

THÁNG TƯ BUỒN
Tháng Tư về gió lạnh ngang hiên,
Lòng ta se thắt nỗi ưu phiền.
Quê hương từ độ cơn binh lửa,
Tan tác trời Nam khói ngả nghiêng.
Tháng Tư còn đó tiếng quân hành,
Mà nay sông núi phủ điêu linh.
Cờ vàng gục xuống trong chiều tối,
Nước mắt bao người chảy lặng thinh.
Mẹ già ôm ảnh con xa xứ,
Vợ trẻ ôm con lệ nghẹn ngào.
Người đi biền biệt phương trời lạ,
Kẻ ở âm thầm nuốt đớn đau.
Biển lớn năm nào thuyền vượt sóng,
Bao thân chìm nổi giữa phong ba.
Tự do đổi lấy bằng xương máu,
Ngàn dặm tha hương nhớ mái nhà.
Tháng Tư ta thắp niềm thương nhớ,
Cho những đời trai bỏ chiến bào.
Cho những mồ sâu không bia đá,
Cho người tù ngục bạc thân hao.
Tháng Tư dù đã xa năm tháng,
Vết cũ trong tim vẫn chưa nhòa.
Đêm đêm nghe tiếng hồn sông núi,
Gọi kẻ lưu vong nhớ nước nhà.
Mai này nếu có ngày quang phục,
Xin dựng quê hương lại đẹp tươi.
Xin trả non sông về chính nghĩa,
Cho dân thôi khóc những dòng đời.
Tháng Tư còn đó lời ai oán,
Theo gió u buồn mãi chưa tan.
Tháng tư chậm ru niềm quốc hận,
Ngàn năm còn vọng tiếng than van.
Duy Văn Hà Đình Huy
Kính thưa quý vị,--
Hằng năm, đến ngày 30 tháng 4, người Việt quốc gia, nhất là người Việt tị nạn Cộng sản đau buồn tổ chức lễ tưởng niệm ngày Quốc Hận cũng như tưởng niệm Tháng Tư đen. Ðó là ngày mà Cộng sản Bắc Việt xé bỏ Hiệp Định Hòa Bình Paris 1973, tấn công cưỡng chiếm Việt Nam Cộng Hòa. Sự kiện đó không thể bị bóp méo, không thể bị tô hồng, và càng không thể bị lãng quên.
Người Việt tị nạn cộng sản cử hành Lễ tưởng niệm ngày Quốc hận rất trang trọng để nhắc nhở nhau nỗi đau mất nước, nhắc nhở nhau nuôi dưỡng ngọn lửa đấu tranh để chờ ngày giải cứu quê hương. Bởi vì chúng ta đều biết không có một chế độ độc tài nào có thể trường tồn trên đất nước Việt Nam. Vì vậy chế độ Cộng sản vô thần cũng chỉ là một sự hiện diện tạm thời trên đất nước, quê hương.
Mấy năm trước, Quốc hội tiểu bang California đã ra văn thư công nhận tháng 4 là Tháng Tư đen cuả người Mỳ gốc Việt. Và gần đây nhất quận hạt Santa Clara cũng công nhận tháng 4 là Tháng Tư Ðen và đồng ý cho treo cờ rủ VNCH trên cột cờ của quận hạt trong suốt tháng 4.
Sự việc gọi ngày 30 tháng 04 là ngày Quốc hận cũng như tháng tư là Tháng Tư Ðen ít nhiều cũng làm tổn hại ý nghĩa ngày "chiến thắng" của Đảng cộng sản VN, vì thế chắc chắn là chúng sẽ tìm cách phá hoại các sự kiện này.
Trong quá khứ đã có một số cá nhân và hội đoàn không hiểu vì lý do gì đã đề nghị lấy tên ngày Quốc hận là Ngày Hành trình tìm Tự do của người Việt và đề nghị này đã bị phản đối dữ dội. Ai quan tâm hay sinh hoạt cộng đồng cũng đã biết những sự kiện này.
Nhiều bài viết đã đưa lên, lý luận rằng làm như vậy chỉ làm nhẹ đi ý nghĩa của ngày Quốc hận của Tháng Tư đen và như thế vô tình làm lợi cho Cộng sản Việt Nam bởi vì họ không muốn ngày "chiến thắng" của họ lại trở thành ngày Quốc hận đau buồn cho người dân Việt Nam.
Gần đây Nghị viên Biên Ðoàn của Thành phố San Jose, đề nghị tháng tư là tháng Di sản của người Mỹ gốc Việt. Theo ý cá nhân tôi sự việc này cũng sẽ làm nhẹ ý nghĩa của Tháng Tư đen của người Việt tị nạn Cộng sản.
Theo tôi, sự việc đề nghị những tên khác có thể có nhiều lý do:
1- Không sinh hoạt cộng đồng thường xuyên không hiểu rõ nguyện vọng của người Việt tị nạn Cộng sản và ý nghĩa của ngày Quốc hận và Tháng Tư đen.
2- Vô tình hay cố ý làm lợi cho Cộng sản bằng cách làm nhẹ đi sự đau thương của dân tộc trong ngày CSBV cưỡng chiếm VNCH.
3- ...Dẫu cho vì lý do gì đi nữa, thì tôi cũng mong những người đại diện cho người Mỹ gốc Việt phải cẩn thận hơn khi muốn đổi tên hay có những đề nghị trùng lập tên của ngày Quốc hận hay Tháng Tư đen trong Văn hóa của người Việt tị nạn Cộng sản.
Nếu chúng ta im lặng, lịch sử sẽ bị thay đổi.
Nếu chúng ta lùi bước, chính nghĩa sẽ bị xóa nhòa.
Kính thư,
Trần Long.
Thằng Việt Kiều Phản Động .
Ngồi trên chuyến bay từ Mã lai về Đức. Trong chuyến bay, ngồi chung hàng ghế với một cán bộ Cộng sản. Ông ta tự giới thiệu là cán bộ đi công tác. Vì là người Việt Nam và tánh tôi hay thích tìm hiểu nên mới trò chuyện.
Trông điệu bộ ông cán này tỏ ra là người có hiểu biết trong xã hội chủ nghĩa cộng sản.
Hay xưng bác và tôi. "Bác đi du lịch đó hả, bác làm cơ quan nào.?".
Tôi trả lời: "Không, tôi đi thăm người thân ở Úc, máy bay ghé qua Mã Lai rồi về Đức, tôi hiện nay sống ở Đức". Ông ta nói: "À thế bác là Việt kiều". Tôi nhanh miệng nói: "Vâng Việt kiều yêu nước", để coi ông ta nói gì.
Ông ấy nói: "Thì ra không phải là Việt kiều phản động".
Tôi cười và nói: "Việt kiều phản động là sao vậy ông.?".
Ông ta trả lời: "Bác có biết họ là một lũ ngụy đánh thuê cho thằng Mỹ, bị quân dân ta đánh một trận sấm sét cho Mỹ chạy ngụy nhào, rồi bỏ chạy ra nước ngoài, quay lại đánh phá nhà nước ta".
Tôi chỉ nói: "Họ có đánh gì đâu, súng ống đâu mà đánh.?".
“Ấy bác không biết, súng ống làm gì mà đánh lại quân dân anh hùng ta. Chúng đánh phá là hô hào, viết và nói xấu đảng ta trên Internet đó".
Tôi nói: "Họ nói đúng thì đảng phải biết sửa chữa chứ. Tôi có đọc, thấy họ nói cán bộ đảng viên hiện nay ăn hối lộ, họ nói đúng, thì thế nào là phản động.? Họ nói miền Bắc nghèo đói, miền Nam giầu sang, vào miền Nam ăn cướp mà gọi là giải phóng.
Tôi nghĩ cái đảng csvn chỉ vì qúa ngu lại thích làm anh hùng, thích chiến thắng, nên đã đánh mất đi một cơ hội lớn để xây dựng nước Việt Nam sau chiến tranh do hiệp định đình chiến ký tại Paris. Là xây dựng và tái thiết Việt Nam sau chiến tranh tàn phá. Đảng có nói cho ông biết không.?".
Ông ta nhìn tôi có vẻ tức tối và nói: "Bác láo thật, nếu bác nói là đảng ta ngu, thì tất cả trí thức và nhân dân miền Nam còn ngu hơn đảng.
Tại sao họ nghe theo đảng và cùng với đảng đứng lên để giải phóng miền Nam.
Những người trí thức như Bs Dương Quỳnh Hoa, Huỳnh Tấn Mẫn v.v...."
Tôi nói: "Họ không phải là những người trí thức. Ông lầm rồi. Họ là những người khoa bảng".
Ông ta hỏi: "Khoa bảng là gì.?".
Tôi trả lời: "Là những người có bằng cấp cao".
Ông nói: "Thì bằng cấp cao là người trí thức".
Tôi nói: "Không.! Người trí thức phải hội đủ 3 điều kiện ắt có và đủ để trở thành người trí thức là bằng cấp cao và kiến thức sâu rộng cùng với đạo đức tốt. Có đủ 3 điều kiện này mới trở thành người trí thức".
Ông ta hỏi: "Kiến thức là cái gì.?".
Tôi cười và nói: "Là người thấy sâu hiểu rộng, người từng trải trong cuộc sống, đi đó đây để tự học hỏi và tìm hiểu tra cứu, tự tìm hiểu về khoa học kỹ thuật, văn hóa xã hội, nghệ thuật v.v..."
"Bác nói lung tung qúa, người có bằng cấp cao là họ biết hết tất cả".
Tôi nói: "Ông lầm rồi. Họ học cái nghành nghề của họ mà thôi, để có bằng cấp đi làm. Nếu họ về hưu thì bằng cấp ấy cũng hết gía trị. Nếu người có bằng cấp cao mà không có kiến thức và đạo đức.
Thì ông biết người đó như thế nào không.? Người đó hay tự phụ, tự cao và coi ta đây là người học cao, nếu có quyền chức thì xem những người khác không ra gì. Thích thị uy và đánh đập người khác, ăn hối lộ, ám hại người nếu chống lại.
Còn người có bằng cấp cao, mà lại có kiến thức rộng mà không có đạo đức. Loại này ỷ vào mình học cao hiểu rộng, nên rất khôn khéo biết luồn lách pháp luật để làm những điều gian ác. Nếu có chức phận quyền hành thì xảo quyệt, lưu manh, hại người.
Còn loại người có bằng cấp cao, có đạo đức tốt mà không có kiến thức sâu rộng. Là những người hay bị kẻ khác dụ dỗ như Huỳnh Tân Mẫn, Bs Dương Quỳnh Hoa v.v... vì thiếu kiến thức rộng nên không phân biệt được đâu là tà, đâu là đúng và đâu là sai.
Còn một loại này nữa. Là người không bằng cấp, không đạo đức chỉ có kiến thức nhưng không cao, không sâu và không rộng. Thứ này rất nguy hiểm, họ khôn vặt, lém lỉnh, láu cá, xảo quyệt..."
Ông ta không nghe nữa, bỏ đi chỗ khác, tìm chỗ có ghế trống ngồi.
Sau khi nghe người tiếp viên hàng không thông báo: "Đã tới Đức, xin đừng tháo giây an toàn chờ máy bay ngừng hẳn...." mới thấy ông ấy tới lấy hành lý, và thòng theo một câu: "Nếu mà mày ở Việt Nam tao sẽ cho mày nhừ xương và ở tù không có ngày ra. Thằng Việt kiều phản động".
Nguyễn Sơn
Germany
Ướt Cánh
Huy hiệu Phi Đoàn 213 Song ChùyTrời vừa hừng sáng, tôi và anh Nguyễn Q. Minh cùng gia đình từ khu main compound vội vã lên Phi Đoàn. Vừa bước vào cửa, cả hai chợt bàng hoàng vì khung cảnh hỗn độn trước mặt. Trời đất. Đồ đạc trong phòng đổ ngổn ngang, vài chiếc áo bay ai đó cởi ra ném giữa hành lang Phi Đoàn. Không một bóng người. Tôi vội gõ cửa phòng Tr/t Phi Đoàn Trưởng theo thói quen trước khi trình diện, không nghe có tiếng trả lời, tôi đẩy cửa bước vào và không còn tin vào mắt mình: dưới đất là chiếc áo bay của ai đó, vật dụng văn phòng nằm vương vãi khắp nơi.Tôi trở ra tìm anh Minh, anh và người vợ sắp cưới cùng mấy người em vợ đứng trước phòng trực Phi đoàn sững sờ.- Mình lên trễ rồi anh Minh ơi...Anh Minh nhìn quanh rồi bất chợt nói như ra lệnh:- Thôi đi ra ngoài phi đạo tìm tàu đi.Cả bọn vội vã băng qua sân trống trước cổng PĐ213 dẫn vào bãi đậu trực thăng. Cũng không một bóng người. Đây đó rải rác vài ba chiếc trực thăng nằm cô đơn. Tôi và anh Minh chia nhau xem xét tàu, toàn là những chiếc bất khả dụng bị bỏ lại đêm qua...Đêm 28 rạng 29 tháng 3 năm1975.....Một đêm kinh hoàng nhất và cũng là cuối cùng của SĐ1KQ. Tôi vừa qua ca SQ trực Phi Đoàn hôm trước nên hôm nay được nghỉ, anh Minh đem gia đình bên vợ vào khu cư xá SQ, định sáng mai sẽ đưa lên Phi Đoàn tìm phương tiện di tản về Nam theo như chỉ thị của Đ/u Tuấn, SQ Hành Quân. Phòng anh Minh thuộc dạng độc thân nên anh “gởi“ tôi 2 người em trai bên vợ để nghỉ nhờ, phòng nằm đối diện với phòng anh trong dãy nhà số 1, trước đây của Tr/u Hiến IP chuyển sang PD 233 nên để lại, sát cổng ra vào khu cư xá, nhìn ra ngoài là cổng gác của Quân Cảnh với người gác cổng đêm ngày thường trực. Trời vừa tối, Việt cộng bắt đầu pháo kích, càng lúc càng nhiều hơn so với mấy đêm trước. Tiếng nổ chát chúa từng hồi, bọn tôi chạy ra khỏi phòng ngồi núp dưới cầu thang xi măng dẫn lên tầng trên của nhà số 1. Bỗng dưng mấy tiếng rít kinh hồn xé tai rồi ngay sau đó, những tiếng nổ thật gần, âm thanh đổ nát rợn người gần sát bên tai. Bên kia đường là kho chứa nhiên liệu, bị trúng pháo bốc cháy dữ dội, cả khu main compound sáng rực. Một ít người tò mò ra đứng xem rồi bất chợt nằm xuống khi nghe tiếng rít tiếp theo của hỏa tiễn bay tới. Đêm trước một trái rơi vào phòng tài vụ của cư xá nầy phá huỷ mặt trước nhà, may mắn không ai hề hấn gì. Tôi còn đang băn khoăn không biết tháng nầy lãnh lương được không vì cũng đã gần cuối tháng. Chịu đựng qua một đêm không ngủ như thế, sáng sớm ai nấy đều bơ phờ vì mệt mỏi, đã vội vã đùm túm chạy lên Phi đoàn nhưng hỡi ơi đã trễ...Đang lúc bị pháo kích, chúng tôi nghe tiếng máy bay cất cánh ào ạt nhưng không để ý, một phần vì đã quen với tiếng phi cơ bay trực đêm, một phần đó cũng là tiêu lệnh của đơn vị khi bị pháo, một số hoa tiêu trực có bổn phận cất cánh di tản tàu tạm thời để tránh bị thiệt hại. Đêm nay các pilot trực thăng, chiếc trước chiếc sau cất cánh rời phi đạo, có ai biết đó là lần cuối cùng và vĩnh viễn không trở lại....Đứng trên parking trực thăng một mình, chưa bao giờ tôi cảm thấy cô đơn và trống vắng đến như thế. Cảm giác chim lạc đàn chắc cũng thê lương đến như thế là cùng, có điều tôi không thể cất tiếng kêu não nuột được như loài chim. Từ khi về trình diện Phi Đoàn, gần 1 năm sống với đơn vị, Phi Đoàn tôi giống như một gia đình thứ hai mà người gia trưởng là vị PĐT khả kính, đã cùng với đàn anh chia ngọt xẻ bùi, tung hoành khắp nẻo từ Sa Huỳnh Quảng Ngãi ra đến Quảng Trị, dọc ngang theo chân các đại đơn vị Dù, TQLC, cùng các SĐ Bộ Binh, cùng với các anh em HSQ Cơ Khí Viên, Xạ thủ phi hành kết gắn với nhau tình như thủ túc. Giờ tất cả đang ở đâu? Tôi như đang chết ngợp trong cảm giác bị bỏ rơi... Có tiếng anh Minh gọi:- Mình sang phi đạo 253 xem coi còn chiếc nào không?Vội vã tôi cùng anh Minh lùng sục ngoài parking, vào trong các hangar tìm kiếm, một số chiếc nằm trong hangar có vẻ còn tốt nhưng khi check lại thì cũng bất khả dụng. Loay quay cho đến gần trưa mà vẫn chưa tìm ra một lối thoái, bỗng có tiếng máy bay Boeing lượn trên bầu trời, một chút hy vọng lóe lên trong ánh mắt cả bọn. Ô kìa quả thật chiếc phi cơ dân sự đang đáp xuống từ hướng Bắc sau khi đánh một vòng trong vịnh Nam Ô. Chúng tôi cả bọn vội chạy ra taxiway nhìn sang runway phía Tây nơi chiếc Boeing 727 của World Airway đang đáp xuống. Chiếc phi cơ dân sự cuối cùng từ Saigon ra, vừa chạm bánh thì bỗng dưng có tiếng pháo kích, hỏa tiễn địch rơi ngay trên phi đạo. Bên trong Taxiway phía Tây, một đoàn người, đa số là lính, có lẽ là các đơn vị SĐ3BB, từ cổng Phước Tường ùa ra phi đạo rượt theo chiếc phi cơ đang taxi chầm chậm, cửa sau đuôi từ từ hạ xuống, mặc cho pháo kích nổ om trời. Một số người nhanh nhẹn bám theo được phi cơ, một số cố đuổi theo tạo nên một chiếc đuôi dài bất bận trên phi đạo. Có lẽ Phi hành Đoàn cũng nhận thấy sư nguy hiểm do pháo kích và có thể bị tràn ngập bởi khối người nên không dám dừng lại, đoàn người cứ đuổi theo, đuổi theo... Phi cơ taxi đến cuối phi đạo thì quẹo vào taxiway phía đông (có lẽ vì runway đang bị pháo kích nên không thể cất cánh), tôi và anh Minh mừng quá định chạy ra chận đầu để leo lên thì từ đầu taxiway, phi cơ tăng tốc độ, tiếng máy phản lực gầm rú rền trời rồi lạnh lùng cất cánh trên taxiway về hướng Bắc khi cửa đuôi chưa kịp đóng lại, một vài người chưa kịp vào trong đã bị rớt lại trên phi đạo.... Bánh đáp không cần xếp lại, chiếc phi cơ đảo một vòng ra hướng biển, lấy cao độ và nhỏ đần trên bầu trời sớm mai xanh ngát, giống như hy vọng tắt dần trong lòng mỗi người chúng tôi. Chắc hẳn trong lòng anh Minh còn nôn nóng hơn khi nhìn thấy dáng dấp tuyệt vọng của người thân, mấy đứa em đang đứng lặng yên chịu đựng.Quay tới vòng lui ngoài parking phi đạo, nhìn sang phía Tây, phi trường giờ như đã bỏ ngõ, dòng người gồm lính tráng lẫn dân sự tràn vào mỗi lúc một đông và đang túa ra phi đạo, có lẽ không lâu nữa sẽ sang đến chỗ chúng tôi. Thôi hết rồi, sự sợ hãi bắt đầu nhen nhúm, nhất phi nhì pháo, nếu mà chúng nó “tóm“ được bọn tôi thì chỉ còn nước... chết. Anh Minh đi tới đi lui một cách mất kiên nhẫn. Chợt có tiếng máy trực thăng đang start đâu đó, ôi tiếng hú thân quen của UH làm chúng tôi choàng tỉnh. Từ phi đạo 253 một chiếc trực thăng đang lê về hướng chúng tôi đang đứng, parking của 213. Trên tàu đã đầy người nhưng Pilot dường như muốn hốt luôn cả chúng tôi nên từ từ ngừng lại. Bỗng nhiên một đám người từ đâu cũng nhào tới leo lên tàu, bọn tôi cũng chạy lại, anh Minh đỡ chị cùng các em lên vào cửa bên trái, tàu chật cứng rồi, anh cố chui vào, tôi đứng bên cạnh ngần ngừ, chỗ đâu nữa mà leo lên, là dân pilot, tôi biết sức con tàu. Đang loay hoay định tìm chỗ leo lên thì chiếc trực thăng nhúc nhích như muốn di chuyển mà không được, tiếng pilot la lớn phía trước:- Xuống bớt, xuống bớt... không cất cánh được.Tiếng máy trực thăng hú to, cánh quạt quay vùn vụt nhưng tàu vẫn nằm yên, trên tàu không một ai nhích nhích. Thấy cảnh tượng như thế thì không còn muốn leo lên nữa, tôi với tay đưa túi xách với một ít đồ dùng cá nhân (chiếc túi đựng helmet) cho anh Minh nhờ anh đem về trước giùm và từ biệt:- Thôi anh Minh cùng chị đi trước đi, tôi tìm cách khác..Đột nhiên một người từ trên tàu nhảy xuống, tay cầm khẩu M16 chĩa vào những người ngồi trên tàu la lớn bằng giọng Huế:- Đ.M. có chịu xuống không? Không xuống tao bắn chết hết bây giờ...Giọng nghe quen quá, tôi xoay qua nhìn và thảng thốt. Trời ơi, thượng sĩ C, con chim đầu đàn của anh em Cơ Phi Xạ Thủ 213 đây mà. Có lẽ kinh nghiệm chiến trường đã dạy anh cách xử sự trong những tình huống như thế. Tuy nhiên tôi hơi bị xốc khi chứng kiến tận mắt cảnh chĩa súng vào đồng đội để tìm đường mưu sinh như vậy. Gia đình anh đang ngồi trên tàu, có lẽ anh không còn cách nào khác nếu muốn cứu họ cũng như cứu cả đám người ngồi trên đó. Một phút căng thẳng trôi qua, th/s C la hét thêm đôi ba lần nữa. Tôi thấy trên tàu lao nhao rồi 3 anh lính trẻ mặc đồ bay nhảy xuống hai bên tàu. Đó là mấy anh em Cơ Phi Xạ Thủ thuộc 253. Tàu nhúc nhích, anh C vội vàng quăng khẩu M16 xuống đất và phóng lên tàu. Chiếc trực thăng bắt đầu lết từng chút tới trước rồi từ từ trượt trên sân đáp 213 một đoạn khá xa trước khi rời khỏi mặt đất...Thế là hết. Thôi, cầu mong cho tàu vượt thoát được bình an, thà bỏ lại năm ba người còn hơn là ở lại tất cả, nhất là khi nhóm người bên phía Tây phi trường đang tràn qua gần tới. Nhìn theo chiếc tàu thân yêu cuối cùng đang cuối đầu xuôi về phương Nam, lòng tôi đau thắt, các anh em kia ngồi bệt xuông đất, khuôn mặt thật ê chề, tuyệt vọng. Thẫn thờ như những kẻ mất hồn, trời đã trưa, nhìn ra phi đạo, bên phía Tây người đổ vào phi trường ngày càng nhiều, tôi nghĩ chắc không bao lâu nữa vc cũng sẽ vào từ cổng này. Nghĩ đến đây, tôi như chợt tỉnh, phải tìm cách thoát ra khỏi phi trường trước khi quá trễ. Nhìn những anh em còn ở lại, tôi tự giới thiệu:- Tôi là bạn cùng khóa bay với anh Hạo, anh Phồi, anh Đại... thuộc Phi đoàn của mấy anh. Bây giờ thì chẳng còn tìm đâu ra tàu để bay nữa, thôi anh em mình tìm cách khác đi...Chúng tôi bàn tính một hồi rồi quyết định chạy sang bãi biển Mỹ Khê tìm chút hy vọng bằng đường biển. Một người cúi xuống lượm khẩu súng của th/s C quăng lại rồi uể oải kéo vào PĐ213. Chúng tôi lục lọi tìm mấy bộ đồ dân sự trong các túi xách còn bỏ lại nằm vương vãi khắp trong nhà và thay vội. Cả bọn 4 người đi bộ ra cổng chính của phi trường. Cổng bít kín, chỉ còn một lối nhỏ bên phía trạm kiểm soát nhưng không còn ai canh gác, phía ngoài nằm ngổn ngang đủ các loại xe vô chủ của những người vào phi trường bỏ lại. Chúng tôi chọn một chiếc xe jeep mui trần, một anh nhảy lên nổ máy, may mắn quá, chiếc xe vẫn còn tốt, cả bọn vui mừng leo lên chạy về hướng cầu Trịnh Minh Thế và tiến về phía bờ biển Mỹ Khê.Dọc dường, từng đoàn người nhốn nháo ngược xuôi, cảnh hỗn loạn chưa từng thấy trong thành phố Đà Nẵng êm đềm thân yêu ngày nào. Tôi yêu Đà Nẵng vì như một Sài gòn thu nhỏ, Đà Nẵng hiện đại mà trang nhã trong kiến trúc, kèm theo phong cảnh đẹp nên thơ của phố biển với những thắng cảnh nổi tiếng...Những ngày tháng học bay rồi được phục vụ tại đây, chúng tôi như thuộc lòng từng con đường góc phố, lang thang cuối tuần khắp lối với bao nhiêu kỷ niệm chất chồng... Đà Nẵng giờ đang trăn trở với nỗi đau của dòng người tị nạn từ mọi nơi đổ về để tìm sự che chở cuối cùng.
