

Loài chim đỏ rực như lửa xuất hiện ở Hà Nội
Giới bảo tồn và nhiếp ảnh hoang dã đang xôn xao trước vẻ đẹp tự nhiên hiếm có của loài chim mai hoa xuất hiện ở Hà Nội những ngày qua.
Chim mai hoa có nguồn gốc từ Úc, nổi bật với bộ lông màu đỏ rực như màu máu vô cùng bắt mắt. Loài chim với bộ lông màu đỏ đầy ấn tượng này cũng có ở Việt Nam, được giới nhiếp ảnh hoang dã vô cùng mê mẩn. Ảnh: Lam Anh
Chim mai hoa là một loài chim thuộc họ Chim di. Chim mai hoa thường gặp trên các cánh đồng và trảng cỏ nhiệt đới ở châu Á. Ảnh: Lam Anh
Chim mai hoa thường hót thành từng tràng vào buổi sáng sớm như báo hiệu một ngày mới. Vì vẻ ngoài sặc sỡ và tiếng hót hay nên chúng thường bị các đối tượng bắt bẫy về nuôi làm cảnh. Ảnh: Lam Anh
Chim mai hoa mái thường ít sặc sỡ hơn mai hoa trống. Bộ lông của chúng trầm màu hơn, nhưng cũng thường xuyên được chúng tắm gội, chải chuốt, giữ vẻ óng mượt. Ảnh: Lam Anh
Chim mai hoa mái thường đẻ từ 3 - 8 quả trứng mỗi lứa. Trứng sẽ bắt đầu nở sau 14 ngày. Chim mái có thể đẻ 3 lứa/năm. Ảnh: Lam Anh
Chim mai hoa trống có mỏ và chân màu đỏ đậm hơn con mái, giọng hót cũng hay hơn. Bộ lông của chúng sặc sỡ, có màu đỏ rực dưới ánh nắng mặt trời, điểm xuyết nhiều đốm đen trắng rất đẹp. Sở dĩ chim trống có vẻ ngoài nổi bật hơn, nhằm thu hút chim mái. Ảnh: Lam Anh
Đôi chim mai hoa trống mái đang đậu trên nhánh cỏ. Thức ăn của chúng là các loại hạt. Ảnh: Lam Anh
Vẻ đẹp hoang dã ấn tượng của loài chim này đang thu hút giới chụp chim tại Hà Nội. Họ không ngại lăn lộn, canh chừng tại các bãi cỏ suốt nhiều giờ để chụp được những khoảnh khắc đẹp của loài chim này. Ảnh: Lam Anh
Các tổ chức bảo tồn đã đưa ra nhiều đề xuất nhằm bảo vệ các loài chim, phục hồi sinh cảnh tự nhiên ở các bãi bồi, bãi giữa sông Hồng. Đơn cử như các hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho công chúng; các hoạt động trải nghiệm, thi chụp ảnh chim; các hoạt động tuần tra bảo vệ, ngăn chặn, thảo gỡ lưới bắt chim vào mùa di cư; lập các khu bảo tồn chim ở bãi giữa; trồng bổ sung và phục hồi các sinh cảnh tự nhiên trên các bãi… Trong ảnh là hai cá thể chim mai hoa mái. Ảnh: Lam Anh
HAI ANH EM MỘT MÀU MŨ ĐỎ
Huy hiệu tiểu đoàn quân y NDHuy hiệu tiểu đoàn 8 NDMến tặng các đồng đội thân thương của tôi thuộc tiểu đoàn 8 Nhảy Dù.Như một nén hương tưởng nhớ về bác sĩ Nghiêm sĩ Tuấn, y sĩ trưởng tiểu đoàn 6 Nhảy Dù, đã tử trận trên chiến trường Khe Sanh, tháng 4 năm 1968 và Nghiêm sĩ Thành, sinh viên năm thứ hai đại học khoa học Sài Gòn, thiếu úy trung đội trưởng, thuộc đại đội 83, tiểu đoàn 8 Nhảy Dù, đã tử trận trên chiến trường Thường Đức, Quảng Nam, tháng 8 năm 1974.-------Cầm tờ lệnh gọi nhập ngũ trên tay, Nghiêm sĩ Thành ngậm ngùi nuối tiếc, vận nước nổi trôi đã nhận chìm công lao đèn sách của những chàng sinh viên đang độ tuổi thanh xuân. Sau chiến dịch tổng tấn công mùa hè năm 1972 của địch, lệnh tổng động viên của chính phủ ban hành đã tước đi biết bao kỳ vọng, ước mơ của những chàng trai trẻ.Bảng đen phấn trắng ngậm ngùi chia tay những đứa học trò thân thương đang trút áo sinh viên để khoác lên người bộ chiến y, thay bút nghiên bằng những nòng súng lạnh lùng. Trong khuôn viên đại học, những chàng trai trẻ vẫn ngón tay kẹp điếu thuốc, cười đùa bàn tán đủ mọi thứ chuyện trên đời, nhưng thật ra trong đáy lòng của họ đang ưu tư suy nghĩ cho một đoạn đời sắp tới mà họ hoàn toàn chưa có một chút kinh nghiệm nào. Ngày mai đây họ sẽ xông pha vùng vẫy trên khắp các chiến trường, trong lửa đạn sẽ có những người nằm xuống, sẽ có những người ra đi mà không bao giờ quay trở lại, không biết những kẻ xấu số ấy sẽ là ai trong bọn họ. Mai đây khi họ cất bước ra đi về phía chiến trường xa, những cuộc tình dang dở sẽ đan những kỷ niệm buồn lên từng con dốc nhỏ.Thành đưa mắt nhìn theo hàng cây ngả bóng trên đại lộ Cộng Hòa, con đường của Petrus Ký, của đại học khoa học, của biết bao kỷ niệm êm đềm mà chàng muốn được giữ mãi mãi trong lòng. Nắng chiều soi nhẹ qua khóm lá lao xao lung linh trong gió khiến Thành bất giác nhớ lại hình ảnh buổi chiều hôm ấy khi hai đứa bước song đôi trên con đường Phùng khắc Khoan, sau lưng hội Việt Mỹ. Gió chiều vờn lên mái tóc của nàng để nắng hanh vàng lùa những sợi nắng xuyên qua kẽ tóc tạo nên một bức tranh sinh động tuyệt vời mà Thành cứ nhớ mãi trong lòng. Lúc ấy sống mũi và khuôn mặt của nàng vẽ lên trên vạt nắng những đường nét vô cùng huyền ảo. Nàng ngước mắt lên nhìn Thành, ánh mắt nàng long lánh những giọt tình ái khiến Thành ngây ngất mê say, Ngọc Lan xinh đẹp dịu hiền quá.Ngọc Lan cất tiếng than van:- Anh Thành ơi, cái công thức kỳ cục, lộn xộn như thế này làm sao em nhớ cho nổi hở anh Thành?Thành cúi xuống nhìn vào trang sách, thì ra công thức tính đạo hàm đây mà. (UV)’ = VU’ + UV’. Thành chợt nhớ thời còn là học sinh trung học, trong đám bạn của chàng, có bạn đã nghĩ ra cách nhớ rất táo bạo:- Ngọc Lan cứ nhớ như thế này thì sẽ không bao giờ quên: Đạo hàm UV = Vú xuôi + vú ngược.Ngọc Lan giật mình như chạm phải lò lửa, nàng đưa mắt trân trối nhìn Thành, hai má nàng đỏ hồng lên. Thành biết ngay là mình đã hố, nhưng Thành lại mắc thêm một sai lầm nữa khi chàng cố gắng chống chế:- Thì Ngọc Lan cứ nhìn kỹ xem, rõ ràng đạo hàm UV = vú xuôi + vú ngược, anh đâu có nói sai.Ngọc Lan mặt lạnh như tiền, không nói năng gì cả, nàng lạnh lùng gấp quyển sách lại, kéo ghế đứng lên:- Về đi anh Thành.Nàng bước nhanh ra cửa không hề quay đầu nhìn lại, Thành bối rối lẽo đẽo nối gót theo sau,lòng rối bời chưa nghĩ ra được một lối thoát nào để cứu vãn tình thế.Đã 2 tuần lễ nay, Ngọc Lan không cho Thành gặp mặt, hễ cứ thấy bóng dáng của Thành là Ngọc Lan lại mở máy xe chạy thật nhanh, Thành nhìn theo khói xe, nỗi ân hận nuối tiếc lại dâng lên trong lòng. Có cách xa mới thấm thía được nỗi nhớ nhung dày xé tâm can. Nhớ lại những giây phút bên nhau sao mà đầm ấm thân thương quá, khuôn mặt xinh xắn của nàng khiến Thành chùng xuống, thấy lòng mình tím tái dần đi. Có những lúc sống lại trong tình yêu ấy, Thành cảm thấy mình chênh vênh như đang bước đi trên bờ đê trơn trợt sau cơn mưa tầm tã. Nhớ quá người ơi, không phải là anh bán cái để chạy tội cho mình, thực ra tác giả của câu khẩu quyết ấy là một người bạn của anh, chứ anh có bao giờ bạo mồm bạo miệng như thế bao giờ đâu.Nắng Sài Gòn chói chang, vắt những giọt mồ hôi trên trán của gã sinh viên đang hốc hác vì tình. Thành dõi mắt nhìn theo con đường có hàng me xanh lá. Cổng trường vừa hé mở, đàn bướm trắng túa ra xôn xao huyên náo cả một góc đường, Thành nhận ra ngay Ngọc Lan lẫn trong đàn bướm ấy. Thành bước đến thật nhanh, đưa hai tay nắm chặt lấy tay lái. Ngọc Lan bối rối tìm cách lùi xe lại nhưng không được, nàng có cảm giác các bạn chung quanh đang bước chầm chậm lại, những đôi mắt tò mò tọc mạch, hai má nàng bỗng đỏ hồng lên vì xấu hổ.Thành xúc động nhìn Ngọc Lan, nói nhỏ:- Ngọc Lan, anh vừa nhận được lệnh gọi nhập ngũ, anh đến tìm để từ giã em.Ngọc Lan lo lắng ngước mắt lên nhìn:- Vậy hở anh?Thành mừng thầm trong bụng, ít ra thì cái tấm giấy vô phước này cũng đã giúp cho chàng thoát ra được cái oái oăm ngộp thở này. Thành bỗng thấy mình phải có một bộ mặt đưa đám cho thích hợp với tình thế, giọng nói của Thành bỗng buồn hẳn đi:- Anh buồn quá Ngọc Lan ơi, hay là mình đi ăn kem nhé.Ngọc Lan khe khẽ dịu dàng:- Vâng.Thành mở cờ trong bụng, niềm vui sướng trong lòng như đang muốn nổ tung ra ngoài khiến chàng phải dằn lòng xuống, cố giữ vẻ mặt buồn bã thảm thương, có ai sắp xa cách người yêu mà lại vui tươi, hớn hở bao giờ đâu.Thành đặt nhẹ ly kem lên bàn:- Ăn kem đi Ngọc Lan, trời nóng ăn kem thì mới thật tuyệt vời.- Trời hôm nay buồn cười quá anh Thành ha, nắng muốn vỡ cả đầu.- Ừ, ăn kem đi không thôi nắng vỡ đầu bây giờ đó.Ngọc Lan lặng lẽ ngắm nghía người yêu, đượm vẻ buồn bã:- Khi nào thì anh phải lên đường hở anh Thành?- 3 tuần lễ nữa thì anh sẽ lên trình diện trung tâm 3 tuyển mộ nhập ngũ, từ nay đến ngày ấy mình đi chơi nhiều nhiều một chút Ngọc Lan nhé.Ngọc Lan ngoan ngoãn trả lời:- Vâng.Ngọc Lan múc một thìa kem đưa lên miệng:- Anh Thành ơi, tại sao đang đi học mà lại bị gọi động viên ngang xương như vậy hở anh?- Ờ, tại vì chiến tranh đang lan rộng và càng lúc càng khốc liệt. Quân đội đang cần thêm quân, vã lại quân đội đồng minh đã rút hết về nước rồi. Chính phủ ban hành lệnh tổng động viên giảm tuổi hoãn dịch vì lý do học vấn xuống một năm, lấy sinh viên đưa vào guồng máy chiến tranh.- Có uổng không, khi các anh có thể sẽ cần thiết để xây dựng lại đất nước sau này.- Tương lai sẽ tính sau, hiện tại cần thiết hơn tương lai Ngọc Lan ạ.- Mấy nhỏ bạn em cũng có anh nhận được giấy gọi nhập ngũ. Ba má nhỏ bạn nói nếu cứ lính ma lính kiểng, tham nhũng hối lộ, mua quan bán chức tràn lan như thế này thì khó mà giữ được đất nước.Nghe Ngọc Lan nói, Thành bỗng thấy đau nhói trong lòng khi nhớ đến người anh ruột thịt của mình, bác sĩ Nhảy Dù Nghiêm sĩ Tuấn, y sĩ trưởng tiểu đoàn 6 ND đã tử trận khi đơn vị hành quân vào vùng rừng núi Khe Sanh, năm 1968.*****Hôm nay là lần đầu tiên Ngọc Lan nói dối bố mẹ:- Mẹ ơi, lát nữa con xuống nhà dì Hiền thăm dì và các cháu, mẹ nhé.Mẹ đâu có biết hôm nay cô con gái cưng của mẹ đã bắt đầu giở quẻ, mẹ vui vẻ:- Con nhớ ghé qua chợ mua dùm mẹ ít trái cây làm quà cho các cháu, con nhé.Ngọc Lan ghé thăm nhà dì được chừng nửa tiếng đồng hồ thì nàng tìm cách rút lui. Lần đầu tiên Ngọc Lan đi ra khỏi thành phố một quãng đường xa xôi đến như thế. Đường xá tấp nập xe cộ qua lại khiến nàng đâm lo, Ngọc Lan đã định bụng rủ một cô bạn đi chung cho đỡ sợ, nhưng rồi ngần ngại nên lại thôi. Thân con gái cặm cụi một mình đi thăm người yêu mãi trên tận Thủ Đức, trong lòng hồi hộp lo âu lắm nên quên cả nỗi áy náy sáng nay đã nói dối mẹ. Con đường dẫn vào trường bộ binh Thủ Đức hôm nay rợp bóng người, tiếng nói cười rộn rã chan hòa trong nắng sớm, những tà áo xum xoe khoe sắc lượt là khiến cả một khung trời như vừa thay áo mới. Bước chân Ngọc Lan như nghiêng đi vì giỏ đồ ăn nặng quá, nàng mua tất cả những gì mà nàng tưởng tượng ra. Bánh mì, xôi, giò chả, chà bông, nem, café, đường sữa, cam quít...và cả 1 gói ô mai thật to để nhắc nhở Thành luôn nhớ đến mối tình thơ mộng mà Thành đã chắt chiu chăm sóc bằng những hạt ô mai xinh xắn. Ngọc Lan đâu biết rằng có những thứ mà Thành sẽ không bao giờ dùng đến, đời sống quân trường làm gì có thì giờ để mà lỉnh kỉnh nấu nước pha café.Tên của Thành đã được nhắc trên loa phóng thanh đến lần thứ 3 mà vẫn chưa thấy bóng dáng chàng nơi đâu. Những người lính quân trường nhìn qua ai cũng như ai, y chang một màu đen thui thủi, thấm mùi mồ hôi, cũng một bộ quân phục màu xanh cây lá, trên đầu là một chiếc nón nhựa. Những người khóa sinh này trông lầm lì dễ sợ mà sao lại vui tính quá, họ gắn lên ngực áo những chiếc khăn đủ màu sắc, người mang khăn màu đỏ, người mang khăn màu vàng, người thì tính tình phóng khoáng nên mang chiếc khăn màu xanh lá cây, có người lại lãng mạn mang khăn màu tím, rồi lại có màu hồng, màu nâu. Ngọc Lan thích màu xanh nước biển, nàng định bụng hôm nào sẽ may cho Thành một chiếc khăn màu xanh nước biển, mang chiếc khăn này trên ngực thì chắc chắn lúc nào Thành cũng phải nhớ đến nàng thôi. Nàng đâu biết rằng màu khăn khác nhau dùng để phân biệt các tiểu đoàn khóa sinh. Tiểu đoàn 1 mang khăn màu đỏ, tiểu đoàn 2 mang khăn màu vàng, tiểu đoàn 3 khăn màu xanh lá cây, tiểu đoàn 4 khăn màu tím, tiểu đoàn 5 khăn màu hồng, năm 1972 tổng động viên nên quân số quá đông phải thành lập thêm tiểu đoàn 6 mang khăn màu nâu.Bàn tay ai vỗ nhẹ lên vai khiến Ngọc Lan giật mình quay lại, và nàng chợt mừng rỡ reo lên:- Anh Thành.Thành đưa tay nắm lấy vai nàng lắc nhẹ, giọng đầy xúc cảm:- Ngọc Lan, đường xa quá em có mệt lắm không?- Không anh ạ, gặp anh, em chẳng còn thấy mệt tí nào.Ngọc Lan cười tươi tắn, bao nhiêu lo lắng bỗng nhòa đi thật nhanh, nàng đưa mắt ngắm nhìn người yêu, Thành của nàng hôm nay trông khác hẳn ngày xưa, vẻ thư sinh sách vở học trò đâu còn nữa, Thành giờ đây rắn rỏi trong nước da đen nhuộm nắng hồng, trông chàng cứng cáp khỏe mạnh hẳn lên.Thành cúi xuống xách giỏ đồ ăn lên, nắm tay Ngọc Lan, đôi tình nhân bước bên nhau đi về phía góc xa của khu tiếp tân, nơi cây phượng vĩ đang giang tay che bớt ánh nắng mặt trời.Ngọc Lan lấy ra tờ báo, nàng trải rộng lên thảm cỏ rồi bày ra các món ăn. Thành sung sướng nhìn người yêu lay hoay sửa soạn bữa ăn ngoài trời, nỗi hạnh phúc miên man cứ rộn lên trong lòng chàng.- Ngọc Lan mua nhiều thức ăn quá, khổ thân em.- Em mua nhiều để anh đem vào trại ăn dần, rồi anh còn mời các bạn của anh nữa chứ.- Anh cám ơn Ngọc Lan thật nhiều.Ngọc Lan đưa cho Thành 1 khúc bánh mì kẹp chả lụa:- Anh Thành, ăn khúc bánh mì này trước đã nhé.- Ngọc Lan cũng ngừng tay ăn một chút đi chứ.Ngọc Lan âu yếm nhìn người yêu, Thành đen sạm đi vì mưa vì nắng, vì sương gió quân trường, nhưng lại tròn trỉnh hơn so với ngày còn ở nhà. Nhìn Thành rắn rỏi trong bộ quân phục màu lá cây rừng, Ngọc Lan chợt nhớ đến chuyện ngày xưa. Người ấy cũng trong bộ quân phục như thế này, đã lặng lẽ ra đi biền biệt, để lại trong lòng nàng những gợn sóng lăn tăn như tiếng gọi thầm trên biển vắng, gọi mà hình như không gọi.----Năm ấy thầy được ban giám hiệu phân bổ làm giáo sư Việt văn và cũng là giáo sư hướng dẫn cho lớp của Ngọc Lan. Đúng là người văn, thầy giảng bài rất hay, rất hấp dẫn, lôi cuốn, lũ học trò mê mệt nghe thầy giảng bài mà quên cả tiếng chuông báo hiệu giờ tan học. Sự hiểu biết của thầy là cả một kho kiến thức, những lúc thầy lồng cuộc đời vào trong bài giảng hay những lúc thầy trải bài giảng ra ngoài cuộc đời chính là những lúc thầy đang dạo lên những biến khúc, thật là điêu luyện, tuyệt vời. Khi giảng bài, thầy thường hay dừng lại ở đôi mắt của Ngọc Lan, như ẩn hiện một điều gì sâu thẳm.Buổi tất niên năm ấy, sau khi văn nghệ đã hết, tiệc đã tàn, Ngọc Lan cùng vài người bạn ở lại lo thu xếp dọn dẹp, thầy cũng ở lại phụ giúp một tay. Sau khi công việc xong xuôi, thầy ngỏ ý mời các cô đi ăn thạch chè Hiển Khánh. Ngọc Lan và các bạn không ngờ năm nay lại gặp may đến thế, hiếm khi nào học trò mời được thầy đi ăn, huống gì thầy mời trò lại càng là một việc rất hiếm khi xảy ra.Sài Gòn đã vào những ngày cận Tết, những nhánh mai vàng phất phơ trong gió nhẹ khẽ báo hiệu nàng Xuân đang về đến ngõ. Bên hè phố người ta đã bày bán những tấm thiệp chúc tết đủ mọi màu sắc, đủ mọi đường nét phong phú đa dạng. Đây đó có tiếng pháo chuột thập thò nổ lẹt đẹt vài tiếng rồi tắt ngấm, đường phố vui vẻ nhộn nhịp hẳn lên, xuân đã về.Khác hẳn với vẻ nghiêm trang như mọi ngày, hôm nay thầy rất vui tươi, rất cởi mở. Thầy kể chuyện thật là duyên dáng, dí dỏm, khiến các cô lăn ra cười từng cơn, trong khi thầy vẫn tỉnh bơ không hề hé môi cười một chút nào, thật là hay chi lạ. Thầy thăm hỏi từng cô rất thân tình khiến các cô cảm động ra mặt. Thầy cứ phải nhắc nhở, các em dùng kem đi chứ, các cô thì cứ ngại ăn nhiều mang tiếng, và nhất là đang được ngồi đối diện với người thầy thần tượng của mình. Ánh mắt của thầy thỉnh thoảng dừng lại, say đắm như muốn tan loãng vào trong đôi mắt của Ngọc Lan. Những lúc ấy Ngọc Lan như lên cơn sốt, trong lòng nàng rộn lên một cảm giác ngất ngây lạ lùng. Hôm ấy trên đường về, như có luồng gió lạ thổi vào hồn, nụ tầm xuân ngỡ ngàng đón ánh bình minh nên rạng rỡ, thẹn thùng.Xuân đã qua và hè đang tới, tiếng ve kêu vang trên cao, hoa phượng vĩ rực đỏ trên những vòm cây, rơi xuống trải đầy trên lối đi màu của lưu bút ngày xanh. Chỉ còn vài tuần lễ nữa là đến thời gian nghỉ hè, học trò sẽ tạm xa mái trường thân yêu, trở về với gia đình nghỉ ngơi sau một năm cặm cụi đèn sách. Hôm ấy đang giờ nghỉ giải lao, Ngọc Lan đứng bên khung cửa sổ nhìn lên bầu trời xanh ngắt, ngắm những đám mây trắng đang chầm chậm trôi, thầy bước tới sát bên cạnh Ngọc Lan. Ngọc Lan bối rối chưa biết xử trí ra sao thì đã nghe thầy nói nhỏ, ngày mai thầy muốn gặp Ngọc Lan ở thạch chè Hiển Khánh, Ngọc Lan đi một mình thôi, đừng rủ các bạn đi theo. Thầy bước đi rồi mà Ngọc Lan vẫn còn như đang ngủ mơ, không biết lời hò hẹn này từ dưới đất chui lên hay từ trên trời rơi xuống, nàng không dám tin vào đôi tai của mình nữa.Thầy ân cần chăm sóc Ngọc Lan,giọng thầy thật ấm áp:- Ngọc Lan thích uống nước gì để tôi gọi.Ngọc Lan e thẹn:- Em uống nước gì cũng được ạ, thưa thầy.