Nam, tình nguyện chăm sóc các bệnh nhân cô quạnh ở đó.

    Chỉ bằng cuộc nói chuyện ngắn ngủi hôm trước, suy nghĩ thích tự do tung cánh của một cô gái yêu lãng du khi chọn cho mình nghề tiếp viên hàng không rày đây mai đó, đã thay đổi khi cô chấp nhận trút bỏ tất cả tương lai đẹp như chính vẻ đẹp của mình để sống, không phải 6 tháng, mà là suốt đời cho một lý tưởng khác còn đẹp hơn nhiều: Phục vụ tha nhân.

    Chỉ bằng cuộc nói chuyện ngắn ngủi hôm trước, lời của một vị Giám mục đã biến một cô tiếp viên hàng không xinh đẹp thành một nữ tu. Bởi chính cô, sau một thời gian phục vụ anh chị em bệnh nhân phong, đã tự nguyện khoác lấy chiếc áo nữ tu trong Hội dòng Nữ tử Bác Ái Vinh Sơn Việt Nam. Cô hoàn toàn trút bỏ mọi vướng bận của đời thường để yên tâm sống cho lý trưởng mới. Người nữ tu ấy, đẹp lộng lẫy cả trong lẫn ngoài, không ai khác hơn Dì phước Louise Bannet. Cô đã tình nguyện ở lại trại Di Linh suốt đời, nhưng biến cố của năm 1975 gây ra nhiều biến động, khiến cô không thể tiếp tục ý nguyện. Sau gần 10 năm phục vụ người bệnh, cô đã phải lên đường về nước. Một thời gian sau, cô lại xin Nhà Dòng cho đi phục vụ bệnh nhân phong ở Tahiti.

    Năm 1982, sau nhiều ngày bị bệnh ung thư hành hạ, Louise Bannet đã qua đời giữa sự tiếc thương vô cùng của cộng đoàn giáo hữu tại Tahiti. Dĩ nhiên trong đó có gửi theo những ký ức và cả lòng biết ơn của anh chị em bệnh nhân tại Di Linh, Việt Nam.

    Tôi (TAK) từng có lần đến nơi ấy, gặp được 2 dì phước nay đã già lắm, và cả hai từng phục vụ cùng thời kỳ với xơ Louise. Bà Sáng, một trong 2 người, vẫn run run tấm tắc: “Xơ Louise rất đẹp, thanh tú, và rất chăm học tiếng Việt. Xơ có lòng nhân ái vô biên”.

    Trịnh Anh Khôi


MỘT NÉN HƯƠNG CHO NHỮNG NGƯỜI NẰM XUỐNG

  • Sơn Trà Huấn Luyện
    Bán đảo Sơn Trà gần thị xã Ðà Nẵng, thuộc tỉnh Quảng Nam đã từng là căn cứ bí mật huấn luyện người nhái dùng để xâm nhập miền Bắc trong những công tác khuấy rối và phá hoại. Ðó là những chiến sĩ can cường của NKT/QLVNCH.
    Sơn Trà, Ðà Nẵng bây giờ không còn dấu tích hồi đầu, khi SPVDH (sở phòng vệ duyên hải) mới thành lập, do đó có bạn biết, có bạn nhập ngũ sau này thì không biết một chút nào. Vậy bài này để các bạn hình dung quang cảnh ngày xa xưa đó, và cũng để chúng ta ôn nhớ lại những kỷ niệm một thời của thuở thanh niên, chúng ta đã đóng góp mồ hôi và nước mắt cho cuộc chiến, người còn kẻ mất, nhiều chiến hữu đảm trách những công tác bí mật chết trong âm thầm, dường như đã đi vào quên lãng. Chúng ta may mắn, được vui vầy bên gia đình yên ấm, nhắc tới họ, thắp nén hương lòng ghi nhớ công ơn Họ là những anh hùng không tên tuổi. (Đằng Phương)
    Là một quân nhân đã phục vụ trong NKT từ 1961-1975. Ở đây, tôi ghi nhận những gì tôi thấy hoặc tham gia trên thực tế. Năm 1963 tôi nhận nhiệm vụ ra công tác tại bán đảo Sơn Trà, Ðà Nẵng. Chính nơi đây, những nhân viên phòng E hay gọi là phòng 45 đang thi hành công tác bí mật, họ có thể không biết nhau hoặc có thể biết nhau, gặp nhau hàng ngày, nhưng anh ta đang làm gì, thì chỉ người đó biết mà thôi. Ðó là cung cách làm việc của những người quanh tôi ngày đó.
    Bước xuống phi trường Ðà Nẵng vào tháng 6/63, phi trường không cách thị xã bao xa, thành phố không lớn lắm, dân chúng thưa thớt, con đường Ðộc Lập dài vắt ngang phố, tôi nhớ nhất là con đường Trần nhật Duật, nơi đây là những căn nhà an toàn thuê của dân, để dưỡng quân và cũng từ nơi này là nơi hẹn hò, phân phối công tác riêng biệt cho từng cá nhân.
    Ðứng từ Bến Cá làm chuẩn, nhìn sang bên kia là bán đảo Tiên Sa, Sơn Trà. Nhìn sang tay trái là những hòn núi mờ mờ nhấp nhô (lúc đó chưa có đài kiểm báo của KQ), dưới chân núi là cái vịnh nhỏ, có những thuyền buồm kiểu miền Bắc, dài khoảng 22 mét, có gắn động cơ mạnh để ứng phó với hoàn cảnh phải giao chiến với tàu cộng sản Bắc việt, ngoài ra còn trang bị súng đại liên 50 và máy truyền tin. Những thuyền này được mang mã số N1...đến N7. Những tài công là những ông già, người miền xứ Nghệ, tiếng nói nặng chệt. Ngoài ra còn có chiến đĩnh Swift và Nasty. Sau này, vì cường độ chiến tranh gia tăng, Hoa kỳ đã trang bị cho chúng ta những giang tốc đĩnh PTF vừa nhanh, hỏa lực mạnh, có trang bị radar rất tối tân.
    Người dân Ðà Nẵng muốn qua Sơn Trà phải đi qua cầu Trịnh minh Thế,còn chúng tôi chỉ dơ tay vẫy, tức thời có ca nô sang đón, và có xe túc trực chở đến trại Pacific, còn gọi là trại Mỹ Khê cách Bến Cá khoảng 3 cây số. Ðây là căn cứ chính của SPVDH, trại lớn nhất ở Mỹ Khê, kế tiếp là những trại nhỏ dọc theo bờ biển chạy dài về phía Ngũ hành sơn, một trong những trại nhỏ này có hồ bơi để thử tài lặn của từng người. Nói tới Sơn Trà chúng ta phải nhắc tới những rừng phi lao chạy dài dọc theo bãi biển. Chính nơi đây là nơi huấn luyện người nhái, hết toán này đến toán khác và hoàn toàn do người Mỹ đảm nhiệm, họ được tập luyện bơi lội, xử dụng bình scuba, vượt sóng bằng xuồng cao su, cách đối phó khi xuồng bị lật úp v..v...Người chỉ huy đầu tiên SPVDH là cố Ð/tá Bình tức Ð/tá Ngô thế Linh,trụ sở tại 26 đường Bạch Ðằng, Ðà Nẵng. Ông là vị sĩ quan lâu đời nhất của NKT, ông rất thân mật với thuộc cấp, và có nghiệp vụ cao trong ngành tình báo, ông được thuộc cấp kính trọng và phục tùng (một việc đáng được đề cao là ông tìm đến thăm hỏi thuộc cấp khi nghe tin họ đặt chân đến Hoa Kỳ). Chính nơi đây sản sinh ra những Kinh Kha chưa bao giờ chịu khuất phục CS như: Ðặng chí Bình, Lầu chí Chăng, Nguyễn văn Tâm v...v...
    Trở lại chuyến đi công tác của chúng tôi với toán Centaur. Thường thường những toán từ 6 người đến 12 người, nhưng toán Centaur có tới 33 người, họ đã được học căn bản tác chiến, học cách phá hoại cầu, và vừa thực tập chuyến nhẩy dù đêm không có bãi đáp với quần áo bảo hộ tại rừng già Ban mê Thuột. Hôm nay chúng tôi lên phi cơ C123 tại phi trường Long Thành, tỉnh Biên Hòa lúc 10g30 sáng, trực chỉ Ðà Nẵng, đây là toán ngắn hạn, mục tiêu của họ là những chiếc cầu sắt do người Pháp đ lại. Họ sẽ nhẩy dù xuống tiến tới mục tiêu, phá hủy cầu rồi rút ra biển, nơi đó sẽ có tàu Mỹ đến đón. Khóa huấn luyện người nhái này kéo dài mt tháng rưỡi, và tối nay, mãn khóa họ sẽ thực tập phối hợp nhẩy dù xuống bãi biển Mỹ Khê, phá hoại cây cầu được dựng lên làm mục tiêu và rồi rút ra biển, chương trình tổng quát là như vậy. Chiều hôm đó, khoảng 6g30 tối, chúng tôi 3 người: Mt trung sĩ cố vấn, trung sĩ nhất Ðèo văn Peng và tôi có mặt tại phi trường Ðà Nẵng cùng với khóa sinh biệt kích đang bận rộn mặc dù và những trang bị nặng nề nào ba lô, đầu bò truyền tin và đặc biệt phải mang phao để lỡ có rớt xuống biển cho được an toàn... Trời chiều hơi lạnh nhưng người nào mồ hôi cũng đổ ra từng giọt. Chúng tôi đang khám dù thì từ xa một chiếc xe jeep chạy tới, tôi nhận ra viên Ð/úy cố vấn, ông chỉ vào máy đo gió và nói: gió mạnh sẽ thổi hết ra biển và yêu cầu tôi di chuyển điểm đánh dấu đến nơi khác, tôi lên xe về Mỹ Khê nơi đánh dấu bãi nhẩy và di chuyển chữ T vào sâu hơn.
    Theo chương trình thì khoảng 9g30 máy bay tới, chúng tôi chờ đến 10g30 máy bay cũng chưa tới. Ðến 11 giờ thì mọi người đã có vẻ xôn xao, bên VN hỏi bên Mỹ và ngược lại phía Mỹ hỏi VN cũng cùng câu hỏi, máy bay cất cánh rồi đi đâu? Có thể máy bay gp nạn hay bị không tặc? Cho đến sau đó 3 ngày, khi tôi đang đi trên phố với bộ đồ dân sự sửa soạn về SàiGòn thì một chiếc xe jeep chận tôi lại, đó là Ði tá Dương quốc Lương, trưởng phòng không yểm NKT, ông cho biết, nhân chứng thấy máy bay đâm vào dẫy núi phía Bắc Sơn Trà. Ông chở thẳng tôi ra phi trường và cùng tôi lên chiếc Cessna U17 do chính ông lái. Bay tới vòng thứ ba thì tôi nhìn thấy đuôi máy bay, lúc này mây vẫn phủ trắng xóa. Sau đó tôi được chở về bãi Bắc của bán đảo Sơn trà, nơi đây có một trung đội nghĩa quân tăng phái cho tôi đi lấy xác, tôi chẳng kịp thay quần áo... 
