Fwd: ĐIỂM TIN DIỄN ĐÀN 26-01-2026 (SỐ 018-2026)

7 views
Skip to first unread message

Giu Tran

unread,
Jan 26, 2026, 11:57:25 PMJan 26
to


---------- Forwarded message ---------
From: soan....@hotmail.com <soan....@hotmail.com>
Date: Mon, Jan 26, 2026 at 7:47 AM
Subject: ĐIỂM TIN DIỄN ĐÀN 26-01-2026 (SỐ 018-2026)
To:




GOOD MORNING VIET NAM - CANADA - USA

ĐIỂM TIN DIỄN ĐÀN 26-01-2026  (SỐ 018-2026)

Image insérée

Image insérée



MỤC LỤC

  1. TIM NỒNG: TRỌN VẸN TRONG THÂN THỂ KHÔNG TRỌN VẸN
  2. Kỵ binh quân lực Việt Nam Cộng Hòa và những trận xa chiến mùa hè đỏ lửa 1972
  3. CÓ NHỮNG NIỀM RIÊNG LÀM SAO NÓI HẾT...
  4. 3 người trên sân ga
  5. Chuyện người đàn ông vô gia cư sử dụng 100 đô la được cho thế nào? 

  6. Những mẫu chuyện không quên - TRỐN TRẠI!
  7. Nam Cực và Bắc Cực khác nhau như thế nào?
  8. Những Bài Hát Của Một Thời Binh Lửa
  9. Nhật Trường Trần Thiện Thanh, người viết sử thi cho nhạc lính
  10. Lòng Hồ Sông Mực




TIM NỒNG: TRỌN VẸN TRONG THÂN THỂ KHÔNG TRỌN VẸN
  • Vài dòng tiểu sử Cựu Đại Úy QUÁCH VĨNH TRƯỜNG:

    Xuất thân từ gia đình công chức trung lưu, nghèo, đông con.

    Cấp tiểu học:học sinh trường Tiểu học Cầu Kho

    Cấp trung học: trường trung học Petrus Trương Vĩnh Ký

    Cấp đại học: Đại học Khoa Học Sài Gòn

    Tình nguyện gia nhập khóa 20 Nguyễn Công Trứ, Trường VBQGVN, ngày 5/12/1963.

    Tốt nghiệp ngày 20 tháng 11 năm 1965.

    Tháng giêng/ 1966 trình diện phục vụ tại Sư đoàn 7 Bộ Binh, được bổ nhiệm giữ chức vụ Đại đội trưởng Đại đội 3, Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 12.

    Ngày 4 tháng 9 năm 1966 bị trọng thương tại xóm Ba Giang, thuộc tỉnh Gò Công, Được điều trị tại Tổng Y Viện Cộng Hòa & Bnh viện Grall của Pháp.

    Được QĐ số 600/TTM/ND của Thủ tướng Trần Văn Hương ký ngày 8 tháng 11 năm 1968 được Trung tướng Trần Văn Trung thuyên chuyển về Cục Tâm Lý Chiến và được Thiếu tá Phạm Hậu nhận về phục vụ tại Đài Tiếng Nói Quân Đội từ 1968 đến đầu 1975.

    Đầu 1975, phục vụ với chức vụ Tham Vụ tại Nha Địa Ốc, thuộc Tổng Cục Phát triển Gia Cư cho đến cuối tháng 4-1975, mất quyền công dân, sinh sống bằng nghề bán bánh mì dạo trong khu phố Cư xá Lữ Gia & chợ Nguyễn Tri Phương.

    Ngày QLVNCH 19 tháng 6/1968 được định cư tại Hoa Kỳ theo diện Tỵ Nạn chính Trị.

    Đàtốt nghiệp nghành Hội Họa VISUAL ART, PHOTO RETOUCHING & GRAPHIC DESIGN AND PRINTING tại Hoa Kỳ.

    Hiện sống vui cùng gia đình & con cháu tại miền Nam California.

    ************************* 

    “Bước vào trong nhà, tôi nhìn thấy: hai tấm Huân Chương với hàng chữ “Tổ Quốc Tri Ân” có dấu ấn của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa được đóng khung trang trọng giữa phòng khách, và những bức tranh sơn dầu thật đẹp treo trên tường của hoạ sĩ chủ nhà, cựu đại úy Quách Vĩnh Trường, người thương phế binh đã mất đi:
    -cánh tay trái
    -chân trái
    -ngón tay cái của bàn tay mặt
    -bể xương gò má
    -và bị thủng cả hai màng nhĩ.
    ******
    "Năm 1965 Cựu Đại úy Quách Vĩnh Trường tốt nghiệp Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt khóa 20.
    Năm 1966, trong lúc đang phân công tác tại bộ chi huy ở Gò Công thì bị Việt Cộng quăng lựu đạn vào căn cứ. Khi thấy quả lựu đạn, ông đã hét lớn kêu mọi người nằm xuống rồi CHẠY ĐẾN ĐÁ cho quả lựu đạn văng ra ngoài.
    Không ngờ lựu đạn nổ tung, làm cho ông bị thương tật rất nặng NHƯNG ĐÃ CỨU SỐNG được gần 30 đồng đội hiện diện nơi đó. Ông đã phải nằm bịnh viện hơn một năm và không ai tin ông có thể sống sót. Năm ấy ông vừa tròn 26 tuổi !
    Ngưỡng mộ chàng thanh niên anh hùng, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đích thân đến Tổng Y Viện Cộng Hòa gắn Đệ Ngũ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương kèm Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu để tưởng thưởng sự hy sinh cao cả của ông.
    Khi xuất viện, ông được cho giải ngũ với mức độ tàn phế 170% nhưng ông đã tìm mọi cách để XIN TIẾP TỤC Ở LẠI PHỤC VỤ trong quân đội.
    Vì là người đầu tiên xin ở lại sau khi được giải ngũ, ông đã gặp nhiều khó khăn nhưng ông vẫn kiên trì cho đến khi được Thủ Tướng Trần Văn Hương ký giấy chấp thuận.
    Ông về làm việc tại đài Phát Thanh Quân Đội với chức vụ Truởng ban nghiên cứu từ năm 1968 đến 1975.
    Vừa làm việc vừa ghi danh học tại Đại Học Luật Khoa Sài Gòn, ông đã tốt nghiệp THỦ KHOA Luật ngành tư pháp năm 1974.
    Trong những năm ở trường Luật, ông quen biết cô Nguyễn thị Bích Kiều, một sinh viên xinh đẹp xuất thân từ một gia đình giàu có tiếng tại Long An. Một lần trong lúc đi xe bus đến trường ông đã bị té, bị thương và cô Bích Kiều TÌNH NGUYỆN giúp đỡ đưa đón ông bằng xe nhà trong suốt năm học cuối của trường luật.
    Sau biến cố 30 tháng 4, 1975 ông bị chính quyền Cộng Sản ghép vào tội làm gián điệp và quản chế rất gắt gao. Ông mưu sinh bằng cách lấy bánh mì tại lò rồi đi bán cho cư dân vùng lân cận. Cô Bích Kiều VẪN LUÔN ở bên cạnh giúp đỡ ông.
    Năm 1977, bất chấp sự chống đối của gia đình, cô Bích Kiều cương quyết thành hôn với ông và ông bà đã sống hạnh phúc đến ngày hôm nay.
    Năm 1982 ông bà hạ sinh một người con trai đặt tên là Quách Vĩnh Tiến.
    Năm 1986 gia đình ông bà định cư tại Hoa Kỳ dưới dạng tị nạn chính trị.
    Khi đến Mỹ ông ghi danh vào đại học ngành hội họa, học cách phục hồi hình ảnh hư cũ và học Graphic design. Với kiến thức về Photoshop, ông đã đóng góp rất nhiều trong việc phục hồi những bức hình hư hại vì thời gian cho cuốn “Lược Sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà” dầy 900 trang của cựu Đại tá Trần Ngọc Thống, cựu Thiếu tá Hồ Đắc Huân và cựu Trung uý Lê Đình Thụy đồng soạn và xuất bản năm 2012. Ông cũng giúp phục hồi hình ảnh, giấy tờ, tài liệu, giúp nhiều cựu quân nhân VNCH hoàn tất hồ sơ HO.
    Noi gương cha, sau khi tốt nghiệp cao học ngành Tâm lý học, Quách Vĩnh Tiến con trai đã gia nhập Quân Đội Hoa Kỳ.
    Năm 2010 Quách Vĩnh Tiến được bầu chọn là chiến sĩ xuất sắc nhất Tiểu bang California.
    Năm 2018 Quách Vĩnh Tiến được báo Quân Đội Hoa Kỳ vinh danh là người phục vụ cho cựu chiến binh Hoa Kỳ xuất sắc nhất.
    Quách Vĩnh Tiến lập gia đình với một nữ quân nhân Hoa Kỳ thuộc binh chủng Thủy Quân Lục Chiến và có một cháu gái.
    Năm 2003 bác sĩ cho biết ông Quách Vĩnh Trường bị ung thư ruột.
    Năm 2016 bác sĩ lại cho biết ông bị ung thư nhiếp hộ tuyến.
    Với ý chí can trường “không đầu hàng nghịch cảnh”, ông đã vượt qua tất cả và ngày nay bác sĩ cho biết ông KHÔNG CÒN dấu hiệu ung thư.
    Năm nay ông 83 tuổi. Thuợng đế đã bắt ông sống với một thân thể không lành lặn nhưng ĐÃ BAN cho ông vị thiên thần khả ái Nguyễn thị Bích Kiều, một người bạn học, bạn đời, KHÔNG MÀNG LỢI DANH luôn đi bên cạnh yêu thương và ủng hộ ông.
    Năm ngoái khi chúng tôi có dịp ghé thăm ông bà, vẫn với gương mặt hiền lành và giọng nói từ tốn, ông cho chúng tôi xem hình ông chụp cháu nội và nói :
    – “ Bé Sydney Vĩnh Quách năm nay mới 4 tuổi nhưng đã nói khi lớn cháu muốn gia nhập Quân Đội như ông nội và bố mẹ”.
    Cô bé thường ôm hôn lên cánh tay cụt của ông và nói :
    – “Ông ơi, con rất yêu ông, con muốn giống ông, ông là một anh hùng”
    Xin gởi đến anh hùng Quách Vĩnh Trường và tất cả các cựu quân nhân của Quân Lực VNCH lời tri ân sâu sắc nhất nhân dịp kỷ niệm ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà 19 tháng 6."
    (Trích từ bài viết của Hạ Lan Anh) (19-6-2023)
     



