



Gửi tiền về VN
--Sáng đọc bài của một chị ở bên Mỹ gửi tiền về VN cho bà con. Gửi xong không thấy cám ơn cũng không thấy báo là đã nhận được. Sốt ruột sợ thất lạc gọi hỏi thì câu đầu tiên là “mày gửi ít vậy”!!!Người VN mình (không phải nói hết tất cả người ở VN ), thường có cái suy nghĩ Việt kiều là phải cho, phải bao, phải tài trợ, phải là cái kho. Ngộ thiệt! qua Mỹ cũng làm cũng phải ăn. Thậm chí làm như Trâu chứ phải làm cà lơ phất phơ như ở VN đâu. Mình ở VN thì nhà cửa, cơ ngơi, nghề nghiệp, vốn liếng có sẵn. Xấu trời làm ăn lụn bại, thất bát cũng còn bấu víu vào cha mẹ, anh em cho qua cơn bĩ cực. Việt kiều qua nước ngoài 2 bàn tay trắng, đủ thứ rào cản (ngôn ngữ, thời tiết, thức ăn, giấy tờ, phương tiện đi làm), coi như làm lại từ đầu. Qua Âu, qua Mỹ hay qua gì thì cũng phải xòe 10 đầu ngón tay ra mà cào cấu mới có cái mà ăn. Bộ tưởng qua đó tiền nó mọc trên cây như lá, sáng ra trèo lên hái, tối mang ra dịch vụ gửi về VN hay sao mà hễ cứ Việt kiều là phải cho?Ở VN làm biếng, cứ nằm dài ra đó thì cha mẹ, anh em cũng nuôi báo cô, tháng còn dí cho mấy triệu đổ xăng, cà phê, thuốc lá. Ăn nhậu thì bạn bè nó còn bao. Qua Mỹ cắm mặt làm không thấy mặt trời đâu. Làm cả tuần nghỉ chủ nhật thì lo nấu ăn cho tuần kế tiếp. Sáng ôm cà mên quẳng lên xe lái như điên tới hãng. Tới giờ là có mặt chứ bộ la cà quán xá tới 9-10h như mấy cha mấy mẹ bên đây được hả? Làm nail, làm nông, làm cái con mẹ gì thì cũng phải mua các loại bảo hiểm chứ không có tào lao như ở VN thích thì mua không thích thì thôi. Ở nhà thuê thì nó bức bối. Ở nhà riêng thì đóng thuế. Cái cây nó mọc cao quá muốn cắt cũng tốn tiền. Vườn tược để um tùm không cắt nó phạt. Đến con chó chết cũng phải tốn tiền chôn. Kể sơ sơ ra để cho thấy cuộc sống Việt kiều cũng trăm thứ phải chi tiền chứ qua đó đi hái tiền như hái lá đâu mà ngồi chờ sung rụng.Sau 75 cuộc sống dân VN cơ cực quá. Nhiều người bỏ ra đi cũng vì nghèo vì khổ. Có người qua Mỹ còn mỗi bộ đồ mặc trên người. Mùa đông đến mà đôi giày cũng không có mà mang. Vậy nhưng vì thương người thân ở quê nhà nên vẫn nhịn ăn nhịn mặc ki cóp gửi về. Cầm đồng tiền đô thơm phức chắc nghĩ bên đó kiếm tiền dễ như ra sân cầm cây chổi quét lá rụng. Quơ vài nhát chổi là đầy tay. Có biết đâu ai chân ướt chân ráo đến Âu, Mỹ cũng cày 2-3 jobs. Sơn tường, dọn phòng, cào tuyết, bưng bê chạy bàn đến mửa mật ra nhưng cũng không dám quay về cố hương than thở một câu. Chỉ biết cắn răng cày với mục đích duy nhất là có tiền gửi về VN.Thôi, cái thời đói khát nó qua rồi. 4-5 chục năm về trước đúng là muốn làm cũng không có việc mà làm. Bây giờ qua cái cơn đó rồi thì lết cái thân đi mà làm chứ. Cũng có tay có chân thì tự nuôi thân được. VK có gửi về thì coi như hương như hoa. VK về nước thì chào đón người ta như một người con đi xa quay về quê hương làm một chuyến du lịch. Đừng có tạo áp lực khiến họ phải căng thẳng phải mua cái gì, phải mang cái gì, phải cho bao nhiêu, phải cho những ai. Để rồi sau này mỗi lần về VN là một ấn tượng kinh hoàng. Sâu xa hơn nữa là người ta khinh cho.Người thân hay bạn bè sắp về họ hỏi cần gì thì cứ mạnh dạn nói không cần. Họ hỏi quá thì giả vờ chọn đại một thứ vừa rẻ, vừa nhẹ cho họ khỏi áy náy về quê mà đi tay không. Gặp VK cho nhiêu cũng vui cái mặt lên. Làm ơn cất ngay cái bộ mặt khinh tiền ít vô kho giùm cái. VK không cho tiền mà cho cục xà bông, cho chai dầu gió, cho cây lăn nách, cây kem đánh răng, lốc bàn chải cũng cám ơn và vui vẻ cất vô giỏ. Về nhà bóc ra xài rồi nhắn cho người ta cái review có tâm vào. Đó mới là người lịch sự và hiểu biết. Đi ăn cũng đừng có tư tưởng VK trả hết mới phải. Phải cái qq! Bạn mời cả nhóm, cả lớp thì cả lớp góp vô đãi bạn. Đừng để bạn đãi cả lớp qua đây nó cày trả nợ chết mẹ. Gặp VK nói chuyện tích cực. Kể những thành tựu đã đạt được. Đừng than thở cái bếp nhà em nó dột, con em nó chưa có ipad, vợ em nó chưa mua iphone 18, con bồ em nó chưa có chung cư. Họ nghe họ lại nghĩ mình bắt họ phải làm thay mình. Mệt lắm! Thân ai nấy lo, đồ ai nấy sắm, mắm ai nấy húp. Báo quá kiếp sau không ai dám làm VK, chuyển sang làm Vietkong hết. Vì chỉ có Vietkong mới hái ra tiền chứ Việt kiều cũng nai lưng ra mà làm mới có cái bỏ bụng.Trong nước thì cái cảnh miền Nam phải cho miền Bắc. Ai ở Nam về Bắc thì cũng y như Việt kiều về nước. Nhiều người vô miền Nam mưu sinh, tết đến về Bắc về Trung là một trời áp lực quà cáp, biếu xén. Thôi, bớt bớt đi. Tự trọng, tự giác, tự lập và tự thân vận động lên. Chỉ có cha mẹ già hoặc ốm đau chờ tiền của con cái là phải lẽ thôi. Còn những chuyện khác nó vô lý lắm. Bỏ đi cho đời sống nó văn minh mà con người mình nó cũng thêm văn hóa.Thể nào mấy tiếng sau gạch đá cũng đầy nhà nè ha. Kệ mẹ! Làm bia riết quen.Nguồn: Cô giáo MiNữ Phi Công Mỹ bị bắn rơi trên không phận Kuwet
Cô ấy bước ra từ xác máy bay, từ vùng đất xa lạ, không phải để nhận vinh quang, mà để tiếp tục sứ mệnh. Nụ cười của cô là lời nhắc nhở đau đáu rằng cuộc đời đáng sống không phải vì danh vọng phù phiếm, mà vì những khoảnh khắc ta dám đối diện với nỗi sợ, dám đứng lên sau cú ngã, và dám mỉm cười với chính số phận. Cô không chỉ là một nữ phi công cô là hy vọng, là nguồn cảm hứng cho tất cả những ai đang mệt mỏi vì tìm kiếm ý nghĩa trong thế giới hỗn loạn này.Từ chiếc máy bay đang bốc cháy bước ra,có ngay nụ cười hồn nhiên như vầy là chỉ có Thiên Thầnbay . Không biết làm sao mà gửi được tấm hình nầy cho Trung Tướng LƯU Á CHÂU (Liu Yazhou)đang ở trong tù chờ án tử hình,vì ca ngợinước Mỹ . Chỉ có nước Mỹ mới đúng vai trò lãnh đạo Thế giới .Hy vọng không bị tử hình,vì áp lực từcựu Thủ Tướng Ôn Gia Bão ! Thực tế chưa biết ra sao ! Nam Giang
Sau khi chiếc máy bay Mỹ
F-15E Strike Eagle của cô bị bắn nhầm trong một vụ bắn nhầm đồng minh, một nữ phi công của Không quân Mỹ đã nhảy dù an toàn và hạ cánh xuống Kuwait. Không chắc chắn điều gì đang chờ đợi mình trên mặt đất, cô đã hạ cánh xuống một vùng đất xa lạ.
Điều xảy ra tiếp theo là điều mà cả thế giới nên ghi nhớ.
Video do những người chứng kiến quay lại cho thấy người dân địa phương Kuwait chạy về phía cô – không phải với sự tức giận, không phải với thái độ thù địch mà với sự quan tâm. Một người đàn ông liên tục hỏi cô có ổn không, có cần giúp đỡ không. Giọng nói của anh ấy mang tính khẩn cấp, nhưng cũng đầy lòng trắc ẩn. Sau đó, trong một khoảnh khắc gây tiếng vang trên mạng xã hội, anh ấy đã cảm ơn cô vì đã giúp đỡ họ.
Giữa xung đột, chính trị và căng thẳng quốc tế, những người bình thường đã chọn lòng tốt.
Trong thời điểm mà các câu chuyện thường vẽ nên toàn bộ tôn giáo hoặc văn hóa bằng một nét vẽ thô thiển, khoảnh khắc này là một lời nhắc nhở mạnh mẽ: lòng tốt không bị giới hạn bởi quốc tịch, chủng tộc hay tín ngưỡng. Lòng trắc ẩn không cần hộ chiếu.
Kuwait là một quốc gia đa số theo đạo Hồi. Những người đàn ông chạy đến giúp đỡ nữ phi công người Mỹ đó đều là người Hồi giáo. Và trong khoảnh khắc ấy, điều định nghĩa họ không phải là tôn giáo hay địa chính trị mà là lòng nhân đạo.
Họ nhìn thấy một người cần giúp đỡ và đã đáp lại.
Lịch sử đầy rẫy những tiêu đề về sự chia rẽ, chủ nghĩa cực đoan và bạo lực. Nhưng phổ biến hơn nhiều và ít được đưa tin hơn là những hành động tử tế thường nhật. Hàng xóm giúp đỡ hàng xóm. Người lạ bảo vệ người lạ. Con người nhận ra sự yếu đuối chung.
Hình ảnh người phi công đáp xuống từ bầu trời và được đón tiếp không phải bằng sự thù địch mà bằng sự trấn an kể một câu chuyện sâu sắc hơn: rằng bên dưới tiếng ồn ào của xung đột, hầu hết mọi người chỉ đơn giản muốn hòa bình, an toàn và phẩm giá cho tất cả.
Lòng tốt là phổ quát. Nó vượt qua biên giới. Nó nói được mọi ngôn ngữ.
Và đôi khi, ở những nơi không ngờ tới nhất, nó lại tỏa sáng rực rỡ nhất.
Khi chiếc F-15 lao xuống trong tiếng gầm rú dữ dội trên bầu trời Kuwait, trái tim cô có lẽ đã đập thình thịch như muốn vỡ òa. Nhưng cô không hoảng loạn, không gục ngã. Với sự bình tĩnh được rèn luyện qua hàng ngàn giờ bay và những bài huấn luyện khắc nghiệt, cô kéo cần phóng ghế nhảy dù, để lại phía sau cỗ máy thép khổng lồ đang bốc cháy. Khi đôi chân chạm đất cát nóng bỏng, cô đứng dậy, bụi bay mù mịt quanh người, và rồi cô mỉm cười. Nụ cười ấy không phải là sự ngây ngô hay vô tư, mà là lời khẳng định thầm lặng: “Tôi vẫn còn sống, tôi vẫn ở đây, và tôi vẫn sẵn sàng.” Trong khoảnh khắc ấy, cô không chỉ cứu lấy mạng sống của chính mình, mà còn truyền đi một thông điệp mạnh mẽ về sức mạnh nội tại của con người.
Chỉ một bức ảnh duy nhất cô đứng đó, bộ đồ phi công dính đầy bụi cát sa mạc, chiếc dù nằm cuộn bên cạnh, và nụ cười nhẹ nhàng trên môi đã lan tỏa như ngọn lửa ấm áp giữa dòng chảy lạnh lẽo của mạng xã hội. Hàng triệu người dừng lại, chia sẻ, bình luận với cùng một nỗi xúc động: “Giới trẻ chúng ta cần những tấm gương như chị ấy, chứ không phải những hình ảnh hào nhoáng từ màn hình truyền hình thực tế.” Không khoe khoang, không ánh đèn sân khấu, chỉ có lòng dũng cảm chân thực dưới áp lực sinh tử. Cô trở thành biểu tượng cho hàng ngàn cô gái trẻ đang lớn lên trong thế giới đầy ảo ảnh, nhắc nhở rằng vẻ đẹp thực sự nằm ở sự kiên cường, ở khả năng đứng vững khi mọi thứ sụp đổ.
Trong một thời đại mà mọi người đua nhau khoe lượt theo dõi, thích, và lượng chia sẽ, cô ấy xuất hiện như một luồng gió khác biệt, mạnh mẽ và chân thành. Kỷ luật thép được tôi luyện qua những đêm thức trắng, những buổi tập luyện đến kiệt sức, những hy sinh thầm lặng vì sứ mệnh bảo vệ. Sự tự tin của cô không phải thứ được dựng lên cho ống kính, mà được rèn từ lửa và thép, từ những lần đối mặt với cái chết và chọn sống tiếp. Nụ cười ấy là minh chứng sống động: sức mạnh thật sự không cần phô trương, nó lặng lẽ tỏa ra từ bên trong, khiến người ta phải cúi đầu kính phục và tự hỏi lòng mình: “Mình đã sống hết mình chưa?”
Những tấm gương đích thực hiếm khi bước trên thảm đỏ lộng lẫy. Họ thường xuất hiện giữa đống đổ
nát, giữa khói bụi và nguy hiểm, với cái đầu ngẩng cao và ánh mắt không hề nao núng. Cô ấy bước ra
từ xác máy bay, từ vùng đất xa lạ, không phải để nhận vinh quang, mà để tiếp tục sứ mệnh. Nụ cười
của cô là lời nhắc nhở đau đáu rằng cuộc đời đáng sống không phải vì danh vọng phù phiếm, mà vì
những khoảnh khắc ta dám đối diện với nỗi sợ, dám đứng lên sau cú ngã, và dám mỉm cười với chính
số phận. Cô không chỉ là một nữ phi công cô là hy vọng, là nguồn cảm hứng cho tất cả những ai đang
mệt mỏi vì tìm kiếm ý nghĩa trong thế giới hỗn loạn này.