    Mất 3 tiếng chúng tôi mới lên tới chỗ máy bay gặp nạn. Một cảnh tan hoang, máy bay cháy hết chỉ còn cái đuôi, giở bản đồ ra, thấy núi này cao hơn 500 mét, nơi máy bay đụng ở độ cao hơn 400 mét. Trước khi máy bay đụng vách đá, chong chóng phi cơ đã quạt đứt rừng cây dài 1 cây số như luống cày máy chạy dài, chiếc phi cơ muốn vượt thoát lên không trung nhưng đã muộn, máy bay đụng phải tảng đá cao khoảng 6 mét, cho nên mọi thứ: người, mũ nhẩy, súng ống...bị cản lại một đống ở chân tảng đá. Tất cả không còn nguyên vẹn, bước vào đuôi máy bay, xác một nhân viên phi hành đoàn với bộ áo phi hành màu cam bị cháy nham nhở nhưng mặt mũi tóc tai vẫn bình thường, anh ta nằm ngửa, hai tay trải rộng, bên cạnh là cái headset với sợi dây điện màu đen.Móc trong túi quần, trong chiếc ví có thẻ chủ quyền chiếc xe Vespa và thẻ sĩ quan Ð/úy Hồ văn Kiệt. Ði bọc ra sau tảng đá ngước nhìn lên trời, thấy Trung sĩ nhất Ðèo văn Peng ngồi, hai chân thòng xuống đất, sau lưng vẫn đeo dù, đầu trần, mặt cúi phía trước, giữa trán bị chẻ một miếng như dao chém nhưng không có máu, nhìn vào mặt không một vết bầm, nom rất hiền từ và tự tại, với thế ngồi như vậy, chỉ cần một cơn gió mạnh là anh sẽ rớt ngay mà thôi. Tổng số người chết là 41 gồm 33 BKQ + 6 phi hành đoàn + 1 huấn luyện viên nhẩy dù + 1 cố vấn Mỹ, tất cả không ai toàn xác, chỉ có 2 người còn nguyên vẹn là Kiệt và Peng. Riêng viên cố vấn chỉ còn cánh tay xâm với ngón tay có đeo nhẫn. Túi đựng xác đã viết sẵn tên, cứ thế mỗi bao xác chia đều, không còn cách nào hơn nữa...!!! 
    Chuyện xẩy ra cách đây gần 40 năm, nhưng tôi vẫn cảm thấy như nó xẩy ra vài hôm trước đây. Cảnh tan hoang, tàn phá, khói lửa nghi ngút trên vách núi dựng đứng của ngọn núi Sơn Trà, tôi phải ôm gốc cây, chui vào bao đựng xác mà ngủ vì trời đêm quá lạnh. Cho đến bây giờ, ngồi một mình suy nghĩ về tai nạn này, tôi vẫn không hiểu vì sao mà Tr/sĩ Ðèo văn Peng khi máy bay đụng mạnh vào sườn núi, anh bị văng ra, bay bổng lên trời, làm cách nào mà anh có thể chết ngồi trong vị thế đó được? Về phần tôi, càng nghĩ, càng thấy sợ, công việc mình đang đảm trách, đối diện thần chết trong tích tắc mà không biết, tự hỏi nếu không có viên Ð/úy cố vấn đến đưa đi lúc đó thì...
    Cám ơn Thượng đế, ông bà đã phù hộ cho tôi tai qua nạn khỏi để viết bài này. Ðây là câu chuyện đã giữ bí mật suốt mấy chục năm qua, cần bạch hóa để thân nhân của toán Centaur và phi hành đoàn chuyến bay đó biết rõ về cái chết của thân nhân mình, và cũng để nói lên sự đóng góp của họ cho NKT nói riêng, cho đất nước nói chung, chưa một lần được nhắc đến để vinh danh...
    Khi viết bài này, tôi chạnh lòng nhớ tới cố Ð/tá Ngô thế Linh và T/tá Trần kim Khanh cũng có mặt tại bãi nhẩy Mỹ Khê để theo dõi cuộc thực tập đêm hôm đó, T/tá Khanh hiện ngụ tại Nam Cali, /Ðtá Ngô thế Linh đã ra người thiên cổ. Ông ra đi quá vội để lại sự thương nhớ cho mọi người. Người chỉ huy trưởng phòng E 45.
    Nguyễn mạnh Hùng


LỜI ĐẦU NĂM CHO CON
  • Vào khoảng thập niên 70. Nhạc sĩ Nguyên Thảo đi tiền đồn ở Dako với đoàn văn nghệ trong đó có nhạc sĩ Lam Phương. Ông nhìn qua trên triền đồi thấy người lính pháo binh đang mài võ đạn đồng để Tết về cắm hoa mai. Nên ý tưởng ông sáng tác bài hát này và trong lòng của ông cũng dâng lên ý tưởng tặng món quà kỳ dị này cho con của ông. Và đặc biệt trong chuyến đi này nhạc sĩ Lam Phương viết bản nhạc Đêm Tiền Đồn. Duy Văn


    https://youtu.be/y6ct35aYO2g?si=zjlLiHCrsiEFwrIP

    --
HAI ANH EM MỘT MÀU MŨ ĐỎ
  • Image en ligne
    Huy hiệu tiểu đoàn quân y ND
    Image en ligne
    Huy hiệu tiểu đoàn 8 ND

    Mến tặng các đồng đội thân thương của tôi thuộc tiểu đoàn 8 Nhảy Dù.
    Như một nén hương tưởng nhớ về bác sĩ Nghiêm sĩ Tuấn, y sĩ trưởng tiểu đoàn 6 Nhảy Dù, đã tử trận trên chiến trường Khe Sanh, tháng 4 năm 1968 và Nghiêm sĩ Thành, sinh viên năm thứ hai đại học khoa học Sài Gòn, thiếu úy trung đội trưởng, thuộc đại đội 83, tiểu đoàn 8 Nhảy Dù, đã tử trận trên chiến trường Thường Đức, Quảng Nam, tháng 8 năm 1974.
    -------
    Cầm tờ lệnh gọi nhập ngũ trên tay, Nghiêm sĩ Thành ngậm ngùi nuối tiếc, vận nước nổi trôi đã nhận chìm công lao đèn sách của những chàng sinh viên đang độ tuổi thanh xuân. Sau chiến dịch tổng tấn công mùa hè năm 1972 của địch, lệnh tổng động viên của chính phủ ban hành đã tước đi biết bao kỳ vọng, ước mơ của những chàng trai trẻ.
    Bảng đen phấn trắng ngậm ngùi chia tay những đứa học trò thân thương đang trút áo sinh viên để khoác lên người bộ chiến y, thay bút nghiên bằng những nòng súng lạnh lùng. Trong khuôn viên đại học, những chàng trai trẻ vẫn ngón tay kẹp điếu thuốc, cười đùa bàn tán đủ mọi thứ chuyện trên đời, nhưng thật ra trong đáy lòng của họ đang ưu tư suy nghĩ cho một đoạn đời sắp tới mà họ hoàn toàn chưa có một chút kinh nghiệm nào. Ngày mai đây họ sẽ xông pha vùng vẫy trên khắp các chiến trường, trong lửa đạn sẽ có những người nằm xuống, sẽ có những người ra đi mà không bao giờ quay trở lại, không biết những kẻ xấu số ấy sẽ là ai trong bọn họ. Mai đây khi họ cất bước ra đi về phía chiến trường xa, những cuộc tình dang dở sẽ đan những kỷ niệm buồn lên từng con dốc nhỏ.
    Thành đưa mắt nhìn theo hàng cây ngả bóng trên đại lộ Cộng Hòa, con đường của Petrus Ký, của đại học khoa học, của biết bao kỷ niệm êm đềm mà chàng muốn được giữ mãi mãi trong lòng. Nắng chiều soi nhẹ qua khóm lá lao xao lung linh trong gió khiến Thành bất giác nhớ lại hình ảnh buổi chiều hôm ấy khi hai đứa bước song đôi trên con đường Phùng khắc Khoan, sau lưng hội Việt Mỹ. Gió chiều vờn lên mái tóc của nàng để nắng hanh vàng lùa những sợi nắng xuyên qua kẽ tóc tạo nên một bức tranh sinh động tuyệt vời mà Thành cứ nhớ mãi trong lòng. Lúc ấy sống mũi và khuôn mặt của nàng vẽ lên trên vạt nắng những đường nét vô cùng huyền ảo. Nàng ngước mắt lên nhìn Thành, ánh mắt nàng long lánh những giọt tình ái khiến Thành ngây ngất mê say, Ngọc Lan xinh đẹp dịu hiền quá.
    Ngọc Lan cất tiếng than van:
    - Anh Thành ơi, cái công thức kỳ cục, lộn xộn như thế này làm sao em nhớ cho nổi hở anh Thành?
    Thành cúi xuống nhìn vào trang sách, thì ra công thức tính đạo hàm đây mà. (UV)’ = VU’ + UV’. Thành chợt nhớ thời còn là học sinh trung học, trong đám bạn của chàng, có bạn đã nghĩ ra cách nhớ rất táo bạo:
    - Ngọc Lan cứ nhớ như thế này thì sẽ không bao giờ quên: Đạo hàm UV = Vú xuôi + vú ngược.
    Ngọc Lan giật mình như chạm phải lò lửa, nàng đưa mắt trân trối nhìn Thành, hai má nàng đỏ hồng lên.  Thành biết ngay là mình đã hố, nhưng Thành lại mắc thêm một sai lầm nữa khi chàng cố gắng chống chế:
    - Thì Ngọc Lan cứ nhìn kỹ xem, rõ ràng đạo hàm UV = vú xuôi + vú ngược, anh đâu có nói sai.
    Ngọc Lan mặt lạnh như tiền, không nói năng gì cả, nàng lạnh lùng gấp quyển sách lại, kéo ghế đứng lên:
    - Về đi anh Thành.
    Nàng bước nhanh ra cửa không hề quay đầu nhìn lại, Thành bối rối lẽo đẽo nối gót theo sau,lòng rối bời chưa nghĩ ra được một lối thoát nào để cứu vãn tình thế.
