Fwd: ĐIỂM TIN DIỄN ĐÀN 16-02-2026 (SỐ 032-2026)

7 views
Skip to first unread message

Giu Tran

unread,
Feb 16, 2026, 1:29:03 PMFeb 16
to


---------- Forwarded message ---------
From: soan....@hotmail.com <soan....@hotmail.com>
Date: Mon, Feb 16, 2026 at 6:51 AM
Subject: ĐIỂM TIN DIỄN ĐÀN 16-02-2026 (SỐ 032-2026)
To:


GOOD MORNING VIET NAM - CANADA - USA

ĐIỂM TIN DIỄN ĐÀN 16-02-2026  (SỐ 032-2026)

Image insérée


Image insérée





MỤC LỤC

  1. Đầu Năm Khai Bút (T) & Thăm Nuôi Chồng (T.T.)
  2. Trở Về Cố Hương 
  3. Hôm Nay Ngày lễ Valentine 
  4. Duy Khánh
  5. Ngày 30 TẾT (Đ.Văn)
  6. Một quốc gia được bao quanh bởi biển, nhưng người dân lại không có cá mà ăn.
  7. Người ở Lại Charlie
  8. LƯƠNG Y NHƯ….TỪ MẪU 

CHÚC MỪNG NĂM MỚI BÍNH NGỌ 2026
Image insérée


Hôm nay 29 tháng Chạp, ngày mai là năm mới Bính Ngọ, Ban Biên tập Điểm Tin Diễn Đàn xin gởi đến Quý Độc Giả một năm an bình, hạnh phúc và dồi dào sức khoẻ.
Thay mặt BBT,
Lệnh Hồ Công Tử

Đầu Năm Khai Bút (T) & Thăm Nuôi Chồng (T.T.)
*****
1- Thơ : ĐẦU NĂM KHAI BÚT (ThanhSong ntkp)
(Tung Hoành Trục Khoán)
Năm châu bốn biển chân thành nguyện
Mười phương tám hướng rỡ ràng vui
Xướng
5679 1 DauNamKhaiButKimPhu
Năm nay Bính Ngọ đón niềm vui 
Châu chấu làm xe phải giật lùi
Bốn tiết giao tình người dứt khổ
Biển trời kết nghĩa kẻ ngưng xui
Chân tâm hỷ xả đừng cay đắng
Thành ý từ bi gắng ngọt bùi
Nguyện cả muôn loài luôn hạnh phúc
Mười phương tám hướng rỡ ràng vui
ThanhSong ntkp
CA. 01/01/2026
*****
2- Thơ Tranh : THĂM NUÔI CHỒNG (ThanhSong ntkp)
5679 2 ThamNuoiChongKimPhu
Designed by Thanh Song Kim Phú

Trở Về Cố Hương 

  • Được tin chị tôi đau nặng, tôi vội vã bay về Việt Nam mà lòng áy náy tưởng chừng như đang đi vào lòng địch. Trước ngày lên máy bay, ông sui tôi đến cho hay là có người trong toà đại sứ VC báo rằng họ đã đọc hết những bài viết của tôi, kể cả cuốn sách mới in xong chỉ phổ biến trong vòng thân mật. Người này còn thêm rằng những hình chụp các cuộc biểu tình ở Paris không thấy có mặt tôi (chỉ vì đơn giản là tôi không ở Paris) nên kết luận rằng tôi không có hành động chống đối cụ thể do đó được cấp visa về Việt Nam trong ba tháng. Trở ngại ban đầu được trót lọt. Ngồi trên máy bay mà tôi cứ hình dung đến một Hà Nội diễm kiều trước năm 54, khi tôi vào học y khoa Hà Nội. Phố Hàng Ngang, Hàng Đào ngày xưa với những cô gái kiêu sa lịch thiệp đang lờ mờ hiện ra trong trí nhớ. Con đường Cổ Ngư mộng mơ với những hàng cây sà mình xuống mặt hồ Trúc Bạch như để in dấu gót chân thướt tha của trai thanh gái lịch Hà thành vào những buổi chiều cuối tuần ấm áp...

    Qua cái ải kiểm soát Nội Bài dù sao tôi cũng không khỏi hồi hộp khi nhìn những cặp mắt lầm lừ của đám công an súng sính trong bộ áo màu cứt ngựa, nhất là sau khi lật qua lật lại tấm hộ chiếu rồi trao lại cho tôi như còn tiếc rẻ một cái gì. Có lẽ tôi cũng chỉ tưởng tượng và tự nổ một mình thôi, chứ hạng cắc ké như tôi thì phiền hà chi cho đáng, vì hình như lúc này nhà nước đang còn bận lo đấu đá nhau coi bộ hấp dẫn hơn. Tuy vậy tôi vẫn cứ lo nơm nớp vì biết đâu mấy ông cao hứng đuổi tôi trở lại Pháp như nhiều vị đi trước hù dọa thì hóa ra mất toi tiền máy bay mà vừa không được gặp bà chị gần chín chục tuổi như mục đích và . nguyện tha thiết của tôi. Không lẽ nhà nước lại để đánh rơi mấy ngàn đô la "kiều hối" mà tôi mang về để lo cho bà chị?

    Khi ra khỏi sân bay Nội Bài thì tôi mới hoàn hồn. Như vừa qua được một trở ngại (dù chỉ trong tưởng tượng), tôi vui vẻ khen với thằng em ra đón tôi:

    - Sân bay này khá đấy, có tầm vóc quốc tế, ai xây vậy?

    Thằng em nhanh nhẩu:

    - Ta đấy.

    Tôi như bị dị ứng với chữ "ta", nhưng cũng khen:

    - Bốn mươi năm hoà bình có khác, nhưng ai thiết kế?

    Thấy tôi có vẻ hoài nghi, thằng em xuống giọng:

    - Đúng ra thiết kế và công trình là do kỷ sư Nhật, ta chỉ phụ thôi.

    Tôi buộc miệng:

    - Ta làm thợ vịn mà được như vậy là giỏi lắm rồi...

    Để cho không khí nhẹ hơn, tôi bèn đổi sang chuyện hỏi thăm gia đình. Thằng em cho biết chị tôi  vừa mới "nhập viện".

    Tôi nghĩ bụng: quái, ở cái xứ Việt Nam này có biết bao là Viện, nào là Viện Dưỡng Lão, Viện Bào Chế, Viện Uốn Tóc, Viện Thẩm Mỹ, Viện Ung Bướu, Viện Mồ Côi, Viện Kiểm Sát Nhân Dân và gần đây lại có thêm Viện Khổng Tử v.v... thì không biết chị tôi đã nhập viện nào? Hoá ra chỉ có đơn giản là chị tôi mới vào nằm nhà thương. Sau đó tôi biết thêm nhiều chi tiết: lúc đầu chị tôi được đưa vào "trạm trung chuyển" (tức trạm chuyển tiếp) ở bệnh viện Hoàn Mỹ, nhưng ở đây không đúng "tuyến" nên phải "điều" qua bệnh viện Đa Khoa Đà Nẵng, hiện đang nằm ở "khu yêu cầu" của "khoa Nội Tổng Hợp".

    Sau cái chuổi văn chương tân tiến đó thì tôi có được một khái niệm lờ mờ về con đường bệnh hoạn của chị tôi, nhưng tôi lại thấy rất rõ ràng về triệu chứng hiện tại của tôi, xây xẩm mặt mày, choáng váng, nhức đầu... Tôi nhờ thằng em đưa đến một nhà thuốc tây, nhưng nửa đường tôi lại đổi ý vì nghĩ rằng bệnh của tôi chắc không chửa bằng thuốc được, nên vào một hiệu sách lớn nhất Thủ Đô ở phố Trường Tiền để kiếm một cuốn tự điển may ra giải cứu được chứng nhức đầu của tôi.

    Tôi hí hửng tìm được cuốn Tự Điển của cụ Đào Duy Anh và may mắn không phải sốt ruột xếp hàng chờ đợi để trả tiền như mỗi lần mua sách ở mấy tiệm sách Fnac hay Vỉrgin. Ở đây thì vắng như chùa Bà Đanh. Ở chốn ngàn năm văn vật này, người dân thích chen chúc ở mấy tiệm phở tiệm cà phê hơn là ở mấy tiệm sách (những biển ngữ "Hà Nội Ngàn Năm Văn Vật" được treo đầy khắp phố phường trong dịp Tết sắp đến). Nhưng tôi lại thất vọng thêm một lần nữa vì sách của cụ Đào Duy Anh đã viết trước năm 1975 nên không có những danh từ huyền bí mà tôi cần phải tra cứu trong mấy ngày ở Việt Nam.

    Trên đường tới sứ quán Pháp để thông báo sự có mặt của tôi tại Việt Nam theo đề nghị của bộ Ngoại Giao, tôi có dịp đi ngang qua Hàng Ngang Hàng Đào, những âm thanh rất gần gủi với Hà Nội, như dội lại trong tôi lòng rạo rực của sáu mươi năm về trước. Tôi cố tìm lại cái hình ảnh bẽn lẽn của mấy cô gái Trưng Vương năm xưa dưới những mái tóc hình dấu phết dịu  dàng, thì nay chỉ thấy lại những khuôn mặt cứng đơ, dấu kín trong chiếc khẩu trang bí ẩn, mái tóc mượt mà thì như đang vùng vẫy trong chiếc nón bảo hộ nặng nề láng bóng, đang chen nhau lòn lách trên những chiếc Honda như mắc cưỡi. Không hiểu vì mãi mê cái hoạt cảnh đó hay vì nhát gan mà tôi không dám qua đường.

    Đi qua đường là một khổ nạn. Không như con dâu tôi (người Pháp) phải mướn một chiếc taxi để qua đường, còn tôi thì theo triết lý của thằng em là muốn qua đường thì phải nhắm mắt lại mà bước tới, còn hể mở mắt thì cả ngày cũng không qua được, ở đây xe tránh mình chứ không phải mình tránh xe. Tôi đem triết l. đó ra áp dụng, tuy hơi rợn người nhưng lại hiệu nghiệm. Đến Đà Nẵng, tôi vọt ngay vào bệnh viện. Trước kia tôi cũng có làm việc ở bệnh viện, nhưng cái "khu yêu cầu" làm tôi điên đầu tôi không biết là khu gì vì chưa hề nghe tới. Vì nôn nóng, tôi cũng đếch cần tìm hiểu . nghĩa của cái khu đó là gì mà chỉ nhờ người dẫn tới khu đó và vui mừng ôm chầm lấy chị tôi giữa đám con cháu bao quanh. Đến đây tôi mới vỡ lẽ là "khu yêu cầu" chỉ có nghĩa đơn giản là "phòng riêng", tôi như đang ở một nước lạ mà mình không biết tiếng.

    Ở Việt Nam nằm bệnh viện có nghĩa gần như mướn một phòng khách sạn mà có được bác sĩ khám, còn mọi dịch vụ khác như cơm nước, vệ sinh, thuốc men... là mình phải lo lấy, vì vậy lúc nào cũng phải có người nhà bên cạnh, không những để lo săn sóc người bệnh mà còn để trả tiền trước cho mỗi dịch vụ y khoa như xét nghiệm, X quang, siêu âm v.v..., mà phần lớn không ăn nhập gì với bệnh tình lúc đó. Chị tôi, một bà già gần chín chục tuổi đang hôn mê và bị chảy máu đường ruột ào ào thì được bs phán cho đi "siêu âm tim" và "nội soi". Bác sĩ chuyên khoa nội soi chờ phải cầm chắc biên nhận đã thanh toán ba triệu VND rồi mới bắt tay vào việc.

    Bệnh viện đã chấp hành nghiêm chỉnh câu phương châm "tiền bạc đi trước, thầy thuốc đi sau", mặc dầu ở đầu trại có tấm bảng lớn sơn bốn chữ đỏ "Bệnh Viện Văn Hoá"!

    Vào lúc nửa khuya, vì máu đường ruột ra nhiều quá nên phải đưa chị vào khu cấp cứu cách ly với bên ngoài. Tôi cũng theo đám người nhà để chen lấn nằm la liệt trước cửa phòng để nghe ngóng tin tức và nhất là để chờ gọi đến tên mà thanh toán khoảng tiền cho mỗi dịch vụ y khoa như truyền máu, thở oxy, xét nghiệm v.v. .. mà trong kia chị tôi đang chờ được thi hành nếu trả tiền xong. Được hai hôm thì bác sĩ trưởng khu cấp cứu khuyên người nhà đưa chị tôi về để lo hậu sự vì nhà thương đã "chạy", tình trạng hoàn toàn tuyệt vọng, hôn mê, sốt cao, có triệu chứng viêm màn ruột và máu vẫn tiếp tục chảy trong đường ruột...

    Vào lúc nửa khuya, chúng tôi đưa chị về nhà mà ruột gan tơi bời. Trong sự tuyệt vọng tột cùng, nhưng còn nước còn tát nên chúng tôi vẫn tiếp tục điều trị như ở bệnh viện (chị có một rể bác sĩ và một dâu y tá), chỉ khác một điều là dùng được những thuốc tôi đã mang từ Pháp về mà khi còn ở bệnh viện, chúng tôi có đề nghị nhưng bị từ chối. Ở VN bác sĩ của bệnh viện chỉ được phép điều trị với những thứ thuốc trong một danh sách nhất định có bán ở bệnh viện mà thôi. Điều đáng nghi ngờ là bệnh viện có dùng nhiều kháng sinh mà triệu chứng nhiểm trùng càng ngày càng nặng, phải chờ đến sau khi dùng kháng sinh tôi đem về từ Pháp mới thấy hiệu nghiệm.

    Rồi từ đó, bệnh tình chị tôi thuyên giảm rõ rệt như một phép lạ. Nếu có phép lạ chăng là ở sự khác biệt giữa "thuốc nội" và "thuốc ngoại", thứ mà người dân ráng tìm cho được không phải vì óc vọng ngoại mà chỉ để cứu mạng sống của người thân. Một tháng sau, tôi từ giả chị tôi với một nụ cười phấn khởi.

    Nhớ lại khi mua giấy máy bay để về Việt Nam tôi vô cùng bối rối vì tôi phải làm trái với . định và sợ rằng khi trở lại Pháp sẽ vô cùng đau buồn vì e rằng chị tôi khó qua khỏi số mệnh. Thế nhưng không ngờ tôi lại được đi lang thang để có những nhận xét ngộ nghĩnh về cách sống của bà con nơi quê nhà.

    Bức hình tôi chụp được bên ngoài hàng rào bệnh viện Đà Nẵng, nơi chị tôi (và cả ông vua Đà Nẵng Nguyễn Bá Thanh) nằm điều trị cho thấy còn có người vô tình mang bệnh tiểu đường hay lại cố coi thường hay thách thức cái "hoành tráng" của toà nhà hành chánh chọc trời đồ sộ ngay phía trước? Cơn bệnh này còn lây nhiễm đến cả thủ đô Hà Nội, nơi có con đường Trần Nhật Duật, hay còn gọi là đường Gốm Sứ, dài 4km dọc theo sông Hồng, gồm những bức tranh khảm ghép công phu tốn kém, coi như một kỳ quan nghệ thuật, một kiêu hảnh của chốn ngàn năm văn vật thì cũng được người dân thủ đô chiếu cố một cách "vô tư".

    Một sung sướng khác của dân mình là rất nhàn rỗi. Với 3 triệu công chức phục vụ cho 90 triệu dân thì lấy đâu ra việc mà làm, vì vậy ngày Tết được nghỉ những chín ngày tha hồ mà du hí.

    Một anh taxi lái ngược đường vui vẻ khoe với tôi là sẽ không bị phạt vì giờ này mấy chú công an giao thông bận đi đón con ở trường thì lấy ai mà phạt. Anh taxi thoải mái ra mặt nhưng tôi thì lại lên ruột.

    Vào giờ làm việc mà mấy tiệm cà phê vẫn đông nghẹt, toàn người trẻ, họ thích la cà ở đây hơn là ngồi trong thư viện. Một bà mẹ than phiền là đã cẩn thận đưa rước con đúng giờ giấc ở trường nhưng cuối cùng cũng phát giác ra là cậu quí tử vẫn trốn học... rất đúng giờ.

    Nhà chị tôi có một đứa cháu 13 tuổi mà tôi chưa bao giờ gặp mặt trong bửa cơm tối vì vào giờ đó nó phải đi học, nó học 7 tiếng mỗi ngày, 4 tiếng với cô giáo ở trường, 3 tiếng học thêm với chính cô giáo đó. Như một thông lệ, trong giờ chính thức cô giáo chỉ dạy...chiếu lệ, còn giảng dạy đúng chương trình thì phải đợi vào giờ học thêm để cô kiếm chút tiền còm, nếu không cô sẽ...đói.

    Nguyên tắc đó được một nhóm bạn trẻ mặc những chiếc áo có in mấy chữ "du học sinh.netmà tôi gặp trong một chyến du lịch ở Campuchia xác nhận như vậy. Họ còn cho tôi biết thêm là phần lớn du học sinh đều nhắm mục đích chính là để... ở lại nước ngoài.

    Trong số những tự do mà dân mình được hưởng phải kể đến tự do giao thông mà gần đây ký giả Mỹ Llewelling King gọi đó là một kỳ quan giao thông. Tất cả những quy luật trên thế giới đều vô hiệu với Việt Nam đưa đến cho người lái xe cái cảm giác... tứ khoái.
    Khoái thứ nhất là được "U turn" bất cứ lúc nào ở đâu, ngay cả nơi có bảng cấm hay trên đường một chiều.

    Khoái thứ hai là coi đèn xanh đèn đỏ như... "ne pas".

    Khoái thứ ba là đi ngược chiều, ngay cả trên xa lộ. Tôi bắt gặp được hai lần có xe chạy ngược chiều trên đoạn đường "cao tốc" từ Nội Bài về Hà Nội, được trang trí như là một tủ kính bày hàng nhằm loè du khách đến thăm Hà Nội.

     Khoái thứ tư là được "vô tư" chen lấn, không có ưu tiên phải trái, mạnh ai nấy đi và được bóp còi thoải mái...Ngay cả con tàu "Thống Nhất" xuyên Việt cũng chen chúc qua các phố phường chật hẹp như chốn không người, giữa những chùm giây điện dọc ngang chằng chịt.

    Trên đường đi Angkor Wat phải ghé qua Saigon, khi tôi bước xuống hôtel, mọi người la ó nhìn tôi như nhìn người từ hành tinh khác, không phải vì tôi ăn mặc kỳ dị mà chỉ vì tôi mang theo trên người cái máy chụp hình và cái điện thoại di động. Ở tuổi tôi đi trên đường phố Saigon mà mang những thứ đó là một cách tự sát. Khi trở lại Saigon tôi muốn về ngay Đà Nẵng thì các bạn trẻ cùng đi tours khuyên tôi không nên đứng đón taxi một mình với hành l. trên tay vì đó cũng là một hình thức tự sát khác (vì tôi còn yêu đời nên không muốn tự sát trong mấy ngày liên tiếp) nên phải nhờ anh hướng dẫn theo tôi lên taxi ra tận phi trường Tân Sơn Nhất. Trên taxi tôi thường nghe chửi bới chế độ, không biết là thật tình hay cò mồi nên tôi không dại gì mà hùa theo. Dân mình hay có óc châm biếm, như để mô tả cái xã hội được rêu rao là dân làm chủ thì người dân lại h. lộng về 3 thứ chợ ở Hà Nội đẳng cấp khác nhau bằng mấy câu:

    Tôn Đản là của vua quan,
    Nhà Thờ là của bầy tôi nịnh thần,
    Vỉa hè là của nhân dân anh hùng...