    Kỵ binh quân lực Việt Nam Cộng Hòa và những trận xa chiến mùa hè đỏ lửa 1972

    • Từ sau khi có sự xuất hiện của những xe tăng loại T54 nặng 35 tấn của binh đội Bắc Việt trên chiến trường Hạ Lào, Bộ Tư Lệnh Quân Sự Hoa Kỳ tại Việt Nam MACV đã nghĩ đến một kế hoạch phát triển binh chủng Thiết Giáp của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa lên một tầm vóc tương xứng với cường độ ngày càng khốc liệt của chiến cuộc. Với sự xuất hiện của T54, PT76, BTR85 đã cho thấy dấu hiệu sớm muộn gì Thiết Giáp của chúng ta cũng phải có những cuộc đối đầu trực tiếp với thiết giáp Bắc Việt. Những chiến xa hạng nhẹ M41 và thiết kỵ M113 trên nguyên tắc, không thể so sánh và đương cự được với T54, cần phải có một loại chiến xa có tầm vóc và hỏa lực tương đương, từ đó sự cần thiết phải thành lập thêm một hay nhiều thiết đoàn đặc biệt nữa là điều rất rõ ràng. 
      Lực lượng Kỵ Binh bảo vệ vùng giới tuyến khu phi quân sự phía Nam vĩ tuyến 17 và sông Bến Hải, phía Việt Nam Cộng Hòa chỉ có 3 Thiết Đoàn 7, 11 và 17 Kỵ Binh bao quát một vùng lãnh thổ bao la hai tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên. Trong khi đó, lực lượng Kỵ Binh hùng hậu của Hoa Kỳ đang dần dần rút về nước, Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa nhận định rằng, phải cần ít nhất 1 thiết đoàn chiến xa nặng để làm lực lượng trừ bị, hầu đáp ứng tức khắc nhu cầu chiến trường của phía Bắc và Tây Vùng 1 Chiến Thuật (ngày 1/7/1970, bốn Vùng Chiến Thuật được cải danh thành bốn Quân Khu). Phía Hoa Kỳ đã chọn lựa chiếc M48 mà lúc đó đã được dùng rộng rãi từ lâu trong các đơn vị chiến xa Mỹ trên chiến trường Việt Nam. Bộ Tổng Tham Mưu quyết định thành lập Thiết Đoàn 20 Kỵ Binh chiến xa nặng trong một Sự Vụ Văn Thư ngày 31/7/1971.
      Công cuộc huấn luyện thiết đoàn tân lập không phải dễ dàng và hết sức nhiêu khê. Chương trình giảng huấn được khởi đầu từ Căn Cứ Ái Tử ở phía Tây Bắc thành phố Quảng Trị và phía Bắc sông Thạch Hãn, nhưng tiến trình phát triển rất chậm chạp bởi nhiều trở ngại, đặc biệt là vấn đề bảo trì. Khoảng 60% M48 do Kỵ Binh Hoa Kỳ bàn giao lại đều bị nhiều hư hỏng vượt quá khả năng sửa chữa của các Kỵ Binh Việt Nam. Cơ phận thay đổi và sách kỹ thuật đều đã mất tất cả, rồi sự khác biệt ngôn ngữ cũng là chuyện đau đầu cho huấn luyện viên Mỹ. Trong thời gian này thì Bộ Tổng Tham Mưu cũng đã soạn thảo kế hoạch thành lập một sư đoàn giới tuyến là Sư Đoàn 3 Bộ Binh vào cuối tháng 10/1971, nhưng MACV không bảo trợ dự án này. Tuy vậy, nhu cầu cấp bách thay thế các sư đoàn Bộ Binh Hoa Kỳ rút đi đã buộc Bộ Tổng Tham Mưu gấp rút thành lập Sư Đoàn Hỏa Tuyến. Trung Đoàn 2 Bộ Binh và Thiết Đoàn 11 Kỵ Binh thiện chiến của Sư Đoàn 1 Bộ Binh được điều động qua làm cái cột xương sống chủ lực cho Sư Đoàn 3 để dìu dắt 2 Trung Đoàn 56 và 57 non trẻ.
      Ngày 1/2/1972, chương trình huấn luyện chiến thuật hành quân Kỵ Binh được tổ chức trên những ngọn đồi phía Tây thành phố Quảng Trị và đã được lượng giá rất cao khi đến giai đoạn cuối. Chỉ có một khuyết điểm khá là quan trọng. Kỵ Binh Việt Nam đã không bảo trì đúng mức qui định trước, trong và sau khi hành quân. Khuyết điểm này dần dần được cải thiện, với tấm gương quân phong quân kỷ của Trung Tá Nguyễn Hữu Lý, Thiết Đoàn Trưởng, một sĩ quan Thiết Giáp cực kỳ gương mẫu và đầy tinh thần trách nhiệm. Trung Tá Lý luôn mặc quân phục thẳng nếp, tóc hớt ngắn, bút nịt đồng (khóa dây nịch) luôn sáng choang, giày đánh bóng đúng tiêu chuẩn quân trường. Ông yêu cầu binh sĩ, sĩ quan của ông cũng phải có tác phong như vậy. Mỗi Kỵ Binh phải hãnh diện được đứng dưới lá cờ của 1 binh chủng của những người quí phái theo truyền thống Kỵ Binh Pháp: Những Noble Man ngoại hạng dưới lá Quân Kỳ của Thiết Đoàn Chiến Xa M48.
      Nhưng trên hết, Trung Tá Lý luôn kiểm soát những con thần mã của ông và đòi hỏi các Kỵ Binh phải luôn chăm sóc chúng nó bóng loáng, vô dầu mỡ đầy đủ, đại bác 90 ly phải được thông nòng thường xuyên, cứ y như là đoàn quân của ông sắp sửa tham dự một cuộc diễn hành trong ngày Quân Lực 19/6 hay ngày Quốc Khánh 1/11. Nhiều sĩ quan cố vấn Kỵ Binh Hoa Kỳ đã rất nễ phục cung cách trân trọng chiến cụ của Trung Tá Lý. Với cung cách đó, tinh thần đó, chỉ với 50 chiếc M48 ít ỏi mà Thiết Đoàn 20 Chiến Xa đã viết nên thành những trang kỳ tích phi thường trong Mùa Hè Đỏ Lửa, khi đương đầu với hàng trăm chiến xa địch.Trước khi được đề bạt làm Thiết Đoàn Trưởng Thiết Đoàn 20 Chiến Xa, thì Trung Tá Lý đã là Thiết Đoàn Trưởng Thiết Đoàn 4 Kỵ Binh thuộc Sư Đoàn 2 Bộ Binh. Thiết Đoàn 4 Kỵ Binh được các nhà quân sử Thiết Giáp và cố vấn Hoa Kỳ ca ngợi là một thiết đoàn thiện chiến, bách thắng.
      Buổi sáng sớm ngày 30/3/1972, hàng trăm trái hỏa tiễn, súng cối và đại bác tầm xa của cộng sản Bắc Việt đã đồng loạt dội những cơn bão pháo khủng khiếp xuống tất cả những căn cứ của Sư Đoàn 3 Bộ Binh và Lữ Đoàn 147 Thủy Quân Lục Chiến trên vòng đai phía Bắc và Tây Quảng Trị và dọc theo Quốc Lộ 1 trong vùng các quận Gio Linh, Cam Lộ và Đông Hà. Căn Cứ Ái Tử, nơi đặt Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 3 Bộ Binh của Chuẩn Tướng Vũ Văn Giai cũng hứng pháo.
      Lần đầu tiên, quân ta nghe tiếng départ rất lạ của một loại pháo, chưa kịp phán đoán và xoay sở ra sao, thì những tiếng nổ chát chúa kinh hồn đã bao trùm lên căn cứ. Khoảng cách giữa tiếng đầu đạn được tống đi và tiếng chạm nổ cực kỳ ngắn, ngắn đến nỗi vừa nghe tiếng bắn đi thì tiếng nỗ đã vỡ bùng ra, đất đá, cát bụi cuốn tung mù mịt. Đó là loại đại pháo sơn chiến 130 ly lần đầu tiên được cộng quân sử dụng trên chiến trường Miền Nam. Sư Đoàn 3 Bộ Binh được chọn làm mục tiêu đầu tiên. Hà Nội muốn ngay trong những loạt đạn đầu dành cho những chiến sĩ giới tuyến sự ngạc nhiên và hoảng hốt cực độ.
      Trong cơn bão lửa đại pháo đó, 30 ngàn quân cộng sản Bắc Việt thuộc các Sư Đoàn 304, 308, hợp cùng 400 chiến xa đủ loại thuộc 2 trung đoàn thiết giáp, 5 trung đoàn pháo binh, 3 trung đoàn bộ binh độc lập, 1 tiểu đoàn Đặc Công ồ ạt và hung hãn tràn qua sông Bến Hải uy hiếp các căn cứ  của quân ta và chia quân tiến đánh các quận Gio Linh, Đông Hà, Cam Lộ mở đầu cho cuộc tổng tấn công trên khắp 4 quân khu Việt Nam Cộng Hòa. Quân số tổng cộng của địch tương đương 6 sư đoàn.
      (Các sử gia Việt lẫn Mỹ không cho biết cách thức quân Bắc Việt “tràn qua sông Bến Hải” như thế nào. Vượt sông bằng thuyền, phà, bè, ca nô, cầu phao...v.v..? Có thể là quân BV đã âm thầm chuyển quân từ Lào sang khu phi quân sự DMZ (Demilitarized Zone) ở sát phía Nam sông Bến Hải. Tại sao lại là bất ngờ, khi mà máy móc điện tử phát hiện chuyển động ồ ạt, rầm rộ của quân địch, của quân Mỹ rất chính xác và tinh xảo. Và không ảnh nữa? Phải đợi đến khi quân địch tràn ngập Nam Bến Hải, Không Quân và Hải Pháo Hoa Kỳ mới can thiệp giúp Sư Đoàn 3 của chúng ta. Có thể đây là kế dụ rắn ra khỏi hang để đập đầu chăng)?
      Những báo cáo khẩn cấp của các căn cứ tới tấp gửi về Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 3 Bộ Binh. Là 1 sư đoàn tân lập được thiết trí trấn giữ những căn cứ có nhiệm vụ an ninh chiến thuật hơn là đương đầu với 1 cuộc tổng tấn công liên binh chủng của cộng quân, các đơn vị nhỏ cấp tiểu đoàn của Sư Đoàn 3 Bộ Binh với vũ khí yếu kém và những pháo đội 105 ly không với tới được những vị trí pháo tầm xa của địch đã gồng mình chiến đấu trong một cuộc chiến qui ước mà Sư Đoàn chưa được chuẩn bị đầy đủ. Nhiều căn cứ đã phải xin lệnh rút lui. Pháo địch tiếp tục cày nát công sự chiến đấu mỏng manh của quân ta.
      Thiếu Tướng Nguyễn Văn Toàn, Chỉ Huy Trưởng Thiết Giáp kiêm Phụ Tá Hành Quân Quân Đoàn 1 đã lên trực thăng bay vào Căn Cứ Ái Tử họp với Chuẩn Tướng Vũ Văn Giai, người hùng Hạ Lào 719, Tư Lệnh Sư Đoàn 3 Bộ Binh. Tình hình càng lúc càng tồi tệ khi hầu như những căn cứ phía Tây khu phi quân sự đều thất thủ hay đã triệt thoái, nhưng Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 3 Bộ Binh vẫn chưa khẳng định được đâu là điểm tấn công chính của địch. Thiếu Tướng Toàn đề nghị Chuẩn Tướng Giai đừng sử dụng Thiết Đoàn 20 Kỵ Binh vội, mà hãy giữ lại làm lực lượng trừ bị sư đoàn, từ đó sẽ tung ra cuộc phản công khi cần thiết. Chuẩn Tướng Giai đồng ý và ra lệnh Trung Tá Nguyễn Hữu Lý dẫn dắt Thiết Đoàn về ngay Căn Cứ Ái Tử.
      Mặt trận hỏa tuyến bước sang ngày 1/4/1972, tin tức bất lợi từ những căn cứ hỏa lực đang hứng chịu những cơn bão pháo, những cuộc tấn công cường kích của bộ binh và xe tăng địch dồn dập gửi về Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 3 Bộ Binh. Hầu như không còn lực lượng nào còn hiện diện ở bờ Bắc con sông Hiếu Giang, sông Đông Hà và sông cửa Việt. Cả 3 con sông này chỉ là một, sông Hiếu Giang thượng nguồn xuất phát từ vùng núi cao Trường Sơn, nhưng khi nó chảy qua Đông Hà và Cửa Việt thì đã mang tên của địa danh đó. Hỏa lực yếu và trang bị chưa được đầy đủ của chiến sĩ Sư Đoàn 3 Bộ Binh khó thể chống ngăn hỏa lực quá mạnh của cộng quân, cộng thêm với thời tiết xấu ngăn cản Không Quân Việt – Mỹ yểm trợ, quân ta đã phải tháo lui ra khỏi các căn cứ. Hải pháo Hoa Kỳ ngoài khơi Quảng Trị đã hoạt động tích cực, làm chậm một phần nhỏ vận tốc tiến quân của địch. Hình ảnh tháo lui đó đã được báo chí, truyền thông Tây phương tô vẽ như là một cuộc bỏ chạy hoảng loạn. Nhưng thực sự thì những chiến sĩ thiện chiến của Trung Đoàn 2 Bộ Binh, thậm chí Trung Đoàn 57 Bộ Binh tân lập đã đánh thiệt hại nặng cho quân địch, trước khi chịu lìa khỏi những căn cứ mỏng manh của mình.
      (Chú thích: Trong những cuộc nói chuyện với những giới chức quân sự cao cấp, chúng tôi được biết không hẳn những đơn vị tân lập, như Trung Đoàn 57 chẳng hạn, quân số là hoàn toàn tân binh, mà có pha trộn những thành phần tác chiến nhiều kinh nghiệm. Thí dụ Trung Đoàn 2 của Sư Đoàn 1 Bộ Binh và Trung Đoàn 4 của Sư Đoàn 2 Bộ Binh sẽ san sẻ những tiểu đoàn tốt cho các Trung Đoàn 56, 57 của Sư Đoàn 3 Bộ Binh. Rồi từ những tiểu đoàn này lại san sẻ những đại đội, trung đội tốt cho các tiểu đoàn tân lập khác.Cứ thế xuống dần đến cấp tiu đội. Nên rất dễ dàng thấy rằng, dù tân lập nhưng Trung Đoàn 57 cùng Tiểu Đoàn 3 Sói Biển TQLC anh dũng chận 6 sư đoàn địch tại chiến tuyến Đông Hà trong ròng rã 30 ngày và rút lui ngày 30/4/1972, đã mua được thời gian cho quân tiếp viện ra đến Quảng Trị. Bộ Tổng Tham Mưu cũng yêu cầu Sư Đoàn 9 Bộ Binh ở Miền Tây gởi cho SĐ3BB một tiểu đoàn thiện chiến, nhưng Bộ Tham Mưu của Sư Đoàn 9 “phớt lờ” không gởi ai đi cả, rồi lệnh cũng được cho chìm xuồng luôn).
      Trung Đoàn 2 và 57 Bộ Binh lập kỳ công, cùng với Địa Phương Quân Quảng Trị và Tiểu Đoàn 3 Thủy Quân Lục Chiến, trong suốt 30 ngày dài của tháng 4/1972, các chiến sĩ đã chận đứng bước tiến công vũ bão của địch tại chiến tuyến Đông Hà. Cũng chính là ở tại Đông Hà, đoàn kỵ mã bóng loáng của Trung Tá Nguyễn Hữu Lý đã bắn cháy nhiều chiến xa địch, góp phần kéo dài thời gian chờ viện binh ra mở cuộc phản công.
      Chuẩn Tướng Vũ Văn Giai, Tư Lệnh mặt trận, sáng ngày 1/4/1972 đã điều động Thiết Đoàn 20 Kỵ Binh lên Cam Lộ tiếp ứng cho Thiết Đoàn 11 Kỵ Binh của Sư Đoàn 3 Bộ Binh giải tỏa áp lực địch dọc theo Quốc Lộ 9 từ Ái Tử đi Cam Lộ và Căn Cứ Carroll (Tân Lâm) của Trung Đoàn 56 Bộ Binh. Cùng hành quân với Thiết Đoàn 20 Kỵ Binh là Tiểu Đoàn 3 Sói Biển Mũ Xanh của Thiếu Tá Lê Bá Bình. Trung Tá Lý chở quân Mũ Xanh băng đường đồng ở hướng Tây Nam Đông Hà. Trên con đường này, các đơn vị 20 Chiến Xa đã bất ngờ chạm trán với một lực lượng phục kích địch mà đang chờ đoàn xe của quân ta.
      Các chiến sĩ Mũ Đen và Mũ Xanh đã nhanh chóng hủy diệt lực lượng này. Chúng làm sao đương cự nỗi với thành phần ưu tú của các Kỵ Binh về qui tụ dưới cờ của Thiết Đoàn 20 Kỵ Binh, và Tiểu Đoàn 3 Sói Biển Mũ Xanh. Tù binh đã cung khai rằng chúng thuộc thành phần của trung đoàn chiến xa địch có nhiệm vụ đi theo bộ đội để tịch thu và lái chiến xa của quân ta. Đoàn thiết mã M48 tiếp tục xông lướt về hướng Cam Lộ, mà từ xa đã trông thấy những cột lửa khói bốc lên ngùn ngụt.
      Buổi sáng sớm ngày 2/4/1972, Thiết Đoàn 20 Chiến Xa nhận được báo cáo, rằng hàng chục ngàn quân bộ binh và hàng trăm xe tăng Bắc Việt ầm ầm tiến xuống uy hiếp Đông Hà, đã đưa đến mệnh lệnh của Chuẩn Tướng Giai gọi Thiết Đoàn 20 Chiến Xa và Tiểu Đoàn 3 Thủy Quân Lục Chiến phải cấp tốc trở lại, rồi sẽ vượt qua bờ Bắc cầu Đông Hà để nghênh chiến với T54 địch. Thiết Đoàn 20 Kỵ Binh lại hối hả chở Tiểu Đoàn 3 Thủy Quân Lục Chiến theo Quốc Lộ 9 về hướng Đông. Làn sóng đồng bào hãi sợ cộng sản vẫn cuồn cuộn chy trên đường, đoàn thiết mã lại phải đánh một vòng theo hướng Tây Nam bọc dưới thị trấn Đông Hà rồi tiến lên hướng Đông để đi qua cây cầu Đông Hà. Nhưng khi đã đến được phía Nam cầu Đông Hà, thì phía bờ Bắc cầu, quân địch đang rầm rộ xông tới, đã có thể nghe tiếng xích sắt xe tăng địch nghiến trên con đường nhựa Quốc Lộ 1 rổn rảng đến buốt óc.
      600 chiến sĩ Mũ Xanh đã đào hầm hố bên bờ Nam sông Đông Hà, cấp tốc thiết lập ngay 1 chiến tuyến dài 500 thước, tính trung bình cách 1 thước là một cái hố chiến đấu. Chiến tuyến Đông Hà ngăn chống đạo quân Sư Đoàn 304, 308 và 2 trung đoàn xe tăng cộng sản Bắc Việt chỉ có thế, chiều sâu phòng thủ của chiến tuyến không quá 4 tấc, tức là bề dầy thân thể của một người lính Thủy Quân Lục Chiến. Nhờ chiến tuyến này mà Chuẩn Tướng Giai đã có thể điều động Trung Đoàn 2 và 57 Bộ Binh của ông rải quân hai bên Tiểu Đoàn 3 Sói Biển về hướng Tây đến gần Cam Lộ và về hướng Đông ra đến biển tiếp giáp với tuyến của Địa Phương Quân – Nghĩa Quân Quảng Trị ở Cửa Việt. Cuộc quyết chiến Đông Hà bắt đầu.
      Trung Tá Nguyễn Hữu Lý, Thiết Đoàn Trưởng 20 Chiến Xa đã phối trí 50 chiếc M48 để chống với ít nhất 200 chiến xa cộng quân như sau:
      - Chi Đoàn 1/20 của Đại Úy Đặng Hữu Xứng lên trấn giữ một cao địa 3 cây số hướng Tây Đông Hà để kiểm soát hướng xâm nhập của địch từ Cam Lộ trên Quốc Lộ 9 và từ Tỉnh Lộ 559. Cao điểm này cây cối rậm rạp nhưng tầm quan sát rất thoáng và xa đến nhiều cây số.
      - Chi Đoàn 2/20 của Đại Úy Hà Mai Khuê di chuyển về phía Nam Đông Hà để theo dõi những chuyển biến trên Quốc Lộ 1 phía sau lưng và sẵn sàng cơ động khi cần.
      - Chi Đoàn 3/20 của Đại Úy Đoàn Chí Sanh rải quân bên trong thị trấn Đông Hà để trực tiếp đương đầu với bộ binh và thiết giáp địch, ngăn chận không cho chúng tràn qua cầu. Nhiệm vụ của Chi Đoàn thật nặng nề, chỉ với hơn chục chiếc M48 mà phải đánh nhau với hàng trăm chiến xa địch.
      Buổi trưa cùng ngày, các chiến sĩ Chi Đoàn 1/20 đang trông chừng hoạt động địch ở hướng Tây Quốc Lộ 9, thình lình đã phát hiện một đoàn xe tăng đông đảo của cộng quân đang rùng rùng tuôn xuống Quốc Lộ 1 về phía hướng Bắc cầu Đông Hà. Những máy ngắm tối tân của M48 đã có thể nhìn thấy xe tăng địch ít nhất từ 3 miles trước khi chúng nhìn thấy quân ta. Cẩn thận hơn, Đại Úy Đặng Hữu Xứng cho con cái ông ẩn núp và ngụy trang dưới những chòm cây thấp rậm rạp trên đồi. Đoàn chiến xa địch kéo thành một hàng dọc nối nhau ầm ầm di chuyển trên con lộ. Quân địch mới gặt hái vài chiến thắng ban đầu trong những ngày qua đã tỏ ra rất kiêu ngạo, tưởng rằng đã có thể dẫm nát cỏ Miền Nam dưới những chiếc dép râu và sẽ vào “tiếp thu” Đông Hà dễ dàng. 
      Được trang bị bằng cái án tử hình đó, đoàn chiến xa địch đã vào vùng tử địa mà không hề hay biết. Những chiếc máy nhắm Rangefinder của M48 có thể nhìn thấy xe tăng địch rất rõ ràng từ hơn 3 dặm (khoảng 4 km 8). Trên màn hình máy tính, chiếc xe tăng địch đã nằm ngay điểm tác xạ hữu hiệu. 11 chiếc M48 đã chọn xong cho mình một “con mồi” trong đám T54 và PT76. 
      Khi đoàn xe tăng địch đã lọt vào trong khoảng cách 2 cây số rưỡi đến 3 cây số, những khẩu đại bác  90 ly của Chi Đoàn 1/20 đã đồng loạt dậy lên những chuỗi sấm rền của trừng phạt. Trong giây phút ngắn ngủi, nhiều tiếng nổ chát chúa và những cột lửa đỏ đã vỡ bùng lên trong đội hình chiến xa địch: 9 chiếc PT76 và 2 chiếc T54 bị hủy diệt, có nghĩa là tất cả 11 xe M48 của Chi Đoàn 1/20 đã có một cuộc thực tập tác xạ thực địa đạt đến 100% hiệu quả. Đội hình địch hỗn loạn ngay, bộ binh ôm súng nháo nhác chạy túa ra mọi hướng. Những lái xe chiến xa địch phía sau cuống cuồng quày xe chạy lung tung trên cánh đồng cát giữa những cơn gió Lào nóng nung người làm đích nhắm thực tập tác xạ của những M48. Những chiếc xe tăng địch may mắn sống sót đã hối hả quày đầu chạy trở ngược về hướng Bắc. Trong điện đàm vô tuyến của địch, hiệu thính viên của ta đã nghe được những báo cáo hốt hoảng của cấp chỉ huy đoàn thiết giáp địch, đã bối rối không hiểu tại sao có những loạt đạn lạ dội lên đội hình chiến xa, mà chẳng trông thấy hay biết được hướng xuất phát, và cho là loại vũ khí tối tân mới của Hoa Kỳ. Viên chỉ huy địch bị cách chức.
      Thiếu Tá Hà Mai Khuê (lúc đó là Đại úy Chi Đoàn Trưởng 2/20 Kỵ Binh) đã chỉ huy đơn vị của mình trong trận đánh phối hợp tại căn cứ Phượng Hoàng ngày 9 tháng Tư năm 1972 (trong chiến dịch phản công Hè đỏ lửa tại tuyến đầu Quảng Trị) tiêu diệt khẩu đại liên 12.8 mm cộng sản trên pháo tháp chiếc tăng Morinco Type 59 (danh số ẩn tế T-59 của Trung cộng (Chinese MBT/ Morinco Battle Tank) từ trí tuệ kỹ thuật chiếc T-54 của Liên xô, nói cách khác là "hàng nhái", sở trường của Trung cộng) và ngay sau đó trọn xa đội và đơn vị tùng thiết của quân Bắc Việt bị đơn vị TQLC trong phối hợp hành quân tiêu diệt và chiếc chiến xa này bị chiến sĩ thiết giáp Chi Đoàn2/20 bắt sống. 
      Chiến lợi phẩm T-59 này được trưng bày trong cuộc họp báo quốc tế và triển lãm vũ khí tịch thu của cộng sản Hà Nội tại thủ đô Saigòn sau đó. 
      Giữa chiến thắng lớn ngày 2/4/1972, một tin nức lòng khác đã bay đến chiến tuyến Đông Hà. Lữ Đoàn 1 Kỵ Binh của Đại Tá Nguyễn Trọng Luật đang trên đường đến tăng viện mặt trận. Những chiến xa M41 và thiết vận xa M113 của Thiết Đoàn 17 Kỵ Binh từng bắn hạ xe tăng địch trên chiến trường Hạ Lào giờ đây sẽ có cơ hội lập lại chiến tích đó. Đại Tá Luật được Chuẩn Tướng Giai ủy nhiệm làm Tư Lệnh mặt trận Đông Hà, chỉ huy Thiết Đoàn 20 Kỵ Binh, Thủy Quân Lục Chiến và Bộ Binh. Khi được biết trước đó Sư Đoàn 3 Bộ Binh đã hai lần đặt mìn giật sập cầu Đông Hà nhưng không phá hủy nổi, Đại Tá Luật quyết định giữ nguyên cây cầu để chờ cơ hội vượt qua phản công. 
      Quyết định này lại do một phần lớn từ một kỳ công phi thường của một người lính Thủy Quân Lục Chiến. Trung Sĩ  Huỳnh Văn Lượm nằm sau những chiếc thùng gỗ Pháo Binh đầy cát, với 2 khẩu M72 đã bắn hư hại pháo tháp một T54 khi nó định vượt cầu xông qua, đã làm cho toàn đội hình chiến xa địch phải chạy trở về hướng Bắc vài cây số án binh bất động chờ lệnh. Rồi tiếp theo là cuộc xa chiến 2/4/1972 hủy diệt nhiều chục chiếc nữa, đã làm cho đoàn quân xâm lấn cộng sản hoàn toàn bị chận đứng tại chiến tuyến Đông Hà. Đại công này thuộc về Trung Sĩ Mũ Xanh Huỳnh Văn Lượm và Thiết Đoàn 20 Chiến Xa.
      Giữa lúc quân ta có vẻ thắng thế và Đại Tá Luật có thể đưa đoàn thiết mã của ông xông qua cầu đánh đuổi giặc, thì một sự kiện bất lợi không mong muốn đã xảy ra. Một chiếc phản lực cơ Hoa Kỳ bị phòng không địch bắn rơi, viên phi công nhảy dù rơi xuống vùng kiểm soát của địch. Phía Hoa Kỳ yêu cầu Quân Đoàn 1 ra lệnh cho quân ta không dội hỏa lực xuống điểm rơi một khu vực có đường bán kính chừng 27 cây số tính từ Đông Hà nhiều tiếng đồng hồ, để phi cơ trực thăng tìm cứu người phi công. Khu vực ngưng bắn này bao phủ hầu hết diện tích phía Bắc cầu Đông Hà, quân ta không làm gì được, chỉ có thể bất lực nhìn đoàn quân cộng sản thong dong tiến xuống phía Nam. Cho đến 10 giờ đêm, lệnh ngừng bắn mới được hủy bỏ, thì quân ta đã bị lấy mất thế thượng phong, cuộc phản công của Đại Tá Luật không bao giờ có nữa, khi mà chiếc cầu Đông Hà cuối cùng cũng đã bị phá sập để ngăn chận đoàn chiến xa địch.
      Hoạt động của quân địch trong vài ngày kế tiếp tương đối nhẹ, tuy rằng đã tổ chức vài cuộc tấn công bộ binh sau những trận pháo dập dữ dội. Tiền sát viên pháo binh Bắc Việt luôn bám sát gần vị trí của quân ta, nên mức độ chính xác rất cao và gây thiệt hại không ít cho quân phòng thủ Đông Hà. Để tránh pháo, các đơn vị quân ta phải di chuyển thường xuyên, nhưng được một thời gian thì pháo địch vẫn cứ ùng oàng dội xuống ngay giữa vị trí. Điều đó chứng tỏ tiền sát viên pháo binh Bắc Việt bám rất sát mọi cử động của quân ta, nhưng phía ta lại không thể phát giác được chúng. 
      Ngày 3/4/1972, quân ta phát hiện một chiếc xe Jeep cứ chạy lên chạy xuống khu vực gần thị trấn Đông Hà trông rất khả nghi, bèn bao vây bắt giữ nó. Trên xe là một tiền sát viên Việt cộng ăn mặc giả dạng sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa, có máy truyền tin liên lạc, trong người hắn có nhiều giấy tờ quân vụ với nhiều tên khác nhau, có lẽ là lấy được trên xác những tử sĩ Việt Nam Cộng Hòa. Đó chỉ là một trong hàng trăm cuộc giả mạo của Việt cộng, nhiều lúc chúng ăn mặc áo rằn ri của quân ta nhưng lại hớ hênh mang dép râu. Hoặc nếu có mang giày thì khi cởi chân trần, nhìn hai cái lằn tréo của dép râu trên mu bàn chân, thì đích thực chúng là vẹm.
      Trận xa chiến lớn ngày 9/4/1972:                                    
      Cuộc xa chiến lớn thứ nhì đã nổ bùng lên trong ngày 9/4/1972, khi Thiết Đoàn 20 Chiến Xa tham chiến, mà đã dậy lên niềm phấn chấn của quân ta trên khắp mặt trận Trị Thiên, Kontum và An Lộc. Chi Đoàn 1/20 ngày 3/4/1972 theo lệnh Trung Tá Nguyễn Hữu Lý di chuyển lên những cao địa về hướng Tây Đông Hà thêm vài cây số để khống chế giao lộ giữa Quốc Lộ 9 và Tỉnh Lộ 559. Một cánh quân địch với bộ đội và thiết giáp hùng hổ vượt cầu Cam Lộ tiến về Đông Hà. 
      Muốn chiếm Đông Hà thì phải đánh Căn Cứ Phượng Hoàng do Tiểu Đoàn 6 Thủy Quân Lục Chiến trấn giữ. Căn Cứ Phượng Hoàng, giống như những căn cứ trên vùng phi quân sự, không có những công sự kiên cố, mà chỉ là những đường giao thông hào, hầm hố. Bộ chỉ huy Tiểu Đoàn trú trong những chiếc thùng Conex, do Công Binh thiết lập, nối liền và được đào âm xuống lòng đất một nửa. Một bãi mìn chống chiến xa được thiết trí phía Tây căn cứ. 
      Cuộc hủy diệt thảm khốc ngày 2/4/1972 được lập lại, khi đoàn xe tăng địch vào tầm tác xạ 2,800 thước của Chi Đoàn 2/20 Chiến Xa của Đại Úy Kỵ Binh Hà Mai Khuê tiếp viện Tiểu Đoàn 6 TQLC. Khi hàng loạt đại bác 90 ly bắn cháy nhiều chiến xa địch, những chiếc còn lại đã hoảng loạn chạy xuống những cánh đồng ruộng khô, làm mục tiêu cho hàng trăm khẩu M72 của Tiểu Đoàn 6 Thần Ưng TQLC. Khi trận chiến tàn, 16 chiếc T54 bị bắn cháy nằm la liệt khắp Căn Cứ, trên bãi mìn, ngoài vòng rào phòng thủ và trên đồng ruộng. 
      Một chiếc T59 do Trung cộng sản xuất bị bắt sống, quân ta lái ngay về Quảng Trị và đem về Huế triễn lãm.Trung Sĩ Kỵ Binh Phan Ngọc Tuấn, xa trưởng một chiếc M48 của Chi Đoàn 2/20 đã lập kỳ công khi anh bắn hạ nhiều T54 của địch. Một chiếc trốn chạy nấp sau một căn nhà trống, nhưng Trung Sĩ Tuấn đã dùng ống dòm trông thấy cần ăng ten của nó lấp ló, anh chơi một phát đại bác 90 ly thổi văng cây đại liên 12 ly 7 trên pháo tháp và bắt sống chiếc tăng này. Nhưng cuộc đối đầu giữa hai lực lượng chiến xa đã có vài dấu hiệu bất lợi cho quân ta, khi cộng quân nhận được loại hỏa tiễn hữu tuyến cầm tay AT3 Sagger từ Liên Sô. AT3 được điều khiển bằng một cái cần giống như trò chơi game ngày nay, nó bay đến mục tiêu theo ý muốn của người điều khiển với vận tốc 120m/giây và tầm hữu hiệu 500 thước. AT3 đã bắn cháy 1 chiếc M48 và 1 chiếc M113. Tuy vậy, sau này nhận thấy tốc độ của AT3 khá chậm, nên Kỵ Binh của quân ta chờ cho nó tà tà bay đến gần sẽ khéo léo bẻ lái tránh. Chiếc hỏa tiển bay vèo tuốt luốt qua khỏi và nổ bùng, bởi người điều khiển nó không thể cho chiếc hỏa tiễn “quẹo” lại được. Nhưng AT3 rất ghê gớm, không bắn xe tăng thì nó bắn công sự nổ tung tan tành còn hơn B40, B41 nữa.
      Cũng nên nhắc lại một vài giai thoại lý thú trong trận xa chiến, với sự có mặt của Bác Sĩ Quân Y Trung Chỉnh, Y Sĩ Trưởng Tiểu Đoàn 6 TQLC. Ông người sinh trưởng tại Mỹ Tho, là sinh viên xuất sắc và hào hoa của Đại Học Y Khoa Sài Gòn, ông còn nổi danh là một ca sĩ tài danh, đã thu âm rất nhiều nhạc phẩm, từng song ca với nhiều nữ ca sĩ nổi tiếng như Hoàng Oanh.Chẳng những thế mà ông còn rất điêu luyện trong lãnh vực cổ nhạc, đàn lục huyền cầm không chê vào đâu được. Mùa hè năm 1972, vừa ra trường là ông đã chọn ngay binh chủng hào hùng Thủy Quân Lục Chiến, sống hùng sống mạnh nhưng không sống... lâu. Và ông đã được thảy ngay vào lò lửa Phượng Hoàng do Tiểu Đoàn 6 Mũ Xanh của Trung Tá Đỗ Hữu Tùng trấn đóng. 
      Những ký ức trận chiến Phượng Hoàng hãy còn tươi đậm trong lòng người y sĩ trẻ, thì trong cuộc đại phản công Lôi Phong của Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, tháng 8/1972, Trung Úy Trung Chỉnh lại cùng Tiểu Đoàn 1 Quái Điểu nhảy xuống Triệu Phong, cách thành phố Quảng Trị 2km về hướng Đông Bắc, đoàn trực thăng CH47, CH53 không vận toàn tiểu đoàn đáp ngay trên đầu 1 trung đoàn BV. Lại một lò lửa kinh thiên khác đón chào người y sĩ trẻ. Cuộc không vận đưa Tiểu Đoàn 1 TQLC nhảy xuống khu vực đồng bằng Triệu Phong để đập nát những đơn vị của địch không cho chúng tiếp cứu những phần cố thủ trong Cổ Thành Quảng Trị, giúp cho các tiểu đoàn của Sư Đoàn TQLC tấn công tái chiếm Cổ Thành.
      Theo lời Đại Úy Hà Mai Khuê, thì Trung Tá Tùng và Bác Sĩ Trung Chỉnh đã cùng ngồi trên chiếc chiến xa chỉ huy M48 của ông tiến vào Căn Cứ Phượng Hoàng. Tại sao lại phải tiến vào? Trung Tá Trần Thiện Hiệu, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn Pháo Binh TQLC, kể lại, thì trong những khoảnh khắc đầu, binh sĩ Tiểu Đoàn 6 TQLC lần đầu tiên đối địch với xe tăng, đã khá là núng thế trước đoàn chiến xa T54 hùng hậu của địch, phải lùi dần ra hướng Đông. Bác Sĩ Chỉnh thì kể là xe tăng địch rượt ông... chạy. Chi Đoàn 2/20 vẫn còn đang trên đường đến tiếp viện, nên chiến xa địch đã tràn vào được một phần căn cứ, dù nhiều chiếc cán phải mìn gài. 
      Trong lúc lửa đạn ùng oàng mịt trời, những chiếc A1 Skyraider của Không Quân Việt Nam xuất hiện tiếp cứu quân ta mặc dù trần mây rất thấp, Không Quân Mỹ từ chối xuất kích, thì Chi Đoàn 2/20 của Đại Úy Hà Mai Khuê cũng đã đến, và trận xa chiến lịch sử bắt đầu. Đây có lẽ là trang sử lừng lẫy nhứt của Đại Úy Khuê và chiến sĩ Chi Đoàn 2/20 M48, đã bắn cháy 10 chiếc T54. (Trong một bài khác chúng ta sẽ nghiêng mình vinh danh trước những anh hùng Không Quân Việt Nam Cộng Hòa Đi không ai tìm xác rơi, Tiếc nuối tấm thân làm gì, đã anh dũng khu trục bọc thây trên vùng trời hỏa tuyến: Trần Thế Vinh, Phan Quang Tuấn, Nguyễn Du, v.v...). Với chiến công này, Đại Úy Khuê xứng đáng được trao gắn chiếc lon mới Thiếu Tá Nhiệm Chức đặc cách tại mặt trận. Tháng 10/1973, Thiếu Tá Khuê được vinh thăng Thiếu Tá Thực Thụ tại mặt trận.
      Rạng sáng ngày 27/4/1972, cấp chỉ huy chiến trường địch quyết định mở cuộc tổng tấn công dứt điểm Đông Hà dọc theo chiến tuyến phía Nam sông Đông Hà và chiến tuyến phía Tây. Chiến tuyến phía Tây được thành lập từ chiến dịch Quang Trung 729, sau chiến thắng 9/4/1972 gồm các Liên Đoàn 4, 5 Biệt Động Quân được gửi ra tăng viện, Lữ Đoàn 147 Thủy Quân Lục Chiến, Trung Đoàn 2 Bộ Binh và Liên Đoàn 1 Biệt Động Quân. 
      Một lực lượng hùng hậu bộ binh, chiến xa địch mở cuộc cường kích rất quyết liệt vào vị trí của Liên Đoàn 5 Biệt Động Quân của Trung Tá Ngô Minh Hồng và Chi Đoàn 3/20 Chiến Xa. Hỏa lực của địch quá mạnh, chúng dùng chiến thuật biển người để tràn ngập vị trí của Biệt Động Quân. Quân Mũ Nâu và Mũ Đen nhất quyết không lùi, súng chống chiến xa M72 bắn ra rền trời. 
      Cuộc chiến đấu quá khốc liệt đến đỗi tất cả sĩ quan chỉ huy Chi Đoàn 3/20 đều tử trận hay bị thương, 3 chiếc M48 bị AT3 bắn cháy. Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh đã viết những lời tiếc thương Đại Úy Kỵ Binh Nguyễn Ngọc Bích, danh xưng chiến trường là Bắc Đẩu với nhạc phẩm “Bắc Đẩu” Người chết 3 lần thịt xương nát tan. Thật vậy các chiến hữu binh sĩ của ông vừa triệt thoái vừa cố gắng đem thi hài người chỉ huy về Mỹ Chánh, thật bi thương, pháo giặc đã dội lên quan tài Đại Úy đến 3 lần, sắt thép còn phải chảy mềm.
      Trên khắp chiến tuyến phía Tây, quân ta dần dần bị tràn ngập hay buộc phải tháo lui. Trung Tá Ngô Minh Hồng của Liên Đoàn 5 Mũ Nâu cũng bị thương nặng ở chân. Các Liên Đoàn Biệt Động Quân 1, 4, 5 và các chi đoàn M48 yểm trợ nhau rút lui về hướng Đông Nam. Các tiểu đoàn Mũ Nâu quân số thiếu hụt chưa bổ sung kịp, chiến tuyến quá mỏng, lại không có quân trừ bị phía sau lên tiếp ứng. Trong khi đó thì các đơn vị tươi rói của Bắc Việt thay nhau đánh xa luân chiến.
      Mặc dù đã bị thiệt hại rất nặng, nhưng binh đội Bắc Việt vẫn thúc tới quyết liệt, khi đêm xuống thì nhiều đơn vị bộ đội đã khống chế được 4 cây số phía Nam Đông Hà. Chi Đoàn 3/20 trên đường triệt thoái đã bắn hạ được 5 chiếc T54. T54 không phải là đối thủ của M48, nhưng quân Bắc Việt đã có AT3 Sagger tham chiến với nhiệm vụ hủy diệt xe tăng của các thiết đoàn, đặc biệt trong đó Thiết Đoàn 20 Chiến Xa.
      Sang đến ngày 28/4/1972, Trung Tá Lý chỉ có dưới quyền ông 18 chiếc M48 còn hoạt động được. Đại Úy Khuê được lệnh đánh mở đường trên phần Quốc Lộ 1 phía Nam Đông Hà và bảo đảm an ninh khu vực cầu Vĩnh Phước. Chi Đoàn 2/20 Chiến Xa đã vướng vào trận địa phục kích của địch ở đây, chỉ một số chiến xa vượt qua được cầu rút về hướng Quảng Trị. Đại Tá Nguyễn Trọng Luật nhận ra rằng, với sự khống chế cây cầu, địch đã hình thành thế chận đường và cô lập Lữ Đoàn 1 Kỵ Binh bên bờ Bắc sông Vĩnh Phước. Muốn đưa Lữ Đoàn về đến sông Thạch Hãn, con sông chảy ngang thành phố Quảng Trị, phải qua con sông Vĩnh Phước. Đó không phải là chuyện dễ dàng, có lẽ còn phải trả giá bằng sự hy sinh. 
      Cuộc đột phá của Lữ Đoàn 1 Kỵ Binh xông qua những chốt chận của địch thật đẫm máu trong vòng 2 ngày kế tiếp. Đại Tá Luật có mặt trên 1 trong 2 chiếc M113 chỉ huy chạy ra đến giữa cầu Trường Phước (hay Vĩnh Phước), thì 1 trái đạn pháo đã làm sập một đoạn cầu, Đại Tá Luật bị thương nặng. Nhưng 2 Kỵ Binh lái hai chiếc M113 này đã nhấn ga hết tốc lực mạo hiểm phóng được qua khoảng trống trên cầu. 7 chiếc M113 khác vẫn còn bị kẹt bên bờ Bắc. 
      Các Thiết Đoàn 4, 11, 17, 18 và 20 vẫn tiếp tục chiến đấu, nhưng đoạn Quốc Lộ 1 đã bị cắt ở phía Nam, tiếp tế nhiên liệu vàđạn dược không lên được chiến trường. Đoàn chiến xa phải bỏ Quốc Lộ 1 băng đồng lùi về Quảng Trị, rồi từ đó về Mỹ Chánh. Địa thế vùng địa đầu hỏa tuyến thật quá khắc nghiệt. Những chiếc M48, M41 và M113 lầm lũi chạy trên những cánh đồng sình lầy, những con sông sâu, những con suối dốc ngược và trên hết luôn luôn hứng chịu những loại hỏa tiễn B40, B41 và AT3 cùng pháo địch rải theo từng thước đất. Bước sang ngày 1/5/1972, thì nhiều chiến xa của quân ta đã hoàn toàn nằm bất động. Những giọt xăng cuối cùng đã được đốt hết trong lòng máy, hay đơn giản là bị lún sình. 
      Ngày 1/5/1972 cũng là ngày đánh dấu cuộc lui quân của tất cả đơn vị tham chiến ở Đông Hà, khi trong những ngày 27 và 28/4/1974 các phòng tuyến đều bị vỡ, quân ta phải rút về Căn Cứ Ái Tử bên bờ Bắc sông Thạch Hãn. Khi được tin các thiết đoàn đã rút xuống phía Nam trên Quốc Lộ 1, nhận định tình hình đã suy sụp đến mức quân ta không còn đủ lực lượng để phòng thủ khu vực chung quanh Cổ Thành hay lập chiến tuyến Thạch Hãn, Chuẩn Tướng Giai họp tất cả các vị chỉ huy trưởng và ban lệnh lui quân về Mỹ Chánh, cuộc hành quân bắt đầu từ sáng ngày 1/5/1972.
      Riêng đối với Thiết Đoàn 20 Kỵ Binh, thì ngày 2/5/1972 đánh dấu trang chiến sử bi thảm. Khi các thiết đoàn về đến được Căn Cứ Evans (Hòa Mỹ), thì tất cả M48 và M41 không hoàn thành được cuộc hành trình của mình và đã nằm câm nín đâu đó trên vùng đất Quảng Trị, phía bờ Bắc của những con sông Thạch Hãn, Vĩnh Phước và Mỹ Chánh. Chỉ có một số M113 về đến được Huế. Tuy rằng Thiết Đoàn 20 Kỵ Binh cùng các quân binh chủng tham chiến trong tháng 4/1972 không giữ được Quảng Trị, nhưng trong ròng rã 1 tháng trời, Thiết Đoàn 20 và quân bạn đã đánh thiệt hại rất nặng tất cả những lực lượng tham chiến của địch, với Lời Thề Bên Giòng Sông Đông Hà của Thiếu Tá Lê Bá Bình: “Chúng ta không được lui quân nữa. Chúng ta ở lại đây và chúng ta sẽ sống chết với Đông Hà”.Chiến sĩ Tiểu Đoàn 3 Sói Biển với quân số 600, sau khi được Lữ Đoàn 147 TQLC thay thế, về đến Huế chỉ còn có 60 chiến sĩ lành lặn dàn hàng chào đón Trung Tướng Lê Nguyên Khang, Tư Lệnh Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến.
      Chỉ có 50 chiến xa, những Kỵ Binh Mũ Đen đã làm tròn trách nhiệm của mình, thậm chí vượt qua cái giới hạn gọi là phi thường. Các anh đã chống chọi lực lượng chiến xa địch với một tỉ số quá lớn 1: 8. Cứ một M48 phải ngăn chống ít nhất 8 chiếc T54 của địch. Sức mạnh của đạo quân 6 sư đoàn cộng sản Bắc Việt đã bị giảm đi một nửa, tốc độ tiến quân của chúng bị chậm lại và hoàn toàn bị Lữ Đoàn 369 Thủy Quân Lục Chiến của Đại Tá Phạm Văn Chung triệt tiêu thành con số 0 tại chiến tuyến Mỹ Chánh. “Không một tên Việt Cộng nào qua sông Mỹ Chánh mà toàn xác trở về”. Đó là lời thề của Đại Tá Chung, khi ông trả lời vị cố Mỹ, rằng liệu Lữ Đoàn 369 TQLC xuôi Nam hay không.
      Để chấm dứt loạt bài biên khảo này, kính mời quý huynh trưởng và độc giả cùng theo dõi một bài phóng sự ngùn ngụt lửa đỏ của phóng viên chiến trường SAO BẮC ĐẨU, về một cuộc chiến đấu kỳ dị, lạ lùng nhưng rất anh dũng của một chiếc chiến xa M48 lạc loài giữa trùng vây của địch, một Triệu Tử Long của thời lửa binh. Trong cuộc đấu súng tăng với tăng, một chiếc M48 của Thiết Đoàn 20 Kỵ Binh không hiểu bởi lý do gì, có thể là vì đã hăng say xông xáo quá sâu vào tuyến địch, nên nó đã chiến đấu cách biệt với những chiến xa bạn trong Chi Đoàn 2/20 của Đại Úy Hà Mai Khuê. Chiếc chiến xa lạc loài này đã bị đến 9 chiếc T54 truy đuổi. Còn hình ảnh nào hào tráng hơn, khi một M48 tả xung hữu đột giữa vòng vây của những T54 mà vẫn ngang tàng giương súng đối địch.
      Chúng ta tri ân sự dũng cảm phi thường của những phóng viên chiến trường, mà nếu không có các anh, thì những trang sử lẫm liệt của QLVNCh sẽ nhiều lúc bị bỏ trắng. Chúng ta cùng theo Sao Bắc Đẩu ra mặt trận qua bài viết NGÀY XA CHIẾN LỚN MÙNG 9 THÁNG 4 đăng tải trên báo Chiến Sĩ Cộng Hòa ấn hành trong năm 1972:
      “Diễn biến đầu tiên mà tôi ghi nhận được của trận xa chiến lớn ngày 9/4/1972 là một sự việc khá ngộ nghĩnh, khó giải thích nhưng lại là điều thường xảy ra trên chiến trường: Người Thiếu Tá phi công của chiếc trực thăng đang đưa chúng tôi ra mặt trận quay lại nói với Thiếu Tướng Nguyễn Văn Toàn, Phụ Tá Hành Quân Quân Đoàn 1:
      - Một chiếc M48 của mình gặp 2 chiếc T54 của nó. Hai bên cách nhau 100 thước.
      Sự kiện này khó giải thích ở nhiều dấu hỏi như: Tại sao chiếc M48 lại đi một mình? Cả hai loại M48 và T54 đều là những chiến xa nặng được trang bị nhiều loại súng bắn xa, tại sao hai bên lại tiến gần nhau chỉ 100 thước? Những dấu hỏi này chỉ có thể do chính người xa trưởng của chiếc xe tăng này trả lời. Tôi không có dịp tìm gặp anh. Người Thiếu Tá phi công lại báo cáo với Thiếu Tướng Toàn những diễn biến mới mà anh vừa nghe được qua máy truyền tin:
      - Chiếc M48 bắn cháy một chiếc T54 rồi bỏ chạy!
      Thiếu Tướng Toàn, vị Tư Lệnh Phó của chiến trường Giới Tuyến cau mặt hỏi lại:
      - Chiếc nào bỏ chạy?
      - M48 của mình.
      Tôi đoán được cái thắc mắc của Tướng Toàn: hoặc chiếc M48 bỏ chạy ngay từ đầu, hoặc nó phải bắn luôn chiếc thứ nhì khi đã khai hỏa. Hành động bắn cháy một chiếc T54 và hành động bỏ chạy là những việc làm mâu thuẫn với nhau. Có thể người xạ thủ và người lái xe đã tự quyết định riêng lẽ với nhau. Đọc đến đây, chắc nhiều độc giả quân nhân đã tự hỏi: Vậy người trưởng xa đâu? Tại sao anh ta không chỉ huy? Tôi xin viết lại lần thứ nhì câu tôi vừa viết ở đoạn trên. Những dấu hỏi này chỉ có một người trả lời được, là người trưởng xa. Và tôi đã không có dịp tìm gặp anh ta.
      Lần thứ ba, vị Thiếu Tá quay lại. Anh cho Tướng Toàn biết diễn tiến giờ chót: Chiếc M48 đang bỏ chạy trước 1 chiếc T54 đang đụng phải 7 chiếc T54 khác sau lưng... Đến giờ này, ngồi tại tòa soạn viết bài, tôi thấy rằng biến chuyển này ngộ nghĩnh, khó giải thích, nhưng nó là việc thường xảy ra trên chiến trường. Chắc chắn ngay chính Đại Tá Nguyễn Trọng Luật, Tư Lệnh Lữ Đoàn 1 Kỵ Binh cũng không thể giải thích được những dấu hỏi nêu lên quanh cuộc xa chiến giữa một chiếc M48 và 9 chiếc T54 này. 
      Không ai chỉ huy chiếc xe đó đi phiêu lưu một mình vào giữa đất địch cả. Và cũng không có người xa trưởng nào vừa ra lệnh bắn vào chiến xa địch vừa ra lệnh chạy. Những việc này chỉ là phản ứng trực tiếp và tự nhiên của người lính. Chính vì vậy mà người ta có thể đo lường giá trị của một đơn vị qua những phản ứng của binh sĩ trên chiến trường: được huấn luyện kỹ, có kinh nghiệm chiến đấu già dặn. Phản ứng của người lính thiện chiến thường nhanh chóng và đúng. Ngược lại, loạt súng đầu tiên thường cướp tinh thần của những đơn vị non nớt, thiếu huấn luyện, thiếu kinh nghiệm. Đó là những phân tách mà tôi tìm được khi về đến SàiGòn. Ngay trong lúc đó, tôi chỉ thấy lo lắng cho chiếc xe “lãng tử”. Quay nhìn Tướng Toàn, tôi thấy ông ra lệnh cho người sĩ quan có máy truyền tin:
      - Gọi Pháo Binh cứu “thằng” M48.
      Ông cũng bảo viên Thiếu Tá phi công gọi khu trục. Tôi nhìn ra ngoài cửa sổ chiếc trực thăng: mù mịt sương muối và mưa phùn. Đồng hồ cao độ trong máy bay chỉ 600 bộ (chưa đầy 200 thước). Từ những ngày đầu tiên mặt trận giới tuyến bộc phát dữ dội, khu trục cơ Mỹ vẫn từ chối can thiệp trực tiếp vì thời tiết xấu. Chúng ta có thể trách họ nhưng không thể phủ nhận rằng, thái độ từ chối của họ là có lý do. Với một trần mây thấp 200 thước, chỉ có những phi công Việt Nam vì máu chảy ruột mềm mới dám xuất trận. Chúng ta hãy thử hình dung một chiếc xe hơi với một tốc độ 100 cây số/giờ và chúng ta phải thắng đứng trong khoảng 100 thước, để thấy cái khó khăn, sự can đảm vô biên của người phi công Việt Nam. Lao xuống với tốc độ 300 cây số/giờ, các anh chỉ có hơn 100 thước để làm 3 việc: nhận định mục tiêu, oanh kích và ngóc lên kịp thời.
      Một phút sau, chúng tôi được tin Pháo Binh đã tác xạ với sự hướng dẫn của những Kỵ Binh trong chiếc M48 đang đụng địch. Một phi tuần AD6 cũng đã cất cánh. Số phận của chiếc M48 vẫn còn chỉ treo đầu mành, nhưng tất cả những gì có thể làm để cứu nó đã được làm trong sốt sắng, trong lo lắng thương yêu.
      Tướng Lãm thiếu nợ nửa triệu bạc trong 2 giờ đầu tiên của trận đánh 9/4/1972:
      Đến Quảng Trị, chúng tôi vào thẳng Trung Tâm Hành Quân của Chuẩn Tướng Vũ Văn Giai,Tư Lệnh Sư Đoàn 3 Bộ Binh. Hơn chục cái máy vừa điện thoại, vừa máy truyền tin cùng làm việc một lúc. Hơn chục chàng thanh niên hò hét như những thằng điên trong ống nói. Họ đang sử dụng các hệ thống viễn liên vô tuyến để điều khin Pháo Binh, Không Quân, Kỵ Binh, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân và Bộ Binh theo lệnh của Chuẩn Tướng Giai. Một anh Trung Úy Không Quân hét thật lớn với người bạn đồng đội đang nói chuyện với anh cách khoảng 200 cây số:
      - Mày đừng đem rocket làm gì. Ở đây đang cần bom thứ 500 cân Anh (khoảng 225 kí lô). Mục tiêu là những xe tăng nặng.
      Không hiểu đầu dây kia nói gì, chỉ thấy anh Trung Úy chửi thề, rồi lại gân cổ hét lên:
      - Xe tăng. Xe tăng là thiết giáp đó. Không phải quân trang.
      Viết lại câu “Xe tăng là thiết giáp” nghe có vẻ ngớ ngẩn, nhưng trong thực tế, những khó khăn liên lạc thường vẫn buộc người quân nhân phải dùng những cách ví von vô lý hơn như vậy rất nhiều. Hai chữ “xe tăng” có thể nghe lầm thành “quân trang”, nhưng hai chữ “thiết giáp” lại có những âm thanh khác đi rất nhiều. Tôi quan sát người Trung Úy. Nhìn kỹ, người ta có thể đoán gần đúng tuổi của anh: khoảng 25, 26. Nhưng thoạt trông hàm râu 48 giờ chưa cạo, hai mắt quầng thâm vì những đêm mất ngủ và vẻ mệt mỏi làm anh già thêm ít nhất cũng 10 tuổi nữa. Bên cạnh anh Trung Úy Không Quân là một Thiếu Úy Pháo Binh. Vừa nhai một khúc bánh mì thịt, anh vừa chăm chú theo dõi trên bản đồ những tin tức ghi nhận được về hoạt động của pháo binh địch. Đầu bàn, một gói xôi ăn dở bị tạm quên. Một sĩ quan nào đó đã phải bỏ dở bữa ăn sáng đạm bạc đ đáp ứng một nhu cầu hành quân của những đơn vị đang chiến đấu bên ngoài. Một tấm bảng trên tường ghi nhận 4 diễn biến trong 2 giờ đầu tiên của ngày 9/4/1972:
      6 giờ 30, Tiểu Đoàn 6 Thủy Quân Lục Chiến bị tấn công và pháo kích:
      7 giờ 10, Thiết Đoàn 20 Kỵ Binh đụng chiến xa địch. Hạ 10 chiếc chưa rõ loại.
      8 giờ 15, Tiểu Đoàn 6 Thủy Quân Lục Chiến bắn hạ 12 chiến xa địch.
      8 giờ 30, Liên Đoàn 5 Biệt Động Quân bị tấn công. Chưa rõ kết quả.
      Ngày xa chiến lớn 9/4/1972 đã bắt đầu bằng cuộc tấn công một vị trí do Tiểu Đoàn 6 Thủy Quân Lục Chiến trấn giữ. Lực lượng Bắc Việt đã điều động 16 chiến xa để tấn công 300 người lính Thủy Quân Lục Chiến trong một căn cứ mà họ không có vũ khí nặng để chống đỡ hiệu nghiệm chiến xa địch. Thiếu Tá Đỗ Hữu Tùng, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 6 Thủy Quân Lục Chiến quyết định dùng lòng can đảm và sức người để trám lổ trống kỹ thuật. Chiến sĩ Cọp Biển được lệnh kiên trì chịu đựng trong những vị trí chiến đấu chờ xe tăng địch vào sát tận trong hàng rào phòng thủ mới nổ súng. Lý do: những khẩu M72 của các anh chỉ có tác dụng trong vòng 150 thước. Bên ngoài, vừa lầm lũi tiến tới, những chiếc T54 khổng lồ rải đạn như mưa vào căn cứ của Tiểu Đoàn 6 Thủy Quân Lục Chiến. 
      Những phát đạn đại bác thổi tung những công sự phòng thủ, quân xa, chiến cụ trên mặt đất. Nhưng dưới những hố cá nhân, những hào giao thông sâu vào lòng đất, những con Cọp Biển vẫn gan lì ngồi yên chờ đợi. Một tiếng mìn nổ, rồi tiếp theo đó nhiều tiếng mìn khác thi nhau nổ. Những trái mìn này gài trong hàng rào phòng thủ, chúng không đủ sức làm lật những chiếc T54 nặng nề, nhưng chúng đã báo động, đã là một thứ hiệu lệnh cho những xạ thủ M72. Đồng loạt họ đứng dậy. Đồng loạt họ khai hỏa. Và trước khi những lính thiết giáp Bắc Việt kịp hiểu sự việc vừa xảy ra thì trận chiến đã ngã ngũ: 12 trong số 16 chiến xa xung trận đã bị loại trong một phút ngắn ngủi.
      Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm, Tư Lệnh Quân Đoàn 1 & Quân Khu 1, đã treo giải thưởng 20 ngàn đồng cho mỗi chiến xa bị bắn hạ. Trong 2 giờ đầu tiên của trận xa chiến mồng 9 tháng 4, ông đã phải trả đến gần nửa triệu bạc tiền thưởng. Tướng Toàn tươi cười bảo tôi:
      - Trung Tướng Tư Lệnh Quân Khu 1 đã ra lệnh cho Tỉnh Trưởng Quảng Trị ứng trước ngay số tiền này để thưởng cho các đơn vị. Trung Tướng cũng nhắn anh ghi nhận hộ lên bao Diều Hâu, rằng ngày mồng 9 tháng 4 là ngày thê lương nhất của kỵ binh Bắc Việt (kể từ ngày họ xua quân vượt tuyến).
      Nồi cơm của lính dã ngoại:
      10 giờ sáng, chúng tôi được đưa ra mặt trận để quan sát tại chỗ. Chúng tôi không sử dụng trực thăng vì hiểu rằng trong trận địa, đáp trực thăng xuống đơn vị nào là chúng tôi gọi pháo binh địch dội đơn vị đó. 3 chiếc Jeep nổ máy. Chiếc thứ nhất có Thiếu Tướng Toàn và những cận vệ của ông. 2 chiếc sau là của những phóng viên báo chí, điện ảnh chúng tôi. Trước khi lên đường, Tướng Toàn đã dặn chúng tôi nên chạy kha khá cho kịp xe ông, vì dọc theo đường pháo binh Bắc Việt thường bắn chặn những đoàn xe. Ngang Căn Cứ Ái Tử, chúng tôi đã bị bắn hơn chục viên đại bác. Một người lính cận vệ của Tướng Toàn rơi xuống xe sau loạt tiếng nổ. Nửa giờ sau, chúng tôi đến Bộ Tư Lệnh Lữ Đoàn 1 Kỵ Binh. Trả lời câu hỏi của tôi về ước tính trận đánh, Đại Tá Nguyễn Trọng Luật, Tư Lệnh Lữ Đoàn nói:
      - Hôm nay là một trong những ngày hoàng đạo của Lữ Đoàn 1. Đến giờ này chúng tôi mới có một chiến xa bị trúng đạn địch. Con số thiệt hại của kỵ binh Bắc Việt thì chắc anh đã ghi nhận được tại Trung Tâm Hành Quân rồi.
      Tại 1 tiểu đoàn khác, tôi bắt gặp một binh sĩ đang nhăn nhó càu nhàu vì nồi cơm anh đang nấu trên bếp vừa bị pháo binh địch bắn vỡ. Binh sĩ thường nấu cơm ngay trên miệng hố cá nhân của họ. Khi nghe tiếng đại bác của địch bay đến, anh binh sĩ này đã kịp thời nhảy xuống hố cá nhân. Dĩ nhiên anh không thể bưng theo cả nồi cơm đang sôi. Lúc chúng tôi đến thì bài toán khó giải quyết là anh chưa tìm được người bạn đồng đội nào có nồi cơm rộng chỗ để anh “ghé” mớ gạo chưa chín nhưng đã nở mà anh còn vớt vát được trong cái nồi bể”. 
      Thiết Đoàn 20 Kỵ Binh hầu như đã bị xóa tên trong cơn bão lửa của những ngày đầu hè 1972, các sĩ quan chỉ huy xuất sắc nhất đều đã anh dũng hy sinh trên chiến trường hay đã bị trọng thương. Nhưng những mất mát đau lòng đó không ngăn được sự trỗi dậy của Thiết Đoàn.Ngày 3/5/1972, Trung Tướng Ngô Quang Trưởng được Tổng Thống Thiệu chỉ định làm Tư Lệnh Quân Đoàn 1 & Quân Khu 1 thay thế Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm. Trung Tướng Trưởng đã ra đến Huế buổi chiều cùng ngày. Một trong những công tác cấp bách mà Trung Tướng Trưởng thấy cần phải cho thực hiện ngay, là tổ chức lại tất cả những đơn vị đã triệt thoái từ Quảng Trị về, không một đơn vị nào bị giải tán, kể cả Trung Đoàn 56 Bộ Binh đã bị Trung Tá Phạm Văn Đính, Trung Đoàn Trưởng, cưỡng bách ra hàng với quân giặc chiều ngày 2/4/1972. Những chiến xa loại M48 A2 của Hoa Kỳ đang hoạt động ở đảo Okinawa Nhật sẽ được bàn giao khẩn cấp cho Quân Đoàn 1 Việt Nam Cộng Hòa để tái thành lập Thiết Đoàn 20 Kỵ Binh, những M41 và M113 đã bị mất cũng được bổ sung đầy đủ.
      Phm Phong Dinh