Qua khỏi cầu quẹo trái, chúng tôi đổ về hướng Mỹ Khê, chạy thêm một đỗi thì không thể tiếp tục được vì xe cộ nằm ngổn ngang trên đường, kể cả các xe thiết vận xa. Quăng xe một bên đường, bọn tôi đi bộ ra hướng biển, trời đã xế chiều... Trời đất, người đâu mà đông nghẹt, đa số là quân nhân, có người còn cả vũ khí, trải dài suốt theo chiều dài vòng cung của bãi biển. Nhìn ra biển xa xa là những chiếc tàu Hải Quân đang đậu ngoài khơi, xa tầm pháo kích, một vài chiếc ghe nhỏ đang chạy tới lui từ phía núi Sơn Chà, có lẽ đang chuyên chở khách ra tàu. Với số người trên bãi biển dù hàng ngàn chiếc ghe như thế chưa chắc đã bốc hết huống chi chỉ một vài chiếc và ở tận góc núi cách chúng tôi hàng mấy cây số... Sự tuyệt vọng hằn lên gương mặt của mỗi con người. Làm sao để lên được các chiếc tàu HQ đang đậu ngoài kia, đó là lối thoát duy nhất của mọi người trong lúc này....Xa xa, cách bờ biển khoảng trăm mét là một số tàu đánh cá đang bỏ neo, lắc lư theo cơn sóng và vô chủ. Tôi chợt nghĩ nếu chúng tôi lên được một trong những chiếc ấy thì chắc có cơ hội chạy ra tàu Hải Quân được, nhưng với một khoảng cách xa như thế thì người thường làm sao có thể bơi tới. Trong nỗi tuyệt vọng khôn cùng, chúng tôi lê lết đôi chân không còn sức lực sau gần một ngày không ăn uống, trước mặt là một xóm nhà chài lưới, bên cạnh có một chiếc xuồng nhỏ đang úp phơi trên cát. Tôi bỗng nghĩ ra cách, và như thế là cả bọn xúm lại lật xuồng lên, kéo xuống biển chẳng cần biết chủ nhân là ai, một anh xạ thủ ôm súng theo canh chừng, vài ba người đứng gần thấy vậy cũng nhào vô giúp một tay. Hì hục một hồi, chiếc xuồng nhỏ cũng xuống được tới nước, chúng tôi leo lên chiếc xuồng mỏng manh rồi cố dùng đôi tay bơi ra hướng chiếc ghe đánh cá đang bỏ neo vì không có dụng cụ chèo chống... Xuồng nhỏ chở nhiều người nên di chuyển nặng nề, cứ vừa nhếch ra được vài thước thì một làn sóng lớn đẩy xuồng trở lại vào bờ. Bao nhiêu lần đều như thế, nước biển lại tràn vào xuồng xấp xỉ gần chìm, chúng tôi phải leo xuống tát nước ra rồi tiếp tục bơi. Một số người thấy khó ăn đã bỏ cuộc lên bờ. Tôi cố thuyết phục anh em ráng sức bơi nhân lúc yên sóng, chỉ cần thoát ra được khỏi đường ranh sóng đập vào bờ thì tới vùng nước sâu và không còn bị sóng giật trở lại nữa. Có lẽ nhờ một số người bỏ cuộc nên xuồng nhẹ hơn trước, chúng tôi chậm chạp thoát ra được làn sóng giật và bắt đầu hướng ra biển. Với tất cả sức lực còn lại sau gần một ngày mệt nhoài, chúng tôi đã đến được chiếc ghe đánh cá đang bỏ neo gần nhất. Kiểm điểm lại nhân số trên nghe, ngoài bọn tôi 4 người còn có thêm một phụ nữ và vài ba người nữa. Tôi đi một vòng ghe xem xét, ghe đánh cá trên biển nên trang bị khá đầy đủ, máy ghe 1 block của Ấn Độ mà tôi đã có dịp sử dụng lúc còn trẻ theo người thân lênh đênh trên sông rạch miền Nam, cũng không tệ, lại có cả tay quay máy trong khoang nên tự tin mình có thể thoát được. Các anh em nhìn nhau nghi ngờ vì không biết làm sao có thể điều khiển chiếc ghe chạy được. Tôi trấn an:- Đừng lo, tôi biết lái. Trên ghe lại có sẵn hai thùng phi dầu đầy, nếu mình không thể lên tàu HQ thì chúng ta vẫn có thể chạy về tới Vũng Tàu dư sức. Chuyện bây giờ là làm sao cho máy nổ và một người phải ôm súng canh chừng các người lạ trên tàu.Thế rồi tôi thử vào phòng máy và bắt đầu quay máy. Một lần, hai lần, ba lần... máy vẫn nằm yên không nổ. Tôi kiệt sức, một người khác vào quay tiếp... Lần lượt xoay hết bao nhiêu vòng, ai nấy đều mệt nhoài mà máy vẫn không nổ. Cả bọn bắt đầu sốt ruột. Bỗng nhiên từ phía bờ, dáng một người đang bơi về phía chúng tôi. Quả thật là dân biển, anh ta bơi tới ghe và leo lên một cách dễ dàng:- Các anh để em quay cho, đây là ghe của em.Tôi hơi ngượng:- Xin lỗi, chúng tôi chỉ muốn ra tàu HQ ngoài kia. Nhờ anh giúp chúng tôi, sau đó anh có thể lái ghe trở vào.- Dạ được...Anh lòn tay vào bên dưới động cơ mở khóa gì đó, sau đó nhẹ quay vài vòng, động cơ giật giật vài cái rồi phát nổ. Thì ra máy còn có một khóa điện phụ được chủ ghe dấu kín bên dưới máy. Cả bọn reo lên mừng rỡ như vừa chết đi sống lại. Tôi vội chạy ra phía sau chụp tay lái và cho ghe hướng ra khơi. Một người kéo neo lên, anh chủ ghe thì ngồi trong phòng máy canh tới canh lui. Tôi nghĩ có lẽ từ trong bờ nhìn ra thấy bọn tôi leo lên ghe, anh vội vã bơi ra để giữ ghe, khi thấy những khuôn mặt “cô hồn“ chúng tôi thì cũng hơi ngại. Cả bọn vui mừng chưa được bao lâu, chiếc ghe vừa lấy được hướng ra khơi thì bỗng dưng phía trước ghe chúng tôi có tiếng nổ bụp bụp cùng với các cột nước văng tung tóe xung quanh. Có tiếng la lên:- M79, mình bị bắn...Ai nấy đều hoảng. Thì ra các bạn ta từ trên bờ thấy ghe chạy được nên muốn buộc chúng tôi quay đầu lại bốc họ. Nếu quay lại thì chỉ có con đường chết vì ghe sẽ bị tràn ngập. Tôi đánh liều tiếp tục, vừa lái ghe vừa mọp xuống như để „né“ lằn đạn trong khi mọi người đã nằm sát xuống lòng ghe. Thêm một loạt tiếng nổ chận đầu ghe, cũng may, đầu đạn nổ dưới nước nên chúng tôi không bị miểng phang trúng, tôi vội bẻ tay lái đưa ghe chạy theo đường chữ „Z“ để „tránh né“ và nhắm hướng các chiếc tàu HQ đang đậu ngoài khơi trực chỉ. Bây giờ nghĩ lại, có lẽ các bạn ta trên bờ chỉ muốn dọa chúng tôi nên bắn chận đầu ghe thôi, chứ nếu muốn bắn chết thì làm sao chúng tôi thoát được. Chốc sau thì thoát ra khỏi tầm bắn, hú hồn hú vía cả bọn... mọi người thở phào và mặc dù mệt mỏi, vẫn nghe tiếng reo hò vui vẻ xôn xao om trời...Trước mặt chúng tôi có it nhất là 3 chiếc tàu lớn của Hải Quân Việt Nam đang đậu, tôi chưa biết chạy đến chiếc nào thì chợt thấy trên boong một chiếc tàu có một phi cơ trực thăng đang đậu. Tôi quyết định lái về chiếc đó, ít nhất cũng có người của phe ta.Chúng tôi tiến gần đến đến tàu và quăng tất cả vũ khí xuống biển trước khi cập vào tàu lớn. Ban đầu họ chĩa súng ra dấu không cho chúng tôi sáp gần lại và sau một hồi quan sát, thủy thủ trên tàu làm dấu cho chúng tôi cập vào bên hông. Với sự giúp đỡ của các thủy thủ tất cả chúng tôi lần lượt leo lên tàu, anh chủ ghe còn lại vội vã lái chiếc ghe nhỏ tách ra và chạy trở vào đất liền.Đây là một Dương Vận Hạm HQ... tôi không nhớ số, trên tàu là Lữ Đoàn TQLC Tân Lập 468 vừa được bốc ra từ Hải Vân và đang chờ khởi hành. Các binh sĩ TQLC nằm chật cả boong tàu, chính giữa là chiếc trực thăng của Hoàng Ưng 239. Chúng tôi lòn lách qua khối người nằm ngang dọc khắp nơi, khá vất vả mới đến được chiếc trực thăng đang nằm. Gặp Ngụy Hùng, copilot, là bạn cùng khóa với tôi. Mừng quá, cả bọn nhập chung với phi hành đoàn thành một nhóm KQ trên tàu, Hùng giới thiệu tôi với anh trưởng phi cơ, một Trung Úy pilot của PĐ239 gốc người Huế. Nghe kể vị Lữ Đoàn Trưởng muốn trưng dụng chiếc trực thăng nầy cho nhu cầu công vụ nên phi hành đoàn rất được biệt đãi.Hoàng hôn đã xuống. Mặt trời đang từ từ chìm xuống phía sau dãy núi phía Tây Đà Nẵng... Đứng trên boong tàu nhìn vào Đà Nẵng mờ khuất dưới làn sương chiều lòng tôi quặn thắt. Chỉ gần 2 năm sống ở đây nhưng Đà Nẵng trong tôi với biết bao kỷ niệm. Nhìn lên vòm trời bao la, xa xa là viền núi xanh chập chùng, nơi chúng tôi hàng ngày bay lượn, cùng các đàn anh chia mồ hôi và lửa đạn. Tôi chợt nhớ tới anh Minh và gia đình không biết bây giờ đang ở đâu, hành trình có suôn sẻ không, hay phải hạ cánh ở một nơi nào đó trên đường xuôi Nam vì tàu quá tải, trục trặc hay vướng phải đạn thù. Quảng Ngãi nằm trên lộ trình về Nam đã bị mất, đường đã bị cắt, mấy hôm trước chúng tôi còn lãnh nhiệm vụ đi bốc các viên chức hành chánh ở Chu Lai nhưng không thành công vì sự hỗn loạn của đoàn người di tản đổ về đây. Tôi nhớ anh Minh với những chuyến bay di tản thương binh Dù từ dãy núi Sơn Gà phía Tây về bệnh viện Đà Nẵng vừa mới hôm nào. Sau khi quận Thường Đức thất thủ, một cửa ngõ từ vùng núi Trường Sơn xuống đồng bằng, Việt cộng lần lượt chiếm các cao điểm Tây Đà Nẵng và pháo kích hằng đêm vào thành phố. BTL Dù chuyển về phi trường Non Nước, các tiểu đoàn Dù trải thành một cánh cung từ đèo Hải Vân về tới mỏm núi Sơn Gà và vòng đai ngày càng bung rộng ra, những người lính dù can trường đã anh dũng chiến đấu trên những mỏm núi, giành giật từng thước núi, từng hang hốc trên dãy núi cao. Tôi và anh Minh đã bay nhiều phi vụ tản thương và tiếp tế cho các đơn vị nầy, sáng sớm bay qua phi trường Non Nước, vào BTL dã chiến Dù đặt trong một hangar cũ, tấm bản đồ hành quân trải rộng trên bàn. Nhận lệnh xong, chúng tôi cùng một anh SQ Dù đi theo, nhận tiếp tế và bay vào vùng núi Sơn Gà theo sự hướng dẫn và liên lạc của anh, bỏ hàng xuống, bốc thương binh trở ra, người bị thương nhẹ thì đưa vào bệnh xá dã chiến của Dù cũng tại Non Nước, nặng thì về bệnh viện Đà Nẵng. Các cao điểm bị địch chiếm để pháo kích vào Đà Nẵng lần lượt được các chiến sĩ Dù tái chiếm, mang lại bình yên cho dân thành phố một thời gian dài cho đến khi các lực lượng Dù và TQLC rút đi. Giờ thì thành phố xem như đã bỏ ngỏ chờ địch. Tôi biết rằng sẽ không bao giờ còn có dịp nhìn lại Đà Nẵng thân yêu nữa....Chúng tôi cùng phi hành đoàn chiếc trực thăng trên tàu HQ chia nhau chút đồ ăn của tàu phân phối rồi tìm chỗ nghỉ lưng bên trong và phía dưới bụng phi cơ. Tối đến, các chiếc tàu cùng nhổ neo và trực chỉ Cam Ranh. Các binh sĩ TQLC có lẽ cũng đã quá mệt mỏi sau những ngày gian khổ, hầu hết đã ngủ yên nên dù đông người, trên tàu chỉ còn nghe rì rào của gió và sóng biển. Dù mệt mỏi, tôi vẫn không thể chợp mắt được. Bao nhiêu biến cố xảy ra trong ngày như một cơn mơ, nhanh quá, bất ngờ quá, tàn nhẫn quá... Tôi đã thoát nạn nhưng số phận của bao nhiêu người thân còn ở lại sẽ ra sao? Tôi không dám nghĩ tiếp...Gần trưa hôm sau thì tàu cập bến Cam Ranh. Tất cả binh lính trên tàu được lệnh xuống tàu nghỉ ngơi trong khi chờ tàu làm vệ sinh và nhận tiếp liệu. Chiếc trực thăng cũng được lệnh phải bay ra đáp xuống sân quân cảng bên cạnh. Anh TPC (PĐ 239, tôi không nhớ tên) bảo bọn chúng tôi xuống tàu trước đến bãi bên cạnh chờ, phi cơ sẽ bay xuống sau. Ngụy Hùng trước đó đưa cho tôi một ít tiền để “phòng thân“, tôi không ngờ đó là một cách từ biệt kín đáo. Chúng tôi đến một bãi trống nơi trực thăng “dự định“ sẽ đáp. Chiếc trực thăng nổ máy, từ từ cất cao khỏi boong tàu, mũi chúi xuống vào hướng đất liền rồi...bay vút. Ôi...cánh chim sổ lồng thì làm sao để giữ. Mấy anh TQLC ngó theo chửi mấy câu nhưng khi thấy bọn chúng tôi đang lớ ngớ dở khóc dở cười chắc cũng động lòng... thương hại bèn an ủi một câu nghe “trớt quớt“:- Chắc mấy ổng bay về căn cứ Phan Rang, thôi mấy anh chịu khó đến đó rồi gặp nhau chứ gì...Đúng là một cách đuổi khéo, chắc là trách cả nhóm chúng tôi vô tình vô nghĩa. Trời ạ, biết Phan Rang ở đâu mà tìm, hơn nữa cả bọn không còn một miếng giấy lộn tùy thân, đến đó ai cho vô căn cứ. Thôi, đã lỡ “ướt cánh“ rồi thì phải dùng đôi chân vậy. Chúng tôi lặng lẽ kéo nhau ra khỏi cảng, tìm đường ra quốc lộ 1. Có được chút ít tiền của Hùng, chúng tôi chia nhau lót dạ một ít, còn một ít dành trả tiền xe. Tôi đề nghị với mọi người:- Phi đoàn tôi (213) có một phi đội đang biệt phái ngoài Nha Trang, mình trở ra đó tìm và tháp tùng về Sài Gòn, nếu bất đắc dĩ không gặp thì tôi còn một số người quen ngoài đó sẽ nhờ giúp phương tiện về.Một người góp ý:- Bây giờ mọi người đều chạy vào, mình lại trở ra coi chừng nguy hiểm.Tôi quyết định:- Thôi bây giờ đã tạm yên rồi, anh em muốn đi hướng nào thì cứ đi. Riêng tôi sẽ ngược ra Nha Trang tìm đường về.Có 2 người theo tôi, một người nhất định xuôi nam. Tôi chia đều tiền cho mỗi người rồi ra quốc lộ đón xe ngược về Nha Trang. Một chiếc ngừng lại, tiền không đủ cho 3 đứa, chúng tôi thương lượng với chủ xe và ca bài con cá. Xe chạy vào thì chiếc nào cũng đầy người nhưng xe trở ra thì trống trơn nên chủ xe sau một chốc suy nghĩ bèn đồng ý. Có chút ít còn hơn chạy xe không…Trở ra Nha Trang, không một tờ giấy lộn tùy thân, không nơi cư ngụ, tôi tìm về ngôi nhà trọ trước đây khi đi thụ huấn khóa 1 Sĩ Quan Bổ Túc QS lúc trước, có mấy thằng bạn cùng khóa bay đang theo học khóa 2 ở đây. Lúc nầy Nha Trang đã hỗn loạn, khóa học bổ túc QS đã ngừng và các khóa sinh tự động tìm đường thoát. Tôi và thằng bạn cùng khóa, Quang Volley (PĐ239) đi sang hậu trạm SĐ2KQ tìm đường về SG. Vì không giấy tờ tùy thân, tôi nhờ Quang đứng ra bảo chứng khi qua cổng gác và được cho vào hậu trạm chờ phương tiện. Mặc dù thành phố đang hỗn loạn, tình hình tại Phi Trường Nha Trang vẫn còn trật tự, chúng tôi được chia thành từng nhóm ngồi tại ụ phi cơ chờ C130 lần lượt bốc đi. Đến phiên nhóm chúng tôi lên tàu, như con chim bị thương một lần, tôi vẫn không tin mình có thể lên được phi cơ. Tôi nhớ trước đây ở Đà Nẵng cũng có chương trình di tản bằng phi cơ C130 nhưng phút cuối đành phải “bơi“, giờ cảnh cũ lại tái diễn. Cho đến khi được ngồi yên ổn trong lòng phi cơ thì bao nhiêu lo lắng mới từ từ tan biến. Về đến Sài Gòn, vừa bước xuống phi cơ thì chợt choáng ngợp trước cảnh an bình tự tại của thủ đô. Trên đường vào hậu trạm, hai hàng nữ sinh áo dài trắng đang đứng “dàn chào“ dòng người di tản, mỗi người được mời một ly nước mát lạnh tẩy trần như để quên đi những cơ cực trùng trùng trên đường vượt thoát. Sài Gòn còn thật yên bình vào những ngày đầu tháng Tư, ít ra là so với các tỉnh miền Trung.Đầu tháng Tư 1975,trình diện tại phòng Quản Trị BTLKQ, quân số Phi Đoàn chẳng còn bao nhiêu, anh em gặp lại nhau mừng mừng tủi tủi, anh Minh cùng gia đình bạn gái cũng đã về đến Sài Gòn bình an. Còn bao nhiêu người kẹt lại hay rơi rớt trên đường bay về Nam? Một số người gốc miền Trung thì lo âu cho số phận của người thân trong gia đình còn kẹt lại, trong đó có vị PĐT khả kính của chúng tôi, ông cũng phải vất vả và nhiều may mắn mới thoát, rơm rớm nước mắt khi gặp lại anh em và kể về gia đình đang còn kẹt lại không biết giờ ra sao. Dù là dân bay nhưng không ít người đã phải vượt thoát khỏi Đà Nẵng bằng đường biển như những cánh chim trời ướt cánh (trong đó có Đ/u Phi ĐộiTrưởng của tôi,bơi được ra đến tàu HảiQuân thì ngất xỉu luôn).Giữa tháng Tư tôi theo Phi Đoàn về “tái phối trí“ tại Cần Thơ, như những đứa con ghẻ èo uột, co cụm một góc để rồi đến ngày 30 tháng 4, không phương tiện, không thế lực, lại thêm một lần “ướt cánh“. Khi TT Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, tôi như con chim bị tên đã kiệt lực sau hai lần vượt thoát khỏi Đà Nẵng, Nha Trang và lần nầy thì đành buông xuôi cho số phận trong các trại tù mang danh “cải tạo“ tại vùng 4.Sau hơn 30 năm xa rời tổ ấm Phi Đoàn, bao nhọc nhằn đè nặng lên cuộc sống của từng cá nhân, kẻ còn người mất. Giờ nhớ lại chuyến di tản đinh mệnh từ Đà Nẵng, hai lần bên cạnh phương tiện vượt thoát khỏi lằn lửa đạn, một ở Đà Nẵng và một ở Cam Ranh, tôi đều để vuột mất nhưng chẳng chút hối tiếc, tôi tin có ơn trên phò hộ nên đã về đến bến bờ bình an. Tôi thuộc dạng người vụng về, chơn chất, an phận nhưng có lẽ như người xưa nói “lù khù có ông Gù độ mạng“ nên qua bao nhiêu gian truân bầm dập, tôi đều vượt qua được, lại còn được cơ hội quen biết và học hỏi từ biết bao đàn anh, những anh hùng hảo hán QLVNCH trong ngục tù cs mà chỉ qua lúc sa cơ thất thế mới biết được.Viết lên những dòng chữ nầy không phải để trách cứ điều gì vì theo thời gian mọi sân si đều tan biến, còn lại chăng là khối tình chiến hữu keo sơn, là chút hy vọng có thể gặp lại bạn bè chiến hữu ngày xưa, nhất là những người anh em 253 cùng chia “nước” với tôi trong chuyến “vượt biên” lần thứ nhất nầy, nếu tình cờ có đọc được các dòng nầy và còn có dịp gặp lại, chắc không còn gì vui hơn. Kế tiếp là để thật lòng cám ơn những chiến hữu Hải Quân đã cưu mang chúng tôi trong đoạn đường về Nam gian khổ. Cũng còn thiếu sót nếu không cám ơn người bạn cùng khóa Ngụy Hùng PĐ239 đã cho mượn một ít tiền mà nhờ có nó chúng tôi mới có thể ấm bụng và có phương tiện trở về đơn vị. Món nợ ấy vẫn còn đeo đuổi tôi cho đến hôm nay.