ĐOẠN TUỔI NGUY HIỂM NHẤTKhi về già mọi người muốn có một cuộc sống khỏe mạnh. Họ nhận ra rằng ′′Sức khỏe là của cải". Nhưng để có được trường thọ, trong 10 năm từ 70 đến 79 tuổi rất quan trọng!Học giả Israel đã phát hiện ra điều đó70 -79 tuổi là giai đoạn nguy hiểm. Trong giai đoạn này, nhiều cơ quan khác nhau của cơ thể giảm nhanh chóng. Đây là một thời kỳ thường xuyên mắc các bệnh lão khoa khác nhau, và thông thường dễ bị tăng huyết áp, xơ vữa động mạch, tăng huyết áp và tiểu đường.Sau khi bước vào độ tuổi 80, những căn bệnh trên sẽ giảm đi, sức khỏe tinh thần và thể chất có thể trở lại ở như độ 60 - 69 tuổi.Có nghĩa là, tuổi từ 70 đến 79 tuổi được gọi là′′nhóm tuổi nguy hiểm". Việc chăm sóc sức khỏe 10 năm từ 70 đến 79 tuổi là rất quan trọng.Dưới đây là một số bước đơn giản được gọi là ′′Làm mười điều mỗi ngày′′ Điều này sẽ giúp bạn vượt qua giai đoạn ′′nhóm tuổi nguy hiểm′′ của cuộc đời mình.1. NướcNước là ′′thức uống tốt nhất và rẻ nhất cho sức khỏe". 3 thời điểm quan trọng với mỗi lần 1 ly nước:Cốc đầu tiên: Sau khi ra khỏi giường. Bạn có thể uống một ly nước trong một cái bụng rỗng. Ngay cả khi chúng ta không cảm thấy khát nước sau khi thức dậy, máu ở trạng thái bị đặc do thiếu nước. Do đó, sau khi ra khỏi giường, bạn phải từ từ bổ sung nước càng sớm càng tốt.Cốc thứ hai: Sau khi tập thể dục. Một bài tập thể dục phù hợp là một trong những nền tảng của trường thọ. Tuy nhiên, sau khi tập thể dục, đặc biệt chú ý cần phải bổ sung và thay thế nước. Điều này đực biệt khuyến khích đối với người già.Cốc thứ ba: Trước khi đi ngủ. Một cốc nước trước khi đi ngủ có thể làm giảm độ nhớt của máu một cách hiệu quả và làm chậm quá trình lão hóa. Giúp chống lại đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim và các bệnh khác.2. CháoTrung Quốc Daily Online đã công bố một nghiên cứu 14 năm do Đại học Harvard thực hiện trên 100,000 người. Thấy rằng mỗi ngày một bát cháo ngũ cốc nguyên hạt khoảng 28 gram giảm 5% đến 9% tử vong và giảm cơ hội mắc bệnh tim mạch. Các loại ngũ cốc nguyên hạt như gạo lứt, ngô và tam giác mạch dường như đã tránh được tất cả các bệnh, đặc biệt là bệnh tim.3. Một cốc sữaSữa được gọi là ′′huyết trắng ′′ và có trong cơ thể con người. Giá trị dinh dưỡng của nó được biết đến với rất nhiều canxi, chất béo và protein. Sữa và các sản phẩm từ sữa được khuyến nghị dùng hàng ngày là 300 gam. Khuyên nghị uống một hoặc hai bình sữa 200 ml hoặc gói sữa mỗi ngày.4. Một quả trứngTrứng có thể nói là loại thực phẩm thông dụng nhất của con người. Tỷ lệ hấp thụ protein trứng của cơ thể có thể cao hơn 98 %.5. Một quả táoNghiên cứu hiện đại tin rằng táo có tác dụng hạ mỡ máu, giảm cân, ngăn ngừa ung thư, ngăn ngừa lão hóa, tăng cường trí nhớ, và làm cho da mịn màng và mềm mại. Lợi ích sức khỏe của táo màu khác nhau:Táo đỏ có tác dụng hạ lipid máu và làm mềm mạch máuTáo xanh có tác dụng dưỡng gan và giải độc, chống trầm cảm nên thích hợp hơn cho người trẻ.Táo vàng có tác dụng tốt trong việc bảo vệ thị giác.6. Một củ hànhHành có giá trị dinh dưỡng rất cao và có nhiều chức năng, bao gồm việc giúp hạ đường huyết, giảm mỡ máu, ngăn ngừa ung thư, bảo vệ tim mạch và các bệnh về não, và chống vi khuẩn, ngăn ngừa cảm cúm, bổ sung canxi và xương. Ăn hành tây ít nhất ba hoặc bốn lần một tuần.7. Một miếng cáCác nhà dinh dưỡng Trung Quốc đã cảnh báo rằng ăn “bốn chân” còn tệ hơn ăn “hai chân”, ăn “hai chân” còn tồi tệ hơn ăn “không có chân”.′′Không có chân′′ chủ yếu đề cập đến cá và nhiều loại rau khác nhau. Các protein chứa trong cá dễ dàng được tiêu hóa và hấp thụ. Lượng axit béo không bão hòa trong chất béo, đặc biệt là axit béo đa năng, tương đối tốt cho cơ thế.8. Bước đi nhẹ nhàngĐây có tác dụng chống lão hóa thần kỳ. Khi người cao tuổi đi bộ (khoảng 1 km hoặc ít hơn) đều đặn trong hơn 12 tuần, sẽ đạt được hiệu quả về dáng và vòng eo, và cơ thể trở nên dẻo dai và không dễ bị mệt mỏi. Ngoài ra, tập thể dục bằng cách đi bộ cũng có lợi cho việc chữa đau đầu, đau lưng, đau vai., và có thể thúc đẩy giấc ngủ.Các chuyên gia tin rằng đi bộ 30 phút mỗi ngày có thể thoát khỏi nguy hiểm của ′′bệnh người cao tuổi". Những người đi 10,000 bước một ngày sẽ giảm nguy cơ mắc các bệnh về tim mạch và mạch máu não.9. Một sở thíchCó một sở thích, dù là trông hoa, nuôi chim, sưu tầm tem, câu cá, hay vẽ tranh, hát, chơi cờ, và du lịch, đều có thể giúp người già duy trì sự tiếp xúc rộng rãi với xã hội và thiên nhiên. Điều này làm mở rộng những thú vị của người già. Họ sẽ yêu và trân trọng cuộc sống.10. Tâm trạng vui vẻNgười già nên duy trì cảm xúc tốt vì những điều này cực kỳ quan trọng đối với sức khỏe của họ. Các bệnh mãn tính thường gặp ảnh hưởng đến người già có liên quan chặt chẽ đến những cảm xúc tiêu cực của người già:Nhiều bệnh nhân mắc bệnh tim, mạch vành, bị nhồi máu cơ tim do kích thích các cảm xúc bất lợi dẫn đến tử vong đột ngột;Tính nóng là điều ′′xấu′′ dẫn đến huyết áp cao. Trong trường hợp kéo dài và nghiêm trọng sẽ có thể gây ra đột quỵ, suy tim, tử vong đột ngột,.;Các cảm xúc tiêu cực như tức giận, lo lắng và đau buồn có thể khiến lượng đường huyết tăng lên, gây rối loạn chuyển hóa trong cơ thế.Điều này cho thấy tâm trạng tối quan trọng như thế nào!FB CA THƯƠNG( lượm trên FB.TN)Đại Tá Lê Quý Dậu
Th/T Lê quý Dậu, Tr/T Ngô minh Hồng, 1971 tại Krek, Campuchia (từ trái)Đã từ lâu, các cấp chỉ huy của chúng ta không còn là những người đang nắm giữ quyền lực, vì thế nhắc đến những ưu điểm của họ không còn là thái độ “nâng bi”, mà là những món quà tinh thần dành cho nhau, là những kỷ niệm đáng trân trọng của một thời quân ngũ đã qua mà chúng ta đang cố công gìn giữ. Trong tâm tình này tôi xin nói đến một người có ảnh hưởng đến những năm tháng không thể nào quên trong những ngày “giày sô áo trận” của tôi. Người đó là Trung Tá Lê Quý Dậu, ông tốt nghiệp Khóa 3 SQĐB Nha Trang, từng là Tiểu Đoàn Trưởng TĐ52 BĐQ, và chức vụ sau cùng là Liên Đoàn Trưởng LĐ21 BĐQ.Mấy tuần trước đây trên emailgroup của BĐQ có xuất hiện tin 1 chuẩn úy bị thương cụt hai chân được đơn vị trưởng cấp cho 1 xe jeep và tài xế xử dụng cho đến ngày “trời sập”. Việc hơi khó tin nhưng đó lại là sự thực vì tôi là nhân chứng, sự việc này đã nâng cao tinh thần chiến đấu của đám “sĩ quan cắc ké” chúng tôi lúc đó.Số là vào khoảng tháng 5/1969, Chuẩn úy Phạm Xuân Quý, Khóa 26/TBTĐ thuộc đại đội 2/TĐ52/BĐQ, bị trúng mìn của Việt cộng ngay khu cầu Rạch Chiếc đối diện hãng xi măng Hà Tiên, vết thương quá nặng đã cướp mất đôi chân cuả anh sát gần đến háng. Trong khi đang điều trị tại bệnh viện Cộng Hòa thì tại đơn vị, Đại úy Lê Quý Dậu được cử giữ chức vụ tiểu đoàn trưởng thay thế Đại úy Nguyễn Văn Niên. Ngay những ngày đầu ông đã được Chuẩn úy Phạm Văn Mẫn chỉ huy hậu cứ, tường trình về trường hợp của Ch/u Quý và đề nghị xin cấp cho Quý phương tiện để tạm thời gia đình đi thăm viếng, cũng như trong thời gian đầu cần phải đi tái khám. Đ/u Dậu đã chấp thuận cấp cho Ch/u Quý tạm thời xử dụng chiếc xe jeep mang bảng số 035, có vẽ cái đầu cọp “chầng dzầng” ở kiếng xe phía trưởng xa với số 52 nằm ở dưới cằm và hàng chữ “Sấm Sét Miền Đông”. Rồi vì hành quân liên miên nên Đ/u Dậu cũng chẳng quan tâm đến nữa, hoặc có khi ông cũng còn chẳng nhớ đến đến viên Chuẩn úy bất hạnh ông cũng chưa gặp bao giờ. Còn Quý thì tuy kém may mắn nhưng cũng còn chút an ủi là được hưởng một sự quan tâm giúp đỡ từ một vị tiểu đoàn trưởng mà anh cũng chưa có một ngày phục vụ dưới quyền, cũng như chưa gặp Đ/u Dậu bao giờ. Nhưng chúng tôi, những “thằng cắc ké 52” lúc đó thì rất nhớ, vì Quý nó là một trong những “thằng cắc ké” chúng tôi.Khi ông thăng cấp Trung tá và đi khỏi tiểu đoàn thì Thiếu tá Trần Đình Nga về thay thế. Ông biết chuyện này nhưng lúc đó có thiếu xe cộ đâu mà cần lấy lại chiếc xe cũ làm gì. Hơn nữa, Th/u Mẫn chỉ huy hậu cứ cũng rất rộng rãi và cư xử đẹp đối với anh em. Vì thế, cứ 2-3 tháng Quý lại ghé hậu cứ đổ đầy bình xăng, cộng thêm “can sơ cua”, kèm thêm một bụng thịt chó, say ngất ngưởng. TĐ52 đã cung cấp cho Quý xe và tài xế cho đến ngày “trời sập”. Tôi, là tên “cắc ké”ở TĐ52 lâu nhất từ cuối 68 đến cuối 74, biết rõ chuyện này, nên xin được đại diện cho đám “cắc ké” hoan hô tinh thần đùm bọc của quý anh, là các cấp chỉ huy đối với thuộc cấp là chúng tôi. Chính từ những hành động cao quý này mà ngày đó đám “cắc ké” chúng tôi cũng đã không ngần ngại đến sinh mạng mình để mang lại vinh quang cho đơn vị.Riêng với Trung tá Lê Quý Dậu thì ông đối với tôi có nhiều “ân oán giang hồ”. Có người thì bảo tôi “Anh làm gì mà bị ổng đì quá vậy”, trong khi người khác lại bảo “Anh là con gà của ông Dậu”. “Đì” hay “Gà” thì tôi xin phép được kể ra đây để quý anh cùng phán xét, và may ra “mua vui cũng được một vài trống canh”.Số là đúng ngày 1-1-70 sau khi đi phép lấy vợ, vừa trở về đến đơn vị chưa kịp bỏ balô xuống thì nhận được lệnh lên BCH/TĐ lấy Sự Vụ Lệnh trình diện BCH/TƯ đi học khóa Rừng Núi Sình Lầy, Đ/u Phạm Văn Thương đại đội trưởng bảo tôi:- Ông làm cái gì mà hết ông Niên, giờ đến ông Dậu đì ông quá vậy? Số ông là số con rệp. Liệu còn “xí quách” mà chạy không đấy?- Chắc còn chạy nổi, mà sao bộ tiểu đoàn hết người rồi hay sao mà đè ngay thằng vừa lấy vợ bắt đi học RNSL. Mấy ông Th/u đàn anh đã ông nào đi đâu. Tôi là thằng nhỏ nhất thì lại bắt đi sớm nhất.Và thế là ngày hôm sau tôi vác balô về trình diện Bộ Chỉ Huy Trung Ương rồi tháp tùng máy bay nhà binh ra Dục Mỹ theo học khóa 40 RNSL.Rồi giữa năm 1970 sau khi hành quân vượt biên sang Kampuchia thì đơn vị được nghỉ dưỡng quân tại Sài Gòn, riêng tôi lại lãnh cái Sự Vụ Lệnh theo học Khóa Tiền Sát Viên Pháo Binh tại BKTĐ. Thế là mất toi những ngày “bát phố” Sài Gòn.Cuối năm 1970, khi cả tiểu đoàn lại được nghỉ dưỡng quân tại Sài Gòn thì tôi lại được hân hạnh mang một trung đội đi tăng cường cho Tiểu Đoàn 6 Quân Cảnh để ngăn chặn anh em thương phế binh cắm dùi và biểu tình trước Hạ Viện, cũng như tham gia các cuộc hành quân cảnh sát, tuần cảnh hỗn hợp.Như thế, so với những anh em khác thì rõ ràng là tôi bị “đì” quá đi đấy chứ phải không quý vị?Còn nói về việc “thăng quan tiến chức” trong suốt thời gian phục vụ dưới quyền ông, thì đời binh nghiệp của tôi cũng không được “hanh thông” cho lắm.