- Ngọc Lan uống cam vắt hay đá chanh, trời nóng quá.- Thưa thầy, sao cũng được ạ.- Vậy thì dung hòa nhé, một ly cam vắt thả lên trên vài lát chanh mỏng sẽ thơm lắm.- Vâng, cám ơn thầy.- Tôi thì chỉ quen uống café thôi.Thầy rút trong túi ra một bao thuốc lá, châm điếu thuốc, và nói như trong cơn say:- Ước gì mỗi buổi sáng tôi được uống một ly café với Ngọc Lan rồi mới đi làm.Ngọc Lan giật mình tròn xoe đôi mắt, nhưng rồi nàng chợt hiểu, một nỗi hạnh phúc lẫn trong niềm hãnh diện bất ngờ dâng ngập trong lòng.Người ta trở nên thoải mái tự nhiên hơn sau khi đã nói ra được điều muốn nói. Và Ngọc Lan cũng bớt đi vẻ thẹn thùng mắc cỡ, nàng ngắm nghía người thầy si tình của mình. Vẻ nghiêm trang của một nhà mô phạm khiến thầy như già đi trước tuổi, bụi thời gian lưu lại trên khuôn mặt trông thầy dạn dày hẳn lên. Thế nhưng Ngọc Lan đã biết, phía sau những ngọn núi lởm chởm quanh co ấy là một đại dương bát ngát đầy thi vị, thầy là một nhà văn.Thầy hỏi thăm Ngọc Lan rất ân cần khiến nàng vô cùng cảm động, thầy khuyên Ngọc Lan chăm học hơn nữa, nhất là chú ý nhiều về môn toán. Khác với mọi ngày, giọng nói của thầy hôm nay đượm vẻ ưu tư buồn bã. Thầy lại châm thêm một điếu thuốc, rít một hơi dài vào buồng phổi, ém lại thật lâu rồi từ từ thả ra làn khói nhẹ. Khuôn mặt kiều diễm của Ngọc Lan chập chờn qua khói thuốc trông huyền hoặc và quyến rũ làm sao. Ánh mắt thầy đắm đuối chìm sâu vào đôi mắt của Ngọc Lan, như muốn gắn chặt muôn đời vào nơi ấy.Thầy nói, giọng rất buồn:- Ngọc Lan, hai tuần nữa tôi sẽ vào quân đội, đi xa sẽ nhớ nhiều lắm.Âm thanh ấy dội lên vách tường, luồn vào trong lồng ngực bóp chết trái tim thơ ngây. Ngọc Lan thảng thốt chết sững người, đau đớn đến dường nào khi hạnh phúc chợt đến lại chợt đi, hạnh phúc ơi sao mong manh quá!!!----Ngọc Lan lấy dao xẻ trái cam thành nhiều múi, nàng tách hai đầu múi cam rồi đưa cho Thành:- Ăn cam đi anh Thành, cam sành ngọt lắm anh ạ.Nhìn người yêu rắn chắc nhưng đen sạm hẳn đi, Ngọc Lan chạnh lòng nhớ đến người ấy, lúc bước chân vào quân trường chắc thầy cũng cơ cực như thế này đây. Từ ngày ấy thầy ra đi biền biệt không một lời chia tay, không một nét chữ luyến lưu, như chưa hề có một viên sỏi nào rơi xuống mặt hồ nước phẳng lặng triền miên.Tự dưng Ngọc Lan thấy buồn xa vắng:- Năm ấy thầy đã ra đi, bây giờ lại đến lượt anh, đất nước mình sau thảm thương quá!Thành ngạc nhiên hỏi lại:- Ngọc Lan nói thầy nào vậy?- Thầy dạy Việt văn của em ngày xưa đó mà. Ngày ấy thầy đang dạy học thì nhận được lệnh gọi nhập ngũ, cũng giống như trường hợp của lớp sinh viên các anh bây giờ.- Ngọc Lan có biết thầy đang ở đơn vị nào không?- Em không biết, nhưng thỉnh thoảng em vẫn thấy truyện của thầy đăng trên các tạp chí văn học. Thầy nói chuyện thật hay, thật tuyệt vời anh Thành ạ.- Sao lại nói chuyện thật tuyệt vời, thầy hay gặp Ngọc Lan lắm hở?Ngọc Lan ấp úng:- À, em chỉ gặp thầy có hai lần thôi... Ý của em là thầy giảng bài rất hay, cả lớp đứa nào cũng mê.- Ngọc Lan có biết tin tức gì của thầy không?- Từ ngày ấy đến giờ em không hề biết một chút tin tức nào của thầy.Thành bỗng linh cảm có điều gì đó không ổn, chàng vội gạt ý tưởng ấy ra khỏi đầu óc, lúc này phải tạm quên đi tất cả để tận hưởng hạnh phúc đang có trong tầm tay. Chàng tách múi cam ra khỏi vỏ:- Ngọc Lan, nhắm mắt lại đi nào.Ngọc Lan ngoan ngoãn khép đôi mắt lại, đôi môi của nàng khẽ mở ra, he hé đợi chờ.-----Tháng 4 năm 1968, lữ đoàn 3 Nhảy Dù được điều động về đánh giải tỏa căn cứ Khe Sanh, tạo điều kiện cho lực lượng TQLC Hoa Kỳ rút khỏi căn cứ chiến lược nổi tiếng này. Toàn bộ lữ đoàn được trực thăng vận xuống phía sau lưng lực lượng Bắc quân đang vây hãm căn cứ Khe Sanh, địch quân đã sử dụng hơn 3 sư đoàn bao vây cứ điểm Khe Sanh từ nhiều tháng qua.Lữ đoàn 3 Nhảy Dù tham chiến trận đánh Khe Sanh:- Lữ đoàn trưởng: Trung tá Nguyễn khoa Nam.- Tiểu đoàn 3 ND, tiểu đoàn trưởng: Thiếu tá Trần quốc Lịch.Y sĩ trưởng: BS Trần đức Tường.- Tiểu đoàn 6 ND, tiểu đoàn trưởng: Thiếu tá Trương vĩnh Phước.Y sĩ trưởng: BS Nghiêm sĩ Tuấn.- Tiểu đoàn 8 ND, tiểu đoàn trưởng: Thiếu tá Nguyễn văn Thọ.Y sĩ trưởng: BS Hồ trí Dõng.Lữ đoàn 3 Nhảy Dù, dưới sự chỉ huy của Trung tá Nguyễn khoa Nam, đã chiến đấu dũng mãnh, đánh tan nát các lực lượng đối kháng của địch. Chỉ trong một trận đánh với TĐ6 ND, địch đã bỏ lại trên trận địa hơn 50 xác chết. Đi kèm theo chiến thắng là nỗi đau thương của mất mát, sư đoàn Nhảy Dù đã mất đi người bác sĩ trẻ tuổi tài hoa Nghiêm sĩ Tuấn, y sĩ trưởng tiểu đoàn 6 Nhảy Dù.Hôm ấy,khi người lính Nhảy Dù từ trại Hoàng hoa Thám đến báo tin bác sĩ Nghiêm sĩ Tuấn đã tử trận trên chiến trường Khe Sanh, cả nhà lặng người đi trong đau đớn, sau đó là những giọt nước mắt, những tiếng khóc sụt sùi. Thành lặng lẽ bước vào căn phòng của anh mình, chàng ngước nhìn lên tấm ảnh treo trên tường, bác sĩ Nghiêm sĩ Tuấn tươi cười trong bộ quân phục Nhảy Dù, đầu đội mũ beret đỏ. Con người trông oai phong lẫm liệt biết bao mà sao lại đoản mệnh như thế hở trời!! Thành biết rõ tính ông anh của mình, một người rất sính thơ văn, vừa kê toa thuốc vừa ngâm nga:Nhạn quá trường giang ảnh trầm hàn thủy.Nhạn bất di tích chi ý, thủy vô lưu ảnh chi tâm.Ngày xưa mỗi lần anh Tuấn về phép, anh thường hay kể chuyện chiến trường cho các em nghe, anh hay nhắc đến những người lính Nhảy Dù với lời lẽ rất quí mến thân thương. Họ là những người lính trẻ đầy nhiệt huyết, vô cùng thiện chiến, có lối sống rất bạt mạng. Những người lính trẻ này có truyền thống đoàn kết bênh vực lẫn nhau một cách kỳ lạ, đây là một đặc tính rất dễ thương và rất đáng nể phục. Họ được trui rèn trong một thứ kỷ luật còn dữ dội hơn cả sắt thép, nếu không có những người lính không ai biết tới này thì dứt khoát sẽ không bao giờ có được những chiến tích lẫy lừng của một sư đoàn đã từng vang bóng một thời. Dần dần lũ em trong nhà đã nảy sinh một cảm tình thật sâu đậm dành cho những người lính Nhảy Dù. Từ ngày anh Tuấn mất đi,mọi người lại càng thương mến màu mũ đỏ hơn bao giờ hết,màu mũ đỏ của bác sĩ Nghiêm sĩ Tuấn, của anh em Nhảy Dù và cũng là của mọi người thương yêu ngưỡng mộ các anh. Thành tự nhủ, một ngày nào đó, Thành cũng sẽ giắt lên cầu vai một chiếc mũ đỏ.----Mùa hè năm 1972, sau những trận giao tranh đẫm máu, khốc liệt, sư đoàn Nhảy Dù đã đẩy lùi địch quân sâu về phía rặng Trường Sơn, dựng lên một vòng đai an toàn trải dài từ Quảng Trị vào đến phía nam Thừa Thiên. Phòng tuyến dọc theo phía tây của quốc lộ 1 ngăn chận địch quân từ biên giới đổ về nay đã được trấn giữ nghiêm ngặt bởi những người lính Nhảy Dù thiện chiến.Vùng trách nhiệm của tiểu đoàn 8 Nhảy Dù trải dài từ khu vực quận Phong Điền, nhấp nhô về phía tây qua những dãy đồi thấp, ghé ngang qua núi Yên Bầu, núi Cánh Giơi, rồi dừng lại bên này con suối Ô Lâu. Bên kia suối là vùng địch. Con suối Ô Lâu vào mùa khô, nước cạn ngang mắt cá chân, nước róc rách luồn qua kẽ đá. Nhưng vào mùa nước lũ thì dòng nước trổi lên dữ dằn, nước đỏ ngầu sùng sục cuốn phăng đi những cây cối mọc ở hai bên bờ. Chỉ cách nhau khoảng chừng trăm thước, bên này và bên kia con suối là 2 cuộc đời hoàn toàn xa lạ. Kẻ từ Hà Nội 36 phố phường đem theo hương vị cốm làng Vòng vào đến đây, buổi chiều đứng trên đỉnh núi, dáng người in lên nền trời trông rõ mồn một. Người từ Sài Gòn, bỏ lại sau lưng thành phố rực rỡ muôn màu, ngồi đây trên ngọn đồi xa lạ, châm điếu thuốc nhìn đất trời mông lung.Đây đó vẫn còn vương vãi dấu tích của những cuộc phong ba bão táp. Bên lề con đường rừng bỗng từ dưới đất nhô lên một chiếc dép râu với những đốt xương ngón chân. Chẳng hay người nằm dưới lớp đất mỏng manh, chôn vùi vội vã ấy quê quán nơi đâu, trúng đạn vào ngực hay vào bụng, đang lúc xung phong hay đang bị tràn ngập, lúc sắp chết có đau lắm không. Dưới khe suối trong vắt lạnh lẽo, bỗng hiện ra một bộ xương người, chiếc nón sắt nằm chơ vơ, tấm thẻ bài cầm lên vẫn đọc rõ được tên họ, số quân. Bộ tư lệnh sư đoàn xác nhận tử sĩ thuộc quân số tiểu đoàn 9 Nhảy Dù.Một phần của những dãy đồi thấp chạy dọc theo dòng suối Ô Lâu là khu gia cư của đại đội 83, tiểu đoàn 8 Nhảy Dù. Không mái lều che nắng che mưa, người lính sinh hoạt, nghỉ ngơi dưới những căn hầm chiến đấu, hầm này liên lạc qua hầm kia bằng những tuyến giao thông hào đào sâu dưới đất. Trên miệng hầm, cắm xuống đất 4 nhánh cây chéo nhau thành 2 cái giá hình chữ X,khẩu M72 nằm ưỡn lưng trên chiếc giá cây, sạch sẽ mát mẻ. Khẩu M16 và dây đạn nằm ở vị trí thuận tiện nhất, chỉ cần chồm người tới là bắn được ngay. Sợi dây điện nối từ trái mìn Claymore chuyền xuống dưới hầm được gắn vào con cóc, một khi con cóc nghiến răng thì hàng trăm viên bi sắt sẽ bắn tung ra phía trước bởi sức nổ của thỏi C4, khi đã lọt vào tầm sát hại của mìn định hướng Claymore thì khó mà toàn mạng.Ngay chỗ uốn khúc của dòng suối Ô Lâu, một chỏm đồi bỗng tách ra, chồm về phía trước sát đến bên bờ suối. Đây là vị trí tiền tiêu, tiếp cận với địch gần nhất, gọi là đỉnh Mùa Đông. Nếu địch mở một cuộc tấn công trực diện vào tuyến phòng thủ của đại đội 83 thì ngay trong tích tắc đầu tiên địch sẽ phải hủy diệt ngay ngọn đồi kỳ đà cản mũi này. Đỉnh Mùa Đông được chốt bởi 5 người lính của đại đội 83, tư lệnh chốt là chuẩn úy Nghiêm sĩ Thành, vừa mới tăng cường hành quân được vài tháng.Nghiêm sĩ Thành trải rộng tấm bản đồ ra trước mặt, đặt chiếc la bàn lên trên, cạnh của chiếc la bàn trùng lên trục tung độ của bản đồ, xoay tấm bản đồ cho đến khi kim của chiếc la bàn trùng lên vạch chỉ hướng bắc thì ngừng lại. Thành nhìn kỹ những chấm màu đen bằng bút mỡ đánh dấu vị trí của các chốt, đỉnh Mùa Đông rõ ràng lấn sâu về phía trước, sát tới bên dòng chỉ màu xanh, trông giống như mũi nhọn của một ngọn giáo. Vòng cao độ của những ngọn đồi bên này quá khiêm tốn so với những triền núi cao vượt lên ở bên kia dòng suối Ô Lâu. Càng xuôi về phía hạ lưu thì dòng Ô Lâu lại càng mở rộng hơn,con nước sẽ đi ngang qua quốc lộ 1, rồi sẽ cùng với sông Bồ và sông Hương đổ nước vào phá Tam Giang.----Thành châm một điếu thuốc, khói thuốc chui vào buồng phổi khiến chàng cảm thấy dễ chịu hẳn ra. Thành đưa tay rà băng tần của chiếc radio, có tiếng rè rè rồi sau đó là tiếng nói quen thuộc của Mai Trang, hơi ấm này đã một thời âm vang đến tận từng ngõ ngách của giao thông hào trên miền hỏa tuyến, như một người bạn đồng hành sớt chia những vui buồn của đời lính. Thành chợt nhớ đến anh Tuấn, ngày xưa anh Tuấn cũng đã từng hít thở không khí của vùng hành quân như thế này đây, nếu như anh Tuấn còn sống, hai anh em ở cùng chung một đơn vị thì vui biết mấy.Bỗng tiếng nói ồn ào của Tư lựu đạn cắt ngang dòng suy tưởng:- Chuẩn úy, em mới vừa gài thêm mấy trái lựu đạn ở dưới mé suối.Thành nhăn mặt:- Đã dặn là đừng gài thêm gì nữa, mìn bẫy thiên la địa võng rồi. Lạng quạng dính chấu thì khổ đời.- Không sao đâu chuẩn úy, em là Tư lựu đạn mà.- Sơ sẩy một chút thì Năm lựu đạn cũng chết chứ nhằm nhò gì Tư lựu đạn.- Tụi nó ở trên cao hơn mình mà lại sát một bên, gài thêm mấy trái lựu đạn em thấy ấm bụng hơn nhiều.Tư lựu đạn nổi tiếng vì cái nghề gài lựu đạn. Lựu đạn gài phải thật nhạy nổ, chốt lựu đạn phải được kéo ra gần hết, chỉ còn chêm chí mí vào cái thìa, một cái ống quần phớt ngang qua thì bà cũng hú rồi, nói chi nguyên một chiếc dép râu phang vào. Tư lựu đạn còn có biệt tài gài lựu đạn rất nhanh, trên đường triệt thoái mà Tư vẫn bình tĩnh ngừng lại, gài nhanh 1 trái lựu đạn cản chân địch rồi chạy tiếp. Một hôm, Tư nhận được lệnh đi gài lựu đạn, gài xong một chục trái lựu đạn bỗng dưng đầu óc lộn xộn không còn nhớ mình đã gài ở những chỗ nào. Bước đi được vài bước thì Tư vướng ngay vào trái lựu đạn mà mình vừa mới gài. Trái lựu đạn nổ tung, một cụm khói bục lên, đất đá văng rào rào, Tư lựu đạn từ từ đứng lên, mặt mũi chân tay vẫn còn đầy đủ. Tư lựu đạn tà tà trở về chốt, bắt đầu nổ:- Hà hà! xem ra Tư lựu đạn này còn... lựu đạn hơn cả lựu đạn nữa à nhe.Sau đó Tư kể lại, lúc ấy phải vểnh tai lên để nghe ngóng thật kỹ, hễ nghe thấy tiếng thìa lựu đạn văng ra thì lập tức nằm rạp xuống đất. Tư lựu đạn không rách áo lần đó, nhưng về sau này, Tư bị cưa mất một chân vì không may đạp trúng mìn.Theo bảng cấp số thì mỗi quân nhân được cấp phát 4 trái lựu đạn, nhưng khi kiểm tra vũ khí đạn dược của anh em thì Thành nhận thấy mỗi người thủ tới cả chục trái. Hỏi lấy ở đâu ra mà nhiều thế, anh em không nói chỉ nhe răng cười. Sau này khi hiểu ra, Thành lại càng quí mến anh em nhiều hơn nữa.Khi bị tấn công vào ban đêm, lính Nhảy Dù hạn chế không nổ súng, chỉ dùng lựu đạn để cản phá những đợt xung phong đầu tiên của địch. Nếu nổ súng, địch dựa vào tia lửa thoát ra từ nòng súng sẽ xác định ngay được vị trí của ta, dùng lựu đạn thì địch không biết đâu mà mò, chẳng biết lúc nào lựu đạn sẽ rơi ngay vào đầu. Khi lính Nhảy Dù tấn công tiến chiếm mục tiêu, vừa bám được vào giao thông hào của địch thì một trái lựu đạn quăng xuống sẽ hủy diệt ngay được một hầm chiến đấu. Lính Nhảy Dù tràn ngập lên mục tiêu, lúc ấy sẽ chỉ nghe thấy tiếng lựu đạn nổ vang dội, và biết chắc là mình sẽ thắng. Người lính chiến đấu cần nhiều lựu đạn, vậy mà mỗi người chỉ được cấp phát có 4 trái, không đủ cho bữa ăn sáng.Những ngày tập trung về bộ chỉ huy tiểu đoàn