GOOD MORNING VIET NAM - CANADA - USAĐIỂM TIN DIỄN ĐÀN 01-05-2026 (SỐ 080-2026)MỤC LỤC
- Quốc Hận
- Những Bài Ca của Tháng Tư Đen - Les chansons d'Avril Noir
- SÀI GÒN NỖI NHỚ
- ĐÊM THAO THỨC
- Mười hai tháng đều là tháng Tư đen
- Ba Mươi Tháng Tư – Nỗi Bất Hạnh Của Dân Tộc Việt
- Ăn Chuối theo Cách Này Sẽ Hêt Tiểu Đêm .
- APRIL 1975, APRIL 2026 AI CÒN NHỚ, AI ĐÃ QUÊN?
TẠI SAO CỘNG SẢN VIỆT NAM THỪA NHẬN SỰ THAM CHIẾN CỦA 310 NGHÌN BINH SĨ TRUNG CỘNG TRONG CUỘC CHIẾN VIỆT NAM? VĨ TUYẾN 38 VÀ VĨ TUYẾN 17: KHI RANH GIỚI GIỮA "THIÊN ĐÀNG" VÀ "ĐỊA NGỤC" CHỈ LÀ MỘT SỰ LỰA CHỌN.QUỐC HẬNSau ngày 30 tháng Tư năm 1975, nhiều thứ, nhiều tên đã thay đổi, thành phố Sài Gòn đã mất tên nhưng lòng người xa xứ không bao giờ quên. Hai con đường nổi danh của Sài Gòn năm xưa giờ đây đã đã đi vào ca dao, tục ngữ của mọi người dân Việt trong và ngoài nước. Buồn hay vui?NAM KỲ KHỞI NGHĨA tiêu CÔNG LÝĐỒNG KHỞI vùng lên mất TỰ DO
Những Bài Ca của Tháng Tư Đen - Les chansons d'Avril Noir2/- Medley / La souffrance des miens - Còn ai thương Dân tôi : Medley / La souffrance des miens - Còn ai thương Dân tôi
LÊ Hữu ĐàoSÀI GÒN NỖI NHỚ-Nhạc & Lời NGÀNTHU -Trình bày TÂM THƯ -Video:HOÀNG VỸ -...ĐÊM THAO THỨC
Thầm đếm mãi tiếng thời gian đồng vọng
Có thoát được đâu định phận của đời mình!?Trước mặt, sau lưng đều cạn kiệt “đường binh“
Đã bị đóng khung! Thôi, cũng đành hết cách!
Có một sợi dây vô hình mà tàn nhẫn
quấn chặt đời ta trong vũng tối ly hương
Sống tự do mà bí rị, cùng đường
Đâu cũng thấy toàn mạt cưa, mướp đắng?!
Đã cuối đất, cùng trời. Sao vẫn nặng
gót chân đưa trong mờ mịt truông đời?!
Bao năm rồi thân bèo bọt, nổi trôi
Chôn phẫn hận cho tim cuồng nộ hống.
Nhớ ngập lòng nên từng đêm trải mộng
Đậm đặc hồn trong u tịch trầm vương
Lầm lũi đi qua hun hút dặm trường
Nuôi hy vọng làm hành trang thiên lý.
Dẫu xa rồi lụy phiền thời vận bỉ
Cũng không sao quên được thuở ly tan
Tháng 4 Đen! Tháng 5 nén lệ tràn
Hờn vong quốc đẫm giọt sầu ký ức.
Bóng sơn khê chập chùng đêm thao thức
Nghe linh thiêng lời sông núi hẹn thề
Thấy riêng ta trong vời vợi hồn quê
dồn chân bước trong ngày vui quang phục.
HUY VĂNMười hai tháng đều là tháng Tư đen
Như hầu hết chúng ta đều biết, những vết thương trên thịt da đều có thể lành qua thời gian. Thế nhưng, vết thương trong tâm hồn sẽ không bao giờ lành. Ngày 30 tháng Tư năm 1975 chỉ là một ngày như mọi ngày trên quyển lịch. Thế nhưng trong lòng người Việt ly hương, phải bỏ lại tất cả những gì quý giá nhất của đời người để tìm nơi sống an lành cho thế hệ mai sau, thì đó lại là một ngày đen tối nhất trong lòng người viễn xứ, một vết thương không bao giờ lành.
Đặc San Lâm Viên mời quý vị đọc “Mười Hai Tháng Đều Là Tháng Tư Đen” của Bùi Phạm Thành để cùng nhớ lại những ngày đen tối của hơn nửa thế kỷ trước, nhưng chẳng phai mờ trong lòng người tha hương.
Mười Hai Tháng Đều Là Tháng Tư Đen
Mười Hai Tháng Đều Là Tháng Tư Đen
Nghe bạn nhắc đến một ngày buồn thảm, Ngày cuối cùng của một tháng Tư đen, Bạn khuyên tôi đừng về chơi đất...
Mười Hai Tháng Đều Là Tháng Tư Đen
Nghe bạn nhắc đến một ngày buồn thảm, Ngày cuối cùng của một tháng Tư đen, Bạn khuyên tôi đừng về chơi đất...
ĐÁM MA TÙ
..."Và hồn sông núi bước theo sau !!!"Một câu thơ tuyệt vời, gợi nên bao nỗi niềm chan chứa cảm hoài !ĐÁM MA TÙTháng Tư Đen, tưởng niệm và nhớ ơn những Chiến sĩ VN. anh hùng, can đảm nhận trách nhiệm của người trai khi Tổ Quốc hưng vong và đã bỏ mình trong các trại lao tù CS.Vài tên cầm súng bước đi đầuTên nữa AK. tiếp nối nhauMột xác bó tròn đôi mảnh chiếuHai đầu buộc tréo bốn dây lauKhông kèn, không trống, không đưa tiễnChẳng khói, chẳng nhang, chẳng nguyện cầuChỉ có bạn tù khiêng lặng lẽVà hồn sông núi bước theo sau !!!Ngô Minh HằngNgày 2.10.1979* Bài Đám Ma Tù hiệu đính và in lại trong thi tập Tiếng Hờn Sông Núi - 2021 --Ba Mươi Tháng Tư – Nỗi Bất Hạnh Của Dân Tộc Việt
Sau Thế chiến II có ba nước bị chia đôi, một nửa theo dân chủ tự do một nửa theo độc tài cộng sản gồm: Đông & Tây Đức, Nam & Bắc Hàn, Nam v& Bắc Việt Nam. Đến nay Nam và Bắc Hàn vẫn còn bị chia cắt bởi vĩ tuyến 38. Đông và Tây Đức đã được thống nhất dưới bầu trời dân chủ tự do, sau khi đảng cộng sản cầm quyền tại miền Đông nước này sụp đổ. Bất hạnh nhất chính là dân tộc Việt, tuy cũng đã thống nhất đấy nhưng cả nước lại bị chui vào cái rọ độc tài cộng sản!
Người Việt Cộng Sản (VC) – Tội Đồ Dân Tộc
Ngày 30-4-1975 khi người CS chiếm được miền Nam, đây là cơ hội bằng vàng để người dân cả nước kề vai sát cánh, xây dựng quê hương ấm no hạnh phúc, tạo cho VN một chỗ đứng được nể trọng trên trường quốc tế. Nhưng rất tiếc, người CS đã đặt mục tiêu truyền bá chủ nghĩa cộng sản lên trên tiền đồ dân tộc. Họ máy móc thực thi những giáo điều cộng sản chớ không đoái hoài gì đến hạnh phúc của người người dân. Người CS đã phí phạm biết bao nhân lực tài lực của cả nước chỉ để áp dụng mô hình XHCN ngu muội của Nga - Tầu. Nếu biết tận dụng khả năng cần mẫn, giỏi chịu đựng của người miền Bắc công với óc sáng tạo, tính cởi mở của người miền Nam, VN sợ gì không vượt xa Đài Loan, Nam Hàn, chớ nói chi Thái Lan, Phi Luật Tân vốn thua miền Nam VN.
Nhưng người CS vốn chẳng coi trọng gì tiền đồ tổ quốc (chủ trương tam vô), đã coi “hồng hơn chuyên” chẳng những bắt hết những quân - cán - chính, cấp trung trở lên thuộc chế độ cũ, nhốt trong những nhà tù khổ sai - dưới mỹ danh “học tập cải tạo”, ngay cả những trí thức, những chuyên viên được đào tạo trong môi trường quốc tế cũng bị tước đoạt hết quyền lợi và bị phân biệt đối xử. Những người này - hàng triệu người, dĩ nhiên để tránh bị trả thù, tránh bị đày đọa đến mấy đời phải tìm cách vượt biên, tìm cuộc sống mới. Đây là cuộc di cư, thất thoát chất xám lớn nhất trong lịch sử dân tộc Việt. Đến nỗi có câu tục dao “Người khôn thì đã vượt biên, người còn kẹt lại nửa điên nửa khùng!” Cuộc di cư khốn khổ vĩ đại này cũng khiến cho gần nửa triệu người dân Việt bỏ xác trên bước đường vượt biên [1]. Còn đám đảng viên CS ngoài miền Bắc vào chiếm nhà, chiếm chỗ, phần đông chỉ giỏi ăn tục nói phét, kiểu “Ở ngoài Bắc TV chạy đầy đường!”