Tiểu Chùy
Tái Ngộ Cuối Đời - Lửa Già Chưa Tắt
Hội trường Tết cộng đồng treo đầy cờ quạt. Bên ngoài nắng bắc California chói chang như muốn nướng luôn mấy ông chưa kịp thoa kem chống nắng, còn bên trong thì... mùi bia, mùi thịt nướng, cộng thêm tiếng cười ồm ồm của mấy ông lính già, nghe là biết tinh thần vẫn còn “tác chiến tốt”.Tiến đứng dựa cột, tay cầm lon bia, bụng thì... hơi đi trước một bước so với phần còn lại của cơ thể.Anh lẩm bẩm:- 20 năm trước đứng đây chắc tụi nhỏ tưởng sĩ quan, giờ chắc tưởng bảo vệ giữ xe, mà còn là ca đêm.Ngay lúc đó, phía sau có giọng nữ:- Ủa, ông Tiến phải không?Tiến quay lại. Đứng trước mặt là một người phụ nữ tóc ngắn, mắt sắc, áo dài vàng, dáng... vẫn khiến người ta phải “giữ khoảng cách an toàn”. Tiến nhìn 3 giây:- Trời đất! Hoa?!Hoa khoanh tay, cười nửa miệng:- Không lẽ tưởng ma Sài Gòn bay qua Mỹ kiếm ông hả?Tiến bật cười:- Trời ơi, em vẫn dữ như xưa.Hoa liếc:- Còn anh vẫn nói nhảm như thế.Hai người nhìn nhau. Im lặng vài giây, mà nghe như có nguyên Sài Gòn cũ chạy ngang. Hoa hạ giọng:- Nghe nói anh... còn “độc thân vui tính”?Tiến nhún vai:- Vui thì ít, tính thì nhiều. Sống với cái tủ lạnh với cái remote thôi.Hoa gật gù:- Em cũng vậy, nhưng em có thêm con mèo.Tiến thở dài:- Thua con mèo luôn rồi.-----Hai người ngồi xuống, nhạc xưa vang lên. Tiến nhìn Hoa một hồi rồi nói nhỏ:- Hồi đó... anh tưởng qua đây là mất em luôn rồi.Hoa nhấp bia:- Em cũng tưởng vậy, ai dè đời nó thích “plot twist”.Cô nghiêng đầu:- Nhưng công nhận... già rồi mà còn coi được.Tiến vỗ bụng:- Cái này là ăn nói.Hoa cười:- Không, cái này là “tích lũy chuyện dài nhân dân tự vệ”.Một lúc sau... Tiến nói nhỏ:- Nhớ hồi xưa ngồi cà phê Nguyễn Huệ không?Hoa cười:- Nhớ chứ. Nhớ nhất là ông ngồi sát rạt.Tiến tỉnh bơ:- Ghế nhỏ.Hoa nhướng mày:- Ghế nhỏ mà tay ông đi khám phá dữ lắm.Tiến cười ha hả:- Trời, 20 năm rồi còn nhớ?!Hoa ghé lại, thì thầm:- Có mấy thứ... nhớ suốt đời.Tiến nhìn cô, ánh mắt đổi mode về tuổi 20:- Hoa!- Hả?- Hình như anh bị... em “tái phát” rồi.Hoa phì cười:- Ông này, nói chuyện như trai mới lớn.Tiến nhún vai:- Tim nó không chịu già.Hoa chống cằm:- Nhưng giờ yêu chắc khác hồi xưa.- Khác sao?Hoa cười ranh:- Hồi xưa cháy nhà cháy cửa. Giờ chắc cháy cái bếp điện thôi.Tiến gật gù:- Bếp điện nhưng... có chỉnh nhiệt độ.Hoa nhướng mày:- Ừ, miễn đừng “quá nóng” là được.Hai người nhìn nhau, rồi cười như hai đứa trốn học.Sau bữa tiệc, hai người bắt đầu... “tái hợp tác”.Ban đầu là cà phê. Rồi phở. Rồi Costco.Một buổi chiều đứng trước quầy cá hồi, Hoa nói:- Em thấy hai đứa mình giống vợ chồng ghê.Tiến đẩy xe:- Anh đang “thử việc”.Hoa cười:- Thử cái gì?Tiến ghé lại:- Thử ngủ chung có hợp không!Hoa trợn mắt:- Ông này già rồi mà miệng vẫn nguy hiểm.Tiến bình thản:- Miệng nguy hiểm nhưng hành động còn chậm.-----Một tháng sau. Tiến qua sửa bồn rửa chén, chui dưới gầm, chân chổng lên. Hoa đứng nhìn:- Anh làm được không đó?Tiến:- Đàn ông gì cũng biết làm.Hoa cười khẩy:- Hồi xưa mở chai nước còn nhờ em.Tiến bò ra, tóc dính bụi:- Đó là chiến thuật.- Chiến thuật gì?- Để nắm tay em.Hoa đứng im 2 giây, rồi đỏ mặt...Tối đó ăn cơm. Tiến hỏi:- Nhà em còn phòng trống không?Hoa cảnh giác:- Hỏi chi?Tiến gãi đầu:- Ở chung cho đỡ tiền điện, tiền xăng, với lại...- Với lại?- Đỡ nhớ.Hoa cười:- Nói thẳng đi.Tiến nhìn cô:- Anh muốn dọn qua ở với em.Hoa khoanh tay:- Bộ không sợ à?- Sợ gì?- Em hay đạp người bên cạnh.Tiến gật:- Anh có “giáp chống đạp”.Hoa cười muốn xỉu.Một tuần sau,Tiến dọn qua.Một cái vali nhỏ xíu.Hoa hỏi:- Hết đồ rồi?- Ừ.- Thiếu gì không?Tiến nhìn cô:- Thiếu em thôi.Bốp! cái gối bay thẳng vô mặt:- Đồ cải lương!Đêm đầu tiên. Hai người nằm im. Hoa nói nhỏ:- 20 năm trước... em nghĩ không bao giờ gặp lại.Tiến quay qua:- Anh cũng vậy.Hoa cười:- Ai ngờ giờ nằm chung giường.Tiến:- Đời nó hài.- Hài chỗ nào?- Hồi trẻ yêu như cháy xăng. Giờ già rồi chuyển qua xài điện.Hoa cười:- Điện thì phải cắm đúng ổ nha.Tiến cười:- Anh bảo đảm đúng nơi đúng chỗ.Hoa kéo chăn:- Nhưng nhớ nha.- Gì?- Giờ tụi mình “yêu có kế hoạch”.Tiến gật:- Ừ.Hoa thì thầm, giọng nghịch:- Tức là... không còn kiểu “tấn công ào ạt” như hồi xưa.Tiến ghé sát:- Giờ là “đánh du kích”.Hoa bật cười:- Đồ quỷ!Đèn tắt. Ngoài trời gió nhẹ.Trong phòng hai người thì thầm, cười khúc khích.Không còn là tuổi 20. Nhưng đủ hiểu nhau, để biết khi nào nên ôm, khi nào nên im lặng mà gần hơn.Và đâu đó giữa đêm... Hoa khẽ nói:- Ê!- Hả?- Bếp điện cũng nóng dữ đó nha.Tiến cười nhỏ:- Anh có vặn mức cao rồi.Hoa kéo chăn lên, giọng cười run run:- Vậy mai khỏi đi Costco mua thuốc nha ông nội.Ngoài cửa sổ, trời California yên tĩnh.Trong căn phòng nhỏ, hai người lại tập yêu cuộc đời, vừa vụng về, vừa tếu táo, nhưng đầy ấm áp.20 năm trôi qua. Tóc bạc, bụng lớn, xương khớp kêu lục cục, nhưng có những thứ... Chỉ cần gặp lại đúng người, là tự động... máy chạy êm như mới ra lò.Phạm Sơn LiêmNHƯ CÁNH DIỀU BAY
Ngọc Linh đưa người bạn cùng sở ra sau vườn hái vài thứ trái cây. Anh bạn của Linh đưa mắt nhìn quanh sân vườn rồi mỉm cười nói:- Sân vườn nhà em rộng quá, có thể đá banh hay thả diều được đấy.- Thả diều? Ừ nhỉ.Linh ngước nhìn lên bầu trời cao xanh thẳm có những đám mây trắng tản mạn trôi về cuối trời xa, bất chợt một vùng trời quê hương đầy kỷ niệm hiện ra trong trí nhớ rõ ràng và thật gần như mới ngày nào.....Ngày đó Linh là một cô bé rất nhỏ còn học Tiểu học sống êm đềm với gia đình trong một cư xá công chức ở thành phố Cần Thơ, Hậu Giang.Ở đầu cư xá có một khoảng đất trống khá rộng, cứ mỗi chiều xuống khi trời vừa bớt nắng, gió từ sông Bassac thổi lồng lộng vào thành phố là lúc các anh trai hay ra chỗ đó để thả diều. Linh là con gái lại còn nhỏ nên chỉ đứng nhìn các anh thả những cánh diều đủ màu sắc bằng đôi mắt thán phục và thích thú. Lâu ngày trở thành thói quen, chiều nào Linh không được đến đó nhìn diều là Linh buồn lắm. Một hôm trong lúc Linh đang dõi mắt nhìn theo 1 con diều màu tím có hình hồ điệp baycao nhất trong đám diều thì anh chủ con diều nhìn Linh và hỏi:- Em bé có thích con diều đó không?- Dạ, em thích lắm.Anh bước lại gần Linh và hỏi tiếp:- Thế em có muốn thử không?- Dạ muốn.Rồi anh ta đưa cuộn dây cho Linh cầm, nhưng có lẽ chưa yên tâm nên tay anh vẫn giữ một đầu của cuộn dây. Cánh diều bay quá cao theo sức gió nên Linh không thể giữ nổi nếu không có anh.Hôm đó Linh về nhà lòng vui không tả. Ôi, lần đầu tiên mình được nắm dây cho diều bay.Từ đó những lần ra nhìn diều anh thường cho Linh cầm dây thả diều, lâu ngày anh và Linh đã thành thân thiết như anh em ruột.Có một ngày anh đưa Linh về vì trời không có gió, không thể thả diều được. Đi gần tới nhà, anh chỉ vào một căn biệt thự có giàn hoa ti-gôn màu hồng nhạt và nói:- Tới nhà anh rồi, anh vào nhà, em về một mình nhé.- A, nhà anh gần nhà em quá. Nhà em ở bên kia đường kìa, xéo ngang nhà anh một chút thôi. Vậy mình là láng giềng đó.- Ồ vậy thì tốt quá, thôi em về nhé.Nhưng sau đó Linh chỉ được đi thả diều với anh vài lần rồi thôi, có lẽ anh đã lớn không còn thích hợp với trò chơi ấy. Phần Linh cũng không còn thích ngắm diều khi thiếu bóng anh trong đám con trai thả diều đó.Thời gian qua mau. Mùa thu của hai năm sau Linh vào trường trung học. Trường của Linh là trường nữ trung học Đoàn Thị Điểm, nằm cạnh trường nam trung học Phan Thanh Giản. Hai trường chỉ cách nhau một con đường nhỏ. Ngày đầu nhập học, khi Linh ra khỏi cổng trường thì bỗng gặp anh vừa đi tới. Linh vẫy tay gọi lớn: “Anh Hoàng, Anh Hoàng!” Tên của anh là Hoàng. Hoàng vừa nhận ra Linh thì mừng rỡ:- Ồ, bé Linh, em đã vào Trung học rồi à?- Dạ phải, hôm nay em đi học ngày đầu.Hoàng thân thiện nắm tay Linh kéo đi như người anh trai đối với đứa em gái nhỏ. Linh ngước nhìn Hoàng ngập ngừng hỏi:- Anh học lớp mấy vậy?- Anh học lớp Đệ Nhị.- Ban gì vậy?- Ban toán.- Anh học giỏi quá.- Vì anh lớn hơn em 6 tuổi mà.Linh cười sung sướng như mình vừa có được một người anh trai thương mến. Linh rất khát khao tình cảm đó vì Linh là con duy nhất trong gia đình. Mẹ Linh gần gũi, chăm sóc Linh hết mực, còn ba Linh đi làm về nhà hết đọc báo đến đọc sách. Ba Linh có một tủ sách đủ các loại, tủ được khóa cẩn thận, Linh muốn đọc sách phải do ba Linh chọn đưa cho. Lúc nhỏ Linh chỉ được đọc chuyện cổ tích, tuy còn nhỏ nhưng các loại sách đó, không hấp dẫn được Linh. Lớn thêm một chút ba Linh cho đọc sách dịch từ chuyện Tàu như Bắc Tống nói về Triệu Khuôn Dẫn từ lúc lập nghiệp đến các đời con cháu, Tái sanh Duyên (Mạnh Lệ Quân), Đại Đường với Lý Thế Dân...Lớn thêm chút nữa ba Linh cho đọc chuyện kiếm hiệp như Lệnh Hồ Xung, Lục Đỉnh Ký, Cô Gái Đồ Long..Có một hôm Linh thấy mấy cuốn “Tiểu Thuyết Thứ Năm” Linh lén đọc, vô tình gặp 4 bài thơ của T.T.KH đăng liên tục. Từ đó những vần thơ sầu muộn kia vương vấn hồn Linh mãi, Linh thấy thương cuộc tình trái ngang kia nhiều quá.Vào mùa hè cuối năm thứ hai Trung học Linh theo mẹ về quê ngoại nghỉ hè một tháng. Lúc trở lại thành phố Linh thấy lòng mình nôn nao vui sướng vì sắp gặp lại anh Hoàng. Khi xe về tới nhà, một cảnh tượng đập vào mắt Linh khiến Linh hoảng hốt, chới với. Căn nhà của Hoàng ở, người ta đang khuân vác đồ đạc vào chứng tỏ chủ cũ đã đi rồi và người mới đang dọn tới. Quên mất sự có mặt của mẹ, Linh nhảy xuống xe, chạy qua bên đường và hỏi người đang dọn đồ đạc vào nhà:- Xin hỏi chú, có phải chú mới dọn tới không?- Phải, chúng tôi được chính phủ cấp cho căn nhà này nên dọn tới đây đó.- Thế chủ nhà cũ đi đâu rồi chú?- Nghe nói ông ấy thuyên chuyển đi nơi khác rồi.- Chú có biết ông ấy đổi đi đâu không?- Làm sao tôi biết được.Linh thẫn thờ bước trở ra, lòng buồn vô hạn. Phải rồi, ba anh là sĩ quan thì đâu có thể ở mãi nơi này, còn ba Linh là công chức nên ở đây cho tới lúc về hưu thôi. Linh về tới nhà bạo dạn hỏi ba:- Bạn con có ai gửi gì cho con không ba?Ba ngước nhìn Linh và nói:- Con gái đi cả tháng rồi, mới về không hỏi thăm sức khỏe ba mà hỏi thăm bè bạn. Không có ai gởi gì cho con cả.Linh vội chạy vào phòng đóng cửa lại, bật khóc: Anh Hoàng ơi, tại sao anh đi mà không nói gì với em cả, không cho em biết anh đi đâu, ở đâu, em mất liên lạc với anh rồi, mất một người anh thương mến.Linh cảm thấy tuổi thơ hồn nhiên của mình không còn nữa, cô bé mười ba tuổi đã bắt đầu suy tư, thơ thẩn và biết làm thơ khóc gió thương mây..... Giòng đời cứ thế êm đềm trôi, như giòng sông Hậu muôn đời chảy xuôi lặng lẽ. Bao mùa thu đi qua rồi, bao nhiêu lần Linh nhìn thấy những chiếc lá vàng bay tản mạn trên lối về, con đường tới trường vẫn một mình Linh cô đơn, buồn tẻ.Đến một ngày Linh nhìn vào gương bất chợt gặp khuôn mặt một thiếu nữ phảng phất nét u buồn. Linh lẩm bẩm: Mình đây sao? Ôi, mình đã trở thành thiếu nữ rồi, 18 tuổi rồi, không còn là cô bé của ngày nào hay chạy đi xem những cánh diều bay lơ lửng giữa trời cao! Linh thở dài, một chút gì bâng khuâng, một chút gì nuối tiếc, một chút gì lưu luyến, Linh chợt nhớ tới Hoàng, người đã từng cầm tay Linh, dạy Linh thả dây thế nào cho diều bay thật cao. Giờ này anh ở đâu, anh ra sao, có vui vẻ không, có nhớ gì về cô bé ngày xưa rất mến anh không?Một buổi sáng đến trường (Linh còn học năm cuối Trung học) gặp Như Mai, cô bạn thân nhất trong lớp, Như Mai lên tiếng vội:- Linh này, ngày mai là thứ bảy Linh đến nhà mình chơi nhé. Mẹ mình sẽ làm bánh xèo đãi anh bạn của anh Phong mình, mẹ kêu Linh tới ăn cho vui, mẹ thương Linh lắm.- Nhưng có người lạ mà.- Lạ gì, bạn của anh mình mà. Anh ấy là bạn học cũ của anh Phong, nay mới đổi về Không Đoàn 4 ở Trà Nóc đó. Cứ coi anh ấy như anh Phong là được rồi.- Mai nói anh ấy là bạn học cũ của anh Phong tức là anh ấy đã từng học trường Phan Thanh Giản à?- Ừ! Hồi đó anh ấy học ở đây rồi đi Không Quân, giờ lại đổi về đây đó.Linh ngần ngại nói:- Mình không dám hứa đâu.- Không dám cái gì, nhất định phải tới không thì mình giận đó.Thôi không bàn việc đó nữa, vào lớp đi,tới giờ rồi.Hôm sau Linh dậy thật sớm, suy nghĩ mãi, không biết có nên tới nhà Như Mai không vì từ lâu Linh sống buồn tẻ, không được tiếp xúc với nhiều người. Nhưng cuối cùng vì nể mẹ Như Mai nên Linh quyết định đi.Linh mặc chiếc áo màu tím, vì tóc Linh dài nên chọn một cái bando cũng màu tím để cột ngang. Linh không trang điểm nên có nét đẹp tự nhiên, đơn sơ và mộc mạc.Khi đến nhà Như Mai thì thấy Mai đang lăng xăng dọn bàn ăn. Mẹ Mai vẫn còn dưới bếp, Linh vội vã vào chào mẹ Như Mai và xin được tiếp tay với Mai, nhưng Mai nói:- Xong hết rồi, Linh là khách mà, ngồi chơi đi.Mai mời mẹ lên bàn, rồi chạy ra sau vườn lên tiếng gọi:- Mời hai anh vào, mẹ nói vào ăn kẻo bánh nguội hết ngon.Có tiếng trả lời:- Vào ngay, vào ngay.Sau đó bóng hai chàng trai xuất hiện bên cửa. Linh ngước nhìn lên, một người là anh Phong mà Linh đã biết lâu rồi, còn người kia... Linh trố mắt nhìn, cố nén tiếng kêu vì kinh ngạc, vì bất ngờ, người đó không ai khác hơn là Hoàng. Chàng có già đi đôi chút, có phong trần đôi chút nhưng Linh không thể nào nhầm lẫn một hình bóng đã khắc sâu vào tâm tưởng. Hoàng cũng mở to mắt nhìn Linh vì anh nhớ hình như đã từng gặp ở đâu rồi.Như Mai nhanh miệng lên tiếng giới thiệu:- Đây là anh Hoàng, bạn của anh Phong, còn đây là Ngọc Linh, bạn thân của em đó.Hoàng buột miệng hỏi:- Ngọc Linh à?Linh cúi đầu:- Dạ phải, anh Hoàng không nhận ra Linh sao? Mới có 5 năm thôi mà.Hoàng reo lên:- Ồ! Ngọc Linh. Hèn nào anh thấy như quen quen. Cô bé 13, 14 tuổi ngày xưa bây giờ thành thiếu nữ rồi nên làm sao anh nhận ra được.Thế rồi tất cả ngồi vào bàn ăn, Hoàng ngồi cạnh Linh, họ thân thiết như anh em ngày nào. Hoàng hỏi Linh nhiều chuyện và cũng kể cho Linh nghe nhiều chuyện về chàng. Chợt Linh nhớ về chuyện cũ, một chút hờn mát dâng lên:- Sao hồi đó anh đi không nhắn tin gì lại cho em cả, em không biết anh đi đâu và ở đâu.- Ngày đó anh vừa đậu Tú Tài 2, ba anh được lệnh thuyên chuyển đi nơi khác, nhưng anh không đi theo ba, anh lo thủ tục xin vào Không Quân. Trước khi đi, anh đi ngang qua nhà em mấy lần cố ý tìm em nhưng không thấy. Nhìn vẻ mặt nghiêm khắc của ba em anh không dám hỏi gì hết. Nghĩ lại anh có lỗi với em quá. Anh nghĩ rồi cô bé ấy cũng quên mình thôi, đâu có ruột thịt gì. Bây giờ nếu em muốn trách, anh sẵn sàng nhận lỗi.Linh thầm nghĩ: Tôi trách gì anh đây? đúng rồi, chúng ta đâu phải ruột thịt gì.Sau lần gặp lại, Linh và Hoàng trở nên thân thiết hơn. Và một tình cảm đẹp đã nẩy sinh giữa chàng Trung Úy Không Quân và cô nữ sinh 18 tuổi. Họ thường hẹn hò nhau vào những chiều cuối tuần.Có khi họ ngồi trong một quán nước nhìn ra bến Ninh Kiều mênh mông lồng lộng, ngoài kia sóng nước bạt ngàn, thấp thoáng vài cánh buồm con bơ vơ cuối trời xa thẳm...Cuối bến Ninh Kiều là căn cứ Hải Quân Vùng 4, vài chiếc tàu Hải Quân và Giang Thuyền đang neo bến với hình bóng các thủy thủ lên xuống vội vã.Có khi Hoàng đưa Linh vào câu lạc bộ sĩ quan nghe nhạc vì ở đó có live band với nhiều ca sĩ của tiểu đoàn 40 Tâm Lý Chiến. Linh còn nhớ một đêm kia Hoàng dìu Linh trong điệu boston buồn ray rứt, lãng mạn. Ray rứt như giọng ca tuyệt vời của một ca sĩ trẻ, đẹp trai mà Linh còn nhớ rõ người ta giới thiệu tên anh là Vũ Linh, anh hát quá hay. Giọng người ca sĩ nức nở, buốt giá, lê thê trong nhạc phẩm Sang Ngang của Đỗ Lễ:Thôi nín đi em lệ đẩm vai rồi buồn thêm nữa chi.Mai bước sang ngang lòng thêm nát tan tình đã dở dang.Em khóc những chiều anh xót xa nhiều thương cho tình yêu.Nỗi buồn ai hay khi mình chia tay thôi hết sum vầy…Nước mắt Linh đã làm ướt má nàng tự bao giờ mà Linh không hay biết cho tới khi Hoàng đưa chiếc khăn tay lau nhẹ trên má nàng Linh mới bừng tỉnh. Hoàng cười nhẹ:- Cô bé đa sầu đa cảm quá vậy! Làm người yêu của lính phải kiên cường lên em ạ, nếu không thì không chịu đựng nổi đâu. Bởi vì lính nay đây mai đó, sinh tử bất ngờ, em phải chấp nhận tất cả, được không em?Linh ngước mắt nhìn Hoàng không trả lời chàng mà chỉ gật đầu. Hoàng ôm chặt Linh hơn, tình yêu tràn đầy trong mắt trong môi của hai kẻ yêu nhau.Rồi những đêm đưa nhau về trên con đường Hòa Bình dài hun hút im vắng, hoặc những lần ngồi bên nhau trong công viên Đồ Chiểu nghe lá khua buồn xào xạc... Linh thấy mình ngộp thở trong tình yêu của Hoàng, một hạnh phúc mà Linh không dám mơ ước tới, bây giờ đã thật sự trong vòng tay của mình. Cám ơn anh, anh đã đem đến cho em nụ cười, niềm vui và mơ ước tương lai. Em sẽ trân trọng gìn giữ và nguyện chung thủy suốt đời với anh dù mai này có ra sao.Năm kế tiếp đó Linh vào đại học Luật Khoa Cần Thơ. Linh mơ ước được trở thành một luật sư giỏi để giúp ích xã hội. Thời gian đó vào mùa thu 1974. Tình hình chiến sự rất sôi động trên khắp các chiến trường, kéo dài đến 1975 thì càng khốc liệt hơn.Hoàng bận rộn hết phi vụ này tới phi vụ khác không còn thì giờ sống cho người yêu nữa. Linh lo buồn mất ăn biếng ngủ. Linh mở radio tin dân chúng miền Trung di tản về phía Nam tới tấp. Ngay cả tại thành phố Cần Thơ đêm đêm cũng bị pháo kích ầm ĩ, miểng đạn rớt trên mái nhà rào rào,không khí chiến tranh thật là hãi hùng, căng thẳng. Nhà nhà lo mua gạo, thức ăn khô để phòng khi không có chợ. Linh cũng bận rộn cùng mẹ lo công chuyện nhà nhưng lúc nào cũng không quên cầu nguyện cho Hoàng được bình yên trong cơn lửa loạn.Một thời gian trôi qua trong không khí lo âu, sợ sệt. Bỗng một hôm Như Mai hối hả tìm Linh báo tin:- Linh ơi, anh Phong mình cho hay là máy bay của anh Hoàng bị trúng đạn, bốc cháy và rớt ở vùng Vị Thanh (Chương Thiện). Tin từ Không Đoàn cho biết anh Hoàng đã tử thương rồi.Linh lảo đảo, choáng váng muốn ngất xỉu, Linh nắm áo Như Mai:- Mai ơi! Có thật không, bây giờ mình phải làm sao đây? Hỏi ai, tìm ai để biết rõ ràng hơn?