Fwd: ĐIỂM TIN DIỄN ĐÀN 05-02-2026 (SỐ 025-2026)

5 views
Skip to first unread message

Giu Tran

unread,
Feb 5, 2026, 4:01:09 PMFeb 5
to


---------- Forwarded message ---------
From: soan....@hotmail.com <soan....@hotmail.com>
Date: Thu, Feb 5, 2026 at 3:21 AM
Subject: ĐIỂM TIN DIỄN ĐÀN 05-02-2026 (SỐ 025-2026)
To:



GOOD MORNING VIET NAM - CANADA - USA

ĐIỂM TIN DIỄN ĐÀN 05-02-2026  (SỐ 025-2026)

Image insérée

Image insérée




MỤC LỤC

  1. Hề Mỹ nói tiếng Việt tuyệt vời
  2. Nếu không có Pháp đô hộ Việt Nam thì sao!
  3. Ngày 22-9-1975, lần đổi tiền đầu tiên sau 1975
  4. Tướng Cướp Núi Mây Tào
  5. Bảy Mươi Xưa Và Nay !
  6. NGƯỜI THỢ NHUỘM VÀ 14.000 MẠNG SỐNG
  7. KHÔNG QUÂN- HOÀI NIỆM
  8. Gã Ăn Trộm Tình 
  9. Quê Tôi Ngày Bé Thơ Lớn Lên
  10. Chuyện cậu bé James Harrison



Hề Mỹ nói tiếng Việt tuyệt vời

Nếu không có Pháp đô hộ Việt Nam thì sao!
*****
Tại sao thực dân Pháp chọn chữ Quốc Ngữ mà không chọn Tiếng Pháp đặng đồng hóa dân tộc Việt Nam chúng ta?✍��
●Nguyễn Gia Việt
1.Lịch sử đau thương lắm!
Thành Sài Gòn thất thủ ngày 17 tháng 2 năm 1859. Đại đồn Kỳ Hòa bị tấn công năm 1860-1861
Pháp bằng võ lực chiếm được tỉnh Gia Định năm 1862. Hòa ước Nhâm Tuất (1862), triều đình Huế nhượng 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ (Biên Hòa, Gia Định và Định Tường) cho thực dân Pháp làm thuộc địa
Quan Phan Thanh Giản trên 70 tuổi lụm cụm nghe lịnh vua đi Phú Lang Sa chuộc đất không thành công
"Từ ngày đi sứ đến Tây Kinh
Thấy việc Âu Châu phải giựt mình
Kêu rú đồng bang mau thức dậy
Hết lời năn nỉ chẳng ai tin"
A. Schreiner sau đó viết như sau:
“Những người An Nam đi thương thuyết họ đã quên một hệ quả cốt yếu của chiến tranh là kẻ chiến bại không được phép đòi hỏi lợi lộc.”
Năm Đinh Mão 1867 Pháp chiếm tiếp ba tỉnh Miền Tây Nam Kỳ là Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên
Pháp chiếm hết lục tỉnh Nam Kỳ năm 1867
Hòa Ước năm Giáp Tuất 1874 công nhận chủ quyền của Pháp trên toàn thể lãnh thổ Nam Kỳ. Nam Kỳ chánh thức trở thành thuộc địa của Pháp
Theo Hòa Uớc Nhâm Tuất 5/6/1862 và Hòa ước Giáp Tuất 15/3/1874 Pháp hoàn toàn kiểm soát lục tỉnh Nam Kỳ. Nam Kỳ trở thành thuộc địa của Pháp
Nước Pháp tốn chiến phí để đánh chiếm Nam Kỳ là 700 triệu quan vàng
Năm 1876 Pháp chia Nam Kỳ lục tỉnh ra 21 hạt tham biện (arrondissement)
Hòa ước Giáp Thân (Hòa ước Patenôtre) ký ngày 6/6/1884 xác lập chế độ bảo hộ của Pháp đối với Bắc Kỳ và Trung Kỳ
2.Vì sao chiến thắng mà người Pháp không lựa Tiếng Pháp làm ngôn ngữ chánh thức của Nam Kỳ và Việt Nam để rồi đã chọn chữ quốc ngữ.?
Các thuộc địa Pháp ở Châu Phi, Nam Úc đều xài Tiếng Pháp, duy nhứt người Việt Nam lại bị buộc xài chữ Quốc Ngữ là Tiếng Việt phiên âm chữ La Tinh
Vì sao?
-Thứ nhứt là:
Vì lịch sử chánh trị , văn hóa, tư tưởng giữa Việt Nam và Trung Hoa như mớ bùi nhùi, dai dẳng và lâu đời. Người Pháp và các cố đạo muốn cắt cái bụp cho rồi , không muốn Việt Nam còn dính gì Tàu nữa
Khoản 2 của Hòa ước Giáp Tuất 1874, có đoạn:
“Tổng thống Cộng hòa Pháp quốc thừa nhận quyền lực của vua nước An Nam và quyền độc lập hoàn toàn đối với bất kỳ một thế lực ngoại bang nào,…”
Cái ấn Tàu "ban cho" nhà Nguyễn mang dòng chữ Hán “Việt Nam quốc vương” bằng bạc mạ vàng, nặng 5,9 kg, tay nắm tạc hình con lạc đà ở tư thế ngồi bị người Pháp yêu cầu Huế nộp cho Pháp đặng xóa Tàu ra khỏi lịch sử chánh trị Việt
Theo sách “Chánh sách của Pháp ở Đông Dương”. Tác giả Silvestre viết lại cuộc nghị đàm này như sau:
"Patenôtre đòi triều đình Huế phải giao nộp cho Pháp chiếc ấn phong vương (để khỏi còn dấu vết ảnh hưởng Trung Quốc).
Đại thần Nguyễn Văn Tường và cả phái bộ Việt Nam cực lực phản đối. Giằng co mãi, cuối cùng đi đến thỏa thuận là sẽ nấu chảy để tiêu hủy chiếc ấn chứ không giữ lại và cũng không giao nộp
Thế là ngày 6/6/1884, tại Tòa Nhà Trú Sứ của Pháp ở bờ Nam sông Hương một chiếc lò nấu đồng được đặt bên chiếc bàn có văn bản hòa ước viết sẵn. Khi lò được châm lửa, Patenôtre vẫn còn nói nên ngưng việc thiêu hủy để giao chiếc ấn cho ông ta, nhưng ông ta vẫn chỉ nhận được cái lắc đầu dứt khoát của Nguyễn Văn Tường, và chiếc ấn được quăng vào lửa, phút chốc biến thành một thỏi xù xì không ra hình dạng gì nữa"
-Thứ nhì là:
Trong lịch sử Việt, tới khi Pháp xâm lăng mà dân tộc chúng ta còn loay hoay giữa chữ Hán và chữ Nôm
Việt Nam là một dân tộc kỳ khôi nhứt thế giới. Xưa Việt tộc có độc lập, có văn hiến, có lịch sử, có triều đình, có Hoàng Đế thinh thang, có đủ thứ hết nhưng lại không có chữ viết riêng, thành ra đành đoạn phải xài chữ Hán Việt
Hán Việt cũng kỳ khôi, mượn nguyên bộ Hán tự của người Tàu làm chữ viết nhưng phiên âm đọc ra kiểu Việt
Chữ Hán Việt trong vốn ngôn ngữ Việt khá nhiều, mà toàn âm Hán Việt. Tiếng Việt và người Việt hoàn toàn chế ngự lớp từ “Hán Việt” đó bắt nó phải phục tùng mình một cách hiệu quả
Thí dụ: Nói buồi và dương vật là trùng âm Hán Việt, nói "cái thòng lòng lửi thửi" hoặc "của quí" thì trùng ai?
Ngày xưa thơ văn, nhạc, cải lương của Nam Kỳ hay và dân thích vì nó có âm Hán Việt, các soạn giả xài rất nhiều. Ông nhạc sĩ Hoài Linh của bên nhạc vàng nổi tiếng xài Hán Việt trong nhạc, có bài nhạc của ông nghe rất hay, tưởng dễ thuộc nhưng lại rất khó thuộc, có ca sĩ hát tủ bài này mấy chục năm cứ lộn ca từ
Ví như bài “Về đâu mái tóc người thương” có đoạn:
“Đời lắm phong trần tay trắng tay
Trời đông ngại gió lùa vai gầy”
Câu này:
“Bên nhau sao tình xa vạn lý cách biệt mấy sơn khê”
Bài “Hai kỷ niệm một chuyến đi” có đoạn :
“Hôm nay bạn đi gót chân theo nhịp dạ hành
Tuổi đời vừa xanh như nụ hoa nở thêm cánh
Đã phân ly một lần tiễn anh thêm một lần
Áo đẹp màu chinh nhân “
Lấy ví dụ một cái nữa, hột đậu phộng để nói người Bắc rất lậm Tàu
Nam Kỳ kêu "đậu phộng", Bắc Kỳ kêu "củ lạc". Tàu viết "đậu phộng" là lạc hoa sinh (落花生)
Bắc Kỳ thì giữ âm đầu gọi là lạc còn Tàu thì giữ hai từ sau gọi là "hoa sinh", âm Bắc Kinh là huāshēng, âm Quảng Đông là phá xáng
Nam Kỳ kêu "đậu phụng" rồi trại qua "đậu phộng" vì hột nó như con mắt chim phụng
Tức là người Việt xưa viết (bút đàm) thì người Tàu hiểu, còn đọc Hán Việt thì người Tàu khỏi biết cái gì
Các ông quan Việt xưa đi sang Trung Hoa không thể nói trực tiếp với người Tàu được, họ phải thông qua bút đàm hoặc nhờ một người phiên dịch
Người Việt học Hán Việt như học ngoại ngữ vậy
Chúng ta có văn hiến ảnh hưởng của Trung Hoa, điều này cũng không có chi ngại ngần hay lên án. Là vì trên thế giới này các nền văn minh cũng không nhiều, Tây có Hy Lạp , Roma và các nước ảnh hưởng nó, Á có Trung Hoa và Ấn Độ và những nước bị ảnh hưởng
Nhưng vì tinh thần độc lập, ông bà xưa chế ra chữ Nôm
Ông bà ta mới làm ra chữ Nôm, chữ Nôm là chữ mượn chữ Hán để ghi âm tiếng Việt cổ, gọi là chữ “giả tá”
Chữ Nam hay chữ Nôm (字喃), còn gọi là Quốc Âm (國音). Chữ Nôm rắc rối hơn chữ Hán nữa
Muốn học chữ Nôm phải rành chữ Hán, thành ra học Nôm như học ngoại ngữ thứ hai
Vào thế kỷ XIX, Nguyễn Trường Tộ khi viết các bản điều trần ông lại nhắc tới chữ Nôm
Nguyễn Trường Tộ gọi thứ văn tự mà ông đề xuất là “Quốc Âm Hán tự” 國音漢字, nghĩa đen là “chữ Hán đọc theo Quốc Âm”
Nguyễn Trường viết:
"Nếu một người nói ra một câu, lại phải nhờ một người khác dịch ra, tức là một người nước khác rồi. Một nước Nam ta mà có hai thứ âm thoại, hai thứ văn tự, chẳng hóa ra một nước mà ngăn ra hai thứ người sao?
...Chữ mình học đã không phải chính âm của nước Tàu, mà cũng không phải là âm thoại của ta; khi học chữ phải dùng tâm trí để nhớ lấy các tiếng lạ, còn âm vận thì chỉ người có học biết lấy mà thôi, chứ người bất học nghe đến chẳng khác gì như nghe giọng quạ kêu, chim hót"
Nguyễn Trường Tộ ủng hộ cho chữ Nôm khi nói về sự thay đổi, ông muốn cải tiến chữ Nôm, nhưng cải tiến thế nào thì không có cách
Ngộ một điều là Nguyễn Trường Tộ là người Công Giáo, có quan hệ thân thiết với các giáo sĩ Tây Phương, nhà thờ, nhưng lại không đá động gì tới chữ Quốc Ngữ La Tinh mà giới giáo sĩ đang xử dụng
Ông đề nghị vua Tự Đức xài chữ Nôm chứ không đề nghị chữ Quốc Ngữ
Ông gián tiếp phản đối dùng chữ Quốc Ngữ, ủng hộ dùng chữ Hán – Nôm làm văn tự chánh thống
Có lẽ "tầm nhìn" của Nguyễn Trường Tộ không dám vượt qua khuôn khổ Nho gia, ông vẫn bị cái "Nho" kiểu Tàu giữ rịt chặt cứng trong suy nghĩ ?
Dân tộc Việt có cái xui là dù có tiếng nói rất đặc biệt nhưng tới khi đã có triều đình rồi mà vẫn chưa có chữ viết riêng, chữ Nôm không hoàn thiện
Hàn Quốc đã có bảng chữ cái, Nhựt Bổn cũng có chữ viết riêng dù không hoàn chỉnh. Có lẽ chữ tượng hình kiểu Trung Hoa không tài nào nhấn nhá thể hiện cách nói của người Việt
-Thứ ba là:
Chữ Quốc Ngữ của các cố đạo, của nhà thờ Ki Tô vào Việt Nam truyền đạo
Chữ Quốc Ngữ đã manh nha từ những năm đầu thế kỉ XVII khi các cố đạo Tây Dương vào Việt Nam truyền đạo và bị mớ rối nùi chữ Hán, chữ Nho làm bực mình. Vậy là chữ Quốc Ngữ manh nha hình thành
Các giáo sĩ Dòng Tên rất có công trong việc soạn thảo chữ Quốc Ngữ
Một thừa sai trẻ tuổi người Bồ là Francsisco de Pina đến giảng đạo ở Hội An năm 1623 đã học tiếng Việt, giảng đạo bằng tiếng Việt. Vị thừa sai này đã mở đầu cho thời viết Tiếng Việt bằng chữ cái Latin
Giáo sĩ Alexandre de Rhodes làm một cuốn tự điển Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum (Rome, 1651) đặt nền tảng cho chữ Quốc Ngữ
-Thứ tư là:
Vì sao người Pháp chọn quốc ngữ?
Rốt cuộc thì không phải là các giáo sĩ Tây phương đã buộc người Việt dùng chữ Quốc Ngữ mà do chánh quyền thuộc địa Pháp đã xài chánh trị, cai trị mà ép dân tộc Việt xài chữ Quốc Ngữ
Ngày 17 tháng 10 năm 1887, Pháp lập Liên bang Đông Dương. Liên bang Đông Dương có 4 xứ, gồm thuộc địa Nam Kỳ (Cochinchine) và ba xứ bảo hộ là Bắc Kỳ (Tonkin), Trung Kỳ (Annam) và Cambodge
Việt Nam là một nước có nền văn hóa lâu đời, có triều đình cai trị. Có đủ thứ của một quốc gia. Người Pháp không thể coi tộc Việt như các bộ tộc Châu Phi hay các bộ lạc ngoài các đảo
Tức người Pháp trong mức độ nào đó phải có một sự dè chừng, tôn trọng dân tộc Việt
Cái ngữ âm của dân tộc Việt cũng khá rối rắm, nhưng các cố đạo đã tìm được cái chữ phù hợp với nó rồi
Và quan trọng là người Pháp dựa vào các cố đạo để trị an, định hình sự cai trị. Thành ra với chữ Quốc Ngữ đã có sẵn, các cố đạo đã tác động vào việc chữ Quốc Ngữ chánh thức được áp dụng đại trà
Sau 1862 Nam Kỳ thành thuộc địa của Pháp
Nghị định 82 ký ngày 6. 4. 1878 Thống đốc Nam Kỳ Lafont ký ra cái mốc hẹn trong bốn năm (tức năm 1882) thì toàn Nam Kỳ phải chuyển hẳn sang chữ Quốc Ngữ
“Kể từ mùng một Tháng Giêng năm 1882 tất cả văn kiện chánh thức, nghị định, quyết định, lịnh, án tòa, chỉ thị... sẽ viết, ký tên và công bố bằng chữ Quốc Ngữ; nhân viên nào không thể viết thơ từ bằng chữ Quốc ngữ sẽ không được bổ nhậm và thăng thưởng trong ngạch phủ, huyện và tổng...”
Tức là thủ tiêu chữ Hán và phải học chữ Quốc Ngữ
Chế độ khoa cử theo kiểu Nho bị bãi bỏ hoàn toàn ở Miền Đông Nam Kỳ sau khoa thi năm 1861 và ở Miền Tây Nam Kỳ sau khoa thi năm 1864
Người Pháp bắt cơ quan công quyền làng xã tổng, quận, tỉnh phải xài chữ Quốc Ngữ, khuyến khích các thầy đồ dạy thêm chữ Quốc Ngữ với mức thưởng 200 franc/năm
Các hương chức làng xã viết chữ Quốc Ngữ được giảm hoặc miễn thuế thân, thưởng tiền cho những làng nào viết được công văn bằng chữ Quốc Ngữ
Jean Baptiste Pétrus Trương Vĩnh Ký (1837-1898) là người có công khuyếch trương quốc ngữ ra đại chúng, ông đem nó qua văn chương
Năm 1886 in “Chuyện đời xưa”
Petrus Ký viết thế này:"Người ta dùng sách này mà học tiếng thì lấy làm có ích. Vì trong ấy cách nói chính là cách nói Annam ròng"
Tuy nhiên chữ Quốc Ngữ vẫn bị chống đối dữ dội, nhứt là giới tôn giáo, là bên Phật giáo và phe Nho gia
Pétrus Trương Vĩnh Ký là một trong ba nhà học giả nổi tiếng đi tiên phuông về chữ Quốc Ngữ Việt Nam mình
Đọc cuốn “Sài Gòn năm xưa” của học giả Vương Hồng Sển, ta sẽ thấy ông Sển khâm phục ba ông học giả xuất sắc này là Trương Vĩnh Ký, Trương Minh Ký và Huỳnh Tịnh Của
Vương Hồng Sển viết:
“Ba ông minh triết bảo thân, gần bùn chẳng nhuốm mùi bùn, không ham “đục nước béo cò” như ai, chỉ say đạo lý và học hỏi, sống đất Tào mà lòng giữ Hớn, thác không tiếng nhơ, thấy đó mà mừng thầm nước nhà những cơn ba đào sóng gió còn hiếm người xứng danh học trò cửa Khổng
Nghĩ cho tay dao tay súng làm nên sự nghiệp như những nhà kia, nhưng khi nhắm mắt, sự nghiệp hoen ố lụn bại, sao bằng một ngòi bút, một nghiên mực, sự nghiệp văn chương trường cửu của ba ông tiền bối này mới thật quý và thơm”
Trương Vĩnh Ký, Trương Minh Ký bị chống đối dữ dội
Nhân vật lịch sử Tôn Thọ Tường (1825 - 1877) là một điển hình. Cuộc bút chiến giữa phe Phan Văn Trị và Tôn Thọ Tường nổ ra với 24 bài thơ xướng họa ra đã góp vào nền văn học Nam Kỳ những bài thơ tuyệt phẩm thực chất đó là cuộc chiên giữa chữ Quốc Ngữ, giữa người ủng hộ Pháp xài chữ Quốc Ngữ và phe thủ cựu
Tôn Thọ Tường có tài, một mình ông bút chiến với phe thủ cựu ông Phan Văn Trị trong đó có cả ông Bùi Hữu Nghĩa, Huỳnh Mẫn Đạt
Phe cựu Phan Văn Trị:
"Anh hỡi Tôn Quyền anh có biết
Trai ngay thờ chúa, gái thờ chồng"
Phe mới Tôn Thọ Tường trả lời:
"Ai về nhắn với Châu Công Cẩn
Thà mất lòng anh đặng bụng chồng"
Học giả Vương Hồng Sển viết:"Hai ông Trương Vĩnh Ký và Tôn Thọ Tường mà có người đòi hạ bệ, thì mình là cái thá gì?"
Người Nam Kỳ lúc đầu cũng chống, nhà giàu không cho con cháu đi học chữ Quốc Ngữ , không cho ra trường học, họ ép và mướn trẻ chăn châu, ở đợ đi học thế con mình. Tuy nhiên chỉ vài năm sau thì hết vì họ hiểu rằng học chữ Quốc Ngữ là quyền lợi của chính họ
"Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ
Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu
Anh về học lấy chữ nho
Chín trăng em đợi, mười thu em chờ"
Chữ Quốc Ngữ còn bị chống đối, nếu áp Tiếng Pháp vô còn bị chống đối cỡ nào? Mà có nhiều tiếng nói chống đối ở phe thân Pháp nữa
Nhà văn hóa Đông Hồ viết:“Những người phản đối việc học quốc ngữ là định muốn lấy chữ Pháp thay vào làm quốc văn Nam Việt”
Ngày 26 tháng 11 âm lịch năm Mậu Ngọ tức ngày 28.12.1918 vua Khải Định chánh thức ra dụ bãi bỏ khoa cử Nho học và học Quốc Ngữ, vậy là năm 1919 là năm cuối mở khoa thi ở Huế
Thấy chữ Quốc Ngữ là thích hợp nên các nhà nho Duy Tân và Ðông Kinh Nghĩa Thục hiệp sức kêu gọi người dân tham gia học
Chữ Quốc Ngữ được người Pháp kêu là “chữ viết của tiếng An Nam bằng mẫu tự La tinh”, người Nam Kỳ bấy giờ kêu là “Quốc Âm chữ Lang sa”, hay “ tiếng An Nam chữ Lang sa”...
Petrus Ký không gọi chữ Quốc Ngữ, ông kêu là”Tiếng An Nam ròng”. Một số nhà nghiên cứu kêu là Việt Ngữ
Chúng ta đã có chữ viết, chữ quốc ngữ La Tinh tuy là "vay mượn" Tây , nhưng nó thể hiện đúng nhứt về cấu trúc cách nói, ngữ âm của dân tộc Việt, chỉ có 24 chữ ráp lại , thêm dấu là xong, thể hiện đúng hình và thanh của dân tộc Việt
Chữ quốc ngữ ghi được âm nhấn nhá của người Việt bằng những dấu như dấu nặng, dấu hỏi, dấu ngã, dấu ngang, dấu sắc, dấu huyền...
Chữ quốc ngữ Việt Nam đã hoàn chỉnh từ khi Pháp áp dụng hệ thống giáo dục tú tài 1 ,tú tài 2 toàn Nam Kỳ và sau đó tòan Việt Nam
Hầu như người Việt Nam nào cũng biết viết, biết đọc, đó là cái cơ bản nhứt của chữ quốc ngữ
Chúng ta có 24 chữ cái “a,bê,xê,đê….” đúng tiêu chuẩn La Tinh. Chữ viết Việt tộc cơ bản hoàn chỉnh, không cần đào bới, cải cách, cải tiến gì nữa
Ngày xưa muốn thông thạo chữ Hán thì phải thuộc lòng trung bình hơn 8000 ký tự tượng hình. Loại thông thái là thuộc hơn 91.251 chữ . Trong khi quốc ngữ chỉ có 24 chữ và ghép lại. Con nít VN học hết lớp 1 đọc báo rần rần
Dân tộc Việt vậy là đã hoàn chỉnh, Việt Ngữ-Quốc Ngữ đã hoàn chỉnh, không còn cần cái gì nữa
Gia Định báo ấn bản đầu tiên vào ngày 15/4/1865 tại Sài Gòn là tờ báo đầu tiên của VN. Trương Vĩnh Ký làm tổng tài, tờ báo có thêm mục biên khảo, thơ văn, lịch sử…
Gia Định báo góp phần cổ võ việc học chữ Quốc Ngữ, bày ra các loại văn xuôi
Những trường trung học ở Nam Kỳ dạy chữ Quốc Ngữ đồng loạt
Dân Nam Kỳ đậu bằng Thành Chung (Diplôme) nhiều vô kể, xứ sở của những ông Đốc Phủ Sứ, của những ông bác sĩ, bác vật, kỹ sư Pháp về
Người Nam Kỳ làm chánh trị, có quân đội riêng đối đầu với VM vào những năm 1945, rồi làm nền tạo ra Việt Nam Cộng Hòa
Các bạn biết là, những người Tây học thời đó nói tiếng Pháp sành sỏi, nhưng trình độ Nho học của họ cũng rất đáng nể. Họ xử sự “nhơn lễ nghĩa trí tín”, sống có tư cách, thẳng thuốm
Kết luận:
Người Pháp chọn vì quốc ngữ có sẵn, nó tiện lợi vì dựa vào âm tiết của dân tộc Việt, vì các cố đạo đã có sẵn trường lớp, cũng là cách mới nhưng dựa vào âm tiết của chính dân tộc Việt
Lịch sử VN ghi rằng thực dân Pháp chiếm Việt Nam là bốc lột và khai thác thuộc địa. Điều này hoàn toàn đúng
Tuy nhiên để “khai thác” thì họ phải “khai hóa” trước đã, khai hóa văn minh để khai thác kinh tế
Người Pháp phải đầu tư từ giáo dục tới văn hóa, cơ sở hạ tầng, xây dựng thành phố, đường xá, đường xe lửa, bến cảng, xẻ kinh ngang dọc để khai hoang đất, xổ phèn và thoát lũ…
Trong vòng 80 năm Pháp đổ tiền, đổ công sức không biết bao nhiêu để có được một Nam Kỳ văn minh sau này
Tới năm 1936 người Pháp đã đào 1360 km kinh chính, 2500 km kinh phụ với kinh phí lên đến 58 triệu quan ở lục tỉnh làm ruộng đất sanh sôi ra, sản lượng lúa vượt bậc để xuất khẩu ra toàn thế giới
Là một người Nam Kỳ chánh gốc , có tham gia vô bộ máy của Pháp, ông Hồ Biểu Chánh viết trong những dòng đầu cuốn tiểu thuyết ‘Tơ hồng vương vần” về chuyện Pháp-Việt, có thể nói ông thân Pháp, song về lý lẽ mà luận thì nói không hề sai
Xin chép ra như sau:
(Trích)
“ Mới chiếm trị đất Nam Việt, nước Pháp phải bận lo nhiều nỗi
- Lo chia 6 tỉnh cũ ra làm 20 hạt mới, rồi đặt quan Tham biện ở mỗi hạt đặng sắp đặt cơ quan hành chánh cho phù hạp với cách cai trị mới mà không đụng chạm đến phong hoá cổ truyền
- Lo xây dựng an ninh cho nhơn dân được lạc nghiệp an cư, từ thành thị vô tới đồng bái
- Lo tổ chức đường giao thông cho tiện bề mậu dịch.
Tuy phải gấp rút xây nền hành chánh, người Pháp cũng không bỏ dẹp vấn đề thâu phục nhơn tâm.
Những người sống trong nấy năm cuối cùng của thế kỷ 19, là khoảng từ năm 1895 tới năm 1900, ai cũng nhận Pháp mới chiếm trị Nam Việt có 30 năm mà đã khởi công xây dựng một nền văn hoá mới để hướng dẫn tâm hồn Việt Nam quay về phía Âu Tây.
Mới lúc ấy mà đã:
a) Có mấy người Việt thông minh được chọn lựa đem qua Pháp mà giáo hoá. Ấy là các cụ Diệp văn Cường, Trương Minh Ký, Bùi quang Nhơn, Bùi quang Chiêu, Nguyễn trọng Quảng.
b) Cho xuất bản Gia Định Báo với Thông Loại khóa trình, lại còn cho in nhiều loại sách để phổ thông chữ quốc ngữ, do các cụ Trương Vĩnh Ký, Trương Minh Ký và Huỳnh Tịnh Của chăm nom.
c) Mở trường Thông Ngôn (Collège des Interprètes) để cho những cụ đi học bên Pháp trở về hiệp với mấy cụ nho học uyên thâm dạy các quan Tham Biện, các nhân viên hành chánh và các sĩ quan trong Hải Quân và Lục Quân học tiếng Việt, mà cũng dạy luôn sử ký cùng phong hoá của người Việt nữa.
Mà điều cần yếu của người Pháp trong lúc ấy là phải có nhiều người bổn thổ phụ sự trong chức vụ thông ngôn, ký lục, để giúp các ngành hành chánh cùng công thương. Muốn cho được thỏa mãn nhu cầu khẩn cấp này, người ta phải lo lập liền:
a) Một trường sư phạm trung đẳng tại Sài gòn để đào tạo giáo viên đay các trường sơ đẳng ở mấy hạt.
b) Một trường trung học phổ thông, phân làm hai chặng, bắt đầu học tại Mỹ Tho hai năm rồi lên Sài gòn học tiếp hai năm nữa mới được bổ dụng làm thông ngôn, ký lục. Học sinh hai trường này đều được hưởng học bổng, nghĩa là được nhà trường nuôi ăn, ngủ và phát quần áo, giày nón, khỏi trả tiền chi hết.
c) Lần lượt mở trường sơ đẳng Pháp Việt tại châu thành các hạt để cung cấp cho trrường Trung học Mỹ Tho.
Nhà trường Pháp thì sốt sắng xây nền giáo dục mới, nhưng nhơn dân Nam Việt coi bộ hẫng hờ, chưa quyết yểm cựu nghinh tân.
Vì dân trí còn lơ lửng như vậy, nên những trường tân học mở ra không được dân chúng hoan nghinh cho lắm, thành thử nhà nước tốn công tốn của rất nhiều, mà mỗi năm trường sư phạm chỉ đào tạo chừng 30 giáo viên, còn trường Trung học Chasseloup-Laubat đào tạo lối 50 thông ngôn, ký lục.
Không phải người Việt Nam không ham học nên trường tân học lập ra không được thạnh phát. Không phải vậy.
Người Việt ham học lắm chớ. Họ hẫng hờ với tân học nhưng họ vẫn hăng hái với nho học luôn luôn. Ấy là họ thỏa thích món ăn tinh thần cũ của họ xưa nay, họ say mến, họ quí trọng, họ không đành bỏ mà dùng món ăn tinh thần khác, chưa chắc cái khác đó mà ngon ngọt béo bùi hơn cái của họ đã có sẵn” (Hết trích)
Dầu là chữ Quốc Ngữ được dạy ở Miền Nam song trường học cũng dạy Tiếng Pháp song hành. Rồi khi du học sẽ có một lớp người Việt nói Tiếng Pháp rất giỏi
Văn hóa Pháp ảnh hưởng ở Miền Nam rất nhiều. Thí dụ nước phông tên (fontaine),Líp ba ga (libre bagage), ôm vô lăng (volant),lơ xe (contrôleur), sà bông (Savon)...
Nam Kỳ có khăn mu soa (mouchoir), mặc xoa rê (soirée), đứng trên ban công (balcon), ăn bánh mì ba ghét( baguette), nhét giăm bông (jambon) ,xúc xích (saucisse), patê (paté) rồi uống la de ( la bière ) và bia ( bière).
Hình: Lễ khánh thành tượng học giả Trương Vĩnh Ký ở một góc công viên trên đường Norodom . Tượng do ông Trần Chánh Chiếu quyên góp khắp Nam Kỳ lục tỉnh để đúc
Bức tượng tôn vinh Petrus Ký tại Sài Gòn ngày 19 tháng 12 năm 1927
Trong “Trương Vĩnh Ký hành trạng” ông Đặng Thúc Liêng (1867-1945) kể lại rằng:
“Năm 1908, Nam Kỳ sĩ phu đồng đứng xin chánh phủ chuẩn cho dựng hình Vĩnh Ký để làm kỷ niệm, chánh phủ phê y. Lúc ấy tôi đương chấp bút Nông Cổ và Lục Tỉnh Tân Văn, có ít lời vận động quyên ngân, chẳng mấy ngày mà công chúng hỉ cúng rất nhiều”
Tức là vụ dựng tượng Petrus Ký là của dân Nam Kỳ đóng góp tiền trong 19 năm trời
Bức tượng đồng Petrus Ký đặt trong công viên nằm trên đường Boulevard Norodom (Đại Lộ Thống Nhứt) trước Dinh Độc Lập gần nhà thờ Đức Bà Sài Gòn, nhìn đẹp, có ý nghĩa
Sau 1975 mấy người "đồng bào","anh em" hạ bệ tượng vì kết án đó là của thực dân Pháp.

