Fwd: ĐIỂM TIN DIỄN ĐÀN 23-02-2026 (SỐ 036-2026)

5 views
Skip to first unread message

Giu Tran

unread,
Feb 23, 2026, 10:11:47 AMFeb 23
to


---------- Forwarded message ---------
From: soan....@hotmail.com <soan....@hotmail.com>
Date: Mon, Feb 23, 2026 at 6:56 AM
Subject: ĐIỂM TIN DIỄN ĐÀN 23-02-2026 (SỐ 036-2026)
To:



GOOD MORNING VIET NAM - CANADA - USA

ĐIỂM TIN DIỄN ĐÀN 23-02-2026  (SỐ 036-2026)

Image insérée
Image insérée



MỤC LỤC

  1. NỖI NHỚ TÂY NINH
  2. Tết ở Sài Gòn xưa.
  3. Me Mỹ
  4. Kỷ niệm một thời
  5. Nụ CƯỜI XUÂN
  6. XUÂN BÌNH YÊN
  7. Xuân Cảm Tác & Con Nào Quên & Xuân Tranh Đấu (T)
  8. Ngọn Đèn Dầu Trong Góc Khuất
  9. Xuân xưa và Người Lính Việt Nam Cộng Hòa



NỖI NHỚ TÂY NINH
  • NỖI NHỚ QUÊ HƯƠNG ( TÂY NINH) Ba mươi năm lẻ trôi qua đất khách Đời nổi trôi theo vận nước tha hương Sáng xứ người, đêm về thao thức Nghe gió buồn gọi bóng quê hương Tây Ninh đó… mây vương triền núi Vàm cỏ Đông nước chảy ngậm ngùi Con đi xa khi tóc còn xanh quá Nay bạc đầu… chưa một lần về Thư gửi về… bao lần chưa dám viết Sợ lòng đau… khi nhắc chuyện xưa Cha đã khuất… mẹ cũng vừa mất Mà con thì… mải miết gió mưa Tây Ninh ơi… quê cha đất mẹ Con lưu đày nơi xứ lạ quê người Ba mươi năm… chưa lần trở gót Nợ quê nghèo con trả chưa thôi Tây Ninh ơi… đêm dài đất khách Con gọi thầm hai tiếng quê hương Mai nhắm mắt… hồn con có biết Đường nào về lại núi Bà xưa? Con vẫn nhớ con đường đất đỏ Mỗi mùa mưa bùn lấm đôi chân Nhớ tiếng võng ru trưa gió võ Nhớ lời cha dạy sống làm người Quê hương đó… bao lần đổi chủ Phận dân nghèo như cỏ ven sông Con đi rồi… quê hương còn mất Nỗi đau này… ai hiểu cho không? Có những đêm nghe chuông chùa vọng Tưởng chuông chùa Tòa Thánh quê xưa Lòng quỳ xuống nơi miền đất lạ Mà nước mắt… rơi ướt lời thưa Tây Ninh ơi… quê cha đất mẹ Con lưu đày nơi xứ lạ quê người Ba mươi năm… chưa lần trở gót Nợ quê nghèo con trả chưa thôi Tây Ninh ơi… đêm dài đất khách Con gọi thầm hai tiếng quê hương Mai nhắm mắt… hồn con có biết Đường nào về lại núi Bà xưa? Nếu một ngày… con không còn trở lại Xin tro tàn gửi gió phương Đông Cho con được làm hạt bụi nhỏ Rơi bên thềm… đất mẹ Tây Ninh… Duy Văn
     
                NỖI NHỚ QUÊ HƯƠNG (TÂY NINH). NHẠC & LỜI: DUY VĂN. TRÌNH BÀY: DUY KHIÊM



     

Tết ở Sài Gòn xưa.
  • Tết _ Chúc Mừng Năm Mới 2026001.jpg

    Tết ở Sài Gòn xưa

    image001.jpg

    Phố Tết SàiGòn xưa 

    Ngoài phố…

    Không khí Tết ở Sài Gòn hồi đó bắt đầu được cảm thấy từ sau Giáng Sinh. Những sạp bán đồ Giáng Sinh dọc các đường Lê Lợi và Nguyễn Huệ thật ra vẫn ngồi nguyên chỗ và chỉ thay đổi thiệp mừng Giáng Sinh sang thiệp chúc Tết mà thôi. Không khí hội hè “bắc qua” này kéo dài cho đến gần Tết, khi những khu vực bán hàng Tết thật sự được tổ chức.

    image058.jpg

    image059.jpg

    Ngoài đường, khu vực trước chợ Tết Bến Thành, Sài Gòn những năm 1960

    Hai khu vực vui nhất là chợ hoa ở đường Nguyễn Huệ và khu vực chợ Bến Thành. Người Sài Gòn hồi đó chỉ chuộng có vài loại hoa có truyền thống lâu đời cho ngày Tết mà thôi. Và các chủng loại cũng đơn giản, vì các loại hoa hợp với khí hậu miền Nam cũng không nhiều lắm. Đứng đầu luôn là mai vàng. Sau đó là các loại cúc như đại đóa, vạn thọ, rồi thược dược các mầu, mào gà, phong lan, địa lan…

    image060.jpg

    Mai vàng – Photo by Thu Nga
    image061.jpg

    Mai Tứ Quý-Photo by Thu Nga
    image062.jpg

     
    image063.jpg

     
    image064.jpg


    Dĩ nhiên cũng còn vài loại khác nhưng số lượng rất ít. Cây trái thì nổi bật và chính thống nhất vẫn là quất (tắc). Hoa Đà Lạt chuyển về cũng phần nhiều là phong lan, cúc, thược dược, đồng tiền và họa hoằn một ít mâm xôi và phù dung. Hoa cắm cành ngày đầu Xuân thì có lay-ơn, hoa hồng. Cũng từ Đà Lạt về nhưng các chủng loại hoa hồng hồi đó còn hơi nghèo nàn.

    image065.jpg

    Chợ hoa Tết đường Nguyễn Huệ, Sài Gòn những năm 1960

    Dân chơi Sài Gòn hồi những năm đầu của thập niên 1960 vẫn còn chơi trội bằng cách ra bãi biển Thủy Triều gần Cam Ranh để tìm cành mai rừng, cũng tương tự như lên Sapa tìm cành đào thế ở ngoài Bắc. Dọc bãi biển Thủy Triều trước đây là hàng cây số rừng mai vàng hoang dã rất đẹp. Thường người ta đốn nguyên cây đem về cắm mấy ngày Tết. Những người hiếu cổ thì vào Chợ Lớn tìm mua mấy giò thủy tiên. Hồi đó người ta chơi rễ cây thiết mộc lan chứ không ai chơi rễ thủy tiên. Thủy tiên chỉ chơi hoa, đơn hoặc kép. Những cái thú chơi thủy tiên là gọt, hãm và thúc. Mẹ tôi chăm sóc thủy tiên với sự trìu mến đặc biệt. Trước hết là phải chọn giò có số củ và hình dáng chuẩn. Sau đó gọt củ để lá và chồi hoa sẽ mọc ra theo những dạng, thế mình muốn, thí dụ như long, ly, quy, phụng, v.v. Và phải biết thúc hay hãm để kiểm soát thời điểm hoa nở theo đúng ý mình, tốt nhất là ngay (bỏ chữ sau) giờ Giao thừa.

    image066.jpg

    Chợ dưa hấu Tết, Sài Gòn những năm 1960

    image067.jpg

    Bán bóng bay ở chợ Tết Bến Thành, những năm 1960

    Những ngày giáp Tết người ta dựng rạp bao quanh hai mặt phía công Trường Quách Thị Trang và đường Phan Bội Châu của chợ Bến Thành để bán hàng Tết. Đèn đuốc sáng trưng, trai thanh gái lịch dập dìu. Nhiều nhất là bánh, kẹo, rượu; và nhất là mứt các loại và hạt dưa. Hàng Tết ở đây phần nhiều là hàng sản xuất trong nước, thí dụ như khô nai, khô cá thiều Phú Quốc; rượu dâu, rượu Mận Đà Lạt; trái cây Lái Thiêu; bột gạo lức Bích Chi… Mỗi cửa hàng bắc loa với công suất cực mạnh để lấn át hàng xóm.
    Ồn ào nhất bao giờ cũng là quầy bán thuốc đánh răng hiệu anh Bẩy Chà Hynos. Những câu rao hàng thường ngộ nghĩnh, như của quầy bán vải: “Trăm ba pô-pơ-lin, trăm sáu pô-pơ-lin, một trăm ba bán sáu chục”. Hay khi hàng đồ chơi ồn ào: “Xanh xanh đỏ đỏ em nhỏ nó chơi, em nhỏ nó mừng”, thì quầy dưa hấu bên cạnh tiếp luôn: “Xanh xanh, đỏ đỏ em nhỏ nó ăn, em nhỏ nó cười đi”.

    image068.jpg

    Những ngày giáp Tết, khu vực đường Nguyễn Huệ, trước cửa Nhà hát lớn (hồi đó vẫn còn là nhà Quốc hội).

     
    … và trong nhà:

    Nhưng cảm giác Tết thật sự bắt đầu khi người ta bắt đầu mua, trữ thực phẩm và vật dụng cho những ngày Tết. Từ khoảng rằm tháng Chạp trở đi mẹ tôi bắt đầu tích trữ các thực phẩm khô như măng lưỡi lợn, bóng cá, gạo nếp nấu bánh chưng, đường làm mứt… Các loại rau, lá xanh như cải bẹ muối dưa, hành củ, hành lá, kiệu… thường được mua ở chợ Cầu Muối. Thịt thà các loại thì phải ra chợ Ông Tạ. Chợ này cũng là nơi cung cấp thịt cầy tơ, cả sống lẫn chín, cho dân nhậu gốc Bắc ở Sài Gòn. Thật thú vị khi được theo mẹ và mấy chị giúp việc đi chợ Cầu Muối ban đêm. Mùi ung ủng của hành, kiệu để muối dưa ở những chợ đầu mối bán rau như thế này và những ánh đèn vàng bóng tròn, khi hồi tưởng lại trở nên rất ấm áp, rất Tết đối với tôi. Hồi đó Sài Gòn hãy còn nhiều xích lô máy. Loại xe này to hơn và chở được nhiều hơn xích lô đạp. Một chuyến xích lô máy lạch bạch có thể chở tất cả rau trái cho một cái Tết của mẹ tôi.

    image069.jpg

    Xích lô máy

    Bắt đầu từ Tết ông Táo thì mọi chuyện trở nên cấp bách. Đây là ngày mẹ tôi bắt đầu làm các loại mứt. Đối với những người còn sót lại từ nền văn hóa bà Phủ, bác Phán cổ xưa thì các thức ăn, món cỗ ngoài hương vị còn phải tỏa ra được nét tinh tế, thanh tao. Mứt không những ngon, mà còn phải trông đẹp mắt. Mẹ tôi lúc nào cũng trung thành với những loại mứt cổ truyền, mà quay đi quẩn lại cũng chỉ có các loại khoai, sen, gừng, bí, chanh, quất. Không hiểu tại sao mứt cà chua cũng lọt được vào danh sách này.

    image070.jpg

    Vài loại mứt

    Loại mứt phổ thông và dân giã nhất thời đó là mứt khoai lang ruột nghệ, thì không hiểu sao nay đã hoàn toàn biến mất ở Việt Nam. Khoai lang thái lát bán nguyệt, ngâm qua với nước vôi trong đã được gạn thật kỹ. Sau đó rửa xả nước vôi, luộc sơ rồi để ráo trước khi xào đường trên lửa nhỏ. Đảo đều tay đến khi khoai khô để đường có thể đóng thành lớp bột trắng, mỏng trên khoai là được. Làm như thế lượng đường ngấm vào khoai bị hạn chế, mứt khoai sẽ khô nhưng mềm và ngọt dịu. Muốn làm mứt khoai ướt, gọi là mứt khoai châu, thì nhỏ một, hai giọt chanh vào đường. Chỉ thế thôi mà khoai sẽ thấm đường nhưng không thể khô được, dù có xào thật lâu. Hiện ở Huế cũng còn có vài nơi bán loại mứt khoai lang gọi là khoai ngào gừng. Nhưng thường vì làm lối hàng chợ nên thô, và đường vón cục rất ngấy. Mứt khoai trắng ở chợ Bến Thành ngày nay không khử vôi nên đường thấm nhiều quá thành ra ngọt chát và không mềm dẻo. Chán nhất là loại khoai phơi khô được gọi là mứt khoai dẻo ngoài thị trường ngày nay.

    image071.jpg

    Mua mứt Tết

    Gần Tết nữa là bắt đầu việc biếu xén. Các hộp mứt, chai rượu đi vòng vo rồi nhiều khi cuối cùng lại quay về chủ ban đầu. Ngoài những món đồ truyền thống, thường tình, nhiều người muốn khoe sang thì ra đường Hàm Nghi, nhưng chắc ăn nhất là vào Chợ Lớn, mua đồ kiểu cách như vịt khô ép mỏng như cái đĩa và lạp xường ngũ vị, bát vị, v.v. Tất cả đều được tẩm rượu mai quế lộ. Các loại rượu quý, rượu vang của Âu, Mỹ hay các loại rượu Trung Hoa cổ (như Trúc Diệp Thanh Tửu, Hoàng Hoa, Ngũ Gia Bì…) đều được coi trọng. Nhưng những người theo lối xưa như bố mẹ tôi lại thích biếu họ hàng, bè bạn các loại sản phẩm do chính tay mình tạo ra. Thông thường nhất là bánh chưng, hơi lạc loài trong rừng bánh tét.
    Vì lý do thời tiết, nên phải đợi thật muộn, thường là ngày 28 Âm lịch, mới nấu bánh chưng để bánh còn ăn được trong ngày Tết, vì nếu bỏ tủ lạnh sẽ bị lại gạo. Riêng lá dong gói bánh bán nhiều nhất ở chợ Ông Tạ. Mấy loại giò (chả lụa) cũng hay được nấu ghém vào nồi bánh chưng. Và ngày gói bánh chưng là lúc Tết hơn Tết đối với bọn trẻ chúng tôi.

    image072.jpg

    Nồi Bánh Chưng

    Bắt đầu từ hôm nay mọi việc xem như xả láng. Các trường học, sau các hoạt động tất niên kéo dài cả tuần lễ, đã nghỉ Tết. Quần áo giầy dép mới đã được may, đóng và háo hức đợi được chính thức cắt chỉ. Mấy hôm này chỉ lo lượn chợ hoa, chợ Tết. Bạn bè kéo đến chung vui với nồi bánh chưng. Lúc lửa lò nấu bánh bắt đầu được thổi lên là vài thứ hạt dưa, mứt Tết được đem ra cho chúng tôi, các “thợ” trông nồi bánh thử trước. Rồi trong khi trông nồi bánh, thường là qua đêm, các loại bài bạc được chơi tự do. Tổ tôm, mạt chược dành riêng cho người lớn. Còn các loại bài như bất, đố mười, tam cúc, tôm cua cò cá (bầu cua cá cọp); hay bài Tây “các tê” thì của mọi lứa tuổi, và từ bấy giờ sẽ luôn hiện diện cho đến cái lúc buồn thảm nhất trong năm là tối mồng Ba Tết.

    image073.jpg

    Một số cây bài bất (bên trái)

    Cây bài bất giống y như bài tổ tôm nhưng nhỏ hơn, và mỗi loại chỉ có một quân bài. Ngoài các hàng văn, sách, vạn như tổ tôm, cỗ bài bất còn thêm hàng sừng, tức là sò, với cây bài ông cụ là quân nhất sừng. Khi chơi thì có một nhà cái gọi là trương, hay trang, chọi với từng nhà con, và tất cả các nhà con gọi chung là làng. Cỗ bất được để úp trên một đĩa nhỏ để mọi người rút theo lượt, mỗi lần một lá bài. Tổng số các quân bài rút, được quyết định tùy hỷ, được cộng điểm thành 10 là tốt nhất. Trên 10 thì bị loại, gọi là bị bất. Nếu cùng điểm thì so hơn thua theo hàng: sừng cao nhất, sau đó theo thứ tự là vạn, sách và thấp nhất là văn. Khi tất cả đã rút đủ bài, nhà cái (trương) so sánh hơn thua với từng nhà để thu hay chi tiền.
    Đố mười cũng dùng cỗ bài bất. Mỗi người chơi được rút hay chia lần theo vòng 3 cây bài. Tổng số cộng lại nếu trên 10 sẽ trừ đi 10 làm số thành. Điểm 10 là cao nhất. Nếu cùng điểm thì cũng lại so sánh hơn thua theo hàng. Ai cao điểm nhất sẽ thắng số tiền tất cả người chơi chung vào mỗi ván. Đố mười hơi giống bài cào 3 lá đánh bằng bài Tây. Nói chung thì các lối chơi bài ngày xưa hiền, nhẹ nhàng và ít sát phạt hơn so với các dạng bài bạc bây giờ.