CÓ NHỮNG NIỀM RIÊNG LÀM SAO NÓI HẾT...
  • 
    Khi trống vắng tôi hay nghe bài hát "Có những niềm riêng" của nhạc sĩ Lê Tín Hương. Khi thì Tuấn Ngọc, khi Thanh Lan và cũng có lúc nghe chính tác giả trình bày. Bài hát rất sâu lắng, lời nhạc như nói hộ bao nhiêu người trên cõi đời này. Lời nhạc như có một câu, một lời nào của mình trong đó...

    Trong cuộc đời này ai lại không có niềm riêng, mà đã là niềm riêng thì chỉ riêng mình biết thôi. Mây cứ trôi và mưa cứ rơi, ngày tháng cứ qua, nhưng niềm riêng vẫn mãi mãi trong ta, thật mâu thuẩn, có khi muốn quên đi "niềm riêng" nhưng không, niềm riêng là ký ức, là kỷ niệm, cho dù có buồn hay vui thì cũng là của riêng mình có được. Niềm riêng đôi khi làm lòng ta cảm thấy êm ái bất chợt mĩm cười vu vơ, và cũng có đôi khi làm lòng ta thấy ngậm ngùi, rưng rưng trong tim...Thôi thì ta cứ mang theo cho đến lúc xuôi tay vậy, vì ai trên đời này lại không có niềm riêng!

    Có Những Niềm Riêng

    https://youtu.be/ys1JGYFbsH0?si=S_DDhTZf0A1J7ItN

    Lê Tín Hương sinh năm 1949 tại Huế. Theo học nhạc cùng giáo sư Lê Quang Nhạc. Bắt đầu sáng tác năm 1970.

    LTH rời Việt Nam năm 1979. Hiện cư ngụ tại Santa Ana, Calufornia, USA.

    Có thời gian chung sống với nhạc sĩ Vô Thường từ năm 1991 đến năm 1999 họ chia tay.

    Nhạc sĩ LTH là người bạn đời của ông Nguyễn Ngọc Kỳ Y sĩ, nguyên Trung tá phục vụ quân chủng Không Quân.

    Con trai của bà là ca sĩ Lê Tâm, nhưng sau nầy không còn trình diễn nữa, anh theo học ngành y để trở thành bác sĩ y khoa.


    ... Lê Tín Hương sinh năm 1949. Cô học trò xứ Huế xưa vẫn còn cái vẻ e thẹn khi nói về những ca khúc của mình, ngay cả với người quen. Hai mươi mốt tuổi, chị bắt đầu viết nhạc. Với cái vốn thanh nhạc học rất bài bản, những ca khúc của chị ắt hẳn không tệ về mặt âm điệu. Nhưng có lẽ, cái đặc trưng trong nhạc của chị nằm ở phần ca từ, mà đôi khi, có người cảm thấy là ... hơi chán. Vậy mà không có bao nhiêu người biết hoặc nghe về Lê Tín Hương, mãi cho đến khi chị phát hành hai đĩa nhạc đầu tiên của mình, Có Những Niềm Riêng và Dòng Đời Mong Manh, với những giọng hát gạo cội trong làng âm nhạc Việt Nam như Duy Trác, Bạch Yến, Thái Hiền góp phần trình diễn ...