Đầu năm 1971, Chiến Đoàn 333 BĐQ, và Chiến Đoàn 5 BĐQ cùng Lữ Đoàn 3 Thiết Kỵ quần thảo với các công trường 5, 7, 9 của CSBV. Ròng rã hơn 1 tháng trời tại Đambe, vậy mà tôi cũng chẳng có được cái ngôi sao chì để cột dây câu cá.Tháng 8/71 tôi đánh một trận đẹp như mơ giải tỏa Đồi Máu 46 tức Căn cứ ALFA do TĐ30 BĐQ trấn giữ, hy vọng vồ được cái lon trung úy. Ai dè đâu lon lá thì bên Sư Đoàn 25 BB lãnh giùm. Họ quẳng cho cái ngôi sao vàng làm thuốc bắc “Mùa hè đỏ lửa” 72 tôi nhẩy vào Bình Long từ ngày đầu tiên khi cuộc chiến chưa bùng nổ, và trở ra ngày 5/7/72. Ngày 7/7/72 Tổng Thống Thiệu lên thị sát mặt trận tuyên bố mỗi quân nhân tử thủ Bình Long đều được thăng một cấp, nhưng rồi cũng lại vồ hụt cái lon “đại úy” để cuối cùng lãnh giải an ủi hai cái “ngôi sao vàng”.Sau đó, tôi theo đơn vị tiếp tục lao vào các mặt trận khác như Bình Ba, Bình Giả, Hưng Lộc, Trảng Bom... giao chiến với các trung đoàn 33 và 274, chủ lực miền v...v... rồi lại chạm trán với đoàn 429 đặc công tại mặt trận Búng Lái Thiêu. Tôi xém chết nhiều phen nhưng cũng chẳng được tí ti khen thưởng nào.Như vậy, đúng là một phần tôi bị xếp quên, một phần thì vì binh chủng là con ghẻ nên bị bạc đãi cho ăn toàn xương xẩu, chỗ nào nặng thì đẩy vào; huy chương, thăng thưởng thì họ lấy. Nhiều khi cũng từ cái thân phận con ghẻ đó mà tôi đâm ra lại càng gắn bó với binh chủng với chiến hữu đồng cảnh ngộ hơn cũng chẳng biết chừng.Có người thì lại bảo tôi là “con gà” của ông Dậu. Nói như vậy thì cũng đúng, vì trong thời gian tử thủ Bình Long thì 2 đại đôi trưởng hy sinh, 1 đại đôi trưởng bị thương nặng, chỉ còn có mình tôi nên phải đảm nhiệm luôn 2 đại đội 4&1. Còn 2 đại đội 2&3 thì do đại úy Nguyễn Thế Kỳ, trưởng ban 3 tiểu đoàn tạm thời đảm nhiệm. Dĩ nhiên “không có chó bắt mèo ăn kít”, tôi trở thành “con gà” của ông từ ngày ấy. Sau này khi ông thuyên chuyển đi làm Liên Đoàn Phó LĐ2, cũng như khi làm Liên Đoàn Trưởng LĐ21, ông có yêu cầu tôi đi theo ông nhưng tôi từ chối, vì tôi có máu cờ bạc nên thích con số 52 mất rồi (bài tây có 52 con).Ngày đi tù, lúc vừa bị đưa ra “Miền Bắc xã hội chủ nghĩa”, tôi ở chung trại với ông mấy tháng. Khoảng tháng 10/76, tôi phải chuyển đi trại khác, ông cho tôi một cái chăn dạ nhà binh và hơn chục viên Cloroquine kèm thêm lời dặn: “Tao biết thế đếch nào nó cũng đưa mình ra Bắc nên tao mang theo 2 cái, lấy một cái đi mà dùng.Ráng giữ gìn sức khỏe đểcòn may ra có ngày về”. Còn gì cảm động hơn tấm lòng của ông đối với tôi lúc đó, trong lúc mọi người cùng hoạn nạn mà ông đã chia xẻ cho tôi tấm chăn dạ, một vật tối cần thiết cho người tù để chống lại cái giá rét của núi rừng Việt Bắc.Ngày Quân Đội Hoa Kỳ tấn công Iraq năm 2002, ông gọi tôi vào lúc 3 giờ sáng để hỏi thăm và chia xẻ nỗi lo của ông về thằng con trai thứ ba của tôi đang ở trong binh chủng TQLC Hoa Kỳ.BĐQ Đoàn trọng HiếuHố Chôn Người Ám Ảnh
Tháng 04/1975, đơn vị chúng tôi (Sư đoàn 341 thường gọi là đoàn Sông Lam A) phối hợp với sư đoàn khác đánh vào căn cứ phòng ngự Xuân Lộc. Trận chiến quyết liệt kéo dài 12 ngày đêm. Tiểu đoàn 8 chúng tôi do hành quân bị lạc nên được giao nhiệm vụ chốt chặn, nhằm không cho các đơn vị quân lực Việt Nam cộng hòa tiếp viện cũng như rút lui. Phải công nhận là sư đoàn 18 của phía đối phương họ đánh trả rất ngoan cường. Tôi tận mắt chứng kiến hai người lính sư đoàn 18 đã trả lời kêu gọi đầu hàng của chúng tôi bằng những loạt súng AR15.Sau đó họ ôm nhau tự sát bằng một quả lựu đạn đặt kẹp giữa hai người. Một tiếng nổ nhoáng lửa, xác họ tung tóe giữa vườn cam sau ấp Bàu Cá. Hình ảnh bi hùng ấy đã gây ấn tượng mạnh cho tôi. Tinh thần của người lính đích thực là vậy. Vị tướng nào có những người lính như thế, dù bại trận cũng có quyền tự hào về họ. Họ đã thể hiện khí phách của người trai nơi chiến trận. Giả thiết nếu phía bên kia chiến thắng chắc chắn họ sẽ được truy tôn là những người anh hùng lưu danh muôn thủa. Nhưng vận nước đã đi theo một hướng khác. Họ đành phải chấp nhận tan vào cõi hư vô như hơn 50 thủy binh quân lực Việt Nam Cộng Hòa bỏ mình ngoài biển để bảo vệ Hoàng Sa.... Nghe tiếng súng nổ ran, tôi cắt rừng chạy đến nơi có tiếng súng. Đấy là ấp Tân Lập thuộc huyện Cao Su tỉnh Đồng Nai bây giờ. Ấp nằm giữa cánh rừng cao su cổ thụ. Đạn súng đại liên của các anh bộ đội cụ Hồ vãi ra như mưa. Là phân đội trưởng trinh sát, tôi dễ dàng nhận ra tiếng nổ từng loại vũ khí bằng kỹ năng nghiệp vụ. Chuyện gì thế này? Tôi căng mắt quan sát. Địch đâu chẳng thấy, chỉ thấy những người dân lành bị bắn đổ vật xuống như ngả rạ. Máu trào lai láng, tiếng kêu khóc như ri. Lợi dụng vật che đỡ, tôi ngược làn đạn tiến gần tới ổ súng đang khạc lửa:- Đừng bắn nữa! Tôi đây! Thạch trinh sát tiểu đoàn 8 đây!Nghe tiếng tôi, họng súng khạc thêm mấy viên đạn nữa mới chịu ngừng.Tôi quát:- Địch đâu mà các ông bắn dữ thế? Tý nữa thì thịt cả mình.Mấy ông lính trẻ tròn mắt nhìn tôi ngơ ngác. Họ trả lời tôi:- Anh ơi! đây là lệnh.- Lệnh gì mà lệnh, các ông mù à? Toàn dân lành đang chết chất đống kia kìa!- Anh không biết đấy thôi. Cấp trên lệnh cho bọn em “giết lầm hơn bỏ sót”. Bọn em được phổ biến là dân ở đây ác ôn lắm!- Tôi mới từ đằng kia lại, không có địch đâu. Các ông không được bắn nữa, để tôi kiểm tra tình hình thế nào. Có gì tôi chịu trách nhiệm!Thấy tôi cương quyết, đám lính trẻ nghe theo. Tôi quay lại phía hàng trăm người bị giết và bị thương. Họ chồng đống lên nhau máu me đầm đìa, máu chảy thành suối. Một cụ già bị bắn nát bàn tay đang vật vã kêu lên đau đớn. Tôi vực cụ vào bóng mát rồi giật cuốn băng cá nhân duy nhất bên mình băng tạm cho cụ. Lát sau tôi quay lại thì cụ đã tắt thở vì máu ra quá nhiều. Một chỗ thấy 5 người con gái và 5 người con trai bị bắn chết châu đầu vào nhau. Tôi hỏi người lính trẻ đi theo bên cạnh:- Ai bắn đấy?- Đại đội phó Hường đấy anh ạ!Lại nữa, tôi ngó vào cửa một gia đình, cả nhà đang ăn cơm, anh bộ đội cụ Hồ nào đó đã thả vào mâm một quả lựu đạn, cả nhà chết rã rượi trong cảnh cơm trộn máu. Tôi bị sốc thực sự. Hình ảnh anh bộ đội cụ Hồ “Đi dân nhớ ở dân thương” mà thế này ư? Cứ bảo là Mỹ ngụy ác ôn chứ hành động dã man này của chúng ta nên gọi là gì? Tâm trạng tôi lúc đó như có bão xoáy. Mặc dù vậy, tôi vẫn nhận ra ngay những việc cần làm. Tôi tập trung những người sống sót lại. Bảo chị em phụ nữ và trẻ con ra rừng tổ chức ăn uống nghỉ tạm. Cốt là không cho mọi người chứng kiến lâu cảnh rùng rợn này. Đàn ông từ 18 đến 45 tuổi có nhiệm vụ ra sau ấp đào cho tôi một cái hố. Trong ấp ai có xe ô tô, xe lam, máy cày phải huy động hết để chở người bị thương đi viện. Mọi người đồng thanh:- Xe thì có nhưng dọc đường sợ bị bộ đội giải phóng bắn lắm!- Không lo, có tôi đi cùng!Tôi giao cho Nghê, một du kích dẫn đường vừa có bố bị bộ đội cụ Hồ sát hại:- Việc lỡ như thế rồi, chú nén đau thương lại giúp anh. Thu hồi căn cước tư trang của những người đã chết sau này còn có việc cần đến.Thế là suốt chiều hôm đó, tôi lấy một miếng vải đỏ cột lên cánh tay trái. Lăm lăm khẩu AK ngồi trên chiếc xe dẫn đầu đoàn lần lượt chở hết người bị thương ra bệnh viện Suối Tre. Tối hôm ấy, tôi cho chuyển hết xác người chết ra cái hố đã đào. Không còn cách nào khác là phải chôn chung. Trưa ngày hôm sau người ta mới dám lấp. Đây là ngôi mộ tập thể mà trong hoàn cảnh ấy tôi buộc lòng phải xử lý như vậy. Trời nắng gắt, để bà con phơi thây mãi không được. Một nấm mồ chung hàng trăm người lẫn lộn, không hương khói, không gì hết. Tôi cho dọn vệ sinh sạch sẽ những chỗ mọi người bị tàn sát. Xong, mới dám cho đám phụ nữ và trẻ con ở ngoài rừng về. Tôi vượt mặt cả cấp trên để làm việc theo tiếng gọi lương tâm của mình, bằng mọi nỗ lực có thể để cứu giúp đồng bào. Tưởng thế là tốt, sau này nghĩ lại mới thấy hành động của mình giống như sự phi tang tội ác cho những anh bộ đội cụ Hồ. Thú thật lúc ấy tôi vẫn còn một phần ngu tín. Cũng muốn bảo vệ danh dự cho đội quân lính cụ Hồ luôn luôn được ca ngợi là tốt đẹp. Tuy vậy tôi bắt đầu nghi ngờ: “Tại sao người ta giết người la liệt rồi bỏ mặc? Chẳng lẽ họ mất hết nhân tính rồi sao?”Công việc xong tôi gặp Nghê để chia buồn. Tôi không tránh khỏi cảm giác tội lỗi. Nghê đã đưa xác bố về chôn tạm ở nhà bếp. Tội nghiệp Nghê quá. Lặn lội đi theo cách mạng, ngày Nghê dẫn bộ đội về giải phóng ấp lại là ngày bộ đội cụ Hồ giết chết bố Nghê. Nghê “mừng chưa kịp no” đã phải chịu thảm cảnh trớ trêu đau đớn. Nghê buồn rầu nói với tôi:- Hôm qua nghe lời anh, em thu được 2 nón đồng hồ, tư trang và căn cước của những người bị giết. Sau đó có một anh bộ đội bảo đưa cho anh ấy quản lý. Em giao lại hết cho anh ấy để lo việc chôn ba.- Em bị thằng cha nào đó lừa rồi. Thôi quên chuyện đó đi em ạ. Anh thành thật chia buồn với em. Chiến tranh thường mang đến những điều không may tột cùng đau đớn mà chúng ta không thể lường trước được. Anh cũng đang cảm thấy có lỗi trong chuyện này.-------Đã mấy chục năm qua, khi hàng năm, khắp nơi tưng bừng kỷ niệm chiến thắng 30/4 thì tôi lại bị ám ảnh nhớ về hàng trăm dân lành bị tàn sát ở ấp Tân Lập. Cái hố chôn người bây giờ ra sao? Người ta sẽ xử lý nó như thế nào hay để nguyên vậy? Tôi muốn được quay lại đó để thắp nén hương nói lời tạ tội. Vô hình dung việc làm tốt đẹp của tôi đã giúp cho người ta bưng bít tội ác. Không! Người dân ấp Tân Lập sẽ khắc vào xương tủy câu chuyện này. Nỗi đau đớn oan khiên lúc đấy chưa thể phải nhòa được. Còn những người tham gia cuộc tàn sát ấy nữa có lẽ họ cũng vô cùng dằn vặt khi nhận những tấm huân huy chương do Đảng và Nhà nước trao tặng sau ngày chiến thắng. Ý nghĩ ấy giúp tôi dũng cảm kể lại câu chuyện bi thương này.Sau ngày 30/04/1975 tôi có chụp một kiểu ảnh đang cởi áo, lột sao dang dở. Tôi đem tặng cho một thằng bạn đồng hương chí cốt. Hắn run người, mặt tái mét:- Tao không dám nhận đâu, họ phát hiện ra tấm ảnh này quy cho phản động là chết cả nút.Bạn tôi sợ là đúng. Vì cậu ta là đảng viên. Nhưng điều bạn ấy không hiểu là tôi làm vậy vì cảm thấy hổ thẹn và nhục nhã cho anh bộ đội cụ Hồ khi nghĩ tới vụ thảm sát ở ấp Tân Lập...Thời gian trôi, tôi từ một chàng lính trẻ măng ngày nào bây giờ đã là một ông già với mái đầu hoa râm đốm bạc. Vậy mà tôi chưa nói được câu chuyện lẽ ra phải nói. Đôi lúc tôi âm thầm kể lại cho một số bạn bè tin cậy. Nghe xong ai cũng khuyên: “Nói ra làm gì, nguy hiểm lắm đấy”. Và quả thật, sống trong xã hội xã hội chủ nghĩa quái đản này, người ta quen thói bưng bít sự thật. Sự thật không có lợi cho Đảng, cho Nhà nước chớ dại mà nói ra, bị thủ tiêu hoặc vào tù là điều chắc.Trần Đức ThạchCựu phân đội trưởng trinh sátTiểu đoàn 8 - Trung đoàn 266Sư đoàn 341 - Quân đoàn 4
Tôi đang lui cui dựng chiếc Suzuki lên, chưa kịp khoá lại thì Trung Sĩ Nhất Mạnh, Thường Vụ Đại Đội, không biết chờ đợi từ lúc nào, đã dọt tới sau lưng :
- "Chuẩn Úy, Đại Úy nói Chuẩn Úy lên văn phòng trình diện Đại Úy".