- Mình cũng không biết nữa. Anh Phong chỉ cho biết như thế rồi vội vã vào đơn vị cấm trại rồi. Thôi để chờ anh Phong về sẽ lên đơn vị của anh Hoàng hỏi thêm tin tức cho Linh.Linh bật khóc,khóc như chưa bao giờ được khóc.Đau đớn, xót xa, rạn vỡ. Linh không biết mình khóc cho người yêu vắn số hay khóc cho đời mình dang dở. Những hẹn hò, những nhớ nhung, những chờ đợi, những mơ ước, những xây đắp tương lai đều sụp đổ cả. Linh chỉ còn lại một trái tim băng giá và cõi lòng đau đớn bi thương.Ôi! Ai có ngờ đâu cuộc tình mình diễn ra đúng như lời hát của một đêm nào nơi vũ trường:“Anh hỡi đôi mình mộng nay đã tan tình đã dở dang.Em khóc những chiều ôi xót xa nhiều thương cho tình yêu..Nếu biết rằng họp rồi sẽ tan, nếu biết rằng yêu là đau khổThà dương gian đừng có chúng mình...”Linh ngã bệnh liền sau đó, suốt ngày cứ nằm khóc hoài. Mẹ an ủi vỗ về:- Thôi con ạ, thời buổi chiến tranh là vậy đó, có ai muốn thế đâu. Con là đứa con duy nhất của ba mẹ, nếu con không gượng đứng dậy, nếu con ngã qụy thì ba mẹ làm sao sống nổi. Mẹ biết con đau khổ lắm nhưng thời gian sẽ giúp con quên lãng.Linh nức nở:- Làm sao con quên được mẹ ơi!Sau mấy ngày khóc than vật vã Linh cũng gượng nguôi ngoai cho ba mẹ yên lòng. Nhưng rồi đêm đêm trong phòng vắng Linh vẫn ngồi khóc một mình, khóc trong nỗi đắng cay, nghẹn ngào, tan nát. Linh cố tìm kiếm trong dĩ vãng, trong ký ức những kỷ niệm thiết tha trìu mến, những yêu thương nồng nàn, những ngọt ngào chất ngất.Linh cố tìm trong những giấc mơ một hình bóng đã tan thành ảo ảnh nhưng vẫn ngập đầy nhung nhớ…Mấy ngày sau đó Tướng Dương văn Minh tuyên bố đầu hàng, tất cả hàng ngũ Quân Lực VNCH bỗng dưng tan rã hết. Linh không còn gặp được ai, biết ai để hỏi thăm thêm tin tức về cái chết của Hoàng... Tìm gặp được Như Mai thì được biết anh Phong khi nghe tin phải đầu hàng đã nhảy lên chiếc tàu Hải quân của người bạn đi mất rồi. Linh thật sự tuyệt vọng, Linh cảm thấy mình run rẩy, lạnh buốt như vừa rơi xuống vực sâu âm u thăm thẳm. Thế là hết, không còn biết gì hơn là Hoàng đã vĩnh viễn ra đi, vòng tay thân mến ấy đã buông Linh ra mãi mãi. Không biết xác thân anh còn nguyên vẹn hay nát tan theo chiếc phi cơ vỡ vụn. Linh không dám nghĩ gì thêm nữa... Con chim bằng đã gãy cánh, đã rơi rớt ở một vùng trời nào đó không bao giờ quay trở lại, cũng như cánh diều ngày xưa đã đứt dây rồi, đã bay xa rồi làm sao tìm thấy nữa....Linh ngước nhìn lên bầu trời, những đám mây viễn xứ vẫn trôi và trôi mãi như không bao giờ dừng lại ở một nơi nào. Linh mơ màng thấy một cánh diều màu tím đang bay giữa trời chiều lộng gió. Diều bay rất cao, Linh thấy Hoàng ở trên đó đang vẫy tay, đang mỉm cười với Linh. Nhưng cánh diều bay càng cao, xa dần, xa dần... trong khi mắt Linh hoen mờ lệ.VI VÂN
Trận Chiến Tại Vùng Cà Ná, Mũi Dinh Ngày 18/4/1975
Kể từ chiều 30 tết Ất Mão tức là ngày 10/2/1975, HQ 503 được lệnh phân tán mỏng, từ Sài Gòn ra thả neo tại Vũng Tàu. Rồi sau đó chiến hạm đi công tác liên tục. Hết ra miền Trung, rồi xuống tận Phú Quốc, Côn sơn. Hết ra Quy Nhơn, rồi đến Nha Trang, Cam Ranh, Hàm Tân, Vũng Tàu. Khi chiến hạm có chuyến công tác di tản quân dân cán chính về Sài Gòn thì còn gì vui hơn cho thủy thủ đoàn vì họ có dịp về thăm gia đình, bạn bè, người yêu. Ở ngoài biển, trăng đại dương không đủ ánh sáng để viết thư đêm. Lần nầy tàu về bến, lính biển hẹn người tình đi ăn kem, dạo phố. Thế thì tuyệt vời. Nhưng vào đầu Xuân năm ấy tình hình chiến sự ngày càng gia tăng. Quân dân cán chính ở những nơi bị địch xâm chiếm đang mong chờ sự tiếp ứng, cứu vớt, di tản của chiến hạm. Thế là, trong vài ngày ở bến, chiến hạm tiếp nhận nhiên liệu, mua sắm thực phẩm rồi lên đường công tác tiếp.Tình hình Phan Rang:Phan Rang thất thủ ngày 16/4/1975. Lúc bấy giờ chiến hạm tôi đang hoạt động trong khu vực chiến đấu cùng với nhiều tàu chiến khác ở vùng biển thuộc vịnh Cà Ná, Mũi Dinh tỉnh Phan Rang trong nhiều tuần lễ qua để cứu vớt quân cán chính và đồng bào đang đổ xô ra biển bằng ghe chạy tỵ nạn cộng sản. Chiến hạm tôi cùng với những chiến hạm khác trong vùng còn có nhiệm vụ chận đứng hoặc giảm thiểu tối đa áp lực tấn công của cộng quân hướng vào Phan Thiết. Lúc bấy giờ Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh là Tư Lệnh Hải Quân vùng 2 Duyên Hải.Tuy nhiên, cho tới trước ngày 17/4/1975, khi những chiến hạm H3 và HQ17..v.v... chưa đến tăng viện chiến trường vùng Cà Ná, Phan Rang thì Hạm trưởng HQ503 là Hải quân Trung tá Nguyễn văn Lộc (K11 SQHQNT) có cấp bậc thâm niên cao nhất tại vùng nhận quyền chỉ huy chiến thuật OTC trong vùng trách nhiệm.Vào đêm 16/4/1975 chúng tôi nhìn thấy trên quốc lộ 1 nằm sát bờ biển có rất nhiều ánh sáng di động cách nhau từ khoảng 50m đến 70m từ Phan Rang hướng về Phan Thiết. Trợ chiến hạm HQ 231, Hộ tống hạm HQ11 cũng như nhiều loại chiến đỉnh khác được lệnh dùng hỏa lực chận đứng sự di chuyển của cộng quân bằng các loại quân xa chở bộ đội hướng về Phan Thiết vào ban đêm trên quốc lộ 1 sát biển.2 chiến hạm nầy đã dùng hỏa lực mạnh, đại bác 76,2 ly và đại bác 40 ly để tấn công đoàn xe cộng quân. HQ Th/tá Nguyễn văn Phước (K15/SQHQNT), Hạm trưởng Trợ chiến hạm HQ231 đã tham dự trận chiến kể lại:Ban đêm, quốc lộ 1 sáng rực lên, kéo thành một vệt dài như con rắn, uốn khúc theo sườn núi.Quân xa của địch, mở đèn sáng trưng, chạy nườm nượp như vào chỗ không người. Tôi thở dài: Phan Thiết chắc chắn rồi sẽ mất. Nhưng là chiến sĩ là phải chiến đấu đến giờ phút cuối cùng. HQ11 và HQ231 tắt đèn tối om, tiến vào bờ và bắn trực xạ vào cái đám lúc nhúc đó. Nghe tiếng đại bác, chúng vội vàng tắt đèn đứng im. Chúng tôi cũng ngừng bắn vì không thấy bọn chúng. Khi chúng mở đèn tiếp tục chạy, chúng tôi lại bắn. Thỉnh thoảng một chiếc xe cháy đỏ rực lên là biết trúng đạn của chiến hạm. Địch hoạt động suốt đêm. Chúng tôi cũng bắn phá suốt đêm không biết mệt vì nghĩ đến sự sống còn của đất nước. Chắc có lẻ địch bị thiệt hại nặng và bị ngăn chận không tiến nhanh được.Sáng tờ mờ đã thấy nhiều chiếc T54 của chúng xuất hiện. Trung Tá San quả thật là một hạm trưởng gan lì và nhiệt huyết. Ông cho tàu tiến gần sát bờ, đấu súng với T54. Nhưng chiến hạm bị bất lợi vì mục tiêu lồ lộ, còn bọn chúng núp vào khe núi bắn ra. Chúng tôi còn một bất lợi nữa là muốn tác xạ chính xác, chiến hạm phải luôn luôn di chuyển để giữ đúng hướng. Ngừng tại chỗ, gió và sóng biển sẽ làm chiến hạm xoay, không thể bắn chính xác được. Còn nếu tiếp tục chạy đưa mũi tàu vào bờ, đến một lúc nào đó, phải quay ra, lúc đó là mục tiêu cho địch bắn. Cho tàu chạy song song với bờ thì cũng là mục tiêu tốt cho địch.Chúng tôi chỉ có 2, còn chúng vô số kể. Tàu HQ11 bị bắn trúng pháo tháp 40 ly và hầm máy. 1 thượng sĩ đứt đầu chết tại chỗ, vài thủy thủ bị thương nặng. Trong khi đó, 1 trung đoàn của sư đoàn 2 bộ binh, án ngữ mũi Cà Ná, bị VC tràn ngập, các đơn vị của ta rút xuống biển, Dương vận hạm HQ503, Hạm trưởng Trung tá Nguyễn văn Lộc, có nhiệm vụ bốc các chiến sĩ của ta lên Trợ Chiến Hạm Nguyễn Đức Bổng, HQ231.Đúng vậy, sáng sớm hôm sau 17/4/1975, lúc tôi đang đi phiên, hiện diện trên đài chỉ huy thì được biết Hộ Tống Hạm HQ11, HQ Thiếu tá Phạm Đình San (K10/SQHQ NT) là Hạm trưởng, đang tiến vào bờ để quan sát tình hình. Vì khoảng cách giữa HQ503 và HQ11 hơi xa nên tôi không nhận diện rõ vị trí của HQ11. Qua vô tuyến tôi có nghe các Hạm trưởng liên lạc với nhau. Trong phút chốc chúng tôi nghe đạn pháo từ bờ bắn ra chiến hạm. Theo như nhân viên thủy thủ đoàn đã hiện diện trên đài chỉ huy HQ11 lúc bấy giờ cho biết thì đó là pháo từ những xe tăng T54 của cộng quân trên bờ bắn ra hướng về chiến hạm HQ11.Cũng qua vô tuyến tôi được nghe từ HQ11 cho biết rằng chiến hạm HQ11 đã bị trúng đạn làm cho 1 thượng sĩ tử thương và 2 thủy thủ bị thương. Tức thời, tất cả chiến hạm đang hiện diện gần bờ đã nhanh chóng rút ra xa khỏi bờ. Được biết, cộng quân đã dùng cả xe quân sự lẫn xe dân sự để chuyển quân vào Phan Thiết sau khi Phan Rang lọt vào tay cộng quân.Chiến hạm HQ503 lúc đó đang thả neo cách xa bờ để cho dễ dàng liên lạc và tiếp nhận quân cán chính từ bờ được chuyển bằng ghe nhỏ ra chiến hạm. HQ503 cũng vội nhổ neo và di chuyển lên hướng mũi Dinh để tiếp tục cứu vớt quân dân cán chính đang tìm cách di chuyển ra chiến hạm.Kể từ chiều ngày 17/4/1975, Tuần Dương Hạm HQ17, HQ3 đến tăng viện cho chiến trường. Hải quân Trung tá Trương Hữu Quýnh (K11/SQHQ/NT) là Hạm trưởng HQ 17 có cấp bậc thâm niên nhất,nhận quyền chỉ huy chiến thuật (OTC) thay thế Hạm trưởng HQ503. Cũng theo như HQ11 cho biết, khi HQ17 và HQ3 nhập vào vùng chiến cũng bị cộng quân từ bờ bắn ra, nhưng may mắn các chiến hạm không bị trúng đạn của cộng quân. HQ503 khi còn là OTC, từ những ngày trước, chiến hạm tôi nhận lệnh phải cứu Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi đang lẩn tránh trong núi và tìm cách lên tàu. Lúc bấy giờ ông dùng biệt hiệu là Vương Hồng và liên lạc qua hệ thống truyền tin bằng âm thoại (máy PRC25) với chiến hạm của tôi sau khi Phan Rang thất thủ. Trong suốt thời gian liên lạc với biệt danh Vương Hồng, chúng tôi thấy trên núi gần bờ biển mũi Dinh có tín hiệu bằng gương phản chiếu ánh sáng mặt trời chiếu ra. Chiến hạm tôi tức thời di chuyển đến gần bờ hơn để nhờ các ghe nhỏ chạy ngang qua vào đón ruớc và sẽ trả tiền hoặc đưa dầu Diesel cho họ.Lần nầy khi chiến hạm vào gần bờ giữa mũi Cà Ná và mũi Dinh thì cứu vớt thêm một số quân Biệt Kích từ trong bờ đi ghe nhỏ ra chiến hạm. Số Biệt Kích cho biết trong bờ còn có bạn bè đồng đội nữa, vì vậy mà chiến hạm tôi di chuyển chậm chạp gần bờ, gần nơi có gương phản chiếu trên bờ, để chờ những ghe chở quân nhân ra chiến hạm tiếp tục. Mặc dù vậy, ở vùng đó HQ503 không bị pháo của cộng quân.Ra hải ngoại nhờ xem bản đồ trên google, qua không ảnh của vệ tinh, tôi mới hiểu, sở dĩ cộng quân không thấy chúng tôi là vì đại bác của cộng quân được đặt trụt vào phía trong vịnh Cà Ná. Ngay tại mũi Cà Ná thì mõm đá gồ ghề, đại pháo của cộng quân không thể kéo ra được và đặt tại đó. Ngoài ra, cộng quân sợ ta dễ dàng phát hiện vị trí đặt đại pháo của chúng và có thể bị phá hủy bởi hải pháo của ta, vì thế tầm quan sát của cộng quân từ bờ ra vùng biển giữa mũi Cà Ná và mũi Dinh bị giới hạn. Chúng chỉcó thể quan sát ở phía trước vịnh Cà Ná mà thôi. Nhờ vậy,chúng đã không thể phát giác ra HQ503 khi cứu vớt quân cán chính lên chiến hạm vì tầm nhìn đã bị đồi núi ở mũi Cà Ná che khuất. Nhưng nếu chiến hạm nào chạy đến gần mũi Cà Ná thì cộng quân có thể phát giác được và có thể bị đại pháo của chúng từ bờ bắn ra vì mục tiêu lọt vào tầm quan sát của chúng.Thật vậy, vào buổi chiều ngày hôm trước, khi HQ 503 còn ở phía Nam mũi Cà Ná, chúng tôi có xem thấy 1 chiếc PCF vừa di chuyểntừ mũiDinh ở phíaBắc xuống phía Nam. Khi chiến đỉnh PCF vừa chạy ngang qua mũi Cà Ná, cách khoảng 3 hải lý, thì bị đại pháo cộng quân bắn ra. Tôi và các sĩ quan HQ503 có nhìn thấy vài trái đạn của cộng quân bắn rơi gần chiến đỉnh PCF. Tức thời PCF lấy mũi hướng ra khơi và chạy hết tốc lực. Chốc lát đã thấy PCF rời xa mũi Cà Ná. Cũng chính gần chỗ biển nầy mà ngày hôm sau HQ503 bị bắn.HQ503 bị pháo của cộng quân:Vào sáng ngày 18/4/1975, HQ503 trở lại vùng biển giữa mũi Cà Ná và mũi Dinh để cứu vớt thêm một số quân cán chính được các ghe đánh cá chở ra chiến hạm. HQ 503 di chuyển lên xuống gần đó.Khoảng 16g 50 chúng tôi, tất cả sĩ quan trên chiến hạm gồm có Hạm trưởng, Hạm phó, sĩ quan đệ nhất cho tới sĩ quan kém thâm niên nhất trên chiến hạm ngoại trừ các sĩ quan đương phiên đều đang hiện diện trong phòng ăn sĩ quan để dùng cơm chiều. Thông thường như mọi ngày, sau khi ăn cơm xong, sĩ quan nào có nhiệm vụ đi ca thì rời khỏi phòng để chuẩn bị lên thay thế ca đương nhiệm trên đài chỉ huy. Số sĩ quan còn lại thì ngồi trò chuyện trong phòng ăn sĩ quan hoặc tự do.Trong lúc vừa ăn vừa trò chuyện thì cơ khí trưởng Đại úy Hà (SQ/HHTT) cho biết hệ thống nước ngọt của chiến hạm bị hư đang được sửa chữa. Cơ khí trưởng Hà xin phép Hạm trưởng và đề nghị HQ Trung úy Trần Ngọc Điệp (K1/SQOCS) đang trưởng phiên cho tắt máy trong chốc lát để sửa chữa tiếp tục. Được Hạm trưởng chấp thuận, xong bữa ăn, Đại úy Hà rời phòng ăn sĩ quan đi xuống hầm máy. Sau đó Đại úy Hà liên lạc với Trưởng phiên đương nhiệm là Trung úy Điệp và cho ngưng cả 2 máy tả và hữu của chiến hạm. Cá nhân tôi và vài sĩ quan khác cũng sắp sửa rời phòng ăn để chuẩn bị lên đài chỉ huy đổi phiên lúc 17g 30. Trong lúc chiến hạm đang tắt máyvà xuôi theo dòng nước khoảng 17g 15, mũi chiến hạm hướng về phía Nam, gần bờ biển mũi Cà Ná, cách bờ khoảng 5-7 cây số thì pháo của địch từ bờ bắn ra. Thế là nhiệm sở tác chiến được ban hành từ đài chỉ huy khi trái đạn đầu tiên của địch quân rơi gần chiến hạm. Hạm trưởng rời phòng ăn, tức tốc chạy lên đài chỉ huy. Tất cả thủy thủ đoàn và sĩ quan trên tàu đều nhanh chóng đến vị trí nhiệm sở tác chiến của mình. Tôi vội chạy vào phòng ngủ để lấy nón sắt chạy đến nhiệm sở tác chiến. Phòng ngủ của tôi nằm dưới sân thượng và bên phải của chiến hạm. Lúc đó phòng ngủ của tôi nằm hướng bên bờ. Khi tôi vừa rời phòng trong giây lát thì một trái đạn 105 ly rơi trúng ngay phòng tôi nổ tung. Một mảnh đạn bắn xiên lên phòng truyền tin nằm ở chính giữa chiến hạm, phía dưới sân thượng, gần phòng an Sĩ quan làm cho HQ Trung úy Nguyễn Anh Kỳ (K21/SQHQ/NT), trưởng ban Truyền tin, tử thương. Phước lớn cho tôi. Một trái đạn khác rơi gần khẩu đại bác 40 ly đôi ở phía sau lái của chiến hạm làm HQ Trung úy Phạm Nghĩa Vụ (K20/ SQHQ/NT trưởng khẩu bị thương. May mắn cho Tr/úy Vụ thoát khỏi lưỡi hái của tử thần. Loạt đạn pháo kế tiếp của cộng quân được bắn, chiến hạm tôi tiếp tục bị trúng đạn. Một trái pháo 105 ly rơi vào đài chỉ huy, gặp phải ghế ngồi của Hạm trưởng, nổ tung làm cho 3 sĩ quan là HQ Trung úy Trần Ngọc Điệp (K1/SQOCS), HQ Trung úy Độ (tương đương K21/SQHQNT)và HQ Thiếu úy Trần Thanh Nghị (K23 SQHQNT) cùng 2 nhân viên Giám lộ đương phiên bị tử trận. Hạm trưởng HQ Trung tá Nguyễn văn Lộc (K11/SQHQNT) đang đứng ngay ở ống liên lạc trước đài chỉ huy xuống phòng lái điện ở tầng dưới đài chỉ huy để ra lệnh, thì bị những mảnh kiếng của đài chỉ huy vỡ bể cũng như mảnh đạn nổ văng trúng vào cổ, vào vai, vào đầu, người, của Hạm trưởng. Hạm trưởng bị thương và máu chảy ra rất nhiều. May mắn cho Hạm trưởng, đã thoát chết.HQ Trung tá Nguyễn Văn Lộc vừa được thuyên chuyển lên HQ503 thay thế HQ Trung tá Dương Bá Thế (K10/ SQHQNT), nhận quyền chỉ huy và là tân Hạm trưởng HQ503 đi chuyến công tác đầu tiên.