●Nguyễn Gia Việt
Ngày 22-9-1975, lần đổi tiền đầu tiên sau 1975

  • Sau 1975, đồng tiền của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam (tiền chánh quyền Sài Gòn trước 1975) vẫn được lưu hành trong chế độ mới Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Đô thành Sài Gòn sáp nhập tỉnh Gia Định, mang tên thành phố Sài Gòn – Gia Định.

    Kế hoạch đổi tiền rất bí mật. Nhân sự được huy động tham gia đổi tiền hầu hết được triệu tập từ trước, đưa về tập trung ở trụ sở các cơ quan, ban ngành. Đến trưa 21-9-1975, tất cả bị yêu cầu “nội bất xuất, ngoại bất nhập”. Thế nhưng, từ nhiều nguồn, thông tin đổi tiền đã ít nhiều lộ ra. Chiều tối 21-9, hàng hóa khắp nơi tăng vọt. Nhiều gia đình khá giả, có chút “của ăn của để” đã đổ tiền ra mua hàng hóa, giá nào cũng mua.

    Vàng ngay sau 1975, giá khoảng 50.000đ/lượng vọt lên 100.000 đồng/lượng. Trung tâm Ông Tạ lúc ấy và ngay cả hiện nay, có thể coi như một khu vực nhiều tiệm vàng nhất Sài Gòn – Gia Định. Từ nhà tôi đến ngã ba Ông Tạ khoảng nửa cây số lúc ấy có khoảng 30 tiệm vàng, từ trưa 21-9, hầu hết đóng cửa ngưng bán.

    Tôi lấy xe đạp chạy tới nhà một thằng bạn, nhà bán vàng. Cửa đóng kín. Tôi gõ cửa, gào tên nó. Nó chạy ra, hé cửa nhỏ: “Về nhà đi, kêu bố mẹ mày đừng bán hàng nữa (nhà tôi lúc ấy có tiệm buôn cũng khá lớn), sắp đổi tiền đó”.

    Tôi chạy xe về nhà, nói mẹ tôi. Mẹ tôi nói gì với ba. Thế là tiệm nhà tôi cũng đóng cửa như nhiều cửa tiệm đóng kín mít trước đó rồi. Đường Thoại Ngọc Hầu (nay là đường Phạm Văn Hai) trục đường chính vùng Ông Tạ vốn sầm uất bỗng vắng hoe. Đôi nhà mở cửa ra xì xào gì đó với nhau rồi đóng cửa tiếp.Con cái bị lùa vào nhà.

    Chiều 21 tới rạng sáng 22-9-1975, không rõ nơi khác ra sao chứ vùng Ông Tạ của tôi rất lạ, khiến tôi lúc ấy 13 tuổi nhưng nhớ mãi tới giờ: không khí căng như dây đờn. Căng thẳng gia tăng khi ba tôi mở tivi, bật radio, nghe một thông tin lặp đi lặp lại mấy lần, đại ý: Tất cả dân chúng phải về nhà trước 23 giờ tối 21-9, ai về nhà nấy để đợi thông báo quan trọng.

    Thông tin quan trọng ấy mãi 2 giờ sáng ngày 22-9, sóng phát thanh chính thức loan báo về quyết định đổi tiền và kéo dài thời gian giới nghiêm đến 11 giờ trưa 22-9. Thời gian đổi tiền sẽ bắt đầu từ 11 giờ trưa tới 23 giờ cùng ngày 22-9; tức việc đổi tiền chỉ thực hiện trong vòng 12 tiếng.

    Tôi ngủ với mẹ, giựt mình khi thấy ba tôi sang phòng mẹ tôi, gọi bà dậy, nói gì đó mà tôi đang mơ màng nghe không rõ, chỉ biết bà lồm cồm dậy, mở tủ gỗ trong phòng ra, lụi cụi làm gì đó.

    Sáng 22-9-1975, các báo đồng loạt đăng quyết định của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, do Chủ tịch Chính phủ Huỳnh Tấn Phát ký ngày 21-9-1975.
    Theo đó, “1 đồng Ngân hàng Việt Nam bằng 500 đồng chánh quyền Sài Gòn cũ”.

    Cụ thể hơn, “các hộ gia đình được đổi ngay trong ngày đổi tiền số tiền thực có của mình, tối đa là một trăm ngàn đồng (100.000 đồng tiền cũ)”;“những hộ độc thân, những người sống trong các hộ tập thể (bộ đội, công an, viên chức, công nhân sống tập thể...) mỗi người được đổi mười lăm ngàn đồng (15.000 đồng tiền cũ)”.

    “Ngoài số tiền được đổi ngay như trên, số tiền còn lại được quy đổi thành tiền mới, ghi vào sổ tiết kiệm tại Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, được tính lãi và người gửi có quyền rút lần ra để chi tiêu”.

    Các hộ kinh doanh được đổi thêm 100.000 đồng, khách vãng lai được đổi 20.000 đồng (tiền cũ)...

    Quyết định này cũng cảnh báo: “Không được phân tán tiền hoặc đổi cho người khác, nếu làm sai coi như phạm pháp và bị nghiêm trị theo luật pháp”.

    Thực tế đã có không ít vụ “phân tán tiền hoặc đổi cho người khác” bị bắt quả tang và “nghiêm trị”. Tuy nhiên, số nhiều hơn gấp bội là vô số vụ người ít tiền đổi tiền giùm người có tiền, chủ yếu quen biết, hàng xóm láng giềng với nhau, tin tưởng nhau. Thỏa thuận ngầm: Người đổi dùm được chia thường là 5-5 với người có tiền quá định mức tối đa, nhờ đổi.

    Cũng có trường hợp người có nhiều tiền đã phát tiền Sài Gòn cũ cho bà con nghèo xung quanh mình đổi. Một thằng bạn tôi chạy xe tới nói ông đông y sĩ Thủ tạ Trần Văn Bỉ (tức Ông Tạ) mang cả bao bố tiền ra sau phòng khám phát cho bà con.

    Tôi vội lò mò lấy xe đạp ra, tính chạy tới, hy vọng kiếm chác “chút đỉnh”. Ba tôi giữ xe tôi lại, hỏi giật giọng: “Đang nước sôi lửa bỏng thế này mà mày đi đâu?” Nghe tôi nói lý do, ông quát: 
    “Ở nhà. Nhà còn cả triệu đồng chưa đổi được, chở củi về rừng à?! Ở nhà viết kê khai cho tao”.

    Tôi tiu nghỉu, líu ríu dắt xe vô. Rồi theo ba ra chỗ đổi tiền, cặm cụi ghi vô tờ khai phát cho mỗi nhà.

    Sau 1975, những tờ công khố phiếu (500.000 đồng/tờ, trị giá khoảng 10 lượng vàng/ tờ) ba tôi mua hồi tháng 10-1974, trở thành “giấy lộn”. Hàng chục triệu đồng ba tôi gởi mấy ngân hàng coi như mất sạch. Hôm đổi tiền, tiền mặt Sài Gòn cũ của nhà tôi còn 927.000 đồng. Được “du di” đổi ngay 227.000 đồng (tối đa theo quy định là 200.000 đồng). 700.000 đồng tiền Sài Gòn cũ còn lại buộc phải gởi vô ngân hàng.


    Công khố phiếu (giờ gọi là công trái) phát hành ngày 24-10-1974. Nguồn Internet
    Công khố phiếu (giờ gọi là công trái) phát hành ngày 24-10-1974. Nguồn: Internet

    Mỗi nhà lúc ấy sau đổi tiền đều có cao nhất là 200 đồng tiền mới, bằng một lượng vàng, hết ai giàu ai nghèo. Tất cả như nhau.
    Tiền mới sau đổi tiền lần đầu ghi năm 1968, phải chăng là dự định tung ra nếu cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968 của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam giành chiến thắng?

    Thoáng đã 50 năm, nửa thế kỷ (22-9-1975/2025). Ai đã sống qua, có lẽ sẽ không bao giờ quên những ngày ấy.