    Đã 2 tuần lễ nay, Ngọc Lan không cho Thành gặp mặt, hễ cứ thấy bóng dáng của Thành là Ngọc Lan lại mở máy xe chạy thật nhanh, Thành nhìn theo khói xe, nỗi ân hận nuối tiếc lại dâng lên trong lòng. Có cách xa mới thấm thía được nỗi nhớ nhung dày xé tâm can. Nhớ lại những giây phút bên nhau sao mà đầm ấm thân thương quá, khuôn mặt xinh xắn của nàng khiến Thành chùng xuống, thấy lòng mình tím tái dần đi. Có những lúc sống lại trong tình yêu ấy, Thành cảm thấy mình chênh vênh như đang bước đi trên bờ đê trơn trợt sau cơn mưa tầm tã. Nhớ quá người ơi, không phải là anh bán cái để chạy tội cho mình, thực ra tác giả của câu khẩu quyết ấy là một người bạn của anh, chứ anh có bao giờ bạo mồm bạo miệng như thế bao giờ đâu.
    Nắng Sài Gòn chói chang, vắt những giọt mồ hôi trên trán của gã sinh viên đang hốc hác vì tình. Thành dõi mắt nhìn theo con đường có hàng me xanh lá. Cổng trường vừa hé mở, đàn bướm trắng túa ra xôn xao huyên náo cả một góc đường, Thành nhận ra ngay Ngọc Lan lẫn trong đàn bướm ấy. Thành bước đến thật nhanh, đưa hai tay nắm chặt lấy tay lái. Ngọc Lan bối rối tìm cách lùi xe lại nhưng không được, nàng có cảm giác các bạn chung quanh đang bước chầm chậm lại, những đôi mắt tò mò tọc mạch, hai má nàng bỗng đỏ hồng lên vì xấu hổ.
    Thành xúc động nhìn Ngọc Lan, nói nhỏ:
    - Ngọc Lan, anh vừa nhận được lệnh gọi nhập ngũ, anh đến tìm để từ giã em.
    Ngọc Lan lo lắng ngước mắt lên nhìn:
    - Vậy hở anh?
    Thành mừng thầm trong bụng, ít ra thì cái tấm giấy vô phước này cũng đã giúp cho chàng thoát ra được cái oái oăm ngộp thở này. Thành bỗng thấy mình phải có một bộ mặt đưa đám cho thích hợp với tình thế, giọng nói của Thành bỗng buồn hẳn đi:
    - Anh buồn quá Ngọc Lan ơi, hay là mình đi ăn kem nhé.
    Ngọc Lan khe khẽ dịu dàng:
    - Vâng.
    Thành mở cờ trong bụng, niềm vui sướng trong lòng như đang muốn nổ tung ra ngoài khiến chàng phải dằn lòng xuống, cố giữ vẻ mặt buồn bã thảm thương, có ai sắp xa cách người yêu mà lại vui tươi, hớn hở bao giờ đâu.
    Thành đặt nhẹ ly kem lên bàn:
    - Ăn kem đi Ngọc Lan, trời nóng ăn kem thì mới thật tuyệt vời.
    - Trời hôm nay buồn cười quá anh Thành ha, nắng muốn vỡ cả đầu.
    - Ừ, ăn kem đi không thôi nắng vỡ đầu bây giờ đó.
    Ngọc Lan lặng lẽ ngắm nghía người yêu, đượm vẻ buồn bã:
    - Khi nào thì anh phải lên đường hở anh Thành?
    - 3 tuần lễ nữa thì anh sẽ lên trình diện trung tâm 3 tuyển mộ nhập ngũ, từ nay đến ngày ấy mình đi chơi nhiều nhiều một chút Ngọc Lan nhé.
    Ngọc Lan ngoan ngoãn trả lời:
    - Vâng. 
    Ngọc Lan múc một thìa kem đưa lên miệng:
    - Anh Thành ơi, tại sao đang đi học mà lại bị gọi động viên ngang xương như vậy hở anh?
    - Ờ, tại vì chiến tranh đang lan rộng và càng lúc càng khốc liệt. Quân đội đang cần thêm quân, vã lại quân đội đồng minh đã rút hết về nước rồi. Chính phủ ban hành lệnh tổng động viên giảm tuổi hoãn dịch vì lý do học vấn xuống một năm, lấy sinh viên đưa vào guồng máy chiến tranh.
    - Có uổng không, khi các anh có thể sẽ cần thiết để xây dựng lại đất nước sau này.
    - Tương lai sẽ tính sau, hiện tại cần thiết hơn tương lai Ngọc Lan ạ.
    - Mấy nhỏ bạn em cũng có anh nhận được giấy gọi nhập ngũ. Ba má nhỏ bạn nói nếu cứ lính ma lính kiểng, tham nhũng hối lộ, mua quan bán chức tràn lan như thế này thì khó mà giữ được đất nước.
    Nghe Ngọc Lan nói, Thành bỗng thấy đau nhói trong lòng khi nhớ đến người anh ruột thịt của mình, bác sĩ Nhảy Dù Nghiêm sĩ Tuấn, y sĩ trưởng tiểu đoàn 6 ND đã tử trận khi đơn vị hành quân vào vùng rừng núi Khe Sanh, năm 1968.

    *****
    Hôm nay là lần đầu tiên Ngọc Lan nói dối bố mẹ:
    - Mẹ ơi, lát nữa con xuống nhà dì Hiền thăm dì và các cháu, mẹ nhé.
    Mẹ đâu có biết hôm nay cô con gái cưng của mẹ đã bắt đầu giở quẻ, mẹ vui vẻ:
    - Con nhớ ghé qua chợ mua dùm mẹ ít trái cây làm quà cho các cháu, con nhé.
    Ngọc Lan ghé thăm nhà dì được chừng nửa tiếng đồng hồ thì nàng tìm cách rút lui. Lần đầu tiên Ngọc Lan đi ra khỏi thành phố một quãng đường xa xôi đến như thế.  Đường xá tấp nập xe cộ qua lại khiến nàng đâm lo, Ngọc Lan đã định bụng rủ một cô bạn đi chung cho đỡ sợ, nhưng rồi ngần ngại nên lại thôi. Thân con gái cặm cụi một mình đi thăm người yêu mãi trên tận Thủ Đức, trong lòng hồi hộp lo âu lắm nên quên cả nỗi áy náy sáng nay đã nói dối mẹ. Con đường dẫn vào trường bộ binh Thủ Đức hôm nay rợp bóng người, tiếng nói cười rộn rã chan hòa trong nắng sớm, những tà áo xum xoe khoe sắc lượt là khiến cả một khung trời như vừa thay áo mới. Bước chân Ngọc Lan như nghiêng đi vì giỏ đồ ăn nặng quá, nàng mua tất cả những gì mà nàng tưởng tượng ra. Bánh mì, xôi, giò chả, chà bông, nem, café, đường sữa, cam quít...và cả 1 gói ô mai thật to để nhắc nhở Thành luôn nhớ đến mối tình thơ mộng mà Thành đã chắt chiu chăm sóc bằng những hạt ô mai xinh xắn. Ngọc Lan đâu biết rằng có những thứ mà Thành sẽ không bao giờ dùng đến, đời sống quân trường làm gì có thì giờ để mà lỉnh kỉnh nấu nước pha café.
    Tên của Thành đã được nhắc trên loa phóng thanh đến lần thứ 3 mà vẫn chưa thấy bóng dáng chàng nơi đâu.  Những người lính quân trường nhìn qua ai cũng như ai, y chang một màu đen thui thủi, thấm mùi mồ hôi, cũng một bộ quân phục màu xanh cây lá, trên đầu là một chiếc nón nhựa. Những người khóa sinh này trông lầm lì dễ sợ mà sao lại vui tính quá, họ gắn lên ngực áo những chiếc khăn đủ màu sắc, người mang khăn màu đỏ, người mang khăn màu vàng, người thì tính tình phóng khoáng nên mang chiếc khăn màu xanh lá cây, có người lại lãng mạn mang khăn màu tím, rồi lại có màu hồng, màu nâu. Ngọc Lan thích màu xanh nước biển, nàng định bụng hôm nào sẽ may cho Thành một chiếc khăn màu xanh nước biển, mang chiếc khăn này trên ngực thì chắc chắn lúc nào Thành cũng phải nhớ đến nàng thôi. Nàng đâu biết rằng màu khăn khác nhau dùng để phân biệt các tiểu đoàn khóa sinh. Tiểu đoàn 1 mang khăn màu đỏ, tiểu đoàn 2 mang khăn màu vàng, tiểu đoàn 3 khăn màu xanh lá cây, tiểu đoàn 4 khăn màu tím, tiểu đoàn 5 khăn màu hồng, năm 1972 tổng động viên nên quân số quá đông phải thành lập thêm tiểu đoàn 6 mang khăn màu nâu.
    Bàn tay ai vỗ nhẹ lên vai khiến Ngọc Lan giật mình quay lại, và nàng chợt mừng rỡ reo lên:
    -  Anh Thành.
    Thành đưa tay nắm lấy vai nàng lắc nhẹ, giọng đầy xúc cảm:
    - Ngọc Lan, đường xa quá em có mệt lắm không?
    - Không anh ạ, gặp anh, em chẳng còn thấy mệt tí nào.
    Ngọc Lan cười tươi tắn, bao nhiêu lo lắng bỗng nhòa đi thật nhanh, nàng đưa mắt ngắm nhìn người yêu, Thành của nàng hôm nay trông khác hẳn ngày xưa, vẻ thư sinh sách vở học trò đâu còn nữa, Thành giờ đây rắn rỏi trong nước da đen nhuộm nắng hồng, trông chàng cứng cáp khỏe mạnh hẳn lên.
    Thành cúi xuống xách giỏ đồ ăn lên, nắm tay Ngọc Lan, đôi tình nhân bước bên nhau đi về phía góc xa của khu tiếp tân, nơi cây phượng vĩ đang giang tay che bớt ánh nắng mặt trời.
    Ngọc Lan lấy ra tờ báo, nàng trải rộng lên thảm cỏ rồi bày ra các món ăn. Thành sung sướng nhìn người yêu lay hoay sửa soạn bữa ăn ngoài trời, nỗi hạnh phúc miên man cứ rộn lên trong lòng chàng.
    - Ngọc Lan mua nhiều thức ăn quá, khổ thân em.
    - Em mua nhiều để anh đem vào trại ăn dần, rồi anh còn mời các bạn của anh nữa chứ.
    - Anh cám ơn Ngọc Lan thật nhiều.
    Ngọc Lan đưa cho Thành 1 khúc bánh mì kẹp chả lụa:
    -  Anh Thành, ăn khúc bánh mì này trước đã nhé.
    - Ngọc Lan cũng ngừng tay ăn một chút đi chứ.