Xin nêu vài thí dụ tiêu biểu: Năm 1976 trong lớp kỹ sư cơ khí của ĐH Bách Khoa (trước 1975 là ĐH Kỹ thuật Phú Thọ), một giảng viên từ ngoài Bắc vào ba hoa: “Tôi từng du học bên Liên-Xô, bên đó cái máy dập to bằng cái … sân bóng đá!” Vị khoa trưởng ĐH BK cũng hùng hồn tuyên bố: “Tôi từng dự buổi họp của Bộ Chính Trị và được biết, trữ lượng dầu của Ả-Rập Xê-út so với của VN ta chỉ như con tem dán vào mình con voi!” Giảng viên rồi khoa trưởng còn ba hoa khoác lác như vậy làm sao sinh viên khá cho nổi. Không trách mụ thủ trưởng ngân hàng Quận 10 đến chiếm nhà ngoại tôi, mụ ta nuôi heo “cải thiện” trên sân thượng lầu ba! Đứng nhìn cảnh phân heo nhớp nhúa chảy dọc cầu thang vừa buồn vừa giận, tự hỏi sao người ta có thể ăn ở dơ dáy, đần độn đến vậy?!
Ngày được thả ra từ trại tù cải tạo (21/1/1978), tôi không có quyền công dân, không có hộ khẩu tại đâu hết vì không thể về quê nội ở Long Hải vì là vùng vượt biên, cũng không thể ở Saigon với vợ sắp cưới vì nhà đang bị đánh tư sản, bị đuổi đi “kinh tế mới” vùng Cao Lãnh (từ chợ Cao Lãnh phải đi ghe tác ráng 2 tiếng mới tới, tuy không là chỗ khỉ ho cò gáy nhưng cũng rất hoang vu và đầy đỉa, muỗi, rắn). Trong tay chỉ có tờ “Giấy Ra Trại” trên cùng ghỉ đậm hai dòng chữ: “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam/ Độc Lập-Tự Do-Hạnh Phúc!”. Đọc mới thấy nó lố bịch, trơ trẽn, nghịch lý làm sao. Độc lập gì mà phải rập khuôn theo Liên Xô, Trung cộng. Tự do gì mà chỉ cần phát ngôn loạng quạng đủ để bị bắt đi cải tạo mút chỉ không thèm xét xử. Hạnh phúc gì mà mang vài ký gạo đi giúp cha mẹ cũng bị tịch thu. ** Xin đọc bài “Khẩu Hiệu Đểu – Chủ Trương Gian” đính kèm **
Người CS có thể nói rằng hiện tại đất nước đã đổi mới, chủ trương của đảng không còn như xưa. Nhưng như cha ông mình từng nói “giang sơn dễ đổi, bản tính khó dời”, với bản tính thâm hiểm, lúc nào cũng cho mình là đúng, là cứu tinh của dân tộc, đảng CS VN đang ra sức đưa ra một tuyên truyền láo khoét nhằm tạo nên một hỏa mù sai lạc trong dòng sử dân tộc, giai đoạn 1954 - 1975.
Truyên Truyền Láo – Lịch Sử Sai
Trong những truyện cổ tích Đông hay Tây có điểm giống nhau là những con cáo, con chồn, con quỷ dữ đều tìm cách che dấu cái đuôi dài xấu xí, gớm giếc của nó. Người CS cũng vậy, họ luôn tìm cách che dấu bản chất dã man (Giết giết nữa bàn tay không phút nghỉ - thơ TH), vô thần (thằng Trời đứng lại một bên/ Để cho nông hội đứng lên làm Trời! – ca dao vận động nông hội HTX), xảo trá (Yêu biết mấy, nghe con tập nói/ Tiếng đầu lòng con gọi Xít-ta-lin! – thơ TH), láo lếu (Bác đưa đất nước qua nô lệ/ Tôi dắt năm châu đến đại đồng - Thơ HCM vịnh đền Kiếp Bạc), …
Sau khi chiếm được miền Nam 30/4/1975, trong những nhà tù lao động khổ sai hay ngoài xã hội họ đều bắt học những bài học nhảm nhí như: “Ba giòng thác cách mạng.”, “Tư bản giãy chết.”, “Ta nhất định thắng, địch nhất định thua.”, “Mỹ là tên đầu sỏ đế quốc, là con bạch tuộc hai vòi.”, “Đế quốc Mỹ là con hổ giấy.”, “Mỹ giầu nhưng không mạnh. Ta nghèo nhưng ta mạnh.”, “Dưới sự lãnh đạo của đảng quang vinh …”, “Thời kỳ quá độ.”,... Những “bài học” vớ vẩn này có thể có tác dụng với người dân miền Bắc vì họ đã bị kềm kẹp, nhồi sọ đã lâu chớ đối với phần lớn dân miền Nam, nơi đã được tiếp xúc rộng rãi với thế giới bên ngoài và từng sống dưới một thể chế tự do dân chủ (tuy rất non trẻ và nhiều thiếu xót) thì những bài học chính trị của người CS chỉ là những lời tuyên truyền rẻ tiền, ấu trĩ. Khổ nỗi là từ anh chính ủy sư đoàn đến anh quản giáo đều học có một bài, nên anh trên nói sao, anh dưới lập lại i hệt! Lại cũng: “Mig của ta tắt máy, phục kích trong mây chờ cánh cụp cánh xòe, thần sấm, con ma của Mỹ đến mới nhào ra đánh khiến chúng rớt như xung.” Đặc biệt mấy anh CS phét lác như vậy nhưng vì không biết mình quá ngu muội ấu trĩ nên cứ trơ mặt mo ra không hề biết ngượng!
Với sự sụp đổ mang tính hệ thống của các nhà nước tôn thờ chủ nghĩa CS của Marx-Lenin từ Liên Xô, Đông Âu đến các nước khác vào năm 1989, người Việt cộng sản (VC) thấy việc dơ cao ngọn cờ “kách mệnh” đưa năm châu đến thế giới đại đồng và tôn thờ các lãnh tụ CS “Thương cha, thương mẹ, thương chồng/ Thương mình thương một, thương Ông thương mười!” không còn ăn khách nữa. Để biện minh cho cuộc chiến hai mươi năm, gây tang tóc đau thương cho cả hai miền đất nước, họ (VC) ra sức lấp liếm mục đích chính của họ, biến tham vọng bành trướng chủ nghĩa CS thành cuộc chiến chống Mỹ cứu nước. Để đạt mục đích này, VC tìm mọi cách xóa nhòa vai trò của người quốc gia gồm chính phủ và người lính VNCH. VC đang cố viết lại lịch sử, một mặt tẩy xóa hết những dấu tích tồn tại của một chính phủ hợp hiến hợp pháp tại miền Nam, một mặt nói rằng cuộc chiến 20 năm (1955-1975) là cuộc chiến chống ngoại xâm chứ không phải cuộc chiến ý thức hệ, nhằm bành trướng chế độ CS!
Tôi có người bạn Mỹ vì muốn tìm hiểu nên vừa đi VN, khi về anh ta kể rằng người hướng dẫn viên du lịch khi nói về cuộc chiến VN chỉ đề cập đên hai thế lực Mỹ và VC chớ không nói gì đến VNCH. Cũng may người bạn khá rành về lịch sử đã hỏi lại anh hướng dẫn viên rằng: “Sau khi ký Hiệp định Paris vào tháng 1/1973 người Mỹ đã rút hết quân, nhưng mãi tới tháng 1/1975 CS Bắc Việt cũng chưa chiếm được tỉnh lỵ hay thành phố nào của miền Nam, vậy trong thời gian hai năm đó ai ngăn chặn CS miền Bắc?” Dĩ nhiên anh hướng dẫn viên không thể trả lời vì anh ta mới ngoài 20 tuổi và chỉ được học có thế. Người bạn tôi hỏi thêm: “Anh có tin quân đội VNCH có thể giữ được miền Nam tự do nếu được Hoa Kỳ viện trợ đầy đủ không?” [2] Anh hướng dẫn viên lại càng đực mặt ra vì anh ta có biết gì đâu mà trả lời.
Mỗi dịp 30 tháng 4 chúng ta, những người quốc gia, khi nghĩ đến việc mình bị đồng minh bỏ rơi, bị một số lãnh đạo bất tài, ươn hèn làm cho suy yếu, chúng ta giận nhưng không hận. Hận đây là hận những tay chóp bu của đảng CS VN, vì ngu muội đã đem một chủ nghĩa CS phi nhân áp đặt cho dân tộc, tạo ra biết bao tang tóc đau thương cho người dân trong nước, ngoài nước thì bị thế giới coi thường - Thật tủi cho nòi giống Lạc Hồng.
Người quốc gia chúng ta tuy hận nhưng không thù, nếu những lãnh tụ CS biết quay đầu về bến, về với quốc gia dân tộc, bỏ hẳn quan điểm “yêu nước là yêu đảng” và chủ trương “chỉ có đảng (CS) mới có tư cách lãnh đạo đất nước”, chúng ta sẽ giống như những nước đã thoát khỏi nanh vuốt CS, điển hình như Đức và các nước Đông Âu, không lập ra những trại tù lao động khổ sai được ngụy trang dưới nhãn hiệu các trại “học tập cải tạo”, thay vào đó sẽ cùng nắm tay nhau xây dựng đất nước. Mong lắm thay.
Phạm Mạnh Tuấn – Viết nhân ngày Quốc Hận 2026
--- ---
[1] Theo các ước tính và báo cáo từ Cao ủy Tị nạn Liên Hợp Quốc (UNHCR), số người Việt bị chết hoặc mất tích trên đường vượt biên sau năm 1975 khoảng từ 200.000 đến 400.000 người. Nhưng theo nhiều nhà sử học con số đó lên đến khoảng nửa triệu người, cứ 3 người ra đi thì có 1 người không bao giờ tới được bến bờ tự do.