để đi sưu dịch tranh tre tràm, anh em thường hay lảng vảng gần những căn hầm của đại đội chỉ huy công vụ, hễ ngó trước ngó sau không có ai thì ra tay chôm chỉa, bỏ lựu đạn vào túi rồi ung dung thoải mái bước đi. Được biệt phái đi nằm bảo vệ cho các vị trí pháo binh là những ngày thần tiên của lính Nhảy Dù, anh em nhà họ Pháo thích lắm vì có thêm quân, canh gác phòng thủ sẽ cẩn mật hơn, nên đối đãi với anh em rất tử tế. Anh em đi xin những thùng gỗ đựng đạn pháo binh, đem về chẻ nhỏ làm củi nấu cơm, hồi ở trong rừng sâu, anh em thường nấu cơm bằng củi không được khô, vừa nấu vừa khóc ràn rụa như trong nhà có người chết. Những ống sạc đựng thuốc súng pháo binh dùng làm dụng cụ chứa nước thì thật tuyệt vời, mỗi khi xuống suối tắm lại vác lên chốt một ống sạc nước dùng để nấu cơm và các sinh hoạt hàng ngày. Thường thì mỗi căn cứ pháo binh đều có câu lạc bộ, bày bán đủ thứ cần dùng, café thuốc lá, bánh kẹo đường sữa, xì dầu nước tương, anh em tha hồ mà mua sắm. Anh em lại còn có thể gởi nhờ mua dùm gà vịt, cá tươi, thịt heo, là những thứ không bao giờ thấy mặt trong vùng hành quân. Pháo Dù xài súng lớn chê súng nhỏ nên đạn dược rất dư dả, lượn qua lượn lại vài vòng là anh em biết ngay chỗ nào để lựu đạn. Biết chỗ để mà xin, xin không cho thì chôm cũng vậy thôi.Mỗi năm, người lính Nhảy Dù được cấp phát 2 bộ quần áo và 1 đôi giày bố. Lính băng rừng vượt suối, gai góc cào sướt cả chân tay mặt mũi, 2 bộ quần áo và 1 đôi giày bố kéo dài được bao lâu hở trời!! Nghiêm sĩ Thành và các đồng đội vẫn lầm lũi trên đường hành quân,nhẫn nại chịu đựng như chiếc cuốc cán cây cột chặt trên nắp ba lô. Chiếc cuốc cán cây đã sát cánh chung lưng với những người lính tiểu đoàn 8 Nhảy Dù từ mặt trận An Lộc, qua đến chiến trường Quảng Trị, và nay lại cùng nhau phơi lưng trên những ngọn đồi vùng núi Yên Bầu.Người lính Nhảy Dù ngã ngửa xuống đất, máu loang ra trên ngực áo, nhỏ xuống đất, bàn tay anh quờ quạng như muốn tìm lại khẩu súng. Đồng đội của anh lập tức xông lên tiếp cứu anh, anh được tải thương về tuyến sau, chiếc cuốc cán cây của anh được chuyền ngay cho một đồng đội khác. Cứ như thế, chiếc cuốc được chuyền từ tay người này sang tay người khác, ròng rã miệt mài theo chân cuộc chiến. Trên cán cuốc đã in chồng chất dấu tay của biết bao nhiêu người đã rời khỏi chiến trường, hoặc đã chết, hoặc đã bị thương. Chiếc cuốc cán cây đã chứng kiến biết bao cái chết không toàn thây, làm gì có băng ca, hai tay và hai chân của tử sĩ được cột lại thật chặt, một đòn cây rừng xỏ dọc qua, 2 người đồng đội ở hai đầu ghé vai gánh xác bạn mình đưa về đại đội, từ đại đội lại gánh về tiểu đoàn. Những người quen thân cũ lần lượt ra đi, chỉ còn lại chiếc cuốc cầncù nhẫn nại bằm những nhát cuốc nháng lửa xuống vùng đất cày lên sỏi đá để bảo vệ mạng sống cho những người còn ở lại hay vừa mới tăng cường hành quân. 2 hoặc 3 người lính dùng chung một chiếc cuốc, hễ dừng quân là lập tức đào hầm chiến đấu, đó là thứ kỷ luật tác chiến khắt khe của lính Nhảy Dù. Trên đường tiến sát lên mục tiêu, hễ chựng lại là đào hầm, không đào hầm thì địch pháo kích lấy gì mà đỡ, chiếc cuốc cán cây là vật bất ly thân của người lính Nhảy Dù. Chiếc cuốc cán cây tận tụy xả thân bảo vệ mạng sống cho người lính, từ chiến trường này cuốc sang chiến trường kia, giờ đây lưỡi cuốc đã mòn nhẵn, chỉ còn dài độ chừng hai đốt ngón tay mà người lính vẫn không dám bỏ đi, chẳng lẽ đào hầm bằng tay không, đã 2 năm qua chưa hề có một đợt cấp phát cuốc xẻng nào.Suốt cả tháng nay trời mưa liên miên bất tận, hết mưa lớn lại đến mưa nhỏ, mưa cho thúi đất, mưa cho mặt trời xấu hổ trốn biệt tăm. Giao thông hào, chỗ nào cũng ngập nước, anh em phải lấy poncho giăng lên để dồn nước chảy ra ngoài, giữ cho chỗ nằm tương đối đỡ ẩm ướt. Gió vỗ vai mưa, rủ nhau đem cái lạnh kinh người thổi lên khắp vùng đồi núi, Thành đã nêm lên người hai bộ quần áo, lại khoác thêm một cái áo jacket bên ngoài mà vẫn thấy lạnh run. Trong căn hầm nhếch nhác, những giọt nước mưa không mời vẫn tìm cách lọt vào trong khiến chỗ nào cũng thấy ươn ướt, ghê ghê. Thành câu hai đầu của sợi dây điện vào cục pin của máy truyền tin PRC-25 đã cũ, ánh sáng tỏa ra từ chiếc bóng đèn nhỏ khiến cho mọi vật như khô ráo, ấm áp hẳn lên. Thành vói tay mở nắp ba lô lấy ra một lá thư màu xanh, chàng từ tốn lấy ra một điếu thuốc, châm lửa đốt. Hơi thuốc len vào buồng phổi mà nghe đời quá đã. Thành không nhớ mình đọc lá thư này đã bao nhiêu lần, càng đọc càng thấy cuộc đời thêm rắm rối.Người gởi: Ngọc Lan.Thành phố cũ.Người nhận: Chuẩn úy Nghiêm sĩ ThànhĐại đội 83, Tiểu đoàn 8 NDKBC 3119/HQ.Anh Thành thương yêu,Trời Sài Gòn bắt đầu trở lạnh sớm hơn mọi năm, sáng nay đi học em phải khoác thêm chiếc áo len. Gió ban mai se sẽ luồn trong tóc khiến em nhớ anh vô vàn, vậy là chúng ta đã xa cách nhau thật rồi ư? Em cứ ngỡ là anh vẫn còn hiện diện trong thành phố này, anh đang ngồi trong giảng đường hí hoáy chép bài, 11 giờ rưỡi sẽ đến đón em, nên lòng em vẫn mong vẫn ngóng, để rồi tan học em lẻ loi đếm bước một mình.Ở phương xa ấy anh có được khỏe không, thời tiết ở ngoài ấy khắc nghiệt lắm, nhớ giữ gìn sức khỏe nghe anh. Không có anh ở bên cạnh chỉ bảo nên em phải cố gắng học nhiều giờ hơn, mà rồi vẫn thấy điểm kém hơn hồi anh còn ở nhà. Có thể nào anh sẽ là gia sư cho em suốt đời không hở Thành? Em không biết nữa, em chỉ thấy mình quay quắt trong nỗi nhớ nhung, nhớ khuôn mặt anh chững chạc hiền lành, nhớ những cử chỉ anh chăm sóc lo lắng cho em, nhớ những lúc em bắt nạt anh, có phải nhớ nhiều như vậy là đã yêu rồi phải không anh?Thứ bảy vừa rồi em vào thư viện hội Việt Mỹ ôn bài, nhưng không còn tâm trí nào để học nên em phải về nhà, anh biết tại sao không hở anh Thành? Tại vì em gặp lại quá nhiều kỷ niệm của hai đứa mình ở chốn này. Những lối đi, những kệ sách vẫn y nguyên như những ngày tháng cũ, dãy bàn ghế mà hai đứa mình thường hay ngồi học vẫn mòn mỏi đợi chờ ai. Cũng ngay trên chiếc bàn học này, em đã một lần giận anh khủng khiếp, em thật không ngờ.. Mà lạ quá anh Thành à, cái công thức tính đạo hàm kỳ cục đó em muốn quên đi mà không được, nó cứ nằm ỳ trong đầu em không chịu nhúc nhích đi đâu cả, cũng tại anh đó Thành ạ.Ông trời dạo này buồn cười lắm anh Thành ạ, khi không một cơn mưa rào đổ ập xuống, em vội vàng lấy áo mưa ra, vừa mặc xong thì cơn mưa đã chạy tuốt ra đằng kia, bực mình ghê. Em vừa cởi áo mưa ra để xếp lại thì một cơn mưa rào khác lại ào đến, thế có tức không hở anh? Từ ngày quen anh, em đã yêu lây những cơn mưa Sài Gòn, những cơn mưa ướt át làm nẩy mầm tình yêu đôi lứa. Từ ngày anh ra đơn vị dấn thân vào miền chinh chiến, hễ cứ thấy mưa là em lại nhớ đến anh, mưa làm đọng lại những kỷ niệm của hai chúng mình.Anh Thành, hôm qua tạp chí Văn có đăng bài viết của thầy giáo cũ của em. Bài viết của thầy rất hay, anh đọc sẽ thích lắm, thầy viết về những câu chuyện xảy ra ở vùng địa đầu giới tuyến. Em để dành khi nào anh về phép em sẽ đưa anh xem.Đã khuya lắm rồi, em xin ngừng bút, chúc anh luôn luôn khỏe mạnh bình yên.Thương nhớ anh.Ngọc Lan.Thành lờ mờ cảm nhận ra, có điều gì đó không ổn, thì ra Ngọc Lan vẫn thường xuyên theo dõi bài viết của người thầy cũ trên sách báo. Nàng vẫn âm thầm, lặng lẽ dõi theo dấu chân của người này in trên nền cát trắng, bãi biển hoang vu không một bóng người. Ngọc Lan chắc chắn có gởi gắm tình cảm cho người thầy cũ này, ít hay nhiều thì Thành không thể nào đếm được. Một vài lần nhân lúc Ngọc Lan đề cập đến người này, Thành cố ý khai thác tình hình nhưng Ngọc Lan cứ nhất mực khẳng định chỉ là tình thầy trò không hơn không kém. Đã có những lúc Ngọc Lan lộ hẳn vẻ cảm động khi nhắc đến những chăm sóc chiều chuộng của người này. Thành nghe rõ nỗi bực dọc tức tối dâng lên trong lòng, chàng cố dằn xuống và tự nhủ, chuyện đâu còn đó, nóng nảy nhiều khi lại nghi oan cho người yêu của mình thì tội chết. Thành tự hỏi lòng mình sao lại bực tức như vậy, tại tự ái vặt hay do tính ích kỷ hẹp hòi muốn giữ đóa hoa ấy riêng cho mình. Nhưng mà Ngọc Lan đã là gì của Thành đâu mà Thành đòi giữ lấy để làm của riêng, một nụ hôn lên má cũng chưa có nữa là... Nhớ lại thái độ của Ngọc Lan khi nàng bênh vực cho người ấy, Thành tức lắm chỉ muốn cắt đứt đi cho xong, chẳng thà chịu đau một lần để được bình yên thanh thản còn hơn cứ kéo dài mãi cơn đau nhức nhối.Thành bỗng thấy lòng mình chùng xuống khi hình dung đến khuôn mặt xinh đẹp tươi tắn của Ngọc Lan, nàng đẹp và dễ thương quá, nàng ngây thơ thánh thiện quá. Cuộc sống của Ngọc Lan đang xoay quanh một thần tượng, người đó chính là thầy dạy học cũ của nàng, chắc hẳn cuộc sống của nàng đang thăng hoa với bao hạnh phúc tràn đầy. Hãy để cho nàng được vui sống trong lâu đài ảo mộng như nàng công chúa ngủ trong rừng vừa thức giấc, nâng niu, trìu mến, tôn thờ thần tượng của mình. Thành tự nghĩ, vậy là mình cứ lờ đi, nhìn thấy nàng hồn nhiên hạnh phúc bao nhiêu với thần tượng của nàng thì mình lại càng mừng cho nàng bấy nhiêu. Thành bỗng cảm thấy ngạc nhiên với chính mình, sao tự dưng mình lại trở nên từ bi hỉ xả ác liệt đến như vậy.Nhưng cửa thiền đâu đã dễ dàng để cho chàng lách qua. Ngay ngày hôm sau, cơn đau lại nhói trở lại, không nhấp một giọt rượu nào nhưng Thành cảm thấy chếnh choáng như trong cơn say, thương nhớ lẫn vào tuyệt vọng nên đau đớn khôn cùng. Nàng có coi thường chàng hay không, khi mà trong tâm tưởng vẫn còn nghĩ đến người ấy, vẫn còn dõi theo bước đi của người ấy, mà rồi người ấy có nhớ đến nàng đâu, sao mà nàng vẫn cứ nặng lòng với người ta, thật là quái lạ! Tại sao nàng đem tình cảm chia sớt cho kẻ khác mà vẫn hồn nhiên kể lại cho chàng nghe, nghĩ nát óc cũng không sao lý giải được, không thể dùng công thức để đi tìm đáp số cho những rắc rối tơ lòng.Đứng trên đỉnh Mùa Đông ngóng về phương Nam, Thành ngắm nhìn những giải mây trời dắt tay nhau lặng lẽ trôi đi, ước gì Thành được hóa thân vào đám mây ấy, chàng sẽ gọi gió đưa chàng về thăm chốn cũ. Sài Gòn yêu dấu ngổn ngang biết bao kỷ niệm, có người con gái đẹp tuyệt trần mà chàng đã yêu đã nhớ đến lịm cả hồn. Vài tháng nữa tiểu đoàn 8 Nhảy Dù sẽ về Sài Gòn nghỉ dưỡng quân, chỉnh bị đơn vị, Thành nhất quyết lần này sẽ phải hôn lên đôi má nàng một lần, để đem hương vị ngọt ngào ấy rắc lên cuộc đời cho thêm nỗi ngất ngây...-----Tháng 7 năm 1974, quận Thường Đức thuộc tỉnh Quảng Nam bỗng một sớm một chiều sôi thành chảo lửa khi địch quân tập trung về đây nhiều sư đoàn, tổ chức thành nhiều mũi tấn công dữ dội vào các lực lượng trú phòng. Địch hy vọng sẽ khống chế được chiến trường bằng hỏa lực rất mạnh của pháo tầm xa 130 ly, đồng thời địch cũng không muốn nhường vùng không gian cho đối phương khai thác thế mạnh về không quân nên đã thiết lập một hệ thống phòng không đan dày dặc như mắt cáo. Trước thế áp đảo quá mạnh mẽ của địch quân, hệ thống phòng thủ của quận Thường Đức lần lượt sụp đổ, quân trú phòng tan rã, rút chạy tán loạn trên đường lộ, dân chúng hoảng hốt cũng gồng gánh chạy theo. Địch rướn người chồm về phía quận Đại Lộc, một chút nữa thôi, phi trường Đà Nẵng sẽ nằm trong tầm pháo của địch, và sau đó thì...Nhưng địch sẽ không bao giờ thực hiện được cú rướn người này vì sư đoàn Nhảy Dù đã kịp thời nhập cuộc. Lữ đoàn 1 Nhảy Dù đã chuyển quân cấp kỳ vào trận địa, chận đứng ngay cơn bão đang trên đà xô tới, tiếp theo đó là lữ đoàn 2 và lữ đoàn 3 Nhảy Dù nối gót vào vùng hành quân, hình thành thế trận công hãm ép địch phải lùi bước.Đoàn xe quân sự vận chuyển tiểu đoàn 8 Nhảy Dù đến được quận Hiếu Đức thì trời đã xế chiều, anh em nhanh chóng xuống xe, tạm thời tản rộng ra, án ngữ chờ lệnh. Các trung đội trưởng của đại đội 83 tập trung về bộ chỉ huy đại đội nhận lệnh hành quân. Bản đồ vùng Hiếu Đức, Đại Lộc, Thường Đức được phân phối cho các trung đội trưởng. Đại úy đại đội trưởng Phan văn Hiệu trải tấm bản đồ ra trước mặt, đánh dấu cốt tọa độ lên tấm bản đồ bằng một dấu thập đỏ đậm nét, các trung đội trưởng ghi lại cốt tọa độ lên bản đồ của mình. Sau đó từng trung đội trưởng đánh dấu vị trí đóng quân của trung đội mình bằng những chấm màu đen theo sự hướng dẫn của đại úy đại đội trưởng. Thiếu úy Lê mậu Sức, thiếu úy Hoàng vănTiến, thiếu úy Nghiêm sĩ Thành lần lượt báo cáo quân số, tình hình vũ khí đạn dược của từng trung đội. Riêng trung úy Hoàng đắc Hùng sẽ chăm sóc 2 trung đội của thiếu úy Hoàng văn Tiến và thiếu úy Nghiêm sĩ Thành. Lẽ ra trung úy Hoàng đắc Hùng đã là đại đội phó mang súng ngắn, nhưng Nhảy Dù không có chức vụ đại đội phó.Thiếu úy Nghiêm sĩ Thành dẫn trung đội di chuyển về phía ngọn đồi nhỏ, quây tròn thành một tuyến phòng ngự, đặt 4 vọng gác ra 4 hướng quan sát cẩn mật, anh em vác cuốc ra đào hầm chiến đấu, súng và dây đạn đặt ngay bên cạnh phòng khi hữu sự, số anh em còn lại đi lượm củi, kiếm nước lo nấu bữa cơm chiều. Như thường lệ, thiếu úy Nghiêm sĩ Thành đích thân chỉ định vị trí cho 2 khẩu đại liên M60. Người lính Nhảy Dù lúc nào cũng đặt mình trong tư thế sẵn sàng tác chiến.Cơm nước xong mà không có điếu thuốc thì cuộc đời trở nên vô vị lạt lẽo, khó chịu trong người. Có điếu thuốc mà không được một ly café thì khác gì ngứa mà không cho gãi. Nghiêm sĩ Thành đưa ly café lên miệng làm một hớp nhỏ, vị café tan ra trên đầu lưỡi, một hơi thuốc Capstan kéo vào quyện lẫn với mùi café tạo nên một cảm giác sảng khoái tuyệt vời. Thành ngồi đó, trên một ngọn đồi thấp thoáng những lùm cây, ngẩng mặt nhìn vầng trăng vừa sáng tỏ, ngẫm nghĩ không biết giờ này Ngọc Lan đang làm gì, có nhớ đến Thành hay không, có nhớ đến những phút giây đầm ấm mà dường như vẫn còn đọng trên má trên môi. Vậy là Thành đã hôn được Ngọc Lan rồi đó, làn da Ngọc Lan trắng muốt mịn màng, hương thơm thoang thoảng từ mái tóc của nàng khiến Thành lâng lâng, vậy là đủ lắm rồi. Hạnh phúc là nơi mà người ta biết vừa đủ để ngừng lại, biết trân quí nâng niu những gì mình đang có. Hôn nhau xong, hai đứa cùng nhìn nhau cười, hai chiếc má lúm đồng tiền nho nhỏ trên khóe miệng nàng cũng đon đả cười theo. Nàng xinh đẹp dịu dàng như nụ hoa vừa chớm nở, Thành sung sướng ngắm nhìn người yêu, trong lòng rộn lên một nỗi thương yêu vô bờ bến. Nhưng đau khổ thay, mãi mãi về sau này Thành sẽ không bao giờ quên được nỗi hụt hẫng, nhói đau bất ngờ vào 1 buổi chiều sau đó vài ngày. 2 đứa ngồi trong quán kem, ngoài trời mưa gió ngả nghiêng, Thành kể chuyện quân hành trong nỗi ướt át, lạnh lẽo. Ngọc Lan chăm chú nghe và rồi nàng tỏ vẻ ưu tư phiền muộn:- Anh hành quân ở ngoài ấy, nếu chịu khó hỏi thăm thế nào cũng có được tin tức của thầy.-----Buổi sáng sớm ngày hôm sau, tiểu đoàn 8 Nhảy Dù bắt đầu chuyển quân vào vùng lửa đạn. Đoàn quân xa chở đầy ắp lính Nhảy Dù, phun khói phóng nhanh trên liên tỉnh lộ số 4 hướng về quận Đại Lộc. Qua Ái Nghĩa, Cầu Chìm, anh em đã nghe thấy tiếng súng nổ, những loạt đạn đại bác gầm gừ đe dọa.