

Khúc Biến Tấu Buồn
Gia đình tôi là một gia đình tư sản ở Sài Gòn. Ba, mẹ đều không muốn tôi đi theo con đường binh nghiệp.Sự kiện “Mậu thân” 68 ập đến, trực tiếp chứng kiến đặc công giải phóng đánh vào tòa Đại sứ Mỹ, Tổng nha cảnh sát... máu kiêu hùng trong người tôi nổi lên. Trong lớp tôi, một số bạn bè có ý định ra “bưng” (1) tham gia cách mạng, 1-2 người đến bí mật rủ tôi.Không một chút đắn đo, tôi theo liền. Tham gia cách mạng, cũng là một cuộc phiêu lưu cho thỏa chí tang bồng của tuổi trẻ. Nhưng thực tế lại khắc nghiệt hơn tôi tưởng rất nhiều.Đơn vị tôi mới đó còn đông đủ, chỉ một thời gian sau, do đủ nguyên nhân, bệnh tật, trúng bom, đánh nhau... đã vơi đi. Quân số bổ sung ở trên chưa kịp, bắt buộc phải xé lẻ thành từng nhóm hai người một, bám cơ sở để tồn tại.Người phụ trách trực tiếp tôi là anh Long. Anh chọn tôi chứ không phải người khác, vì như anh nói:- Đi với mày, vì gia đình còn ở trong thành, có đồ tiếp tế, chứ đi với mấy thằng lính miền bắc, chỉ có nước chết đói.Sự ác liệt của chiến tranh, nhiều lúc quá khủng khiếp, tôi đã có ý định “đào ngũ”. Nhưng...! Một người con gái có trái tim nhân hậu, giữ tôi lại.Mai – Tên người con gái đó, ba, má bị bom Mỹ giết. Căn nhà lá đơn sơ mà em ở, nằm cạnh con lộ là chỗ đi về của tôi và anh Long. Sự gan dạ Mai thể hiện hàng ngày làm tôi có cảm giác thanh thản, sự chết chóc không còn làm cho mình sợ hãi.Nhưng tình yêu đó của tôi đã bị mất, mất rất đau đớn, không phải do kẻ thù gây ra mà lại do anh Long.Biết tôi và Mai yêu nhau, không hiểu sao, tôi có cảm tưởng anh Long không thích. Ánh mắt anh nhìn tôi có lúc như tối sầm. Một lần anh Long nói với tôi:- Tao không hiểu sao một thằng tiểu tư sản như mày mà Mai lại yêu. Lẽ ra..tao không nên để mày quen Mai.Tôi im lặng, không muốn trả lời anh.Hôm đó, tôi đi lấy gạo, ở nhà chỉ còn Mai và anh Long. Anh Long thực hiện một trò đốn mạt. Mai kể lại với tôi trong tiếng nấc nghẹn ngào:- Anh Long nói với em xuống hầm có một việc quan trọng cần trao đổi. Em tin anh ấy như tin anh. Ai ngờ...!Căm thù dâng lên uất nghẹn, tôi đứng bật dậy cầm khẩu AK, nói với Mai dằn từng tiếng:- Anh sẽ giết kẻ khốn nạn đó!Nghe vậy Mai níu tay tôi, nói qua hàng nước mắt:- Đừng anh! Anh đừng làm thế! Đừng để bà con nghĩ xấu về các anh. Bà con ở đây tin Cách mạng hơn tin phe bên kia!Nghe Mai nói thế, tôi đau đớn, như ai đang lấy dao cứa vào tim mình.Tôi cũng tưởng sau sự việc xấu xa đó, anh Long sẽ tránh mặt tôi. Không phải thế, sau sự việc đó, anh Long chủ động đến gặp tôi. Nét mặt anh Long trông đau khổ, giọng sụt sùi:- Lúc Mai xuống hầm, không hiểu sao anh như con thú, không kìm lại được.Anh lấy tay đấm vào ngực mình thùm thụp:- Đó là việc làm không đúng nhân cách của người lính Cách mạng. Thôi, không nói chuyện đó nữa.Giọng anh nức nở:- Việc này em có thể toàn quyền giải quyết. Em dẫn anh ra hẻm núi kia mà xử. Anh xứng đáng nhận bản án đó!Nói xong câu nói đó, anh Long liếc nhanh như đánh giá thái độ của tôi rồi cúi xuống, nét mặt đầy ân hận.Nghe anh Long nói vậy, tôi kinh tởm quay đầu đi chỗ khác, như không muốn nhìn thấy mặt anh ấy. Lúc này tôi nghĩ về Mai nhiều hơn, đúng là không vì em thì mọi chuyện giữa tôi và anh Long dễ giải quyết. Không thể làm cho Mai khổ hơn, tôi đang muốn mình là chỗ dựa cho em.Một điều làm tôi ngạc nhiên, sau chuyện anh Long gây ra với Mai, Mai có thái độ cư xử với tôi hoàn toàn khác trước. Em thường lảng tránh những cuộc nói chuyện giữa tôi với em. Tôi cố níu kéo, vì tôi rất hiểu, chuyện đó không phải do em gây ra, tôi sẵn sàng bỏ qua hết. Mai hình như cố tình không hiểu điều đó. Gặp tôi, em chỉ nói chuyện công việc. Một lần tôi cầm tay em, nói để em hiểu suy nghĩ của tôi:- Mai ơi! Anh rất thương em, thương nhiều lắm. Chuyện vừa rồi, anh coi như không có. Em có tin không?Em gỡ tay tôi ra, không nhìn thẳng, cố giữ giọng thật bình thản:- Với em, anh đừng nghĩ gì nữa. Em không xứng đáng với anh.Nói xong, không đợi tôi nói lại, em đi như chạy. Tôi đứng như chết lặng nhìn theo bóng em đang mờ dần.Tôi không hiểu vì sao em lại có thái độ như vậy?!Sau đó hơn một tháng, tôi với anh Long đến nhà Mai. Chưa kịp bàn bạc thì bất ngờ quân Mỹ cho trực thăng đổ quân ngay trên đường lộ. Anh Long sợ hãi, mất tinh thần. Tôi thực sự lúng túng, duy nhất chỉ có Mai giữ được sự bình tĩnh. Mai nó như ra lệnh:- Hai anh xuống hầm ngay!- Còn em?- Em sẽ đánh lạc hướng chúng nó.Tôi nói vội:- Để anh cùng đi với em.Mai nói dứt khoát:- Không được. Các anh còn cần cho phong trào sau này.Nói thế rồi em cầm khẩu carbin lao ra ngoài. Phía ngoài lộ lúc này đã lố nhố bóng lính Mỹ.Tôi cầm khẩu súng định lao theo em, anh Long rướn người vội níu tôi đẩy mạnh xuống hầm bí mật. Nóc hầm được đóng lại, anh Long nói trấn an:- Yên tâm đi! Mai lo cho chúng ta được.Ở phía xa, dội xuống hầm tôi nghe rõ là tiếng lựu đạn, tiếng súng nổ. Trong dạ tôi như có lửa đốt. Tôi không thể ngồi yên ổn ở dưới hầm để trên kia một mình Mai chống chọi với lũ giặc. Tôi toan đẩy nắp hầm bật lên, anh Long vội bấu chặt lấy tay tôi, nói không ra hơi:- Mày lên là chết cả hai... Không được!- Tôi với anh không thể ngồi ở dưới hầm này.Tôi quát vào mặt anh:- Anh không lên, để tôi lên!Anh Long lấy hai tay đè mạnh vai tôi xuống, nói líu cả lưỡi:- Mày ngồi im!Không chịu được nữa, tôi định lấy chân đạp mạnh vào người anh ta để đứng dậy thì anh Long lấy người đè hẳn vào người của tôi, giọng anh ta sợ hãi đến tột độ:- Tao phải giết mày để không bị chết lây.Sức anh Long khỏe hơn tôi, nhất là lúc sợ hãi, tôi lại ở thế bị động nằm dưới anh ta trong một chiếc hầm quá chật chội, không thể cựa quậy. Hai bàn tay anh Long như hai gọng kìm xiết lấy cổ của tôi. Tôi cố giãy giụa một lúc rồi ngất lịm.Khi tôi tỉnh dậy, trong hầm chỉ có một mình. Tất cả im ắng một cách lạ thường. Nằm một lúc lấy lại sức tỉnh táo, tôi dồn sức mở nắp hầm.Lên khỏi miệng hầm bí mật, tôi ngỡ ngàng với cảnh tượng đập vào mắt. Căn nhà lá của Mai bị bọn lính Mỹ đốt cháy tan hoang. Mùi khói, mùi thuốc súng còn nồng nặc. Không biết anh Long có chạy thoát không hay bị lính Mỹ bắt sống. Còn Mai! Tôi đảo mắt tìm em, chắc em đã bị lính Mỹ bắn chết, vứt xác đâu đó!Tôi cố tìm kiếm dấu tích của anh Long và Mai, nhưng không thấy. Tôi buông súng lết về phía bìa rừng.Đây là cú sốc quá nặng nề đối với tôi, buộc tôi phải nghĩ lại con đường mình đang đi.Cầu mong, nếu Mai đã chết, vong linh em hãy tha thứ cho tôi. Ở lại tôi sống không được như nhân cách của em. Cũng ở lại, nếu như anh Long còn sống, nhìn thấy một đồng đội như vậy, chẳng lẽ tôi là người đồng hành!!Nghĩ như thế, ngay tối hôm đó, tôi không tìm đường về lại đơn vị mà quay về thành....Năm 1975. Ngay từ tháng 3, khi Tây Nguyên, Huế, Đà Nẵng... thất thủ, về tay quân cách mạng, ba, mẹ tôi yêu cầu tôi không học nữa, theo gia đình ra nước ngoài. Lần này, tôi phải nghe theo lời khuyên của gia đình.Ở lại không có điều gì lợi cho tôi cả. Tưởng mọi chuyện đã an bài, không thể trở về với mảnh đất tôi đã cất tiếng khóc chào đời, nơi lưu giữ biết bao nhiêu kỷ niệm buồn vui, và nhất là hình ảnh của Mai, tôi không thể nào quên được.....Không ngờ tôi được trở về. Tôi tham gia trong ban lãnh đạo hãng N. Ông Tổng giám đốc gọi tôi lên giao nhiệm vụ:- Bên đối tác, sau khi ký hợp đồng, nhất là chúng ta đã chuyển vào tài khoản của họ số tiền hoa hồng mà họ yêu cầu, họ muốn mời đại diện của Hãng sang thăm không chính thức, để cảm ơn. Tôi muốn anh thay mặt Hãng làm việc này.Ông Tổng giám đốc giao tôi một số nhiệm vụ rồi dặn thêm:- Với họ, anh hết sức cảnh giác, vì họ rất mưu mô quỷ quyệt. Ngay chuyện chúng ta chuyển số tiền hoa hồng vào tài khoản của con cái họ, họ cũng làm rất khéo. Vì thế, trong cách nói chuyện, anh đừng để lộ bất cứ một điều gì của Hãng, hậu quả khó lường. Vì lợi ích cá nhân, họ dám làm tất cả để đạt mục đích. Tôi nhắc lại, anh cần cảnh giác!Ông Tổng giám đốc của tôi qua lại nhiều lần ở Việt Nam để thương thảo hợp đồng, rất hiểu cách làm ăn ở đây, ông dặn tôi như vậy.Chuyện của tôi trong chiến tranh, tôi vẫn giữ kín. Khi về lại Việt Nam, tôi kín đáo, không cho ai biết, tôi muốn tìm lại Mai, xem số phận của em hiện giờ như thế nào?Vùng chiến trường xưa sau hơn 30 năm tôi tạm xa, bây giờ thay đổi rất nhiều. Không còn những thân cây bị lửa bom đốt cháy nham nhở, những hố bom toang hoác, những mái nhà xiêu vẹo, xơ xác...Thay vào đó là những cánh đồng lúa hai bên đường vàng rực một màu no đủ, những ngôi nhà lợp ngói khang trang đầy ắp tiếng trẻ nô đùa. Tiếng xe máy, tiếng máy xát gạo ồn ào....Một không khí hòa bình như bao vùng đất trên đất nước này, tôi đi qua. Một điều! Dù tôi dự tính trước trong mọi trường hợp, ấy vậy tôi vẫn cảm giác bất ngờ, vẫn như không tin. Tôi gặp lại MAI.Đến Ấp Tân Khang, căn nhà em thực sự khó tìm, nằm chơi vơi gần như biệt lập với mấy ngôi nhà xung quanh, đồ đạc không có gì đáng giá, vách nhà trống hơ, trống hoác, không có cửa ra vào. Mai ở quá nghèo, ngoài cả sức tưởng tượng của tôi.Mai gặp lại tôi, hai mắt em nhòa lệ:- Em không ngờ anh còn sống, để có ngày hôm nay.Chiếc áo bạc phủ vai gầy run run theo tiếng nấc, mái tóc bạc bết vào trán, cùng nét mặt khắc khổ, Mai đưa tôi vào nhà. Tôi chú ý một người đàn ông không đoán tuổi, nét mặt ngây dại, chân tay khẳng khiu, áo quần không lành lặn ngồi nép vào góc nhà, dáng bất động. Mai giải thích:- Con em đấy, hơn 30 tuổi rồi. Cháu bị tâm thần từ lúc nhỏ.Mai mời tôi ngồi, rồi lặng lẽ kể tiếp cho tôi nghe câu chuyện xảy ra trong ngày khủng khiếp đó:- Em đoán là bọn lính Mỹ phát hiện ra các anh nên mới tập kích bất ngờ như vậy. Nếu em không đánh lạc hướng sẽ chết tất cả. Còn sống một người đỡ cho đằng mình một người. Nghĩ như thế, nên em quyết định phải đánh lạc hướng, kéo chúng nó xa hầm bí mật của các anh được bao nhiêu, tốt bấy nhiêu. Bọn lính Mỹ nhìn thấy em, chúng nổ súng.Em cũng kịp bắn trả bọn chúng được mấy loạt đạn thì bị thương, lính Mỹ bắt được em. Chúng khiêng em lên máy bay đưa về trại tù binh, còn ngôi nhà của em, chúng đốt cháy. Trong trại tù binh, khi em lành vết thương cũng là lúc sinh cháu.Mai chỉ người đàn ông tâm thần ngồi góc giường:- Chắc anh biết cha của nó là ai rồi! Mang cháu trong hoàn cảnh quá khắc nghiệt, nên khi sinh ra cháu bị như vậy, cứ thế em phải ở vậy nuôi cháu. Khi em có dấu hiệu mang thai, em phải khước từ tình yêu của anh mặc dù lúc đó em thương anh rất nhiều...Tôi đau đớn, hỏi lại:- Sao lúc đó Mai không nói cho tôi biết ngay?- Em nghĩ, một mình em đau khổ, em chịu đựng được, anh phải có tình yêu trọn vẹn hơn, đẹp hơn. Sau này, biết anh và anh Long đi thoát, em mừng lắm. Hy vọng anh và anh Long sẽ trở về. Hơn 30 năm qua, không thấy ai về cả. Hôm nay mới thấy anh...Tôi im lặng, thực tình ngượng cho chính mình.Mai kể tiếp:- Sau khi em sinh thằng bé, có người hiểu, có người không hiểu, em mất liên lạc hoàn toàn, đành phải bế thằng bé lên Sài Gòn sinh sống cho đến ngày giải phóng mới về lại. Mẹ con kiếm rau cháo lần hồi nuôi nhau...Mai nhìn tôi hỏi trong tiếng thở buồn:- Anh về, anh Long không thấy về, chắc anh ấy hy sinh rồi phải không anh? Tội anh ấy quá anh nhỉ!Tôi lảng tránh ánh mắt nhìn của em, không dám kể lại câu chuyện đã xảy ra giữa tôi và anh Long lúc đó. Vì lúc này, trong em, hình ảnh của anh Long vẫn còn rất đẹp, dù chính anh ta giết chết tình yêu của em.Tôi nhìn hoàn cảnh của Mai, nghĩ mình phải có trách nhiệm, không thể để mẹ con em sống như thế này.Tôi nói với Mai:- Anh gặp lại em có cả nỗi đau đớn và niềm vui vì không nghĩ sẽ có ngày hôm nay. Anh muốn giúp em...Mai cười nhẹ, nhìn ra xa. Không gian nhạt nhòa nắng, những cánh cò bay mải miết, hương đồng dìu dịu. Suy nghĩ một lúc em mới trả lời tôi, giọng chậm rãi:- Cảm ơn anh lo cho mẹ con em, nhưng em không đi đâu hết, ở đây em quen rồi. So với bao nhiêu người phụ nữ khác, đã qua cuộc chiến tranh, em là người hạnh phúc hơn họ, còn có mẹ, có con. Mẹ, con em ở đây trong tình thương của bà con chòm xóm, không khổ đâu.Gặp lại em, tôi muốn ở lại lâu. Dẫu ý định như thế, nhưng càng tâm sự với Mai, tôi nhận ra Mai không cần sự thương hại của người khác. Mai vẫn bản lĩnh, y như lúc cứu tôi và anh Long dạo nào.Tôi ở lại, càng thể hiện sự yếu kém của mình, Mai sẽ nhìn tôi với con mắt khác. Nghĩ như thế tôi quyết định tạmbiệt em ngay trong hôm. Biết ý định của tôi, Mai nắm lấy tay tôi, nói nghẹn ngào:- Anh giận em sao? Anh phải hiểu cho em, đừng nghĩ khác.Trước đây hay sau này,em vẫn nghĩ tốt về anh, kể cả anh Long. Anh hãy suy nghĩ như em đi! Hãy nghĩ tốt về nhau. Anh ở lại ăn với mẹ con em một bữa cơm.Như thế là em thỏa lắm rồi. Nghe em đi, anh khoan về đã.Mai không biết, tôi hèn kém trước em. Tôi xấu hổ. Tôi không xứng đáng với em. Không trả lời em, tôi rút tay, nuốt thầm nước mắt. Lặng lẽ bước đi.Mọi chuyện đều bất ngờ. Quả đất này lớn thật, nhưng không lớn như mọi người nghĩ vì tôi gặp lại anh Long.Anh Long giờ đây ở một chức rất to trong chính quyền sở tại. Nét mặt, dáng anh thay đổi rất nhiều. Dáng anh phương phi, nét mặt hồng hào, duy chỉ có mái tóc vẫn đen nhánh.Tiếp tôi, anh nhận ra ngay. Sau đó, anh cho thư ký riêng đánh xe con đến khách sạn, nơi tôi ở, mời tôi về nhà riêng. Ngôi nhà của anh Long là một biệt thự to, rất đẹp, có công an gác ở ngoài. Trong phòng tiếp khách, chỉ có tôi và anh, anh nói chuyện thân mật, thay đổi cả cách xưng hô:- Nói thật với em, gặp em, anh rất ngạc nhiên.- Em cũng ngạc nhiên khi gặp anh!Thấy thái độ vồn vã của anh, tôi nói thật suy nghĩ của mình. Anh Long có vẻ ân hận khi nhắc lại chuyện cũ:- Cái hồi đó, cũng do chiến tranh khốc liệt quá, sống với chết chỉ trong một tích tắc nên anh đối xử với em không phải. Không biết đến giờ em còn giận anh không?Chuyện cũ,nhắc lại làm gì.Điều quan trọng, hiện tại anh Long đang là đối tác làm ăn với Hãng của tôi. Tôi nói:- Thôi, anh ạ! Anh với em không nghĩ đến chuyện đó, nó cũng qua lâu rồi. Quan trọng là anh cùng Hãng em làm ăn như thế nào có lợi cho cả đôi bên.Anh Long nghe tôi nói vậy, cười lớn:- Em nói thế, anh rất mừng. Chuyện trong chiến tranh, anh mong em, chỉ em và anh biết. Nếu anh không ở chức này, Hãng của em sẽ có nhiều bất lợi.- Em hiểu!Anh Long nói tiếp:- Vậy 1 triệu đô la mà Hãng của em chuyển vào tài khoản của cháu đang học bên Thụy Sỹ, anh nghĩ, anh sẽ đưa lại cho em 100 ngàn đô la, gọi là tình nghĩa giữa hai em mình. Em nhận cho anh.Anh vỗ vai tôi:- Em không nhận là anh giận đấy!Tôi biết, đây là số tiền mà anh Long muốn tôi “im lặng”. Thực ra, kỷ niệm chua xót đó, tôi cũng không muốn nói với ai. Nhưng chính lúc này, tôi lại nghĩ đến Mai. Nếu như Mai có số tiền này, sẽ đỡ cho em và con rất nhiều. Sau khi cân nhắc tôi nói với anh Long:- Anh còn nhớ đến Mai không?Anh Long ngơ ngác:- Mai nào?- Mai đánh lạc hướng bọn lính Mỹ càn quét, cứu em và anh dưới hầm bí mật.Nghe vậy, anh Long giật mình, lấy tay vỗ vỗ lên trán:- Anh nhớ rồi! Nhớ rồi! Mai du kích.Anh Long hỏi vội:Mai vẫn còn sống à?Tôi bình tĩnh kể anh nghe:- Trước khi em gặp anh, em đã gặp Mai. Hiện tại Mai sống rất khổ cùng đứa con trai bị tâm thần. Mà đứa con trai ấy, anh có biết cha nó là ai không?- ...- Em không nhắc lại chuyện đó, em nói thế là anh hiểu cha nó là ai rồi!Trán anh Long lấm tấm mồ hôi. Anh vội lấy khăn ra lau, bàn tay anh run run. Anh giục tôi nói tiếp. Tôi đề nghị:- Cả anh và em bây giờ phải có trách nhiệm với mẹ con của Mai. Em sẽ không nhận số tiền anh đưa, em chỉ có một ý muốn. Anh dùng số tiền đó giúp mẹ con Mai có một ngôi nhà khang trang, giúp người con trai đi chữa bệnh. Mà người con trai đó...Anh Long cướp lời tôi, nói vội vàng:- Em đừng nói nữa, anh hiểu, anh hiểu. Anh phải có trách nhiệm với nó, không thể để nó như thế được. Em hãy vẽ sơ đồ địa chỉ cụ thể nhà của Mai, để khỏi phải tìm kiếm. Thật chi tiết nhé, anh sẽ cho người mang tiền đến Mai ngay.Anh Long lập cập đưa cây bút và mảnh giấy để tôi vẽ lối đi vào nhà của Mai. Tôi mừng vô cùng, trong lòng thấy thanh thản được phần nào. Anh Long đã thấy tội lỗi và bây giờ anh muốn có một việc làm cụ thể để chuộc lại những lỗi lầm của mình.Mai ơi! Ít nhất từ nay đến cuối đời, em và đứa con tâm thần không phải sống trong cảnh vất vả nữa.------Khi tôi về lại Hãng, tiếp tục công việc của mình. Hàng ngày tôi vẫn lên mạng truy cập tình hình trong nước. Một tin tôi đọc, như không tin vào mắt mình:“Đêm ngày 22 tháng... năm... tại ấp Tân Khang, xã Minh Hiệp, huyện... tỉnh... đã xảy ra một vụ giết người rất dã man. Nhân đêm tối, trời mưa tầm tã, lợi dụng ngôi nhà trống trải, xa dân cư, bọn thủ ác đã đột nhập vào nhà bà Nguyễn Thị Mai, giết chết bà cùng đứa con trai bị tâm thần. Theo những người công an điều tra cho biết, đồ đạc trong nhà bà Mai không mất thứ gì. Bà con chòm xóm cho biết, Bà Mai sống rất tử tế, hòa thuận không làm mất lòng ai.Vậy nguyên nhân vụ giết người do đâu? Công an đang điều tra...”“Đêm ngày 22”, tức là sau một ngày tôi rời Việt Nam.Lời của ông Tổng giám đốc hãng N, nơi tôi đang làm việc văng vẳng bên tai: “Vì lợi ích cá nhân, họ sẵn sàng làm tất cả để đạt mục đích. Anh cần cảnh giác.”Trời ơi! thế mà tôi không hiểu. Để bây giờ...Chính tôi giết em. Mai ơi!-------------(1) Bưng: Căn cứ cách mạngTrần Kỳ TrungCơn say " Hạnh phúc "
Đọc để cười hôm nay, vui luôn là chính!(Hình đám gà ngoài đường, một ông 5 bà....Gà trống hỏi thăm cụ ông)Cơn say “hạnh phúc”
Jack thức dậy với cơn đau đầu như búa bổ sau bữa tiệc Giáng Sinh của công ty. Bình thường anh không uống nhiều, nhưng tối qua rượu uống vào thấy nhẹ hều nên anh cứ uống mãi… đến mức không nhớ nổi mình về nhà bằng cách nào.
Cố mở mắt ra, Jack thấy trên bàn cạnh giường có hai viên aspirin và một ly nước, bên cạnh còn có một bông hồng đỏ.
Anh ngồi dậy, thấy quần áo của mình được giặt sạch và ủi phẳng đặt ngay ngắn. Nhìn quanh phòng thì mọi thứ gọn gàng, sạch bóng. Cả căn nhà cũng vậy.
Jack uống thuốc, rồi vào phòng tắm. Soi gương thì thấy một con mắt bầm tím to tướng.
Trên góc gương còn có tờ giấy vợ để lại, viết bằng mực đỏ, có hình trái tim và dấu son môi:
“Anh yêu, bữa sáng em để trên bếp. Em đi chợ sớm để tối nấu món anh thích. Em yêu anh!
— Jillian”Jack lảo đảo xuống bếp. Quả nhiên bữa sáng nóng hổi, cà phê bốc khói và tờ báo sáng đều sẵn trên bàn. Con trai anh đang ngồi ăn.
Jack hỏi:
— Con à… tối qua chuyện gì xảy ra vậy?Cậu con trai đáp:
— Ba về nhà lúc hơn 3 giờ sáng, say khướt. Ba té đập vào bàn làm gãy cái bàn, rồi nôn đầy hành lang, sau đó đụng cửa nên bị bầm mắt đó.Jack ngơ ngác hỏi:
— Vậy sao nhà cửa lại sạch sẽ thế này? Ba còn có hoa, có bữa sáng nữa?Cậu con trai cười:
— À chuyện đó hả…
Mẹ kéo ba vào phòng ngủ. Khi mẹ định cởi quần cho ba thì ba la lên:👉 “Đừng đụng tôi! Tôi là người đã có vợ!” 😄😄 Mười năm trước và bây giờ
Mười năm trước chúng ta còn có:
Johnny Cash
Bob Hope
Steve Jobs
Còn bây giờ thì sao?
👉 Không còn tiền (cash)
👉 Không còn hy vọng (hope)👉 Cũng chẳng còn việc làm (jobs) 😄😄 Tự tin và bí mật
Con trai hỏi:
— Ba ơi, “tự tin” (confident) và “bí mật” (confidential) khác nhau chỗ nào?Ông bố suy nghĩ một chút rồi nói:
— Ừm… con là con của ba.