Đài chỉ huy của chiến hạm bị hư hại nặng. Hệ thống điện bị trở ngại. Tay lái điện bất khiển dụng. Chiến hạm bị lao đao. Hạm phó là HQ Đại úy Hùng K16/SQHQ/NT từ phòng truyền tin, chạy lên phòng lái điện nằm trực tiếp phía dưới đài chỉ huy, thay thế Hạm trưởng để hướng dẫn chiến hạm di chuyển ra khỏi tầm đạn pháo. Lúc bấy giờ chiến hạm phải sử dụng tay lái nằm dưới hầm máy và rất khó khăn khi điều chỉnh mũi chiến hạm hướng ra khơiđể xa bờ.Thay vì tàu chạy ra khơi thì mũi tàu lại hướng vào bờ. Mặc dù Hạm trưởng bị thương nặng nhưngvẫn cố gắng cùng Hạm phó để chỉ huy thủy thủ đoàn đưa chiến hạm thoát khỏi vùng nguy hiểm.Ngay những loạt đạn của cộng quân pháo đầu tiên, Tuần dương hạm HQ17, HQ3 và các chiến hạm khác trong vùng đã nhanh chóng tiến đến gần HQ503 để tiếp cứu, đồng thời nả hải pháo 127 ly và 40 ly vào vị trí đặt đại pháo của cộng quân. Hạm Trưởng HQ17 cùng khóa 11/SQHQNT với HTHQ503.Theo như HQ11 cho biết, lúc đó Hộ tống hạm HQ11 đang công tác tuần tiểu tại phía Nam mũi Cà Ná, cách đó vài ba hải lý, vội vàng nhấn còi nhiệm sở tác chiến, hai máy tăng tốc tối đa, vừa chạy đến gần HQ503 để tiếp ứng, vừa nả hải pháo 76,2 ly vào nơi pháo của cộng quân bắn ra. Đồng thời Hạm trưởng HQ11 Phạm đình San ra lệnh cho thủy thủ đoàn vận chuyển dây thừng cở to từ hầm chứa lên boong để sẵn sàng tròng kéo HQ503 vì tưởng rằng HQ503 không thể rời khỏi vùng chiến đấu được.Tình chiến hữu, tình đồng đội, tình chiến hạm là ở chỗ đó! Mà đúng vậy, Hạm trưởng Phạm Đình San là khóa đàn anh (K10/SQHQNT) và cũng là bố của Hạm trưởng Nguyễn văn Lộc (K11/SQHQNT) khi còn trong quân trường theo truyền thống (bố con) của Hải Quân VNCH.Những trái đại bác của cộng quân nổ chát chúa khắp nơi xung quanh chiến hạm HQ503 xảy ra liên tục. Chiến hạm HQ503, loại Dương vận hạm, vừa to lớn cồng kềnh mà hệ thống điện lại vừa bị hư hại nên di chuyển rất khó khăn, tưởng rằng chiến hạm khó có thể ra khỏi vùng bị pháo. Mỗi khi chiến hạm bị trúng đại pháo của cộng quân thì khắp nơi trên chiến hạm rung chuyển. Những mảnh đạn pháo trúng vào thành tàu, khung tàu,va chạm lẫn nhau phát ra những âm thanh tử thần vang dội và tưởng rằng chiến hạm có thể bị chìm. Trong khi chiến hạm chúng tôi đang lạng quạng, mũi đang hướng vào bờ thì bị loạt đạn kế tiếp của cộng quân pháo tới. Nhưng có lẽ xạ thủ của cộng quân tính sai nên nguyên loạt đạn quá tầm. Tất cả rơi ra khơi, rớt xa chiến hạm. Rồi sau đó ngừng hẳn. Có lẽ đại pháo của địch bị trúng đạn hải pháo từ các chiến hạm của ta nên chúng bất khiển dụng.Sau khoảng 1 giờ 30 phút giao tranh thì cộng quân không còn bắn đại pháo vào chiến hạm tôi nữa, mặc dù chiến hạm tôi vẫn còn nằm trong tầm pháo của cộng quân.Chiến hạm đã bị trúng tổng cộng trên 10 trái pháo. Số lượng đạn cộng quân bắn ra chiến hạm HQ503 khoảng 40 trái hoặc nhiều hơn. Hầu hết đạn pháo của cộng quân rơi xung quanh chiến hạm. Một số trúng phía sau lái của chiến hạm, từ đài chỉ huy trở về sau. Chỉ có một vài trái đạn trúng bên hông giữa chiến hạm. Nhưng rất may là không trái đạn nào trúng lườn chiến hạm ở dưới mặt nước cả.Chiến hạm không bị vô nước.Trên chiến hạm chở khoảng 350 đồng bào chạy tị nạn gồm các quân dân cán chính đã được cứu vớt trước đó mấy ngày nhưng không ai bị thương vì họ tạm trú ở phía trước của boong chiến hạm.Sau nầy kiểm soát thì thấy những mảnh đạn 105 và 155 ly, có thể đó là những khẩu đại pháo 105 và 155 ly của quân lực VNCH bị cộng sản tịch thâu được và chúng di chuyển đến bờ biển vùng Cà Ná mũi Dinh, đặt và ngụy trang tại đó để bắn thẳng vào chiến hạm chúng tôi, Dương Vận Hạm Vũng Tàu HQ503.Tất cả thủy thủ đoàn và quân dân cán chính trên chiến hạm rất đau buồn và thương tiếc 4 sĩ quan và 2 nhân viên Giám Lộ của chiến hạm đã hy sinh. Thêm vào đó có 18 thủy thủ của chiến hạm bị thương. Máu me lai láng ở phòng ăn sĩ quan, phòng ăn đoàn viên được dùng làm nơi để băng bó vết thương cho thương binh ngay cả ở phòng truyền tin và ở nhiều nơi khác trên chiến hạm. Mặc dù tình hình chiến hạm như vậy, sau khi ngưng tiếng súng, đến vùng an toàn, Hạm trưởng Nguyễn Văn Lộc đã chỉ thị cho nhà bếp nấu cháo cho các em bé và người già có ăn. Thật là một vị hạm trưởng nhân hậu.HQ503 trở lại Sài Gòn:Chiến hạm HQ503 dần dần ra khỏi vùng chiến đấu và được lệnh trở về Sài Gòn với sự hộ tống của Hộ tống hạm HQ11. Qua những ngày dài HQ503 di chuyển một cách chậm chạp, chiến hạm đã về đến Bộ Tự Lệnh Hạm Đội Sài Gòn an toàn. Sau đó chiến hạm được lệnh sửa chữa khẩn cấp.Sau khi chiến hạm về tới bến, vào những ngày đầu, tất cả sĩ quan và thủy thủ đoàn rất bận bịu nhiều công việc. Ngoài việc đi tham dự những buổi Lễ An Táng của 4 Sĩ quan và 2 nhân viên đã Vị Quốc Vong Thân, trên chiến hạm thiếu sĩ quan, tôi được điều động thay thế và trực nhiều ngày ở chiến hạm để chuẩn bị cho chuyến hải hành viễn dương vô thời hạn. Chỉ trong vòng 3 ngày, ban ẩm thực trên chiến hạm đã mua sắm đầy đủ thực phẩm dùng cho 3 tháng. Thủy thủ đoàn được thông báo chuẩn bị đi công tác dài hạn.Trong 2 ngày phép về thăm gia đình từ 28 đến 29 tháng 4 năm 1975, tôi đã cùng với vợ mới cưới vào ngày 30--1-1975 chuẩn bị hành trang để sẵn sàng theo chiến hạm ra đi. Sáng ngày 30-4-1975, hết phép, tôi xuống lại chiến hạm đang đậu tại Bộ Tư Lệnh Hạm Đội Hải Quân Sài Gòn thì mới biết hầu hết những chiến hạm khác đã ra khơi trong đêm 29-4-1975. Vì chiến hạm tôi bất khiển dụng nên không thể rời quân cảng được. Thế là hầu hết thủy thủ đoàn của chiến hạm HQ503 bị kẹt ở lại. Những sĩ quan bị bắt đi tù với mỹ từ “học tập cải tạo”.-----Được sự góp ý của Niên trưởng HQ Thiếu tá Phạm đình San (K10 SQHQNT) cũng như từ chiến hữu thuộc thủy thủ đoàn HQ11, hồi ký Trận Chiến tại vùng Cà Ná, mũi Dinh Phan Rang được bổ túc thêm dữ kiện. Nhớ lại năm xưa, không những riêng tôi mà thiết nghĩ cả thủy thủ đoàn HQ503 đang còn hiện diện trên cỏi đời nầy rất biết ơn tất cả các Hạm trưởng và toàn thể thủy thủđoàn của các chiến hạm như HQ11,HQ231,HQ3,HQ17,HQ07 và tất cả chiến hạm hiện diện tại vùng Cà Ná, mũi Dinh đã tham dự trận chiến ngày 18/4/1975, đã cứu nguy HQ 503 ra khỏi vùng chiến đấu. Nếu không có sự tiếp cứu của các chiến hạm, có thể HQ503 sẽ bị thiệt hại nặng hơn, số tử vong có thể gia tăng và chiến hạm có thể là mục tiêu sẽ bị bắn chìm vì HQ503 không có đại pháo 76,2 ly hay 127 ly để chống trả đối phương. Xin một phút nghiêng mình tưởng niệm đến các Chiến Sĩ thuộc Thủy Thủ Đoàn HQ503, HQ11 đã Vị Quốc Vong Thân.Nhân đây tôi cũng xin cảm ơn quý Niên trưởng, quý chiến hữu Hải Quân đã cung cấp cho tôi nhiều dữ kiện hữu ích để cho hồi ký được hoàn hảo hơn.Nguyễn Văn Phảy(Đệ Nhị Song Ngư)Cựu Trưởng Ban Giám Lộ kiêm Thám Xuất HQ503 Kho tàng của Bảy Viễn ở Rừng Sát
Khi quân đội Việt Nam Cộng Hòa bắt đầu thành lập đến cấp Sư Ðoàn, Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 32 đóng ở Quảng Ngãi. Bộ Tư Lệnh này được di chuyển về Biên Hòa, đóng tại Nhà Dù, để lấy 3 Trung đoàn 10, 11, 12 lập ra Sư Ðoàn (sau đó đổi tên là Sư Ðoàn 7, xuống đóng ở vùng 4). Trung Ðoàn 12 là tên của Trung Ðoàn 54 cũ, do Thiếu tá Ðỗ Hữu Ðộ làm Trung Ðoàn trưởng. Thiếu tá Ðộ học khóa 5 Ðà Lạt, tôi học khóa 6, nên ông là niên trưởng của tôi. Chúng tôi biết nhau từ khi ông coi Tiểu đoàn 2 ở Quảng Ngãi. Ông giàu kinh nghiệm chiến trường vì hành quân nhiều ở ngoài Bắc, là một trong những Tiểu Ðoàn trưởng trẻ ở Bắc Việt. Tôi sau khi đi học ở Fort Benning về, được làm Trung đoàn phó cho ông. Trong Sư Ðoàn ngày ấy, người ta đồn ông rất giàu có, vì khi hành quân dẹp Bình Xuyên ở Rừng Sắt, ông đã bắt được Lê Paul là con của tướng Bảy Viễn, và đã thu được một trong những kho tàng của Bảy Viễn ở Rừng Sát. Ông cũng nổi tiếng là người dám tổ chức cướp kho súng của Pháp, kể cả xe tăng, khi quân Pháp tập trung ở căn cứ Bà Rịa để rút về Pháp qua ngả Vũng Tàu. Căn cứ này sau là nơi tạm trú của Trung đoàn 12. Khi Trung Ðoàn 12 thuộc Sư Ðoàn 7 chuyển về miền Tây, nơi này trở thành Trung tâm Huấn luyện Chi Lăng sau này. Khi quân Pháp đóng tại căn cứ này, Trung đoàn 54 cũng đóng cùng trại. Một số quân nhân của Trung đoàn được sự đồng ý của Thiếu tá Ðộ, tổ chức lấy lại một số súng của Pháp trước khi họ về nước, và cũng định lấy lại một số xe tăng nữa cho quân ta xài sau này. Họ cho lính Pháp lái xe tăng và coi kho uống rượu pha thuốc ngủ, để dễ hành động. Rủi sự việc có người tiết lộ, hay không biết do đâu mà cấp chỉ huy Pháp biết được, nên báo động kịp thời. Quân ta chỉ mới lấy được một số súng cá nhân. Ðại sứ Pháp liền viết thư phản đối với Thủ tướng Diệm. Thủ Tướng giao cho Nha An Ninh Quân Ðội điều tra. Ngày ấy Nha An Ninh do Thiếu tướng Mai Hữu Xuân coi. Buổi sáng Chủ nhật hôm ấy tôi lên tư thất Ðại tá Tôn Thất Xứng, là Tư lệnh Sư đoàn 4 lúc bấy giờ để đi cùng ông xuống trại Tam Hiệp (thuộc Biên Hòa) để tìm nơi lập Trung tâm Huấn luyện Sư đoàn. Tôi đến gặp lúc ông đang cắt tóc, nên ngồi đợi và nói chuyện cùng ông (ngày ấy tôi là Chỉ huy trưởng Tổng Hành Dinh Sư đoàn). Chợt có tiếng điện thoại reo, tôi ra nghe, người đầu dây bên kia xưng là Thiếu Tướng Xuân Nha An Ninh. Tôi trình Ðại tá Xứng ra nghe. Không rõ bên kia nói gì, nhưng nét mặt Ðại tá có vẻ nghiêm trọng, và hỏi lại: Thiếu tướng muốn Thiếu tá Ðộ về ngay hôm nay? Rồi ông trả lời tiếp là “vâng” và cúp máy. Ông quay nhìn tôi hỏi:– Anh có biết việc Ðộ đầu độc quân Pháp để cướp súng và xe tăng không?– Tôi có nghe đồn, nhưng sự việc xảy ra từ hồi mình còn ở Quảng Ngãi, và có thành công đâu.– Sao moa không biết gì. Ông Xuân nói Thủ tướng bắt điều tra gấp, và bắt Ðộ về trình diện An Ninh quân Ðội. Anh gọi Ðộ ra gấp gặp tôi.Tôi dùng ngay điện thoại gọiThiếu tá Ðộ.Ông hỏi lại tôi:– Anh biết Ðại tá gọi về có việc gì? Moa có phải mang thêm tài liệu gì không?– Dạ chắc không cần mang tài liệu gì. Thiếu tá về gấp đi, tôi đang ở tư thất của Ðại tá Tư lệnh, vậy Thiếu tá về thẳng nhà Ðại tá. Tôi cũng đợi thiếu tá ở đây.Vừa gác điện thoại thì Ðại tá Xứng nói với tôi, có vẻ băn khoăn lắm:– Moa lo Ðộ sẽ gặp khó khăn về việc này. Ông Xuân nói với moa có vẻ quan trọng lắm, moa sợ Ðộ về gặp ổng dám giữ lại lắm.– Thì Ðại tá phải lo cho ông ấy chứ. Ông làm vì quân đội, đâu phải cho cá nhân ông. Ðại tá nghĩ lấy súng và xe tăng để giữ cho quân đội chứ ông bán được sao!– Vẫn biết vậy, nhưng toa biết không, ông Xuân này là người của Pháp, và là một mật thám cũ, thế nào cũng bênh Pháp, làm lớn chuyện ra.– Hay Ðại tá đừng cho ông Ðộ về trình diện vội. Ðại tá gọi dây nói cho Thiếu tướng Xuân trước,nói Thiếu tá Ðộ đang bận hành quân, xin cho xong rồi về trình diện sau.– Ðâu có được, moa đã đồng ý rồi. Vả lại, hoãn ít hôm cũng phải về trình diện.Ðại tá Xứng là người nóng tính, thanh liêm, nhất là quý mến anh em hết lòng. Bất cứ việc gì có hại đến người dưới quyền, ông bênh đến cùng. Ðiều cần là trình thẳng với ông và phải thành thực.Lúc bấy giờ, tuy là thời bình nhưng ông gay gắt vấn đề huấn luyện lắm. Ông là người đầu tiên bắt binh sĩ tập di hành. Tuần nào binh sĩ cũng phải di hành, đeo ba lô nặng 20 kí, đi cả mấy chục cây số. Lính đứng gác cũng phải đeo ba lô. Có lần binh sĩ của tôi di hành qua Hố Nai, dân chúng hỏi các anh đi hành quân chiến dịch nào đây. Có anh trả lời, chúng tôi đi chiến dịch Tôn Thất Xứng đây, mọi người cười vang. Thế mà có người mách ông, ông chỉ cười và hỏi lại tôi có đúng không? Nhiều lần cần tiền, ông nhờ tôi cho vay lương trước, để chi tiêu trong gia đình. Tôi làm việc với ông rất thoải mái, tuy hơi vất vả nhưng yên tâm, vì biết tính ông rất tốt với anh em. Có lần tôi gặp khó khăn với Nha Quân Nhu về việc đổi quân trang cho anh em. Khi lên trình xin ông can thiệp, ông gọi ngay cho Ðại tá Giám đốc Quân Nhu phàn nàn, và tôi được đổi ngay.Về Thiếu tướng Xuân, tôi cũng được biết ông khá nhiều sau này. Năm 1955, có 2 chiến dịch là Trương Tấn Bửu ở miền Ðông, và Thoại Ngọc Hầu ở miền Tây. Tướng Dương Văn Minh chỉ huy chiến dịch Thoại Ngọc Hầu, Tướng Mai Hữu Xuân chỉ huy chiến dịch Trương Tấn Bửu. Sư đoàn 4 hành quân ở miền Tây, tôi là chỉ huy trưởng hậu cứ Biên Hòa. Ðại úy Trương Văn Minh là Trưởng phòng 2 Sư đoàn, kiêm nhiệm trưởng phòng 2 chiến dịch Trương Tấn Bửu. Tham mưu trưởng là Ðại tá Trần Thiện Khiêm. Một lần Ðại úy Minh gặp tôi, nói Thiếu tướng Xuân nhờ anh về Sư đoàn mượn từ 20 đến 80 chiếc GMC để có thêm phương tiện di chuyển quân, và chở vũ khí tịch thu được của binh sĩ Cao Ðài về hàng, cùng các vũ khí thặng dư của các tỉnh. Tôi trình cho Ðại tá tư lệnh, ông đồng ý cho mượn theo tôi thu xếp. Thiếu tướng Xuân bằng lòng lắm. Ngay gần bộ Tư lệnh chiến dịch có một trại giáo huấn khá lớn, giam giữ khá đông tù chính trị,hầu hết là Cộng sản (tôi không biết chắc là bao nhiêu, nhưng ước lượng từ 6 đến 700 người). Trại này đóng ngay trước dưỡng trí viện (nhà thương điên) Biên Hòa. Một sáng Chủ nhật, tù nhân lợi dụng canh gác lỏng lẻo vào cuối tuần, bắt giam giám thị, phá cổng chạy trốn vào rừng cao su quanh đó. Trại giam báo động, gọi về bộ Tư lệnh chiến dịch xin tiếp ứng, gọi cả về Sư đoàn cầu cứu nữa. Rất may hôm ấy tôi có mặt, vội điều động lính gác Sư đoàn, và cho xe đi trại gia binh điều động các quân nhân đi tiếp cứu. Cả một vùng rộng lớn bị bao vây, bắt lại được gần 40 tên trốn trại (tính ra chỉ mất có 12 người).Anh Minh kể với tôi là Thiếu tướng Tư lệnh mừng lắm, tặng tôi cùng một số anh em Huy chương của chiến dịch. Ông Xuân cũng nói may mà bắt lại được đám này, nếu không, Tổng Thống biết được thì khó mà trả lời, vì trại giam nằm gần ngay Bộ Tư lệnh chiến dịch. Anh Minh cũng đưa tôi lên trình diện theo lời yêu cầu của ông, để ông có dịp khen ngợi và cám ơn. Khi chào ra về, ông bảo anh Minh ở lại gặp riêng ông. Tôi ra đợi anh Minh ở phòng làm việc của anh. Sau đó, anh Minh về phòng gặp tôi, có vẻ đăm chiêu lắm, anh và tôi rất thân nhau, vì cùng làm việc với nhau từ hồi mới thành lập Sư đoàn, việc gì anh em cũng tâm sự cùng nhau. Anh than với tôi:– Chết thật rồi, ông giao cho tôi một nhiệm vụ mà tôi nghĩ khó thi hành quá anh Duệ ơi. Ông ra lệnh cho tôi phải đem đám tù trốn trại bắt lại được vào rừng thủ tiêu hết. Ông bảo nuôi tụi này làm gì cho tốn cơm. Anh nghĩ tôi phải làm sao bây giờ?!(Anh Minh hiện ở Washington D.C).Tôi trả lời ngay:– Sao anh phải thi hành lệnh nầy, và anh làm gì có người? Anh nên trình lại và xin ông ra lệnh cho trại cải huấn, hay nhân viên của ông ở An ninh quân đội. Chả nhẽ anh và anh em ở phòng 2 này đi thủ tiêu người sao? Anh nhớ đừng chuyển lệnh của ông cho ai, đâu phải việc của anh.Anh Minh trả lời:– Thì tôi cũng nghĩ như anh vậy.Và chợt reo lên:– Mình chỉ là một trưởng phòng trong Bộ Tham mưu. Ðâu dám làm việc gì không trình ông Tham mưu trưởng được. Tôi phải đem trình Ðại tá Khiêm để Ðại tá giải quyết. Anh đi với tôi sang Ðại tá Khiêm, tiện thể tôi giới thiệu anh với Ðại tá luôn.Tôi từ chối, vì không muốn để anh Minh khó xử trong việc bí mật này trước mặt tôi. Anh nói:– Vậy anh đợi tôi sang Ðại tá, rồi tụi mình về nhà tôi ăn cơm chiều.(Nhà anh Minh ở trong cư xá sĩ quan Biên Hòa). Tôi đợi anh Minh về, mặt mày tươi rói, anh kể với tôi:– Anh biết không, tôi trình Ðại tá Khiêm và nói vì không biết thi hành lệnh của Thiếu tướng Xuân ra sao, nên phải trình để đại tá quyết định.