    Cù Mai Công



Tướng Cướp Núi Mây Tào


  • Image en ligne
    Nhà văn Tho Trường 

    Thăm nuôi năm thứ 10: trại Z30D Hàm Tân, dưới chân núi Mây Tào, Bình Tuy. Cuối năm 1985, mấy trăm người tù chính trị, trong đó có cánh nhà văn nhà báo, được chuyển từ trại Gia Trung về đây.
    Hồi mới chuyển về, lần thăm nuôi đầu, còn ở bên K1, đường sá dễ đi hơn. Cảnh trí quanh trại tù nặng phần trình diễn, thiết trí kiểu cung đình, có nhà lục giác, bát giác, hồ sen, giả sơn... Để có được cảnh trí này, hàng ngàn người tù đã phải ngâm mình dưới nước, chôn cây, đẽo đá suốt ngày đêm không nghỉ.
    Đổi vào K2, tấm màn hoa hòe được lật sang mặt trái: những dãy nhà tranh dột nát, xiêu vẹo. Chuyến xe chở người đi thăm nuôi rẽ vào 1 con đường ngoằn ngoèo, lầy lội, dừng lại ở 1 trạm kiểm soát phía ngoài, làm thủ tục giấy tờ. Xong, còn phải tự mang xách đồ đạc, theo đường mòn vào sâu giữa rừng, khoảng trên 2 cây số.
    Ở K2 trại tù Hàm Tân này, trong những lần thăm nuôi trước, tôi đã có dịp gặp lại một số bạn nhà văn gốc quân đội, từ các trại tập trung miền Bắc chuyển vào. Văn Quang, giám đốc Đài phát thanh Quân Đội trước 1975, tác giả tiểu thuyết được quay thành phim Chân Trời Tím nổi tiếng. Hoàng Ngọc Liên, nhà thơ quân đội. Thân hơn với chúng tôi là anh bạn Thảo Trường, cùng viết văn từ thời tạp chí Sáng Tạo những năm 50.
    Sau cả chục năm lưu đày, gặp lại bạn cũ trong tù, ngay lần thăm nuôi đầu ở K2, Từ khoe:
    - Có Thảo Trường ở đây. Gửi lời thăm em. Hai anh em ở cạnh nhau. Được lắm.
    - Anh ta thế nào? Có ai thăm nuôi không?
    - Khỏe. Hắn bị bắt ngay tháng Tư 1975. Vợ con bên Mỹ cả. Có mấy cô cháu lo thăm nuôi. Không đến nỗi nào.
    Bị bắt ngay tháng Tư 1975. Sao trong cuốn tiểu thuyết công an “Vụ Án Hồ Con Rùa”, sau đó cả năm, Trần Duy Hinh còn được phong chức tư lệnh kháng chiến quân trên rừng núi Tùng Nghĩa? Tôi tự hỏi rồi tự cười mình: Ngố. Có vậy mà cũng ngạc nhiên được. Tiểu thuyết công an mà.
    Trần Duy Hinh là tên thật của Thảo Trường. Anh là sỹ quan trong quân đội VNCH. Sau hiệp định Paris, có lúc là thành viên của Ủy ban Quân Sự Hai Bên, lo việc trao đổi tù binh, trước 1975, từng có dịp ra Hà Nội thăm nhà tù Hỏa Lò.
    Còn nhớ lần thăm nuôi ấy, khi ra về, cũng ngay khúc đường rừng này thôi, đang đi, bỗng có tiếng quát:
    - Chị kia. Đứng lại.
    Giật mình. Đúng kiểu vệ binh cộng sản.
    Từ sau khóm cây bên đường, có người nhô ra: tóc tai, râu ria, nón rộng vành, rựa dài đeo trên vai. Một người rừng chăng?
    - Muốn qua thì phải nạp tiền mãi lộ. Ta là tướng cướp chân núi Mây Tào đây!
    Rồi:
    - Nhã Ca phải không? Sợ chưa?
    Một nụ cười quen thuộc hiện ra. Chính là Thảo Trường. Phì cười:
    - Làm giống gì mà ra đây được? Tù tự giác à?
    - Hà hà... Ta đây, núi Mây Tào giang san một cõi. Giống tướng cướp chưa? Sợ hả?
    Chỉ là một anh khổ sai xách rựa đi rừng đốn tre. Biết tin có bạn tới, lén ra đón đường chờ gặp. Tù rạc cả chục năm mà đòi giống tướng cướp nỗi gì. Coi chừng. Bọn cán bộ mà thấy, cùm là cái chắc.
    - Khỏe không?
    - Khỏe re. Gặp Từ rồi chứ? Các bạn bên ngoài ra sao? Có hy vọng gì không?
    - Hy vọng chứ.
    Cả lô câu hỏi. Đáp ngay là hy vọng, kỳ thực chẳng biết là hy vọng chỗ nào. Chỉ cùng đi một đoạn đường ngắn. Chẳng nói thêm được gì. Có tiếng xôn xao phía trước. Vậy là “tướng cướp núi Mây Tào” phải biến vào rừng lại.... 
    Mới đó, đã hơn 1 năm rồi. Biết bao nhiêu chuyện....
    Lê được mấy túi đồ thăm nuôi qua đoạn đường mòn, mắt đã nổ đom đóm vì mệt. Nhà thăm gặp K2 lợp lá, trống trải, nền đất, có mấy dãy bàn và băng ghế dài. Lại chờ. Thêm một lần thủ tục nữa. Qua buổi trưa. Kẻng lao động. Từng đoàn tù rách rưới xuất trại. Kìa, toán tù được gặp thân nhân, ăn mặc lành lặn hơn, sắp hàng một, ra sau cùng.
    Phải thủ tục đầu tiên đã. Đem số thư từ con cái viết gửi lên cho bố, đặt lên bàn cán bộ. Thôi thì cũng phải như mọi người để được yên ổn trong 15 phút gặp gỡ, chuyện trò mà không bị làm khó dễ: dưới mớ thư từ, tờ báo Giải Phóng ôm gói thuốc lá 3 con số 5.
    Đoàn tù đã vào tới. Ngồi xuống. Nhìn. Cười. Coi kìa, bàn tay đặt lên bàn. Những vết chai cứng trên bàn tay khổ sai.
    - Bình tĩnh. Cho anh biết tin con ra sao.
    - Yên rồi. Con đã gửi thư về.
    Một hơi thở ra. Hơi thở đã bị nén lại, bị nuốt xuống. 
    10 năm thăm nuôi, cảnh này đã tái diễn mấy lần. Đánh tư sản,mẹ con tan tác, biệt tích 1 năm.Lũ nhỏ vượt biên lần thứ 7 bất thành. Sớm Mai đi khổ sai ở Đồng Phú 18 tháng. Mới đây thằng con trai vượt biên lần thứ 10. Đường bộ. 6 tháng kẹt cứng trên đất Miên. Gần nửa năm, chỉ có mấy đứa con thay nhau thăm nuôi bố. Tôi biết mình không thể ngồi thẳng được trước mặt anh ấy, cũng chẳng thể trả lời được thành tiếng. Đành phải lánh mặt. Hơi thở bị nén xuống suốt bao nhiêu năm tháng, mãi bây giờ mới bật ra được, như một cơn gió mát.
    - Thư con ra sao?
    - Thư gửi từ Thụy Điển.
    - Tội nghiệp em.
    Lại nhìn nhau. Anh ấy hiểu mà. Tôi đã làm gì suốt mấy tháng qua? Ngày đi từ nhà ở ra chợ, rồi từ chợ trở ngược về nhà, đi không để làm gì hết. Đêm, cùng quẫn một mình với những điếu thuốc cháy đỏ. Thằng con đi đường bộ, sang Campuchia, luồn lách tìm đường sang biên giới Thái. Con đường biên giới gài kín mìn chông, chưa kể những trận đụng độ giữa bộ đội Việt cộng với lính Miên, lính Thái. Nhận thư con, chỉ còn sức bò lê dưới nền nhà.
    - Con nó thoát qua biên giới bằng cách lẫn vào một đàn trâu... Nó bị rơi vào kháng chiến quân Campuchia. Bị bắt giữ. Một sĩ quan Thái đã cứu nó, đưa vào trại tỵ nạn. Người bạn của chúng ta đã kịp thời báo cho sứ quán Thụy Điển ở Thái Lan. Chỉ trong vòng chưa đầy 2 tháng, con được đưa thẳng sang Thụy Điển. Nó đã gặp ông Thomas và Marianne của Pen. Có thư của con và thiệp của ông Thomas gửi bố.
    Trên bàn cán bộ, gói thuốc đã khui, một tên đang đứng phía ngoài cửa phì phèo. Cán bộ còn lại chăm chú kiểm duyệt thư. Tiếng rì rầm, chuyện trò rôm rả xunh quanh. Tấm bưu ảnh của thằng con gửi về được đặt vội lên bàn.
    “Thưa Ba Mẹ,
    Con đang ngồi ở bàn viết của ông Thomas tại Stockholm. Cả ông lẫn bà đang đứng đằng sau lưng con để gửi lời thăm Ba Mẹ. Ông Thomas, bà Marianne đã dẫn con đi thăm thành phố. Ông Thomas bảo con nhắc ba giữ sức khỏe. Tất cả đều đang hết lòng lo cho Ba và các bác, các chú bên nhà. Ông bà Thomas cùng ký tên với con, nói là mong sớm gặp Ba Mẹ.”
    - Có chữ ký của ông bà Thomas, anh thấy không?
    - Anh thấy.
    Thomas Von Vegesack, nhà văn Thụy Điển, nguyên chủ tịch Văn Bút Thế Giới, hiện là Chủ Tịch Ủy Ban Quốc Tế Các Nhà Văn Bị Cầm Tù. Marianne Eyre là Tổng Thư Ký Văn Bút Thụy Điển.
    Tấm bưu ảnh được lật lại: mặt hồ và cảnh rừng tĩnh lặng, phong cảnh đất nước Thụy Điển thanh bình. Những tấm lòng rộng mở. Anh ấy cười. Nụ cười lạ, làm lấp lánh giọt nước mắt trên khuôn mặt đen đủi. Gần 30 năm biết nhau, đây là lần đầu tiên anh để tôi nhìn thấy nước mắt.
    - Tin tức về các bạn thế nào?
    - Anh Ba Tiệp, cô Chín, bà Simpson... vẫn liên lạc đều. Thủ tướng Olof Palme, người bảo lãnh cho gia đình mình có giấy nhập cảnh vừa bị ám sát chết. Em có gửi được thư phân ưu cho ông Thủ Tướng mới. Tom Hansson, nhà báo Thụy Điển hiện đang có mặt ở Sài Gòn,có cho biết ngoại trưởng Thụy Điển sắp tới Hà Nội.
    - Đã tìm được cách nạp hồ sơ chưa?
    - Không có cách nào hết. Giấy nhập cảnh Thụy Điển đóng con dấu vương miện hoàng gia màu tím. Mang nạp, bọn chúng bảo giấy gì mà con dấu giống cái chùa, không phải giấy thật.
    - Tom có hẹn gặp lại không?
    - Có hẹn sẽ trở lại ngày mai. Tom muốn biết tin tức về anh.
    Tom Hansson là nhà báo nổi tiếng của Thụy Điển thường lui tới Việt Nam. Từ mấy năm trước, do bạn bè trong PEN và Amnesty gửi gấm, Tom tới thăm tận nhà, thu thập những chi tiết về các nhà tù Việt Nam. Từ có biết chuyện này.
    - Tiếng Anh của Sớm Mai khá chưa?
    - Khá, có thể đủ để nói được mọi chuyện.
    - Con đã thoát. Mớ chỉ rối của chúng ta vậy là đã gỡ được nút đầu tiên. Không có gì phải lo lắng, sợ hãi nữa. Tapi đi. Một sống hai chết. Cần xử sự xứng đáng với tấm lòng tốtđẹp bạn hữu đã dành cho con ở Stockholm. Đừng để nó phải xấu hổ. Hai mẹ con thu xếp gặp Tom. Nói cho hết những điều cần nói. Yêu cầu Tom ghi rõ tên họ, ngày tháng, cho làm lớn trên báo. Muốn tới đâu thì tới. Ý em thế nào?
    Còn thế nào nữa. Nhìn nhau. Gật đầu. Bây giờ mới hỏi thăm được các bạn:
    - Anh Hinh, anh Tế ra sao?
    - Yên cả. Không sao đâu. Hinh muốn có cuốn Qui Luật Của Muôn Đời, sách dịch của nhà văn Nga Đum Ba Giê. Em chịu khó kiếm cho anh ấy.
    Có tiếng hô lớn:
    - Thân nhân bắt đầu đăng ký gửi tiền cho trại viên.
    Giờ thăm gặp sắp hết. Ở bàn đầu, thân nhân thăm nuôi đã lục tục kéo lên bàn cán bộ làm thủ tục gửi tiền.
    - Lần thăm nuôi trước, lúc vào, nghe tin cán bộ trại giữ em lại làm việc?
    Chuyện từ mấy tháng trước. Giờ thăm nuôi bị rút ngắn. Vào một phòng nhỏ. Cán bộ trưởng trại đích thân gặp. Có trà nóng mời uống.
    - Chẳng có gì đâu. Đài BBC loan tin anh và anh Tế đang bị hành hạ trong trại tù. Họ bảo anh phải ở đội lao động nặng chỉ vì chưa tự giác, em phải động viên anh để anh an tâm cải tạo. Trưởng trại hỏi em có muốn anh là người sẽ trở về sau cùng không.
    - Em trả lời sao?
    - Em nói anh không phải là người trở về sau cùng. Người về sau cùng sẽ chính là cán bộ. Vì còn một người tù, cán bộ phải còn ở lại chăm coi tù.
    Lại ngó nhau, cười. Tấm bưu ảnh được bỏ lại vào bóp.
    - Em thay anh trả lời, cám ơn.
    - Em đã viết thư trả lời, cám ơn xong rồi.
    Trời mưa. Lắc rắc thôi, vậy mà con đường lội bộ trở ra đầy sình. Bên đường, ngang qua khu ruộng bắp èo uột, có một mái nhà tranh. Đây là nhà lô, chỗ cất xẻng cuốc của một đội khổ sai nào đó. Lần trước khi đi qua, thấy có đống lửa. Một đoàn tù đứng ngồi lổn ngổn trong nhà, ngoài sân, chắc đang giờ giải lao. Bây giờ, trong mưa, căn nhà trống trải tưởng như chỉ chờ thêm một cơn gió nhẹ nữa là xụm xuống.
    Không thấy tướng cướp núi Mây Tào xuất hiện.
    -------
    Trên đây là một trích đoạn “Hồi Ký Một Người Mất Ngày Tháng”.
    Năm 1988, Từ ra khỏi nhà tù, chúng tôi sang Thụy Điển. Trần Duy Hinh vẫn rừng lá, trong số 10 người tù cuối cùng, ở đủ 17 năm.
    Mấy tháng trước khi rời đất nước, một vài lần, trong lúc Từ đi thăm Tú Kếu, tôi đi thăm nuôi Thảo Trường ở trại Hàm Tân. Vẫn K2, vẫn con đường ngoằn ngoèo, vẫn những cây kè tàng lá bị cắt lên tận ngọn, lấp ló mấy cái lán tù lợp lá tả tơi, mãi chưa chịu sập.
    Chúng tôi sang tới Thụy Điển. Thảo Trường đưa lén cho cô cháu thăm nuôi gửi sang tận nơi mảnh giấy nhỏ bằng bàn tay, ghi nguệch ngoạc mấy chữ  thăm hỏi. Năm 1989, lại một mảnh thư báo tin đang bị bịnh tim, nằm bệnh xá trại tù Hàm Tân. Buồn. Chỉ muốn chết. Buồn muốn chết mới đúng. Bạn bè, nhà văn, nhà tù đã lần lượt chết, hoặc được thả ra. Đâu còn ai nữa.
    Đó là mấy tờ thư tôi còn giữ.
    Bệnh cũng không chết. Buồn cũng không chết. Mãi tới 1992 mới gặp lại ở Mỹ. Từ đó, không bao giờ Thảo Trường gọi tôi bằng tên Nhã nữa. “Anh ta”, Thảo Trường chỉ tôi, nói với Từ và chọc: “Cuối cùng anh ta vẫn phải chịu thua thằng cá sấu.” Đó là những cái tên chúng tôi gọi nhau trong tình thân. 
    Tôi có tới căn nhà ở Huntington Beach thăm chị Thảo Trường, nhìn thấy chị. Cao, gầy, mảnh mai như cây sậy mà đầy nghị lực. Không vậy sao có thể một mình đem bầy con đi Mỹ, nuôi nấng lớn khôn, còn chăm những thùng đồ về Việt Nam nuôi ông chồng 17 năm tù.
    - Bà ơi! Lúc đi tôi có đem theo một cọng rau húng nhũi. Bây giờ nó đầy một vườn sau kìa. Bà bứt một vài dây về trồng, nó còn giữ mùi đất cũ, thơm lắm. 
    Trong lúc hai ông ngồi riêng, chị kéo tôi ra vườn rau, bắt kể chuyện những lần đi thăm nuôi ông Từ, ông Hinh ở Hàm Tân.
    Chúng tôi vẫn gặp nhau. Cho tới những ngày cuối của Thảo Trường, 2 ông bạn vẫn bàn chuyện sách vở, chữ nghĩa. Một lần ThảoTrường bước vô tòa soạn Việt Báo.
    - Anh ta đâu rồi?
    - Tôi đây.
    - Anh ra ngoài gặp bà lão một chút.
    - Bà lão nào? 
    Tôi ra xe. Chị Thảo Trường tươi cười:
    - Bận coi đứa cháu ngoại, không vô thăm chị được.
    Một đứa nhỏ kháu khỉnh, nằm trong cái xe xách, buộc phía băng ghế sau, bên cạnh bà ngoại. Thì ra, khi lên chức ông bà, Thảo Trường gọi vợ là bà lão.
    Chị Thảo Trường đi trước. Không bao lâu, bạn tôi đi theo. Làm như sợ hụt nhau trong chuyến đò qua sông.
    Nghe tin bạn ra đi, Từ và Nguyễn Xuân Nghĩa chạy vội lại nhà. Từ kể, sau khi đến thăm bạn lần cuối:
    - Con cháu đông đủ. Trước khi vô phòng ngủ trưa, còn cười vui với bà chị vừa từ xa về thăm. Vậy mà đi luôn. In hệt đang ngủ ngon trên giường. Ôm hắn, thấy như còn hơi ấm, mặt mũi tỉnh queo...
    Vậy là ông lão, bà lão lại cùng một chuyến đò.
    Sông tỉnh hay sông mê vẫn có nhau như thường.
    Cầu chúc hai bạn tôi an lạc.
    Nhã Ca


Bảy Mươi Xưa Và Nay !

Ngày xưa bảy mươi lom hòm
Ngày nay bảy chục vẫn còn đang sung
Ngày xưa bảy mươi răng bung
Ngày nay bảy chục vẫn dùng gặm xương
Ngày xưa bảy mươi hết cương
Ngày nay bảy chục vẫn cương đều đều
Bảy mươi xưa sớm đến chiều
Chống gậy ngồi cột hiên lều đưổi ma
Bây giờ bảy mươi đi xa
Du lịch khắp chốn nước ta,nước ngoài
Bày mươi xưa gọi là già
Bây giờ bảy chục vẫn là thanh niên
Vào quán ăn nhậu triền miên
Các cháu gái nhỏ luân phiên chào mời
Mời anh mời chị ta xơi
Gà đồi, dê núi, tôm tươi mới về
Ăn xong vào quán rao kê
Ta ca vài chặp rồi về nghe anh
Cũng là bảy mươi xuân xanh
Ngày xưa chống gậy đi nhanh té liền
Bây giờ bảo hiểm đội lên
Cưỡi lên xe máy như tên bay vèo
Bảy mươi xưa mặc bèo nhèo
Bây giờ áo bỏ vô eo đóng thùng
Bảy mưa xưa mắt muốn mù
Bây giờ không kính lướt cùng trên phây
Các bà bảy mươi thời nay
Môi son, má phấn, lông mày rậm đen
Eo thon, ngực nở, tóc đen
Da căng, mũi lõ, mi trên xanh dài
Lả lướt sàn nhảy đại tài
Làm cho trai tráng nghiêng đài đứng coi
Chỉ là so sánh thế thôi
Mới biết bảy chục thế thời đổi thay
Cho nên U bảy mươi ơi
Sống vui, sống khoẻ là lời muốn trao
Hằng ngày thể dục, thể thao
Ăn, ngủ điều độ, đổi trao tâm tình
Làm cho  óc của chính mình
Luôn luôn động đậy đừng ì nghe chưa
Thế là ta sống vô tư
Đến chín chục tuổi khoẻ ru bạn mình...!!!
  • SƯU TẦM
     


NGƯỜI THỢ NHUỘM VÀ 14.000 MẠNG SỐNG
*
Anh mới 18 tuổi. Vũ khí của anh là một lọ axit. Và anh đã cứu sống 14.000 con người.
Paris, năm 1943.
Adolfo Kaminsky là một thợ nhuộm học việc làm tại một xưởng dệt khi phát xít Đức chiếm đóng Pháp. Anh học hóa học thông qua những tấm vải, hiểu cách các loại axit phản ứng với một số loại mực nhất định, dung môi nào hòa tan sắc tố nào, và cách thao túng màu sắc ở cấp độ phân tử.
Anh không hề biết rằng những kiến thức này rồi sẽ trở thành ranh giới giữa sự sống và cái chết cho hàng ngàn con người.
Khi lực lượng Gestapo bắt đầu hệ thống hóa việc nhận dạng, lập hồ sơ và trục xuất người Do Thái Pháp đến các trại tập trung, công cụ chủ yếu của chúng là bộ máy hành chính. Chứng minh thư. Thẻ khẩu phần ăn. Giấy phép đi lại. Mỗi tài liệu đều được đóng dấu và xác nhận. Và trên chứng minh thư của người Do Thái, một từ duy nhất được in bằng mực đậm: "JUIF" (Do Thái).
Từ duy nhất đó chính là một bản án tử hình.
Lực lượng Kháng chiến Pháp đã tìm đến Kaminsky và đưa ra một thử thách: Liệu anh có thể xóa bỏ mấy chữ đó mà không làm hư hỏng giấy tờ? Hầu hết những kẻ làm giấy tờ giả đều bó tay. Loại mực đó được thiết kế để không thể tẩy xóa. Bất kỳ nỗ lực nào nhằm xóa nó đi đều sẽ làm rách giấy khiến món đồ giả bị lộ ngay lập tức.
Kaminsky chăm chú quan sát các giấy tờ dưới ánh đèn. Sau đó, anh nhớ lại một ý tưởng từ xưởng nhuộm: dùng Axit Lactic. Nó có thể hòa tan loại mực xanh đặc biệt mà chính phủ Pháp sử dụng mà không phá hủy các sợi giấy bên dưới.
Ý tưởng đó đã thành công.
Nhưng xóa chữ mới chỉ là bắt đầu. Anh cần làm giả thông tin. Những cái tên mới. Ngày sinh mới. Danh tính mới. Mỗi tài liệu phải hoàn hảo đến mức tuyệt đối, bởi vì một sai sót nhỏ, một sự không nhất quán, hay một sắc độ mực hơi lệch màu đều đồng nghĩa với tra tấn và cái chết — không chỉ cho người cầm giấy tờ mà cho cả những người đã giúp đỡ họ.
Lực lượng Kháng chiến đã bố trí cho anh một phòng thí nghiệm bí mật trên một căn gác áp mái ở bờ trái sông Seine. Các yêu cầu gửi đến dồn dập. 50 giấy khai sinh cho trẻ em được bí mật đưa sang Thụy Sĩ. 200 thẻ khẩu phần cho các gia đình đang ẩn náu dưới hầm và trên gác xép. 300 giấy thông hành để trốn sang Tây Ban Nha.
Kaminsky làm việc dưới một bóng đèn mờ ảo. Hơi thuốc tẩy và axit bốc lên làm bỏng cổ họng và cay mắt cho đến khi nước mắt lăn dài trên mặt anh. Những ngón tay anh bị mực bám đen vĩnh viễn. Căn phòng nhỏ nồng nặc mùi dung môi.
Và rồi, anh bắt đầu làm một phép tính.
Anh tính toán rằng mỗi tài liệu làm giả mất khoảng hai phút. Điều đó có nghĩa là trong một giờ, anh có thể tạo ra 30 tài liệu. 30 cơ hội sống sót. Anh đã lập ra một phương trình tàn khốc luôn ám ảnh tâm trí mình: mỗi giờ ngủ đồng nghĩa với việc 30 người có thể phải chết. Mỗi phút nghỉ ngơi là một phút ai đó vẫn bị mắc kẹt, không nơi nương tựa, và mòn mỏi đợi chờ.
"Nếu tôi ngủ một giờ, 30 người sẽ chết," anh nói với các đồng đội trong lực lượng Kháng chiến.
Vì vậy, anh đã ngừng ngủ.
Trong một tuần kinh hoàng nọ, có tin báo một trại trẻ mồ côi đang nuôi dưỡng 300 trẻ em Do Thái sắp bị đột kích. Các em cần giấy tờ ngay lập tức, nếu không sẽ bị đưa lên tàu đến Auschwitz. Kaminsky tự nhốt mình trên gác mái và làm việc suốt hai ngày hai đêm không nghỉ. Anh làm giả giấy khai sinh cho đến khi mắt nhìn mờ đi và nhòe thành hai. Anh làm cho đến khi bàn tay bị chuột rút, không còn cảm giác ở đầu ngón tay, và phải xoa bóp chúng để có thể tiếp tục làm việc. Cuối cùng, anh lịm đi ngay tại bàn.
Một giờ sau, anh tỉnh dậy trong hoảng loạn, giận dữ với chính mình. Ba mươi người. Có lẽ anh đã giết chết 30 người chỉ vì lỡ ngủ. Anh không ăn uống gì và quay lại làm việc ngay lập tức.
Đám trẻ đã trốn thoát thành công.
Tháng này qua tháng khác, năm này qua năm khác, Kaminsky làm việc trong căn gác tối tăm đó. Phát xít Đức ngày càng tinh vi hơn trong việc bảo mật tài liệu. Anh cũng ngày càng tinh vi hơn trong các phương pháp làm giả. Nó trở thành một cuộc chiến thầm lặng được tiến hành bằng hóa học và sự chính xác, nơi chiến thắng được đo bằng bao sinh mạng vẫn tiếp diễn, những đứa trẻ được lớn lên, những gia đình được sống sót.
Khi quân Đồng minh giải phóng Paris vào tháng 8 năm 1944, Adolfo Kaminsky đã tạo ra những giấy tờ giả giúp cứu sống ước tính 14.000 người gồm đàn ông, phụ nữ và trẻ em khỏi các phòng hơi độc. Anh chưa bao giờ nhận một xu nào cho công việc của mình. Khi được đề nghị trả công, anh từ chối. Với anh, ý tưởng lấy tiền từ việc cứu người là một điều không thể chấp nhận được về mặt đạo đức.
Sau chiến tranh, Kaminsky trở thành một nhiếp ảnh gia. Anh sống một cuộc đời lặng lẽ, khiêm nhường và kín đáo. Anh không bao giờ kể về những gì mình đã làm. Với hàng xóm. Với đồng nghiệp. Trong nhiều thập kỷ — thậm chí với cả các con mình. Người anh hùng cứu sống hàng ngàn người chỉ đơn giản là hòa mình vào cuộc sống đời thường.
Mãi đến gần cuối đời, ông mới chia sẻ câu chuyện của mình. Và khi ông làm vậy, thế giới đã học được một điều không bao giờ nên quên: Rằng lòng dũng cảm không phải lúc nào cũng gắn liền với súng đạn, rằng chủ nghĩa anh hùng không phải lúc nào cũng mặc quân phục, và rằng một người được vũ trang bằng kiến thức, niềm tin và một sự từ chối ngủ nghỉ kiên định có thể đứng vững trước cả một đế chế bạo tàn. Và chiến thắng.
Adolfo Kaminsky qua đời năm 2023 ở tuổi 97. Nhưng 14.000 mạng sống ông cứu đã trở thành những gia đình, những cộng đồng và những thế hệ. Di sản của ông không được đo bằng tượng đài hay huy chương, mà bằng nhịp đập của những trái tim vẫn còn đang sống.
*
(HatGPT st & dịch)