👉 Điều đó thì ba rất tự tin.— Còn thằng bạn Timmy của con…
👉 Nó cũng là con của ba, nhưng chuyện đó thì phải giữ bí mật! 😄Bộ tranh thiết kế thời trang của họa sĩ thời trang Edgar Artis
Thiên nhiên luôn là nguồn cảm hứng bất tận cho các nghệ sĩ. Với khát khao sáng tạo không ngừng nghỉ, không giới hạn, nhà tạo mẫu Edgar Artis người Mỹ đã cho ra đời những bản thiết kế thời trang với những nguyên liệu vải độc đáo, mới mẻ. Bằng những bức hình cắt giấy có sẵn, anh dễ dàng thử nghiệm với những liệu “vải “khác nhau với những khung cảnh thực tế tạo nên những bản vẽ sáng tạo và chân thực nhất có thể. Qua đó anh cũng dễ dàng chọn lựa được liệu vải phù hợp nhất cho ý tưởng của mình.Muối, hạt óc chó, miếng bánh quy... cũng trở thành chất liệu cho các bản thiết kế thời trang của Edgar Artis.Edgar Artis - họa sĩ thời trang người Armenia - thường cập nhật trên Instagram những thiết kế của mình. Bộ đầm từ mứt kem Nutella là sáng tác mới nhất của anh.Dưới con mắt của Edgar, mọi sự vật đều có thể trở thành chất liệu cho thiết kế váy áo.Bộ đầm từ quả bơ.Sợi mì cũng có thể trở thành họa tiết làm nên chiếc váy bồng bềnh.Váy xẻ chân từ nấm.Chất liệu cứng như bánh quy cũng trở nên mềm mại qua bàn tay của Edgar Artis.Váy dự tiệc từ bột bánh mì.Bộ đầm cầu kỳ từ dây băng cassette.Nhiều bức vẽ trong bộ sưu tập của Edgar Artis bắt nguồn từ những hình ảnh anh tình cờ gặp trong cuộc sống. Có thể là đống củi...Cũng có thể là khoảng không gian hoa lá...Váy sắc màu từ những viên kẹo skittles. Nhà thiết kế cho biết anh rất tốn công sức để giữ cân bằng, tạo mô hình cho chiếc váy.Thiết kế sáng tạo từ muối. Ngoài những chất liệu trên, Edgar Artis tạo ra những bộ đầm từ hạt óc chó, lông vũ, nến, cát...Thay vì hoàn thành kiệt tác của mình bằng bút chì màu hay cắt giấy như trước, Edgar đã tạo ra các thiết kế mới đầy duyên dáng tới từ tất cả mọi thứ mà anh tình cờ kiếm được. Nhờ vào tài năng và óc sáng tạo, Edgar đã dễ dàng biến hóa những thứ đơn giản nhất trở thành tác phẩm nghệ thuật quyến rũ. Không những vậy, những nàng thơ của anh còn được tạo dáng như thể đang thực hiện điệu múa, qua đó càng thêm phần hút hồn người xem.Theo: PrinternetẢnh: Edgar ArtisNguồn ảnh: Internet.DÌ DẦN
--Mãi đến năm 14 tuổi, tôi mới biết rằng mình có 1 dì Út khá giả, khá đẹp và khá...nghiêm khắc. Chị em tôi thường gọi là dì Út chứ tên thật của dì là Dần. Má tôi có 3 chị em và mồ côi từ nhỏ.Tên của 3 chị em được đặt theo tuổi của mỗi người. Má tôi tên Hợi, dì kế tên Tý và dì Út tên Dần.Nhưng dì không thích ai gọi dì bằng cái tên này cả. Đám trẻ con chúng tôi lỡ gọi tên tộc của dì sẽ bị la rầy và cho là “hỗn”. Còn người lớn thì đã có một cái tên gọi dành cho dì đi kèm với tên cửa tiệm may của dì nghe thanh lịch hơn nhiều: cô Út Đông Thạnh. Má tôi nói ngày xưa, con nhà nghèo ít có ai được mang tên đẹp, phần cho dễ nhớ phần để dễ nuôi không bị “ông bà” quở phạt nên cứ lấy tên của 12 con giáp hoặc lấy tên nào xấu xấu đặt cho con là... chắc ăn nhất. Đứa nhỏ sẽ ăn no, chóng lớn và khỏe mạnh cùi cụi.Những năm tuổi thơ trước đó của tôi, ít thấy dì xuất hiện, dù dì ở cùng tỉnh, không biết vì lúc đó tôi còn quá nhỏ nên quên hay vì công việc làm ăn, dì ít tới lui nên tôi không để ý.Má tôi mỗi khi nhắc đến Dì Út vẫn thường hay nói: “Đàn bà tuổi Dần “cao số” lắm, tính tình lại khó khăn, dữ dằn nữa, nên cũng khó lấy chồng vì mạng Cọp mà, dì Út tụi bây cũng vậy”. Nhà tôi có đứa em trai cũng tuổi Dần nhưng má tôi lại không lo vì cho rằng con trai tuổi Dần (con Cọp) cũng như tuổi Thìn (con Rồng) là tốt lắm. Chắc nhờ vậy mà gia đình tôi có đủ cả hai ông Cọp và Rồng chăng?Làm đàn bà cũng khổ, không phải chỉ riêng má tôi nói vậy mà thiên hạ ai cũng cho rằng: “Đàn bà tuổi Dần, mạng lớn, khắc chồng, hai ba đời chồng chứ chẳng chơi,” hoặc “ưng mấy người tuổi Dần dễ chết yểu lắm”. Cho nên đàn bà con gái ai lỡ tuổi Dần cứ phải giấu tuổi thật của mình nếu không muốn bị... ế ẩm.Trong khi đó, đàn ông tuổi Dần lại được quí, quí lắm, sau này chắc sẽ phải làm quan to, đứng đầu thiên hạ, bởi con cọp là chúa tể sơn lâm mà. Ngày xưa, khi vũ trụ còn huyền bí, con người chưa chinh phục được thiên nhiên, bắt thiên nhiên phải phục vụ mình như ngày nay, người ta không dám kêu Cọp bằng con mà phải kêu bằng ông, thậm chí, còn lập đền, lập miếu thờ cọp nữa kìa.Dì Út là một phụ nữ có nhan sắc, sống một mình lại siêng năng làm việc nên ở tuổi 30 dì đã có nhà, có tiệm và nhiều bạn bè quen biết. Không rõ có phải cái tuổi Dần nó vận vào người đã tạo cho dì một tính khí cứng rắn, đôi khi quá “ương ngạnh” (nói theo lời của má tôi) hay không, nhưng thật tình mà nói, dì rất hiếm khi chịu thua hoặc nhượng bộ ai trong những cuộc tranh cãi hay quyết định điều gì, trong công việc làm ăn hoặc ngay cả trong vấn đề tình cảm.Tôi nhớ lần đầu tiên gặp và biết rằng mình có một bà dì khá đặc biệt trong một hoàn cảnh thật hi hữu. Đi cùng má vào thăm dì trong... bót cảnh sát. Người ta bảo dì bị bắt giữ vì đã nổi ghen, xông tới gây gổ và xô xát với người bạn trai lâu năm của dì khi biết mình bị lừa dối và bắt gặp người này đang đi với một phụ nữ khác. Kết quả là người đàn ông phải vào nhà thương vì bị đứt một bên tai và dì vào bót cảnh sát với một vết thương trên trán.Sau chuyện đó, tim dì “đóng băng” với “bọn đàn ông” mà dì cho rằng toàn là thứ giả dối lừa đảo, bạc tình..... Hơn 2 tuần cùng má đi thăm nuôi, tôi đã quen với gương mặt lạnh, ít cười, đôi môi thường mím chặt, chỉ có đôi mắt đen to và hàng mi rậm dài là sinh động của dì. Chắc dì cũng cảm động khi thấy mẹ con tôi ngày nào cũng xách cơm vào thăm nên sau khi được trở về nhà, dì bắt đầu lui tới nhà tôi thường hơn, thỉnh thoảng mua quà bánh cho chị em tôi nữa, khiến chúng tôi thêm quí mến dì.Dì khá đẹp và là chủ một cửa tiêm may lớn ở Biên Hòa nên cũng rất theo thời trang. Mỗi khi đến tiệm dì, tôi thích ngắm tấm hình bán thân thật to của dì treo trên tường, dì đứng nghiêng người, mặc áo dài màu xanh rêu, có kết những chiếc lá nho nhỏ bằng vải kim tuyến màu nhủ vàng, tay tựa hờ sau gáy, mắt ngước nhìn về phía xa xăm trông không khác gì hình các tài tử đóng phim.Tấm hình này khiến lòng ngưỡng mộ của tôi với dì càng gia tăng hơn. Tết năm đó, dì dắt tôi lên SàiGòn mua vải đặt cắt may một bộ “đồ tây” theo mẫu trong catalogue đàng hoàng khiến con bé mới 14 tuổi lần đầu được diện như Tây cứ đứng ngẩn ngơ trước bộ áo đẹp đẽ, sang trọng mà tưởng như người trong mộng. Má tôi trách: “Nó còn lớn nữa, mày may làm chi ba cái đồ mắc tiền.” Dì gạt ngang: “Chị để tui lo, mốt bây giờ là phải mặc như vậy đó”. Rồi dì mua thêm một bộ áo tắm nói là để cho tôi đi Vũng Tàu chơi với dì và những cô thợ may trong tiệm. Tôi vui mừng và nghĩ rằng mình thật may mắn. Cho đến hôm đi Vũng Tàu thì tôi mới thấy “thần tượng” dì Út của mình bị tan vỡ. Hôm đó, tôi bị cảm ho, người cứ uể oải nên nói với dì là không đi được. Không ngờ, Dì nổi giận đùng đùng mắng cho tôi 1 trận và đòi tôi phải trả lại bộ áo tắm “Không đi thì để tao cho người khác”. Tôi vừa ngạc nhiên vừa... đau khổ, năn nỉ dì để dành lần sau con đi, nhưng dì nhất định không đổi ý. Tôi đành trả áo lại cho dì mà lòng... ấm ức không thể tả. Dì giận tôi cả tháng và nói sẽ không cho tôi đi đâu với dì nữa. Tính dì là như thế đó, khi vui thì làm gì, nói gì cũng được nhưng ai làm nghịch ý dì thì dì nhớ và nhắc đi nhắc lại... cả đời.Nhiều lúc, dì lấn lướt cả má tôi nữa nhưng thấy má dù là vai chị lớn nhưng vẫn luôn chịu “lép vế” trước cô em tuổi Dần của mình. Dì không lập gia đình, sống cả đời thanh xuân của dì với cửa tiệm may. Suốt ngày ở tiệm, về tới nhà dì lại tiếp tục quần quật một mình dọn dẹp, lau chùi nhà cửa, không thuê mướn một người nào phụ giúp vì không tin ai và cũng không thấy ai làm vừa ý dì. Đôi khi má tôi gợi ý dì Út nên nhận một đứa con nuôi hoặc một đứa cháu, con của dì Tý (dì cũng đông con như má tôi nhưng nghèo và chật vật hơn) về ở chung để có người hủ hỉ, chăm sóc khi đau yếu nhưng dì Út cũng gạt đi và nói: “Tui sống một mình quen rồi”.Dì rất cẩn thận và tin tưởng rằng tự mình có thể đương đầu với mọi tình huống cho đến sau năm 79, dì bị cướp giả dạng là nhân viên công ty điện lực xin vào nhà để ghi số đồng hồ điện, dùng cây kéo cắt vải may áo của dì để trên bàn đâm vào cổ dì một nhát và bỏ đi sau khi không tìm được tiền bạc gì trong nhà. Lần đó dì thoát chết trong đường tơ kẻ tóc nhờ mũi kéo chỉ lệch một chút về phía bên trái yết hầu nên đã cứu được. Chú Mười Điều, y tá của phường kể lại lúc đó chú đi ngang trước nhà thấy dì nằm dưới đất ngay bậc thềm cửa,một tay giữ cây kéo còn cắm trong cổ, một tay đưa ra ngoài song cửa sắt ngoắc ngoắc. Chú nói: “Bà này bữa nay giỡn kiểu gì kỳ vậy ta!” Lúc bước tới sát cửa thấy cảnh tượng... hãi hùng đó, chú vội chạy kêu xích lô chở dì vào nhà thương rồi chạy tới nhà báo cho má tôi biết. Lần nữa tôi lại được đi cùng với má tôi đến thăm dì trong một hoàn cảnh trớ trêu hơn. Cổ dì quấn băng kín mít và đôi mắt thì đỏ ngầu vì máu bầm dồn lên hết phần tròng trắng, má tôi phải luộc mấy cái trứng đem vào bảo tôi lăn trên mí mắt dì để cho tan máu bầm. Mà hay thật chỉ 2 ngày sau là mắt dì trở lại bình thường. Khi bắt đầu nói chuyện được, Dì nói với má tôi: “Sức mấy nó lấy được tiền của tui!” Vì dì giấu kỹ lắm, gói trong một cái bọc cột ba bốn lớp ni lông nhét trên cây xà ngang đặt tuốt trên nóc nhà nên không ai có thể tìm ra được. Nằm nhà thương được 2 ngày, vì sợ không qua khỏi nên dì mới chỉ chỗ và căn dặn má tôi lỡ dì có chết đi thì lấy tiền ở đó ra mà lo liệu cho dì.Má con tôi hàng ngày vào nhà thương thăm nuôi cho đến khi dì được trở về nhà thì tôi được cử vào nhà dì ngủ mỗi tối sau khi đi làm về để săn sóc và trông chừng dì. Mấy tuần đầu tôi rất sợ vì cái không khí im vắng, lạnh lẽo ở nhà dì khác hẳn với bầu không khí lúc nào cũng nhộn nhịp, đông đúc ở gia đình tôi, tôi chỉ biết tự an ủi là mình chỉ ở vào buổi tối thôi mà. Tôi “đến rồi đi” với dì như vậy cũng hơn nửa năm trời cho tới lúc dì chịu cầm chiếc nhẫn xoàn của má tôi để đổi mấy cây vàng cho 2 chị em tôi vượt biên.Bao nhiêu năm trôi qua, giờ dì đã 84 tuổi, vẫn minh mẩn, vẫn sống một mình và mở cửa hàng tạp hóa ngay tại nhà để hưu trí, nghe nói càng lớn tuổi dì càng khó tính và kỹ lưỡng hơn. Mãi cho đến năm ngoái, vì già yếu và bị té ngã mấy lần phải vào nhà thương nên dì mới chịu về ở chung với gia đình đứa cháu, con của dì Tý, để có người chăm sóc.Bây giờ, sống cách xa dì hơn nửa vòng trái đất nhưng mỗi khi nghe nói đến tuổi Dần và những hệ lụy của tuổi này là tôi nhớ ngay đến dì và những kinh nghiệm với dì lúc còn ở quê nhà. Không biết tuổi Dần nào cũng có cùng số phận như dì Út, dì Dần của tôi không: cao số, khó khăn và suốt đời đơn độc?./.Tưởng DungCÓ ĐÊM NÀO BUỒN BẰNG ĐÊM 30!!!
Trong ngôi nhà nhỏ nằm trên ven bờ sông dài xa tít mù xa, không biết con sông này bắt nguồn từ đâu và đi về đâu mà dài ngút ngàn, và quanh năm nước ngọt, trong xanh như dòng nước Sông Cửu Long nơi quê nhà. Mười mấy năm rồi sống ở đây nhưng 3 người họ không thấy trên sông có sóng to gió lớn. Về mùa giông bão thì mặt nước sông chỉ chao động, sóng dập dồn để rồi sau cơn mưa gió thì mặt sông trở lại hiền lành bình bình, yên yên trơ gan cùng thời tiết bốn mùa xuân, hạ, thu, đông của xứ này.Ngoài xóm xa nhà họ ở, có chợ làng nằm trên mấy con đường cái (xa lộ) xuyên qua các tỉnh (tiểu bang) xe cộ chạy qua lại không ngớt. Chung quanh nhà họ, có trồng nhiều loại hoa, như là: đỗ quyên, thược dược, bông bụp, huỳnh cúc, vạn thọ... cùng các giống hồng bông to, thơm ngát vào sáng tinh sương, màu sắc rực rỡ kiêu sa đài các.
Ngôi nhà này họ mua của một gia đình người bản xứ sống ở đây lâu đời từ khi gia chủ còn thiếu niên với cha mẹ... Bây giờ họ lớn tuổi rồi không canh tác được nữa, nên chủ nhà bán rẻ lại, để vào sống trong chung cư không xa lắm của người già ở ngoài chợ quận. Nhà được xây trên vuông đất rộng chừng 4 mẫu.Xứ này nhà dù ở thành phố hay thôn quê cùng cốc đều phải đầy đủ tiện nghi như: phòng ngủ, phòng ăn, phòng tắm, phòng gia đình, nhà bếp... (đó là luật của sở kiều chánh). Bên ngoài nhìn vào người ta cứ tưởng là cái nông trại nhỏ, chớ không nghĩ đó là nhà ở bình thường của thôn dân.
Trong nhà có 3 người lớn, 2 nam, 1 nữ trẻ nhứt cũng khoảng 60 hơn, còn 2 người đàn ông tuổi đời cũng gần “thất thập cổ lai hy” rồi. Cái tuổi mà ở xứ sở quê hương nghèo vì chiến tranh nối tiếp chiến tranh triền miên, vì ngoại bang xâm lấn, vì cuộc nội chiến của 2 miền Nam Cộng Hòa và miền Bắc Cộng sản, thì họ thuộc về tuổi thọ. Còn trên những xứ giàu tiền bạc, có thừa vật chất, tự do, tâm hồn sẽ thoải mái ung dung như ở Âu, Mỹ... thì tuổi của họ cũng chưa phải là già mà mới vào trung niên thôi. Người đàn ông trong nhà đó là ông, vợ ông là Bùi Hoàng Lan mà láng giềng gọi theo tên chồng là Nhân. Người đàn ông kia là anh ruột của bà Nhân, đó là ông Bùi Vĩnh Bảo, trọng tuổi nhứt nhà.Trên vuông đất, ngoài ngôi nhà ở giữa, phía sau hè còn có cái chuồng nuôi 4 con chó mực cao lớn, thuộc loại chó săn. Mặt mày chúng lúc nào trông cũng dữ dằn, như sắp cắn xé đối phương trước mặt. Chúng đánh hơi lạ lanh lẹ, sủa giỏi chớ không bạ đâu cắn phá đó, hoặc bạ đâu sủa đó, hay tru tréo cả ngày. Đất nhà rộng mênh mông nên họ nuôi nhiều loại gia súc khác như: ngỗng, vịt, gà đi bộ (nuôi thả ăn lúa, bắp, côn trùng), gà lôi... thường để lấy trứng, để ăn thịt chớ không có bán. Trong chuồng heo còn có mấy con háo ăn, ú-na ú-nần kêu la eng éc tối ngày khi chúng muốn ra hay đói.Vợ chồng ông Nhân, và ông Bảo, cả 3 người họ đều siêng năng trồng thêm các loại rau thơm để ăn sống, cải, bầu, mướp, bí, khổ qua... Gia đình họ ở miền Nam nước Mỹ nên thời tiết dễ chịu không quá lạnh như mùa đông ở Chicago, và cũng không nóng thái quá vào mùa hè như ở vùng sa mạc Arizona... Họ còn trồng các loại cây ăn trái như cam, bưởi, táo Mỹ (apple), xá lị, táo Tàu, hồng giòn, hồng mềm, ổi, mận... Gầy giống các loại gia súc hoặc rau cải, cây ăn trái... bằng cách là mua, đổi chác hay dân bản xứ trong vùng gần nhà cho. Nếu nói chòm xóm ở gần, chớ thật ra chẳng gần chút nào, nhà này cách nhà kia lái xe cũng phải 15, 20 phút mới tới nơi.Đến mùa cá lên, 2 ông đi câu, đi bắt ở dọc theo sông sau nhà. Cá bắt được lớp ăn tươi, lớp phơi khô hoặc làm sạch sẽ giữ trong ngăn đá để dành ăn dài dài. Cho nên quanh năm suốt tháng,vợ ông Nhân ít khi tốn nhiều tiền để mua cá, trứng gà, trứng vịt, hay gà vịt... ở chợ, ở tiệm như những gia đình khác. Bà Lan thỉnh thoảng đi chợ Tàu, chợ Phi (trong vùng chưa có chợ Việt) mua gia dụng nấu ăn mà chợ Mỹ không có bán, hoặc hiếm thấy bán.Bà mua đồ hàng năm (những đồ giữ lâu ngày) như là nước mắm, tôm khô, bún, hủ tiếu, mì, cải bắc thảo, tương, chao...Ở đây gia đình họ ăn cá thịt tươi, còn tôm thì đông lạnh từ vùng biển chở lên bán. Đi chợ bà hay mua thịt ba chỉ để dành luộc làm gỏi cuốn, trộn gỏi khô...Thịt đùi để kho rệu với trứng, với cá. Giò heo để hầm với măng, củ cải tươi, hoặc măng khô, cải phơi khô...
Sau bữa cơm chiều hôm nay có canh hầm giò heo với củ cải trắng,cá rô phi chiên sốt chua ngọt thêm rau cần, hành lá và ngò. Thịt kho rệu, có trứng vịt và cá, món ăn này sẽ kèm với dưa giá, cải làm dưa... Gỏi thì có trái su, dưa leo, củ cải đỏ, củ cải trắng xắt mỏng trộn tôm, thịt ba rọi. Ngoài ra còn có bánh tét, bánh ít... mà chiều hôm qua bà Lan gói còn anh và chồng ngồi phụ ngồi cột dây cho đến nửa đêm mới nấu 4-5 giờ đến khi trời gần sáng bánh mới chín vớt ra treo lủng lẳng trên sào ngoài hiên nhà.
Gia đình bà Lan có bữa ăn tươm tất, vì hôm nay là ngày cuối của năm, 30 Tết Nguyên Đán. Bà nấu mâm cơm cúng rước ông bà chiều nay về mừng năm mới với cháu con. Hàng ngày thì họ ăn uống đạm bạc nấu các món cá, rau nhiều hơn thịt. Không phải không có tiền, hoặc tiếc tiền, hay hà tiện không dám ăn, mà kiêng cữ vì tuổi tác, cơ thể yếu ăn nhiều thịt thà dầu mỡ dễ sanh bịnh: đường cao, mỡ cao, áp huyết cao... Cho nên để giữ gìn sức khỏe khi nấu nướng bà cũng tránh những thức ăn có nhiều chất béo, ngọt quá, hoặc quá mặn... Họ còn mua máy (treadmill) tập trong nhà, để phòng khi thời tiết nóng, lạnh, gió, mưa không tiện đi bộ trên con đường mòn có cây cối rậm rạp, lá hoa tươi thắm... vào mùa hè mát mẻ dọc theo bờ sông sau nhà, hay con đường cho người đi bộ và xe đạp chạy gần lộ lớn. Tùy thời tiết có khi sẽ tập trong nhà.
Bôn đào khỏi quê cha đất tổ đã mấy mươi năm rồi, nhưng vào những ngày Tết, ngày kỵ cơm cha mẹ, vợ ông Nhân luôn nấu món này, món kia cúng bái như lúc chưa rời nước. Nhà thường nhật chỉ có 3 người, mà nấu ê hề các món ăn, vì bà luôn nghĩ biết đâu bất chợt có thể tối nay, hoặc mai, 2 con bà, có đứa sẽ ghé qua, hoặc cả 2 anh em nó sẽ về thăm. Bỗng bà nhẹ thở dài, mắt đỏ, lòng già cảm thấy hiu quanh nhớ thương con dâng trào.... 2 đứa con về thăm cha mẹ không bao giờ có hẹn trước, mà chợt đi, chợt đến... bởi trong hành trình nghề nghiệp luôn được bảo mật những việc làm của chúng.
Cái hương vị của chiều 30 Tết, cùng không khí đùm bọc thương yêu của vợ chồng, anh em nương tựa sống chung mái nhà lúc tuổi về chiều ở xứ người, khiến cho họ cảm thấy ấm cúng và càng thương yêu nhau hơn.
Ăn cơm chiều xong thì mặt trời đã lấp ló ở dãy đồi sau nhà. Ông Nhân chồng bà Lan lúi húi đốt lò sưởi rồi ngồi uống nước trà xem báo. Ông Bảo anh bà ngồi xem tin tức trong truyền hình, còn bà Lan thì lục đục ở bếp thu dọn, chùi rửa chén bát, nồi niêu... để úp vào kệ, vào tủ gọn gàng tươm tất cho nhà cửa sáng sủa trong những ngày đầu năm mới...
Nơi bà Lan đứng rửa chén kế bên khung cửa sổ lớn, nhìn thấy được con sông xanh xuôi chảy lững lờ, in đáy nước những cụm mây vàng, trắng, tím, hường, lam loang loáng trên sóng nước lã chã. Sóng vỗ theo chiều gió vi vu, đưa âm thanh lào xào của cành lá cây hai bên bờ sông va chạm vào nhau. Ôi màu nắng chiều đẹp rực rỡ, thắp sáng cả vùng toàn cây liên kiều (forsythia, họ gọi là mai Mỹ) bên kia sông đã nở hoa vàng ối cả một cánh rừng thưa... như huỳnh mai của quê hương xa lắc xa lơ của bà. Cứ mỗi lần hoa liên kiều nhánh cành trụi lá, và khi những nụ hoa chi chít xanh ngã vàng trên nhánh... thì bà Nhân biết sắp đến Tết Nguyên Đán. Tuần trước đi chợ bà đã mua các loại bánh mứt, nhang, đèn, trà, quả... để cúng ông bà trong 3 ngày Tết. Và cả ngày nay bà cũng luôn dõi mắt ra đường cái... cố kiếm tìm thấp thoáng bóng hình 2 đứa con trai có về với gia đình trong đêm trừ tịch không? Bà nhớ chúng về thăm ông bà đâu giữa năm, đến nay cũng hơn 6 tháng rồi... vẫn chưa tin tức gì của chúng cả. Bà cảm thấy nhớ thương con vắng nhà, chớ không buồn hay hối hận khi chúng chọn cái nghề tiếp nối con đường, mà cha mẹ đã đi qua còn dang dở!
Bỗng bà Lan chép miệng thở dài lẩm bẩm một mình:
- Mèn ơi, mới đó mà đã mấy mươi năm, kể từ khi vợ chồng trốn chạy bỏ quê hương xứ sở! Và trên quê người, sau những năm tháng dài bươn chải, vợ chồng bà chọn được cái nhà vừa ý, để sống hưu trí ở làng quê bé nhỏ êm đềm ít người lai vãng này. Thiệt cuộc đời bà như một truyện phim dài, một cuốn tiểu thuyết dầy chưa có đoạn kết... Bởi có những sự việc mình những tưởng nó biến mất trong tâm hồn theo thời gian, theo năm tháng thăng trầm của dòng đời! Nhưng không, nó vẫn nằm yên trong ký ức, để rồi chiều nay, dòng hồi tưởng mãnh liệt cuồn cuộn sống lại trong lòng bà, như mới xảy ra mấy hôm trước đây thôi...
Năm đó bé Bùi Hoàng Lan khoảng 4 tuổi, vào đêm 30 Tết Nguyên Đán, trời tối đen như nhuộm mực Tàu. Hoàng Lan ngon giấc ngủ nằm chèo queo nghiêng mình ôm gối nhỏ quay lưng vào mẹ. Bỗng dưng bị những tiếng động mạnh khiến cô giựt mình thức giấc! Nhưng nhà tối thui vì chiếc đèn ngủ lúc nào cũng máng trên cây cột sau cửa buồng đà tắt ngấm tự bao giờ! Cô nghe tiếng sột soạt, và nước chảy thấm ỉ ỉ... từ từ ướt cả lưng. Trong giấc ngủ chưa tỉnh, chập chờn cô định gọi ba, nhưng bàn tay lạnh ngắt của mẹ chụp kín vào miệng như ngầm bảo đừng lên tiếng...
Khi trời sáng, Hoàng Lan được vợ chú Sáu làm vườn dắt ra sàn lẵng múc nước ở rạch lên tắm rửa, thay áo quần sạch sẽ cho cô. Nhưng trên mình mẩy, ngón tay, ngón chân cô vẫn còn nhiều chỗ máu dính khô cứng!
Nhà hôm nay đông người hơn mọi ngày... Có những người Lan biết mặt như bác Bảy Tửng có ghe bán thuốc bắc bên kia sông, ông Năm Sầu Riêng bán bánh kẹo ở nhà máy chà lúa, bà Sáu thợ may áo dài, và vài người ở xóm trong, vài người lạ khác cô chưa lần gặp.
Lan vẫn nhớ, đó là ngày cuối cùng của năm, ngày 30 Tết Nguyên Đán! Đó cũng là ngày cuối cùng cô được nhìn thấy mặt cha mẹ nằm trong cỗ quan tài sơn đỏ và khi chiếc nắp đóng lại với hai hàng bạch lạp sáng lung linh! Cô dẫy dụa, khóc và thét gào khan cả cổ! Tuổi thơ không hiểu nhiều... nhưng linh cảm cho biết cô sẽ không còn thấy cha mẹ nữa... Bởi có những kẻ độc ác nào đó đêm qua nhẫn tâm đã giết chết cha mẹ cô rồi!
Và kể từ hôm đó Hoàng Lan trở thành đứa bé mồ côi! Cô không có dòng họ bên nội cũng như bên ngoại vì chưa lần nào gặp hoặc nghe cha mẹ nhắc đến... Vì ba má cô là con một, mà ông bà hai bên đã qua đời từ lâu. Chắc còn họ hàng ở đâu đó, nhưng cô không thấy tới lui hay nghe cha mẹ kể về chú bác, cô dì hay cậu mợ... thăm viếng bao giờ.Hoàng Lan chỉ biết vợ chồng bác Lê Thành Tài ở Sài Gòn là anh em kết nghĩa với ba má. Hai bác là người thân duy nhứt mà năm nào vào ngày Tết hay ngày giỗ đều dắt con về thăm. Có khi họ ở lại chơi 5-10 bữa, hay nửa tháng với gia đình cô. Mỗi lần đến thăm, hai bác luôn đem về sách báo đặc biệt nhứt là báo xuân cho ba, và quà bánh, hàng vải cho mọi người trong gia đình. Khi ở đây, bác trai đi vườn, thăm ruộng với ba. Mẹ và bác gái thì quấn quít bên nhau, hai bà nội trợ thường trổ tài nấu nướng các món, cho hai gia đình có những bữa ăn ngon. Họ đổ bánh xèo nhân tôm, thịt gà bằm nhuyễn, có củ sắn xắt dài như cộng giá. Cả nhà dùng đọt điều, lá cách non, đọt bằng lăng, hay cải bẹ xanh... đựng trong cái rổ đan bằng tre có rau húng cây, húng lủi, rau cần dầy lá, ngò rí, dắp cá, tía tô... Nhìn rổ rau xanh non nhẵn tươi hơn hớn, bác Tài gái mỉm cười, khen: “...rổ rau xanh tươi phơi phới như cả mùa xuân...” rau cuốn với bánh xèo, chấm với nước mắm chua ngọt và dầm ớt cay cay... Người miền Nam ưa thích lắm...Trên mâm cơm, thường thì ba và bác trai khề khà chung rượu trắng, còn má và bác gái vừa cuốn bánh cho Lan, cho anh Nhân (con trai của hai bác) cùng những món ngon khác... Họ ăn uống nói cười thật vui vẻ và lúc nào cũng thân tình đối xử với nhau như anh chị em ruột thịt...
Mấy người lớn luôn kể lại, nhắc lại những câu chuyện ngày xưa vui vẻ và ai nấy cùng cười ngặt nghẽo. Khi nhắc đến những chuyện buồn thì mẹ và bác gái rướm nước mắt, còn bác trai và ba của Lan thở dài có vẻ bùi ngùi, đôi khi như ngao ngán lắm...