[2] Trong Diễn văn Từ chức của TT Nguyễn Văn Thiệu ngày 21-4-1975, đoạn cuối ông cay đắng nói về quyết định của Mỹ cắt giảm viện trợ VNCH từ 1,4 tỷ USD xuống 700 triệu, rồi cắt nữa chỉ còn 300 triệu. Ngay cả con số hẩm hiu đó vẫn bị Mỹ “treo lắc lư, lắc lư cả năm trời không nói tới. Trong khoảng thời gian đó quân đội VNCH đã mất hết 60% tiềm năng chiến đấu. Một ông võ sĩ mất hết 60% sức lực, và cái vấn đề đánh nhau là hễ mạnh là mạnh luôn, mà yếu là yếu luôn, nó cũng như con bệnh, hễ mạnh là vượt qua, hễ yếu là bị kiệt sức luôn. Quý vị có thể tưởng tượng trong thời gian Hoa Kỳ cắt viện trợ của chúng ta, mà chúng ta mất hết 60% tiềm lực chiến đấu thì cái gì sẽ xảy ra ? Số thương vong gấp bội, bởi vì không có phương tiện không quân yểm trợ, mà pháo của ta lại thua pháo của họ, nội thương vong vì pháo của ta lên rất cao, rồi chết lại lên cao vì thiếu trực thăng để tải thương. Thậm chí, vô nhà thương mà một cái băng phải băng đi băng lại tới hai lần, thật vô nhân đạo đối với một chiến sĩ bị thương!”.
Ăn Chuối theo Cách Này Sẽ Hết Tiểu Đêm .APRIL 1975, APRIL 2026 AI CÒN NHỚ, AI ĐÃ QUÊN?
Vietnam, quê hương tôi, “1000 năm nô lệ giặc tàu, một trăm năm đô hộ giặc Tây, hai mươi năm nội chiến từng ngày …”“CUỘC RA ĐI LẦM LŨI CỦA MỘT VỊ TỔNG THỐNG”QUỐC VIỆT50 năm trước, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã có ngày lưu vong cô đơn đầu tiên trên đất khách quê người ở Taipei, Taiwan. Để rồi, ba ngày sau, 29/4/1975, vị tổng thống lưu vong đã cay đắng trả lời một đại diện không chính thức của chính phủ Mỹ: “Làm kẻ thù của Mỹ thì rất dễ, nhưng làm bạn rất khó”. 10 năm lính Mỹ cùng chiến hào binh sĩ Nam Việt có phải vì Mỹ muốn giúp đỡ Việt Nam Cộng Hòa hay đã dùng chính những người lính Việt này để thực hiện thế trận ngăn chặn “làn sóng đỏ” ở Châu Á thì lịch sử đã đủ tường minh rồi!Từ nhiều tháng trước khi ông Thiệu phải lầm lũi ra đi trong đêm, chính quyền miền Nam Việt Nam đã đến thế cờ tàn thật sự sau khởi đầu của chuỗi domino sụp đổ từ Hiệp định Paris 1973. Người bạn Mỹ, đồng minh chí cốt từng một thời làm quá tải phi trường Tân Sơn Nhất bởi dày đặc những chuyến không vận tiếp tế cho Sài Gòn, đã quay lưng thật sự.Bản tin đài VOA tường thuật cuộc bỏ phiếu kín của Hạ Nghị viện Mỹ ngày 12/3/1975 về việc tiếp tục viện trợ quân sự cho Sài Gòn đã nhận kết quả cay đắng: chỉ có 49 phiếu thuận trong khi đến 189 phiếu chống. Một ngày sau, Sài Gòn lại tiếp tục nhận tin sét đánh từ Thượng viện Mỹ: chỉ có 6 phiếu thuận trên 36 phiếu chống việc viện trợ thêm vũ khí cho Sài Gòn trong năm 1975.Trong cuốn sách Từ tòa Bạch Ốc đến Dinh Độc Lập, tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, cựu Tổng trưởng Kế hoạch của ông Thiệu đã nhắc lại một đoạn u tối: “Tại nhà thờ Lutheran ở Arlington, bang Virginia, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng James Schesinger đã khóc cho miền Nam Việt Nam”. Ông được ngài phó giám đốc Cục tình báo Trung ương Vernon Walters kể rằng viên đại sứ Nam Việt Nam ở Washington nói: “Phía bên kia vùng không có bình minh là hoàng hôn đang phủ xuống”. Rồi Schlesinger nhớ lại: “Tôi vẫn nhớ lời miêu tả của Churchill về sự sụp đổ của nước Pháp trong Thế chiến thứ II. Đây là thảm họa tương tự, dù khác nhau về tầm cỡ. Tôi không trách người Việt Nam đã cố theo đuổi chút hy vọng mong manh. Tôi cảm thương họ. Tôi buồn cho họ!” …Tổng thống Ford tháng 4 năm 1975 quyết định rằng Hoa Kỳ sẽ không can thiệp về mặt quân sự nữa. Sẽ không có những hạm đội đổ bộ đến cứu nguy, cũng không có những chuyến tàu tiếp tế từ phía chân trời như đã từng có từ 10 năm trước đây …”.Gặp ông Thiệu ở Dinh Độc Lập, Tổng trưởng Nguyễn Tiến Hưng đã chứng kiến sự tức giận cùng cực của vị tổng thống suốt 10 năm của nền Đệ nhị Cộng hòa Nam Việt với đồng minh Mỹ: “Điều này không thể tin được. Trước hết ở Midway, người Mỹ bảo tôi chấp thuận vài ngàn lính Mỹ rút quân và tôi vẫn còn nửa triệu lính Mỹ ở lại chiến đấu với tôi”. Rồi sau đó, khi họ rút thêm quân, họ đã nói: “Đừng lo, chúng tôi sẽ tăng cường cho ông để bù cho những sư đoàn đã rút lui”. Khi nhịp độ rút quân gia tăng, và năm 1972 họ lại nói với tôi: “Đừng lo, ông còn có những lực lượng dự bị và chúng tôi bù đắp cho việc rút quân bằng việc tăng yểm trợ không lực cho bộ binh của ông”. Sau đó, lính Mỹ rút hết và cũng không còn yểm trợ không lực. Họ lại nói với tôi: “Chúng tôi sẽ tăng cho ông thêm nhiều quân viện để bù đắp vào tất cả những cái đó. Xin đừng quên Đệ thất hạm đội Mỹ và những căn cứ không quân ở Thái Lan sẽ bảo vệ ông trong trường hợp cần thiết”.Cuối cùng, chẳng còn gì hết, người Mỹ không hỗ trợ quân sự cũng cắt tiếp viện cho Sài Gòn!Chính quyền Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cố gắng chống chọi bằng mọi giá, từ những lá thư khẩn cầu viện trợ gởi đích danh đến Tổng thống Ford, Quốc hội, Bộ Quốc phòng Mỹ, kể cả việc đem các mỏ dầu Hoa Hồng (nay là Bạch Hổ) dù mới ở giai đoạn thăm dò thấy dầu ra “thế chấp” để vay tiền.Trong lá thư đầy u buồn với nhiều lời lẽ van nài của ông Thiệu gửi cho Tổng thống Ford có những đoạn như không thể nào buồn và cam chịu hơn được nữa: “ … Chúng tôi kêu gọi lương tâm và lòng thương của nhân dân Mỹ đối với cảnh ngộ của đất nước chúng tôi, một người bạn đồng minh trung thành của nhân dân Mỹ trong suốt 20 năm sóng gió, một dân tộc đã chịu nhiều hy sinh và đau khổ to lớn trong hai thập niên để gìn giữ mảnh đất tự do này. Một dân tộc như vậy xứng đáng với lòng thông cảm và giúp đỡ. Trong giờ phút vô cùng khẩn thiết, chúng tôi mong muốn Ngài thúc giục Quốc Hội xem xét dễ dàng và cấp bách lời yêu cầu được vay “số tiền vì tự do” của chúng tôi. Đây sẽ là hành động cầu xin cuối cùng mà chúng tôi, một người bạn đồng minh, gửi đến nhân dân Mỹ”.Giữa tháng 4 cuối cùng của chính thể miền Nam, Tổng trưởngNguyễn Tiến Hưng cầm lá thư “Freedom Loan” (vay tiền cho tự do) đầy bi thảm này đi Mỹ với trạng thái u uất, không tin mình sẽ thành công. Chuyến phản lực cất cánh trên đường băng Tân Sơn Nhất trong một buổi sáng ầm ì tiếng bom đạn. Mặc dù nó không đầy hành khách, nhưng có cảm giác như nặng nề hơn bình thường với tâm trạng trĩu nặng của Tổng trưởng Hưng. Cô tiếp viên yêu cầu ông đặt chiếc cặp da lên giá hành lý trên đầu, nhưng ông ta khư khư giữ chặt trong lòng vì không muốn rời lá thư này.Về sau, cuốn Từ Tòa Bạch Ốc đến Dinh Độc Lập đã thuật lại: “ Cảm thấy lòng ngực nhức nhối và chóng mặt. Hưng có một linh cảm sắc bén đây là lần cuối cùng ông ta còn nhìn thấy được quê hương mình, và có lẽ chẳng bao giờ ông còn gặp lại mẹ và các anh chị em của mình. Ông nhìn xuống Sài Gòn qua cửa sổ máy bay một cách tuyệt vọng. Từ trên cao, Sài Gòn hiện ra thật đẹp, tràn đầy những kỷ niệm của một thời đã qua … Như hiểu được tâm trạng ông, máy bay lượn hai vòng quanh Sài Gòn … Bên dưới vẫn là dòng sông Sài Gòn với màu nước nâu sẫm như Chocolate, với hàng dừa chạy dọc hai bên bờ, nơi đó cuối tuần nào ông cũng đến câu cá, bắt tôm. Xa xa, Dinh Độc Lập rực sáng và những nỗi đau khổ trong ba tháng qua lại ập đến với ông”.Và Tổng trưởng Hưng đã dự cảm đúng. Kế hoạch “Freedom Loan”, chiếc phao cứu sinh cuối cùng của Sài Gòn, hoàn toàn đổ vỡ. Từ khẩn cầu vay 3 tỷ USD ban đầu, rút xuống còn 722 triệu có hoàn trả, nhưng Quốc hội Mỹ vẫn lạnh lùng lắc đầu. Niềm hy vọng mong manh cuối cùng đặt ở nỗ lực của Chính phủ Mỹ đã bị Henry Kissingger dội gáo nước lạnh: “Việc bàn luận về Việt Nam đã chấm dứt. Chính phủ sẽ chấp nhận lời pháp quyết của Quốc hội mà không phản bác lại”.