Inline image


KHÔNG QUÂN- HOÀI NIỆM

  • Nỗi niềm tự sự của thằng em tuổi xế chiều nghĩ về các anh, những cánh bay hào hùng thân thương một thời bên nhau. 
    Các niên trưởng của tôi, một số đã không còn nữa, vừa hy sinh trong cuộc chiến “Không Quân ra đi không ai tìm xác rơi” mùa hè đỏ lửa, yểm trợ tái chiếm cổ thành Quãng Trị 1972 năm xưa, vừa tuổi già bệnh tật trong hiện tại. Tính đến hôm nay có hơn phân nửa đàn chim Việt không bị ná mà gảy cánh giữa chừng của phi đoàn phi Hồ 516, đã lần lượt yên nghỉ dưới lòng đất lạnh nơi xứ người... Thế nhưng, bao nụ cười hiền hòa đầy dũng khí, những dáng dấp hào hoa lịch lãm, thương mến!... Thật nồng ấm tình huynh đệ chi binh trong bộ đồ bay tác chiến “nomex” màu xanh oliu quen thuộc, màu đen ẩn mình khiêm nhượng hoặc màu cam sáng rực nổi bật dân khu trục chiến đấu, tất cả vẫn còn mãi đậm nét trong hồn tôi.
    Đã qua rồi đến cả nửa thế kỷ và thằng em trắng trẻo, nhu mì còn thơm mùi học trò của ngày nào nay cũng đã 73 xuân thì, vẫn còn nhớ như in trong đầu khung cảnh xưa, ngày đầu tiên về trình diện phi đoàn A 37 Phi Hổ tháng tư năm 1972, các anh đa số mặc đồ cam, râu ria thấy mà phát sợ, tôi gật đầu chào mà quên phứt mình cũng đang mang lon thiếu úy, chỉ khác là áo bay đem từ Mỹ về chưa có huy hiệu con cọp nhe hai răng nanh của phi đoàn. Các niên trưởng nhìn thẳng vào mặt thằng em đang e dè như con gái về nhà chồng, cười sảng khoái nói với phi đoàn trưởng Phạm Bình An:
    - Tướng tá thế này làm sao đánh đấm đây trời!
    Thật ra tuổi của các anh tất cả đều chưa qua 30, và tôi lúc bấy giờ cũng vừa tròn 22. Và rồi chỉ mấy tháng sau trong số các anh, người hy sinh trận chiến Quế Sơn mà thân xác góp nhặt mang về chưa đầy chiếc túi nylon, người mất tích không tìm được xác rơi, người rớt sông Long An, riêng thằng em cũng bị nhảy dù trong một phi vụ bay “text” vật vã giữa biển khơi, thoát chết trong đường tơ kẻ tóc (hồi ký Đấng Bề Trên).
    Các niên trưởng là đại úyTrịnh Đức Tự được truy thăng trung tá. Thật bi thương! Anh đã rời bỏ bầu trời thế gian khi người vợ mới cưới đang chuẩn bị trên đường ra Đà Nẵng xây tổ Uyên Ương, một căn nhà nhỏ xinh trong cư xá, mà cả phi đoàn xúm lại sau giờ bay, sửa sang quét dọn trang trí cho anh chị, nhưng cả hai chưa được sống với nhau dù chỉ một ngày.
    Đại úy Cao Minh Rạng nghiêng cánh A 37 chào tạm biệt người yêu và nào ngờ đó là phi vụ cuối cùng, anh vĩnh viễn nằm lại với dòng sông Long An trong một chuyến đi phép luân phiên, và trên đường từ Sài Gòn bay trở về lại Đà Nẵng thì ngộ nạn.
    Thiếu tá Nguyễn văn Thiện người Nam, đã có gia đình vợ con, hin lành còn hơn ông Phật sống, niên trưởng bị mất tích trong một phi vụ yễm trợ quân bạn, cho đến nay vẫn không tìm thấy tung tích.
    Thiếu tá Nguyễn Bửu Thọ, bối cảnh lịch sử đưa đẩy sau 75 di tản qua Mỹ trở thành anh cắt cỏ và chết do đột quỵ từ mấy mươi năm trước, anh ra đi trong nháy mắt không để lại một lời từ biệt. 
    Thiếu tá Trần văn Nghiêm sĩ quan hành quân, vị niên trưởng Huế “rặt” luôn vừa đánh bom vừa chửi thề (Đ.M chết chưa con... mỗi lần bom trúng mục tiêu) trong các phi vụ ym trợ tái chiếm cổ thành Quãng Trị mà tôi ngồi ghế phải để được huấn luyện trực tiếp ngoài chiến trường. Vị niên trưởng đồng hương vui nhộn khả kính này, tôi đang định đi thăm thì anh đã mất ở Houston, Texas cách đây 3 năm!....
    Niên trưởng cuối cùng mà tôi chơi thân như đôi bạn, mặc dù về sau này tôi đã chuyển qua F5, trung úy Nguyễn mạnh Dũng, thật ngưỡng mộ và quá đau đớn khi hay tin anh mất tích đúng vào trưa 30/4/1975. Sau khi hoàn tất phi vụ cuối cùng, dội bom yểm trợ mặt trận Xuân Lộc về đáp phi trường Trà Nóc, vừa hay tin tướng DVM đầu hàng, anh đã cất cánh tiếp với lượng xăng ít ỏi còn lại, anh đã bay về đâu...!? Bin cả mênh mông, hay núi rừng trùng điệp đã ôm ấp hình hài vị anh hùng bất khuất, đứa con yêu dấu của mẹ miền Nam, thà đi tìm cái chết chứ không chịu sống chung với cng sản!
    Sáng nay như mọi khi tôi thức giấc là nhìn ra khung cửa sổ, vùng núi đi Puyallup, bang Washington cận điểm Tây Bắc Hoa Kỳ, vào mùa đông bầu trời luôn  xám xịt giống hệt Đà Nẵng năm xưa...
    Chiều hôm qua lúc đã gần tối, tình cờ một giọng nói rất  yếu ớt đã gọi hỏi thăm, tôi phải kê sát tai mới nghe được, dù vậy vẫn nhận ra ngay là niên trưởng thiếu tá Nguyễn văn Bé, sĩ quan huấn luyện phi đoàn Phi Hồ năm xưa, anh nói chậm rãi, vài ba tiếng lại cười nhẹ “anh Bé đây, thăm Phiếu và gởi lời thăm tất cả anh em!” Tôi quá xúc động, lắng nghe từng lời anh rót vào tai. Đã nhiều năm nay tôi cố liên lạc nhưng không được, cháu Trung, con trai của anh cho biết, ba lúc này không bấm Phone được nữa và đây là Phone của con!
    Gn 20 năm về trước, niên trưởng bị đột quỵ, tôi đến thăm, niên trưởng chỉ còn là cái xác không hồn, gia đình đã bàn lui không ngờ anh vẫn sống như có phép lạ! Cháu Trung cho biết cách đây 4 năm niên trưởng lại phải bị mổ banh ngực làm một lúc 5 cái “by-pass” anh vẫn qua được chỉ hiện tại là quá yếu! Tôi an ủi cháu Trung, ba con đúng là phải có một nghị lực và sức khỏe phi thường hơn người!
    Tôi lại nhìn bầu trời xám xịt bên ngoài khung cửa sổ và hình dung một thiếu tá Bé đĩnh đạc vạm vỡ, giọng Nam sắc bén của ngày nào, anh dẫn tôi đi bay, 2 thầy trò cố tình lủi vô trong mây đen tập huấn điều khiển phi cơ trong điều kiện thời tiết xấu. Nhìn ra bên ngoài cảm giác thật bơ vơ lạc lõng, nhưng trong phòng lái chiếc Phản lực chiến đấu A 37 nhỏ nhắn, hai con người bên nhau vẫn rất gần gũi thân thiết tình chiến hữu huynh đệ chi binh, mãi cho đến bây giờ... đã là 2 ông già hom hem vẫn lúc nào cũng quyến luyến.... 
    Con cháu ngoại Eva mới ngủ dậy từ dưới nhà, chạy lên lầu tìm rồi sà vào lòng ông ngoại, mặt buồn xo miệng còn mếu như là biết đồng cảm với ông ngoại!....
    PHIEU LE