Đoàn xe dừng bánh đổ quân xuống ven đường. Các đại đội lập tức di chuyển, đại đội 83 do đại úy Phan văn Hiệu chỉ huy vượt ngang về phía bên trái con đường, các trung đội được lệnh bung rộng đội hình, di chuyển về phía trước. Hướng trước mặt của đại đội 83 là dòng sông Vu Gia nước lừng lững trôi, phía bên kia sông sừng sững những ngọn núi rất cao, trên đó địch đã bố trí dày đặc và đang nhếch miệng cười, nhìn xuống giải đồng bằng hẹp, trông thấy rõ những cánh quân Nhảy Dù đang lặng lẽ nhập cuộc.Xế trưa ngày hôm sau, đại đội 83 được lệnh di chuyển sang bên kia con đường. Đại đội nhận lệnh chuẩn bị đánh dọc theo trục lộ bên tay phải, hướng về phía đồi 52. Thiếu úy Nghiêm sĩ Thành và thiếu úy Hoàng văn Tiến dẫn 2 trung đội mở đường tiến vào làng Hà Nha. Cánh quân này được đặt dưới quyền điều động của trung úy Hoàng đắc Hùng.Trung đội tiến chậm trên cánh đồng trống, khi còn cách bìa làng khoảng 300 thước thì ngừng lại. Thiếu úy Nghiêm sĩ Thành bò lên phía trước, ẩn người sau một gò đất nhỏ, cẩn thận quan sát mục tiêu. Nhìn kỹ, thấp thoáng sau lũy tre có bóng người qua lại, tay cầm vũ khí, đầu đội nón cối. Nghiêm sĩ Thành bò trở về vị trí cũ, cho anh em đào hầm, canh gác cẩn mật. Màn đêm buông xuống, cảnh vật chìm dần trong bóng tối, anh em không ai ngủ được, ai cũng hồi hộp đợi chờ, trung đội đã nhận được lệnh tiến chiếm làng Hà Nha giữa khuya đêm nay.Thiếu úy Nghiêm sĩ Thành đích thân chỉ huy tiểu đội 1 tấn lên phía trước, 2 tiểu đội còn lại căng ra hai cánh nối bước liền theo sau. Tiểu đội tiên phong vừa đặt chân vào tới bìa làng thì bất ngờ tiếng súng của địch nổ vang dội, ánh lửa lóe lên từ nòng súng trong những căn hầm kiên cố, tầm bắn thật gần, lựu đạn tung ra như mưa. Thiếu úy Nghiêm sĩ Thành gào to như muốn át tiếng súng nổ:- Xung phong, xung phong!Nghiêm sĩ Thành lao nhanh người về phía trước. Vừa lúc đó, một loạt đạn AK đón bắn ngay vào giữa ngực Thành, Nghiêm sĩ Thành ngã ngửa về phía sau, ngực bể nát, Thành chết rất nhanh.Không gian như đóng sầm cửa lại, mọi âm thanh đột nhiên vụt ngưng bặt, trong nỗi im lặng thênh thang của cõi hư vô, có ai đó nhè nhẹ cất tiếng ngâm nga:Nhạn quá trường giang ảnh trầm hàn thủy.Nhạn bất di tích chi ý, thủy vô lưu ảnh chi tâm.----Ghi chú của Bác sĩ Trần đức Tường*, y sĩ trưởng tiểu đoàn 3 Nhảy Dù:Bác sĩ Nghiêm sĩ Tuấn tử trận tại 5 Km phía tây Khe Sanh khoảng tháng 4 năm 1968 (giữa Khe Sanh và làng Vây, trên một ngọn đồi). TĐ6 ND, TĐ3 ND và TĐ8 ND hành quân với LĐ3 ND do Đại tá Nguyễn khoa Nam chỉ huy. Anh bị tử thương vì pháo kích (cối 61) trước khi địch xung phong. Rủi cho anh và TĐ QY bị thiệt hại mất một bác sĩ, nhưng trận đó VC thua để lại trên 50 xác. Anh hy sinh khi đứng dưới hố cá nhân săn sóc vết thương cho một thương binh nằm cáng trên miệng hố. Anh chết liền (khoảng 6 giờ chiều) khi cuộn băng (bandage) còn cầm trên tay. Lúc đó tôi và TĐ3 ND cũng đụng trận cách đó khoảng 1 Km.Vài chi tiết đóng góp kẻo quên mất, trận đánh vào tây Khe Sanh do lữ đoàn 3 Nhảy Dù chỉ huy nhằm chận hậu cho TQLC Mỹ rút khỏi căn cứ Khe Sanh. LĐ3 ND đổ bộ bằng trực thăng từ phi trường Ái Tử, Quảng Trị và căn cứ Tà Lu, rồi từ Tà Lu được First Cavalry (không kỵ) đổ vào trận địa với hàng trăm trực thăng. Thứ tự đổ quân là TĐ6 ND rồi TĐ8 ND cộng BCH/LĐ3 ND vào thiết lập FSB (Firing support base),sau cùng là TĐ3 ND.Lúc ở Cà Lu tôi có gặp Nghiêm sĩ Tuấn, lúc anh sắp sửa lên trực thăng vào trận địa. Tôi có hỏi anh:- Nhiếp nó sẵn sàng thay toa rồi, sao không về?Tuấn nhỏ nhẹ trả lời:- Anh Lân cũng muốn mình bắt cái Đại úy, nhưng đó là chuyện nhỏ. Mình sống chết với tiểu đoàn, bỏ về trong trận lớn này không đành…Rồi trực thăng tới mang theo thương binh của đợt đầu! Antenne Chirurgical của TĐ QY (hình như anh Thiều chỉ huy) take care. Vì thế Nghiêm sĩ Tuấn theo quân vào chiến địa.* Y sĩ thiếu tá Trần đức Tường, vị tiểu đoàn trưởng cuối cùng của tiểu đoàn quân y, sư đoàn Nhảy Dù.Vũ đình HảiKBC 3119
QUÁN CƠM BÀ CẢ ĐỌI - NƠI LƯU DẤU CHÂN NHỮNG LÃNG TỬ SÀI GÒNNhững cư dân sống lâu năm ở Sài Gòn thích ẩm thực hương vị đồng quê Kinh Bắc với thịt kho, dưa chua, trứng đúc, cà bung… thì Tiệm cơm ĐỒNG NHÂN - Cơm Bà Cả luôn được nhắc đến. Nhiều người đi xa mấy chục năm trở về cũng được bạn bè nhắn: “Nhớ ăn giùm tôi bát canh cua rau đay của Bà Cả nha”.Bà Cả được nhiều người biết đến không chỉ do tài nấu nướng khéo léo của bà. Thương hiệu Quán cơm Bà Cả Đọi được các lãng tử, thành viên các ban nhạc trẻ ở Sài Gòn truyền tai nhau cách đây 53 năm, rồi lan rộng ra nhiều giới đã trở thành huyền thoại đối với những người sành ẩm thực Sài Gòn.Theo tự thuật của ký giả Trường Kỳ trong Một thời Nhạc Trẻ, ngay đầu tháng 2.1968, chiến sự căng thẳng nên chính quyền Sài Gòn ra lệnh đóng cửa các phòng trà, vũ trường. Ông (Trường Kỳ) lúc ấy đang phụ trách biên tập chương trình ca nhạc “Hippies à gogo” diễn vào thứ Bảy và Chủ nhật hàng tuần tại phòng trà Chez Jo Marcel số 67 Nguyễn Huệ, giờ tình hình như vậy nên đâm ra rảnh rỗi không có việc làm và không có tiền.Một buổi trưa, ông rủ người bạn đi tìm quán cơm bình dân do những cư dân xung quanh giới thiệu. Quán nằm trong hẻm số 53 Nguyễn Huệ, chỉ cách chỗ ông làm mấy bước chân. Cả hai lơ láo đi vào trong cái ngõ hẹp nhỏ xíu, với những căn nhà lâu đời cũ kỹ, hai bên giăng đầy quần áo, trẻ con chạy qua chạy lại chơi đùa rầm rầm. Để ý mãi cũng không thấy một căn nhà nào có vẻ một quán ăn.Cuối cùng hỏi thăm mới biết quán ăn này không có tên tuổi, bảng hiệu, nằm ở cuối hẻm và phải bước lên mười mấy bậc thang xi măng lên tầng trên mới tới được quán cơm bí hiểm này.Ký giả Trường Kỳ đã không ân hận khi phải trèo lên mười mấy bậc thang xi măng. Vừa bước vào quán đã nhìn thấy ngay chiếc bàn to để thức ăn, nào là đậu hũ nhồi thịt, cá chiên, thịt kho, dưa chua, trứng đúc, cà bung... và nồi canh đang sôi sùng sục, những món ông yêu thích.Khách khứa ở đây gần như đều thuộc thành phần lao động, ngồi ăn rất thoải mái trên chiếc phản gỗ to kê sát tường. Mấy cô gái con bà chủ rất niềm nở, nhanh nhẩu thu xếp một bàn nhỏ cho hai vị khách mới. Ông gọi một tô canh mồng tơi, một đĩa cà pháo, một đĩa ốc giả ba ba, một đĩa thịt kho và một đĩa trứng đúc thịt. Cơm nóng, canh nghi ngút khói và những đĩa thức ăn thơm điếc mũi đã khiến ông và bạn không ngại ngần, ăn một mạch hết sạch mâm cơm, căng cả bụng.Đã từ lâu, ông trải qua “những ngày tháng lêu bêu, ngày ở hotel, tối vũ trường, trưa thì cơm hàng cháo chợ” nay được bữa cơm ngon, khung cảnh gia đình, ông cảm thấy ấm lòng. Bữa cơm hương vị quê nhà đã khởi đầu nhân duyên kỳ ngộ giữa chàng lãng tử và bà chủ quán nhân hậu.Ông Đinh Văn Viêm người làng Đồng Nhân, nơi có đền thờ Hai Bà Trưng, trước đây thuộc huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông, nay thuộc Hà Nội. Khi còn rất trẻ, ông đơn thân vào Sài Gòn lập nghiệp từ đầu thập niên 1940. Đến khi trưởng thành, là con cả, vâng lời cha mẹ, ông về quê lấy vợ là cô Hoàng Thị Túc, người cùng làng, rồi đưa vợ vào Sài Gòn sinh sống ở căn nhà trong hẻm số 53 Nguyễn Huệ từ năm 1948. Hàng xóm láng giềng quen gọi là ông bà Cả. Ông bà Cả có với nhau được 6 con gồm 4 gái, 2 trai. Một lần, ông Cả trèo lên mái nhà sửa sang, không may trượt chân ngã xuống đất thiệt mạng, để lại người vợ trẻ và đàn con thơ dại. Hơn 12 năm làm vợ, lâm vào cảnh góa bụa khi mới hơn 30 tuổi, bà Cả mở hàng cơm Bắc tại nhà từ đầu thập niên 1960, để nuôi đàn con nhỏ.Sau vài lần đến quán rồi dần trở thành khách hàng thân quen, ký giả Trường Kỳ đã biết tên các người con lớn, cô Xuân, cô Hường, cậu Thuận và ông rất khâm phục khi biết được hoàn cảnh của bà Cả, một bà mẹ Việt Nam điển hình, cần cù, nhẫn nại, hy sinh vì đàn con. Và ngược lại, mọi người trong nhà đều quen gọi ông là “cậu Kỳ”, một vị khách đặc biệt với mái tóc dài, quần ống bó, đi giầy botine, mặc áo thun, hoàn toàn không giống những người khách quen khác.Thấy quán chưa có tên, bảng hiệu, là người có nhiều sáng kiến, cậu Kỳ đề nghị đặt tên cho quán, một cái tên độc đáo Quán Bà Cả Đọi. Bà chủ quán tuy chẳng quan tâm đến tên tuổi, bảng hiệu nhưng cũng thắc mắc về chữ “đọi” và yêu cầu giải thích. Đọi là rách, là đói, là kiết xác, nghèo mạt rệp, cóc có địa để đi đớp hít ở những nơi có sơn hào, hải vị. Nghe vậy, bà chủ quán đôn hậu chỉ biết cười và lắc đầu, xua tay lia lịa vì sự tinh quái của vị khách trẻ. Và tất nhiên bà Cả chưa bao giờ cho kẻ tên bảng hiệu này.Từ “đọi” mà ký giả Trường Kỳ dùng là tiếng lóng của giới trẻ choai choai thời đó tạo ra, cũng giống như lối chat của tuổi teen thời nay, mục đích để các bậc cha mẹ không hiểu được các trao đổi của con cái với bạn bè. Cách tạo tiếng lóng thời ấy rất đơn giản, thường là đọc trại đi từ gốc. Ví dụ: đọi - đói, địa - tiền, y - áo, quởn - quần, xế - xe máy, đổng - đồng hồ, chiển - dây chuyền (vàng)… Các tiếng lóng này còn tồn tại đến giữa thập niên 1980, sau đó không thấy dùng nữa. Cái hay của ký giả Trường Kỳ là từ “đọi” ông dùng không hàm ý chê trách mà ông muốn tạo ấn tượng đặc biệt, thậm chí có người lầm tưởng đó là tên riêng, Cả Đọi.Không dừng lại ở cách đặt tên, cậu Kỳ còn có sáng kiến trong cách quảng cáo mà ngày nay chúng ta gọi là tiếp thị rất hiệu quả. Ông gọi đó là phương thức “vô tuyến truyền tai”, rỉ tai bạn bè trong giới ca nhạc trẻ, thậm chí đặt slogan rất kích động “Không biết quán Bà Cả Đọi, không phải là dân chơi”. Thế là chỉ mấy ngày sau, hẻm 53 Nguyễn Huệ vốn yên bình, nay nhộn nhịp hẳn lên bởi sự xuất hiện những nam thanh tóc dài chấm vai, nữ tú với mini jupe cực ngắn hỏi thăm quán.Tiếp đến các ban nhạc trẻ Sài Gòn lũ lượt kéo đến. Nào là nhóm Ba Con Mèo với Uyên Ly, Kim Anh, Mỹ Hòa; nhóm Ba Trái Táo với Vy Vân, Tuyết Hương, Tuyết Dung… rồi hầu như cả làng nhạc trẻ Sài Gòn đều đến thưởng thức món ăn dân dã ở quán bà Cả. Cậu Kỳ từng nhiều lần chọn nơi này để cùng với Jo Marcel, Tùng Giang, Nam Lộc bàn việc tổ chức các đại hội nhạc trẻ.Giới ca nhạc trẻ đến, kéo theo các ký giả báo Điện Ảnh, Kịch Trường như Ngọc Hoài Phương, Trần Quân… Rồi tiếp đến là giới điện ảnh, kịch nghệ, tài tử điển trai Trần Quang - vai chính phim Vết thù trên lưng ngựa hoang; diễn viên trẻ Tú Trinh, sau là nghệ sĩ lồng tiếng xuất sắc cũng tìm đến thưởng thức tài nghệ nấu nướng của bà Cả. Quán dần đông khách hẳn ra, được nhiều người biết đến và trở thành trung tâm tin tức của giới văn nghệ Sài Gòn.Rong chơi mãi cũng đến ngày chàng lãng tử Trường Kỳ nghĩ đến việc lập gia đình. Bà Cả là trường hợp cậu Kỳ đắn đo khi mời dự tiệc cưới, một người là khách và một người là chủ quán, dù thân tình nhưng để mời dự tiệc cưới với số khách chọn lọc thì thực là khó. Hơn nữa, ông không muốn bà Cả phải phiền hà nên ông chỉ gửi thiệp báo tin thành hôn. Ấy vậy, trước ngày cưới vài hôm, bà Cả đã đến tận nơi cậu Kỳ ở thuê để trao quà mừng, một bao thơ và nói: “Chúc cô cậu hạnh phúc, khi nào xong việc thì nhớ ghé quán ăn nhé!”. Không để cậu Kỳ nói lời cảm ơn, bà Cả mượn cớ bận việc xin phép về ngay. Cậu Kỳ chưa hết ngạc nhiên, lại thêm bất ngờ khi biết tiền mừng là 5 “xín” (5.000đ) gấp 5 lần vị khách bình thường. Sau khi cưới, vợ chồng son dắt díu nhau lên thăm bà Cả để nói lời cám ơn, lại được bà khoản đãi bữa cơm thân mật.Hợp rồi lại tan. Giữa năm 1975, tình hình xã hội thay đổi, các lãng tử nhạc trẻ trôi dạt tứ tán, không còn đến quán Bà Cả Đọi nữa. Bà Cả mất đi loạt khách này nhưng lại có thêm khách mới là các tư thương ở khu chợ trời Huỳnh Thúc Kháng mới lập, chuyên bán radio, cassette, băng nhạc. Những khách quen ở khu vực Chợ Cũ, ngã tư Hàm Nghi - Tôn Thất Đạm tiếp tục đến ủng hộ Bà Cả. Ông Tư, cư dân gần 70 năm ở Sài Gòn kể: “Hồi cuối thập niên 1980 đầu 1990, tôi coi kho cho công ty vận tải biển bên quận 4. Ngoài lương còn có thêm tiền ba lợi ích nên tuần hai ba lần tới ăn trưa ở quán cơm Bà Cả Đọi. Tôi khoái cái cảm giác ngồi xếp bằng trên phản húp chén canh cua rau đay nóng hổi”.Năm 1992, cậu Kỳ về Sài Gòn sau hơn 10 năm xa cách. Ông thăm lại quán xưa vẫn được bà Cả tiếp đón ân cần, hỏi thăm chuyện nhà, biết được cô con gái lớn của bà đang trông coi quán thứ hai trên đường Ngô Đức Kế. Đến giữa thập niên 1990, bà Cả không bán tại nhà nữa, chuyển sang địa điểm mới tại số 11 Tôn Thất Thiệp, quận 1 và chính thức có bảng hiệu to - Tiệm cơm ĐỒNG NHÂN và bảng phụ ghi Cơm Bà Cả như để gợi nhớ. Thời gian sau, bà Cả còn mở tiếp quán nữa ngay ngã tư Lê Thánh Tôn - Trương Định, quận 1 để con cháu trông coi.Quán cơm Bà Cả Đọi khi xưa giờ không còn nữa, toàn bộ cư dân trong hẻm 53 Nguyễn Huệ đã bán nhà cho công ty bất động sản để làm dự án đầu tư. Ký giả Trường Kỳ mất năm 2009, bà Cả yên nghỉ năm 2016. Nhưng câu chuyện về Quán cơm Bà Cả Đọi vẫn được các thực khách kể lại trên bàn tiệc với nhiều thêu dệt. Và đọng lại trong đó, ta biết được sự tương kính, tôn trọng nhau giữa vị khách và người chủ ngày ấy, nét ứng xử nhân văn của người Sài Gòn xưa.NHỮNG ANH THỦY THỦ GIÀ