“Chiều ngày 20/4, Đại sứ Martin đến thăm Tổng thống Thiệu để hỏi về tình hình và gợi ý ngọt ngào: “Tôi tin rằng một vài ngày nữa, các tướng lãnh của ông sẽ đến đề nghị ông từ chức”. “Nếu tôi từ chức thì sẽ có viện trợ quân sự không”, ông Thiệu hỏi. Martin trả lời: “Tôi không thể hứa với ông nhưng có thể vậy”. Trước khi Martin về, ông Thiệu nói rằng mình sẽ làm những điều tốt nhất cho đất nước”. Cuốn sách của Nguyễn Tiến Hưng nhắc lại những ngày cuối sầu thảm trên chiếc ghế Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa của ông Thiệu.Suốt từ khởi đầu vào thập niên thứ hai của thế kỷ 20, Tân Sơn Nhất đã là chứng nhân của bao biến động thời cuộc. Từ giai đoạn phát triển của miền đất phía Nam trù phú, đến cuộc Thế chiến thứ hai tàn khốc, người Nhật kéo sang, quân Pháp tái xâm lược rồi cũng đến ngày phải rút lui hoàn toàn, quốc gia hình chữ S bị chia đôi bởi vĩ tuyến 17 và nền Đệ nhất, Đệ nhị Cộng hòa mong manh như ngọn đèn dầu trong chiến cuộc kéo dài suốt 20 năm. Đến tận cuối tháng 4/1975, phi trường Sài Gòn này lại trở thành chứng nhân một sự kiện lịch sử thầm lặng nói lên gió đã xoay chiều báo hiệu những trận cuồng phong dữ dội sắp ập đến.Trước áp lực chiến sự dồn dập đẩy chính quyền Sài Gòn vào thế bí, ngày 21/4/1975, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu phải ngậm ngùi từ chức, nhường vị trí lãnh đạo lại cho Phó Tổng thống Trần Văn Hương, với hy vọng mong manh sự đổi thay chính trị có thể thay đổi thế cờ quân sự đang sắp đến hồi “chiếu tướng” miền Nam. “Về vườn” nhưng vị cựu Tổng thống nắm quyền dài nhất ở miền Nam cũng không thể ở lại quê hương của mình. Lực lượng cách mạng buộc phải “loại biên” vĩnh viễn ông Thiệu, chính quyền tân Tổng thống Trần Văn Hương cũng cho rằng không thể làm được gì nếu vị cựu Tổng thống sắt đá chống cộng và đầy bản lĩnh chính trường còn hiện diện ở Sài Gòn.Ông Thiệu buộc phải ra đi!Phi trường Tân Sơn Nhất là chứng nhân cuộc ra đi thầm lặng, buồn thảm này. Đêm 25/4/1975, một chiếc DC6 thuộc quyền sử dụng của Đại sứ quán Mỹ bay từ Bangkok sang Tân Sơn Nhất để đón một vị khách đặc biệt.Cùng lúc đó, tư dinh Thủ tướng Trần Thiện Khiêm, trong Bộ Tổng Tham Mưu, âm thầm diễn ra buổi chia tay một vị cựu Tổng thống như không thể nào sơ sài, giản đơn hơn được nữa. Không có hoa, rượu, cũng chẳng có lời diễn văn tiễn biệt hoa mỹ nào, ông Thiệu lặng lẽ lên một trong ba chiếc công xa màu đen của Đại sứ quán Mỹ lầm lũi chạy thẳng vào phi trường.Ngồi băng ghế sau, vị Tổng thống mà lúc này đã là cựu của Chính quyền miền Nam Việt Nam lọt thỏm giữa hai người Mỹ to lớn là tướng Timmes và đặc trách tình báo Polgar. Hộ tống ông Thiệu cũng bằng vài lính thủy quân lục chiến Mỹ, chứ không hề có một người lính Việt nào trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa mà ông từng nhiều năm là tư lệnh tối cao của họ.Đoàn xe chạy qua Đài tưởng niệm chiến sĩ trận vong với dòng chữ “Những hy sinh cao quý của chiến sĩ đồng minh sẽ không bao giờ bị quên lãng”. Ông Thiệu thở dài giữa hai người Mỹ ngồi cùng băng ghế tiễn đưa một cựu Tổng thống mà chẳng khác gì như áp tải. Xe cũng không dừng lại ở bãi đậu máy bay của Air Việt Nam, mà sang bãi riêng biệt của Air America với lính thủy quân lục chiến lăm lăm M16 canh gác.Ở đó, Đại sứ Mỹ Graham Martin đã đợi sẵn với cái bắt tay xã giao cùng câu chào ngắn gọn. Ông Thiệu trông có vẻ rất buồn và nhẫn nhịn, nhưng vẫn giữ cố tư cách trang trọng của một Tổng thống, để nói lời cảm ơn Martin đã tổ chức chuyến ra đi đặc biệt này. Đại sứ Mỹ đáp lời: “Đây là điều nhỏ nhặt nhất tôi có thể làm. Chào ông và chúc ông may mắn”.Ít phút sau, chiếc DC6 cất cánh rời khỏi Sài Gòn rực ánh hỏa châu báo hiệu chiến sự đang đến rất gần và thời điểm Đô thành thất thủ chỉ còn tính bằng ngày. Ông Thiệu ngậm ngùi dõi mắt qua ô cửa sổ máy bay, nhìn Sài Gòn bỏ lại sau lưng. Bàn cờ chính trị - chiến cuộc trên mảnh đất đẫm máu lửa, thương đau đã tàn và ông ta hiểu đây là lần cuối cùng mình được nhìn thấy quê hương!Người dân, kể cả nhiều chính khách lớn nhỏ của miền Nam, cũng không hề biết một cựu Tổng thống của nền Đệ nhị Cộng Hòa đã rời khỏi đất nước và không hề mang theo một thỏi vàng nào trong 16 tấn vàng ngân khố như lời đồn thổi đầy ác ý. Nhưng chiến tranh vẫn không hề được tạm dừng hay một chính phủ liên hiệp nào đó ra đời như một số người hy vọng. Biệt khu Sài Gòn vẫn đang bị thít chặt lại với tốc độ nhanh đến nỗi không ai ở bên trong đó có thể ngờ nổi.Ngày 29 - 4 -1975, một đại diện không chính thức của Chính phủ Mỹ đã tìm gặp ông Thiệu khi ấy vẫn còn đang ở Đài Loan, để chuyển lời rằng ông không nên đến Mỹ vào lúc này, nhân dân phản chiến Mỹ không chào đón ông. Ông Thiệu nhún vai, trả lời một cách ngậm ngùi: “Làm kẻ thù của Mỹ thì rất dễ, nhưng làm bạn rất khó” …Đặc biệt, khi vị tổng thống lưu vong cay đắng thốt lên những lời này, thì ở quê hương Sài Gòn, tướng "độc nhãn" Hoàng Anh Tuấn - Trưởng phái đoàn quân sự Chính phủ CMLTMNVN đang ở trại Davis, phi trường Tân Sơn Nhất, đã lệnh cho cấp dưới chuẩn bị một lá cờ cách mạng thật lớn. Đúng 9 giờ sáng ngày 30 - 4 - 1975, lá cờ hai màu xanh đỏ ấy đã được treo lên tháp nước ở trại Davis trước khi quốc kỳ ba sọc Việt Nam Cộng Hòa bị hạ xuống ở Dinh Độc Lập.“50 năm trước, Mỹ đã quay lưng với đồng minh ngay thời khắc sinh tử nhất.”---------------(Trích sách 100 năm Phi trường Tân Sơn Nhất - tác giả Quốc Việt) Trong Nỗi Khốn Cùng Của Người Lính Việt Nam Cộng Hòa
Nguyễn Thế Thăng
---oo0oo---
Sau đây là câu chuyện điển hình về Nỗi Thống Khổ Bi Hùng mà Người Lính Cộng Hòa hằng gánh chịu sau ngày mất nước với lòng can đảm bền bỉ tuyệt đối của người luôn vững tin về Lý Chính Nghĩa của Quân/Dân Miền Nam cũng như của toàn Dân Tộc Việt Nam.
Suốt cuộc đời tôi trên mảnh đất quê hương bất hạnh, có lẽ mùa Ðông 1975 là một cái Ðông lạnh lẽo nhất. Không biết có phải vì miền Nam Việt Nam vừa trải qua một cuộc đổi đời khủng khiếp, hay vì lúc ấy tôi đang bị cùm tại Trại A9/Long Thành, Biên Hòa (Ngã Ba Thái Lan) trong một dãy nhà tôn vách gỗ mà không hề có lấy một tấm mền mỏng che thân! Ban ngày ngủ, ban đêm phải thức trắng ngồi xoa bóp liên tục khắp cả người cho ấm. Ôi đêm dài vô tận trong cái lạnh thấu xương cộng thêm vết thương trên người còn tươi máu.
Chính từ chuỗi ngày đêm nơi tầng cuối địa ngục này lại trở thành một phước duyên cho tôi tập tễnh bước vào Thiền để sống sót và tồn tại đến ngày nay.