Gã Ăn Trộm Tình 
  • Nhà ông hội đồng Chữ ăn cái tết linh đình nhất từ xưa tới giờ. Lý do khiến cho ông hội đồng Chữ ăn tết lớn chính là sự hiện diện của ông quan tư Lầu, chủ quận Giồng Trôm. Làm hội đồng mấy năm nay rồi, tiếng tăm cũng có chút đỉnh song ông hội đồng Chữ vẫn chưa mãn nguyện. Làm hội đồng cũng có tiếng và có quyền lắm nhưng chưa bằng cai tổng, coi được năm ba ông hội đồng. Bởi vậy năm nay hội đồng Chữ mới bấm bụng bỏ tiền ra ăn tết lớn để mời quan tư chủ quận vào nhậu nhẹt. Quan tư mà chịu nhậu nhẹt thời sớm muộn gì ông ta cũng bắt được cái chức cai tổng. Tết, ngoài cái vụ ăn nhậu, chè chén linh đình còn phải có hai mục khác mới vui vẻ, xôm tụ và nổi đình đám là đánh võ đài và múa lân. Thuở bấy giờ, chính phủ Phú Lang Sa đã thiết lập nền đô hộ vững chắc lắm rồi nên cũng không còn cấm đoán chuyện dân chúng tập võ cũng như mở võ đài đánh võ nữa. Huống chi chuyện mở lôi đài lại do ông hội đồng và được sự chấp thuận của ông chủ quận thì có thằng nào dám théc méc. Để khoe sự sang giàu cũng như lấy điểm với sếp, hội đồng Chữ sai đầy tớ lên tận trên tỉnh mướn một đoàn múa lân giỏi nhất và nổi tiếng nhất để đúng ngày mồng một tết sẽ múa biểu diễn cho ngài quan tư và bần dân trong làng xem đã con mắt luôn. Đoàn múa lân này sẽ trổ tài để giật giải thưởng 100 đồng. Ở những năm 1920 xưa như trái đất đó thì 100 đồng có giá trị lớn lắm. Riêng về phần đánh võ đài thì giải nhất 50 đồng, giải nhì 30 đồng và giải ba 20 đồng. Ông hội đồng Chữ đã cho bố cáo trong toàn thể chục làng, năm tổng của quận Giồng Trôm nên người ta đoán sẽ có đông võ sĩ của toàn tỉnh Bến Tre tham dự. Những điều đó cộng thêm tiệc tùng sẽ khiến cho không khí trong ba ngày tết nơi nhà của hội đồng Chữ thêm phần sôi động và hấp dẫn.
    Chí Nhè ngồi nhâm nhi xị đế một mình trong quán hủ tiếu của chú ba Hương tại chợ Bến Tre. Gần tháng nay y hầu như bị thất nghiệp không làm ra xu teng nào hết. Mà y nào có phải hạng làm biếng đâu. Y rất siêng năng làm lụng nhưng thời buổi gạo châu củi quế này thiên hạ đâu có làm ra đồng nào đâu mà có dư tiền của để đưa cho y. Người ta bảo '' Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh ''. Làm nghề nào cũng vinh quang hết kể cả nghề ăn trộm. Rất ít người biết Chí Nhè là tay ăn trộm nổi tiếng ở Sài Gòn. Trong một vụ ăn trộm lớn đổ bể, y bị mật thám tây truy lùng ráo riết. Không đất dung thân và để tránh bị túm cổ y phải tạm thời chạy xuống Bến Tre lánh nạn. Vùng này dân cư ít lại thêm nghèo khổ nên cả tháng nay y chẳng làm ăn được vố nào hết. Tiền dành dụm xài gần cạn rồi. Trong vòng 1 tháng nữa nếu không chôm chĩa được ai thì kể như y phải xách bị đi ăn mày. Là tay trộm nổi danh, y đâu có chịu hạ mình đi ăn xin. Y có cái kiêu hãnh của riêng y. Ăn xin đâu có bảnh bằng ăn trộm mặc dù cả hai đều có chữ ăn đằng trước. Ăn xin thì phải hạ mình xin xỏ, lạy lục để người ta bố thí cho mình. Như thế hổng có bảnh. Trong khi ăn trộm thì mình hổng có xin mà lấy của người ta. Người ta hổng cho mà mình lấy mới bảnh, nhất là người ta hổng làm gì được mình. Bảnh là bảnh ở chỗ đó. Huống hồ gì Chí Nhè chuyên ăn trộm của nhà giàu. Như thế còn bảnh hơn nữa vì nhà giàu có đầy tớ, tá điền, nhà năm từng cửa cài then, bảy lớp khóa mà mình vào được rồi ung dung đi ra thì mới bảnh. Nội cái chuyện đường hoàng mở khóa đi vào nhà lấy cái gì mình muốn lấy rồi ung dung chuồn mà thiên hạ chẳng làm gì mình được như thế mới gọi là đại bảnh
    Đang ngồi lai rai Chí Nhè thấy hai thanh niên bước vào. Nhìn lướt qua bộ tịch y biết hai người này thuộc dân bản địa.
    - Anh làm ba chung thôi rồi đi nghen anh hai... Anh mà uống nhiều quá hư bột hư đường hết trơn hết trọi. Mình còn phải đi xa lắm. Từ đây mà lội xuống tới chợ quận Giồng Trôm cũng phải mất ngày đường rồi...
    Nghe thanh niên nhỏ tuổi nói, Chí Nhè đâm ra tò mò nên giả vờ vừa nhậu vừa ngó mong ra đường mà tai thì lắng nghe câu chuyện.
    - Tao nghe nói hội đồng Chữ giàu lắm hả mậy?
    - Hết biết luôn anh Hai... Ổng giàu từ đời ông nội, ông cố ông sơ ông sờ ông sẩm giàu ra. Đất vườn của ổng thì chó chạy le lưỡi ra cũng chưa giáp. Đất ruộng thì ngựa chạy què giò luôn. Tiền của ông đốt tui với anh cháy thành than...
    Nghe thanh niên nói một hơi thật dài, Chí Nhè khoái trá ngồi rung đùi, nhủ thầm không ngờ vận của mình chưa tới nỗi mạt. Giàu cỡ hội đồng Chữ nếu y vào được nhà thì tha hồ chôm chĩa tiền bạc, vòng vàng và nữ trang quí giá. Một đêm ăn trộm bằng ba năm làm mà lị. Ông bà mình nói đâu có sai trật.
    - Anh hai biết hông... chỉ cần anh với tôi lên múa may vài thế võ là mình cũng được ổng đãi ăn nhậu no nê ba bữa rồi. Nếu chó ngáp phải ruồi, mình đoạt giải nhất, nhì hoặc ba cũng có vài chục bạc xài chơi...
    Thanh niên được gọi là anh Hai nghe nói cười ha hả đoạn cất giọng ồm ồm.
    - Chú ba mày nói phải đó... Vậy mình ăn lẹ lẹ rồi đi... Tao uống vài chung cho đỡ ghiền thôi...
    Hai thanh niên ăn uống, trả tiền xong mới vội vàng lên đường. Chí Nhè còn ngồi lại ung dung nhậu. Chỉ cần nghe được câu chuyện thôi đủ rồi. Dù ở Sài Gòn song là tay ăn trộm nổi danh y tất phải mò ra đường để tới nhà hội đồng Chữ. Uống cạn xị đế, Chí Nhè trả tiền rồi trở về nhà trọ lấy gói đồ nghề xong theo đường cái đi Giồng Trôm. Vừa ra khỏi xóm nhà đông đúc dân cư, y cắm đầu chạy một mạch để bắt kịp hai thanh niên mà y đã gặp trong quán rượu. Làm ăn trộm không cần phải giỏi võ mà cần phải có cặp giò dài thước tám để lỡ bị bể mánh thì dọt cho lẹ. Lúc còn nhỏ y đã được ông già tía truyền thụ hết mánh khoé trong nghề ăn trộm, mà quan trọng nhất là chạy cho lẹ. Muốn chạy cho lẹ thì người ta phải biết cách làm cho thân hình của mình nhẹ bâng. Nói theo con nhà võ chính cống thì phải học thuật khinh thân đề khí. Trước thì học cách thức biến thân thể của mình nhẹ đi. Sau đó thì học cách bước nhanh, bước đều, bước xa và bước dai, bước hoài hổng mệt. Chí Nhè nổi tiếng là tay ăn trộm nhờ vào tài leo trèo và chạy nhảy của mình. Ngoài ra y còn có tánh kiên nhẫn, mưu mô và sáng dạ nữa.
    Chạy một đỗi, Chí Nhè thấy dạng hai người thấp thoáng đằng trước mặt mình không xa lắm. Mừng thầm y bước nhanh hơn nữa. Khi tới rạch Giẹt Sậy thì y bắt kịp hai người kia. Cả ba ngồi đò qua con rạch lớn.
    - Hai anh đi đâu vậy?
    Chí Nhè gợi chuyện. Thanh niên nhỏ thó và còn trẻ hơn mau mắn trả lời.
    - Tụi này đi Giồng Trôm...
    Chí Nhè cười mím chi.
    - Chắc hai anh đi coi đánh võ đài ở nhà ông hội đồng Chữ hả?
    Thanh niên cao lớn nhìn y chăm chú giây lát rồi mới gật đầu trả lời.
    - Tụi này đi đánh chứ hổng phải đi coi. Còn chú mày?
    Chí Nhè chưa kịp thốt, y mau mắn nói tiếp.
    - Ta coi tướng của chú mày chắc đi ăn chực chứ đánh võ gì...
    Dứt câu y cười hề hề. Không những không giận vì câu nói xỏ của thanh niên cao lớn mà Chí Nhè còn cười hắc hắc như thích thú.
    - Anh nói đúng đó... Tôi ở bên Mỹ Tho lận. Nghe thiên hạ đồn ông hội đồng Chữ ăn tết lớn có múa lân và đánh võ nên tôi cuốc bộ xuống coi cho biết. Tướng của tôi mà đánh võ gì. Có gì là tôi xách đít chạy trước... Nghề của tôi là nghề chạy chứ hổng phải đánh nhau...
    Hai thanh niên lạ cười sằng sặc vì câu nói giỡn của Chí Nhè. Họ xưng tên họ với nhau. Thanh niên cao lớn là Hai Nhịn, còn người kia tên Nhục. Đường xa nhưng vừa đi vừa nói chuyện nên đường thành ngắn.
    - Nói thật với hai anh... Tía má tôi nghèo quá... Tay làm hàm nhai mà nhiều khi hổng có cái gì để nhai... Nghe ông hội đồng Chữ ăn tết lớn nên tôi tới, trước là coi đánh võ cho vui sau là ăn chực được bữa nào đỡ bữa đó. Hai ngày nay tôi có hột cơm nào vào bụng đâu...
    Nghe Chí Nhè than thở, Hai Nhịn, dù hổng có ưa cái bản mặt của Chí Nhè cũng phải động lòng thương xót bèn vỗ vai cái bụp rồi cười ha hả.
    - Chú mày nói nghe cũng tội nghiệp... Vậy thì đi theo tụi này tới nhà hội đồng Chữ kiếm bữa cơm...
    Chí Nhè mừng rỡ nhập bọn liền. Hai Nhịn hỏi khi họ dừng lại ở Lương Quới uống chén trà giải khát.
    - Hôm nay hai mươi chín Tết rồi. Mình tới Giồng Trôm kịp không Nhục?
    - Kịp chứ anh hai... Mình đi hơn hai phần ba đường rồi. Ráng cuốc một hơi nữa là phẻ re. Tới nhà ông hội đồng Chữ là được ăn nhậu thả giàn... hè... hè...
    - Anh làm tôi bị kiến cắn bụng...
    Ực cạn chén trà âm ấm, Chí Nhè xen vào. Hai Nhịn quay mặt đi chỗ khác để giấu vẻ khó chịu của mình. Hổng biết tại sao mà anh ta hổng ưa được cái bản mặt của Chí Nhè. Anh ta cảm thấy từ cử chỉ, lời ăn tiếng nói của cái '' thằng có tướng học trò mà bộ giò ăn trộm '' này có cái gì hổng thành thật và đãi bôi. Có lẽ cũng biết điều đó hay muốn lấy lòng hai người bạn đồng hành nên Chí Nhè nhanh nhẩu móc túi trả tiền luôn cho ba người. Ra tới đường cả ba cắm đầu bước một mạch. Khi dừng lại bên bờ con rạch Bình Chánh họ mới thở phào cảm thấy mỏi mệt và đói bụng. Băng qua cây cầu ván họ thấy nhà cửa nhiều hơn. Dân làng cất nhà dọc theo hai bên đường. Họ hỏi thăm đường tới nhà hội đồng Chữ. Đi một đỗi họ thấy xa xa trong khu vườn dừa xanh um nổi lên toà nhà thắp đèn sáng trưng mặc dù trời chưa tối lắm.
    - Chà ông hội đồng Chữ chơi nổi à nghen... Đèn măng xông sáng trưng hổng thua gì đèn điện...
    Chí Nhè buột miệng khen. Cười hềnh hệch Nhục nói thêm vào như cố tình làm thân với người quen mới.
    - Ổng giàu nhất trong số mấy ông hội đồng của quận Giồng Trôm đó. Ngặt là ổng cũng bần tiện nhất...
    - Bởi vậy ổng mới giàu...
    Hai Nhịn xen vô. Như để khoe với Chí Nhè là mình biết nhiều, y cười khành khạch nói tiếp.
    - Tao nghe đồn năm nay vì muốn bắt cái chức cai tổng nên ổng mới chịu bỏ tiền ra ăn tết lớn để lấy lòng ông chủ quận. Ổng mời đội múa lân và treo giải thưởng một trăm đồng. Còn mở võ đài thì cũng có giải thưởng. Ổng còn mổ heo vật bò mời bà con lối xóm tới ăn nhậu thả cửa... Chú mày cứ việc ăn chơi...
    Chí Nhè cười hì hì.
    - Hai anh có cần phụ gì tôi phụ cho...
    Liếc nhanh Nhục một cái Hai Nhịn lắc đầu.
    - Tao đánh võ thì có thằng Nhịn cho nước rồi. Chú mày cứ đứng coi hoặc đi lòng vòng chơi cũng được...
    - Anh Hai dạy đúng lắm. Tôi sẽ đi lòng vòng cho biết nhà cửa của ông hội đồng rộng lớn cỡ nào...
    Vừa đi vừa tán dóc một lúc thì tới nhà. Họ được mời ăn uống rồi về chỗ nghỉ ngơi chờ ngày mai mới bắt đầu đánh võ đài và xem múa lân.
    Cô năm Thơm đứng nhìn mình trong gương giây lát rồi mỉm cười sung sướng. Năm nay ông già tía của cô ăn tết lớn vì muốn làm vui lòng quan tư để bắt cái chức cai tổng, song bên trong ông còn có một ý ngầm khác mà chỉ có gia đình cô biết mà thôi. Đó là chọn cho cô một ông chồng trong số đám thanh niên tụ về đây. Không kể trai tráng chửa vợ trong làng và luôn cả các làng lân cận, sẽ có nhiều chàng trai ở trên tỉnh đổ về trước là ăn nhậu chùa sau coi múa lân và đánh võ đài. Đây là dịp cho cô chấm một anh nào tài kiêm văn võ. Con gái cùng trang lứa với cô trong làng vừa tới tuổi trăng tròn thì đã có người rước rồi; trong khi cô tuổi không những trăng tròn mà qua trăng khuyết rồi trăng méo xẹo cũng chưa có ai rước về. Hổng chừng tới lúc trăng lặn mất cô cũng chưa có chồng nữa. Mà cô đâu có xấu, tật nguyền, chanh chua đanh đá gì. Ông hội đồng Chữ bằng lòng gã con cho bất cứ chàng trai trẻ nào coi vừa ý mình và họ phải ở rể. Ngặt là ở chỗ đó. Vừa ý ông ta tức phải môn đăng hộ đối, phải danh giá và giàu có. Vì vậy mà năm nay ở cái tuổi trăng rụng xuống cầu rồi mà cô năm Thơm vẫn còn cu ky. Đêm đêm trong phòng riêng cô đơn vò vỏ, cô mơ màng tới một một người chồng, ai cũng được miễn là cô thương người đó và người đó thương cô. Tiền bạc cô hổng cần bởi vì tiền của ông già tía cô xài mãn đời cũng chưa hết. Mở cửa bước ra ngoài lan can cô nhìn xuống gian nhà lá thắp đèn sáng trưng. Từ đó tiếng cười nói của khách vọng lại nghe rõ mồn một khiến cho cô năm Thơm mỉm cười. Cô ước gì trong số người lạ này có một chàng thanh niên hổng cần đẹp trai, học giỏi, giàu sang gì hết. Mấy thứ đó cô ba hổng cần. Cô chỉ cần có người nào rớt vào đôi mắt chim chích chòe của cô mà thôi.
    Ăn uống no bụng xong, thấy trời còn sáng Chí Nhè bèn rảo một vòng quanh nhà ông hội đồng Chữ để dọ đường đi nước bước. Đi ăn trộm là phải biết rõ đường đi lối về để vào thì êm rơ mà ra cũng êm ru bà rù. Hoặc giả nếu bị chủ nhà phát giác thì mình cũng biết đường mà chạy thoát thân. Tay chấp đít, miệng phì phèo điếu thuốc vấn, anh ta đảo đôi mắt chuyên nghề chôm chỉa để ghi nhớ không bỏ sót chỗ nào đầy tớ canh gác, bao nhiêu cửa, giờ nào ngủ thức. Chỉ mới dạo sơ một vòng thôi mà Chí Nhè đã nhận ra cái khó của mình nếu muốn lẻn vào nhà hội đồng Chữ để trổ tài đạo chích. Cái chuyện cửa đóng then gài đối với y hổng đáng kể bởi vì y có thể đục tường khoét vách, trổ nóc nhà xuống hay cùng lắm chui theo lỗ chó để vào nhà. Cái mà y ngại nhất chính là đông người quá. Chưa kể hai vợ chồng và con cái, nội kẻ hầu người hạ, đầy tớ, tá điền không cũng đã hai chục mạng rồi. Đó là chưa kể nhà hội đồng Chữ, đêm mai tức đêm ba mươi sẽ có thêm ông quan tư nữa. Ông chủ quận đi đâu cũng có lính theo bảo vệ với súng dài súng ngắn đủ loại. Đi lạng quạng, đám lính này tưởng y là Việt Minh, nó phàng cho một phát là bỏ mạng. Đảo tới đảo lui, lượn qua lượn lại hai vòng, Chí Nhè chú ý tới một địa điểm mà y nghĩ mình có thể dùng nó để đột nhập vào trong nhà của hội đồng Chữ. Đó là căn gác lửng thắp đèn sang sáng, có ban công de ra ngoài rồi có một cây bông sứ cành lá rườm ra. Leo lên cây này, chuyền ra nhánh, y có thể nhảy xuống ban công rồi theo đó mở cửa căn gác vào trong nhà. Chỗ này hơi khuất và tối hơn các chỗ khác cho nên y nghĩ mình có thể vào nhà mà người bên trong căn gác không hề hay biết. Y tính chờ tới ban ngày sẽ xem xét cẩn thận hơn rồi tối mai tức đêm ba mươi sẽ bí mật lẻn vào nhà của hội đồng Chữ.
    Vừa chậm rãi bước vừa quan sát đường đi nước bước, Chí Nhè trở về chỗ của ngủ của mình. Ngang qua một gian nhà y nghe giọng nói khàn khàn vang ra.
    - Tổ cha cái thằng Tư... Bịnh gì hổng bịnh mà nó đợi tới ngày mần ăn lớn lại bịnh. Ăn nhậu tầm bậy tầm bạ rồi bây giờ ói mửa tùm lùm. Hổng có nó rồi lấy ai thế đây... Múa lân mà thiếu người thì làm sao ăn giải được...
    Nghe người này nói như vậy, chắc được ông tổ ăn trộm nhập vào làm cho Chí Nhè bật ra ý kiến hay ho. Mỉm cười y bước vào căn lều dựng bằng lá dừa.
    - Chú mày đi đâu dậy?
    Một người đàn ông tác ngoài bốn mươi, mặc bộ bà ba trắng, tóc búi củ hành hất hàm hỏi. Chí Nhè cười hì hì.
    - Dạ chào bác... Tui tên Chí. Tôi đi dạo ngoài kia nghe bác than thở nên vào đây xem có giúp gì được cho bác hông...
    Người đàn ông trọng tuổi nhìn chăm bẳm Chí Nhè như muốn coi giò coi cẳng. Lát sau ông ta chắt lưỡi.
    - Tướng của chú em ta coi cũng được ngặt vì cái vai này hổng phải ai cũng làm được... Chú em có coi múa lân lần nào chưa?
    Chí Nhè cười hì hì.
    - Gì chứ múa lân tui coi hoài... Tui khoái coi múa lân mà múa lân tui cũng biết chút đỉnh…
    Ra dấu cho Chí Nhè ngồi xuống cái ghế đẩu xong người đàn ông chậm rãi vấn điếu thuốc. Đốt lửa bập bập mấy cái, hít hơi dài ông ta từ từ nói.
    - Chẳng giấu gì chú em... Tui tên Tám Bền, là chủ đội múa lân nổi tiếng của tỉnh Bến Tre. Năm nay tui được ông hội đồng mời xuống đây trổ tài cho bà con coi và cũng để giật cái giải thưởng 100 đồng của ông hội đồng Chữ. Lấy được giải không những tiếng tăm lên mà còn có trăm bạc xài chơi…
    Chí Nhè gật đầu cười nhưng không nói gì hết. Y đợi cho ông chủ đội múa lân phun ra rồi lúc đó mới tương kế tựu kế.
    - Thường thì các đội múa lân khác chỉ có 5 thôi nhưng kỳ này tui đem theo 6 đứa lận. Kỳ này ông hội đồng treo giải 100 đồng nên tôi biết giải phải treo thật cao. Bởi vậy tôi tính cho 6 đứa lên thì mới ăn giải được. Ngặt nỗi thằng cháu bên vợ của tui nó nhậu bậy bạ rồi ói mửa tùm lum nên thiếu mất một đứa. Có 5 thì làm sao mà ăn giải được...
    Dù chỉ hiểu lơ mơ về chuyện múa lân song vốn có đầu óc lương lẹo, Chí Nhè cười hì hì.
    - Tưởng chuyện gì chứ chuyện đó dễ ợt... Tui thế chỗ anh gì đó cho bác...
    Tám Bền nhìn chăm bẳm Chí Nhè như quan sát tướng tá xong mới hỏi.
    - Chú em biết võ hông?
    Thấy Chí Nhè dụ dự chưa trả lời, Tám Bền cười lên tiếng.
    - Hổng biết võ thì hổng có múa lân được...
    - Võ gì cũng được hả bác?
    - Ừ... Thiếu Lâm, Bình Định, võ ta, võ tiều gì cũng được miễn đừng có vỏ cua vỏ còng thôi...
    Nghe Tám Bền giễu, Chí Nhè cười khành khạch. Anh ta chưa kịp nói gì, Tám Bền ứng tiếng liền.
    - Đâu chú em đứng tấn cho qua coi...
    Bảo múa quyền, múa kiếm hay đao thương thì Chí Nhè còn e dè chứ đứng tấn thì dễ ợt. Nạt tiếng nhỏ, anh ta đạp tấn đinh. Vốn con nhà võ làm gì Tám Bền không nhận ra Chí Nhè có học võ, ít nhất cũng hơn chục năm. Gật gù Tám Bền cười hà hà vỗ vai Chí Nhè.
    - Được rồi... Qua nhận chú em vào thế chỗ cho thằng Miễn. Mỗi ngày qua trả cho chú em một đồng. Nếu giật được giải nhất thì qua thưởng chú em 5 đồng...
    Chí Nhè nhận lời không do dự. Bình thường y sẽ chê tiền công của Tám Bền. Mấy đồng bạc lẻ đó nhằm nhò gì đối với tay ăn trộm nghề. Nhưng vì có chủ ý riêng nên y tạm ẩn thân trong đội múa lân để chờ giờ hành sự. Núp dưới bóng đội múa lân thì hổng có ai nghi ngờ y hết.
    Tám Bền và đám trai tráng của ông ta trong đó có Chí Nhè đứng dưới đất nhìn lên lan can của căn gác lửng nơi mà hội đồng Chữ sẽ treo cái phong bì đỏ đựng 100 đồng. Đội múa lân phải đủ sức chồng người cao tới chỗ đó sẽ giật được giải thưởng. Im lặng đứng ngắm nghía cái lan can cao vòi vọi, Tám Bền chắt lưỡi.
    - Ông hội đồng Chữ chơi bứt gân thiên hạ… Cao như vầy thì tao dám cá trăm ăn một chẳng có đội nào giật được giải…
    Quay qua Tư Trật Búa, phó đội múa lân của mình, ông ta cười hỏi.
    - Thằng Tư, mày coi mình lên nổi không?
    - Tui hổng biết anh Tám… từ nào tới giờ mình đâu có lên cao dữ dậy…
    Lẩm nhẩm tính giây lát Tư Trật Búa gật gật cái đầu chơm bơm. Quay sang Chí Nhè, anh ta cười nói với Tám Bền.
    - Chú Chí dù có võ song vì mới dô nghề vả lại ốm yếu nhỏ con nên tôi cho chú đứng trên cùng. Anh Tám thấy đặng hông?
    Rít hơi thuốc rê, Tám Bền gật đầu cười.
    - Thằng Tư mày tính coi bộ hạp ý tao. Nhưng mà chú phải dạy thêm nghề cho thằng Chí múa đúng bài bản để làm đẹp mắt ông hội đồng…
    - Cái đó anh Tám đừng có lo… Trưa nay sau khi ăn cơm xong tui sẽ chỉ cho chú Chí vài cú lắc là xong liền… Với lại khi chồng lên cao thì chú hổng cần múa nữa mà lo giật tiền rồi xuống cho lẹ…
    Hổng biết nghĩ cái gì mà Chí Nhè xen vào chuyện bằng câu hỏi.
    - Chỗ đó cao thật… Hổng biết họ cất làm chi căn gác cao trật ót luôn… Cao cỡ đó té là dập lá lách… Ai ở chi mà cao vậy?
    Quay nhìn Chí Nhè, Tám Bền cười cười.
    - Đó là phòng ngủ của cô năm Thơm, con gái út của ông hội đồng… Chú ráng lên tới đó múa lân cho cổ coi… biết đâu chú em lại lọt vào mắt của cô năm…
    Chí Nhè cười hề hề như khoái chí về lời nói đùa của Tám Bền. Trưa hôm đó ăn cơm xong, Tư Trật Búa lôi Chí Nhè ra chỗ vắng dạy tập múa lân. Học chữ nghĩa, tiếng tây tiếng u thì Chí Nhè tối dạ chứ học múa lân thì y sáng dạ lắm. Chỉ cần múa may một hồi là y múa gọn hơ và coi bộ thuộc bài bản lắm.
    Đêm ba mươi tết trời tối ngửa bàn tay hổng thấy. Tuy chưa tới canh ba mà mọi người đều say ngủ trừ Chí Nhè. Ngồi trên nhánh cây bông sứ de tới gần lan can của căn gác lửng mà cũng là phòng ngủ của cô năm Thơm, y ngó và căn phòng thắp đèn mờ mờ. Chốc chốc y lại thấy bóng người đi đi lại lại. Ngồi một hồi tê chân y lầm bầm.
    - Con nhỏ này hổng biết ăn cái giống gì mà thức khuya quá…
    Y vừa lầm bầm mấy tiếng là đèn trong phòng cô năm Thơm tắt phụt. Chờ một lát, đoán chừng cô năm Thơm đã ngủ rồi, Chí Nhè nhanh nhẹn trổ tài. Đầu tiên y quăng sợi dây thừng ra. Sợi dây này bện bằng tơ tằm mềm mại và chắc chắn lắm, có sức chịu hai ba người đeo cũng hổng đứt. Một đầu của sợi dây tơ có móc sắt để móc chặt vào lan can. Ghì mạnh vài lần thấy không bị tuột, y mới buộc sợi dây vào nhánh cây làm thành chiếc thang dây để trèo vào phòng ngủ của cô năm Thơm. Nhanh hơn sóc, Chí Nhè đã đứng yên nơi ban công rồi sau đó bò về cánh cửa. Hên quá. Cô năm đi ngủ mà hổng có khoá cánh cửa mở ra ban công. Có lẽ cô nghĩ đâu có ai trèo lên cao để vào phòng của mình được. Lẻn vào trong phòng, Chí Nhè đứng im cho mắt quen với bóng tối xong mới bắt đầu quan sát cảnh vật. Trên chiếc giường rộng mùng buông trắng tinh, có dáng cô năm Thơm nằm ngửa ngủ mê mệt. Bước tới chiếc tủ đứng kê ở góc phòng, Chí Nhè bắt đầu lục lọi để kiếm vòng vàng nữ trang. Y biết con gái nhà giàu như cô năm Thơm thì thiếu gì vòng vàng, dây chuyền, cà rá, kiềng vàng. Rảo một vòng y tìm được mớ nữ trang. Tuy nhiên bao nhiêu đó chưa làm y vừa ý vì hổng lẽ vào nhà một ông hội đồng giàu nứt vách đổ tường mà chỉ lấy có chút nữ trang à. Đã lỡ ăn trộm rồi thì phải ăn cho no chứ. Nghĩ như thế nên Chí Nhè nhè nhẹ rút cái then cài cửa phòng cô năm rồi mở cánh cửa ra. Trong nhà tối thui do đó phải lần mò hồi lâu y mới mò ra cái cầu thang dẫn xuống dưới nhà. Vì tối quá y giẫm lên con chó đang nằm tại đầu cầu thang. Bị đau con chó sủa gâu gâu
    - Ăn trộm… trộm… ăn trộm… tụi bây…
    Ông hội đồng Chữ la lớn báo động cho người nhà và đầy tớ. Hoảng hồn Chí Nhè vọt trở lên lầu. Vào trong phòng cô năm Thơm, khoá cửa chặt cứng y bước ra ngoài ban công. Dưới đất, ngoài sân đuốc cháy sáng loà. Lính chạy rần rật khiến cho Chí Nhè biết mình không thể thoát thân trong lúc này. Lẹ bước trở vào trong phòng cô năm y đứng im suy nghĩ. Phen này lành ít dữ nhiều rồi. Có lẽ nhờ ông thần ăn trộm mách nước nên y vỗ trán mình cái bạch rồi à tiếng nhỏ. '' Tam thập lục kế chun dô mùng là thượng sách…''
    Ý nghĩ vừa bật lên, y vén mùng chui vào giường cô năm Thơm.
    - Ai vậy…? Ai chui dô giường của tui dậy?
    Cô năm hỏi bằng giọng ngái ngủ. Lanh trí, Chí Nhè vung tay mặt bịt miệng cô năm không cho la làng còn tay trái chẹn ngay ngực. Sợ cô năm vùng vẩy, y leo nằm đè lên người của cô ta.
    - Cô mà la lên là tui đâm đổ ruột…
    Cô năm Thơm sợ cứng người vì câu hăm doạ của thằng ăn trộm. Hắn dám làm lắm à, vì cô biết hắn một tay đang bịt miệng mình, một tay chận lên ngực ngoài ra còn nằm đè lên làm cho cô không nhúc nhích gì được. Chưa hết cô cảm thấy có cái gì giống như con dao cứng và nóng hổi đang chỉa ngay bụng. Con dao này mà đâm một cái là trào máu liền.
    - Thơm ơi… con ngủ hay thức dậy con… ăn trộm vào nhàn mình con ơi… con có thấy ăn trộm hông con…
    Tiếng ông hội đồng Chữ vang ngoài cửa. Thúc mạnh con dao nhọn đang chĩa vào bụng, Chí Nhè thì thầm vào tai cô năm.
    - Nói cô hổng thấy ăn trộm…
    Giọng của cô năm Thơm cất lên như còn ngái ngủ.
    - Dạ con mới thức… con đâu có thấy ăn trộm, ăn cắp gì đâu ba… con cài cửa chặt cứng mà ba…
    - Vậy hả con… chắc nó sọ chạy mất rồi… thôi ngủ tiếp đi con…
    Đợi cho tiếng bước chân mất hẵn, Chí Nhè mới thôi bịt miệng song vẫn còn nằm đè lên người cô năm.
    - Anh đè lên người tui làm tui nghẹt thở…
    - Im… cô lạng quạng tui đâm lủng ruột…
    - Tui có làm gì đâu mà anh đòi đâm tui…
    Cô năm mếu máo. Hết sợ bị bắt vì tội ăn trộm thì Chí Nhè lại nghĩ chuyện bậy bạ. Mũi ngửi mùi thơm thơm bốc ra từ da thịt của cô gái chưa chồng, tay thì đang đè lên ngực, người thì nằm đè với con dao nhọn lễu chỉa ngay bụng, Chí Nhè cảm thấy lòng lâng lâng vì đang nằm ở cái thế thượng phong.
    - Cô tên gì?
    - Dạ em tên Thơm…
    Cô năm xưng em và giọng cô nghe ngọt ngào làm sao. Chí Nhè hít hít mũi.
    - Hèn chi em thơm quá… Em cho anh ngửi chút nghen…
    - Ngửi cái gì… có gì đâu mà ngửi…
    Chí Nhè cười hề hề. Vốn dân giang hồ hắn thừa kinh nghiệm để biết những cô gái quê như cô năm Thơm còn ngây thơ và thật thà lắm. Chỉ cần chút mánh khoé là y sẽ có dịp may để ăn trộm.
    - Em mà hổng cho anh ngửi là anh đâm em lủng ruột chết liền…
    Vừa nói Chí Nhè vừa thúc mạnh con dao cứng ngắt và nhọn lễu của mình vào ngay tử huyệt của cô năm. Xanh mặt cô năm lắp bắp.
    - Anh muốn ngửi thì ngửi đi mà anh đừng có đâm em tội nghiệp em lắm anh ơi…
    Cô năm ngưng nói khi bàn tay của Chí Nhè mở nhanh mấy cái nút áo và sợi dây lưng quần. Cô cắn răng hít hà, rên rỉ, nằm im để mặc cho thằng ăn trộm hổng có ăn trộm vòng vàng nữ trang gì hết mà lại ăn trộm cái ngàn vàng của cô. Suốt đêm hôm đó, không biết bao nhiêu lần thằng ăn trộm tha hồ ăn trộm mà cô chủ nhà chẳng có '' bớ làng nước ơi ăn trộm…'' gì hết. Tờ mờ sáng, thằng ăn trộm bỏ đi mà cô năm Thơm vẫn nằm im nhìn theo với ánh mắt buồn buồn.
    Trưa mồng một tết. Giờ múa lân bắt đầu. Đúng theo chương trình thì trước nhất đội múa lân sẽ biểu diễn cho khán giả coi rồi sau đó trổ tài chồng người lên trời để giật cái giải thưởng một trăm đồng đựng trong cái phong bì đỏ được treo nơi ban công phòng của cô năm Thơm. Thiên hạ ngồi đứng, chen chúc nhau để được coi đội múa lân của ông Tám Bền, một đội múa lân nổi tiếng nhất của tỉnh Bến Tre. Múa lân là một nghệ thuật. Chỉ cần nhìn thoáng qua con lân của Tám Bền, người có óc thưởng thức và chút hiểu biết về thuật múa lân đều phải nhìn nhận ông ta quả đã luyện tập được một đội múa lân tuyệt diệu. Khi cái đầu chuyển động là khúc mình và cái đuôi cũng phải chuyển theo, nhưng chuyển động như thế nào để làm cho con lân giống như sống dưới mắt nhìn của khán giả. Ngoài ra sự chuyển động đó còn phải ăn nhịp với tiếng trống và tiếng đàn nữa. Không biết Tám Bền tìm đâu ra một người làm ông địa, mà dân làng phải cười ra nước mắt khi nhìn cái bụng bự của y lắc lư theo nhịp chuyển động của con lân. Chắc bị ma nhập nên Chí Nhè múa cái đầu con lân lanh lẹ, nhịp nhàng, và đúng điệu khiến cho mấy anh em trong đoàn thở hổng kịp. Nghe thiên hạ hò la vỗ tay ầm ỉ Tám Bền khoái chí. Dạo đủ ba vòng, con lân dừng lại tại chỗ mà trên cao kia là phòng ngủ của cô năm Thơm. Đây là phút giây mà mọi người chờ đợi và đây cũng chính là phút giây ăn tiền nhất của đội múa lân. Họ phải chồng người lên cao để lấy cái phong bì đỏ treo lơ lửng trên lan can. Hổng chồng lên cao được là hổng có tiền. Chồng lên cao mà một người chân không vững thì có cơ ngã lăn ra đất làm trò cười cho thiên hạ. Khó hơn nữa là trong lúc chồng người lên cao họ vẫn phải múa chứ không được ngừng nghỉ. Hét tiếng trợ oai, Tư Trật Búa đạp tấn rùn người đứng làm trụ. Ăn tiền hay không phần lớn do ở y, bởi vì tất cả sức nặng của nguyên con lân năm người đều chịu trên thân thể của y. Cái đuôi là Tư Trật Búa, còn cái đầu con lân là Chí Nhè. Y là người chồng sau cùng và là người đứng trên cao nhất để lấy phong bì. Năm người lần lượt đứng trên vai nhau thành một cây người cao nghều nghệu song vẫn còn một khoảng cách khá xa mới tới chỗ treo phong bì. Tới phiên Chí Nhè trổ tài. Hét tiếng trong trẻo, y chỏi mạnh chân xuống đất lấy đà. Là tay trộm nổi danh, nên tài leo trèo và chạy nhảy của y có hạng lắm. Thân hình cao thước sáu, nặng 40 ký lô vọt lên trời cao ngang tầm của đồng bạn và bằng cái chao mình y đứng thẳng trên vai của người này. Thiên hạ la thiếu điều bể nhà khi thấy đầu con lân trổ tài. Ngay cả Tám Bền còn phải đứng tim khi chứng kiến Chí Nhè bay người lên đứng trên vai của đồng bạn. Tiếng trống nổi ầm ầm. Đứng trên cao, như có ý định thầm kín nào đó, Chí Nhè bắt đầu chuyển động cái đầu lân chứ chưa chịu nhảy lên lấy phong bì. Hể y động thì năm người làm thân và đuôi con lân cũng phải chuyển theo tạo ra con lân cao ngất ngưỡng trên trời. Thiên hạ khoái quá hò hét vang lừng. Ngay lúc đó mọi người nghe tiếng hét trong trẻo của Chí Nhè vang lên rồi thân hình y vọt lên cao hơn chút nữa vừa đủ để cho y đỡ nhẹ cái phong bì màu đỏ rồi tà tà rơi xuống đất, còn năm người kia cũng lần lượt nhảy xuống. Thiên hạ vỗ tay rần rần hoan hô cho đội múa lân đã lấy được giải thưởng của chủ nhà. Theo thông lệ thì đội múa lân sẽ trình diện với chủ nhà và khán giả. Ngồi trên khán đài sau lưng ba của mình, cô năm Thơm nhìn trân trân người thủ vai cái đầu con lân. Trong bộ võ phục màu đen, thắt lưng trắng, chân mang hài xão, người vừa trổ tài giật giải thưởng không ai khác hơn là cái bản mặt đáng ghét của thằng ăn trộm mà đêm hôm qua đã ăn trộm cái ngàn vàng của cô. Bây giờ hắn đang đứng với nụ cười và ánh mắt nhìn làm cho cô đỏ mặt, run rẩy tay chân và hơi thở rộn ràng.
    Đêm mồng năm thật im vắng. Tết đã qua và sinh hoạt trong nhà của hội đồng Chữ cũng trở lại bình thường. Chỉ có cô năm Thơm là không được bình thường. Cô thờ thẩn như người mất hồn. Tên ăn trộm bỏ đi mất biệt mang theo số vòng vàng nữ trang của cô. Điều đó chẳng làm cô bận tâm. Điều khiến cho cô buồn là hắn đi không có lời từ biệt. Ngồi im lặng trước gương cô thở dài lấy cái lược đồi mồi chải nhè nhẹ mái tóc huyền của mình. Nghe có tiếng cửa mở cô quay lại. Trước mặt cô là tên ăn trộm. Gã không có gì khác lạ. Nếu có là nụ cười thân thiện và ánh mắt nhìn âu yếm.
    - Anh trở lại đây làm gì?
    Cô năm thờ ơ hỏi. Tên ăn trộm cười nhẹ.
    - Anh trả lại em mấy món nữ trang mà anh đã lấy…
    Đặt cái túi vải đựng vòng vàng và nữ trang lên giường, tên ăn trộm cười tiếp.
    - Em có muốn anh trở lại nữa không?
    Mắt ươn ướt lệ, cô năm Thơm khẽ gật đầu. Tên ăn trộm bước tới thì thầm vào tai cô những gì mà chỉ thấy cô cười gật đầu lia lịa. Ba tháng sau, dân trong làng kéo nhau đi ăn đám cưới của cô năm Thơm. Chàng rể của ông hội đồng tên Chí, nhà cửa ở Sài Gòn. Không ưng ý chàng rể lắm song ông hội đồng Chữ cũng phải gả con vì cái bụng của cô năm Thơm bắt đầu u lên rồi. Trể thì cái bụng sẽ còn lớn hơn nữa. Vì cô năm Thơm không muốn sống xa cha mẹ đã già nên Chí bằng lòng ở rể. Lâu ngày sống gần nhau ông hội đống Chữ đâm ra thương thằng rể biết chí thú làm lụng mà hổng có ăn chơi đàn đùm.
    chu sa lan

Quê Tôi Ngày Bé Thơ Lớn Lên
  • Hồi còn trai trẻ thời Trung học, thầy Thuận dạy Pháp văn cứ nói hoài: “Il ne faut jamais remettre au lendemain ce qu’on peut faire le jour même” để nhắc nhở tính không ham học của tôi, nhưng thế nào vẫn nấy, đã hơn 40 năm rồi, có gì thay đổi đâu, vẫn cứ để đến ngày mai những gì có thể làm ngày hôm nay. Từ rất lâu trong tâm, kỷ niệm cứ thôi thúc ký ức hãy nghĩ về, ít nhất một lần sống lại thời niên thiếu xa xôi mộng mị. Rồi thời gian âm thầm qua đi như bóng câu, như nước chảy dưới cầu. Bây giờ ngồi lại đây mò mẫm đường về năm xửa năm xưa mà cứ an ủi “thà có còn hơn không”. Vẫn biết “không đâu đẹp bằng quê hương”, bây giờ đã đan mờ dây thời gian và bụi cát phong trần còn đó, mà tuổi hoa niên vàng son thì đâu rồi, còn chăng huyễn hoặc, hồng hoang!? Cha mẹ già đã người thiên cổ, vẫn còn bên tai lời giáo huấn “sự tử như sự sinh, sự vong như sự tồn”, không bao giờ quên “thờ lúc đã chết cũng giống như thờ lúc còn sống”. Bà con, bè bạn... phong ba kẻ còn người mất. Cảnh cũ tích xưa gom lại còn bao nhiêu vết rêu phong mờ mờ nhân ảnh!? Thôi thì, về nhặt nhạnh những vụn vỡ thuở xưa hiễn hiện trong từng tế bào não bộ khi mà, chưa tay rờ, chưa chân đạp lại “dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo”, xa rồi thời học trò quần xanh áo trắng.