De NguyenNghe tựa đề là thấy cả một bầu trời "muối mặn" rồi. Những anh Thủy Thủ già, cựu Chiến Binh hoặc các Sĩ Quan kỳ cựu, không chỉ có kỷ luật thép đâu, mà khi đã cởi mở và vui vẻ thì độ "lầy lội" và đáng yêu cũng thuộc hàng thượng thừa. Những thói quen... cưng muốn xỉu luôn của các "lão binh" vui tính thì nhiều, nhiều lắm.Người ta hay bảo: "lính mà em", nhưng nếu đó là một anh lính già đã đi qua sương gió, cộng thêm bản tính khoái tấu hài, thì ta sẽ thấy một sự kết hợp lạ lùng giữa một vị Đại Tướng uy nghiêm và 1 đứa trẻ... 5 tuổi rưỡi. Đừng để vẻ ngoài sạm nắng hay vài nếp nhăn nơi khóe mắt đánh lừa, bởi ẩn sau đó là những thói quen dễ thương đến mức… "đỡ không nổi".Thói quen của mấy anh thường bắt đầu từ 5 giờ sáng như con gà trống hàng xóm gáy luôn đúng giờ. Pha ly café xong là ngồi xuống mở PC ra điểm danh mấy người bạn lên Message có nhắn gì không? Lướt qua tin tức trong ngày và Facebook có gì mới không? Xong xuôi đâu vào đó rồi ho lên vài tiếng lớn để bà vợ biết mình thức rồi. Dậy đi, làm gì ăn sáng nghe... em.Những anh lính già, nghe qua tưởng như một “di tích sống” của thời oanh liệt, nhưng nếu có dịp ngồi chung một bàn cà phê hay một bàn nhậu, ta mới khám phá ra một kho tàng..thói quen dễ thương mà nhiều khi cũng.. “dễ sợ” không kém. Cái đáng quý là dù tóc đã bạc, bụng đã phệ, đầu gối kêu răng rắc như pháo Tết, các anh vẫn giữ được cái tinh thần cởi mở, vui vẻ và đặc biệt là cái khiếu chọc cười thiên bẩm, thứ vũ khí lợi hại hơn cả M16 ngày xưa.Trước hết phải kể đến cái thói quen... gặp nhau là chào theo kiểu nhà binh. Dù đang ở chợ, ở quán phở hay đứng trước cửa nhà, cứ thấy bóng dáng hao hao giống “đồng đội cũ” là các anh lập tức đứng thẳng người, mắt sáng lên, rồi hoặc là giơ tay chào, hoặc là đập vai cái “bốp” như thể đang đụng nhau ngoài phố khi "lặn" đi bờ. Người ngoài nhìn vào tưởng 2 ông sắp... gây lộn, ai dè quay qua đã nghe: “Ê! Mày còn sống hả thằng quỷ?” Nghe thì có vẻ nặng lời, nhưng giọng điệu thì đầy thương mến, kiểu như gặp lại báu vật thất lạc.Một thói quen khác vô cùng đáng yêu là... cái gì cũng đem ra so với “ngày xưa đi lính”. Trời nóng? “Hồi đó trời nắng ngoài Trung, 40 độ còn chịu được nghe mậy!” Trời lạnh? “Lạnh này nhằm nhò gì, hồi đó tao đi ca quan sát, trời mưa gió,lạnh muốn "teo" luôn đó mầy.” Ăn dở? “Hồi đó ăn lương khô còn ngon hơn cái này.” Ăn ngon? “Ừ, cũng tạm... nhưng chưa bằng cơm nhà bàn của Trung Tâm Tạm Trú hồi xưa.” Tóm lại, trong vũ trụ của các anh, mọi thứ đều có một chuẩn mực duy nhất là “thời đi lính”. Mà chuẩn mức đó thì lúc nào cũng hơn hiện tại... một chút, đủ để làm người nghe vừa nể vừa mỉm cười.Rồi đến cái thói quen kể chuyện.Ôi thôi,một khi các anh đã “vô số” rồi thì tới luôn bác tài, câu chuyện có thể kéo dài từ lúc trời sáng cho tới khi... bà xã gọi về ăn cơm. Mà chuyện nào cũng hấp dẫn, cũng gay cấn, cũng “suýt chết” vài lần. Điều thú vị là cùng một câu chuyện, mỗi lần kể lại, lại... có thêm chi tiết mới rất hấp dẫn. Lần đầu thì “Tao đụng bão cấp 10, lần sau lên 12, lần kế tiếp thì cả tàu bị bão thổi dạt... lên bờ luôn.” Nghe riết rồi ta không biết nên tin hay nên cười, nhưng chắc chắn là nghe mấy ổng "nổ" thì không thể nhịn cười.Đặc biệt, các anh có một thói quen rất dễ thương là... chọc ghẹo nhau không thương tiếc. Ai mập thì bị gọi là “xe tăng”, ai ốm thì “cây sậy”, ai hói thì “bãi đáp trực thăng”. Nhưng tuyệt nhiên không ai giận. Trái lại, càng bị chọc lại càng cười lớn. Có lẽ sau bao nhiêu năm đối mặt với sóng nước, mấy cái “đòn khẩu chiến” này chỉ như gãi ngứa. Thậm chí, ai không bị chọc còn cảm thấy hơi buồn, vì nghĩ chắc mình không đủ “đô” để anh em quan tâm.Một thói quen nữa là... rất thích tụ tập. Lý do thì muôn hình vạn trạng: Sinh nhật, giỗ chạp, lễ lộc, hay đơn giản là “hôm nay trời đẹp”. Nhưng thật ra, lý do chính chỉ là... nhớ nhau. Mỗi lần gặp là mỗi lần như trở về tuổi 20, nói chuyện ồn ào, cười ha hả, quên luôn chuyện đau lưng, cao máu hay tiểu đường. Có anh đang uống thuốc đều đặn, vô bàn nhậu thì quên sạch từ bịnh tật tới vợ con, đến khi về nhà mới nhớ ra: “Chết cha, hôm nay quên uống thuốc.”Nhưng rồi lại cười xòa: “Thôi,mai uống bù.”Không thể không nhắc đến cái thói quen giữ nếp kỷ luật rất “ngược đời”. Ra ngoài thì thoải mái, nói cười vô tư, nhưng hễ đã hẹn là... đúng giờ. Có khi đến sớm nửa tiếng ngồi chờ, chứ không chịu trễ. Ngồi ăn thì vẫn có thứ tự: Lớn tuổi hay cấp bậc cao hơn ngày xưa thường được “ưu tiên” ngồi đầu bàn. Nhưng cái hay là chính mấy ông “đầu bàn” lại hay... pha trò nhất, phá vỡ mọi nghiêm trang, phép tắc, làm cả bàn cười nghiêng ngả.Còn một thói quen vừa dễ thương vừa nguy hiểm, đó là thích “hướng dẫn chiến thuật” trong đời sống thường ngày. Đi siêu thị cũng chia đội hình, ai đẩy xe, ai lấy đồ. Đi câu cá cũng vạch kế hoạch như hành quân, đặt ai mua mồi, ai mua bia. Thậm chí có ông còn chỉ cách... “né” vợ khi bà nổi giận, nghe cứ như đang tránh địch phục kích. Mấy bà vợ nghe được chỉ biết lắc đầu: “Lính tráng gì mà già rồi còn bày đặt... chiến thọt với chiến thuật.” Nhưng trên tất cả, điều dễ thương nhất ở những anh Thủy Thủ già chính là cái tình. Tình đồng đội không phai, tình bạn không nhạt, và cả cái tình với cuộc đời. Họ cười nhiều, chọc nhau nhiều, kể chuyện “nổ” nhiều, nhưng ẩn sau đó là sự trân quý từng ngày còn được gặp nhau, còn được ngồi bên nhau. Bởi họ hiểu rõ hơn ai hết, cuộc đời này mong manh ra sao.Thế nên, nếu có dịp ngồi chung với những anh Thủy Thủ già ấy, xin đừng ngạc nhiên khi thấy họ ồn ào, “nổ banh trời” hay chọc ghẹo nhau không kiêng nể. Hãy ngồi xuống, nghe vài câu chuyện, cười vài trận cho sảng khoái. Rồi ta sẽ nhận ra cái dễ thương của họ không nằm ở lời nói, mà nằm ở cái cách họ sống vô tư, chân thành và lúc nào cũng sẵn sàng biến một buổi gặp gỡ bình thường thành một... trận cười “long trời lở đất”.Những anh lính Thủy Thủ già cởi mở, vui vẻ chính là những pho sử sống, nhưng là những pho sử được viết bằng... mực tím mộng mơ và những nốt nhạc vui nhộn. Thói quen của các anh, từ việc gấp chăn mền cho vuông vức đến những câu chuyện “khó tin không có thật” nhưng "nổ" vang trời . Thực chất là cách các anh giữ lại cái chất "thép" của một thời oanh liệt, đồng thời cũng là cách để các anh quý trọng cuộc đời bình yên hiện tại.Nếu nhà bạn có một "anh lính già" như thế, hãy trân trọng và đừng quên cổ vũ cho những "trận đánh long trời lở đất " bên mâm cơm hay những màn "văn nghệ cây nhà lá vườn" của các anh nhé. Bởi vì có các anh, ngôi nhà không chỉ là nơi để ở, mà còn là một đơn vị đầy ắp tiếng cười và tình yêu thương.Tết Tha Hương
Người vợ đứng cạnh bàn ăn hỏi:– Còn mấy ngày nữa là Tết hả anh?Người chồng đang ngồi xem TV lơ đãng đáp:– Thất nghiệp rồi, chán lắm, Tết gì mà Tết!Người vợ nhún vai đáp:– Anh sao oải thế!Người chồng, như thể bị chạm nọc, nổi nóng:– Oải? Oải là cái gì? Em nên bớt bớt cái giọng điệu cà chớn đó đi.Độ này em hay trở chứng lắm.NhưngTết gì?Người vợ nổi nóng theo:– Tết là Tết chứ còn Tết cái con khỉ gì nữa.Người chồng trợn mắt, to tiếng:– Tết tây hay Tết ta? Hiểu chưa? Tết gì thì nói ngay đi! Đừng giở trò cái con khỉ nhé!– A cái anh này! Tết tây qua đã lâu, thì còn Tết ta chứ Tết gì nữa. Có thế mà anh không hiểu nổi sao?”Người chồng mặt nhăn riết:– Lý sự cùn! Tưởng thế là hay lắm chắc? Thì cứ bảo còn mấy ngày nữa là đến Tết ta. Như thế tôi khỏi phải động não. Lại còn a cái anh này, a cái anh kia. Bất lịch sự lắm.Người vợ cũng không vừa:– Chữ nghĩa đao to búa lớn! Chỉ có thế mà phải động não với động đất.Người chồng hùng hổ quát:– Thôi! Thôi! Đủ rồi. Câm cái mỏ lại.Người vợ đanh đá:– Ủa, sao lại cái mỏ? Chim chóc, gà vịt mới cái mỏ. Người thì khác. Không chỉ đao to búa lớn, mà còn trật lất, còn, còn...– Còn gì nữa?”– Con người thông minh, tài ba, như ông mà không nghĩ ra sao? Hèn gì...– Hèn gì cái gì? Muốn nói gì cứ nói thẳng ra. Ấp a ấp úng mãi. Hay không dám nói hả? Sợ hả?– Tui chẳng sợ ai cả. Sao? Muốn nghe cho rõ hay sao? Hèn gì... Thảo nào... bị cho nghỉ việc... Bị đuổi cổ.Người chồng bật người đứng dậy, cặp mắt long lên, cầm cái remote ném mạnh vào cái TV. Chị vợ không nao núng, bình tĩnh đứng yên, coi bộ như sẵn sàng kháng cự.Khác với trước kia, mỗi khi thấy chồng nổi nóng, chị vợ liền hạ nhiệt, cười mỉm, rồi lẳng lặng rút lui, đi xuống nhà bếp làm bộ tìm kiếm một cái gì. Có khi bị đuối lý, anh chồng nói ngang như cua:– Tôi có 1001 việc cần phải làm gấp ngay bây giờ đây, không dư hơi đâu mà ngồi đó lằng nhằng mãi với cô.Chị vợ sẵn sàng bỏ qua, nói chuyện khác nhẹ nhàng hơn, hay ho hơn. Nhưng lần này không phải là chuyện có thể bỏ qua được. Coi bộ sẽ nổ to.-----Họ sống chắp nối với nhau mới hơn một năm, không làm đám cưới, không có giấy hôn thú. Anh chồng đã đứng tuổi. Trước kia anh là sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, sau 30/4/1975, vượt biên cùng vợ và 2 con. Vợ con đều tử nạn trên biển. Một mình anh đến đảo Galang, buồn chán và gần như là tuyệt vọng. Hơn 5 năm sau anh được định cư tại Mỹ, đi lang thang nhiều nơi một thời gian, cuối cùng, nhờ may mắn, tìm được việc làm tại VA (Veterans Affairs, một cơ quan của Cựu Chiến Binh thuộc Liên Bang).Người vợ mới còn trẻ lắm so với anh, khá xinh đẹp, có một đứa con trai còn nhỏ với người chồng cũ, làm nghề tóc, nghề trang điểm sắc đẹp, hôm có khách tới, hôm không, sống vất vưởng nay đây mai đó. Anh gặng hỏi mấy lần về người chồng cũ của chị, nhưng chị nhất định không trả lời. Hai người gặp nhau tại Seattle. Anh tỏ vẻ rất thương yêu đứa con riêng của vợ.Nó đang học lớp 7 tại một trường tiểu học. Vậy anh có thương yêu chị hay không? Điều đó khó ai biết được.Nhưng có điều là anh không ép chị phải đi làm. Anh bảo đồng lương của anh cũng đủ cho gia đình nhỏ chỉ có 3 người. Chị nên ở nhà lo chợ búa, cơm nước, giặt giũ, đem con đi học. Thế là tốt đẹp rồi.Nhưng mới đây thôi, anh bị sa thải không hiểu vì lý do gì. Dư nhân viên chăng? Chị sau đó xin được một việc làm tại một nhà hàng ăn uống của người gốc Mễ, hay Nam Mỹ gì đó tại Spokane, thay chồng lo việc “kiếm cơm”. Và gia đình dọn về đấy. Họ thuê được một căn hộ nhỏ nằm trên một con đường vắng vẻ, sống âm thầm bên lề của cuộc đời, bên lề xã hội.Thị trấn Spokane nằm ở phía đông thành phố Seattle, thủ phủ của tiểu bang Washington. Từ Spokane đến Seattle khoảng 450 cây số, lái xe mất hơn 5 tiếng đồng hồ trên xa lộ 90. Có cả xe đò, xe lửa nối liền hai thành phố đó. Thị trấn này đẹp, có nhiều thắng cảnh, khá đông dân, phần lớn là người da trắng (trên 84%). Người gốc Á chỉ chiếm khoảng 2% dân số; còn lại là người da đen, và người gốc Mễ hoặc Nam Mỹ.Nếu Seattle mưa nhiều quanh năm và lạnh, thỉnh thoảng có tuyết, thì Spokane còn lạnh hơn, năm nào cũng tuyết nhiều. Tuyết đổ xuống Spokane từ giữa tháng 11, có khi đến tháng 3 năm sau vẫn còn tuyết. Vào dịp Lễ Giáng Sinh, hoa tuyết rơi rơi không ngừng, trông như liễu rủ rèm buông, tinh khôi, lộng lẫy. Tuyết tràn ngập thành phố, trắng xóa mọi nơi. Người ta gọi một cách trìu mến, Giáng Sinh Trắng, White Christmas.Người Mỹ ở nhiều nơi trên thế giới, những đoàn quân viễn chinh xa nhà lâu ngày, tại những vùng nhiệt đới, lắm khi mơ màng một Giáng Sinh Trắng bay lượn chờn vờn trong tâm trí,nương theo tiếng hát của Bing Crosby, thủ thỉ như chuyện trò thì thầm bên gối, ấm áp và ngọt ngào mà lênh đênh và huyền hoặc, I’m dreaming of a White Christmas, just like the ones I used to know... Thế người Việt Nam lưu vong cũng tại rất nhiều nơi trên trái đất này, “khi về trong mùa Đông” nơi đất khách, quê người, khi Tết sắp đến, Xuân sắp sang, họ mơ tưởng những gì? Bàn thờ tổ tiên, và người thân, hàng xóm, láng giềng? Hay mùi nhang trầm lan tỏa trong không gian cùng với tiếng pháo nổ vang lừng và điệu múa lân tưng bừng trong tiếng trống rộn ràng? Hay mứt món, bánh trái, bánh tét, bánh chưng, thịt mỡ, dưa hành, và những món ăn thịnh soạn khác cùng ly rượu mừng và lời chúc tụng? Hay lặng nhìn hoa lá mùa xuân chen nhau đua hương, đua sắc dưới những cơn mưa phùn ấm áp phất phơ trong gió? Để cuối cùng chợt nhớ ra rằng quê cũ đã xa nghìn trùng không có ngày về!Đồng lương của người vợ không đủ để tiêu dùng cho gia đình dù chỉ gồm 3 người. Họ phải sống rất tiện tặn, tuyệt nhiên không còn dám kéo nhau đi ăn tại tiệm Mỹ, tiệm Mễ, chỉ những tiệm ăn khá nghèo nàn thôi, mỗi cuối tháng, hoặc cao hứng thì lái xe đến thành phố Seattle, đi về mất hơn 10 tiếng đồng hồ, để thưởng thức những món ăn Việt Nam mà họ thèm thuồng như phở, bún bò giò heo, hủ tiếu, chả cá, nem nướng, bánh bèo, bánh cuốn, bánh xèo...Hai vợ chồng trước kia sống rất hòa thuận với nhau. Từ ngày anh bị thất nghiệp, “ăn không ngồi rồi” hết tháng này qua tháng khác khiến chị sốt ruột. Ngày lại ngày chi tiêu giảm nhưng cãi vã tăng. Càng lúc càng gay gắt.Cũng may khi anh điên tiết lên, chị hạ nhiệt, dịu giọng, và rút lui gọn, như đã nói đến, và cần phải nhắc lại. Và họ sẽ không chuyện trò với nhau. Bếp lửa tắt, chị không nấu nướng. Anh lục lọi trong tủ lạnh tìm mì ăn liền, cơm nguội, hay bánh mì nướng lên kẹp cá hộp, thịt hộp, cho vào vài lát cà chua, dưa leo. Chị nhịn đói. Chắc hẳn chị đã ăn uống tại nhà hàng nơi chị làm việc? Rồi họ hòa thuận với nhau sau vài ba ngày giận dỗi. Thường lệ, anh làm lành trước. Nhưng lần vừa rồi họ cãi nhau quá nặng lời, khó có thể giảng hòa.Không khí trong gia đình chùng lại như nước ao tù. Ngẩn ngơ, uể oải, chán chường. Thằng nhỏ có vẻ ngạc nhiên không hiểu vì sao ba mẹ cứ hay cà khịa nhau hoài.Nó cũng đành phải ăn uống thất thường.Ba dượng gọi trước, nó ăn với ba dù đồ ăn dở. Mẹ gọi trước, nó tới mẹ, ăn một mình những món mẹ mang từ nhà hàng về. Mẹ ngồi im lặng nhìn. Nó ngơ ngác nhưng trông vui hẳn lên. Có lẽ nó biết lợi dụng tình thế. Ba mẹ bận “giao chiến”, không quan tâm nhiều đến nó, nó bèn lơ là việc học bài, hoặc làm homework. Suốt ngày, ngoài giờ học tại trường, nó ôm cái laptop đi vào giường ngủ của mẹ nằm chơi games đã đời.Hai vợ chồng trông không khác gì hai đứa trẻ chơi trò chớp mắt. Cố gắng mở to mắt, ai chịu không nổi chớp mắt trước, là thua. Hai người cứ thế dằng co, chưa ai chịu chớp mắt trước mặc dù cả hai con mắt đã chịu hết muốn nổi. Nhưng vấn đề là thua thì chuyện gì sẽ xẩy ra? Người thua cuộc sẽ tuân theo mệnh lệnh của người thắng cuộc, hay sẽ giận dữ đạp đổ mọi ràng buộc giữa hai bên? Hơn một năm chung sống với nhau có đủ để làm thành chất keo gắn bó họ lại với nhau cho đến cuối đời? Hay một ngày nào đó, khi thấy không vừa ý nhau nữa, mỗi người sẽ một ngả, đường ai nấy đi?Mấy hôm nay, những lúc chưa tới giờ đi làm, chị trông rất bơ phờ, đứng ngồi không yên, đi lui đi tới, thỉnh thoảng lén nhìn anh, miệng mấp máy như muốn nói điều gì. Trong khi đó anh cũng kín đáo quan sát chị. Có lẽ anh nghĩ rằng chị vợ sắp sửa “khua chiêng” chăng. Trong chiến trận ngày xưa, trống giục quân tiến, chiêng khua quân lui. Nhưng cuộc chiến vẫn kéo dài, gần một tuần lễ rồi, chưa thấy có dấu hiệu chị hay anh muốn chịu thua, xin giảng hòa.Rồi lại đến phiên anh có vẻ rất bồn chồn, lo lắng, suy nghĩ. Đấy chỉ là những biểu hiện bên ngoài chăng? Thật ra, khó ai biết được anh nghĩ điều gì, định làm cái gì. Có thể anh sẽ nổi khùng lên rồi bỏ nhà đi. Đi đâu? Biết đâu sẽ đi tiểu bang khác, tìm người đàn bà khác để chắp nối, tìm việc làm mới ở những tiểu bang dễ tìm việc hơn. Nhưng cũng có thể anh không những chỉ thương yêu thằng nhỏ mà thôi, trong sâu xa anh say mê người vợ trẻ đẹp có duyên ngầm này dù cô ta không biết chiều chồng, dù vừa mới nắm quyền kinh tế trong tay là đã muốn “qua mặt” chồng một cách trắng trợn, không chút nể nang.Một hôm, buổi chiều đi làm về trễ hơn thường lệ khá lâu, chị lái xe vào tận trước cửa nhà. Đứa con vui mừng chạy ra gọi to, mẹ, mẹ:– Why mẹ lâu về lắm. Con thì worried quá.Nó nói tiếng Anh thông thạo như người bản xứ, nhưng tiếng Việt thì ngọng nghịu, khó khăn, sai bét. Anh bắt nó phải nói tiếng Việt tại nhà cho quen. Anh muốn thế và chị bằng lòng ngay. Bởi vì, theo anh, nếu nó không nói được tiếng Việt, chỉ trong vòng một vài năm nó sẽ quên hết nguồn gốc. Tiếng Anh thì nó đã nói quá nhiều với bạn bè, với thầy cô ở trường rồi.Chị cắp nách nó bồng lên một cách khó khăn vì nó đã cao hơn chị nửa cái đầu. Nhân thể chị bảo nó đứng chờ giúp chị một tay. Nó ngạc nhiên. Anh đang lui cui trong nhà bếp chả biết đang làm trò gì, có lẽ định tìm một món nào khác có thể cho vào lò bếp ga xào nấu lên để thay cho nhiều bữa ăn đồ hộp, ăn đồ nguội chán ngấy, nghe thấy tiếng xe, bèn nhìn ra ngoài sân và cũng ngạc nhiên không kém, anh sững sờ lặng lẽ theo dõi.Chị mở cốp xe, lấy ra một cái hộp khá lớn, chẳng biết đựng gì trong đó. Một bó hoa, một bịch cam, 2 nải chuối giống như chuối cau ở Việt Nam, chứ không phải chuối trái lớn và dài thường thấy. Rồi miếng thịt heo ba chỉ khá to, mấy cái đùi gà đã làm sạch lông, hai con cá diêu hồng, khúc sườn bò, vỉ trứng gà. Tiếp theo là khoai tây, cà rốt, hành củ, hành lá, và đặc biệt rau thơm đủ loại.Anh từ trong bếp nhìn ra hoa mắt, chẳng hiểu tại sao chị mua lắm thứ như thế. Chị định làm một bữa tiệc chăng? Tiệc gì nhỉ? Không lẽ tiệc giã từ, tiệc chia tay. Ăn uống no say, xong mỗi người một ngả? Chia tay thì chia tay trong im lặng chứ! Có thể anh đã nghĩ như vậy.Chị cùng đứa con đem tất cả các thứ vào nhà bếp nơi anh đang đứng ngẩn người nhìn. Không kịp tránh mặt, anh đành lên tiếng:– Mua gì lắm thế?Chị không trả lời, mặt đanh lại. Anh vô tình hỏi tiếp:– Mua tại chợ Mỹ hay chợ Mễ? Sao lai có cái thứ chuối đó? Lạ quá!Chị vẫn im lặng chăm chú cùng đứa bé đặt các thứ lên bàn ăn, lên ngăn kệ, hay cho vào tủ lạnh. Anh không dừng được nói tiếp:– Cái thứ đó quả là lâu ngày mới thấy lại.Chị ngạc nhiên, buột miệng:– Cái thứ gì?