Trước và sau ngày 30/4/75 tôi đã không hề có ý định chạy ra nước ngoài. Khoảng đầu tháng 6/75, tôi lên Trà Cổ (Hố Nai, Biên Hòa) rồi từ đó vào rừng gia nhập Liên Ðoàn 5 của Ðại Úy Lê Ðình Thạch (trước đây thuộc Sư Ðoàn 5/BB) gồm một số Biệt Kích Dù, Biệt Ðộng, Cảnh Sát, Ðịa Phương Quân…
Chúng tôi sống trong các mật khu cũ của Việt cộng vùng Sông Buông, Sông Mây (đầu Chiến Khu D). Việt cộng tràn ra thành phố, bỏ ngỏ mật khu của họ lại với đầy đủ chòi, lán, vọng gác trên cây, bếp với nồi niêu xoong chảo, nương khoai, vườn rau và một số rất lớn lựu đạn chày chỉ còn được dùng để đánh cá vì hệ thống kích hỏa bị hư đến hơn 60%. Chúng tôi thường tấn công những kho gạo Tân Bình, Tân Bắc, Trà Cổ… Trước khi vác gạo về mật khu, chúng tôi dọn sạch kho đem bỏ từng bao trước cửa mỗi nhà dân. Dân địa phương và gia đình cũng tiếp tế cho chúng tôi rất nhiều thực phẩm khác. Vũ khí cũ như M16, M79 dần dần hết đạn, chúng tôi phải đánh Việt cộng để lấy AK, B40…
Ðến khoảng tháng 9/75, lực lượng chúng tôi đã có khoảng 80 người. Biết không thể chống cự nổi bọn cộng sản đang say men chiến thắng, chúng tôi dự trù sẽ đi đường bộ băng ngang Kampuchia đến vùng biên giới Kampuchia -Thái Lan để dưỡng quân rồi tùy cơ ứng biến. Trong vùng còn có một toán thuộc Liên Ðoàn Biệt Cách 81 (trước 30/4/75) hoạt động độc lập dưới sự chỉ huy của một người tên Wòng A Cẩu. Chúng tôi cũng đang liên lạc để sát nhập với một lực lượng khác do Thiếu Tá Tam (Thiếu Tá Nguyễn Phước Trường) chỉ huy. Có một linh mục tham gia tên Trần Học Hiệu (LM Hiệu sau này đã bị giết chết trong tù). Khoảng tháng 10/75, VC đưa hai trung đoàn có bốn chiến xa yểm trợ tấn công đơn vị chúng tôi và đơn vị của Thiếu Tá Tam. Chúng tôi trải quân ra thật rộng với từng tổ tam tam chế, đóng chốt trên tất cả những yếu điểm, kể cả những chòi trên ngọn cây, bình tĩnh sử dụng thật tiết kiệm từng viên đạn một. Chiến đấu trong hơn bốn ngày đêm, chúng tôi đã mất hơn nửa quân số.
Sau khi Anh Thạch hy sinh, chúng tôi phải xé lẻ tan hàng. Ba người theo tôi đi về Phước Long. Ðến 10g sáng (?),chúng tôi lọt ổ phục kích gần Xã Vĩnh Cửu (?),một trung đội cộng sản nằm dài theo bụi tre cách khoảng mười lăm, hai mươi thước bắn xối xả vào chúng tôi đang di chuyển giữa đồng trống, quần áo tôi bị thủng nhiều lỗ, một viên AK xuyên qua đầu gối (đang ở thế ngồi chồm hổm để bắn lại) làm tôi ngã vật ra sau nhưng vẫn tiếp tục bắn đồng thời ra lệnh ba thuộc cấp thoát thân. Chuẩn Úy Nguyễn Thạch Ðiệp nhất định liều chết để lôi tôi đi… Tôi hét lên, Ðiệp vẫn không buông tôi ra, tôi phải chĩa súng vào người Ðiệp gằn giọng nếu không chạy đi, "tôi phải bắn chú", Ðiệp rớm nước mắt “dạ” rồi vọt liền, cùng lúc với đợt xung phong xáp lá cà của địch, một tên dùng nguyên khẩu súng với trái đạn B40 đập lên đầu tôi, tôi né qua một bên, bị trúng vào gáy rồi ngất đi. Hình như một tên chỉa AK vào đầu tôi định bóp cò, một tên khác la lên… “Ðừng bắn, thằng này cấp cao, tài liệu sống, đem nó về”. Lúc tỉnh dậy thấy mình đang nằm trên võng vải nylon, máu me ướt sũng lưng, bọn VC thay nhau khiêng tôi đi. Ngang qua một số dân địa phương đang làm rẫy, tôi thoáng nghe vài tiếng kêu… Giê-Su Ma!!.
Toán cộng sản đưa tôi về huyện Thống Nhất, tỉnh Ðồng Nai (Biên Hòa), nhốt tôi trong một căn nhà không có nóc (bị pháo kích sập, chỉ còn bốn bức tường với các cửa đóng kín bằng những tấm ván lớn chéo nhau). Tôi được đặt trên một bao tải cũ, gối đầu trên một cục gạch thẻ, trên người chỉ còn một quần lót dính đầy máu đã khô, đầu gối được bó lại bằng chính cái áo trận của tôi.
Ðêm đó trời mưa như trút, cả người tôi ướt như chuột nằm chịu trận suốt mấy giờ. Vết thương đau nhức khủng khiếp, máu vẫn tiếp tục loang loang theo nước mưa. Sau cùng vì quá lạnh, sức đã kiệt, tôi lên tiếng kêu gọi bộ đội xin chuyển tôi đi nơi khác, không nghe tiếng trả lời, tôi ráng lết vào sát chân tường để núp. Nếu lúc đó cửa có mở tôi cũng không thể trốn đi vì đầu gối chân phải đã bị bắn xuyên từ bên này sang bên kia, xương bánh chè bị vỡ nát. Bị bắt tại trận với vũ khí trên tay thế này chắc chắn 100% là chết, nếu lỡ sau này có sống sót, có lành cũng thành phế nhân, tôi đành quyết định chọn con đường tự sát. Ráng đập đầu vào tường nhưng sức không còn. Thử cắn lưỡi thì thú thật đau quá, không đủ can đảm. Có lẽ phải nhờ Việt cộng giết giùm thôi. Tôi bắt đầu la lên chửi rủa cộng sản, chửi đích danh Hồ chí Minh khan cả tiếng. Tôi tiếp tục chửi tất cả những tên đầu não cộng sản lúc bấy giờ mà tôi nhớ được như… Lê Duẫn, Trường Chinh, Phạm văn Ðồng, Phạm Hùng, Lê đức Thọ… Rồi không biết ngất đi từ lúc nào. Khi tỉnh dậy toàn thân tê tái, tê như đóng băng, đầu vẫn gối trên cục gạch, thân vẫn nằm trên cái bao tải ướt sũng, trên người gần như trần truồng được đắp lại bằng…. một tấm tôn! Ngoài kia gió vẫn rít gào, trời vẫn vô tình mưa rả rích, nước mưa vẫn gõ nhịp đều đặn trên tấm tôn lạnh lùng…
Sáng hôm sau Việt cộng triệu tập một cuộc mít tinh dân chúng huyện Thống Nhất để triển lãm mục đích răn đe với khoảng hơn bốn mươi xác những “tên ác ôn đã đền tội”. Mười một người bị bắt (tất cả đều bị thương), số còn lại trốn thoát. Chúng khiêng tôi ra đặt nằm phía sau một chiếc xe Jeep mui trần cho bà con xem. Rất nhiều tiếng đả đảo từ những tay cò mồi. Không ít những giọt nước mắt nghẹn ngào. Vẫn vỏn vẹn một chiếc quần lót đẫm máu, tôi ngồi thẳng người, bình tĩnh nhếch mép cười khi nghe những tiếng hô đòi tử hình kẻ “tội phạm”. Lúc đó đối với tôi hai tiếng “tử hình” nghe không còn ghê rợn nữa mà thật bình thường vì đó chính là điều tôi mong đợi và chấp nhận như một sòng phẳng tất nhiên.
Một cô trung niên, mặt khá xinh, người nhỏ nhắn, có vẻ rất hung hăng, vừa xô đẩy những bộ đội giữ trật tự, vừa hô to: Ðả đảo những tên “xâm lăng” (?) khốn nạn, hòa bình không muốn chỉ muốn chiến tranh, những tên mặt người dạ thú, giả nhân giả nghĩa, giết hại dân lành… Hãy để cho tôi nhổ vào mặt nó, đập vào mặt nó, tôi mới hả dạ!”. Tôi nghĩ mụ này là “Việt cộng cái” giả dạng thôi, lòng tôi thanh thản đến lạ lùng. Hãy để chúng trổ tài bịp bợm. Tôi chỉ muốn thoát ra khỏi cõi đời ô trọc bằng bất cứ giá nào, bằng bất cứ cách nào, dù xấu nhất. Tôi mỉm cười nhìn thẳng vào mắt mụ khi mụ vung nắm đấm. Mụ không nhổ vào mặt tôi. Mụ cũng không đập vào mặt tôi. Mụ luồn tay vào bụng tôi làm như đấm tôi vậy, miệng vẫn tiếp tục chửi rủa. Tôi cảm thấy cái gì đó nằng nặng trên bụng, liếc nhanh, thì ra đó là một quả quít nhỏ, tôi vội lấy tay che lại, nụ cười thành trơ trẽn biến mất, nhường chỗ cho sự ngạc nhiên đầy lý thú và cảm thông rất nhanh. Ðôi mắt diễn viên trong một thoáng lạc đi rồi trở lại ngay với vở kịch còn dang dở! Cô ấy trạc tuổi tôi hoặc nhỏ hơn chút ít. Ðến bây giờ, tôi vẫn hằng ước mong có được một dịp tái ngộ người ân nhân tuyệt vời này – Không phải vì đơn thuần quả quít mà vì giá trị khích lệ trong một hoàn cảnh quá hy hữu.