    Cho tới nay, đã có bốn đĩa nhạc của chị được phát hành. Và im lặng hẳn, kể từ Dòng Lệ, Dòng Mưa. Có nhiều người đã thắc mắc, và sẽ có nhiều người sẽ còn thắc mắc. Nhiều người biết, nhưng không bao nhiêu người lên tiếng, vì tất cả dường như đang chờ đợi, biết đâu chị sẽ thay đổi ý định. Đối với một người phụ nữ, có lẽ một mái ấm gia đình còn quan trọng hơn tất cả, bao gồm cả tiền tài và danh vọng. Cho nên Thái Hằng rút lui vào sau hậu trường để cho Phạm Duy thăng hoa trong làng nhạc Việt. Và mới đây thôi, người ta cũng thấy Thái Thảo bắt đầu vắng bóng trên những sàn diễn. Vậy đó, hạnh phúc luôn luôn là một sự hòa hợp, đôi lúc cần một chút hy sinh. Giống nhau quá thì cái sức đẩy càng lớn càng đẩy người ta ra xa nhau, khác nhau quá thì vô hình chung cái níu kéo vào nhau lại trở thành một hệ lụy cho nhau. Và đối với Lê Tín Hương, chị hiểu điều này rất rõ, nếu không muốn nói là hiểu hơn ai hết.

    Không biết trong cộng đồng, người ta đón nhận những nhạc phẩm của chị như thế nào, và có cảm nghĩ gì về nét nhạc Lê Tín Hương. Buồn, có chút gì đó hơi cường điệu, hơi mơ hồ? Hơi đặt nặng về mặt ngôn từ? Không biết nốt, nhưng hãy nghe một tác phẩm của chị cái đã.

    https://youtu.be/lZmU7Zrasjw?si=8YtVvL7_Z_Z48W9N

    Hừm, không có gì sai, lại hay, lại có ý tưởng nữa. Nhưng vẫn có một chút gì đó chưa hoàn chỉnh lắm. Có lẽ, có một chút gì đó quá bó buộc, quá kết cấu trong ngôn từ. Nói chung là không được thoáng! Không biết có phải không, lại không biết! Nhạc của chị lúc nào cũng có hơi hướm của một nỗi sầu, có một chút quyến luyến. Âm điệu không quá phức tạp, và từ ngữ rất niêm luật, vần điệu chặt chẽ. Nhiều người cho rằng nhạc của chị bị cái ảnh hưởng của Trịnh Công Sơn, chị cũng chẳng phủ nhận. Lão cũng thấy thế, chẳng việc gì phải phủ nhận, có cũng tốt mà không có cũng hay. Nói cho cùng, mảnh đất chị sinh ra và lớn lên, những người xung quanh chị, lại chẳng khác với Trịnh Công Sơn là mấy ...

    Học nhạc từ giáo sư Nhạc, có một căn bản vững vàng là điều chắc chắn. Đánh được nhiều loại nhạc cụ, cũng chẳng lấy gì làm ngạc nhiên. Thế nhưng, có một điều ít người biết, chị hát rất khá, và nếu như không khó tính lắm, cũng có thể gọi là hay. Lão? Không có ý kiến! Giọng chị nhẹ nhàng, trong trẻo, vậy thôi. Hát vững vàng, vậy thôi. Còn gì nữa không? Không biết! Nhưng Mẹ lão thì có đó. Sau này Mẹ lão hay so sánh giọng của chị với Trịnh Vĩnh Trinh, cũng một người Huế, đơn thuần chỉ vì cách phát âm của họ Lý thú lắm phải không? Phụ nữ có cái cách nhìn nhận sự việc rất đặc biệt như vậy đấy, và thông thường, họ lại hay bấu víu vào những điểm mà người đời (dĩ nhiên là khác phái) ít để ý đến nhất, và đưa ra kết luận không cãi lại được . Bởi vậy họ mới là ... phụ nữ, muôn đời ... đúng!

    Lão phân vân mãi không biết có nên nói về đời tư của chị hay không? Viết về một người mà không nhắc đến một chi tiết nào về đời tư của người đó, hẳn là khó lắm. Cho nên lão sẽ chọn lọc rất kỹ. Chỉ có thể nói, chị chẳng hạnh phúc lắm (trước đây), còn bây giờ thì có lẽ khác rồi. Tạo hóa cứ có một cái gì đó rất không công bằng cho những người phụ nữ có tài (có người sẽ phản đối, và cho đó là công bằng, không sao cả), vì thông thường trong số họ, chẳng mấy ai tìm được hạnh phúc một cách dễ dàng, mà không phải đi qua mấy cuộc dở dang. Chị cũng vậy, đã từng yêu say đắm một nghệ sĩ, người có ngón đàn độc đáo, người có những vần thơ và điệu nhạc rất kỳ lạ. Nhưng họ chẳng được hạnh phúc ...

    Và gần đây, chị lên xe hoa, rời xa cái kịch trường văn nghệ đầy giông bão. Lão nghĩ, lần này chị sẽ được hạnh phúc. Ít nhất, lão mong là như vậy! Và lão cầu chúc cho hai người được sống bên nhau yêu thương đằm thắm cho đến lúc đầu bạc răng long ...

    Cuối cùng, lão chép tặng mọi người ca khúc Tàn Phai của chị, một trong những ca khúc lão thích nhất.

    https://youtu.be/Iq24WNfy734?si=l5_Kjq-4KfloMvH7

    Triệu Thần

    (NVK cóp & trích)