Với tay tháo cái khoá xích ràng phía sau Porte Bagage, tôi quay nửa người lại :
-"Ừ, để tí nữa tôi cất đồ xong rồi tôi lên".
-"Đại Úy nói Chuẩn Úy lên liền bây giơ".
- "Được rồi, được rồi, lên liền thì lên liền".
Tôi vừa học xong khoá Nhẩy Dù ở Trại Hoàng Hoa Thám, được bốn ngày phép mãn khoá nhưng nhân tiện gặp dịp Noel, tôi tự cấp thêm sáu ngày nữa, ở Sai gòn chơi đến hôm nay, mồng hai tết tây, mới chịu trở về đơn vị. Chuyện lên trình diện Đại Úy Huyên, Đại Đội Trưởng, để ký củ là chuyện đương nhiên, tôi đã biết trước, nhưng "dziệc dzì mà dzữ dzậy", bộ ổng sợ tôi dzọt nữa hay sao? Tuy nói vậy nhưng tôi vẫn đủng đỉnh khoá xe, cất cái túi xách vào tủ rồi mới tà tà bước theo Mạnh.
Đại Úy Huyên, mặt lạnh như tiền, đang ngồi se se điếu Ruby Quân Tiếp Vụ tại bàn giấy, dưới mô hình phù hiệu của Đại Đội Thám Sát. Phù hiệu này, lồng trong khung tam giác đen viền vàng là nửa thân trên của một con ó đầu đỏ thân trắng đang nhe nanh múa vuốt chúi xuống khạc ra ba tia chớp, vốn là phù hiệu của chương trình Lôi Vũ, và sau đó là Trung Tâm Huấn Luyện / Hành Quân Delta, đơn vị cũ mà Đại Úy Huyên từng là một Toán Trưởng xuất sắc. Khi Lực Lượng Đặc Biệt bị giải tán, Trung Tâm Huấn Luyện / Hành Quân Delta đã được thu gọn lại thành Đại Đội Thám Sát của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù. Từ khi được Đại Tá Huấn, Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn, cho phép xử dụng lại, phù hiệu này đã xuất hiện khắp nơi trong Đại Đội Thám Sát. Trên xe jeep Đại Đội Trưởng, trong văn phòng Đại Đội Trưởng, trong hậu cứ Đại Đội và trên túi áo trái của bọn Thám Sát chúng tôi. Đại Úy Huyên, trong một bữa nhậu, đã vui chuyện kể với chúng tôi là khi Liên Đoàn mới thành lập, anh em có đùa giỡn phê bình xuyên tạc cái phù hiệu mới của Liên Đoàn (do Thiếu Tá Thông vẽ kiểu) là không khá nổi vì con ó trong phù hiệu coi bộ "xỉn" quá. Đã phè cánh nhạn (cánh xoè cánh cụp) mà lại còn thượng thổ (ba tia chớp) hạ tả (ngôi sao của cánh dù) thì tối thiểu chắc cũng phải sáu bẩy "xị" rồi. Nay với phù hiệu riêng này, Thám Sát đã xác định là đầu tầu nên lo phần "thượng thổ", còn phần "hạ tả" để dành cho các Đại Đội Xung Kích! ! !
Thấy tôi vào đưa tay lên chào trình diện, Đại Úy Huyên chỉ khẻ gật đầu rồi hất hàm về phía góc bàn, nơi để sẵn tờ giấy phạt. Tám ngày trọng cấm với đề nghị gia tăng tối đa. Cũng còn rẻ chán so với sáu ngày thần tiên vừa qua. Vả lại, với bọn "dân chơi" chúng tôi, đi lính mà chưa ký đủ bốn chục củ thì chưa phải là. . . lính. Vì vậy, tôi thản nhiên móc viết lặng lẽ ký cái rột, đưa tay chào rồi quay lưng định bước ra thì Đại Úy Huyên phán liền một câu động trời :
- "Anh lên ngay phòng Hành Quân nhận lệnh đi toán phạt".
Toán phạt là một biện pháp mạnh của các Đại Đội và của cả Liên Đoàn, dùng để trừng trị mấy tay ba gai chuyên môn vắng mặt bất hợp pháp như tôi, vì tuy là ký phạt trọng cấm nhưng do nhu cầu hành quân, ít khi nào các Đại Đội Trưởng lại chịu nhốt chúng tôi. Cứ thẩy tụi mày vào trong rừng là yên chuyện, khỏi có lôi thôi rắc rối gì nữa. Toán phạt quen thuộc với chúng tôi đến nỗi trở thành một tiêu chuẩn, dĩ nhiên là không chính thức : "Ở Tám Mốt mà chưa đi toán phạt thì chưa phải là. . . Biệt Cách Du". Nhất là sau này, khi Liên Đoàn trở về hậu cứ ở ngã tư An Xương, Hóc Môn, chỉ cách Sài Gòn trên dưới mười cây số, để dưỡng quân và tái huấn luyện thì, với luật lệ của Trung Úy Lợi, Đại Đội Phó Thám Sát, cứ ba lần vắng mặt bất hợp pháp trong các buổi tập họp điểm danh (một ngày tập họp bốn buổi : sáng 8 giờ, trưa 12 giờ, chiều 4 giờ và tối 8 giờ) là đi một toán phạt, số lượng toán phạt gia tăng nhiều đến nỗi khi trở lên hành quân, bản Lịch Trình Xâm Nhập của Đại Đội Thám Sát chỉ ghi toàn toán phạt! Tuy nhiên, đã bị ký tám củ mà còn phải đi toán phạt thì kể ra Đại Úy Huyên chơi hơi ép đàn em. Nhưng không sao, đi thì đi, dân chơi đâu sợ phá thai.
Khi tôi bước vào phòng Hành Quân Liên Đoàn thì bá quan văn võ đã tập họp đầy đủ : Đại Úy Huyên, Đại Đội Trưởng Thám Sát, Thiếu Tá Thông, Trưởng ban 3 Liên Đoàn, Đại Úy Thọ, Phó Ban 3, cùng đại diện các ban, ngành khác. Riêng Toán Phạt thì toàn "thứ dữ" không. Trung Sĩ Nhất Thạch Mỹ, Toán phó, người Miên đen như cột nhà cháy, bùa ngãi đầy mình, Hạ Sĩ Lượm thủ cây M79, Hạ Sĩ Nhất Công mang máy, Hạ Sĩ Nhất Hoa đi đầu, đều xuất thân từ Delta, thâm niên công vụ đã khá nhiều. Còn Binh Nhì Thanh và Binh Nhì Hổ, tuy mới có mười tám tuổi thôi nhưng nghe nói là cũng đã trải qua dăm ba sắc lính, kinh nghiệm đầy mình rồi. Thêm tôi nữa là đủ mặt "The Magnificient Seven". Đợi tôi an toạ xong xuôi, Đại Úy Thọ (có biệt danh là Thọ Hù vì cứ theo tin tức tình báo mà ông thu lượm được thì chổ nào mà các Toán Thám Sát nhẩy vào cũng đầy Việt Cộng - dĩ nhiên rồi, không có Việt Cộng thì nhẩy vào làm cái gì - nhưng nhiều khi chúng tôi đi hết bẩy ngày công tác cũng chẳng thấy ma nào xuất hiện cả, riết rồi anh em nói là ông Thọ chỉ ưa Hù thôi) mới bước lên phía trước bắt đầu thuyết trình hành quân.
Toán có nhiệm vụ xâm nhập vào khu vực Chiến Khu D, chổ giáp giới giữa hai quận Phú Giáo, Bình Dương và Công Thanh, Biên Hoà. "tin tức tình báo" ghi nhận được sự hoạt động của quân xa địch nên Toán được tăng cường thêm Toán Viên thứ bẩy, Binh Nhì Hổ, tướng hơi lùn nhưng vạm vỡ, để vác quả mìn chống chiến xa nặng cả chục ký vào chôn trong đó. Các Toán Viên khác thì được giao mỗi người năm trái mìn muỗi chống người để gài trên các đường mòn. Toán cũng có nhiệm vụ ghi nhận, báo cáo toạ độ các mật khu và hoạt động của địch, và cuối cùng là vì là toán phạt nên Toán phải đi cho hết bẩy ngày qui định mới được ra. Toán sẽ lãnh mìn, bản đồ và đặc lệnh truyền tin vào sáng ngày mai, trước khi lên đường xâm nhập, nhưng lương khô thì sẽ được lãnh liền sau khi họp xong để Toán có thời giờ sửa soạn. Các chi tiết khác sẽ do đại diện các ban ngành liên hệ thuyết trình sau, vân vân và vân vân. . .
Tuy tôi ngồi nghe ra vẻ chăm chú lắm, mắt hết nhìn tấm bản đồ bọc plastic điểm đầy chấm đỏ như bị đậu mùa treo trên tường lại nhìn bộ ria mép đen nháy cắt tỉa vén khéo của ông Thọ Hù đang nhúc nhích, nhưng đầu óc tôi lại hoạt động khá lung : Tí nữa đây, đẩy hết mớ lương khô ra chợ Bắc Hải rồi, không biết mình sẽ làm món gì để ăn cho ngon trong bẩy ngày sắp tới, chứ thịt ba rọi xào mắm ruốc với muối đậu trộn đường cùng cải bắc thảo kho thịt mỡ đã ngán tới tận cổ rồi! ! !
Từ Sài Gòn, tôi trở lên Căn Cứ Hành Quân Suối Máu, Biên Hoà đúng vào giờ tập họp điểm danh buổi sáng của Đại Đội. Toán Phạt đã ba lô súng đạn sẵn sàng đứng riêng một góc. Đại Úy Huyên, mặt nhăn như bị, đang xỉ vả tôi tàn tệ trước hàng quân. Thấy tôi tà tà chạy xe tới, ông chỉ lạnh lùng liếc nhìn rồi quay trở lại hàng quân tiếp tục xỉ vả. Tôi chỉ còn nước len lét phóng vào phòng thay vội bộ đồ "vía", nhét mấy cái lon guigoz đồ ăn vào ba lô rồi ôm súng chạy ra. Thạch Mỹ cười cười, móc túi giao trả cho tôi tấm bản đồ hành quân cùng Đặc Lệnh Truyền Tin :
- "Ông thiệt hết ý kiến. Chút xíu nữa là tôi phải dẫn Toán đi thay ông rồi".
Tôi cười trừ chữa thẹn :
- "Tối hôm qua sỉn quá, lỡ ngủ quên".
Thạch Mỹ hăm doạ :
- "Ông coi chừng kỳ này Đại Úy ổng sẽ đì ông tối đa đó"!
Tôi ra vẻ tỉnh bơ :
- "Nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ, trời đì thì mới sợ chứ người đì đâu có sao!"
Quả tình tôi đâu có muốn ba gai ba góc làm gì, nhưng tôi tuổi trẻ ham chơi mà suốt mấy năm trời, từ sau Mùa Hè Đỏ Lửa, Liên Đoàn cứ đóng loanh quanh gần Sài Gòn, nơi gia đình, bạn bè, đào địch tôi đều ở đó thì tôi làm sao được bây giờ? Với Liên Đoàn thì đây là thời gian nghỉ xả hơi đáng được hưởng sau những cuộc hành quân liên tục, từ Tây Nguyên, An Lộc, Quảng Trị dài sang Bến Thế, Trảng Bàng, Tân Phú Trung, nhưng với con ngựa non háu đá mới ra trường, gót giầy saut còn muốn dẫm nát bốn vùng chiến thuật như tôi thì đây là thời gian nhàm chán vô cùng. Nhất là tổ chức của Đại Đội Thám Sát trong thời gian này có hơi. . . kỳ cục. Vì cả Đại Đội có mấy chục Toán mà chỉ có mười mấy Toán Trưởng nên Đại Úy Huyên giao hết quyền điều động các sinh hoạt hàng ngày của Toán (tạp dịch, canh gác, đi phép, thưởng phạt, huấn luyện,. . .) cho Trung Sĩ Nhất Mạnh, Thường Vụ Đại Đội, lo liệu. Các Toán Trưởng chẳng có trách nhiệm gì với một Toán nào cả, cứ việc ngồi chơi xơi nước đợi tới chu kỳ xâm nhập của mình (thường thường khoảng một tháng một lần) thì lãnh đại một Toán để nhảy vào rừng. Vì hai chu kỳ xâm nhập của Toán và Toán Trưởng khác nhau nên hơn năm trời ở Thám Sát, nhảy được mười mấy "saut" mà chưa bao giờ tôi nhảy với một Toán nào lần thứ hai cả. Nhàn cư vi bất thiện, cứ ăn không ngồi rồi mãi giữa cảnh hoang tàn đổ nát, đồng khô cỏ cháy của căn cứ Suối Máu cũng buồn, nhất là đang trong lứa tuổi mười chín hai mươi tràn đầy nhựa sống, nên tôi mới hay bỏ đi chơi. Gần thì ra ký sổ bà Thanh bên khu Gia Binh Thiết Giáp, xa hơn thì cà phê Tuyệt, xi nê Biên Hùng, "cour de dance" của bà Thủy ngoài Biên Hoà. Đầu tháng tiền bạc rủng rỉnh thì dzọt về Sài Gòn vi vút với em út. Đi riết thành quen nên bây giờ tôi mới mang tiếng là tên sĩ quan. . . ba gai nhất Liên Đoàn!