Những ngày và đêm tiếp theo là thủ tục hỏi cung. Bộ đội chánh quy từ miền Bắc tương đối nhẹ tay, một vài người nói và làm như miễn cưỡng, một người đã lén pha cho tôi một ly sữa sau lần tôi bị ngất đi vài giờ, nhưng những tay “giải phóng – Cộng sản người miền Nam” thì thật tàn bạo… Chính nơi đây tôi đã được nhìn thấy thế giới bên kia sau những lần chết đi, có lần kéo dài đến sáu, bảy tiếng… Tôi đã nhẹ nhàng thanh thoát, lướt bay trên những cánh đồng đầy hoa, không một chút bụi. Không cảm giác áo quần mặc trên mình dù rằng quần áo rất đẹp, không tơ lụa nào sánh bằng, hình như kết bằng mây ngũ sắc. Cả không gian thật tươi mát, thật sạch như vừa trải qua một cơn mưa nhẹ. Bầu trời không một áng mây, không có mặt trời nhưng lại rất sáng và trong suốt như pha lê. Tôi đã nhớ lại từng chi tiết nhỏ cả quãng đời đã qua từ khi nhập thế. Những điểm tốt cùng với bao nhiêu điều xấu. Vui vẻ, hài lòng, thảnh thơi trước những việc thiện. Hối hận, ăn năn, dằn vặt, đau khổ trước những điều bất thiện. Có lẽ đó là “Tòa Phán Xét” theo giáo lý đạo Thiên Chúa.
Có thể đó chính là Niết Bàn và Ðịa Ngục theo Phật Giáo chăng? Tôi đã nghe và hiểu những con chim đang hót những lời tán tỉnh. Tôi đã thấy những con cá giành ăn và nghe chúng cãi nhau. Chính nhờ vậy tôi lại càng không sợ chết nữa, trái lại còn mong muốn được ra đi thật sớm. Tôi như tỉnh ngộ và nhận rõ rằng cái xác này tuyệt nhiên không phải là tôi. Nó chỉ là một phương tiện, một địa chỉ tạm trú của một trong vô lượng vô số kiếp mà thôi. Quá đủ rồi. Tôi đã thoát ra và ngắm nhìn cái xác này bất động. Mấy lần đầu, tôi nghĩ đó chỉ là những giấc mơ.
Sau vài lần lập đi lập lại thành xác tín, thành khẳng định những gì bên kia cửa tử, tôi khẩn khoản một cách chân tình, một cách rất bình thản: Các anh thấy tôi đã chết nhiều lần, tôi đã được qua thế giới bên kia, đẹp lắm, bình yên lắm, tôi thề sẽ không bao giờ oán hận các anh, tôi hứa sẽ mang ơn nếu các anh cho tôi một viên đạn vào đầu để tôi được đi luôn, không phải trở lại cõi đời này. Thật bất ngờ, kể từ hôm đó, họ không hề đụng chạm đến tôi nữa. Một lần, một tay cán bộ bắt tôi nhận diện những đồng ngũ đã hy sinh qua những tấm hình chụp trắng đen. Anh Thạch nằm chết bên cạnh khẩu M60 không còn một viên đạn. Mắt anh một nhắm, một mở. Miệng anh như mỉm cười. Tôi lặng người, nước mắt lưng tròng. Tay cán bộ giả vờ nhìn đi chỗ khác. Tôi cố tình tìm nhưng không nhìn thấy xác Chuẩn Úy Vũ Thế Cường, là anh họ của tôi (anh ruột mẹ tôi là Vũ Thế Nghiệp tức nhà báo Thần Phong hai năm sau đó bị xử bắn tại Thủ Ðức). Vĩnh biệt các anh và hẹn ngày gặp lại, tôi khẽ thì thầm.
Quay trở về mùa Ðông 1975 tại Trại A9 Long Thành. Trại nằm ngay tại Ngã Ba Thái Lan gồm nhiều dãy nhà tôn vách ván nơi đang tập trung học tập các cựu viên chức hành chánh VNCH. Chúng tôi khoảng năm mươi người gồm nhiều thành phần bị nhốt trong dãy nhà ngang cuối cùng có hàng rào kẽm gai quây kín. Tất cả tù nhân bị cùm hai chân, xiềng một tay vào ban đêm, ban ngày chỉ xiềng một tay vào một chân. Cùng trại có một người lớn tuổi tên là Phan Xuân Hạ, bị bắt vì nghi ngờ là sĩ quan cao cấp VNCH đang trốn tránh. Cụ rất hiên ngang, dõng dạc. Nghe cái tên quen quen, tôi hỏi cụ có liên hệ gì với với một người bạn cùng khóa là Phan Xuân Mai không. Cụ chỉ mỉm cười: Con cháu trong nhà thôi. Bà Minh Ðăng (Không biết tên thật, chủ đại bài gạo Minh Ðăng, Biên Hòa) người phụ nữ duy nhất bị bắt vì tiếp tế nguyên một xe gạo vào rừng, đã dùng sợi dây xích làm xâu chuỗi, không biết bà đã đọc bao nhiêu kinh mà sợi xích sáng bóng như thép ròng vậy. Nguyễn Văn Chi, người bị đánh hội đồng nhiều nhất trong suốt hơn hai tháng vì bị nghi ngờ là Thiếu Úy Trần Văn Chi (Th/Úy Chi bị một viên đạn xuyên qua vai phải, trốn thoát, hiện đang ở San Jose - California), Ngô Ðình Chiến bị bắn xuyên qua bả vai trái, tay trái bị liệt. Nguyễn Văn Cân bị ghẻ toàn thân chỉ trừ hai con mắt, Nguyễn Y, người Bình Ðịnh (trông giống hệt hình Quang Trung Ðại Ðế), Trịnh Văn Thương bị bắn xuyên qua đùi, Phạm Văn Thận với chiếc jacket với hàng chục lỗ đạn….
Cũng trong trại này có một người lính cũ của tôi, Ðào Văn Lành, không biết bị bắt bao giờ và về tội gì. Anh được làm trong nhà bếp, phụ giúp nấu cơm cho trại. Một lần đem cơm cho tù nhân, anh nhận ra tôi nhưng không dám nói, chỉ ra hiệu. Tôi thì vẫn… muôn đời Lục Quân Việt Nam, cứ bô lô ba la, cứ vui trước đã, đằng nào cũng chết, vui ngay cả với tử thần như một thân hữu đang đợi trông. Cơm ngày hai bữa trưa và chiều, mỗi người được hơn một chén cơm với “thịt cọp”. Thịt cọp có nghĩa là muối hột, khi nhai kêu cọp cọp.
Tôi chỉ ăn một nửa muối, phần còn lại dùng pha nước để tự rửa vết thương. Thỉnh thoảng được một chút canh nấu bằng lá cải già hay bí rợ với muối. Một hôm Lành lén trao cho tôi một lon sữa bò trong đó có phân nửa chất nước đen đen, quẹo quẹo mà Lành nói là nước cá kho. Chao ơi, nó ngon làm sao. Mỗi bữa ăn, tôi chỉ dám chan một muỗng cà phê trên chén cơm hẩm mà tưởng như đang thưởng thức món cá cao lâu ngày nào. Khoảng hơn mười ngày sau, khi vắng bóng người, Lành hỏi nhỏ: Nước cá kho tôi cho ông có ngon không? Cám ơn Lành, đang thiếu thốn mà được như thế không gì so sánh bằng. Lành thật thà: Ông biết không, tụi nó kêu tôi rửa cá khô, nguyên cả ký lô cá khô tôi rửa bằng một tô nước thôi, nước đó tôi cô lại còn nửa lon cho ông xài đỡ. Ráng sống, ráng nhịn cho qua nghe ông!
Rồi cũng qua một mùa Ðông, một mùa Ðông tang thương, thê lương trên khắp nẻo đường đất nước. Cả miền Nam biến thành một trại tù khổng lồ. Bốn tháng sau tôi bị chuyển về giam tại xã Ngãi Giao, quận Ðức Thạnh (Phước Tuy/Bà Rịa). Chỉ cùm hai chân ban đêm nhưng ban ngày vẫn phải đeo xiềng vô một chân để đi lao động (mục đích giữ tù không chạy trốn). Từng đoàn tù với xiềng xích kêu loảng xoảng trên đoạn đường gần làng Bình Giả, tôi lẩm bẩm hát bài Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ (Nguyễn Ðức Quang) thật thấm thía: “…Ta khua xích kêu vang dậy trước mặt mọi người, nụ cười muôn đời là một nụ cười không tươi. Nụ cười xa vời, nụ cười của lòng hờn sôi. Bước tiến ta tràn tới tung xiềng vào mặt nhân gian!”. Trung Úy Nguyễn Văn Tài lúc nào cũng chỉ một câu vọng cổ trong Chuyện tình Lan và Ðiệp: Em tên là Nguyễn Thị Lan(g), xác còn nằm đó mà hồn tan(g) lâu rồi!! Ở đây tuy ấm hơn nhưng rất khó ngủ vì hàng sư đoàn rệp tấn công suốt đêm.
Cũng tại nơi này, hai thằng em tôi là Ðồng Quang Nhường và Nguyễn Văn Hiển bị đánh chết. Hai em trốn trại bị bắt lại. Chúng trói hai tay hai chân rồi treo lên xà nhà như đang khiêng hai con heo. Ðích thân thằng trại trưởng dùng búa gỗ (một khúc cây tròn đường kính cỡ 15cm, dài khoảng 30-40cm, đục một lỗ ở giữa tra cán vào, cán dài khoảng 1m, dùng để đập tôn cho bằng). Nó vung thẳng cánh, đập một nhát vào đầu Ðồng Quang Nhường nghe bộp như đập một quả dừa. Nguyễn Văn Hiển ngoái đầu qua nhìn, thuận tay nó vớt một búa ngay quai hàm của Hiển, quai hàm trẹo lặt qua một bên, máu vọt ra có vòi. Tôi nhắm mắt lại kêu Trời!! Cố bịt miệng để khỏi la thành tiếng. Cả hai xác Nhường và Hiển co giật vài lần rồi buông thõng. Vài phút sau, chúng cắt giây thả hai xác xuống. Tôi và ba người nữa tình nguyện đi chôn. Cả hai xác còn nóng hổi được đặt nằm trên tấm gỗ dài cỡ 1 thước 8, rộng 25 phân, hai cánh tay đong đưa theo nhịp bước, nhất là theo cái cà thọt khấp khểnh chân què của tôi. Hiển máu vẫn còn chảy toong toong trên đường. Cái đầu của Nhường ọp ẹp như quả cà chua úng, hai mắt lồi lên, mặt sưng tím bầm. Ðất tổ ong mà dụng cụ đào chỉ là mấy cái cuốc xẻng cũ sứt sẹo. Trung Úy Tài nhỏ con nhất nhưng là người khỏe nhất, hăng hái nhất… Mấy ông ráng đào sâu sâu cho hai đứa nó. Cố gắng mãi đến tận mặt trời lặn cũng chỉ đào xuống được khoảng bảy tấc!! Cả hai xác đều bị chôn nguyên trạng, không áo quan, không poncho hay chiếu bó lại. Tôi ráng gom vài mảnh báo cũ phủ mặt cho hai em. Xếp vài cục đá xung quanh đầu rồi lấp đất nhè nhẹ như sợ hai đứa đau.