Ðại tá Khiêm trả lời ngay:– Thiếu tướng Xuân là sĩ quan đồng hóa từ Công an Pháp sang, còn mình là quân đội chính qui, làm việc gì cũng phải theo đúng nguyên tắc tham mưu. Phải coi chừng, thi hành ẩu là anh ra tòa án lúc nào không hay. Nếu ông Xuân hỏi, anh cứ thưa là đã trình tôi rồi, và tôi ra lệnh không thi hành, mình chỉ làm công việc tham mưu mà thôi. Ông muốn thì để tay chân ông làm; mình không làm theo kiểu mật thám được.Tôi trả lời:– Ðúng, thế là xong! Nên nhớ anh là Trưởng phòng 2 Sư đoàn, chỉ kiêm nhiệm Phòng 2 chiến dịch mà thôi. Ít lâu nữa chiến dịch chấm dứt, anh lại về Sư đoàn.Sau này anh Minh và tôi xuống BộTư lệnh Tiền Phương gặp Ðại tá Xứng trình lại ông sự việc, ông nói làm theo lệnh Ðại Tá Khiêm là đúng và ông bảo anh Minh ở lại làm việc theo sư đoàn. Cử trung úy Phó trưởng phòng làm việc ở Bộ Tư lệnh chiến dịch, anh Minh chỉ về ít ngày một tuần, hoặc khi có hành quân mà thôi.Sau Sư đoàn 4 đổi thành Sư đoàn 7, tôi có 1 Tiểu đoàn đặt dưới quyền củaTrung tâm Huấn luyện QuangTrung, do Trung tướng Xuân coi. Theo lệnh Tổng Tham Mưu, Tiểu đoàn biệt phái này để lo giữ an ninh cho Trung tâm, nhưng Trung tâm đã sử dụng Tiểu đoàn này như Tiểu đoàn Công vụ, bị chia cắt biệt phái đủ mọi nơi, khiến việc huấn luyện không theo kịp các đơn vị khác. Tôi lại phải đến trình diện Trung tướng Xuân, xin ông xem lại. Gặp tôi ông vui lắm, nhắc tới việc tôi giúp bắt lại đám tù ở Trung tâm Cải huấn. Nghe tôi trình vấn đề, ông bảo để xem lại, nhưng mọi việc vẫn như cũ, chẳng có gì thay đổi. Tôi còn nhớ lúc ngồi nói chuyện với ông, có một sĩ quan đem vào đặt trên bàn làm việc một cái giá để gần chục cái tẩu hút thuốc (pipe) đã nhồi sẵn, cái nào cũng đẹp. Ngày tôi làm ở tổng cục Chiến Tranh Chính Trị, được đọc một báo cáo của Cục An ninh, trình về việc một Thượng sĩ biệt phái làm việc cho ông, đã dám chống cự ông và xô ông té nặng, bị ông trả đương sự về lại Cục An ninh và xin trừng phạt nặng. Tôi không rõ sự việc đã giải quyết ra sao, vì không phải phần việc của tôi. Ngày ấy ông đã giải ngũ khỏi quân đội. Theo lệnh của Tổng Tham mưu, các vị tướng hồi hưu có quyền giữ một sĩ quan chánh văn phòng, tài xế và một cận vệ, nhưng ông giữ với ông quá số ấy nhiều.Trở lại vụ Thiếu tá Ðộ bị gọi về trình diện, Ðại tá Xứng bảo tôi gọi dây nói cho Trung đoàn 10 ở trại Tam Hiệp rõ, là ông bận việc, không xuống tìm địa điểm để lập Trung tâm Huấn luyện Sư đoàn được. Khi Thiếu tá Ðộ về trình diện, lúc ấy khoảng 10 giờ, ông cau mặt hỏi sự việc và trách Thiếu tá Ðộ sao không cho ông rõ. Thiếu tá Ðộ có vẻ lo, thưa lại là việc ấy đã xẩy ra lâu rồi, khi Trung đoàn 12 còn là Trung đoàn 54, và lúc đó Ðại tá còn ở ngoài Trung. Thiếu tá Ðộ nói tiếp:– Trình Ðại tá, thấy tụi Tây chuyển về toàn súng tốt của Mỹ viện trợ, hầu hết là súng máy và carbine, chúng chất đầy kho, súng garant chúng xếp như đống củi, mà quân đội mình có toàn là mas 36 của Tây. Tụi sĩ quan tiếp liệu kể là số vũ khí này sẽ chuyển sang Algérie, và nhiều quá, chúng không kiểm kê hết được. Vả lại, đóng tại trại này là để đợi triệt thoái về Algérie hay Pháp, chúng chỉ lo nhậu nhẹt ăn chơi. Vì vậy, các sĩ quan Trung đoàn và binh sĩ cho chúng “boire un coup” là xin gì chúng cũng cho. Thấy vậy, anh em bàn nhau cho chúng uống say, rồi lấy lại một số súng, để quân đội mình dùng sau này. Việc này tôi không nhúng tay vào, để cho một số anh em lo, coi như tôi không biết.– Thế còn việc lấy thiết giáp thì sao?– Dạ, thấy chúng đậu ngổn ngang, các anh em định lấy độ 5, 7 chiếc đem vào rừng giấu, cũng là để cho quân đội thôi. Anh em cũng đã rủ được mấy thằng Tây lái xe tăng đào ngũ ở lại với mình rồi! Thật rủi là có thằng Tây báo cho tụi an ninh Pháp biết, nên chúng báo động, và chuyển cấp tốc các xe tăng ra Vũng Tàu, cả kho súng nữa. Mình chỉ mới lấy được ít khẩu súng lục và carbine, hiện các tiểu đoàn vẫn xài riêng, coi như đồ thặng dư. (Sau này, khi tôi thay Thiếu tá Ðộ làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 12, trong kho của Trung đoàn vẫn còn một số mấy khẩu Garant và 2 máy truyền tin, tôi tặng cho cha Dụ là chánh xứ Cao Xá, để trang bị cho tự vệ của xứ đạo di cư tại Tâm Long (tôi không nhớ rõ) ở Tây Ninh, giáp biên giới Cam Bốt).Thiếu tá Ðộ có vẻ lo lắng, xin Ðại tá Xứng giúp đỡ cách nào để ông khỏi về trình diện Thiếu tướng Xuân. Sau một hồi suy nghĩ, Ðại tá Xứng nói:– Như vậy moa phải xin yết kiến Thủ tướng để trình bày rõ sự việc.Rồi Ðại tá đi ngay Saigon. Chiều hôm ấy trở về, ông rất vui vẻ, vì vào ngày Chủ nhật, Thủ tướng không bận gì nên được tiếp ngay. Thủ tướng đồng ý bỏ qua, và tỏ vẻ bằng lòng về lòng yêu nước của Thiếu tá Ðộ. Từ đó, Thiếu tá Ðộ và tôi trở thành thân thiết.Sau đó, tôi được đi học lớp Bộ binh cao cấp ở Fort Benning Hoa Kỳ (lớp advance đầu tiên sĩ quan Việt Nam học với sĩ quan Hoa Kỳ). Khi tốt nghiệp, về lại Sư đoàn 4, lúc đó do Ðại tá Trần Thiên Khiêm là Tư lệnh. Tôi được bổ nhậm làm Trung đoàn phó cho Thiếu tá Ðộ. Vì không có gia đình, Thiếu tá Ðộ hay rủ tôi về nhà ông ăn cơm. Một buổi tối sau khi ăn cơm xong, tôi hỏi về tin đồn ông tìm được kho tàng của Bảy Viễn ở Rừng Sát. Ông kể cho tôi nghe rất rành mạch:– Ngày ấy, tôi cũng ở căn nhà này (là kho bạc cũ của Bà Rịa, được cấp cho Trung đoàn làm tư thất của Trung đoàn trưởng).Lớ ngớ làm sao mà Tiểu đoàn 3 của mình bắt được một toán quân của Bình Xuyên, trong đó có Lê Paul là con của Bảy Viễn, tại Hắc Dịch. Lúc đó chỉ biết là quân Bình Xuyên có võ khí và không ai biết con của Bảy Viễn ở trong đó. Toán này được Tiểu đoàn giải về Phòng 2 Trung tâm để khai thác. Anh còn lạ gì thằng Trung úy Lưu đen là trưởng phòng nữa, ai gặp hắn mà không sợ! (Thật vậy, Trung úy Lưu người đen đủi, mắt lác nhiều, môi dày và thâm, trông dữ dằn lắm). Vì vậy Lê Paul và đồng bọn gặp hắn là hết hồn. Lưu đen hô lớn dọa:– Các anh mang mấy tên giặc này đến đây làm gì, mắc công anh em phải tra khảo,sao không thủ tiêu tụi nó đi? (Anh Lưu dọa vậy chứ đâu có ngờ trong đám này có một tù binh quan trọng vậy). Thế là Paul sợ quá, vội xin gặp riêng Trung úy Lưu, nhận y là con của Bảy Viễn, để xin giữ mạng sống. Chưa tra khảo, nó đã khai ngay là biết chỗ chôn tiền, để lập công. Tôi (Thiếu tá Ðộ) vội dẫn hắn đến chỗ giấu tiền, đựng trong những sac marin (sắc này hình tròn to và cao dùng đủ để đựng toàn bộ quân trang cho một quân nhân) và trong các thùng gỗ. Tôi cũng giấu được vài sắc trong đựng toàn giấy $500, rồi báo về Bộ Tư lệnh hành quân của Ðại tá Dương Văn Minh, lúc đó đóng tại Thủ Ðức. Kho tàng này đâu có chôn giấu gì, chỉ gác lên các nhành cây rậm rạp, vì ở Rừng Sát lúc đó đang ngập nước. Vì Lê Paul là một tù binh quan trọng, nên Bộ Tư lệnh hành quân đích thân đến khai thác. Tôi nghĩ hắn còn chỉ nhiều chỗ giấu tiền khác nữa.Tôi hỏi lại:– Thiếu tá nói giấu được mấy sac marin thì độ bao nhiêu tiền?– Thì đếm làm sao cho xuể, tôi nghĩ cả mấy mươi triệu chứ đâu có ít. Ngay đêm đó tôi mang số tiền giấu được, xuống xuồng máy cùng ông bác sĩ Huấn, là bác sĩ của Trung đoàn (bác sĩ Huấn sau là Ðại tá trưởng khối của Cục Quân Y, tôi không rõ ông có sang được Mỹ hay không), và thằng Trung sĩ Dương Tác Nam, là cận vệ của tôi (Trung sĩ Nam là người Nùng, anh này nhanh nhẹn, cao lớn và giỏi võ, sau này anh cũng là cận vệ của tôi, nhưng vì hay say sưa nên tôi không dùng) đi xuồng máy về ngay Bà Rịa. Sáng sớm hôm sau, tôi khởi hành thật sớm về Saigon định giao cho gia đình giấu đi. Mới về qua khỏi Biên Hòa, đến cầu Hang thì bị 2 xe Quân Cảnh đón sẵn ở đó giữ lại. Gần đó có Ðại tá Dương Văn Minh, Tư lệnh Hành quân, đang đi đi lại lại với mấy cận vệ và sĩ quan tùy viên. Có xe traction của ông đậu gần đó (Tướng Minh chỉ đi xe traction, kể cả khi ông làm Quốc trưởng). Tụi Quân Cảnh đối xử với tôi rất lễ phép, mời tôi đến trình diện Ðại tá Minh. Gặp tôi, ông bắt tay và nói: Thôi về Bộ Tư lệnh ở Thủ Ðức nói chuyện. Ông bắt tôi lên xe với ông, và bảo sĩ quan tùy viên của ông đi xe Jeep của tôi để gác tiền.Trên xe, tôi phân trần cùng ông, nhưng ông gạt đi và nói chuyện khác vui vẻ lắm. Ðến Bộ Tư lệnh, thấy nhiều anh em sĩ quan chạy ra cửa nhìn, tôi biết là tin tôi lấy được tiền, nhiều người đã biết rồi. Vừa ngồi xuống ghế ở văn phòng ông, tôi vội trình ngay: Thưa Ðại tá, xin Ðại tá xét cho, bắt được Lê Paul là tôi báo cáo ngay về cho Bộ Tư lệnh, chứ tôi đâu có giấu diếm gì đầu. Tuy nhiên, xin Ðại tá xét cho, ai cũng có lòng tham, tôi chỉ xin giấu lại chút ít, định đem về Saigon cho gia đình. Ông cười: Thì moa có trách gì toa đâu, ai ở địa vị toa cũng làm như vây, nhưng toa biết là không ai qua mặt moa được.Thôi, để lại cho toa ít nhiều vì số còn lại moa phải trình thượng cấp. Thế là ông cho lại tôi 300 ngàn, tôi xin thêm ông cho hơn trăm ngàn nữa, rồi cho tôi về.Ngày ấy lương của tôi độ trên dưới 2 ngàn gì đó, cũng là hơn một lạng vàng, mà có đến gần nửa triệu như ông Ðộ là điều tụi tôi không bao giờ dám mơ tới.Tôi hỏi tiếp:– Thế tại sao Thiếu tá không giấu cất lại ít nhiều ở hậu cứ Trung đoàn?– Thật là dại, vì lúc đó mình có nhiều tiền quá nên bối rối, có nghĩ gì đâu. Nếu giấu được ít nhiều thì tôi sống cả đời không hết.– Thế Thiếu tá ước lượng số tiền ông thu được của Thiếu tá và tại chỗ giấu là bao nhiêu tất cả?– Nhiều lắm, làm sao tính cho xuể. Chỉ mấy cái xác marin của moa, ông lấy ra cho lại 400.000 mà chỉ vơi chút đỉnh. Còn cả một kho tiền và nhiều chỗ cất giấu khác do Le Paul chỉ, thì biết bao nhiêu mà kể. Số tiền ông cho lại moa mua được một căn nhà ở đường Ðồn Ðất và một xe Peugeot 203, còn cất làm vốn gửi nhà bank. Lạ một điều là mãi khuya mình mới về tới Bà Rịa, và sáng đã đi sớm mà bị lộ, nên moa chắc ở Trung Ðoàn có thằng báo với ông Minh. Anh nghĩ, tôi chỉ được một số tiền nhỏ mà đồn ầm ĩ cả quân đội. Còn ông Minh giàu đến mức nào...Tôi bàn thêm:– Bảy Viễn còn giàu gấp mấy nữa, dù hắn có lưu vong sang Pháp thì bao giờ mới tiêu hết tiền.Buồn cười nhất là, tối đó về tôi bị mất ngủ, vì cứ lẩn thẩn miên man nghĩ ngợi, là nếu vào địa vị mình, thì phải sắp xếp làm sao, chia cho anh em bằng cách nào, và làm sao giữ được số tiền này. Nghĩ thật vô duyên, tự dưng bị mất ngủ một cách lãng xẹt.Ghi chú thêm:– Thiếu tá Ðộ đã tử nạn khi làm Tham Mưu trưởng Sư đoàn 1, do Ðại tá Nguyễn Ðức Thắng làm Tư lệnh, trong khi đi máy bay vào tiền đồn A Sao, A Lưới ủy lạo binh sĩ trong dịp Tết.– Thiếu tướng Tôn Thất Xứng định cư ở Montreal Canada.– Trung tướng Mai Hữu Xuân đã qua đời tại vùng Washington D.C.– Ðại tướng Trần Thiện Khiêm cư ngụ ở vùng Washington D.C.– Tướng Dương Văn Minh đã qua đời tại Pomona, Califonia.– Cha Dụ, chánh xứ Cao Xá, khi di cư vào Nam được định cư ở Tây Ninh với các con chiên Cao Xá đi theo lập thành một xứ đạo di cư chống Cộng triệt để. Người hiện ở Houston, Texas.Tôi cũng nghe nói là Lê Paul đã tiết lộ thêm nhiều chỗ chôn tiền và quí kim nữa. Sau đương sự bị bắn chết với lý do chạy trốn, nhưng dư luận lúc bấy giờ nói đương sự phải chết để bịt miệng. Tôi không dám chắc tin đồn này có đúng hay không, vì không biết rõ sự việc.(Trích từ “Những năm tháng bên cạnh Tổng Thống Ngô Đình Diệm” của Đại tá Nguyễn Hữu Duệ) Thống Tướng Lê Văn Tỵ
Khi di cư từ miền Bắc, tôi là đại đội trưởng đại đội 4, tiểu đoàn 52, sau được đổi về đại đội tổng hành dinh sư đoàn 32. Sư đoàn này sau đổi thành sư đoàn 4 dã chiến, sau lại đổi tên là sư đoàn 7 Bộ binh.Ngày mới từ Bắc vào,đơn vị đóng tại Quảng Ngãi, chưa có chiến trận gì, binh sĩ chỉ lo sửa sang doanh trại, lau chùi vũ khí và học tập qua loa ngày mấy giờ, nên vui vẻ lắm. Hơn nữa, giá sinh hoạt ở đây quá rẻ, 1 đồng 3 quả trứng, 4 hay 5 đồng một con gà nên anh em ai cũng thừa tiền.Khi ấy Tổng tham mưu trưởng là Trung tướng Nguyễn Văn Hinh. Ông này nghịch với Thủ tướng Ngô Đình Diệm.Tư lệnh sư đoàn 32 là Trung tá Nguyễn Hữu Có, cùng phe với Trung tướng Hinh. Binh sĩ hoang mang vô cùng, vì ngày nào cũng nghe đài phát thanh Quân đội chỉ trích Thủ tướng. Những binh sĩ ở ngoài Bắc vô, 90% là công giáo và ai cũng ủng hộ Thủ tướng Diệm, vì gia đình họ được Phủ tổng ủy di cư giúp đỡ. Nhiều buổi học tập, anh em đều thắc mắc về tình trạng này. Tôi bao giờ cũng khuyên anh em bình tĩnh và ca tụng Thủ tướng, nên được anh em có cảm tình.Anh em thuộc đại đội Tổng hành dinh sư đoàn, ở ngay Bộ tư lệnh mà Trung tá Có là tư lệnh sư đoàn và Thiếu tá Nguyễn Vĩnh Nghi là tham mưu trưởng. Trung tá Có thường vắng mặt ở sư đoàn nên Thiếu tá Nghi luôn luôn ở bộ tư lệnh. Ông là người rất kỷ luật và tử tế, chắc ông biết là khi học tập anh em đều có thiện cảm và kính trọng Thủ tướng, nhưng ông không có thái độ gì, và vẫn quý mến chúng tôi.Binh sĩ vào ngày Chủ Nhật đi xem lễ ngồi đầy nhà thờ và rất có trật tự nên được cha xứ hài lòng lắm. Mỗi lần đến thăm cha xứ, ông đều khen ngợi binh sĩ hết lời, và nhiều lần mời tôi ăn cơm. Trong câu chuyện, ông ca ngợi Thủ tướng Diệm và ông tin rằng miền Nam sau này sẽ được độc lập, tự do và phồn thịnh. Ông hỏi tôi nghĩ gì về Thủ tướng, tôi cũng trả lời là tôi ủng hộ Thủ tướng hết mình, và rất mừng được di cư vào đây, cả họ nhà tôi đều di cư và được giúp đỡ để định cư yên ổn. Ông kể cho tôi nghe về sự khổ sở của dân chúng ở đây dưới thời cộng sản như thế nào, nhất là những người Công giáo: nhà thờ vắng lặng và bị canh chừng chặt chẽ, cha không được đi đâu vì bị theo dõi sát. Thấy tôi ủng hộ Thủ Tướng, ông mừng lắm. Nhiều lần đi Huế, ông đều rủ tôi đi theo. Ý ông muốn đưa tôi vào thăm ông Ngô Đình Cẩn mà ông thường gọi là cậu Cẩn. Tôi ngạc nhiên hỏi ông, sao gọi là cậu, vì ông Cẩn đã nhiều tuổi?! Ông nói ngoài này, các con quan khi còn nhỏ được người ta gọi là cậu. Ông Cẩn vì chưa có vợ, người ta cứ quen gọi là cậu. Tôi hứa với ông là sẽ đi đến thăm ông Cẩn sau. Khi ở Huế về, ông nói là ông có thăm cậu Cẩn, kể cho cậu nghe về tôi và cậu thích lắm. Cậu nói với cha là cậu muốn gặp các sĩ quan và hạ sĩ quan trẻ. Theo cậu, các sĩ quan cao cấp đều có liên hệ với Tây nhiều, và hầu hết đều ủng hộ Tướng Hinh. Cậu nói nếu tôi chưa về Huế được, thì sẽ cho người liên lạc với tôi. Quả nhiên độ một tuần sau, Thiếu tá Nguyễn Văn Châu (sau lên Trung tá, giám đốc nha chiến tranh tâm lý) vào thăm tôi, mang cho tôi nhiều tài liệu nói về thân thế và sự nghiệp củaThủ tướng Diệm kể cả những tin về Trung tướng Hinh chống đối thủ tướng như thế nào và cả các giáo phái nữa. Tôi quay ronéo các tài liệu này, cho phổ biến, không những ở đơn vị tôi, mà cho cả các đơn vị bạn ở Quảng Ngãi nữa. Anh Châu vui mừng lắm, từ đó gửi tài liệu đều cho tôi phổ biến.Một hôm vào khoảng 10 giờ, một anh Trung sĩ ở ban mật mã Truyền tin đến cho tôi hay, có một công điện mật của Trung tá Có ở Huế gửi về. Nội dung như sau:Thủ tướng sẽ đến thăm Quảng Ngãi ngày gần đây, chuẩn bị sẵn sàng đợi lệnh.Tôi hoang mang vô cùng, tại sao công điện không nói rõ là chuẩn bị đón Thủ tướng hay phản đối Thủ tướng. Tôi liền cho 1 hạ sĩ quan thân tín, ngay đêm đó về Huế báo cho anh Châu hay. Ở Huế, anh Châu cũng được tin là Đại tá Trương Văn Xương, tư lệnh Quân khu 2, cũng là người của Trung tướng Hinh, có một phiên họp với Trung tá Có và mấy sĩ quan cao cấp, để lợi dụng khi Thủ tướng đến Quảng Ngãi, thì chất vấn và phản đối.Thế là Thủ tướng được đề nghị hủy bỏ chuyến đi thăm Quảng Ngãi, chỉ đi thăm Qui Nhơn, rồi về Sài Gòn.Sau đó ít lâu, Trung tướng Hinh, tổng tham mưu trưởng được thay thế bởi Thiếu tướng Lê Văn Tỵ. Trung tá Có cũng rời sư đoàn để Đại tá Dương Quý Phan thay thế, và Trung tá Hoàng Văn Lạc làm tham mưu trưởng, để lo tiếp thu phần còn lại của tỉnh Quảng Ngãi về phía Nam giáp đến Qui Nhơn. Bộ tư lệnh sư đoàn tiền phương ra đóng tại sông Vệ, và hậu cứ vẫn đóng tại thị xã Quảng Ngãi. Tôi là chỉ huy trưởng hậu cứ sư đoàn.