    Tuy thích châm biếm nhưng con người sống dưới chế độ cộng sản lại mất đi cái tính khôi hài dí dỏm của người Việt, nếu có khôi hài thì lại rẻ tiền, kiểu Hoài Linh, mà có khi còn thô tục nữa. Ở Hà Nội, ngay bên cạnh Trung Tâm Văn Hoá Ca Múa Âu Cơ trên đường Huỳnh Thúc Khang (lớn thứ hai sau Nhà Hát Lớn) thì lại có nhà hàng ăn với bảng hiệu đồ sộ "Chim To Dần" để cho các bà đi ngang phải đỏ mặt.

    Về Việt Nam mà không ăn phở là một thiếu sót, tuy nhiên tôi cũng chưa tìm được cái hương vị tuyệt vời như ở Berlin hay ở Sydney. Sau mấy ngày lục lạo, tôi may mắn được bước vào một tiệm phở lịch sử đã đứng vững từ nửa thế kỷ nay và còn in dấu vết trong lòng người Hà Nội để nhớ lại thời kỳ bao cấp kinh hoàng. Trong thời đó, tiệm phở gà số 2 đường Nam Ngư này đã làm một cuộc cách mạng và đã thách thức với chính quyền cách mạng vì đã phá rào để bán phở "có người lái" nghĩa là có thịt trong tô phở, trong khi cả nước đều phải ăn phở không người lái nghĩa là không có thịt. Ngay cả khách sạn Phú Gia lớn nhất Hà Nội cũng chỉ được bán phở không thịt, ba chữ "không người lái" trở thành những chữ cấm kỵ châm biếm chế độ. Một cựu biên tập viên báo Nhân Dân than thở với tôi rằng anh ta đã bị công an bắt đứng nghiêm để đọc 100 lần chữ "phở không có thịt" vì anh ta đã vào tiệm mà ngang nhiên gọi một "tô phở không người lái".

    Sở dĩ bà chủ tiệm phở Nam Ngư làm ăn được là vì đã lợi dụng sự sơ hở của chế độ. Lúc đó nhà nước quản l. ba loại súc vật: trâu (để đi cày), bò (nói là bị Mỹ dội bom chết), heo (thì để làm nghĩa vụ đóng thuế), chỉ có gà là thoát khỏi tầm tay nhà nước, nên bỏ một miếng thịt gà vào tô phở không thể coi là hành động chống đối.

    Tuy làm ăn khắm khá nhưng bà chủ Nam Ngư vẫn giữ nguyên trạng tiệm phở từ hồi mới mở tới nay, với những cái bàn con và những chiếc ghế nhựa thấp lè tè, kể cả cái thau nước rửa bát bên lề đường, như để nhắc nhở người dân Hà nội rằng dấu vết của thời bao cấp đang còn đó. Trong khi bao cấp kinh tế chỉ liên quan tới thể xác, thì ngày nay bao cấp chính trị nguy hiểm hơn, lại bao gồm luôn cả tinh thần. Khốn nạn thay cho người dân Việt, không biết còn phải chịu đựng cho tới bao giờ.

    Paris, Tết Ất Mùi 2015
    Phương-Vũ Võ Tam-Anh


Hôm Nay Ngày lễ Valentine 
/ THƠ như nguyệt
  •  

    Em may mắn có anh trong nỗi nhớ

    Nhờ có anh mới hiểu được yêu đương

    Tình yêu à..

    Chỉ nghe nói, đọc thơ, nghe nhạc

    Xem movie… ngoài ra rất mù mờ

     

    Sống vì yêu, em ca tụng tôn thờ

    Vì với em, tình yêu là lẽ sống

    Biết làm thơ, sống trong mơ trong mộng

    Gặp được anh, hạnh phúc đến không ngờ

     

    Tình yêu à, thiết tha hơn tưởng tượng

    Khi gặp anh, em chỉ biết có anh

    Tối thượng mà, tình yêu là tất cả

    Tình mù lòa, tình dính mắc hoan ca  

     

    Em may mắn anh yêu em thật dạ 

    Em may mắn anh yêu em đậm đà

    Ngày hôm nay ngày lễ Valentine

    Cảm ơn anh, cảm tạ mối tình này!

    Như Nguyệt

    February 14th, 2019

     

Duy Khánh
D86DEEA7-FFF3-4D1F-97ED-17229E271739.png
Ca Nhạc Sĩ Duy Khánh, Tiếng Hát Một Đời Nổi Trôi Theo Vận Nước Điêu Linh.

(Hình ảnh : Thiên Hà với Duy Khánh trên bãi biển Nha Trang tháng 2-1969 ,nhân chuyến thực hiện phim Những Người Chung Màu Áo do Trần Nhất Hoan đạo diễn mà, Thiên Hà là người viết đối thoại và phụ tá đạo diễn phim này)

Ngày xuân, những bài hát đi vào lòng người như Xuân Này Con Không Về, Mùa Xuân Của Mẹ, Hẹn Một Mùa Xuân, Cảm Ơn, Mùa Xuân Đó Có Em ... qua giọng hát của Duy Khánh cho dù thu âm trước 1975 hay sau này tại hải ngoại, vẫn là món quà âm nhạc không thể thiếu trên các làn sóng phát thanh, trong nhiều gia đình... cho dù anh đã rời cõi tạm tròn 17 năm về trước.

Ca nhạc sĩ Duy Khánh tên thật là Nguyễn Văn Diệp, sinh ngày 1 tháng 6 năm Bính Tý tại làng An Cư, xã Triệu Phước, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, là con áp út trong một gia đình vọng tộc dòng dõi Quận Công Nguyễn Văn Tường, Phụ Chánh Đại Thần triều Nguyễn.

Theo như lời của nhạc sĩ Trường Kỳ kể lại: “Trong một dịp nghỉ hè năm 1952, Duy Khánh đã về Quảng Trị tổ chức nhạc hội tại chùa Tỉnh Hội. Anh diễn và hát bài Nhớ Người Thương Binh của Phạm Duy, trong đó có câu "chàng về nay đã cụt tay", Duy Khánh đã sửa thành "chàng về nay đã cụt chân" và nhảy cò cò lên sân khấu.

Duy Khánh khi đó lấy biệt hiệu là Tăng Hồng, đã lần mò vào tận Sài Gòn tham gia các chương trình phụ diễn tân nhạc tại các rạp chiếu bóng. Anh thường hát song ca với nữ ca sĩ Tuyết Mai những bài ca rất đậm tình quê hương. Trong một chương trình phụ diễn tại rạp Thanh Bình trên đường Phạm Ngũ Lão, cạnh chợ Hoà Bình, anh đã tiếp xúc lần đầu với nhạc sĩ Phạm Duy. Năm 1955, anh đã đoạt giải nhất cuộc thi tuyển lựa ca sĩ của đài Pháp Á tại Huế qua bài hát Trăng Thanh Bình.

Mặc dù gặp phải sự phản đối của gia đình khi tỏ ra muốn theo đuổi nghiệp cầm ca, Duy Khánh chuyển hẳn vào Sài Gòn, bắt đầu hát trên các sân khấu đại nhạc hội, đài phát thanh cũng như bắt đầu thu đĩa nhựa hay hợp tác với ban văn nghệ của Hoàng Thi Thơ đi lưu diễn khắp nước. Thời kỳ này anh được coi như một trong vài giọng ca nam nổi tiếng nhất, trong số đó có Anh Ngọc và Duy Trác là hai nam ca sĩ chỉ hát giới hạn cho các hãng thu băng và đài phát thanh với những nhạc phẩm tiền chiến chọn lọc. Trong khi Duy Khánh thì chọn loại nhạc có khuynh hướng dân ca, rất thành công vì dễ dàng hợp với thị hiếu của đại đa số quần chúng.

Duy Khánh từ đó được khán thính giả biết đến dưới tên Hoàng Thanh với các bản Tía Em Má Em, Vợ Chồng Quê, Ngày Trở Về, Nhớ Người Thương Binh, Tình Nghèo, Quê Nghèo, Về Miền Trung, vv... Cuối cùng anh chọn tên Duy Khánh. Chữ "Duy" từ tên nhạc sĩ Phạm Duy là người anh ái mộ. Chữ "Khánh" từ tên một người bạn rất thân là Phạm Hữu Khánh, đã tử nạn tại Pháp. Anh giữ tên Duy Khánh cho đến cuối đời”.

Năm 1957 ở lứa tuổi đôi mươi, anh đi quân dịch 12 tháng tại Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, tái ngũ năm 1965 và phục vụ tại Cục Tâm Lý Chiến, sau chuyển qua Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương, Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị thuộc Quân Lực VNCH. Anh khởi sự sáng tác cuối thập niên 1950, trong đó có nhiều bài được ưa chuộng như Ai Ra Xứ Huế, Đêm Bơ Vơ, Thương Về Miền Trung, Xin Anh Giữ Trọn Tình Quê...

Duy Khánh, người con đất Quảng Trị vẫn giữ đúng giọng của mình không pha tạp cho dù ở miền đất nước nào, như Phạm Duy từng nhận xét: “Trong giọng ca Duy Khánh, nghe âm hưởng tiếng trống cổ thành, tiếng thông reo trên đồi Vọng Cảnh”.

Duy Khánh sinh hoạt cùng với các nhạc sĩ Phạm Duy, Trầm Tử Thiêng, Trúc Phương, Anh Bằng... Năm 1965, Duy Khánh thu âm cùng Thái Thanh hai bản trường ca của Phạm Duy: Con Đường Cái Quan và Mẹ Việt Nam, đến nay vẫn là hai bản nhạc gắn liền với tên tuổi Thái Thanh – Duy Khánh. Từ cuối thập niên 1960 đến 1975, Duy Khánh lập nhóm chủ trương xuất bản tờ nhạc mang tên 1001 Bài Ca Hay quy tụ nhiều tác phẩm của các nhạc sĩ như Trịnh Lâm Ngân, Đỗ Kim Bảng, Trúc Phương, Duy Khánh...

Duy Khánh lập gia đình đầu tiên với ca sĩ Tuyết Mai, người cùng hát song ca với anh lúc khởi nghiệp. Cả hai có hai người con là Dung và Duy (đã mất). Năm 1964, Ông kết hôn với cô Âu Phùng, một vũ công xinh đẹp trong ban vũ Lưu Bình Hồng. Trường Kỳ kể thêm: “Cô Âu Phùng có dáng dấp cao ráo và rất chiều chồng. Hai người thuê căn phố hai tầng trên đường Trần Quang Khải, Tân Định và có với nhau hai người con. Sau đó hai người lại dọn về một căn nhà nhỏ trong hẻm đường Nguyễn Trãi. Đây là thời gian anh bị rắc rối với quân cảnh và bị đưa lên Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung để trở thành binh nhì Nguyễn Văn Diệp.

Duy Khánh phục vụ tại Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương thuộc Cục Tâm Lý Chiến. Ngày ngày anh cỡi chiếc xe Suzuki cọc cạch đến đường Hồng Thập Tự, gần cầu Thị Nghè để làm việc. Nhưng vào cuối tuần, anh vẫn thường tổ chức nhạc hội, khi tại rạp Quốc Thanh, khi thì tại rạp Hưng Đạo. Sau khi ly thân cùng Âu Phùng, anh dọn về một căn nhà 3 phòng trên đường Trần Hưng Đạo, nơi anh tiếp tục mở lớp nhạc Trường Sơn và hoạt động mạnh trong việc sản xuất băng nhạc”.

Ngoài Tuyết Mai, Âu Phùng, Ông còn có một cuộc tình ngắn với ca sĩ B.C. Người sau cùng đến với cuộc đời Duy Khánh là chị Nguyễn Thị Thúy Hoa.

Một chiều cuối năm Đinh Dậu, chị Thúy Hoa tâm tình với Thế Giới Nghệ Sĩ: “Có lần tôi trách yêu anh Duy Khánh, sao người tình nào qua đời anh cũng đều có một bản nhạc để lại, riêng em lại không? Anh Khánh bảo, nhưng em có cả cuộc đời của anh rồi còn gì!”

Đầu thập niên 1970, Thúy Hoa đi học hát tại lớp nhạc Trường Sơn, được Duy Khánh hướng dẫn, đặt cho nghệ danh Hoàng Hoa và đưa lên chương trình truyền hình Trường Sơn đơn ca vài lần. Cô học trò sinh lòng cảm mến ông thầy. Cuộc tình nở hoa trong thời gian này, đến đầu năm 1975 thì Thúy Hoa có thai con đầu lòng của chị với Duy Khánh.

Biến cố 30 tháng 4 năm 1975 trờ đến, gia đình hai bên đều tìm đường đi Mỹ. Anh của Duy Khánh là Đại Úy Không Quân VNCH Nguyễn Văn Dục, làm an ninh trong phi trường Tân Sơn Nhất, nên thúc giục cậu em thu xếp đi ngay, nhưng Duy Khánh không muốn đi vì biết Thúy Hoa đang mang bầu. Bên gia đình Thúy Hoa thì mẹ chị làm trong phi trường nên cũng gom bảy người con lại chạy loạn, riêng Thúy Hoa trốn qua nhà người quen, không chịu đi và khi ấy cũng chưa cho mẹ biết mình đang có thai. Mẹ chị phải về nhà tìm, trễ luôn chuyến đi và kẹt lại Saigon. Cặp tình nhân tá túc tạm thời gian ngắn ở nhà ca sĩ Chế Linh, cũng là một người từng khởi nghiệp theo bước chân Duy Khánh. Tháng 9 năm 1975, Thúy Hoa sanh con trai, Duy Khánh đặt tên con là Trường Sơn.

Riêng Duy Khánh bị nhà cầm quyền cấm hát sau 1975, sinh sống khá chật vật. Khoảng năm 1976, anh cùng nhạc sĩ Nhật Ngân, Châu Kỳ tìm cách thành lập đoàn nhạc Quê Hương, quy tụ ca sĩ Ngọc Minh, Nhã Phương, Bảo Yến, kịch sĩ Vũ Đức Duy... đi hát ở các tỉnh. Có một dạo, Thúy Hoa và Duy Khánh ở trọ nhà Châu Kỳ, rồi qua nhà Vũ Đức Duy. Thời gian ở nhà Vũ Đức Duy năm 1977, các nghệ sĩ thường tụ tập vào buổi sáng ở quán cà phê trước nhà. Không ngờ bị công an theo dõi, và một buổi sáng nọ, đang ngồi uống cà phê thì cả nhóm bị bắt. Hôm đó, chị Thúy Hoa kể lại, may sao không có ca sĩ Ngọc Minh tới chơi. Duy Khánh kỳ ấy bị giam 4 tháng ở số 4 Phan Đăng Lưu, và chị Thúy Hoa phải đi thăm nuôi chồng.

Năm 1977, tháng 8, chị Thúy Hoa sanh người con thứ nhì tên Quỳnh Tiên, và gia đình dọn về nhà mẹ vợ ở luôn đến ngày rời Việt Nam. Con gái út Quỳnh Trang của anh chị sanh năm 1980. Đầu năm 1988, Duy Khánh và vợ con có giấy tờ bảo lãnh đi Mỹ đoàn tụ gia đình. Sau 6 tháng ở trại tị nạn Phi Luật Tân học tiếng Anh, gia đình Duy Khánh đặt chân đến California ngày 10 tháng 8 cùng năm qua sự bảo lãnh của người em là Nguyễn Thị Giáng Tuyết và cư ngụ tại Anaheim, Orange County.

Tại hải ngoại, Duy Khánh tiếp tục trình diễn và thu âm, cộng tác với trung tâm Làng Văn và trung tâm Asia. Thúy Hoa vẫn còn giữ bản quyền mười mấy cuốn băng Cali Music do Duy Khánh thực hiện.

Qua Hoa Kỳ được khoảng 8 năm thì Duy Khánh đổ bệnh, hư thận, phải lọc thận một tuần 3 lần. Mỗi lần đi hát, anh phải đem theo dụng cụ y tế lỉnh kỉnh trong quãng đời còn lại đi trình diễn ở Âu Châu, Úc, Canada, các tiểu bang Hoa Kỳ, rất cực nhọc...

Gia đình Duy Khánh theo đạo Phật, trong khi Thúy Hoa theo đạo Công giáo; khi lập gia đình mỗi người giữ đạo của mình. Chị Thúy Hoa vẫn giữ bàn thờ có hình Đức Mẹ Maria phía trên bàn phấn trong phòng ngủ của anh chị. Tuy nhiên, gần cuối đời, có một chuyện xảy ra khiến cho anh Duy Khánh bỗng có niềm tin vào Đức Mẹ Maria và cải đạo. Lần đầu tiên, chị Thúy Hoa tiết lộ cơ duyên này với Thế Giới Nghệ Sĩ trong cuộc phỏng vấn hôm 2 tháng 2:

“Hôm đó anh Duy Khánh đang lái chiếc Toyota Avalon vừa thay hai bánh xe trước, đi với tốc độ khá nhanh trên đường Bolsa lúc đó tương đối vắng. Bỗng cả hai bánh trước cùng nổ. Anh lạc tay lái, xe quay vòng vòng. Trong lúc đó, anh kể lại, đã thấy Đức Mẹ hiện ra đưa hai cánh tay ôm lấy chiếc xe của anh đẩy vào bãi đậu xe phòng mạch bác sĩ Đặng Văn Việt, trước khi luồng xe ào ào đổ tới trên con đường Bolsa... Khi hoàn hồn về nhà, anh kể cho tôi nghe và chỉ hình Đức Mẹ phía trên bàn phấn, bảo là ‘bà ấy’ là người đã giang tay ra ôm chiếc xe anh đưa vào chỗ an toàn”. Kể từ đó, Duy Khánh có đức tin...

Tháng 12 năm 2002, Duy Khánh phải vào bệnh viện Fountain Valley vì nhiều chứng bệnh phát sinh cùng lúc. Trong suốt thời gian dài nằm tại bệnh viện, đông đảo anh chị em nghệ sĩ ra vào thăm hỏi anh, trong khi vợ con luân phiên chăm sóc.

Đêm Thứ Sáu 10 tháng 1 năm 2003, Phương Hồng Quế và Trần Quốc Bảo đã tổ chức một "Đêm Tạ Tình tiếng hát và những giòng nhạc Duy Khánh" tại vũ trường Majestic ở Quận Cam. Chương trình thành công vượt bực với các nghệ sĩ góp tình như Thanh Thúy, Thanh Mai, Kim Tuyến, Nguyễn Hưng, Hoàng Oanh, Bảo Yến, Trang Thanh Lan...