  • 3 người trên sân ga

    • Bức thư đến, vô tình chấm dứt bữa cơm tối của đôi vợ chồng già, và tự dưng rẽ họ về 2 phía trái ngược nhau. Bà Cảnh chợt thấy miếng cơm nghẹn đắng ở cổ và một cái gì anh ách ở đâu đó trong bộ ngực lép xẹp khi nhìn sự hồ hởi thái quá cũng như niềm vui đột ngột không thể giấu được trên nét mặt chồng. Bà thừa hiểu đó là thư của Tâm, mẹ cái Gianh, bởi chỉ thoáng qua cái cười lẫn trong râu và cái nháy mắt ranh mãnh của ông bạn già giao thông xã lúc dúi bức thư vào tay ông Cảnh qua hàng rào dâm bụt thì biết rõ.
      Ông Cảnh vừa có chén rượu trước lúc xới cơm, nên trong người thấy phấn chấn, và không hiểu sao, lại hứng khởi nhắc đến cái chuyện hồi còn nhỏ của hai người, làm bà Cảnh vừa thích thú cười móm mém, vừa e thẹn đỏ cả mặt. Đấy là cái thời gái 17, trai đôi mươi, trẻ nhất làng, đêm đi tham gia cổ động, đuốc cháy đỏ trời, khi tan cuộc hai người trở về trên lối cũ tối om, đây đó dọc vệ đường còn leo lét những tàn đuốc cháy trong cỏ. Khi đó, không hiểu sao ông nhắc đến chuyện lũ rắn cạp nong hay theo đóm ăn tàn và bà, cũng không hiểu sao đi sát ông hơn và quờ tay nắm lấy khuỷu tay ông, bắt đền phải đưa về tận nhà. Bàn tay của họ tìm nhau trong bóng tối và như có một luồng điện truyền qua, khiến họ lặng đi, nóng rực, chỉ nghe rõ lời của hai trái tim đập dội trong lồng ngực. Đó là cái phần đời đẹp đẽ và duy nhất họ có được với nhau trong hơn 30 năm qua và ông chỉ nhắc khi có hai vợ chồng, muốn làm vui lòng bà. Bà Cảnh nghe ông nhắc lại chuyện ấy không biết bao lần kể từ hồi gặp lại nhau, nhưng lần nào bà cũng thấy mới mẻ và thích thú rơm rớm nước mắt. Hôm nay cái Gianh vắng nhà, nó bận tham gia đợt dã ngoại lên Bạch Mã của học sinh cấp 3, nên ông Cảnh nhắc lại chuyện cũ chẳng cần ý tứ.
      Bữa cơm đang vui vẻ và ngon miệng như thế, thì cái thư đến, và họ chẳng thể tiếp tục như cũ được nữa. Bà Cảnh ngồi thừ người, tay chống đũa trong bát cơm ăn dở, và nhìn ông Cảnh một cái nhìn trách móc, tủi hờn của kẻ “chồng chung ai dễ chi nhường cho ai”. Ông Cảnh, có lẽ do quá mừng, đã không chú ý đến điều đó, tay run lẩy bẩy lật đi lật lại phong thư, miệng lẩm bẩm như nói với mình: “Thư của Tâm, thư của Tâm, bà nó ạ”. Và suýt nữa ông hôn lên những nét chữ quen thuộc trên phong bì, nếu không kịp liếc qua mặt vợ. Ông cố lấy lại bình tĩnh bằng câu nói to: “Để xem... thư nói gì nào...” nhưng tay ông luống cuống đến mức bóc rách cả phong bì, và khi dí trang thư vào bên cạnh đèn, ông mới biết là mình lật đật bỏ quên cái kính lão ở đâu......
      Bà Cảnh không tài chi ngủ được, cứ rên hừ hừ như mọi lần bà cần rên. Nhưng đêm nay, bà thực sự thấy mình mệt mỏi quá sức, yếu đuối quá sức. Bà trở mình liên tục và thấy đau nhức từng khớp xương ống chân, ống tay. Hình như những đòn tra tấn của giặc xưa kia nó lặn đi đâu, giờ trở lại hành hạ bà. Và điều này lại khiến bà càng hờn giận những “ai” đó gấp bội. Hừ... hừ... “Người ta” sao lại quá sung sướng đến thế! Được tập kết ra Bắc, được sống rong ruổi đây đó ở nơi xa bom đạn, thế chưa đủ sao? Mà “người ta” còn rửng mỡ đèo bòng, còn thêm vợ nọ con kia? Để bây giờ...
      Bà Cảnh bực bội trong cơn ghen tức âm thầm khi thấy ông Cảnh vẫn chưa chịu tắt đèn đi ngủ, ngồi lặng lẽ bên bàn trà, thỉnh thoảng mở trang thư ra đọc lại và hình như còn cười thầm 1 mình nữa. Bức thư của Tâm viết có mấy dòng, rằng chị ốm đã mấy hôm nay, rằng không hiểu sao chị thấy nhớ cái Gianh quá. Và lần này xin phép “anh chị trong nớ” cho em nó ra quê chơi ít bữa.
      Hừ... Ôi dào, bà thì bà hiểu tâm địa các người, bà đi guốc trong bụng các người, “ốm đã mấy hôm nay”, dễ thường đời này chỉ một mình chị ốm chắc? Hừ... hừ... “Không hiểu sao thấy nhớ cái Gianh quá”. Nhớ cái Gianh hay nhớ “anh Cảnh”? Điều đó thì rõ như ban ngày rồi, lại còn “không hiểu sao”! Mà cái Gianh mới 15 tuổi ranh ấy đi từ trong ni ra ngoài nớ một mình được răng? Khiếp. Thế mới biết người ta nhắn nhe hẹn hò nhau khôn ngoan đáo để chưa, ranh ma chưa! Nhưng không qua nổi mắt gái già này đâu! Bà thì bà biết tỏng tòng tong cái tổ con chuồn chuồn! Hừ... hừ...
      Nỗi bực bõ và đau khổ ngấm ngầm cứ giày vò, hành hạ bà. Đầu tiên bà đổ lên đầu ông Cảnh, người chồng đã bội bạc lời nguyền ước xưa: “Chỉ 2 năm thôi, 2 năm là anh lại về... Em ở lại cố...” Bà nhớ lúc đó, bà quàng cái tay nải gạo qua chiếc ba-lô của ông và nói, cố dằn cơn nhớ nhung, tủi hờn đang dâng lên trong cổ: “Anh đi sức gối mạnh chân... chớ lo chi cả. Mọi cái ở lại đã có em...” Bà phải cắn vào ngón tay mình để khỏi bật ra tiếng khóc, tiếng khóc của người vợ vừa mới bén hơi chồng 3 hôm đã phải chia xa. Hừ... hừ... Thế mà ông đi biền biệt, không một mẩu tin, hơn 20 năm mới trở lại. Và khi trở lại, nào phải chỉ có một thân một mình.
      Đành rằng, cái chuyện trở về không đúng hạn chẳng phải riêng ông, và cũng chẳng phải lỗi tại ông, nhưng bà vẫn thấy tưng tức. Ông trở về, lại dắt theo một con bé chừng mươi tuổi và tươi cười hơn hớn bảo với bà rằng: “Đây, con chúng ta đây!” Ôi chao rứa có xung máu không? Đã không thấy được cái lỗi của mình, lại còn xưng xưng như thể vừa lập được chiến tích. Té ra, bà phải chịu cảnh tù đày, tra khảo để cho “các người” ở ngoài nớ tha hồ mà... Lần ấy suýt nữa bà đã nổi trận lôi đình ngay giữa họ hàng, chòm xóm cho đã cơn giận. Nhưng cái vẻ ngây thơ con trẻ trên gương mặt phúc hậu sáng sủa và cái vẻ khép nép của người chịu nhún thay mẹ của con bé đã làm dịu đi cơn tam bành của bà.
      Nhưng liền đấy, bà thấy tủi thân tủi phận quá thể. Và bà òa khóc. Ông Cảnh ngỡ đấy là những giọt nước mắt mừng rỡ của ngày gặp mặt, nên cứ vuốt mãi mái tóc sớm bạc của bà mà an ủi, rằng đất nước đã trọn vẹn, rằng giờ anh đã trở về đây, em đừng khóc nữa.
      Ông Cảnh đâu hay rằng tận sâu thẳm tâm can, bà buồn tủi biết bao, thấy mình mất mát biết bao! Phải. Ngày ấy chia tay chồng chưa được mấy tháng, có kẻ đã rình rập theo dõi. Rồi cái “luật mười năm chín” đẫm máu tràn qua, xóm thôn tan nát, bàng hoàng như vừa qua cơn ác mộng. Bà bị chúng bắt lên bắt xuống, tra khảo, đòi tuyên bố từ bỏ người chồng ngoài Bắc không biết bao lần. Người mẹ chồng già yếu đã không qua nổi đòn thù, để lại một mình bà trơ trọi, cô độc như một nhành cây yếu đuối trước bão tố, với cái tuổi 25 dằng dặc nỗi nhớ chồng nơi xa ngái...
      Không biết bà sẽ sống tiếp ra sao, nếu không có tổ chức đến móc nối, và dẫn dắt bà. Và nỗi nhớ chồng, lời nguyền ước lúc chia tay lần ấy của ông, đã thành chỗ nắm vịn, chỗ tựa đỡ cho bà đi qua những tháng năm nghiệt ngã... Lần sơ sảy duy nhất trong quãng đời hoạt động của bà, là lần tổ du kích bố trí giết tên xã trưởng ác ôn giữa ban ngày. Công việc thực hiện trong một khoảnh khắc cực kì mạo hiểm, tới mức khi cài được tờ lệnh thi hành án của Mặt trận lên cái cúc áo giữa ngực của tên bán nước, nơi cạnh đó là một lỗ thủng của viên đạn còn rỉ máu, thì bà nhận được ám hiệu có động. Bà chỉ kịp rút lui một quãng và thay đổi bộ lốt hợp pháp, thì bị bắt. Chúng nghi chính bà đã làm cái việc tày trời đó, nhưng vẫn chưa có cơ sở xác đáng, phần nữa, chắc chúng còn muốn khai thác, đơm nhử đồng đội bà, nên chúng giam bà trong một xà-lim kiên cố. Rồi từ đó, bà bị đẩy từ nhà tù này đến nhà tù khác, với bao nỗi cực nhọc không nhớ hết. Và cái phương cách giúp bà vượt qua những cực hình khủng khiếp của kẻ địch, là trong đầu bà luôn choán ngợp hình ảnh ông, là những đêm gối ấp tay kề ngắn ngủi, là lời trao gửi cho nhau ngày chia biệt...
      Cho đến một hôm, nghe súng nổ loạn xạ, rồi xà-lim bật mở, và ngoài sân lố nhố bóng áo xanh mũ tai bèo, bà mới tin là mình thoát chết. Bà đã sống trong niềm vui tràn ngập nụ cười đẫm nước mắt của ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, trong nỗi háo hức chờ đón chồng trở về. Và vợ chồng sum họp như xưa...
      Những bực bõ, hờn ghen về sự năm thê bảy thiếp của chồng phút đầu, rồi cũng qua đi. Dẫu sao, giờ đây ông cũng đã trở về với bà, hiển hiện, bằng xương bằng thịt sờ sờ ra đấy, chứ không phải trong mơ như trước. Từ nay bà sẽ giữ riệt lấy chồng, sẽ không để mất ông một lần nữa, không sẻ chia cho bất kì ai nữa...
      Nhưng, ngay đêm đầu tiên hai vợ chồng có được sau hơn hai mươi năm trời cách biệt, bà đã khóc tức tưởi, đấy là những giọt nước mắt buồn tủi và thất vọng về niềm hạnh phúc, đến lúc ấy, bà mới chợt nhận ra rằng mình đã quá già, đã ngoài năm mươi, rằng cái tuổi hồi xuân ngắn ngủi của người đàn bà đã qua đi từ hồi nảo hồi nào trong tù. Tiếng khóc của bà rấm rứt mãi khiến ông Cảnh tỉnh giấc. Có lẽ ông không hiểu bà, nên đã kéo bà vào lòng, dỗ dành như một nhà thuyết giáo: “Hoàn cảnh đất nước, hoàn cảnh lịch sử, chứ đâu phải riêng mình ta, em?” Nhưng dẫu sao câu nói trong khuya và cử chỉ khuyên bảo âu yếm của ông cũng làm bà dịu lại. Hoặc giả chính bà cố dịu đi để ông khỏi mất ngủ. Bà thương ông lắm lắm, giận thì giận, bà vẫn thương chiều mọi sở thích của ông như bao người đàn bà biết sống một mực về chồng...
      Có một điều, phải, một điều thôi, bây giờ bà không thể vì thương ông, vì nể ông mà gắng chiều được nữa. Với cái tuổi chưa đến sáu mươi, nước da đỏ au nhanh nhẹn và còn tráng lực như ông, đã nói chi chuyện già? Chao ôi, tạo hóa sao nỡ bất công đến thế? Trong khi bà chỉ thua ông vài tuổi. Có thể một phần do bị tù đày tra khảo, phần nữa sống trong trạng thái mòn mỏi mong chờ, đã đẩy bà nhanh qua cái mốc ấy khi nào: để bây giờ người bà chỉ còn như con mắm khô quắt, và hết kiệt mọi ham muốn, mọi thèm khát, nếu không muốn nói là “chuyện ấy” trở nên cực chẳng đã với bà. Ban ngày mọi lo toan làm khuây khỏa, nhưng đêm đến là nỗi lo âm thầm của bà.
      Quả thật, với bà, đêm chỉ muốn ngả lưng cho sớm, sau khi đã nhẩm đếm số tiền bỏ ra và số tiền nhặt về của gánh rau mùi trên vai sau mỗi buổi chợ rồi một giấc ngủ êm nhẹ của người già đến từ lúc nào. Cho đến khi thấy mỏi nhừ và đau ở sống lưng biết là trời sắp sáng, bà dậy đỏ lửa, đun cho ông ấm nước pha trà và bắc lên nắm gạo nấu miếng cơm cho cái Gianh đi học.
      Cái mong ước ấy của bà ít khi thực hiện được, bởi đêm đêm bên cạnh bà, ông Cảnh hình như không ngủ, cứ hay trở mình, gác tay gác chân, và đôi khi trườn cả người qua người bà. Thương ông bà gắng chiều, nhưng sự gắng chiều ấy đã trở thành một sự chịu đựng...
      Rồi bà cũng tìm được cách khéo léo để “cách ly” ông. Đấy là một dịp mùa hè đến, bà bảo ngủ chung nóng lắm và dọn cho ông một giường riêng. Cái nhà ba gian, gian liền sát bếp là chỗ của bà và cái Gianh (buồng bà phía trong, giường cái Gianh ở phía ngoài, cạnh cửa sổ, giữa là lối đi xuống bếp), gian giữa đặt bàn thờ ở phía trong, phía ngoài là bộ bàn trà, gian trên cùng đặt giường của ông. Bà yên tâm vì đã tìm được cách mà bà cho là diệu kế này. Nhưng bà nhầm, bà không tính đến chuyện ông có đôi chân. Một tối, bà đang nằm thiêm thiếp thì chợt nghe tiếng dép nhè nhẹ đi đến, rồi thấy ông quờ tay lên người bà, vuốt tóc bà và khẽ nằm xuống bên cạnh bà...
      Từ đấy, bà nín thở và thon thót lo mỗi khi có tiếng dép của ông lê qua, dù có khi ông chỉ đi tiểu tiện. Có một lần, không hiểu vì quá lo lắng, hay vì một lí do gì khác, bà bỗng lên tiếng rên khe khẽ khi có tiếng dép của ông từ xa. Và lần ấy tiếng dép của ông chần chừ một giây rồi xa dần và im hẳn. Bà nín cười... Đấy, cái sự thỉnh thoảng hay rên hừ hừ về đêm của bà, có căn nguyên vậy đó.
      Nhưng, hôm nay bà rên không phải vì lí do đó, bà thực sự thấy mình đau yếu, thấy mình bất lực. Bà lo không biết xử trí ra sao trước yêu cầu thế nào cũng nói vào sáng mai của ông, là sẽ đi ra ngoài ấy thăm Tâm. Trước đây, lâu lâu ông xin phép bà đi thăm bạn bè, hay bà con đâu đó dăm bảy bữa, bà không đắn đo cân nhắc, thoải mái chấp nhận ngay, và thậm chí còn chuẩn bị chu đáo cho ông đi xa. Nhưng bây giờ, không hiểu sao bà hoàn toàn không muốn ông đi ra ngoài ấy một chút nào. Trái tim bà như bị ai bóp chặt khi mường tượng rằng ông sẽ được Tâm chăm sóc vồ vập như trời hạn lâu ngày gặp mưa, rằng đêm đêm hai người má ấp vai kề, thầm thì “anh anh, em em” mọi điều nhung nhớ, rồi...
      Hừ... hừ... không, không thể được. Ông ấy là chồng bà, là của riêng bà, không ai có quyền... Phải! Bà không chấp nhận chuyện đó. Bà không thể để ông đi. Hừ... hừ...
      Và, suốt đêm bà không sao chợp mắt, vừa rên vừa nghĩ kế giữ chân ông.
      Sáng hôm sau, ông Cảnh không ngồi nhấm trà như mọi khi, mà xăm xắn đi vào đi ra, khi xếp các thứ rau vào rổ cho bà, khi tìm đôi quang gánh ở chái bếp... Bà Cảnh biết ông định nói điều gì rồi, nhưng bà giả lơ, không đụng đến. Cho đến khi bà cắp nón và ghé vai vào chiếc đòn gánh tre mỏng mảnh, ông Cảnh mới ấp úng, như đứa trẻ có lỗi:
      - Mình ạ... Có lẽ... tôi phải đưa cái Gianh ra quê, nhân thể xem mẹ nó ốm đau thế nào...
      Biết ngay mà! Bà Cảnh ngừng lại, lấy tay quệt thứ bã trầu dính đỏ bầm khóe miệng, ra chiều cân nhắc một giây, rồi xởi lởi:
      - Ờ... Mà để tui coi... Từ hồi được làm chị làm em với mẹ cái Gianh tới chừ, đã khi mô ông cho tui được gặp mặt bà con họ hàng dì ấy ngoài nớ? Thôi chuyến ni nhân có mấy ngày nghỉ, ông để tui đưa cái Gianh đi, chị em gặp nhau lâu lâu.
      Bà nói và quày quả đặt gánh lên vai như thể sợ kéo dài chợ trưa, và như thể chuyện không có gì phải bàn lại nữa, khiến ông không kịp phản ứng gì. Khi bà ra khỏi cửa rồi, ông mới ngớ ra, mới kịp hiểu, và đứng ngẩn tò te hồi lâu như đứa trẻ bị cụt hứng, trước cái lí lẽ đơn sơ mà chết cứng ấy của bà...
      Bà Cảnh, sau chuyến đi cùng cái Gianh ra thăm “dì nó” trở về, hoan hỉ như sau một chuyến công cán dàn xếp thắng lợi. Bà hồ hởi kể với ông say sưa bao nhiêu thu nhặt được ở quê “ngoài nớ”: Nào cái dòng sông Gianh nước trong và xanh dễ sợ, cứ ngỡ không có đáy, nào chạy dọc hai bờ bãi là tít tắp ngô non và lạc, với bốn bề viền những bờ dâu xanh mướt, nào đi trong đường quê cấm có thấy ánh mặt trời, cam bưởi cứ thả hương quấn quít theo người, nào bến sông chiều con gái tắm đông chi lạ, o mô o nấy tóc dài và da trắng hết chỗ nói...
      Bà vô tình, hoàn toàn không hay biết rằng, đã chạm đến nỗi niềm sâu kín nhất trong lòng ông Cảnh. Bà đơn giản nghĩ rằng, tả thực cảnh quê hương ngoài đó, cái quê hương mà quả thật đã khiến bà thích thú, sẽ làm ông vợi nỗi nhớ Tâm. Điều bà luôn luôn mong muốn là làm sao trong ông hình ảnh Tâm không vượt trội bà. Nhưng bà đâu hay rằng chính những điều bà nói, đã thắp bùng lên nỗi nhớ Tâm cháy bỏng trong ông.
      Chao ơi, cái làng quê bên bờ sông Gianh ấy cứ như là nơi ngọn nguồn nỗi nhớ của ông. Thuở ấy, ông còn trai tráng lắm. Đơn vị hải quân của ông đóng ở cảng Cửa Gianh, trấn giữ một vùng mặt biển và một cửa sông trên bến dưới thuyền tấp nập. Chiều chiều, dòng sông xanh chở những con tàu trắng đi lại giữa hai bờ làng quê trù phú yên vui. Những cô gái gánh cá lên bờ còn ngoái lại trêu mấy chàng lính thủy trên tàu. Nhưng cảnh thanh bình ấy chấm dứt đột ngột, khi những quả bom đầu tiên của giặc Mĩ ném xuống miền Bắc lại rơi đúng bến cảng này.
      Không thể tiếp tục cuộc chiến đấu bất lợi giữa những con tàu chỉ đi lại được trên mặt nước hạn hẹp và trống trải, với lũ diều hâu rộng đường nhào lộn trên không và có vũ khí la-de lợi hại, đơn vị ông chuyển sang lối đánh du kích. Và những con tàu đang đêm lặng lẽ ngược dòng sông Gianh, về neo ẩn dưới những lùm tre cao vút, xanh um vươn ra mặt sông, như từ lâu nó đã chuẩn bị cho cuộc chiến đấu ác liệt này. Rồi từ đó, đêm đêm, dòng sông Gianh lại lặng lẽ tiễn đưa những con tàu ra đi trong nỗi thắc thỏm mong chờ... Để sớm hôm sau, trước khi có ánh ngày, những con tàu lại trở về nằm nghỉ dưới những lùm tre cao vút, xanh um, lim dim nghe sóng sông Gianh vỗ về ru hát, thì trên mặt báo in đậm những chiến công của nó: số tàu chiến giặc bị đánh chìm, số xuồng biệt kích bị bắt gọn ngoài khơi. Đó là nỗi kinh hoàng của bọn giặc biển và nỗi khủng khiếp đến phát điên của bọn giặc trời Mĩ. Và hàng trăm tốp máy bay phản lực ngày càng sục sạo ráo riết khắp nơi mọi chốn, cố tìm cho ra dấu vết những con tàu bé nhỏ của đơn vị ông.
      Ông nhớ một lần, những mái hầm của tiểu đội ông chưa kịp ngụy trang trước lúc ra đi, sớm hôm sau trở về đã thấy mọc dày những cây dâu non. Ông không ngờ có một bàn tay con gái đã làm việc đó. Và, cái chàng lính thủy ấy đã “vương phải tơ” của người con gái đất Phù Kinh tơ lụa. Những người lính chuyên đánh trận về đêm, ban ngày cố ngủ. Nhưng ông nào ngủ được đâu khi gót chân của nàng nhẹ êm bên cửa hầm và bàn tay quay xa của nàng như múa? Cái đuôi mắt hình lá dâu của nàng cứ mở to lo lắng và hồi hộp ngóng theo bóng con tàu của ông ra đi lúc hoàng hôn.
      Rồi một hôm, ông nhớ rõ là một sáng mùa hạ trời rất trong, trong đến nỗi có thể trông rõ những nhành cây khẳng khiu với những tán lá lưa thưa trên vách lên màu xám của chín mươi chín chóp núi đá vôi của dải Phượng Hoàng chạy dọc phía Nam dòng sông, không hiểu chúng nghi là những con tàu nép hai bờ sông, hay chỉ là sự điên cuồng săn tìm trả thù vu vơ, mà bầu trời yên vui ban mai bỗng chốc đen đặc bóng lũ giặc trời. Thoạt đầu chúng chia thành hai toán bay hàng dọc theo hai hướng đi qua, rồi đột ngột quay ngoặt trở lại, ngỏng những cái cổ ánh bạc lên cao và bất thần đâm bổ xuống dòng sông. Cùng với tiếng rú rít gào thét man dại của hàng chục động cơ máy bay, tiếng nổ váng óc của mưa bom, của rốc - két và tiếng giòn đanh của các ổ đại liên, mười hai ly bảy dân quân vây bủa trên các đỉnh lèn đánh trả quyết liệt, là những cột nước từ lòng sông, những cột lửa từ hai bên bờ dựng vụt lên trời. Tất cả như chìm trong một vùng hỗn chiến của lửa, nước chạy dọc hai triền sông.
      Nhưng, như có phép thần, những lùm tre vẫn gan góc vươn ra che chở những con tàu. Và dòng sông Gianh cũng như đất mẹ hai bờ hứng chịu các luồng bom không chút chần chừ. Càng sục sạo săn tìm, lũ giặc trời càng điên cuồng cắt bom hối hả...
      Và, trong tiếng đạn nổ bom gào, những người lính thủy nghe rõ cả tiếng trẻ con khóc thét, tiếng của người bị thương kêu rên, tiếng gia súc thét rống, tiếng của những ngôi nhà bốc cháy nổ lốp đốp... Trái tim của họ đau nhức nhối. Không thể được! Không thể để nhân dân vì ta mà mất mát đến tính mạng và tài sản quá thể, con tàu ông xin lệnh nhổ neo, kéo cờ đỏ sao vàng, mặt đối mặt với lũ giặc trời Mĩ, thu hút các luồng bom, để bảo vệ nhân dân và hàng chục con tàu khác.
      Phút chốc, con tàu chiến sơn màu nước biển, ở đâu đó lao vút ra giữa dòng sông. Trên boong những người lính, không ai bảo ai, gọn ghẽ trong bộ đồ lính thủy mới nhất của mình: chiếc áo trắng in những con sóng xanh, chiếc mũ xanh có hai đuôi én tung bay, lanh lẹn và bình tĩnh ngồi vào vị trí chiến đấu quen thuộc quanh cỗ pháo hai nòng vươn thẳng lên trời một cách tự tin. Lũ máy bay giặc, như một bầy nhặng, bâu lấy con tàu của ông.
      Ông nhớ là lúc đó, ông hoàn toàn không nghe một tiếng bom nào, chỉ thấy loang loáng những bóng đen to nhỏ khác nhau lao thẳng từ trời cao vút xuống hạm tàu. Con tàu khi nghiêng khi ngửa, khi chồm lên khi giật lùi, vừa tránh bom đạn vãi tứ phía, vừa nhả đạn đánh trả quyết liệt. Nước sông Gianh lúc đó cứ sôi lên sùng sục ở hai mạn tàu, và như nhuốm đỏ bởi máu đồng đội.
      Về chiều, con tàu như kiệt lực vì thương tích đầy mình mẩy và vì những hòm đạn từ đất liền chuyển ra trên những con thuyền nhỏ nhoi của các cô dân quân với búi tóc tròn và bộ đồ đen nước dính chặt thân người, vừa bơi vừa đẩy dưới mưa bom, có lúc không đủ nạp cho cỗ pháo hai nòng bấy giờ đã đỏ bỏng. Không biết lũ phi công Mĩ nhận biết điều đó, hay chúng sợ tối trời để sổng mất con tàu, đã tập trung đánh đòn cuối cùng xuống con tàu của ông. Ông nhớ là lúc đó, ông thấy chớp lóe trùm con tàu, và mình bị hất tung xuống lòng sông như một tảng đá. Từ đáy sông lắng cát, không biết nhờ một sức mạnh nào: có lẽ là sự sống còn sót lại ở hơi thở cuối cùng trước khi tắt lịm, đã đẩy bật ông lên khỏi mặt nước. Nhưng hai cánh tay ông hình như không còn điều khiển được nữa, và trở nên nặng nề, đau buốt trong sự quẫy đạp của ông. Ông bơi chỉ bằng hai chân, đúng hơn là ông chống chọi tuyệt vọng với thần chết đang nắm hai tay ông từ từ kéo xuống lòng sông ngạt thở...
      Ông tỉnh dậy khi hoàng hôn vừa buông xuống mép nước, bên bờ dâu thẫm xanh, nằm ngửa trong vòng tay một cô gái áo quần ướt sũng. Dòng sông và bầu trời yên ắng trong mầu tím sẫm của nó, như chưa từng mấy phút trước đó có cuộc ác chiến nước sôi lửa bỏng. Không biết nước từ mái tóc rối bời của người con gái chảy xuống, hay nước từ cái đuôi mắt hình lá dâu mở to lo lắng của nàng nơi mặn chát môi ông...
      Chính tình yêu đã giúp Tâm tìm được ông ở phút hiểm nghèo, và vừa bơi vừa dìu ông từ giữa dòng sông mênh mông vào bờ, trong đôi tay quay xa kéo sợi dẻo mềm của gái Phù Kinh, dưới cái bầu trời mưa bom khủng khiếp ấy.
      Sau này, khi cuộc chiến ngày càng ác liệt, có lẽ vì cái thời điểm về Nam của mỗi người đã trở nên không hạn định được cụ thể, ở trên người ta cho phép những người tập kết ra Bắc có thể xây dựng gia đình. Và ông đã cưới Tâm. Để kỉ niệm trận đánh không quên ấy, họ đã chọn tên sông đặt cho con gái của mình.
      Ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, ông trở về thăm quê, không ngờ người vợ thuở ấy, sau bao năm tù tội, giờ vẫn còm cọm chờ ông. Lúc đó theo lời khuyên của Tâm: “Anh sống với em như thế là đủ cho em một đời hạnh phúc rồi, bây giờ anh hãy vì chị ấy... Chị ấy nào đã trọn một ngày gọi là hạnh phúc...” Ông trở về, và mang theo cái Gianh cho đỡ nhớ...
      Điều hoàn toàn bất ngờ và khó xử đã xảy ra ngoài suy nghĩ của bà Cảnh (có lẽ cả ông Cảnh nữa) là sự xuất hiện của Tâm ngay sau khi bà từ ngoài ấy trở về được ba hôm. Chiều ấy, ông Cảnh vừa hoàn thành một vòng bơi và vừa mặc quần áo, ông vừa cảm thấy hài lòng vì sự dẻo dai của mình vẫn còn khả dĩ. Ông trở về lòng thư thái. Đó là một điều hiếm hoi. Từ lâu, ông Cảnh đã là một ông già đầy tâm trạng, lặng lẽ mà man mác buồn. Chẳng còn dấu vết gì ở ông của một thuyền trưởng tiếng tăm nữa, ngoài mái tóc đốm bạc thường xuyên cắt cua kiểu lính và nước da mầu đồng hun một đời ăn nắng ăn gió, với thói quen ngày hai buổi, lúc tinh mơ và lúc chiều nhạt nắng là lại ra con sông trước làng bơi một vòng.
      Ông vừa bước vào sân, thì ngoài ngõ đã nghe tiếng của Tâm. Thoạt đầu cả ba người cùng lặng đi mấy phút. Với ông Cảnh và Tâm, có lẽ là sự dồn nén của bao ngày mong mỏi, nhớ trông, giờ gặp lại mừng quá nghẹn ngào không nói nên lời, lại nữa bên cạnh họ còn có bà Cảnh đang há hoác miệng vì ngạc nhiên, khiến họ phải dằn lòng. Nhưng bà Cảnh không thể nào tưởng tượng nổi một “nước cờ” táo bạo và khôn ngoan của “đối phương”, khi nghe Tâm, sau phút giây trấn tĩnh, đã tìm được cách lí giải rằng chị đi kí hợp đồng gì đó cho hợp tác xã, tiện thể ghé lại...
      Bữa cơm chiều diễn ra bề ngoài vui vẻ, nhưng bên trong nhiều tâm trạng trái ngược nhau. Bà Cảnh lấy cớ “dì nó mới vô, còn lạ nước lạ cái”, giành lấy công việc xới cơm và tiếp thức ăn, để che lấp cõi lòng rối bời đến nỗi không tài chi ăn uống bình thường được. Ngực bà lại như có một cái gì đè chẹn, tưng tức khi thấy ánh mắt chợt trở nên lấp lánh, trẻ trung của ông Cảnh cứ hướng về phía Tâm. Dào ơi, sao ông vẫn chưa chịu yên cái phận già, mà còn tí tởn!
      Họ còn gắp thức ăn bỏ vào bát nhau, nài nỉ nhau ăn thêm như một cặp uyên ương còn trẻ, khiến bà Cảnh thấy ngứa mắt. Và liền đấy bà cảm thấy tủi thân tủi phận, cảm thấy mình là người thừa trong mâm cơm, mặc dù họ cùng nhau gắp thức ăn bỏ lên bát bà thúc giục bà ăn. Nhưng bà có nuốt được đâu. Bà nhìn trộm mái tóc dài và mượt chảy phủ cái eo lưng còn thon thả của Tâm mà thèm, và giận. Này cô kia, sao bỗng dưng ở đâu lại ghé lưng vào chỗ chồng bà? Chao ôi, sao người ta hạnh phúc đến thế? Sao các người hạnh phúc đến thế? Bất giác, bà lại bật lên tiếng rên “hừ... hừ...” ngay giữa mâm cơm.
      - Chị làm sao thế? - Tâm hơi hốt hoảng và hỏi bà một cách ái ngại, khi chị thoáng nghe tiếng rên.
      - Không. Ơ mà... cái hồi bị chúng tra tấn, chừ trở trời cứ hay tức ngực...
      Bà Cảnh nói lí nhí và đưa tay vuốt ngực, cố nén cơn hờn ghen đang dâng đầy ứ trong người.
      Rồi bà cũng tìm được cách để chống trả “đối phương”. Ấy là đêm đó, trước khi đi ngủ, bà Cảnh nói như phân công.
      - Dì nó với cái Gianh ngủ giường của tui trong buồng cho rộng, hai mẹ con tha hồ tâm sự, hỉ!
      Đấy là bà nói cho hợp lí thế thôi, chứ cái Gianh đã ý tứ xin phép bà đi học tổ và ngủ lại nhà bạn từ đầu hôm. Rồi trước khi tắt đèn, bà dịch cái giường đơn của Gianh ra chặn cửa buồng, và vừa soạn chỗ nằm cho mình, bà vừa phân bua rằng: “Để hai chị em trò chuyện cho rõ.”
      Cứ thế, suốt nửa tháng trời có mặt của Tâm, đêm đêm bà Cảnh nằm canh cửa buồng, mặc cho hai đầu ông Cảnh và Tâm, cứ trở mình thao thức trong khuya... Của đáng tội, mấy lần ông Cảnh có mạnh bạo bước tới, nhưng tiếng dép của ông dù nhẹ nhàng, dù rón rén đến mấy, cũng bị những ăng - ten thính giác của bà phát hiện, và lập tức miệng bà phát ra những tiếng rên “hừ... hừ...” khiến ông phải rụt cổ lại.
      Không thể nấn ná, hi vọng tìm kiếm một cơ hội nào được nữa, Tâm đành dằn lòng khăn gói trở về, sau hơn nửa tháng vợ chồng chỉ được phép “kính nhi viễn chi”. Ngày Tâm lên đường là một buổi chiều nắng cuối xuân vàng mong manh trên từng ngọn so đũa ven đường. Ông Cảnh vừa đưa Tâm đi được một quãng, cả hai chưa nói với nhau được một lời riêng tư, đã nghe sau lưng tiếng chân gấp gáp. Không hiểu sao đến phút chót bà Cảnh lại thay đổi ý kiến: bà không muốn để ông Cảnh tiễn chân Tâm một mình, bà đuổi theo họ. Bà vừa thở vừa phân trần về sự cần thiết có mặt của mình rằng: chuyện vé vũng ở bến tàu là phức tạp lắm, dì nó thì lạ, mà ông Cảnh đàn ông đàn ang vô lo, rồi kẻ cắp nó móc sạch...
      Thế là cả ba người có mặt ở sân ga, ngồi trơ như ba pho tượng trên một cái ghế băng đặt ở góc phòng đợi, không giấu được vẻ ngượng nghịu và sượng sùng. Cho đến khi cửa nhà ga bật mở và người tuôn vào như nước chảy về phía đoàn tàu đang đợi họ, bà Cảnh như sực nhớ điều gì, liền đi đến mấy quán hàng bày bán dọc ga. Bà mua vội mua vàng mấy gói kẹo, vài ổ bánh mỳ, rồi quay trở lại chỗ cũ, nhưng ông Cảnh và Tâm không còn ở đấy nữa. Bà đuổi theo bóng họ thấp thoáng ở cuối đoàn tàu.
      Khi tìm được số ghế của Tâm, nhận ra túi đồ đạc đơn sơ của chị xếp gọn trên giá, mà không thấy hai người đâu, tự dưng bà thấy khó thở. Và một cái gì lại đầy ứ trong cổ họng và anh ách trong lồng ngực vừa khô khát vừa day dứt, thúc giục bà lao đi. Bà lách về phía cuối toa, nơi có phòng vệ sinh nhỏ bé, nhưng ở đấy bọn con buôn đã lèn chặt quá đầu những bao tải lớn hàng hóa. Như con mèo đuổi hút bóng con chuột, bà đảo mắt một lượt dọc các lối đi, phán đoán và lường ước điều gì, rồi bà lao qua phía cửa bên kia, nơi đoàn tàu quay lưng với một bức tường bao bọc sân ga dài và cao có chắn thép gai. Đấy là nơi vắng vẻ nhất hiện giờ. Bà nắm lấy lan can toa tàu, vội vã bước xuống bậc tam cấp bằng sắt cuối cùng, định nhảy xuống đường đá. Nhưng không hiểu vì cái bậc quá cao so với mặt đường lổn nhổn đá khiến bà sợ, hay vì một cái gì khác làm bà khựng lại. Bà thấy bải hoải và con tàu chao đảo dưới chân. Bà tựa người vào thanh vịn bằng sắt rỉ vàng lấm tấm, bên bậc cửa lên xuống của con tàu, và rũ ra.
      Không ai thấy cả (người ta còn bận tíu tít với việc tìm chỗ ngồi và xếp hành lí ở phía bên kia), chỉ có một mình bà thấy, Tâm, một tay vòng qua vai ông Cảnh, tay kia lần những ngón tay dài và trắng của gái Phù Kinh tằm tơ xưa kia, xoa vuốt bờ vai và bộ ngực còn vạm vỡ của ông một cách âu yếm. Đầu nàng tựa ngả vào ngực và hướng khuôn mặt phúc hậu với đôi mắt nhắm lơ mơ vào mặt ông Cảnh, để mặc cho nước mắt giàn giụa hai má, miệng nở một nụ cười sung mãn của hạnh phúc. Ông Cảnh đứng như trời trồng một tay vòng qua eo lưng Tâm, tay kia vuốt nhẹ mái tóc dài được búi lại thành trái bưởi sau gáy. Ông gần như quay lưng lại, nên bà không nhìn rõ sắc mặt ông. Rồi bà thấy ông cúi xuống, áp khuôn mặt của mình vào khuôn mặt của Tâm, đôi môi của họ tìm được nhau và hút chặt lấy...
      Bà Cảnh như sực nhớ điều gì, đứng bật dậy, và thay vì nhảy phóc xuống, kéo xé hai người ra như bà đã từng tốn công kèm giữ họ lâu nay, không hiểu sao, bà lại lật đật leo lên sàn tàu, và vội vã tụt xuống phía cửa trước, nơi người ta vẫn còn lên xuống đông đúc. Bà sấp ngửa bước qua những con đường đá có những thanh tà vẹt bằng bê-tông bắc ngang và những đường ray sắt chạy dọc một cách vô thức. Hình như bây giờ bà không còn ý thức được thời gian và không gian quanh mình nữa. Bà đi như một cái máy, đôi khi suýt đâm bổ vào người đi ngược. Cứ thế bà đi, bước qua tất cả, bàn chân gầy guộc xương xẩu va vào đá vẫn không biết đau. Bà bước lên cái hành lang rộng có mái che, bước qua cánh cửa phòng đợi, qua những dãy ghế giờ không một bóng người, đầu không ngẩng lên. Có lẽ chính bà cũng không biết bà đi đâu. Cho đến khi nghe tiếng cô nhân viên bán vé giọng miền Trung hỏi thoảng đâu đó rất xa xăm: “Mẹ xuống ga mô?” bà mới sực tỉnh, và nhận ra là tay mình đang chìa tiền qua cửa bán vé. “Lệ Sơn,” bà nói rồi cầm tấm vé quày quả trở lại con tàu, cũng vội vã và vô thức như khi bà đi đến đây: bàn chân gầy guộc rớm máu vượt qua những con đường rải đá, những hàng tà vẹt bê - tông bắc ngang và những đường ray sắt chạy dọc. Hai bên thành tàu chỉ còn lại những người đưa tiễn, mặt hướng về các cửa sổ, và loáng thoáng đó đây những lời dặn dò chúc tụng cuối cùng. Bà gặp ông Cảnh cũng vừa từ trong toa bước xuống bậc tam cấp, mặt ửng đỏ và mi mắt còn ngấn lệ chia phôi. Tự dưng, nước mắt bà cũng trào ra, chảy ào xuống gò má đầy nếp nhăn của lớp da mồi khô đét vì tuổi tác và vì những tháng năm tù đầy cay cực. Bà ngăn ông lại ở bậc cửa và giúi vào tay ông tấm vé tàu.
      - Ông đừng quay lại nữa...
      - ??
      - Nó còn trẻ người non dạ rứa, ông nỡ để nó đi một mình răng đành?
      Không hiểu nhờ một sức mạnh nào, một cái gì mới mẻ, bao dung và độ lượng đã giúp bà đứng vững và nói được những lời rắn rỏi đó, khiến ông Cảnh cầm tấm vé lật đật quay vào toa tàu, như thể vừa nhận được một mệnh lệnh không thể thối lui...
      Và con tàu chợt giật mình, như thể vừa chứng kiến quá say sưa cuộc đưa tiễn dùng dằng của ba người suýt làm nó trễ giờ, liền hú lên một hồi còi giữa trời hôm sâu thẳm...
      Có phải tất cả mọi cái xảy ra trong mơ không? Bà không biết nữa. Chỉ biết rằng, khi cái chấm đen cuối cùng của con tàu nhòa hẳn vào không gian hun hút xa lắc, bà mới quay người lại, chợt nhận ra sân ga vắng lặng, và mình bà đứng trơ giữa những con đường đá với những hàng tà vẹt bê-tông rải ngang, những đường ray sắt chạy dọc vô tận. Bà bỗng bật lên tiếng nấc tủi thân, vì tuồng như con tàu đã bỏ rơi bà, trơ trọi và cô độc giữa đời...
      Bà cắm cổ bước như chạy ra khỏi sân ga, lủi thủi một mình và cũng hoàn toàn vô thức. Cho đến khi bàn chân bắt gặp lối bờ sông quen thuộc, nơi chồng bà sớm và chiều hai lần gắng gỏi bơi đủ một vòng, bà cố lấy lại vẻ bình thường để vào nhà, bởi bà biết trong nhà còn có cái Gianh. Nhưng khi đã vào được buồng mình, bà nằm vật ra giường, âm thầm héo rũ đi. Trái tim bà vẫn chưa dễ tha thứ cho hành động mã thượng của bà lúc ở sân ga. Thế là, cơn giằng co giữa lòng vị tha, độ lượng của người mẹ cao cả, với sự hờn ghen tủi phận của người vợ bị cướp mất chồng cứ bám riết, hành hạ bà, chốc chốc lật tấm thân già nua, khô héo của bà từ mép giường bên này sang mép giường bên kia.
      Bà mơ hồ có tiếng chân bước nhẹ, và liền đấy cảm nhận được một cái gì mềm mại, mát rượi và êm ái đang lướt trên lớp tóc cằn khô của mình, đã kéo bà dứt ra khỏi cái tâm trạng dằn vặt kia. Và đến lúc đó, bà mới hiểu ra rằng, đó là những ngón tay thon thả của cô gái đang lớn phổng trong nhà bà - cô con gái đã tắm uống cái nguồn nước sông Gianh kia từ thuở lọt lòng.
      - Má... Ba đi rồi hả má?
      Không biết nhờ tiếng nói khẽ khàng, dịu ngọt, pha giọng của hai vùng đất của Gianh, hay nhờ một cái gì khác, khiến bà thấy mình bỗng chốc khỏe khoắn như không. Và cái cảm giác bị bỏ rơi trên sân ga cũng không còn nữa. Phải rồi, chuyến tàu của bà là chuyến cuối cùng với Gianh, thậm chí cùng con cái của cái Gianh...
      Bà nhỏm dậy, kéo cái Gianh vào lòng, và kín đáo lau những giọt nước mắt tấm tức của mình bằng mái tóc mềm mượt của nó.
      Lúc đó, căn buồng bỗng rạng lên chốc lát bởi những tia nắng cuối ngày bất chợt rọi qua những song cửa phía Tây. 

      Hu Phương




Chuyện người đàn ông vô gia cư sử dụng 100 đô la được cho thế nào? 

Inline image
Lin đưa tiền cho Thomas rồi bí mật theo dõi người đàn ông vô gia cư này
Một chàng trai người California đã phải thốt lên rằng chưa có ai khiến anh ngạc nhiên hơn thế, sau khi đưa 100 USD cho một người vô gia cư và âm thầm chứng kiến cách người này tiêu tiền.

Josh Paler Lin, một người dùng nổi tiếng trên mạng xã hội video You Tube, đã đăng tải một video gây chú ý hôm 22/12. Đoạn phim bắt đầu với cảnh Lin đưa 100 USD tiền mặt cho một người ăn xin trên đường phố Los Angeles, sau đó bí mật theo sau để xem ông làm những gì.

Khi người đàn ông, được biết đến với cái tên Thomas đi thẳng vào Liquor Mart – một cửa hàng bán rượu gần đó, Lin tưởng rằng anh đã có được đáp án mình cần. Nhưng thực ra Thomas vào cửa hàng để mua thức ăn, sau đó đi thẳng đến một công viên, nơi có nhiều người vô gia cư khác tụ tập và phát những thứ ông có.

“Thành thật mà nói, tôi không mong đợi để ghi được đoạn phim này” – Lin viết trên trang YouTube cá nhân –  “Nhưng tôi rất vui vì tôi có thể chứng kiến và thu được một khoảnh khắc đẹp như vậy. Đây là một trong những trải nghiệm tuyệt vời nhất từ trước đến nay trên kênh (You Tube)”.

Inline image
Clip ghi lại cảnh Thomas đi thẳng tới quầy rượu sau khi nhận tiền…
Lin tâm sự tiếp: “Tôi không chỉ giúp đỡ một người đàn ông vô gia cư. Tôi thực sự đã gặp được một con người đáng kinh ngạc, một người bạn. Chúng tôi đã theo dõi ông ấy trong suốt quãng đường dài vài cây số, trong gần một giờ hoặc lâu hơn”.

Inline image
… nhưng trở ra với một túi thức ăn lớn…
Thomas nói với Lin rằng ông bỏ việc để chăm sóc cha mẹ của mình. Nhưng sau khi cả hai qua đời, ông không còn đủ khả năng chi trả cho căn hộ từng ở nên trở thành một người vô gia cư.

Inline image
… và đi tới công viên gần đó, nơi có nhiều người vô gia cư khác tụ tập
Sửng sốt với những gì vừa chứng kiến, Lin đã đưa Thomas đi ăn tối và tặng ông một đêm nghỉ tại khách sạn. Anh cũng tặng Thomas thêm 100 USD tiền mặt. “Càng nói chuyện, tôi càng cảm thấy ông ấy thành thật như thế nào… Tôi đã cho ông ấy số điện thoại của mình và nói rằng cứ gọi khi cần giúp đỡ”. Rồi Lin nhắc lại một câu nói nổi tiếng “đừng bao giờ đánh giá một cuốn sách qua bìa của nó”.

Ngoài ra, Lin còn đã lập một trang gây quỹ trên Indiegogo cho Thomas, hy vọng sẽ quyên góp được 10.000 USD. Tuy nhiên hiện tại, số tiền quyên góp đã là 35.000 USD, vượt xa kỳ vọng của anh.