    .
    image074.jpg

    image075.jpg

    Bầu Cua Cá Cọp

    Đêm Giao thừa:

    Đêm 30 là lúc Tết nhất của Tết. Càng gần giờ Giao thừa thì mọi người càng trở nên nghiêm túc hơn, “hiền” hơn. Bố mẹ tôi tự nhiên có vẻ nghiêm trang, nhưng nhã nhặn hơn ngày thường. Bàn thờ Giao thừa và bàn thờ gia tiên đã sẵn sàng. Bố tôi vẫn giữ được đôi tranh Thần Đồ, Uất Lũy cũ đem ra treo hai bên cửa ra vào dưới nhà, từ tối 30 Tết mỗi năm. Người Bắc xưa ngày Tết treo cặp tranh Thần Đồ, Uất Lũy hay đôi tranh Tử Vi, Huỳnh Đàn để trấn trước nhà, chứ không treo tranh Trình Giảo Kim, Uất Trì Cung như người Hoa. Cũng có năm bố tôi trổ tài vẽ và giảng giải về ba vuông bẩy tròn và cung tên bằng vôi cho chúng tôi. Vì sân trước nhỏ, nên việc này đành phải thực hiện ở sân sau nhà.

    image076.jpg

    Cặp tranh Tử Vi-Huỳnh Đàn treo trước cửa (tranh Hàng Trống)

    Rồi Giao thừa đến. Trên radio, và sau này cả trên truyền hình, bài Ly Rượu Mừng vang lên. Hương khói nghi ngút. Mẹ tôi trở nên nghiêm trang, thành kính tối đa trong mỗi cử chỉ. Phấn son, nhưng mẹ vẫn mặc áo dài của năm cũ khi cúng Giao thừa. Những kiêng cữ như tránh quét nhà, to tiếng, nói dối… bắt đầu được tuân thủ. Trang nghiêm là đúng, vì đối với các thế hệ cũ thì cho đến lúc ấy mọi sự tin tưởng và kiêng cữ vẫn còn là hơi thở.

    image040.jpg
    image077.jpg


    Theo phong tục cổ của người mình, thời khắc Giao thừa là giờ phút thiêng liêng nhất của năm. Lúc trừ tịch này trên không trung phải tuyệt đối tĩnh lặng để các thần năm cũ giao tiếp các thần năm mới. Trong khi đó dưới đất phải đốt pháo, đánh trống chiêng, xoong, nồi các thứ thật ồn ào để xua đuổi ma quỷ nhân đêm tối nhất của năm, khi mọi thổ, trạch thần đều vắng mặt, mà xâm nhập làm hại thế gian. Sai nguyên tắc này sẽ không bao giờ đạt được quốc thái dân an trong năm mới.
    Lúc mọi nhà cúng Giao thừa và gia tiên xong, ở những năm được đốt pháo, pháo bắt đầu rền. Các bánh pháo Điện Quang, Toàn Hồng nổ giòn vang xa gần. Mỗi đoạn khoảng 20cm pháo con lại chen một cái pháo đại. Văn hóa đốt pháo của giới trẻ hồi đó bây giờ nghĩ lại thấy lành lắm. Nghịch nhất cũng chỉ là úp ống lon sữa bò lên pháo rời nhặt được rồi đốt cho lon bay lên. Dĩ nhiên cũng có những trường hợp rắn mắt hơn, nhưng cố ý làm đau người khác thì rất họa hoằn. Thật ra lũ chó mèo là bọn oán hờn pháo nhất. Các tràng pháo có khi dài từ lầu ba xuống đất, hoặc có khi dài hơn. Mùi khói pháo thật tuyệt vời và rất ‘sạch”.

    image078.jpg

    Lăng Ông – Lăng Tả Quân Lê Văn Duyệt

    image045.jpg

    Lăng Ông

    Sau đó bố mẹ tôi đi lễ Giao thừa. Hướng xuất hành đã được bố tôi tra xét kỹ từ lịch Tam Tông Miếu. Cũng có năm các cụ đi lễ Lăng Ông, nhưng thường là đền đức Thánh Trần. Sau này tôi mới biết là do hướng xuất hành của tùy năm. Giao thừa và ngày Tết bố mẹ tôi thường không đi lễ chùa, mà để dành đến Rầm tháng Giêng. Người Bắc ở Sài Gòn thủa ấy hay đi chùa Vạn Thọ. Đây là một ngôi chùa nhỏ ấm cúng bên bờ nước, hình như ở Tân Định. Chỉ có một vài năm bọn trẻ chúng tôi theo bố mẹ đi lễ tối 30 Tết, còn thì vừa bị khích động vì pháo, vừa còn say khói pháo nên hay ở nhà đánh bài, ăn mứt, cắn hạt dưa. Ở các đình, đền đầu năm cũng có khi có hát bội, mà hồi còn bé tôi rất sợ. Lại có nhiều người đi rao “đầu năm mua muối, cuối năm mua vôi”. Hành khất thì vô số kể. Khói hương nghi ngút và người đông đến ngộp thở. Tiếng lắc thẻ xin xăm vang khắp nơi. Khách đi lễ ai cũng tỏ ra vui vẻ, hòa nhã. Nhưng các ông bà bán hàng đầu năm như vôi, muối, cành lộc, hoa quả, bánh mứt, giò chả, bánh chưng, bánh tét…, thì đon đả một cách rất Tết.

    image079.jpg

    Lăng Ông 1956

    Lúc trở về bao giờ bố mẹ tôi cũng có một cành lộc, mà chẳng hiểu tại sao năm nào cũng là một đọt trúc đằng ngà. Vì ỷ là người được mời đi xông đất đầu năm rất nhiều, nên bao giờ bố tôi cũng tự xông đất. Một bánh pháo nhỏ lại được khai hỏa. Sau đó cả nhà quây quần ăn nhẹ một ít bánh mứt và đánh bài. Lúc này bố mẹ tôi mừng tuổi (lì xì) các con. Mỗi đứa được một phong bao, trên đó bố tôi viết sẵn rất đẹp tên từng người, và, bằng cả chữ Việt lẫn chữ Nho, dòng chữ “nhất bản vạn lợi”. Dù lúc đó xã hội hoàn toàn theo nền giáo dục tân học mang nhiều ảnh hưởng phương Tây, nhưng chúng tôi luôn thấy cảm động, và luôn trân trọng những phong tục truyền thống đẹp đẽ này.


    Mồng Một Tết:

    Sáng sớm mồng Một Tết được bắt đầu bằng tràng pháo đón vị khách đầu tiên của năm mới. Quần áo mới được mọi người đem ra diện. Với bọn nhỏ chúng tôi thì câu vui như Tết chỉ cảm thấy được đêm 30 và sáng mồng Một mà thôi, vì những người họ hàng và bạn bè thân thiết nhất của bố mẹ tôi đều đến chúc Tết vào buổi sáng này, và họ là những khách sộp lì xì hậu hĩ nhất. Doanh thu của tất cả thời giờ còn lại của mấy ngày Tết sau đó thường không bằng một phần ba buổi sáng mồng Một. Sau khi tiếp các vị khách này, bố tôi đi chúc Tết họ hàng bè bạn, trong khi mẹ tôi ở nhà tiếp khách. Đến gần trưa bố tôi về, và lúc đó các họ hàng và bè bạn chí thân của gia đình đã có mặt đông đủ để dùng bữa đầu năm với chúng tôi.

    image048.jpg


    Có một cái lệ đặc biệt mà những người thuộc giòng dõi khoa bảng cũ miền Bắc ở Sài Gòn vẫn còn giữ cho đến mãi sau này, là khi đã họp mặt đông đủ ngày mồng Một Tết, người ta dở tấm Thăng quan đồ ra để chơi cờ Thăng quan, loại giải trí phổ thông nhất của giới nho sỹ, khoa bảng từ ngàn xưa, để xem vận mệnh công danh trong năm mới. Cụ Ngô Tất Tố có lẽ đã bỏ quên món này trong tác phẩm Lều Chõng.

    1. image049.jpg

    Một bản cờ thăng quan

    Bản thăng quan đồ này to bằng một mặt bàn nhỏ. Sang thì bằng gỗ sơn son thếp vàng có thể gập đôi lại được. Thường thì in trên vải hay giấy. Trên đó chia thành nhiều ô ghi cấp bậc của hệ thống quan chế triều đình ngày xưa, từ thấp nhất là Hàn lâm Đãi chiếu (tòng cửu phẩm văn giai) cho đến cao nhất là Thái tử Thái bảo (trên nhất phẩm, đầu triều). Mỗi người chơi nhận quân của mình rồi gieo xúc sắc (xí ngầu) mà đi. Chung quanh ô của mỗi cấp bậc đều có các ô mà sa vào đấy sẽ được thăng, hay bị giáng, phạt thế nào. Ai đạt đến Thái tử Thái bảo trước hết cả là thắng. Bản bố tôi giữ được không phải thuộc hệ thống triều Lê, mà từ thời Tự Đức. Cờ Thăng Quan hồi đó đã được dịch ra chữ Quốc ngữ, và trong Sài Gòn hồi ấy có thể mua ở các tiệm tạp hóa của người Bắc ở chợ Ông Tạ. Hình như bàn cờ Thăng Quan bố tôi có hồi ấy chỉ có văn ban chứ không có võ ban. Năm 1992 tôi có mua được một bản Thăng quan đồ in trên giấy từ một cửa hàng tạp hóa ở Cửu Long, Hong Kong. Nhưng bản đó lại theo quan chế Minh triều, Trung Quốc, và cũng chỉ có văn ban.

    image080.jpg

    Rồi cỗ bàn lúc nào cũng sẵn sàng, một phần nhờ ơn cái tủ lạnh. Ngoài những món truyền thống cố hữu của ngày Tết như bóng, chân giò ninh măng, thang cuốn, giò chả, bánh chưng, hành kiệu, thịt thà…, vì tổ tiên họ Trịnh chúng tôi ngày xưa xuất phát từ Thanh Hóa nên mẹ tôi còn được các cụ truyền cho vài món cỗ Tết đặc biệt của vương thất xứ Thanh xưa, như sơn hào hải vị thang, nộm sứa khô bát vị, v.v. Đây là những món dùng nguyên liệu khô có thể nấu được trong những ngày Tết không có họp chợ. Nguyên liệu nấu những món này như gân nai, hải sâm trắng, giò lụa lợn rừng, sứa khô, vẫn còn mua được ở Sài Gòn thủa ấy. Những món đơn giản hơn là nem ngang, giò lòng.

    image081.jpg

    image054.jpg


    Nem ngang hơi giống như nem Phùng hay nem bì của các vùng Hà Tây, Nam Định, Ninh Bình. Thịt lợn thật tươi cắt miếng vừa phải, luộc hơi tái bên ngoài, nêm với ít nước mắm, thấm thật khô, thái nhỏ, rồi băm dập đi bằng sống dao. Bì lợn thái sợi với lượng nhiều nhất là bằng lượng thịt. Mỡ giắt luộc thái nhỏ hạt lựu. Thính giã thô. Tất cả trộn đều rồi nắm thật chặt lại bằng nắm tay. Nem ngang bao lót bằng lá ổi chứ không dùng đinh lăng như ở vài nơi khác. Sau đó gói bằng lá chuối đã rửa thật sạch, lau và phơi khô thật kỹ rồi buộc lại. Khác với nem bì nấu chín ăn ngay của Nam Định, nem ngang Thanh Hóa phải đợi ít nhất ba ngày cho chín, nghĩa là hơi chua, mới dùng. Ngon nhất là cuốn bánh tráng với rau diếp, húng, thơm, mùi (ngò) cho thật chặt, rồi thái khúc. Khi ăn chấm nước mắm ngon pha tỏi ớt.
    Làm giò lòng thì lòng lợn, khấu đuôi, bao tử cắt mở dọc ra thành lá cắt khúc, và bì heo đã bỏ sạch mỡ thái nhỏ, với chút nước mắm, hạt tiêu, rồi để ráo. Nấu bì heo cho đến khi thành hồ, giống như làm thịt đông. Trộn lòng, bao tử đã sửa soạn sẵn như trên và ít hạt tiêu vào nấu nhừ. Rồi để ráo, cho vào hồ bì trộn kỹ và gói lá chuối cho thật chặt. Sau đó luộc chín trở lại. Một phiên bản khác là trộn các thứ lòng, bao tử đã sửa soạn như trên đã hầm kỹ, để ráo và ít hạt tiêu vào nửa phân lượng giò sống đã nêm. Gói thật chặt, buộc kỹ rồi luộc chín như luộc giò bình thường. Thử tưởng tượng ngày xưa khi chưa có tủ lạnh, nếu không có không khí lạnh giá của miền Bắc thì loại giò này có thể giữ được bao lâu. Và hồi ấy người ta vẫn còn dùng hàn the mà chưa biết sợ.
    Chiều mồng Một bố mẹ tôi bắt đầu cùng nhau đi chúc Tết họ hàng, bè bạn. Chúng tôi ở nhà tiếp khách để nhận lì xì. Bắt đầu từ chiều hôm nay cho đến chiều ngày mồng Ba Tết, đường phố bắt đầu có nhiều người hơn. Các nhóm Sơn Đông mãi võ lưu động, phần nhiều là người Hoa, đi múa lân và biểu diễn võ thuật kiếm tiền thưởng khắp thành phố. Chiêng trống inh ỏi. Người Sài Gòn múa lân (không phải sư tử) vào dịp Tết Nguyên Đán chứ không phải Trung Thu như ở Huế và ngoài Bắc. Tối ba ngày Tết nhiều đình, đền ở Sài Gòn và các vùng phụ cận có tổ chức hát bội. Vẫn ăn uống, bài bạc, nhưng bắt đầu từ tối mồng Một Tết, không khí thiêng liêng của ngày Tết đã bắt đầu nhạt.

    image055.jpg

    image082.jpg



    Từ mồng Hai Tết:

    Sang đến ngày mồng Hai Tết thì câu “ngày vui qua mau” đã bắt đầu được cảm thấy. Vẫn có khách đến chúc Tết, ăn uống, bài bạc, nhưng sự háo hức không còn nữa.
    Mồng Ba Tết bắt đầu phải ăn bánh chưng rán. Khách chờ đến ngày hôm nay mới đến chúc Tết có vẻ hơi thẹn, gượng gạo. Chủ nhà vẫn niềm nở nhưng quần áo, thái độ không còn được chăm chút như hai ngày đầu. Bọn trẻ thì tên nào mặt mũi cũng buồn rười rượi. Đến sau khi mẹ tôi hóa vàng tối mồng Ba thì tiếng Tết gần như bị tránh nhắc đến, mặc dù các hội hè nhiều nơi vẫn được tổ chức cho đến Rằm tháng Giêng. Để ý kỹ thì dường như thường thường tối hôm mồng Ba bố mẹ tôi không giấu được nét mệt mỏi và tiếng thở dài nhẹ nhõm, có lẽ vì đã thoát được ba ngày giữ gìn, kiêng cữ và đóng bộ hết mức. Chưa kể đến sự tiêu pha đến xót ruột và công sức bỏ ra trong cả tháng trời trước đó.

    Trịnh Bách
    (Sưu tầm: Nguyễn Hữu Khoáng)

Me Mỹ
  • Bất cứ người con gái nào lớn lên, đến tuổi trưởng thành cũng đều mơ ước một ngày bước lên xe hoa để làm vợ.

    Có những người đầy đủ phước đức, sanh ra, lớn lên, lấy chồng, làm vợ, làm mẹ, làm bà, sống trong danh dự, chết trong thương yêu. Có những người thiếu kém nghiệp lành, sanh ra, lớn lên, lấy chồng, làm vợ, làm mẹ, làm bà, sống trong đau khổ, chết trong cô đơn.