Nghe xỉ vả xong xuôi, tôi giao chìa khoá xe cho Tâm Guigoz, một toán trưởng bạn, giữ dùm rồi dẫn toán đi theo Đại Úy Huyên ra bãi đáp trực thăng, chỉ cách chổ Đại Đội tập họp chừng ba trăm thước. Trung Úy Bình (tự Lọ), phi công trưởng, đang ngồi binh xập xám với phi hành đoàn trên sàn tàu cho biết là chưa thả toán được vì phải còn chờ máy bay (Máy bay nằm chình ình ở đây rồi, còn chờ gì nữa? Có lẽ là chờ trực thăng võ trang yểm trợ chắc!) Chờ thì chờ, sợ gì, tôi liền cho Toán hạ ba lô súng đạn xuống đất rồi tấp vào Câu Lạc Bộ Dã Chiến của Liên Đoàn, nằm đối diện với bãi đáp, ký sổ ly cà phê và mấy điếu Phillip Morris ( Tôi ít khi lên Câu Lạc Bộ này vì ở đây thiếu bóng hồng. Ngồi uống cà phê mà ngắm mấy ông lính già đi tới đi lui thì thà nằm dưới Đại Đội đọc sách sướng hơn). Chờ đến trưa, Trung Úy Bình lái máy bay đi công tác lên xuống đã mấy lần mà vẫn chưa nghe động tĩnh gì, tôi bèn ký thêm tô mì gói và ly trà đá.
Mãi đến hơn năm giờ chiều, Đại Úy Huyên mới trở lại cho biết là không xin được máy bay, Toán phải xâm nhập với một chiếc Slick của Trung Úy Bình thôi. Ôi, đánh giặc theo kiểu nhà nghèo chán thặt. Nhớ thuở tôi mới về Liên Đoàn (chỉ mới năm ngoái thôi chứ đâu có xa xưa gì), Toán thường được thả bằng cả một hợp đoàn năm chiếc trực thăng : hai chiếc Gunship võ trang yểm trợ bay phía dưới, một chiếc Slick chở quân và một chiếc Slick cấp cứu bay ngang nhau, một chiếc C & C chỉ huy bay trên cao. Ngồi trên tàu nhìn hai chiếc Gunship phía dưới "cover" bãi trước khi đổ quân, tôi cảm thấy vừa hùng lại vừa "ấm". Còn bây giờ, đầu năm 1974. . .
Chiếc UH1B xà xuống bãi đáp lúc trời bắt đầu chập choạng tối. Nhìn từ trên cao thì bãi đáp chỉ là một khoảng trống màu xanh nhạt nằm giữa cánh rừng đen thui, nhưng khi đến nơi mới biết đó là một rẫy bắp "tăng gia" của Việt Cộng. Để đánh lạc hướng địch, hai cây đại liên M60 trang bị trên tàu vội vã nổ liên hồi vào những mái tranh thấp thoáng ẩn hiện bên bìa rừng, ra vẻ như phi cơ chỉ xà xuống bắn phá thôi, rồi trong lúc con tàu đang lướt nhẹ trên ngọn bắp, Toán lần lượt phóng nhanh xuống đất. Kiểm sơ lại quân số, tôi vội vã định hướng rồi dẩn Toán lủi đại vào rừng trong lúc chiếc trực thăng bốc lên càng lúc càng cao rồi mất hút trong làn mây xám.
Mò mẫm đi trong bóng tối đến quá nửa đêm thì bắt đầu thấm mệt, tôi bèn cho Toán chui đại vào một lùm cây khá rậm rạp để nghỉ. Định nghỉ một chút thôi rồi sẽ đi tiếp, nhưng vừa ngã lưng nằm dài xuống đất là tôi thiếp đi liền cho tới lúc tiếng máy xe nổ ầm ỳ đánh thức tôi dậy. Không đầy bốn thước trước mắt tôi, những chùm đèn pha rực rỡ chan hoà chiếu tới soi rõ từng cọng cỏ, rồi một đoàn sáu chiếc Molotova nối đuôi nhau chầm chậm chạy qua, khuấy bụi mịt mù. Cả Toán cùng nín thở cứng người nằm im như tượng đá dưới những bóng đen sắc cạnh của cành lá đang thi nhau nhảy múa trong ánh sáng chói loà cho đến khi đoàn xe bắt đầu khuất dạng vào rừng đêm, Thạch Mỹ mới run run cười như mếu thì thào với tôi :
- "Mẹ, kỳ này ông Thọ Hù ổng nói thật rồi ông ơi!"õ
Tảng lờ không trả lời Thạch Mỹ, tôi nhìn một vòng quanh các Toán Viên :
- "Chuẩn bị dọt đi anh em, mẹ, nằm đây không yên rồi."õ
Chờ thêm một lúc nữa cho chắc ăn là không có gì theo sau đoàn xe, tôi đứng dậy xốc lại ba lô bắt đầu tiến bước. Vừa ra khỏi lùm cây là tôi thấy ngay con đường. Chỉ là hai vết bánh xe nhỏ xíu nằm song song giữa đám cỏ rậm rì như hai con rắn khổng lồ uốn lượn quanh co bên những tàng lá dầy đặc rồi mất hút vào khoảng tối phía xa. Thật là hú vía, hồi tối chỉ cần bước thêm vài bước nữa là dám cả Toán đã bị. . . xe cán ở giữa rừng rồi! ! ! Nhìn con đường một lúc, tôi quay qua nói với Hổ :
- "Mẹ, vác trái mìn theo chi cho mệt Hổ, chơi mẹ nó xuống đây cho rồi."
Hổ hơi ngần ngại, nhìn tôi với cặp mắt nghi ngờ :
- "Thiệt không đó Chuẩn Úy?"
- "Mẹ, thiệt chứ bộ tao giỡn với mày à!"
- "Ô-kê, ông muốn chơi bạo thì chơi!"
(Thật ra, đang bất mãn vì bị Đại Úy Huyên đì tối đa, tôi định trả thù (!!!) bằng cách bất hợp tác: chôn đại trái mìn vào một xó rừng vắng vẻ nào đó không ai đi tới cho bõ ghét. Được thêm cái lợi nữa là nếu mìn không nổ thì toán sẽ giữ được bí mật, không bị bể và tôi có thể ăn no ngủ kỹ trong 7 ngày "picnic" này. Nhưng bây giờ đã thấy đường, thấy xe trước mắt mà vẫn còn cố "lờ" thì quả tình tôi thấy quá uổng!)
Dưới ánh sáng mờ ảo của vầng trăng cao tít trên không, trong khi các Toán Viên khác toả ra canh gác chung quanh, tôi và Hổ quì xuống cặm cụi dùng dao găm đào một cái lỗ to vừa bằng cái khay trà và sâu độ hơn một tấc ngay trên vết bánh xe. Đất đỏ miền Đông khô ran, cứng như đá khiến chúng tôi hì hục mướt cả mồ hôi đào mãi mới bỏ lọt được trái mìn xuống đất. Mở khoá an toàn xong, tôi nhẹ tay khoả đất che lấp trái mìn, phủ vài cọng cỏ ngụy trang lên rồi vội vàng dẫn Toán dông thẳng một mạch đến khi trời bắt đầu mờ mờ sáng mới dừng lại tìm chỗ nghỉ ngơi. Rút kinh nghiệm, lần này tôi cho Toán kiểm soát chung quanh kỹ càng trước khi kéo nhau chui vào một lùm cây khá rậm rạp nằm lưng chừng một ngọn đồi thấp.
Vừa mới chợp mắt được vài phút, tiếng người xôn xao từ xa vọng đến khiến tôi lại phải ngồi bật dậy khe khẻ vạch lá nhìn xuống chân đồi. Nhờ địa hình khu này tương đối trống trải, chỉ toàn là những bụi rậm cao vừa quá đầu người nằm xen kẽ da beo với những trảng tranh nhỏ, rải rác đây đó mới có những tàng cây lớn vươn mình chọc thẳng lên trời xanh, nên tôi có được tầm nhìn khá xa. Trong ánh nắng hồng tươi mát của một ngày mới, cách tôi chừng ba mươi thước, thấp thoáng từng tốp năm bẩy người, nam có, nữ có, bà ba đen có, kaki Nam Định có, vai cuốc vai xẻng, vai cào vai súng, đang cùng nhau cười nói vui vẻ tiến bước trên con đường mòn quanh co khúc khỷu len lỏi giữa cánh rừng thưa, hướng về một khoảnh rẫy lớn nằm khuất sau mấy ngọn cây. Còn đang bàng hoàng chưa tỉnh hẳn cơn buồn ngủ, tôi chợt nghe Thạch Mỹ thì thào sau lưng :
- "Chuẩn Úy, hay là mình xuống chụp đại một vài con rồi về sớm đi!"õ
Lạnh toát cả người, tôi quay lại quái dị nhìn Thạch Mỹ :
- "Bộ hết chuyện chơi rồi sao mà tính cái gì kỳ vậy Mỹ!"
Thạch Mỹ lúng túng phân trần :
- "Thì nếu mình bắt được tù binh, ở nhà sẽ cho trực thăng đón mình về thôi, chứ còn tới sáu ngày nữa mà tình hình này tôi thấy coi bộ không yên rồi!"
- "Coi vậy chứ không phải vậy đâu. Về đâu chưa thấy, thấy mình chạy toé khói trước đã. Ông nên nhớ mình là Toán phạt, phải đi cho đủ bẩy ngày đó. Không được đâu!"
Tôi đã có kinh nghiệm về chuyện phục kích bắt tù binh (do các Toán Trưởng đàn anh truyền miệng lại). Nhiêu khê lắm chứ không phải chơi. Phải dàn đội hình dài theo con đường, mà với sáu bẩy thằng thì giỏi lắm chỉ dàn được bốn năm thước là hết mức, không đủ để "cover" trận địa. Rồi vừa mới la "Đứng lại" hay nổ súng một cái là tụi nó đã vắt giò lên cổ chạy mất tiêu vào rừng. Rượt theo thì ở trong mật khu của tụi nó, tụi nó không rượt mình thì thôi chứ ai dám rượt tụi nó? Bắn theo thì, nói thật, từ ngày tôi về Liên Đoàn đến giờ, tôi chưa hề có dịp chỉnh lại đường nhắm của khẩu M.18 được cấp phát nên tôi không dám tin tưởng vào tài thiện xạ của tôi (Tôi nghĩ là các Toán Viên khác cũng như tôi thôi!). Lượm được mấy cái cuốc, mấy cái xẻng vô giá trị của tụi nó vứt lại (súng tụi nó ôm theo!) mà phải lo lắng đủ điều, trốn tránh, tìm bãi đáp, liên lạc xin triệt xuất (mà chưa chắc Toán đã được bốc nhờ tịch thu được vài cái. . . xẻng của Việt Cộng) thì không bõ. Mặc dù chuyện bắt được tù binh hay bắn chết Việt Cộng lấy được súng là chuyện vẫn thường xẩy ra trong Đại Đội nhưng đó là chuyện của các Toán Đặc Nhiệm như Toán Giả Trang, Toán Phục Kích, đã được dự trù kế hoạch kỹ lưỡng, nghiên cứu đường đi nước bước tiến thoái đàng hoàng, hay gặp trường hợp bất khả kháng như tao ngộ chiến chứ dứt khoát không phải chuyện của Toán. . . Phạt.
Không công được thì phải lo thủ, tôi chờ một lúc sau, khi những tiếng cười nói đã tắt hẳn nơi phía xa mới đưa Toán chui sâu thêm vào trong bụi rậm cho kín đáo hơn, theo đúng nguyên tắc "địch không thấy ta mà ta (cũng chẳng) thấy địch" của bài học ẩn nấp ở Trường Bộ Binh Thủ Đức ngày nào. Để bảo đảm an toàn, đích thân tôi đi chót và xoá dấu thật kỹ càng. Khi đã yên vị rồi, trong lúc Thạch Mỹ chia ca gác cho Toán, tôi móc túi lấy Đặc Lệnh Truyền Tin và sổ tay ra mã hoá bản công điện cho buổi sáng. Vì lý do để bảo mật tối đa, các bản công điện định kỳ sáng, trưa, chiều, tối báo cáo tình hình địch bạn, vị trí, hướng đi, hoạt động của Toán đều phải được mã hoá. Khi liên lạc với ở nhà, tôi chỉ cần nói "Cho tôi gởi cái cô đen" và sau đó, khi bên kia đầu máy trả lời "Ô kê"õ là tôi đọc một tràng số :"311, 254, 168, 720, 434, 975. . .". Vì mã số trong Đặc Lệnh Truyền Tin được thay đổi hàng tuần hoặc theo nhu cầu của Toán, của Đại Đội, nên nhiều khi nghe Toán khác báo cáo trên máy, tôi còn chẳng hiểu gì, nói chi đến Việt Cộng. Các buổi báo cáo định kỳ này rất quan trọng, nó báo cho ở nhà biết tình trạng an nguy của Toán. Nếu Toán nào mà không "đúng hẹn lại lên" vài ba lần là ở nhà sẽ lo sốt vó, gởi máy bay lên tìm ngay. Như tôi hiện tại, vì tình hình an ninh nên phải ngày nghỉ đêm đi, bốn bản công điện cho ngày hôm nay sẽ giống y chang như nhau nhưng tôi vẫn phải gởi đúng bốn kỳ hẹn sáng, trưa, chiều, tối nếu không muốn bị rắc rối. Gởi xong bản công điện, tôi đưa trả ống liên hợp lại cho Công rồi móc ba lô lấy bọc cơm sấy và lon guigoz tôm chấy ra sửa soạn cho bữa ăn sáng.