    Ngọc Lan âu yếm nhìn người yêu, Thành đen sạm đi vì mưa vì nắng, vì sương gió quân trường, nhưng lại tròn trỉnh hơn so với ngày còn ở nhà. Nhìn Thành rắn rỏi trong bộ quân phục màu lá cây rừng, Ngọc Lan chợt nhớ đến chuyện ngày xưa. Người ấy cũng trong bộ quân phục như thế này, đã lặng lẽ ra đi biền biệt, để lại trong lòng nàng những gợn sóng lăn tăn như tiếng gọi thầm trên biển vắng, gọi mà hình như không gọi.
    ----
    Năm ấy thầy được ban giám hiệu phân bổ làm giáo sư Việt văn và cũng là giáo sư hướng dẫn cho lớp của Ngọc Lan. Đúng là người văn, thầy giảng bài rất hay, rất hấp dẫn, lôi cuốn, lũ học trò mê mệt nghe thầy giảng bài mà quên cả tiếng chuông báo hiệu giờ tan học. Sự hiểu biết của thầy là cả một kho kiến thức, những lúc thầy lồng cuộc đời vào trong bài giảng hay những lúc thầy trải bài giảng ra ngoài cuộc đời chính là những lúc thầy đang dạo lên những biến khúc, thật là điêu luyện, tuyệt vời. Khi giảng bài, thầy thường hay dừng lại ở đôi mắt của Ngọc Lan, như ẩn hiện một điều gì sâu thẳm.
    Buổi tất niên năm ấy, sau khi văn nghệ đã hết, tiệc đã tàn, Ngọc Lan cùng vài người bạn ở lại lo thu xếp dọn dẹp, thầy cũng ở lại phụ giúp một tay. Sau khi công việc xong xuôi, thầy ngỏ ý mời các cô đi ăn thạch chè Hiển Khánh. Ngọc Lan và các bạn không ngờ năm nay lại gặp may đến thế, hiếm khi nào học trò mời được thầy đi ăn, huống gì thầy mời trò lại càng là một việc rất hiếm khi xảy ra.
    Sài Gòn đã vào những ngày cận Tết, những nhánh mai vàng phất phơ trong gió nhẹ khẽ báo hiệu nàng Xuân đang về đến ngõ. Bên hè phố người ta đã bày bán những tấm thiệp chúc tết đủ mọi màu sắc, đủ mọi đường nét phong phú đa dạng. Đây đó có tiếng pháo chuột thập thò nổ lẹt đẹt vài tiếng rồi tắt ngấm, đường phố vui vẻ nhộn nhịp hẳn lên, xuân đã về.
    Khác hẳn với vẻ nghiêm trang như mọi ngày, hôm nay thầy rất vui tươi, rất cởi mở. Thầy kể chuyện thật là duyên dáng, dí dỏm, khiến các cô lăn ra cười từng cơn, trong khi thầy vẫn tỉnh bơ không hề hé môi cười một chút nào, thật là hay chi lạ. Thầy thăm hỏi từng cô rất thân tình khiến các cô cảm động ra mặt. Thầy cứ phải nhắc nhở, các em dùng kem đi chứ, các cô thì cứ ngại ăn nhiều mang tiếng, và nhất là đang được ngồi đối diện với người thầy thần tượng của mình. Ánh mắt của thầy thỉnh thoảng dừng lại, say đắm như muốn tan loãng vào trong đôi mắt của Ngọc Lan. Những lúc ấy Ngọc Lan như lên cơn sốt, trong lòng nàng rộn lên một cảm giác ngất ngây lạ lùng. Hôm ấy trên đường về, như có luồng gió lạ thổi vào hồn, nụ tầm xuân ngỡ ngàng đón ánh bình minh nên rạng rỡ, thẹn thùng.
    Xuân đã qua và hè đang tới, tiếng ve kêu vang trên cao, hoa phượng vĩ rực đỏ trên những vòm cây, rơi xuống trải đầy trên lối đi màu của lưu bút ngày xanh.  Chỉ còn vài tuần lễ nữa là đến thời gian nghỉ hè, học trò sẽ tạm xa mái trường thân yêu, trở về với gia đình nghỉ ngơi sau một năm cặm cụi đèn sách. Hôm ấy đang giờ nghỉ giải lao, Ngọc Lan đứng bên khung cửa sổ nhìn lên bầu trời xanh ngắt, ngắm những đám mây trắng đang chầm chậm trôi, thầy bước tới sát bên cạnh Ngọc Lan. Ngọc Lan bối rối chưa biết xử trí ra sao thì đã nghe thầy nói nhỏ, ngày mai thầy muốn gặp Ngọc Lan ở thạch chè Hiển Khánh, Ngọc Lan đi một mình thôi, đừng rủ các bạn đi theo. Thầy bước đi rồi mà Ngọc Lan vẫn còn như đang ngủ mơ, không biết lời hò hẹn này từ dưới đất chui lên hay từ trên trời rơi xuống, nàng không dám tin vào đôi tai của mình nữa.
    Thầy ân cần chăm sóc Ngọc Lan,giọng thầy thật ấm áp:
    - Ngọc Lan thích uống nước gì để tôi gọi.
    Ngọc Lan e thẹn:
    - Em uống nước gì cũng được ạ, thưa thầy.
    - Ngọc Lan uống cam vắt hay đá chanh, trời nóng quá.
    - Thưa thầy, sao cũng được ạ.
    - Vậy thì dung hòa nhé, một ly cam vắt thả lên trên vài lát chanh mỏng sẽ thơm lắm.
    - Vâng, cám ơn thầy.
    - Tôi thì chỉ quen uống café thôi.
    Thầy rút trong túi ra một bao thuốc lá, châm điếu thuốc, và nói như trong cơn say:
    - Ước gì mỗi buổi sáng tôi được uống một ly café với Ngọc Lan rồi mới đi làm.
    Ngọc Lan giật mình tròn xoe đôi mắt, nhưng rồi nàng chợt hiểu, một nỗi hạnh phúc lẫn trong niềm hãnh diện bất ngờ dâng ngập trong lòng.
    Người ta trở nên thoải mái tự nhiên hơn sau khi đã nói ra được điều muốn nói. Và Ngọc Lan cũng bớt đi vẻ thẹn thùng mắc cỡ, nàng ngắm nghía người thầy si tình của mình. Vẻ nghiêm trang của một nhà mô phạm khiến thầy như già đi trước tuổi, bụi thời gian lưu lại trên khuôn mặt trông thầy dạn dày hẳn lên. Thế nhưng Ngọc Lan đã biết, phía sau những ngọn núi lởm chởm quanh co ấy là một đại dương bát ngát đầy thi vị, thầy là một nhà văn.
    Thầy hỏi thăm Ngọc Lan rất ân cần khiến nàng vô cùng cảm động, thầy khuyên Ngọc Lan chăm học hơn nữa, nhất là chú ý nhiều về môn toán. Khác với mọi ngày, giọng nói của thầy hôm nay đượm vẻ ưu tư buồn bã.  Thầy lại châm thêm một điếu thuốc, rít một hơi dài vào buồng phổi, ém lại thật lâu rồi từ từ thả ra làn khói nhẹ.  Khuôn mặt kiều diễm của Ngọc Lan chập chờn qua khói thuốc trông huyền hoặc và quyến rũ làm sao. Ánh mắt thầy đắm đuối chìm sâu vào đôi mắt của Ngọc Lan, như muốn gắn chặt muôn đời vào nơi ấy. 
    Thầy nói, giọng rất buồn:
    - Ngọc Lan, hai tuần nữa tôi sẽ vào quân đội, đi xa sẽ nhớ nhiều lắm.
    Âm thanh ấy dội lên vách tường, luồn vào trong lồng ngực bóp chết trái tim thơ ngây. Ngọc Lan thảng thốt chết sững người, đau đớn đến dường nào khi hạnh phúc chợt đến lại chợt đi, hạnh phúc ơi sao mong manh quá!!!
    ----
    Ngọc Lan lấy dao xẻ trái cam thành nhiều múi, nàng tách hai đầu múi cam rồi đưa cho Thành:
    - Ăn cam đi anh Thành, cam sành ngọt lắm anh ạ.
    Nhìn người yêu rắn chắc nhưng đen sạm hẳn đi, Ngọc Lan chạnh lòng nhớ đến người ấy, lúc bước chân vào quân trường chắc thầy cũng cơ cực như thế này đây.  Từ ngày ấy thầy ra đi biền biệt không một lời chia tay, không một nét chữ luyến lưu, như chưa hề có một viên sỏi nào rơi xuống mặt hồ nước phẳng lặng triền miên.
    Tự dưng Ngọc Lan thấy buồn xa vắng:
    - Năm ấy thầy đã ra đi, bây giờ lại đến lượt anh, đất nước mình sau thảm thương quá!
    Thành ngạc nhiên hỏi lại:
    - Ngọc Lan nói thầy nào vậy?
    - Thầy dạy Việt văn của em ngày xưa đó mà. Ngày ấy thầy đang dạy học thì nhận được lệnh gọi nhập ngũ, cũng giống như trường hợp của lớp sinh viên các anh bây giờ.
    - Ngọc Lan có biết thầy đang ở đơn vị nào không?
    - Em không biết, nhưng thỉnh thoảng em vẫn thấy truyện của thầy đăng trên các tạp chí văn học. Thầy nói chuyện thật hay, thật tuyệt vời anh Thành ạ.
    - Sao lại nói chuyện thật tuyệt vời, thầy hay gặp Ngọc Lan lắm hở?
    Ngọc Lan ấp úng:
    - À, em chỉ gặp thầy có hai lần thôi... Ý của em là thầy giảng bài rất hay, cả lớp đứa nào cũng mê.
    - Ngọc Lan có biết tin tức gì của thầy không?
    - Từ ngày ấy đến giờ em không hề biết một chút tin tức nào của thầy.
    Thành bỗng linh cảm có điều gì đó không ổn, chàng vội gạt ý tưởng ấy ra khỏi đầu óc, lúc này phải tạm quên đi tất cả để tận hưởng hạnh phúc đang có trong tầm tay. Chàng tách múi cam ra khỏi vỏ:
    - Ngọc Lan, nhắm mắt lại đi nào.
    Ngọc Lan ngoan ngoãn khép đôi mắt lại, đôi môi của nàng khẽ mở ra, he hé đợi chờ.
    -----
    Tháng 4 năm 1968, lữ đoàn 3 Nhảy Dù được điều động về đánh giải tỏa căn cứ Khe Sanh, tạo điều kiện cho lực lượng TQLC Hoa Kỳ rút khỏi căn cứ chiến lược nổi tiếng này. Toàn bộ lữ đoàn được trực thăng vận xuống phía sau lưng lực lượng Bắc quân đang vây hãm căn cứ Khe Sanh, địch quân đã sử dụng hơn 3 sư đoàn bao vây cứ điểm Khe Sanh từ nhiều tháng qua.