    Dù kém nghiệp lành hay đầy đủ phước đức thì những người đàn bà nầy đã hạnh phúc với hay khổ đau do một ông chồng Việt Nam nên được xã hội ViệtNam trân trọng tặng cho cái danh dự “bà vợ”.

    Tôi đã lấy chồng, làm vợ, làm mẹ, làm bà nhưng tôi đã hạnh phúc hay đau khổ với một ông chồng người Mỹ nên được xã hội Việt Nam khinh khi ban cho danh từ “Me Mỹ”!

    Ở cùng một hoàn cảnh, ăn mặc cùng một kiểu, nói bá láp cùng một câu, phạm cùng một lầm lỗi nhưng “bà vợ” thì được cảm thông và tha thứ vì bà tuy nói ác mà tốt bụng, tuy ăn mặc hở hang mà tánh rất đàng hoàng, tuy có ra ngoài vòng lễ giáo một chút nhưng hoàn cảnh thật đáng thương v.v.., còn “me Mỹ” thì sẽ nhận được một bản án nặng nề, không hồi tố, không biện minh, không chống đỡ.

    Một người khách đến văn phòng tôi làm giấy tờ bảo lãnh thân nhân. Trong khi tôi điền đơn ông vui miệng hỏi chớ cô ở Mỹ bao lâu rồi mà giỏi vậy và có đứa con nào chưa? Tôi trả lời cháu ở Mỹ đã 19 năm (thời điểm 1994) và có được 5 con. Chồng cháu người Mỹ. Ông khách nhìn tôi kinh ngạc và hạ một câu: “Cô Lấy Mỹ mà cũng đẻ dữ vậy hả!”

    Âm thanh khinh bạc trong câu Lấy Mỹ của người khách đáng tuổi cha chú làm tôi hơi khựng lại và trong một phút vô minh trong óc tôi cố nghĩ ra một câu gì tương xứng với hoàn cảnh của ông để nói lại cho trái tim mình đỡ rướm máu, nhưng đức Phật Quan Âm đã mau hơn cái phút vô minh đó nên tôi chỉ từ tốn trả lời:

    “Dạ vợ chồng cháu định có 7 đứa nhưng ở đây nuôi con cực quá nên dừng lại ở 5 đứa.” Chắc ông khách cảm nhận được sự lỡ lời của mình và thái độ từ hòa của tôi nên có vẻ bẽn lẽn. Ngày hôm đó tôi được mặc cái áo Lấy Mỹ mà đẻ nhiều con!

    Lại có một cô đáng tuổi em út nhờ tôi kêu điện thoại lên tòa án dàn xếp một vụ hiểu lầm rắc rối do cô gây ra. Mọi việc ổn thỏa rồi cô cám ơn tôi và nhận xét: “Chị lấy Mỹ mà cũng biết làm nghề nầy nữa há?” Có nghiã là nghề văn phòng phải do mấy bà vợ đảm nhận mới phải. Mấy bà nầy ngày xưa bên Việt Nam là người có học, nay tiếp tục văn phòng là lý đương nhiên. Còn chị lấy Mỹ sao lại ngồi đây? Sao dám chen chân trong vòng danh lợi nầy? Sao lại ăn nói nhẹ nhàng giúp đỡ đồng hương? Đáng lẽ chị phải tiếp tục bán bar, bồi phòng hay cái gì hạ tiện một chút, ăn nói có một chút chửi thề, thái độ có một chút sắc sảo thì mới hợp lý chớ. Tôi nhìn người đồng hương hiền lành ít học và nhẹ nhàng nói: “Nghề nào cũng vậy thôi em à. Nghề nào làm ra tiền để nuôi con thì bà mẹ nào cũng làm hết, bất kể sang hèn.” Ngày hôm đó tôi được mặc chiếc áo Lấy Mỹ mà biết làm nghề văn phòng!

    Một hôm có một ông lạ hoắc ở tận Canada, do một người mách bảo, tới văn phòng tôi để xin băng giảng kinh Phật. Lúc đó chưa có CD, băng kinh còn rất hiếm. Sau khi chuyện vãn tôi tặng ông băng của thầy Thanh Từ, thầy Nhất Hạnh, thầy Thiện Huệ, sư cô Như Thủy v..v.., ông vui mừng cám ơn rối rít: “Không ngờ cô lấy Mỹ mà cũng biết tu hành dữ vậy!”

    Tôi mỉm cười chọc ông: “Vậy là ông nói tôi đi sai đường phải không? Đáng lẽ tôi đi theo quỷ Sa Tăng mới đúng. Đáng lẽ tôi phải vào trà đình, tửu quán, tay cầm ly rượu, tay cầm điếu thuốc thì mới đúng điệu me Mỹ chớ me Mỹ gì mà sờ mó kinh sách, thật là ốt dột ông há”. Ông khách biết mình nói quá lố vội xin lỗi, tôi lại mỉm cười. Vậy là tôi lại được mặc thêm một chiếc áo Lấy Mỹ mà cũng biết tu hành!

    Bạn tôi, sau khi cằn nhằn, phê phán, chê trách con dâu và bà suôi gia đủ điều liền hạ một câu kết luận: “Thằng con tôi là thằng chúa ngục. Không biết sao mà nó mê con quỉ nầy dữ vậy? Má nó là cái thứ lấy Mỹ thì làm sao biết dạy con?!” Thêm một chiếc áo nữa Lấy Mỹ không biết dạy con!

    Tôi thường hay thắc mắc tự hỏi không biết mình làm vợ Mỹ thì có khác biệt gì với mấy người làm vợ Việt Nam? Và người chồng Mỹ của mình có khác biệt gì với người chồng Việt Nam?

    Khi vui tôi cười, khi buồn tôi khóc. Khi nấu ăn bị đứt tay, máu cũng đỏ thắm. Khi nhìn đồng bào lầm than trong đói nghèo, lụt lội thì ruột tôi cũng mềm. Khi chồng thất nghiệp hay gặp cảnh gian nan thì tôi cũng đỡ nâng, an ủi. Khi chồng vụng dại, lỡ lầm thì tôi cũng gây gổ, giận hờn.

    Khi chồng tôi cầm bảng học bạ đầy chữ A của các con thì mặt mày cũng tươi vui hớn hở. Khi bị trường kêu lên mắng vốn thì cũng buồn bã lo âu. Khi con nhỏ ốm đau thì cũng thức trắng đêm lo thang thuốc. Khi con nên vợ nên chồng thì cũng hãnh diện, mừng vui. Buổi sáng hôn nhau từ giã hăng hái đi làm nuôi con. Buổi tối hôn nhau cám ơn một ngày bình an, hạnh phúc.

    Chúng tôi cũng có những luật lệ riêng của gia đình. Khi các con còn nhỏ ngồi ăn cơm chung với cha mẹ, ăn xong trước rồi muốn ra khỏi bàn ăn phải xin phép. Khi cha nói NO rồi thì không được nhõng nhẽo qua hỏi mẹ. Khi cha mẹ đang coi TV thì không được tự động đổi đài khác.

    Chồng tôi người Mỹ mà lại tin vào chánh sách ‘thương con cho roi cho vọt’ của VN, nhưng ảnh không đánh con trong sự giận dữ. Ảnh bắt chúng nằm sấp xuống ghế, nói cho chúng biết chúng đã phạm lỗi gì và hình phạt ra sao (một roi chổi lông gà hay không có TV một tuần hay 8 giờ tối phải vô phòng không được hội họp với gia đình v..v..).

    Tôi không bao giờ xen vào binh vực cãi cọ lúc ảnh răn dạy các con dù đôi khi cây roi hạ xuống một tiếng chát, thằng nhỏ rú lên, lòng mẹ nghẹn ngào. Sau mỗi hình phạt, tôi dẫn các con đi rửa mặt, cho chúng ly cà rem, cái bánh ngọt rồi dẫn chúng vào phòng xin lỗi cha.

    Các con ơi, dù cha không phải lúc nào cũng đúng khi răn dạy các con, nhưng hãy nhìn mỗi buổi sáng, dù nắng dù mưa, dù mạnh giỏi dù khó chịu, cha chúng con vẫn ra xe đi làm. Cái lap top, cái cell phone, cái phòng ngủ, cuốn sách, áo quần, sách vở, máy sưởi, nước nóng, sự hiểu biết, sự tiện nghi, sự trưởng thành… trăm ngàn thứ trong cuộc đời con đang hưởng thụ đều đổ lên hai vai của người cha đó thì đôi khi một vài hiểu lầm có đáng là bao.

    Vợ chồng tôi không hoàn toàn nhưng đã cố gắng dạy con the best we know. Tôi được người đời tặng cho nhiều chiếc áo khác nhau nhưng ít có chiếc nào nhuộm lòng Từ Bi và Hiểu Biết. Tôi lẳng lặng nhận những chiếc áo khắc nghiệt đó, không oán trách cũng chẳng hạ mình. Tôi không có gì phải cúi mặt khi nói cho người đối diện biết chồng tôi người Mỹ. Trái lại những lời khinh bạc, những dè bỉu trước mặt hay sau lưng đó đã giúp tôi tăng thêm phần nhẫn nhịn, thứ tha và thông cảm hơn đối với những chúng sanh bạc phước khác. Và tôi tin rằng vì thế tôi hoá giải được một phần những oan khiên, nghiệp chướng của kiếp nầy cũng như của những kiếp trước.

    Quả nhiên phiền não là bồ đề và cuộc đời thì không có gì là tuyệt đối hết. Cũng có người thương tôi. Tôi xin gởi lời cám ơn với tất cả trái tim chân thành đến các đồng hương tại Long Beach đã từng dùng qua các dịch vụ của văn phòng tôi và đã thương mến tôi như một con người, đã đối xử với tôi như một “bà vợ”.

    Tôi đóng cửa văn phòng lái xe thẳng ra nghĩa trang thăm mộ con. Chúng tôi mất một đứa con trai trong một tai nạn xe hơi lúc cháu vừa 16 tuổi. Từ xa tôi thấy một người ngồi bên cạnh mộ, hai đầu gối cong lên, hai tay ôm lấy đầu gục xuống chân. Tôi lại gần. Té ra là Ron, chồng tôi. Tôi quì xuống trước mặt anh, hai tay nâng đầu anh lên, để trán tôi cụng vào trán anh. Anh nhìn tôi thì thầm: “Honey, help me, please help me. I can not go through our son’s loss without your love and your support.” (em ơi, giúp anh, em hãy giúp anh. Anh không thể nào vượt qua cơn đau khổ mất con nầy mà không có tình yêu và sự chia sẻ của em).

    Tôi ngồi xuống bên anh, bên cạnh mộ đứa con yêu dấu. Tôi để đầu anh dựa vào má tôi và dịu dàng nói: “Em yêu anh. Chúng ta sẽ cùng nhau vượt qua nỗi đau khổ nầy!”

    Một giọt nước mắt của anh thấm vào miệng tôi.

    Giọt nước mắt của người chồng Mỹ với người vợ Việt, của người cha Mỹ khóc thương cho đứa con trai vắn số cũng mặn như giọt nước mắt của bất cứ người chồng, người cha nào khác.

    Có khác gì đâu. Vô thường!

    Lệ Hoa



  • Kỷ niệm một thời


    • Image en ligne

      Image en ligne

      Image en ligne


      Khi đến đất Mỹ nửa tháng sau tôi mới quen. Lang thang đi bộ một mình trên đường phố Thành phố Oakland, trên một con đường ít người qua lại, xe cộ ở đây chạy rất êm ả, rất trật tự luật lệ nghiêm minh so với Việt Nam ngày nay xô bồ bất chấp luật giao thông như thế nào cả. Nếu có vi phạm thì xài luật "rừng" với nhau. Hoặc có bọn công an thì luật "Đầu tiên" là xong ngay.
      Bất chợt, tôi qua khỏi một ngã tư đèn xanh đèn đỏ, gặp một quán trà. Nhìn lên tôi thấy mấy chữ Quán trà "Bốn Phương". Thấy cũng lạ! Đất Mỹ mà cũng có quán trà để uống "mạn đàm" hay "trà đàm", không chừng lại là "Trà Đạo" nữa chăng?
      Nhìn vào trong quán, lúc đó buổi sáng cuối mùa Thu, trời nắng nhưng se lạnh. Tôi bước vào, một vài người nhìn tôi, có vẻ xa lạ! Chắc ở nơi tôi có cái gì biểu hiện của sự mới mẻ cho họ biết rằng tôi là dân "quê nhà" mới đến nước Mỹ chăng?! 
      Một người tuổi chừng trên 50 hỏi tôi:
      - Xin lỗi! Anh ở Việt Nam mới sang phải không? 
      Tôi gật đầu. Thế rồi, một vài anh nữa cũng đều hỏi tôi chuyện V.N và họ rất vui khi biết tôi qua với diện H.O. Họ cũng chỉ cho tôi những kinh nghiệm sống ở đất Mỹ. Sau khi nói chuyện một hồi, tôi tình cờ lấy một tờ báo đọc, đó là tờ nhật báo có tên: "PS Việt Nam". Nhìn cho kỹ mới rõ là "Phụng Sự Việt Nam". Tiếng nói của người Quốc gia hải ngoại.
      Thế rồi tôi ngồi uống trà và đọc báo. Qua những tin tức, rồi những bài viết về thời sự v.v... Bất chợt tôi đọc đến truyện "Đoàn quân mũ đỏ" Tác giả: Hoàng Ngọc Liên. Bài khởi đăng từ 2 tháng 8 năm 2000. Cũng là ngày tôi "chân ướt, chân ráo" vừa đến Mỹ đúng 1 tháng. Đọc 1 hồi, tôi trả tiền cà phê không quên ghi số điện thoi của tòa soạn báo. Đến chỗ điện thoại công cộng nhưng loay hoay mãi tôi vẫn không thể nào gọi được cho tòa soạn tờ báo để hỏi thăm tin tức tác giả Hoàng Ngọc Liên.
      ------
      Vào ngày... tháng 5 Năm 1968. Tôi đang trên đường rừng, mang theo một tiểu đội Trinh sát, vượt rừng từ đường mòn "Hồ chí Minh", về đến 1 căn cứ quân sự Mỹ có tên là "Nancy" cách Mỹ Chánh chừng hơn 15 km. Đến đó, chúng tôi gặp 1 đơn vị Thiết giáp, Chi Đoàn 20, do Trung úy Th. làm Chi đoàn trưởng (cùng khóa với tôi). Chúng tôi dừng quân và xin tá túc qua đêm... Gặp nhau, hai đứa vui mừng và cũng không quên kể cho nhau nghe về chiến sự và trách nhiệm mình đang thi hành bên lề cuộc chiến. Sau khi cơm nước xong, Th. sắp xếp cho chúng tôi nghỉ ở một căn hầm khá kiên cố trong công sự phòng ngự của đơn vị Th... Lúc đó, vào khoảng 7g 30 tối, hỏa châu đã bắt đầu bắn lên không gian, thỉnh thoảng một vài tiếng súng bắn lẻ tẻ ngoài xa. Rồi, tiếng pháo lớn của các đơn vị pháo binh vọng lại làm tăng thêm phần không khí căng thẳng của chiến cuộc đang diễn tiến. Vì băng rừng lội suối suốt ngày nên "con cái" chúng tôi lăn đùng ra ngủ cho lại sức, chỉ có phiên gác "nội bộ" mà thôi. Tôi vẫn còn thao thức... Trước khi ra khỏi hầm, Th. đưa cho tôi cái Radio mà Th. hay mang theo trên xe để vừa nghe nhạc em gái "Dạ Lan" và tin tức hằng ngày! Tôi nghĩ thế. Tôi vừa nằm, vừa mở máy nho nhỏ vừa đủ nghe. Tiếng nói của đài phát thanh quân đội Việt Nam Cộng Hòa phát thanh từ Sài Gòn, tôi lặng yên nghe. Bỗng một giọng đọc thật rõ ràng, trịnh trọng và cũng rất buồn xướng lên:
      - ..Cố Trung sĩ nhất Hoàng L. số quân 60/101237, thuộc đại đội Tổng hành Dinh Bộ Tư lệnh Sư Đoàn nhảy dù, đã bị tử thương ngày 6 tháng 5 năm 1968. Đã anh dũng đền nợ nước trong cuộc hành quân tiến chiếm "Ngã Tư Bảy Hiền", thuộc Quận Tân Bình, Gia Định, Vùng 3 Chiến thuật.
      Tôi giật mình, đầu óc quay cuồng. Một vùng ánh sáng tỏa xuống chụp vào toàn thân tôi, mà tôi tưởng rằng như pháo địch đã rơi đúng trên đầu mình. Người anh của tôi đã hy sinh đền nợ nước! Những kỷ niệm thời thơ ấu của hai anh em chúng tôi bắt đầu tuần tự hiện ra trong trí tôi. Gia đình cha mẹ tôi chỉ có 2 anh em tôi mà thôi. Đất nước chiến tranh, quân cộng sản ào ạt xâm chiếm miền Nam. Thời còn đi học, tôi thường đọc sách và đã nhận ra rằng cộng sản Quốc Tế nói chung, cộng sản Việt Nam miền Bắc nói riêng, là điều hiểm họa tất yếu sau này. Thế rồi anh em đều tình nguyện vào lính. Anh tôi nhập ngũ sớm hơn tôi vài năm. Đơn vị Sư Đoàn nhảy dù. Anh đã phục vụ qua các tiểu đoàn 1, 3, 5. Cuối cùng thì được thuyên chuyển về Đi Đội Tổng hành dinh, biệt phái cho phòng Tâm Lý chiến của Sư Đoàn. Tôi không biết giờ này mẹ tôi đã biết anh tôi bị tử trận hay chưa? Tôi lo sợ mẹ tôi hay tin sẽ ngất xỉu và bệnh cũ sẽ tái phát. Các con đi lính, mẹ buồn mẹ khóc nhưng mẹ cũng rất vui khi các con về phép, mang trên vai dây chiến thắng màu vàng chen màu đỏ oai hùng, đội chiếc nón "bê rê" màu đỏ, màu xanh. Mẹ tôi thường nói:
      - Tụi bây đi lính chi mà thằng lớn thì mũ đỏ, thằng nhỏ thì mũ xanh, hi? Tao thấy lính ở đây có đứa nào như tụi bây mô? 
      Mỗi lúc như thế, tụi tôi cười và trả lời:
      - Thì lính dù, tụi con có khác mà má.
      - Lính dù, nhảy từ trên trời xuống mà tụi bây không sợ hứ?
      - Dạ, từ trên trời cao nhảy xuống, chúng con đã không sợ mà còn thích thú nữa má à.
      Bây giờ anh tôi đã nằm xuống, không còn nữa những ngày tháng hai anh em mặc quân phục dù chở nhau chạy trên xe Dame đỏ chạy khắp thành phố Sài gòn trong những ngày tôi nghỉ phép về Sài gòn chơi.