Ðêm đó tôi không tài nào ngủ được. Khoảng nửa khuya, dưới ánh đèn heo hắt, tôi nhìn thấy thật rõ ràng: Nguyễn Văn Hiển đang đứng bên cửa sổ phòng giam, không nói gì, đôi mắt thật buồn nhìn về xa xăm. Tôi nói thầm: Hiển ơi, thôi em hãy đi đi, đừng luyến tiếc gì cõi đời giả tạm này, nghiệp báo em đã trả xong, đừng oán ghét, đừng hận thù, hãy để cho lòng thanh thản mà siêu thoát… Tôi cứ nói như thế, lặp đi lặp lại, dỗ dành, van lơn, lâu lắm, bóng Hiển tan dần rồi biến mất. Hình như có tiếng người trở mình bên cạnh. Tôi xoay qua: Trong bóng tối mờ mờ, tôi nhận ra Ðồng Quang Nhường, hai anh em như đang nằm trên một toa xe lửa, dưới lưng cái gì bầy hầy như phân trâu bò. Tôi hỏi nhỏ: Chúng nó đưa anh em mình đi đâu đây? Chúng nó sẽ đưa anh ra Bắc nhưng anh đừng lo (Nhường lúc nào cũng lạc quan) mọi việc sẽ rất tốt đẹp, rồi anh sẽ vinh quang nơi xứ người. Tôi cười khẩy: Mẹ kiếp, miền Bắc chính là xứ người, không phải xứ của anh em mình, nhưng cái thân tàn tật tù tội trên đất cáo Hồ thì vinh với quang cái khỉ khô gì. Nhường cười. Hai anh em cùng cười với nhau. Tôi bừng tỉnh. Chơ vơ. Thì ra đó chỉ là một ác mộng.
Mấy tháng sau tôi nhận được lệnh: Tha thụ hình, cho phép đi cải tạo. Tôi bị chuyển qua Trại Lê Lợi. Nơi đây tuy không bị còn bị cùm hay xiềng nhưng ở trong khu cách ly. Bên kia hàng rào nhìn thấy Ngô Bá Lai, Nguyễn Hữu Tạo và một số rất đông bạn bè khác, nhận ra nhau trong ánh mắt thật ngỡ ngàng, tủi nhục, chua xót, đắng cay. Ngô Bá Lai nháy mắt bảo tôi ra nhà vệ sinh, hai đứa trật quần ra ngồi bên nhau trao đổi tin tức. Lai ân cần hỏi tôi thiếu thốn gì không. Một tháng sau chuyển qua trại Long Giao. Tôi vào trại với hai cổ tay và cánh tay bị trói chặt ra sau lưng bằng dây điện thoại, hai chân trần với vỏn vẹn một bộ đồ trên người và một túi vải nhỏ đeo trước ngực. Phạm Văn Bông nhận tôi về tổ, trong cùng tổ có Trần Ngọc Hoàn; cùng đội, cùng trại có Nguyễn Quyết Thắng, Nguyễn Nhự, Chung Gia Phong, Bùi Ðức Hùng, Nguyễn Thành An, Ðặng Kim Cương, Trương Hội, Phạm Ðức Thịnh… Trại bên có Nguyễn Ðức Phương. Bạn bè chia sẻ cho tôi thật nhiều đồ dùng và thực phẩm. Phạm Tuế tặng tôi một chiếc quần treillis còn khá mới.
Ngày 23/5/1977, chuyển ra miền Bắc trên chuyến tàu Sông Hương. Nằm trong toa xe lửa trên đoạn đường từ Hải Phòng lên bến phà Sông Hồng với toàn phân trâu phân bò, tôi cứ mãi miên man nghĩ về từng chiến hữu trong chiến khu, nghĩ thương hai thằng em bị thảm sát trong tù, về thân phận mình, về dân tộc và quê hương cơn quốc nạn. Ðôi mắt cay cay chiều xót xa...
TẠI SAO CỘNG SẢN VIỆT NAM THỪA NHẬN SỰ THAM CHIẾN CỦA 310 NGHÌN BINH SĨ TRUNG CỘNG TRONG CUỘC CHIẾN VIỆT NAM?-------///-------Đặng Đình MạnhBài viết đăng tải trên Người ViệtSau 50 năm, kể từ khi cuộc chiến huynh đệ tương tàn tại miền Nam kéo dài gần hai thập kỷ kết thúc cho đến nay, truyền thông của nhà cầm quyền Cộng Sản trong nước đã công khai cho biết có đến 310 nghìn quân Trung Cộng đã từng được Hà Nội đưa vào lãnh thổ Việt Nam để tham chiến tại miền Nam.Tuy thông tin này không mới, vì một vài chính khách, hoặc học giả phương tây đã từng đưa tin này từ khá lâu, nhưng khi ấy, do thông tin được đưa từ một phía, nên vẫn còn gây nhiều nghi hoặc cho công chúng. Thế nhưng, khi lần này thông tin được thừa nhận chính thức từ truyền thông trong nước thì đây là lần đầu tiên.Chúng đã giúp tái khẳng định một điều mà công chúng vốn đã nghi ngờ từ lâu về sự tham chiến trực tiếp của binh sĩ Trung Cộng, bên cạnh những sự trợ giúp về khí tài, phương tiện, tài chính, kỹ thuật và cố vấn quân sự từ một số quốc gia Cộng Sản như Liên Xô (cũ), Bắc Hàn, Trung Cộng…Nghi vấn được đặt ra rằng tại sao sự việc đã được nhà cầm quyền Cộng Sản giấu diếm ngần ấy năm (hơn 50 năm), thì bây giờ lại sẵn sàng tự nhiên bạch hóa thông tin về chúng? Mặc cho việc bạch hóa thông tin này đã có thể bóc mẽ sự giả dối của chế độ về động cơ thúc đẩy cuộc cưỡng chiếm miền Nam dưới danh nghĩa “Đánh đuổi quân Mỹ xâm lược”.Vì lẽ, với sự hiện diện, tham chiến trực tiếp của binh sĩ Trung Cộng trên lãnh thổ miền Nam Việt Nam thì về bản chất pháp lý, chúng không có gì khác biệt đối với sự hiện diện, tham chiến của binh sĩ Hoa Kỳ cả. Cho nên, nếu nói quân Mỹ xâm lược thì cùng lúc đó, nói quân Trung Cộng xâm lược cũng chẳng có gì là sai.Theo đó, khi thừa nhận công khai việc đưa hơn 310 nghìn binh sĩ Trung Cộng vào lãnh thổ Việt Nam tham chiến vào các năm 1965-1968, trong đó, trả giá bằng số thương vong lên đến gần 2.500 người. Xem ra, chế độ Hà Nội đang kể lể cho công chúng nghe về công trạng to lớn của Trung Cộng góp phần trong chiến thắng ngày 30 Tháng Tư 1975. Nhờ thế, giúp chế độ Cộng Sản nắm giữ độc quyền quyền lực chính trị trên toàn lãnh thổ Việt Nam trong suốt 50 năm qua.Qua đó, đã gởi những tín hiệu rất đáng lo ngại cho đất nước trong những ngày sắp đến.Một mặt, để chế độ Hà Nội thuyết phục người dân về tính chính đáng khi mời binh sĩ Trung Cộng vào lãnh thổ để tham gia diễn binh trong ngày kỷ niệm “chiến thắng” của chế độ.Mặt khác, chuẩn bị tâm lý cho người dân để chấp nhận sự hà hiếp, lấn lướt của Trung Cộng trong mọi vấn đề, bao gồm cả vấn đề lãnh thổ, hải đảo trong tương lai như một cách để trả ơn.Chưa kể đến việc tạo sự quen mắt cho công chúng khi trong tương lai, quân đội Trung Cộng có thể sẽ đổ bộ vào Việt Nam dưới danh nghĩa bảo vệ cho chế độ Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam “anh em” khi bị đe dọa về khả năng mất chính quyền.Như để “thẩm định” điều này, ngày 24 Tháng Tư 2025, trong khi Trung Cộng gởi gần 120 binh sĩ qua Việt Nam để tập dượt, chuẩn bị cho buổi diễn binh tại Sài Gòn, thì mặt khác, truyền thông chính thức của Trung Cộng là Tân Hoa Xã cũng đã công khai thông tin về việc binh sĩ Trung Cộng đổ bộ lên bãi đá Hoài Ân, thuộc cụm đảo Thị Tứ, Trường Sa mà Việt Nam đã tuyên bố chủ quyền.Kèm theo tin, báo Trung Cộng đăng ảnh 4 binh sĩ thuộc lực lượng hải cảnh Trung Cộng đang căng quốc kỳ trên bãi đá sau khi đã đổ bộ lên đây. Điều đáng nói, vẫn theo thông tin từ Tân Hoa Xã, việc đổ bộ trùng vào ngay thời điểm người đứng đầu Trung Cộng là Chủ Tịch nước Tập Cận Bình đang có chuyến thăm và làm việc chính thức tại Hà Nội.Liệu chừng chế độ Hà Nội sẽ tiếp tục lên tiếng phê phán hành động xâm nhập hải đảo, tuyên bố chủ quyền trái phép của Trung Cộng để bảo lưu chủ quyền của đất nước theo công pháp quốc tế, hay sẽ phải giữ im lặng để… trả ơn cho món nợ chiến tranh?Mặt khác, việc nhà cầm quyền Cộng Sản công khai thừa nhận những