Dưới đây là đoạn video mà Lin đã ghi lại về hành động hào hiệp với những người đồng cảnh ngộ với mình của Thomas:





Inline image
(Nụ cườiEmojiđẹp nhất của người vô gia cư khi nhận được100usd của vị ân nhân)

Những mẫu chuyện không quên - TRỐN TRẠI!
  • Chuyện dài người tù “cải tạo” sau cuộc chiến, cũng tùy thuộc từng vùng miền cũng như cảm tính của bên thắng cuộc, nhất là thời gian mấy năm đầu bi coi là “ngụy”, ngành cảnh sát và hành chánh gọi là “ngụy quyền”, giao cho công an quản lý còn có chút quy ước, cấp đại tá và tướng thì bị đưa thẳng ra Bắc, hàng trung tá trở xuống trong đó chỉ duy nhất ở Huế là có cả chuẩn úy, SVSQ đang còn trong quân trường, ngay cả B trưởng nghĩa quân, NDTV (nhân dân tự vệ) không có cấp bậc đều bị tập trung “cải tạo”, và có người bị tù tới 13 năm (nghĩa quân Lê Thê làng An Hạ), thành phần bị coi là “ngụy quân” do bộ đội quản lý thì tùy hứng,bọn họ coi cái chết của người tù như gà vịt,hận thù sâu đậm thì nổ súng đằng sau lưng rồi cho là tù bỏ trốn (Tr/u Sang, Th/u Minh ở Cồn Tiên) bác sĩ mà lại bị trúng gió đành chết không cứu được!? (Tr/u Võ Đức Giang ở Ái Tử), đau ruột thừa, kiết lỵ, ăn cóc, ăn củ sắn bị say cũng chịu chết (đại úy Lực), treo cổ tự tử thì cho là luyến tiếc đời sống phồn vinh giả tạo không chịu nổi nên tự tử vv.. (chuẩn úy Bùi Băng Bim). Đi lao động cả đoàn tù lội qua hồ bị vọp bẻ kéo lên bờ còn tươi rói cũng bó tay (Tr/úy Nguyễn Di lòng hồ sông mực). Tôi lại nghĩ tới đất nước Hoa Kỳ, nạn nhân bị vùi trong tuyết, dìm dưới tảng băng lạnh, thân người gần như đông đá vẫn được cứu sống, vậy con người số mệnh nằm ở đâu!?
    Ngoài cảnh bi ai còn có những tình huống cười ra nước mắt mà kêu Trời chẳng thấu! Một thằng gi trâu được trở thành cán bộ vệ binh lăm le cây súng, mà chúng tôi đặt cho cái tên “Trần sùng” (nhân vật thằng khùng Thạch Sùng ác độc trong phim vc, thật ra tên nó là Trần Chính) hắn dùng roi đánh tù binh như con cái rồi bắt ngồi viết kiểm điểm, trung úy già Quân lực VNCH Nguyễn văn Bá đã có vợ và 4 con phải viết tới lần thứ 3 vì “thưa cán bộ mà dám xưng tôi không xưng Em” và quên hứa với thằng gi trâu, từ nay rút kinh nghiệm xuống suối tắm không ở truồng, tên này còn tập họp anh em rồi lên lớp, gào thét “con trâu còn có cái đuôi để che, lũ tụi bây còn thua nó!” Trời ơi Trời!.. một bác Th/tá (Hồ Thục) lớn tuổi hơn cha mình, hắn chỉ tay vô cây đàn, bảo (bác mang theo như giấy mời kêu gọi) thằng này!... thằng này!... đàn thử bài tao nghe coi! đúng là dân Mường mán còn thua kém xa!
    Tôi còn nhớ mấy ngày đầu lên trại 1, ở chung tổ với đa số là cấp trung tá thiếu tá, các anh khá lớn tuổi quen lội rừng nên dễ an phận, còn tôi hay tựa cửa sổ vách đất ngồi nhìn Trời đêm rồi hát nghêu ngao:
    - Ôi! Ta buồn ta đi lang thang bởi vì ai !... (thật ra lúc đó tôi chỉ thuộc một câu mà không biết bản nhạc chi nữa).
    Vậy là một tên vệ binh nấp đâu bên ngoài ập vào bắt tại trận: 
    - Đi đâu? hả! Đất nước hòa bình rồi anh định trốn đi đâu hả!?
    Chiều hôm sau tôi bị kêu lên khung (bộ chỉ huy trại), trước khi đi các anh dặn dò đủ điều tôi mới biết đó là bản nhạc chuyện trầu cau”. Cũng may là gần 2 tháng sau khi Đà Nẵng mất, tôi ra Huế ở với xóm Thượng Thành hiền từ, tuổi trẻ chóng quên ăn ngủ điều độ nên nhìn tôi mảnh mai như thư sinh, chứ lúc còn ở phi đoàn đi bay, cũng căng thẳng mau già lắm! Phải nhào lộn hằng ngày, mỗi lần kéo chiếc F5 lên, sức ly tâm cng sức hút trái đất trì người xuống, hai chân nặng chịch, máu không lên được mặt méo xẹo có khi “black out” không còn thấy chi hết, cái mask thở oxy ấn sâu vô má đi bay về tháo ra thấy mà gớm không dám soi gương, nói tóm lại lúc bấy giờ tôi trông rất dễ thương hiền lành vô tư, nên mấy cha cng dù là sắc máu nhưng có người cũng hiểu đối xử nhẹ nhàng với tôi, không thì cũng như đòn thù.
    Trong suốt thời gian hơn 3 năm quân đội quản lý, người tù lao động theo mức khoán mỗi ngày, và cán bộ quản giáo cũng tùy hứng tùy người, nên dù vất vả còn có chút tự do dễ thở, ra đồng đi rừng không có vệ binh ôm súng đi theo, nên ngay cả các niên trưởng trung tá cũng yên phận chờ đợi ngày về, không một ai nghĩ tới chuyện trốn trại mà đi đâu bây giờ!? Cán bộ việt cng trên khung cũng đánh giá thấy được điều đó.
    Nào ngờ sau đúng 3 năm, khoảng 1/3 thì được thả về, những ai còn ở lại bị tống hết qua công an, lúc này vệ binh mới bám sát nút, mang súng kè kè sau lưng, hàng rào kẽm gai dựng nhiều lớp bao quanh, có chòi canh và vệ binh đi tuần tra 24/24, đi tiểu tiện ban đêm người tù phải tự la lớn như thằng điên“báo cáo cán bộ tôi đi đái!” Lúc bấy giờ hiểu ra thì đã muộn! Có một bạn tù (Trần Hạ) chỉ mới dự tính leo qua và bị phát giác vụt bỏ chạy, rớt ra cái ví cũ rích có hình vợ con, vậy là chịu số phận nằm nhà “ri” liền mấy năm.
    Trở lại chuyện Trại tù Ái Tử lúc còn do quân đội quản lý, bây giờ ngồi nghĩ lại tôi mới thấy mình quá ngu xuẫn và càng hiểu rõ hơn bộ mặt tàn ác của chế độ cng sản nói chung và bản chất từng con người nói riêng, ấn tượng hận thù đã biến họ tàn ác còn hơn loài lang thú, cũng chỉ do nổi nhớ thương cha mẹ già, vợ trẻ con thơ, bọn họ tha biết chúng tôi dù trốn trại cũng ch để được nhìn người thân trong thoáng chốc, mà hầu hết lớp trẻ không tự chủ được nên trốn trại, chỉ để về thăm nhìn chút cho thỏa lòng, nhưng nếu không may bị bắt hoặc “ăn ten” chỉ điểm Trại biết được thì hậu quả vô cùng khốn nạn, bị đánh đập “tứ trụ”, hành hạ bỏ đói, nhốt nhà “ri” hằng năm! (chuẩn úy Huỳnh Ngọc Sĩ). Ấy vậy mà vẫn không ngăn được niềm khao khát của không ít người tù trẻ “cải tạo trong đó có tôi, tuổi trẻ thật đáng thương và đầu óc cs lớp già ngu muội lúc bấy giờ thật đáng nguyền rủa!
    Thời gian ở trên trại tù “cải tạo” được khoảng gần nửa năm sau mới có nơi ở ổn định, 50 con người chung một nhà thành một đội, chứ không rãi rác 5 láng như trước đây, người tù nằm sát nhau trên những tấm “ri” sắt có lằn dọc, đêm về vừa đau lưng vừa lạnh thấu xương! Lúc bấy giờđã khai hoang đất đai trồng trọt mênh mông tạo nên nhiều rừng khoai sắn bát ngàn thừa sức nuôi tù. Chúng tôi bắt đầu có ngày ngh chủ Nhật, lao động bây giờ chủ yếu là vô rừng đốn củi tiêu chuẩn ngày một gánh, Trại bán lấy tiền, dưới phố xe tải lên chở về mỗi ngày, lao động đồng áng thì theo kẻng, trưa về được ngh ngơi 2 tiếng, người tù lớn tuổi thường nằm nhắm mắt dù không ngủ, riêng tôi cứ mon men ra ngoài lang thang ở mấy đồi sim, nhất là gặp mùa có trái chín cũng ấm bụng thích thú, khi thì tìm hái rau má ăn độn khoai sắn, để cảm thấy căng bụng hơn là nằm dài, và rồi tư tưởng trốn trại nhen nhúm để về thăm nhà bắt đầu khởi sự từ đây...
    Nhớ lần trốn trại đầu tiên là một ngày chủ nhật được nghỉ, lúc đó đã tới giờ phát cơm trưa, không hiểu sao tôi nổi cơn thèm nghe tiếng xe chạy, thấy cảnh người đông đúc qua lại, và chỉ vậy mà sự khao khát thôi thúc không cưỡng lại được, tôi thay bộ đồ thường lén ra ngã đồi phía sau (Khung Trại cán bộ nằm bên phải cách khoảng xa) bẻ ra đường cái nhắm hướng chợ Đông Hà, cuốc bộ nhanh cũng mất hơn 4 tiếng vừa đi vừa về, và chỉ có tối đa 1 tiếng đi lơ ngơ coi thiên hạ chợ búa vậy mới khùng chứ, có một chị bạn hàng nhìn sửng tôi và luôn miệng khen khôi ngô tuấn tú, chị chạy mua cho phần cơm có miếng thịt heo, ăn xong chị biểu tôi viết thư tay để chị nhờ người mang tới nhà trên Huế (thời điểm đó nếu để giữa đường đi làm dấu ghi địa chỉ, cũng có người nhặt giúp đem tới nơi). Báo hại sau đó mẹ tôi vi quá thương nhớ, đã ra chợ Đông Hà đợi cả ngày hy vọng gặp con, chị bạn hàng nhận ra, hai bên ngồi trò chuyện về tôi, mẹ đã nhiều lần quệt nước mắt! (Sau này cho thăm nuôi mẹ tôi kể lại). Lần đó về tôi mệt rã người và chỉ thấy nhớ, thấy buồn thêm!
    Lần thứ hai dự tính trốn trại cũng ngày chủ nhật, tôi dậy đi từ sớm và chỉ cho thằng bạn tín cẩn SQ Đà Lạt Nguyễn Nông biết và nhờ lãnh giùm phần ăn trưa, chuyến này là vô Huế, để chắc ăn tôi ghé Lò gạch xã Triệu Ái nơi làm việc của thằng Huỳnh Tư ở trong xóm, ngày trước hay gọi tôi là đại ca, nó ở sát nhà bà xã tôi và mê chiếc A37 khi miền Nam đang còn, tôi hay bay ra Huế liệng sát nóc nhà bà xã tôi và cả nóc nhà nó... Tôi thay bộ đồ màu xanh dương và đội luôn mũ công nhân của Tư để ra bến xe Quãng Trị - Huế, không biết là xui hay hên, khi ra tới đường cái, tôi nhìn thấy đằng trước bộ đội đứng đông quá lại có đeo băng đỏ trật tự, tôi cứ chần chừ nhưng cuối cùng không dám vượt qua, trở lại lò gạch thằng Tư mới nói cho tôi biết nể anh lắm, chứ quá lo, anh vừa bước ra là tim em đập thình thịch! Mà đúng như vậy hôm đó nếu tôi liều mạng có thể đã xẩy chuyện lớn, tôi mà bị bắt với tang vật bộ áo quần giả dạng công nhân thì hậu quả thật khó lường, hú hồn!
    Trở về trại tôi lại bắt đầu tính kế khác, vừa buồn vừa sợ quên cả đói, hôm đó ai xui khiến nhờ Trời Phật che chở ngăn cản, chứ tôi bước đi tiếp sẽ bị bắt là chuyện chắc! Mấy ngày sau đó vô rừng chặt củi, được nhận phần cơm từ đầu hôm, tôi dậy đi sớm hơn, bó xong phần khoán trong ngày, tôi chặt thêm một ít cất giấu và cứ thế 4 ngày liên tiếp đủ một gánh để dành, mọi công tác hằng ngày được Tổ trưởng phân công từ đầu hôm, vậy là tôi được ăn luôn 2 phần cơm tương đối ấm bụng cho hành trình trốn trại, 3 giờ sáng là khởi sự (lẽ dĩ nhiên đêm đó không ngủ được, phần bồn chồn phần sợ ng quên). Tôi phải băng đường rừng vì giữa khuya đi một mình dễ bị dân phòng tóm cổ, ra được tới bến xe thì Trời cũng vừa hừng sáng, nếu có đủ tiền để đi Taxon (xe 10 chổ ngồi) thì an toàn hơn, vì qua trạm gác tài xế thường đến nói nhỏ với công an và cho xe chạy chứ không xét, nhưng đây là lần đầu tiên tôi chưa có kinh nghiệm nên đi xe hàng và một chuyện đã xảy ra khiến tôi sợ muốn đứng tim! Xe dừng trước trạm kiểm soát, công an bắt mọi người xuống xe đi hàng một trình giấy tờ, may lúc đó chỉ có một thằng đứng kiểm soát, đành liều mạng thôi! Đợi tên này vừa cúi xuống coi giấy CMND, tôi lòn ra đi sau lưng nhập toán đã xét rồi, thoát nạn! Cám ơn Trời đã phù hộ.
    Đến được Huế, tôi đi xe ôm về nhà chị tôi chứ đâu dám về nhà mình, anh rễ tôi nhờ ai đó đi báo tin, thế là cả ba mẹ tôi, vợ và con gái hối hả đến gặp tôi, sau đó còn có mấy đứa em vợ nghe tin cũng tìm đến níu chặt hai bàn tay tôi, vẫn còn nhớ cô bé Tường Vi 16 tuổi miệng cười tươi mà nước mắt chảy đầm đìa! Tôi lúc đó thật sự như người rừng về mất hết cả ngôn ngữ! Một thằng em con chú bác ruột ở ngoài Bắc nghe tin cũng cố tới thăm cho biết mặt, thấy nón cối và áo quần xanh lục bộ đội tôi định vùng chạy, mẹ tôi ứa nước mắt bảo tôi: 
    - Thằng Bình con chú Phùng đó con ơi đừng sợ! tội nghiệp nó hỏi con hoài, còn đòi lên thăm con nữa đó! Tôi nghe giọng Nghệ An Hà Tĩnh nặng chịch nhưng âm điệu thân thương chứ không như cán bộ trại, tình máu mũ ít nhiều cũng có khác!...
    Lần trốn trại đáng nhớ ghi dấu mãi một hình bóng là một ngày cuối tháng chạp âm lịch tính theo dương lịch là đã qua năm 1976. Tổ cắt cử tôi đi rừng chặt lá “don” về cho trại gói bánh chưng. Tôi đã không lên rừng mà đi ngược trở vô Huế, cũng ghé nhà chị tôi và tức khắc có người ra chợ mua cho tôi số lá đon đúng như tiêu chuẩn trại đề ra để cho tôi được yên tâm, hôm đó cả nhà đủ mặt quây quần quanh mâm cơm ai cũng hả hê chỉ riêng mình ba tôi là không thấy vui và đó cũng là lần cuối cùng tôi được trò chuyện với ba tôi. Đúng 12 ngày sau thì ông vĩnh viễn rời bỏ thế gian, ba tôi gục chết không một lời trăn trối khi đôi tay còn ôm chặt đứa cháu nội, con gái đầu lòng của tôi khi sanh ra thì ba đang ở trên núi và lúc bấy giờ mới 7 tháng tuổi, nó trố mắt ngây thơ nhìn ông nội ra đi lúc 8 giờ tối ngày mồng 10 Tết năm Bính Thìn 1976!...

    PHIEU LE

Nam Cực và Bắc Cực khác nhau như thế nào? 
  • Trên Trái Đất của chúng ta có 2 vùng cực: Bắc Cực
    (Arctic - có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp Arktikos)
    nằm ở phía Bắc và Nam Cực (Antarctic - có nguồn
    gốc từ tiếng Hy Lạp Antarktikos) nằm ở phía Nam.
     
    Vậy ngoài tên gọi ra thì ta còn cách nào để phân
    biệt chúng trong khi cả 2 đều là nơi khắc nghiệt
    nhất nhì thế giới?
     
     
    Nam Cực và Bắc Cực khác nhau như thế nào?
     
    Hai vùng này có khá nhiều điểm đối lập nhau,
    Bắc Cực thực chất là một đại dương được bao quanh
    bởi đất liền còn Nam Cực là một châu lục được bao
    quanh bởi đại dương.

    Bắc Cực và Nam Cực, nơi nào lạnh hơn? - Ảnh 3.

    Về động vật đặc hữu thì Bắc Cực có gấu trắng mà
    không có chim cánh cụt và Nam Cực có chim cánh
    cụt mà không có gấu trắng.

    Bắc Cực và Nam Cực, nơi nào lạnh hơn? - Ảnh 1.



    Bắc Cực
     
    Bắc Cực bao gồm vùng đại dương băng giá rộng lớn
    bao quanh là tầng đất bị đóng băng vĩnh cửu đến
    cây cối còn khó sống nổi.
     
    Khi đứng ở cực Bắc thì dù nhìn về hướng nào cũng
    đều là hướng Nam. Cực Bắc nằm ở giữa giữa đại
    dương, được bao phủ bởi lớp băng dày và thường
    xuyên di chuyển.
     
    Nếu bạn lỡ chân rớt xuống nước bạn sẽ trở thành
    hóa thạch băng và chìm xuống độ sâu lên đến 4000m.
     


    Trên mặt nước, nhiệt độ trung bình vào mùa đông
    có thể xuống dưới -40 độ C và nhiệt độ lạnh nhất
    từng được ghi nhận vào khoảng -68 độ C.

    Bất chấp những điều kiện khắc nghiệt này, con
    người vẫn có khu dân cư ở Bắc Cực hàng ngàn năm
    nay. Ngoài con người, hệ sinh thái ở Bắc Cực còn
    có các loài sinh vật sống trên băng, động thực vật
    phiêu sinh, cá, chim, động vật có vú dưới nước,
    động vật trên đất liền và thực vật.

     
     
    Nam Cực
     
    Nam Cực là châu lục nằm ở cực Nam Trái Đất. Nó là
    châu lục rộng thứ 5 thế giới với diện tích hơn
    14.000.000km2, gấp gần 2 lần kích thước của
    Australia.
     
    Khoảng 98% diện tích Nam Cực là băng tuyết dày
    ít nhất 1600m do đó, điều kiện sống ở Nam Cực
    được coi là khắc nghiệt nhất trên toàn thế giới.
     


    Nam cực sở hữu nhiều cái nhất bao gồm: châu lục
    lạnh nhất, gió nhiều nhất, khô nhất và có độ cao
    cách mặt nước biển trung bình cao nhất trong tất
    cả các châu lục.

    Dù tuyết rơi suốt ngày, nhưng Nam Cực lại rất khô,
    nó được coi là sa mạc với lượng mưa trung bình
    hàng năm chỉ 200 mm dọc bờ biển và ít hơn rất
    nhiều nếu sâu vào trong đất liền.

     
     
    Nhiệt độ ở Nam Cực có thể đạt đến -89 độ C. Vì nó
    quá khắc nghiệt nên không có dân cư sinh sống,
    chỉ có khoảng 1000 - 5000 người sống tại các trạm
    nghiên cứu phân bố dọc châu lục.

    Bắc Cực và Nam Cực, nơi nào lạnh hơn? - Ảnh 5.


    Ngay cả những động vật và thực vật cũng rất hiếm
    hoi, chỉ có những loài thích nghi được cái lạnh mới
    có thể sống sót, bao gồm các loài tảo, sinh vật
    nguyên sinh, vi khuẩn, nấm và một số ít động
    thực vật.



    Nhưng tại sao Nam Cực lại lạnh hơn Bắc Cực?
     
    10 điều thú vị về hai vùng cực
     

    Những cơn gió vận tốc 100m/s ở châu Nam Cực
    được mệnh danh là "gió sát thủ"
     
     
    Có khá nhiều lý do để giải thích vấn đề này:
     
    Đầu tiên, các bạn có biết vì sao trên các đỉnh núi
    thường có tuyết không? Đó là vì càng lên cao
    nhiệt độ sẽ càng giảm và điều đó cũng giải thích
    cho lý do Nam Cực lại lạnh như vậy, phần lớn
    châu lục này cao hơn mực nước biển trung bình
    đến 3000m.
     
     
     
     
    Thứ hai, hãy nhớ là Bắc Cực thực ra là một đại
    dương đóng băng mà nước thì giữ nhiệt tốt hơn
    đất liền, phần nước ở đại dương ấm hơn sẽ truyền
    nhiệt qua lớp băng, điều này làm cho nhiệt độ
    ở Bắc Cực không đạt tới mức cực đại như bề mặt
    đất liền ở Nam Cực.



    Thứ ba, các mùa đều chống lại Nam Cực.

     
    Bất kỳ múi giờ nào cũng có thể được sử dụng trên lục địa đặc biệt này.
     
    Nam Cực là nơi mà tất cả các đường kinh độ gặp
    nhau, do đó, Nam Cực không có múi giờ cụ thể
    của riêng nó.
    Bất kỳ múi giờ nào cũng có thể được sử dụng trên
    lục địa đặc biệt này.
     

    Vào khoảng tháng 7, khi Trái Đất xa Mặt Trời nhất,
    thì phần Bắc Bán cầu lại quay về hướng Mặt Trời
    nên ấm áp hơn trong khi phần Nam bán cầu lại
    quay ra xa mặt trời khiến lạnh càng thêm lạnh
    và lúc đó cũng chính là mùa đông ở Nam Cực, làm
    cho cực Nam lạnh gấp hai lần.



    Nam Cực có rất nhiều cờ nhưng không một bóng người.


    Nam Cực và Bắc Cực khác nhau như thế nào?

    Nhưng dù không là nơi cư trú được, nhưng Cực Bắc
    và Cực Nam có những tác động tích cực cho Trái Đất
    theo cách riêng của nó.

    Cả hai vùng cực đều là “trung tâm” điều chỉnh khí
    hậu rất quan trọng với hành tinh chúng ta, chúng
    giúp cân đối nhiệt độ và đem đến cho chúng ta khí
    hậu ổn định.


     
     
    Ở cả Bắc Cực và Nam Cực, độ che phủ băng thay
    đổi trong năm, tăng lên vào mùa đông tối tăm kéo
    dài và tan chảy vào mùa hè nắng nóng.
     
    Phần lớn biến động về độ che phủ băng ở cả Bắc
    Cực và Nam Cực đều do băng biển trôi nổi, mở
    rộng và tan chảy.
     
    Do Bắc Cực hầu như được bao quanh hoàn toàn
    bởi đất liền, băng biển ở đó không di động nhiều
    như băng biển ở Nam Cực.
     
    Do có nhiều khả năng hội tụ hơn, thông thường
    băng biển Bắc Cực dày hơn 2 - 3 m so với băng
    biển Nam Cực (dày 1 - 2 m), theo Trung tâm băng
    và tuyết quốc gia (NSIDC).
     
    Trung bình, băng biển Bắc Cực đạt phạm vi tối thiểu
    khoảng 6,5 triệu km2
    và phạm vi tối đa 15,6 triệu km2, theo NSIDC.
     
    Để so sánh, băng biển Nam Cực có phạm vi tối
    thiểu nhỏ hơn 3,1 triệu km2 và phạm vi tối đa
    18,8 triệu km2.
     
    Thác máu

    Có một thác nước ở Nam Cực được gọi là "Thác Máu"
    Màu đỏ là do sắt bị oxy hóa, giống như cách sắt
    chuyển sang màu đỏ thẫm khi bị gỉ.
     
     
    Tuy nhiên, Nam Cực sở hữu tổng lượng băng nhiều
    hơn Bắc Cực, bao gồm băng trên đất liền và băng
    biển.
     
    Thềm băng ở Nam Cực dày tới 4,8 km và rộng
    khoảng 13,7 triệu km2. Tổng cộng, Nam Cực
    chứa khoảng 90% lượng băng trên thế giới. 
     