Mấy người lớn còn to nhỏ chuyện trò, cười nói, thì anh Lê Thành Nhân con trai bác cùng với Bùi Hoàng Lan đi bắt dế, bắt chim hay thả diều với lũ trẻ hàng xóm gần chùa Phật kế bên nhà ở trong làng. Anh thường cõng Lan nhảy qua những mương cạn nước cỏ mọc um tùm vì Lan sợ kiến, sợ chuột, sợ rắn... không dám đi qua. Anh cũng đi bắt cào cào, và hái trái chín hoặc nhổ cỏ đuôi chồn thắt hình con chó, con cào cào... cho, Lan thích lắm.
Ngày ba má Hoàng Lan qua đời, chú Sáu làm vườn lật đật đi Sài Gòn báo tin cho vợ chồng bác Lê Thành Tài hay. Họ bươn bả xuống lo chôn cất cha mẹ của Hoàng Lan trong lặng lẽ! Sau lễ tang cha mẹ, cô cũng rời xa nơi chôn nhau cắt rún về sống với gia đình Bác Tài!
Ông Tài làm thư ký bên Tòa Hành Chánh Gia Định. Bà Tài làm giáo viên dạy ở trường Tiểu học Phan Đình Phùng. Nhà họ ở đường Nguyễn Thiện Thuật, nên không xa sở làm của ông bà. Hai bác sống đời công chức bình đạm, bác Tài gái là một phụ nữ đức hạnh, mô phạm, bác Tài trai hiền lành đạo đức, không so đo hoặc tranh giành với ai... Nên gia đình ông bà có đời sống rất là an vui, và hạnh phúc. Vợ chồng ông chỉ có người con trai độc nhứt là Lê Thành Nhân lớn hơn Hoàng Lan 4 tuổi.
Nhà ít người, vợ chồng ông Tài không nhiều con cái. Hoàng Lan con của bạn chí thân, nay gặp cảnh tang thương, không để con bé trở thành mồ côi không nơi nương tựa nên ông bà đem về dưỡng nuôi xem như con ruột của mình. Để tiện việc học hành, và sớm nhạt nhòa nỗi đau thương của đứa bé, ông bà Tài đã đứng ra làm thế vì khai sanh cho Hoàng Lan. Kể từ đó cô có cái tên mới là Lê Hoàng Lan Chi (họ của bác Tài).Lê Thành Nhân con trai của ông bà đang học lớp Đệ lục ở trường Trung học Trương Vĩnh Ký, còn Lan Chi mới học lớp 2 trường của bà Tài đang dạy. Vì thế hàng ngày Lan Chi lẽo đẽo bên mẹ (bác Tài gái) hai buổi đến trường.Dù sống đầy đủ về vật chất và tình thương bên cha mẹ nuôi, nhưng những đêm trở giấc, Lan Chi không làm sao khỏi thầm rơi lệ nhớ lại những ngày tháng bên cha mẹ ruột sống an bình ở làng quê! Cô nhớ mẹ mình có mái tóc đen, thật dài gần chấm đất. Bà thường gội đầu bằng lá liễu nấu với tro bếp lóng lấy nước trong để nguội. Cứ mỗi lần gội đầu cho mẹ, thì mẹ gội đầu cho con. Mẹ cô thường bảo:- Chải đầu khi tóc còn ướt thì dễ và ít bị đứt, bị rụng.
Khi ngồi chải tóc cho con, mẹ hay thỏ thẻ rằng:
- Bé Hoàng Lan của mẹ da trắng mịn như lụa tơ tằm. Mặt mày sáng sủa thanh tú giống bà nội. Bởi con giống ba, mà ba con thì giống bà nội đó mà! Con có tóc mây giống mẹ vừa đen vừa nhiều... Bé Lan của mẹ sau này trổ mã sẽ là một cô gái xinh đẹp. Con được sinh ra trong gia đình này... thật cảm ơn Trời cao đã ban cho cha mẹ niềm vui, niềm hạnh phúc vô cùng to lớn... sau ngày anh con rời nhà, để cha mẹ khắc khoải nhớ thương và chờ mong trong tuyệt vọng!
Rồi mẹ trìu mến hôn lên tóc Lan. Ba cô thì luôn bận rộn coi sóc và làm với thợ thầy nhứt là đến mùa lúa, mùa trái cây, mùa khoai, mùa đậu, mùa cà... Quanh năm suốt tháng ít khi rảnh tay, bởi ông siêng năng cần mẫn lo vườn ruộng, giữ gìn đất vườn mấy đời của ông cha để lại. Dù ông Bùi Đình Đạm (ba của Hoàng Lan) sinh ra và lớn trong gia đình khá giả, riêng ông và bà thuở chưa lấy nhau có ăn học sống ở thị thành... nhưng vợ chồng ông thích nếp sống bình dị ở thôn quê, là những người hiền lành luôn đối xử tốt với kẻ ăn người ở làm việc sanh lợi cho mình.
Hoàng Lan là đứa con gái độc nhứt của ông bà. Dĩ nhiên là cô luôn được cha mẹ cưng chiều. Và ông cũng luôn nhắc nhở vợ để ý, dạy dỗ con trong việc học hành:
- Má nó thấy con Hoàng Lan tháng này học hành có khá không? Tuần rồi gặp cô giáo của con, anh có hỏi thăm thì cô bảo con mình yếu toán. Ngày xưa khi còn đi học, anh nhớ em là con gái mà giỏi toán nhứt lớp. Vậy em hãy dạy kèm toán cho con đi...
Bà Đạm mỉm cười nhìn chồng để lộ chiếc răng khểnh thật có duyên. Rồi xoay qua nói với con gái mình, nhưng cố tình chọc ghẹo chồng:
- Bé Lan có biết không? Ba con ngày xưa đi học mà lười biếng không chịu nổi.. Ổng chỉ vào lớp mới học bài, mới làm bài, dù thông minh nhưng vì gấp rút thì dễ bị sai... Cho nên ba con thường bị hai cái hột vịt, và cuối tháng nào cũng đội sổ bìa đen (hạng chót).
Nói đến đây, mẹ liếc ba rồi cười chúm chím tiếp:
- Ba con chỉ giỏi có làm luận văn và viết thư... thôi.
Ông Đạm cười hề hề:
- Nhờ thế mà ba mới cưới được má con...
Thật sự lúc ấy Hoàng Lan khờ tịt với chuyện kể của hai người! Nay nhớ lại, ngày đó đã qua quá lâu rồi, mọi sự việc đã đổi thay, giờ đây cô thân cút côi sống với dưỡng phụ và dưỡng mẫu. Nhưng Hoàng Lan có cảm tưởng như lúc nào cha mẹ cũng đang lẩn quẩn đâu đây, rất gần... khiến cô không sao dễ dàng quên đi lúc sống chung với cha mẹ mình.
Cô vẫn nhớ và không sao quên được ngày đó lúc ba mẹ còn sinh thời, có lần đi học về gặp cơn mưa lớn, nước sông dâng lên ngập đường ngập sá, cô chạy theo chúng bạn lượm xoài ở vườn ông Cả Tám..Ôi xoài non, xoài cứng... rụng lềnh khênh đầy đất, và dưới mương cạn lé đé nước... có từng chùm trái còn nguyên, có trái bị bể tung nằm trên bờ phơi ruột trắng... Trong khi trời đang gầm gừ, giông gió thổi mạnh, làm cây cối quằn quại ngã nghiêng... những tia chớp sáng chóa mắt, rồi những tiếng sét nổ ầm ầm như long trời lở đất, gò nỗng cũng muốn bay đi.
Tan trường đã lâu, trời bị mây đen che phủ tối mờ mịt. Ba má cô sốt ruột mong ngóng, nhưng con gái đi học vẫn chưa về. Sợ con té sông, té rạch nên ông cùng người ăn kẻ ở trong nhà xách nón, mang áo mưa, đốt đuốc đỏ trời chạy bổ đi tìm khắp nơi... Sau khi tìm được con, cha cô nổi giận lôi đình, đánh cho một trận đòn nên thân. Ông còn hầm hét:
- Ở nhà trái cây tươi ngon thiếu gì không ăn, tan trường con không về nhà, mà chạy theo lũ bạn đi lượm xoài đầy cặp, đầy túi áo, để cả nhà lo sợ...
Bị cha đánh đau quá, Hoàng Lan thiệt giận và ghét cha mình lắm. Cô định bụng là từ nay không thèm ngó mặt ông nữa! Nhưng hôm sau trời còn lờ mờ sáng, cô đang nằm trong mùng nghe tiếng cha thì thầm với mẹ, bởi mọi khi sáng sớm cha cô đã đi ruộng chiều tối mới về đến nhà. Không biết tại sao hôm nay ông đi ruộng lại trở về nhà sớm như vậy!Bỗng nghe cha cô bảo với mẹ:
- Hoàng Lan chưa thức hả? Mùa nước năm nay lớn quá, nước tràn ào ào qua bờ mẫu, anh bắt được mớ cá nhảy ngược và mấy con cua kình càng (loại cua đồng có hai càng lớn, màu tím sậm, ngọt thịt) còn sống vội đem về đây, Hoàng Lan ưa cua này lắm, chút nữa con thức dậy, em nướng cho con ăn nghe. Tội nghiệp, hôm qua nóng nảy anh đã đánh con nhiều chắc là đau lắm! Anh thiệt hối hận, em nhớ pha nước muối xức mấy vết roi cho con, thôi anh trở ra ruộng đây!
Cơn hờn giận tan biến, Hoàng Lan nhảy xuống giường, phóng đến ôm chầm lấy cha khóc nức nở!
Ngày đó cách nay đã mấy mươi năm rồi! Giờ đây Hoàng Lan cũng là Lan Chi đã thành thiếu nữ duyên dáng dễ nhìn. Bề ngoài cô mềm mại yểu điệu như liễu, như mai, nhưng tâm hồn cuồn cuộn nhiệt tình, mạnh dạn như cây tùng, cây bá. Cô còn có tánh nhẫn nại, cương quyết và chắc tâm chẳng kém nam giới.
Cha mẹ nuôi của cô đã ở lứa tuổi ngoài 50. Họ có cuộc sống an vui đề huề bên 2 con. Trước đó, Lan Chi nghĩ rằng đậu phần 2, anh Nhân chắc sẽ theo học về Hành chánh, hoặc Sư phạm để nối nghiệp cha mẹ mới đúng. Nhưng khi xong Tú tài 2 thì anh tình nguyện vào trường Võ bị Đà Lạt. Sau những năm tháng thụ huấn quân sự, huấn luyện ngành chuyên môn ở trong nước “Quân trường đổ mồ hôi/Chiến trường bớt đổ máu...” anh còn được ra tu nghiệp ở xứ người...Khi trở về nước, Lê Thành Nhân như con đại bàng có đôi cánh sắt, bay lượn trên bầu trời cao rộng muôn hồng ngàn tía của quê Nam tươi đẹp gấm vóc. Anh như cá gặp nước như rồng gặp mây, xông xáo bôn ba trên Bốn Vùng Chiến Thuật. Trong các vùng giới tuyến, khắp các ải địa đầu từ Nam ra tận miền Bắc giáp biên giới Việt-Hoa! Toán quân anh đã âm thầm thao túng trong lòng đất địch như chỗ không người, như vùng trời tự do quen thuộc của miền Nam...Riêng Lan Chi, cái chết tức tưởi không lý do minh bạch của cha mẹ luôn nằm trong tâm tưởng, và nung đúc đốt cháy tâm hồn tuổi thơ dại của cô cho đến trưởng thành nên cô đã âm thầm quyết chọn cho mình cái nghề, mà thuở đó ít có phụ nữ để ý đến! Yến Tử là bí danh trong “Biệt Đội Thiên Nga” của Lan Chi. Hôm nay cô đang ngồi hỏi cung kẻ địch vừa ra đầu thú 10 ngày trước đây! Nhiệm vụ mà cô đã được thượng cấp giao phó cho. Nghiêm giọng, cô bảo:
- Anh tên là gì, bao nhiêu tuổi?Cha mẹ, quê quán ở đâu và có bao nhiêu anh chị em? Hãy nên khai thật, và khai rõ để chúng tôi có thể giúp anh một cách hữu hiệu hơn.
Người đàn ông ăn mặc xốc xếch, lem luốc cát bụi, có làn da trắng xanh, cánh tay bị thương còn treo trên chiếc khăn xếp xéo máng trên cổ. Thân hình gầy gò tiều tụy, nhưng nét mặt ông ta trầm tĩnh cương quyết, cao ngạo, giọng nói cứng chắc. Mắt là cửa sổ của linh hồn... cho nên ông không sao giấu được nỗi u hoài hiu hắt... ẩn hiện trong đôi mắt đó.
Kinh nghiệm và trực giác đã cho cô biết rằng, hắn ta không phải là một người bình thường như là một tên để sai vặt, để liên lạc hoặc làm những việc bình thường khác... Tướng mạo đó, ánh mắt đó ngầm cho cô biết hắn phải là một cán bộ đã đạt được nhiều thành quả, hoặc là một cấp chỉ huy...
Ông ta đang ngồi đối diện với Yến Tử trong căn phòng nhỏ đơn sơ, nhưng đã được trang bị những chiếc máy tinh vi thu hình, thu tiếng nói... Sẽ chiếu ra, phát ra và truyền đi qua phòng khác tất cả những hành động và lời đối đáp của cả hai người. Cô nghĩ, hắn ta là người từng trải, nên cũng đã thừa biết việc này...
Đối diện với một phụ nữ trẻ tuổi có đôi mắt trong sáng, lanh lợi, cái miệng nhỏ rất duyên dáng ở nụ cười, ông ta không nói gì, nhưng cũng thầm đoán được ít nhiều về người đối diện. Nhìn sâu vào mắt cô, ông trầm tĩnh, rồi mím môi trả lời:
- Thưa cô, tôi đã ra đầu thú, thì không còn có lý do gì phải giấu diếm nữa mà không khai thật. Tôi đã khai tất cả theo mọi câu hỏi trong giấy tờ bao nhiêu lần, và gần như mỗi ngày...
- Tôi biết! Nhưng tôi muốn chính miệng ông nói ra trước mặt tôi!Ông ta hơi khựng! Bởi người phụ nữ có vẻ yếu đuối nhưng giọng nói và đôi mắt hết sức sắc bén!Ông ôn tồn bảo:- Cô muốn biết phần nào trước, thì xin hỏi. Tôi sẽ thành thật trả lời tất cả những gì tôi có và tôi biết...
Yến Tử vờ như sửa lại cổ áo, nhưng thật ra cô đã nhanh tay bấm mở chiếc nút của máy thu âm và thu hình nhỏ đã gắn trên đó:
- Được, Sáu Trường Sơn là bí danh của ông phải không? Ông tên thật là gì, quê quán ở đâu...
Mặt Yến Tử đang hỏi cung nhưng có vẻ đăm chiêu suy nghĩ khi nghe tên đảng viên Việt cộng ra chiêu hồi, mà thượng cấp vừa gởi đến để cô lấy khẩu cung. Người này từ miền Bắc về, đang ngồi trước mặt cô khai thân thế của mình... Đã mấy lần như dợm hỏi nhưng lại thôi, cô nghĩ để sau này tìm hiểu rõ hơn hẳn hay, không gấp gáp gì! Nhân viên ngồi làm việc bên trong đang theo dõi từng cử chỉ của hai người, họ hết sức lấy làm lạ, nhứt là xếp của cô. Ông nghĩ, đây đâu phải lần đầu tiên cô tiếp xúc với những tên cán bộ Việt Cộng chiêu hồi có tầm vóc như hắn? Yến Tử là nhân viên của Cục Tình báo giỏi nhất, đã mấy năm kinh nghiệm... và đang giữ trọng trách trong công việc này! Cô ta là người luôn hoàn thành nhiệm vụ của mình ngoài dự tính của cấp trên, cả trong những lần địch cài người phản gián cũng không thoát được cô...
Tên Sáu Trường Sơn này bị toán Thám kích của A3 bắn gãy tay từ giữa tháng rồi. Hắn ta ra chiêu hồi, đang giữ trong biệt khu được bảo vệ an toàn và bảo mật. Trong trung tâm đều biết trong lúc A3 cùng đồng đội theo dõi địch quân trên đường từ Bù Đớp di chuyển về miền Thủ Thừa mà cả tháng nay bám sát để bắt sống. Và họ cố tình chừa một kẽ hở cho kẻ địch ra đầu thú! Hai bên trải qua trận ác chiến dữ dội một mất một còn. Những tay mơ nằm vùng đã bị hốt trọn ổ cùng với 2 tên khác (từ miền Bắc vào) 3 tên bị bắn chết. Còn tên cáo già Trường Sơn này có lẽ cùng đường đưa tay xin chiêu hồi, thì bị đàn em của A3 bắn gãy tay.
Kẻ bắn tên Sáu Trường Sơn đưa tay lên chào, rồi nghiêm chỉnh báo cáo trước mặt thượng cấp:
- Thưa Thượng cấp những con cá câu bắt được phải chặt kỹ, chặt vây hoặc đập đầu. Để chúng nguyên vẹn lành mạnh nếu lỡ tay sẽ sẩy mất! Em chưa thịt nó để trả thù cho đồng đội là nó may mắn lắm rồi.... Thưa thượng cấp, em xin chịu xử phạt theo quân kỷ...
Lạnh lùng lầm lì nhìn đàn em, người chỉ huy lùng bùng trong cổ họng:
- Không thi hành đúng chỉ thị của thượng cấp mà còn ngụy biện? Anh hãy xuống làm việc với ban 2 đi (ban an ninh)...Cuộc chiến quốc Cộng mỗi ngày càng sôi động gay go. Thanh niên tình nguyện tòng quân diệt giặc. Quân nhân trừ bị ở các ngành nghề, về hành chánh cũng được gọi tái ngũ... Trong thời chiến chinh, sinh mạng của quân nhân thật mong manh! Nhưng người người vẫn tiếp nối đi làm phận sự và nghĩa vụ của mình. “Đất nước lâm nguy/ Thất phu hữu trách.” Họ có nại hà chi những trận đánh lẻ tẻ, hay trận đánh lớn... Biết bao nhiêu chiến sĩ miền Nam đã hy sinh vì bảo vệ gia đình và lãnh thổ! Còn giặc thì bất chấp mọi thủ đoạn, pháo kích vào thành phố, trường học, đặt mìn giật sập cầu, đào đường sá... Gây tóc tang thương vong cho không biết bao nhiêu người dân vô tội!Rồi cũng vào chiều ngày 30 Tết năm đó, Yến Tử đang ngồi bực tức thở dài! Bởi việc khai thác lấy khẩu cung tên cán bộ Việt Cộng Sáu Trường Sơn chưa xong, thì nay cô lại được lệnh điều đi làm công việc khác!
Công tác của cô lần này là giúp cho chiến hữu A3 (bí danh thượng cấp của cô) đang bị thương nặng! Mà cô có nhiệm vụ phải lo và giữ an ninh cho A3. Cô bực bội, tức tối tự hỏi: “Tại sao cấp trên cắt đặt cho cô làm một chuyện không phải là chuyên nghiệp của mình? Trong quá trình công tác cấp trên giao cho, lúc nào cô cũng thi hành suông sẻ, chưa vấp phải điều gì sai trái hay tắc trách! Cô cũng đâu phải là bác sĩ, không phải là y tá, không phải là trợ tá... thì cô biết gì để săn sóc một thương binh mà giao cho cô nhiệm vụ vô duyên này?”
Cô lật đật đi tìm xếp để hỏi cho rõ nguyên nhân. Nhưng đến nơi thì thư ký bảo là thượng cấp đã đi công tác! Yến Tử hết sức bực mình, lòng buồn bã trở lại phòng làm việc... bởi dù muốn dù không, cô cũng phải thu xếp mọi giấy tờ cần thiết để bàn giao cho người khác!
Bàn giao xong mọi việc, Yến Tử uể oải ra về! Cô lầm bầm lén rủa: “Thiệt tình, ngày mai mình sẽ đi nuôi ông thần từ A3 trời đánh thánh đâm nào đây?” Tức mình, cô cũng không thèm thắc mắc hỏi thăm kẻ đó là ai, có mặt tròn mặt méo ra sao? Nhưng cho dù cô có hỏi cũng không ai biết, và dù có biết chắc chắn họ cũng không nói với cô! Đã bao năm rồi, từ ngày làm tình báo, cô chỉ nhận việc qua giấy tờ, hoặc mật mã truyền đạt qua một người khác rồi thi hành!Trong lòng Yến Tử đang ấm ức và không phục đây nè! Vì sự bất ngờ thay đổi việc làm chưa xong này. Cô chép miệng thở dài thườn thượt, nhưng đành phải chịu thôi, mình chỉ còn có nước là thi hành lệnh trên chớ biết làm sao bây giờ!
Đã mấy năm lăn lộn trong nghề, có khi Yến Tử công tác ở những nơi phồn hoa đô hội, khi thì trà trộn trong đám dân bụi đời theo đám ăn chơi như phòng trà, vũ trường, khi ở các quán rượu (bar) của Mỹ và Việt. Khi cô theo toán quân lên vùng cao nguyên, khi làm thường dân bán buôn trong vùng quê hẻo lánh xa làng, xa chợ... Nguy hiểm và gian nan bao phủ trùng trùng, nhưng cô không lùi bước không đắn đo. Vì con đường này cô đã chọn, nên không chút do dự hay ngại ngùng, cứ hướng về phía trước mà thi hành, mà tiến tới...
Quê Nam nơi nào cũng cây xanh lá thắm, hiền hòa êm đềm tươi đẹp. Cận vùng Đồng Tháp Mười cô đã đi qua bao nhiêu ruộng lúa chín sai hột, oằn bông, vàng cả cánh đồng bao la bát ngát không thấy đâu là bờ mẫu, đâu là ranh. Đồng Tháp thưa thớt dân cư, nhưng nhiều ruộng nương, kinh rạch, ao, đìa... Nguồn tôm cá thủy sản trời cho không làm sao hết được. Cá nhiều đến nỗi dùng cái chén, cô cũng có thể vớt được những con cá sặc bướm hám ăn, lúc ngồi rửa chén ở cầu ao.
Yến Tử theo cha mẹ nuôi sống ở thành thị đã hơn 20 năm rồi. Nhưng miền quê nơi chôn nhau cắt rún đầy ấp ngọt ngào tuổi thơ bên cha mẹ vẫn còn rõ nét trong trí nhớ. Cô luôn thầm mơ ngày nào quê hương tàn bóng giặc, sẽ trở về sống đời còn lại bên miếng vườn nhỏ của ông cha để lại cho cháu con, để gần gũi bên mồ mả mẹ cha. Đôi lúc cô nghĩ rằng: Chắc tròn đời kiếp này mình sẽ không thương yêu ai ngoài hai đấng sanh thành, cùng anh và cha mẹ nuôi!
Nghĩ vẩn nghĩ vơ, khi ra khỏi nhiệm sở thì phố xá đã lên đèn. Sài Gòn bao giờ cũng “ngựa xe như nước, áo quần như nêm”. Và vầng trăng lưỡi liềm nằm vắt vẻo trên nền trời tối đen, xa xa lấm tấm chi chít những giề sao. Nhưng trăng non và sao li ti trên cõi trời tối đó, không thể nào làm mờ nhạt ánh đèn điện muôn màu rực rỡ, lấp lánh của Sài Thành hoa lệ mệnh danh là “Hòn Ngọc Viễn Đông”.
Cô thong thả đi bên lề đường gần khu chợ Bến Thành, và qua ngang công viên Quách Thị Trang. Theo phố sá dọc ngang hai bên đường là những hàng quán buôn bán sầm uất quanh năm, từ sáng sớm cho đến giờ giới nghiêm. Trên các cửa tiệm này là những căn lầu cao 4-5 tầng, được chủ ngăn chia làm nhiều phòng cho Mỹ mướn. Đây là một trong những khu phố về đêm ồn ào và nhiều màu sắc nhứt của Sài Gòn.
Nhìn các hàng quán bán nhiều các món ăn, phải bình thường thì cô ghé qua ăn xong rồi về tắm rửa leo lên giường tìm giấc ngủ bình yên, trong những khi không muốn ăn cơm nhà. Nhưng hôm nay gặp bực bội đã no rồi, còn ăn gì được nữa mà ăn! Yến Tử nhớ đến ba má ở nhà, cô ghé hàng bán chè, bánh, quen thuộc thường mua. Ông bà không sanh ra cô, nhưng đã nuôi nấng hoạn dưỡng và thương yêu cô như cha mẹ ruột của mình, không hề câu nệ hay có những lời lẽ nghi kỵ con ruột, con nuôi. Cô dừng lại mua mỗi thứ hai, ba phần, nào là chè khoai môn chan nước cốt dừa, bánh da lợn, bánh khoai mì nướng, khoai nấu, chuối bao nếp nướng, chuối chiên... Để khi buồn miệng ông bà có mà ăn liền.
Nghe tiếng chuông, nhìn ra cửa thấy con về đến, bà Tài vui vẻ bước ra đon đả hỏi:
- Sao hôm nay con về sớm vậy? Chắc chưa ăn gì phải không, thôi hãy vào ăn cơm luôn đi,mẹ đã nấu xong rồi.
Lan Chi bước vào cửa, chào mẹ, chào cha:
- Thưa ba con về rồi.
Ông Tài ở nhà sau đi lên thấy con:
- Mấy thuở con về đúng giờ cơm. Mẹ nó lấy thêm chén đũa con ăn luôn cho vui.
Ông chợt nhẹ giọng, rồi quay sang vợ:
- Từ ngày anh em bây ra trường đi làm đến nay, gia đình 4 người mình ít khi có dịp được ngồi chung ăn cơm chiều như thuở các con còn đi học. Cái thằng Nhân cả tháng rồi ba cũng không thấy mặt mũi nó! Đi công tác ở đâu mà lâu quá vậy? Ờ, bà à con có nói với bà là đi đâu, và chừng nào về không?
Bà Tài vừa bới cơm vào chén, vừa nhìn chồng cười:
- Thằng con đi công tác đây đâu phải lần đầu mà ông lo. Nó là con trai mà lo làm chi cho mệt...
- Con trai hay con gái gì cũng vậy! Cha mẹ lo cho con là bổn phận là thiên chức mà. Tui cũng biết nam nhi chí tại bốn phương...
Bỗng ông dừng lại, rồi bảo:
- Mà này, con đã lớn rồi, bà có nhắm chỗ nào để cưới vợ cho nó chưa? Con gái bà giáo Hào trông cũng xinh lắm. Hay con gái út của anh Thẩm phán Trung? Con nhỏ vừa xong Cán sự điều dưỡng, đang làm ở bệnh viện Hồng Bàng ngoài Chợ Lớn đó... Con cái lớn phải dựng vợ gả chồng chớ, để nó lông bông hoài không tốt đâu đó...
Bà Tài cười tươi, nhưng cũng nói:
- Bộ tui không sốt ruột sao! Tui thật sự muốn cưới vợ cho nó lắm. Nhưng mỗi lần nhắc đến chuyện vợ con, thì nó lắc đầu quầy quậy như đỉa gặp vôi. Thiệt là bực mình hết sức, lần này về nhứt định tôi bắt nó phải lấy vợ mới được...
Rồi bà mỉm cười, nhìn qua Lan Chi:
- Còn con gái của mẹ, chừng nào mới chịu lấy chồng đây? Con đã hăm mấy tuổi rồi nghen. Phải tính chuyện hôn nhơn đi con, nhớ lúc còn đi học thì anh em bây nói chưa có sự nghiệp. Nay đã có công ăn việc làm vững chắc rồi, thì phải nghĩ đến chuyện chồng con đi chớ, kẻo trễ thì lỡ thời đó con.
Lòng thương yêu lo lắng của cha mẹ, Lan Chi cảm thấy ấm lòng và cảm động, nhưng cô bảo:
- Phải có người chịu thương con mới được chớ ba mẹ. Nhưng thật lòng hiện nay con chưa nghĩ hay có ý muốn lập gia đình. Sống với ba mẹ như vậy là hạnh phúc nhứt đời rồi, còn có gia đình riêng chi cho thêm mệt!
Ông Tài đưa chén cho vợ bới thêm cơm, cười nói:
- Ba mẹ thèm ẵm cháu lắm, 2 anh em bây cũng đã lớn. Thằng Nhân Tết này cũng ngoài 30 chớ còn nhỏ nhích gì nữa. Còn con thì cũng đã đến tuổi lập gia đình rồi. Nếu không thích mai mối, vậy thì có quen với ai cứ nói, để ba má tìm hiểu gia đình người ta mà gả con.
Lan Chi nhỏ nhẹ, bẽn lẽn cúi mặt:
- Cảm ơn ba mẹ lo, con hứa nếu quen với ai sẽ báo cho ba mẹ biết.
Ăn cơm xong, Lan Chi phụ mẹ rửa chén bát rồi đi tắm. Dòng nước trong mát từ chiếc đuốt chảy ra, làm cô cảm thấy dễ chịu vô cùng. Cộng vào lòng thương yêu sự lo lắng chân tình của ông bà Tài đã khiến cho cô không còn khó chịu khi nghĩ đến sáng ngày mai phải đi săn sóc một kẻ “Vô duyên không tiền thưởng/Không lạp xưởng mà cho...” nào đó bị thương! Nghĩ đến đây cô bật cười thành tiếng, và cảm thấy thỏa thích hả hê cho những ý nghĩ rủa xả chí lý dễ thương của mình!