    Lữ đoàn 3 Nhảy Dù tham chiến trận đánh Khe Sanh:
    - Lữ đoàn trưởng: Trung tá Nguyễn khoa Nam.
    - Tiểu đoàn 3 ND, tiểu đoàn trưởng: Thiếu tá Trần quốc Lịch.
    Y sĩ trưởng: BS Trần đức Tường.
    - Tiểu đoàn 6 ND, tiểu đoàn trưởng: Thiếu tá Trương vĩnh Phước.
    Y sĩ trưởng: BS Nghiêm sĩ Tuấn.
    - Tiểu đoàn 8 ND, tiểu đoàn trưởng: Thiếu tá Nguyễn văn Thọ.
    Y sĩ trưởng: BS Hồ trí Dõng.
    Lữ đoàn 3 Nhảy Dù, dưới sự chỉ huy của Trung tá Nguyễn khoa Nam, đã chiến đấu dũng mãnh, đánh tan nát các lực lượng đối kháng của địch. Chỉ trong một trận đánh với TĐ6 ND, địch đã bỏ lại trên trận địa hơn 50 xác chết. Đi kèm theo chiến thắng là nỗi đau thương của mất mát, sư đoàn Nhảy Dù đã mất đi người bác sĩ trẻ tuổi tài hoa Nghiêm sĩ Tuấn, y sĩ trưởng tiểu đoàn 6 Nhảy Dù.
    Hôm ấy,khi người lính Nhảy Dù từ trại Hoàng hoa Thám đến báo tin bác sĩ Nghiêm sĩ Tuấn đã tử trận trên chiến trường Khe Sanh, cả nhà lặng người đi trong đau đớn, sau đó là những giọt nước mắt, những tiếng khóc sụt sùi. Thành lặng lẽ bước vào căn phòng của anh mình, chàng ngước nhìn lên tấm ảnh treo trên tường, bác sĩ Nghiêm sĩ Tuấn tươi cười trong bộ quân phục Nhảy Dù, đầu đội mũ beret đỏ. Con người trông oai phong lẫm liệt biết bao mà sao lại đoản mệnh như thế hở trời!!  Thành biết rõ tính ông anh của mình, một người rất sính thơ văn, vừa kê toa thuốc vừa ngâm nga:
    Nhạn quá trường giang ảnh trầm hàn thủy.
    Nhạn bất di tích chi ý, thủy vô lưu ảnh chi tâm.
    Ngày xưa mỗi lần anh Tuấn về phép, anh thường hay kể chuyện chiến trường cho các em nghe, anh hay nhắc đến những người lính Nhảy Dù với lời lẽ rất quí mến thân thương. Họ là những người lính trẻ đầy nhiệt huyết, vô cùng thiện chiến, có lối sống rất bạt mạng.  Những người lính trẻ này có truyền thống đoàn kết bênh vực lẫn nhau một cách kỳ lạ, đây là một đặc tính rất dễ thương và rất đáng nể phục. Họ được trui rèn trong một thứ kỷ luật còn dữ dội hơn cả sắt thép, nếu không có những người lính không ai biết tới này thì dứt khoát sẽ không bao giờ có được những chiến tích lẫy lừng của một sư đoàn đã từng vang bóng một thời. Dần dần lũ em trong nhà đã nảy sinh một cảm tình thật sâu đậm dành cho những người lính Nhảy Dù. Từ ngày anh Tuấn mất đi,mọi người lại càng thương mến màu mũ đỏ hơn bao giờ hết,màu mũ đỏ của bác sĩ Nghiêm sĩ Tuấn, của anh em Nhảy Dù và cũng là của mọi người thương yêu ngưỡng mộ các anh. Thành tự nhủ, một ngày nào đó, Thành cũng sẽ giắt lên cầu vai một chiếc mũ đỏ.
    ----
    Mùa hè năm 1972, sau những trận giao tranh đẫm máu, khốc liệt, sư đoàn Nhảy Dù đã đẩy lùi địch quân sâu về phía rặng Trường Sơn, dựng lên một vòng đai an toàn trải dài từ Quảng Trị vào đến phía nam Thừa Thiên.  Phòng tuyến dọc theo phía tây của quốc lộ 1 ngăn chận địch quân từ biên giới đổ về nay đã được trấn giữ nghiêm ngặt bởi những người lính Nhảy Dù thiện chiến.
    Vùng trách nhiệm của tiểu đoàn 8 Nhảy Dù trải dài từ khu vực quận Phong Điền, nhấp nhô về phía tây qua những dãy đồi thấp, ghé ngang qua núi Yên Bầu, núi Cánh Giơi, rồi dừng lại bên này con suối Ô Lâu. Bên kia suối là vùng địch. Con suối Ô Lâu vào mùa khô, nước cạn ngang mắt cá chân, nước róc rách luồn qua kẽ đá.  Nhưng vào mùa nước lũ thì dòng nước trổi lên dữ dằn, nước đỏ ngầu sùng sục cuốn phăng đi những cây cối mọc ở hai bên bờ. Chỉ cách nhau khoảng chừng trăm thước, bên này và bên kia con suối là 2 cuộc đời hoàn toàn xa lạ. Kẻ từ Hà Nội 36 phố phường đem theo hương vị cốm làng Vòng vào đến đây, buổi chiều đứng trên đỉnh núi, dáng người in lên nền trời trông rõ mồn một. Người từ Sài Gòn, bỏ lại sau lưng thành phố rực rỡ muôn màu, ngồi đây trên ngọn đồi xa lạ, châm điếu thuốc nhìn đất trời mông lung.
    Đây đó vẫn còn vương vãi dấu tích của những cuộc phong ba bão táp. Bên lề con đường rừng bỗng từ dưới đất nhô lên một chiếc dép râu với những đốt xương ngón chân. Chẳng hay người nằm dưới lớp đất mỏng manh, chôn vùi vội vã ấy quê quán nơi đâu, trúng đạn vào ngực hay vào bụng, đang lúc xung phong hay đang bị tràn ngập, lúc sắp chết có đau lắm không. Dưới khe suối trong vắt lạnh lẽo, bỗng hiện ra một bộ xương người, chiếc nón sắt nằm chơ vơ, tấm thẻ bài cầm lên vẫn đọc rõ được tên họ, số quân. Bộ tư lệnh sư đoàn xác nhận tử sĩ thuộc quân số tiểu đoàn 9 Nhảy Dù.
    Một phần của những dãy đồi thấp chạy dọc theo dòng suối Ô Lâu là khu gia cư của đại đội 83, tiểu đoàn 8 Nhảy Dù. Không mái lều che nắng che mưa, người lính sinh hoạt, nghỉ ngơi dưới những căn hầm chiến đấu, hầm này liên lạc qua hầm kia bằng những tuyến giao thông hào đào sâu dưới đất. Trên miệng hầm, cắm xuống đất 4 nhánh cây chéo nhau thành 2 cái giá hình chữ X,khẩu M72 nằm ưỡn lưng trên chiếc giá cây, sạch sẽ mát mẻ. Khẩu M16 và dây đạn nằm ở vị trí thuận tiện nhất, chỉ cần chồm người tới là bắn được ngay. Sợi dây điện nối từ trái mìn Claymore chuyền xuống dưới hầm được gắn vào con cóc, một khi con cóc nghiến răng thì hàng trăm viên bi sắt sẽ bắn tung ra phía trước bởi sức nổ của thỏi C4, khi đã lọt vào tầm sát hại của mìn định hướng Claymore thì khó mà toàn mạng.
    Ngay chỗ uốn khúc của dòng suối Ô Lâu, một chỏm đồi bỗng tách ra, chồm về phía trước sát đến bên bờ suối.  Đây là vị trí tiền tiêu, tiếp cận với địch gần nhất, gọi là đỉnh Mùa Đông. Nếu địch mở một cuộc tấn công trực diện vào tuyến phòng thủ của đại đội 83 thì ngay trong tích tắc đầu tiên địch sẽ phải hủy diệt ngay ngọn đồi kỳ đà cản mũi này. Đỉnh Mùa Đông được chốt bởi 5 người lính của đại đội 83, tư lệnh chốt là chuẩn úy Nghiêm sĩ Thành, vừa mới tăng cường hành quân được vài tháng.
    Nghiêm sĩ Thành trải rộng tấm bản đồ ra trước mặt, đặt chiếc la bàn lên trên, cạnh của chiếc la bàn trùng lên trục tung độ của bản đồ, xoay tấm bản đồ cho đến khi kim của chiếc la bàn trùng lên vạch chỉ hướng bắc thì ngừng lại. Thành nhìn kỹ những chấm màu đen bằng bút mỡ đánh dấu vị trí của các chốt, đỉnh Mùa Đông rõ ràng lấn sâu về phía trước, sát tới bên dòng chỉ màu xanh, trông giống như mũi nhọn của một ngọn giáo.  Vòng cao độ của những ngọn đồi bên này quá khiêm tốn so với những triền núi cao vượt lên ở bên kia dòng suối Ô Lâu. Càng xuôi về phía hạ lưu thì dòng Ô Lâu lại càng mở rộng hơn,con nước sẽ đi ngang qua quốc lộ 1, rồi sẽ cùng với sông Bồ và sông Hương đổ nước vào phá Tam Giang.
    ----
    Thành châm một điếu thuốc, khói thuốc chui vào buồng phổi khiến chàng cảm thấy dễ chịu hẳn ra. Thành đưa tay rà băng tần của chiếc radio, có tiếng rè rè rồi sau đó là tiếng nói quen thuộc của Mai Trang, hơi ấm này đã một thời âm vang đến tận từng ngõ ngách của giao thông hào trên miền hỏa tuyến, như một người bạn đồng hành sớt chia những vui buồn của đời lính.  Thành chợt nhớ đến anh Tuấn, ngày xưa anh Tuấn cũng đã từng hít thở không khí của vùng hành quân như thế này đây, nếu như anh Tuấn còn sống, hai anh em ở cùng chung một đơn vị thì vui biết mấy.
    Bỗng tiếng nói ồn ào của Tư lựu đạn cắt ngang dòng suy tưởng:
    - Chuẩn úy, em mới vừa gài thêm mấy trái lựu đạn ở dưới mé suối.
    Thành nhăn mặt:
    - Đã dặn là đừng gài thêm gì nữa, mìn bẫy thiên la địa võng rồi. Lạng quạng dính chấu thì khổ đời.
    - Không sao đâu chuẩn úy, em là Tư lựu đạn mà.