     

Những Bài Hát Của Một Thời Binh Lửa
  • (Thay một vòng hoa cho ca nhạc sĩ Nhật Trường Trần Thiện Thanh)
    Từ giữa thập niên 60, chiến trường miền Nam bắt đầu sôi động, hàng hàng lớp thư sinh phải từ giã mái trường, phố thị ,"xếp bút nghiên theo việc kiếm cung". Người lính miền Nam lúc ấy được thi ca nói tới như là những chàng tuổi trẻ hiền lành, lãng mạn, đi hành quân như vui thú với rừng núi sông hồ, mà hành trang lúc nào cũng kèm theo thơ túi rượu bầu và hình ảnh một người tình nho nhỏ ở hậu phương:
     "... Kẻ thù ta ơi, những đứa xâm mình
    Ăn muối đá và hăng say chiến đấu
    Ta vốn hiền khô, ta là lính cậu
    Đi hành quân với rượu đế mang theo
    Mang trong đầu những ý nghĩ trong veo
    Xem chiến cuộc như tai trời ách nước..."
    (NBS)
    Những chàng lính 19, 20 thời ấy không phải là những người hăng say chém giết, không hề muốn "xẻ dọc trường sơn" để "sinh bắc tử nam", mà chỉ muốn anh em một nhà cùng sống trong hòa bình an lạc:
    "Đêm nằm ngủ võng trên đồi cát
    Nghe súng rừng xa nổ cắc cù
    Chợt thấy trong lòng mình bát ngát
    Nỗi buồn sương khói của mùa thu...
    (NBS)
    Cũng từ thời gian đó, xuất hiện những bản nhạc của Trần Thiện Thanh và tiếng hát của chính anh, ca sĩ Nhật Trường. Những bài hát viết về lính, về tình yêu của lính. Những người lính lãng mạn hào hoa, và những cuộc tình đẹp, dễ thương như mùa thu, như hoa tím trong rừng sim, cho dù kết cuộc chỉ còn là những "chiếc khăn sô của người cô phụ còn lóng lánh dấu ái ân và những dòng nước mắt".
    Ta thử hình dung những người lính ấy trong bài "Tình Thư của Lính":
    "Từ khi anh thôi học, và từ khi anh khoác áo treillis
    Từ khi anh xa nhà, một ngàn đêm nhung nhớ giữa trời mây
    Ngại chăng đêm di hành và thường khi dừng bước giữa hoang vu
    Một thằng ước ao, để một thằng khát khao, còn mình thì nằm đếm sao..."
    Người lính thuở ấy, dù nay đây mai đó, nhưng rất đỗi chung tình và biết chấp nhận những chia lìa mất mát. Cho dù lúc nào "ngày anh đi sông hồ cũng in dáng em" và vẫn biết là:
    "... nếu em không là người yêu của lính
    em sẽ nhớ ai chủ nhật trời xanh
    em sẽ nhớ ai đêm sương lạnh lùng
    và giữa chốn muôn trùng ai viết tên em lên tay súng?"...
    Nhưng người lính lúc nào cũng lo sợ mình sẽ mang nỗi buồn và điều bất hạnh đến cho người tình nhỏ, nên nhiều lúc đành phải lặng lẽ chia tay: "biết trả lời sao, khi chưa nói yêu mà đã xa rồi..."..."sẽ không trả lời đâu, khi anh muốn em đừng vướng u sầu..."
    Cho dù biết "tôi chỉ là người lính phong trần, thấy hoa nhớ người yêu rất xa" (Hoa Trinh Nữ), "trong bao lần quân hành, tôi qua vùng khô cằn mồ hôi thành biển mặn trên môi" (Biển Mặn) hay "Anh vì lửa khói quê hương, đường hun hút biên cương, một mình ngắm trăng suông... Từng chiều rớt bên sông em có mơ gì không?... (Chân Trời Tím). Và cho dù người tình của lính có sẵn lòng chấp nhận thương đau:
    "... Nếu anh không về nữa, thì em xin chiếc khăn sô
    Lỡ anh không về nữa, hàng cây đêm sẽ đứng gục đầu
    Và vì sao khuya khép mắt sầu".... (Chân Trời Tím).
    Nhưng người lính đa tình vẫn luôn ưu tư cho người tình nhỏ:
    "... Giờ này thành phố chợt bùng lên
    Em dòng lệ bất giác chạy quanh
    Nghĩ đến một điều em không rõ
    Nghĩ đến một điều em sợ không dám nghĩ
    Đến một người đi giữa chiến tranh
    Lại nghĩ tới anh... nghĩ tới anh... (Chiều Trên Phá Tam Giang), để cuối cùng đành nói một lời khuyên:
    "Nếu em biết rằng, có những người đi đấu tranh cho đời mang lời thề lên miền sơn khê
    Từng đêm địa đầu hun hút gió sâu
    Nếu em đã gặp mẹ già thương con khấn nguyện đêm rằm, vợ yêu chồng đang áo lạnh từng đông
    Thì duyên tình mình có nghĩa gì không?"
    (Tạ Từ Trong Đêm).
    Những khúc hát này ngày xưa, những người cùng thế hệ thời ấy ai cũng có lần đã hát. Những tiếng hát đó không phải là những tiếng kèn hung hản thúc quân vào trận mạc, nhưng chính là những làn gió ngát hương trên từng bước quân hành của người lính chiến miền Nam. Nó không làm át đi phần nào tiếng súng nhưng có lẽ đã làm dịu bớt đi những vết thương, những khốn khổ, chia lìa của cả một thời ly loạn.
    Tác giả những bài hát này, và cũng chính anh đã hát hay nhất những sáng tác của anh, không còn nữa. Anh đã vĩnh viễn ra đi ngày 13/5 vừa qua ở một nơi không phải là quê hương anh. Nhưng những lời ca khúc hát của anh vẫn còn mãi vang vọng tự quê nhà và khắp cả năm châu. Bởi vì ở đó vẫn còn những người lính và cả những ngưòi suốt một đời yêu lính. Cho dù, những người lính ngày xưa bây giờ đã là những nắm xương trong những nghĩa địa hoang tàn, hoặc là những thương binh khốn khổ đâu đó ở quê nhà, còn lại là những người lính già sống uất nghẹn ở những nơi nào đó thật xa xăm.
    "Nhạc sĩ của Lính" là tên mà rất nhiều người miền Nam đã đặt cho anh. Bởi anh đã viết và hát trên 200 ca khúc, không phải chỉ về đời lính, về người tình của lính, mà còn ngợi ca người lính. Sự ngợi ca của anh không phải là những bản hùng ca rầm rộ tiếng quân hành, nhưng nó nhè nhẹ len lỏi vào tận cùng tâm thức, khua động những tình cảm rất thật, rất người. Nhạc của anh đã làm cho người ta hiểu và yêu lính hơn, và làm cho chính người lính thấy yêu đời lính của mình hơn. Những người lính với đầy đủ những bi hùng, nhưng cũng đầy ắp những lãng mạn, vị tha và nhân bản.
    Sau mùa hè 1972, đơn vị tôi từ chiến trường Kontum được chuyển về dưỡng quân 1 tháng tại hậu cứ Sông Mao, Phan Thiết. Trong một đêm văn nghệ do tỉnh Bình Thuận tổ chức ủy lạo chiến sĩ, bất ngờ có sự tham gia của ca sĩ Nhật Trường nhân dịp anh từ Sài gòn về thăm quê (quê anh ở Phan Thiết). Lúc ấy anh còn trẻ, đẹp trai và hoạt bát. Anh ngồi chung bàn với tôi. Trong lúc tâm tình, khi nghe tôi nói là ngày mai sẽ về thăm vợ ở Ninh Hòa, anh tròn mắt nhìn tôi rồi ghé vào tai tôi nói nhỏ, có một thời anh đã say mê một cô gái Ninh Hòa. Sau đó anh lên sân khấu hát tặng tôi bài Mùa Đông Của Anh, và nhờ tôi chuyển đến cô gái Ninh Hòa nào đó hai câu:
    "... Xưa hôn em một lần mà đau thương tràn lấp...
    Anh yêu em một ngày rồi xa em trọn kiếp..."
    Rất tiếc, cho đến khi tôi biết được cô gái Ninh Hòa ấy, thì thế sự đã đổi thay. Tôi không còn muốn nói với cô những điều anh gởi gấm.
    Sau hơn 20 năm, nhìn lại anh trên sân khấu hải ngoại, tôi thấy chạnh lòng. Anh cười nhưng khuôn mặt anh khắc khổ. Nụ cười có vẻ héo hon. Có lẽ anh đã phải bỏ sân khấu khá lâu, nên đi tới đi lui không còn tự nhiên như ngày trước. Anh ốm hơn xưa và cằn cỗi đi nhiều. Tôi tội nghiệp cho Anh. Không biết những đau thương nào từ cuộc đổi đời đã làm anh đổi thay đến thế! Hôm ấy, anh hát bài Biển Mặn, dù giọng hát không còn được như xưa, nhưng chưa bao giờ tôi thấy anh hát hay và cảm động như thế.
    Rồi đến khi ca sĩ Thanh Lan bất ngờ tái ngộ. Hai người hát lại bài Chiều Trên Phá Tam Giang. Hai mái tóc đã ngã màu. Cả hai không còn là cô sinh viên và người lính trẻ ngày nào. Nhưng hôm đó họ đã hát với nhau rất tuyệt vời và diễn xuất đến xuất thần. Thanh Lan đã khóc sụt sùi. Có lẽ mọi người cũng không ngăn được dòng lệ cảm xúc.
    (Dường như tôi đã đọc được ở đâu đó những dòng tương tự trên đây mà tôi có cùng chung cảm xúc).
    Nhật Trường Trần Thiện Thanh! Xin cám ơn Anh, và vĩnh biệt Anh trong muôn vàn thương tiếc.

    Phạm Tín An Ninh


Nhật Trường Trần Thiện Thanh, người viết sử thi cho nhạc lính


  •             
    1741094265565blob.jpg


    Trong bài viết của Trần Doãn Nho về “Nhạc Lính” đã ghi nhận: “Có khá nhiều tác giả viết về người lính: Y Vân, Trần Thiện Thanh, Nhật Ngân, Nguyễn Văn Đông, Lê Dinh, Anh Bằng, Minh Kỳ, Hoài Linh, Huỳnh Anh, Phạm Thế Mỹ, Đinh Miên Vũ, Phạm Đình Chương, Tuấn Khanh, Lam Phương, Trúc Phương, Trầm Tử Thiêng, Nguyên Đàm, Nguyên Diệu, Phan Trần… Trong số đó, Trần Thiện Thanh là nhạc sĩ viết nhiều nhất…”. Còn có thêm Văn Giảng (Nguyên Đàm), Song Ngọc, Anh Thy, Duy Khánh, Mạnh Phát, Nhật Lệ, Hùng Cường, Mạc Phong Linh… hay Anh Việt Thu (cùng làm việc chung với Nhật Trường ở Phòng Văn Nghệ, Cục Tâm lý Chiến và Đài Phát thanh Quân Đội) nhưng chỉ có một vài bài.
    Nói đến Nhật Trường Trần Thiện Thanh, liên tưởng đến nhạc lính và ngược lại. Sáng tác nhạc tình của Trần Thiện Thanh trong thời chinh chiến để làm thăng hoa hình ảnh người lính VNCH từ chiến trường đến hậu phương. Những ca khúc của anh không những in sâu vào tâm hồn người lính mà đi vào lòng mọi người từ thời binh lửa cho đến nay.

    ******
    Trần Thiện Thanh sinh ngày 12 tháng 6 năm 1942 tại Phan Thiết. Trưởng nam trong gia đình có 7 anh em. “Thật sự dòng họ Trần Thiện từ ông tổ gần là Trần Thiện Chánh (1822-1874), tài kiêm văn võ, cho tới thân phụ của Trần Thiện Thanh là Trần Thiện Hải nức tiếng khắp Phan Thiết là kẻ tài hoa, đủ đường ca hát, đóng kịch, soạn nhạc… cho nên ảnh hưởng tới con cháu như Nhật Trường là điều không ai phủ nhận…” (Hồ Đinh, bút hiệu Mường Giang, người bạn cùng thời tiểu học với Trần Thiện Thanh).
    Ngoài bút hiệu Nhật Trường, thỉnh thoảng đề tên Anh Chương (tên trưởng nam của anh với các ca khúc của như Tuyết Trắng, Chân Trời Tím (phổ thơ Nguyễn Văn Hạnh), Hãy Trả Lời Em, Tâm Sự Người Lính Trẻ, Ngày Đầu Một Năm, Người Yêu Của Lính…). Sau nầy Trần Thiện Anh Chương ở Hoa Kỳ làm truyền thông với bút hiệu Thanh Toàn (Trần Thiện Thanh Toàn là chú ruột).
    Anh cũng dùng bút hiệu Thanh Trân Trần Thị (tên con gái thứ nhì) qua một số nhạc phẩm khác như Chuyện Hẹn Hò, Phút Giao Mùa, Chuyện Lứa Đôi…
    (Có một số bài hát nổi tiếng như Tình Đầu Tình Cuối, Tình Thiên Thu, Bắc Đẩu, Màu Mũ Anh Màu Áo Em, Tình Có Như Không… nhiều người nghĩ là của Trần Thiện Thanh, nhưng thật ra, đã được in với tên Trần Thiện Thanh Toàn, Thiếu Úy QLVNCH, em ruột Trần Thiện Thanh, hy sinh trên chiến trận khi còn trẻ. Ca khúc Trên Đỉnh Mùa Đông là sáng tác của hai anh em).
    Theo lời người bạn Lê Hùng (Tiểu Đoàn Trưởng TĐ 341 Địa Phương Quân, tiểu khu Bình Tuy) học lớp Đệ Nhị cùng với Nhật Trường Trần Thiện Thanh ở trường trung học Ngô Đình Khôi niên khóa 1960-1961 ở Phan Thiết, Nhật Trường vừa là Trưởng Ban Văn Nghệ và cũng là cầu thủ (thủ môn) đội túc cầu của nhà trường.
    Thân phụ Nhật Trường là Trần Thiện Hải,Trưởng Ty ThôngTin Bình Thuận, với môi trường đó qua chương trình phát thanh và văn nghệ cũngtạo thuận lợi cho Trần Thiện Thanh ca hát để giải trí. Trước đó, lúc còn nhỏ, Nhật Trường Trần Thiện Thanh (cũng như Song Ngọc ở Long Xuyên) đã tham gia trong Ban Văn Nghệ 860 của Bảo An Đoàn ở Bình Thuận, có Mỹ Thể, Nguyễn Hữu Sáng (em Nguyễn Hữu Thiết, gốc Quảng Trị, sinh tại Phan Thiết)…
    Vì đam mê với kiếp cầm ca nên con đường học vấn bị dang dở và trong cái rủi có cái may khi rời quê nhà vào Sài Gòn để lập nghiệp… (Có vài bài viết cho biết năm 1958 Nhật Trường vào Sài Gòn lập nghiệp nhưng theo người bạn cho tôi biết cùng học với Trần Thiện Thanh ở Phan Thiết, sau khi đậu Trung Học Đệ Nhất Cấp (1958), vào Sài Gòn học, thỉnh thoảng xuất hiện ca hát vào dịp cuối tuần ở Phan Thiết. Có lẽ vào Sài Gòn học vì chặng đường Sài Gòn – Phan Thiết khoảng 200 km, đi về dễ dàng vào thời điểm đó).
    Đầu thập niên 1960, Nhật Trường lập ban Tứ Ca Nhật Trường gồm anh và 3 nữ ca sĩ: Như Thủy (em gái), Vân Quỳnh và Diễm Chi. Băng nhạc Tiếng Hát Đôi Mươi trình bày nhiều ca khúc về lính, được nhiều người ái mộ.
    Góp mặt trong nền tân nhạc ở Sài Gòn qua các nhạc phẩm: Đừng Hỏi Tại Sao (1963), Anh Về Với Em (1964), Bảy Ngày Đợi Mong (1964), Đôi Ngã Đôi Ta (1964), Một Ngày Gần Đây (1964), Ngày Anh Đi (1964), Hàn Mặc Tử (1964), Đồn Vắng Chiều Xuân (1964), Không Bao Giờ Ngăn Cách (1964), Nỗi Lòng Thanh Trúc (1964), Từ Đó Em Buồn (1964),Tình Yêu Thứ Nhất (1965), Người Yêu Của Lính (1965), Tâm Sự Mộng Cầm (1965), Một Đời Yêu Anh (1965), Đời Còn Nhiều Gian Dối (1965)…
    Nhật Trường Trần Thiện Thanh tuy chưa vào lính nhưng đã sáng tác vài ca khúc nổi tiếng như Anh Về Với Em, Ngày Anh Đi, Không Bao Giờ Ngăn Cách, Đồn Vắng Chiều Xuân… Và, ca khúc Người Yêu Của Lính gắn liền với tiếng hát Ngọc Minh. Trước khi vào lính, Nhật Trường xuất hiện trên sân khấu và truyền hình với quân phục VNCH.
    Năm 1965 nhập ngũ, Hạ Sĩ Quan phục vụ trong ngành Chiến Tranh Chính Trị. Đây cũng là môi trường của Trần Thiện Thanh khi “khoác áo treillis” sáng tác rất nhiều nhạc phẩm với các quân binh chủng Hải, Lục, Không Quân VNCH. Đề cập đến nhạc lính như lời Trần Doãn Nho:
    “Lính ở đây là lính VNCH. Trong suốt những tháng năm dài chinh chiến, người lính là hình ảnh nổi bật trong cuộc sống, gắn chặt với cuộc chiến, diễn ra từng ngày từng giờ trên khắp đất nước. Gia đình nào, không ít thì nhiều, cũng đều có thân nhân nằm trong quân đội. Những thắng, bại trên chiến trường của người lính đều nhất nhất ảnh hưởng đến cuộc sống của mọi người. Và bi kịch của chiến tranh gắn liền với bi kịch cá nhân của từng người lính…
    Nhạc lính, trước hết, nói về người lính, đã hẳn. Mà cũng là nói về chiến tranh. Về một xã hội vùng vẫy để tồn tại, để thích nghi với hoàn cảnh bom đạn. Và mơ ước. Những gian khổ, nhọc nhằn, vất vả, tiếc nuối, buồn chán, thất vọng, cay đắng, tủi nhục cùng với ước mơ – những gì vô cùng đời thường, vô cùng dân dã, tất cả đều được bày tỏ qua lời ca mà không cần phải sử dụng một ẩn dụ xa xôi nào. Do đó, khác với nhạc đỏ – thứ nhạc để chỉ nhạc Cộng Sản nói chung thường mang tính tuyên truyền – nhạc lính đầy tính cách nỗi niềm và mang tính nhân bản rõ nét.
    … Đặc biệt, khác với nhạc đỏ, nhạc lính không nhằm gây căm thù. Không những thế, trong một số trường hợp, còn kêu gọi xóa bỏ căm thù, kêu gọi tình thương, kêu gọi hòa bình. Lời ca phần lớn và chủ yếu nói về nhiệm vụ, về lòng hăng say, sự hy sinh, ca ngợi sự chịu đựng gian khổ và lòng quả cảm của người lính. Và ngay cả khi đề cập đến cái chết anh hùng của những người sĩ quan chỉ huy trên chiến trường, ta cũng không hề thấy khêu gợi chút căm thù nào. Chỉ nói về cái chết, về sự hy sinh và nỗi tiếc thương…
    Nhạc lính đồng thời cũng là nhạc tình. Cũng là nhạc quê hương. Nói về lính cũng chỉ để nói về tình. Mặt khác, trong một số bản tình ca thuần túy, hình ảnh người lính cũng hiện diện. Có lẽ vì đời lính, tự bản chất, chứa đựng sự xa cách, nhớ mong, niềm tuyệt vọng và bi kịch tình yêu…
    … Trong khi còn chiến tranh, nhạc lính được hát như một bày tỏ nỗi lòng, có khi như một bù đắp, của những người khoác chiến y…”
    (Trần Doãn Nho).
    Từ giã mái trường, từ giã người yêu khi, chàng trai trẻ đáp tiếng gọi của non sông, với nghĩa vụ tòng quân:
    “Ngày anh đi, ngày anh đi phượng rơi rơi ngàn lối
    Áo chinh nhân ép cánh thư ngày nào
    Gửi cho nhau lúc mới quen lần đầu
    Ngày anh đi ngày anh đi sông hồ in dáng em
    … Nếu anh là chiến sĩ đi xây đắp tương lai
    Em là người ở lại muôn đời đợi chờ anh.”
    Khi khoác áo chiến y, người yêu nơi hậu phương lúc nào cũng mong đợi lá thư từ đơn vị xa xôi nên dặn dò. Ca khúc “Nhớ Viết Thư Cho Em” qua tiếng hát của Lệ Thanh trên làn sóng phát thanh quá hay, nghe mà ngớ ngẩn, nghe mà ước mong có người yêu dễ thương như vậy để xoa dịu tâm hồn người lính:
    “Nhớ viết thư cho em
    mà bảo rằng dù xa cách đừng quên
    Nhớ viết thư cho em
    dù mực nhòe trên trang giấy trắng
    Em biết đời phong sương
    anh đã chôn dĩ vãng trong tim
    Sống vui hiện tại và trọn đời anh cho tương lai
    Nhớ viết thư cho em
    để rạng ngời thêm trăng sáng nửa đêm
    Nhớ hái đôi hoa sim đặt vào lòng tờ thư thương mến
    Em muốn màu hoa sim
    như màu yêu tím của đôi ta
    Tím lên cuộc đời mà lòng ta thương mến nhau hoài”.....
    (Trần Thiện Thanh & Mạnh Phát)
    Ca khúc “Tình Thư Của Lính” thay cho lời tâm sự của người lính gởi cho người tình:
    “Từ khi anh thôi học, và từ khi anh khoác áo treillis
    Từ khi anh xa nhà, một ngàn đêm nhung nhớ giữa trời mây
    … Thư của lính không xanh màu trời như mơ ước đâu em.
    Thư của lính không thơm nồng hương, không nét hoa đa tình.
    Thư của lính ba lô làm bàn nên nét chữ không ngaỵ
    Nhưng thư của lính ghi giữa rừng cây khi nhớ em thật đầy”....
    Ca khúc “Tâm Sự Người Lính Trẻ” của Trần Thiện Thanh chia sẻ nỗi niềm:
    “Từ khi anh thôi học từ khi đôi lứa đôi đường
    Từ sông ngăn núi trở tạ từ không nói nên lời
    Từ khi gót sông hồ ngược xuôi ôi những đêm thật dài hồn nghe thương nhớ ai
    Một năm tìm vui nơi quan tái chưa về một lần dù chỉ một lần thôi”.....
    Trong thời binh lửa, qua vài ca khúc trữ tình nầy, cảm nhận cuộc tình thật lãng mạn, dễ thương, quá đẹp khi xa nhau. Câu nói của Stefan Zweig “Dù cho biển cách núi ngăn, lòng hai ta cũng mãi không rời xa” đã thể hiện ở ca khúc Trần Thiện Thanh.
    Bài thơ “Cần Thiết” của Nguyên Sa đã một thời thay cho lá thư tình của tuổi học trò:
    “Không có anh lấy ai đưa em đi học về
    Lấy ai viết thư cho em mang vào lớp học
    Ai lau nước mắt cho em ngồi khóc
    Ai đưa em đi chơi trong chiều mưa”.....
    Thì ca khúc của Trần Thiện Thanh chia sẻ hình ảnh giữa người lính với người yêu sự “cần thiết” đó thật đáng yêu:
    “Nếu em không là người yêu của lính
    Em sẽ nhớ ai Chủ Nhật trời xinh
    Em sẽ nhớ ai đêm sương lạnh lùng
    Và giữa chốn muôn trùng
    Ai viết tên em lên tay súng.
    Nếu em không là người yêu của lính
    Ai sẽ nhớ em chiều dừng hành quân
    Ai khẽ nhắc tên em muôn nghìn lần
    Để thấy cánh sao gần
    Không đẹp bằng hồ mắt giai nhân”.....
    (Người Yêu Của Lính)
    Người lính khó giữ đúng hẹn hò vì có khi vào giờ phút cuối phải thi hành nhiệm vụ của đơn vị đảm trách. Trong tình yêu phải có sự cảm thông cho nhau nên:
    “Anh hẹn em cuối tuần
    Chờ anh nơi cuối phố
    Biết anh thích màu trời
    Em đã bồi hồi chọn màu áo xanh”.....
    Thế rồi qua 7 ngày đợi mong, không gặp người tình và cuối cùng:
    “Chiều Thứ Bảy mưa rơi
    Ai bảo anh lại tới
    Ai bảo anh xin lỗi
    Ai bảo anh nhiều lời cho mắt em lệ rơi”.
    (Bảy Ngày Đợi Mong)
    Lời trách yêu đó thật nhẹ nhàng, “lệ rơi” khi gặp nhau mà không cần xin lỗi, không cần nhiều lời… Lời ca đó dành cho người thưởng thức cảm nhận.
    Những người lính Mỹ (GI) tham chiến ở chiến trường VN, thường viết trên nón sắt “When I die I will go to heaven because I live in hell” (Khi tôi chết sẽ lên thiên đàng vì tôi sống trong địa ngục) như “than thân trách phận” nhưng với Trần Thiện Thanh thì ngược lại:
    “Viết tên người yêu lên ba lô nặng trĩu
    Đêm quân hành dừng chân đồi hoa tím
    Nhớ xưa đôi mình hẹn nhau mà sao sáng
    Đâu bằng đôi mắt em…
    Áo anh nhuộm phong sương nhưng quê hương đẹp ý
    Lối trăng đầy tình em còn soi sáng
    Sẽ không bao giờ
    Không bao giờ ngăn cách đâu em”.
    (Không bao Giờ Ngăn Cách)
    Chỉ có người lính nhớ người yêu mới viết tên trên ba lô, tâm hồn lãng mạn của người lính làm đẹp chân dung người tình trong cơn binh lửa.
    Nhạc phẩm “Màu Mũ Anh Màu Áo Em”, Trần Thiện Thanh phác họa chân dung người lính của các binh chủng với người yêu:
    “Khi em đã yêu anh chàng lính Thủy Quân Lục Chiến
    Bạc màu áo trận, bạc luôn cả chiếc mũ xanh
    Khi em đã yêu anh chàng áo rằn sọc ngang
    Màu áo xanh rừng em nhớ mang.
    Hay em đã yêu anh chàng lính Dù là anh
    Dù tung giữa trời và địa cầu dâng đất lên
    Khi em biết yêu thiên thần mũ đỏ dù hoa
    Màu áo bông hồng em nhớ cho…
    Khi em dám yêu anh bộ binh nghèo là anh
    Thì màu áo vàng là màu tình duyên đó anh
    Xin cho tháng năm không làm phai màu tình yêu
    Màu mũ anh và màu áo em
    Khi em đã yêu anh chàng lính biển là anh
    Tàu đi bến nào còn tình thì qua bến nao
    Khi em đã yêu anh chàng lính Hải Quân hào hoa
    Màu trắng mây trời trên áo em.
    Hay em đã yêu anh chàng lính Biệt Động Quân
    Mà rừng núi sình lầy nào còn vương gót anh
    Khi em đã yêu trên trời núi thẳm rừng sâu
    Màu mũ nâu là màu áo em”.....
    Để tưởng nhớ và tri ân những người con thân yêu của tổ quốc khi dấn thân trong binh nghiệp bảo vệ lý tưởng Quốc Gia, Dân Tộc, thân xác không còn nhưng qua các ca khúc của Trần Thiện Thanh luôn gợi lại hình ảnh bi hùng, cao cả trong trái tim mọi người.
    Hình ảnh hào hùng của cố Đại Úy Nguyễn Văn Đương của binh chủng Nhảy Dù hy sinh trong cuộc chiến qua ca khúc “Anh Không Chết Đâu Anh” của Trần Thiện Thanh góp phần hình ảnh cao đẹp trong Quân Sử VNCH.
    Phan Nhật Nam tường thuật lại:
    “… Đồi 31 ở mặt trận Hạ Lào, tháng Hai, 1971... Đại quân Miền Nam gồm: Sư Đoàn Nhẩy Dù, Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến, Sư Đoàn 1 Bộ Binh, Lữ Đoàn 1 Thiết Kỵ, và Liên Đoàn 1 Biệt Động Quân cùng vượt biên giới Lào-Việt tiến đánh vùng hậu cần Tchépone của cộng sản Bắc Việt trên đất Lào. Lữ Đoàn 3 Dù gồm các Tiểu Đoàn 2, 3, và 8 giữ mặt Bắc của trục tiến quân.Vị trí Đồi 31 của Tiểu Đoàn 3 Dù được Pháo Đội B3 Pháo Binh Dù do Đại Úy Nguyễn Văn Đương chỉ huy yểm trợ. Vòng đai cực Bắc của Biệt Động Quân bị tấn công trước; tiếp vị trí Đồi 30 của Tiểu Đoàn 2 Dù bị công phá... Cuối cùng, chỉ còn lại Căn Cứ Đồi 31 giữa vòng vây của 1 sư đoàn Bắc Việt (tỷ lệ 1 chống 15). Ngày 25/2, Đồi 31 bị tràn ngập, Đại Tá Nguyễn Văn Thọ và toàn ban tham mưu lữ đoàn đồng bị bắt, căn cứ chỉ còn khẩu pháo cuối cùng,Đại Úy Đương hạ ngang nòng bắn thẳng vào toán quân cộng sản theo xe tăng T54 ào lên đồi chiếm mục tiêu, và ông gục ngã với khẩu pháo cuối cùng bị phá hủy…”
    Trong cuốn hồi ký “Một Cánh Hoa Dù” của Thiếu Tá Trương Dưỡng đã kể lại thời điểm căn cứ hỏa lực 31 Hạ Lào (cao điểm 456) vào 6 giờ 30 phút ngày 25 tháng 2 năm 1971, như sau:
    “Ngay chiều hôm đó đồi 31 bị tràn ngập, tôi nghe tiếng Nguyễn Quốc Trụ, bạn cùng khóa, gọi Kiệt bên căn cứ A-Lưới là: “Xe tăng Việt Cộng đang trên hầm chỉ huy, mầy nói pháo binh bắn lên đầu tao, chờ tụi nó xuống tao sẽ tự tử, vĩnh biệt mầy, Kiệt ơi.” Căn cứ hỏa lực 31 thất thủ, bên trong gồm Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù, BCH Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh, Pháo Đội 33 của Nguyễn Văn Đương…”. Và, người hùng Pháo Đội Trưởng Nguyễn Văn Đương chấp nhận hy sinh để khỏi lọt vào tay Cộng quân.
    Trần Thiện Thanh viết lên lời ca vô cùng xúc động:
    “Anh không chết đâu anh, người anh hùng mũ đỏ tên Đương
    Tôi vẫn thấy đêm đêm một bóng dù sáng trên đồi máu
    Nghe trong đêm kêu gào từng tiếng súng pháo đếm mau
    Và tiếng súng tiếng súng hay nhạc chiêu hồn đưa anh đi anh đi…
    … Ôi đất mát trên đồi xanh, tình yêu khóc ngất bên cỏ tranh
    Đâu cánh dù ôm gió, đây cánh dù ôm kín đời anh
    Trong những tiếng reo hò kia lẻ loi tiếng súng anh nhiệm mầu
    Ôi tiếng súng sau cùng đó, anh còn nghe tầm đạn đi không anh
    Không, anh không, anh không chết đâu em, anh chỉ vừa bỏ cuộc đêm qua
    Tôi thấy mắt anh bên ngọn nến vàng hắt hiu niềm nhớ
    Trên khăn tang cô phụ còn lóng lánh dấu ái ân
    Giọt nước mắt nóng bây giờ và còn hằng đêm cho anh cho anh …”
    Ca khúc “Anh Không Chết Đâu Anh” là một trong những ca khúc được trình bày trong một bộ phim truyền hình có tên là “Trên Đỉnh Mùa Đông” do Trần Thiện Thanh làm đạo diễn, ra mắt vào năm 1972.
    Trong bộ phim này, còn nhiều ca khúc bất hủ nữa của Trần Thiện Thanh cũng được hát: Trên Đỉnh Mùa Đông, Mùa Đông Của Anh, Chiều Trên Phá Tam Giang… Cuốn phim đã làm rơi lệ của biết bao nhiêu khán giả, đã mô tả được phần nào cái chết bi hùng của Đại Úy Nguyễn Văn Đương tại chiến trường Hạ Lào, trong chiến dịch hành quân Lam Sơn 719.
    Đồi Charlie với cao độ 900 mét, Tây Bắc tỉnh Kon Tum, một cứ điểm quân sự để kiểm soát cả một vùng rộng lớn ngã ba Đông Dương… Địa danh này nổi tiếng với nhiều trận giao chiến khốc liệt giữa Quân Lực VNCH và đồng minh Hoa Kỳ với Cộng quân.
    Ngày 25 tháng 3 năm 1972, Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù được trực thăng vận bốc vào vùng hành quân. Đơn vị thiện chiến nầy nhảy ngay trên đầu địch làm cho chúng bất ngờ và nhiều trăm tên bị tan xác tại đây, lúc này cuộc hành quân đang đi vào giai đoạn chót. Trung Tá Nguyễn Đình Bảo cùng Đại Đội chỉ huy và Đại Đội 110 trấn giữ ngọn đồi, 3 Đại Đội còn lại đóng chung quanh ngọn đồi. Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn Nhảy Dù đóng ở xa vài chục cây số để yểm trợ. Cộng quân dốc toàn bộ toàn bộ pháo kích vào Charlie thật nặng, mỗi ngày hàng ngàn trái đại bác 130 ly, 122 ly và cả hỏa tiễn 122 ly…
    Cộng quân gia tăng quân số dù hàng ngàn cán binh trẻ từ miền Bắc đã bị nướng thiêu trong bom đạn nhưng họ vẫn ngông cuồng thí quân bao vây ngọn đồi Charlie. Dùng trận đánh “biển người” này, hầm chỉ huy của Trung Tá Nguyễn Đình Bảo đã lãnh trọn 1 trái đạn pháo 130 ly và anh đã hy sinh! Sau 4 ngày đêm chiến đấu, ngọn đồi Charlie đã bị mất, cộng quân tràn ngập. Xác chết của Trung Tá Nguyễn Đình Bảo tuy đã gói trong 3 lớp vải dù poncho nằm lại ở giao thông hào mà cũng bị bom đạn của quân ta trút xuống đánh bật Cộng quân, cày nát xác thân anh. Charlie đã tan tành, chung quanh chỉ là khói tro quyện với thây người chết của cả hai bên.
    Cố Đại Tá Nguyễn Đình Bảo hy sinh tại Charlie ngày 12 tháng 4 năm 1972 khi vừa đúng 35 tuổi.
    Ca khúc “Người Ở Lại Charlie” của Trần Thiện Thanh, một trong những ca khúc được nhiều người ngưỡng mộ với người chiến sĩ VNCH:
    “Anh! Anh! Hỡi anh ở lại Charlie
    Anh! Anh! Hỡi anh giã từ vũ khí
    Vâng, chính anh là ngôi sao mới
    Một lần này chợt sáng trưng
    Là cánh dù đan bằng tiếc thương vô cùng…
    Ngày anh đi, anh đi anh đi từ tổ ấm
    Anh ơi, địa danh nào thiếu dấu chân anh?…
    Toumorong, Dakto, Krek, Snoul
    Trưa Khe Sanh gió mùa, đêm Hạ Lào thức sâu
    Anh! Cũng anh vừa ở lại một mình, vừa ở lại một mình
    Charlie, tên vẫn chưa quen người dân thị thành…
    Xin một lần thôi, một lần thôi
    Vẫy tay tạ từ Charlie
    Xin một lần nữa, một lần nữa
    Vẫy tay chào buồn anh đi”.....
    Với binh chủng Thiết Giáp, nhạc phẩm “Bắc Đẩu” của Trần Thiện Thanh và Trần Thiện Thanh Toàn ghi: Tặng anh hùng mũ đen Bắc Đẩu Nguyễn Ngc Bích”. Cố Đại Úy Nguyễn Ngọc Bích, Chi Đoàn Trưởng CĐ 2, Thiết Đoàn 18:
    “Người bỗng trở thành vì sao Bắc Đẩu
    Lẻ loi tinh cầu đêm đen không dấu
    Một tối chớm hè đạn pháo chuyển mưa
    Cây Cầu Ga nhỏ anh qua, anh qua…
    Xin muôn năm như vì sao sáng đó
    Hỡi người định mệnh là vì sao lẻ
    Dậy đi Bắc Đẩu, dậy đi Bắc Đẩu
    Bừng mắt dậy soi sáng thiên thu…
    Người tên Bắc Đẩu chết trận La Vang
    Liệm xác ba lần Ngọc bích cũng tan
    Chỉ còn vì sao thôi, chỉ còn vì sao thôi”.....
    Danh hiệu Bắc Đẩu là đặt lệnh truyền tin của anh Nguyễn Ngọc Bích. Trường hợp Trần Thiện Thanh sáng tác ca khúc nầy theo lời kể của anh Lê Văn Mạnh (Thiếu Tá kỵ binh) cho biết, trong buổi gặp nhau ở quán nhậu tại Sài Gòn, Trần Thiện Thanh thấy hai vị Thiếu Tá kỵ binh Trần Hữu Thành và Lê Văn Nho ngồi uống beer với nhau, 2 người nhưng có 3 ly, mỗi khi uống rót beer vào 3 ly rồi thay phiên nhau uống ly beer người vắng mặt. Trần Thiện Thanh thấy lạ nên đến hỏi cho biết “sự tình”. Khi ở chung đơn vị, 3 anh em thường có nhau, nay một người đã mất, để tưởng nhớ người bạn không còn nhau nữa nên lúc nào cũng vậy. Cảm tính tình chiến hữu với nhau nên ca khúc “Bắc Đẩu” hình thành…
    Ca khúc Rừng Lá Thấp, Trần Thiện Thanh viết cho người bạn cùng quê ở Phan Thiết, Đại Úy Vũ Mạnh Hùng trong binh chủng Thủy Quân Lục Chiến, đã hy sinh khi chận quân địch tại Hàng Xanh, Cầu Bình Lợi trong trận Mậu Thân!
    Đại Úy phi công Trần Thế Vinh đã vị quốc vong thân trên vùng trời Trị Thiên ngày 9 tháng 4 năm 1972. Ca khúc “Bay Lên Cao Đi Anh” của Trần Thiện Thanh không than khóc, ủy mị mà vẽ lên nét hào hùng chiến sĩ Không Quân:
    “… Cao bay lên cao, bay lên cao đi anh
    Như trong kỷ niệm, anh đạp gió xé mây trôi
    Cao bay lên cao, bay lên cao đi anh
    Xin linh hồn anh, lên trời cao bay thật mau
    Xin cho cao thêm cho thêm lên cao lên
    Cao câu nguyện cầu cho tuổi trẻ sớm đi xa
    Xin cho cao lên cho cao lên cao lên
    Hãy ngước nhìn không gian Việt Nam cao diệu vợi
    … Bay lên bay lên cao đi anh
    Mang theo hào hùng cho cuồng bão biết xôn xao
    Bay lên bay lên cao, bay lên cao đi anh
    Thế giới chìm sâu anh vừa qua còn mộng du
    Cao bay lên, cao bay lên cao, đi anh
    Xin linh hồn anh lên thật cao lên thật nhanh”.....
    Với Không Quân và Hải Quân, Trần Thiện Thanh tô đẹp biết bao hình ảnh của quân chủng nầy. Ca khúc Tuyết Trắng, Trần Thiện Thanh dùng hình ảnh mây trời như tuyết, quá tuyệt:
    “Đây áo bay màu xanh xanh như tình ái
    Thắt lại khăn ấm chính em đan
    Khi gió quay cuồng sau cánh bay
    Con tàu thét gầm cho tim ngất ngây
    Phi đạo chạy dài anh cất cánh bay lên…
    Ngả nghiêng cánh chim con tàu sẽ rời, rời xa thành phố rồi
    Mây giăng thật thấp mây đan lụa trắng mây pha màu nắng.
    Vượt cao vút cao mây trời kết thành một vùng tuyết trắng ngần
    Tuyết ơi xin nhuộm trắng trong tâm hồn em gái nhỏ tôi thương.
    Khi nắng chiều đi không gian chợt tối
    Xóa nhòa vùng tuyết trắng mông mênh
    Anh ước sao tình mình như tuyết trinh
    Cho dù chúng mình không gian cách ngăn
    Cho dù tuyết trắng đã chìm trong màn đêm”.
    Nhạc phẩm Hoa Biển của Trần Thiện Thanh và Anh Thy, đại lễ và quân phục của quân chủng, thủy thủ màu trắng, sóng biển màu trắng… tất cả đều là màu trắng giữa đại dương, màu hoa biển:
    “… Tại em suy tư bên bờ vắng
    Nên đêm vượt trùng anh mong tìm gặp hoa trắng về tặng em
    Cho anh thì thầm em ơi tình mình trắng như hoa đại dương
    Trùng khơi nổi gió lênh đênh triền sóng thấy lung linh rừng hoa
    Màu hoa thật trắng, ôi hoa nở thắm ngất ngây lòng thêm
    Vượt bao hải lý chưa nghe vừa ý, lắc lư con tàu đi
    Chỉ thấy bọt nước, tan theo ngọn sóng dáng hoa kia mịt mùng
    Biển khơi không mang hoa màu trắng
    Tàu anh xa xôi chưa tìm bến
    Nên em còn hờn, nên em còn buồn sao chưa thấy anh sang
    Em ơi giận hờn, xin như hoa sóng tan trong đại dương”.
    Ngoài ra, Trần Thiện Thanh còn sáng tác Sư Đoàn 1 Bộ Binh VNCH Hành Khúc cho đơn vị nầy trấn đóng ở vùng giới tuyến.
    “Đây Sư Đoàn 1, đây Sư Đoàn Giới Tuyến
    Chiến Sĩ Tiền Phong nơi tuyến đầu Việt Nam
    Lam Sơn oai hùng, tay xây đài chiến thắng
    Súng thép đập tan quân Bắc phương hung tàn…
    Quân Dân chung lòng, vang câu hò chiến thắng
    Chiến thắng lừng danh, cao ngất như Trường Sơn
    Gian nguy coi thường, ta kiên cường chiến đấu
    Quyết chí đập tan quân Bắc phương ngông cuồng”.