Yến Tử đến trình giấy tờ cá nhân và giấy giới thiệu của cấp trên cho ban an ninh biết lý do và thời gian mình ra vào ở khu dành cho bịnh nhân đặc biệt này! Nhân viên trực cho biết, A3 vừa xong ca mổ cắt bỏ chân trái từ ống quyển trở xuống. Bịnh nhân còn nằm trong phòng giải phẫu để theo dõi. Phải chờ 2 giờ sau mới chuyển đến phòng hồi sinh. Cô thở dài, nghe nao lòng khi nghĩ đến chắc là anh ta bị thương nặng lắm! Nhưng bỏ đi, vì hơi sức đâu cô lo chuyện người dưng, chỉ cần tròn bổn phận cấp trên giao phó là đủ rồi. Nhìn đồng hồ tay cô thở ra, giờ thì chỉ có nước ngồi đây chờ đợi thôi.
Lan Chi định thần, cảm thấy mình mẩy toát mồ hôi lạnh, khi nhìn rõ bịnh nhân cô phải chăm sóc và giữ an ninh! Trời ơi, nếu không biết anh ta thì khi đến đây thấy người nằm mê, chỉ còn hơi thở thoi thóp là A3 cô phải chăm sóc. Đó là bí danh của anh chớ ngoài ra không biết gì nữa hết! Vì bí mật của nghề nghiệp bắt buộc như thế! Không ai biết ai, có khi ngồi gần bên nhau, làm việc với nhau hằng mấy năm trời nhưng sự bảo mật, họ không bao giờ biết người đó là có bí danh đó, có công tác đó..nhứt là những công việc riêng tư của mỗi người.
Tâm hồn Yến Tử bấn loạn! Hai tay cô đeo cứng thành giường bịnh, cho khỏi ngã qụy! Đã hơn 3 năm, phải đã ngoài 3 năm từ ngày về nhận việc anh là thượng cấp, mà cô không hề hay biết gì hết! Cô cảm thấy tâm tư xác xao, mỏi mệt, và cơ thể rã rời! Còn anh (A3) nằm đó bất động, mắt nhắm nghiền, mặt tái xanh như xác chết! Trên người anh chằng chịt nào ống dẫn nước tiểu, ống vô nước biển, ống chuyền máu... Toát mồ hôi, châu thân như rã rời... và nỗi lo sợ khiến cô muốn ngất xỉu!
Yến Tử giựt mình kéo nhẹ tay áo để xem đồng hồ, cô mới biết mình đã dựa đầu vào thành giường thiếp đi gần 15 phút. Dù bước chân chim của y tá lanh lẹ, lăng xăng nhẹ nhàng vào theo dõi bịnh nhân... nhưng cũng đã làm cho cô tỉnh giấc ngủ không thoải mái!
Bỗng cô thấy bịnh nhân chớp đôi mi mắt mấp máy, lờ đờ, vô hồn... Yến Tử nắm chặt tay, và kề miệng mình sát bên tai anh, khẽ hỏi:
- Anh đã tỉnh rồi! Anh đã tỉnh rồi phải không? Em là Lan Chi đây... Lan Chi đây, anh có nghe em nói không?
Anh ta không trả lời,mắt chậm chạp khép lại trong bóng đèn ngủ tỏa ánh sáng mờ ảo mắc trên tường. Yến Tử hoảng hồn bấm chuông... y tá và bác sĩ chạy tới. Họ xem xét, chẩn mạch, anh mệt nhọc thì thào trả lời bác sĩ, cô cố ý lắng nghe, nhưng không nghe được. Rồi anh nhắm mắt lại. Bác sĩ quay sang cô, bảo:
- Xin cô đừng lo, ông ấy đang còn say thuốc ngủ, dần dần khỏe lại và sẽ bình phục. Ổng đã mất hết một chân cô có biết không? Xin lỗi, chúng tôi đã hết sức cố gắng để giữ lại. Nhưng xương dập nát nhiều đoạn nên không giữ được... Chờ vết thương lành hẳn, chúng tôi sẽ gởi qua trung tâm chỉnh hình làm chân giả cho ông. Nếu có thể, xin cô nói để người nhà chuẩn bị tâm lý. Bây giờ ổng ngủ rồi, nếu cần gì cô cứ bấm chuông gọi...
Lan Chi ngồi xuống ghế cạnh giường! Mắt anh nhắm nghiền lại, hai dòng lệ mỏng chảy dài trên đôi gò má xanh xao tái nhợt. Không biết an ủi anh thế nào? Cô nắm chặt bàn tay anh như ngầm nói rằng: “Anh hãy cố gắng lên, rồi đâu cũng sẽ vào đó! Em cũng buồn và đau xót như em mất đi một phần thân thể của chính mình. Nhưng sự mất mát này xứng đáng, xứng đáng lắm anh ơi...” và dòng lệ nóng cũng chảy dài xuống má cô.
Lan Chi thẫn thờ nhớ lại từ khi được bác Tài nhận về làm con nuôi, tính đến nay đã hơn 20 năm rồi. Thành Nhân và Lan Chi sống chung dưới một mái nhà hạnh phúc có cha mẹ lo lắng thương yêu chiều chuộng. Mặc dù họ không cùng cha mẹ sanh ra nhưng cả hai thương nhau như anh em ruột thịt. Nhớ khi cô còn nhỏ, lúc mới đến chưa quen đường thuộc lối, Mẹ bận việc, anh thường đưa rước cô khi đến trường, lúc tan học. Có bánh trái anh em chia cho nhau. Anh dẫn đi chơi, dỗ dành khi cô buồn, giải đáp chỉ dẫn cho cô những bài toán khó, những bài luận, những câu hỏi gút mắc. Anh thương yêu và luôn xem cô như là em gái của mình.
Khi cả hai anh em khôn lớn, việc làm của Thành Nhân cả mẹ và cha đều không rõ ràng cho lắm. Họ cứ tưởng anh ra trường quân sự, rồi được chuyển qua làm việc về hành chánh ở Bộ thôi. Đến khi con gái Lan Chi đậu xong phần 2, trong gia đình từ anh cho đến cha mẹ đều gợi ý và khuyến kích cô học ngành Sư Phạm, hoặc ngành Y. Họ nghĩ rằng đó là 2 cái nghề thích hợp cho nữ giới. Lan Chi chỉ vâng dạ cho qua để cha mẹ và anh được vui lòng. Chớ cái chết thê thảm của 2 đấng sanh thành đã khắc ghi trong tâm trí người con gái này, khi còn là đứa trẻ mới 4-5 tuổi. Cô đã chọn cho mình con đường để đi rồi, không một ai và không vì một lý do gì có thể lay chuyển được cô! Để rồi bất ngờ một hôm Thành Nhân nhận được giấy tờ của nhân viên xuất sắc đã huấn luyện nhuần nhuyễn kết quả vượt bậc qua mỗi lần thi tuyển. Do bên trung tâm chuyển đến công tác trong ngành, thì anh mới biết Yến Tử đó là cô em gái Lan Chi của mình! Nhiều khi chỉ thị giao công tác hiểm nguy nhọc nhằn cho em, anh cảm thấy ái ngại. Nhưng đó là phận sự của cô phải làm, bởi ai đã chọn cho đời mình vào “Đội Thiên Nga” thì coi như là ngõ cuối của đoạn đường đời, việc sanh tử chỉ cận kề trong chớp mắt, hiểm nguy và pháo đạn vô tình... Đã biết như vậy, và đã được khuyến cáo trước khi vào nghề... nhưng từng lớp thanh niên an nhiên, bình thản tiến tới không ngại ngùng lùi bước việc họ đã chọn.
Còn vợ chồng ông Lê Thành Tài bàng hoàng sửng sốt được tin con trai độc nhứt của mình bị thương và mất đi một phần thân thể! Bà khóc bù lu bù loa, ông cũng buồn đau, nhưng mở lời khuyên vợ:
- Bà đừng buồn nữa mà có hại cho sức khỏe. Mỗi người có số cả, con mình bị mất một chân cũng may mắn và hạnh phúc quá nhiều so với những người tử trận ngoài chiến trường, có người còn mất luôn cả xác nữa kìa... Thôi thì để nó lành lặn đâu đó yên ổn rồi thì đi hỏi cưới vợ cho nó, tuy là cái họa nhưng lại là cái phước cho gia đình mình đó bà à...
Bà Tài là người đàn bà hiền lành từ tốn. Nghe chồng nói bà nghĩ cũng không sai, nên cơn buồn qua mau mà lo chăm sóc bổ dưỡng trong việc ăn uống nghỉ ngơi cho con.
Hôm nay Thành Nhân đã khỏe nhiều, nhưng anh vẫn còn ốm lắm, da không còn quá tái nhợt nữa. Và bụng anh biết đói, miệng anh biết thèm ăn uống thì từ đó mỗi ngày, anh dần dà khỏe mạnh, linh hoạt hơn. Trông mặt mày anh khởi sắc, tóc anh được hớt ngắn, râu ria được cạo sạch sẽ. Anh được nhân viên tập dùng 2 cây tó để đi ra đi vào phòng vệ sinh (khi chuyển ra trại ngoại khoa). Rồi Lê Thành Nhân được xuất viện trở về sống với gia đình có cha mẹ, có em gái chăm sóc chu đáo. Anh cảm thấy đời mình rất ưu đãi, hạnh phúc. Nhưng riêng Lan Chi nhận xét cảm thấy trong đôi mắt ngời sáng, cương nghị tràn đầy niềm tự tin và sức sống của anh mình như luôn vương vướng lớp sương mờ!
Sau hơn một năm dưỡng thương, giờ đây Thành Nhân có thể giải ngũ vì thương tật của mình. Đó cũng là sự mong muốn của cha mẹ anh, vì giặc giã xảy ra bao nhiêu cảnh thương vong hàng ngày trên báo chí từ các chiến trường tới tấp đưa về, đã làm ông bà sợ hãi cho sự an nguy của con mình.
Một hôm cha mẹ đi vắng, Thành Nhân hỏi:
- Lan Chi nè, theo em thì anh nên giải ngũ hay trở lại làm việc?
Lan Chị hơi ngạc nhiên vì ông anh mình là người tự tin, ít khi đem tâm sự nói với ai, hoặc nhờ người khác quyết định việc gì đó của anh ta. Cô nhìn sâu vào mắt Thành Nhân, bảo:
- Sao lại hỏi em, em làm gì mà quyết định cho anh được? Chỉ có anh quyết định cho mình thôi.
Nói đến đó cô ngập ngừng, rồi mỉm cười tiếp:
- Nhưng nếu là em, thì em sẽ đi làm lại! Anh đã khỏe mạnh rồi mà. Chân anh mất nhưng tâm hồn và lý trí anh vẫn còn nguyên vẹn chớ có sứt mẻ gì đâu? Vả lại ở nhà anh sẽ buồn chán, không thoải mái và cảm thấy là mình không còn khả năng làm việc, mình là người thừa thãi, vô dụng...
Nói đến đó, cô dừng lại cười khì chọc quê:
- Và em cũng nghe lòng mình xốn xang khi thấy anh ngồi bên cửa sổ nhìn khói thuốc bay, rồi làm thơ thương mây khóc gió bắt em phải làm độc giả thì khổ cho em lắm lắm! Anh cũng biết, chúng ta đã được tôi luyện rồi, em chỉ muốn nhắc nhở anh thôi! Còn việc trở lại công tác hay giải ngũ là do anh quyết định cho mình đi. Em có ý kiến, sau này gặp chuyện gì không vừa ý thì anh sẽ đổ thừa cho con nhỏ này xí xọn, chuyên môn xúi dại... như mấy lần trước thì phiền lắm đó!
Thành Nhân thấy cái mặt vác hất lên có vẻ dỗi hờn, ngoe nguẫy của cô em thì không nhịn được, bật cười thành tiếng. Lan Chi nguýt anh, càm ràm:
- Chớ không phải sao mà anh cười vui như được quà Tết vậy? Nhớ hồi anh còn học năm Đệ nhị, chị Thu Hà con ông Chủ sự Kiêm lúc đó ở ngang nhà mình. Chị để ý, và có dịp thì luôn hỏi thăm em về anh. Khi em về kể lại, nghe xong anh khoái chí tử thấy bà. Hai người còn nhờ con nhỏ này làm liên lạc đưa thư qua, thư lại cho nhau nữa. Sau đó việc của anh chị bị đổ bể. Má của chị Thu Hà qua méc với ba má mình. Trước mặt ba má anh thiệt là tệ quá đi thôi! Dám làm mà không dám nhận, cứ chối bay chối biến, đổ hết tội lỗi cho người ta. Làm em bị một trận đòn muốn tét da, tét thịt! Cho đến bây giờ nhớ tới em còn thấy đau và tức mình muốn chết!
Nghe Thành Nhân lớn tiếng cười ha hả... Lan Chi nổi nóng háy anh con mắt có đuôi, nạt vãi:
- Xì, đến bây giờ anh chẳng những không hối lỗi, mà còn cười ha há, hô hố, cười sặc sụa, cười muốn vỡ cả nóc nhà nữa! Vô duyên! Bộ vui lắm sao mà cười...?
Còn sặc sụa hụt hẫng trong tiếng cười, Thành Nhân quơ quơ tay bảo:
- Vui lắm, vui lắm chớ sao không? Nghĩ lại đi, bộ em tốt bụng giúp anh đó sao? Cao xanh ơi! Mỗi lần đưa thư dùm em cũng đã được bao nhiêu tiền em nhớ chớ? Tiền ba mẹ cho anh không dám ăn bánh, dành dụm được đem hối lộ cho em hết... còn bao nhiêu gói ô mai, gói xí muội, bao nhiêu chầu «xi-nê-ma» và sau đó phải bao em ăn uống nữa! Em là đứa nổi tiếng tham ăn và ăn hàng vặt như chúa chổm. Còn phía bên Thu Hà mỗi lần nhờ vả em chuyển tin tức, thư từ chắc em cũng xơi tái của cô ta không ít, có đúng không? Được lời như vậy không biết ơn anh thì chớ, em nghĩ lại coi có bị thiệt thòi, hay bị ức hiếp gì đâu... mà sao cứ nhớ chuyện cổ lỗ sĩ đó trong bụng hoài vậy?
Giữa sự cãi nhau bốp chát không ai chịu thua ai, nhứt là cô em gái lanh miệng này, nhưng trong tâm hồn mỗi người đều rộn nở niềm vui, niềm hạnh phúc không tên... mà họ chưa bao giờ nghĩ tới...
Thành Nhân trở vào làm việc, và được chuyển qua ngành khác ở Bộ chỉ huy của Trung tâm. Cha mẹ rất vui mừng khi biết hai con làm cùng sở. Cứ sáng thì anh chở đưa Lan Chi đến chỗ làm rồi chạy qua sở mình (chỉ cách có con đường), chiều ghé qua rước em về rất tiện lợi. Có khi trời trong, nắng ráo cả 2 đi dạo xem những buổi trời chiều hoàng hôn xuống bên kia sông Thủ Thiêm. 2 anh em ngồi trên băng đá ngắm nhìn mặt trời có màu vàng nghệ, hình bầu dục như quả trứng gà, treo lơ lửng giữa nước mây... ánh nắng chiều phản chiếu trên mặt nước sông sóng sánh lăn tăn... tỏa óng ánh những sắc màu tươi vui rực rỡ. Thành Nhân trầm ngâm châm thuốc hút chẳng nói chẳng rằng, không ai biết anh ta đang nghĩ gì? Trong khi cô em Lan Chi tâm hồn phới phới trước cảnh chiều tà, ánh hoàng hôn gần tắt thoi thóp trải chập chờn trên cây cối lá hoa bên kia sông... Thật tuyệt vời, cô nghĩ rằng trên thế gian này dù có họa sĩ tài ba xuất chúng đến mấy, cũng không làm sao họa được bức tranh thiên nhiên sống động này...
Có khi Thành Nhân chở em ghé qua tiệm ăn chiều trước khi về nhà... hoặc cả hai cùng xem chiếu bóng ở rạp. Có lần xem phim «The Bridge On The River Kwai» (Bên Cầu Sông Kwai), một phim dài hậu chiến tranh! Đã vãn hát ra khỏi rạp Lan Chi vẫn còn ngậm ngùi, xót xa những chiến binh bị đày đọa trong lao tù và đi làm cây cầu qua sông Kwai... Không cầm được nỗi đau lòng, mắt đỏ hoe... cô vẫn còn thút thít khóc!
Thành Nhân nhẹ giọng:
- Em khóc hả, tại sao? Nghề nghiệp đã tôi luyện em thành một nhân viên thạo việc, giỏi về nhiều mặt, cứng rắn, kiên cường, quyết tâm... Nhưng nghĩ cho cùng, anh thấy dù sao cũng không tránh được tâm tư yếu mềm của nữ giới...
Hụt hẫng trong dòng lệ, Lan Chi bảo:
- Phải, bởi em là một phụ nữ nên không làm sao tránh khỏi sự tha thiết của con tim bằng xương bằng thịt! Chuyện phim xem hôm nay buồn quá anh à, nước mình chiến tranh mãi như thế này... em nghĩ chắc là mình sẽ không lập gia đình đâu...
Thành Nhân thở dài không nói gì, cả hai đi đến chỗ gởi xe, lấy xe về nhà. Trời gần khuya, có trăng lưỡi liềm như lưỡi hái của tử thần... treo lơ lửng ở phương tây, chiếc vespa chở 2 người chạy vùn vụt trên đường hướng về nhà. Gió mát rượi, đường phố thưa thớt người... lác đác vài kẻ buôn gánh bán bưng những món ăn khuya như chè, cháo... cũng nhanh chân về kẻo đến giờ giới nghiêm!
Dù trở về làm việc, nhưng Thành Nhân không còn đi công tác xa và vắng nhà dài hạn như dạo trước khi anh bị thương nữa. Còn Lan Chi thỉnh thoảng đi đây đi đó đôi ba ngày, hoặc tuần lễ mà thôi. Ông bà Thành Tài đã lớn tuổi nên xin hưu tríđể hưởng tuổi già sau mấy mươi năm bận rộn với việc làm. Bây giờ gia đình họ an vui, hạnh phúc theo ngày tháng thoi đưa, nhưng ông bà Lê Thành Tài vẫn canh cánh trong lòng bởi 2 đứa con lớn xồng xộng mà vẫn chưa đứa nào chịu thành gia thất.
Có một hôm trên bàn ăn cơm chiều, ông Thành Tài vui vẻ lên tiếng nói với vợ và 2 con:
- Mấy ngày trước ba có gặp ông Huỳnh Tứ Việt, có lẽ Thành Nhân và Lan Chi chắc không biết họ đâu, còn bà thì có còn nhớ ông bà Việt không vậy? Ổng xin tui hôm nào vợ chồng được qua thăm nhà mình. Ý ổng muốn hỏi dọ ba má coi Lan Chi có chỗ nào chưa, để cưới cho con trai thứ của ổng. Cậu Huỳnh Thuận Hòa cũng cỡ tuổi Thành Nhân, mười mấy năm trước đi học bên Pháp, khi ra trường thì làm ăn ở bên đó. Nghe nói khá lắm, gia đình người ta cũng thuộc hàng gia thế giàu có. Lan Chi ưng con ổng, nếu muốn ở đây thì ổng bả sẽ mở cho cửa hàng làm ăn. Còn chịu theo chồng qua Pháp thì càng tốt, vì bên đó đã có sẵn cơ ngơi cả rồi...
Bà Tài hài lòng cười tươi, góp ý:
- Ờ, vậy hả? Vợ ông Việt thì tui mới gặp trên chùa vào rằm tháng rồi. Bà ấy có tiền mà bình dân, con người độ lượng, hay làm ơn làm phước. Họ thuộc về gia đình gia giáo, đạo đức. Chỗ này má cũng thấy được đó Lan Chi, con nay cũng đã lớn rồi thôi thì bằng lòng đi...
Bỗng quay qua con trai:
- Còn thằng Nhân cũng vậy! Chỗ này không được, chỗ kia không được... kén chọn riết không biết bao giờ mới thành hôn đây? Thôi thì con để ý con gái nhà ai cứ cho ba má biết, để ba má lo cho...
Lan Chi đỏ mặt cúi xuống và lẹ cơm vào miệng. Ra ngoài xã hội về học lực, về tài trí cô không thua kém ai, nhưng bản chất của người con gái Á Đông vẫn còn trong cô, nên mỗi lần nghe cha mẹ, hay ai nhắc nhở đến chuyện lấy chồng cho mình thì cô đỏ mặt tía tai lỏn lẻn bỏ đi nơi khác.Thành Nhân không nói gì, ậm ừ với cha mẹ, ăn qua loa rồi ra ngoài chiếc băng đá kê bên tàn cây mận đốt thuốc hút. Nét mặt trầm tư, đôi mắt buồn nhìn trời mông lung xa vắng qua làn khói thuốc tỏa bay...- Anh Hai, hôm nay có tâm sự hả? Hãy nói cho em nghe đi, cứ nói ra biết đâu em có thể chia sẻ với anh. Nói đi anh, nếu có chuyện gì buồn anh nói ra sẽ cảm thấy dễ chịu hơn là giữ trong lòng sẽ khó chịu lắm...
Ngày đó rồi cũng đến, bởi hai bên có hẹn trước, nên hôm nay gia đình ông bà Việt cùng với cậu con trai tên Hòa và đứa con gái út đến thăm gia đình ông bà Tài. Họ vừa bước vô nhà thì hai anh em Thành Nhân cũng đi làm về tới. Bà Tài chận con lại ngoài cửa trước, bảo đi thẳng vào nhà chào hỏi người ta.
Mấy người lớn nói chuyện rất tương đắc. Anh chàng đi coi mắt vợ xem mòi cũng vừa lòng đẹp ý lắm, dù chỉ mới lần đầu gặp cô con gái xinh xắn dễ nhìn Lan Chi. Ông bà Tài thì mừng thầm trong lòng, chắc mẻm là con gái mình cũng vừa ý chàng thanh niên hoạt bát, mặt mày sáng sủa, bảnh trai, có phong cách này rồi...
Tiễn khách về xong, ông bà Tài cũng lật đật lên chùa cúng sao kẻo trễ, chỉ còn 2 anh em ở nhà. Lan Chi thấy anh mình ít nói hơn mọi ngày, vẻ mặt lầm lì đen thủi đen thui như trời sắp sập xuống! Anh ngồi hút hết điếu thuốc này, đến điếu khác «điếu lật gộng, điếu động quan» cả mấy giờ rồi. Cô hỏi đến đâu anh trả lời đến đó, chớ không ba hoa chích chòe, chọc ghẹo em như mọi khi. Thấy mặt anh đăm chiêu có vẻ khác thường, Lan Chi liền pha hai tách nước trà còn nóng hổi bưng ra cho mình và cho anh, mỗi người một tách... Ngồi xuống ghế đối diện với anh, cô e dè rồi nhỏ giọng hỏi:
Thành Nhân không trả lời. Anh hít mạnh điếu thuốc rồi phà làn khói trắng tỏa bay trong gió. Bỗng từ chiếc máy hát của nhà hàng xóm, ngân nga vọng đến bài hát có lời ca buồn vời vợi:
“Chuyện tình của tôi xa lắm tự lâu rồi tôi không bao giờ nhắc đến.
Nhưng bỗng một hôm trên đường ra phố thị tôi gặp lại em ngày nào...
Nàng nhìn tôi, đôi mắt thật bâng khuâng...
Cũng đôi mắt này năm xưa lạc vào hồn tôi...
Trong những đêm không ngủ, tôi nhìn khói thuốc bay...”.
Bài «Đôi Mắt Người Xưa» của nhạc sĩ Ngân Giang do Chế Linh hát. Giọng ca thê thiết của ca sĩ đã làm cho tâm hồn Lan Chi bồi hồi xúc động. Mặc dù tâm tư cô không vướng bận chuyện gì về tình cảm. Nhưng cô chợt thở dài, nói bâng quơ:
- Thiệt tình, giọng ca sao mà não nuột quá trời! Ai có tâm sự buồn mà nghe cái giọng... của ca sĩ này thì càng thêm thúi ruột mà chết sớm.
Thành Nhân dụi điếu thuốc đang hút chưa hết:
- Lan Chi, em thấy anh chàng Hòa coi mắt em hôm nay thế nào? Có lọt mắt xanh của em không?
Cô chưng hửng khi nghe hỏi. Nhưng cô mỉm cười vui vẻ trả lời anh:
- Em có nhìn hắn đâu mà biết mặt mũi ra sao? Nên không biết trả lời với anh thế nào đây? Mẹ bảo chào người ta thì em vào chào, cho mẹ vui lòng vậy thôi.
Thành Nhân nhìn thẳng vào mắt em:
- Thiệt vậy à, nhưng theo nhận xét của anh thì hình như em đã chấm anh chàng Hòa đó rồi?
Lan Chi vẫn thản nhiên, ỡm ờ nói giỡn:
- Ủa thiệt bộ anh thấy vậy hả? Sao em không biết cà! Nhưng xin lỗi nghe,anh đã đoán sai rồi! Không phải anh ta, mà người khác, em đã có đối tượng rồi anh Hai ơi...
Đến phiên Thành Nhân ngạc nhiên quá đỗi! Anh mau miệng lắp bắp hỏi Lan Chi:
- Ai vậy, anh có biết không? Anh ta làm việc ở đâu, không làm chung sở với chúng ta chớ?
- Anh hỏi chi vậy? Chuyện của em mà “Thiên cơ bất khả lộ”!
Chợt Lan Chi ngừng nói, nhìn anh mình hỏi:
- Mà nè anh Hai à, anh còn nhớ cái ông chiêu hồi tên Sáu Trường Sơn không hả?
Thành Nhân vừa ngạc nhiên vừa khó chịu! Anh ta hằn học bảo:
- Bộ em vẫn còn liên lạc ông ta hả? Ông đó là người em để ý, em thương à?
Lan Chi tự nhiên, trả lời:
- Không, không phải vậy đâu. Bởi ông Sáu Trường Sơn sanh cùng quê quán với em. Ông ta cũng họ Bùi, nên em muốn gặp ông ta một lần để hỏi thăm xem có bà con chi không? Sao có sự trùng hợp ngẫu nhiên như vậy? Mà anh có thấy đó là sự trùng hợp không anh Hai?
Không ai biết trong lòng Thành Nhân đang nghĩ gì? Anh ta như không nghe em mình nói mà nổi nóng, lồng lộng lên:
- Em trông hiền lành mà không ra gì! Quen người đàn ông này chưa xong thì muốn tìm hiểu về người đàn ông khác... Em làm anh quá thất vọng! Thôi thì cứ ưng đại ông Hòa coi mắt hồi sáng cho rồi đi. Để được qua Tây ở! Đó không phải là mộng ước của em và các cô gái thời nay muốn lấy chồng ngoại quốc, hoặc sống ở ngoại quốc sao?
Lan Chi cũng không vừa, trở giọng nạt tưới hột sen:
- Anh thiệt là vô duyên hết nói nổi! Em có hỏi chuyện riêng tư gì của anh không? Em quen với ai, hay em muốn ưng ai thây kệ em. Đó là quyền tự do cá nhân của em, chớ có mắc mớ gì tới anh đâu mà anh xía vô? Sao anh nhiều chuyện quá vậy?
Không kềm chế được, Thành Nhân nói nhanh:
- Sao không mắc mớ? Tại vì anh đã yêu em!Lan Chi mở to mắt há hốc miệng! Không còn tự chủ được nữa, toàn thân như không vững... tay run rẩy buông rơi tách trà xuống nền gạch bể toang nước văng tung tóe... cô ngồi quỵ, úp mặt xuống bàn... bật khóc!...-------Các viên chức từ trên xuống dưới trong Trung tâm đã lần lượt rút đi hơn cả tháng nay. Mẹ của Thành Nhân đột ngột qua đời, cha anh đang đau nặng và vợ lại sắp đến ngày sanh, nên anh cứ trì hoãn đến giờ thì đồng đội đã ra đi hết rồi...
Ngày 30 tháng 4 năm 1975 giặc tràn vào! Hai vợ chồng Thành Nhân, Lan Chi đều bị kẹt lại! Họ đoán biết được chuyện gì sẽ xảy ra cho bản thân, nếu cả hai đi trình diện với bọn giặc Cộng. Giữa lúc nước non tan đàn vỡ nghé, ồn ào, bề bộn, xáo trộn ở mọi ngành nghề. Cơ quan chánh quyền Việt Nam Cộng Hòa đã thất thủ bỏ ngõ, sau lời kêu gọi của Dương Văn Minh!
Lợi dụng lúc hỗn loạn, đêm 30, Thành Nhân đem cha và vợ trốn về quê của một cộng sự viên ngày xưa tá túc. Đó là vợ chồng anh Sáu Điền (bị thương tật đã giải ngũ). Từ sau giải ngũ, họ trở về quê và hiện là cư dân ở bãi biển Vàm Láng (Gò Công). Thành Nhân đến tá túc với vợ chồng anh Sáu, sống ẩn nhẫn để chờ ngày vợ sanh con xong, sẽ tìm đường ra đi.