    - Sơ sẩy một chút thì Năm lựu đạn cũng chết chứ nhằm nhò gì Tư lựu đạn.
    - Tụi nó ở trên cao hơn mình mà lại sát một bên, gài thêm mấy trái lựu đạn em thấy ấm bụng hơn nhiều.
    Tư lựu đạn nổi tiếng vì cái nghề gài lựu đạn. Lựu đạn gài phải thật nhạy nổ, chốt lựu đạn phải được kéo ra gần hết, chỉ còn chêm chí mí vào cái thìa, một cái ống quần phớt ngang qua thì bà cũng hú rồi, nói chi nguyên một chiếc dép râu phang vào. Tư lựu đạn còn có biệt tài gài lựu đạn rất nhanh, trên đường triệt thoái mà Tư vẫn bình tĩnh ngừng lại, gài nhanh 1 trái lựu đạn cản chân địch rồi chạy tiếp. Một hôm, Tư nhận được lệnh đi gài lựu đạn, gài xong một chục trái lựu đạn bỗng dưng đầu óc lộn xộn không còn nhớ mình đã gài ở những chỗ nào. Bước đi được vài bước thì Tư vướng ngay vào trái lựu đạn mà mình vừa mới gài. Trái lựu đạn nổ tung, một cụm khói bục lên, đất đá văng rào rào, Tư lựu đạn từ từ đứng lên, mặt mũi chân tay vẫn còn đầy đủ. Tư lựu đạn tà tà trở về chốt, bắt đầu nổ:
    - Hà hà! xem ra Tư lựu đạn này còn... lựu đạn hơn cả lựu đạn nữa à nhe.
    Sau đó Tư kể lại, lúc ấy phải vểnh tai lên để nghe ngóng thật kỹ, hễ nghe thấy tiếng thìa lựu đạn văng ra thì lập tức nằm rạp xuống đất. Tư lựu đạn không rách áo lần đó, nhưng về sau này, Tư bị cưa mất một chân vì không may đạp trúng mìn.
    Theo bảng cấp số thì mỗi quân nhân được cấp phát 4 trái lựu đạn, nhưng khi kiểm tra vũ khí đạn dược của anh em thì Thành nhận thấy mỗi người thủ tới cả chục trái. Hỏi lấy ở đâu ra mà nhiều thế, anh em không nói chỉ nhe răng cười. Sau này khi hiểu ra, Thành lại càng quí mến anh em nhiều hơn nữa. 
    Khi bị tấn công vào ban đêm, lính Nhảy Dù hạn chế không nổ súng, chỉ dùng lựu đạn để cản phá những đợt xung phong đầu tiên của địch. Nếu nổ súng, địch dựa vào tia lửa thoát ra từ nòng súng sẽ xác định ngay được vị trí của ta, dùng lựu đạn thì địch không biết đâu mà mò, chẳng biết lúc nào lựu đạn sẽ rơi ngay vào đầu. Khi lính Nhảy Dù tấn công tiến chiếm mục tiêu, vừa bám được vào giao thông hào của địch thì một trái lựu đạn quăng xuống sẽ hủy diệt ngay được một hầm chiến đấu. Lính Nhảy Dù tràn ngập lên mục tiêu, lúc ấy sẽ chỉ nghe thấy tiếng lựu đạn nổ vang dội, và biết chắc là mình sẽ thắng. Người lính chiến đấu cần nhiều lựu đạn, vậy mà mỗi người chỉ được cấp phát có 4 trái, không đủ cho bữa ăn sáng.
    Những ngày tập trung về bộ chỉ huy tiểu đoàn để đi sưu dịch tranh tre tràm, anh em thường hay lảng vảng gần những căn hầm của đại đội chỉ huy công vụ, hễ ngó trước ngó sau không có ai thì ra tay chôm chỉa, bỏ lựu đạn vào túi rồi ung dung thoải mái bước đi. Được biệt phái đi nằm bảo vệ cho các vị trí pháo binh là những ngày thần tiên của lính Nhảy Dù, anh em nhà họ Pháo thích lắm vì có thêm quân, canh gác phòng thủ sẽ cẩn mật hơn, nên đối đãi với anh em rất tử tế. Anh em đi xin những thùng gỗ đựng đạn pháo binh, đem về chẻ nhỏ làm củi nấu cơm, hồi ở trong rừng sâu, anh em thường nấu cơm bằng củi không được khô, vừa nấu vừa khóc ràn rụa như trong nhà có người chết. Những ống sạc đựng thuốc súng pháo binh dùng làm dụng cụ chứa nước thì thật tuyệt vời, mỗi khi xuống suối tắm lại vác lên chốt mt ống sạc nước dùng để nấu cơm và các sinh hoạt hàng ngày. Thường thì mỗi căn cứ pháo binh đều có câu lạc bộ, bày bán đủ thứ cần dùng, café thuốc lá, bánh kẹo đường sữa, xì dầu nước tương, anh em tha hồ mà mua sắm. Anh em lại còn có thể gởi nhờ mua dùm gà vịt, cá tươi, thịt heo, là những thứ không bao giờ thấy mặt trong vùng hành quân. Pháo Dù xài súng lớn chê súng nhỏ nên đạn dược rất dư dả, lượn qua lượn lại vài vòng là anh em biết ngay chỗ nào để lựu đạn. Biết chỗ để mà xin, xin không cho thì chôm cũng vậy thôi.
    Mỗi năm, người lính Nhảy Dù được cấp phát 2 bộ quần áo và 1 đôi giày bố. Lính băng rừng vượt suối, gai góc cào sướt cả chân tay mặt mũi, 2 bộ quần áo và 1 đôi giày bố kéo dài được bao lâu hở trời!! Nghiêm sĩ Thành và các đồng đội vẫn lầm lũi trên đường hành quân,nhẫn nại chịu đựng như chiếc cuốc cán cây cột chặt trên nắp ba lô. Chiếc cuốc cán cây đã sát cánh chung lưng với những người lính tiểu đoàn 8 Nhảy Dù từ mặt trận An Lộc, qua đến chiến trường Quảng Trị, và nay lại cùng nhau phơi lưng trên những ngọn đồi vùng núi Yên Bầu.
    Người lính Nhảy Dù ngã ngửa xuống đất, máu loang ra trên ngực áo, nhỏ xuống đất, bàn tay anh quờ quạng như muốn tìm lại khẩu súng. Đồng đội của anh lập tức xông lên tiếp cứu anh, anh được tải thương về tuyến sau, chiếc cuốc cán cây của anh được chuyền ngay cho một đồng đội khác. Cứ như thế, chiếc cuốc được chuyền từ tay người này sang tay người khác, ròng rã miệt mài theo chân cuộc chiến. Trên cán cuốc đã in chồng chất dấu tay của biết bao nhiêu người đã rời khỏi chiến trường, hoặc đã chết, hoặc đã bị thương. Chiếc cuốc cán cây đã chứng kiến biết bao cái chết không toàn thây, làm gì có băng ca, hai tay và hai chân của tử sĩ được cột lại thật chặt, một đòn cây rừng xỏ dọc qua, 2 người đồng đội ở hai đầu ghé vai gánh xác bạn mình đưa về đại đội, từ đại đội lại gánh về tiểu đoàn. Những người quen thân cũ lần lượt ra đi, chỉ còn lại chiếc cuốc cầncù nhẫn nại bằm những nhát cuốc nháng lửa xuống vùng đất cày lên sỏi đá để bảo vệ mạng sống cho những người còn ở lại hay vừa mới tăng cường hành quân. 2 hoặc 3 người lính dùng chung một chiếc cuốc, hễ dừng quân là lập tức đào hầm chiến đấu, đó là thứ kỷ luật tác chiến khắt khe của lính Nhảy Dù. Trên đường tiến sát lên mục tiêu, hễ chựng lại là đào hầm, không đào hầm thì địch pháo kích lấy gì mà đỡ, chiếc cuốc cán cây là vật bất ly thân của người lính Nhảy Dù.  Chiếc cuốc cán cây tận tụy xả thân bảo vệ mạng sống cho người lính, từ chiến trường này cuốc sang chiến trường kia, giờ đây lưỡi cuốc đã mòn nhẵn, chỉ còn dài độ chừng hai đốt ngón tay mà người lính vẫn không dám bỏ đi, chẳng lẽ đào hầm bằng tay không, đã 2 năm qua chưa hề có một đợt cấp phát cuốc xẻng nào.
    Suốt cả tháng nay trời mưa liên miên bất tận, hết mưa lớn lại đến mưa nhỏ, mưa cho thúi đất, mưa cho mặt trời xấu hổ trốn biệt tăm. Giao thông hào, chỗ nào cũng ngập nước, anh em phải lấy poncho giăng lên để dồn nước chảy ra ngoài, giữ cho chỗ nằm tương đối đỡ ẩm ướt. Gió vỗ vai mưa, rủ nhau đem cái lạnh kinh người thổi lên khắp vùng đồi núi, Thành đã nêm lên người hai bộ quần áo, lại khoác thêm một cái áo jacket bên ngoài mà vẫn thấy lạnh run. Trong căn hầm nhếch nhác, những giọt nước mưa không mời vẫn tìm cách lọt vào trong khiến chỗ nào cũng thấy ươn ướt, ghê ghê.  Thành câu hai đầu của sợi dây điện vào cục pin của máy truyền tin PRC-25 đã cũ, ánh sáng tỏa ra từ chiếc bóng đèn nhỏ khiến cho mọi vật như khô ráo, ấm áp hẳn lên. Thành vói tay mở nắp ba lô lấy ra một lá thư màu xanh, chàng từ tốn lấy ra một điếu thuốc, châm lửa đốt. Hơi thuốc len vào buồng phổi mà nghe đời quá đã.  Thành không nhớ mình đọc lá thư này đã bao nhiêu lần, càng đọc càng thấy cuộc đời thêm rắm rối.
    Người gởi: Ngọc Lan.
    Thành phố cũ.
    Người nhận: Chuẩn úy Nghiêm sĩ Thành
    Đại đội 83, Tiểu đoàn 8 ND
    KBC 3119/HQ.
    Anh Thành thương yêu,
    Trời Sài Gòn bắt đầu trở lạnh sớm hơn mọi năm, sáng nay đi học em phải khoác thêm chiếc áo len. Gió ban mai se sẽ luồn trong tóc khiến em nhớ anh vô vàn, vậy là chúng ta đã xa cách nhau thật rồi ư? Em cứ ngỡ là anh vẫn còn hiện diện trong thành phố này, anh đang ngồi trong giảng đường hí hoáy chép bài, 11 giờ rưỡi sẽ đến đón em, nên lòng em vẫn mong vẫn ngóng, để rồi tan học em lẻ loi đếm bước một mình.