công ơn to lớn của Trung Cộng, đã hỗ trợ cho Hà Nội giành chiến thắng trong cuộc chiến Việt Nam, vô hình trung, làm lộ mặt trái trong mối quan hệ hai nước trong những năm cuối thập kỷ bảy mươi. Khi ấy, trong sự mâu thuẫn tột độ giữa hai quốc gia Cộng Sản là Liên Xô và Trung Cộng, thì Hà Nội đã công khai chọn phe đứng về phía Liên Xô.Rõ ràng, sau khi đã đạt được mục đích của mình là cưỡng chiếm miền Nam, nắm giữ được quyền lực độc quyền trên toàn lãnh thổ, thì việc chế độ Hà Nội chọn theo phe Liên Xô để chống lại Trung Cộng. Đồng thời, đàn áp, xua đuổi Hoa Kiều về nước là thái độ “Ăn cháo, đá bát”, “Qua cầu rút ván” khiến Trung Cộng phải động binh, đưa quân đội tràn vào 6 tỉnh biên giới để “Dạy cho Việt Nam bài học” là có nguyên nhân chính đáng, không oan uổng gì cả.Cái oan uổng là dân chúng của 6 tỉnh biên giới không có tội tình gì mà phải chết tức tưởi, tan cửa, nát nhà vì sự bất trung, bất tín của những kẻ lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam đối với đàn anh Trung Cộng.Ngày nay, chế độ Hà Nội muốn dựa vào Trung Cộng để duy trì lâu hơn sự độc tài của mình trên đất nước, cho nên, phải ra mặt công khai kể lể ơn nghĩa ngày trước. Qua đó, ép buộc người dân phải chịu đựng những sự ức hiếp sắp tới sẽ càng ngày càng gia tăng của Trung Cộng trong tất cả các mặt đời sống xã hội, chứ không chỉ trong phạm vi chủ quyền lãnh thổ, biển đảo.Thế nên, xét ra, công trạng của Trung Cộng chỉ mang lại lợi ích cho chế độ Cộng Sản Hà Nội, giúp Cộng Sản giành được chính quyền trên toàn lãnh thổ, giúp Cộng Sản duy trì sự độc tài để thu vén lợi ích cho đảng, cho cá nhân và đàn áp nhân dân.Nhưng đối với nhân dân Việt Nam, công trạng của Trung Cộng không mạng lại lợi ích gì cho nhân dân cả, mà trái lại, còn là tai họa cho nhân dân. Theo đó, nhân dân Việt Nam không mang ơn gì của Trung Cộng cả.Viết từ Hoa Thịnh Đốn, tháng 04/2025* Ảnh binh sĩ Trung Cộng tham gia diễu binh tại Sài GònVĨ TUYẾN 38 VÀ VĨ TUYẾN 17: KHI RANH GIỚI GIỮA "THIÊN ĐÀNG" VÀ "ĐỊA NGỤC" CHỈ LÀ MỘT SỰ LỰA CHỌN.Lịch sử loài người hiếm khi cung cấp một "phòng thí nghiệm" hoàn hảo như bán đảo Triều Tiên sau năm 1945. Cùng một dân tộc, cùng một dòng máu, chung một nền văn hóa ngàn năm, nhưng bị xẻ làm đôi chỉ vì một đường kẻ vô tri trên bản đồ - Vĩ tuyến 38.Bảy mươi năm trôi qua, đường kẻ đó không còn là ranh giới địa lý. Nó là vực thẳm ngăn cách giữa văn minh và hoang dã, giữa ánh sáng tự do và bóng tối của thời trung cổ hiện đại.- Một Dân Tộc, Hai Số Phận: Bi Kịch Của Sự Lựa ChọnCả Bắc Triều Tiên và Nam Hàn đều đứng lên từ tro tàn đổ nát sau chiến tranh. Nhưng sự khác biệt nằm ở chỗ họ đã đặt cược tương lai vào đâu.Tại Nam Hàn: Họ chọn con đường "tư bản". Và kết quả là gì?Một sự "thảm hại" đầy kiêu hãnh. Họ bị buộc phải sống trong một xã hội dân chủ, giàu có đến mức... thế giới phải ngước nhìn. Chỉ sau 40 năm, từ một quốc gia nhận viện trợ, họ hóa rồng, làm chủ công nghệ toàn cầu với Samsung, Hyundai, sở hữu mức thu nhập khiến bất kỳ quốc gia đang phát triển nào cũng phải mơ ước.Tại Bắc Triều Tiên: Họ chọn "thiên đường rực rỡ".Tại đây, người dân được tận hưởng sự bình đẳng tuyệt đối trong đói nghèo. Họ được "giải phóng" khỏi gánh nặng của quyền làm người. Mỗi ngày, trong khi lãnh tụ bắn tên lửa ra biển để "thử uy lực", thì người dân lặng lẽ đào rễ cây để sinh tồn.Sự mỉa mai lớn nhất chính là việc Bình Nhưỡng luôn rêu rao muốn "giải phóng" Seoul. Nó giống như một kẻ sống trong hang tối, cầm bó đuốc tàn nhưng lại muốn "ban phát ánh sáng" cho người đang sống trong một thành phố rực rỡ điện đèn.- Nỗi Đau 30/4 Và Cú Lừa Mang Tên "Chiến Thắng"Nhìn sang Việt Nam, nỗi đau ngày 30/4/1975 lại nhói lên sắc lạnh. Chúng ta từng có một kịch bản tương tự, nhưng khác với người Hàn, chúng ta đã không có một vĩ tuyến 38 vững chãi để bảo vệ miền Nam tự do. Chúng ta đã "thắng" một cuộc chiến, để rồi cay đắng nhận ra mình đã thua trong hòa bình.Hậu quả của cái gọi là "đại thắng" đó là gì?- Là hàng triệu người Việt phải ngậm ngùi xếp hàng xin visa đi xuất khẩu lao động, làm nô công cho chính người Nam Hàn - những người suýt chút nữa cũng đã bị "giải phóng" giống như chúng ta.- Là những người con gái Việt phải ngậm đắng nuốt cay sang lấy chồng xứ Hàn để đổi đời, thoát khỏi cái nghèo của một "quê hương anh hùng" nhưng thiếu thốn cơm ăn.- Nếu Kim Nhật Thành Thắng Năm 1950?Hãy thử tưởng tượng: Nếu năm đó, quân cộng sản Bắc Hàn đánh đuổi được quân Đồng Minh xuống biển, và toàn bộ bán đảo là một màu đỏ.Nếu điều đó xảy ra, bánh xe lịch sử sẽ quay ngược một cách châm biếm:- Sẽ không có người Việt sang Hàn làm thuê. Ngược lại, thanh niên Seoul và Busan sẽ phải nườm nượp kéo đến Bình Dương, Đồng Nai để xin làm công nhân may mặc với mức lương rẻ mạt.- Những chàng trai Việt Nam sẽ là "soái ca" trong mắt các cô gái Hàn, vì họ mơ ước được gả về miền Tây để được... ăn cơm trắng ba bữa, thay vì sống trong sự kìm kẹp của tổ dân phố tại Bình Nhưỡng.Nam Hàn may mắn vì họ đã giữ được vĩ tuyến 38. Việt Nam đau đớn vì vĩ tuyến 17 đã sụp đổ.- Ngày 30/4: Không Phải Thống Nhất, Đó Là Một Cuộc Cưỡng Chiếm. Là ngày "Tự Do" bị bóp nghẹt.- Đó là ngày mà hàng triệu người phải bỏ nước ra đi, đánh cược mạng sống với biển cả để tìm hai chữ "Tự Do".- Đó là ngày hàng trăm ngàn quân nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bị đày đọa trong các trại tù "cải tạo" - những lò sát thần trá hình nhằm hủy diệt thể xác và tinh thần con người.Nửa thế kỷ trôi qua, đất nước vẫn chìm trong bóng tối của sự độc tài. Tự do là thứ xa xỉ, nhân quyền bị chà đạp, và những người lãnh đạo nắm quyền sẵn sàng bán rẻ giang sơn để đổi lấy lợi ích phe nhóm. Một nền văn hóa nhân bản của miền Nam xưa kia đã bị thay thế bằng sự giả dối và vô cảm.Lịch sử cần được trả lại sự thật. Chúng ta không được phép quên những thuyền nhân đã nằm lại dưới đáy đại dương, không được quên những chiến sĩ đã ngã xuống bảo vệ lý tưởng tự do, và càng không được quên những cái giá đắt đỏ mà dân tộc này đang phải trả cho một "sai lầm ý thức hệ".Im lặng là tiếp tay cho cái ác. Ngày nào sự độc tài còn tồn tại, ngày đó người dân Việt vẫn còn là nô lệ trên chính mảnh đất của mình. Chúng ta có trách nhiệm với quá khứ, nhưng quan trọng hơn là tương lai của con cháu. Một Việt Nam thật sự Tự do - Dân chủ - Nhân quyền không phải là món quà được ban phát, mà là thứ chúng ta phải cùng nhau đấu tranh để giành lại.
Nam Việt Quốc
Nam Việt Quốc. 7,367 likes · 3,936 talking about this. Hãy chúc ngày mai sáng trời tự do!