Những ngày sống ở Vàm Láng, vợ chồng Lan Chi né tránh, trốn chui trốn nhủi bọn cách mạng 30 tháng 4 dòm ngó, chỉ điểm, lùng bắt thật là mệt mỏi. Giữa khuya thì Thành Nhân theo tàu đánh cá ra khơi chiều tối mới trở về. Cứ thế, ngày này qua ngày khác, chờ thời cơ để bôn đào. Dẫu biết rằng có trăm phương ngàn thứ khổ nạn trên đường vượt biên, nhưng họ đã quyết định vì hàng vạn rủi ro cầm bằng cái chết, chỉ có cái may duy nhứt vượt thoát mới tồn tại. Họ vẫn không thay đổi ý định, quyết tâm chờ chuyến trốn bỏ quê hương của đôi vợ chồng Thành Nhân.Sau tang cha 100 ngày (3 tháng 10),đứa con trai Thành Tâm được 6 tháng thì vợ chồng Lan Chi theo gia đình anh Sáu Điền cùng họ hàng thân thuộc và một số ngư dân, vượt biên theo ngã Vàm Láng cũng vào Đêm 30 (Âm lịch). Đêm không trăng sao, tối trời để đoàn người vượt biển dễ dàng trốn thoát...Nhưng “Họa vô đơn chí/ Phước bất trùng lai”, nỗi buồn khổ tột cùng luôn kề cận bên đôi vợ chồng này! Biết rằng cuộc trốn chạy nào mà không đau khổ, mất mát? Nhưng một mất mát quá lớn đã đến với họ! Đứa con trai đầu lòng tên Thành Tâm chưa tròn tuổi, chưa biết kêu cha, gọi mẹ, chưa biết đau khổ, chưa biết sự lường gạt, chua ngoa, tàn độc của lòng người, của cuộc đời, thì đã dìm thây trong lòng đại dương!
Bởi trên đường vượt biên, tàu họ đi đã hơn nửa tháng trời, nổi trôi lênh đênh trên biển vì tránh gió bão, rồi bị lạc phương hướng. Xăng dầu dần dà khô cạn... Hơn 40 thuyền nhân đói khát bịnh hoạn nằm la liệt, vì hết lương thực, hết nước uống...
Vợ chồng Thành Nhân cầm cự cho đến ngày thứ 8, thì Lan Chi không còn sữa, và chồng cô ngất xỉu vì lấy máu cho con bú! Thằng Bé Thành Tâm đã vĩnh viễn ra đi! Những người cùng tàu không còn hơi để hỏi han, chia buồn, cha mẹ không còn nước mắt để khóc! Thành Nhân đôi mắt vô hồn như cắt từng đoạn ruột tự tay thả con mình vào lòng biển khơi! Lan Chi mắt trắng dã! Nàng chìm trong cơn mê sảng bởi cái đau đớn tột cùng của mẹ mất con...
Chuyến vượt biên trên tàu của anh Sáu Điền được vào trại tạm cư Ga-Lăng (trại tập trung của Liên Hiệp Quốc thành lập trên một hòn đảo của Indonesia, cho thuyền nhận tỵ nạn cộngsản ở vùng Đông Nam Á)chỉ còn được 27 người. Già, trẻ, bé, lớn đã chết trên biển 13 người! Những người còn sống sót như được một lần tái sinh! Như bao nhiêu thuyền nhân khác đến đảo, sau khi khai xong hồ sơ lý lịch cho Cao ủy Liên Hiệp Quốc, Thành Nhân và Lan Chi trong thời gian trống trải, chờ đợi qua nước tạm dung, họ dạy Anh văn cho những thuyền nhân đang chờ định cư...
Vào một buổi trưa trời đẹp nắng, thật bất ngờ, có 2 nhân viên người Hoa Kỳ cùng ngành ngày xưa, bay từ Mỹ đến bốc Lan Chi và Thành Nhân đi ngay trong hôm đó trước sự ngạc nhiên, mừng rỡ vô cùng của họ và những người chung quanh. Một sự bất ngờ hạnh phúc ngoài dự liệu, nên cả 2 chỉ kịp từ giã vợ chồng anh Sáu Điền, người đã giúp đỡ gia đình họ suốt thời gian dài trong nước, và vượt biên... Chớ không có thời gian để họ giã từ những người cùng hoạn nạn thừa chết thiếu sống trong chuyến hải hành.
Vào thập niên 80 (1980) ở Mỹ muốn có một cuốn sách Việt ngữ để đọc thật khó khăn... phải gởi mua ở tận bên Pháp! Sau bữa cơm chiều Thành Nhân đang dở từng trang sách mới mua ra xem, đọc xong phần tiểu sử tác giả, chàng chợt giựt mình, lẩm bẩm “oan gia lại gặp nhau” nữa rồi! Lan Chi đang rửa chén thấy chồng vừa chăm chú đọc sách, vừa nhỏ to một mình, nàng hỏi:
- Tác giả viết có hay không, mà anh có vẻ suy tư quá vậy, còn thì thầm một mình nữa?
- Chưa đọc hết, nên không biết hay dở. Nhưng em lại đây xem, cuốn hồi ký này anh thấy có gì là lạ? Anh cảm tưởng như chúng mình có quen biết với tác giả?
Hai vợ chồng Lan Chi quyết tâm tìm kiếm nhà xuất bản để hỏi thăm, và khó khăn lắm mới biết được số điện thoại của tác giả. Thế rồi hai bên hẹn và tìm gặp nhau ở tháng sau.
Trái đất tròn mà vẫn hẹp lắm! Nhờ Ơn Trên hộ độ, nơi xứ lạ quê người Lan Chi tìm được người anh cùng cha mẹ với nàng thất lạc đã mấy chục năm! Đó là người Việt Cộng hồi chánh Sáu Trường Sơn!
Số là Bùi Vĩnh Bảo có biệt danh là Sáu Trường Sơn xa nhà từ thuở trai trẻ. Anh theo tiếng gọi của quê hương đi chống Pháp, Bùi Vĩnh Bảo lớn hơn cô em gái Bùi Hoàng Lan 1 con giáp (12 tuổi). Cô chào đời được 2 năm thì anh cô đi theo Thanh Niên Tiền Phong, và khi lãnh thổ chia thì đôi tập kết ra Bắc. Để mấy chục năm sau Việt Cộng nổi dậy, lấy tên là Giải Phóng Miền Nam đã giết cha mẹ anh Sáu Trường Sơn. Vì ông bà không chịu theo bọn nằm vùng và giúp đỡ cho chúng...
Khi trở về Nam, Bùi Vĩnh Bảo tìm lại nguồn cội của mình. Anh được người tá điền thân tín của cha, trước khi qua đời đã kể hết những chuyện xảy ra của gia đình cha mẹ! Cõi lòng tan nát, từ đó cho đến khi miền Nam rơi vào tay cộng sản... anh đã khổ công âm thầm tìm kiếm cô em gái thất lạc của mình. Nhưng bóng chim tăm cá! Bởi cả hai anh em mỗi người một nơi và đều thay họ đổi tên.
Lan Chi quay về thực tế khi chồng đưa chiếc khăn tay! Bà lấy khăn lau dòng lệ long lanh chảy dài trên má, Thành Nhân trầm giọng:
- Đừng buồn nữa em! Chúng ta không phải đã hơn hẳn những người khác cùng cảnh ngộ rồi sao? Bây giờ chúng ta còn có anh Hai. Mặc dù anh Hai không có vợ con, nhưng anh sống vui, sống khỏe, trải rộng tâm hồn mình bằng ngòi bút lên từng trang sách báo để làm vui cho đời. Anh Hai cũng không cảm thấy cô đơn, vì anh còn có chúng mình. Chúng ta sống chung trong một gia đình êm ấm, nương tựa lẫn nhau ở tuổi về chiều. Ngoài ra chúng ta đến xứ người còn có được cặp trai song sanh nay đã trưởng thành theo nghiệp mẹ cha... Vậy là hạnh phúc lắm rồi! Mọi việc trên cõi đời nhiêu khê nhiều hệ lụy này đều do Thượng Đế an bài. Thôi đừng buồn nữa, đoạn đường gian khổ của chúng ta đã qua rồi...
Lan Chi nghẹn ngào:
- Em cũng muốn quên lắm chớ! Nhưng không làm sao quên được vào Đêm 30 Tết năm nào về cái chết thảm thương của ba má em! Quên sao được những trận pháo giặc nã vào thành phố, trường học, giáo đường! Quên sao được trận thảm sát của giặc vào Tết Mậu Thân ở miền Nam, nhứt là trên đất Huế! Em làm sao quên được mỗi lần nghe tiếng khóc của trẻ thơ... Em cứ tưởng đó là tiếng khóc của con Thành Tâm chúng mình chết trên hải trình vượt biên! Hình ảnh nó giẫy giụa gào thét trên tay em lúc khát sữa! Đến khi không còn khóc nổi nữa nó âm ỷ rên, cho đến khi trút hơi thở cuối cùng, mà miệng con vẫn còn mở chờ bầu sữa mẹ... Trời hỡi, thê lương quá! Tàn nhẫn quá! Đời kiếp này làm sao em quên được đây!
Lan Chi tựa đầu vào vai chồng ràn rụa nước mắt! Thành Nhân yên lặng ngậm ngùi thổn thức, nhớ lại hoàn cảnh gia đình đã trải qua! Mắt chàng hướng qua song cửa sổ nhìn bầu trời cao thăm thẳm.
Đêm 30 Tết lại về! Không gian đắm chìm trong màu đen huyền hoặc, nền trời in lấm tấm ngàn vạn vì sao. Thỉnh thoảng trên tầng cao thật cao, tiếng máy chiếc phi cơ gầm gừ, lóe ánh đèn chớp tắt chầm chậm bay qua. Và sau đó chỉ còn lại tiếng chim ăn đêm, tiếng gió khua động lào xào cành lá, cây cối quanh nhà.
Bùi Vĩnh Bảo ngồi xem truyền hình, nhưng nghe hết những lời đối đáp của vợ chồng cô em gái. Đứng lên, đến bàn lấy bình nước trà chế thêm vào tách, ông chép miệng thở dài rồi ôn tồn bảo:
- Hai em nghĩ xem, có con đường đi tìm tự do nào mà không cam go, mà không trả một giá thật đắt? Trong không gian cao và rộng, có những cánh chim lả lướt bay, có những chiếc phi cơ khổng lồ âm thanh rền vọng. Khi chim và phi cơ bay qua rồi không để lại vết tích nào cả! Mặt nước sông dài, mặt biển rộng bao la, bát ngát không thấy bờ bến. Có những chiếc ghe, những chiếc tàu dù nhỏ hay lớn khi đã qua rồi cũng không để lại dấu tích gì trên mặt nước. Nhưng núi cao ngút trời, rừng sâu thăm thẳm, trên đồng bằng đất đai màu mỡ hay khô cằn sỏi đá, rộng bao la, dài bát ngát chim bay mỏi cánh, chó chạy cong đuôi... Khi có bước chân của người đi qua, 1 người, 2 người, 3 người đi qua, nhiều người dẵm lên thì nó sẽ trở thành con đường. Con đường đó sẽ có những bước chân tiếp nối từ thế hệ này đến thế hệ khác. Rồi đường được khai phá, mở rộng, vun bồi...hai bên đường sẽ được cất lều, xây nhà, trồng cây ăn trái, trồng hoa thơm cỏ lạ... Đó là đường chúng ta đã đi qua...
Không gian vào Đêm 30 lúc nào cũng có màu đen thật đen. Trên nền trời in những chùm sao li ti lấp lánh... Bên ngoài tiếng rì rào thì thầm của gió rung cây, có loài chim ăn đêm bay chập chờn trên dòng sông vắng sau nhà, thỉnh thoảng chúng cất tiếng kêu oang oác xa dần, xa dần... rồi mất hút. Trong ngôi nhà nhỏ bát ngát mùi nhang, trầm, hoa vạn thọ, hoa liên kiều, dưa hấu, cam, quít... cùng mâm ngũ quả, và bánh tét, bánh chưng, mứt, chà là... gia chủ đã chưng cúng trên bàn thờ ông bà tổ tiên để đón mừng năm mới. Tiếng lách tách của củi cháy trong lò sưởi rực rỡ ánh lửa hồng thắp sáng căn phòng gia đình trong đêm trừ tịch bên xa lộ không đèn dài ngút ngàn...Bỗng có tiếng xe dừng lại trước nhà, cả 3 người đều nhìn nhau dò hỏi. Không ai bảo ai họ tiến gần cửa sổ nhìn bầu trời tối đen như nhuộm mực tàu, cùng thấy hai bóng đen cao lớn như dân bản xứ, nhanh nhẹn bước ra khỏi xe và đi vào... Cửa nhà bật mở, ông Bùi Vĩnh Bảo và Lê Thành Nhân ngạc nhiên... giây phút bất chợt mắt đỏ trong nụ cười rạng rỡ mừng vui. Đứng phía sau họ, chiếc khăn tay Lan Chi rơi xuống... bà lao đến mở rộng vòng tay ôm chầm lấy 2 con trong bùi ngùi nức nở, nghẹn ngào, trong nước mắt ràn rụa... bà thổn thức:- Con tôi đã về, con tôi đã về...Bữa cơm muộn của 2 thanh niên trong Đêm 30Tết. Cha và cậu mắt ngời sáng nghe con, cháu kể chuyện những ngày qua... Riêng Lan Chi trìu mến nhìn con lính quính múc thêm món này, đem thêm món khác... mà niềm mừng vui và thương cảm dâng ngập cõi lòng của mẹ.Dẫu biết rằng 2 đứa con bà sanh ra và trưởng thành trên nước Mỹ có tự do, nhân quyền thật sự... không ai có thể bắt làm những chuyện mà chúng không muốn! Nhưng 2 đứa con của vợ chồngThành Nhân và Lan Chi đã tự chọn cho mình conđường mà thời thanh xuân nơi quê hương chinh chiến triền miên cha mẹ đã đi qua!Bà Lan Chi cảm thấy xót xa trong tấm lòng của người mẹ... Bởi bao nhiêu gian nan, nguy hiểm... có thể đến bất cứ lúc nào cho những kẻ âm thầm len lỏi trong lòng đất địch mang trọng trách bên mình... dù không ai bắt buộc họ phải làm, phải hy sinh...Dưới ánh đèn điện của phòng ăn, trong lòng của Lan Chi: cũng đôi mắt cương nghị ngời sáng, nét mặt uy nghiêm, điềm đạm... đó, chồng và 2 đứa con bà ngồi gần... thật sự 3 cha con giống nhau như 3 giọt nước!
Bỗng đứa con lớn mỉm nhẹ nụ cười nhìn mẹ:- Xin lỗi ba mẹ và cậu, vì trách nhiệm và bổn phận của những người lính như anh em con...không có thời gian, không gian, không nơi nào nhứt định, không biết trước nơi nào sắp đến và đi, cũng không có gì cho cá nhân mình... nên chúng con không hẹn trước về thăm gia đình thường xuyên như ý muốn được!Đứa thứ hai, tiếp lời anh mình:
- Chúng con rời Trung Đông... đến khi xuống phi trường Los Angeles mới biết là 2 đứa được về thăm nhà trong đêm 30 Tết! Nhiệm vụ mới của chúng con sẽ là vùng Châu Á, vẫn chưa biết nước nào? Có thể Bắc Triều Tiên, có thể Trung cộng, có thể “Vũng Áng Formosa” của Việt Nam. Ba mẹ cũng biết mọi sự việc luôn được bảo mật tối đa...
Cả nhà đón giao thừa xong thì vào nghỉ ngơi, để sáng mừng ngày đầu của năm... Nỗi mừng vui con về thăm còn nồng ấm trong lòng mọi người trong gia đình và chập chờn trong giấc mơ xuân...Tiếng động khóa trái cửa khiến Lan Chi trở giấc, bà nhổm dậy và bước xuống giường đi về phía cửa sổ... Trời nửa đêm về sáng sương mù còn dầy đặc giăng mắc đó đây... Trong bóng đêm nhòa nhạt của đêm 30 rạng sáng mùng 1 Tết Nguyên Đán... chiếc xe từ từ nhẹ lướt trên đường đưa 2 con bà hướng ra xa lộ... Dòng nước mắt chảy dài xuống má, bà sụt sùi úp mặt trên đôi bàn tay, đôi vai gầy run run...- Đừng buồn em, lúc chúng còn nhỏ thì là con cháu của chúng ta, khi lớn khôn chọn cho mình bước vào ngành đó rồi thì là con của thế nhân... Bởi những người “Lính Không Biên Giới” như chúng, không phân biệt lãnh thổ, chủng tộc và không quyền lựa chọn cho riêng mình...
Giọng nói trầm buồn của chồng khiến nàng càng thêm thổn thức. Ông anh cầm mảnh giấy nhỏ vừa lấy ở bàn viết đưa cho vợ chồng cô em.
Những dòng chữ còn in rõ nét mực “Ba mẹ và cậu giữ gìn sức khỏe, chúng con đi... Hy vọng ngày không xa, Việt Nam trở lại thanh bình dưới Chánh thể Cộng Hòa, cậu và ba mẹ sẽ về thăm lại cố hương...” Ngắm nghía từng nét chữ của con trên mảnh giấy nhỏ để lại trước khi rời nhà, mắt lệ rưng rưng... Lan Chi càng thương cảm 2 con vô cùng!
Đêm 30 Tết đã tàn, nhưng ngoài trời vẫn bao trùm màu sương trắng mờ mịt. Ngọn gió xuân man mác hiu hiu thổi trên cây cành va chạm vào nhau âm thanh rào rào.. và trên đám hoa liên kiều rộ nở đón mừng xuân bên kia bờ sông... Tiếng chim kêu líu lo đón chào ngày đầu của năm,từ vô tuyến truyền hình trong nhà các đài Việt Nam ở California phát hình ảnh trăm hoa đua nở có màu sắc hớn hở tươi vui sống động của mùa xuân xa xứ. Bỗng bài “Xuân Nơi Đây” được nhạc sĩ Võ Tá Hân phổ nhạc, và những bài ca ngợi về Tết Nguyên Đán... rộn rã qua giọng ca sĩ tha thiết âm vang trầm bổng quyện trong gió xuân nồng... Phương đông mặt trời mới nhú tạo một vòng lớn màu sắc rực rỡ... báo hiệu một ngày nắng đẹp của đầu năm...
Dư Thị Diễm BuồnKHI NGƯỜI GHÉT CHIẾN TRANH BUỘC PHẢI ĐÁNH KHÔNG THỂ CHẦN CHỜ
Tôi nhớ rõ nhiệm kỳ đầu của TT Trump. Bốn năm. Không một cuộc chiến tranh mới nào. Trong khi mọi đời tổng thống trước đó — dù Cộng Hoà hay Dân Chủ — đều để lại ít nhất một cuộc xung đột quân sự mới. Ông Trump thì không. Ông đàm phán với Kim Jong-un. Ông ký Hiệp Định Abraham. Ông nói trước toàn dân rằng ông muốn mang lính về nhà, không phải gửi lính đi chết. Đó không phải lời nói suông. Bốn năm không có chiến tranh mới là bằng chứng.
Vậy tại sao, ở nhiệm kỳ hai, người đàn ông ghét chiến tranh ấy lại ra lệnh tấn công Venezuela vào đêm 3 tháng 1 năm 2026, bắt sống Maduro, rồi chưa đầy hai tháng sau đó phối hợp với Israel dội bom hủy diệt kho vũ khi hạt nhân của Iran?
Câu trả lời nằm trong một nghịch lý mà nhiều người không chịu hiểu: đôi khi, để giữ hòa bình, bạn phải sẵn sàng đánh. Và phải đánh trước khi quá muộn.
Thượng Nghị Sĩ Lindsey Graham, trong cuộc phỏng vấn trên Fox News với ông Sean Hannity, đã nói một câu mà tôi nghĩ mọi người cần nghe kỹ: khi TT Trump biết Iran sắp có 10 quả bom hạt nhân, ông hành động. Không chần chừ. Không hỏi ý kiến Liên Hiệp Quốc. Không chờ một nhiệm kỳ nữa để người kế nhiệm giải quyết. Ông hành động.
Nhiều người sẽ hỏi: tại sao phải vội? Tôi xin hỏi ngược: bạn có hình dung được thế giới sẽ như thế nào nếu chế độ Giáo chủ Iran có trong tay mười đầu đạn hạch tâm? Một chế độ thần quyền đã công khai tuyên bố muốn xóa sổ Israel khỏi bản đồ, tài trợ Hezbollah, Hamas, và hàng loạt nhóm khủng bố khắp Trung Đông. Một chế độ có hoả tiễn đạn đạo tầm xa, và giờ lại sắp có đầu đạn nguyên tử để gắn lên đó.
Ông Graham nói thẳng: “TT Trump không phải TT Obama, không phải TT Biden. Nếu chúng ta chờ thêm, họ sẽ làm giàu uranium lên 90% và cả thế giới sẽ bị bắt làm con tin. Bạn lo giá xăng tăng ư? Hãy tưởng tượng thế giới sẽ ra sao nếu Iran có mười quả bom. Khốn khổ. Họ sẽ giữ cả nhân loại làm con tin, và rồi họ sẽ hủy diệt Israel. Một cuộc diệt chủng là đủ rồi.”
Câu nói ấy nghe tàn nhẫn, nhưng bạn hãy nghiền ngẫm. TT Obama ký thỏa thuận nguyên tử JCPOA năm 2015, tin rằng ngoại giao sẽ giải quyết. Kết quả? Iran rút khỏi thỏa thuận, tiếp tục làm giàu uranium, và đến cuối năm 2025 đã có lượng uranium làm giàu 60% đủ để chế tạo nhiều đầu đạn. Chỉ cần nâng lên 90% nữa thôi — và với kỹ nghệ họ đã có, việc đó chỉ là vấn đề thời gian. TT Trump nhìn vào con số ấy và hiểu rằng: cửa sổ hành động đang đóng lại. Nếu không đánh bây giờ, sẽ không bao giờ đánh được nữa.
Ngày 28 tháng 2 năm 2026, Mỹ và Israel phối hợp tấn công. Giáo chủ tối cao Ali Khamenei thiệt mạng. Cơ sở hạch tâm Natanz và hàng loạt địa điểm nguyên tử khác bị dội bom. Đúng, giá dầu vượt 100 đô một thùng. Đúng, eo biển Hormuz bị Iran đóng. Đúng, Iran bắn trả tên lửa vào căn cứ Mỹ ở Vùng Vịnh. Cái giá là lớn. Nhưng cái giá của việc không làm gì sẽ lớn hơn gấp vạn lần.
Ông Graham nói : “Tiền đầu tư tốt nhất mà Mỹ từng bỏ ra. Phá hủy một chế độ phát xít tôn giáo đang tìm cách chế tạo vũ khí hạch tâm để đe dọa nước Mỹ — đó là một khoản đầu tư xứng đáng.”
Hai tháng trước khi đánh Iran, TT Trump đã thực hiện một nước cờ mà nhiều người không ngờ tới: đêm 3 tháng 1 năm 2026, lực lượng đặc biệt Mỹ tấn công Caracas, bắt sống Nicolás Maduro và vợ ông ta, đưa về New York để đối mặt cáo buộc buôn ma túy. TT Trump tuyên bố: “Sự thống trị của Mỹ ở Tây bán cầu sẽ không bao giờ bị nghi ngờ nữa.”
Nhiều người chỉ thấy bề mặt: Mỹ lật đổ một nhà độc tài. Nhưng nếu bạn nghĩ sâu hơn, bạn sẽ thấy một bàn cờ địa chính trị tinh vi hơn nhiều. Venezuela có trữ lượng dầu mỏ đã được chứng minh lớn nhất thế giới: 300 tỷ thùng, chiếm 17% toàn cầu. Và ai là khách hàng lớn nhất của Maduro? Trung Quốc. Mỗi ngày hơn 600.000 thùng dầu Venezuela chảy về Bắc Kinh. Maduro gặp đặc phái viên Trung Quốc Khâu Tiểu Kỳ chỉ vài giờ trước khi bị bắt. Vài giờ. Nghĩ lại đi.
Maduro không chỉ là nhà độc tài. Ông ta là mắt xích trong cái mà Washington gọi là “mạng lưới năng lượng thù địch”: Venezuela cung cấp dầu cho Trung Quốc, Iran cung cấp xăng tinh chế và linh kiện cho Venezuela, hai chế độ này hỗ trợ nhau lách lệnh trừng phạt của Mỹ, và cả hai đều là đồng minh chiến lược của Bắc Kinh. Bắt Maduro không chỉ là bắt một kẻ buôn ma túy — mà là chặt đứt một cánh tay của Trung Quốc ở Tây bán cầu.
Và bây giờ chúng ta đến phần quan trọng nhất, phần mà ông Graham đã nói toạc ra trên Fox News và nhiều người vẫn chưa chịu nghe:
“Venezuela và Iran chiếm 31% trữ lượng dầu mỏ toàn cầu. Chúng ta sẽ có quan hệ đối tác với 31% trữ lượng đã biết của thế giới. Đây là cơn ác mộng của Trung Quốc. Đây là một khoản đầu tư tốt.”
Ba mươi mốt phần trăm. Bạn hãy để con số đó ngấm vào. Venezuela có trữ lượng lớn nhất thế giới, khoảng 17%. Iran đứng thứ ba hoặc tư, khoảng 10-14% tùy nguồn. Cộng lại: gần một phần ba trữ lượng dầu đã biết của hành tinh. Và cả hai nước này, cho đến trước khi Trump hành động, đều nằm trong quỹ đạo của Bắc Kinh.
Trung Quốc nhập khẩu gần 75% nhu cầu dầu. Đó là gót chân Achilles của họ. Nếu bạn kiểm soát nguồn cung, bạn kiểm soát người mua. Và đây chính là cái mà TT Trump đang làm: không cần đánh Trung Quốc trực tiếp — chỉ cần siết năng lượng. Kiểm soát Venezuela để cắt nguồn dầu giá rẻ mà Bắc Kinh đang hưởng. Thay đổi chế độ Iran để đưa Trung Đông vào quỹ đạo Mỹ. Kết quả: các quốc gia sản xuất dầu lớn nhất thế giới — Saudi Arabia, UAE, Iraq, Kuwait, Venezuela, và nếu thành công, cả Iran — đều nằm trong hệ sinh thái của Mỹ. Sáu trên bảy quốc gia có trữ lượng dầu lớn nhất. Trung Quốc bị bịt thở.
Bạn có thấy không? Đây không phải một cuộc chiến tranh bốc đồng. Đây là một chiến lược năng lượng toàn cầu — và nguồn gốc của nó là sự thấu hiểu rằng: ai kiểm soát dầu, người đó kiểm soát thế kỷ 21.
Mưu Đồ Bá Chủ Của Bắc Kinh — Điều Không Ai Nói To
nhưng ai cũng nhận ra rằng Bắc Kinh không có tham vọng chiếm lãnh thổ bằng quân sự kiểu cũ. Họ chơi một ván cờ khác: kiểm soát bằng kinh tế, bằng năng lượng, bằng cơ sở hạ tầng, bằng nợ. Sáng kiến Vành Đai và Con Đường không phải là dự án nhân đạo — nó là mạng lưới kiểm soát. Cảng biển, đường ray, đường ống dầu, cáp quang — tất cả dẫn về Bắc Kinh.
Và chìa khóa của toàn bộ bàn cờ ấy là năng lượng. Trung Quốc không có đủ dầu để tự nuôi nền kinh tế khổng lồ của mình. Họ phải mua từ bên ngoài, và ba nguồn cung lớn nhất của họ là: Trung Đông, Nga, và Venezuela. Khi Trump kiểm soát Venezuela và thay đổi chế độ Iran, ông không chỉ đang bảo vệ Mỹ — ông đang chặt hai trong ba nguồn sống của Trung Quốc.
Nghĩ về điều này. Nếu Mỹ kiểm soát dầu Venezuela và đưa Iran vào quỹ đạo thân Mỹ, thì Trung Quốc chỉ còn phụ thuộc vào Nga. Và Nga đang sa lầy ở Ukraine, kinh tế suy kiệt, không còn ở thế mạnh để mặc cả với Bắc Kinh. Kết quả: Trung Quốc bị cô lập về năng lượng. Và một Trung Quốc thiếu dầu là một Trung Quốc không thể đe dọa Đài Loan, không thể bành trướng Biển Đông, không thể thách thức Mỹ. Ông Graham nói đúng: đây là cơn ác mộng của Bắc Kinh.
Và TT Trump hiểu điều đó từ đầu. Ông không đánh vì thích đánh. Ông đánh vì đó là cách duy nhất để chặn Bắc Kinh mà không cần bắn một phát súng nào vào Trung Quốc.
Tôi biết nhiều người sẽ bảo: “Nói hay lắm, nhưng có người chết.” Đúng. Chiến tranh luôn có người chết. Và đó là lý do tôi muốn bạn hiểu cái logic của người ra quyết định.
TT Trump đứng trước hai lựa chọn. Lựa chọn một: không làm gì, để Iran hoàn thành chương trình hạch tâm, để Maduro tiếp tục bán dầu cho Trung Quốc và làm cầu nối cho ma túy vào Mỹ, để Bắc Kinh tiếp tục bành trướng âm thầm. Kết quả: năm năm nữa, Iran có bom hạt nhân, Trung Quốc kiểm soát mạng lưới năng lượng toàn cầu, và Mỹ không còn có thể làm gì được nữa.