    Tôi sống trong thành phố Phan Thiết, theo tí tách kim đồng hồ trưởng thành. Thời Phan Thiết dần mất đi tên những con đường Pháp là lạ: “Rue des Pêcheurs”, “Quai de la Saumure”, “Rue de cá Nục”, “Rue de cá Mòi”... và một Nhà hàng ông Tây cụt tay thích săn voi, ngay ngã năm chân đầu cầu Quan, có phải “Marceau” không? Rồi thành vườn bông thời Tỉnh trưởng Lưu Bá Châm để, có nơi cho những thằng nhỏ chúng tôi mệt chân dạo phố đêm, ngồi tâm sự chuyện đời bá láp. Thời mà những ông Tây đen, Tây trắng nhậu nhẹt la hét om sòm trong ngày lễ Ðộc lập “Cắt-to Dzuy-dê” (Quatorze Juillet) của Pháp, lính Lê dương bắn lộn với lính Partisan, làm khiếp đãm khắp phố, đến hồi thị xã nầy giữa thập niên 1970, dân số xấp xỉ 80 ngàn. Phan Thiết cách Sài Gòn 198 cây số về hướng Ðông-bắc, có chiều dài 7 cây số, trước có tên Chàm là “Hamu Lithit”, theo nghĩa: hamu là xóm ruộng bằng phẳng và lithit là ở gần bờ biển. Phan Thiết trở thành thị xã chưa minh định ranh giới từ năm 1898, thời vua Thành Thái, nằm trong tỉnh Bình thuận đặt tại Phú tài. Năm 1910, Toàn quyền Ðông dương A. Khobukowski mới định hình địa lý và năm 1918, Khâm sứ Trung kỳ Charles tách Phú hài ra khỏi Phan Thiết. Thành phố có con sông Cà ty chảy qua làm Phan Thiết đẹp, hữu tình, thơ mộng. Khúc tiếp biển Thương chánh gọi là sông Mường mán. Trên sông có cây cầu Quan làm từ thời Pháp năm 1928, cây cầu đúc Trần Hưng Ðạo, do công binh thời Ðệ nhị Việt nam Cộng hòa làm và cây cầu Mỹ, loại cầu gỗ dã chiến, nối liền hai đường Võ Tánh bên Ðức Nghĩa và Trần Cao Vân bên Phú Trinh lại với nhau, do Mỹ làm.Tôi còn nhớ thầy tướng số Huỳnh Liên nói: “chừng nào Phan Thiết có 3 cầu, thì dân Phan Thiết phát giàu phát sang”.Chẳng thấy giàu cũng chẳng thấy sang gì hết. Mấy ông tướng số, nói dzậy mà không phải dzậy! Phải nói thêm về cây “Cầu Quan”, cây cầu gần như hằng ngày, hằng đêm, tôi bên hữu ngạn phải qua bên tả ngạn đi học, đi chơi, đi làm, đầy vơi kỷ niệm. Người Phan Thiết sẽ không bao giờ quên nạn lụt quá hãi hùng năm Nhâm thìn 1952. Cầu dẫu trên cao vẫn bị trôi ra biển như thường và thành phố là biển nước cuồn cuộn cuốn người, tài sản, nhà cửa vào chốn tiêu tán, tang hoang! Như là chưa đủ, một lần nữa, người yêu của bạn tôi, không biết tại làm sao, thân gái nhẹ dạ vậy mà cả gan tự tử, đứng trên thành cầu “plonger” xuống giòng nước thăm thẳm đang lừng khừng ra biển xa sóng động! Ngày xưa, đâu cuối thế kỷ XVIII, nó chỉ là một cây cầu gỗ dài 161 mét có tên là Thắng kiều, do những tráng đinh xã Ðức Thắng làm nên, nối liền hai bờ Nam-bắc con đường cái quan. Có phải vậy không, cầu có tên là cầu Thắng rồi là cầu Quan? Bên bờ sông tả ngạn, lừng lững là “Tháp nước”, chúng tôi cứ gọi theo tiếng Tây là “Sa-tô-đô“ (Château d’eau) cao đến 32 mét, là một biểu tượng đặc trưng và hãnh diện của người dân Phan Thiết. Tháp được thiết kế bởi Hoàng thân Xouphanouvong, thời làm cho sở Công chánh Trung kỳ (Travaux publics) ở Nha trang?, sinh năm 1909 và mất năm 1995, tốt nghiệp Kỹ sư cầu cống từ trường Pháp “École National Des Ponts Et Chaussées” năm 1937, Chủ tịch nuớc Cộng hòa Nhân dân Lào từ năm 1975 đến 1997, có một người vợ Việt nam là bà Nguyễn thị Kỳ Nam, sau đổi tên Lào là Vienkham. Tháp được xây dựng bởi nhà thầu Ưng Du, một Hoàng tộc nhà Nguyễn, khởi công từ năm 1928 và đến năm 1934 thì xong. Ngang đây, tôi cũng thắc mắc là, làm sao tháp nước đã xúc tiến và hoàn thành từ 1928 đến 1934, trước khi ông Xuphanuvong tốt nghiệp bằng kỹ sư năm 1937 và làm việc cho sở Công chánh Trung kỳ tại Nha trang? Nhìn quanh “Château d’eau”, chúng ta thấy 4 chữ vòng tròn “U.E.P.T” bao quanh bồn nước trên cao ghép bằng mẽng sành, mẽng sứ cổ, viết tắt từ chữ “Usine Des Eaux De Phan Thiết”. Phan Thiết là tỉnh lỵ nhưng mang đặc trưng hầu hết tính cách của con người, của đất đai tỉnh Bình Thuận, cho nên nói hết những gì của Bình Thuận là nói cho Phan Thiết. Nói hết những gì của Phan Thiết là nói cho Bình Thuận. Không lạ gì, khi người hỏi: “Anh chị ở đâu?” Người trả lời: “Tôi ở Hòa Ða”, “tôi ở sông Lũy” hay “tôi ở Ma Lâm”, “tôi ở Ðức Thắng”... Chúng tôi đều xuề xòa: “Cùng dân Phan Thiết cả”. Thân thương là chỗ đó! Lạ lùng là chỗ đó! Cũng như, tôi sẽ nói tới những địa danh nổi tiếng của Bình Thuận như Lầu Ông Hoàng, Tà Cú, Mủi Né, Phú Quý... có phải của Phan Thiết đâu, nhưng là của Phan Thiết đó quý vị ạ. Người ta biết Phan thiết hơn là biết Bình thuận mà. Ðiều tôi muốn nhắc đến đầu tiên là ngôi trường cũ Trung học Phan Bội Châu Phan thiết. Ngôi trường mà học sinh được vào ngồi ghế không dễ chút nào. Niên khóa 1956-1957, sau kỳ thi tuyển vô cùng cam go mà, cả một phần phường Lạc đạo, cả phường Ðức long, cả thôn Phú phong, cả Gò bồi, cả Văn phong, Văn lâm và có thể là cả Mương mán nữa, chỉ có 2 người thi đậu. Nhà trường được thành lập theo lệnh Thủ hiến Phan Văn Giáo năm 1950 với tên là trường Trung học Bình thuận. Những niên khóa đầu tiên từ năm 1951 đến 1953 phải học nhờ trong các trường Tiểu học Ðức thắng, Nam Tiểu học Phan thiết. Ðến niên khóa 1954-1955, có cơ sở tạm trên đường Trần Hưng Ðạo, sau khi mướn được căn nhà của ông bà Hồng Hưng, trường mới có tên là trường Trung học Phan Bội Châu. Năm 1956, trường dời về địa điểm chính thức nằm trên đường Nguyễn Hoàng thuộc phường Phú trinh, một khu đất hoang, mua rẻ của bà Hồ Thị Liệt. Vài lớp vẫn còn ở lại học năm chót trường cũ, trong đó có lớp mới vào của tôi. Hiệu trưởng đầu tiên là thầy Lê Tá, từ 1956 đến 1963, kế theo là các thầy Hiệu trưởng Ðào Trữ, từ 1963 đến1966, Nguyễn Tiến Thành, từ 1966 đến 1968, Nguyễn Thanh Tùng từ 1968 đến 1973, Lê Khắc Anh-Vũ từ 1973 đến 1975. Tôi nhớ năm đầu vào Phan Bội Châu có cô Nhâm dạy Anh văn, thầy Thủy dạy cả Việt (tân văn) lẫn Pháp văn, vì là niên khóa cuối cùng Ðệ thất còn 2 sinh ngữ 1 và 2 (?), thầy Tiến Thành dạy Việt (cổ văn), thầy Vĩnh Giên dạy Sử địa, thầy Ru dạy Lý hóa,…Bạn bè trong lớp, tôi còn nhớ vài tên: Khoa, Công, anh em Hùng-Hào, Huỳnh, Nhơn, Lòng, Thoại, Toại, Hải, Hai, Hiền, Cảnh, Bảy, Dũng, Thái, Biên, Phi, Sự, Phúc, Báu, Minh, Triều, Mộng, hình như Nguyễn Quang Mộng, tôi nhớ mãi tên nầy, nhân ngày cắm trại trên lầu Ông Hoàng năm 1957 đi mua một con gà trống to hết cở, ôm không nổi cho nên, cứ sẩy bắt, sẩy bắt hoài, mệt hết sức, cằn nhằn nhau quá trời. Triều, anh chàng nho nhả, giỏi văn mà những bài luận của anh được thầy Thành, thầy Thủy khen và đọc cho toàn lớp nghe hoài. Phi, cháu bác Ðợi ở Ðức long, đẹp trai “như Tây lai”, phá, nghịch hơn là học. Tôi, ngồi bàn đầu với Khoa, Công…cũng lì lợm, không thua, bị hết thẩy thầy cô “chê”. Khởi đầu, nhà trường có 2 lớp Ðệ thất 110 học sinh, đến niên khóa 1956-1957 tôi học, đã lên 540 và trong niên khóa 1974-1975 có đến 72 lớp học Ðệ nhất cấp với 4092 học sinh và 25 lớp học Ðệ nhị cấp với 1337 học sinh. Những năm dài từ Ðệ nhất đến Ðệ nhị cấp, biết bao kỷ niệm “đời-học-sinh-phấn-trắng-bảng-xanh-hoa-phượng-đỏ”. Có những lần ngồi trong quán nước đá của ông bà Chương người Huế bên kia đường, học đòi “phì phèo điếu thuốc tàn, tàng tàng ly cà phê đá”…mê mệt những bộ áo dài trắng bay bay của các nữ sinh mưa phà, gió phủi…cũng đủ là những nguồn thơ vô tận: “áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc, áo nàng xanh anh mến lá sân trường”, cũng đủ là những thọt lét tình lãng mạn trai gái và tính nghình nghịch bọn “nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò”: “tháng Bảy trời mưa, trời mưa không dứt, trời không mưa anh cũng lạy trời mưa”. Phan thiết có các trường Trung học Tư thục Bạch vân, trước nằm trong khuôn viên chùa Bà, góc đường Triệu Quang Phục và Ngô Sĩ Liên, dưới những tàn cây bàng mát bóng, phường Ðức thắng, thời tôi còn mài đũng quần ở trường Nam Tiểu học Phan thiết gần đó, thường chia phe đá banh, sau trường dời qua phường Phú trinh, trên đường Hải Thượng Lãn Ông, sát bệnh viện và sân vận động Quang trung Phan thiết. Trường Trung học Tư thục Tiến đức của thầy Ðặng Vũ Tiễn, ban đầu ở đường Ðồng Khánh, nơi có 2 cây nhãn bị “bọn quỷ, bọn yêu” phá quá, chưa bao giờ thấy có trái ăn, nằm trước mặt nhà ông bà Trần Thiện Hải, song thân các ca sĩ Nhật Trường và Như Thủy, sau dời về nơi tạm của trường Phan Bội Châu ngày trước, nằm giữa ty Thông tin và ty Tiểu học vụ. Trường Trung học Tư thục Bồ đề, nằm bên kia đường với trường Nam Tiểu học Phan thiết, trên đường Nguyễn Du, trước mặt là đường Triệu Quang Phục với chợ than, chợ mía, khu cỏ hoang, sau lập thành dãy phố lầu khang trang, có rạp hát “Lilas” lớn nhất Phan thiết của ông bà Hứa Văn. Trường Trung học Tư thục Chính tâm của cha Nguyễn Viết Khai, được đổi tên từ trường Trung học Tư thục Ngô Ðình Khôi sau năm 1963, thầy Nguyễn Quốc Biền làm Hiệu trưởng. Trường nằm trên đường Huyền Trân Công chúa hướng xuống bải tắm Thương chánh, đầu địa phận phường Bình hưng. Trước mặt trường là nhà người anh em bạn tên Tấn, Trung úy Biệt Ðộng quân, người sĩ quan năm xưa phải để lại chiến trường sắt máu cái giò làm kỷ niệm, bây giờ ngồì đây rung rung cái đùi cụt, nhâm nhi sự đời, men rượu, câu thơ: “ngày xưa xả thân vì nước, ngày nay bán nước nuôi thân!” Trường Trung học Bán công Phan Chu Trinh, bên kia đường và kế cận trường Phan Bội Châu, cùng trên đường Nguyễn Hoàng, những năm đầu, các thầy Bùi Hữu Huân,Ðào Trữ làm Hiệu trưởng, nơi mà, một lần thi Tú tài 1, tôi phải chạy xe đạp bán mạng về nhà lấy cho kịp căn cước bỏ quên, đến nơi sắp khui đề thi. May năm đó đậu, tiếp tục con đường học vấn lên Ðại học, không thì toi mạng, Ðồng đế là chắc. Tất cả các trường Trung học trong thị xã đã tạo cho thành phố một khuôn mặt thật dễ thương chi lạ, nhất là vào những giờ tan trường, bay bay những tà áo trắng nữ sinh qua cầu Quan, bên kia, “Châteaux d’eau” cao vòi vọi, lấp lánh bóng dưới nước trong xanh, lững lờ ra biển.Ði xa ra hướng Mũi né là lầu Ông Hoàng của Công tước De Montpensier, cháu nội vua cuối cùng nước Pháp nằm trong địa phận Phú hài, cách Phan thiết chừng 7 cây số hướng Ðông bắc. Lầu xây ngày 21/2/1911, có diện tích khoảng 500 mét vuông trên đồi Bà nài có độ cao chừng 15 mét so với mặt biển, kế bên có tháp Chàm Pôsahnư là con của vua Parachanh và hoàng hậu Pônagar ở vào thế kỷ XIV, có mộ Nguyễn Thông xây năm 1884, chùa cổ Bửu sơn xây năm 1900, núi Cố…và biển xanh, cát trắng. Lầu nguy nga với tất cả tiện nghi, văn minh Pháp thời bấy giờ: có tháp nước, có máy phát điện, có phòng ốc sang trọng và khung cảnh hữu tình khoáng đạt, được đạt tên là “Nid d’Aigle”-“Tổ Ó”-. Về sau có thêm hotel Ngọc lâm bên cạnh của một người Pháp tên Bell. Cả lầu Ông Hoàng và hotel Ngọc lâm được chính phủ Pháp mua lại để cho công chức cao cấp nghỉ mát, đến tháng 12 năm 1933, biếu lại hay bán lại? cho vua Bảo Ðại. Lầu bị phá hủy bởi Việt minh vào ngày 14/6/1947 và trở nên điêu tàn, hoang phế từ đó. Nơi đây để lại một mối tình vừa rất đẹp lại vừa rất buồn của Hàn Mặc Tử và Mộng Cầm làm ta ai không khỏi ngậm ngùi những câu thơ sầu bi ai: “Lầu Ông Hoàng, người thiên hạ đồn vang, nơi đã khóc, đã yêu thương da diết. Ôi trời ơi! là Phan thiết! Phan thiết!...Hởi Phan thiết! Phan thiết!, Mi là nơi ta chôn hận nghìn thu. Mi là nơi ta sầu muộn ngất ngư”. Ðố cặp trai gái yêu đương buổi đầu nào sống trong Phan thiết lại không tới đây một lần để lại dấu vết một thời. Tôi cũng vậy, đến đây vài lần với nàng, rồi cũng chia tay. “Say thôi lại muốn Nàng nâng đỡ, nhưng Nàng xa từ thuở vu qui. Nhớ thôi lòng những sầu bi, lệ rơi vào rượu, hàng mi lờ đờ”. Bên kia, cụ Nguyễn Thông nằm đó, chắc cũng thương cho sấp nhỏ, không nói một lời. Ông sinh năm 1827 tại Long an, đậu Cữ nhân năm 1849, làm Ðốc học Vĩnh Long, rồi Ðốc học Bình thuận năm 1881, sống và mất năm 1884 tại Phan thiết, thọ 57 tuổi. Con ông, ông Nguyễn Trọng Nội tham gia Phong trào Ðông du của cụ Phan Bội Châu, lập ra trường Dục thanh, nơi có “Ngọa Du Sào” của thân phụ làm chỗ đọc sách, ngâm thơ lúc còn sống. Trường mà Hồ Chí Minh đến sống nhờ như thể anh cai trường quét rác mà nói là dạy học, làm tang thương biết bao gia đình sau nầy, vì chính ở nơi đây làm “khu di tích bác Hồ” và đuổi đi cư dân cố cựu hằng nhiều chục năm. Gia phả Nguyễn Thông, cứ theo tên lót thì biết vai vế gia tộc: trọng, quý, minh...theo như anh bạn tôi thuộc giòng họ Nguyễn Thông nói lại. Con của ông là Nguyễn Trọng Nội, cháu của ông là Nguyễn Quý Phầu, Nguyễn Quý Môi mà Phan thiết thời đó không ai là không biết, ngay cả chúng tôi còn bé tí tẹo. Chắt của ông là Nguyễn Minh Luật, rể nhà văn Bình Nguyên Lộc, bạn tôi, tù từ Yên bái, Lào cai, Hoàng liên sơn ngoài Bắc. Phan thiết là một hội nhập hữu duyên của những người miền Trung: từ Quảng Bình, Quảng trị, người của chúa Trịnh, chúa Nguyễn Phúc Lan bắt được, đến Quảng nam, Quảng ngãi, Phú yên, người của nhà Tây sơn, vua Gia Long bắt được đem hết vào đây khai phá vùng đất mới với dân Chàm địa phương. Sau Hiệp định Genève năm 1954, dân Hà tỉnh, Nghệ an sống nghề biển vào vùng cồn cát Thương chánh, Ðầm, lập ra ấp Vĩnh thủy, Vĩnh phú và sống nghề trồng trọt, ruộng nương thì khai hoang vùng Hàm thuận lập ra ấp Văn phong ở Mương mán và Văn lâm ở Phú lâm. Dân Ba làng, Thanh hóa ở cầu Ké lập ra xã Thanh hải. Thanh hải xưa là một vùng “động”, “sở thùng” hoang liêu những cây mù u, bồn bồn, xương rồng, lưởi long, cây keo, dây gai...cát và cát. Những năm Ðệ thất, Ðệ lục...chúng tôi thường 5-7 đứa đèo xe đạp ra đây bắn chim, tắm sông, bắt dòm. Như một phép màu, vài thập niên sau, tính cần cù, thông minh, đoàn kết…người dân Ba làng đã lập ra một Thanh hải, phố phường giàu có, sầm uất, những “xóm đạo” thuần túy và tiêu biểu. Ðã một lần được theo trường Phan Bội Châu leo dốc lên cắm trại ở lầu Ông Hoàng và xuống dốc, đi qua “Ðá Ông Ðịa” cắm trại ở Rạng, cách Mủi né chừng 5 cây số và Phan thiết 17 cây số. Ðồi cát, rặng dừa, biển xanh...khiến lòng ai cũng cảm thấy nhè nhẹ, chơi vơi, mênh mông! Bắt “dông”, ăn mãng cầu dai, uống nước dừa, tắm biển, tuột cát…với bạn gái mới chớm tình yêu đương đầu đời thì thần tiên quá chừng! Làm người mộng du về tìm dĩ vãng những nơi một thời dấu chân kỷ niệm, không phải nhà biên khảo ngúy ngoáy hết những “cái có”, “cái của” Phan thiết, Bình thuận. Tôi mò mẩm về vạn Khánh Long trong phường Ðức long, nơi ê a lớp Tư với thầy Thính, lớp Ba với thầy Lê năm 1953,1954 ngay trong Vạn và sống gần cả thời son trẻ. Trưa hè theo bạn, đong đu qua lại 2 cây bông sứ màu vàng trắng, chơi “năm mười mười lăm”, đánh “đáo lạc”, làm “Hoa kỳ anh Hoa kỳ em” và nhất là, coi lễ “Ông lụy”, xem “múa bóng”, xem hát bội đêm ngày 15, 16, 17 tháng 6 Âm lịch hằng năm trong kỳ lễ “Thần Nam Hải”, còn gọi là “Lệnh Sanh Ông” mà người thường gọi là cá voi. Làm sao mà quên cho đành, vào niên khóa 1954-1955 học lớp Ba, nhờ đứng nhất toàn trường Tiểu học Ðức long về học lực và hạnh kiểm mà phần thưởng được Trung tá Tỉnh trưởng Thái Quang Hoàng phát cho quá nhiều đến nổi, tôi và ba tôi phải đi xích lô mang về. Vạn là làng của những người sống nghề đánh cá ven biển, ven sông, có tính cách nghề nghiệp.Vạn Nam nghĩa thuộc phường Ðức nghĩa.Vạn Nam hải thuộc phường Hưng long. Vạn Khánh long thuộc phường Ðức long…Lớn nhất và có tính lịch sử nhất là Vạn Thủy tú nằm trong địa phận phường Ðức thắng, trên đường Ngư ông có nhiều ổ gà, mặt hướng ra biển gần đó, xây dựng từ năm 1762,cổ nhất Phan thiết.Vạn Thủy tú vẫn còn những di chỉ, sắc phong thời Tự Ðức,Ðồng Khánh, Duy Tân.. và bộ xương cá voi lớn nhất nước. Vì là xóm biển, bên cạnh Vạn còn có làng. Làng tôi có khi kêu là Hộ Ðức long, có khi là Ấp Ðức long, có khi là Phường Ðức long với mái đình là đình Ðức long, xưa thường gọi là đình Tú long, cũng gần nhà nhưng không thân. Vạn Khánh long là làng của những ngư dân xóm Câu, phường Ðức long và xóm Ghẹ, phường Lạc đạo hợp lại.Nhà tôi trọn lỏn trong thẻo đất chưa đầy 1 cây số giữa biển Ðức long và sông Cà ty. Chuyện xấp nhỏ chết đuối là thường.Một lần cả đời không quên,may nhờ anh bạn Bé bơi ra cứu, không thì chết đuối tại khúc sông “Mả lở” từ năm xửa, năm xưa. Hồi đó khoảng những năm 1950, ở đây kín mít những mả vôi to lớn, chắc chắn của ngưòi Hời xa xưa, xen lẫn mả đất, mả xây sau nầy của người Việt và một ít của người Tàu trên động cát ngà ngà, chạy dài lên tới đồn chữ Y, tới Mả lạn, tới Căn, đầy những hang ổ rắn, chuột, chồn, mèo, chó hoang, cây gai lưởi long, xương rồng, cây keo, cây me và cây mù u xanh lơ, cây bồn bồn bạc thếch, dây leo, cỏ dại chằng chịt, cô liêu vài chục gia đình lơ thơ, quạnh quẻ. Nơi cho chúng tôi thả giàn dang nắng bắn chim sẻ, bắt dế đá, bẩy “dông thềm”, đôi khi đánh lộn nhau rồi ôm bụng cười huề và có lúc thì, bị “chó đẻ” rượt chạy trối chết. “Dế lửa mạnh càng, dế than mạnh thúc, dế hang chịu húc, dế trục không thua ai”, chúng tôi thường kháo nhau như vậy và khoái dế tại đây lắm, đá thắng hết cả dế Lạc đạo, dế Ðức nghĩa, dế Ðức thắng, có lẻ “tụi nó” quen “chiến đấu” trong vòng “lửa đạn”. “Dông thềm” con nào con nấy đỏ ối, to lớn dềnh dàng, có thua gì dông ở Mủi né, ở Lương sơn? Nói thì nói, gia đình tôi chưa ai “dám” ăn thịt dông bao giờ. Ở đây, vào những ngày tháng Chạp, lễ Thanh minh, người ta đi dẫy mả, cúng mộ, đông hơn ngày hội, từ 3-4 giờ sáng đến chiều tối, cũng là nơi hằng ngày tôi phải chứng kiến tận mắt những đám tang hiu hắt buồn và người ta than khóc thảm thiết. Ðêm đổ xuống như lãng đãng đâu đây hồn ma bóng quế nhát người yếu bóng vía. Lũ trẻ chúng tôi lỡ chơi khuya về, phải hai tay nắm thật chắt, vừa chạy thật nhanh vừa hét thật to “án ma ni bát nhị hồng”, mà không biết ý nghĩa gì ráo. Sau được nghe nói: “Án Ma ni Bát nhị Hồng” là câu chú “Lục tự Ðại minh Chân ngôn” tiếng Phạn của người Tây tạng thuở xưa, cầu Quán Thế Âm Bồ Tát, viết theo âm chữ La tinh là “Om Mani Padme Hum”. Trong làng thôn hiu hắt nầy thuở đó, nổi tiếng nhiều ma, nào là “ma Gáo”, “ma Hời”, “ma Trơi”, “ma Chó”, ngán nhất là “Ó Ma Lai” nửa đêm rút đầu ra khỏi thân người, mang theo khúc ruột lòng thòng tìm ăn phân người. Ai chẳng may “ịn” cái của mình ra đó bị nó ăn, trước sau gì cũng chết. Ai cũng kể, mỗi người khác nhau thêu dệt có có không không đến hãi hùng. Tôi chưa bao giờ thấy hay “bị nhát. Trừ nhà ông Cữu Mạnh bán thuốc Bắc thuốc Nam văn minh giàu có, thời đó dám đúc 3 cột đèn “béton armé” dẫn điện từ đường cái quan vào tận nhà trong xóm xa gần biển, còn lại hết thảy nơi đó là những bạn chài, những dân vùng Việt minh về, những lao động tay chưn, những thợ mộc, thợ hồ, thợ cưa lặt vặt... sống cơ cầu. Trách gì già trẻ trai gái, cứ tự nhiên không mắc cở chút nào, ra bờ sông thoải mái xả “cái nợ đời” dưới hàng cây bần, cây mắm đang reo cười trong gió. Và không tránh khỏi chúng tôi, có khi phải tắm trên giòng sông lềnh bềnh “cái nợ đời” của ai đó. Trong khu phố nhỏ nhoi, nghèo nàn nầy vào những năm khai thiên lập địa như vậy đó, không thể không có “Thím Bảy Bánh Căn”, má của anh bạn Sáu ngoẻo. Tôi cứ phải ngồi trên cái “đòn” bệt sát đất trước nhà ông Tửng mỗi sáng, chờ bánh căn nóng hổi ra khuôn. Thím vừa quạt lò, vừa múc bột đổ vào khuôn, đậy, dở nắp “dung”, cạy bánh ra, một cái chấm hành mở, một cái không, kẹp vào nhau thành cặp, để vào tô, chan nước mắm hay nước cá kho, nhanh như máy cho tôi ăn kịp đi học. Nước mắm đo đỏ, mằn mặn, chua chua, cay cay... và nước cá nục hay cá ngừ kho mía lau đen đen, lạt lạt, beo béo, ngòn ngọt, thơm thơm mùi tỏi ớt. Bây giờ nhớ lại mà thèm. Nhà tôi không giàu nhưng ngon lành hơn ai trong “Xóm Ngũ Hành” nầy, có cái máy hát lên dây thiều và gắn kim, hiệu Columbia mà bà con quen gọi là “Cô lum da, con chó có cái loa” và cây đèn “măng sông” đọc theo tiếng “manchon” của Tây do ông Carl Auer von Welsback, người Áo sáng chế từ năm1887. Nhờ hai bửu bối nầy mà tôi còn nhỏ xíu và anh kế cũng chẳng lớn hơn bao nhiêu, được mời hết đám cưới nầy đến đám hỏi kia để “hát cho vui” và “sáng cửa sáng nhà” giùm cho người ta “xôm tụ”. Anh tôi canh lên dây thiều cho đúng, đừng yếu, đừng đứt; canh cây manchon cháy sáng cho ngon lành, đừng tối, đừng tắt. Tôi mài kim cũ, lau dĩa, đừng để ông Út Trà Ôn, cô Lệ Liễu... “hát cà lăm” hay “kéo nhựa”: “Ôi! nhìn trời hiu quạnh, màn đêm sương gió lạnh, hướng quê nhà, lòng thêm chạnh tủi niềm riêng. Em Lan ơi, muôn dặm xa xăm, xin em giữ trọn hương nguyền, để cho người cô lữ khỏi phải mang niềm tủi hận...” hay là “Chính giữa cái mả cao, hai bên cái mả thấp, chú ấy đem chôn lấp xác bướm với cành lan...” Cũng thời đó, an cư lạc nghiệp lắm, chưa thấy chiến tranh, đi chỗ nào cũng nghe Ngọc Cẩm - Nguyễn Hữu Thiết giọng lờ lợ Huế-Quãng Trị qua cái “radio ấp chiến lược”:“trong đêm trăng, tiếng chày khua, ta hát vang trong đêm trường mênh mang. Ai đang xay, chày buông rơi nghe tiếng vơi tiếng đầy...” hay “đêm nay bao con thuyền về đậu xuôi mái. Ai ca dưới trăng ngà, gần xa vắn dài, mái chèo khoan thai, trên sông hai màu, con thuyền về đâu. Ô hay! sao trăng rụng xuống cầu?...” mà thương cho thời tuổi trẻ qua mau quá, đất nước thanh bình ngắn ngủi quá!... Hồi đó, tôi cứ áo thun, quần xà loỏng, cái nạn thun lội khắp Xà khòm, chùa Ông Rau, cầu Bốn mươi, Lò tỉn, Mả lạn, Căn, Phú long, Phú hội, Phú hài, Xung phong, Ðại nẫm, Vĩnh phú, Vĩnh thủy, Thanh hải… “người đen thủi đen thui như Hời” - má tôi thường nói vậy - .Lũ chúng tôi: Hùng cận, Tăng dịt, Cẩm ná…và tôi, thường được sư bà chùa Mã lạn, còn gọi là chùa Long hải, nằm trên những bậc thềm cao, đối diện là chùa Bảy đầu rồng mới làm, do ông Biện Thành Nhơn người Phú yên đứng coi cất năm 1960, thầy Giác Thạnh trụ trì. Gần như lúc nào cũng