Lúc còn tại thế hoặc ngay cả trước giờ xuôi tay nhắm mắt, Duy Khánh luôn tự hào về gốc tích quê hương nghèo khổ của mình, như trong bài hát Tình Ca Quê Hương mà Ông đã viết:

“Tôi sinh ra giữa lòng miền trung
Miền thùy dương… Ruộng hoang nước mặn đồng chua
Thôn xóm tôi sống đời dân cày

Quê hương tôi ấp ủ Trường Sơn
Quê hương tôi là đây nước chảy xuôi nguồn
Sông cát dài biển xanh Thái Bình”

Ca nhạc sĩ Duy Khánh qua đời lúc 12 giờ trưa ngày 12 tháng 2 năm 2003, tại bệnh viện Fountain Valley, hưởng thọ 68 tuổi.

Trần Quốc Bảo

===================
Danh ca nhạc vàng Duy Khánh và những chuyện tình trong đời

***
Có thể nói cố ca sĩ - nhạc sĩ Duy Khánh là người có tầm ảnh hưởng nhất, nếu xét riêng ở dòng nhạc vàng trước năm 1975. Không chỉ là ca sĩ nổi danh, ông còn là nhạc sĩ sáng tác nhiều bài nhạc vàng nổi tiếng. Ông còn là chủ nhãn hiệu băng dĩa mang tên Trường Sơn, lập nhóm chủ trương xuất bản tờ nhạc mang tên 1001 Bài Ca Hay, quy tụ được nhiều tác phẩm của các nhạc sĩ nổi tiếng. Ông còn mở lớp dạy nhạc, và người học trò nổi tiếng nhất của ông là nữ ca sĩ xinh đẹp Băng Châu.

Gần đây, trong buổi trò chuyện trên chương trình Bước Chân Dĩ Vãng của The Jimmy TV, ca sĩ Băng Châu nói về người thầy của mình như sau:

"Danh ca Duy Khánh ngày đó là một người rất đào hoa, tốt với bạn bè, lúc nào cũng chịu chơi, xả láng hết mình, không tiếc gì. Anh đẹp trai, lại có tài nên được rất nhiều người đẹp xung quanh".

Đào hoa và đã trải qua nhiều mối tình, nhưng cuộc đời danh ca Duy Khánh gắn bó với 3 người vợ chính thức.

Người vợ đầu của Duy Khánh là ca sĩ Tuyết Mai, người cùng hát song ca với ông trong những năm đầu của sự nghiệp vào giữa thập niên 1950, với những ca khúc tình tự quê hương nổi tiếng như Tía Em Má Em, Trăng Soi Duyên Lành, đặc biệt là các bài "dân ca mới" của nhạc sĩ Phạm Duy là Vợ Chồng Quê, Tình Nghèo, Quê Nghèo... Lúc này Duy Khánh vẫn còn dùng nghệ danh là Hoàng Thanh.

Theo thông tin từ một bài báo năm 1957, thì Duy Khánh đã đem lòng yêu Tuyết Mai từ thuở thanh xuân, nhưng lúc đó nữ ca sĩ này đã có ý trung nhân. Cuộc hôn nhân đầu tiên của Tuyết Mai tan vỡ khi bà đã có 2 con, và lúc đó, tình cảm mà Duy Khánh dành cho Tuyết Mai vẫn vẹn nguyên như thuở ban sơ. Họ về chung một nhà từ khoảng năm 1957.

Tuy nhiên, sau khi sống chung với nhau chỉ được gần 3 năm thì Duy Khánh - Tuyết Mai lại đường ai nấy đi sau khi đã có với nhau 2 người con.

Khoảng đầu thập niên 1960, thời gian này ca sĩ Thanh Thúy nổi lên như là một trong những nữ ca sĩ nhạc vàng tài sắc nhất, được rất nhiều bậc tài danh theo đuổi, trong đó có cả Duy Khánh, lúc này đã chia tay vợ.

Trong hồi ký của tài tử kiêm đạo diễn, kiêm nhà biên kịch Nguyễn Long, ông kể lại vào năm 1963, Duy Khánh có tổ chức một chương trình đại nhạc hội ở 3 nơi là Huế, Đà Nẵng và Quảng Trị (cũng là quê hương của ông). Phần kịch, Duy Khánh chọn diễn các vở của Nguyễn Long soạn, cùng sự tham gia trình diễn của ban nhạc Thăng Long, Thanh Thúy, Mai Vi, Khánh Băng, và cả Nguyễn Long.

Sau đêm hát cuối cùng ở Quảng Trị, hôm sau mọi người trở lại Đà Nẵng để lên máy bay về Sài Gòn. Theo sắp xếp thì trên chiếc xe con mang hiệu Citroen từ Quảng Trị về Đà Nẵng sẽ có vợ chồng Nguyễn Long, Hoài Bắc, Thanh Thúy và Duy Khánh. Tuy nhiên, theo Nguyễn Long ghi lại, để bày tỏ và chứng tỏ tình yêu với người đẹp, Duy Khánh nhất định không đi xe hơi mà một mình chạy chiếc vespa về đến tận Đà Nẵng.

Đường xa hàng trăm cây số, có nhiều đoạn khúc khuỷu, ngoằn nghèo, lên xuống đèo rất nguy hiểm… Nhưng Duy Khánh vẫn lái chiếc vespa như bay trước mũi xe Citroen…

Nguyễn Long kể lại: “Nhiều khi anh Duy Khánh lại cố tình lái sát bờ đèo để tỏ cho người ngồi trong xe biết là anh đang rất buồn và sẵn sàng… được ᴄhếƭ vì tình yêu. Những trường hợp như thế hay với bất cứ trường hợp nào khác, Thanh Thúy cũng chỉ mỉm cười.

Rất nhiều lần tôi tỏ ra là một cây si ‘nặng ký’, nhưng cũng chỉ nhận được nụ cười, như nụ cười Thanh Thúy đã dành cho Duy Khánh mà thôi.”

Đến năm 1964, Duy Khánh thành hôn với Âu Phùng, một vũ công xinh đẹp trong ban vũ Lưu Bình Hồng. Bà Âu Phùng là một thiếu nữ người Hoa xinh đẹp, có dáng dấp cao ráo và rất chiều chồng. Hai người thuê căn phố hai tầng trên đường Trần Quang Khải, Tân Định và có với nhau hai người con. Sau đó hai người lại dọn về một căn nhà nhỏ trong hẻm đường Nguyễn Trãi.

Tuy nhiên cuộc hôn nhân thứ 2 này lại tan vỡ sau mấy năm chung sống. Từ đó về sau, Duy Khánh trải qua một vài mối tình thoáng qua, nổi tiếng nhất là cuộc tình ngắn ngủi với nữ ca sĩ xinh đẹp, cũng là người học trò là Băng Châu, được chính cô kể lại.

Khoảng năm 1969, Băng Châu từ Cần Thơ lên Sài Gòn để tìm kiếm cơ hội gia nhập làng nhạc, theo đuổi đam mê ca hát. Cô ở nhà nhà ca sĩ Tuyết Nhung trong khoảng gần 2 tháng, được Tuyết Nhung dẫn đến gặp các nhạc sĩ tên tuổi trong Biệt đoàn văn nghệ trung ương, trong đó có Duy Khánh.

Quen biết một thời gian ngắn thì Băng Châu rời Sài Gòn về lại Cần Thơ vì cảm thấy cuộc sống nơi thành đô không như ý muốn. Hụt hẫng vì người đẹp bỏ ra đi, nhạc sĩ Duy Khánh sáng tác bài Đêm Bơ Vơ với lời ca thật tha thiết:

XUÂN ơi XUÂN, XUÂN ơi XUÂN đã đi rồi.
Trời bây giờ, bây giờ là trời Đông thôi.

Đành lòng sao em, ra đi không nói một câu.
Đành lòng sao em, gieo sầu gieo tủi cho nhau.
Đêm bơ vơ, thương ai đêm đợi đêm chờ.
Anh xa em, xa em anh nhớ từng đêm.

Anh xa em như chim xa biệt cây rừng,
MAI em về, MAI về MAI nhé em!

Lời bài hát được nhạc sĩ Duy Khánh in đậm 2 chữ XUÂN và MAI như vậy một cách chủ ý, vì Xuân Mai chính là tên thật của ca sĩ Băng Châu.

Nhạc sĩ nhắn nhủ đến người đẹp tên MAI là hãy quay về vào một ngày mai.

Một thời gian sau, ca sĩ Băng Châu quay về Sài Gòn, tái hợp với thầy Duy Khánh, được sự giúp đỡ nhiệt tình của ông, Băng Châu đã dần dần khẳng định được tên tuổi của mình trong làng nhạc Sài Gòn với hàng loạt bài hát được khán giả yêu thích là như Qua Cơn Mê, Nhớ Nhau Hoài, Trường Cũ Tình Xưa...

Tuy nhiên tình cảm giữa Duy Khánh và Băng Châu vĩnh viễn chỉ là tình thầy trò, không thể thành đôi. Có lẽ Duy Khánh cũng có một thời gian đau khổ nên người bạn thân của ông là nhạc sĩ Nhật Ngân sáng tác ca khúc nổi tiếng mang tên Lời Đắng Cho Một Cuộc Tình, nói thay cho tâm sự của Duy Khánh trong mối tình si đó:

Cuối cùng rồi mình vẫn thế
Có sao đâu, khóc chi em
Cho phai má hồng được gì

Giọt lệ này dành để mai đây
Về cùng người khóc giữa đêm vui
Hơi đâu, hơi đâu mà xót thương thân anh

Khi bài hát này nổi tiếng qua chính giọng hát của Duy Khánh, nữ ca sĩ Băng Châu vẫn không biết bài hát này liên quan đến mình, cho đến khi được ca sĩ Thanh Tuyền kể lại.

Vào khoảng giữa thập niên 1970, Duy Khánh thành hôn với bà Thuý Hoa, họ chuyển về sống tại Vũng Tàu trước khi sang Mỹ năm 1988. Họ sống hạnh phúc cho đến khi ca nhạc sĩ Duy Khánh qua đời năm 2003. Họ có với nhau 3 người con, 1 trai và 2 gái.

Gia đình Duy Khánh - Thúy Hoa tại Philippines năm 1988, lúc sắp sang được Mỹ

Năm 2018, nhân ngày giỗ thứ 15 của Duy Khánh, bà Thúy Hoa ghi lại những lời tâm thư để thể hiện tình cảm với người chồng quá cố:

"Nếu có kiếp sau, em xin một lần nữa lại được làm vợ của anh, để vẫn được anh tiếp tục che chở, bảo vệ và lo lắng, để có được 3 đứa con dù không đứa nào xuất chúng như Bố, nhưng đều giỏi và ngoan lại quan tâm cho Mẹ.

Gần 30 năm làm vợ anh. Hôm nay ngồi đây viết những giòng này, cuộc đời chúng ta đã có rất nhiều thăng trầm, em vẫn luôn tin tưởng vào anh, chưa bao giờ bận tâm về tương lai, chỉ biết chuyên tâm lo lắng săn sóc cho anh và các con. Cho tới những ngày cuối cùng của anh, bác sĩ Hùng và các bác sĩ nói với em : “Tôi chỉ sợ là Ông không qua khỏi đâu”, lúc đó em mới nhận ra là sẽ mất anh.

Là con người, chúng ta ai ai cũng có cái xấu và cái tốt, không ai vẹn toàn. Nhưng đối với em, anh luôn là một chính nhân quân tử, trung thực thẳng thắn, dám nói dám làm. Anh rất có hiếu với mẹ, gia đình của anh đều thương quý anh, từ con cháu cho tới anh chị em, bà con chú bác.. Cuộc sống của anh dù lúc lên hay xuống luôn có gia đình bè bạn bên cạnh.

Cũng là một trong những khán giả ái mộ, tôi biết niềm vui và hạnh phúc của anh là được hát, được biểu diễn, được gửi gấm tâm tư của mình tới khán giả và quê hương. Tôi hãnh diện biết mình may mắn cũng là một phần trong cuộc đời anh."

B562858E-FFD1-42AD-A104-0CF01943BE4A.png
Ca Nhạc Sĩ Duy Khánh Và Những Ngày Cuối Đời.
(Vợ chồng nhạc sĩ Nhật Ngân & vợ chồng nhạc sĩ Duy Khánh)


Duy Khánh đã đến Hoa Kỳ vào ngày 10-8-1988 qua sự bảo lãnh của người em là Nguyễn Thị Giáng Tuyết. Trên đất tự do, lần cuối cùng tôi đến thăm anh trong một căn nhà nhỏ ở Anaheim, Orange County, năm 1994. Ở đây anh sống hơi chật vật cùng chị Thúy Hoa và ba người con, một trai và hai gái. Anh đã trông xuống sắc lắm. Nhiều người cho rằng đó là hậu quả của những năm dài còn kẹt lại Việt Nam. Buồn và vô vọng, anh đã uống nhiều rượu. Các loại rượu thời đó được nấu rất cẩu thả, người bán và người nấu thường chẳng quan tâm miễn sao thu được nhiều lợi nhuận. Anh có vài lần ngõ ý muốn đi Austin hát, và nhờ tôi tổ chức giùm các chương trình nhạc hội. Tôi phần không có khả năng tổ chức, phần e rằng giọng hát của anh không được giới trẻ ưa chuộng nên chỉ ầm ừ qua chuyện. Nghệ sĩ sân khấu hay điện ảnh khi về chiều, còn có thể đóng các vai lão. Còn ca sĩ khi đã lớn tuổi, làn hơi không còn phong phú, thì khó kiếm được chỗ đứng cạnh tranh cùng các ca sĩ mới lên tươi tắn và giọng ca trong trẻo. Người nghệ sĩ biết dừng lại vào lúc mình đạt đến tột đỉnh vinh quang của nghệ thuật là hay nhất. Vì luôn luôn để lại trong lòng người hâm mộ hình ảnh huy hoàng nhất, tươi đẹp nhất của mình.

Tôi có nghe anh hát trong vài băng nhạc Asia và đĩa CD. Nghe anh mà lòng cứ tê tái, nước mắt cứ chực tuôn trào vì giọng ca của anh vẫn còn còn phong phú và truyền cảm như xưa. Nghe anh mà hình dung hình ảnh quê nghèo và những người nông dân tả lơi lam lũ trên cánh đồng đã cằn cỗi vì nắng hạ mưa đông. Nghe anh để tưởng như những âm thanh trầm bổng của chuông chùa Thiên Mụ vang lên trong buổi chiều tịch mịch bên dòng sông Hương. Nhưng ngoại hình anh thì không còn ăn ảnh nữa. Khuôn mặt anh đã nhiều nếp hằn nhọc nhằn năm tháng chồng chất. Anh vẫn phải hát, vì ngoài tình yêu gắn bó của nghệ thuật, đó còn là sinh kế của anh. Con tằm đến thác vẫn còn vương tơ!

Bạn bè đã hết lòng vì anh. Một tháng trước ngày anh mất, ngày 10 tháng 1, họ đã tổ chức một nhạc hội khiêu vũ mang chủ đề Tạ Tình Tiếng Hát và Giòng Nhạc Duy Khánh với sự góp mặt của các nam, nữ ca sĩ như: Thanh Thúy, Thanh Mai, Kim Tuyến, Nguyễn Hưng, Hoàng Oanh, Phương Hồng Quế, Trần Quốc Bảo, Bảo Yến... thu hút khoảng 600 khách mộ điệu tại vũ trường Majestic, Huntington Beach. Ðêm nhạc hội thành công vượt ngoài sự mong ước của ban tổ chức.

Sau nhiều năm tháng ra vào bệnh viện vì những căn bệnh trầm kha, Duy Khánh đã từ giã gia đình và bạn bè, khán giả hâm mộ để đi vào miền vĩnh hằng vào lúc 12 giờ trưa ngày 12 tháng 2 năm 2003 tại bệnh viện Fountain Valley, Orange County, California. Anh hưởng thọ 65 tuổi (1938-2003). Tang lễ của anh đã quy tụ hầu như tất cả giới văn nghệ sĩ Việt Nam tại hải ngoại; trong đó Phạm Duy đã nói lên những tâm tình dầy yêu thương trìu mến và khâm phục đối với anh, một người em, một người bạn mà nhờ đó nhạc của Phạm Duy và nhiều nhạc sĩ khác đã đi vào bất hủ.