Lựa chọn hai: hành động ngay. Chịu cái giá ngắn hạn — giá dầu tăng, dư luận chỉ trích, thế giới phản đối — để đổi lấy một thế giới không có Iran hạt nhân, không có Maduro, và Trung Quốc bị kiềm chế về năng lượng.
Trump chọn lựa chọn hai. Và nói thẳng: Obama sẽ không bao giờ dám. Biden sẽ không bao giờ dám. Không phải vì họ nhân hậu hơn, mà vì họ sợ cái giá chính trị hơn sợ hậu quả chiến lược. Trump thì ngược lại: ông chấp nhận bị mắng để làm điều cần làm.
Graham nói : “Donald Trump đang tái lập lại trật tự thế giới theo cách mà không ai có thể mơ được chỉ một năm trước. Quân đội chúng ta là mạnh nhất mọi thời đại.”
Người La Mã có câu: “Si vis pacem, para bellum” — muốn hòa bình, hãy chuẩn bị chiến tranh. Hai nghìn năm rồi mà câu nói ấy vẫn đúng như ngày hôm qua.
Trump không muốn chiến tranh. Tôi tin điều đó không phải vì ông nói, mà vì thành tích nhiệm kỳ một của ông chứng minh. Bốn năm không chiến tranh mới là bằng chứng mạnh hơn mọi lời nói. Nhưng ông cũng hiểu rằng hòa bình không tồn tại trong chân không. Hòa bình cần sức mạnh để bảo vệ. Và khi kẻ thù sắp có bom hạt nhân, khi đồng minh của kẻ thù đang tích trữ vũ khí ngay sân sau nhà bạn, thì hòa bình đòi hỏi bạn phải hành động.
Graham mô tả Trump là “người của hòa bình và kinh doanh,” đang cứu thế giới khỏi “hỗn loạn thực sự.” Có người sẽ cười khi nghe câu đó. Nhưng tôi nghĩ năm mươi năm nữa, khi các sử gia ngồi lại và cân nhắc: một thế giới không có Iran hạt nhân, một Tây bán cầu không còn là sân chơi của Bắc Kinh, một Trung Đông đang chuyển mình — họ sẽ phải thừa nhận rằng những quyết định của Trump đầu năm 2026, dù tàn nhẫn, dù gây tranh cãi, đã thay đổi cán cân quyền lực toàn cầu theo hướng có lợi cho thế giới tự do.
Tôi biết bài viết này sẽ khiến nhiều người khó chịu. Tôi biết có người sẽ bảo tôi biện minh cho chiến tranh. Nhưng tôi không biện minh cho chiến tranh. Tôi giải thích tại sao một người vốn ghét chiến tranh lại buộc phải đánh.
Thế giới không phải là lớp học mẫu giáo nơi mọi người ngồi vòng tròn cầm tay nhau hát. Thế giới là nơi chế độ Giáo chủ Iran chế tạo bom hạt nhân trong lúc tuyên bố sẽ xóa Israel. Là nơi Maduro biến Venezuela thành tiền đồn cho Trung Quốc và trạm trung chuyển ma túy. Là nơi Bắc Kinh âm thầm giăng lưới kiểm soát năng lượng trên khắp hành tinh để một ngày nào đó bóp nghẹt bất kỳ ai dám cản đường.
Trump nhìn vào tất cả những điều đó và nói: không. Không phải dưới thời tôi.
Người ta có thể không đồng ý với cách ông làm. Nhưng không ai có thể nói ông không dám làm. Trong một thời đại mà hầu hết lãnh đạo thế giới chọn an toàn, chọn im lặng, chọn đẩy vấn đề cho người kế nhiệm — Trump chọn đối mặt. Và ông chấp nhận mọi hậu quả.
Giá dầu sẽ hạ. Iran sẽ thay đổi. Venezuela đang thay đổi. Và Bắc Kinh, lần đầu tiên trong hai thập niên, đang mất ngủ.
Năm mươi năm nữa, lịch sử sẽ phán xét. Và tôi tin rằng lịch sử sẽ đứng về phía người dám hành động, không phải người chọn ngoảnh mặt.
Vô Danh (12/03/26)
Mô Phật
Thẩy Cu Trần nên thân trần trụi
óc cũng lu - vô minh chiếm giữ
Tu không lo lại thích thầy bàn
hay là theo chủ thuyết CS?
muốn đánh Trump cho đế quốc lụi tàn?
Dạ sau bài này xin kính lui để ...tu khẩu nghiệp và block các Đề Bà Đạt Đa nhen thầy Thích Chân Tệ??
Thích Nữ Nguyên Chiếu.
Coi chừng hành lý nơi công cộng !!Chuyến Đi Kính Hoàng Những Món Nợ Muôn Đời Không Trả Được
Chuyến Đi Kính HoàngNhững Món Nợ Muôn Đời Không Trả ĐượcKính dâng lên hương hồn những thuyền nhân đã bỏ mình trên biển cả vì lý tưởng tự do. Hình ảnh hiệu đính trên bài viết do một thuyền nhân là CVH, cựu Trung Úy Không Quân VNCH, cựu Phóng Viên Đài VOA cung cấp sau chuyến đi thăm lại Đảo Pulau Bidong vào tháng 08, năm 2015. Nơi đây hàng trăm ngàn thuyền nhân Việt Nam đã tạm dừng chân, trước khi được đi định cư ở một nước thứ ba. (tdp)
Cuộc đời chúng ta có những điều trôi qua, rồi tan biến như cơn gió thoảng. Tuy nhiên, có những điều mãi mãi in đậm trong ký ức, dù có muốn quên cũng không thể nào quên được. Đối với tôi, một trong những điều không thể nào quên và cũng là món nợ không bao giờ trả được, dù bây giờ tôi có tiền rừng, bạc biển chăng nữa!
Câu chuyện xảy ra đã hơn ba mươi mốt năm. Hôm nay tôi xin ghi lại những phép lạ, mà tôi may mắn được chứng nghiệm trong chuyến đi bảy ngày đêm lênh đênh trên biển cả, với nhiều biến cố hãi hùng và kinh dị. Nếu như không có bàn tay nhiệm mầu của Thượng Đế, Trời, Phật cứu vớt thì 137 người đã cùng chết trong lòng đại dương trên bước đường đi tìm "Tự Do".
Chuyến đi rất bất ngờ, do hai ân nhân là anh Nguyễn Vinh Tôn và anh ruột là Nguyễn Quốc Trụ, cựu Đại Úy thuộc binh chủng Nhảy Dù Quân Đội VNCH bảo trợ cho tôi mọi chi phí được trả từ Hoa Kỳ.
Có lẽ vì đột ngột, nên tôi đã khóc suốt đêm và không thể nào ngủ được. Tâm trạng khác hẳn với những lần đi trước. Chưa ra đi mà trong lòng đã tràn dâng niềm thương nhớ những người thân yêu trong gia đình.
Khoảng 3 giờ sáng, ngày 23-9-1984, tôi đến thắp nhang bàn thờ Phật. Nguyện cầu cho chuyến đi được bình an, may mắn, tai qua nạn khỏi, không bị tù đày, nhất là đừng gặp hải tặc. Có như thế tôi mới có thể giúp được gia đình thoát được cuộc sống bế tắc, khó khăn như hiện nay. Tôi cầu nguyện sức khoẻ, bình an, may mắn đến cho bố tôi đã già yếu, bệnh tật, cùng các anh chị em và một người tôi gọi là Cô đang sống đơn chiếc (đúng ra là Dì vì là em ruột của mẹ tôi). Cô đã đùm bọc, giúp đỡ gia đình chúng tôi rất nhiều kể từ khi Mẹ tôi bất ngờ ra đi vì quá đau khổ và lo sợ cho ngày mai đen tối của một gia đình mà hầu hết là quân nhân, công chức của chính quyền Việt Nam Cộng Hoà, sau biến cố 30-4-1975.
Và trong chuyến đi này, tôi cũng có thêm một lời nguyện cầu:Tôi sẽ tái ngộ một “Thiên Thần” đang chờ đợi tôi với một tấm lòng trong sáng và cao quý.
Lúc 3giờ 45 sáng.Tôi đánh thức cô tôi dậy. Cô cũng vừa mới chợp mắt được một chút. Tôi cố giữ thật bình tĩnh chào từ giã cô để cho cô được yên tâm. Trong gia đình và bà con thân thuộc chỉ có cô lúc nào cũng bên cạnh tôi và là người duy nhất biết tôi sắp đi xa, mà chuyến đi này lành thì ít, nhưng dữ thì quá nhiều không thể nào lường được. Ngoài ra, cần phải giữ bí mật vì sơ xuất sẽ gặp những điều nguy hiểm có thể xảy ra.
Đúng 4:00 giờ sáng, nhìn qua khe cửa sổ, tôi thấy đèn từ một chiếc Honda gắn máy chớp đi, chớp lại bốn lần trước cửa nhà. Đây là tín hiệu mà tôi đã được cho biết trước: Có người trong nhóm tổ chức sẽ đến đón tôi.
Tôi lặng lẽ, nhẹ nhàng mở cửa. Tay ôm một túi xách nhỏ gồm: một ít lương khô, một bộ quần áo cũ, vài tấm ảnh gia đình, một quyển kinh loại bỏ túi “Bạch Y Thần Chú” do bác tôi cho. Bác căn dặn phải thường xuyên khấn niệm để cầu xin bình an; và một sợi dây chuyền có hình con chim Đại Bàng đang xoè cánh do một người bạn tặng tôi từ lâu.Tôi luôn mang theo trong người vì biết người ấy luôn luôn cầu nguyện cho tôi được may mắn. Đối với tôi, đó cũng là một biểu tượng "thần thoại. " Tôi sẽ được chim Đại Bàng mang tôi đến vùng trời mơ ước.Tôi cũng bỏ theo một bình nước nhỏ, tuy rằng, người của tổ chức dặn đừng mang theo gì hết vì họ đã chuẩn bị tất cả đâu vào đó rồi.
Ngồi sau lưng người lái Honda mà tôi hoàn toàn không hề quen biết, tôi hơi lo sợ. Ngoái cổ nhìn lại con hẻm nhỏ thân yêu của một xóm nghèo gần ngã ba Cao Thắng và Trần Quốc Toản, Sài gòn. Giờ này hầu như mọi người đang yên giấc. Tôi chào vĩnh biệt trong nước mắt căn nhà mà gia đình tôi nương náu gần mười năm qua. Nơi đây bố tôi đã đưa cả gia đình về sống, sau khi trả lại căn nhà do chính phủ VNCH cấp cho công chức chỉ trước biến cố 30/04/1975 vài tháng. Nếu còn tiếp tục ở lại căn nhà đó thì không biết gia đình tôi sẽ gặp khó khăn biết chừng nào, khi người ta đến tiếp thu và yêu cầu gia đình tôi phải ra khỏi trong vòng hai mươi bốn giờ.
Tài xế Honda chở tôi ra bến xe miền Tây. Tại đây có một ngưòi đàn ông đội nón đen đã đứng chờ sẵn, ông ta trao vé xe đò đã mua từ trước để tôi lên xe đi Mỹ Tho. Khi đến Mỹ Tho, tôi được một người đàn ông khác hướng dẫn chuyển xe đi tiếp Bến Tre. Đến nơi, khoảng giữa trưa, tôi cùng mấy nguời đã tới trước cùng ngồi ăn với nhau. Tôi nghĩ họ là những người sẽ cùng đi chung chuyến vượt biên với tôi.
Sau khi ăn trưa xong, tất cả được mời lên xe Lambretta ba bánh để chở ra bến đò gần đó. Tại đây, người ta chia chúng tôi ra từng nhóm xuống những chiếc ghe nhỏ chở đầy trái cây để ngụy trang mà dân vượt biên còn gọi là “Ghe Taxi, hay “Cá Nhỏ”, để tránh những trạm kiểm soát dọc bờ sông, hoặc đột xuất có thể chận lại khám xét bất thình lình.
Ghe đi được một lúc thì nhóm tổ chức phát cho mỗi người một miếng giấy nhỏ, với mật mã do nhóm tổ chức ghi trên đó. Cho đến chiều thì ghe tấp vào một bụi rậm ven sông để chờ đợi. Khi bóng đêm vừa bao trùm xuống, ghe lại tiếp tục đi thêm một khoảng khá xa. Tại đây đã có một ghe lớn neo sẵn, còn gọi là “Cá Lớn.” Đây là ghe sẽ đưa chúng tôi ra đi trên biển cả.
Lúc này đã có nhiều ghe nhỏ đang vây quanh và mọi người cùng một lúc đang tìm mọi cách để leo lên Cá Lớn, nên vô cùng hỗn loạn. Phụ nữ, trẻ em đứng trên vai những người đàn ông hay thân nhân để vịn vào thành ghe, sau đó nhảy lọt được vào cá lớn. Trước cảnh đó, tôi chỉ muốn bỏ cuộc, vì nghĩ rằng tôi không thể nào đủ sức để có thể tự nhảy lên bám được vào thành ghe, rồi sau đó leo vào bên trong. Thời học sinh, tôi luôn luôn đứng cuối lớp về môn Thể Dục, đặc biệt là hai môn leo dây và nhảy cao thì yếu nhất.Bây giờ, nếu đứng trên mặt đất bằng phẳng, tôi cũng không thể nào làm nỗi, huống chi là phải bám vào thành ghe đang tròng trành trên sông nước. Tôi lại nhỏ con, thể lực rất yếu đuối; nếu chẳng may không vào được con cá lớn mà bị rớt xuống sông trong cảnh hỗn loạn và bóng đêm dày đặc này, chắc chắn một trăm phần trăm là chết đuối, vì tôi không biết bơi và cũng chẳng có ai can đảm cứu tôi trong lúc này. Nhưng nếu bỏ cuộc, có nghĩa là sẽ ở tù, vì tôi không thể tìm cách trở về nhà được trong lúc này nữa.
Tôi chỉ còn biết cầu xin Trời, Phật, Ông Bà khuất mặt hãy cứu vớt: “Con không thể đi tù thêm lần nữa! Con không thể nào chết. Con phải đi thoát được thì con mới có cơ hội giúp gia đình. Tất cả đang trông vào con. Gia đình con không có điều kiện tiền bạc để cho con vượt biên. Nay có quý nhơn giúp đỡ, con chỉ cần quyết tâm, chấp nhận gian nguy là đạt được. Trời Phật có thương con, phù hộ cho con thì con sẽ vượt qua.”
Tôi đã có kinh nghiệm trong lần vượt biên ở Cần Giờ bị bắt vào năm 1981 và ở tù trong Chí Hoà, sau đó bị đưa đi lao động ở Sông Bé. Chỉ trong vài phút thôi, Cá Lớn sẽ nhổ neo. Không bao giờ tổ chức vượt biên đợi người lên đầy đủ mới ra đi.
Tôi không thể do dự hay chần chờ gì nữa! Phải quyết định tức khắc. Tôi vừa khóc, vừa niệm Phật, vừa cố lấy hết sức nhắm vào thành Cá Lớn, tung hết sức bình sinh nhảy thật cao, thật chắc. Ôi! thật là may mắn! Tôi bám được vào thành ghe. Ôi! Tôi đã lọt thỏm vào Cá Lớn. Phải chăng có một sức mạnh vô hình nào đã nhấc bổng tôi lên, để tôi được vào khoang ghe, vì bình thường tôi không bao giờ có thể làm nỗi điều này. Chưa kịp đứng lên thì đã bị một số người nhảy tiếp sau đạp và đè lên khắp người. Tôi lại tiếp tục niệm Phật giúp tôi có đủ sức đứng dậy; nếu không tôi sẽ bị chết bẹp ở đây. May sao!tôi đứng dậy được và nép sát người vào thành ghe.
Chưa kịp hoàn hồn, nghe tiếng hét to: “Không ai được lên nữa! Ghe đã quá trọng tải. Nếu còn tiếp tục nhảy lên, ghe sẽ bị lật và chìm, tất cả mọi người sẽ chết tại giòng sông này.” Ngay sau đó, người của tổ chức bật đèn pin sáng lên để bắt đầu kiểm tra mật mã. Một số người trình mất mã, nhưng họ cho là không đúng và ra lệnh quăng những người này xuống những chiếc “Ta Xi” vẫn còn đang bao quanh con"Cá Lớn"chờ đợi.
Khi đến chỗ tôi đứng, tôi rất tự tin trao mảnh giấy ra cho họ xem. Vừa đọc xong, họ nói "Đây là mật mã của Ba Châu (tên người liên lạc dẫn tôi đi.) Chúng tôi không chấp nhận khách của Ba Châu. Vậy xin mời cô trở xuống ghe taxi đi về." Nghe đến đây, tôi tưởng chừng như tiếng sét đánh ngang tai, chân tay rụng rời. Làm sao lại xảy ra như vậy? Khách nào của Ba Châu cũng đều bị tai hoạ bất ngờ vì sự bất đồng và phản bội trong nội bộ tổ chức với nhau.
Nghĩ lại, nếu không nhờ phép lạ thì làm sao tôi lọt được vào cá lớn, rồi sau đó đứng dậy an toàn được. Vậy mà bây giờ bị đuổi xuống và chắc chắn sẽ lại bị ở tù.
Không thể được! Tôi bật khóc và năn nỉ "Tôi cũng là khách như những người khác, nhưng chẳng may là khách của Ba Châu. Gia đình tôi đã thoả thuận mọi điều kiện cho chuyến đi qua Ba Châu. Nay xin các bác, các anh cho tôi được tiếp tục đi. Gia đình tôi ở Mỹ sẽ đền ơn theo mọi điều kiện yêu cầu của quý vị." Khóc lóc, van nài, nhưng họ vẫn một mực dứt khoát từ chối. Hai người đàn ông được lệnh khiêng đầu và chân tôi quăng xuống ghe taxi. Tôi coi như chắc chắn vào tù. Trong lòng quá đau xót và coi như số tôi phải vào tù không thể nào tránh được.
Bỗng nhiên, ánh sáng đèn pin vụt tắt. Hai người đang khiêng tôi bèn bỏ tôi xuống sàn ghe. Cá Lớn được lệnh phải xả hết tốc lực phóng ra biển. Có lẽ thời gian mua bãi đã hết, nếu chậm trễ toán công an biên phòng khác đến đổi phiên trực có thể giữ ghe lại? Tôi bàng hoàng mừng rỡ; chỉ trong tích tắc tôi đã thoát được cảnh ngục tù. Phải chăng cũng là một phép lạ do Ơn Trên đã cứu tôi?
Chiếc ghe nhắm hướng ra biển lao như mũi tên bay trong bóng đêm dày đặc nghe rợn cả người. Chạy khoảng hơn bốn tiếng đồng hồ thì có những tiếng reo mừng:"Ghe đã ra được Hải Phận Quốc Tế. Chúng ta coi như sắp được tự do rồi.” Vừa nghe xong, tôi oà lên khóc nức nở, dù trong lòng cũng mừng. Vì từ giờ phút này tôi đã thật sự xa tất cả những người thân yêu. Không biết đến bao giờ mới có thể gặp lại, hoặc xa lìa vĩnh viễn; nếu như gặp nạn không tới được bến bờ.
Lúc này nhóm tổ chức bắt đầu quay lại hạch sách những hành khách của Ba Châu đang có mặt trên ghe. Họ doạ nạt từng người. Ai có cà rá, đồng hồ hay bất kỳ vật nào có giá trị thì đưa cho họ ngay. Khi họ hỏi tôi có gì đưa cho họ, tôi trả lời không có gì hết, ngoài một ít hành lý tôi đang có trên người. Thật ra, tôi có giấu một chỉ vàng trong áo lót được cô tôi cho để phòng khi hữu sự. Tôi không thể nào nộp cho họ.Tôi năn nỉ với họ là khi nào được định cư, tôi hứa sẽ xin hoàn lại đầy đủ.
Trời lại dần dần sáng. Một ngày mới bắt đầu trên đại dương bao la. Tất cả đều vui mừng và hy vọng vài ngày nữa sẽ đến được bất cứ trại tị nạn nào và sau đó được đi định cư ở một nước thứ ba; lúc đó coi như đổi đời. Khi mặt trời lên cao, nắng chói chang, có lẽ là giữa trưa, nhóm chủ ghe bắt đầu cho phân phối nước uống. Tiêu chuẩn cho mỗi người là hai muỗng canh, phát vào buổi sáng và vào buổi chiều. Điều này khiến mọi người trên ghe hoang mang. Vậy là sao? Lúc đi đã hứa lương thực, nước uống cung cấp đầy đủ. Bây giờ lại xảy ra tình huống kỳ quái này! Có chuyện gì đây?
Lúc này, chủ ghe mới cho biết là anh tài công chánh mang theo các phương tiện đi biển đã bị kẹt lại, không hiểu vì lý do gì mà không lên Cá Lớn được? Nên chúng ta khó hy vọng sẽ đi đến được các trại tị nạn như đã dự tính, vì trên ghe không ai có kinh nghiệm đi biển. Tài công phụ chỉ có kinh nghiệm đi đường sông. Bây giờ chỉ còn trông mong vào số mệnh và ơn trên cứu giúp.Phải lênh đênh trên biển không biết bao nhiêu ngày. Cầu xin sóng yên, biển lặng và gặp tàu thuyền nào đi ngang qua xin được cứu vớt, như vài trường hợp các ghe đi trước may mắn đã gặp. Bây giờ, xin các bà con thông cảm về việc cần phải tiết kiệm nước tối đa để có thể cầm cự trong thời gian dài chưa biết đến khi nào.
Khi nghe chủ ghe giải thích xong, mọi người trên ghe cùng nhìn nhau lo lắng. Riêng tôi chết lặng cả người. Bao nhiêu tin tức về chuyện vượt biên lởn vởn trong đầu óc tôi. Có những chuyến, nếu may mắn không có gì xảy ra thì chỉ vài ba ngày là đến được trại tị nạn. Có những chuyến lênh đênh cả tháng trời bị các cơn đói khát, bệnh tật hành hạ. Đôi khi phải ăn thịt lẫn nhau để được sống còn; và cũng có những chuyến bị hải tặc tấn công cướp bóc, hảm hiếp và những phụ nữ bị bắt đem theo chúng. Biết bao là những bi kịch thảm khốc về chuyện vượt biên mà các cơ quan truyền thông đã đăng tải.
Tôi nghĩ số phận chíếc ghe của chúng tôi sẽ trôi giạt về đâu? Bến bờ vô định nào? Lương thực, nước uống, xăng nhớt sẽ cạn kiệt trong bao lâu nữa? Và cũng có thể làm mồi cho đại dương. Tôi có đạt được sự đổi đời như mơ ước, được sống và học hỏi ở các nước văn minh, dân chủ, tự do. Lúc đó tôi sẽ có điều kiện để giúp đỡ gia đình đang tin tưởng vào nơi tôi. Hoặc tôi tự trách mình đi tìm một cái chết ngu xuẩn, làm cho gia đình đau khổ hơn và mang tội bất hiếu với bố tôi.Trước mắt, tôi cứ niệm Phật, cầu nguyện cho được may mắn. Mà rõ ràng tôi đã thoát chết từ lúc nhảy vào được cá lớn, và chút xíu nữa đã bị chủ ghe ném xuống "taxi", nếu không có báo động bất ngờ xảy đến.
Bóng đêm lại buông xuống, tôi mệt đừ và khát rát cả cổ họng. Phải chờ đến ngày mai mới được phát nước uống. Tôi nghĩ mình có đem theo bình một lít nước. Nếu mỗi ngày uống hai muỗng thì tôi có thể cầm cự được trên nửa tháng. Thế là tôi lấy ra hớp một hớp. Chưa kịp cất lại thì vợ chồng trẻ và cô em gái ngồi kế bên thấy tôi cầm bình nước thì van xin cho họ uống bằng giọng nói lễ phép và lịch sự. Tôi nghĩ cho ba người uống thì nhiều quá, nó sẽ ảnh hưởng đến số nước dự trữ của tôi và cũng là bùa hộ mạng trong lúc này.Nhưng thấy họ nói quá, nên động lòng trắc ẩn.Tôi trao bình nước cho họ và nói "xin mỗi người chỉ được một hớp thôi nhé!" Tuy nhiên, khi cầm được bình nước trên tay, sau khi hớp xong, họ ngang ngược không chịu trả lại, mà còn giở giọng côn đồ ra thách đố tôi muốn làm gì thì làm! Vô tình tôi đã tự đánh mất bùa hộ mệnh vì lòng thương không đúng người.
Ngày thứ hai trôi giạt trên biển theo một hướng vô định. Cầu mong sẽ gặp đuợc tàu thuyền đi ngang qua giúp đỡ, hay phi cơ bay trên đầu để ra dấu kêu cứu. Nhưng chỉ có cả một không gian tĩnh mịch, im lặng của đại dương lạnh lùng và ghê sợ. Trên bầu trời không có bóng dáng một loài chim biển nào. Mọi người đoán là ghe đã đi lạc và cách rất xa đất liền. Tôi vừa đói, vừa khát, vừa nhức đầu, chóng mặt vì các mùi hôi thối của ói mửa, tiêu tiểu của trẻ con bắt đầu xông lên nồng nặc, vì chỉ có một chỗ đi vệ sinh nằm ở phía cuối ghe, trong khi người nằm, kẻ ngồi la liệt không còn chỗ để nhúc nhích.
Sự khủng hoảng bắt đầu khi cô bé khoảng mười lăm tuổi, ngồi đối diện tôi bị ngất xỉu vì khát. Mẹ của cô khẩn khoản, van xin “Ai có nuớc làm ơn cho con tôi xin một hớp; một hớp nước có thể cứu sống được con tôi”. Không một ai lên tiếng! Có lẽ mọi người nhớ lại lời nhóm chủ tàu căn dặn và đe doạ “Không ai được tự động đi lại, phải tuyệt đối giữ gìn trật tự tối đa. Không được đòi hỏi bất cứ gì! Nếu ai không chấp hành và cãi lời sẽ bị ném ngay xuống biển.”Nhìn mặt cô bé nhợt nhạt vì khát, chỉ cần một muỗng nước là có thể đem lại sự sống cho cô ta. Không thể đành lòng nhìn cô bé đang bất động, dù kiệt lực, tôi cũng cố gắng bò lên cầu thang để gặp nhóm chủ tàu xin nước cho cô bé. Họ nhìn tôi bằng cặp mắt giận dữ. Tôi bình tĩnh nói với họ là tôi không xin cho tôi mà xin các ông hãy nhỏ lòng thương cho cô bé kia đang cần vài muỗng nước. Nếu không, cô ta sẽ chết vì khát! Quả thật, khi được vài muỗng nước thì cô bé lần hồi tỉnh lại. Gia đình cô rất vui mừng và tôi cũng vui theo.
Ngày thứ ba, biển vẫn yên, sóng vẫn lặng. Đúng là Thái Bình Dương! Tuy nhiên, trong lòng mọi người đều bồn chồn, lo lắng. Sự đói khát đã bắt đầu hoành hành. Ánh nắng mặt trời chiếu xuống, thì cô bé lại kiệt sức và bất tỉnh lần nữa. Gia đình cô bé không dám gặp chủ tàu xin nước vì sợ chủ tàu nóng giận thì sẽ bị phiền phức. Sự việc xảy ra trước mắt tôi, nên tôi cũng không thể làm ngơ. Và tôi cũng cố lết đi gặp chủ tàu xin cho cô bé vài muỗng nước. Sau khi được vài muỗng nước thì cô bắt đầu tỉnh lại dần như hôm qua.
Ánh nắng càng lúc càng gay gắt. Tôi tưởng chừng như sắp ngất xỉu đến nơi giống như cô bé vừa rồi. May sao, có một cơn mưa trút xuống. Ôi! Tôi quá mừng như vừa được hồi sinh. Những giọt nước mưa như nước cam lồ của Phật Quan Thế Âm làm mát dịu cổ họng đang rát bỏng của tôi. Nhóm chủ tàu chạy đi lấy mấy tấm bạt Nylon để hứng nước mưa, xong đổ vào những thùng nhựa. Kết quả không ai có thể thể nào uống được vì những thùng chứa nước mưa trước đó dùng đựng nhớt, xăng dầu, làm cho nước mưa có mùi giống như nước cống rảnh, đen ngòm cho vào miệng bị nôn ra ngoài ngay. Nhờ cơn mưa bất chợt coi như một phép màu đã tiếp sức cho tôi sống còn.
Sang đến ngày thứ tư lênh đênh trong vô định. Giấc mơ tìm tự do có dấu hiệu tốt đẹp hơn. Đã thấy những cánh chim biển bay trên bầu trời, thấy những vệt khói dài của vài chiếc phi cơ phản lực để lại. Bóng dáng những chiếc tàu nhấp nhô từ xa đang tiến lại gần hơn. Chủ ghe cho người đốt quần áo để phát tín hiệu xin tiếp cứu. Nhưng tất cả đều vô ích. Không một tàu nào đến gần để giúp đỡ. Có lẽ họ sợ lãnh trách nhiệm và gặp nhiều phiền toái?