    Ở phương xa ấy anh có được khỏe không, thời tiết ở ngoài ấy khắc nghiệt lắm, nhớ giữ gìn sức khỏe nghe anh. Không có anh ở bên cạnh chỉ bảo nên em phải cố gắng học nhiều giờ hơn, mà rồi vẫn thấy điểm kém hơn hồi anh còn ở nhà. Có thể nào anh sẽ là gia sư cho em suốt đời không hở Thành? Em không biết nữa, em chỉ thấy mình quay quắt trong nỗi nhớ nhung, nhớ khuôn mặt anh chững chạc hiền lành, nhớ những cử chỉ anh chăm sóc lo lắng cho em, nhớ những lúc em bắt nạt anh, có phải nhớ nhiều như vậy là đã yêu rồi phải không anh?
    Thứ bảy vừa rồi em vào thư viện hội Việt Mỹ ôn bài, nhưng không còn tâm trí nào để học nên em phải về nhà, anh biết tại sao không hở anh Thành? Tại vì em gặp lại quá nhiều kỷ niệm của hai đứa mình ở chốn này. Những lối đi, những kệ sách vẫn y nguyên như những ngày tháng cũ, dãy bàn ghế mà hai đứa mình thường hay ngồi học vẫn mòn mỏi đợi chờ ai. Cũng ngay trên chiếc bàn học này, em đã một lần giận anh khủng khiếp, em thật không ngờ.. Mà lạ quá anh Thành à, cái công thức tính đạo hàm kỳ cục đó em muốn quên đi mà không được, nó cứ nằm ỳ trong đầu em không chịu nhúc nhích đi đâu cả, cũng tại anh đó Thành ạ.
    Ông trời dạo này buồn cười lắm anh Thành ạ, khi không một cơn mưa rào đổ ập xuống, em vội vàng lấy áo mưa ra, vừa mặc xong thì cơn mưa đã chạy tuốt ra đằng kia, bực mình ghê.  Em vừa cởi áo mưa ra để xếp lại thì một cơn mưa rào khác lại ào đến, thế có tức không hở anh? Từ ngày quen anh, em đã yêu lây những cơn mưa Sài Gòn, những cơn mưa ướt át làm nẩy mầm tình yêu đôi lứa. Từ ngày anh ra đơn vị dấn thân vào miền chinh chiến, hễ cứ thấy mưa là em lại nhớ đến anh, mưa làm đọng lại những kỷ niệm của hai chúng mình.
    Anh Thành, hôm qua tạp chí Văn có đăng bài viết của thầy giáo cũ của em. Bài viết của thầy rất hay, anh đọc sẽ thích lắm, thầy viết về những câu chuyện xảy ra ở vùng địa đầu giới tuyến. Em để dành khi nào anh về phép em sẽ đưa anh xem.
    Đã khuya lắm rồi, em xin ngừng bút, chúc anh luôn luôn khỏe mạnh bình yên.
    Thương nhớ anh.
    Ngọc Lan.
    Thành lờ mờ cảm nhận ra, có điều gì đó không ổn, thì ra Ngọc Lan vẫn thường xuyên theo dõi bài viết của người thầy cũ trên sách báo. Nàng vẫn âm thầm, lặng lẽ dõi theo dấu chân của người này in trên nền cát trắng, bãi biển hoang vu không một bóng người. Ngọc Lan chắc chắn có gởi gm tình cảm cho người thầy cũ này, ít hay nhiều thì Thành không thể nào đếm được.  Một vài lần nhân lúc Ngọc Lan đề cập đến người này, Thành cố ý khai thác tình hình nhưng Ngọc Lan cứ nhất mực khẳng định chỉ là tình thầy trò không hơn không kém. Đã có những lúc Ngọc Lan lộ hẳn vẻ cảm động khi nhắc đến những chăm sóc chiều chuộng của người này. Thành nghe rõ nỗi bực dọc tức tối dâng lên trong lòng, chàng cố dằn xuống và tự nhủ, chuyện đâu còn đó, nóng nảy nhiều khi lại nghi oan cho người yêu của mình thì tội chết. Thành tự hỏi lòng mình sao lại bực tức như vậy, tại tự ái vặt hay do tính ích kỷ hẹp hòi muốn giữ đóa hoa ấy riêng cho mình. Nhưng mà Ngọc Lan đã là gì của Thành đâu mà Thành đòi giữ lấy để làm của riêng, một nụ hôn lên má cũng chưa có nữa là... Nhớ lại thái độ của Ngọc Lan khi nàng bênh vực cho người ấy, Thành tức lắm chỉ muốn cắt đứt đi cho xong, chẳng thà chịu đau một lần để được bình yên thanh thản còn hơn cứ kéo dài mãi cơn đau nhức nhối.
    Thành bỗng thấy lòng mình chùng xuống khi hình dung đến khuôn mặt xinh đẹp tươi tắn của Ngọc Lan, nàng đẹp và dễ thương quá, nàng ngây thơ thánh thiện quá.  Cuộc sống của Ngọc Lan đang xoay quanh một thần tượng, người đó chính là thầy dạy học cũ của nàng, chắc hẳn cuộc sống của nàng đang thăng hoa với bao hạnh phúc tràn đầy. Hãy để cho nàng được vui sống trong lâu đài ảo mộng như nàng công chúa ngủ trong rừng vừa thức giấc, nâng niu, trìu mến, tôn thờ thần tượng của mình. Thành tự nghĩ, vậy là mình cứ lờ đi, nhìn thấy nàng hồn nhiên hạnh phúc bao nhiêu với thần tượng của nàng thì mình lại càng mừng cho nàng bấy nhiêu. Thành bỗng cảm thấy ngạc nhiên với chính mình, sao tự dưng mình lại trở nên từ bi hỉ xả ác liệt đến như vậy.
    Nhưng cửa thiền đâu đã dễ dàng để cho chàng lách qua. Ngay ngày hôm sau, cơn đau lại nhói trở lại, không nhấp một giọt rượu nào nhưng Thành cảm thấy chếnh choáng như trong cơn say, thương nhớ lẫn vào tuyệt vọng nên đau đớn khôn cùng. Nàng có coi thường chàng hay không, khi mà trong tâm tưởng vẫn còn nghĩ đến người ấy, vẫn còn dõi theo bước đi của người ấy, mà rồi người ấy có nhớ đến nàng đâu, sao mà nàng vẫn cứ nặng lòng với người ta, thật là quái lạ! Tại sao nàng đem tình cảm chia sớt cho kẻ khác mà vẫn hồn nhiên kể lại cho chàng nghe, nghĩ nát óc cũng không sao lý giải được, không thể dùng công thức để đi tìm đáp số cho những rắc rối tơ lòng.
    Đứng trên đỉnh Mùa Đông ngóng về phương Nam, Thành ngắm nhìn những giải mây trời dắt tay nhau lặng lẽ trôi đi, ước gì Thành được hóa thân vào đám mây ấy, chàng sẽ gọi gió đưa chàng về thăm chốn cũ. Sài Gòn yêu dấu ngổn ngang biết bao kỷ niệm, có người con gái đẹp tuyệt trần mà chàng đã yêu đã nhớ đến lịm cả hồn.  Vài tháng nữa tiểu đoàn 8 Nhảy Dù sẽ về Sài Gòn nghỉ dưỡng quân, chỉnh bị đơn vị, Thành nhất quyết lần này sẽ phải hôn lên đôi má nàng một lần, để đem hương vị ngọt ngào ấy rắc lên cuộc đời cho thêm nỗi ngất ngây...
    -----
    Tháng 7 năm 1974, quận Thường Đức thuộc tỉnh Quảng Nam bỗng một sớm một chiều sôi thành chảo lửa khi địch quân tập trung về đây nhiều sư đoàn, tổ chức thành nhiều mũi tấn công dữ dội vào các lực lượng trú phòng. Địch hy vọng sẽ khống chế được chiến trường bằng hỏa lực rất mạnh của pháo tầm xa 130 ly, đồng thời địch cũng không muốn nhường vùng không gian cho đối phương khai thác thế mạnh về không quân nên đã thiết lập một hệ thống phòng không đan dày dặc như mắt cáo. Trước thế áp đảo quá mạnh mẽ của địch quân, hệ thống phòng thủ của quận Thường Đức lần lượt sụp đổ, quân trú phòng tan rã, rút chạy tán loạn trên đường lộ, dân chúng hoảng hốt cũng gồng gánh chạy theo. Địch rướn người chồm về phía quận Đại Lộc, một chút nữa thôi, phi trường Đà Nẵng sẽ nằm trong tầm pháo của địch, và sau đó thì...
    Nhưng địch sẽ không bao giờ thực hiện được cú rướn người này vì sư đoàn Nhảy Dù đã kịp thời nhập cuộc.  Lữ đoàn 1 Nhảy Dù đã chuyển quân cấp kỳ vào trận địa, chận đứng ngay cơn bão đang trên đà xô tới, tiếp theo đó là lữ đoàn 2 và lữ đoàn 3 Nhảy Dù nối gót vào vùng hành quân, hình thành thế trận công hãm ép địch phải lùi bước.
    Đoàn xe quân sự vận chuyển tiểu đoàn 8 Nhảy Dù đến được quận Hiếu Đức thì trời đã xế chiều, anh em nhanh chóng xuống xe, tạm thời tản rộng ra, án ngữ chờ lệnh. Các trung đội trưởng của đại đội 83 tập trung về bộ chỉ huy đại đội nhận lệnh hành quân. Bản đồ vùng Hiếu Đức, Đại Lộc, Thường Đức được phân phối cho các trung đội trưởng. Đại úy đại đội trưởng Phan văn Hiệu trải tấm bản đồ ra trước mặt, đánh dấu cốt tọa độ lên tấm bản đồ bằng một dấu thập đỏ đậm nét, các trung đội trưởng ghi lại cốt tọa độ lên bản đồ của mình.  Sau đó từng trung đội trưởng đánh dấu vị trí đóng quân của trung đội mình bằng những chấm màu đen theo sự hướng dẫn của đại úy đại đội trưởng. Thiếu úy Lê mậu Sức, thiếu úy Hoàng vănTiến, thiếu úy Nghiêm sĩ Thành lần lượt báo cáo quân số, tình hình vũ khí đạn dược của từng trung đội. Riêng trung úy Hoàng đắc Hùng sẽ chăm sóc 2 trung đội của thiếu úy Hoàng văn Tiến và thiếu úy Nghiêm sĩ Thành. Lẽ ra trung úy Hoàng đắc Hùng đã là đại đội phó mang súng ngắn, nhưng Nhảy Dù không có chức vụ đại đội phó.