      ***
      Về đến Đà Nẵng trong ngày, tôi trình diện với Đại Bàng, trình bày sự việc và xin Đi Bàng 5 ngày phép vào SG để dự đám tang của anh tôi. Chưa nhận kịp giấy phép thì tôi lại có lệnh khẩn cấp nhảy xuống vùng Ba Tơ, Trà Bồng, để thi hành một nhiệm vụ mà không thể trì hoãn được. Sau mấy tiếng đồng hồ chuẩn bị, tôi và anh em đồng đội lại vào phi trường Đà Nng lên trực thăng thi hành nhiệm vụ. Mãi cho đến cuối năm, lu bu với công việc, tôi cũng chưa có dịp thuận tiện để vào SG tiễn đưa linh hồn anh tôi về nơi an nghỉ cuối cùng.
      Chị dâu tôi thì đã về quê. Chị tôi tay bế tay bồng, còn mang thêm cái bầu chưa sinh. Tôi về phép được 2 hôm thì gặp chị tôi về. Gặp tôi, chị tôi khóc nức nở, hai đứa nhỏ cháu tôi nhìn tôi ngơ ngác. Hai mái đầu xanh đã sớm chít khăn tang, chắc chúng nó buồn nhưng chưa hiểu thấu đáo về chuyện cha chúng nó đã đền xong nợ nước. Ôi! mà còn thêm một đứa sắp sửa chào đời nhưng vĩnh viễn không thấy được mặt cha mình.
      Mẹ tôi lại khóc, mẹ tôi hay khóc hoài, mỗi lần chúng tôi về phép rồi lại đi, mẹ tôi cũng lại khóc nên anh em tôi ít khi về, sợ rằng mẹ khóc hoài có phương hại đến đôi mắt. Chị dâu tôi trách tôi: 
      - Tại sao anh chú mất mà chú không vào để dự l tang?Tôi chỉ im lặng không trả lời. Vì có giải thích thì chị tôi cũng không thể hiểu hết được. Thế rồi chị lại bảo:
      - Anh chú mất có ông Thiếu Tá Hoàng Ngọc Liên và Ông Thiếu Tá Hoàng Thọ trưởng phòng giúp đỡ, lo liệu thật chu đáo. Đọc bản tuyên dương trên đài phát thanh quân đội. Mọi người trong đơn vị (BTLSĐD) lo hết, lúc đó chị bối rối có biết gì đâu. Anh chú được an táng trong nghĩa trang quân đội ở Biên Hòa.
      Rồi mẹ tôi, chị tôi bắt đầu kể chuyện về anh tôi với các cấp chỉ huy trong đơn v cho tôi nghe. Chị tôi cứ bảo rằng:
      - Chú phải vào SG gặp ông Thiếu Tá Hoàng Ngọc Liên và Thiếu tá Hoàng Thọ để cám ơn các ông giùm cho anh chú. Ôi! đặc biệt lắm. Anh chú cũng thỏa mãn. Đơn vị lo liệu tang lễ đầy đủ, ai cũng bùi ngùi thương tiếc tính trung thực, thật thà của anh. 
      Tôi bảo:
      - Thì tình huynh đệ chi binh "Hai ông Thiếu tá đó đều lo cho bất cứ ai trong đơn vị, nếu có xẩy ra tình trạng như thế chứ đâu một mình anh L. đâu. 
      Chị tôi cãi lại:
      Không phải. Anh chú được mấy ông thương nhiều lm!
      Thế rồi, chị cứ nhắc mãi chuyện tôi phải đi SG để gặp hai ông Thiếu Tá. Đôi lúc tôi cũng khôi hài với chị: 
      - Thì, hai ông đó cũng họ Hoàng cả nên thương anh L. là phải rồi. 
      Chị tôi lại giận bảo:
      - Chú lại nói bậy. Mấy ông đó người Bắc, người Nam. Anh chú người Trung làm sao họ hàng được.
      Ồ! Chị không hiểu. Con nhà lính là "Huynh đệ chi binh" anh em hết. Thế rồi, đến tháng 10 năm 1970, tôi có dịp đi công tác Sài Gòn. Trước khi đi tôi về thăm gia đình. Gặp chị tôi, chị lại nhắc chuyện tìm gặp hai ông Thiếu Tá nhảy dù để thay mặt chị cám ơn. Tôi bảo với chị tôi, biết vậy hồi đó em đăng báo cảm tạ cho chị yên lòng. Chị tôi nói:
      - Biết mấy ông có chịu đọc báo để biết không? Ở Sài Gòn chị thấy cả hằng trăm thứ báo.
      Tôi đến Sài Gòn vào buổi sáng trong một chuyến phi cơ boeing Air Viet Nam bay từ Đà Nẵng vào. Xuống phi trường, tôi gọi điện thoại cho Thành, người bạn sẽ cùng tôi đi chuyến công tác trong những ngày tới ra đón tôi. Đợi chừng hơn 30 phút Thành đã đến. Về trại K, tôi gởi hành lý rồi cùng Thành đi ăn cơm trưa. Lúc đó cũng vào khoảng 11 giờ trưa, trời SG nắng hanh nhưng cũng dễ chịu. Trở lại trại, sẵn có điện thoại. Tôi hỏi trung sĩ A. ở phòng trực số điện thoại của phòng TLC/SĐND. Trung Sĩ A cho biết là: 30.344. Sau 3 lần quay số, điện thoại bên kia vẫn bận đường dây. Tôi đợi thêm 10 phút nữa quay thêm lần nữa, nhưng không được. Tôi cũng không hiểu tại sao! Thế rồi Thành gọi tôi ra xe để qua trại M.K. chuẩn bị những thứ cần thiết cho ngày mai lên đường thi hành nhiệm vụ. Chuyện đến gặp 2 ông thiếu tá dù coi như hoãn lại dịp khác. Từ đó, đời binh nghiệp, quá khứ và chuyện anh tôi cũng qua đi với thời gian. Cuộc chiến đấu chống Cộng vẫn không ngừng.
      29 tháng 3 năm 1975, Đà Nẵng thất thủ - mất - Rồi 30 tháng 4 1975. Sài gòn cùng chung số phận. QLVNCH, mỗi người mỗi ngả. Kẻ đã di tãn ra ngoại quốc trước, người còn ở lại, lần lượt bị cộng sản gom vào các trại tập trung với nhiều hình thức khác nhau. Cái gọi là "Cải tạo" để hành xác và tinh thần. Tôi cũng như các chiến hữu khác, cùng chung số phận.
      Năm 1982, tôi được thả về quê, gặp lại vợ con và gia đình. Điều đầu tiên tôi suy nghĩ là phải bỏ đi vào miền Nam xa lạ. Không thể ở quê nhà, không thể yên ổn bản thân được. Sau khi trình diện bọn công an xã và huyện, 3 tháng sau, tôi một mình đi vào miền Nam - vùng kinh tế mới - ẩn thân lập nghiệp, vợ con tôi lần lượt vào sau. Rồi chuyện H.O đến, các bạn bè tôi lần lượt ra đi qua Mỹ. Tôi cũng sớm biết chuyện này, tuy nhiên hậu quả địa phương cả hai nơi đã tạo ra khó khăn không ít cho tôi. Cuối cùng tôi cũng hoàn tất được điều tôi muốn. Trước khi đi Mỹ, tôi trở về quê để thăm mẹ tôi và chị tôi. Ba tôi bị mất trong tù với chức Thôn trưởng và nguyên chủ tịch Phong trào Cách Mạng Quốc Gia thời kỳ Đệ nhất Cộng Hòa. (Vì tuổi già không chịu nổi kham khổ).
      Sau bao năm lăn lộn với cuộc sống chật vật, con cái đứa còn, đứa mất. Cuối cùng vẫn là hai bàn tay trắng. Tôi nghĩ đến Mỹ, đất lạ quê người, nhưng chắc chắn mình được hưởng sự Tự Do, công bằng, không như xứ sở quê hương mình bây giờ quân CS đã không còn nhân tính, tất cả đều bị chà đạp. Người dân hoàn toàn bị nô lệ, bị lợi dụng trăm bề để tụi CS đục khoét tận xương tủy.
      Về đến quê, vợ con tôi và tôi vui vẻ được các bà con nội ngoại, bạn bè thân tình đến thăm hỏi và chúc lành. Vì điều kiện kinh tế, gia đình tôi chỉ ở lại quê nhà 1 tuần lễ, rồi phải quay về vùng kinh tế mới thường trú để chuẩn bị cho chuyến ra đi. Chị dâu tôi nay đã già và bệnh hoạn. Các cháu tôi cũng đã lớn. 3 đứa cũng sắp sửa lập gia đình. Thằng con trai giống anh tôi như đúc. Tôi thương các cháu và khuyên tụi nó ở nhà cố gắng làm việc lo cho mẹ già.
      Bất chợt, ngày gần vào Sài Gòn, chị tôi gọi lại, chị tôi nay bị liệt không đi được và bảo:
      - Chú sang Mỹ, nhớ tìm gặp hai ông Thiếu Tá dù nghe. Chắc chắn mấy ông đó đã sang bên đó rồi.
      - Chuyện hơn mấy chục năm trước rồi mà bây giờ chị vẫn còn nhớ và nhắc lại. 
      Chị tôi trả lời:
      - Sao lại không nhớ! Tôi nhớ suốt đời.
      Tôi tự nghĩ "chim trời cá nước", chị tôi không hiểu. Đất Mỹ, chứ đâu phải như ở "Sông Hương, Núi Ngự" hay 12 quận nội ngoại thành Sài Gòn đâu mà đi tìm? Mà cho dù Sài Gòn hay Huế, không có địa chỉ thì cũng đành chịu thua. Cuộc đời quân ngũ trong lính tình nghĩa "Huynh đệ chi binh" thật thắm thiết. Khi đoàn quân ra đi, đến lúc trở về, thiếu vắng một ai, thì nổi buồn rõ ràng hiện lên trên những khuôn mặt đồng đội, tăng lên sự căm thù giặc Cộng. Tập đoàn CS hiếu chiến miền Bắc đã nghe theo lệnh quan thầy Nga Sô và Trung Cộng đã gây ra biết bao tương tàn chết chóc kéo dài triền miên cho đến ngày hôm nay vẫn chưa chấm dứt.
      Nhìn lại hơn 30 năm. Khi CS tiến chiếm miền Nam, mọi con người phải sống trong ngục tù cay đắng, cái nhà tù vĩ đại nhốt hơn 90 triệu con dân, dân tộc Việt Nam !!!
      Bây giờ tôi mới thấy thấm thía hơn khi đọc lại tập "Chín tầng địa ngục" Hay "Quần Đảo ngục tù" của một nhà văn người Nga.
      Tôi chưa đọc hết tập truyện "Đoàn quân mũ đỏ" của nhà văn Hoàng Ngọc Liên. Nhưng, đọc một phần nào đó, tôi cm nhận được những hào hùng của đoàn quân Sư đoàn dù năm nào đã chiến đấu anh dũng trong lòng đất mẹ và nhiều chiến sĩ đã anh dũng hy sinh trên mọi đường đất nước quê hương dấu yêu.
      Cũng nhân tiện đây, tôi xin viết vài dòng tâm sự xin trân trọng cảm tạ hai anh Thiếu Tá Hoàng Ngọc Liên và Hoàng Thọ (mà tôi chưa bao giờ gặp). Lời cảm tạ chân thành trong tình nghĩa của một thời chiến đấu bảo vệ HÒA BÌNH và TỰ DO cho quê hương.
      Lê Hoàng