Thế rồi, thất vọng này, tiếp nối theo thất vọng khác. Những cơn đói khát dày vò cơ thể. Tôi bị khát rang cả cổ, nên không thể nào nuốt được bất cứ gì. Thức ăn mang theo tôi đều cho hết. Trong lúc này tôi chỉ cần một hớp nước. Nhưng nếu tôi xin chủ tàu, chắc chắn ông ta sẽ cho người quăng tôi xuống biển như lời ông ta đã hăm doạ. Trong lúc đó gia đình chủ tàu có nước, có dừa, có cam quýt tha hồ sung sướng không sợ đói khát. Vài người trên ghe có sáng kiến mưu sinh thoát hiểm. Họ lượm các vỏ dừa ném bừa bãi dưới ghe, đem tướt những lớp xơ để ngậm lấy chất đắng, chát và có độ ẩm để giữ cho cổ họng đỡ phần nào cháy bỏng vì khát. Nhờ vậy mà chúng tôi vẫn tiếp tục cầm cự, chưa bị gục ngã.
Cô bé trước mặt tôi lại ngất xỉu lần thứ ba trong ba ngày liên tiếp. Tôi nhờ cơn mưa hôm qua được hồi sinh, nay nhờ ngậm thêm xơ vỏ dừa, nên cũng có thể bò lên cầu thang xin nước cho cô bé. Không may, ngày hôm nay nhóm chủ tàu cương quyết từ chối. Họ lấy cớ là muốn sự công bằng cho mọi người. Trong vòng 30 phút cô bé cứ lập đi, lập lại: “cho tôi nước, cho tôi xin nước, nước, nước."Tôi thấy tội nghiệp và đau lòng qua, cầu mong cho mưa xuống ngay bây giờ.Ôi! Tôi không tin vào mắt tôi. Cô bé nấc lên, đảo một vòng mắt và rồi nhắm nghiền lại và bất động. Ngưòi Mẹ hét lên “Cứu con tôi, con tôi chết rồi.” Tất cả mọi người đều sửng sốt. Nghe la, nhóm chủ tàu vội vàng chạy xuống đem theo nước đổ vào miệng cô bé. Nhưng vô ích! Cô bé đã bất động và không bao giờ cần xin nước nữa! Mẹ cô, anh em trong gia đình khóc nức nở. Mọi người, kể cả nhóm chủ tàu cũng đều xúc động. Có lẽ họ đang hối hận về sự sai lầm của họ, khi không cho cô nước như hai ngày vừa qua. Nhất là đã không giữ lời hứa lo cho khách lương thực đầy đủ trong mười ngày.
Mới có ngày thứ năm, đã có người chết vì không được cung cấp nước. Với tình trạng con thuyền trôi vô định không biết đi về đâu? Dù biển yên, sóng lặng cũng sẽ chết dần, chết mòn, chứ đừng nghĩ chi đến sóng to, gió lớn. Lần đầu tiên, tôi thấy bóng tử thần đang chập chờn. Mọi người vừa xúc động, vừa lo sợ sẽ có thêm nhiều người kiệt sức, trước khi đến được “bến bờ Tự Do”.
Nắng đã bắt đầu tắt, hoàng hôn đang dần xuống. Nhóm chủ tàu quyết định "thủy táng cô bé". Họ kêu gọi bất cứ ai tùy theo tôn giáo của mình cầu nguyện cho cô bé. Không có ai hết! Tôi không hề đi lễ chùa, không biết gì về nghi thức tụng niệm. Nhưng từ những năm sau 30/04/1975, tôi đã sống triền miên trong nước mắt, chỉ biết đêm ngày cầu nguyện Trời Phật cứu vớt cho gia đình đang tan nát vì cha và anh lâm nạn, trong khi Mẹ qua đời và các em còn quá nhỏ dại.
Những năm gần đây, có những quý nhân giúp tôi vượt biên. Trong người tôi luôn luôn mang theo quyển kinh “Bạch Y Thần Chú” để cầu nguyện. Biết rằng đây không phải là kinh cầu siêu. Nhưng tôi cảm thấy có thể làm người mất đi được ấm áp, nên tôi tình nguyện đứng ra thắp nhang tụng niệm. Mẹ của cô bé cho tôi biết tên em là Tuyết Nhiên (tôi không còn nhớ họ). Sau khi thắp nhang do chủ tàu mang theo đưa cho. Tôi lăm răm tụng niệm. Sau đó, hai người đàn ông đến gần xác cô bé, người đỡ đầu, kẻ khiêng chân đẩy xác cô bé xuống biển, trong tiếng khóc nghẹn ngào của người Mẹ và anh em trong gia đình. Tôi cũng không cầm được nước mắt, thương tiếc cho cô bé hồn nhiên ngồi trước mặt tôi năm ngày qua. Hôm nay em đã đi vào lòng đại dương chỉ vì nhóm tổ chức đã tàn nhẫn bội ước.
Tôi chợt rùng mình: "Nếu không có cơn mưa nhiệm mầu hôm qua, thì nguời đầu tiên bị Thủy Táng đã là tôi.” Vì có lẽ không ai dám gặp nhóm tổ chức để xin nước cho tôi được hồi sinh thêm vài ngày như Tuyết Nhiên.
Sự xúc động vẫn chưa nguôi, thì nghe tiếng xôn xao"Máy ghe bị hư rồi, tự nhiên máy ghe bị tắt, không biết làm cách nào đễ cho ghe di chuyển.Vậy, bà con nào biết gì về sửa chữa máy móc làm ơn giúp để cho ghe có thể đi tiếp." Một vài đàn ông, thanh niên đi tới chỗ đầu máy loay hoay sờ tới, sờ lui, nhưng chẳng mang lại kết quả gì! Chiếc ghe vẫn không thấy động đậy.
Sau đó một hiện tượng kỳ lạ mà tôi chưa bao giờ thấy trong đời đã diễn ra trước mắt tôi và mọi người: Tự nhiên, một số người đứng dậy nhốn nháo làm chiếc ghe tròng trành, nghiêng qua, nghiêng lại. Nhóm tổ chức hét lớn lên:“Xin bà con hãy ngồi yên, nếu còn tiếp tục ghe sẽ lật úp và mọi người sẽ chết hết.”Tôi kinh ngạc nhìn thấy vài người lần lượt sắc mặt trở thành đờ đẫn, mắt ngây dại và miệng thì thào: “Nước, cho tôi xin nước.” Đúng là ánh mắt và câu nói liên tục của Tuyết Nhiên trước khi ra đi. Đang nghĩ như vậy thì một cô gái trẻ ngồi cạnh tôi mấy hôm nay, cũng từ từ đổi sắc mặt và lập lại đúng câu đó, giống như những người kia.
Tôi vốn dĩ rất nhát. Sau khi Mẹ tôi mất, tôi không dám đi ngang bàn thờ Mẹ một mình. Vậy mà lúc ấy, trước ánh mắt kỳ quái của cô ta, tôi không hốt hoảng chạy đi tìm chỗ khác như người ta. Tôi nghĩ ngay lập tức: "Đúng là hồn của Tuyết Nhiên nhập vào cô này rồi.” Tôi bình tĩnh, nghiêm trang nhìn thẳng vào ánh mắt đờ đẫn, kỳ quái của cô ta và nói: “Tuyết Nhiên, em có sống khôn, thác thiêng Xin em hãy tha thứ cho những ai đã sai lầm không cho nước để em được hồi sức.Em hãy phù hộ cho Mẹ, cho anh em của em và bà con trên ghe đuợc an toàn, không bị nguy hiểm đến tính mạng. Nguyện cầu Trời, Phật, Chư Thiên Thánh Thần và Thủy Thần cho hương linh em được siêu thoát về cõi vĩnh hằng.Tôi niệm: “Nam Mô A Di Đà Phật và Nam Mô Quan Thế Âm Bồ Tát ba lần.” Thật là quá ngạc nhiên! Chỉ trong vài phút sắc mặt cô ta trở lại bình thường và không nhớ mình vừa nói những lời cuối cùng của Tuyết Nhiên như vài người khác mà cô thấy trước đó.
Càng lại ngạc nhiên hơn là vài phút sau đó có nhiều tiếng reo mừng: "Ồ, máy ghe đã nổ lại được rồi, ghe từ từ chuyển động và đi tiếp.” (Hai hiện tượng này không thể giải thích theo khoa học được và coi như hoang tưởng. Nhưng tất cả là sự thật một trăm phần trăm, mà cho đến nay tôi vẫn còn thắc mắc về sự kiện này.)
Không khí ảm đạm và đau buồn, kèm theo sự lo lắng, sợ hãi lại tiếp tục phủ trùm những thuyền nhân trên chiếc ghe đang di chuyển trong vô định. Hôm nay đã bước vào ngày thứ năm giữa đại dương bao la. Tôi nhớ là ngày 28 tháng 09, năm1984.
Tất cả mọi người gia tăng sự lo lắng và hoang mang, nôn nóng cầu mong gặp đuợc bất cứ tàu thuyền nào đi ngang qua cứu. Sức chịu đựng càng ngày, càng mỏi mòn, kiệt quệ, tinh thần suy sụp! Làm sao có thể cầm cự được lâu dài? Tùy theo tôn giáo riêng của mình, mọi người cùng khấn nguyện đấng thiêng liêng, hiển linh phù trợ. Riêng tôi thì liên tục cầu nguyện Mẹ Quan Thế Âm Bồ Tát gia hộ. Thấp thoáng từ phía xa xa có vài bóng dáng những chiếc tàu đi ngang qua, nhưng sau đó biến dạng.
Thình lình, mọi người thấy một chiếc thuyền lớn xuất hiện và đang tiến dần về phía ghe của mình. Tất cả đều mừng rỡ và hy vọng gặp “Thần Hộ Mạng” đến cứu. Họ cho thuyền cặp sát ghe và quăng dây neo lên. Sau đó họ trèo qua ghe. Lúc đó tôi mới định thần và thấy năm người đàn ông đen như cột nhà cháy, râu ria rậm rạp, trên người chỉ mặc một quần xà lõn. Một người cầm súng dài. Tôi đoán có lẽ là tên cầm đầu? Bốn tên còn lại thì kẻ dao, người búa và mã tấu. Có tiếng xì xào “Chết mẹ rồi, gặp hải tặc là coi như xong đời.”
Tự nhiên, toàn thân thể tôi cảm thấy rụng rời. Ôi! Trời, Phật xin hãy cứu con! Con luôn ngày đêm nguyện cầu: “Đừng cho con gặp hải tặc. Nếu gia đình con đã đến lúc tận cùng, mạt vận. Con thà chết trong lòng đại dương, còn hơn rơi vào tay bọn hải tặc.” Lời nguyện cầu của con không được Trời, Phật chứng giám. Không lẽ con tới số rồi sao? Tim tôi đập vào lồng ngực thình thịch y như tiếng trống. Tôi tưởng chừng như trái tim văng ra khỏi lồng ngực và tôi sẽ chết ngay tại chỗ.
Bọn chúng trao đổi với nhau bằng tiếng Thái và ra dấu hiệu cho mọi người. Ai cũng đoán và hiểu là "Không được di chuyển hay động đậy. Nếu cãi lời sẽ bị quăng xuống biển ngay lập tức.” Thế là, chúng chia nhau đi lục soát từng người, tịch thu những gì quý giá mà chúng bắt gặp. Có cả trăm người bị chúng lục soát.Tôi và vài người khác không có gì đáng giá, còn đa số không ít thì nhiều đều bị chúng tước đoạt của cải. Tính ra chúng tịch thu cũng kha khá. Nhóm chủ tàu coi như bị thiệt hại nhiều nhất. Sau đó tên cầm súng mang các “chiến lợi phẩm” cướp được đem trở lại thuyền. Bốn tên hải tặc trên ghe dõi mắt nhìn theo hắn một cách chăm chú, hình như muốn xem tên đầu đảng cất giấu chiến lợi phẩm ở đâu?
Bình thường, tôi được ví yếu như con sên, chậm hơn rùa vì thể lực tôi rất yếu đuối. Tôi chỉ muốn càng xa bọn chúng càng tốt, dù chiếc ghe dài chỉ khoảng hơn mười thước. Lợi dụng cơ hội này, tôi vụt đứng dậy, lao thật nhanh về phía cuối ghe, rồi ngội thụp xuống giữa tiếng lao xao của vài người “Bà nội này tới số rồi, muốn chết sao? Con nhỏ này chắc muốn bị ném xuống biển!”Ngay tức khắc, anh tài công ném cho tôi một cục nhớt đen thui và nói "Trắng quá, bôi ngay vào mặt đi."Tôi vội vã bôi ngay vào mặt mũi và khắp cả người. Vài cô ngồi bên cạnh nhao nhao kêu:"cho tôi xin cục nhớt với.” Anh tài công lại ném tiếp vài cục nữa về phía các cô gái. Thấy thế bọn cướp giơ cao hung khí la hét, chửi rủa và bắt phải im lặng. May sao, tên đầu đảng vẫn chưa quay lại ghe, nên bốn tên hải tặc tiếp tục đưa mắt nhìn về phía thuyền của chúng. Lúc này, nhìn lại thì tôi đang ngồi đối diện với Mẹ Tuyết Nhiên, mà trước đó khi hồn Tuyết Nhiên nhập vào vài người thì họ đã sợ chạy đi tìm chỗ khác, do đó nhiều người không còn ngồi vị trí cũ nữa.
Lập tức, bà giao cho tôi đứa con gái út khoảng 2,3 tuổi và nói thật nhanh, giống như ra lệnh:"Cô hãy ôm cháu vào lòng ngay đi."Mấy cô ngồi bên cạnh tôi định giật đứa bé từ trên tay tôi. Mẹ Tuyết Nhiên nói:"Yên ngay! Cô này là Dì ruột của cháu bé này.” Lúc này, bọn cướp qua tức giận, chúng dùng vũ khí đập mạnh xuống sàn ghe và xồng xộc tiến về phía cuối ghe đang ồn ào. Tên cầm dao găm, gương mặt đầy thẹo, đen đúa, râu ria lổm chổm dùng cánh tay mặt xốc tôi đứng lên, khiến đứa bé đang được tôi bồng khóc thét lên và đưa hai tay bấu chặt vào người tôi.Tên cướp có vẻ hơi nao núng. Hắn đưa mắt thật nhanh nhìn đứa bé, rồi quay nhìn tôi. Thấy một phụ nữ có con quá dơ dáy, bẩn thỉu, trông thật gớm ghiếc, nên buông tôi ra. Sau đó bọn chúng đi lùng sục khắp ghe. Cuối cùng, bắt được năm cô gái trẻ, sạch sẽ, xinh đẹp. Chúng lôi xềnh xệch về phía thuyền của chúng, mặc kệ các cô vùng vẫy, kêu khóc thảm thiết, cùng với tiếng van xin, gào thét của thân nhân kẻ bị nạn. Trong số các cô bị chúng bắt mang theo có con gái chủ ghe mới 15 tuổi.
Người trên ghe bèn đặt cho tôi một biệt danh là “Người đàn bà bị hải tặc chê.” Trườc khi rút lui, bọn chúng ra lệnh mọi người phải im và dùng vũ khí đập mạnh xuống sàn ghe làm thủng vài chỗ. Sau này, tôi được biết là nhóm tổ chức có mang theo vài cây súng để phòng thân, nhưng không dám chống cự, vì sợ nếu chống cự bọn hải tặc sẽ lên cơn điên và giết hết mọi người trên ghe. Do đó nhóm chủ ghe phải bó tay chịu trận, và đành đau lòng hy sinh ngay cả con gái của mình cho bọn hải tặc bắt mang đi.
Chiếc thuyền của bọn cướp biển đang xa dần. Mọi người trên ghe vẫn còn sững sờ vì vừa trải qua một biến cố quá kinh hoàng. Những tiếng khóc của thân nhân các cô gái bị bắt đi thật sầu thảm. Tôi không biết mình đang tỉnh hay đang mê? Tôi đã thoát khỏi bàn tay hải tặc dễ dàng vậy sao? Làm sao tôi lại có can đảm đứng dậy chạy về phía cuối ghe, trong khi bọn cướp ra lệnh ở đâu phải ngồi đó, không được nhúc nhích. Trời, Phật, hay hồn thiêng của bé Tuyết Nhiên đã nhấc tôi đứng dậy, đẩy tôi chạy về cuối ghe, để may mắn gặp lại Mẹ Tuyết Nhiên và được bà trao em của Tuyết Nhiên cho tôi bồng, cũng như tại sao anh tài công đã ném cho tôi cục nhớt và nói tôi bôi ngay vào người nhanh lên?Nhờ đó, tôi đã thoát khỏi bàn tay hung ác của hải tặc trong đường tơ, kẻ tóc. Vậy là thêm một phép lạ đã cứu sống tôi. Mới có mấy ngày mà tôi đã suýt chết mấy lần. Liệu tôi còn sức và còn may mắn thêm lần nào nữa để được bến bờ tự do hay không?
Mọi người bắt đầu lao xao: "Tát nước ngay, tát nước ngay! Nước tràn vào ghe rồi!" Đàn ông, thanh niên cố gắng dùng các vật dụng do chủ ghe đưa, cố ra sức tát nước đang làm ghe bị khẳm vì những lỗ thủng trên sàn ghe do bọn cướp gây ra. Ôi! Vừa không biết phương hướng, vừa chống chọi với đói khát, vừa lo hết nhiên liệu, vừa lo nguy cơ chiếc ghe sẽ bị chìm vì nước biển đang tràn vào. Bây giờ, mọi người thật sự thấy tử thần càng lúc, càng trở nên gần hơn.Sự khủng hoảng càng gia tăng, nhưng vẫn cố hy vọng "còn nước, còn tát." Chiếc ghe cứ lê lết đi tiếp. Tôi vẫn tiếp tục niệm Phật cầu nguyện và thiếp đi trong sự hãi hùng chưa nguôi. Tôi lập đi, lập lại trong đầu:" Con không thể chết được. Con là niềm hy vọng của gia đình. Con phải sống để cứu vớt gia đình đang trông mong vào con."
Chiếc ghe tiếp tục di chuyển từ từ trong tuyệt vọng. Ánh nắng chiều dịu tắt dần, từ xa bỗng rực rỡ ánh đèn sáng ngời như từ cái tháp khổng lồ trên mặt nước. Vài người mừng rỡ, la lên: "Có giàn khoan dầu ở phía trước. Hãy cố gắng hướng về phía đó. Hy vọng sẽ được vớt." Tôi chợt bừng tỉnh, nhìn những ánh đèn màu rực rỡ ở trên cao, ngày càng gần hơn, tôi tưởng như mình đang mơ khi được thấy cung điện của Thủy Thần trong một truyện thần thoại.Nghe tiếng reo mừng của mọi người trên ghe, tôi biết đây là sự thật! Không phải là ảo tưởng hay trong mơ. Tôi tưởng chừng ngất lịm trong nỗi vui mừng tột độ, và muốn hét to lên: "Vậy là coi như thoát chết, sẽ được giàn khoan cứu vớt, sẽ được đến bến bờ tự do như đã cầu khẩn.Vậy là đã được Trời, Phật chứng giám, độ trì.”
Mọi nguời như được uống thuốc hồi sinh. Đàn ông, thanh niên ra cố gắng ra sức tát nước nhiều hơn, chiếc ghe dường như cũng đi nhanh hơn. Một lúc sau chiếc ghe đã đến được gần chiếc tàu khổng lồ treo cờ Anh Quốc với hàng chữ to PANAMA. Dù vô cùng vui mừng, nhưng tôi lại rơi vào tình trạng hôn mê vì đã kiệt sức từ lúc quá hãi hùng khi vừa thoát bọn hải tặc sáng nay. Một lát sau, tôi mơ hồ thấy có người cho nước uống, nên tỉnh dậy, thì ra đó là vài ba thủy thủ của tàu Panama đang cho chúng tôi nước và một số thức ăn.Tôi nghe thoáng thoáng tiếng người nói “Có một cựu Trung Úy Quân Đội VNCH đã lên gặp Thuyền Trưởng xin được cứu vớt, nhưng ông ta từ chối. Và một cưụ Trung Tá hiện đang tiếp xúc với Thuyền Trưởng cũng để tiếp tục cầu xin cứu vớt." Nhưng vài phút sau, ông Trung Tá trở lại ghe với nỗi buồn tuyệt vọng cho biết: “Thuyền Trưởng không thể nào cứu được, vì họ đang làm nhiệm vụ khai thác dầu hoả. Ông tặng ghe chúng ta một hải bàn và hướng dẫn đi về hướng trại tị nạn.
Ông nói, trên đường đi sẽ gặp tàu của Cao Ủy Liên Hiệp Quốc và họ sẽ cứu chúng ta.” Ai ai cũng đều thất vọng, nhưng cũng mừng vì đã có hải bàn và hy vọng sẽ có tàu đến cứu. Hiện giờ đã được cung cấp nước uống, thức ăn, một số quần áo; không như trước đây trong hoàn cảnh đói khát, vô phuơng hướng, vô tin tức và sống trong tuyệt vọng.
Tôi đang hồi tỉnh một chút thì lại choáng váng khi nghe tin không may này. Bất ngờ, có một thanh niên la to lên:" Trong chuyến đi này có một cô giáo dạy Anh Văn tên Duyên.Vậy cô Duyên có trên ghe không? Nếu có, sao cô không chịu lên gặp Thuyền Trưởng xin cứu giúp đi? "Tôi đoán thanh niên này là Khánh, em vợ của anh Nguyễn Quốc Trụ. Khánh chưa hề gặp tôi, nhưng đã được anh Trụ dặn:" Hãy nhớ tìm cô Duyên, cô giáo dạy tiếng Anh đi trong chuyến này”.Mọi người lao xao la to theo: “Cô Duyên đâu? Cô Duyên đâu?” Tôi chưa kịp trả lời thì nghe tiếng xì xào: "Chắc cô ta bị quăng xuống “ghe taxi” hay bị hải tặc bắt đi theo rồi chăng? ”Tôi không còn đủ hơi sức để lên tiếng, chỉ đưa tay vẫy vẫy. Có người nói:" Ồ! cái bà tưởng đã chết hồi sáng nay.”
Hai thanh niên còn khoẻ mạnh vội tiến về phía tôi, một người khiêng đầu, một người khiêng chân để đưa tôi lên thang dây, sau đó họ đặt tôi nằm trên sàn tàu. Chỉ vài phút sau, có một Bác Sĩ và vài thủy thủ vây chung quanh tôi. Họ cho tôi thở Oxy, tiếp theo cho uống một loại nước hay thuốc gì đó. Vị Bác Sĩ tiếp tục đo huyết áp, nghe tim, phổi và theo dõi. Ông nói tôi cứ thở tự nhiên.Được hít thở gió biển trong lành khoảng 15 phút, tôi thật sư tưởng mình đã được uống thuốc tiên “cải tử hoàn sinh” trong các truyện cổ tích. Tôi có thể trả lời các câu hỏi của Bác Sĩ bằng giọng nói rõ ràng, và xin được đứng dậy để được nói chuyện với Thuyền Trưởng cũng đang đứng tại đó.
Lần đầu tiên được đứng trên sàn tàu vững chắc, kiên cố, rộng mênh mông, mà trước đó chỉ được ngồi chen chúc như cá hộp trên chiếc ghe mong manh; rồi đói khát, lo sợ hãi hùng với bao biến cố cận kề cái chết. Nhìn những ánh đèn màu rực rỡ từ trên cao của giàn khoang giữa những màu sắc lung linh của mặt trời như một viên hồng ngọc trên mặt nước biển vào lúc hoàng hôn, khiến tôi tưởng mình đang ở Thiên Đàng. Nếu may mắn được Thuyền Trưởng cứu, cho lên chiếc tàu Panama, thì đúng như từ âm phủ được lên cõi Tiên.
Sau khi nghe tôi trình bày "Chúng tôi là những người ra đi từ miền Nam Việt Nam, đã bất chấp mạng sống, bất chấp hiểm nguy để đi tìm tự do bằng chiếc ghe bé bỏng, mong manh và hiện đang bị vô nước vì hải tặc đâm thủng. " Vị Thuyền Trưởng lắc đầu, rồi buồn bã nói: “Tôi rất tiếc không thể cứu quý vị được.Trước đó đã có hai người đàn ông nói chuyện tôi về yên cầu này. Tôi đã giải thích lý do tôi không thể cứu được.
Thứ nhất: Chúng tôi đang khai thác dầu hỏa tại nước Malaysia này, chúng tôi không có đầy đủ phương tiện cứu nạn.
Thứ hai: Số người trên ghe quý vị phải hơn 100 người, chúng tôi lại càng gặp rất nhiều khó khăn để giúp đỡ. Tuy nhiên, xin quý vị đừng nên lo lắng. Hãy an tâm. Tôi đã cung cấp hải bàn để định phương hướng trên biển. Tôi đã hướng dẫn kỹ lưỡng đi về phía có trại tị nạn gần nhất, và tôi sẽ liên lạc với các tàu của Cao Ủy Liên Hiệp Quốc đang di chuyển gần đây đến để cứu quý vị. Các thủy thủ chúng tôi đã làm mọi cách để giúp quý vị rồi. Tôi nghĩ quý vị sẽ lên đường bình an.”
Đến đây, tôi lại thấy đầu óc quay cuồng. Từ lúc đầu tiên lọt vào được chiếc ghe Cá Lớn cho đến nay đã 5 ngày lênh đênh giữa đại dương trong tuyệt vọng. Nếu không có những phép lạ xảy ra, làm sao tôi còn sống sót đến giờ phút này. Ôi!Tại sao có thể như thế này? Phải cố gắng nài nỉ, van xin Thuyền Trưởng.Tôi cố gắng trình bày với Thuyền Trưởng những biến cố hãi hùng, những nguy hiểm mà chúng tôi đã trải qua mấy ngày hôm nay như: không có người biết lái, nên chiếc ghe trôi vô định, một cô bé đã chết khát và phải bị ném xuống biển, 5 thiếu nữ đã bị hải tặc bắt đem theo sáng nay. Trước khi rút lui bọn hải tặc đã làm thủng ghe, hiện phải tát nước để có thể cầm cự, sống còn. May mắn đã gặp giàn khoan của các ông. Bây giờ chờ được tàu của Cao Ủy LHQ đến cứu, có lẽ tất cả chúng tôi sẽ làm mồi cho biển cả không bao lâu nữa.
Thuyền Trưởng lộ vẻ xúc động, nhưng lại trấn an tôi: “Bây giờ đã có phương hướng, và sẽ có tàu của Cao Ủy LHQ đến cứu, quý vị đã có đủ lương thực và nước uống trong vài ngày nữa, xin cứ an tâm”. Chỉ nghĩ khi tôi trở về chiếc ghe mong manh, chật ních, ngột ngạt vì bao nhiêu mùi hôi hám cũng đủ chết. Trên ghe ai có đủ khả năng biết xử dụng hải bàn để lái cho đúng hướng? "Sai một ly sẽ đi một dặm” giữa đại dương thì cũng sẽ lạc hướng, tiếp tục trong vô định. Thêm vào đó tình trạng chiếc ghe bị đục thủng thì làm sao cầm cự cho đến khi gặp được tàu của Cao Ủy LHQ?
Đứng trên sàn tàu kiên cố này, tôi thấy rõ ràng. Đây là đất sống. Chiếc ghe mong manh kia là miền đất chết. Tất cả sẽ đi vào cõi chết nếu như không được lên tàu Panama này. Giờ phút này gặp giàn khoan mà không được cứu, thì đúng là số tôi phải chết dưới lòng biển rồi. Tôi lặng người khẩn cầu Trời, Phật: “Gia đình con thật sự đã đến lúc tận cùng mạt vận, nên con đã thoát khỏi tay hải tặc, nhưng phải chịu chết dưới lòng đại dương như đã khấn nguyện chăng?Tại sao Trời, Phật đã ra tay cứu con thoát khỏi bao nguy hiểm từ lúc ban đầu, mà nay phải bắt con chết tức tửi, giữa lúc tưởng rằng thật sự thoát mọi hiểm nguy? Tại sao? Tại sao? Nguời cha già, cả một đời là công chức hiền lương cuối cùng phải lâm nạn; các em thơ dại đã chịu đựng quá nhiều đau khổ trong bao nhiêu năm, nay sẽ càng đau thương hơn?”
Con phải sống. Con chỉ có ước nguyện giúp cha già, các em dại ra khỏi đường hầm, đen tối của đau khổ, và con cầu xin được gặp lại một “thiên thần” đang tha thiết chờ đợi con. Nhưng giờ phút này, tôi thấy thật sự hoàn toàn tuyệt vọng rồi, nên nước mắt đầm đìa, ngước nhìn Thuyền Trưởng khẩn khoản trong nghẹn ngào. "Nếu ông cương quyết từ chối, tôi xin thay mặt hơn 100 người xin kính chào Vĩnh Biệt. Vì tôi tin chắc rằng giờ phút tôi rời khỏi nơi đây, trở về chiếc ghe bất hạnh, tất cả chúng tôi sẽ chết dưới lòng biển. Chiếc ghe đã bị đục thủng và đang bị vô nước trầm trọng thì làm sao chúng tôi có thể có cơ hội gặp được tàu của Cao Ủy LHQ cứu như lời Thuyền Trưởng nói. Xin Vĩnh Biệt Thuyền Trưởng!”