Đang tơ lơ mơ trong ánh nắng vàng nhạt nhoà của một buổi chiều thật êm ả, tôi bỗng giật mình tỉnh giấc vì những âm thanh ồn ào từ hướng khoảng rẫy văng vẳng vọng lại. Các Toán Viên khác cũng thức dậy, vội vã vểnh tai lên nghe ngóng. Tiếng người cười nói xôn xao từ từ lan dài theo con đường mòn, càng lúc càng lớn dần, đến ngang chân đồi chợt dừng lại rồi một lúc sau, có tiếng cành lá rung động sột soạt xen lẫn trong tiếng đùa giỡn tíu tít tiến về hướng chúng tôi. Không ai bảo ai, cả Toán vội vàng lăn người nằm sấp xuống nâng súng lên chĩa ra phía ngoài, sẵn sàng trong tư thế chiến đấu. Cách chúng tôi độ bốn thước, ba "chiến sĩ gái", quần áo bà ba đen bạc mầu, súng trường CKC khoác vai, đang vạch lá tiến vào đúng chỗ Toán đóng quân hồi sáng. Tìm được chỗ lý tưởng rồi, cả ba bèn tụt quần ngồi thụp xuống đất. Những âm thanh êm ái nhè nhẹ vang lên khiến tôi phải cắn chặt môi cố nén cơn cười đang ùa tới khi tôi chợt nhớ tới ý nghĩa xuyên tạc của câu Kiều "Sè sè nấm đất bên đàng. Rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh". Giải quyết xong cơn "bứt xúc", các chị em ta cùng nhau đứng dậy kéo quần lên, ra về thơi thới hân hoan. Chờ một lúc lâu cho những tiếng cười nói tắt hẳn sau phía chân trời rồi, chúng tôi mới dám thở mạnh. Sự căng thẳng đã dịu xuống, Toán lại trở về với bản chất ba trợn của những thằng lính "trời đánh không chết". Hổ lầm bầm khai pháo trước :
- "Quá đã, đm, công nhận là quá đã, thiệt tình là quá đã!"
Lượm mơ màng nhập cuộc :
- "Sao cái mông của tụi nó lại trắng quá là trắng vậy không biết nữa!"
Hoa cười cười phản đối :
- "Tao đâu có thấy trắng chút nào đâu! Đen thui thì có! Sự đời như cái lá đa. Đen như mõm chó, chém cha cái sự đời" mà mậy.
Thanh triết lý vặt :
- "Ông Lượm ổng nằm ở góc cạnh khác nên chỉ thấy bán diện là cái mông trắng thôi, còn tôi với ông nằm ở góc cạnh khác nên thấy chính diện là nguyên cái sự đời đen như mõm chó. Cuộc đời hên xui may rủi khác nhau chỉ tùy theo góc cạnh nhìn đó thôi!"
Thấy tôi cứ tủm tỉm ngồi cười ruồi, Công tấn công :
- "Chuẩn Úy, bộ ông bị nó hớp hồn rồi hay sao mà không nghe ông nói gì hết vậy?"
Tôi vẫn cười, giả bộ đưa tay xuống phía dưới :
- "Hớp hồn cái gì, teo thấy mẹ, tới giờ sờ vẫn chưa thấy nó đâu đây nè!"
Công tiếp tục tấn công :
- "Ông nhát dữ vậy sao, vậy mà cũng sợ à, uổng quá vậy!"
Tôi khẽ liếc sang phía Thạch Mỹ :
- "Ai sợ gì ba con giặc cái đó. Sợ là sợ ông Mỹ đen nhà mình chịu không nổi, nhào ra ôm đại một con là bỏ mạng cả lũ!"
Thạch Mỹ giật mình sừng sộ :
- "Ông nói gì mà kỳ vậy, tôi đâu phải là đại dâm tặc đâu mà nhào ra ôm ẩu vậy!"
Tôi cố nhịn cười, giải thích :
- "Tại hồi sáng ông đòi bắt tù binh, bây giờ nó ngồi ngay trước mặt, tôi chỉ sợ ông vẫn còn ý định đó, nhào ra bắt ẩu thôi chứ ai nói ông là đại dâm tặc hồi nào!"
Thạch Mỹ yếu ớt phản pháo :
- "Hèn chi thiên hạ kêu ông là Điên cũng phải. Ông toàn là nghĩ ba cái chuyện điên khùng quái đản gì đâu không hà!"
Tôi chuyển hướng :
- "Chuyện nhỏ, ông không nghe thằng Thanh nó vừa nói sao, điên hay không là tùy theo góc cạnh nhìn của mổi người thôi. Như chàng Công đây, lúc mọi người đang lo thấy mẹ thì chàng cứ tỉnh bơ chàng "ngủ"thì sao!"õ
Công vội vàng phản đối :
- "Ngủ hồi nào đâu! Mà ngủ cũng đâu có sao Chuẩn Úy, không ngủ như ông mới kẹt đó!"
- ". . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . "
Khi những lời bàn Thánh Thán Mao Tôn Cương về "sự cố kỹ thuật" vừa xảy ra từ từ vãn lần, tôi đưa tay lấy cái ống liên hợp trên vai Công gởi bản báo cáo buổi tối về nhà rồi lấy cơm sấy thịt rim ra ăn bửa tối. Nghỉ ngơi một lúc chờ cho trời tối hẳn, tôi mới dẫn Toán bước xuống con đường mòn. Đã lỡ chơi thì chơi luôn, tôi chia bốn toán viên tản ra đứng gác bốn góc, tôi và hai toán viên khác ngồi xuống đào lỗ chôn mấy trái mìn muỗi dài theo con đường. Trăng chưa lên nên tôi phải lục ba lô lấy cái đèn pin quân đội mua ngoài chợ trời mấy hôm trước ra soi. Cũng may lỗ nhỏ nên dễ đào, chỉ một loáng sau là mớ mìn đã nằm im dưới đất. Tôi soi đèn kiểm soát lại khoá an toàn của từng trái mìn, lấp đất, xoá dấu xong xuôi rồi ra hiệu cho Toán rút thẳng vào rừng đi tiếp. Đi miết đến khoảng quá nửa đêm, tôi chợt nghe một tiếng nổ long trời rung động cả khu rừng rồi có tiếng rít xé gió như có vật gì bị vứt mạnh lên không vang lên ở phía sau lưng. Không ai bảo ai, chúng tôi cùng dừng lại vểnh tai nghe ngóng. Một vài tràng súng AK rời rạc vang lên tiếp theo rồi im bặt, trả lại sự yên tĩnh cho rừng đêm. Tôi quay nhìn Thạch Mỹ, thì thào :
-"Rồi, một con nhạn là đà!"
Công cầm ống liên hợp nhìn tôi dò xét :
- "Chuẩn Úy, ông có báo cáo về nhà không?"
Tôi ngần ngại. Giờ này mà bật đèn lên để mã hoá bản công điện thì châm quá. Hơn nữa, báo cáo về rủi ở nhà nổi hứng bắt quay trở lại kiểm soát kết quả thì bỏ mẹ cả lũ. Thôi, để sáng mai sẽ tính, bây giờ hãy lo chuồn càng xa con đường mòn đầy mìn muỗi kia càng tốt trước cái đã. Quyết định như vậy, tôi nhìn Công lắc đầu rồi ra hiệu cho Toán tiếp tục di chuyển tới lúc trời bắt đầu hừng sáng mới kiếm bụi rậm chui vào ẩn nấp tiếp.
Vừa đọc xong hàng số chót của bản công điện báo cáo buổi sáng, chưa kịp nói chữ "hết", tôi chợt giật mình khi nghe giọng Thiếu Tá Thông, trưởng ban 3 Liên Đoàn vang vang trong máy :
- "Vũ Long đây 81".
- "81đây Vũ Long tôi nghe".
Chẳng cần mã hoá gì cả, Thiếu Tá Thông hỏi thẳng bằng bạch văn :
- "Mìn nổ hồi nào vậy?"
Đã thế thì thế luôn, tôi cũng trả lời thẳng bằng bạch văn :
- "Thưa 81, vào khoảng một giờ sáng hôm nay".
- "Tại sao giờ này anh mới báo cáo?"
Tôi chới với, nhưng cũng cố làm ra vẻ rụt rè ngây thơ :
- "Dạ, tại tôi sợ giờ đó ở nhà còn đang ngủ".
- "Trời đất, ngủ cái gì mà ngủ, anh có điên không? Thôi được rồi, bây giờ tôi cho máy bay lên coi, có gì tôi sẽ liên lạc với anh sau".
-"Vâng, chào 81".
Đưa trả ống liên hợp lại cho Công, tôi ngẩn ngơ. Kể ra thì mình cũng ngu thật. Mấy ổng nói bạch văn ào ào có sao đâu. Việc gì mà phải mỗi tí mỗi mã hoá như tôi đã làm từ hồi nào tới giờ. Nay biết rồi cũng dễ thôi, hễ cần thì tôi sẽ nói huỵch toẹt ra bằng bạch văn cho khoẻ thân. Chỉ cần mã hoá bản công điện hàng ngày, đừng cho Việt Cộng theo dõi biết được vị trí của Toán là ổn rồi.
Đang suy nghĩ vẩn vơ, tiếng động cơ trực thăng phành phạch từ xa bay tới kéo tôi trở về thực tại. Tiếng Thiếu Tá Thông lại vang vang trong ống liên hợp báo cho tôi biết là trái mìn đã phá hủy một chiếc Com măng ca (một loại xe của Cộng Sản tương đương với xe jeep của Mỹ) chứ không phải Molotova như tôi đã báo cáo (cũng tốt thôi, vì phải là thứ "kẹ" bự mới ngự Com măng ca chứ bộ đội thường tư cách gì mà rớ được tới nó. Com măng ca mà cán phải mìn chống tăng thì bự cỡ nào cũng "lìa" thôi. Chỉ tiếc là tôi không bao giờ biết được "ke" đó là ai cả). Vì tôi báo cáo quá trể nên khi máy bay lên tới nơi, Việt Cộng đã dọn dẹp sạch sẽ hiện trường, chỉ còn lại cái xác xe nằm trơ giữa rừng, Liên Đoàn không khai thác thêm được gì (nếu tôi báo sớm, chẳng lẽ ở nhà sẽ thẩy Xung Kích xuống sao? Như vậy Toán còn lãnh đủ nữa : đêm hôm phải mò mẫm tìm bãi đáp, hướng dẫn Xung Kích tới điểm, đánh đấm ầm ầm, lục soát tịch thu tài liệu, chiến lợi phẩm xong rồi Xung Kích ra về, Toán lại. . . tiếp tục công tác! Thôi, chả ham!) Sẵn trực thăng đang quần trên đầu, tôi cho Toán chiếu kính, phất pa nô để xác định lại điểm đứng và báo cáo luôn về mấy tiếng nổ của mìn muỗi mà tôi vừa nghe thấy. Sau cùng, tôi hỏi dò Thiếu Tá Thông là bây giờ Toán sẽ làm gì. Câu trả lời rất đơn giản, y như tôi đã biết trước : tiếp tục công tác cho hết kỳ hạn bị phạt!
Tiếp tục thì tiếp tục, sợ gì mà không tiếp tục, nhưng tôi biết chắc là từ giờ trở đi, Toán phải hết sức cẩn thận vì những dấu hiệu tố cáo sự hiện diện của Toán đã quá rõ rệt : mìn nổ lung tung, trực thăng vần vũ trên đầu cả tiếng đồng hồ và nhất là địa hình khu vực Toán đang đi tới càng lúc càng trở nên đe doạ hơn. Những đường mòn chằng chịt khắp nơi, những sợi dây cáp điện thoại nằm lẫn trong lùm bụi, những mái tranh thấp thoáng ẩn hiện trong bóng đêm đã cho tôi biết là tôi đang nằm ngay trong mật khu của tụi nó. Hướng di chuyển của Toán đã được ở nhà vạch sẵn, đi sai là có chuyện liền nên tôi chỉ còn cách tự an ủi : "Ông trời hay thương người, chắc không đì mình đâu. Còn người đì thì đâu có sao, cùng lắm là. . . chạy thôi".
Một ngày như mọi ngày (của Toán Phạt) rồi cũng đi qua. Đêm lại về, tôi đợi cho trời thật tối mới bắt đầu cho Toán tiếp tục di chuyển sau khi đã xoá dấu thật kỹ càng vị trí vữa đóng quân. Đến khoảng hai giờ sáng thì Toán bước đến một cánh rừng thưa rải rác đây đó những mái tranh đen thui nằm im lìm trong ánh trăng mờ ảo. Tôi cho Toán dừng lại, bố trí quan sát nghe ngóng một lúc rồi bẻ góc dẫn Toán đi bọc sang phía hông của khu rừng. Vừa đi được một khoảng ngắn, những con đường mòn tua tủa từ trong khu rừng toả ra lan đi khắp nơi đập mạnh vào mắt tôi khiến tôi lại đổi ý, cho Toán dừng chân chôn hết số mìn muỗi còn lại trong ba lô xuống đất. Mất gần cả giờ đồng hồ cho việc chôn mìn nên sau đó, vừa đi thêm được khoảng một hai cây số nữa là trời bắt đầu sáng, tôi lại phải lo tìm bụi rậm cho Toán chui vào ẩn nấp.
Những tiếng gà gáy inh ỏi rung động cả khu rừng đã đánh thức tôi dậy ngay vào lúc tôi vừa mới bắt đầu thiu thiu ngủ. Nằm yên lặng tại chỗ, tôi lắng tai nghe ngóng một hồi lâu nhưng vẫn không định hướng được nơi phát xuất vì tiếng gáy vang vọng khắp bốn phương tám hướng. Ngạc nhiên vô cùng, tôi tự nghĩ chắc mình đang nằm giữa một trung tâm nuôi gà nên khi mã hoá bản công điện cho buổi sáng, tôi báo cáo là đã khám phá ra một "trại gà tăng gia" của Việt Cộng. Chữ này không có sẵn nên tôi phải lật trang cuối của bản Đặc Lệnh Truyền Tin ra để mã hoá từng mẫu tự. Vừa gởi xong hàng số chót của bản công điện và chữ "hết", chưa kịp bỏ ống liên hợp xuống, tôi lại nghe tiếng Thiếu Tá Thông oang oang trong máy :
- "Vũ Long đây 81".
- "81 đây Vũ Long tôi nghe".
Tôi nghe tiếng Thiếu Tá Thông cười nhỏ trong máy trước khi hỏi, giọng diễu cợt :
- "Làm sao anh biết là "trại gà tăng gia" của tụi nó?"