Nụ CƯỜI XUÂN
5682 1a NuCuoiXuanDMLinh5682 NuCuoiXuanDMyLinh
( Để biết ơn Thương Binh Việt Nam Cộng Hòa)
Điệp Mỹ Linh
         Đang đọc bản tin trên Yahoo News về việc Hoa Kỳ gửi quân tăng cường cho chiến trường Trung Đông, đến đoạn: “... At Fort Bragg, some 3,500 soldiers in the Army’s 82nd Airborne Division were ordered to the Middle East in one of the largest rapid deployments in decades...” bà Phượng thở dài, nhìn chăm chăm vào tấm ảnh của đoàn quân đang di chuyển đến phi cơ quân sự để bị đưa sang Trung Đông.
        Hình ảnh quân nhân Hoa Kỳ sắp bị đưa vào vùng lửa đạn gợi lại trong lòng bà Phượng hình dáng thân thương của từng đoàn quân thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QL/VNCH) cùng thế hệ với Bà.
        Ngày xưa, khi nào thấy đoàn quân VNCH đi hành quân, Phượng cũng nhìn lên trời cao như muốn tìm hình ảnh những chiếc dù lộng gió, thường lửng lơ trong không gian rền vang tiếng súng và tràn ngập xác người. Cùng lúc đó, từ tâm thức u hoài, tiếng hát trầm ấm của Trọng – trung úy Nhảy Dù, anh của Uyên, bạn cùng lớp với Phượng – âm thầm ngân lên trong lòng nàng:
“... Chiều Xuân có một người ngơ ngác đi tìm
Một tình thương nơi phương trời cũ... (1)
       Trong nỗi nhớ khôn cùng, bà Phượng tưởng như thấy lại được nhân dáng dong dỏng cao của Trọng trong bộ quân phục Nhảy Dù, giày trận, bê–rê đỏ đội hơi nghiêng. Khi nào “hai đứa” đi bên nhau, Trọng cũng vừa cười vừa gật đầu nhè nhẹ vừa hát nho nhỏ: “Ta chiến binh Sư Đoàn Nhảy Dù...” (2) Khi nào thấy Trọng vừa “làm điệu” vừa hát câu này Phượng cũng cười và cảm thấy hạnh phúc ngập lòng.
       Chiều Hè năm 1972, trong bữa tiệc do Trọng và Uyên đãi nhóm bạn hữu trước khi Trọng theo đơn vị ra vùng I Chiến Thuật, thấy Trọng cứ quấn quýt bên Phượng, mấy anh Nhảy Dù reo lên:
–Trọng! Hát bài “ruột” của “toi” để tặng cô Phượng đi!
Phượng ngạc nhiên, nhìn Trọng:
–Bài ruột của anh là bài nào, sao em không biết?
–“Bí mật quân sự” làm sao em biết được!
Ôm Guitar, vừa dạo vài “notes”, Trọng dừng lại, nói:
–Thưa quý cô và các bạn, theo yêu cầu của các bạn, tôi sẽ trình bày tình ca Sắc Hoa Màu Nhớ của Nguyễn Văn Đông để tặng một người.
Nhóm Nhảy Dù lại rộn ràng:
–Nhớ ai? Nhớ người nào? Nói tên đi!
Trọng cười, đáp:
–Các bạn nghe tôi “ngân nga” bài này hoài mà các bạn không đoán ra được, dỡ quá! Nghe lại cho kỹ nè!
“Ngàn phượng rơi bay vương tóc tôi...
Đời tôi quân nhân, chút tình riêng gửi núi sông...
Phượng rơi rơi trong lòng tôi...”
       Mọi người đều nhìn Phượng. Phượng cúi mặt, cười, cảm thấy hạnh phúc lâng lâng.
Niềm hạnh phúc trong lòng cô sinh viên năm thứ hai đại học Luật khoa Sài Gòn tưởng sẽ không bao giờ nhạt phai; nhưng, sau khi tựu trường, trong lúc cùng vào giảng đường với Uyên, thấy Uyên làm rơi một phong thư, Phượng nhặt lên, đưa cho Uyên. Uyên giả vờ thảng thốt:
–Ý, chết! Cảm ơn bồ. Mất tấm hình này là... chết... tui!
–Hình ai mà quan trọng dữ vậy?
–Hình của anh Trọng.
–Ô, lâu rồi mình không được tin anh Trọng. Anh ấy khỏe không?
Uyên quay mặt để giấu đôi mắt ửng đỏ như sắp khóc:
–Thôi, bồ quên “cái ông” Trọng này đi!
–Có gì bất thường vậy, bồ?
–Không. “Mấy ông lính” mà, nay đây mai đó, ai biết được!
Giọng Phượng nghèn nghẹn như sắp khóc:
–Anh Trọng có “bồ”, phải không?
–Sao “bà” thiệt thà quá vậy? Quên “ổng” đi!
–Anh Trọng là một người ngay thẳng, trung thực, chả biết sợ ai. Nếu anh Trọng muốn đoạn tuyệt với mình thì tại sao anh ấy lại im lặng?
–Đàn ông mà! “Loin des yeux loin du coeur”(xa mặt cách lòng)! Thôi, quên ổng đi!
–Mình chỉ muốn biết lý do.
–Thật sự bồ muốn biết hay không?
       Phượng chậm bước, gật đầu. Uyên cũng chậm bước, trao bì thư – mà Uyên làm rơi lúc nãy – cho Phượng:
–Sự thật nè!
        Phượng hồi hộp mở bì thư, lấy ra tấm hình. Trong hình, Trọng ngồi, tươi cười choàng tay qua vai một thiếu nữ rất xinh. Lật phía sau tấm hình, Phượng thấy nét chữ của Trọng và hai chữ “Trọng–Loan”. Phượng dừng bước, lúng túng, thở dồn dập! Uyên lấy lại tấm hình, giọng xót xa:
–Thôi, quên ảnh đi!
        Im lặng. Bất ngờ Phượng quay lui, đi nhanh như chạy trốn, về hướng chiếc Yamaha Dame của nàng. Trên đường đi xe Yamaha đến đại học Văn Khoa – với dự định xin đổi trường để cắt đứt mọi liên hệ với Trọng – Phượng cứ một tay cầm “ghi-đông” xe, một tay quẹt nước mắt! Lúc xe chạy ngang gốc cây sao mà lần đầu tiên Phượng gặp Trọng khi Trọng chở Uyên đến trường, Phượng dừng xe lại, khóc vùi! Một chốc sau, bình tĩnh lại, Phượng nhìn trước nhìn sau như muốn tìm lại nhân dáng oai hùng trong bộ quân phục hoa rừng và khuôn mặt rạng rỡ cùng nụ cười hóm hỉnh của Trọng thì hình ảnh Trọng và cô gái trong hình lại hiện lên! Theo từng giọt nước mắt mặn đắng tủi hờn, Phượng nghĩ đến những thanh niên đang theo đuổi nàng. Trong số này, Phượng biết Ba Mẹ của nàng có nhiều thiện cảm với Khanh – sinh viên kiến trúc.
        Như thường lệ, vào chiều thứ Bảy, Khanh đến thăm Phượng. Lần này chàng tặng Phượng bản nhạc Ngậm Ngùi của Phạm Duy. Phượng cười buồn:
–Cảm ơn anh.
–Để anh vào chào hai Bác rồi Phượng đàn và hát cho anh nghe, nha!
–Anh phải xin phép Ba Mẹ của Phượng.
–Dĩ nhiên. Anh biết mà!
Trở lên phòng khách, Khanh hỏi:
–Phượng bị Mẹ rầy, phải không?
–Tại sao anh hỏi Phượng câu đó?
–Anh thấy nỗi buồn trong mắt Phượng!
Im lặng một chốc, Phượng vờ đùa để tự dối mình:
–Dạ. Tại em bị Mẹ cho “ăn” mấy cán chổi lông gà!
–Thôi, đàn hát cho vơi buồn, Phượng nhá!
–Anh tặng Phượng bài Ngậm Ngùi mà vui sao được!
–Tâm hồn của Phượng nhạy cảm cho nên Phượng dễ xúc động; còn anh rất thực tế.
        Dù thực tế đến đâu Khanh cũng không ngờ, khi tiếng Bass của Piano trầm trầm rồi giọng của Phượng vút cao ở phân đoạn cuối thì tâm hồn chàng lại chùng thấp; vì cảm nhận được nỗi đau nào đó trong tiếng hát nghẹn ngào của Phượng qua những vần thơ ướt lệ của Huy Cận:
“... Hồn em đã chín mấy mùa buồn đau.
Tay anh em hãy tựa đầu
cho anh nghe nặng trái sầu rụng rơi!”
Cả hai cùng im lặng. Vừa khi đó Ba của Phượng từ nhà trong bước ra:
–Phượng! Con hát bài này “được” lắm!
–Dạ. Con cảm ơn Ba. Ba cho con “làm” ca sĩ chuyên nghiệp, nha, Ba!
–Không đời nào! Ba Mẹ thà ăn mắm chứ không bao giờ cho con trở thành ca sĩ.
Khanh ngạc nhiên:
–Tại sao, thưa Bác? Phượng có tài, có sắc mà.
–Biết là như vậy. Nhưng cháu cũng nên hiểu rằng đời sống của nghệ sĩ không được lành mạnh và luôn luôn chịu nhiều áp lực. Cháu thấy đó, số lượng tài tử và nghệ sĩ lập gia đình năm lần bảy lượt rồi chết vì tự tử, vì ma túy, vì say rượu, vì tai nạn, v.v. cao lắm!
–Dạ, cháu hiểu rồi.
–Bác chỉ mong Phượng học xong đại học, lập gia đình, có cuộc sống đơn thuần, đầm ấm. Thế thôi.
        Khanh chưa kịp nói gì, bà giúp việc bắt đầu dọn ra bữa cơm chiều. Từ trước đến nay, nhận thấy lúc nào Phượng cũng giữ thái độ lịch sự, nhã nhặn, kín đáo chứ không thân thiện với thanh niên nào cả, Ba Mẹ rất an lòng. Hôm nay thấy Phượng và Khanh có vẻ thân mật, Ba thầm vui, tiếp:
–Khanh! Dùng cơm chiều chưa, cháu?
–Thưa Bác, chưa ạ!
–Vậy thì cháu ở lại dùng cơm với gia đình Bác, nhé!
      Trong bữa cơm chiều, như được cơ hội kể lại cho thế hệ trẻ về những tiếc nuối vì đã phí phạm tuổi thanh xuân trong thời gian theo kháng chiến chống Tây, Ba nói huyên thuyên. Thỉnh thoảng Mẹ phải nhắc:
–Ông để cho cậu Khanh ăn; chút nữa ăn xong rồi nói chuyện.
Khanh đáp lời Mẹ:
–Dạ, thưa Bác, cháu cần nghe và hiểu thêm về những gì thế hệ trước đã trải qua; vì cháu dạy môn sử học cho một trường trung học tư thục, Bác ạ!
Ba khen:
–Sinh viên các nước Âu Mỹ, đa số phải vừa đi làm vừa đi học; còn Việt Nam, ít có Cha Mẹ nào đành để con vừa đi làm vừa đi học.
–Vâng, Bác nói đúng. Bố Mẹ cháu cũng không muốn cháu đi làm; nhưng vì cháu có cá tính tự lập từ bé lận, Bác ạ!
–Thế thì mừng cho cháu.
       Sau bữa cơm đó, Ba Mẹ của Phượng tìm mọi cơ hội để khen Khanh trước mặt Phượng. Nhưng Phượng chỉ cười nhẹ; vì trong lòng nàng, hình ảnh vừa hào hùng vừa nghệ sĩ – của Trọng – chưa ai có thể thay thế được.
        Vì tình yêu dành cho Trọng quá mãnh liệt, Phượng nén tự ái – vì nàng đã tự ý xa lánh, tuyệt giao với gia đình Uyên – đến nhà Uyên để dò tin về Trọng. Chủ nhà cho biết Bố của Uyên bị thuyên chuyển đi xa, đem gia đình theo, không để lại địa chỉ...
... Dòng kỷ niệm buồn của bà Phượng vừa đến đây, điện thoại reng. Nhấc ống nghe, bà Phượng “Allo”. Tiếng Hữu reo vui:
–Bà Cô! Chiều nay bà Cô sẵn sàng, khoảng 5:30PM con về đưa bà Cô đi, nhen!
–Ờ. Cảm ơn con. Bà làm phiền con nhiều quá! Nhưng Bà già rồi, không lái xe ban đêm được mà các anh chị lại cứ khuyên Bà nên tham dự sinh hoạt của các hội đoàn cho bớt quạnh hiu! Thỉnh thoảng con chịu khó giúp Bà, Bà cảm ơn con!
–Có gì đâu, bà Cô!
–Bye, con!
       Sau khi ông Khanh qua đời, thấy bà Phượng chỉ thui thủi một mình, các con của Bà mời Bà về sống cùng; nhưng Bà từ chối vì không muốn con của Bà phải “rơi” và tình cảnh “Mẹ mày, Mẹ tao”! Khi người cháu gọi bà Phượng bằng Cô, sống bên Việt Nam, nhờ Bà bảo lãnh cho Hữu – con của người cháu – được sang Mỹ du học, các con của Bà lo mọi thủ tục cần thiết để Hữu được sang Mỹ, sống với Bà để Bà bớt cô quạnh và Cha Mẹ của Hữu khỏi phải lo tiền trọ cho Hữu.
       Cách nay vài tuần, biết chương trình mừng Xuân của Hội Ái Hữu Nhảy Dù có Diễm Liên – ca sĩ mà bà Phượng rất thích – trình diễn, con của Bà mua vé tặng Bà và căn dặn Hữu phải đưa Bà đi và đón Bà về.
Xe dừng ngay trước cửa Marriott Hotel. Hữu dặn:
–Khi nào bà Cô muốn về, gọi con trước 10 phút, nhen!
–Okay.
         Nhìn đồng hồ tay, biết mình đến trễ, bà Phượng đi nhanh về phòng khánh tiết. Đến gần cửa, bà Phượng nghe tiếng nhạc rộn ràng trong điệu “cha cha cha” rồi giọng Tenor vang dội cả hội trường:
“Ðầu xuân năm đó anh ra đi
Mùa xuân này đến anh chưa về...” (3)
       Sau khi được đưa vào bàn, bà Phượng chào mọi người cùng bàn rồi nhìn lên sân khấu. Một “ông Nhảy Dù” đang hát. Tiếng hát và nhân dáng của “ông Nhảy Dù” như khơi lại trong hồn bà Phượng hình ảnh của Trọng; đồng thời cũng gợi lại niềm đau của mối tình đầu không trọn! Cứ mỗi lần hình bóng Trọng hoặc nỗi đau xưa trở về là mỗi lần bà Phượng cúi đầu, âm thầm tạ lỗi với ông Khanh.
       Mục đơn ca chấm dứt. “Ông Nhảy Dù” rời sân khấu trong tiếng vỗ tay vang dội. Khi “ông Nhảy Dù” đi ngang bàn bà Phượng ngồi, một vị khách níu tay, khen:
–Hay quá Trọng ơi!
        Bà Phượng giật mình, quay về phía phát ra câu nói. Lúc nãy ông Trọng sang bàn này hàn huyên với người bạn cùng khóa Võ Bị Đà Lạt với Ông; thấy bàn này có bốn cặp. Bây giờ thấy phụ nữ này lẻ loi, ông Trọng vừa cảm ơn bạn vừa nhìn bà Phượng trong khi bà Phượng quay mặt hướng khác, sau khi nhận ra ông Trọng. Ông Trọng đến cạnh, hỏi nhỏ:
–Xin lỗi, có phải bà là Phượng bạn của Uyên không ạ?
        Bà Phượng lắc đầu, nói “xin lỗi” rồi đứng dậy, lấy điện thoại, vừa đi ra cửa vừa bấm số, gọi Hữu.
        Đứng nơi góc phòng đợi, bà Phượng cảm nhận được nỗi xót xa, tủi hờn đối với người xưa và sự ân hận dày vò đối với ông Khanh. Bất ngờ Bà nghe giọng của ông Trọng:
–Xin lỗi Phượng, cho tôi giải thích với Phượng một lần, rồi thôi. Tôi hứa sẽ không bao giờ khuấy động cuộc sống hạnh phúc của Phượng.
Im lặng. Ông Trọng tiếp:
–Anh nhà đâu mà Phượng đi một mình?
–Ông nhà tôi không còn nữa!
–Xin chia buồn với Phượng. Ông ấy và Phượng rất đẹp đôi.
–Làm thế nào ông biết ông nhà tôi?
–Có lẽ Phượng đã không thấy một thương binh Nhảy Dù, chống đôi nạng gỗ đứng lặng lẽ cạnh gốc cây bàng, bên kia đường, xeo xéo nhà Ba Mẹ vào hôm đám cưới của Phượng. Đúng không?
       Thật nhanh, bà Phượng nhìn hai chân của ông Trọng và nhớ lại: Khi ba chiếc xe Traction đen đưa dâu từ từ rời nhà Ba Mẹ thì anh thương binh Nhảy Dù khập khễnh đi vào hẻm nhỏ! Bà Phượng đáp:
–Tôi không hiểu gì cả.
Ông Trọng lấy điện thoại, bấm số, rồi nói:
–Loan! Cậu cần vợ chồng cháu và Ba Má cháu ra phòng đợi ngay.
Sau khi hai cụ già và vợ chồng Loan cùng các con xuất hiện, chào bà Phượng, Trọng nhìn Loan:
–Loan! Cậu nhờ con giải thích với Bác này về tấm hình của con và Cậu chụp chung tại quân y viện Duy Tân Đà Nẵng, năm xưa.
       Loan ngần ngừ vì quá bất ngờ. Ông Trọng lấy trong ví một tấm hình cũ, trao cho bà Phượng:
–Phượng nhìn kỹ đi, xem Loan và người trong ảnh có bao nhiêu điều khác biệt?
        Nhìn tấm ảnh, nhìn Loan, chợt nhớ hai chữ Trọng–Loan được Trọng viết sau tấm ảnh, Bà Phượng chợt hiểu, nước mắt tuôn dài! Loan dìu bà Phượng đến xa-lông dài rồi mời Bố Mẹ và ông Trọng ngồi cạnh bà Phượng. Ông Trọng làm như vô tình, hơi kéo ống quần bên trái lên một tý. Thấy chân trái của ông Trọng được gắn prosthesis, bà Phượng chỉ thốt được tiếng “Trời!” rồi ôm mặt, khóc!
        Vừa khi đó, Hữu xuất hiện, ngơ ngác nhìn mọi người trong khi ông Trọng nói với bà Phượng:
–Tôi có lỗi với Phượng. Nhưng sự quyết định của tôi đến từ tình yêu. Đời Phượng rực rỡ như ánh nắng mai; tôi không nỡ làm khổ Phượng, đưa Phượng vào tình cảnh phải chọn lựa giữa một thương binh và Ba Mẹ.
Loan kéo Hữu ra xa, kể lại sự việc tấm ảnh cậu Út Trọng và cháu Loan – con đầu lòng của bà chị cả của Trọng – chụp năm xưa, sau khi Trọng bị thương tại Quảng Trị. Nghe xong, Hữu đến bên bà Phượng:
–Bà Cô! Con hiểu chuyện rồi. Đây là mối tình tuyệt đẹp. Con xin mời bà Cô và mọi người qua phòng ăn riêng của khách sạn để hàn huyên. Ở đây hoặc trong phòng khánh tiết ồn lắm, không thể nói chuyện thoải mái được.
Bà Phượng hướng ánh mắt về ông Trọng, đáp:
–Con nên hỏi ý ông Trọng.
Ông Trọng nhìn Hữu:
–Cảm ơn cháu đã hiểu tôi. Tôi có rất nhiều điều muốn nói với bà Cô của cháu; vì mai tôi phải trở về Việt Nam.
Bà Phượng ngạc nhiên:
–Không phải anh ở Mỹ à?
Ông Trọng lắc đầu. Bà Phượng tiếp:
–Sorry, từ nãy giờ quên hỏi thăm “bà đầm” của anh và các cháu.
Lúc này Mẹ của Loan mới lên tiếng:
–Có chịu lấy vợ đâu mà có “bà đầm” và các cháu!
        Bà Phượng lặng lẽ nhìn ông Trọng trong khi Hữu đến quày tiếp tân lo việc đặt phòng ăn riêng.
        Trong giờ phút đầm ấm như trong gia đình, vừa thưởng thức bữa ăn ngon vừa hàn huyên, ông Trọng cho bà Phượng và Hữu biết rằng Gia Đình Mũ Đỏ đã giúp Ông món quà vô giá; Ông không phải chống nạng nữa! Vợ chồng Loan tặng vé máy bay và lo thủ tục để Ông sang Mỹ du Xuân.
         Bà Phượng im lặng, quẹt nước mắt. Hữu cũng bị xúc động mạnh. Tự dưng ý tưởng lãng mạn thoáng qua, Hữu đứng lên, dõng dạc: “Kính thưa quý Cụ, kính thưa bà Cô của con, kính thưa ông Trọng, hôm nay, bất ngờ biết được cuộc tình đẫm lệ và lãng mạn của bà Cô và ông Trọng, con vô cùng xúc động! Con ước chi bà Cô của con và ông Trọng có thể cùng nhau đi đến cuối đời”.
Bà Phượng hốt hoảng:
–Hữu! Con nói tầm bậy! Bà già rồi!
–Người ta già hơn bà Cô nhiều mà người ta còn đi tìm tình yêu; còn mối tình của bà Cô và ông Cậu đẹp như trong xi-nê mà tại sao bà Cô và ông Cậu lại không nuôi dưỡng mối tình đó?
–Con cho Bà biết ai già hơn Bà mà còn có bồ? Chỉ đi!
Hữu lấy điện thoại, tìm bản tin mà Hữu đã đọc cách nay vài hôm, đọc rõ từng chữ:
–Đây là một câu trong bản tin của Yahoo News, ngày 17/01/2020:
 “... Matthew McConaughey has confirmed his 88-year-old mother is due to go on a date with Hugh Grant’s 91-year-old father next week after The Gentlemen stars previously proposed matchmaking their parents”.
        Mọi người đều vỗ tay, cười. Bà Phượng vừa cười mỉm vừa nhìn ông Trọng và bắt gặp nụ cười thật tươi cùng niềm vui ngời lên trong mắt Ông...
Điệp Mỹ Linh
(1) Nhớ Một Chiều Xuân của Nguyễn Văn Đông.
(2) Nhảy Dù Hành Khúc, không thấy tên tác giả.
(3) Đồn Vắng Chiều Xuân của Trần Thiện Thanh.