Đài Quân đội cũng chấm dứt việc đả kích Thủ tướng. Anh em binh sĩ vô cùng mừng rỡ, càng ủng hộ Thủ tướng hơn. Khi Thủ tướng gặp khó khăn với quân Bình Xuyên, tôi và Trung úy Trần Văn Minh bàn nhau trình với tư lệnh sư đoàn đánh điện ủng hộ Thủ tướng. Anh Minh và tôi lên gặpĐại tá Phan khoảng 9 giờ tối ở bộ tư lệnh tiền phương tại xe ngủ của ông(ngày ấy bộ tư lệnh làm việc và ngủ ngay tại lều, riêng tư lệnh ngủ trên xe được cải biến thành phòng ngủ). Chúng tôi trình ý kiến được ông chấp thuận ngay và bảo: “Thì 2 Trung úy thảo ngay công điện hộ tôi”.Tôi nhớ đại ý công điện như sau:Toàn thể quân nhân thuộc sư đoàn 32 rất bất mãn về hành động gây hấn của quân Bình Xuyên, kính xin Thiếu tướng tổng tham mưu trưởng chấp thuận cho sư đoàn 32 về dẹp loạn Bình Xuyên.Toàn thể sĩ quan,hạ sĩ quan vàbinh sĩ Sư đoàn 32 nguyện hết lòng trung thành với Thủ tướng Ngô Đình Diệm. Công điện được gửi về bộ tổng tham mưu ngay đêm ấy, ngày hôm sau được đọc trên đài phát thanh.Thiếu tướng Tỵ, tổng tham mưu trưởng đánh điện khen sư đoàn và nói Thủ tướng rất hài lòng. Sau đó, sư đoàn 31 của Đại tá Tôn Thất Đính, và các tiểu khu ở quân khu 2 đều theo sư đoàn 32 đánh điện về ủng hộ Thủ tướng. Anh Minh và tôi được Đại tá tư lệnh sư đoàn gọi lên khen và cám ơn. Sau khi tiếp thu xong, Sư đoàn lại được đổi tên là sư đoàn 4 và Đại tá Tôn Thất Xứng làm tư lệnh sư đoàn, thay thế đại tá Dương Quý Phan về coi Quân trấn Sài Gòn. Bộ tư lệnh sư đoàn được di chuyển về Biên Hòa, đóng tại nhà Dù. Bộ chỉ huy trung đoàn 10 và 11 đóng tại Tam Hiệp, trung đoàn 12 đóng tại Bà Rịa.Trước khi di chuyển vào Nam, bộ tư lệnh sư đoàn 4 đóng tại Đà Nẵng cả mấy tháng, để sắp xếp và đợi tàu. Trong thời gian này, vì chẳng bận rộn lắm nên những đơn vị trực thuộc Bộ Tư Lệnh, nhất là Đại đội Công binh, giúp dân chúng sửa đường làm cầu. Binh sĩ rất có kỷ luật nên được dân chúng quý mến lắm. Có hạ sĩ Nguyễn Mạnh Hùng là đã tự viên ở văn phòng,một hôm xin tôi lãnh lương trước để có tiền gửi cho em mới di cư từ Bắc vào cần tiền mua tự điển và sách vở. Tôi xui anh sao không viết thư xin thiếu tướng Tỵ xem, cứ kể rõ hoàn cảnh, thử xem ông có thương anh em không. Thế là tôi giúp anh ta thảo một thư xin đứng tên hạ sĩ Hùng. Độ 3 tuần sau, sư đoàn nhận được một công điện gọi hạ sĩ Hùng lên trình diện Đại tá tư lệnh Quân khu. Anh em trong đơn vị ai cũng ngạc nhiên, riêng tôi và Hùng biết là thư có kết quả. Hạ sĩ Hùng được Đại tá tư lệnh trao lại quà của Thiếu tướng tổng tham mưu trưởng, gồm 2 cuốn tự điển, một viết máy Pilot và nhiều tập vở. Sau đó Đại tá còn cho đương sự thêm 15 ngày phép để về thăm em. Từ đó, anh em ai cũng thích thú về cử chỉ của vị tân Tổng tham mưu trưởng Quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Đặc biệt ở Đà Nẵng, tôi được dự buổi ra mắt phong trào Cách mạng quốc gia, có ông cố vấn Ngô Đình Cẩn tham dự. Ông mặc áo dài đen, đầu đội khăn đóng, cử chỉ rất khiêm tốn khi được giới thiệu. Sau buổi ra mắt là vở kịch thơ Về Hồ, nói về tâm trạng của Hồ Quý Ly tại sao phải đứng dậy truất phế nhà Trần. Tôi nhớ trong vở kịch có câu thơ do Hồ Quý Ly nói: Vua không ra vua mà quan chẳng ra quan, nên ta buộc lòng phải hô phế đế. Lúc đó ông Ngô Đình Diệm còn làm Thủ tướng và ông Bảo Đại làm Quốc trưởng. Sau vào Nam có cuộc bỏ phiếu truất phế Bảo Đại, tôi lại nhớ đến vở kịch Về Hồ đã được xem khi ở Đà Nẵng.Ngày ở ngoài trung, tôi được gặp ông Cẩn nhiều lần. Ông tiếp tôi rất ân cần và thân mật, ông coi tôi là cán bộ nòng cốt của ông và thường gọi tôi là chú. Khi chào ông để vào Nam ông còn mời tôi và anh em uống bia và dặn tôi cần gì ở ông cứ liên lạc với ông. Đặc biệt ông tiếp tôi và anh em ở nhà khách, nhà gỗ lợp tranh có bộ tràng kỷ rất sơ sài. Sau này, khi tôi đã về phủ tổng thống, năm 1963 đại diện anh em ra chúc tết, ông vẫn tiếp tôi ở ngôi nhà sơ sài đó. Có một chi tiết khiến tôi cảm động, được bày tỏ qua thái độ ân cần ông dành cho tôi. Tết năm ấy, tôi đem một bó hoa vào chúc tết. Khi tôi đến phòng đợi, có Thiếu tướng Lê Văn Nghiêm, tư lệnh quân khu 1 và ông Đại biểu chính phủ miền trung đã đợi từ trước ở đó. Được vị sĩ quan tùy viên của ông mời vào trước,tôi vội nói:– Anh mời Thiếu tướng và ông Đại biểu vào trước.Anh sĩ quan tùy viên lúng túng thưa:– Tôi có trình nhưng cậu dạy mời Thiếu tá.Tôi không chịu, nhưng Thiếu tướng Nghiêm bảo:– Duệ vào trước đi, chắc ông cần gặp toi để dặn công việc, vậy toi cứ vào.Gặp ông tôi mừng lắm. Ông trách sao lâu quá tôi không ra thăm ông. Ông vẫn nhớ chuyện ngày tôi ở Quảng Ngãi đã hoạt động giúp ông và vẫn gọi tôi là chú. Mẹ tôi bị đau bại một cánh tay, có người mách nếu được cao hổ cốt thật mà uống thế nào cũng đỡ. Biết ông có cao tốt cho cụ cố dùng, tôi nhắn ra xin và ông gửi ngay cho 5 lạng, mẹ tôi uống có hơn 2 lạng đã khỏi. Tôi thấy ông đối với cán bộ của ông thật chân tình nên ai gặp cũng quý mến, trái hẳn với những tin đồn nói ông hách dịch quan liêu. Sau đảo chánh, người ta gọi ông là Út Trầu vì ông hay ăn trầu. Nhưng ông không phải là con út, ông Ngô Đình Luyện mới là con út.Khi đóng tại nhà Dù Biên Hòa, ngay cạnh quốc lộ 1, vào một buổi sáng Chủ nhật, tôi vừa ăn sáng xong thì thấy ngoài đồn canh nhốn nháo, ồn ào. Tôi vội chạy ra xem, thấy Đại tướng tổng Tham mưu trưởng đang nói chuyện với Đại tá tư lệnh sư đoàn bằng điện thoại của đồn canh và binh sĩ đang hối hả động súng để sắp hàng chào. Tôi chào Đại tướng, và đứng cạnh khi ông đang nói chuyện với Đại tá Tư lệnh:– Xứng hả, Đại tướng Tỵ đây. Sao mày không dạy bảo lính của mày vậy cà? Tao đi qua đây bao nhiêu lần mà lính gác gặp tao cũng không chào nữa.Không biết Đại tá Xứng bên kia đầu dây trả lời ra sao, chỉ nghe ông nói:– Thôi được, kỳ tới phải dạy tụi nó.Nói rồi ông gác máy, quay lại nhìn tôi:– Đại úy tên gì?– Dạ thưa Đại tướng, tôi là Đại úy Duệ, chỉ huy tổng hành dinh sư đoàn 4.– Tao đi qua đây nhiều lần mà lính gác thấy tao chẳng bao giờ chào cả.– Dạ thưa Đại tướng, anh em mới đổi từ miền Trung vào nên ít người nhận ra Đại tướng. Xin Đại tướng tha lỗi. Tôi sẽ nhắc anh em phải chào kính trong những buổi học tập.Thế là ông cười vui vẻ ngay và bảo:– Thôi được, phải dạy tụi nó!Rồi ông hỏi lại tôi:– Vậy chứ hôm nay Chủ nhật anh không đi chơi à?– Dạ tôi là sĩ quan trực của sư đoàn.Khi ông về, lính canh đã sẵn dàn chào, ông vui vẻ lên xe. Vì ông có đồn điền cà phê ở Long Khánh nên ngày nghỉ hay lên thăm. Ông thường đi xe số ẩn tế, mặc áo kaki và quần trận, đội chapeau de Brousse nên anh em không biết là Đại tướng.Sau tôi vào điếm canh, anh em sợ bị la nên phân trần là ngay khi ông vào điếm canh, anh em cũng không biết ông là ai. Ông hỏi thằng nào là điếm trưởng, Trung sĩ điếm trưởng trả lời:– Tôi đây, ông là ai?– Gọi dây cho tao nói chuyện với thằng Xứng coi, tao là Đại tướng tham mưu trưởng đây.Điếm trưởng hoảng hồn, hô vào hàng phắc, lính canh đứng dậy nghiêm trang. Ông cầm điện thoại và cũng bảo tổng đài:– Gọi cho tao nói chuyện với thằng Xứng coi.Tổng đài sau báo cáo với tôi, tưởng ai đùa nên la:– Thôi đừng giỡn cha nội, đụng đến ông thất sừng là ăn củ đó.(Anh em vẫn đùa gọi đại tá Tôn Thất Xứng là ông Thất Sừng). Ông cũng phì cười và bảo:– Tao mà đùa à, gọi ngay.Điếm trưởng phải cầm điện thoại bảo tổng đài đúng là Đại tướng đó. Từ đó, mỗi sáng Chủ nhật, đồn canh phải cắt một binh sĩ có nhiệm vụ đứng xa độ 300 thước, để đón xe Đại tướng. Trong này phải giá súng sẵn, khi nghe tiếng còi báo hiệu là tức khắc dàn chào. Buồn cười nhất là trong sổ gác có mục ghi: binh sĩ X... Gác Đại tướng. Tôi đọc cũng thấy buồn cười, nhưng không sửa, để làm kỷ niệm, vì sổ gác chỉ trình tôi đọc hàng ngày mà thôi. Chắc là đơn vị ở cầu Bình Lợi cũng bị la như vậy, nên có lần suýt xẩy ra tai nạn. Một hôm xe Đại tướng tới cầu, thì xe lửa cũng sắp đến. Thấy xe Đại tướng đến, lính gác sợ quá, vội mở ngay cần chắn xe để xe Đại tướng đi. Cùng lúc ấy, xe hỏa chợt đến, thế là xe Đại tướng chạy trước, xe hỏa chạy sau. Tài xế sợ muốn chết, may anh cận vệ nhảy xuống lề mở cây chắn xe bên kia, nên xe Đại tướng chạy qua được an toàn.Một năm vào ngày Tết, phái đoàn sư đoàn 7 do Đại tá Huỳnh Văn Cao hướng dẫn (tôi cũng ở trong phái đoàn) lên chúc tết Đại tướng. Ông tiếp rất niềm nở, và kể cho tụi tôi nghe chuyện xẩy ra vào ngày đảo chánh 11 tháng 11 năm 1960. Hôm ấy ông bị Trung tá Vương Văn Đông vào văn phòng ép, nhưng ông vẫn không chịu theo phe đảo chánh, và nói chỉ nhận lệnh của Tổng thống mà thôi. Khi ra ngoài, tôi gặp Đại tá Nguyễn Hữu Có là tư lệnh Quân khu 1, cũng đến chúc tết Đại tướng. Thấy tụi tôi mang hoa, còn ông thì đi tay không, ông vồ lấy bó hoa mà phái đoàn sư đoàn 7 mang đến, rồi cầm vào chúc tết.Trước ngày đảo chánh, các tướng lãnh và sĩ quan như tụi tôi đối xử với nhau như anh em. Tôi nhớ ngày ở Mỹ Tho, làm trung đoàn trưởng trung đoàn 12, tôi lên chúc tết Đại tá Cao, sau đó xin phép ông về Sài Gòn thăm cha mẹ tôi. Ông cho tôi chai rượu và hộp bánh, nói để tặng cha mẹ tôi, trong khi tôi đến chúc tết ông taykhông. Ông còn đặc biệt cho tôi ở lại Sài Gòn đến mai mới về.Ở trung đoàn tôi có Trung úy Loan được đi học tham mưu ở trường đại học Quân sự ở Sài Gòn. Một hôm, trong khi ngồi trên xe GMC đi học, anh em nói chuyện huyên thuyên, và anh Loan nói câu nhất vợ nhì trời. Anh bạn ngồi cạnh hỏi thế thứ ba là ai? Anh buột miệng trả lời thứ ba là Ngô tổng thống, anh em cười vang. Thế là nha An ninh gửi công văn về cho tôi để theo dõi, và yêu cầu không cho đương sự giữ nhiệm vụ gì quan trọng, không được làm ở Bộ tham mưu như đương sự đi học. Tôi làm một văn thư lên Bộ Tổng tham mưu, trình bày đương sự là một sĩ quan có kỷ luật, và khi đương sự thốt ra câu ấy cũng chả có gì là vô phép, xin Đại tướng xét lại, Đại tướng cũng đồng ý.Đại tướng gặp tụi nhỏ, hay các sĩ quan cao cấp, đều vui vẻ và mày tao một cách tự nhiên, vì ông là người cao tuổi và cấp bậc lớn, nên coi mọi người như em út của ông. Ai mà ông gọi bằng cấp bậc một cách nghiêm trang, là ông buồn người đó.Tết năm 1963, phái đoàn tướng lãnh và sĩ quan cao cấp đến chúc tết Tổng thống, tôi cũng được ở trong phái đoàn. Khi Tổng thống vào phòng, có vị tướng nào đội lộn mũ của Đại tướng, ông gọi tôi và bảo:– Duệ, mày xem thằng tướng nào dám đội mũ của tao.Ông vừa nói vừa cười, và nói thêm:– Chắc thằng này muốn thay tao quá!Vì Đại tướng chưa về nên chưa ai dám về. Tôi phải đi gặp từng vị tướng, để xem lại mũ. Người đội nhầm mũ, là trung tướng Dương Văn Minh. Tôi xin đổi lại mũ, và ông nói:– Ừ, moi đội hơi rộng.Sau khi phái đoàn tướng tá chúc tết ra về, Đại úy Hoàn, sĩ quan tùy viên vẫy tôi, và chỉ vào phòng Tổng thống. Tôi ghé xem, thấy Trung tướng Lễ, Thiếu tướng Đính, Đại tá Mậu, Trung tá Hùng và Thiếu tá Xích (tỉnh trưởng Gia Định) đang quỳ một dọc trước bàn của Tổng thống. Các vị này nhân danh là con cháu trong nhà, chúc tết riêng một lần nữa. Hoàn nói với tôi:– Anh xem chả có tư cách gì, mặc quân phục mà quỳ trông chướng quá!Tôi cũng nói:– Mấy ông này đặt ông cụ vào chuyện đã rồi, vì tôi nghĩ ông cụ đâu có thích chuyện này.Ngày 1/11/63, các ông Lễ, Đính, Mậu là những người đầu não trong bộ tham mưu đảo chính, và chính ông Lễ đã xui Trung tướng Dương Văn Minh là nhổ cỏ phải nhổ cả rễ theo như Đại tá Nguyễn Văn Quan, phụ tá của tướng Minh kể với tôi.Vào tháng 7/1963, Đại tướng bị ung thư phổi. Ngày đó, việc chữa trị ung thư ở Việt Nam chưa tốt lắm, Tổng thống phải liên lạc nhờ tòa đại sứ Mỹ lo liệu, để chở Đại tướng sang Mỹ chữa trị.Hôm Đại tướng đến chào Tổng thống để xuất ngoại, chính Tổng thống ra lệnh cho đội danh dự dàn chào, và tiếp Đại tướng lâu lắm. Đó là ngoại lệ, thường thì Đại tướng đến gặp Tổng thống hay Phó tổng thống cùng các Bộ trưởng, chưa có vị nào được đơn vị dàn chào. Thiếu tá Cao Tiêu làm ở văn phòng Đại tướng (sau là Đại tá Cao Tiêu, cục trưởng cục tâm lý chiến) kể với tôi Đại tướng về kể lại: “Ông được Tổng thống đón rất trang trọng, và hai người ôn lại chuyện xưa. Đặc biệt, Tổng thống nói, Đại tướng không còn mẹ già như Tổng thống, mà ông thì vì trọng trách ít có dịp về thăm mẹ nên ông mong sớm được về hưu để phụng dưỡng mẹ già. Ông tháo chuỗi tràng hạt mà ông đang đeo đưa tặng Đại tướng, mong Đại tướng chóng bình phục để về tiếp tục lo cho quân đội.” Ông nói chỉ đặt chức quyền tổng tham mưu trưởng mà thôi, ý muốn để Đại tướng rõ là ông vẫn mong Đại tướng về lại chức vụ cũ. Anh Tiêu nói Đại tướng rất cảm động về cử chỉ của Tổng thống. (Đại tá Tiêu hiện ở Orange County, California).Đặc biệt có một cử chỉ tôi chưa hề thấy bao giờ, là khi Đại tướng ra về, Tổng thống tiễn chân Đại tướng ra đến tận xe, bắt tay Đại tướng, đợi khi Đại tướng lên xe, ông còn cúi đầu chào trước khi xe lăn bánh. Khi trở lại văn phòng, ông có vẻ buồn rầu.Đại tướng chữa bệnh ở Mỹ lúc đảo chính xảy ra. Sau một thời gian ông về lại, vì bịnh tình không thuyên giảm. Đại tá Trần Vĩnh Đắt là phụ tá của Trung tướng Trung, tổng cục trưởng tổng cục Chiến tranh chính trị đặc trách về tù binh, kể với tôi: “Khi Đại tướng về, Đại tá ra đón, sau luôn đến thăm ông, và ông rất đau xót về việc các tướng lãnh đã giết Tổng thống. Ông nói: “Mấy thằng tướng này làm sao lãnh tụ được mà cũng đòi... có thằng nào chịu phục thằng nào đâu. Tụi nó giết ông cụ thì sau này tụi nó sẽ hối hận. Tìm đâu được người yêu nước và can đảm như ông Diệm, nghĩ đến ông tao muốn khóc”. Đại tướng còn lôi ở trong cổ ra chuỗi tràng hạt do Tổng thống tặng, mà ông luôn để trong người”.(Đại tá Đắt đã chết ở Việt Nam). Đại tướng được vinh thăng Thống tướng (5 sao), vị Thống tướng duy nhất của quân đội Việt Nam Cộng Hòa, trước khi từ trần vào cuối tháng 10/1964. Nghe nói khi mai táng, gia đình đã chôn theo Đại tướng cỗ tràng hạt mà Tổng thống đã tặng.(Trích từ “Những năm tháng bên cạnh Tổng Thống Ngô Đình Diệm” của Đại tá Nguyễn Hữu Duệ)NGƯỜI BẠN THÂN
--MIMOSA Phương VinhTôi và Huyền quen nhau khi hai đứa bước chân vào Trung Học tức là lớp Đệ Thất hồi thập niên 60, tình bạn đó kéo dài đến 30 năm sau cho đến một ngày. Một ngày đã gây ấn tượng mạnh mẽ trong tâm hồn tôi và tôi mang theo trong cuộc hành trình viễn xứ một nỗi đắng cay mỗi lần nghĩ đến. Có những kỷ niệm con người không biết chôn giấu nơi nào trong vùng ký ức để có thể sống bình yên và nhẹ nhàng hơn là cưu mang những cục bướu xấu xí mà cuộc đời đã cố ý hoặc vô tình trao tặng cho ta.Huyền là một người bạn gái có đôi mắt thật đẹp, đôi mắt sâu đen thâm thẫm trên gương mặt thon dài với nụ cười hiền dịu đã mang đến cho tôi bao nhiêu tình cảm bạn bè êm đẹp. Tôi, Huyền thân nhau và chia xẻ với nhau nhiều kỷ niệm vui buồn trong những năm đầu Trung Học. Những người xung quanh, bạn bè và gia đình thường gọi chúng tôi là Đôi bạn Chân Tình. Tôi và Huyền cũng lấy làm thích thú khi được gán cho một cái tên dễ thương như vậy để diễn đạt tình bạn bè thân thiết giữa hai đứa chúng tôi.Tình bạn của chúng tôi đơn sơ, chân thành và vô tư chứ không có gì là cao siêu hay nhuốm sắc thái triết lý như Narcissus and Goldmund một tác phẩm nổi tiếng của Hermann Hesse được chuyển qua Việt Ngữ bằng cái tên Đôi bạn chân tình. Số là thời đó người ta hay dùng những danh từ trong văn chương, nghệ thuật để ví von và đặt tên cho những nhân vật hay sự kiện trong đời thường. Gặp một người đàn ông có đôi mặt đẹp đi kèm với bộ râu duyên dáng thì họ gọi đó là Bác Sĩ Zivago. Nghe một tiếng chuông rung thì đó là Chuông Gọi Hồn ai (For whom the bell tolls của Herminway) hay Giã từ vũ khí ( Farewell to the arms) để nói đến một anh lính đã giải ngũ vân vân và vân vânChúng tôi học trường Việt Anh- Dalat. Ngôi trường nằm trên đường Hải Thượng bên con suối chảy về Cam Ly. Nữ sinh trường Việt Anh mặc đồng phục màu tím hoa cà và nam sinh mặc áo len màu huyết dụ. Những màu sắc dễ gây những tình cảm thơ dại, êm đẹp trong tuổi học trò. Con suối Cam Ly trong những chiều mưa lớn thường mang lụt lội vào tận lớp học, đó là thời gian vô cùng sung sướng cho bọn học trò chúng tôi vì được nô đùa, nghịch nước và ngày mai khỏi phải đến trường. Ai học trường Việt Anh đều biết cây đào tiên nằm bên chiếc cầu ở đường Hải Thượng đằng trước cổng trường. Học sinh trai gái, lớn bé cùng từng có lúc leo lên cây để vặt trái xanh, trái chưa kịp chín. Cây cầu là nơi nam sinh làm điểm hẹn để đánh lộn, để trả ân oán giang hồ và là nơi nữ sinh đứng tựa vào lan can mà mơ mộng vu vơ.Thầy Hiệu Trưởng luôn luôn cầm chiếc roi mây đi vòng vòng trong sân trường, những tay cao bồi gan góc, tóc tém, giầy mõ vịt cồm cộp đều ngán cây roi cuả thầy. Nữ sinh lớp lớn mang guốc gót sắt Dakao đi qua sân Basketball mới tráng xi măng chưa kịp cứng thì vừa cười vừa chạy khi thấy thầy xăm xăm đi tới. Nữ sinh đầu đánh rối tổ quạ mà không thuộc bài thì con roi mây sẽ xỉa xói không thương tiếc trên làn tóc kia. Thầy Hiệu Trưởng nghiêm khắc là thế mà chẳng thấy ai ghét thầy cả, tôi chưa bao giờ thấy một sự việc nào đáng tiếc xảy ra trong những năm học trường Việt Anh. Học sinh luôn luôn kính