    Thiếu úy Nghiêm sĩ Thành dẫn trung đội di chuyển về phía ngọn đồi nhỏ, quây tròn thành một tuyến phòng ngự, đặt 4 vọng gác ra 4 hướng quan sát cẩn mật, anh em vác cuốc ra đào hầm chiến đấu, súng và dây đạn đặt ngay bên cạnh phòng khi hữu sự, số anh em còn lại đi lượm củi, kiếm nước lo nấu bữa cơm chiều. Như thường lệ, thiếu úy Nghiêm sĩ Thành đích thân chỉ định vị trí cho 2 khẩu đại liên M60. Người lính Nhảy Dù lúc nào cũng đặt mình trong tư thế sẵn sàng tác chiến.
    Cơm nước xong mà không có điếu thuốc thì cuộc đời trở nên vô vị lạt lẽo, khó chịu trong người. Có điếu thuốc mà không được một ly café thì khác gì ngứa mà không cho gãi. Nghiêm sĩ Thành đưa ly café lên miệng làm một hớp nhỏ, vị café tan ra trên đầu lưỡi, một hơi thuốc Capstan kéo vào quyện lẫn với mùi café tạo nên một cảm giác sảng khoái tuyệt vời. Thành ngồi đó, trên một ngọn đồi thấp thoáng những lùm cây, ngẩng mặt nhìn vầng trăng vừa sáng tỏ, ngẫm nghĩ không biết giờ này Ngọc Lan đang làm gì, có nhớ đến Thành hay không, có nhớ đến những phút giây đầm ấm mà dường như vẫn còn đọng trên má trên môi. Vậy là Thành đã hôn được Ngọc Lan rồi đó, làn da Ngọc Lan trắng muốt mịn màng, hương thơm thoang thoảng từ mái tóc của nàng khiến Thành lâng lâng, vậy là đủ lắm rồi. Hạnh phúc là nơi mà người ta biết vừa đủ để ngừng lại, biết trân quí nâng niu những gì mình đang có. Hôn nhau xong, hai đứa cùng nhìn nhau cười, hai chiếc má lúm đồng tiền nho nhỏ trên khóe miệng nàng cũng đon đả cười theo. Nàng xinh đẹp dịu dàng như nụ hoa vừa chớm nở, Thành sung sướng ngắm nhìn người yêu, trong lòng rộn lên một nỗi thương yêu vô bờ bến.  Nhưng đau khổ thay, mãi mãi về sau này Thành sẽ không bao giờ quên được nỗi hụt hẫng, nhói đau bất ngờ vào 1 buổi chiều sau đó vài ngày. 2 đứa ngồi trong quán kem, ngoài trời mưa gió ngả nghiêng, Thành kể chuyện quân hành trong nỗi ướt át, lạnh lẽo. Ngọc Lan chăm chú nghe và rồi nàng tỏ vẻ ưu tư phiền muộn:
    - Anh hành quân ở ngoài ấy, nếu chịu khó hỏi thăm thế nào cũng có được tin tức của thầy.
    -----
    Buổi sáng sớm ngày hôm sau, tiểu đoàn 8 Nhảy Dù bắt đầu chuyển quân vào vùng lửa đạn. Đoàn quân xa chở đầy ắp lính Nhảy Dù, phun khói phóng nhanh trên liên tỉnh lộ số 4 hướng về quận Đại Lộc. Qua Ái Nghĩa, Cầu Chìm, anh em đã nghe thấy tiếng súng nổ, những loạt đạn đại bác gầm gừ đe dọa.Đoàn xe dừng bánh đổ quân xuống ven đường. Các đại đội lập tức di chuyển, đại đội 83 do đại úy Phan văn Hiệu chỉ huy vượt ngang về phía bên trái con đường, các trung đội được lệnh bung rộng đội hình, di chuyển về phía trước. Hướng trước mặt của đại đội 83 là dòng sông Vu Gia nước lừng lững trôi, phía bên kia sông sừng sững những ngọn núi rất cao, trên đó địch đã bố trí dày đặc và đang nhếch miệng cười, nhìn xuống giải đồng bằng hẹp, trông thấy rõ những cánh quân Nhảy Dù đang lặng lẽ nhập cuộc.
    Xế trưa ngày hôm sau, đại đội 83 được lệnh di chuyển sang bên kia con đường. Đại đội nhận lệnh chuẩn bị đánh dọc theo trục lộ bên tay phải, hướng về phía đồi 52. Thiếu úy Nghiêm sĩ Thành và thiếu úy Hoàng văn Tiến dẫn 2 trung đội mở đường tiến vào làng Hà Nha.  Cánh quân này được đặt dưới quyền điều động của trung úy Hoàng đắc Hùng.
    Trung đội tiến chậm trên cánh đồng trống, khi còn cách bìa làng khoảng 300 thước thì ngừng lại. Thiếu úy Nghiêm sĩ Thành bò lên phía trước, ẩn người sau một gò đất nhỏ, cẩn thận quan sát mục tiêu. Nhìn kỹ, thấp thoáng sau lũy tre có bóng người qua lại, tay cầm vũ khí, đầu đội nón cối. Nghiêm sĩ Thành bò trở về vị trí cũ, cho anh em đào hầm, canh gác cẩn mật. Màn đêm buông xuống, cảnh vật chìm dần trong bóng tối, anh em không ai ngủ được, ai cũng hồi hộp đợi chờ, trung đội đã nhận được lệnh tiến chiếm làng Hà Nha giữa khuya đêm nay.
    Thiếu úy Nghiêm sĩ Thành đích thân chỉ huy tiểu đội 1 tấn lên phía trước, 2 tiểu đội còn lại căng ra hai cánh nối bước liền theo sau. Tiểu đội tiên phong vừa đặt chân vào tới bìa làng thì bất ngờ tiếng súng của địch nổ vang dội, ánh lửa lóe lên từ nòng súng trong những căn hầm kiên cố, tầm bắn thật gần, lựu đạn tung ra như mưa. Thiếu úy Nghiêm sĩ Thành gào to như muốn át tiếng súng nổ:
    - Xung phong, xung phong!
    Nghiêm sĩ Thành lao nhanh người về phía trước. Vừa lúc đó, một loạt đạn AK đón bắn ngay vào giữa ngực Thành, Nghiêm sĩ Thành ngã ngửa về phía sau, ngực bể nát, Thành chết rất nhanh.
    Không gian như đóng sầm cửa lại, mọi âm thanh đột nhiên vụt ngưng bặt, trong nỗi im lặng thênh thang của cõi hư vô, có ai đó nhè nhẹ cất tiếng ngâm nga:
    Nhạn quá trường giang ảnh trầm hàn thủy.
    Nhạn bất di tích chi ý, thủy vô lưu ảnh chi tâm.
    ----
    Ghi chú của Bác sĩ Trần đức Tường*, y sĩ trưởng tiểu đoàn 3 Nhảy Dù:
    Bác sĩ Nghiêm sĩ Tuấn tử trận tại 5 Km phía tây Khe Sanh khoảng tháng 4 năm 1968 (giữa Khe Sanh và làng Vây, trên một ngọn đồi). TĐ6 ND, TĐ3 ND và TĐ8 ND hành quân với LĐ3 ND do Đại tá Nguyễn khoa Nam chỉ huy. Anh bị tử thương vì pháo kích (cối 61) trước khi địch xung phong. Rủi cho anh và TĐ QY bị thiệt hại mất một bác sĩ, nhưng trận đó VC thua để lại trên 50 xác.  Anh hy sinh khi đứng dưới hố cá nhân săn sóc vết thương cho mt thương binh nằm cáng trên miệng hố.  Anh chết liền (khoảng 6 giờ chiều) khi cuộn băng (bandage) còn cầm trên tay. Lúc đó tôi và TĐ3 ND cũng đụng trận cách đó khoảng 1 Km.
    Vài chi tiết đóng góp kẻo quên mất, trận đánh vào tây Khe Sanh do lữ đoàn 3 Nhảy Dù chỉ huy nhằm chận hậu cho TQLC Mỹ rút khỏi căn cứ Khe Sanh. LĐ3 ND đổ bộ bằng trực thăng từ phi trường Ái Tử, Quảng Trị và căn cứ Tà Lu, rồi từ Tà Lu được First Cavalry (không kỵ) đổ vào trận địa với hàng trăm trực thăng. Thứ tự đổ quân là TĐ6 ND rồi TĐ8 ND cộng BCH/LĐ3 ND vào thiết lập FSB (Firing support base),sau cùng là TĐ3 ND.
    Lúc ở Cà Lu tôi có gặp Nghiêm sĩ Tuấn, lúc anh sắp sửa lên trực thăng vào trận địa. Tôi có hỏi anh:
    - Nhiếp nó sẵn sàng thay toa rồi, sao không về?
    Tuấn nhỏ nhẹ trả lời:
    - Anh Lân cũng muốn mình bắt cái Đại úy, nhưng đó là chuyện nhỏ. Mình sống chết với tiểu đoàn, bỏ về trong trận lớn này không đành…
    Rồi trực thăng tới mang theo thương binh của đợt đầu!  Antenne Chirurgical của TĐ QY (hình như anh Thiều chỉ huy) take care. Vì thế Nghiêm sĩ Tuấn theo quân vào chiến địa.
    * Y sĩ thiếu tá Trần đức Tường, vị tiểu đoàn trưởng cuối cùng của tiểu đoàn quân y, sư đoàn Nhảy Dù.
    Vũ đình Hải  
    KBC 3119 




--
====================================================================
Trên Facebook :
http://www.facebook.com/DaiHocKhoaHocSaiGon
====================================================================
 
Bạn đã nhận được bài viết này vì bạn đã đăng ký vào Nhóm "KhoaHocSG" của Google Groups.
* Để đăng bài lên nhóm này, hãy gửi email đến "khoa...@googlegroups.com"
* Để RÚT TÊN ra khỏi nhóm này, gửi email đến "khoahocSG+...@googlegroups.com"
* Để có thêm tuỳ chọn (preference set up), hãy truy cập vào nhóm này tại: http://groups.google.com/group/khoahocSG?hl=vi
---
Bạn nhận được thư này vì bạn đã đăng ký vào nhóm Google Groups "KhoaHocSG".
Để hủy đăng ký khỏi nhóm này và ngừng nhận email từ nhóm, hãy gửi email đến khoahocsg+...@googlegroups.com.
Để xem cuộc thảo luận này, hãy truy cập vào https://groups.google.com/d/msgid/khoahocsg/SA9SPR01MB000294AFE6209C8922B9B711FC50A%40SA9SPR01MB0002.namprd02.prod.outlook.com.
Reply all
Reply to author
Forward
0 new messages