XUÂN BÌNH YÊN
TKN Thích Nữ Chân Liễu

Trong thời tiết của năm mới, trên mảnh đất an bình hiền hòa Gia Nã Đại, khi nhắc đến Tết Việt nơi xứ người thì không khí lạnh cũng trở thành niềm vui và ấm áp. Hạnh phúc đến với những điều mới mẻ, cuộc sống tiến bộ lạc quan, tâm hồn người con Phật thì luôn cầu mong thế giới thanh bình thịnh vượng.

Một ngày đi qua, một tháng cũ hết, một năm lặng lẽ trôi, một đời người, một con đường, một chân lý sống, suy tư cho cùng tận sự vô thường biến đổi ngay trước mắt. Đời người không là mãi mãi sống trăm năm, không một ai thoát khỏi luật vô thường. Cần thấy rõ được niềm hạnh phúc những vinh quang hiện tại; hoặc thăng trầm, vinh nhục ở trong quá khứ; hay sự bất hạnh thất bại bất như ý sẽ xảy ra ở tương lai. Tất cả đều là vô thường. Chỉ có giác ngộ tìm cho được sự thường không bao giờ thay đổi, khi đó con người không còn sợ bị vô thường chi phối nữa.

Phật pháp không là của riêng ai, những điều chân chánh đã có sẵn trong chốn dân gian. Nhân quả và vô thường là sự thật trong vũ trụ. Khi con người còn tham lam danh vọng, sân hận chất chứa, si mê điều lợi, bất chấp thủ đoạn, hại người lợi mình, thì không có trí tuệ. Khi không hiểu được giá trị của Phật Pháp, không áp dụng nhân cách đáng trân trọng và tâm từ bi trong cuộc sống, thì chiến tranh xảy ra, hơn thua tranh danh đoạt lợi, đau khổ ly tán. Sự vô cảm và tàn bạo khiến con người càng lúc càng xa rời đạo đức.

Nhân quả và vô thường làm cho chúng sanh rơi vào vòng xoáy của luân hồi sanh tử, nhiều kiếp chịu đau khổ trong lục đạo: thiên, nhơn, atula, địa ngục, ngạ quỉ và súc sanh. Phật là bậc Thầy khai ngộ và chỉ dạy cho chúng sanh thức tỉnh, dùng trí tuệ để nhận biết rõ ràng ai ai cũng có Phật tánh bình đẳng và sáng suốt. Ai cũng có thể qui y Phật để trở về con đường chân chánh và thanh tịnh.

Trong Kinh Nhật Tụng Chư Tổ dạy rằng:
Phật chúng sanh tánh thường rỗng lặng
Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn
Lưới đế châu ví đạo tràng
Mười phương Phật bảo hào quang sáng ngời
Trước bảo tọa thân con ảnh hiện
Cúi đầu xin thệ nguyện qui y

Phật chúng sanh tánh thường rỗng lặng.
Bản tánh rỗng lặng như nhau có nguồn gốc từ quá khứ sâu xa, là chốn an bình tịch lạc, không có tranh chấp, không có đau khổ. Phật là từ chúng sanh giác ngộ mà chứng quả. Phật cũng từ phiền não mà chứng bồ đề.

Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn.
Sự suy tư của tâm thanh tịnh không thể nghĩ bàn. Đạo là con đường mà hành giả chân chánh không bị danh lợi cám dỗ, trạng thái tâm lặng lẽ không dính mắc, không chống trái với nhau. Nhân cách của các vị thiện hữu tri thức cảm thông nhau, cho dù thuận hạnh nghịch hạnh vẫn có thể hoằng pháp ở mọi hoàn cảnh, mà không đánh mất giá trị của đạo hạnh. Đây là việc bất khả tư nghì của những bậc bồ tát có đủ từ bi và trí tuệ.

Lưới đế châu ví đạo tràng.
Ngài Thần Tú ví tâm như gương lấm bụi phải lau chùi hằng ngày. Ngài Huệ Năng ví tâm xưa nay không phải là một vật, nên chẳng có gì phải lau chùi. Trong đời sống tùy quan niệm và hoàn cảnh, người tu đừng chấp, đừng phân biệt giai cấp, hay đòi hỏi nhiều, thì ở đâu cũng là đạo tràng. Lời dạy của chư Phật chư Tổ cũng là phương tiện để tu học, pháp môn nào cũng là kiến thức từ bên ngoài cần cho việc tu học mà thôi, đừng rơi vào sự sai lầm của bản ngã, gây chướng ngại cho con đường giải thoát. Quan trọng nhất là chánh kiến và chánh tín, tránh khỏi mê lầm, tìm được chân lý thật sự đưa con người đến hạnh phúc, đó mới là cứu cánh và vô cùng trân quí hơn cả trân châu bảo ngọc.

Mười phương chư Phật hào quang sáng ngời.
Phước đức giúp người tu dễ vượt qua khó khăn của ma chướng, như người khách bộ hành phải đi qua những đoạn đường gian nan đầy vực sâu và thử thách. Khi có được những gì mong cầu, người tu đi đến đâu làm việc gì cũng chỉ nghĩ lợi ích chúng sanh. Tánh giác có sẵn nhưng vì nghiệp thiện ác ở sáu cõi làm cho chúng ta quên đường về. Từ vô thủy chúng sanh đã là Phật, tự tánh vốn thanh tịnh luôn luôn hiện hữu. Khi ánh sáng trí tuệ như ngọn đèn được thắp sáng, bóng tối vô minh từ bao đời kiếp tự tan biến mất. Hiểu được và hành được Phật Pháp bằng thân giáo và khẩu giáo là công đức phước đức, lợi lạc cho mình và cho những người hữu duyên, thì hào quang cũng không khác gì chư Phật mười phương.

Trước bảo tọa thân con ảnh hiện.
Công phu “phản quan tự kỷ” chánh niệm tỉnh giác, chiếu kiến từng hành động thuộc về thân khẩu ý. Đức Phật ví tâm con người như mặt biển và ngọn sóng, khi sóng yên biển lặng thì thấy được sóng và nước là một. Sóng lặng là định, là tuệ, là an bình. Sóng dậy là loạn, là mê, là phiền não. Mặt biển lúc nổi sóng và mặt biển lúc thanh bình, tuy trạng thái hoàn toàn khác nhau, nhưng không phải là hai biển. Cũng vậy, tâm con người lúc bình tĩnh thản nhiên và lúc nổi cơn tức giận, không hai, nhưng cũng không phải một. Tuy hai mà một, tuy một mà hai, chính là nghĩa đó vậy. 
 
Trước tình thương bao la bình đẳng của Phật tâm, con người rồi sẽ nhận ra thật tướng của cái ta, tốt xấu như thế nào. Chư Tổ các ngài giúp môn đệ nắm vững đường lối tu hành và định hướng cho biết Phật tại tâm, tâm là Phật. Phật và chúng sanh chỉ là ngôn từ để xử dụng, chứng đắc, hay ngộ nghĩa lý là do ở nơi mỗi người.

Cuối đầu xin thệ nguyện qui y.
Khi người tu đạt được trạng thái vắng lặng thấy được lẽ thật, bừng tỉnh, giác ngộ sinh tử, mong muốn quay về với chốn an bình tịnh lạc đó mới thật sự là “qui y”. Nhưng đâu là ranh giới của đau khổ và hạnh phúc, si mê và giác ngộ. Tu nghĩa là “dừng”, không mang mặc cảm phước mỏng nghiệp dày, không tự mãn với những gì có được, mới thấy đời tu có ý nghĩa và an lạc. Khi liễu ngộ là đã nhận biết được đường hướng và mục đích cuối cùng một cách rõ ràng, hãy vững niềm tin mà tiến bước bằng nghị lực và ý chí không thối chuyển.

Các Thiền sư có câu:
“Thủy lưu qui đại hải. Nguyệt lạc bất ly thiên”.
Nước dù chảy đi đâu, cuối cùng cũng về biển cả. Trăng lặn ở đâu, cũng không ra khỏi bầu trời.
Xuân đi xuân đến, mãi mãi vẫn là xuân.
Mùa xuân bình yên với người tu đạt từ bi và trí tuệ. []

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
TKN Thích Nữ Chân Liễu
(Toronto, Canada) 

Xuân Cảm Tác & Con Nào Quên & Xuân Tranh Đấu (T)
*****
1- Thơ : XUÂN CẢM TÁC (Nguyễn Vạn Thắng)
5683 1 XuanCamTacNgVanThang
Tôi ước mơ ngày đón Tết sang
Quê hương ngời sáng rực cờ vàng
Ngày xưa đón Tết mừng Năm mới
Pháo nổ vang rền khắp thảo trang
*
Bánh mứt, rượu ngon, câu đối đỏ
Cây nêu, tràng pháo đón Giao Thừa
Phố phường tấp nập người qua lại
Đình đám, hội hè mãi sáng trưa
*
Mai nở mừng Xuân gieo sắc thắm
Nhạc tình réo gọi tiếng Xuân xưa
Bên nhau chúc Tết duyên tình thắm
Gợi nhớ ngày Xuân buổi hẹn hò
*
Đất khách Xuân sang thấy hững hờ
Lòng thêm héo hắt chẳng hoài mơ
Chợ hoa ngày Tết buồn không thắm
Tết đến rồi sao dạ thẫn thờ ?
*
Còn đâu tiếng pháo đón Giao thừa
Nhớ quá Xuân nào buổi đón đưa
Xa vắng cho lòng thêm nỗi nhớ
Thương về hình ảnh Tết năm xưa
*
Cái Tết giờ đây sắp đến rồi
Lòng vương nỗi nhớ có nào nguôi
Xuân đi! Xuân lại nào mơ ước
Để chạnh lòng tôi nhớ một người
*
Tết đến đành thôi nở nụ cười
Vài câu chúc bạn để đời vui
Dù Xuân thiếu vắng hoa mai nở
Mượn bút ra thơ chúc mọi người...
Nguyễn Vạn Thắng
*****
2-  Thơ : CON NÀO QUÊN ...(Nguyễn Vạn Thắng)
5683 2 ConNaoQuenNgVThang
Con nào quên ...những ngày Xuân bên Mẹ
Bên bếp hồng nghe Mẹ kể chuyện xưa
Tiếng pháo vui chào đón đêm giao thừa
Chào Xuân mới ...tiếng chuông Chùa réo gọi
*
Con nào quên ...bên hàng hiên Mẹ đợi
Chờ đón con trên lối nhỏ đi về
Vòng tay yêu Mẹ dìu dắt chở che
Giữa cuộc sống bon chen đầy nước mắt
*
Mẹ ra đi ...những đêm buồn thức giấc
Tưởng Mẹ về, con thao thức chờ trông
Con nào quên hình ảnh thuở Mẹ bồng
Ru con ngủ trong vòng tay êm ái
*
Giòng thời gian bây giờ và mãi mãi
Bóng Mẹ hiền luôn mãi ở trong con
Để Xuân về tô điểm một màu son
Xuân đất khách cho lòng vui ấm lại
*
Con nào quên ... chuỗi ngày xưa thơ dại
Khi Xuân về họp mặt đón mừng vui
Đã bao Xuân xa vắng tủi ngậm ngùi
Mẹ đã khuất ... cho Xuân về hiu quạnh
*
Mẹ ra đi ...Xuân về trong giá lạnh
Tết ngày xưa bên mái ấm gia đình
Giờ đón Xuân con khấn nguyện cầu xin
Linh hồn Mẹ được về nơi Thiên phúc
*
Con nào quên lời đầu Xuân Mẹ chúc
Phước lộc nhiều, hạnh phúc được giàu sang
Nhưng Mẹ ơi!  Trong con Xuân đã tàn
Xuân vắng Mẹ, tìm đâu niềm hy vọng ...
Nguyễn Vạn Thắng
*****
3- Thơ : XUÂN TRANH ĐẤU (Nguyễn Vạn Thắng)
5683 3 XuanTranhDauNgVThang
Thương dân Việt bao năm dài bất hạnh
Bởi cầm quyền cộng sản cai trị dân
Tết Mậu Thân còn đó vui đón Xuân
Bao xác chết vùi chôn ngày đón Tết
*
Đừng hèn nhát khi mang giòng máu Việt
Hãy vùng lên tiêu diệt bọn côn đồ
Để quê mình vui hưởng đời TỰ DO
Vui đón Tết trong thanh bình no ấm
*
Thử nghĩ xem nếu quê mình chìm đắm
Vào tay Tàu dân Việt sẽ ra sao ?
Bọn cộng nô bè lũ giặc theo Tàu
Chúng cuốn gói mặc dân tình ở lại
*
Bọn lãnh đạo, lũ cầm quyền vô loại
Chúng coi dân như cỏ rác bên đường
Bắt bớ người, chiếm đất lũ bất lương
Làm tay sai cho giặc Tàu để sống
*
Hỡi Việt Nam như ngọn triều dậy sóng
Hãy vùng lên diệt lũ cộng vô thần
Sao đứng nhìn lũ cộng hà hiếp dân ?
Sự im lặng là mồ chôn dân Việt
*
Bọn Tàu cộng chúng chủ trương tiêu diệt
Quê hương mình đón Tết sẽ không yên
Bởi cộng nô bè lũ bọn ngu hèn
Đừng nhắm mắt cúi đầu làm nô lệ
*
Nước Việt ta trải qua bao thế hệ
Đuổi giặc Tàu xây dựng nhà Việt Nam
Thà hy sinh chịu chết quyết không hàng
Gương anh dũng ngàn đời luôn ghi nhớ
Nguyễn Vạn Thắng