Chán mấy ông này thật. Sợ bị lộ vị trí, tôi đã phải cầy cục mã hoá bốn chữ mười ba mẫu tự đó, rốt cuộc cũng như không. Thôi thế thì thôi, tôi cũng bạch văn luôn vậy :
- "Thưa 81, tôi đoán thế vì nghe tiếng gà gáy tứ tung khắp nơi".
- "Anh có chắc là trại gà không? Coi chừng là gà rừng đó!"
- "Thưa 81, tôi nghĩ là gà nhà vì gà rừng nó gáy khác, vả lại ở đây làm gì có gà rừng!"
Tôi lại nghe Thiếu Tá Thông cười trong máy :
- "Thôi được rồi, anh liệu mà đi cho lẹ khỏi cái "trại gà" đó đi, đừng có ham ăn gà mà cứ lẩn quẩn ở đó mãi nhá!"
- "Vâng, chào 81".
(Sau này, khi bị bắt làm tù binh vào đầu năm 75, sống chung đụng với bọn Việt Cộng, tôi mới thấy mình quả thật là ngu, bị cười cho là phải. Làm gì có chuyện "trại gà tăng gia". Gà là của tụi Bộ Đội sống chui rúc lâu ngày trong mật khu tự túc nuôi để cải thiện, mỗi đứa vài con mà đứa nào cũng nuôi nên mới có chuyện gà gáy tứ tung rân trời như vậy).
Nhét bản Đặc Lệnh Truyền Tin và cuốn sổ tay vào túi xong, đang cài nút lại, chợt nghe Thạch Mỹ bật khoá an toàn khẩu M.16 đánh cách một tiếng, tôi vội quay sang thì thào hỏi nhỏ :
- "Chuyện gì vậy Mỹ!"
Mắt vẫn đăm dăm hướng về cái lỗ chó Toán vừa vạch ra để chui vào đây, Thạch Mỹ khẽ trả lời :
- "Có, hai thằng đang bò về phía mình!"
Tôi chồm tới nhìn theo hướng mắt của Thạch Mỹ. Bụi cỏ hôi (còn có tên là bù xít hay cứt lợn, một loại cây bụi rậm thân xốp nhỏ như chiếc đũa rất dòn và dễ gẫy) Toán đang ẩn nấp khá um tùm nên tôi chỉ thấy cành lá đan nhau quấn quít chằng chịt thôi chứ chẳng thấy gì lạ cả. Quay lại thấy Thạch Mỹ đang từ từ nâng súng lên vai, tôi vội vã ngăn cản :
- "Nằm im đi Mỹ!"
- "Không được, nó thấy mình rồi!"
Chưa nói dứt câu, Thạch Mỹ đã bóp cò. Tiếng súng chát chúa nổ vang như sấm động giữa rừng và tiếng rú thất thanh của kẻ bị trúng đạn khiến các Toán Viên đang nằm tơ lơ mơ giật mình hoảng hốt chồm dậy phóng ào về phía trước. Tôi và Thạch Mỹ cũng vội nhào theo, bỏ lại sau lưng những tràng AK bắn trả cùng tiếng quát tháo ầm ỉ của tên Việt Cộng đồng bọn. Cắm đầu bương đại vào rừng cỏ hôi dầy đặc, không cần để ý đến phương hướng, đội hình cũng như che dấu tiếng cành lá đang thi nhau gẫy vỡ răng rắc dưới chân, Toán chạy thẳng một mạch đến khi hơi hoàn hồn mới bắt đầu chậm bước lại. Nghe tiếng la hét còn văng vẳng phía sau, tôi bực mình quay sang Lượm, xạ thủ M.79 :
-"Lượm, ông dọng cho tôi vài trái ra phía sau cho nó câm họng lại dùm coi!"
Lượm ngần ngại nhìn tôi rụt rè :
- "Chuẩn Úy! Bắn vậy sợ mình bị lộ vị trí mất!"
Không dám bắn thì thôi, tôi cũng không ép, nhưng nói đến việc lộ vị trí, tôi mới chợt nhớ ra. "Con đường mang tên em" Toán vừa vạch qua rừng cỏ hôi còn nằm sờ sờ ngay đó, nhắm mắt Việt Cộng cũng theo được tới nơi nên tôi phải lo mà đánh lạc hướng địch gấp. Tôi liền cho Toán nằm bò xuống đất tiếp tục làm chó, len lỏi chui giữa những gốc cỏ hôi chi chít. Thanh đi đầu phải cố gắng nhẹ tay tối đa để đừng làm gẫy cành lá và Thạch Mỹ bò sau cùng phải lo xoá dấu cho thật kỹ lưỡng. Lê lết như vậy khoảng hơn một giờ thì ra khỏi khu vực cỏ hôi, rừng cây trở lại bình thường, tôi cho Toán đứng dậy sắp lại đội hình, định lại hướng tiến rồi tiếp tục di chuyển thật nhẹ nhàng. Đi được thêm khoảng nửa giờ nữa, Toán bước tới ven bìa một trảng tranh lớn, điểm lác đác đây đó dăm ba lùm cây khá um tùm. Cho Toán dừng lại bố trí trong một lùm cây sát bìa rừng, tôi bốc máy báo cáo về là Toán đã bị bể và xin được triệt thoái. Lần này, tôi gặp Đại Úy Huyên đang bay hành quân. Ông cho biết là khoảng nửa giờ nữa, khi xong việc bên này, ông sẽ qua bên tôi liền.
Yên tâm được một chuyện rồi, tôi nhìn quanh duyệt lại tình hình. Cái trảng tranh mênh mông trước mặt dư sức để làm bãi đáp rồi, chỉ có phía sau lưng là rừng thì hơi "lạnh", không biết Việt Cộng nó ào ra lúc nào, chi bằng mình ra giữa bãi nằm để nhìn được bốn hướng cho chắc ăn. Nghĩ vậy nên tôi cho Thanh thận trọng từng bước dò dẫm tiến về một lùm cây gần nhất, cách tôi độ ba chục thước xế xế về mé tay phải để làm đầu cầu. Khi Thanh đã đến nơi quì xuống chong súng bố trí xong xuôi rồi, tôi bắt đầu tiếp bước, nhưng vừa đi được gần nửa đoạn đường, những tiếng la hét chợt vang lên ầm ĩ khiến tôi sững người. Bây giờ tôi mới thấy rỏ khoảng hơn trăm thước về mé tay trái của tôi, ven theo bìa cỏ tranh là một rẫy khoai mì lớn đầy những bóng đen lố nhố đang lao xao chạy tới chạy lui chỉ trỏ. Một bóng đen chợt vung tay ném một vật đen đen về phía tôi. Nhận ra đó là một trái "bê ta", một loại lựu đạn nội hoá của Việt Cộng, tôi vội bay người nằm dài xuống đất. Tiếng nổ vừa dứt, tôi liền chồm dậy nâng súng lên bật khoá an toàn bóp cò đáp lễ. Đến lượt những bóng đen nhào xuống nằm dài dưới đất. Trong lúc khẩn cấp, chỉ kịp bật chốt bán tự động thôi nên ngón tay tôi phải gõ liên tục trên cò súng để duy trì nhịp bắn, nhưng nhờ vậy mà Thanh mới có đủ thời gian chạy ngược về vị trí cũ. Dứt hết băng đạn ba mươi viên, tôi cũng vội vã thụt lui ra phía sau.Lúc này, Thạch Mỹ đã dẫn Toán chạy dạt vào một lùm cây khác xế mé trái của lùm cây cũ độ hai chục thước. Sẵn đà, tôi phóng người chạy theo rồi nhào đại vào giữa lùm. Khi nghe ầm một tiếng rồi thấy người ướt nhẹp, tôi nhìn lại mới biết mình đang đứng giữa một hố bom đầy nước mưa, có lẽ là của B.52 vì hố khá lớn, gần năm thước đường kính, cây chỉ mọc thành một lớp mỏng ven theo chu vi của hố.
Không "happy" lắm khi bị tắm "piscin"một cách bất đắc dĩ như vậy nhưng nước lạnh cũng giúp cho tôi tỉnh táo thần hồn được phần nào. Leo trở lên bờ, tôi cởi ba lô đổi cho Công, còn đang ngồi cười, lấy máy truyền tin đeo vào người (đây là một kinh nghiệm "thủ cẳng" do các Toán Trưởng đàn anh truyền lại, vì khi Toán bị bể, các Toán Viên hay chạy theo người mang máy là kẻ có khả năng liên lạc được với trực thăng, chứ ít khi chạy theo Toán Trưởng). Giao cho Thạch Mỹ nhiệm vụ rải Toán vòng quanh hố bom để canh gác, tôi bốc máy báo cáo với Đại Úy Huyên là Toán lại chạm địch lần thứ hai và xin được triệt xuất gấp. Đại Úy Huyên cho tôi biết là ông đã xong việc bên đó rồi nhưng còn phải về nhà uống nước (đổ xăng) rồi mới qua bên tôi được. Trời đất, giữa lúc dầu sôi lửa bỏng này mà còn đủng đỉnh về nhà ăn bánh uống nước thì có chết người không chứ !!!!
Rên rỉ thì cũng chẳng làm gì hơn được, tôi gác máy rồi vạch lá nhìn ra ngoài. Vừa quét mắt về phía rẫy mì, tôi điếng hồn liền. Đông gấp bội lúc trước nhờ được tăng cường thêm bộ đội chính qui, đám Việt Cộng, AK súng trường lăm lăm trên tay, đang dàn hàng ngang từ đầu rẫy tới cuối rẫy, từ từ tiến tới lục soát từng lùm cây, từng bụi rậm. Không biết mặt mũi tôi ra sao chứ khi tôi quay lại nhìn các Toán Viên thì người nào người nấy đều tái mét. Ngay Thạch Mỹ, bình thường mặt đen như lọ chảo bây giờ cũng trắng bệt không còn hạt máu. Không hốt hoảng như hồi sáng nữa nhưng sự kinh hoàng khiến cả Toán như bị tê liệt, không có phản ứng gì. Tôi nhìn Thạch Mỹ, Thạch Mỹ nhìn tôi, bốn mắt nhìn nhau chẳng nói một câu. Thấy tay Thạch Mỹ đang nhồi nhồi trái M.26, tôi hội ý, cũng móc lựu đạn rút kíp rồi ra dấu cho các Toán Viên khác làm theo. Khi hàng quân địch lục soát xong lùm cây sát bìa rừng và bắt đầu tiến dần về cái hố bom Toán đang ẩn núp, tôi vung tay ném mạnh trái lựu đạn và hô lớn "Xung phong" (Dân Thám Sát chúng tôi rất ít khi đánh kiểu "tapi" như các binh chủng khác nên khẩu lệnh "Xung phong" đối với Toán có nghĩa là. . . "rút lui"). Sáu cái mồm còn lại cũng ngoạc ra hét tiếp "Xung phong", sáu cánh tay vung lên, rồi cả Toán cùng phóng người vọt ra khỏi hố bom, chạy tiếp về mé trái.
Bẩy trái M.26 nổ liên tiếp đã cho Toán tạm đủ thời gian để vượt qua con đường mòn nằm sát bên hố bom và tiến sâu vào khu rừng bên cạnh. Như một bàn chông khổng lồ, khu rừng này chỉ toàn những thân cây cổ thụ trơ trụi đã cháy hết cành lá vì bom napalm, lố nhố đen đủi chọc thẳng lên trời xanh. Mặt đất, vì ảnh hưởng của thuốc khai quang, chỉ mọc đầy cỏ tranh vàng úa cao ngang bụng. Không chổ ẩn nấp, Toán phải khom lưng rùn người cố gắng đi cho thật lẹ. Đi được một lúc, nghe tiếng Đại Úy Huyên léo nhéo trong ống liên hợp, tôi vội vàng bốc máy báo cáo tình hình. Đại Úy Huyên cho biết là trực thăng đang vào vùng rồi yêu cầu tôi chiếu kính và phất pa nô để xác định vị trí. Vừa lúc đó thì tiếng phành phạch quen thuộc của cánh quạt trực thăng bắt đầu vang lên, tôi vội cho Toán tản ra quì xuống bố trí, Thạch Mỹ phất pa nô và chính tay tôi chiếu kính cho chắc ăn. Vừa nghe Đại Úy Huyên nói : "Tôi thấy anh rồi. . " thì tôi cũng nghe luôn một tràng AK nổ vang và tấm pa nô, nằm cao hơn ngọn cỏ tranh chút xíu, bị đạn giật văng khỏi tay Thạch Mỹ. Không ai bảo ai, cả Toán cùng bung lên chạy tiếp. Bây giờ thì gần như bốn hướng tám phương đều có bóng người, tiếng la hét hoà với tiếng súng vang rền như pháo tết Mậu Thân. Nhắm đại một hướng tương đối êm ả, tôi dẫn Toán tràn tới mới thấy mình đang chạy giữa một trảng trống nhỏ rộng độ ba trăm thước mà rừng cây như cái móng ngựa đầy Việt Cộng bao bọc chung quanh. Bẻ hướng về phía chân trời sáng lạng xa xa, Toán cắm đầu phóng miết, mặc cho đạn từ ba phía bắn như đan lưới. Chạy được một hồi gần tới chổ hở của cái móng ngựa rồi, tôi bỗng nghe Hoa hào hển gọi giật giọng:
- "Chuẩn Úy, nghỉ một chút đi Chuẩn Úy!"
Không quay đầu lại, tôi gắt :
-"Mẹ, chạy đi, nghỉ cái gì, muốn chết hả? Ra tới giữa trảng rồi hãy nghỉ!"
Tiếng Hoa trở nên gấp rút :
- "Tụi nó nghỉ hết rồi Chuẩn Úy ơi!"
Tôi vội dừng bước, quay đầu nhìn lại thì thấy cả Toán đã kéo nhau vào ngồi dựa một gò mối khá lớn cách tôi độ năm thước. Chạy ngược trở lại gò mối, tôi quát lên :
- "Đứng dậy chạy tiếp. . . . . "
Chưa quát hết câu, liếc mắt thấy vật gì đen đen từ phía cánh rừng bên hông phải bay vụt tới, tôi vội la : "Lựu đạn!" rồi chúi người xuống đất. Vừa dứt tiếng nổ, tôi chồm ngay dậy nâng súng lên bắn trả nhưng bóp cò thấy cứng ngắc, tôi mới chợt nhớ ra là nãy giờ lu bu, tôi vẫn chưa thay băng đạn mới! Lúng túng, tôi quay qua Toán thì thấy, thấp thoáng trong làn khói trắng mờ mờ, các Toán Viên của tôi đã bung chạy từ lúc nào rồi. Thôi thế thì thôi, tôi lại co giò phóng tiếp.