Đỗ Văn Phúc


Ngày 30 TẾT (Đ.Văn)
Nguyễn Thị Thanh Dương
5670 Ngay30TetNTTD
       Bà và mẹ bảo hôm nay là 30 Tết, Phượng phải dọn dẹp nhà cửa và lau chùi, sắp xếp bàn thờ cho sạch sẽ, gon ghẽ. Mẹ đã giở tờ lịch Việt Nam cho Phượng xem, đây này 30 Tết tức là đêm giao thừa đấy, ngày này thiêng liêng và quan trọng lắm, chúng ta phải cúng để tiễn năm cũ đi, đón mừng năm mới đến với thật nhiều ước vọng may mắn.
       Xem thì xem, nhưng những con số trên tờ lịch chẳng làm Phượng nhớ, chẳng chờ mong, và chẳng nôn nao khi Tết đến. Việc ấy đã có bà và mẹ lo.
       Khi Phương thấy mẹ đi chợ Việt Nam về, mua những lá chuối, nếp, đậu rồi bà rửa lá, ngâm nếp… có nghĩa là Tết đấy, vì những ngày thường bận rộn quanh năm, chẳng ai muốn bày việc này ra làm gì. Nhiều khi bố thấy bà và mẹ bận rộn quá, nói mua bánh trái làm sẵn ở chợ cho tiện, nhưng bà cương quyết không chịu, mẹ cũng thế, nguyên liệu, thực phẩm ở Mỹ này rẻ quá, chỉ bỏ tí công là có đồ ăn tươi ngon và tiết kiệm được tiền, mình biết làm tội gì để cho họ ăn lời dễ dàng thế, nên hai người đàn bà này ra sức làm công việc bánh trái với tất cả lòng hăng say và yêu thích của họ.
       Năm nào cũng vậy, bà gói bánh chưng, không cần khuôn, chỉ bằng tay thôi mà cái nào cái nấy vuông vức đều nhau, y như sản phẩm ra lò từ một khuôn mẫu có sẵn. Lần đầu thì luộc bánh bằng nồi to ở sau vườn với bếp củi, khói lửa lên nhiều quá, hàng xóm chạy sang phàn nàn, bố còn bảo coi chừng họ gọi 911 sở cứu hoả đến thì phiền. Nên từ năm sau trở đi bà gói bánh nhỏ lại và luộc bằng bếp gas trong garage.
      Khi bánh vừa vớt ra, Phượng thích được nếm thử, gọi là nếm chứ cô xơi luôn một cái, nếp và đậu mềm nhuyễn, thơm phức mùi thịt mỡ hạt tiêu.
      Công việc của mẹ là xay lá gai (do mẹ trồng và hái lá để đông lạnh, tới dịp cần dùng thì mang ra) để nhồi với bột nếp làm bánh gai, nhân đậu xanh trộn với dừa non thái sợi vương vấn mùi nước hoa bưởi.     
       Ban đầu nhìn thấy cái bánh màu đen nhánh Phượng sợ lắm, không dám ăn, nhưng khi ăn thử rồi Phượng thấy thích. Bà và mẹ đã tập cho Phượng ăn đủ thứ món ăn Việt Nam, có cái Phượng ăn được, có cái Phượng không thích, những lúc Phượng chê đồ ăn Việt Nam thì bà mắng: con này, mày đẻ tại Mỹ nên quên cả nguồn gốc rồi, Phượng biết nguồn gốc mình là người Việt Nam chứ, nhưng bắt Phượng ăn mắm tôm, ăn tương, ăn giò heo nấu giả cày của bà thì Phượng xin chịu thua, ghê quá!
       Hôm nay là 30 Tết Việt Nam, bà và mẹ lại làm như mọi năm, bà gói bánh chưng (bà bảo cho đến khi nào già yếu quá, tay run lẩy bẩy không gói được thì sẽ nhường lại việc này cho mẹ) còn mẹ đang làm bánh gai.
       Phượng giặt giũ quần áo, chăn gối xong thì lau bàn thờ, bà bảo năm mới mọi thứ trong nhà phải mới, cô vừa lau vừa hỏi bà:
– Bà ơi, ngày mai mồng một Tết chúng ta có tục lệ lì xì phong bao tiền, phải không?
Bà cười hiền hậu:
– Ông bà, cha mẹ sẽ lì xì tiền cho con cháu, để chúc con cháu được mọi sự tốt lành.
– Vậy bà nhớ lì xì cho cháu nhiều tiền vào nhé, tiền già của bà mỗi tháng vài trăm bà để dành làm gì?
Mẹ mắng Phượng:
-Con gái lớn rồi mà ăn nói như còn bé lắm ấy, tiền bà để dành cúng chùa, giúp đỡ những họ hàng nghèo khó ở Việt Nam và mới đây, bà đóng góp tiền giúp nạn nhân bão lụt đấy.
Bà chép miệng:
– Tội nghiệp! bao nhiêu nhà cửa đổ nát, người chết thảm thương, cháu đừng quên lời bà dặn nhé, hãy mở lòng ra với mọi người nghèo khó hơn mình, hay đang gặp hoạn nạn, khó khăn.
– Bà dặn cháu nhiều lần rồi, cháu không quên đâu, nhưng phải đợi cháu ra trường có việc làm đã, cháu lo thân cháu xong rồi muốn giúp ai thì giúp.
– Cháu bà ngoan quá, bà sẽ lì xì cho cháu nhiều nhất nhà. Nhưng ngày xưa, khi bà 20 tuổi bằng cháu bây giờ, bà đã có 3 mặt con rồi đấy.
Phượng nhẩy cẩng lên thích thú:
– A! cháu thích nghe chuyện ngày xưa của bà, sao ngày ấy bà lấy chồng sớm thế? Boyfriend của bà đòi cưới hay bà đòi cưới?
– Boyfriend là gì hở cháu?
– Là người yêu đó, anh ta yêu bà lắm phải không?
Mẹ cau mày mắng Phượng:
– Con ăn nói phải giữ lời, “anh ta“ nào thế? Ông ngoại của con đấy.
Phượng nũng nịu nắm tay mẹ phân trần:
– Trong tiếng Anh già trẻ, ông cháu gì thì cũng dùng từ như thế thôi, mẹ biết điều đó mà.
– Nhưng mẹ sợ bà không biết bà giận.
Bà đỡ lời:
– Không sao, các cháu nó nói tiếng Anh là chính, tiếng Việt nam thế là giỏi rồi, cháu cứ tự nhiên, vì lúc nào cháu cũng là cháu gái bé bỏng của bà.
Rồi bà kể tiếp:
– Thời xưa đâu có người yêu như bây giờ, cha mẹ đặt đâu thì ngồi đó.
Phượng kêu lên:
– Bất công! Và tước đoạt quyền tự do của người con gái.
– Nhưng chả sao cả cháu ạ, người ta vẫn sống hạnh phúc êm đềm và sinh con đẻ cháu. Ai như bây giờ, tự do lựa chọn người mình yêu rồi một sớm một chiều đã li dị, con cái thì bơ vơ, xa mẹ vắng cha.
Phượng cười:
– Hên cho bà là anh ta đẹp trai, cháu đã nhìn thấy hình ông ngoại hồi trẻ rồi, nếu bà lấy người xấu thì cháu cũng xấu luôn, cháu sẽ bắt đền bà đấy.
Bà mơ màng trôi về quá khứ:
– Ông ngoại đẹp trai mà nghiêm lắm, bà nể sợ ông, không dám cãi một câu, ông vừa là người chồng vừa là người chủ của bà. Bà làm dâu, hàng ngày đã bận rộn làm lụng , mỗi lần Tết đến càng bận rộn thêm, vừa trông coi vừa làm, nào gói bánh chưng, bánh gai, bánh dày, nấu chè kho, muối dưa hành. Nào mổ lợn để làm giò lụa, nem chua, nấu thịt đông, xương thì nấu măng, nấu miến… cỗ bàn 3 ngày Tết không lúc nào ngơi tay.
Phượng ngạc nhiên:
– Bà khổ thế sao? Họ abuse bà đấy, nếu ở Mỹ thì họ đáng tội vào tù.
Mẹ giải thích:
– Chẳng ai hành hạ bà cả, bà hãnh diện và sung sướng được làm những công việc ấy, chứng tỏ mình là vợ đảm dâu hiền.
Phượng chặc lưỡi ngẩn ngơ:
– Thời xưa lạ nhỉ! bị hành hạ mà vẫn sung sướng. Thế 3 ngày Tết ăn uống nhiều thứ bà có sợ mập không? Sau Tết bà có diet cho xuống cân không?
– Ăn thì cứ ăn, chẳng sao cháu ạ.
Rồi bà chép miệng:
– Ngày xưa, phong tục lễ Tết rất nhiều, ngày nay càng ngày càng đơn giản đi, và sang đến Mỹ thì mất gần hết rồi, con cháu đẻ ra ở đây, chẳng biết ngày Tết quý giá và thiêng liêng thế nào. Ngày Tết xa xưa, bà ăn một miếng bánh chưng thơm mùi nếp mùi lá dong, bà nghĩ tới những cánh đồng lúa chín vàng, tới những giọt mồ hôi cày cấy của người nông dân…
Mẹ tiếp lời:
– Bây giờ chúng nó nhìn bánh chưng bằng đôi mắt dửng dưng hoặc tò mò hỏi cái gì đây rồi lắc đầu từ chối, ngay cả không thèm ăn thử lấy một miếng.
Phượng lý luận:
– Thì bà và mẹ cũng không thích ăn hamburger, có bao giờ ăn thử miếng nào đâu!
Mẹ hồi tưởng:
– Sống ở quê hương mình, trải qua những mùa mưa nắng, những lúc đói no, mới thấm được hương vị ngày Tết. Khi đất trời vào Xuân, có nắng vàng, có gió nhẹ thổi sạch những chiếc lá khô nhỏ trên hè phố, khi chợ búa bắt đầu đổi màu sắc, ngập tràn cam quýt chín vàng, dưa hấu chất từng đống giữa chợ… còn rau sao mà nhiều thế? Sà lách xanh, bông cải trắng, cà chua chín đỏ như hẹn nhau cùng mùa thu hoạch cho kịp Xuân về… Và khi người ta vội vã mua sắm đồ Tết làm như sẽ không còn dịp nào để mua sắm nữa. Những hình ảnh đó, cảm giác đó, người Việt Nam tha hương chẳng bao giờ quên.
       Phượng ngừng tay lau chùi, quay lại nhìn bà và mẹ, hai thế hệ đã qua, mỗi người có một mùa Xuân đẹp theo ý họ, trông bà lưng còng tóc bạc, trông mẹ tuổi đã xế chiều Phượng khó có thể hình dung được họ đã từng có những mùa Xuân lộng lẫy trong đời, từng bâng khuâng xao xuyến khi thời tiết giao mùa, cây cối đơm hoa nẩy lộc. Bây giờ họ thích ôn lại kỷ niệm và kể cho con cháu nghe.
       Phượng nghĩ vẩn vơ sau này mình già thì sẽ có kỷ niệm gì để kể cho con cháu nhỉ? Cô sẽ kể lại cái ngày 30 Tết này vậy, rằng là bà không biết gói bánh chưng, bánh gai, nên bà ngoại và mẹ của bà sai bà làm đủ thứ chuyện, mệt kinh hồn.
Mẹ nhìn vẻ đăm chiêu của cô và hỏi:
– Con đang nghĩ gì mà ngẩn người ra thế? Lại đây mẹ chỉ cách gói bánh gai, sau này làm cho các con nó ăn.
Phương dẫy nẩy lên:
– Các con của con sẽ không thích ăn bánh này đâu.
– Con chỉ lười thôi, mấy món bánh đơn giản này mà cũng không chịu học.
Bà than thở:
– Tôi đã nói rồi mà, càng ngày con cháu ở xứ người càng quên đi mọi thứ liên quan đến cội nguồn của nó, chẳng biết tới đời con, đời cháu nó có còn biết nếm cái mùi vị ngon của bánh chưng, bánh gai, hay dưa hành ngày Tết không?
Mẹ nói như an ủi bà:
– Cũng phải thế thôi, biết sao bây giờ? Mình đâu có sống đời mà hướng dẫn chỉ bảo chúng nó được.
       Bà đã gói bánh xong, gọi Phượng vào thu dọn, rồi mang bánh chưng và nồi ra garage để nấu bánh, chưa hết, bà còn giao cho Phượng một công việc nữa là đêm nay chở bà đi chùa đón Giao thừa. Bà rất chăm đi chùa, có lần Phượng đã hỏi bà :
– Bà ơi, đi chùa có vui không? Sao tuần nào bà cũng đòi đi?
Bà âu yếm mắng cháu:
– Chùa là chốn tôn nghiêm, đâu phải chỗ giải trí mà vui, nhưng có niềm vui của tâm hồn, được bình an, được thanh thản.
       Tuần nào không đi được bà buồn hẳn ra , cứ than thở là già cả ở Mỹ này chỉ trông vào con cháu chở đi chùa vào dịp cuối tuần, thế mà đôi khi cũng không xong, khi vui nó chở, khi buồn thì không.
         Bà nói đúng quá, những hôm bận Phượng chẳng muốn chở bà đi chùa, hay có chở thì cũng vùng vằng, kém vui. Biết sự cần thiết của bà Phượng làm tới, cô hay năn nỉ bà kể chuyện ngày xưa cho cô nghe, nếu bà không kể cháu “cúp” luôn không chở bà đi chùa nữa. Và bao giờ Phượng cũng được vừa ý.
       Thường thường Phượng chở bà đến chùa và hẹn giờ đến đón, một hôm cao hứng Phượng ở lại lễ chùa với bà, cô tò mò xem có gì hấp dẫn mà tuần nào bà cũng đi như những người yêu nhau không bao giờ lỗi hẹn, cô ngồi cạnh bà, cũng quỳ, cũng lạy, nhưng cô không biết tụng kinh, chỉ biết ngồi im nghe, người ta đọc hết trang này đến trang khác làm cô sốt cả ruột hỏi bà chừng nào xong? Bà nói tụng hết cuốn kinh Pháp Hoa này, cô nhìn cuốn kinh dày cộp thở dài ngao ngán, tự trách mình lỡ dại trót ngồi đây rồi bỏ ra về giữa chừng sao được!
      Từ đó, Phượng chẳng bao giờ vào chùa đọc kinh nữa và thầm phục bà mỗi tuần ngồi cả giờ đọc đi đọc lại những câu kinh ấy, những sách kinh ấy mà không chán, mà vẫn sốt sắng khăn áo đến chùa. Sau này dù Phượng có già, cũng không thể làm như bà được.
       Bánh chưng và bánh gai đang được nấu trên bếp nên mọi người cảm thấy rảnh rang, bà quay ra kể chuyện đi chùa đón giao thừa, nghe tiếng chuông chùa báo hiệu năm mới vừa sang rồi ra vườn chùa hái lộc. Phượng hỏi:
– Hái lộc là gì hở bà?
– Cháu hái bất cứ một cành lá nào, gọi là hái lộc đầu năm để cầu ước mọi điều trong năm mới sẽ được tốt tươi như cành lộc ấy.
Mắt Phượng sáng long lanh:
– Cháu muốn được hái lộc, tối nay cháu vào chùa với bà.
Bà nghi ngờ:
– Nhưng đừng có chóng chán đòi về nhé?
Cô cương quyết:
– Cháu sẽ ở bên bà từ đầu đến cuối, bà biết không? Cháu sẽ cầu ước nhiều thứ lắm: bà khoẻ mạnh sống lâu, bố mẹ cháu cũng thế và cháu thì học hành khá hơn… Phượng ngừng không nói tiếp những ý nghĩ còn trong đầu là cô sẽ gặp một người tình vừa ý như mơ, điều ấy cô biết một mình là đủ rồi.
Lòng hớn hở, vui vẻ, Phượng dặn bà:
– Tối nay đi chùa bà nhớ mặc nhiều áo ấm vào, Tết của người Việt Nam, mùa Xuân của người Việt Nam, nhưng ở Mỹ này là mùa Đông đấy, bà hãy cẩn thận kẻo cảm lạnh bà nhé.
Nguyễn Thị Thanh Dương


Một quốc gia được bao quanh bởi biển, nhưng người dân lại không có cá mà ăn.

  • Cuba sở hữu hơn 2.000 km đường bờ biển, dòng hải lưu ấm áp và những rạn san hô trù phú. Tôm hùm, cá, tôm và cua tung tăng bơi lội trong làn nước xanh biếc của biển Caribbean, tạo nên một khung cảnh như một nhà hàng nổi trên biển với vô số món hải sản ngon.
    Tuy nhiên, cá lại là món ăn hiếm hoi trên bàn ăn của người dân Cuba. Đó là một tình huống kỳ lạ: Một quốc gia được bao quanh bởi biển, nhưng người dân lại không có cá mà ăn.
    Ở Cuba, hoạt động đánh bắt cá tư nhân luôn là một điều khó khăn, bởi luôn bị giám sát chặt chẽ về mặt chính trị. Muốn có thuyền? Rất tiếc, thủ tục phê duyệt có thể khiến bạn phải chờ đợi vô thời hạn cho đến khi về hưu. Muốn lắp động cơ? Rất tiếc, điều đó tương đương với việc cấp cho bạn "giấy phép vượt biên".
    Lý do rất đơn giản, thậm chí thô bạo: Họ sợ bạn sẽ bỏ trốn! Cuba cách Hoa Kỳ bao xa? Ở điểm gần nhất, khoảng cách đường chim bay chưa đến 150 km. Với thời tiết tốt và đủ can đảm, một chiếc thuyền máy có thể đến được Florida chỉ trong vài giờ. Do đó, trong bối cảnh chính trị Cuba, tàu đánh cá tư nhân chưa bao giờ là "công cụ sản xuất", mà là "công cụ đào tẩu".
    Tàu tư nhân? Nguy hiểm! Động cơ? Còn nguy hiểm hơn. Nhiên liệu? Đó là "nguồn tài nguyên chiến lược". Ra khơi đánh cá? Trước tiên, hãy chắc chắn một câu hỏi: bạn đi đánh cá hay bạn định vượt biên sang Hoa Kỳ? Vì vậy, việc quản lý nghề cá của Cuba chưa bao giờ xoay quanh "làm thế nào để đánh bắt được nhiều cá hơn", mà là "làm thế nào để quản lý những người ra khơi". Nó giống như một người chăn cừu chỉ nhìn vào chân cừu, chứ không nhìn vào đồng cỏ. Cỏ có xanh tươi đến đâu, cừu có đói đến đâu - điều đó không quan trọng; điều quan trọng là - cừu không thể bỏ trốn.
    Nguồn tài nguyên thủy sản do nhà nước độc quyền, và hoạt động đánh bắt cá do các công ty thủy sản nhà nước kiểm soát. Hải sản có giá trị cao được ưu tiên xuất khẩu để thu ngoại tệ hoặc cung cấp trực tiếp cho các khách sạn ở khu du lịch và khách nước ngoài. Người dân bình thường, kể cả những người sống gần biển, không có quyền tự do đánh bắt hoặc buôn bán hải sản; việc đánh bắt và buôn bán tôm hùm bất hợp pháp có thể bị xếp vào loại "tội phạm kinh tế".
    Điều này tạo ra một cảnh tượng hoàn toàn phi lý: Biển ở đó, cá ở đó, và con người ở đó, nhưng họ bị ngăn cách bởi một rào cản thể chế vô hình. Không phải người dân bình thường không muốn làm việc, nhưng công việc được coi là một "rủi ro", "ngăn chặn sự bỏ trốn" được ưu tiên hơn mọi thứ khác, và "có đủ ăn" trở nên thứ yếu.
    Tình thế khó xử thứ hai của ngành đánh bắt cá Cuba bắt nguồn từ những vấn đề cũ của nền kinh tế kế hoạch. Trong một hệ thống tập trung cao độ, "ai ăn cá" không bao giờ được quyết định bởi "ai đánh bắt cá", mà bởi "ai quan trọng". Do đó, bạn thấy tôm hùm, tôm và cá ngừ nhanh chóng được quốc hữu hóa; việc đông lạnh, chế biến và xuất khẩu đều được xử lý theo một quy trình tinh gọn; dòng ngoại hối được sử dụng cho "nhu cầu chiến lược quốc gia".
    Còn người dân bình thường thì sao? Sổ phân phối của họ thỉnh thoảng có thể bao gồm một ít cá, nhưng thường thì họ phải dựa vào trí tưởng tượng để bổ sung lượng protein cần thiết. Nhiệm vụ chính là quốc gia phải tồn tại trước, sau đó mới đến cuộc sống cá nhân. Vấn đề là, logic này đã hoạt động ở Cuba trong nhiều thập kỷ; Quốc gia vẫn đang trong giai đoạn "ưu tiên sinh tồn", trong khi người dân vẫn ở thế "hãy cứ chờ đợi ".
    Cá đã được đánh bắt, nhưng chúng không thuộc về ngư dân; biển cả rộng mở, nhưng không dành cho người dân. Do đó, người dân Cuba sở hữu một "tài sản tinh thần" đặc biệt - họ có thể nhìn thấy tài nguyên, nhưng không thể tiếp cận chúng.
    Một số người có thể hỏi: Ngay cả với nhiều hạn chế như vậy, liệu nhà nước có nên chia sẻ một phần cá với người dân không? Về lý thuyết thì có, nhưng trên thực tế, điều đó rất khó. Lý do không khó hiểu: Cơ sở hạ tầng lạc hậu đến mức đáng báo động. Các cuộc phong tỏa kéo dài, tình trạng thiếu ngoại tệ kinh niên và sự kém hiệu quả dai dẳng của hệ thống đã khiến thiết bị đánh bắt cá của Cuba vẫn ở mức độ của thế kỷ 20.
    Nhiên liệu khan hiếm; tàu thuyền có thể ra khơi, nhưng chưa chắc quay trở lại được. Phụ tùng thay thế khó tìm, và một khi hỏng, chúng sẽ bị "loại bỏ vĩnh viễn". Chuỗi cung ứng đông lạnh hầu như không tồn tại; một khi cá đã được đưa lên bờ, số phận của chúng đã được định đoạt. Hệ thống vận tải nội địa còn yếu, khiến cá đánh bắt dọc bờ biển khó đến được các bếp ăn ở thành phố.
    Kết quả là cá không phải là không bắt được, mà đúng hơn là "cá chết giữa chừng" do hệ thống. Trong điều kiện này, ngay cả khi chính phủ thực sự muốn "cho người dân ăn cá", họ cũng thiếu khả năng đảm bảo cá đến được bàn ăn một cách suôn sẻ.
    Tất nhiên, điều này đưa chúng ta đến một chủ đề cũ - lệnh trừng phạt của Mỹ. Nhưng cần phải làm rõ rằng không có lệnh cấm vận nào của Mỹ cấm người Cuba đánh bắt cá ngay trước cửa nhà mình. Các lệnh trừng phạt chủ yếu nhắm vào thương mại, tài chính, năng lượng và dòng chảy hàng hóa thiết yếu. Tác động gián tiếp của chúng bao gồm: Nhiên liệu trở nên khó kiếm hơn; ngư cụ trở nên đắt đỏ hơn; thiết bị chuỗi cung ứng đông lạnh trở nên khan hiếm hơn; và chi phí bảo trì tăng lên.
    Nhưng câu hỏi "liệu bạn có thể ra khơi đánh bắt cá hay không" không bao giờ nằm trong danh sách trừng phạt. Điều thực sự ngăn cản người dân Cuba bình thường đánh bắt cá tự do là nỗi sợ hãi vốn có trong luật pháp và chính trị của chính họ.
    Như vậy, chúng ta thấy một bức tranh xã hội đầy nghịch lý: Đất nước sở hữu vùng biển giàu có, người dân vô cùng cần protein, thế nhưng ngành công nghiệp đánh bắt cá lại bị quản lý như một "mối nguy hiểm về an toàn", khiến người dân bình thường không có cá để ăn cũng không có nơi để lên tiếng về những lo ngại của mình. Bạn không thể đánh bắt cá, không thể bán cá, không thể chất vấn chính sách, không thể tự do ra khơi. Biển vẫn ở đó, nó sẽ không thay đổi. Cá vẫn ở đó, chúng có thể sinh sản. Điều đáng lo ngại là người dân sẽ bỏ chạy. Kết quả là: cá vẫn ở dưới biển, nhưng nạn đói lại ở ngay trên bờ.
    07.02.2026
    (Phó Đức An)