Ngọn Đèn Dầu Trong Góc Khuất
  • Ở thành phố London, Ontario, có một hội trường nhỏ sát bờ sông Thames, mỗi tuần mở cửa một lần cho mấy người già Việt Nam tới ngồi với nhau. Căn phòng lúc nào cũng ấm hơn ngoài trời, dù mùa đông hay mùa hạ, bởi mùi trà nóng, mùi dầu gió xanh quen thuộc tỏa ra từ vạt áo của những người già xa xứ, và những câu chuyện quen như gió thổi qua hàng dừa quê cũ.
    Ông và bà quen nhau ở đó. Ông ngoài 70, quê miền Tây, lưng đã còng nhẹ như cây tre già sau nhiều mùa gió. Vợ ông mất 10 năm trước, một buổi sáng mùa thu, đi nhẹ như chiếc lá rụng không kịp báo. Từ đó, căn nhà nhỏ của ông chỉ còn tiếng đồng hồ treo tường và tiếng tuyết cào vào cửa sổ mỗi khi đông về. Ông đến Canada vài năm sau miền nam sụp đổ, ông làm nghề lao động cho đến khi về hưu nên đời sống kinh tế hơi bị eo hẹp.
    Bà cũng ngoài 70, tóc bạc gọn gàng, giọng Huế ấm áp. Bà đang ở với đứa con trai và gia đình của nó, khá giả nhờ kinh doanh, sáng lo bữa ăn, chiều đưa đón, nhà lúc nào cũng có người, nhưng đông người không có nghĩa là không trống. Có những nỗi cô đơn không nói ra được.
    Họ quen nhau vì được sắp chung nhóm “thất thập niên”. Ban đầu chỉ là gật đầu chào, rồi vài câu hỏi thăm sức khỏe. Sau quen dần, mỗi tuần gặp lại, họ bắt đầu kể cho nhau nghe những chuyện nhỏ nhặt: ông kể tuần rồi tuyết dày, ông phải tự xúc sân; bà kể cháu nội mới biết nói, gọi bà bằng giọng còn ngọng nghịu. Những chuyện không lớn, nhưng đủ để lấp đầy khoảng trống của một ngày cuối tuần ấm áp.
    Ông hay im lặng nghe bà nói. Ông nghe bằng cả người, như người miền Tây nghe nước lớn lên nước ròng xuống. Trong câu chuyện của bà thường có bóng dáng quê nhà: con rạch nhỏ, bờ ao có bụi chuối, những đêm canh nồi bánh tét dịp xuân mà bây giờ ông chỉ còn gặp trong giấc ngủ trưa. Ông ít khi kể về mình. Đời ông sau khi vợ mất, ngày nào cũng giống ngày nào, như con đường phủ tuyết, đi hoài vẫn chỉ một màu trắng. Bà tuy còn con cháu, nhưng nhiều khi ngồi giữa phòng khách sang trọng, nghe chúng nó nói tiếng Anh với nhau, bà thấy mình như một người khách lạ trong chính gia đình mình. Cái cô đơn của bà là cái cô đơn trong đông đúc, còn cái cô đơn của ông là cái cô đơn trong tịnh không.
    Bà biết ông cô đơn hơn bà. Bà không nói ra. Ở tuổi này, người ta thương nhau bằng cách giữ im lặng đúng lúc. Bà chỉ để ý những chi tiết nhỏ: hôm nào ông ho nhiều, bà pha trà gừng mang theo; hôm nào ông quên mang áo khoác, bà nhắc nhẹ một câu. Những quan tâm kín đáo như mưa phùn, không ướt áo liền nhưng ngấm lúc nào không hay.
    Có những buổi họ không nói gì nhiều. Chỉ ngồi nhìn ra cửa sổ, nơi hàng cây trụi lá đứng im, chờ xuân. Trong khoảng lặng đó, ông nghĩ tới vợ mình, tới những năm tháng hai người còn trẻ, còn nghèo mà vui. Bà nghĩ tới quãng đường đã đi qua, tới cái ngày rời quê, mang theo cả một đời ký ức. Hai nỗi nghĩ khác nhau, nhưng cùng chung một màu buồn tênh.
    Ông hiểu, bà không thuộc về ông. Bà có gia đình, có những sợi dây ràng buộc ấm áp. Còn ông, chỉ là một bến nước cũ, may mắn có người ghé lại ngồi nghỉ chân. Nghĩ vậy, ông càng quý những buổi họp mặt hơn, quý từng lần được nghe bà kể chuyện.
    Ở tuổi xế chiều, tình cảm không còn ồn ào. Nó giống như ngọn đèn dầu đặt trong góc nhà: không sáng rực, nhưng đủ soi cho người ta thấy mình chưa hoàn toàn ở trong bóng tối. Ông và bà không gọi tên mối gắn bó đó. Họ chỉ biết, mỗi tuần còn có một buổi để chờ, một người để nhớ, là lòng đã bớt lạnh đi một chút giữa xứ người xa lạ. Và thế là đủ.
    Con cháu bà dần dần biết chuyện....
    Chiều London hôm ấy tuyết rơi lất phất, cái lạnh như kim châm vào những khớp xương già nua. Trong góc phòng họp mặt, ông ngồi khép nép hơn mọi khi, chiếc áo khoác cũ đã sờn cổ được ông cài kín mít như để che đi cái nghèo nàn đang bị người đời dòm ngó.
    Hôm nay sinh nhật bà. Con trai và con dâu vừa đưa bà đến. Lúc bước vào, họ lướt nhìn ông bằng ánh mắt lạnh lẽo như băng giá ngoài kia. Tiếng xầm xì của chúng bằng tiếng Anh, ông hiểu hết từ cái giọng điệu khinh khỉnh đến cái nhếch môi khi nhìn vào đôi giày cũ mòn của ông cũng đủ làm một người đàn ông từng là trụ cột gia đình thấy lòng nhói buốt. Họ không muốn bà "gần gũi" với một ông già đơn độc, nghèo nàn, sợ ông là gánh nặng, hoặc đơn giản là sợ cái hình ảnh "không môn đăng hộ đối" làm mờ đi cái vẻ thành đạt của họ ở xứ sở này.
    Đến giờ giải lao, mọi người cùng ăn nhẹ. Con bà bày ra những hộp thức ăn sang trọng, nhưng khi ông lại gần, họ ý tứ kéo ghế ra xa, hoặc giả vờ bận rộn để không phải mời ông một tiếng. Ông đứng lặng, bàn tay run run cầm mẩu bánh mì khô khốc. Bà nhìn thấy hết. Bà đau cái đau của người đàn bà kẹt giữa một bên là thâm tình con cái, một bên là sự tri âm của người bạn già. Bà lẳng lặng gắp miếng chả lụa vào đĩa của ông, nói nhỏ, giọng run run:
    - Ông đừng có để bụng... tụi nhỏ nó sống bên này lâu quá, cái tâm nó bị đóng băng rồi. Để tui ăn với ông cho vui.
    Ông nhìn bà, đôi mắt u uất khẽ gợn sóng. Ông muốn đứng dậy bỏ về, cái tự trọng của một người đàn ông miền Tây "đói cho sạch, rách cho thơm" đang trỗi dậy. Nhưng nhìn thấy bàn tay bà đang run rẩy vì lo lắng cho mình, ông lại ngồi xuống. Ông thương bà hơn là giận lũ trẻ. Ông buồn. Buồn lặng. Không phải vì nghèo, mà vì cảm giác mình bị làm phiền. Cái nghèo ông đã mang theo từ quê qua tới xứ người, ông quen rồi. Nhưng ánh mắt coi thường thì vẫn làm tim người ta nhói, dù đã sống gần trọn một đời. Ông bắt đầu nghĩ tới việc không nên đến nữa, không nên làm bà khó xử giữa con cháu và một người dưng như ông. Bà biết. Bà luôn biết những điều người khác không nói ra.
    Lúc ra về, khi con cháu bà đang mải mê chào hỏi những người khác, bà nhanh tay dúi vào túi áo khoác rộng thùng thình của ông một bọc nilon trong đó có vài hộp nhỏ được gói kỷ trong giấy bạc. Bên trong là mấy cuốn gỏi cuốn bà tự tay làm, là miếng thịt kho tàu mềm rục đậm đà vị quê hương. Bà thầm thì: 
    - Nè, đem về chung cư, tối hâm lại mà ăn cho ấm bụng. Đừng có nhịn, tui xót...
    Ông nắm chặt lấy bọc đồ ăn qua lớp vải áo, cảm giác nó nóng hổi như vừa mới vớt ra từ nồi áp suất, hay chính là hơi ấm từ trái tim bà truyền qua? Ông không nói được lời nào, chỉ khẽ gật đầu, cổ họng nghẹn đắng.
    Ông lầm lũi đi ra trạm xe buýt. Bóng ông đổ dài trên mặt đường sũng nước mưa xuân. Ông hiểu, trong mắt lũ trẻ, ông là kẻ "đào mỏ" hay một ông già lẩm cẩm, nhưng trong mắt bà, ông là cả một khung trời kỷ niệm, là người duy nhất hiểu được tại sao bà lại khóc khi nghe một câu hò giữa lòng London.
    Tình già ở đây sao mà u uất quá. Nó không được phô trương dưới ánh đèn, mà phải giấu diếm trong túi áo, trong những món ăn vụn vặt và những lờidặn dò lén lút.
    Ông mang những gói thức ăn ấy về căn chung cư im lìm của mình. Ông ăn chậm, ăn kỹ, như sợ hết quá nhanh. Mỗi miếng ăn không chỉ là no bụng, mà là một sự xác nhận âm thầm rằng trên đời này vẫn có người coi ông là người, không phải là gánh nặng hay cái bóng bên lề.
    Ông không dám đòi hỏi gì hơn. Ông giữ khoảng cách, giữ lòng tự trọng, giữ cả nỗi buồn cho riêng mình. Nhưng trong những đêm tuyết phủ kín ban công, khi hâm lại nồi cá kho bà giấu cho, mùi nước mắm bốc lên rất khẽ, ông biết: có những thứ không cần gọi tên, vẫn đủ để một người già sống tiếp qua mùa đông dài.
    Rồi tới một buổi họp, chỗ ngồi quen đã trống.
    Một tuần, rồi hai tuần... cái ghế trống đối diện ông trong câu lạc bộ đã bắt đầu lạnh lẽo cho đến khi người trưởng hội thông báo bà đã trút hơi thở cuối cùng đêm qua, trái tim ông như có một mảnh sành cứa vào, không đau rát nhưng máu rỉ ra âm thầm, lạnh ngắt.
    Ông đến đám tang với tư cách một người bạn đồng hương xa lạ. Ông mặc chiếc áo vest cũ kỹ, cài nút thật chặt để ngăn những cơn run rẩy của tuổi già và cả nỗi đau đang cuộn lên trong lồng ngực. Ông đứng lẫn vào đám đông, giữ khoảng cách với con cháu bà. Họ vẫn vậy, vẫn ánh mắt sắc lạnh, bận rộn với những nghi thức sang trọng mà có lẽ bà khi còn sống cũng chẳng mấy mặn mà.
    Ông sợ họ thấy ông khóc. Ông sợ cái tình cảm kín đáo, tinh sạch như sương sớm của hai tâm hồn già nua bị họ vấy bẩn bằng những suy nghĩ thường tình. Ông cố nuốt nước mắt vào trong, khiến đôi mắt đục mờ càng thêm u uất.
    Lợi dụng lúc con cháu bà đang bận tiếp khách phía sảnh ngoài, ông lầm lũi tiến lại gần linh cữu. Đôi bàn tay đồi mồi run run đặt lên bàn thờ những món quà mộc mạc mà ông đã chắt chiu mua từ những đồng tiền già ít ỏi: Một hộp mè xửng Thiên Hương chính hảng từ Huế, một bịch trà Bảo Lộc hiệu Cây Thông mà bà ưa thích, thứ trà chát đắng lúc đầu nhưng ngọt hậu về sau. Một hộp bánh pía Sóc Trăng: Món quà quê hương của ông, cái vị ngọt của đậu xanh, vị béo của sầu riêng. Và cuối cùng, chai dầu gió xanh: Kỷ vật ngày đầu quen nhau bà đã tặng ông. Ông trả lại cho bà, không phải vì muốn đoạn tuyệt, mà vì ông muốn hơi ấm của nó sẽ theo bà sang bên kia thế giới.
    Ông đứng lặng, bóng dáng cô độc in trên nền hoa trắng xóa. Ông lâm râm, tiếng khấn chỉ đủ cho mình ông và linh hồn bà nghe thấy:
    - Bà đi trước nha... Về dưới đó, chỗ có nắng ấm, có mùi bùn non, không còn tuyết lạnh, không còn những ánh nhìn ghẻ lạnh đâu bà. Cầu ơn trên rước bà về cõi Phật. Thỉnh thoảng... bà có nhớ tui, nhớ cái mùi trà này, thì về thăm tui trong giấc chiêm bao, để tui còn thấy mình không đơn độc giữa cái thành phố mênh mông này...
    Lúc ông quay lưng bước đi, một cơn gió lạnh lùa qua cửa sổ làm khói nhang bay vòng rồi tan mất. Ông bước ra phố, chiếc bóng gầy guộc lọt thỏm giữa những tòa nhà cao tầng.
    Từ nay, bọc thức ăn trong túi áo sẽ không còn nóng hổi, những câu chuyện về tiền già, về con cái sẽ chẳng còn ai để sẻ chia. Ông đi, mang theo cái nghèo, cái tự trọng và một khoảng trống mênh mông mà cả thành phố London này cũng không thể lấp đầy.
    Hóa ra, cái chết không đáng sợ bằng việc người duy nhất hiểu mình đã không còn nữa.

    T. Nguyen
    London

  • Xuân xưa và Người Lính Việt Nam Cộng Hòa

    • Ngày xưa, hơn 20 năm sống dưới Chính thể Việt Nam Cộng Hòa, với những hy sinh vô bờ bến của Người Lính trên khắp Bốn Vùng Chiến Thuật. Giờ đây, dẫu đã xa, đã mất, nhưng những hình ảnh ấy không bao giờ xóa nhòa trong tâm khảm của những người Việt Nam yêu nước chân chính.

       

      Những mùa Xuân xưa, với những hình ảnh cũ sẽ mãi mãi còn lưu lại, khi thế hệ của chúng ta không còn nữa, thì các thế hệ tương lai, có thể trăm ngàn năm nữa, sẽ còn biết đến những hình ảnh oai hùng, cao đẹp và không kém phần lãng mạn của Người Lính Việt Nam Cộng Hòa.