vậy, Sư bà vừa phơi bông sứ làm nước uống vừa lấy chè, xôi, chuối... cho chúng tôi mà nói: “ăn no đi các con” và khuyên thật nhiều rằng: “đừng bắn chim, tội lắm!” “Dạ dạ”, rồi lại đi bắn. Chúng tôi chưa làm theo lời dạy một lần. Tội nghiệp Sư bà! Dễ ghét và lạ đời mấy thằng nhỏ! Từ năm Ðệ ngũ trở đi, mới biết chút “mèo mỡ”, ngâm nga thư tình, rong chơi những cuộc hẹn hò, lang thang những đường phố vắng! Từ Phú hài theo hương lộ, băng qua Xóm lụa, nơi hợp lưu của các con sông Cạn, sông Cái, sông Quao, cũng là nơi người ta họp thành xóm, vừa mua tơ, mua tằm ở “Xóm tằm” ngoài vùng “Chợ lầu”, lại trồng thêm dâu, nuôi tằm, ươm tơ đủ để dệt lụa bán tứ xứ. Dẫu bây giờ tên gọi chính thức là Phú long, nhưng ai ai cũng còn quen gọi tên xưa kỷ niệm “Xóm lụa”. Phú long, nổi tiếng lòng heo bánh hỏi, “Ai về Phan thiết cho theo, Phú long bánh hỏi lòng heo, nhớ hoài”. Nơi khi xưa gia đình tôi tản cư đến, trong một lần chạy trốn Tây đi “patrouille”, ba má tôi đã bỏ quên tôi đang ngủ trên “đòn bào” giữa nhà. Nơi hồi nhỏ thấy ông thầy ngãi đạp, bóp, nhai vỏ chai beer lớn mà trị “bịnh đàng dưới” cho bà chị họ. Nơi vẽ vời phơi phới kỷ niệm với người bạn gái từ Sài gòn ra. Mỗi khi ra chơi vùng nầy, có lên, xuống dốc lầu Ông Hoàng thì, chúng tôi nhất thiết cũng phải ghé vào chợ Phú hài làm một ly đá chanh muối dưới tàng me già kín nắng, rồi mới tiếp tục lên đạp xe đạp, chứ không nổ máy Mobylette, Candy, Sach, Goebel hay Puch như mấy bạn con nhà khá giả thời bấy giờ. Trên đường băng qua Phú long, có lúc chúng tôi chạy vào thăm, thắp nhang “Mộ Thần Thái Giám” xa xa bên kia đường trên hương lộ Phước Thiện Xuân nầy. Mộ to, lùm lùm tròn, rêu phong, nứt nẻ, bên cạnh có con ngựa đúc, sụp quì như tỏ lòng tôn kính và trung thành. Nghe kể: “ngài đi ngựa xuôi Nam, đem theo hài cốt vua Quang Trung trốn cuộc truy sát của quan quân vua Gia Long vào năm 1802, bị tử thương, mất đầu. Con ngựa cứ mang xác ngài chạy mãi, chạy mãi đến đây, ngày xưa gọi là Sơn Thủy, đuối sức, chết. Lịch sử là sự phơi trần xương, máu, chết chóc, nước mắt, điêu linh... mà nơi đây, Phan thiết, Bình thuận ngày xưa là những bãi chiến trường khốc liệt Việt- Chiêm, Gia long-Nguyễn Huệ người giết người ghê gớm! Oan hồn, uổng tử vật vờ làm “... ma Bình thuận”. Qua cầu Phú long về hướng Phan thiết là Kim ngọc. Ở đây có nhà thờ cổ Kim ngọc, được cha Pháp Bennattat dựng sơ sài năm 1748, là một trong bốn nhà thờ đầu tiên, xưa nhất ở Bình thuận: nhà thờ Lạc đạo, nhà thờ Kim ngọc, nhà thờ Tầm hưng và một nhà nguyện ở sông Lũy. Ðến những năm 1833-1890 bị đốt phá nhiều lần bởi lệnh cấm đạo, bởi Phong trào Văn thân, bởi “Bình Tây Sát Tả”... Sau do cha Nguyễn Thông Lý cất lại năm 1919 cũng bị chiến tranh Việt Pháp, Tết Mậu thân của Việt cộng phá hoại...Qua bao lần hưng phế, “Nhà Thờ Mới” khang trang, kiểu cách giống nhà thờ Ðức bà Sàigòn được hoàn thành ngày 9/11/2006 sau hơn 7-8 lần trùng tu, dời đổi, làm mới. Ở đây lại nhớ anh em thằng Chà, thằng Lưới. Mỗi lần tụi tui xích mích với nhau, thì y như là “Ông Phật trật cu”, “Ông Chúa múa ở truồng”, mà chẳng giận nhau bao giờ. Nghe nói 2 đứa đi TQLC và BÐQ đã chết từ đời nào! Năm 1985, tù Z.30C ra, tôi đến thăm Nhã ở đây, cùng là bạn tù ngoài Bắc. Nó cũng ra người thiên cổ vì mang “nỗi- ngất- ngư- tù” Hoàng liên sơn về. Nhưng nói về kỷ niệm thì, nhà thờ Lạc đạo mới là nơi để lại trong tôi sâu đậm nhất dấu vết một thời. Nhà thờ cất lại năm 1890, bên kia khu Mã tây trên đường Trần Quý Cáp, từ một nhà nguyện vách tre mái tranh, khoảng những năm 1875-1880 cố Sáng, một người Pháp tên Việt đã xây thành nhà gạch mái ngói. Các cố Mossard, Masseron mở thêm nhà xứ cho các vị Thừa sai, sau sẽ là Chánh xứ lần lượt là cố Henrisson, cố Hiền, cố Ba đều là những người Pháp lấy tên Việt, cố Brugidou...cho đến cố Victor Caillon là vị Thừa sai sau cùng. Linh mục đầu tiên làm Chánh xứ là Cha Giuse Nguyễn Minh Chiến. Năm 1992, Cha Giuse Nguyễn Tiến Hinh đại tu giáo đường, ngôi nhà giáo lý, trường học giáo lý...Ngày 17/1/1975 giáo phận Phan thiết được thành lập dưới sự cai quản của Ðức Giám mục Nicolas Huỳnh Văn Nghi. Nhà thờ giáo xứ Lạc đạo được nâng lên thành Giáo Xứ Chánh Tòa và bên kia đường là Tòa Giám Mục Phan thiết. Ở đây có cây keo cao lớn nhất Phan thiết, đến mùa trái chín đỏ, vòng cong trên cành cao là lúc các chim sáo sậu, cưởng trâu, cưởng bông...ở đâu về thả giàn vui thú mà thiện nghệ ná thun như chúng tôi chưa bao giờ bắn được con nào. Lạ thật! Cũng tại đây có cây me già sum sê nằm bên kia đường trong khuôn viên ngôi nhà cổ trở thành tòa nhà Giám mục. Me dốt đầy cành mà không làm sao vào được. Các cô chịu chảy nước miếng! Cây me, cây keo, nhà thờ nầy chứng kiến từng ngày tôi qua lại, lớn lên và những đêm về một mình với nỗi sợ ma Bình thuận, khi mà xe phở bắc của anh Bắc Kỳ trước nhà thờ đợi khách khuya về bán “xíu quách” và vài “chuyện trời ơi” không được nữa, đã dọn về. Ngày đó Noel vui lắm, thánh lễ, rước kiệu, Chúa sinh và đặc biệt chờ ăn “réveillon” với bồ. Rẻ trái đường Ðồng Khánh, đi một chút là chùa Phật Học mới xây năm 1940 với tên An Nam Phật Học Hội. Năm 1950, chùa thành lập Gia Ðình Phật Tử đầu tiên ở Phan thiết cũng là trụ sở Tăng Già Bình Thuận từ những năm 1951 đến 1964. Dù không cổ kính như các chùa Phật Quang, còn gọi là chùa Cát xây năm 1736 ở Bình hưng, chùa Liên Trì xây năm 1756 ở Ðức nghĩa, chùa Bửu Quang xây năm 1762 ở Phong nẩm, chùa Bửu Sơn xây năm 1800 ở Phú hài, cạnh lầu Ông Hoàng..nhưng chùa Phật Học được xem là chùa Tỉnh Hội của Phật giáo toàn tỉnh Bình thuận. Là một Phật tử nhưng tôi ít đi chùa đọc kinh và sám hối, nhưng rõ ràng là, trong tâm khảm tôi, chùa để lại biết bao kỷ niệm thời trai trẻ. Nhớ những đêm thuyết pháp của các thầy Thích Tâm Châu, Thích Hộ Giác, Thích Giác Ðức thời biểu tình chống Ngô đình Diệm, người là người. Nhớ những đêm văn nghệ ngày Phật đản, ngày Vu Lan…thuở còn nhỏ, đông quá là đông người, phải leo cây, leo rào, leo tường…bị la, bị rượt, bị đuổi làm sao mà quên!? Phan thiết không ai không biết “Lễ Nghinh Ông” cứ 2 năm 1 lần của các bang người Hoa tại chùa Ông thờ quan Thánh đế quân trong 3 ngày: lễ Thỉnh kiệu bà Thiên hậu (bên chùa Bà), lễ Thỉnh nước , lễ Thỉnh kinh, lễ Quan thánh xuất du và “hè nia”, “xô giàn”, cả thành phố như trẩy hội tưng bừng, rồng, lân, phèn la, chập chả…và người y như thể tuồng hết ra ngoài đường chen lấn mà tôi không thấy ở đâu có. Chùa Ông còn gọi là “Quan Ðế Miếu” thờ Quan công, do người Tàu lập ra từ năm 1770. Chùa có hình chữ Kim, còn lưu giữ những chuông cổ giá tri thời nhà Thanh. Hồi đâu 17,18 tuổi, chúng tôi khác gì những thằng a dua đến chùa ngộp thở khói nhang, khói pháo Giao thừa, bày đặt xin xăm, coi quẻ, đoán vận mạng với vài thằng bạn, đôi khi với một cô bạn, cũng hay hay, vui vui, khó quên! Năm nào ngày mồng 2 Tết, chúng tôi trai gái y như hẹn, rủ nhau đi “Chùa Núi”, thắp nhang lạy Phật là phụ, chính là để rong chơi những cuộc hẹn hò. Dù leo đèo, leo đồi dài hơn 2 cây số, có lúc dốc đứng 45 độ và ngoắt ngoéo như cùi chỏ mà vui, không mệt. Bây giờ nghe nói có dây cáp, chắc mất thú vị nhiều lắm, nhất là đâu còn nắm tay bồ nóng hổi mà dắt, mà dìu, mà kéo, mà lôi, mà…có khi ôm nữa. Chùa ở độ cao 400 mét trên núi Tà cú, cao khoảng 650 mét, cách Phan thiết chừng 28 cây số về phía Nam. Năm 1872, thầy Thông Ấn, thế danh là Trần Hữu Ðức, người Phú yên, sinh năm 1812 và mất năm1887, lên tu trong một hang đá, sau gọi Ià Hang Tổ. Năm 1880 thầy có công trị lành bệnh cho Hoàng Thái hậu Từ Dũ, được vua Tự Ðức ban danh là “Ðại Lão Hòa Thượng” và chùa là “Linh Sơn Trường Thọ Tự”. Ngày 5/10 Âm lịch năm 1887, Ðại lão Hòa thượng Thông Ấn viên tịch, ngày nầy trở thành ngày Giổ Tổ. Thầy Tâm Hiền kế vị, lập thêm chùa phía dưới là chùa Long Ðoàn theo mẫn ý của Ðại lão Hòa thượng lúc sinh tiền. Linh Sơn Trường Thọ Tự có tượng Phật nằm, dài 49 mét và cao 7 mét bê tông cốt sắt, sơn trắng, do điêu khắc gia Trương Ðình Ý, tốt nghiệp khóa điêu khắc trường Mỹ thuật Ðông dương năm 1935, đang ở Sài gòn, năm 1960 tự nguyện “bỏ phố lên rừng”, trần ai hơn 3 năm trời mới làm xong pho tượng nổi tiếng khắp vùng Ðông nam Á nầy vào thời thầy Thích Vĩnh Thọ trụ trì. Phía dưới là các tôn tượng “tam thế Phật”: A di đà, Quán thế âm và Ðại thế chí. Hồi còn nhỏ, nghe mấy bà mẹ ru con “cô kia tóc bới đuôi tiên, ghe bầu đi cưới một thiên cá mòi, không tin giở hộp ra coi, rau răm ở dưới, cá mòi ở trên”. Ngày đó, cá mòi dầu ở Phan thiết sao mà nhiều thế!? Cá mòi dầu kho măng, cá mòi dầu kho hành ớt..ai không ăn, không thèm, không nhớ..đến nỗi “văn chương không bằng xương cá mòi”. Bây giờ đâu còn nữa! Thời bấy giờ, thỉnh thoảng văn nghệ trong thị xã nghe Chí Tòng ,Trần Công Khai, Thu Nhi, Trang Mỹ Hạnh, Lâm Minh Văn, Trần Thiện Thanh…hát, vợ chồng La Tú Mỹ- Ngọc Thu, đờn Accordion và Violon, lúc mà 2 người là Trưởng ban nhạc ty Thông tin Bình thuận. Trần Công Khai tức ca sĩ Anh Khoa, sinh năm 1948 tại Ðức thắng, Phan thiết trong một gia đình đông anh chị em. Năm 1962, mới 14 tuổi với bài “biệt kinh kỳ” đã đoạt giải nhất toàn quốc nam ca sĩ mầm non, cuộc sống lang bạt Nha trang, Ban mê thuột, Phan thiết..., sau đó nhiều năm, theo Jo Marcel chơi nhạc và trở thành ca sĩ nổi tiếng trong các phòng trà Tự do, Queen bee ở Sài gòn với những “bài không tên…” của Vũ Thành An. Bạn tôi rất thân, Trần Khánh Thiện là anh cả của Anh Khoa, dạy Anh văn trường bán công Phan Chu Trinh Phan thiết, đẹp trai, thanh nhả, phong lưu một thời trước năm 1975. Chúng tôi cùng tháng năm sinh, cùng Biên Tập Viên Cảnh Sát Quốc Gia, cùng khóa 2 Học viện CSQG, cùng làm việc một thời và sống cả đời ở Phan thiết, cùng qua Mỹ theo chương trình HO, cùng tù Việt cộng trong các trại suối Máu trong Nam, trại Yên bái ngoài Bắc. Làm sao tôi quên được từng lời nói bi quan muôn thuở của anh ta sau gần 1 năm Vĩnh Mỹ, tức nhạc sĩ Minh Kỳ chết và anh bạn Ung Văn Giàu, anh cả của Ung Văn Ðức, cùng làng quê của tôi bị cưa cụt một chân ở Biên hòa!? Ðầu tháng 8/1976, giận đời làm sao, anh ta tiên tri: “chắc mình ra Bắc”. “Miệng ăn mắm, ăn muối”, y chang, cuối tháng, những thằng tù chúng tôi được chúng nó bảo: “để tạo điều kiện thuận lợi cho các anh cải tạo tốt...các anh đang đứng trên mảnh đất Xã hội Chủ nghĩa”, 6 năm. Nhưng Thiện không cùng học trường Bộ binh Thủ đức như tôi, không cùng ra Quảng ngãi, Ðà nẳng, Nha trang, Phan thiết, Quãng đức như tôi, ảnh may mắn chỉ ở Phan thiết và sống đời với Phan thiết yêu thương của mình. Nói đến Phan thiết, làm sao không nhắc tới Trần Thiện Thanh, sinh năm 1942 tại Phú trinh, một nhạc sĩ tài ba cũng là một ca sĩ danh tiếng. Tôi biết sơ về ảnh từ ngày lảnh giải nhất ca sĩ toàn tỉnh đâu khoảng năm 1958,1959 gì đó, tại vườn bông thị xã, nhưng biết nhiều trên sân cỏ Quang Trung và Lạc đạo, dáng gầy, nhỏ con, thường với cái áo thun đỏ dài tay, luôn đứng trong khung thành giữ gôn, bị “dzô” 1 trái là nước măt chảy dài. Anh ta chơi trong đội những người lớn, còn tôi với những anh em nhỏ hơn, cho nên tôi cứ nghĩ, ảnh phải sinh trước năm 1942 Nhâm ngọ của tôi. Dẫu sao, lời nhạc Trần Thiện Thanh và giọng ca Nhật Trường cũng làm tôi cảm xúc thật nhiều thuở học trò cũng như thời chinh chiến: “thôi em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé, để anh buồn như anh chàng làm thơ. Em có hay trời buồn, trời chuyển mưa đó không. Biết yêu em là biết nghe chờ mong..”, làm thơm lây tôi người Phan thiết. Thời mà Trần Thiện Thanh ôm banh ra sân, thường là sân Lạc đạo. Nói là sân, thật ra chỉ là khu đất không còn cỏ, bao quanh là nhà người ta ở, cũng là lúc mà những thằng nhỏ chúng tôi 14,15 tuổi ở Ðức long lập ra đội banh Thiếu niên Ngôi Sao Sáng. Ðội banh có anh em thằng Lê Ðinh Bính, Lê Ðình Thường, Ung Văn Ðức, Nguyễn Văn Sáu, Nguyễn Văn Hà...mỗi tuần xin ba má 3 đồng, đậu cho ông thủ quỷ Bính. Vậy mà, mua được trái banh hiệu Hungary và 2 con vịt, nải chuối, nhang đèn...cúng ra quân. Trận đầu tiên đấu với bọn thằng Trúc, thằng Tùng...bên Văn thánh trên sông Cà ty, thua 0-7, tất cả đều khóc, to nhất vẫn là Ung Văn Ðức. Trái banh được anh em thằng Bính giữ kỷ lắm, không cho ai ngoài hội đá, bị mang tiếng “đem để bàn thờ mà cúng” là vậy đó. Ðầu năm 1992, tôi gặp Nguyễn Bắc Sơn ngang phòng răng Nha sĩ Quãng bên Phú trinh, sau phòng ngủ Trần Nam Hưong, có khác đi nhiều hồi đó. Chúng tôi cùng học trường Phan Bội Châu, quen biết nhau, không thân nhau từ những năm 1958 khi Nguyễn Văn Hải (tên thật của Nguyễn Bắc Sơn) học bên Pháp văn, tôi bên Anh văn. Hải, chúng tôi thường gọi là “Hải móm”, nhỏ hơn tôi 2 tuổi, dáng nhỏ thó mà lanh lợi, thường lên xóm Ghẹ tập võ với Sáu Lựu, với Thời... Bẵng vài chục năm tao loạn mới gặp lại, thì ra Nguyễn Văn Hải mạnh dạn ngày xưa bây giờ là thi sĩ Nguyễn Bắc Sơn tóc dài biếng chải, lừ đừ, thích rượu, làm thơ. Không hiểu làm sao anh ta lại làm được thông dịch viên tiếng Anh cho Lực lượng Ðặc biệt ở trại Phi hổ chợ Lầu, Bình thuận đến lúc đóng cửa vào tháng 3 năm 1964 để nhập vào Tiểu khu Bình thuận, khi mà anh ta học tiếng Pháp cả thời Ðệ nhất cấp ở trường Phan Bội Châu Phan thiết... Dù không phải là một quân nhân thuần túy, nhưng anh thực sự là một người lính “chiếng” , từ đó ta có những vần thơ Nguyễn Bắc Sơn “bất cần đời”, “xã láng”, “bạc mạng” thật hay và dễ thưong…:”Mai ta đụng trận, ta còn sống. Về ghé sông Mao phá phách chơi. Tiêu hết nỗi sầu cùng gái điếm. Ðốt tiền mua vội một ngày vui” hay “Khi tao đi lấy khẩu phần. Mầy đi mua rượu đế Nùng cho tao. Chúng mình nhậu để trừ hao. Bảy ngày sắp đến nghêu ngao trong rừng” (“Chiến tranh Việt nam và tôi” năm 1962). Ngang đây cũng không thể không nhắc đến tên một nhạc sĩ lính tài ba của Phan thiết mà bản nhạc của anh đúng thời tôi thi Tú tài 1 ở Nha trang vào Hè 1963, nhạc sĩ Dzũng Chinh với “Những đồi hoa Sim”. Anh tên thật là Nguyễn Bá Chính, người Bình hưng, Phan thiết, con ông Trưởng ty Bưu điện Phan thiết Nguyễn Xuân Hước, sinh hoạt văn nghệ trong Gia đình Phật tử Tỉnh hội Phật học Bình thuận. Ðại đội trưởng (?), thuộc Trung đoàn 45 Sư đoàn 23 Bộ binh, tử thương tại An phước, Ninh thuận, táng tại Nghĩa trang Quân đội Nha trang, Khánh hòa. Những bản “hận Tha la”, “Tha la xóm Ðạo” của anh không sắc nét nỗi niềm éo le, u uất như “Những đồi hoa Sim” đã “mê hoặc” tấc lòng trai gái thời binh lửa, nghe buồn tê tái, thúi ruột! Chúng tôi, những thằng trai vài ba đứa đời lính trước mắt, lang thang hết ngõ phố đêm Phan thiết nghêu ngao “những đồi hoa sim, ôi những đồi hoa sim tím chiều hoang biền biệt…” vào những quán kem Khánh long, Liên hưng và nhất là Mỹ wũ... bắt chước đốt môi điếu thuốc tàn, kéo đời tháng ngày héo hắt! Không làm sao quên đuợc thằng Ðặng Văn Nghê ở Ðức long, thi rớt Tú tài 1 cứ tự nhiên lên học Ðệ nhất với người ta, đi Ðồng đế sống dai, mà chết mau theo lon Chuẩn úy, khi nỗi nhọc nhằn nơi trường Bộ binh Thủ đức chưa hết và chưa mòn lệnh “đứng dậy các tân Sĩ quan”. Không làm sao quên đuợc thằng Nguyễn Văn Hùng ở Tầm hưng đậu Tú tài 1, đã ghi danh học khóa Sĩ quan Trừ bị Thủ đức, lại từ bỏ bồ Cao Thị Minh Tâm, chun đầu vô rừng chết mất tiêu theo “ông già tao làm Huyện ủy Phan rang” bởi có thể rừng thiêng nước độc mà cũng có thể từ một viên đạn của thằng bạn học nào đó! Ôi!, những con đường Phan thiết nhỏ đến nỗi đứng phố nầy gọi “ới” thì phố kia “ơi” mà chất ngất kỷ niệm trùng trùng. Con đường Gia long, con đường có “ngã tư quốc tế” mà bên hông “Vạn Quần Trà Gia” là mái hiên che làm “tiệm chè không tên” của người Tàu bán chè đậu trắng, chè đậu đỏ, chè đậu xanh ngon lắm, cho chúng tôi, những thằng Trúc, thằng Hải, thằng Nghĩa, thằng Hùng tàng tàng phố đêm, được ngồi đỡ chân mệt, lại còn được thưởng thức món “giải nhiệt” đặc sắc, đả cái miệng hết sức! Con đường nầy hồi đó làm sao quên được những đêm chợ Tết đi “quậy” những đứa con gái nhà ai với mấy thằng cúng cơm: Tài nhỏng, Hùng cận, Hòa thợ hồ, Nghê nhà quê…vui quá chừng và thử hỏi ai người Phan thiết không nhớ những chiều ông Huyền Vũ trực tiếp truyền thanh các trận túc cầu Việt nam đấu với Nam hoa, Hương cảng…hay A.J.S đấu với Tổng tham mưu, Quan thuế đấu với Ngôi sao Gia định…làm cho người, xe đạp, xe gắn máy, ngay cả xe hơi, cả quang gánh nữa, bu kín mít hết khu phố,đâu còn đường xe chạy. Ông Huyền Vũ, tên thật là Nguyễn Ngọc Nhung, sinh tại Phan thiết, nghe nói ở Mũi né (?) năm 1915 và mất vào tháng 8 năm 2005 tại Hoa kỳ, thọ 90 tuổi. Ông viết báo từ năm 1936, năm 1951 làm ký giả thể thao lần lượt cho Ðài Phát Thanh Pháp-Á ( Radio France-Asie ) rồi Ðài Phát Thanh Sài Gon cho đến 1975, tròn 24 năm. Ông có giọng phóng sự thật hào sảng, linh hoạt, kích động…mê hoặc người nghe, ngay cả khi ngồi coi trận đấu trực tiếp trên sân Cộng hòa, trong túi tôi cũng có cái radio transistor nhỏ xíu mở hết volume nghe ông truyền thanh. Bên kia cầu Quan, những cây vông to lớn, gốc bộng, sù sì quanh “Château d’eau” cao ngất có từ thuở tôi chưa sinh, đỏ rực bông với bông không một cái lá, sau những ngày cuối tháng Hai đầu tháng Ba, dịp tiết Nguyên tiêu rồi chim hót, ve sầu vang vang, rộn ràng những ngày Hè nắng nóng..và tôi thẩn thờ làm thơ với thẩn. Ðã có anh bạn nào, có lẻ người Phan thiết, chạnh lòng: “thương hàng cây cũ vườn bông, mùa hoa vông nở rực hồng bình minh. Thương em gái nhỏ vô tình, đạp lên hoa đỏ, lặng thinh tới trường”. Ðêm qua cầu, văng vẳng câu hát xưa: “trên Mường giang, nắng đẹp một chiều, nào thuyền ai lướt trôi. Lắng không gian theo nhịp chèo êm êm nhạc khúc yêu đời...”, mà nhớ Ðoan Thanh, người cho tôi bài hát để đời thời niên thiếu. Nghe Thanh Thúy ca giọng liêu trai, muốn “giã từ vũ khí”. Chiều Thưong chánh, đếm từng con sóng vỗ lao xao, ngóng Ðiệp ở “Hòn” về, thấy lòng nhớ thương vời vợi. Nầy những công viên chiều xuống, chờ bước chân rã rượi những thằng lãng tử đi tới đi lui hết phố phường nhỏ chút xíu, ngồi phiếm chuyện trên trời dưới đất. Mùa Hè, mưa thì xối xã, nắng thì chang chang. Ðông đến, những ngọn gió Bấc ngang tàng thốc cát vào mặt đau rát, “bét” cả mắt, mịt mùng đường đi và xe đạp thì hết đạp nổi.. Có phải vì nắng mưa khắc nghiệt mà thành phố chỉ có 4 rạp hát mà 3 cứ phải thay tên đổi dạng luôn? Rạp Modern lâu đời nhất nằm trên đường Gia Long của bà Bảy Ðẹt, vợ ông cựu Thị trưởng Phạm Ngọc Thìn, sửa sang lại đổi ra Ngọc Thúy. Rạp Bình thuận nằm ngay ngã bảy của ông Thất Ngàn làm lớn lên, đẹp hơn đổi ra Ánh Sáng. Rạp Hồng Kim trên đường Trần Hưng Ðạo, giống nhà kho của ông Hóa mập, con ông Thất Ngàn, chỉnh lại cho có vẻ rạp Ciné một chút và bề thế một chút, thay tên là Hồng Lợi. Chỉ rạp Lilas quá trẻ, chưa cần trau chuốt mới còn chữ trinh Lilas? Có ai thời học sinh lại không ít nhất một lần “coupe course”, trốn học với bồ, hú hí trong các rạp ciné Modern, Bình thuận hay Hồng kim, Ánh sáng... coi xuất “permanent” để bị “consigne” một mình rồi bị người yêu “quịt tình”, đau chết điếng! Các rạp Ciné hồi đó dù chiếu xuất hay chiếu permanent cũng phải “nghiêm chỉnh” chào cờ: “Nầy công dân ơi! Quốc gia đến ngày giải phóng, đồng lòng cùng đi, hy sinh tiếc gì thân sống...”, trên màn ảnh tung bay lá cờ vàng ba sọc đỏ, tiếp theo sau, bài suy tôn Ngô Tổng tống: “Ai bao năm từng lê gót nơi quê người. Cứu đất nước, thề tranh đấu cho tự do. Người cương quyết chống cộng, bài phong kiến bốc lột, diệt thực dân đang rắc gieo tàn phá…” Những lần ngang qua trường Nam Tiểu học, trường Trung học Tiến đức, ty Thông tin, trường Tiểu học Ðức thắng…đang chào cờ, làm sao tôi không dừng lại, giở nón, yên lặng, đứng nghiêm. Quốc kỳ, Quốc ca, Quốc thiều thẩm thấu vào lòng tôi từ hồi nào tấm bé như vậy đó, đố bây giờ làm sao nhạt phai? Cây phượng vĩ trồng năm 1952, ngày mình bắt đầu đi học trường làng ở xóm Bánh tráng Lạc đạo, bây giờ cao quá, xum xuê quá, xanh biếc lá mùa Xuân, đỏ rực, tươi thắm ngày tháng Hè cả một góc đường vào sân banh Lạc đạo, mới biết mình gần đất xa trời! Nỗi buồn kỷ niệm xa xăm bay về, lòng bỗng ngẩn ngơ: “nhật mộ hưong quan hà xứ thị. Yên ba giang thượng sử nhân sầu”. “Quê hương khuất bóng tà dương, trên sông khói sóng cho buồn lòng ai!?”
    Thật, “không nơi nào đẹp bằng quê hương”. Quê hương ở đây của tôi không phải nơi chôn nhau cắt rún ở tận ngoài Huế. Khi tôi chưa biết gì đã theo cha mẹ gồng gánh vào đây, đến bây giờ cũng đã mấy chục năm, thời mà Phan thiết đìu hiu, rồi từng ngày khác đi và tôi lớn lên. Tất cả đổi dời “thương hải tang điền” mới có Phan thiết bấy giờ mà tôi nhận làm quê hương, mà thương nhớ. Nước sông, sóng biển, vườn bông, rạp hát, chùa chiềng, nhà thờ, mồ mả, con đường, trường lớp, chợ búa, đồng ruộng, xóm làng, bà con, bạn bè, bồ bich, chớp bể, mưa nguồn, gió cát, rong chơi…không giống ở đâu đâu, đó là quê hương. Quê hương không đơn giản và chung chung là chùm khế ngọt. Chùm khế ngọt ở đâu cũng có. Ở đâu cũng không có “Château d’eau”, cũng không có giòng Mường giang, cũng không có cây Cầu Quan…chỉ có quê tôi Phan thiết. Quê hương là nơi ta tắm cả một đời người mưa nắng, muôn vạn buồn vui, sống chết từng thời khắc đi qua như mây bay, mây bay vẽ tranh “Vân Cẩu” trên cõi trời cao vô cùng, không nơi nào có được! Bây giờ ngồi ngậm ngùi nhớ cảnh cũ, người xưa, vương vấn mong manh đâu đây, thèm thời nhật ký lưu niệm cho nhau. Người ta chỉ có một quê hương đời người một lần. Người ta không có quê hương thứ hai, thứ ba.... Quê hương của tôi là Phan thiết mà Huế là nguyên quán và Mỹ là đất tạm cư, dù đã sống ở đây gần 20 năm và còn lâu bao nhiêu đi nữa mãn đời phù sinh./.