    Inline image


Người ở Lại Charlie
  • Vùng cao nguyên bỗng dưng sôi động, những cánh chim sắt của phi đoàn Thần Tượng bất chợt bị cuốn lốc trong cơn bão của trận chiến bất ngờ. Những ngày hành quân liên tục trên những địa danh xa lạ chưa từng biết đến của vùng rừng núi địa đầu giới tuyến đã gây nhiều ấn tượng sâu đậm trong lòng một người trai thời loạn. Tôi xin ghi lại đây một vài hình ảnh, kỷ niệm của những tháng ngày dài rong ruổi trên chiến trường đẫm máu, cũng như những phi vụ kinh hoàng mà những người chiến sĩ Không Quân đã âm thầm lặng lẽ ra đi không ai nhắc nhở.
    Một chút gì để nhớ đến những cánh chim Thần Tượng gãy cánh trên vòm trời Tây Nguyên: Trung úy Phạm Thành Rinh, Thiếu úy Võ Diện, Trung úy Nguyễn Tường Vân, Trung úy Trần văn Long cùng các mê vô xạ thủ Linh, Thông, Lan, Phiệt...
    -------
    Ngày 12 tháng 4 năm 72:
    Này anh! Anh! Hỡi anh ở lại Charlie
    Anh! Vâng, chính anh là loài chim quý
    Ôi, cánh chim trùng khơi vạn lý
    Một lần dậy cánh bay
    Người để cho người nước mắt trên tay......
    Một buổi chiều miền Tây nguyên, một buổi chiều sau một ngày sôi động chiến tranh của "Mùa hè đỏ lửa". Bầu không khí bắt đầu quyện đục sương đêm hòa lẫn khói rừng âm ỉ cháy, phảng phất khen khét đâu đây mùi thuốc súng... Ánh nắng vàng nhạt còn vương vấn trải dài trên những triền núi xa xa...
    Hai chiếc trực thăng võ trang của Phi đoàn Thần Tượng trên đường về căn cứ Cù Hanh sau một ngày nhào lộn trên chiến trường nóng bỏng. 
    Trong cockpit Th/u Nguyễn Thanh Hùng im lặng cầm cần lái, đôi mắt đăm chiêu trên khuôn mặt thể hiện một nét mệt mỏi. Ngồi bên cạnh, tôi uể oải dựa ngửa đầu vào lưng ghế bay nhìn xuống Quốc lộ 14 chạy lùi dưới chân. Đây là con đường huyết mạch nối liền Kontum và thị trấn Pleiku chạy giữa vùng núi rừng xanh thẳm. Dọc theo hai bên đường được khai quang trống trải để đề phòng những cuộc phục kích của Việt Cộng, những người Thượng lưng đeo chiếc gù đầy củi đang lầm lủi bước nhanh cố tranh thủ với bóng đêm đang chầm chập tới. Một vài người ngững đầu lên đưa tay vẫy chào hai con tàu đang lướt qua trên đầu. Phía bên trái ngọn núi Chu Pao đứng sừng sững nhìn xuống QL14 như một vọng canh chiến lược thiên nhiên, nơi đây sẽ khởi chiến những trận đánh đẫm máu của ta và địch trong những ngày sắp tới để dành chủ quyền kiểm soát con đường huyết mạch này.Xa xa 1 đoàn xe "công voa" nhà binh mở đèn pha chạy nối đuôi nhau chạy ngược về hướng Kontum. Con đường xa lạ này giờ đây nó đã trở thành 1 hình ảnh vô cùng quen thuộc với những con chim sắt ngày ngày tung cánh lao đi vào vùng lửa đạn.
    Sau phi vụ tiếp tế đẫm máu mở màn tại Tiền đồn 6, kế cận phi trường Phượng Hoàng, Tân Cảnh, phi đoàn 215 Thần Tượng đã được lệnh tăng phái lên Pleiku để yểm trợ cho mặt trận vùng cao nguyên. Nguyên phi đội được chỉ định ở trong 1 trong những barracks của Mỹ để lại trong phi trường cạnh một sân cỏ rộng, ở đó đậu tạm những chiếc trực thăng của biệt đội trong giai đoạn hành quân. Trong linh cảm, tất cả nhân viên phi hành đều biết rằng sẽ phải đối đầu với 1 trận chiến khốc liệt và có thể kéo dài. Phi trường Cù Hanh càng ngày càng bận rộn theo mức leo thang của chiến cuộc, sự sinh hoạt tại căn cứ mang một màu sắc nghiêm trọng khẩn trương hơn. Đứng trên tầng hai của biệt đội nằm trên một vùng đất khá cao, tôi có thể quan sát mọi sự hoạt động của phi trường vào mỗi buổi sáng sớm. Trên những con đường, những chiếc xe pick-up màu xanh chạy vội vã chở đầy phi công; những người lính Không quân hối hả trên những chiếc xe gắn máy phóng đến phần sở cho kịp giờ; những hàng gánh rong bán thức ăn sáng rộn rịp ở những góc đường. Ngoài phi đạo máy bay sắp hàng để chuẩn bị cất cánh lên vùng, những chiếc khu trục thô kệch nặng nề, đeo đầy bom, tiếng máy rú lên như con thú dữ, những chiếc máy bay quan sát mảnh mai như con hạc trắng nhẹ nhàng cất cánh lên không trung, mấy chiếc vận tải C-123, C-130 to lớn đậu trên "Tarmac" kế những "hangar" khổng lồ, cửa cargo sau đuôi tàu mở rộng, những kiện hàng nằm ngổn ngang. Tại mấy ụ đậu trực thăng, tiếng quay máy o..o...o... của những động cơ bán phản lực cùng tiếng chém gió "phần phật" của những chiếc tàu đang lơ lững trên "taxiway" càng làm cho không khí thêm sôi động.
    Vào những giờ ăn tại câu lạc bộ của Không Đoàn đầy người đủ mọi thành phần của các binh chủng. Hoa tiêu trong những bộ đồ bay tác chiến đủ kiểu, từ bộ đồ nomex hai mảnh của những hoa tiêu trực thăng, đội nón rằn ri như lính Lôi hổ, đến những phi công khu trục với bộ đồ bay cam, xám hay kaki, cùng những người không phi hành ngồi tụm năm tụm ba trên bàn, trên khuôn mặt mọi người thể hiện lên nét khẩn trương phản ảnh 1 cuộc chiến đang đi vào giai đoạn quyết liệt.
    Từ đầu năm 72 đến trung tuần tháng 3, địch đã đủ thời giờ dàn trận và bố trí ở những mặt trận mà chúng đã chọn, và đến bây giờ là giai đoạn tổng công kích. Quân đội VNCH bị ở trong thế cờ thụ động, dò dẩm nghe ngóng hoạt động của địch. Không lực của Đồng Minh cũng như Việt Nam liên tục ngày đêm oanh tạc những điểm tập trung của địch để tiêu hủy tiềm năng của Cộng Quân trước khi chúng thực sự tổng tấn công. Riêng về hoạt động của các phi đoàn trực thăng đa số là tiếp tế cũng như đổ toán Lôi Hổ để thám sát, dò tìm tin tức sau phòng tuyến của địch. Những phi vụ bay gần vùng biên giới thường đem lại cho phi hành đoàn những cảm giác căng thẳng nếu không nói là lo ngại vì sự hiểm nghèo của nó. Những phi vụ trong thời gian biệt phái tôi đã trải qua những kinh nghiệm vui buồn khó quên trong cuộc đời bay bổng. Nhớ lại một phi vụ thi hành khi sương mù đang còn lãng đãng trên đầu ngọn cây, 2 chiếc gunship trong đội hình tác chiến, hướng về vùng biên giới, bay trên mặt rừng cây trùng điệp, tinh thần tập trung né tránh những bãi cỏ trống hay rừng thưa, bỗng dưng trước mặt một tàng cây đại thụ nổi bật nhô cao lên xuất hiện trước mũi con tàu, loáng thoáng dưới tàng cây rậm 5-7 bóng đen di động làm lung lay cành lá, giật mình tôi kéo ngược bật cần lái né tránh,con tàu bay vút lên cao.  Tim đập thình thịch tôi la: 
    - Trời đất....Việt cộng... tụi mày thấy không... mẹ... làm tao giật cả mình...
    Người hoa tiêu phụ quay nhìn tôi khuôn mặt lộ vẽ rất ngạc nhiên, buộc miệng: 
    - Việt Cộng ở đâu ông, khỉ đó, một đàn khỉ đu trên cây tôi thấy rõ ràng. 
    Tôi cắt lời: 
    - Bạn nói cái gi? Tao thấy 5-7 đứa bận đồ đen đang rình mà bạn nói là khỉ. 
    Không đồng ý với người hoa tiêu phụ, tôi quay ra phía sau hỏi hai anh mê vô xạ thủ:
    - Tụi mày thấy gì? Tao thấy rõ ràng lố nhố mấy thằng bận áo đen đang đeo trên cành cao. Bố chúng nó! Làm tao hết hồn...
    Mấy anh xạ thủ phía sau nhe miệng cười:
    - Ông giật cần lái làm tụi tui hết hồn thì đúng hơn, một bầy khỉ đó ông à, tụi này thấy rõ ràng mà. 
    Vì địa thế mặt rừng dày đặc vùng cao nguyên địch thường cho những khinh binh leo lên cây cao hay làm những chòi nhỏ trên đọt cây để quan sát sự di chuyển cũng như những hoạt động của máy bay và đôi lúc chúng cũng dùng súng trường để bắn sẻ vào những chiếc trực thăng bay ở độ thấp. Đến đây thì tôi mới biết rằng mình lầm, hồn vía trở lại.
    Trong một chuyến bay thả toán khác, sau khi thi hành xong phi vụ yểm trợ để thả 1 toán Lôi Hổ kế cạnh con đường mòn Hồ Chí Minh, trên đường trở về, trên mặt vùng rừng già dày đặc thình lình trước mặt mũi con tàu một bãi cỏ xanh rộng hiện ra, ngay góc rừng một khẩu phòng không được ngụy trang bằng những cành lá dây leo, nấp sát bìa cây cao, nòng súng đen ngòm to chỉa thẳng lên trời. Mặc dù đã xông pha trận mạc qua nhiều năm tôi vẫn không làm sao tránh được cái cảm giác bị giật mình làm tim đập mạnh khi gặp một yếu tố bất ngờ. Đây là lần đầu tiên tôi được chứng kiến một khẩu súng cao xạ cở lớn trong khoảng cách quá gần. Phản ứng đầu tiên tức thì tôi quẹo gắt phía bên phải để né bãi cỏ trống. Địch và chúng tôi đều bất ngờ đụng độ, hai bên không có thì giờ để phản ứng. Đó cũng là một điều may mắn cho phi hành đoàn. Tôi cho con tàu bay hướng về phía Nam. Hình ảnh khẩu phòng không nằm ở góc rừng như đang ngạo nghễ thách đố... Trước đây không lâu anh Phạm Thành Rinh, một người bạn chí thân của tôi cùng chung phi đội võ trang 215, và hoa tiêu phó Võ Diện đã bị bắn nổ tung trên bầu trời mịt mờ khói lửa của Võ Định, Tân cảnh. Rinh đã cùng phi hành đoàn thảng thốt ra đi, không kịp nói một lời trên tầng số. Tôi đã mất một người bạn, một nghệ sĩ với cây đàn... Giọng hát ngọt ngào trầm ấm anh thường trình diễn trong những buổi dạ vũ của PĐ còn văng vẵng bên tai:
    Em đến bên tôi một chiều khi nắng qua rồi...
    Nắng ngừng bên chiếc cầu biên giới...
    Xa xa tiếng đàn trầm vô tư...
    Đâu đây dáng huyền bền duyên mơ...
    Bên cầu biên giới...
    Tôi lặng nghe dòng đời từ từ trôi...
    Anh Rinh đã vĩnh viễn ra đi, thân xác anh đã trở thành cát bụi trên vùng trời biên giới, anh không còn hiện hữu để "lặng nghe dòng đời từ từ trôi..." Anh và tôi chỉ có hai người được chọn về với phi đoàn 215 trong tất cả các bạn cùng khóa. Anh ra đi vì khẩu phòng không oan nghiệt. Hình ảnh đau thương trở lại trong tâm trí, máu huyết trong người tôi sôi sục, tôi muốn quay trở lại ngay để trút lên đầu địch những hận thù chất chứa. Nhìn lại khả năng và vũ khí giới hạn trong tay, trực diện đối đầu với khẩu phòng không này quả là một sự điên rồ. Những sách vở kiến thức học ở trường bay chưa bao giờ dạy chúng tôi những chiến thuật, chiến lược để đối phó với hoàn cảnh này. Trực thăng vận quá mới mẽ đối với chiến tranh Việt Nam. Những hoa tiêu trực thăng của VN chỉ được dạy kỹ thuật bay bổng, ngoài ra họ phải tự học hỏi lấy qua những kinh nghiệm bản thân để đối phó với mặt trận càng ngày càng leo thang.
    Khẩu cao xạ phòng không vẫn đang chờ đợi. Tôi chợt nhớ trong sách lược của Khổng Minh đã có nhiều mưu kế để hạ kẻ thù và một phương thức tôi chợt nghĩ đến là chiến thuật "Dương Đông kích Tây".Nếu tôi cho chiếc gun số 2 bay vòng vòng sát đầu ngọn cây phía Bắc của địch, tiếng động cơ ồn ào cùng tiếng chém gió "phành phạch" của chiếc trực thăng sẽ gây sự chú ý của tên xạ thủ phòng không và sẽ quay hướng nòng súng phía Bắc chờ đợi. Bay nhanh sát trên đầu ngọn cây từ hướng Nam lên, tôi sẽ bất ngờ đột kích. Khẩu cao xạ nặng nề sẽ không kịp quay họng súng về hướng Nam để kịp tác xạ. Nếu sự suy luận của tôi đúng, tôi chỉ cần vài ba giây ngắn ngủi đó để hoàn tất sứ mạng.
    Tôi liều lĩnh thực hành ý định. 2 chiếc gunships chúng tôi chia tay nhau, chiếc số 2 thi hành nhiệm vụ "dương Bắc", tôi ở lại chờ đợi sứ mạng "kích Nam". Không đầy 1-2 phút sau chiếc gun số 2 báo cho biết đã đến vùng. Thời cơ đã điểm, không một giây chậm trễ, tôi lao con tàu về hướng khẩu phòng không. Chiếc tàu cắm đầu chúi mũi lướt vùn vụt trên đầu mặt rừng già gợn sóng nhấp nhô như mặt biển xanh. Chỉ còn cách bãi cỏ một khoảng ngắn, tôi kéo ngược cần lái, con tàu tức khắc ngóc đầu lên cao như con rắn hổ phùng mang trợn má trước khi mổ vào đầu địch. Xoẹt...Xoẹt...Xoẹt... 14 trái rockets vội vã thi nhau rời con tàu lao thẳng tới dàn phòng không ẩn hiện trong đám góc cây rừng. Những tiếng nổ ầm ầm vang dội núi đồi, bụi mù xen lẫn cành lá bay tung tóe khắp nơi. Tai nghe loáng thoáng tiếng cóc cóc đâu đó của những khẩu AK-47, tôi không còn thì giờ để nhìn thành quả, một tay đè mạnh cần cao độ, tay kia bẻ ngoặc cần lái,chiếc trực thăng tức thời nghiêng mình lài xuống về phía bờ cây cao. Trước sự ngỡ ngàng của địch quân, con tàu chỉ xuất hiện 5-3 giây rồi vụt biến mất dạng trên mặt rừng mênh mông, theo sau chiếc Hổ 2 sát nhập lại nối đuôi nhau như hai con rắn độc hạ thủ xong lủi vào bụi cây rậm... Trên đường trở về căn cứ, tôi hình dung một nụ cười mãn nguyện đang nở trên môi của Rinh nơi chín suối...
    Tiếng nói của Th/T Phạm Bính, phi đoàn trưởng của phi đoàn 215 đột ngột vang trong tần số VHF:
    - Mãnh Hổ, Charlie. 2 bạn ở đang ở đâu, cho biết vị trí. 
    Ngạc nhiên khi nghe vị phi đoàn trưởng gọi tôi trong giờ phút này, tôi trả lời:
    - Charlie đây Hổ... còn chừng 10 phút nữa đáp Pleiku.
    - Tôi vừa nhận được tin tức mới nhất, Căn cứ hỏa lực Charlie đang bị tấn công nguy kịch, tình trạng rất nguy ngập, quân bạn đang cần sự yểm trợ của tất cả những phi cơ nào đang có mặt trên vùng. Hai Hổ quay lại vùng Võ Định, hiện tôi đang có mặt tại đây với bộ chỉ huy Dù, hai bạn lúc nào đến cho tôi biết, sẽ có chỉ thị.
    Vừa nghe Charlie dứt lời trên tần số, Th/u Hùng quay sang nhìn tôi xong buột miệng:
    - Trời đất, trễ quá rồi! Tới đó là quá tối thấy đường đâu mà đánh! 
    Trước thái độ của Hùng, tôi biết anh đã quá mệt mỏi sau một ngày dài, nhưng không có một sự lựa chọn, tôi trả lời Charlie:
    - Hổ nghe 5, quay lại Võ Định. 
    Nói xong tôi ra dấu tay cho Hùng quay đầu con tàu trở lại hướng Bắc, sau lưng chiếc Hổ 2 bám sát. Quay nhìn bên ngoài, bầu trời mập mờ không còn bao lâu nữa thì tối hẳn. Lòng dấy lên một niềm e ngại, chưa bao giờ tôi thực sự tham dự một trận đánh đêm trong vùng rừng núi cao nguyên này cả. Tuy nhiên theo chỉ thị của cấp trên, tôi phải tuân lệnh. Tôi vỗ về người hoa tiêu bạn:
    - Ráng tí đi Hùng, có lẽ mình sẽ đánh vài "pass" rồi về thôi.
    Trong phi đoàn anh hoa tiêu phụ của tôi có biệt danh là "Hùng kiềng", chân anh hơi cong cong, anh có tướng đi khệnh khạng như "cao bồi" cởi ngựa. Anh tánh bộc trực có gì nói nấy, lại có tội hơi lè phè. Tôi còn nhớ một buổi sáng đang mơ màng nằm ngủ trong phòng bỗng nghe văng vẳng tiếng đồng hồ báo thức của ai reo dai dẳng, liên tục. Tôi ngồi dậy bước ra khỏi gường, ngang phòng Hùng thuê cách tôi một căn, tiếng reo vang rền, tôi đẩy nhẹ vào, cửa không khóa. Hùng đang nằm ngửa, mình trần trùng trục mồ hôi đổ nhễ nhại, hả miệng ngáy o..o.. Hoa tiêu phụ có bổn phận phải có mặt trước để check tàu, trưởng phi cơ sẽ ra sau. Chiếc đồng hồ điện báo thức réo rắt từ 6 giờ sáng đến quá 9 giờ mà anh vẫn còn chìm đắm trong giấc ngủ say.
    Hùng là một hoa tiêu phụ bay với tôi rất nhiều phi vụ và đã chia sẻ với tôi nhiều giây phút đáng nhớ. Một lần trên đường bay ra Phù cát, giao tay lái cho Hùng xong tôi ngồi dựa ngửa vào lưng ghế, mắt nhắm lại nghỉ mệt. Trong tiếng máy nổ đều đặn, con tàu rung nhẹ dần đưa tôi vào "chốn lãng du"... Đang phiêu diêu nơi "chốn tang bồng" con tàu chợt rung động mạnh, tôi hé mở mắt ra nhìn: tất cả xung quanh con tàu bao phủ một màu mây trắng xóa, không biết đâu là trời đất.... Mơ mơ màng màng, tôi tự hỏi: “Tàu bị lọt vô mây... ai đang cầm lái đây?...Vertigo?” Những tư tưởng mơ hồ loáng thoáng trong đầu như tia điện làm tôi tỉnh hẳn người.Hốt hoảng tôi ngồi phắt dậy, tay chụp vội cần lái la to: “Ê...ê...chết.. chết.. chết...” Vừa chưa nói hết câu, đột nhiên bầu trời trở lại trong sáng, dưới chân mặt biển xanh ngát một màu. Con tàu vừa bay xuyên qua một đám mây nhỏ. Sượng sùng tôi trả cần lái lại cho Hùng... Cũng nên biết trực thăng thường bay VFR (Visual Flight Rules), chun vô mây là điều bất khả kháng.
    Cuộc đời hoa tiêu trực thăng gian khổ, năm tháng đương đầu với nhưng giờ bay dài đăng đẳng. Một ngày ngồi trên chiếc ghế bay 7-8 tiếng là chuyện thường khi hợp đoàn phải di chuyển cả tiểu đoàn bạn vào vùng hành quân. Ngồi trên ghế chai cả mông, mồ hôi đổ ướt đít đến mọc mụn.
    Một lần khác trên thung lũng "Buôn Mì Gà" vào buổi trưa hè nắng gắt, 2 chiếc guns bay vòng trên trời chờ hợp đoàn trở về bốc thêm quân, Hùng cầm cần lái, tôi ngửa đầu vào lưng ghế nghỉ rồi ngủ thiếp đi. Bay vòng chờ trên cao, mỗi khi con tàu hướng về phía mặt trời, ánh nắng dọi thẳng vào mặt nóng như thiêu đốt, bỗng dưng đưa tôi vào một cơn ác mộng, mơ thấy con tàu đang bị bốc cháy dữ dội, lửa ngọn lan tràn đến cockpit, hốt hoảng tôi ngồi nhổm dậy la làng “Cháy..cháy..cháy”. Mở mắt ra,tim đập thình thịch tôi ngơ ngác nhìn khoang tàu, mọi sự vẫn bình thường, bên ghế trái "Hùng kiềng" đang im lặng miệng phì phèo điếu thuốc lá trố mắt nhìn tôi ngạc nhiên, rồi bật cười lớn. Biết là hố, tôi lấy tay áo quẹt lau mồ hôi đổ hột trên mặt, sửa lại thế ngồi, xong lui cui móc điếu thuốc lá châm hút, nhìn ra ngoài trời xanh mây trắng, không nói một lời...
    Tiếng nói của Hội xạ thủ hỏi tôi:
    - Sao ông thầy, mình cần load thêm đạn không? 
    - À...thôi có lẽ còn chừng đó xài đủ rồi, để coi tình trạng như thế nào đã. Chắc không lâu đâu, đánh vài vòng rồi về, tối rồi.
    Phía sau tàu Hội xạ thủ đang ngồi bệt trên sàn lúi húi sửa khẩu súng bị kẹt, chiếc áo bay phập phồng gió lộng trong khoang tàu mở cửa. Anh Song mê vô ngồi trên thùng đạn đang ưu tư nhìn vào khoảng không.Một niềm cảm xúc dấy lên trong lòng, thương cho những người bạn đồng hành gần gũi qua bao nhiêu năm chung chia tất cả những vui buồn khổ cực. Trong những giây phút mạng sống như chỉ mành treo chuông trên mặt trận, họ cũng hứng chịu không khác gì hoa tiêu nhưng họ đã không được đề cao hay tưởng thưởng tương xứng với những gì họ đã đóng góp. Phi đội trực thăng võ trang trong phi đoàn chỉ là một nhóm nhỏ, rất thân tình gần gũi với nhau, anh em biết tánh tình từng người một. Tr/s Song xạ thủ theo đạo Phật, theo tôi biết anh kỵ sát sanh, một con kiến anh cũng không muốn giết, vậy mà tôi không hiểu tại sao anh lại xin vào phi đội trực thăng võ trang. Trong 1 phi vụ phía Bắc Gia Nghĩa, đang bay quan sát bãi đáp ở độ cao vài trăm bộ, bất chợt một tên VC từ bụi cây giữa bãi cỏ trống phóng như cắt hướng về bìa rừng. Tôi hét lớn: “Song, Song... bắn...bắn....” Hàng ngàn viên đạn tuông ra từ nòng súng cày lên mặt đất tung tóe xung quanh tên VC. Đạn vẫn tuôn ra như mưa bấc, tên VC vẫn chạy mãi đến gần bìa rừng. Tay kềm con tàu, theo dỏi diễn tiến qua khung cửa, tôi điên "tiết vịt" lên lắc mạnh cần lái, con tàu chao đảo. Tôi hét: “Hội... Hội..Hội... qua bên này bắn đi... nhanh lên... coi chừng nó chạy mất... bắn như con c....” Nhưng đã quá muộn, tên VC đã biến mất dạng dưới những tàng cây rừng rậm rạp... Tôi lầm bầm một mình trong intercom:" “Mẹ... sợ sát sanh mà đòi đi bay guns...”
    Giọng nói của Th/T Bính nghe trên tần số:
    - Hổ tới đâu rồi, báo cáo...
    - Chừng vài phút sẽ đến Võ Định, OK, tôi thấy Charlie rồi.
    Cao trên thung lũng đậm màu đêm xuống bên con sông Pokor uốn khúc phía Tây QL14, chiếc trực thăng như một chấm đen trong bầu trời sẩm tối. Phía Đông là căn cứ chỉ huy Võ Định của Lữ Đoàn 2 Dù nằm sát con lộ, phía Tây là rặng núi Ridge cao mờ mờ ẩn hiện.
    - Hổ "hold" chờ phía Đông đồi Charlie, bạn sẽ cùng 4 chiếc gunships của phi đoàn 235 và 229 vào yểm trợ, chừng vài phút nữa họ sẽ có mặt....