       

      Không chỉ hôm nay, mà mãi mãi, hậu thế, khi nhìn lại những tấm Thiệp Xuân, không mang hình ảnh sắt máu trong những “tấm thiệp” tuyên truyền như của Cộng sản, mà thật đúng với ý nghĩa, chứng tỏ tình Quân Dân với những lời chúc lành trong dịp đầu Xuân:

       

       

       

       

       

       

       

       

       

       

      Ngày ấy, để Bảo Quốc An Dân, Người Lính Việt Nam Cộng Hòa chỉ biết cầm súng để bảo vệ Quê Hương, bảo vệ đồng bào, dẫu mùa Xuân tới, đêm đêm vẫn ghì chặt tay súng trên các tiền đồn xa xôi, địa đầu giới tuyến, đối diện với giặc thù xâm lăng, để hậu phương được an bình đón mừng ngày Tết, riêng Người Lính vẫn ngồi trên vọng canh, trong Phiên Gác Đêm Xuân:

       

       

       

       

      Đón Giao Thừa một phiên gác đêm

      Chào xuân đến súng xa vang rền

      Xác hoa tàn rơi trên báng súng

      Ngỡ rằng pháo tung bay, ngờ đâu hoa lá rơi


      Bấy nhiêu tình là bao nước sông

      Trời thương nhớ cũng vương mây hồng

      Trách chi người đem thân giúp nước

      Đôi lần nhớ bâng khuâng, gượng cười hái hoa Xuân


      Ngồi ngắm mấy nóc chòi tranh

      Mơ rằng đây mái nhà tranh

      Mà ước chiếc bánh ngày Xuân

      Cùng hương khói vương niềm thuơng


      Ước mong nhiều đời không bấy nhiêu

      Vì mơ ước trắng như mây chiều

      Tủi duyên người năm năm tháng tháng

      Mong chờ ánh xuân sang, ngờ đâu đêm cứ đi


      Chốn biên thùy này Xuân tới chi ?

      Tình lính chiến khác chi bao người

      Nếu xuân về tang thương khắp lối

      Thương này khó cho vơi, thì đừng đến xuân ơi !

       

      Hoặc Đồn vắng chiều Xuân:

       

      Đầu Xuân năm đó anh ra đi

      Mùa Xuân này đến anh chưa về

      Những hôm vừa xong phiên gác chiều

      Ven rừng kín hoa mai vàng

      Chợt nhớ tới sắc áo năm nào em đến thăm gác nhỏ.

      Mùa hoa năm đó ta chung đôi

      Mùa hoa này nữa xa nhau rồi

      Nhớ đêm hành quân thân ướt mềm

      Băng giòng sông loang trăng đầy

      Lòng muốn vớt ánh trăng thề viết tên em.

      Đồn anh đóng ven rừng mai

      Nếu mai không nở, anh đâu biết Xuân về hay chưa?

      Chờ em một cánh thư xuân, nhớ thương gom đầy

      Cho chiến sĩ vui miền xa xôi…

      Hẹn em khi khắp nơi yên vui

      Mùa xuân ngày đó riêng đôi mình

      Phút giây mộng mơ nâng cánh hoa mai

      Nhẹ rớt trên vai gầy, hồn chơi vơi

      Ngỡ giữa xuân vàng, dáng em sang.

       

      Ngoài ra, khi nhắc lại những mùa Xuân xưa, người viết muốn cho hậu thế còn biết rằng, Thủ Đô Sài Gòn Hoa Lệ, Hòn ngọc Viễn Đông, vào những mùa Xuân của thập niên 1960, nếu Người Lính Việt Nam Cộng Hòa không bị bắt buộc phải buông súng, thì ngày nay đất nước Việt Nam đã văn minh, tiến bộ, cường thịnh gấp muôn lần, mà chỉ có những kẻ kém hiểu biết mới cho rằng, “ngày nay đất nước giàu hơn xưa”. Và đây là một trong những hình ảnh của Chợ Hoa Nguyễn Huệ như Shop bông Liên Hoa kiosk số 1 đường Nguyễn Huệ, Sài Gòn:

       

       

      Và trong thời chiến chinh ác liệt ấy, Người Lính cũng đã băn khoăn, khi ngày đêm gối súng, nằm sương, nhớ về người vợ, người yêu trẻ, qua ca khúc: Để trả lời một câu hỏi:

       

      Một nửa ba năm anh yêu tình áo giầy quân nhân

      Đường xuôi quân ghé lại đôi lần

      Bao nhiêu âu lo có hôm đã hỏi người yêu bé bỏng hay mơ, Anh vắng nhà

      hoài em có nhớ?

      Trả lời anh yêu không gian còn bước thời gian đi

      Một ngàn đêm nhớ nhiều mơ nhiều

      Mưa khuya giăng tơ gió khuya hững hờ

      Đèn khuya hiu hắt ngọn tương tư

      Đôi lúc buồn vì anh vắng nhà.

      Tình nước lòng trai! Anh hiên ngang đối diện mặt trời

      Chân qua chốn nào, thương chất lên cao

      Đã yêu lính trẻ, ngày về ai tiếc gì.

      Từ bàn tay tiên nắn nón từng nét gửi cho anh

      Để anh vui bước đường quân hành

      Môi em đang xinh mắt em vẫn tình

      Màu xanh vẽ nổi đôi tim ghi dấu ngày đầu ta biết mình!…

       

      Cũng trong những năm tháng dài sống trong khói lửa của chiến tranh, có những người trai trẻ, đã bị Việt cộng  bắt, hoặc vì nhiều lý do đã bị lôi cuốn vào con đường cầm súng cho Cộng sản. Họ đã bỏ lại Mẹ già, vợ con thơ dại sống trong hãi hùng, chờ đợi, qua những bài Tân Cổ Giao Duyên, với nỗi niềm của người vợ trẻ đêm đêm trông chờ người chồng yêu quý sớm rời bỏ hàng ngũ Cộng sản, để quay về với Chính Nghĩa Quốc Gia, mà người viết chỉ nhớ  được một phần trong những lần đi công tác Đoàn Dân Sự Vụ như sau:

       

       

      “Cây phượng vĩ đầu thôn mùa khỏi lửa

      Vẫn âm thầm trút lá cạnh bờ ao

      Nhớ năm xưa, ta ngỡ mới hôm nào

      Ta còn bắt bướm hái hoa ngoài xóm cũ…

      Mấy cánh hoa rơi như đón mừng người lữ thứ… trở về đây với đồng ruộng đón Xuân… về…

      Trăng lên cao gió lộng tứ bề, giữa đêm Xuân ta nghe lòng thấm thía, quãng đường mòn sương ướt nhịp cầu tre…

       

      Kìa thôn quê dưới trăng vàng bát ngát

      Ánh trăng thanh chiếu qua làng xơ xác

      Chiêu hồn quê bao khúc ca yêu đời

       

      Anh hãy về đây sau bao ngày bão tố, cảnh của trời khua muôn màu vạn sắc, mến yêu hơn đất nước quê nhà. Tiếng ai hát ru con nghe tha thiết đậm đà.

       

      Vài hàng gửi anh trìu mến, vừa rồi làng có truyền tin, nói rằng nước non đang mong, đi Quân Dịch là thương nói giống…

       

      Ôi nghe Quê Hương xưa tình yêu vẫn nặng, vẫn êm đềm như những ngày thơ. Con sông vắng, bóng dừa in đáy nước, lũy tre xanh xào xạc dưới nắng đồng quê. Nhớ năm xưa cũng dưới ánh trăng thề, ta mơ đón Xuân về trên bến cũ...

       

       

       

       

       

       

       

       

      Chiều chiều vợ dại, con thơ

      Nhìn mây đỉnh núi bơ vơ nỗi lòng

      Sống chi cái cảnh hãi hùng

      Giam thân nơi chốn núi rừng quạnh hiu

      Bao cơn mưa gió tiêu điều

      Tuổi Xuân rồi cũng xế chiều anh ơi!

      Về đây họp mặt vui cười

      Bao lời ân ái, bao lời sắt son

      Nước non nay buổi huy hoàng

      Ai xui cách biệt lỡ làng đôi ta

      Nhớ chăng những buổi trăng tà

      Xăm xăm trên quãng đường xa tự tình

      Bây giờ vò võ năm canh

      Anh theo Việt cộng, anh đành bỏ em!

      Trăng khuya soi sáng bên rèm

      Anh ơi! trở lại chung niềm yêu thương

      Xưa kia lạc bước, lầm đường

      Nay anh tỉnh ngộ từ phương xa về

      Anh ơi! Ghi nhớ lời thề

      Làng quê mong đợi anh về; Anh ơi!

       

      Theo chi Việt cộng mà theo

      Cho tay vấy máu, mạng treo tơ mành

      Làm cho đất nước điêu linh,

      Hỡi anh Việt cộng quên tình nước non”.

       

      Những  bài ca, những lời thơ trích ở trên, đã từng được các anh chị em Tâm Lý Chiến cất cao tiếng hát, hoặc ngâm nga giữa chốn hoang vu của núi rừng, bên các Trại Biên Phòng, cũng đã khiến cho những người chồng ở bên kia chiến tuyến phải nhớ thương về người vợ trẻ, con thơ, nên họ đã từ bỏ hàng ngũ Cộng sản, trở về với Chính Nghĩa Quốc Gia. Sau đó, họ đã làm việc tại Bộ Công Dân Vụ, hoặc các Trung Tâm Chiều Hồi sau này. Họ đã được sống chung hòa ái với đồng bào tại miền Nam, cho đến sau ngày 30/04/1975, khi đất nước Việt Nam Cộng Hòa bị bức tử, thì họ đã bị Việt cộng bắt xử bắn, gán cho “tội phản bội”. Có người đã bị bỏ tù trên dưới 10 năm. Sau khi ra tù, họ đã sang Mỹ theo thành phần Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam Cộng Hòa.

       

      Riêng Người Lính Việt Nam Cộng Hòa, thì đau đớn và uất hận thay, vì sau hơn 20 năm, Người Lính đã chấp nhận mọi gian nguy, đem máu xương, để bảo vệ từng tấc đất của Quê Hương, để rồi cuối cùng  phải bị bức tử!

       

      Và ngày tang thương, vong quốc ấy, đã có một số Dân-Quân-Cán-Chính Việt Nam Cộng Hòa, đành phải rời bỏ Quê Hương, và đau đớn nhất vẫn là những người đem cả gia đình, vợ, con liều chết ra đi trên những con thuyền vượt biển, lâm vào cảnh đói, khát, lạnh lẽo. Và trong số đó, có những thiếu phụ, thiếu nữ và nhiều em bé gái, đã bị rơi vào tay của hải tặc Thái Lan, đã bị chúng hành hạ dưới những bàn tay tàn bạo cho đến chết, có những bé gái, chỉ kiệt sức, nhưng chưa chết, vẫn bị bọn hải tặc quăng xác xuống biển, để làm mồi sống cho cá. Họ đã vĩnh viễn ra đi. Thảm cảnh này ai có biết chăng, hay chỉ có chính nạn nhân mới thấu được những đau đớn tột cùng này. Bởi vì: “Đoạn trường ai có qua cầu mới hay!”

       

      Tuy nhiên, cũng có những người, dù không lâm vào hoàn cảnh đau thương trên, nhưng họ cũng tha thiết với Quê Hương như Ông Hoàng Ngọc Ẩn, ông được di tản sang đất Mỹ; sau đó ông đã viết lên những dòng thơ và đã được Nhạc sĩ Huỳnh Anh phổ Nhạc, giữ nguyên văn của bài thơ: Rừng lá thay chưa:

       

      Xuân xưa mình chung đôi bóng

      Xuân này mình ngóng trông nhau

      Hun hút phương trời vô vọng

      Nhớ thương bạc trắng mái đầu


      Em có về qua lối cũ

      Phố phường chừ đã đổi thay

      Thương em nửa đời hoang phế

      Thương ta trọn kiếp lưu đày!

       

      Quả đúng như vậy, vì giờ đây, ai kia có đành quên những ngày tháng sống trong chế độ của bạo quyền Cộng sản, nên đã quay về qua lối cũ, thì có thấy chăng, phố phường chừ đã đổi thay?!

       

      Có thấy “em nửa đời hoang phế”. Và có thấy những mảnh đời bất hạnh đã và đang “trọn kiếp lưu đày”?!

       

      “Kiếp lưu đày” không phải chỉ những con dân của đất nước Việt Nam Cộng Hòa đã và đang sống đời Vong Quốc nơi hải ngoại, mà ngay cả những người còn ở lại cũng bị “lưu đày” trên chính Quê Hương, chỉ vì họ từng cầm súng chiến đấu chống quân xâm lăng Cộng sản Bắc Việt.

       

       

      Tạm kết

       

      Một mùa Xuân nữa lại về trên đất tạm dung, ở những vùng đất xa xôi, lạnh lẽo, nhìn những bông tuyết rơi qua khung cửa, người ta nói là “tuyết trắng đẹp”. Đúng là tuyết có đẹp và tuyết luôn luôn trắng. Trắng như những vành khăn tang đã chít lên mái đầu xanh, khi những bộ xương của các nạn nhân của Việt cộng đã được quật lên từ những hố, hầm tập thể trong cuộc thảm sát Tết Mậu Thân, 1968. Và trắng như những vành khăn tang của những người vợ trẻ, con thơ của những người Lính, dù đã chết, nhưng khẩu súng vẫn còn nguyên vẹn trên tay - Những người Lính đã xuôi tay, nằm trơ trọi vào thời điểm trước và sau ngày 30/04/1975. Và tuyết cũng trắng như những vành khăn tang của những người vợ, người con của các vị là Quân-Cán-Chính Việt Nam Cộng Hòa, đã bị xử bắn nơi núi rừng hoang lạnh, bị đánh đập, hành hạ, bỏ đói cho tới chết, trong lúc đôi chân vẫn còn trong đôi cùm sắt giữa mùa Xuân, trong phòng biệt giam, tối tăm, lạnh lẽo ở trong các nhà tù “cải tạo”!

       

      Thế nhưng, Người Lính Việt Nam Cộng Hòa, dẫu chết đi, chết trong nhà tù, chết trong những thảm cảnh, đau đớn, bi thương; Song những hình ảnh oai hùng như tác giả Nguyễn Quân đã viết:

       

      “Từ 1970 đến nay vẫn chưa nước nào hay quân đội nào dám chủ động tấn công Trung cộng, chỉ có Việt Nam Cộng Hòa là quốc gia duy nhất dám đánh Trung cộng vào năm 1974. Thời điểm nổ ra trận hải chiến bảo vệ Hoàng Sa, để bảo vệ chủ quyền của Tổ Quốc thì Việt Nam Cộng Hòa là bên chủ động và khai hỏa tấn công truớc vào các chiến hạm của Trung cộng!”

       

      Quả đúng như vậy, Người Lính Việt Nam Cộng Hòa đã khai hỏa, nhắm và bắn thẳng vào quân hung tàn, xâm lăng Trung cộng, kẻ thù truyền kiếp của dân Tộc trong trận Hải Chiến Hoàng Sa, 1974.

       

      Người Lính Việt Nam Cộng Hòa với những chiến công lừng lẫy, qua những trận chiến trên khắp Bốn Vùng Chiến Thuật, đã khiến cho quân thù phải bạt vía, kinh hồn vẫn ngời sáng, vẫn sống! Sống mãi cùng sông núi. Sống trong lòng của người dân Việt Nam biết yêu Quê Hương. Và dẫu cho đến ngàn sau, trang Sử Xanh của nước Việt Nam vẫn đời đời ghi khắc!

       

       

      Xuân Tân Sửu 2021

      Hàn Giang Trần Lệ Tuyền




--
====================================================================
Trên Facebook :
http://www.facebook.com/DaiHocKhoaHocSaiGon
====================================================================
 
Bạn đã nhận được bài viết này vì bạn đã đăng ký vào Nhóm "KhoaHocSG" của Google Groups.
* Để đăng bài lên nhóm này, hãy gửi email đến "khoa...@googlegroups.com"
* Để RÚT TÊN ra khỏi nhóm này, gửi email đến "khoahocSG+...@googlegroups.com"
* Để có thêm tuỳ chọn (preference set up), hãy truy cập vào nhóm này tại: http://groups.google.com/group/khoahocSG?hl=vi
---
Bạn nhận được thư này vì bạn đã đăng ký vào nhóm Google Groups "KhoaHocSG".
Để hủy đăng ký khỏi nhóm này và ngừng nhận email từ nhóm, hãy gửi email đến khoahocsg+...@googlegroups.com.
Để xem cuộc thảo luận này, hãy truy cập vào https://groups.google.com/d/msgid/khoahocsg/MN2PR02MB6592C0E60576F94D95C9B4AEFC77A%40MN2PR02MB6592.namprd02.prod.outlook.com.
Reply all
Reply to author
Forward
0 new messages