Sau lời chào vĩnh biệt đầy nước mắt trong nỗi tuyệt vọng của tôi, Thuyền Trưởng xúc động thật sự. Ông hỏi tôi:“Có tất cả bao nhiêu trẻ con và phụ nữ trên ghe?” Tôi trả lời “Tôi không biết”, nhưng có lẽ ít hơn đàn ông và thanh niên. Ông nói tiếp: “Trong điều kiện của chúng tôi hiện tại, chúng tôi chỉ cố gắng cứu trẻ em, phụ nữ. Đây là những người dễ dàng bị chết trong cơn nguy hiểm. Riêng các đàn ông, thanh niên xin tiếp tục lên đường, sẽ được tàu của Cao Ủy LHQ hay các tàu khác đi ngang qua gặp sẽ cứu.
Ôi! Thuyền Trưởng đã đổi ý! Đã bằng lòng cứu trẻ con và phụ nữ. Vậy là tôi thật sự thoát chết, và chắc chắn sẽ được đến bến bờ “Tự Do” như hằng ước nguyện. Ôi! Vô vàn cảm tạ Thuyền Trưởng! Ôi! Phải chăng Thượng Đế, Trời, Phật, những người khuất mặt đã làm Thuyền Trưởng đổi ý? Tôi quay qua nói với hai thanh niên khiêng tôi lên đây, và vẫn đang đứng đó, nóng lòng chờ kết quả:“Thuyền Trưởng chỉ có thể cứu trẻ con, phụ nữ mà thôi!"Hai anh thét to lên: “Thuyền Trưởng đã đồng ý cứu trẻ con và phụ nữ.”
Sau đó, ông ra lệnh cho các Thủy Thủ xuống ghe, bồng bế các trẻ con, phụ giúp các phụ nữ bước lên thang dây của tàu Panama. Tổng cộng đếm được tất cả là 50 người. Mọi người khóc nức nở, đưa tay vẫy chào những người thân: chồng, cha, chú, bác, cậu, anh em…phải ở lại chiếc ghe không lành lặn, trải qua bao biến cố hiểm nguy, đau buồn, biết đến bao giờ có cơ hội đoàn tụ hay sẽ vĩnh viễn chia lìa? Mặc dù, tôi không có bất cứ người thân nào trên chiếc ghe này, nhưng trước cảnh chia ly não nề với những người đã chịu cùng chung số phận với mình từ ngày 23 tháng 09. Nay cá nhân tôi sẽ được bình yên, đến được bến bờ Tự Do mà ai cũng mơ ước; còn họ sẽ đi về đâu, khi tiếp tục lênh đênh trên biển cả, dù được cung cấp đầy đủ phương tiện đi biển?Nhưng chiếc ghe đang bị vô nước và không ai có kinh nghiệm đi biển thì làm sao đi đúng hướng và biết đến khi nào gặp được tàu của Cao Ủy LHQ hay bất cứ tàu nào khác tiếp cứu. Theo tôi tất cả là vô vọng. Tôi vẫn cảm thấy “Chiếc ghe ấy là cõi chết”, nên tôi rất đau lòng và suy nghĩ. Hay mình thử cố gắng năn nỉ Thuyền Trưởng cứu họ. Ông đã can đảm không xin lệnh cấp trên để tự quyết định cứu trẻ con, phụ nữ. Bây gìờ mình yêu sách thêm. Không biết ông sẽ phản ứng ra sao? Mình có quá đáng và không biết sự quảng đại của ông không? Nhìn thấy 50 người đứng chiếm một diện tích bé nhỏ khoảng vài phần trăm trên con tàu khổng lồ, kiên cố chẳng đáng là bao.
Dù lo sợ, tôi tiếp tục cố gắng nói với ông: “Thưa Thuyền Trưởng, xin ông tha thứ cho tôi. Tôi rất đội ơn ông đã cứu mạng tôi và những người khác. Nay xin ông hãy cứu tất cả mọi người còn lại. Với chiếc ghe như vậy, tôi không tin họ sẽ có cơ hội gặp được tàu của Cao Ủy LHQ. Chúng tôi không cần thức ăn, quần áo, chúng tôi chỉ cần một nơi an toàn có hy vọng được sống. Chiếc tàu của ông là đất sống, chiếc ghe kia là cõi chết. Nếu ông nhận thêm những người kia mà tôi nghĩ chỉ chiếm thêm diện tích không đáng là bao của chiếc tàu khổng lồ này, và tất cả cùng chờ đợi gặp tàu của Cao Ủy LHQ đến giúp đưa đi tới trại tị nạn.“
Có lẽ Thuyền Trưởng đã xúc động giữa tiếng khóc nghẹn ngào, những tiếng chào biệt ly, dù bằng tiếng Việt, một ngôn ngữ mà ông hoàn toàn xa lạ và không hiểu:“ Ba ráng bảo trọng, tạm biệt anh; tạm biệt con, tạm biệt cậu, chú vvv…” nên ông lặng yên, trầm ngâm suy nghĩ với ánh mắt đầy xúc động. Sau một, hai phút, ông nhìn tôi nhè nhẹ gật đầu và ra dấu bằng lòng cứu tất cả mọi người còn lại trên ghe. Nhiều tiếng hét to:“ Thuyền Trưởng bằng lòng cứu tất cả mọi người.“
Ôi! Không còn gì may mắn và hạnh phúc hơn! Cảnh tượng đau lòng như một đám tang tập thể trước đó, lập tức trở thành hân hoan, vui sướng với mọi người. Thế là, từng người vội vã cuống quýt leo lên thang dây với sự giúp đỡ của các Thủy Thủ để bước lên sàn tàu. Những khuôn mặt rạng rỡ lẫn ngỡ ngàng, dù nét lo âu, khủng hoảng vẫn còn in trên nét mặt.
Khi không còn ai lên nữa, vài thủy thủ hỏi to bằng tiếng Anh: “Còn ai ở dưới ghe không?” Không có tiếng trả lời. Họ hỏi thêm vài lần nữa! và nói chúng tôi xem lại có người nào bị kiệt sức, ngất xỉu chưa lên được chăng? Tất cả gia đình cùng xem lại thân nhân của mình. Thật là một cử chỉ nhân từ và chu đáo! Sau đó các thủy thủ dùng búa chặt đứt sợi dây thừng to dùng để cột chiếc ghe vào tàu Panama trước đó, chiếc ghe tròng trành, lơ lửng trôi bềnh bồng, trên đó có chiếc túi xách mà lúc hai người khiêng tôi lên tàu Panama tôi làm rớt lại. Biểu tượng thần thoại, cánh chim Đại Bàng mà tôi thường mang theo trong những lần vượt biên từ nay sẽ trôi theo giòng nước, không bao giờ cùng tôi đi tiếp bất cứ nơi đâu!
Tất cả mọi người được yêu cầu đứng xếp hàng để đếm số người. Tất cả 137 người gồm: trẻ em, phụ nữ, thanh niên và đàn ông. Vừa mới đếm xong thì vài phút sau bỗng nhiên giông tố ầm ầm từ đâu kéo tới, kèm theo những đợt sóng khổng lồ đánh tràn vào cả sàn tàu. Các thủy thủ vội vã dùng những sợi dây thừng thật to, cột mọi người lại với nhau, và sau đó buộc chặt vào các cột tàu để không bị sóng đánh cuốn trôi đi. Một sự kinh hoàng diễn ra trước mắt mọi người đang bị ướt đẫm:Chiếc ghe mà truớc đó chứa cả trăm người chỉ trong nháy mắt đã bị nhận chìm theo những đợt sóng khổng lồ, rồi mất hút ngay dưới cơn mưa tầm tã đổ xuống như thác, sấm chớp nổ vang khắp trời.
137 người trong đó có tôi đã chết đi và sống lại trong sự nhiệm mầu của Thượng Đế, Trời, Phật??? Nếu không may mắn gặp vị Thuyền Trưởng đầy lòng bác ái và nhân từ này thì chúng tôi đã cùng theo chiếc ghe chìm sâu vào lòng đại dương lúc đó. Tôi đi từ bàng hoàng này sang đến bàng hoàng khác. Chỉ trong năm ngày lênh đênh trên biển, tôi đã chứng nghiệm được quá nhiều phép nhiệm mầu của Thượng Đế, Trời, Phật đã cứu vớt tôi thoát khỏi Tử Thần, và kể từ giờ phút này đã cùng 136 người được trở về từ cõi chết.
Thuyền Trưởng và các Thủy Thủ cảm thấy vui mừng đã cứu đuợc 137 người một cách bất ngờ. Chỉ trong vòng vài phút đã có những tấm bạt khổng lồ được căng lên che chở cho đoàn người chúng tôi đang bị ướt sũng, và lạnh run cầm cập bởi những luồng gió mạnh như vũ bão quất thẳng vào người.
Sau đó mọi người được các Thủy Thủ đưa vào các phòng cho ấm. Rồi họ phân phát những cục xà bông thơm phức và một số quần áo, yêu cầu mọi người lần lượt, từng nhóm bốn, năm người, chia ra nam theo nam, nữ theo nữ đi tắm, vì không có đủ phòng tắm cho từng người tắm riêng. Lúc bấy giờ, tôi đã hoàn hồn, và không còn lạnh run nữa, không khỏi bật cười khi nhìn thấy vài cô mặt mũi, mình mẩy vẫn còn dính đầy nhớt, lem luốc trông thật gớm ghiếc (giống như tôi).
Sau khi được tắm rửa sạch sẽ, ấm áp, mọi người được mời vào phòng ăn. Bao nhiêu thức ăn được khui ra từ các hộp thịt, hộp súp đã được bày sẵn trên các bàn trong căn phòng sáng rực những ánh đèn Néon. Chỉ mới sau mấy ngày đói khát, luôn luôn bị khủng hoảng, lo sợ, và lúc nào cũng kề cận với Tử Thần, chúng tôi cảm thấy như được thưởng thức một bửa yến tiệc linh đình, thịnh soạn do chiếc Đèn Thần của Aladin biến hoá. Tôi nhờ vài thanh niên đi vòng quanh càc bàn nhắc nhở mọi người dùng súp truớc, cố gắng ăn từ từ và ít thôi để bao tử không bị ảnh hưởng, có thể gây nguy hiểm đến tính mạng khi chuyển từ tình trạng quá đói sang quá no.
Mọi người lại được phân phát mền, dù không đủ cho mọi người, nhưng chúng tôi vui vẻ, chia theo nhóm đắp chung cho càng ấm, và nằm tạm trên sàn tàu dưới những tấm bạt che mưa vẫn đang còn rỉ rả. Riêng tôi thì may mắn được ngủ trong một phòng riêng nho nhỏ, có lẽ của một Thủy Thủ nhường chỗ cho dùng tạm trong thời gian chờ đợi này?
Cơn giông bão đã ngưng gầm thét để cho mọi người được ngủ yên trong niềm vui sướng và diễm phúc lớn lao nhất: Đã sống lại từ cõi chết và sẽ đến bến bờ Tự Do như ước nguyện. Chưa bao giờ tôi có một giấc ngủ thật say trong tâm trạng bình an, và tinh thần phơi phới như đêm hôm đó!
Chúng tôi chỉ van xin Thuyền Trưởng cho chúng tôi một chỗ ngồi trên sàn tàu Panama kiên cố, để được sống sót, và chờ đợi được tàu của Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc đến cứu.
Chúng tôi không dám mong được ăn uống, phân phát chăn mền, quần áo như thế này. Chắc là đoàn người chúng tôi đã tiêu thụ hết thực phẩm, quần áo dự trữ của tất cả Thủy Thủ đoàn? Có thể vì thế mà Thuyền Trưởng đã cương quyết từ chối lúc ban đầu. Ơn cứu mạng này của Thuyền Trưởng chắc chắn không bao giờ có thể đền trả được.
Mọi người sung sướng, yên tâm chờ đợi trên tàu Panama thêm một ngày và một đêm. Lần thứ hai được nằm trên chiếc giường bé nhỏ có chăn nệm trắng phau giữa tiếng sóng biển rì rào và thỉnh thoảng có tiếng ầm ầm của những cơn sóng từ xa vọng lại, không khí mát dịu, trong lành mà chưa bao giờ tôi có trong đời đã đưa tôi chìm vào giấc ngủ thật dễ dàng và êm ái.
Tiếng gõ cửa của một Thủy Thủ đánh thức tôi dậy giữa lúc tôi còn đắm chìm trong giấc ngủ êm đềm. Anh ta nói khi tôi vừa mở cửa "Tôi xin lỗi đã đánh thức cô. Cô đã có một giấc ngủ ngon không? Thuyền Trưởng muốn gặp cô".
Tôi vội theo anh ta bước lên cầu thang dẫn tới boong tàu trên cao. Dưới ánh bình minh giữa đại dương, mặt trời thật rạng rỡ trên mặt nước bao la xanh biếc, cảnh sắc còn đẹp hơn cả bức tranh thủy mạc. Vị Thuyền Trưởng cứu tinh của chúng tôi đang đứng chờ và đưa tay ra bắt trong lúc tôi chào ông ta. Sau đó, với khuôn mặt thật nghiêm trang quay về phía mặt Trời đang tiếp tục lên cao trên mặt nước, vị Thuyền Trưởng quỳ xuống, lâm râm vài lời và làm dấu lạy Thượng Đế theo kiểu Thiên Chúa Giáo, tôi cũng vội vã quỳ xuống theo.
Rồi Thuyền Trưởng đứng đậy, nói: "Cảm ơn Thượng Đế đã nhờ Cô cho tôi cơ hội cứu được 137 người. Đúng như lời cô, nếu tôi không thay đổi quyết định kịp thời, 137 người đã thật sự bị chôn vùi dưới lòng đại dương lúc đó. Và suốt hai ngày nay, tôi không liên lạc được với bất kỳ tàu nào của Cao Ủy, vì ảnh hưởng của cơn bão, điện thoại cũng hoàn toàn bị tê liệt. Hôm nay, không thể chờ thêm nữa, chúng tôi phải nhổ neo để đưa quý vị đến một trại tị nạn gần đây nhất."Tôi rưng rưng nước mắt, chỉ biết tận đáy lòng, vô cùng cảm ơn cứu mạng của Thuyền Trưởng. Tôi xin ông cho tôi cơ hội được liên lạc với ông trong tương lai khi được định cư. Thuyền Trưởng về phòng, vài phút sau trở ra trao cho mảnh giấy có ghi tên, địa chỉ ở đất liền bằng chữ viết tay:
Captain Brian O' Connell
17 Arundel Close
Bexley
Kent
England
U.K
Các Thủy Thủ được lệnh nhổ neo tiếp tục lên đường, tàu từ từ xa giàn khoan đứng sừng sững như toà lâu đài giữa đại dương vào buổi sáng ngày 30 tháng 09, năm 1984. Buổi chiều cùng ngày thì đến Đảo Pulau Bidong, một trại tị nạn dành cho các thuyền nhân Việt Nam trên quốc gia Mã Lai Á.
Mọi người coi như đã đạt ước nguyện nhờ ơn cứu mang của vị Thuyền Trưởng có tấm lòng bác ái bao la, "Thuyền Trưởng O'Connell”. Lần lượt từng người chào từ biệt Thuyền Trưởng và các Thủy Thủ với tất cả sự biết ơn không có lời nào có thể diễn tả được. Tất cả Thủy Thủ đoàn và Thuyền Trưởng hân hoan chúc chúng tôi may mắn, sớm được định cư ở một nước thứ ba.
Vì tàu được cặp vào đất liền, chúng tôi không phải dùng thang dây để leo xuống như lúc ở giữa biển. Mọi người ung dung bước ra khỏi tàu như bước ra khỏi phi cơ, có lối đi thẳng lên chiếc cầu giữa mặt nước, rồi cao lên dần cho đến khi giáp với đất liền. Sau này tôi được biết tên cây cầu là Jetty.
Thuyền trưởng O’Connell bắt tay từ biệt tôi lần cuối, sau khi giới thiệu tôi với các Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc đang đứng chờ đón đoàn người tị nạn được tàu Panama bàn giao.
Một trang sách mới đã được lật qua trong dòng đời của 137 thuyền nhân sống sót nhờ một phép mầu vào ngày 28 tháng 09, năm 1984 vì đã may mắn gặp được vị Thuyền Trưởng giàu lòng nhân ái. Và bắt đầu đoạn đời tị nạn từ đây với mã số do Văn Phòng Cao Ủy Tị Nạn đăt tên theo thứ tự khi có đoàn người tới đảo: MB 224 Pulau Bidong.
Vẫy tay chào tàu Panama đang xa dần trên mặt nước mênh mông, tôi vẫn còn ngẩn ngơ như đang mê ngủ. Đứng trên nền cát trắng, dưới những hàng dừa xanh cao vút dọc theo bãi biển, tôi hướng về phía mặt trời rực rỡ đang dần dần đi xuống gần mặt nước xanh trong vắt, thành tâm khấn nguyện lời cảm tạ Thượng Đế,Trời, Phật, những hương linh đã cứu vớt tôi thoát khỏi Tử Thần đầy nhiệm mầu qua bao biến cố kinh hoàng suốt mấy ngày qua.
Từ đây, bắt đầu một khúc rẽ cuộc đời như một hành khất đi chân đất, với hai bàn tay không; cái túi xách nhỏ có vài kỷ niệm và đôi dép đã bị rớt lại trên chiếc ghe trong lúc được khiêng lên tàu Panama. Tôi đã không dám xin đôi giầy hoặc dép trong thời gian chờ đợi, vì đã nói với Thuyền Trưởng: Chỉ xin một chỗ đứng trên “vùng đất sống”.
Hành trang tôi mang đến Pulau Bidong chỉ có một trái tim tràn ngập lòng biết ơn Thượng Đế, Trời, Phật và những ân nhân đã cứu giúp tôi trên từng bước đường đời, sự thương nhớ những người thân yêu còn lại đang vất vả nơi quê nhà, và đang ấp ủ những ước mơ cho ngày mai tươi sáng. Bên cạnh đó là một linh hồn nặng trĩu với những hình ảnh hãi hùng, tuyệt vọng trong cuộc hành trình đi tìm "Tự Do", với bao ký ức đau buồn của những năm tháng" đại bác đêm đêm vọng về thành phố" trên quê hương. Một linh hồn quằn quại vì sự tan nát của gia đình khi chiến tranh chấm dứt trong cảnh nước mất, nhà tan, đau thương, thống khổ chất chồng.
Thấm thoát đã hơn ba mươi mốt năm trôi qua. Tôi đã bước qua bao nhiêu ngã rẽ cuộc đời như chiếc thuyền trôi theo giòng nước. Có những lúc rẽ qua giòng suối nên thơ, có đôi khi rẽ vào giòng sông êm ả và cũng có lúc di vào lòng biển khơi đang trong cơn giông tố. Ở bất kỳ ngã rẽ nào, không có một khoảnh khắc nào trong đời, tôi có thể quên được những phép lạ đã cứu vớt tôi trong chuyến đi nhiệm màu ấy.
Những lời cuối cho dòng hồi ức về những phép lạ tôi đang kể lại, xin thay mặt 137 người cùng thoát chết dưới lòng đại dương trong cơn giông bão vào buổi chiều ngày 28 tháng 09, năm 1984, và bây giờ không biết đang tản mạn ở các phương trời nào, ai còn, ai mất, thành tâm gửi đến Thuyền Trưởng Brian O' Connell (cũng không biết ông đang phiêu du ở chân trời, góc bể nào), lòng biết ơn vô bờ bến và không bao giờ đền trả được ơn cứu mạng ngày ấy.
Ước nguyện tha thiết nhất của tôi trong những năm tháng cuối cuộc đời là được Ơn Trên ban phép lạ cho tôi tìm được tin tức vị Thuyền Trưởng có tấm lòng bác ái bao la đã cứu 137 người tưởng chừng như chắc chắn là chết được trở về đất sống.
Sự liên lạc của tôi với Thuyền Trưởng đã bị cắt đứt, sau bức thư gửi đến ông năm 1988 đã bị trả về với hàng chữ: "Moved to unknown address". Nhiều năm nay, các con tôi đã cố truy tìm trên nhiều trang mạng từ Internet, nhưng tất cả đều vô vọng.
Cũng xin thay mặt 137 thuyền nhân, gửi đến tất cả Thủy Thủ đoàn của tàu Panama ngày ấy sự biết ơn sâu xa trước sự giúp đỡ nhiệt tình đầy lòng bác ái của quý vị.
Từ đáy lòng , xin gửi đến cô Minh, mẹ của Tuyết Nhiên, và anh tài công sự biết ơn vô bờ đã giúp tôi thoát khỏi bọn hải tặc một cách nhiệm mầu, khi giao cháu bé và liệng cục nhớt cho tôi kịp thời trong tích tắc.
Và cũng tận đáy lòng, xin chân thành đặc biệt gửi đến ân nhân Nguyễn Vinh Tôn sự biết ơn vô bờ đã giúp tôi bước lên chiếc thuyền định mạng ngày 23 tháng 09, năm 1984. NVT mãi mãi là một Thiên Thần của sự trong sáng và cao quý trong hồn tôi.
Giờ đây, tôi xin thắp một nén hương dâng lên hương linh của anh Nguyễn Quốc Trụ với tất cả sự biết ơn chân thành nhất của một người hân hạnh và may mắn đã được anh giúp trong chuyến vượt biên này.
Và cùng hàng triệu Quân, Dân, Cán, Chính VNCH, xin tưởng nhớ, ghi ơn những anh hùng đã hy sinh bảo vệ VNCH, trong đó có người anh hùng Mũ Đỏ Nguyễn Quốc Trụ, SVSQ/ Khoá 20 Võ Bị Đà Lạt, Đại Úy thuộc Binh Chủng Nhảy Dù, người đã tham dự trận chiến khốc liệt nhất trong quân sử VNCH, trận Đồi 31, Lam Sơn 719, Hạ Lào 1971, nơi anh hùng Mũ Đỏ Nguyễn Văn Đương đã nằm xuống, và đi vào huyền thoại qua nhạc phẩm bất hủ "Anh không Chết Đâu Anh" của Nhạc Sĩ Trần Thiện Thanh, còn anh Nguyễn Quốc Trụ và nhiều Sĩ Quan, binh sĩ đã bị bắt làm tù binh trong những trại tù nghiệt ngã ở Bắc Việt cho đến năm 1979.
Xin thắp một nén hương dâng lên người Cô (Dì) yêu dấu Hồng Hoàng Lan, với tất cả sự biết ơn của người cháu được Cô thay Mẹ, an ủi, đùm bọc trong giai đoạn gia đình tan nát, đau thương sau biến cố lịch sử 30 tháng 04, năm 1975. Cô là người duy nhất trong gia đình Mẹ tôi còn ở lại Hà Nội sau năm 1954 vì đã không thể bỏ lại những cây đàn yêu quý để ra đi.Là một nhạc sĩ xử dụng đàn Violoncelle trong Dàn Nhạc Giao Hưởng Hà Nội, cô đã kịp thời vào Sàigòn để đưa tiễn Mẹ tôi về cõi vĩnh hằng ngay sau 30-4-1975. Cô cũng là người đã khuyến khích, giúp tôi tìm đường vượt biên, và bắt nhịp cầu cho tôi được bước vào chuyến đi hãi hùng, nhưng mầu nhiệm này.
Và xin thắp một nén hương nguyện cầu cho hương linh em Tuyết Nhiên cùng tất cả những thuyền nhân đã nằm xuống lòng đại dương trong những cuộc hành trình đi tìm Tự Do được an nghỉ nơi vùng trời miên viễn.
Nếu không có những phép lạ nhiệm mầu cứu vớt, 137 người trong đó có tôi cũng đã chung số phận âm thầm nằm trong lòng biển cả ngày 28 tháng 09, năm 1984. Và những biến cố dồn dập xảy ra trong suốt cuộc hành trình không bao giờ thân nhân được biết.
Cuối cùng, xin chân thành gửi đến anh Trần Đình Phước, cựu Trung Úy Không Quân VNCH, sự biết ơn sâu xa đã khuyến khích, bỏ ra nhiều thời gian và nhiệt tình giúp tôi hoàn tất viết lại những dòng hồi ký đúng vào ngày Giáng Sinh 2015 về chuyến đi nhiều phép lạ mầu nhiệm này.
Toronto, Giáng Sinh 2015
Phạm T. Duyên
*Kính dâng lên hương hồn những thuyền nhân đã bỏ mình trên biển cả vì lý tưởng tự do. Xin Quý vị nào biết tin tức về Thuyền Trưởng người Anh tên là Brian O’ Connell và Thủy Thủ Đoàn của tàu Panama khoan dầu trên Biển Đông cách đây hơn 31 năm. Xin làm ơn giúp, để tôi có thể liên lạc, dù là muộn màng. Đây cũng là ước nguyện cuối đời của tôi.

Hôm nay là đúng 400 năm ngày giỗ ông tổ của chữ Quốc ngữ, Cha Francisco de Pina. Ngài là một tu sĩ Dòng Tên sinh năm 1585 tại Bồ Đào Nha, và đã dành 8 năm quan trọng nhất của cuộc đời mình ở Việt Nam (1617-1625).
Ngài qua đời vào ngày 15-12-1625 khi vừa tròn 40 tuổi, trong một hoàn cảnh vô cùng xúc động. Ngài chết đuối khi đang cứu người. Chiếc áo dòng của Ngài bị bị vướng vào chiếc thuyền thúng và bị đắm tại biển Cửa Đại, Quảng Nam.
Cha Francisco de Pina là nhà truyền giáo phương Tây đầu tiên có thể nói tiếng Việt một cách lưu loát và truyền giáo mà không cần thông dịch. Đây là điều chưa từng có trước đó.
Người Latinh hóa tiếng Việt
Cha Pina đã đặt nền móng cho việc Latinh hóa tiếng Việt. Cha nghiên cứu cấu trúc âm vị và thanh điệu của tiếng Việt, sau đó ghi chép chúng bằng chữ Latinh. Những nỗ lực ấy trở thành cơ sở khoa học ban đầu cho hệ thống chữ Quốc ngữ ngày nay.
Cha cũng đã mở trường dạy tiếng Việt tại Thanh Chiêm (Quảng Nam) để truyền đạt ngôn ngữ, dạy kỹ năng ghi chép tiếng Việt cho những tu sĩ khác. Trong đó có Cha Alexandre de Rhodes, người sau này tiếp tục phát triển và phổ biến chữ Quốc Ngữ rộng rãi hơn.
Năm 1651 Cha Alexandre de Rhodes đã tập hợp các ghi chép, biên soạn và làm bản thảo đưa sang Roma in hai cuốn sách bằng chữ Quốc ngữ đầu tiên là: Phép giảng 8 Ngày và Từ điển Việt-Bồ-La, những ký tự đầu tiên là nhờ người thầy của mình là Cha Francisco de Pina.
Hội nhập và thờ cúng ông bà?
Những năm làm việc của Cha Franciso de Pina ở Việt Nam là sự hòa nhập sâu sắc vào đời sống người Việt. Ngài thực sự học hỏi và tôn trọng văn hóa địa phương, bền bỉ hòa giải giữa truyền giáo, văn hóa và ngôn ngữ.
Mặc dù không có tài liệu ghi lại chi tiết quan điểm của Cha đối với việc thờ cúng ông bà tổ tiên, nhưng tư tưởng truyền giáo của Dòng Tên ở thời đó đi theo hướng: Thay vì loại trừ những nét văn hóa địa phương như việc tôn kính tổ tiên, thì tôn trọng và chấp nhận nó.
Trong bối cảnh lịch sử tôn giáo thế kỷ XVII, nhiều dòng tu Công giáo châu Âu đã có những tranh luận nội bộ về cách đối xử với các nghi lễ tập quán như thờ cúng tổ tiên và lễ tục truyền thống. Nổi bật nhất là Chinese Rites controversy (Tranh luận về Nghi lễ Trung Hoa), và Tòa Thánh phải can thiệp rất nhiều lần ở nhiều nơi.
Khi ấy những tu sĩ Dòng Tên thường chủ trương rằng các lễ tục tổ tiên có thể được nhìn nhận như những nét văn hóa, không mâu thuẫn về bản chất với đức tin Kitô nếu được diễn dịch đúng cách.
Một ngày Quốc ngữ
Tôi đang viết những dòng này, nhà báo đang gõ bản tin, luật sư viết bài bào chữa, thầy cô đang giảng bài, chính phủ đang truyền công văn, và em bé đang tập đánh vần chữ đầu tiên trong đời…..đều đang diễn ra trên một nền tảng là Chữ Quốc Ngữ.
Chúng ta đang sống, đang yêu, đang tranh luận bằng chính hệ chữ viết mà hơn 400 năm trước một người ngoại quốc đã kiên nhẫn lắng nghe và đặt nên cấu trúc.
Tên tuổi của Cha được tri ân cả ở Việt Nam và quê hương Bồ Đào Nha và việc tri ân Ngài không phải là một nghi thức của quá khứ, mà là một hành động của hiện tại.
Cuối tuần vừa qua nhiều nhóm sinh viên và các Linh mục Công giáo tại Việt Nam đã tổ chức lễ giỗ và cầu nguyện cho Cha Francisco de Pina, đồng thời nhờ Ngài cầu bầu cho chữ Quốc Ngữ tiếp tục là sinh ngữ, sống, hiện diện và phát triển cùng dân tộc.
Tôi hy vọng rồi sẽ đến một ngày Việt Nam sẽ có "Ngày Quốc Ngữ" để vinh danh tiền nhân và nhắc nhở cho thế hệ mai sau cần phải giữ gìn và phát triển.
Nếu vậy, ngày 15/12 xứng đáng được chọn làm ngày đó để vinh danh một người đã có công tối quan trọng.
LÊ QUỐC QUÂN
16.12.2025