    Tôi cho con tàu bay vòng về phía Đông dãy núi trọc nhìn xuống cụm đồi phòng thủ của đồn Charlie hình yên ngựa. Từ cao tôi có thể thấy những trái đại pháo liên tục rớt trên mặt đất của đồn, nổ tóe lửa trong ánh hoàng hôn mờ ảo, trông lập lòe chớp lóe như pháo bông. Căn cứ hỏa lực này giờ hầu như đã thành bình địa, những công sự phòng thủ bị pháo nát, hòa lẫn với đất cát không nhận ra hình hài.
    Tại căn cứ này, địch đã dùng chiến thuật công đồn đả viện, tiền pháo hậu xung. Chúng tiêu hao tất cả những tiềm lực chiến đấu của quân bạn bằng những trái đạn đại pháo, những trái đạn nổ chậm chui xuống đất rồi nổ tung phá nát hầm sâu. Một mặt chúng ngăn chặn nguồn tiếp tế duy nhất là trực thăng bằng những khẩu phòng không bố trí xung quanh đỉnh núi hay những trái pháo đã được điều chỉnh sẵn nhắm vào bãi đáp.
    Trong bóng chiều tà, từ đỉnh đồi Charlie nhìn thẳng xuống tới chân núi phía Đông tôi vẫn còn nhận rõ một khoảng đất cỏ cháy xém, ngay chính giữa là 1 khối sắt co dúm đen đủi, kế bên là một khúc đuôi trực thăng còn nguyên nằm lật ngược. Tất cả đó là những gì còn sót lại của một con chim sắt thuộc phi đoàn Thần Tượng đã gãy cánh cách đây mấy ngày. Hình ảnh còn mới mẽ của phi hành đoàn thân yêu đã ra đi trong bất ngờ, trong thảng thốt như một cuốn phim kinh hoàng bừng sống lại trước mắt tôi...
    10 giờ sáng hôm đó, 5 phi hành đoàn Thần Tượng đáp tại bộ chỉ huy Dù ở căn cứ Võ Định, sát phía Đông QL 14. Chiếc Charlie do Th/t Khưu Văn Phát, phi đoàn phó, cầm lái. Vì Lữ đoàn Dù chỉ đóng quân tại những căn cứ cố định trên những tiền đồn cao điểm nên những phi vụ thường là tản thương hoặc tiếp tế. 5 chiếc tàu đã tắt máy, tôi bước xuống đi lững thững vào bộ chỉ huy dọc theo hàng rào kẽm gai con đường đất đỏ quanh co. Những chiếc lều dã chiến màu xanh cứt ngựa thật lớn, trên nóc đầy những cột "ăng ten" chĩa thẳng lên trời, không xa đó đặt vài khẩu trọng pháo thỉnh thoảng nổ đì đùng...Vòng vo 1 khoảng nữa thì tôi đến căn trại của bộ chỉ huy Lữ Đoàn 2 Dù.  Tôi bước vào lều, Th/T Phát đã có mặt với một vài vị sĩ quan bạn ngồi kế bên 1 cái bàn dài trải những tấm bản đồ xanh lơ. Kế đó Tr/Tá Đặng Duy Lạc, 1 hoa tiêu A37, Không đoàn Trưởng KĐ62/CT tại Nha Trang, đang nói chuyện với 1 sĩ quan cấp tá Dù. Sự hiện diện của Tr/Tá Lạc làm cho tôi rất ngạc nhiên. Tôi vừa đưa tay chào theo cung cách nhà binh vừa bước đến gần bên Th/T Phát kéo chiếc ghế trống ra ngồi, xong tôi ghé sát vào tai Th/Tá Phát hỏi nhỏ: 
    - Ông Tr/Tá Lạc làm gì ở đây vậy? 
    - À, ổng chỉ lên thăm và ủng hộ tinh thần anh em thôi, chiều ông về lại Nha Trang rồi.
    Th/tá Phát trả lời xong nói tiếp:
    - Ngồi tí rồi mình đi, sáng hôm nay chỉ có 2 phi vụ tiếp tế cho Charlie. Bạn còn nhớ vụ tôi bị bắn ở Tiền đồn 6 không? Phòng không đây nặng hơn nhiều, Hổ cẩn thận.
    Tôi đáp lời:
     - Thầy quá may đó, nhìn chiếc tàu bị bắn, tôi không hiểu sao Thầy về kịp đáp Phượng Hoàng an toàn được. Nhớ hình ảnh chiếc trực thăng khi đem về căn cứ, viên đạn 12 ly 7 xuyên qua sàn tàu, đâm lủng bình xăng đi thẳng lên làm một lổ lớn trên trần tàu rồi bay thẳng lên trời,may viên đạn trúng tàu không phải là đạn lửa không thì con tàu sẽ nổ tan xác pháo. Tôi cảm thấy cuộc đời bay bổng của hoa tiêu trực thăng thật mong manh, mạng sống như chỉ mành treo chuông trong những trận chiến sôi động này, tương lai chỉ đếm từng ngày một.
    Ngồi nói chuyện đôi ba câu xong, tôi đứng dậy bước khỏi lều hút thuốc lá. Trong ánh nắng chói chan, tôi để tầm mắt về hướng Tây, dãy núi Rocket Ridge đứng sừng sững bất động dưới bầu trời xanh. Đã mấy ngày nay tin tức cho biết Cộng quân đang áp đảo căn cứ trên đỉnh núi, cố tình muốn dứt nọc trước khi tổng tấn công vào vùng Tân Cảnh, dưới trách nhiệm của Sư Đoàn 22 bộ binh. Những viên đạn đại pháo 130 ly, những trái hỏa tiễn 122 ly cùng với những súng cối 82 ly ngày đêm không ngưng nghỉ rót vào những căn cứ hỏa lực.
    - Lẹ đi, tao đá cái chết mẹ bây giờ! 
    Đang đứng dựa gốc cột dưới căn lều dã chiến bộ chỉ huy, tôi quay lại thấy 1 anh Tr/s Dù, đầu đội nón "bê-rê" đỏ đi kế bên 1 thằng bé cỡ 16, 17 tuổi, bận bộ đồ màu xanh cứt ngựa của lính chính quy Cộng Sản, tóc tai bơ phờ, mặt mày ngơ ngáo. 
    Thấy tôi anh ngừng lại chào, tôi hỏi: 
    - Anh đem nó đi đâu vậy?
    - Dạ, tôi đưa nó đi cầu. 
    Xong anh nói tiếp: 
    - Nó vừa mới bị bắt sống tối hôm qua đó, nó thuộc Sư Đoàn Thép, bộ chỉ huy cho chở về đây lấy tin tức. Tụi nó hết người rồi phải lấy toàn con nít hỉ mũi chưa sạch. Sư đoàn Thép bây giờ toàn thứ này nhiều lắm. 
    Nhìn khuôn mặt non choẹt tái mét vì đã chui rúc trong rừng sâu nước độc, mỏng manh trong bộ quân phục xốc xếch, chân mang đôi dép quai râu, tôi thấy tội nghiệp cho những đứa trẻ "sinh Bắc tử Nam". 
    Anh lính Dù đứng một lát xong giục: 
    - Đi mày.
    Gật đầu chào rồi bước ra chỗ bãi đậu, tôi lửng thửng đi ngang qua 2 chiếc trực thăng chở tiếp tế, mấy phi hành đoàn đang tập tụ trong khoang tàu binh xập xám chờ phi vụ. Tr/u Vân bay chiếc số 1 đang ngồi trong khoang tàu hỏi vọng ra:
    - Ê, bao lâu nữa thì đi?
    - Sắp sửa rồi, chuẩn bị đi. 
    Tôi vừa bước gần Vân thấy có Th/u Long đứng kế bên, tôi hỏi một câu nửa chơi nửa thiệt:
    - Sao Long, giải được bùa chưa?
    Anh không trả lời chỉ nhếch mép cười. Nghe mấy người bạn kể lại vì tội dụ dỗ 1 cô gái Thượng ở Ban Mê Thuột, anh đã bị thư 1 cái dằm vào chân, mỗi đêm đều bị nhức nhối. Tôi nghe anh em nói tưởng họ đùa, nhưng khi gặp anh Long hỏi thì anh xác nhận chuyện đó có thật. Mỗi lần trong phi đoàn có phi vụ nào đi Ban Mê Thuột anh đều xin theo để gặp thầy pháp giải bùa chữa bệnh.
    Từ ngày mặt trận bùng nổ, tôi bắt đầu cảm nhận rằng trong không khí chiến tranh càng leo thang, tâm tư anh em phi hành đoàn bắt đầu mang một nổi e dè, lo lắng. Tối hôm qua, ở tại biệt đội, trong khi anh em tụ tập bàn tán xôn xao về tin của 1 chiếc tàu của phi đoàn bạn bị bắn nổ trên không trung. Tr/u Vân vừa mới lên từ Nha Trang, ngồi trong phòng tại biệt đội, anh tâm sự với một người bạn thân rằng vợ anh mới sanh, tiền bạc chẳng có nhiều, mặt trận càng ngày càng sôi động làm anh rất quan tâm... Trước khi đi ngủ anh móc tất cả trong túi lấy ra được mấy ngàn đồng, cùng với cái đồng hồ rồi bỏ tất cả trong hộc tủ, nhờ người bạn nếu anh có mệnh hệ gì thì giao lại cho vợ anh. Nghe câu chuyện tôi linh cảm như là một điềm xấu có thể xảy ra cho Tr/u Vân.
    Từ căn lều bộ chỉ huy, Trung tá Lạc bận bộ đồ bay màu xám, chiếc nón lưỡi trai đen trên đầu với 2 nhành dương liễu trắng trông rất phong độ đi song đôi với Th/Tá Phát, phía sau Tr/Tá Nhảy Dù đầu đội nón sắt tay cầm bản đồ và mấy người tùy tùng, tất cả đang tiến ra bãi đậu. Âm thanh o..o.. quay máy của Charlie khởi đầu cho phi vụ tiếp tế. 2 chiếc trực thăng vừa quay máy vừa nhận hàng của 1 chiếc xe cam nhông đậu kế bên hông. Những thùng bằng gỗ thông chứa đạn dược, C-Ration (phần ăn của nhà binh) cùng với những ống sắt đựng đại bác dùng để chứa nước được chất đầy trên bong tàu. Đợi tất cả cất cánh trước cho rộng chỗ, tôi từ từ nương con tàu nặng nề súng đạn rời khỏi bãi, vượt qua hàng rào kẽm gai và những cây "ăng ten" cao nghệu. Nhìn xuống, những căn lều lúp xúp của trung tâm hành quân Dù Võ Định vây quanh bởi hàng chục vòng kẽm gai nhỏ dần dưới ánh nắng mai gay gắt...
    Bay chừng 5-7 phút, tất cả hợp đoàn đã đến vùng, rặng núi Rocket Ridge nằm im lìm dưới bầu trời trong xanh. Chiếc tàu bay vòng trên cao độ nhìn xuống, căn cứ Charlie gồm 3 cứ điểm phòng ngự từ Nam lên Bắc, điểm thấp nhất đồi 960 cũng là bãi đậu trực thăng làm nơi tiếp tế, rồi tới đồi 1020, cao nhất phía Bắc là đỉnh Charlie, 1050. Tất cả tạo thành một địa thế từ xa nhìn giống như hình yên ngựa. Tại cụm phòng ngự này đã bị Cộng quân mở hàng loạt trận địa pháo 130 ly, 122 ly và hỏa tiễn đủ loại, chúng cố dứt điểm căn cứ này với mọi giá. Tại cao điểm này chúng có thể kiểm soát tất cả những di chuyển cũng như hoạt động dưới thung lũng sông Pokor cũng như QL14 chạy dài tới thị xã Tân Cảnh, mục tiêu trọng yếu đầu tiên trước khi tiến chiếm Komtum. Trước đó mấy ngày căn cứ hỏa lực Yankee phía Bắc Charlie đã bị thất thủ.
    Vòng vây địch siết chặt, áp dụng chiến thuật tiền pháo hậu xung, sau những trận mưa pháo dữ dội, địch quân xung phong ào ạt vào căn cứ, sau bao lần đều bị đẩy lui bởi sức kháng cự mãnh liệt của những chiến sĩ Dù và sự yểm trợ của phi pháo. Sự kiên nhẫn của địch quân có giới hạn, chúng trở thành như điên cuồng lao đầu vào trước những mũi súng của quân ta, xác của những tên Cộng quân nằm la liệt ngoài những hàng rào phòng thủ, tan nát cháy đen vì đạn pháo binh cũng như bom napal của những chiếc máy bay khu trục.Tình trạng đạn dược lương thực nước uống cạn dần đến mức tối thiểu nếu không được tiếp tế trong ngày hôm nay, Tiểu Đoàn 11 của Tr/Tá Nguyễn Đình Bảo sẽ không còn phương tiện để chống trả sức tấn công liên tục của địch.
    Từ ngày Cộng Sản khởi động cuộc chiến tại miền Nam, chiến thuật trực thăng vận đã được đem ra áp dụng lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh thế giới. Trực thăng vận đã hoạt động rất hữu hiệu trong chiến trường du kích chiến. Nhưng chiến tranh càng ngày càng leo thang, địch quân được tăng cường và trang bị thêm nhiều vũ khí tối tân hạng nặng, đặc biệt nhất là vũ khí phòng không. Trực thăng với tốc độ chậm dễ bị phương hại và đã trở thành những mục tiêu dễ dàng cho những loại súng cỡ lớn từ 12 ly 7, 37 ly và đặt biệt là những hỏa tiễn cầm tay như SA-7. Sự tổn thất chiến trường của ngành trực thăng càng ngày càng lên cao. Mấy ngày hôm nay, những phi vụ tiếp tế đã gặp nhiều khó khăn trở ngại vì rừng phòng không và những trái đạn pháo kích chính xác địch đã điều chỉnh sẵn nhắm vào bãi đáp trực thăng, tôi cảm thấy bất lực trước hỏa lực cũng như khả năng của chiếc trực thăng võ trang này để bảo vệ hữu hiệu cho những người bạn đồng hành.
    Chiếc tàu tiếp tế số 1 của Tr/u Vân bắt đầu vào "final". Triền núi trơ trụi vì đạn pháo bao ngày qua từ màu xanh cỏ úa đã trở thành màu đất đỏ lồi lõm những hố đạn pháo. 3 điểm phòng thủ đồi Charlie đã xơ xác hoang tàn gần như thành bình địa. Trong cái im lặng của sự chờ đợi nghe ngóng của địch, tôi cảm tưởng như tất cả những trái đại pháo đang chờ con tàu mong manh này đi vào ổ phục kích. Tôi cho chiếc guns Hổ 1 bọc sau đuôi cánh trái, chiếc Hổ 2 bên cánh phải. Từ sau lưng trên cao nhìn xuống tôi theo dỏi chiếc trực thăng của Tr/u Vân chậm chạp hạ cao độ rồi từ từ đáp xuống trên vòng tròn nhỏ của bãi trực thăng, bụi đỏ bốc lên dưới sức gió của cánh quạt. Từ vị thế trên cao phía sau tôi nhìn xuyên qua cánh quạt trực thăng, những người lính trên tàu đạp vội vã những thùng đồ xuống bãi... Bỗng trên bãi đáp không xa 2-3 trái pháo nổ bung khói đen cùng bụi đỏ bốc lên đồng thời những tiếng súng nổ vang rền lên từ triền núi kế cận. Con tàu chậm chạp từ từ quay đầu lại chuẩn bị cất cánh, đồng thời trên tần số tôi nghe tiếng của Tr/u Vân đứt đoạn: 
    - Charlie..., Charl...lie, ground... fi..ire... ground..fi..ire... tàu...trúng đạn... 
    Từ những mỏm núi trọc mênh mông, những viên đạn pháo không biết nơi xuất phát, những viên đạn phòng không từ những hang hóc của những ngọn đồi kế cận bắn tới tấp hướng tàu của Tr/u Vân. Phản ứng tự nhiên, tôi cắm đầu con tàu phóng những trái rockets rải rác trên triền núi. Những trái hỏa tiễn nổ lốm đốm trên sườn núi, tung lên những đám bụi đỏ, yếu ớt vô hiệu quả trước kẻ thù đang ẩn nấp sâu trong hang hố đâu đó.
    Sau khi tác xạ xong tôi quay vòng lại nhìn tàu của Tr/u Vân vừa lên cao. Trên tần số tiếng la hốt hoảng của Th/tá Phát đang bay chiếc C@C: 
    - Lead, lead..tàu bạn đang bốc khói nghe không trả lời. Tôi nhìn theo chiếc lead đang lấy cao độ khỏi triền núi, làn khói đen bốc lên từ buồng máy. Phi hành đoàn vẫn im lặng. Không khí căng thẳng đến tột độ:
    - Lead, lead...tàu bạn bị cháy...đáp ngay...đáp ngay... dưới chân bạn có bãi đáp trống trên triền đồi dưới thấp. Giọng nói của Th/tá Phát đồn dập. Từ xa, cùng cao độ tôi thấy con tàu của Tr/u Vân lửa bắt đầu ngún lên thành ngọn bao trùm buồng máy. Lửa lan dần đến giữa thân tàu, hai người xạ thủ đang chồm về phía trước phòng lái... Tôi phụ họa: 
    - Đáp...đáp..tàu cháy.., tàu cháy... đáp dưới chân đồi... nghe không Vân. 
    Cố đem chiếc gunship đến gần cặp sát con tàu đang bốc lửa mỗi lúc mỗi cao, khoang tàu mịt mù khói đen thấp thoáng 2 anh mê vô xạ thủ chồm về phía cockpit để tránh sức nóng.
    - Đáp...đáp ngay...đáp xuống triền núi có Hổ cover đây, nghe rõ trả lời. 
    Nhưng con tàu không còn liên lạc được với thế giới bên ngoài, nó đang trở thành một khối lửa cuồn cuộn rơi như hòn đá cuội, chạm triền núi vỡ bùng lên.... Tất cả chỉ còn là một đống sắt cháy ngùn ngụt... Trong cơn hốt hoảng phi hành đoàn chỉ muốn bay xa khỏi tầm sát hại của địch mà không ước lượng được tình trạng thiệt hại của con tàu đến khi quá trễ. Tôi cho con tàu lượn thấp xuống nhìn trong tuyệt vọng. 2 chiếc guns bay vòng tròn trên chiếc tàu bị nạn và sau đó được lệnh rời vùng, tôi ngoái đầu nhìn đám cháy vẫn mịt mù một lần cuối rồi chuyển hướng bay, nước mắt lưng tròng.
    - Mãnh Hổ, đây Charlie. 4 chiếc guns của 2 phi đoàn bạn đã đến vùng, bạn dẫn 5 chiếc vào mục tiêu.
    Tôi ngước đầu nhìn, từ xa 4 chấm đen từng cặp một đang bay đến trên nền trời sẫm tối. Tôi hỏi:
    - Charlie, đây Hổ. Cho biết vị trí tác xạ chính xác. 
    - Hổ đây Charlie. Hiện tại địch đã tràn ngập khắp mọi nơi, 2 cao điểm thấp đã bị địch chiếm, chỉ còn đỉnh đồi Charlie đang còn giao tranh cận chiến. Bạn tự do oanh kích ngay trên căn cứ Charlie, nghe rõ trả lời... 
    Tiếng Th/tá Bính vừa dứt trên tần số, tôi bàng hoàng không tin những gì mình vừa nghe được:
    - Charlie đây Hổ, Th/tá muốn tôi đánh ngay vào đỉnh đồi?
    - Đúng 5.
    Tiếng nói rõ ràng và khẳng định của Charlie không còn làm tôi nghi ngờ gì nữa. Lần đầu tiên chứng kiến sự thất thủ của quân bạn ngay trước mắt. Căn cứ được đóng và bảo vệ bởi 1 lực lượng tinh hoa và kinh nghiệm nhất của QLVNCH, đã từng chiến thắng bao nhiêu mặt trận, đã làm cho địch nhiều phen kinh hoàng khiếp đảm, giờ đây đang bó tay trước những đợt tấn công thí mạng của đối phương. Với sự hiểu biết hạn chế của một hoa tiêu trực thăng võ trang, tôi thường tự hỏi về chiến thuật của bộ chỉ huy khi để một đơn vị tác chiến như Nhảy dù sở trường trong việc tấn công và chủ động trong chiến trường phải đóng trụ tại 1 cao điểm. Thụ động chờ đợi địch là sở đoản của binh chủng Nhảy Dù, họ được huấn luyện để tấn công, không phải để giữ đồn. Trong giờ phút này không thấy bóng dáng của một chiếc khu trục trên bầu trời, chắc không cần thiết nữa. Quân bạn có lẽ đã dùng hết tất cả mọi khả năng yểm trợ, 6 chiếc trực thăng võ trang bây giờ chỉ còn là những vớt vát cuối cùng cố gây cho sự tổn thất tối đa cho địch trước khi chúng hoàn thành mục đích của chúng.
    Lấy tần số của Charlie, tôi liên lạc được với 4 chiếc guns của phi đoàn bạn và tất cả 6 chiếc guns theo nhau đi vào vùng. Bầu trời đã tối lắm rồi, triền núi của ngọn Rocket Ridge mờ ẩn hiện sau nền trời đen xám.Từ trên cao độ tôi tiến gần vào mục tiêu, chỗ trũng thấp yên ngựa bãi đáp trực thăng cao điểm 960 là 1 trong 3 cao điểm quen thuộc của cụm đồi Charlie, nơi mà Tr/U Vân và phi hành đoàn đã bị bắn, và lên theo triền dốc và phía Bắc và trăm bộ là cao điểm thứ hai 1020 đã bị địch chiếm, chỉ còn lại cứ điểm cao nhất 1050 Charlie do Tr/Tá Nguyễn Đình Bảo chỉ huy là đang còn giao tranh. Bay đến gần đỉnh núi cao vô tri giác đó tôi như đã cảm nhận được những trái lựu đạn đang chuyền tay nhau nổ tung trên những giao thông hào bể nát, những viên đạn súng trường bắn thật gần, những người lính Dù đang vật lộn với kẻ thù đông đảo, cố chiến đấu đến hơi thở cuối cùng...
    Bâygiờ sự chính xác của những trái rockets của 6 chiếc gunships không còn cần thiết nữa, tại bãi chiến trường này mảnh đất nhỏ hẹp nào cũng là mục tiêu. Sau khi thông báo cho những chiếc guns đang theo sau, tôi cho con tàu cỡ ngàn bộ trên đỉnh cao điểm cắm đầu xuống mục tiêu, những trái hỏa tiễn cháy bùng nối đuôi lao xuống đỉnh núi, theo sau những vệt lửa dài chạm đất nổ tung tóe lửa, khẩu minigun quay vù tuông những viên đạn lửa nối đuôi nhau tạo một đường đỏ dài uốn éo trong ánh sáng mờ ảo. Theo sau, những chiếc guns tuần tự phóng những trái rockets xuống đỉnh núi, những đốm lửa tóe lên bởi những trái rockets trong bóng đêm chập choạng như đánh thức rừng phòng không của địch. Chung quanh đỉnh đồi bỗng lấp lánh chấp chóa ánh sáng rực rỡ như cây Noel trong đêm Giáng Sinh, một rừng tên lửa đỏ lao về hướng những chiếc trực thăng đang cắm đầu xạ kích. Tôi la lớn trong tần số:
    - Phòng không...phòng không...Break..Break...Break.... Nói xong tôi kéo ngược con tàu lên cao, những viên đạng lửa bay vút hướng lên bầu trời đen như những vì sao xẹt. Không cần thiết phải có sự chính xác nữa, tôi thông báo cho tất cả hợp đoàn guns xử dụng tất những đạn dược, rockets còn lại một lần cuối trước khi rời vùng. Từ khoảng cách khá an toàn xa tầm bắn của những khẩu phòng không, tôi kéo con tàu nhổng đầu lên phóng những trái rockets bắn vòng cầu như đạn pháo binh, những trái hỏa tiển biến mất vào khoảng không gian mù mịt rồi rơi rớt rải rác trên đỉnh đồi tóe lửa. Những mũi súng cao xạ của địch tức thì phản ứng, từ triền núi lấp lánh ánh lửa phòng không, những viên đạn đỏ như mưa rào bay ngược về hướng những con tàu ẩn hiện trong bóng tối.
    Tất cả đều vô nghĩa. Trận đánh đã ngã ngũ. Những con chim sắt đang cố gắng thi hành phi vụ cuối cùng trong vô vọng. Ngọn đồi mang tên Charlie không còn nữa, chỉ còn lại là dư âm của những trận đánh kinh hoàng trong ngày tháng qua. Những người lính dù đã anh dũng chiến đấu tới giây phút cuối cùng với vị chỉ huy anh hùng của họ, Tr/tá Nguyễn đình Bảo.
    - Hổ đây Charlie, các bạn có thể trở về căn cứ. Thông báo cho tất cả biết trong vòng 15 phút nữa sẽ có phi vụ B-52 đến trải thảm bom. Các bạn hãy mau rời vùng.
    Tiếng nói của Th/tá Phạm Bính lạnh lùng trên tần số.
    Tôi quay đầu con tàu quay rời vùng giao tranh, những đốm lửa lập lòe trên ngọn đồi Charlie đang chìm dần vào bóng tối. Tr/u Nguyễn Tường Vân, Th/u Trần Văn Long và phi hành đoàn cùng tất cả những chiến sĩ Dù đã ở lại Charlie, mãi mãi......
    Xa xa, thành phố Pleiku đã lên đèn, một vùng ánh sáng lấp lánh, nhạt nhòa ẩn hiện, không biết vì đêm đen hay vì dòng lệ đã trào dâng lên khóe mắt?
    Anh nằm xuống sau một lần đã đến đây
    Đã vui chơi trong cuộc đời nầy
    Đã bay cao trong vòm trời đầy
    Rồi nằm xuống, không bạn bè, không có ai
    Không có ai, từng ngày, không có ai đời đời
    Ru anh ngủ vùi, 
    Mùa mưa tới trong nghĩa trang này có loài chim thôi!
    Văng vẳng đâu đây âm thanh ì ầm rung chuyển bầu khí quyển của từ thảm bom của những chiếc pháo đài bay B-52 vang vọng...