trọng và vâng lời thầy giáo. Có nhiều Giáo Sư nổi tiếng đã đi qua Dalat và ghé trường Việt Anh dạy vài ba năm: thầy Nguyễn Đình Chung Song, thầy Tam Ích, thầy Phạm Công Thiện, nhạc sĩ Hoàng Nguyên, Họa Sĩ Duy Liêm, thầy Bửu Sao, thầy Đào Quang Huy, thầy Lê Phổ, thầy Nguyễn Tường Thiết …Tôi và Huyền cùng bạn bè đã có những ngày tháng thật vui tươi thơ mộng dưới mái trường Việt Anh, muà hè đối với chúng tôi luôn luôn rất dài vì ai cũng muốn mau gặp lại bạn bè ở lớp học. Những dịp cuối năm khi anh đào bắt đầu trỗ hoa hồng thắm xung quanh Hồ Xuân Hương và những ngọn đồi trong thành phố được thắp vàng rực rỡ bởi loài Dã Quỳ, là chúng tôi nôn nao chạy ra nhà sách Nhật Tân để mua thiệp Giáng Sinh tặng cho nhau. Ông chủ nhà sách Nhật Tân là một người đàn ông vui tánh, dễ chịu nên những giờ ra chơi chúng tôi hay la cà đến làm phiền ông.Ngoài thời gian ở trường, những chiều thứ bảy tôi lại đến nhà Huyền chơi cho đến tối mịt mới về. Vì tôi và Huyền thân nhau quá nên cuối cùng thì cha mẹ tôi và cha mẹ Huyền cũng quen nhau luôn. Những kỷ niệm giữa chúng tôi không làm sao mà kể cho xiết. Qua thời trung học mỗi người có một cuộc sống khác nhau nhưng cũng không phải vì thế mà chúng tôi xa cách, chúng tôi vẫn gặp nhau hàng tuần và kể cho nhau nghe những diễn tiến tình cảm riêng tư cuả hai đứa. Huyền có người yêu trước nhưng tôi lại lấy chồng trước Huyền. Tôi theo chồng đi xa nhưng vẫn thường xuyên liên lạc với người bạn gái cũ.Sau 75, hai đứa đều kẹt lại ở Việt Nam. Chồng tôi đi tù cải tạo, tôi phải lo cho con dại nên cuộc sống rất khổ sở, còn Huyền vẫn độc thân nên đời sống dễ thở hơn tôi nhiều, có rất nhiều lúc tôi thèm được sống như Huyền, nhưng thật ra mỗi người có một cái số nên mình có muốn cũng chẳng được. Cuộc đời tôi cứ đi mãi vào những lối chông gai trong khi cuộc đời Huyền ngày lại thêm sáng lạn. Tôi không ganh tị với người bạn gái thân thiết nhưng nhiều lúc cũng tủi thân muốn khóc khi so sánh với Huyền. Chị em đi nước ngoài gần hết nên Huyền cứ tà tà nhận quà bán lấy tiền xài và để dành. Khi ba mẹ qua đời thì Huyền đã hưởng trọn gia tài của cha mẹ để lại. Tôi thỉnh thoảng vẫn đến nhà bạn chơi nhưng vì lòng tự trọng tôi không bao giờ than thở để nhận sự giúp đỡ của bạn mình. Tôi và Huyền cùng tuổi, Huyền vẫn chưa lập gia đình khi con gái đầu lòng của tôi đã bước vào tuổi thiếu nữ. Chúng tôi rất nhiều lần nhắc lại chuyện xưa rồi cười bò càn với nhau, những lúc ấy lòng tôi chợt ấm lại, tạm quên đi những nổi đọa đầy của thực tế.Cho đến một ngày, một ngày bắt đầu sau những ngày và những đêm muộn phiền, lo lắng. Tôi làm ăn thất bại, phải đi mượn một chỉ vàng từ một người bạn hàng và đã đến thời hạn phải trả lại cho người ta. Thật ra, một chỉ vàng không phải là một món nợ lớn nhưng khi đã kẹt rồi thì không biết đào đâu cho ra. Sau nhiều đêm suy nghĩ nát óc tôi nhớ đến Huyền, tôi tin chắc rằng Huyền có thể giúp đỡ tôi trong cơn túng ngặt này. Tên Huyền đã giúp tôi thoát khỏi những lo âu từ cả tuần nay làm tôi mất ăn, mất ngủ. Tôi như kẻ chết đuối vớ được chiếc phao và thấy lòng thoải mái, nhẹ nhàng biết là bao. Bạn tôi sẽ giúp được tôi thôi.Với lòng tràn đầy phấn khởi và hy vọng tôi tìm đến nhà Huyền, ngồi trên tấm phản bóng láng trong căn bếp rộng rải quen thuộc lòng tôi tràn ngập những kỷ niệm xa xưa. Tôi đã từng đến đây không biết bao nhiêu lần trong suốt quãng đời thiếu nữ. Căn bếp có khung cửa sổ mở ra khu vườn sau với những tàn lá chuối xanh mướt. Tôi thích ngồi lắng nghe tiếng lá chuối bị xé rách trong gió khi những tia nắng buổi chiều xiêng xiêng trên khung cửa. Căn bếp nhà Huyền luôn mang đến cho tôi những cảm giác thân thuộc và quyến luyến mà tôi tin rằng có nói ra bạn tôi cũng không thể nào hiểu được. Bạn tôi là một người con gái đẹp với đôi mắt u uẩn như ẩn chứa một đời sống nội tâm dồi dào. Đôi mắt sâu đen như một bí mật lạ lùng thách thức sự khám phá của tha nhân, nhưng thật ra đó là một điều trái ngược hoàn toàn mà có lẽ chỉ những người bạn thân như tôi mới hiểu. Bạn tôi là một người rất giản dị đến hiền lành, không thích sự rắc rối và nhất là không mơ mộng như tôi. Tôi nhớ hồi còn đi học Huyền sợ nhất là môn Việt Văn, cô ta hay phàn nàn với tôi:- Huyền chẳng biết viết gì cả, cái đầu như đeo đá vậy, còn bồ viết gì mà nhiều thế?Tôi thành thật giải thích cho Huyền:- Chẳng có gì là khó, Huyền nghĩ sao thì cứ viết đại ra giấy nháp rồi sau đó sửa lại cho gọn gàng là được rồi. Tụi mình đâu phải là văn sĩ mà cần phải viết cho hay!- Nhưng mình không nghĩ ra được điều gì thì làm sao mà viết đây?Tôi trố mắt nhìn Huyền kinh ngạc vì tôi không biết Huyền nói đùa hay nói thật. Tuy vậy chúng tôi vẫn rất thân thiết, bạn bè chơi thân nhau đâu cần phải giống nhau.Tay vân vê trên mặt phản bóng lọng tôi bắt đầu trình bày cho Huyền nghe những khó khăn về tiền bạc của tôi và mong bạn giúp đỡ bằng cách cho tôi mượn một chỉ vàng, tôi kết luận:- Là bạn bè thân thiết từ mấy chục năm nay nhưng mình không dám làm phiền Huyền, nhưng bây giờ kẹt quá không biết chạy đâu ra. Mình hứa sẽ trả lại trong một thời gian rất ngắn.Huyền xua tay:- Không sao đâu mình sẽ cho bồ mượn nhưng bây giờ thì chưa có sẳn, chiều mai 6 giờ bồ dến đây nhé!Tôi mừng rỡ như buồn ngủ mà gặp chiếu manh nên cảm ơn Huyền rối rít. Cái gánh nặng đè trĩu trên vai cả tuần nay trong phút chốc đã được Huyền cất xuống hộ. Tôi cảm thấy hạnh phúc vô cùng trên đường trở về nhà.Ngày hôm sau chưa đúng 6 giờ tôi đã hí hửng đến nhà Huyền.Theo thói quên từ ngày còn bé tôi vào nhà bằng cửa nhà bếp. Huyền không có ở đó nên tôi phải vòng lên phòng khách vừa đi tôi vừa kêu tên bạn tôi thật to. Sau cùng tôi gặp Huyền đang ngồi trên Sofa, tôi hơi ngạc nhiên trước thái độ im lặng của Huyền không buồn đáp lại tiếng kêu của tôi nhưng tôi vẫn giả lả nói:- Con khỉ, ngồi ở đây mà không lên tiếng làm tao kêu rát cả họng!Huyền cười nhạt mà không nói gì cả. Tự nhiên tôi linh cảm có một điều bất thường nào đó. Một khoảng im lặng nặng nề giữa hai người bạn, hình như sự im lặng này chưa bao giờ có giữa tôi và Huyền trong suốt mấy chục năm nay.Tôi vẫn đứng ló ngớ trong căn phòng khách quen thuộc trước mặt bạn tôi. Mắt tôi dừng lại trên chiếc đồng hồ treo tường có con ngựa bằng gỗ mun đen bóng trên đỉnh. Con ngựa với tư thế cất hai vó trước từ mấy chục năm nay không hề biết mỏi mệt. Còn tôi, cái con bé mười hai tuổi ngày nào bây giờ đã và đang bị đời hành hạ, đọa đày không chút xót thương. Tôi, người nữ sinh nhí nhảnh, yêu đời ngày nào bỗng trở thành một mụ đàn bà nghèo nàn đến đây để vay mượn bạn mình. Tôi không ngồi xuống ghế - bạn tôi cũng quên mời tôi ngồi – cố đánh tan khoảng trống nặng nề khá dài giữa hai đứa tôi nói:- Huyền hẹn mình 6 giờ nhưng mình đến sớm một chút vì trời bây giờ mau tối quá sợ không có xe về.Huyền vẫn lặng thinh nhìn bâng quơ đâu đâu. Một cảm giác ngượng ngùng, quê quê làm tôi thấy nóng bừng mặt mũi. Hay là bạn tôi đã quên mục đích của tôi đến đây, hay là bạn tôi đã quên lời hứa ngày hôm qua. Thật là buồn cười đến độ ngớ ngẩn khi nghĩ như vậy nhưng dù sao đi nữa thì tôi cũng đã đến đây và bạn tôi thì cứ im lặng. Cho nên tôi phải ngập ngừng nhắc lại cho bạn tôi nhớ:- Hôm qua mình có nói với về sự khó khăn tiền bạc, mình kẹt quá nên phải đến đây mượn tạm một chỉ vàng. Huyền đã hứa hôm nay sẽ cho mình mượn! Mình lấy danh dự bạn bè thân thiết từ mấy chục năm nay để hứa là mình sẽ hoàn trả lại Huyền trong một thời gian rất ngắn.Tôi xin thề có trời chứng giám: chưa bao giờ có sự khó khăn khi phải nói chuyện với người bạn thân của mình như hôm nay bởi lẽ rằng tôi đang cầu cạnh bạn tôi. Tôi lại có ý nghĩ cay đắng rằng mình hơi hèn hèn làm sao ấy, tất cả đã trở thành lố bịch, kịch cỡm mà nguyên nhân chính là vì sự im lặng của bạn tôi. Nếu bạn tôi cứ cười, cứ nói như Những Ngày Xưa Thân Áii của Phạm Thế Mỹ thì tôi, con bạn thân một phần tư Thế Kỷ của Huyền đâu có nghẹn ngào không nói nên lời trong giây phút này.Cuối cùng thì người bạn chân tình của tôi cũng phải mở miệng một cách bất đắc dĩ:- Hôm qua mình có hứa nhưng bây giờ thì không có, vì con em dâu mình – con Hương vợ thằng Dũng- đã đi mua hàng hết rồi.Tôi cảm thấy căn phòng khách nhà Huyền tối sầm lại, tôi còn có cố vớt vát trong vô vọng:- Như vậy là mầy không có một chỉ vàng cho tao mượn hả Huyền?Huyền trả lời lạnh nhạt, giọng thật sắc:- Tao đã nói với mầy là con em dâu tao đi mua hàng hết rồi mà!Tôi còn nhớ Dũng là em của Huyền, đứa con trai có khuôn mặt tròn đầy như cái hột vịt mà ông Tây già gần nhà Huyền đặt tên cho Dũng ngày xưa. Thằng Hột Vịt đã có vợ hồi nào tôi không biết và tôi lại cũng chẳng biết con Hương vợ thằng Hột Vịt là ai. Tôi chỉ biết Huyền là người bạn chí thân đã từ chối giúp đỡ mình trong cơn ngặt nghèo, túng quẫn, điều đó làm tôi thấy tủi thân muốn khóc.Con ngựa đen trên đỉnh chiếc đồng hồ hình như mỏi mệt muốn hạ vó xuống, tôi thẫn thờ nhìn nó rồi nhìn Huyền. Bạn tôi vẫn ngồi đó, hai con mắt đen và sâu trên khuôn mặt thanh tú, xinh xắn nhưng nụ cười đã biến mất tự bao giờ. Nét mặt bạn tôi trở nên lạnh lùng đến độ tàn nhẫn làm trái tim tôi co thắt lại, một khoảng cách vô hình, một sự tan nát, đổ vỡ nào đó làm tôi lao đao như chực bổ nhào xuống đất. Bất chợt tôi cảm thấy sợ hãi khi bắt gặp một thoáng độc ác nào đó trong đôi mắt đẹp của người bạn chân tình.Tôi biết là không thể lay chuyển được bạn mình nên chào từ giã:- Thôi, mình về nghe Huyền!Giọng tôi run run ướt sũng nước mắt. Nét mặt Huyền vẫn lãnh đạm hơn bao giờ cả:- Ừ mầy về đi!Bước ra khỏi nhà Huyền tôi khóc oà lên một mình, sự tủi nhục dâng đầy trong tâm hồn. Tôi không cần chú ý đến những người qua lại nhìn tôi một cách lạ lùng, khó hiểu. Từ đường Hoàng Diệu tôi băng qua Hải Thượng, nhìn vào ngôi trường Việt Anh nơi tôi, Huyền và bạn bè đã có những thời gian êm đẹp với biết bao là kỷ niệm thân thương. Cây đào tiên vẫn còn bên chiếc cầu vắt ngang giòng suối. Cái cầu trở nên bé nhỏ lại và con suối thì cạn queo. Tất cả đã thay đổi như tình bạn giữa tôi và Huyền. Tất cả đã thay đổi một cách xấu xí và tàn bạo sau cuộc đổi đời trên quê hương chúng ta.Đèn đường đã thắp, nên tôi có thể vừa đi vừa khóc mà không ai nhìn thấy trong không gian nhá nhem tranh tối, tranh sáng. Tôi mỏi mệt lê bước lên đường Duy Tân dẫn đến khu Hòa Bình, những chuyến xe cũng nặng nề leo lên dốc. Hình như tất cả đều cố gắng một cách vô vọng, rã rời trong cái thế giới độc ác, tối tăm này. Tôi bỗng muốn lao đầu vào một chiếc xe đang vun vút chạy về hướng tôi. Ý định ấy làm tôi thấy nôn nao một cách kỳ lạ, sự gọi mời của cái chết như một hứa hẹn bình an vĩnh cửu. Chết. Chết. Thế là xong. Hết lo, hết nghĩ, hết buồn, hết phiền, hết tủi nhục, hết đau thương và nhất là ngày mai khỏi bị đòi nợ, khỏi bị chửi bới.Nhưng tôi chợt bừng tỉnh lại khi nghĩ đến những con mắt tròn xoe và đôi má bầu bĩnh của mấy đứa con. Các con tôi đang chờ mẹ ở nhà, tôi phải trở về lo cho chúng buổi cơm tối, nếu tôi chết rồi các con tôi sẽ ra sao. Tôi lại bắt đầu khóc nức nở trên chuyến xe trở về nhà, khóc vì thương con, vì tủi nhục, vì tình bạn bè, vì tình đời thay đổi.Khi bước xuống bến xe lam, khu chợ nhỏ bé đã bắt đầu náo nhiệt vì những hàng quán bán thức ăn, nước uống buổi tối. Có một đứa nhỏ nào đó nắm lấy bàn tay và kêu tên tôi một cách mừng rỡ. Tôi nhìn xuống và nhận ra đó là thằng Tý con của cô bán sữa đầu nành ở góc bến xe. Thằng Tý nhìn tôi tò mò rồi xịu mặt lại:- Cô Quyên, sao cô khóc?Nó kéo tay tôi lại quán rồi kêu mẹ rối rít:- Mẹ ơi cô Quyên khóc, mẹ ơi cô Quyên khóc.Hạnh, cô chủ quán mẹ của Tý chạy ra nhìn tôi ngạc nhiên, ái ngại. Hạnh chỉ là một người bạn sơ giao ngoài chợ trong khi buôn bán, làm ăn, cô là công chức bị sa thải sau năm 75. Tuy tôi không thân thiết với Hạnh nhiều nhưng bản tính hiền hòa, vui vẻ của Hạnh cũng làm tôi cảm mến. Trông thấy Hạnh tôi lại òa lên khóc làm thằng Tý cũng mếu máo khóc theo. Hạnh kéo tay tôi vào quán vừa nói:- Thôi vào đây uống ly sữa nóng rồi kể cho em nghe chuyện gì đã xảy ra cho chị.Tôi nghẹn ngào nói:- Nhục lắm Hạnh à! Chỉ có một chỉ vàng thôi mà một đứa bạn thân quen hơn 30 năm cũng từ chối. Mình chỉ muốn chết đi cho rồi vì xấu hổ, nhục nhã làm sao!Tôi vừa khóc, vừa kể cho Hạnh nghe đầu đuôi câu chuyện. Nghe xong Hạnh thở dài rồi nói:- Thôi chị đừng buồn nữa, sáng mai ra đây em cho chị mượn rồi bao giờ có thì trả lại em cũng được.Tôi nhìn Hạnh chưng hửng như không tin ở cái lỗ tai của mình nữa, thằng Tý nãy giờ ngồi hóng chuyện mắt đỏ hoe khóc theo tôi bỗng la lên:- Đúng rồi, đúng rồi, mẹ cho cô Quyên mượn đi, cho cô khỏi khóc nữa nghe mẹ!Hạnh nạt con:- Im đi, con nít biết gì mà nói leo. Đi chỗ khác chơi.Tôi ấp úng hỏi lại:- Ngày mai Hạnh cho mình mượn à?Hạnh cười xòa:- Hẹn ngày mai chị lại đâm ra sợ nữa! Ngày mai là ngày không bao giờ có. Thôi cho chị mượn ngay bây giờ để tối nay chị ngủ cho ngon!Hạnh vừa nói, vừa tháo chỉ vàng trên ngón tay trao cho tôi. Tôi cầm chỉ vàng ngơ ngẩn, bàng hoàng như từ trên cung trăng rơi xuống trong tiếng cười và vỗ tay của thằng Tý. Tôi cảm động quá nước mắt lại có dịp tuôn trào không dừng được, tôi nghẹn ngào nói lời cảm ơn Hạnh. Tý nhìn tôi khó hiểu rồi phụng phịu lầu bầu:- Sao cô Quyên lại khóc nữa hả mẹ. Sao khóc hoài vậy!Vài năm sau tôi đi Mỹ nhưng không đến chào người bạn chân tình của tôi, cho đến một hôm trò chuyện với Tuyết Sơn một đứa bạn cùng lớp ngày xưa hiện đang sống ở California thì tôi nghe nhắc đến tên Huyền:- Mình về Việt Nam gặp con Huyền nó gởi lời thăm bạn và trách dữ lắm.- Trách sao?- Nó nói Quyên là đứa tệ bạc. Đã là Đôi Bạn Chân Tình mà ra đi không một lời thăm hỏi nó, qua Mỹ sống sung sướng quá nên quên hết bạn bè ngày xưa.Tôi cay đắng nói:- Nói Huyền cứ coi như Quyên đã chết rồi sau cái buổi chiều cuối cùng mình đến nhà nó. Sống ở Mỹ mình chẳng giàu sang hơn ai nhưng không phải nhục nhã đi vay mượn từ người bạn chí thân mà bị từ chối đến nỗi chỉ muốn lao đầu vào xe hơi tự tử. Con Quyên chết rồi!- Quyên nói gì mình chẳng hiểu gì cả, thế là sao?- Thôi Tuyết Sơn ơi, có nói ra bạn cũng không hiểu được đâu! Bạn đi lâu rồi làm sao hiểu được những gì đã xảy ra cho tụi này sau cơn lốc tàn bạo đổ xuống miền Nam sau 75. Nỗi thống khổ, đoạn trường này chỉ có ai qua cầu mới hay bạn ạ.Tuyết Sơn lặng thinh bên kia phone. Tôi bỗng nhớ đến hai con mắt sâu đen, tuyệt đẹp của người bạn thân thuở nọ. Người bạn chân tình ngồi vắt vẻo trên sofa với nét mặt lạnh lùng tàn nhẫn và tôi đứng lớ ngớ đâu đó, trong căn phòng khách ngập tràn kỷ niệm xa xưa. Con ngựa gỗ mun đen đưa cao vó trên đỉnh chiếc đồng hồ treo tường. Hơn 30 mấy năm tôi đã từng trông thấy nó không có gì thay đổi. Vậy mà lần cuối cùng nhìn thấy: con ngựa hình như muốn hạ hai vó xuống vì mệt mỏi, chán chường.Nếu tôi lao đầu vào chiếc xe đang chạy trên dốc Duy Tân sau lời từ chối quyết liệt của người bạn thân trong buổi chiều nhá nhem ấy. Tôi rùng mình khi hồi tưởng lại.Ôi đôi bạn chân tình ngày nào, Narcissus đã ngồi bên Goldmund trong những giây phút cuối cùng với thương yêu và đau đớn trong trái tim tan nát. Còn tình bạn giữa tôi và Huyền thật là mỉa mai khi nó được gán cho những danh từ hoa mỹ, văn vẻ trong những ngày xưa êm đềm đó. Không có gì xứng đáng, không có gì chua xót cho bằng.Huyền lại trách tôi quên bè bạn. Dư vị đắng cay ngày xưa còn tràn đầy trong cổ họng làm tôi muốn khạc nhổ nó ra ngoài. Tôi chợt hiểu vì sao người ta phải chửi thề, rất tiếc tôi là một người đàn bà và lại là một người đàn bà không quen chửi thề. Tôi nuốt tất cả vào lòng và quặn đau mỗi lần phải nhớ đến.Tôi không thể là người hiền lành hay dễ thương khi nghĩ về Huyền người bạn thân ngày xưa của tôi. Thật đáng tiếc, tất cả đã tan vỡ một cách quá phủ phàng. Người ta hay nói bạn là người ở lại với ta khi tất cả đã quay lưng. Goldmund đã thều thào với Narcissus trong những giây phút cuối cùng của đời sống: You give me your love in this moment when I have nothing left.I accept it and I thank you for it.Còn tôi và Huyền, người bạn chân tình của tôi ơi!