– Baby banana.Chị chau mày, nhưng bật cười:– A, ông muốn nói nải chuối trái nhỏ đó?– Đúng vậy. Tên gì tôi quên mất.– Bên mình gọi là chuối cau. Hay chuối mật. Nhưng chuối mật thì mập hơn chút xíu.Thế là hai người lại tiếp tục nói chuyện với nhau một cách êm xuôi, thoải mái, tự nhiên, như không hề có chuyện giận nhau kéo dài đến cả tuần lễ.Không có gió nhưng lạnh, anh vội tới đóng cửa lại, trong khi chị mở lò ga bắc ấm nước.Bên ngoài đã nhá nhem tối, mùa này trời mau tối quá, và giá buốt. Bên trong, ánh đèn hình như sáng hơn mọi ngày, ngọn lửa trong lò ga nghe rù rì, ấm nước đang reo lên, reo vui. Chưa cần mở heat lên, cái không khí êm đềm, ấm cúng của một gia đình nhỏ đang trở về với căn nhà đã nhiều hôm vắng tiếng cười.Thằng nhỏ vui hẳn lên, hết nhìn chị đến nhìn anh, vẻ mặt thoáng chút ngơ ngác, rồi lặng lẽ chạy lên nhà trên, lấy labtop ra chơi games tiếp.Anh vui miệng:– Loại chuối kia, tôi... anh muốn nói chuối em vẫn mua lâu nay. Nó to, dài, ăn vệ sinh hơn. Chuối nhỏ này ngọt quá, anh tiểu đường, kiêng.– Thì ăn ít lại. Nửa trái thôi. Một phần ba trái thôi. Mua cốt để cúng mà. Trước cúng sau ăn. Cái gì cũng ăn, ăn, không tốt đâu.– Chuối to cúng không được hay sao, em?Chị đỏ mặt:– Anh nói vô duyên lắm. Ai lại đi cúng loại chuối dài, cong đó. Tội chết.– Anh không hiểu em nói gì. Nhưng cúng? Cúng ai? Em mua chuối đó ở đâu? Còn cái gói đó là gói gì mà gói kỹ quá vậy?Chị lườm chồng, vẻ mặt thoáng một chút âu yếm. Ấm nước trên lò đã sôi. Chị vội tắt lò ga, vừa chế nước từ ấm vào bình thủy, vừa nói:– Anh thật không biết cúng gì hay sao? Lại hỏi nhiều chuyện cùng một lúc như vậy, em làm sao biết trả lời chuyện nào trước, chuyện nào sau? Chuyện chuối trước nhé. Mua chuối ở đâu hả, mua ngoài chợ chứ mua ở đâu nữa. Chợ Việt Nam, ở Seattle...Anh liền ngắt lời chị, hăm hở nói:– Vô lý hết sức. Em ơi, đừng tưởng anh không có óc quan sát. Anh thấy cả tuần nay em đi làm việc liên tục, không nghỉ ngày nào cả, làm sao đi Seattle được.Chị dịu dàng đáp:– Em nhờ chị bạn cùng làm tại nhà hàng mua giùm. Chị xin một ngày nghỉ.Cũng may đấy là người Việt duy nhất sống tại vùng này ngoài gia đình mình,theo chỗ em biết.Anh có vẻ không bằng lòng:– Thật là rầy rà. Đi xa, mất thì giờ, tốn xăng. Làm phiền người ta quá lắm.– Không có phiền hà gì cả. Chị cũng mua cho chị nữa, mình ké mà. Chị cũng phải cúng chứ, dù ở một mình. Em còn nhờ chị mua mấy thứ khác nữa, chứ không phải chỉ... chỉ... chỉ cái gì nhỉ... à chỉ baby banana đâu.Anh tỏ vẻ không hiểu, đi lui đi tới lẩm bẩm mua, mua, cúng, cúng. Quái lạ thật! Anh nhìn cái hộp to, hỏi:– Còn cái gói to đó nữa. Gói gì vậy?– Đố anh đấy.– Xin thua.– Thì mở ra coi đi. Mở giùm em luôn thể.Anh đi lấy kéo cắt mấy sợi dây cột quanh và lớp giấy bao bên ngoài. Cuối cùng lấy ra được một cặp đèn sáp trắng, anh bỗng nhớ tên gọi của nó, đèn bạch lạp, và một ống nhựa khá cao, ống đựng nhang, thay vì nhang đựng trong những bao giấy dài màu đỏ mà ở quê nhà gọi là những thẻ nhang. Đặc biệt, một đòn bánh tét.Anh như chợt hiểu, âu yếm nhìn vợ. Có lẽ anh vừa nhớ ra rằng tuần trước chị hỏi anh khi nào Tết. Anh bắt bẻ, chị gắt gỏng. Để đi đến chỗ cãi vã, rồi lạnh nhạt nhau, tưởng như muốn “thôi nhau” không chừng.Vâng, trong khi anh giận dỗi, buồn bực, thất nghiệp, quên khuấy cả Tết đến, xuân về, chị vẫn lẳng lặng một mình lo lắng mọi chuyện, mua sắm, sửa soạn nhang, đèn, hoa, quả, bánh trái, thịt thà, cá mú. Tất cả cho ngày Tết tha hương của một gia đình cô quạnh trôi giạt tới một nơi xa lạ này. Chị gọi to:– Sơn!Nó dạ một tiếng, từ phòng trên chạy nhanh xuống nhà bếp.– Con quỷ quái lắm đó. Thấy ba mẹ..ba mẹ...con không lo học hành chi cả. Chơi games hoài. Con giúp mẹ việc này nhé. Còn anh nữa. Anh vẫn lấy chưa hết đồ trong hộp ra đó. Giỏi chưa!Anh lục lại mớ giấy bao ngoài và cái hộp, thấy có phong pháo:– Em mới giỏi hơn anh! Ở đây người ta cấm đốt pháo, em không biết hay sao, lại mua về?Chị buồn rầu trả lời:– Em biết chứ, nhưng cứ mua. Tết không có pháo mất vui. Tai không nghe pháo nổ, thì nghe bằng mắt vậy.Anh trố mắt nhìn chị, có vẻ suy nghĩ, cuối cùng nói:– Mình rán dành dụm tiền nhé. Để Tết năm sau bay về San Jose hay xuống Nam Cali ăn Tết Việt Nam. Đốt pháo, múa lân, rượu chè, nem chả, bánh chưng, bánh tét. Tha hồ. Đánh bài nữa. Tập cho thằng Sơn chơi bầu, cua, cá, cọp.Chị mỉm cười ngoảnh mặt nhìn lại anh như muốn nói một điều gì khó nói. Ánh mắt thoáng chút ranh mảnh, nếu không muốn nói pha chút giễu cợt. Anh có vẻ chột dạ, lắp bắp, nói tiếp:– Thế nào ra Tết anh cũng sẽ có việc làm, kiếm tiền thay em chứ. Bất cứ việc gì, chứ không thể để như thế này được.Anh ngẫm nghĩ, rồi nói tiếp:– Và bất cứ nơi đâu, cùng lắm là dọn nhà đi nơi khác ở.Ngự ThuyếtNHỮNG BUỔI "VÕ LÂM TỤ HỘI"
De NguyenChào ông bạn già, kéo ghế ngồi xuống đi. Để tôi kể cho mà nghe cái không khí của những "buổi đại hội võ lâm" bên bàn nhậu của mấy cha lính Việt Nam Cộng Hòa ngày xưa. Không phải cái kiểu nhậu nhẹt bê tha đâu nhé, mà là "nhậu có lý tưởng", nhậu để... quên đời và để thấy mình vẫn còn đẹp trai dù súng đạn vây quanh.Những buổi nhậu của lính Việt Nam Cộng Hòa, nói cho oai là “họp mặt chiến hữu”, chứ thực chất là... tụ lại để coi ai kể chuyện xạo giỏi hơn, ai chịu đựng được men “rượu” lâu hơn, và ai còn nhớ nổi đường đi về chỗ ngủ.Nhìn vào cái bàn nhậu của lính, người ngoài chắc xỉu ngay vì sự sáng tạo vô biên. Đừng mong có đùi gà hay lẩu thái. Đặc sản thường là "đồ hộp Quân Tiếp Vụ". Một hộp cá mòi hay một hộp thịt xay, khui ra rồi bỏ lên bếp lửa hâm cho nóng lại. Sang hơn chút thì có khô mực "dai như dây giày" hoặc mấy trái cóc, trái xoài xanh hái trộm của dân (mà các anh hay gọi là "thu thuế lâm sản"). Nhưng món thăng hoa nhất phải là "rượu".Không có Martell hay Remy Martin đâu, toàn là "Nước mắt quê hương" hay rượu đế Gò Đen đựng trong bi-đông nhựa. Cái vị nó gắt đến mức uống vào một ngụm là thấy cả... tổ tiên hiện về mỉm nụ cười hỷ xả. Nhưng với lính, đó là mỹ tửu. Uống vào để thấy súng nặng hóa nhẹ, thấy rừng rậm hóa thành vườn Thượng Uyển. Thấy vợ mình thành... Hoa Hậu Thế Giới.Bàn nhậu của lính không bao giờ thiếu... tiếng cười và gói Ruby hay Bastos Quân tiếp Vụ. Món ăn thì có khi chỉ là dĩa đậu phộng rang, mấy con khô mực nướng cháy cạnh, hay tô mì gói chế biến kiểu “đặc biệt”, tức là bỏ đại vô nồi, có gì ăn nấy. Nhưng rượu thì phải có. Không có rượu coi như buổi họp mặt mất tính... chiến đấu. Một bàn nhậu của các "anh hùng diệt Cộng" dù đang đóng quân trong rừng sâu hay hậu phương, lúc nào cũng đủ bộ sậu. Đầu tiên là ông Đại Úy "trải đời", bụng phệ hơn cái “ba lô” khi đi hành quân, ngồi rung đùi kể chuyện hành quân mà cứ như đang kể chuyện kiếm hiệp Kim Dung. Kế bên là ông Chuẩn úy "sữa", mặt còn búng ra sữa nhưng nốc rượu đế như nốc nước lã, lúc nào cũng dắt túi cuốn thơ tình để lát nữa say lên là ngâm nga sướt mướt. Và không thể thiếu "linh hồn của buổi tiệc": anh Hạ Sĩ Truyền Tin. Cha này tuy chức nhỏ nhưng miệng lưỡi thì thôi rồi, chuyện gì cũng biết, từ chuyện bà bán hủ tiếu đầu ngõ có mấy nốt ruồi...duyên, đến chuyện... ông Tướng Vùng này sắp thăng quan.Mấy ông lính ngồi vào là bắt đầu phân vai liền. Ông nào cấp bậc cao thì ngồi giữa, không phải để được kính trọng, mà để dễ...bị chọc nhất. Mấy ông lính trẻ thì xung quanh, vừa rót rượu vừa canh me kể chuyện “chơi” đàn anh. Có ông Trung Sĩ, hồi xưa nổi tiếng gan lì ngoài chiến trường, vậy mà vô bàn nhậu lại thành... mục tiêu châm chọc. Một anh lính trẻ hỏi:- Trung Sĩ, hồi đó anh đánh trận dữ lắm hả?Ông Trung Sĩ ưỡn ngực:- Tao mà ra trận là Việt Cộng nghe tên đã chạy.Anh lính gật gù:- Dạ đúng rồi, chắc nó chạy... đi báo cho đồng chí của nó biết là “ông này xạo dữ lắm, né gấp.”Cả bàn cười rần, ông Trung Sĩ cầm ly rượu lên uống một hơi, xong nói tỉnh bơ:- Ừ, xạo mà còn sống tới giờ, còn tụi bây nói thật chắc.. leo lên bàn thờ lâu rồi.Những câu đối đáp kiểu đó cứ tới tấp như pháo Tết. Không ai giận, không ai tự ái, vì trong lòng ai cũng hiểu: Đó là cái vui của lính, cái cách để quên đi những ngày tháng căng thẳng, những lần đối mặt sinh tử.Ông Hạ Sĩ Truyền Tin, lúc nào cũng khoe mình “quan trọng”. Ngồi vô bàn là bắt đầu thao thao:- Không có tụi tao,mấy ông ngoài kia đánh đấm kiểu gì? Lệnh không truyền, súng bắn lung tung, lạc nhau hết.Một anh lính Bộ Binh nghe vậy, cười khẩy:- Dạ đúng rồi, nhờ mấy anh mà tụi tôi mới biết đường... chạy cho đúng hướng.Cả bàn lại cười ngặt nghẽo. Ông Truyền Tin đỏ mặt nhưng cũng phải cười theo. Rồi ổng quay qua “phản pháo”:- Tụi bây chạy giỏi thiệt, tao truyền lệnh “tiến lên” mà thấy nguyên đám… tiến về phía sau.Một ông khác chen vô:- Ờ, tiến kiểu chiến thuật. Tụi tôi gọi là “rút lui có tổ chức”... tổ chức chạy cho nhanh.Cái hay của bàn nhậu lính là vậy: Không ai chịu thua ai, nhưng cũng không ai muốn thắng.Thắng rồi thì mất vui.Có lần, một anh lính mới nhập đơn vị, còn ngại ngùng. Mấy ông kia thấy vậy liền ngoắc lại bàn nhậu:- Nhóc, uống được không?Anh lính sữa trả lời nhát gừng:- Dạ, chút chút.- Chút chút là sao? Ở đây không có chút chút. Chỉ có “uống” hoặc “bị ép uống” thôi.Thế là ly đầu tiên, anh lính mới còn run run. Ly thứ hai, bắt đầu nói nhiều. Ly thứ ba, kể chuyện... từ hồi còn đi học Mẫu Giáo. Đến ly thứ tư thì đứng dậy, chỉ tay vô ông Đại Úy: Hồi nãy, em thấy anh... giống thầy Hiệu Trưởng của em ghê.Ông Đại Úy hỏi:- Giống chỗ nào?- Dạ, nhìn nghiêm nghiêm... mà chắc cũng... sợ vợ.Cả bàn cười nghiêng ngả muốn té ghế.Ông Đại Úy gật gù:- Thằng này được. Cho nó thêm ly nữa để nó nói hết... bí mật quốc gia luôn.Rồi chuyện vợ con cũng là đề tài muôn thuở. Ông nào cũng than, mà than trong tiếng cười.- Tui đi hành quân thì không sợ, chứ về nhà thấy bà xã là... muốn xin tăng viện.- Ờ, ngoài kia đạn bay còn né được, chứ trong nhà dép bay thì... khỏi né. Mình xỉn rồi, dính đủ, né là té đó.- Tui mà lỡ về trễ là bà xã tra hỏi còn dữ hơn Đại Đội Trưởng.Có ông thở dài:- Ngoài chiến trường tao là anh hùng, về nhà tao là... tội phạm.Một ông khác gật đầu:- Tao cũng vậy. Ngoài kia tao chỉ huy cả Tiểu Đội, về nhà tao bị..bả cầm dao "dợt" chạy vòng vòng khắp xóm.Những câu chuyện đó nghe tưởng chừng như than thở, nhưng thật ra là cách để cười cho quên đời. Lính hiểu rõ sự mong manh của cuộc sống, nên mỗi phút giây vui vẻ đều quý như vàng.Bởi vì đằng sau những tiếng cười ha hả, những màn “nổ” vang trời và những ly rượu nồng nặc kia, là những tâm hồn đang khao khát hòa bình, khao khát một bữa cơm gia đình thực thụ chứ không phải hộp cá mòi nguội ngắt.Họ nhậu để quên đi cái lạnh của rừng già, cái nóng của bãi cát và cái khốc liệt của chiến tranh. Những buổi nhậu của lính Việt Nam Cộng Hòa, vì thế, nó mang một màu sắc trào phúng rất "lính": Vừa tiếu lâm, vừa ngang tàng, lại vừa phảng phất một nỗi buồn man mác của những "kẻ chọn nghiệp binh đao".Đôi khi, giữa tiếng cười, cũng có những khoảng lặng. Có người nhắc tới bạn cũ không còn nữa. Ly rượu nâng lên, không ai nói gì, chỉ gật đầu. Nhưng rồi, không khí lại được hâm nóng lên bằng một câu đùa:- Ổng ấy mà còn sống chắc cũng ngồi đây... phá hết mồi của tụi mình.Thế là lại cười. Cười để nhớ, cười để quên, cười để tiếp tục sống.Bàn nhậu của lính Việt Nam Cộng Hòa không sang trọng, không cầu kỳ, nhưng đầy tình nghĩa. Ở đó, cấp bậc có thể bị đem ra chọc, thành tích có thể bị “thổi phồng”, nhưng tình Đồng Đội thì không bao giờ là giả tạo hay gượng gạo.Khi men rượu đã ngấm, tiếng cười đã khàn, Ông Đại Úy đứng dậy tuyên bố:- Thôi, giải tán. Ai còn đứng được thì tự về, ai không đứng được thì... ngủ tại chỗ.Một anh lính lảo đảo:- Báo cáo, em xin... nằm lại chiến trường.Ông Truyền Tin kéo dậy:- Không được. Đây là hậu phương, không được tùy tiện hy sinh.Tiếng cười lại vang lên, kéo dài đến tận khuya.Những buổi nhậu như vậy, tưởng chỉ là chuyện vui, nhưng thực ra là nơi giữ lại một phần ký ức của một thời. Một thời mà những người lính, dù gian khổ, vẫn biết cười, biết chọc ghẹo nhau, và biết trân trọng từng khoảnh khắc bên nhau.Buổi nhậu chỉ kết thúc khi bi-đông đã cạn và những câu chuyện đã bắt đầu lặp lại đến lần thứ mười. Có ông nằm lăn ra đất ngủ, tay vẫn còn gác lên báng súng. Có ông đi xiêu vẹo, vừa đi vừa hát nghêu ngao khiến mấy con chó trong xóm sủa vang trời. Và nếu có ai hỏi: “Lính nhậu để làm gì?”chắc mấy ông sẽ trả lời tỉnh khô: - Để tập luyện... chịu đựng. Ngoài kia chịu đạn, trong này chịu rượu. Cái nào cũng cần bản lĩnh hết.Nghe xong, chỉ còn biết... rót thêm một ly, và cười tiếp cho hết đêm.Nỗi đau thời chiến