Ra khỏi cái móng ngựa, một khung trời bao la bát ngát mở rộng ra trước mắt tôi. Không biết vì bom Napalm hay do Việt Cộng đốt để làm rẫy mà cả một cánh đồng mênh mông không còn một gốc cây ngọn cỏ nào, kể cả cỏ tranh. Mặt đất phủ đầy một lớp tro xám dầy gần cả tấc chạy dài đến tận chân trời, ngổn ngang gò mối nhấp nhô đây đó như những hòn đảo chơ vơ nằm giữa đại dương. Bây giờ hình như là bao nhiêu Việt Cộng ở trong mật khu đều kéo tới tụ tập đầy nghẹt mấy bìa rừng sau lưng tôi, nhưng chắc sợ trực thăng đang quần trên đầu nên không tên nào dám chui ra rượt theo Toán, chỉ núp tại chổ mà bắn vãi ra như mưa rào. AK, CKC, B40, B41, có gì chơi được là bọn chúng mang ra chơi cho bằng hết. Người như mê đi, đầu óc tê dại quên cả sợ hãi, tôi cứ cắm đầu chạy càn giữa trăm ngàn tiếng nổ tiếng rít đủ loại vang lộng bên tai. May nhờ bụi tro hoà với khói đạn bốc lên mịt mù che khuất thị trường, thêm tài thiện xạ của bọn Việt Cộng chắc cũng tương đương với tôi nên chúng bắn mãi mà đạn chỉ trúng mấy gò mối chung quanh Toán mà thôi.
Chạy miết một hồi ra khỏi tầm đạn rồi, cả Toán mệt nhoài lăn quay ra đất. Vừa thở hào hển, tôi vừa đưa mắt nhìn một vòng. Thấy chỉ còn có sáu người, tôi hoảng hốt hỏi trổng :
- "Thằng Hổ đâu?"
Thanh đang nhăn nhó nâng niu cánh tay trái đẫm máu, nghe hỏi liền lên tiếng :
- "Nó ôm nguyên trái bê ta banh thây tại chổ rồi!"
Tôi hỏi gặn :
- "Mày có chắc không đó!"
Thanh quả quyết :
- "Chắc chứ, em ngồi sát cạnh nó mà!"
Tôi nhìn ngược về cánh rừng phía xa mà rầu rỉ. Chịu! Đành phải bỏ thôi chứ làm sao trở lại lấy xác Hổ ra cho nổi. Đã biết là ở trong cái binh chủng "đi mây về gió (đi có về không, đi đông về ít)" này, chết mất xác là sự thường, "cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi" chỉ làm cho mầu mũ xanh rừng thẳm đầy huyền thoại của đơn vị thêm bi hùng, đã có sức chơi thì dĩ nhiên phải có sức chịu, nhưng đến bây giờ tôi mới thấm thía hết được nỗi xót xa khi mất một chiến hữu của mình. Quay qua nhìn Toán, tôi lại càng rầu hơn. Máu me tơi tả, rách nát xác xơ : Thạch Mỹ bay mấy miếng da trên cổ, Thanh gẫy tay, Công và Lượm mỗi người ôm mấy mảnh vào lưng, tôi và Hoa cũng bị trầy xước tứ tung. Tất cả đều do trái "be âta" tai hại ở gò mối gây ra. Tức thật, chạy khơi khơi giữa làn mưa đạn không sao, ngồi xuống nghỉ làm chi để lãnh đủ. Nhưng đã lỡ rồi, nói gì thì cũng vậy thôi, tôi đành dặn Hoa lấy băng cứu thương ra băng cho những người bị nạn rồi đưa tay lôi cái ống liên hợp đang nằm lăn lóc dưới đất lên để liên lạc với Đại Úy Huyên (cái ống liên hợp này tôi vẫn gài trên dây ba chạc, không biết rơi ra từ lúc nào rồi bị kéo lê theo tôi suốt cuộc "chạy hoả lực", dính đầy tro bụi mà vẫn hoạt động. Đúng là đồ của Mỹ tốt thật!)
Nghe tiếng tôi gọi, Đại Úy Huyên mừng rỡ hỏi han rồi vội vã bảo tôi "nháy mắt" ngay để trực thăng biết vị trí mà xuống bốc. Một tay cầm ống liên hợp, tay kia lắc nhẹ cái kính chiếu hướng về hai con tầu đang quần vòng vòng trên đầu, tôi vừa nghe Đại Úy Huyên la lên : "Tôi thấy anh rồi!" là chiếc "Slick"của Trung Úy Bình đã chơi ngay một đường "bình sa lạc nhạn" xà xuống ngay trước mặt tôi. Càng trực thăng chưa chạm đất, Toán đã ở hết trên sàn rồi. Vừa yên vị, tôi lắp ngay một băng đạn mới rồi xả "ra phan" xuống cánh rừng đang chìm dần dưới chân như muốn trút hết cơn muộn phiền đang chất chứa trong lòng. Hoa và Công cũng nối gót, xách súng bắn túi bụi xuống đất cho đến khi phi cơ bay tít lên cao mới thôi (đây cũng là một kinh nghiệm "thủ cẳng" khác : về nhà rủi Ban 2 hưởi nòng súng rồi hỏi sao "đụng mà không có mùi khói gì hết vậy thì hơi khó trả lời!")
Sáu giờ chiều Toán mới về đến Suối Máu. Sau khi giao ba lô súng đạn lại cho Trung Sĩ Nhất Mạnh, Thường Vụ Đại Đội, đang đứng chờ sẵn, Thạch Mỹ, Thanh, Công và Lượm liền được xe cứu thương của Liên Đoàn đưa thẳng ra Bệnh Viện Dã Chiến của Quân Đoàn 3 ngoài cầu Săn Máu. Tôi và Hoa còn đang tần ngần nhìn theo đám bụi mù thì chiếc C & C của Đại Úy Huyên tà tà đáp xuống. Vừa nhảy ra khỏi trực thăng là Đại Úy Huyên đã cười cười nhìn tôi :
- "Tôi tưởng anh tiêu rồi chứ!"
Không thấy tôi trả lời, ông tiếp tục cười cười phịa thêm :
- "Anh chạy lẹ thiệt, từ đám khói trắng đến chổ trực thăng đón anh có đến ba bốn cây số mà anh chạy chỉ có mười mấy phút thôi, đi dự Thế Vận Hội được rồi đó!"
Thấy tôi vẫn lừ đừ im lặng, mặt mũi ngơ ngáo như kẻ mất hồn, ông nản chí kết thúc câu chuyện :
- "Thôi, anh về Đại Đội tắm rửa rồi nghỉ ngơi đi!"
![]() |
| Thô canh phòng biên giới giáp Iran |

Thông thường, mỗi thành phố được chia thành nhiều địa hạt (district). Cử tri trong mỗi địa hạt sẽ bầu ra một nghị viên để đại diện cho tiếng nói của họ. Ví dụ: ông nghị viên B được bầu tại khu vực A, thì trước hết và trên hết, ông B phải là người đại diện trực tiếp cho cư dân của khu vực A.
Nhiệm vụ của một nghị viên thành phố có thể tóm lược trong ba trách nhiệm chính.
Thứ nhất: đại diện cho cử tri.
Người nghị viên phải lắng nghe ý kiến, nguyện vọng và những khó khăn của cư dân trong địa hạt đã bầu mình. Những vấn đề như an ninh khu phố, giao thông, nhà ở, vệ sinh môi trường, phát triển cộng đồng hay các dịch vụ công cộng đều là những điều mà cư dân mong muốn nghị viên của họ lên tiếng tại hội đồng thành phố.
Thứ hai: tham gia hoạch định chính sách địa phương.
Một nghị viên không chỉ phát biểu mà còn tham gia bỏ phiếu đối với các nghị quyết, ngân sách và chính sách của thành phố. Những quyết định này có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của cư dân. Vì vậy, mỗi lá phiếu của họ phải phản ánh lợi ích chung của thành phố, đồng thời không quên trách nhiệm bảo vệ quyền lợi của khu vực đã bầu ra mình.
Thứ ba: giữ mối liên hệ thường xuyên với cộng đồng.
Một nghị viên đúng nghĩa phải luôn hiện diện trong sinh hoạt của cư dân địa hạt mình: gặp gỡ cử tri, tham dự các buổi họp khu phố, tiếp nhận phản ánh của người dân và giúp chuyển tải những vấn đề đó đến chính quyền thành phố. Nếu một nghị viên sau khi đắc cử mà xa rời cử tri, chỉ xuất hiện trong những dịp chính trị hay vận động hình ảnh cá nhân, thì đó là dấu hiệu của một nền đại diện không trọn vẹn.
Điều cần nhấn mạnh là: một nghị viên được bầu bởi một khu vực cụ thể, vì vậy trách nhiệm đạo đức và chính trị của họ trước tiên phải hướng về cử tri của khu vực đó. Họ dĩ nhiên phục vụ cho toàn thành phố, nhưng không thể quên rằng chiếc ghế của họ tồn tại chính nhờ lá phiếu của cư dân trong địa hạt đã bầu ra mình.
Trong một nền dân chủ trưởng thành, mối quan hệ giữa nghị viên và cử tri là mối quan hệ hai chiều:
cử tri trao lá phiếu – và nghị viên phải trao lại trách nhiệm, sự minh bạch và sự phục vụ.
Bởi vì trong dân chủ, chức vụ không phải là đặc quyền của người được bầu – mà là nghĩa vụ đối với những người đã tin tưởng trao lá phiếu.
Điều gì xảy ra khi một nghị viên sau khi đắc cử lại quên khu vực đã bầu mình?
Khi đó, chiếc ghế đại diện bắt đầu mất ý nghĩa. Cử tri địa phương – những người trực tiếp đối diện với các vấn đề về an ninh, giao thông, nhà ở, môi trường và sinh hoạt cộng đồng – lại không còn thấy tiếng nói của mình được phản ánh trong hội đồng thành phố. Thay vào đó, nghị viên có thể xuất hiện nhiều ở những nơi khác, tham gia những sinh hoạt không liên quan trực tiếp đến địa hạt của mình, hoặc chạy theo những tính toán chính trị rộng hơn.
Một nghị viên có thể phục vụ cho toàn thành phố, nhưng không thể quay lưng với khu vực đã bầu ra mình. Bởi vì chính khu vực đó đã trao cho họ quyền bước vào nghị trường.
Trong nền dân chủ địa phương, sự đại diện phải bắt đầu từ trách nhiệm gần nhất: khu phố, cộng đồng và cư dân của địa hạt mình. Nếu một nghị viên không còn gắn bó với cử tri của khu vực đã bầu họ, thì câu hỏi đặt ra không chỉ là vấn đề hiệu quả làm việc – mà còn là vấn đề chính danh của sự đại diện.
Bởi vì trong chính trị dân chủ, một sự thật rất đơn giản luôn tồn tại:
Lá phiếu của cử tri không phải là tấm vé để bước vào quyền lực.
Đó là lời nhắc nhở rằng người được bầu phải luôn nhớ mình đang phục vụ cho ai.
KHI LỜI HỨA BẦU CỬ CHỈ CÒN LÀ KHẨU HIỆU

Trong trường hợp của một ứng cử viên gốc Việt tại thành phố A ở California, khi bước vào cuộc tranh cử ông còn đưa ra một yếu tố đặc biệt: ông tuyên bố mình mang lập trường quốc gia, tôn trọng di sản của cộng đồng Việt tị nạn cộng sản, và xem lá cờ vàng ba sọc đỏ như biểu tượng tinh thần của cộng đồng. Chính nhờ lập trường ấy mà nhiều đồng hương đã nhiệt tình ủng hộ, vận động, đóng góp công sức và niềm tin để giúp ông bước vào chiếc ghế nghị viên.
Nhưng điều khiến nhiều người thất vọng là: sau khi đắc cử, những lời hứa ấy dần biến mất.
Không những không thực hiện những điều đã cam kết với cử tri – từ vấn đề an ninh khu phố cho đến những vấn đề dân sinh – vị nghị viên này còn tuyên bố rằng chiến thắng của ông không phải nhờ lá phiếu của cộng đồng Việt tị nạn. Lời nói ấy chẳng khác nào phủ nhận sự đóng góp của chính những người từng đứng ra giúp ông trong cuộc vận động bầu cử.
Chưa dừng lại ở đó, thay vì gắn bó với cộng đồng đã nâng đỡ mình, ông lại xuất hiện trong những mối quan hệ giao tế khác: giao du với những nhóm làm ăn liên quan đến chính quyền cộng sản trong nước, quảng bá những hoạt động thương mại mà nhiều người trong cộng đồng tị nạn cảm thấy không phù hợp với lập trường mà ông từng nêu ra khi tranh cử.
Thái độ đó đã gây nên sự bất mãn rộng rãi trong cộng đồng. Mâu thuẫn còn lên cao khi chính vị nghị viên này đưa một số cử tri – những người từng vận động cho ông – ra tòa án. Cuối cùng, vụ kiện ấy không thành công vì thiếu chứng cứ, và tòa án phán quyết bất lợi cho ông.
Từ câu chuyện này, một câu hỏi tự nhiên được đặt ra:
Một người tranh cử bằng lời hứa, bằng biểu tượng và bằng niềm tin của cộng đồng, nhưng sau khi đắc cử lại quay lưng với chính những điều đó – thì người đời gọi đó là loại nghị viên gì?
Trong ngôn ngữ chính trị, người ta thường gọi đó là một nghị viên thất tín – người đã không giữ lời hứa với cử tri. Cũng có người gọi đó là nghị viên cơ hội, bởi vì họ sử dụng lập trường hay biểu tượng của cộng đồng như một phương tiện để đạt được chiếc ghế quyền lực.
Trong nền dân chủ, cử tri có quyền lựa chọn – nhưng cử tri cũng có quyền đánh giá và ghi nhớ. Bởi vì cuối cùng, quyền lực của một nghị viên không nằm ở chiếc ghế trong hội đồng thành phố, mà nằm ở niềm tin của những người đã bầu ra họ.
Khi niềm tin ấy bị đánh mất, thì chức vụ dù còn đó, nhưng uy tín chính trị đã không còn nguyên vẹn nữa.
Duy Văn
(Editor – in – Chief of California Magazine)