    Vĩnh Hiếu
    Phi Đoàn 215 Thần Tượng

LƯƠNG Y NHƯ….TỪ MẪU 

(Phương Vũ Võ Tam Anh)





Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, nhân dân Miền Nam Việt Nam lâm vào một tâm trạng hoang mang tột độ, mịt mù trước tương lai, lo âu cho cuộc sống hằng ngày. Tại Bệnh viện Vĩnh Long, mặc dầu tôi đã không còn trách nhiệm gì nữa mà anh chị em nhân viên cứ bám lấy tôi để dò hỏi, làm như tôi có phép mầu nhiệm gì để giải tỏa được những thắc mắc đang quay cuồng trong trí óc mọi người.

Những người thay thế tôi cố sửa đổi bộ mặt của bệnh viện bằng cách cho sơn vẻ khắp nơi những khẩu hiệu cách mạng mới, mà đắc ý nhất là câu “Lương Y như Từ Mẫu”, không biết lượm được ở đâu, mà cứ nhan nhản khắp nơi, từ ngoài cổng, cầu thang, hành lang cho đến phòng thay áo, nhà tắm…như cố nhét vào đầu óc mọi người để tranh thủ cái độc quyền đạo đức nhân từ mà chỉ riêng người thầy thuốc cách mạng mới xứng đáng với hai chữ lương y.

Một hôm, tôi bước vào phòng trực y tá để thăm hỏi, thì thấy anh chị em đang quây quần tán gẫu, lẽ tất nhiên cũng không ngoài đề tài số một là gạo cơm lương bổng sẽ ra sao. Bên cạnh là bàn thờ tổ quốc, một thứ trang trí mới trong tất cả các phòng, bất luận là chuyên môn hay hành chánh, bên trên vẫn là cái câu nhân từ bất hủ đó. Một nữ hộ sinh chỉ vào khẩu hiệu, ngao ngán bảo với tôi: ” Ông Thầy biết không, chúng em bị một phen mừng hụt vì nó đấy “, rồi lấm lét nhìn ra của, nói tiếp: “Chiều nay khi mấy chú cán bộ vào kẻ khẩu hiệu, khi ngang tới chữ “Lương y như…” chúng em mừng quá reo lên vì cứ tưởng là lương y như tháng trước, không ngờ nó lại là như…từ mẫu!”.