Tết mậu Thân qua đi đã mấy tháng mà người dân xứ Huế vẫn chưa hết hoàn hồn. Đâu đây vẫn còn nghe tiếng khóc nỉ non của những gia đình có thân nhân bị phía bên kia bắt đi từ ngày Tết mà chưa tìm được tin tức. Thời tiết lạnh lâm thâm, mưa còn dai dẳng làm tăng thêm vẻ hoang lạnh, tiêu điều của thành phố.Hình ảnh chiếc cầu Trường Tiền tiêu biểu của xứ Huế đã bị gãy đổ, làm cho người dân thêm nhức nhối như chính khúc ruột mình bị đứt đoạn.Cho dù đau buồn đến đâu đi nữa thì cái thực tế của cuộc sống buộc con người cũng phải lo mưu sinh trở lại.Mọi sinh hoạt bắt đầu măc dù trên nét mặt của người dân Huế vẫn còn đầy vẻ hoảng hốt, sợ sệt. Trong thành phố, nhà cửa, trường học, đường sá, chợ búa, nơi nào bị sụp đổ trong cuộc chiến dần dần được tái thiết. Láng giềng ơi ới gọi nhau đi xếp hang chờ nhận thực phẩm, áo quần của chính phủ cấp phát từ hàng viện trợ Mỹ, những tấm tôn mỏng dính, nhẹ tênh tạm thời dựng nhà lên để ở.Ánh nắng chói chang của mùa hè rực sáng lên màu tôn như nhắc nhở nỗi kinh hoàng của mọi người.Bây giờ bữa cơm chiều được ăn sớm hơn thường nhật. Chạng vạng tối là không ai bảo ai, nhà nhà âm thầm đóng cửa kín mít mặc dù cái nóng của mùa hè như thiêu như đốt. Đường sá vắng hoe không còn nghe tiếng cười giỡn, nô đùa của lũ trẻ vào những đêm trăng sáng. Xa xa nghe chó sủa là mọi người trong gia đình co cụm lại im thin thít tưởng chừng những bóng đen trở lại ẩn núp đâu đó ở bên ngoài.Năm ấy Sấm vừa tròn 15 tuổi. Là anh cả của đàn em 4 đứa. Ba Sấm là quân nhân. Mẹ Sấm có sạp hàng bán guốc ở chợ nhỏ gần nhà. Cuộc sống gia đình sung túc. Sấm ngoài việc học, tối về phụ giúp ba mẹ dạy dỗ đàn em học hành, làm bài vở. Đêm đêm bên chiếc bàn học cuối góc bên trái là ba ngồi nghe tin tức chiến sự từ chiếc radio hoặc có khi ba đọc báo. Góc phải bên ấy mấy anh em học bài.Em Tuấn học lớp 7 với cuốn giảng văn cập nhật hóa mà Sấm thích đọc nhất là bài văn của nhà văn Nguyễn Mạnh Côn. Chuyện kể:“Một anh lính nhảy dù cùng đơn vị chuyển quân ngang qua một ngôi làng thuộc vùng xôi đậu...Bên nầy sông là lính quốc gia, bên kia sông tối về là du kích từ trong núi ra. Khi đoàn quân đi gần đến chiếc cầu, có 1 em bé từ đâu chạy ra máu me đầy người nằm vật giữa cầu quằn quại khóc la. Anh lính Dù động lòng nhân muốn nhảy ra cứu giúp em nhưng bạn đồng đội của anh cương quyết ngăn cản vì họ tin rằng em bé trai kia chỉ là thủ đoạn của phía bên kia. Nếu anh ấy cứu em thì anh lại là con mồi ăn đạn. Ngần ngừ chốc lát, anh lính Dù bước đi theo đoàn quân mà trong lòng cứ ray rứt, băn khoăn...”Sấm đọc hoài câu chuyện không biết chán rồi nhắm mắt nhớ lại những hình ảnh gian khổ của các chiến sĩ ngoài mặt trận,những nạn nhân bị chôn sống trong biến cố MậuThân hoặc trên trang báo hoặc xem Tivi. Như có một động lực nào thúc đẩy thêm lòng yêu quê hương mà nó đã nằm trong tâm tư Sấm không biết từ bao giờ!Ngày tháng dần trôi. Khoảng 2 năm sau biến cố Mậu Thân, phía bên kia bắt đầu trò chơi pháo kích. Pháo liên tục vào thành phố giữa thanh thiên bạch nhật gây chết chóc cho dân lành vô tội.5 giờ chiều ba Sấm đang ngồi đọc báo, chợt ông nghe một tiếng rít trên không tưởng chừng xé tan bầu trời. Kinh nghiệm chiến trường cho ông biết tiếng đạn của địch pháo kích. Ông đẩy nhanh tụi nhỏ ngồi dưới gầm bộ phảng. Rồi như một phản ứng tự nhiên ông chụp vội tờ báo lên đầu đoạn đi mau ra phía cửa hông gọi vợ và con đang dọn dẹp ở nhà bếp. Sấm nghe tiếng chân bước hấp tấp của 3 người yên chỗ ngồi. Sấm nghe mạ nói: “Ông làm như tờ báo tránh đạn được cho ông?” Rồi mạ chắp tay lầm thầm khấn nguyện. Mấy đứa nhỏ ngơ ngác nhìn nhau. Đêm ấy mọi người đều mất ngủ.Tờ mờ sáng, Sấm nghe tiếng lao xao ngoài đường. Hàng xóm đi lại bàn tán, hỏi chuyện nhau:- Nghe mô bà Hai bán rau ngoài chợ chết rồi. Ở mé hồ cổng Vĩnh Lợi đó!Người khác lên tiếng:- Thiệt tình mấy cha nội!! Làm bài toán cộng, trừ, nhân, chia không xong cứ nhè dân lành mà hỏi thăm sức khỏe.Đến giờ đi học mạ dặn dò Sấm cẩn thận, học xong về nhà liền. Sấm dạ qua loa rồi tiện đường Sấm cũng ghé coi sự việc ra sao.Pháo bên kia nhắm mục tiêu sân bay Tây Lộc, đúng như lời chú Đạt, pháo không trúng đích mà rớt mé bờ hồ, miểng đạn từ trái pháo văng ra ghim thẳng vào mình bà Hai đang hái rau bên cạnh. Bà Hai chết tức tưởi dưới hồ. Máu chảy còn đỏ, loang cả dòng nước. Mọi người xúm quanh chỉ chỏ. Hồ Vĩnh Lợi nằm trước mặt sân bay. Bên kia hồ là đồn quân cụ, sát đồn Quân cụ phía tay phải là trại Hắc Báo. Nhà bà Hai đối diện đồn Quân cụ, gia đình bà quanh năm sinh sống bằng nghề trồng rau muống trên hồ. Qua mùa Hạ, bác trai thả sen. Tới mùa sen nở, hoa đan kín mặt hồ. Sắc hồng sắc trắng tỏa hương thơm ngát. Ai đi qua cổng Vĩnh Lợi mà không một lần dừng chân nhìn thẳng lên cổng Thủy quan sen xanh ngát một màu mà nhớ một thời xa xưa của đất Thần Kinh.Bà Hai chết chưa kịp đưa đám thì tới phiên gia đình Bác Thơm. Cơm chiều xong, cả nhà quây quần trước hiên hóng gió. Nghe tiếng đạn bay vèo mọi người kéo nhau xuống hầm, không may trái pháo rớt ngay hầm. Nhà Bác Thơm chết trọn 5 người.Nhìn hình ảnh Bác trai vừa chui ra khỏi miệng hầm, hai tay còn chống lên bậc cấp nhưng có lẽ sức đã yếu nên Bác chết trong tư thế đứng, mặt mày hai tay Bác cháy đen. Sấm mất ăn mất ngủ tới mấy ngày. Thỉnh thoảng trong bữa ăn Sấm nhắc lại. Mạ Sấm lớn tiếng nạt: “Thôi, quên đi. Tội vong hồn Bác. Cầu mong cho gia đình Bác được siêu thoát”.Bữa đó, hết thẩy thanh niên nam nữ trong đoàn Nhân dân tự vệ, vài viên chức của phường đều đi tiễn đưa gia đình Bác Thơm.Tội hơn hết là cái chết của Cu Quang 10 tuổi. Buổi tối em qua nhà hàng xóm coi Tivi. Chương trình đố vui để học. Chợt nghe tiếng pháo, anh Tiến tắt vội Tivi và đưa mấy đứa nhỏ vô hầm. Cu Quang nhanh chân chạy về nhà.Xui xẻo, bữa đó nhà em trúng pháo. 3 mẹ con cùng chết, ba Quang là quân nhân đang đóng quân đâu đó ngoài Quãng Trị. Sấm vuốt mắt cho em mà lòng quặn thắt. Càng chứng kiến Sấm càng nung nấu căm hờn. Có lúc Sấm nghĩ 1 ngày nào đó Sấm sẽ vào quân ngũ.Rồi chiến tranh ngày càng gần. Khi đoàn người từ Quãng Trị lũ lượt gánh gồng, bồng bế chạy trốn giặc phương Bắc vào tận Huế. Thành phố vốn trầm lặng muôn thuở bỗng nhốn nháo hẳn lên. Dân vùng chiến nạn tập trung sống lây lất hai bên bờ sông Hương. Họ bờ phờ, tiều tụy, lính hành quân từ trong ra tiếp ứng làm sôi động cả con đường Trần Hưng Đạo.Mùa hè đỏ lửa đánh dấu thêm một lần nữa tai họa đau thương cho người dân vùng hỏa tuyến. Lan và Sấm cùng các ban thanh niên thiện chí đi thăm hỏi từng gia đình, tiếp tế cho họ chút lương thực, thuốc men, nước uống. Nhìn cảnh mẹ già, em thơ đầu quấn khăn tang, mắt còn hoen lệ. Gặp Huyền, người con gái có cái tên đẹp như mái tóc của nàng trong nước da trắng ngần, có lẽ cùng trang lứa với Lan, Sấm lên tiếng hỏi:- Gia đình có ai bị kẹt lại không chị?Huyền bật khóc nức nở. Mạ Huyền mếu máo kể:- Cha mấy cháu mất không lấy được xác cháu ơi!- Ở đoạn cầu Dài đó. Pháo cách chi mà pháo...Sấm xin lỗi Bác gái vô tình khơi dậy nỗi buồn của gia đình, an ủi vài lời rồi vòng ra nơi khác.Cảnh tượng thật đau thương. Chiến tranh thật phi lý. Bên cạnh nỗi mất mát của người này, kẻ khác lơi dụng chiến tranh để làm giàu có không ít. Người hy sinh vì chiến tranh ngày càng nhiều. Quanh các phường trong thành phố, những đàn anh của Sấm đã lần lượt ra đi vì Tổ Quốc.Thế rồi, điều mà Sấm mơ ước cũng đã đến. Lệnh tổng động viên ban bành. Sấm và bạn bè cùng trang lứa vui vẻ lên đường nhập ngũ.Khi chuyến xe cuối cùng chở Sấm và các bạn ra tới cổng Trung tâm nhập ngũ, Lan và Hà vẫy tay chào xong 2 đứa đi bộ về nhà. Nắng hạ rưng rưng buồn như màu mắt của Lan. Thấy Lan im lặng, Hà e dè nhưng rồi Hà phá tan bầu không khí buồn tẻ bằng cách gợi chuyện:- Ba mạ anh Sấm khéo đặt tên con mi hí. Với khuôn mặt rắn rõi, tướng dáng hùng dũng thử hỏi làm răng anh không là con nhà võ.Lan tâm sự:- Anh Sấm mê làm lính lắm. Hồi còn nhỏ cứ mỗi lần thấy bác Nghĩa về phép là anh cứ mân mê mấy cái huy chương chi đó của Bác. Anh thích lắm chiếc thẻ bài đeo ở cổ.Dọc đường, tuy là nói chuyện với Hà nhưng Lan cứ lơ mơ nhớ về những kỷ niệm của hai đứa. Lúc song song đạp xe lên ngự Bình về ngã ba Thánh giá rồi vòng qua Linh mụ, đạp hoài không biết mỏi đôi chân. Có lúc mệt và khát nước Lan tìm bóng mát dưới gốc cây bên đường để nghỉ trong lúc anh Sấm loay hoay ở các bụi cây tìm hái những ngọn lá ăn được mà có mùi vị chua chua. Anh bảo Lan cố gắng ăn vào đỡ khát nước. Hoặc có lúc thả dốc cho xe xuống từ trên đồi Từ Hiếu. Lan bị ngã trầy chân, Sấm kiếm những thứ lá cầm máu đắp vào ngay. Lan phục anh hết biết, hơn Lan có 1 tuổi mà anhSấm biết quá nhiều.Vừa đi vừa nghe anh kể chuyện Anh Hùng Lương Sơn Bạc mà quên cả đường về...Cùng một lúc Lan nhận được thư Sấm từ quân trường gởi về và giấy báo Lan đậu vào sư phạm Huế. Ba mạ vui mừng không tả xiết. Mạ buôn tảo bán tần dành dụm mua cho Lan sợi dây chuyền làm quà. Ba thì quyết định choLan nấu nướng mời bạn bè tới nhà ăn mừng đỗ đạt.Đêm ấy nhằm rằm tháng 7. Dưới ánh trăng vằng vặc, bạn bè bên Lan đàn hát cho nhau nghe. Mỹ Thuận với “Tôi đi giữa hoàng hôn”, Tâm, “Quê mẹ”, Tố Cần, “Đêm thu”. Lan viết thư cho Sấm không quên kể chuyện Minh “gầy” hát tặng Lan và Sấm bản nhạc “Cô láng giềng”. Sấm trả lời thư kể chuyện quân trường. Cực khổ, gian lao, đôi lúc muốn trốn mà nhìn lại đồng đội quanh mình, các chiến sĩ ngoài mặt trận rồi tất cả mọi người đều vượt qua. Sấm viết và đóng khung tặng Lan câu: “Thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu.”9 tháng quân trường qua nhanh. Sấm được bổ sung vào binh chủng Thủy Quân Luc Chiến (TQLC), trước khi ra trình diện đơn vị ở Hải Lăng, Sấm được mấy ngày thăm nhà. Chuyện trò với ba mạ, em út rồi cùng Lan lòng vòng thành phố gặp bạn bè và vội vã chia tay..Lan trở lại trường tiếp tục việc học, chuẩn bị cho phần thi cử cuối cùng để kết thúc hai năm sư phạm. Ngày nhận nhiệm sở Lan thật bất ngờ khi cầm giấy bổ nhiệm ra Ưu Điềm. Như vậy nơi làm việc của hai đứa cũng thuận đường. Tết năm đó Sấm và Lan lên lễ chùa để tạ ơn trời phật.Sau Hiệp định Paris tình hình lắng dịu hơn nhưng Sấm bảo lúc nào anh và đồng đội cũng phải ở thế phòng thủ không tin tưởng được bọn Bắc phương. Thỉnh thoảng đơn vị vẫn có những binh sĩ bị bắn sẻ.Những lúc dừng quân, đơn vị Sấm cùng nhau sinh hoạt, sáng sớm chạy thể dục quanh làng, khi thì làm công tác dân sự vụ giúp dân dựng lại nhà cửa. Dân vùng mới hồi cư cuộc sống vẫn còn thiếu thốn nhiều. Vẫn còn những vành khăn tang trên đầu các cô nhi, góa phụ. Sấm chạnh lòng ngâm khẽ:“Quê ai không khăn trắng. Chắc cũng có màu tang”.Có lúc cuối tuần Lan theo xe đò ra thăm Sấm. Hà bạn Lan cũng dạy ở Hải Chánh. 3 đứa gặp nhau có dịp lang thang qua những đồi sim. Sấm hái sim chín đầy nhóc một nón sắt cho Lan và Hà xong vội vàng trở về chổ đóng quân. Cũng có lúc xin phép đơn vị trưởng vào thăm Lan không báo trước. Nhớ nhất là buổi học chiều cuối tuần đang nắn nót viết bài trên bảng cho các em, khi xoay lưng lại thấy Sấm ngồi sừng sửng dưới góc bàn cuối lớp từ bao giờ! Lan xúc động không nói thành lời. Sấm tỉnh bơ đưa tay phải lên cao rồi nói:- Thưa cô em là học sinh mới nhận lớp.Lũ học trò quay đầu nhìn Sấm cười khúc khích. Sấm lên văn phòng thăm thầy Hiệu trưởng chờ Lan tan buổi học. Chiều đến hai đứa ra chợ kiếm quán ăn. Mấy dì bán hàng nhìn Lan và Sấm tấm tắc khen: “Cô cậu đẹp đôi quá”. Lan thấy vui vui lòng hân hoan trong màu mũ xanh của Sấm.Trên đường đi về nhà Lan ở trọ, gặp phụ huynh học sinh hết O tới thím ai cũng đón đường hai đứa thăm hỏi đôi câu rồi dì thì cho bọc cam có O nhét cho bằng được chục trái quýt. Cam thanh, quýt ngọt, mít vàng, dừa xanh từ các vườn nhà Ưu Điềm đổ ra. Mía bạt ngàn, chè xanh ngắt. Quê hương mình đẹp quá. Buồn thay bầu không khí chiến tranh vẫn còn giăng mắc. Sấm vừa đi vừa hát bản Hùng ca: “Việt nam quê hương ngạo nghễ”. Không dưng hai đứa nắm tay nhau thật nồng nàn, như có điều chi hứa hẹn... Tình cảm lớn dần theo thời gian nhưng cả hai cùng hẹn thề:- Mới ra trường tụi mình cần có chút ít thời gian để sửa soạn cho tương lai hơn nữa cần phải phục vụ và trả ơn cho gia đình và xã hội trước.Thế nhưng tình hình chiến sự không như mọi người mong mỏi... Qua Tết 1975 bỗng dưng Lan mất liên lạc với Sấm. Hơn cả tháng trời không có tin tức chi. Thấy Lan lo âu, chị Hằng chủ nhà an ủi:- Chắc cậu lại chuyển quân rồi đó. Chờ 3 bữa nữa coi.Một chiều tan trường Lan ghé chợ mua thức ăn thì mới hay dân từ Hải Lăng lại lục đục bồng bế chạy bộ từ ngoài đi trở về rần rần. Buổi chợ chiều trở nên tan tác, ai ai cũng hốt hoảng, theo đoàn người chạy loạn. Tiếp đến Hà từ Hải Chánh ghé tìm Lan vẻ hớt hải:- Anh Tiến chuyển quân rồi. Chú tài chỉ nói vắn tắt chừng nớ thôi. Bí mật quân sự mà. Hà vô Huế chừ.Tiến là người yêu của Hà, lính mũ đen. Hai người gặp nhau khi Hà về dạy ở Hải Chánh.Lan thật bối rối muốn tìm cách ra Hải Lăng mà đoàn người đi vô thì càng lúc càng đông. Sáng hôm sau tới trường trong cảnh đường làng, chợ búa rã rời. Thầy Hiệu trưởng tập họp giáo viên nói nhỏ lệnh di tản:- Ai về Huế trình diện Ty Huế. Ai vào Đà Nẵng trình diện Ty Đà Nẵng.Mọi người chia tay trong bùi ngùi. Giáo viên ở Huế vội vã quơ những vât dụng cần thiết ra đường đón xe đò về nhà.Chuyến xe chật ních người, kẻ đứng người ngồi chen lấn với mùi mồ hôi nồng nặc. Có chừng 5 người lính áo quần lem luốc bụi đường, họ đi chân trần, trông họ còn trẻ lắm. Lan đoán những người này có lẽ nhanh chân bỏ đơn vị chạy trước. Họ kêu khát và đói rã họng. Mấy dì đi buôn chuyến xúm lại, người biếu cái bánh chưng, dì thì đưa trái chuối. Họ vừa ăn vừa văng tục:- Đ.M. mấy cha nội Bắc phương, ăn yên ở yên không muốn,muốn gì nữa đây. Má ơi! Đời lính tụi con khổ quá!Lan nhìn họ cũngcảm thấy sờ sợ mà nghĩ cho cùng Lan cảm thông chọ họ. Cuộc đời lính trận hy sinh quá nhiều.Qua các trạm kiểm soát, xe phải dừng lại nên khi về đến nhà thì trời đã nhá nhem tối. Lan rã rời bước vô nhà, lũ em mừng rỡ ôm Lan tíu tít:- Mạ đã chuẩn bị sẵn những tay nải áo quần để ngày mai đi chung chuyến xe vô Đà Nẵng với nhà Bác Nghĩa, chị Lan ơi!- Ba mình cắm trại từ hôm qua rồi!Mạ Lan ôn tồn nói:- Ngày mai 2 bà với bầy con 9, 10 đứa dắt díu nhau đi, cầu ơn trên phò hộ tai qua nạn khỏi.Xe cộ từ những nẻo đường trong thành phố và các vùng phụ cận đổ xe về ngã cầu Trường Tiền, cầu Mới để đi vô Đà Nẵng. Có tin vĩ tuyến 17 sẽ vươn dài tới ngang Đèo Hải Vân.Đoàn người di tản, bộ hành có, xe cộ có, nuối đuôi nhau ngoằn ngoèo dài ngun ngút không thấy đầu đuôi...Tới đèo Phú Gia bên kia nã pháo ầm ầm. Lưu thông tắc nghẽn, xe đang chạy có lúc thắng không kịp húc đuôi nhau lật xe. Người chết vì đạn pháo, người chết từ xe lật. Tiếng khóc la thảm thiết. Xác chết được mọi người giúp tay kéo ra đặt ngay ngắn bên vệ đường la liệt như sắp cá. Lan nhắm mắt cầu nguyện. Mạ Lan cầm lòng không đậu khóc to lên:- Con ơi! Cháu ơi!Xe lên tới đỉnh Đèo Hải Vân thì đã nửa khuya. Sương xuống lạnh ướt cả bờ vai. Lần đầu tiên Lan thấm thía nỗi buồn đơn lạnh của anh chiến sĩ xa nhà trong một bài ca mà Lan đã từng nghe.Cả nhà xuống xe nghỉ ngơi. Lan xếp hàng chờ nhận những chén cơm chan canh su nóng hổi, mùi tiêu thơm ngào ngạt, bốc hơi nghi ngút làm ấm bàn tay Lan, thật là đậm đà tình quân dân. Mấy đứa nhỏ ăn hau háu.Bên cạnh cái lô cốt mấy anh lính lui cui nấu hết nồi nầy đến nồi khác để tiếp tế thức ăn cho dân chạy loạn. Nhìn họ Lan nghĩ đến Sấm lòng buồn xa vắng.Vào tới Đà Nẵng, gia đình Bác Nghĩa về Thanh Bình. Nhà Lan vòng qua Sơn Trà.