    NGUYỄN THỪA BÌNH



Chuyện cậu bé James Harrison

James Harrison

   

Năm 1951, một cậu bé mười bốn tuổi ở Úc tỉnh dậy trên giường bệnh với lồng ngực được khâu kín. Một lá phổi đã bị cắt bỏ. Tên cậu là James Harrison, và cậu còn sống chỉ vì những người xa lạ đã hiến tặng mười ba đơn vị máu.

 

Khi đang hồi phục, vẫn còn yếu ớt, cha cậu đã nói với cậu một điều mà cậu nhớ mãi suốt đời: "Con còn sống là nhờ những người xa lạ, không bao giờ gặp - họ đã cho con máu". Nằm đó, cậu lặng lẽ hứa với chính mình. Khi tròn mười tám tuổi, cậu sẽ làm điều tương tự. Nhưng có một vấn đề - James rất sợ kim tiêm.

 

Vào ngày sinh nhật thứ mười tám của mình năm 1954, rất sợ nhưng cậu vẫn đến một trung tâm hiến máu. Lúc hiến máu, cậu nhìn chằm chằm lên trần nhà và nhất quyết không nhìn vào cây kim tiêm...

 

Nhiều năm sau, các bác sĩ phát hiện ra một điều đáng kinh ngạc. Huyết tương của James chứa một loại kháng thể hiếm, có khả năng được hình thành do những lần truyền máu đã cứu sống cậu khi còn nhỏ. Kháng thể đó có thể ngăn ngừa bệnh Rh, một tình trạng trong đó hệ thống miễn dịch của người mẹ tấn công máu của thai nhi. Trước phát hiện này, hàng nghìn trẻ sơ sinh ở Úc đã chết mỗi năm vì căn bệnh này.

 

Máu của James đã thay đổi điều đó.

 

Các bác sĩ yêu cầu cậu hiến huyết tương thay vì máu toàn phần. Quá trình này mất hơn một giờ và yêu cầu đến bệnh viện thường xuyên, thường là vài tuần một lần. Lúc đầu còn hơi do dự nhưng sau cùng cậu đã đồng ý.

 

Trong hơn sáu mươi năm, James Harrison chưa bao giờ bỏ lỡ một cuộc hẹn nào.

 

1.173 lần hiến tặng.

 

Ông hiến tặng trong suốt thời gian làm việc và nghỉ hưu. Ngay cả sau khi vợ ông, Barbara, qua đời, trong cái mà sau này ông gọi là giai đoạn đen tối nhất của cuộc đời mình, ông vẫn tiếp tục hiến. Mỗi lần, ông đều chọn cách ngồi yên, ngoảnh mặt đi và để mọi việc diễn ra.

 

Huyết tương của ông đã trở thành nền tảng của globulin miễn dịch Anti-D, hiện đang được dùng thường xuyên cho các bà mẹ có nhóm máu Rh âm tính. Người ta ước tính rằng những lần hiến máu của ông đã giúp cứu sống hơn 2,4 triệu trẻ sơ sinh ở Úc, bao gồm cả cháu trai của ông.

 

Năm 2018, ở tuổi 81, các quy định yêu cầu ông phải ngừng hiến máu. Trong lần hiến máu cuối cùng, căn phòng chật kín những người mẹ và trẻ em mà cuộc sống của họ tồn tại nhờ ông. Họ khóc. Họ cảm ơn ông. Cũng như những lần trước, James ngả người ra sau, nhìn lên trần nhà trong lần hiến máu cuối cùng.

 

Khi mọi người gọi ông là anh hùng, ông chỉ gạt đi. Ông nói rằng ông ngồi trong một căn phòng an toàn, hiến máu, ăn nhẹ và về nhà. Không khó khăn. Không kịch tính.

 

James Harrison đã qua đời thanh thản trong giấc ngủ vào ngày 17 tháng 2 năm 2025, ở tuổi 88.

 

• (Phan Thế Nghĩa lược dịch từ StoryMood).

 

 





--
====================================================================
Trên Facebook :
http://www.facebook.com/DaiHocKhoaHocSaiGon
====================================================================
 
Bạn đã nhận được bài viết này vì bạn đã đăng ký vào Nhóm "KhoaHocSG" của Google Groups.
* Để đăng bài lên nhóm này, hãy gửi email đến "khoa...@googlegroups.com"
* Để RÚT TÊN ra khỏi nhóm này, gửi email đến "khoahocSG+...@googlegroups.com"
* Để có thêm tuỳ chọn (preference set up), hãy truy cập vào nhóm này tại: http://groups.google.com/group/khoahocSG?hl=vi
---
Bạn nhận được thư này vì bạn đã đăng ký vào nhóm Google Groups "KhoaHocSG".
Để hủy đăng ký khỏi nhóm này và ngừng nhận email từ nhóm, hãy gửi email đến khoahocsg+...@googlegroups.com.
Để xem cuộc thảo luận này, hãy truy cập vào https://groups.google.com/d/msgid/khoahocsg/MN2PR02MB6592EA6DD1333261AF930CB0FC99A%40MN2PR02MB6592.namprd02.prod.outlook.com.
Reply all
Reply to author
Forward
0 new messages