Thế rồi vì không hiểu duyên nợ nghề nghiệp gắn liền hay đạo đức cách mạng chu đáo lo cho chúng tôi mà các bậc từ mẫu đó, tuy khoác áo lương y nhưng lại cư xử theo tư cách một… cai ngục, đã đeo đẳng mãi chúng tôi trên suốt đoạn đường dài “cải tạo”.

Sau những năm dài da diết trong rừng sâu Sơn La, trên biên giới Hoa Việt, cuối cùng, vì có chiến tranh với Trung quốc, chúng tôi được áp tải về một trại giam gần Hà Nội, một trại giam “kiểu mẫu”, một thứ “cây kiểng” để chế độ trình diễn chính sách khoan hồng nhân đạo với thế giới bên ngoài. Trong cái tủ kính bày hàng đó, lẽ tất nhiên săn sóc sức khỏe cho tù là “ưu tư hàng đầu” của Ban Giám thị và vị lương y phải được đóng vai kép chính.

Trại Nam Hà, cách Chùa Hương không xa, được thời cuộc nâng lên hàng danh lam thắng cảnh để cho quan khách ngoại quốc lui tới viếng thăm, từ Hội Ân Xá Quốc Tế, báo chí Tây phương, các nghiệp đoàn cộng sản Pháp cho tới cả “đồng chí” Chandra Chủ tịch Hội đồng Hòa bình Thế giới v.v… Từ trại nhìn ra, cảnh đẹp như tranh, xa xa những núi đá vôi nho nhỏ, đủ hình đủ dạng, nổi lên trên một mặt nước phẳng lì thơ mộng trông như Vịnh Hạ Long. Cái mặt nước phẳng lì hiền hòa đó, không ai ngờ là một thứ hàng rào thiên nhiên vô cùng độc hại, là những đầm sình lầy cát lở đã nuốt sống biết bao là tù nhân trốn trại.

Bệnh xá nằm dưới chân đồi, trước sân có hòn non bộ với Lã Vọng ngồi câu, bên dưới là bể cá vàng lừ đừ lội nhìn chúng tôi bằng cặp mắt thờ ơ chán ngán, trên mái hiên treo đầy lồng chim đủ màu đủ loại, suốt ngày hót líu lo như để mỉa mai tâm trạng héo hắt tơi bời của chúng tôi.

Tất cả cái thú xa xỉ trưởng giả đó đã được đánh đổi bằng xương thịt của chúng tôi qua sự cắt xén tiền thực phẩm vốn đã vô cùng đói rách. Cá thia vàng, chim hoàng yến, chim họa mi tung tăng bay nhảy, đã được mấy ngàn cặp mắt tù sâu hoắc và phờ phạt vì thiếu ăn, thèm thuồng nhìn qua giá trị của mấy chục gờ ram prôtêin mà vô cùng tiếc rẻ, vì nó đang nằm trong tầm tay mà lại ngoài tầm… bao tử. Cây kiểng trước sân được chăm sóc tỉ mỉ mà mỗi lần gọt tỉa là một dịp cho chúng tôi lượm lá rụng nấu thành một bữa rau để dành giựt nhau, tuy vừa dai vừa đắng nhưng màu đỏ của nước lá dền cũng cho chúng tôi ảo tưởng bổ dưỡng của chất sinh tố B12. Cái quang cảnh thần tiên của bệnh xá đó đã được lên hình trên báo Liên Xô và được tô điểm đến độ mỗi lần thuyết trình cho phái đoàn ngoại quốc, viên giám đốc trại cũng không bao giờ quên luyện giọng một cách thành thực: “Tôi chỉ mơ ước được sống như những trại viên (ý nói từ chúng tôi)”. Tiếc thay!!!

Đến đây tôi mới hiểu tại sao anh em tù Nam Hà gọi cán bộ bằng “Chèo” (phường chèo), trắng trợn đến độ ban giám thị phải gọi lên chỉnh: “Cán bộ thì có nam có nữ, cớ sao các anh lại gọi bằng “chèo đực, chèo cái”, nghe chẳng “văn hóa” tý nào”.

Trại có một mật độ chuyên viên y khoa cao nhất thế giới, trong số hai ngàn người (tù) thì có đến hai mươi bác sĩ (cũng tù). Tất cả đều phải lao động khổ sai như nhau, đập đá, đốn củi, ngâm mình dưới nước để kéo cày thay trâu…, trong khi trên bờ đê, cán bộ cầm cái roi dài quất qua quất lại khiến cho tù ở dưới ruộng không hiểu là mình đang còn ở kiếp người hay đã đầu thay qua kiếp khác làm trâu bò.

Phần điều trị được nhường lại cho những người ngoài ngành y tế được lựa chọn theo tiêu chuẩn hạnh kiểm và mức độ hợp tác. Tuy nhiên, bất đắc dĩ bệnh xá phải giữ lại một vài bác sĩ tù để vừa giúp đỡ trong việc chuyên môn, để đọc các tên thuốc bằng ngoại ngữ, vừa để làm kiểng cho phái đoàn ngoại quốc xem, vừa để dạy cho các bác sĩ (không phải y khoa) cách mạng ống nghe, cách bắt mạch v.v…

Người được chọn ở lại bệnh xá là một đồng nghiệp đàn anh, từng tốt nghiệp đại học Paris khi tôi chưa vào trường y khoa, từng giữ nhiều chức vụ điều khiển trong ngành y tế miền Nam, nay đã lớn tuổi được anh em rất nể nang nên tôn làm “đại ca”. Đại ca còn có thêm biệt hiệu nữa là “Vua cháo heo” vì thỉnh thoảng được anh em nuôi heo cho cán bộ, thương tình làm ngơ để cho múc một lon cháo heo (dĩ nhiên là béo bổ hơn cơm tù ) rồi vụt chạy cho cán bộ khỏi thấy. Thế là tối hôm đó được một đêm huy hoàng. Sau khi chiếc khóa sắt nặng nề rột rạt khóa kín cửa chuồng lại, chúng tôi bao quanh đại ca, bên cạnh lon cháo heo bốc khói thơm phức, vừa xem đại ca lim dim đôi mắt thưởng thức từng hạt bo bo cháy khét mà tưởng chừng như ăn trứng caviar, vừa để đại ca kể lại cho đàn em nghe những ngày vàng son còn du học trên đất Pháp, những đêm liên hoan trên đường phố Montmartre Paris…

Chỉ huy bệnh xá là một bác sĩ ngành công an, luôn luôn nhìn chúng tôi bằng cặp mắt nghi ngờ đầy mặc cảm, có lẽ đã đọc được trong phiếu lý lịch của chúng tôi một tội danh lạ đời: “Can tội: bác sĩ”. Một hôm tịch thu được hộp dụng cụ tiểu phẫu trong đó có cây kềm Michel giống cái kéo, dùng để gỡ các móc da, bác sĩ loay hoay mãi không biết làm sao, cuối cùng chê: “Kéo với kiết, thế này thì làm sao cắt được, dốt thế!”. Mắt bác sĩ đã quen nhìn những lọ Pénicilline Trung quốc làm bằng một thứ chai đục ngầu, bọt lỗ đỗ, nút lọ được khằn kín bằng sáp như thuốc “cao đơn hoàn tán”, nên khi gặp một lọ Pénicilline bào chế ở miền Nam, rất kinh ngạc vì kỹ thuật sai biệt, và khi thấy trên lọ mấy chữ: “Laboratoires Ténamyd Thủ Đức”, bèn mừng rỡ khoe với chúng tôi: “Thuốc của Đức đấy, xã hội chủ nghĩa anh em ta đấy”.

Dưới trướng của vị luơng y này là một ban chuyên môn (không phải y khoa) gồm đủ thành phần. Một anh có hoa tay đục đẽo, chạm trỗ, biến các lon sữa Guigoz thành những hộp thuốc lá, cái lược, cái vòng, tinh vi như những nữ trang thứ thiệt để lương y đem về tặng thân nhân hoặc… đổi chác. Một anh ngành quân cụ lo bảo trì chiếc xe đạp “hữu nghị” mà người cỡi cũng hãnh diện như lái chiếc xe Mercedes vậy. Một họa sĩ có biệt tài biến hóa những gương mặt trong gia đình lương y từ một tấm ảnh nhăn nheo vàng khè thành những chân dung sạch sẽ khôi ngô, và lương y cũng không dấu được sự hài lòng khi thấy khoác lên ông cụ thân sinh chiếc khăn nhiễu, cái áo gấm, trông rất “quan “, còn phu nhân và ái nữ cũng được mặc chiếc áo dài mà ngoài đời họ chưa bao giờ sờ tới. Riêng bản thân lương y, khi đề nghị mặc bộ âu phục cho oai thì lưỡng lự hồi lâu rồi buồn rầu trả lời: “Chớ! không nên, nhỡ trên biết được thì khốn”, nên đành chấp nhận bộ đồng phục công an vậy.

Về phần điều trị, có lẽ Đảng đã sáng suốt thấy rõ sự lúng túng của lương y, nên chỉ thị cho quốc doanh cung cấp dược phẩm dưới hình thức “viên” hết sức đơn giản, hễ đau ở bộ phận nào thì đã có những viên tương ứng: viên gan, viên dạ dày, viên phổi, viên tim, viên xương, viên khớp v.v… Ban đêm nếu có tiếng kêu cứu từ các phòng vọng ra, thê thảm xé nát sự im lặng nặng nề của trại tù về đêm, rồi cứ lặp đi lặp lại mãi như dội qua vách núi, cho đến khi lương y khệnh khạng đến, cho ống nghe qua một khe nhỏ để khám bệnh nhân ở trong phòng rồi hoặc phát cho vài “viên”, hoặc bắt bệnh nhân dán mông đít vào song cửa sắt chích cho một mũi thuốc để chờ tới sáng. Cũng trong hoàn cảnh đó, một Thượng Nghị Sĩ nổi tiếng ở Sài gòn, bị trúng độc vì ăn sắn sống, trộm được lúc ban chiều khi đi lao động, đã phải chờ mãi cho tới sáng hôm sau, khi được đưa ra khỏi phòng thì đã quá trễ.

Một buổi chiều nọ, khi đi lao động về, anh em ngạc nhiên chứng kiến một hiện tượng lạ thường: trại được sơn phết lại trắng xóa, trên vách tường lại vẽ thêm những bông hoa màu mè sặc sỡ, có lẽ vì cây cảnh thật đã bị tù bứt lá bẻ hoa không đủ đem lại vẻ vui tươi cho nhà tù. Giữa sân lại có cảnh nhóm chợ trời, cán bộ bày bán thịt tươi, rau sống cho anh em tù nào còn dấu đút được chút tiền còm tung ra mua ăn bồi dưỡng. Những người giàu tưởng tượng cho truyền ngay một câu sấm, không biết có phải của Trạng Trình không:

“Bao giờ tường đá nở hoa,
Nhà tù nhóm chợ thì ta…ra về”

Về đâu chẳng thấy nhưng truớc mắt là phải ráo riết chuẩn bị doanh trại để đón tiếp một phái đoàn ngoại quốc quan trọng, một công tác làm đảo lộn hẳn nếp sống hằng ngày, để được đền bù bằng một chút an ủi mơ hồ là còn được người đời biết tới.

Ngay tối hôm đó, một số nhạc cụ kể cả cây dương cầm nặng nề được hì hục chở về từ Hà Nội để cho ban nhạc tha hồ tập dượt mãi tới khuya . Tiếng nhạc vang lên từ một góc núi làm khuây khỏa trong chốc lát những u uẩn của tù nhân. Thỉnh thoảng một vài bản “nhạc vàng” được chơi lén, tiếng réo rắc của “Diễm Xưa”, “Nắng chiều” gợi lên một nỗi nhớ nhà vô biên, mà lỡ cán bộ có hỏi tới thì anh em đã sẵn câu trả lời: “Nhạc Cuba đấy”, thế là yên.

Căn phòng chật chội hôi hám trong đó hằng mấy trăm mạng người chen lấn giành giựt từng ly, từng phân trên cái tiêu chuẩn hai bàn tay cho mỗi người, nay được thu dọn thành ba mươi chỗ nằm rộng rãi tươm tất, với chiếu hoa mới toanh, chăn len thơm phức, sắp xếp thẳng tắp như trong một quân trường.

Từ mờ sáng, ngoài thành phần ở lại để trình diễn, còn tất cả phải lũ lượt kéo nhau thành từng đàn qua các đường mòn khúc khuỷu để vào trốn sâu trong núi. Các anh em bệnh nặng thì được cõng, gánh hoặc khấp khểnh lết đi thật xa để khuất khỏi tầm mắt trong sáng của người ngoại quốc cái hình ảnh vẩn đục thê thảm đó.

Bệnh xá này nhường lại cho những con bệnh mới, không có bệnh nhưng có một thể xác chưa tàn tạ nhờ có thăm nuôi, lúng túng học thuộc lòng những căn bệnh thời đại do “tàn dư Mỹ Ngụy để lại”: sơ gan vì rượu chè, lên máu vì nhậu nhẹt, nghẽn mạch máu vì xì ke, ma túy… Gọn gàng sạch sẽ trong những bộ đồ ngủ mới toanh, trên mỗi đầu giường có chưng thêm một hộp sữa cũng “kiểng” như bệnh nhân, nghĩa là sẽ được thu hồi ngay sau khi phái đoàn ra về.

Ban thể thao, bóng chuyền, bóng bàn, trong đồng phục gọn ghẽ vui mắt, ra sức “tranh thủ” để được bồi dưỡng thêm mấy củ khoai. Từ sáng sớm ban nhạc đã inh ỏi trổi lên những bản nhạc hùng khối cộng sản, gây không khí vui nhộn làm cho quan khách có cảm giác là đi chơi chợ phiên hơn là đi thăm nhà tù.

Không hiểu là một phần thưởng hay là một cực hình tủi nhục cho những ai được chọn để ngồi ăn một bữa cơm “xoàng” mà trong suốt cuộc hành trình cải tạo họ chưa bao giờ được nếm. Thực đơn, được dán ở cửa, gồm có cơm trắng (một hiếm hoi trên đất Bắc) và thịt lợn, rau muống (một điều lạ trong nhà tù). Bữa cỗ được diễn tiến theo một lịch trình khắt khe: ngồi vào bàn khi phái đoàn rời Hà Nội (8 giờ sáng), cầm đũa khi họ đến cổng trại (10 giờ sáng) để cho bao tử cồn cào tiết chất chua, nước mắt nước mũi chảy dài vì ngỡ ngàng trước mấy món ăn thơm phức béo bổ, cứ thế mà chịu đựng cái cực hình sinh lý đó suốt mấy tiếng đồng hồ, hai tay thì cứ tuyệt vọng vùng vẫy trong một thứ còng vô hình cho đến khi bóng dáng của phái đoàn cứu tinh xuất hiện ở ngưỡng cửa mới được lệnh cho thức ăn vào miệng (1 hoặc 2 giờ trưa).

Phần trình diễn của bệnh xá được mở màn khi phái đoàn đặt chân vào trại. Bác sĩ trưởng, trong bộ áo bờ lu lụng thụng, chiếc nón vải che khuất chân mày, trịnh trọng đặt ống nghe vào bệnh nhân ngồi trước mặt, rồi cứ giữ tư thế đó như một pho tượng sáp cho tới khi phái đoàn đi qua. Lẽ cố nhiên “đại ca” của chúng tôi cũng có mặt tại bệnh xá với một chỉ thị nghiêm khắc: không được nói tiếng ngoại ngữ và cố tránh mặt phái đoàn chừng nào hay chừng đó. Một nhà báo Pháp hỏi đại ca: “Anh biết tiếng Pháp không?”. Vì đã được dặn trước, đại ca phải chờ cho thông dịch viên Bộ Nội vụ dịch xong để chứng tỏ rằng mình không hiểu được câu hỏi, rồi mới trả lời “Không”. Nhà báo hỏi tiếp: “Anh tốt nghiệp ở đâu?”. Câu hỏi bất ngờ này không được ban giám thị cho học tập trước, nhưng cũng vẫn chờ được dịch xong như thường lệ, đại ca mới trả lời: “Y khoa Đại học Paris”. Nhà báo bàng hoàng, ngạc nhiên như khám phá được một điều gì bí ẩn, một cái gì bất thường, tò mò hỏi tiếp thì được biết vợ anh là người Pháp, hiện sinh sống ở Paris, nên mừng rỡ chụp cho một tấm hình rồi ân cần thêm: “Tuần sau vợ con anh sẽ nhận được”, lòng hân hoan phấn khởi vì vừa làm được một nghĩa cử trọng đại.

Chưa kịp mừng thì tai họa đến ngay. Sau khi phái đoàn ra về, thì ông bạn già của chúng ta, nạn nhân của lòng vị tha nhân đạo kiểu Tây phương, bị bác sĩ trưởng bệnh xá và ban giám thị gọi lên mắng nhiếc thậm tệ, bắt kiểm điểm lên kiểm điểm xuống, để rồi, bắt đầu từ hôm sau, hằng ngày phải ra lao động, đập đá, kéo cày, ngâm mình dưới ruộng như hàng ngàn, hàng vạn anh em tù khác. Ngày tôi về, đại ca còn ở lại, tiễn đưa tôi bằng cặp mắt đã hết nước mắt và hẹn tôi ở… kiếp sau!

Dư âm nặng nề của cuộc viếng thăm và vì tấn tuồng đóng vụn, làm cho cơn lôi đình của lương y đã trút hết lên đầu chúng tôi, nay không còn khoác áo Từ Mẫu nữa mà lại đội lốt… Ác Mẫu.

Phương Vũ Võ Tam Anh



--
====================================================================
Trên Facebook :
http://www.facebook.com/DaiHocKhoaHocSaiGon
====================================================================
 
Bạn đã nhận được bài viết này vì bạn đã đăng ký vào Nhóm "KhoaHocSG" của Google Groups.
* Để đăng bài lên nhóm này, hãy gửi email đến "khoa...@googlegroups.com"
* Để RÚT TÊN ra khỏi nhóm này, gửi email đến "khoahocSG+...@googlegroups.com"
* Để có thêm tuỳ chọn (preference set up), hãy truy cập vào nhóm này tại: http://groups.google.com/group/khoahocSG?hl=vi
---
Bạn nhận được thư này vì bạn đã đăng ký vào nhóm Google Groups "KhoaHocSG".
Để hủy đăng ký khỏi nhóm này và ngừng nhận email từ nhóm, hãy gửi email đến khoahocsg+...@googlegroups.com.
Để xem cuộc thảo luận này, hãy truy cập vào https://groups.google.com/d/msgid/khoahocsg/MN2PR02MB65921612816282D97390FB43FC6CA%40MN2PR02MB6592.namprd02.prod.outlook.com.
Reply all
Reply to author
Forward
0 new messages