Ở nhà chú Thảo 2 tuần, Mạ và Lan ngày đêm mong ngóng tin Ba, tin Sấm. Qua ngày thứ 15 anh Quốc con chú Thảo theo tàu Hải Quân về được tới nhà. Tóc tai, mặt mũi dài ngoằn.Qua hôm sau Mạ và Lan lội bộ về Đà Nẵng, đến bến Bạch Đằng tìm tung tích của Ba. Từng chiếc tàu H.Q chở cả rừng người áo trận đưa binh chủng từ Huế vào, lần lượt cập bến. Lan đứng ngoài hàng rào lưới thép mắc cá theo dõi từng bóng người mong tìm ra Ba và Sấm. Bác Nghĩa trai chờ đợi gần cả ngày chẳng nhận ra ai. Lan thò tay vô lỗ mắc cá ngoắc đại một người mặc quân phục rằn ri và la to:- Anh ơi! Cho hỏi nhờ anh ơi! Làm ơn giúp giùm.Người lính đi sát lại hàng rào. Lan run run hỏi:- Đơn vị của Sấm....Giọng anh lùng bùng miền Bắc:- Chịu thôi cô ơi! Tôi thuộc tiểu đoàn nhảy dù chả có biết ai bên Thủy quân lục chiến. Hai thằng bạn đời tôi chết trong giờ phút cuối của trận chiến ở góc một ngôi trường tiểu học Quảng Vinh làng phố mà xác cũng lấp vội vì đơn vị phải rút quân gấp gáp...Lan nghe mà nghẹn ngào, một anh khác nhào tới nói giọng Nam:- Về thôi cưng ơi! Nước mất nhà tan rồi!Trời chiều ngã bóng. Hai mẹ con thất thểu quay về tình cờ gặp Hồng, em Sấm và Sương, chị con dì. Lan mừng rỡ hỏi thăm tin tức gia đình Hồng.- Chẳng có tin tức chi hết chị ơi! Mạ em khóc cả ngày.Rồi Hồng giới thiệu với Sương; Lan là bạn gái của Sấm. Sương thân mật nắm tay Lan và ngõ ý kêu gia đình Lan chuyển về Thanh Bình ở với nhà Bác Nghĩa:- Khuya nay nhà Sương đi Sàigòn để nhà dì Nghĩa ở lại một mình lạ cảnh lạ người dì lo lắm.Trở về SơnTrà, Lan để ý láng giềng chú Thảo lại chuẩn bị di tản. Mọi người cuống cuồng hơn khi bên địch pháo liên tục về phía biển Tiên Sa. Mạ ra đường tìm xe lam đưa cả nhà về lại Thanh Bình. Vợ chồng chú Thảo la làng. Mạ vừa nói vừa khóc:- Chú thím thông cảm. Tôi nóng ruột theo Ba mấy cháu không biết ở mô nữa. Răng không thấy mô hết?Mấy mạ con lục tục lên xe. Qua cầu Đa là một đoạn tới gần bãi đất trống mênh mông có nắng cháy có thật nhiều dân chạy loạn tạm cư ở đó. Họ dựng lều sống tạm bợ dưới cái nắng tháng 3 mà nóng nung người. Phía bên kia cách lề đường vài chục mét có chiếc phi cơ hạ cánh. Tất cả xe cộ đang chạy trên đường đều phải dừng lại. Quân cảnh đi lại hai bên đường. Bác tài xuống xe chạy tới chạy lui nghe ngóng tin tức rồi Bác lên tiếng:- Nghe nói Tướng Toàn đang trấn an dân chạy loạn. Phát cho họ ít chục ngàn ông ơi! Bác Tài khôi hài nói.Về tới Đà Nẵng mới thấy cảnh hỗn loạn. Kẻ lợi dụng đi hôi của đập phá thành phố lung tung. Người thất trận từ đâu kéo về. Từng đoàn quân áo quần nhếch nhác mặt mũi bơ phờ, họ đi thành từng nhóm, có người bất mãn kêu la khủng khiếp. Một nhóm chừng 5,7 người bất ngờ nắm tay nhau đi vòng quanh rồi dõng dạc hô to một điều chi đó, xe cộ quá ồn ào Lan không nghe rõ chỉ biết một điều làm Lan xúc động mạnh khi nghe một tiếng nổ lớn. Tất cả thân xác họ ngã gục. Dân chúng chạy tán loạn. Bác tài hú hồn rú ga xe chạy nhanh rồi thả mạ con Lan dọc đường dù chưa đến Thanh Bình.Nhà dì Hồng ở sát biển. Đêm nằm nghe sóng vỗ mà Lan buồn khôn nguôi khi nhớ tới lời anh lính dù “nước mất nhà tan rồi!” Có lẽ vậy!Cả nhà khật khờ chỉ có lũ trẻ cười đùa vô tư.Qua 26/3 Huế thật sự bỏ ngỏ. Lan hoàn toàn thất vọng. Sấm, Ba, Bác Nghĩa...Mạ ngày đêm khấn nguyện. Lần lượt Đà Nẵng Sài Gòn mất. Lan nghe mà bàng hoàng. Sáng thức dậy ra chợ Lan thấy mấy thầy chùa ngồi trên xe cầm cờ MTGiải Phóng reo hò mà Lan bỡ ngỡ. Bác Nghĩa cũng từ chợ về bực dọc nói:- Thiên hạ thiệt tình. Mới bữa trước, bữa sau mà trở mặt như trở bàn tay. Thấy họ nắm tay bá cổ, sờ vai mấy cha bộ đội mà tui ngứa mắt, máu sần sật....Hàng xóm tụ năm, tụ ba bàn tán xôn xao. Một bác trai đã có tuổi xoa tay nói trống rỗng:- Hết rồi giấc mộng xe hơi, nhà lầu...Bác Nghĩa ghé tai mạ nói nhỏ:- Ông già ăn nói vô duyên. Biết bao người bỏ mạng chưa có tin tức, ở đó mà xe hơi, nhà lầu...Mạ Lan kéo tay Bác đi về, thì thầm:- Kệ chị ơi! Thân ai nấy lo, hồn ai nấy giữ là rứa đó!Hai bà bàn bạc về lại Huế. Thành phố hoang lạnh tiêu điều. Về tới nhà, xóm giềng vắng vẻ. Có nhà vẫn chưa về. Có lẽ đi thẳng vô Sài Gòn. Nhà cửa bị bọn hôi của phá tan hoang.Mạ ra chợ gặp bạn hàng nghe dì nói chồng dì đang học tập ngoài Hòa Mỹ chắc ít ngày nữa sẽ về. Có người mới về hôm tê. Mạ tìm tới nhà hỏi tin Ba. Mạ hớn hở quay về nhà thông báo cho Bác Nghĩa, mừng quá mạ mua thức ăn quên trước quên sau. Mà chừ thì phải tiết kiệm lại. Xã hội đảo lộn cả rồi. Mới có hơn một tháng làng xóm thay đổi hẳn. Mọi người nhìn nhau e dè. Guồng máy chính quyền lạ hoắc, có những người từ trên rừng về, ngoài Bắc vô, khác hẳn dân miền Nam từ lời ăn tiếng nói, đi đứng, ăn mặc. Mạ than phiền:- Thấy mà ngứa mắt! Hết rồi con ơi! Nhiều nhà bỗng dưng bị tịch thu. Gia đình chạy loạn về thì bơ vơ không nơi nương tựa nói chi tới công ăn việc làm. Đất nước thật sự đi vào một “khúc rẽ cuộc đời”.Ở Huế độ 3 ngày Lan sửa soạn ra trường cũ trình diện. Lan ghé nhà chị Hằng thăm trước. Đa số dân địa phương không di tản. Chị Hằng cho Lan biết Thầy Hiệu trưởng mất chức rồi. Vô trường Lan sẽ biết.Lan ngỡ ngàng khi gặp ông Hiệu trưởng mới từ Nghệ An vào. Lan chưng hửng cứ nghĩ rằng đó là Giáo chức, mấy “nàng” ở ngoài vô chiếm hết hai phần gọi là Giáo viên chi viện. Giáo viên địa phương phần lớn “mất dạy”, họ xí phần cho người miền Bắc vào. Bất mãn đã nhen nhúm ở người dân địa phương...Giáo chức tập trung vào ở tập thể theo chính sách chia để trị. 2 giáo chức cộng với một giáo viên chi viện ở chung một phòng để dễ bề theo dõi, trường có 5 giáo chức từ Huế ra bị chia ra 5 thôn. Thuận xui xẻo bị đưa ra tận Triệu Ái gần phi trường Ái tử.Cuộc sống xuống dốc. Ăn uống thiếu thốn. Tinh thần bị bưng bít. Cả tuần chỉ trông tối ngày thứ 5 họp Hội đồng để gặp nhau e dè tâm sự. Mỹ Trang kể lể:- Tau nhớ gia đình ra đứng cạnh bụi tre khóc mà tụi hắn cũng lên tiếng phê bình.Bữa khác nghe Ngọc Hòa nhỏ to:- Ê! Con Thuận bị đẩy về Triệu Độ, cái xã nổi tiếng đầy du kích trước 1975 ở cái làng Gia Độ. Tau gặp anh hắn kể. Hắn liều mạng giấu hai bánh đường đen ở bụi cây gần trường giúp cho mấy ông cải tạo ở Ái tử. Không ngờ có người thấy...Nhà Thuận có xe đò chạy tuyến đường Huế-Đông Hà. Thuận dạy trường chính ngay quốc lộ, chiều thứ bảy theo xe nhà vô Huế. Sáng thứ hai lộn ra xe dừng ngang cổng trường. Cung cách đó làm tụi giáo viên chi viện gọi là “Tiểu tư sản”. Được dịp tụi hắn chơi Thuận tới bến luôn. Không bao lâu sau Thuận nghỉ việc!Lần lượt mấy đứa bạn Lan hoặc theo gia đình về Long Khánh hoặc có tiền chạy hộ khẩu vô thành phố “mất dạy” luôn. Lan còn bầy em nhỏ phải gánh vác. Đôi ba tháng về nhà thấy mọi người quanh xóm ai cũng tiều tụy. Ba và Bác Nghĩa chạy xe ôm phụ gia đình. Mấy đứa thanh niên trong xóm đang học hành ở lứa tuổi dậy thì, tuổi xuân phơi phới khi không cuộc sống bị chựng lại, thiếu ăn thiếu mặc, có đứa đi vùng kinh tế mới, có đứa gia nhập “Đảng Phục Quốc bị gài độ” chạy tan tác..Hồng em Sấm nghỉ học vừa đan lát vừa phụ giúp việc nhà. Bác Nghĩa gái xoay nghề qua bán áo quần cũ ra tận Hải Lăng, Quảng Trị, Đông Hà, lăn lóc tới các thôn xã xa để tìm tung tích của Sấm. Tình mẹ thương con vô bờ bến, trên chuyến xe đò ra vô Huế, thấy tình cảnh mấy cô giáo có chồng cải tạo xa phải đùm đề con nhỏ ra trường theo mẹ. Bác chạnh lòng, trong giỏ của Bác có bất cứ thức ăn gì Bác chia hết cho mấy đứa nhỏ...Ngày đêm Bác nóng ruột sôi gan theo dỏi tin tức Sấm. Bạn bè cùng trang lứa của Sấm nếu ở trại cải tạo đều có thư báo về nhà còn Sấm biệt vô âm tín...Mạ an ủi Lan:- Gái thời loạn, Gái thời bình...Không thì con bỏ việc về đan lát, thêu thùa... nghiệt nỗi chính sách hộ khẩu cũng khó tính...Băn khoăn, nghĩ ngợi rồi lại xách gói ra trường...nhớ tới tụi giáo viên chi viện mà ngán ngẩm...Xe đi qua An Lỗ, Phong Sơn, Phong Mỹ... Lan nhớ Sấm tha thiết.Đầu niên học 1977, Lan có “Quyết định” chuyển về dạy ở Phong Hải, bên kia bờ phá Tam Giang.Thủy được nhích vô Phong Hiền, cũng mừng cho hắn. Thủy là chưa mơ mộng, đến lúc sống chung với quỷ đỏ hắn thở dài thườn thượt, đêm ngủ nghiến răng ken két. Hà bỏ việc ngay từ đây. Lanh tay theo mẹ buôn bán cửa hàng. Hà có thư Tiến từ trại Bình Điền.Thủy và Lan đạp xe vòng vòng thành phố nhìn thế sự đổi thay. Ghé trên Đông Ba coi trước tuyến đường đi Phong Hải.Chuyến đò sớm đưa Lan về Ngũ Điền từ bến đò đi ra xã nửa tiếng đường đất cát. Nắng và nóng làm Lan mệt đừ người. Cũng may Lan rất vui mừng khi trình diện trường mới.Hiệu trưởng lại là Qui,bạn cũ khóa sưphạm. Qui người địa phương, con liệt sĩ. Học ở Huế từ nhỏ nên tư tưởng phóng khoáng. Qui xoa tay nói với Lan:- Tưởng ai, té ra là Lan. Trái đất tròn bạn hí!Đa số ở trường là giáo viên Huế về, còn lại là dân địa phương nên không khí dễ thở. Giáo viên địa phương cũng ba đời ăn cơm “Mỹ Ngụy”. Lan cảm thấy hài lòng dù có xa nhà, đường đi có gian nan cách trở...Qui nói tiếp:- Trường chỉ thiếu giáo viên ở cơ sở phụ. Cô Lan chịu khó thời gian ra dạy ngoài H. Nhuận cách xa đây 20 phút đường bộ rồi có điều kiện hoán chuyển qua lại. Đêm nay ở cơ sở chính.Ngày mai tụi mình ra H. Nhuận, có Hạnh và Lộc cùng sư phạm Huế dạy 2 thôn gần đó. Lan phụ trách lớp 4 ở trọ nhà phụ huynh.Đêm đầu tiên ở vùng biển, Lan ngủ ngon nhờ gió biển về khuya thật dễ chịu.Nhà của chị Oanh tuy trống hoác nhưng bình yên. Người dân ở đây xởi lởi, quý thầy cô giáo trên Huế về. Chị Oanh mẹ góa con côi, buôn bán mắm ruốc ngoài chợ Quận, sáng đi chiều về. Thằng Danh, học trò Lan, là con một của chị, nghe chị tâm sự giọng nằng nặng địa phương:- Ba thằng Danh trước đây là lính rằn ri ngoài Quận, en ở mô trong nam ra lận. Lính xa nhà cô cũng biết rồi. Bầy tui thì ở cảnh trai thiếu gái thừa nên rồi ráp vô. Nhờ vậy chừ tui mới có thằng Danh. Chó khôn “đóc tróc” một mình cũng buồn lắm cô ơi! Con Thạnh, con Nữ ở quanh thôn ni con mô cũng có con mà không chồng như tui hết. Sau 75 thì mấy “en” mỗi người mỗi ngã khôn biết sống chết nơi mô nữa...Lan chạnh nghĩ tới thế hệ của bọn Lan tương lai không biết sẽ về đâu... Cuộc sống thụt lùi. Không sách báo, không Tivi, chỉ có cái loa treo tuốt trên ngọn cây dương đầu thôn suốt ngày rang rảng điệp khúc “tiến nhanh tiến mạnh... thi đua sản xuất...” nghe điên cả cái đầu...Ngày vui với lũ trẻ khét nắng mùi biển mặn. Tối về căng mắt soạn bài. Lúc rãnh rỗi nghe chị Oanh kể chuyện mấy ông rằn ri ngoài chợ Quận với giọng đầy tiếc nuối. Ai bảo gái quê không đa tình?Thỉnh thoảng Hạnh từ trên về ở lại với Lan. Biển vắng không một bóng người, hai đứa ngồi trên bờ nhìn mặt nước lung linh, ánh trăng như dát vàng, quá đỗi quạnh hiu. 2 đứa cùng 1 suy nghĩ: "Tụi mình mang thân phận nhược tiểu..." Bất giác cả 2 cùng bật khóc thành tiếng.Phố phường xa dần. Ba mạ em út mấy tháng trời không gặp. Đời sống bị bưng bít, một mình đi từ thôn vô cơ sở chính hội họp, trước mắt những độn cát mênh mông trải dài. Bơ vơ giữa trời đất Lan nghe lòng khắc khoải. Lan gọi thầm tên Sấm và khấn nguyện:- Sấm ơi! Nếu anh còn sống xin đưa tin về cho gia đình. Nếu không may Anh đã ra đi thì hồn anh linh thiêng báo mộng cho gia đình biết. Cuộc chiến đã tàn sao quê hương mình không như điều mơ ước mà chỉ toàn là đau đớn với biệt ly...Hạnh ngồi ở văn phòng nóng lòng chờ Lan. Vừa thấy bóng Lan đến Hạnh vội vã kéo tay Lan đến ngồi bên cửa sổ kể chuyện nhà chị Hải:- Hôm qua con Sửu đi vô thôn kiếm củi. Nó kiếm không ra củi mà lại xách về một sọ người gói trong bao cát trên chàn bếp rồi ngồi chờ chị mách với chị:- Mạ ơi! Ngày ni tui không có củi mà tui được cái con chi không biết, tui để trên chàn, mạ ra mà coi.Chị Hải nghe con nói lấy làm lạ, chưa kịp cất gióng gánh chị tò mò xuống bếp lấy bao cát mở miệng xem. Chị Hải thét lên một tiếng thất thanh rồi ngã vật xuống nền nhà. Hàng xóm chạy lại mới hay sự việc. Tin tức đưa tới tai ông trưởng thôn. Bác Tô, người lớn tuổi nhất trong thôn tụ tập thanh niên lại bàn bạc rồi dùng rạp cạnh nhà chị Hải để tẩm liệm cho người xấu số. Cả ông và chị Hải ngờ rằng:- Đây có lẽ là hồn Ba con Sửu hiện về xui khiến cho cha con gặp nhau. Ba con Sửu cũng là lính chết trận ngoài Quảng Trị không tìm ra xác năm 1972. Cũng bởi tin vậy nên trưa ngày hôm đó chị Hải và hai người em trai tức tốc theo con Sửu vô chỗ cũ để tìm thêm dấu vết tung tích. Họ chỉ kiếm thêm được vài cái vương lóng tay, lòng chân. Đặc biệt Lan ơi! Có cái thẻ bài mang tên Trần Hùng Hậu, Số quân... Lan chợt rùng mình. Một luồng khí lạnh chạy khắp người Lan. Tay chân bủn rủn Lan nắm vật xuống mặt bàn, người xanh lét... Nghe tiếng kêu cứu, hết thẩy giáo viên chạy lại xức dầu, cạo gió cho Lan, rồi họ đưa Lan về phòng Sa nghỉ ngơi...Khi Lan tỉnh dậy thì thấy bạn bè ngồi quanh Lan từ lúc nào. Mọi người đều biết chuyện lòng của Lan. Họ vỗ về, an ủi Lan. Chị Vinh lên tiếng:- Lan khỏe rồi. Nhớ đi ra bưu điện xã nhắn tin gấp cho gia đình Sấm biết đặng ngày mai họ ra kịp chuyến đò mà về đây...Đò chiều cập bến, Bác Nghĩa gái vừa bước chân ra khỏi mạn là ôm chầm Lan khóc tức tưởi:- Con ơi! Hậu ơi!...Tiếng Bác nấc nghẹn kể lể từng lời. Dưới ráng chiều đỏ rực bóng hai người đàn bà cầm lấy tay nhau khóc nức nở. Khách đi đò bước lại nghe chuyện ai cũng tặc lưỡi xót xa không tin điều đó là sự thực.Một chị lớn tuổi an ủi Bác Nghĩa rồi bảo Lan nên đưa Bác ra thôn ngay kẻo đường đi còn xa.Sau buổi cơm chiều, trong thôn từ trẻ tới già mọi người kéo nhau lại rạp đám để thăm viếng. Tình cảm người dân quê ở đây thật mặn mà dù cuộc đổi đời đã xoay chuyển. Bác Tô ôn tồn nói với ông bà Nghĩa:- En chị chớ buồn. Trời đã an bài số phận cậu đây là như rứa. Cậu linh thiêng lắm mới dun dủi cho cô Lan gặp lại thiệt là cái phước lớn. Bầy tui năm ni đã 75 tuổi đời. Qua mấy cuộc chiến tranh đây là lần đầu tiên tui gặp cái cảnh như ri. Chiến tranh nghiệt ngã lắm. Mà thôi! Rứa là hồn cậu cũng được siêu thoát rồi.Bác chỉ bầy trẻ đang nô đùa trước sân rồi nói tiếp:- Sấp nhỏ đó đa số là con em mấy en ngoài Quận hết. Cũng nhờ mấy en gìn giữ Quận, bầy tui mới sống sót tới ngày hôm ni... Tội nghiệp. Sau ngày 75 thì tan hàng, lưu lạc mô hết.Bác trai Nghĩa quỵ gập người bên chiếc hòm nhỏ, tay Bác cào cấu vô mặt hòm, chắc Bác đau xót lắm. Lan và Thạnh, em trai Lan lúi húi thay hương đèn hoa quả. Bác gái tiếp tục khóc lóc não nề:- Con ơi! Mạ đêm mong, ngày ngóng chờ con về. Con đi mấy năm trời biền biệt. Chừ thì mạ đã gặp con mà con ra thân thể như ri...Mọi người đứng bên ngoài thút thít khóc theo. Chị Oanh tất tả từ dưới thôn lên đặt hương hoa khấn vái choSấm.Ông Bà Nghĩa hết sức cảm động bởi tấm thịnh tình của người dân ở đây. Bác gái nói lời cảm ơn. Bác nói nhỏ với Bác Tô, gia đình xin gởi một số tiền để nhờ Bác trang trải chi phí trong 2 ngày vừa qua và cũng là để mời các bà con ở trong thôn một bữa...Giọng Bác Tô chậm rãi:- Ơn nghĩa chi en chị ơi! Nghĩa tử là nghĩa tận, cậu đây như con cháu trong thôn. Hễ mà chết dọc đường thì tục lệ của làng là dựng rạp để ngoài xóm 3 ngày để làm đám cúng kiến rồi chôn cất. Thời buổi loạn ly khó nói lắm. Không biết là ai nhưng mà đã mất rồi thì... Huống hồ chi mấy en ngoài Quận quen thuộc với bầy tui ra vô mãi... dân ở đây họ cũng nhớ điều đó mà.Nói rồi Bác đi lại thắp thêm nhang cho Sấm. Lan ngậm ngùi nhìn chiếc hòm nhỏ đựng thân xác không toàn vẹn của Sấm. Lan nấc lên não nuột, mắt nàng nhòa lệ. Lan chợt nhớ hai câu thơ ngày trước:Những người muôn năm cũHồn ở đâu bây giờ? VỊ ĐẠI TÁ ĐƯỢC GIẢI CỨU HÔM QUA
XIN CHÚC MỪNG !
--