    ******
    Trong tâm hồn lãng mạn, đa tình của ca sĩ và nhạc sĩ, Nhật Trường Trần Thiện Thanh có nhiều hệ lụy với cuộc tình. Ngay thời còn đi học, có phải cô nữ sinh (Nhường) là mối tình đầu? Và, tiếp đó cô nữ sinh Hồ Mỵ Châu, đẹp nổi tiếng ở Chợ Lầu cùng chàng trai trong mối tình ở trường Ngô Đình Khôi… chỉ là bóng mây.
    Bài viết Những Bài Hát Của Một Thời Binh Lửa của Phạm Tín An Ninh ghi lại mẩu chuyện: “Sau mùa hè 1972, đơn vị tôi từ chiến trường Kontum được chuyển về dưỡng quân một tháng tại hậu cứ Sông Mao, Phan Thiết. Trong một đêm văn nghệ do tỉnh Bình Thuận tổ chức ủy lạo chiến sĩ, bất ngờ có sự tham gia của ca sĩ Nhật Trường nhân dịp anh từ Sài Gòn về thăm quê (quê anh ở Phan Thiết). Lúc ấy anh còn trẻ, đẹp trai và hoạt bát. Anh ngồi chung bàn với tôi. Trong lúc tâm tình, khi nghe tôi nói là ngày mai sẽ về thăm vợ ở Ninh Hòa, anh tròn mắt nhìn tôi rồi ghé vào tai tôi nói nhỏ, có một thời anh đã say mê một cô gái Ninh Hòa. Sau đó anh lên sân khấu hát tặng tôi bài Mùa Đông Của Anh, và nhờ tôi chuyển đến cô gái Ninh Hòa nào đó hai câu:
    ... Xưa hôn em một lần mà đau thương tràn lấp…
    Anh yêu em một ngày rồi xa em trọn kiếp…”
    Và, trong tình trường, không phải lúc nào cũng toại nguyện, có khi mang lại nỗi đau mà nhạc sĩ tỏ bày trong “Hoa Trinh Nữ” như: “Tôi chỉ là người lính phong trần. Thấy hoa nhớ người yêu rất xa” mà một thời dư luận cho rằng tác giả yêu nàng ca sĩ nhưng nàng chắp cánh với “ông hoàng” ở cao nguyên.
    Trên trang mạng traixuviet.wordpress.com ghi lại cuộc tình và cuối đời của Trần Thiện Thanh:
    “… Người vợ đầu tiên của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh thành hôn với ông tại Phan Thiết khi ông chưa đầy 20 tuổi, trước khi hai người cùng vào Sài Gòn sau đó. Chị Trần Thị Liên và ông có với nhau 4 người con, 2 trai, 2 gái là Anh Chương, Thanh Trân, Thanh Trúc và Anh Châu. Tuy nhiên hai người đã chia tay nhau một thời gian trước biến cố tháng 4 năm 75.
    Trong thời gian còn ở lại Việt Nam sau năm 75, khi thường đi trình diễn chui ở các tỉnh miền Nam, Nhật Trường sống chung với Kim Dung, trước đó cũng là một ca sĩ trong Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương.
    Gần gũi nhau trong những lần diễn với nhiều khó khăn đó, họ đã trở thành vợ chồng và vài năm sau hai người có với nhau một con trai tên Anh Chính, (sau nầy theo Nhật Trường sống chung với Mỹ Lan ở Nam California). Nhưng cuộc sống vợ chồng giữa Kim Dung và Nhật Trường cuối cùng cũng đã đi đến đổ vỡ. Và người vợ thứ hai của ông hiện cũng đã có gia đình khác ở Việt Nam.
    Vào năm 1993, Nhật Trường Trần Thiện Thanh rời Việt Nam sang Hoa Kỳ theo diện “fiancé” do nữ ký giả Nam Trân bảo lãnh. Tuy nhiên sau đó, lục đục xẩy ra giữa hai người nên tình trạng của Trần Thiện Thanh không được hợp thức hóa theo diện di trú, cho đến khi được người con trai trưởng của ông là Anh Chương, qua Mỹ trước đó và đã có quốc tịch Hoa Kỳ, đứng đơn bảo lãnh.
    Tuy vậy tình trạng cư trú của ông vẫn chưa được chấp nhận. Phải đợi mãi cho đến ngày 12 tháng 5 năm 2004, tức 6 tháng trước khi phát hiện ra bệnh ung thư phổi và 1 năm trước khi mất, ông mới bất ngờ nhận được “green card” để có thể đi trình diễn ngoài nước Mỹ.
    … Nhật Trường và Mỹ Lan trước khi ra hải ngoại cũng đã biết nhau qua những lần cùng đi diễn ở các tỉnh ở miền tây. Thời đó Mỹ Lan còn là một vũ công thường theo các đoàn hát đi lưu diễn đó đây trong những năm 76, 77. Tuy nhiên giữa hai người chẳng hề có một ấn tượng nào về mặt tình cảm.
    Nhưng định mệnh đã đưa đẩy họ đến gần nhau vào năm 1993. Đó là năm Nhật Trường sang Mỹ và cư ngụ tại Nam California vào tháng 3…
    … Sau mười mấy năm không hề liên lạc, lần đầu tiên Nhật Trường và Mỹ Lan gặp lại nhau trên đất Mỹ vào ngày 29 tháng 5 năm 1993 trong một chương trình đại nhạc hội do cố ca nhạc sĩ Duy Khánh tổ chức tại Seattle, tiểu bang Washingon. Trước đó, mỗi người có một đời sống gia đình riêng tư phải lo lắng.
    … Và từ khoảng giữa thập niên 90, người ta thường thấy tên tuổi Nhật Trường – Mỹ Lan xuất hiện tại các chương trình nhạc hội tổ chức tại nhiều nơi trên đất Mỹ cũng như trong những buổi văn nghệ có tính cách cộng đồng hay từ thiện.
    … Mãi đến năm 1985, Mỹ Lan mới bước chân vào con đường đi hát chuyên nghiệp. Đến năm 86, chị bắt đầu được biết đến tên tuổi. Và đến thời kỳ được nhiều người chú ý thì Mỹ Lan cùng chồng con được hai chị Mỹ Hoa và Mỹ Phương bảo lãnh sang Canada, sau khi mẹ và một chị khác là Mỹ Vân đã được bảo lãnh qua đây từ trước. Họ cùng đoàn tụ tại thành phố Montreal vào năm 1988.
    Vài năm sau khi cư ngụ tại thành phố này, cuộc hôn nhân giữa Mỹ Lan và người chồng đầu tiên đi đến đổ vỡ sau khi có với nhau 2 con trai…
    Sau 12 năm sống với Nhật Trường Trần Thiện Thanh, từ năm 1993 đến khi ông qua đời vì bệnh ung thư phổi (1 giờ 5 phút trưa ngày 13 tháng 5 năm 2005, Nhật Trường Trần Thiện Thanh trút hơi thở cuối cùng).
    Với Mỹ Lan, ông có được cháu trai Trần Thiện Anh Chí. Ngoài ra đứa con trai tên Anh Chính với người vợ thứ nhì là Kim Dung cũng ở cùng với ông và Mỹ Lan (lúc mới 8 tuổi).
    … Sau khi Nhật Trường Trần Thiện Thanh nằm xuống, dĩ nhiên không ít thì nhiều đã xẩy ra những tranh chấp giữa những người con của người vợ đầu tiên, đặc biệt là người con trai cả của ông với người vợ cuối đời của ông. Đó là những gì đã xẩy ra mà Trần Thiện Thanh đã biết trước.
    Tuy nhiên theo Mỹ Lan, chị cho biết nếu những người con của ông làm được những điều chị muốn làm cho Trần Thiện Thanh thì chị sẽ sẵn sàng hợp tác trong việc duy trì và phổ biến những tác phẩm của ông. Nhưng dù thế nào, Mỹ Lan vẫn tiếp tục theo đuổi con đường của mình. Những gì chị đã, đang và sẽ làm, Mỹ Lan cho là đúng và nếu những người con của Nhật Trường Trần Thiện Thanh muốn hợp tác trong cùng mục đích như vậy là một điều rất tốt”.
    Ngày 29 tháng 5 năm 2014 Thanh Toàn (TTAC) qua đời tại Texas. Thật ra, khi Trần Thiện Thanh qua đời, vấn đề tranh chấp nhà cửa và bản quyền không có gì trầm trọng vì tình nghệ sĩ trong gia đình với nhau, dành cho đứa con thơ là Trần Thiện Anh Chí và Mỹ Lan là người giám hộ. Thế nhưng có vài tờ báo xé chuyện nầy ra to, làm đau lòng người quá cố! Tuy trải qua 3 đời vợ nhưng Trần Thiện Thanh có tình thần trách nhiệm và quan tâm đến những người con.
    Với tài hoa sáng tác của Trần Thiện Thanh, có nhiều bài viết, ca khúc “Trần Thiện Thanh, Dòng Nhạc Một Thời Chinh Chiến” của Thụy Long với lời ca, vinh danh người nằm xuống:
    “Xin cám ơn anh, một thời chinh chiến
    Tay ôm đàn, ôm súng viết tình ca
    Tầm đạn bay xuyên qua từng nốt nhạc
    Những trận hành quân để biết nhớ nhà…
    Cám ơn anh, cám ơn anh gót giày saut áo trận
    Mang vào đời những dấu vết yêu thương
    Giọt mồ hôi mặn mà thêm thân phận
    Tiếng hát anh làm rung động cả chiến trường.
    Những khúc tình ca một thời chinh chiến
    Anh viết cho người góa phụ ngây thơ
    Cho bà mẹ già chờ tin chiến tuyến
    Chưa thấy con về, chưa thấy con về mắt đỏ bơ vơ…”.
    Nếu cho rằng sử thi là dòng thơ ghi chép lại giai đoạn lịch sử nào đó thì những ca khúc của Trần Thiện Thanh, có thể nói lời ca của mỗi ca khúc là mỗi bài thơ được bay bổng theo giai điệu của nhạc phẩm qua cung bậc… gom lại thành sử thi của thời chinh chiến.
    Khoảng 200 ca khúc của Trần Thiện Thanh, có một phần ba mang theo hình ảnh người lính, người yêu của lính khi yêu nhau, lúc nhỏ lệ dưới vành khăn tang.
    Nhật Trường Trần Thiện Thanh đã trở về với cát bụi nhưng tiếng hát và nhạc phẩm của anh vẫn tỏa sáng nơi xứ người. Với người lính năm xưa, nhạc và lời của anh vẫn còn vang vọng, bay bổng trong cánh dù, thấp thoáng giữa mây trời, tuyết trắng, bồng bềnh cùng hoa biển với đại dương. Anh là người thiên cổ nhưng “anh không chết đâu anh”: Nhật Trường Trần Thiện Thanh.

    Vương Trùng Dương
    Little Saigon, Oct 2018





Lòng Hồ Sông Mực





  • Image en ligne

    Mặt trời đang dần dần dịu mát và hiền hòa ẩn mình sau rặng núi thuộc tỉnh Thanh Hóa, đàn chim tung cánh bay về tổ. Từ trong rừng từng toán người túa ra, đây là những đội thuộc các phân trại tù cải tạo Ái Tử,quản trị bởi đoàn 76 tỉnh Bình Trị Thiên.Họ nối đuôi nhau với rựa, búa, rìu ngã dài trên vai, gương mặt mệt mỏi, lê những bước chân xuyên qua vùng cây rừng đã bị chặt hạ nằm ngổn ngang trên mặt đất. Niềm vui duy nhất trong ngày của họ là khi anh đội trưởng ra lệnh dừng tay, và chờ đợi, đến khi anh thi đua đo diện tích tuyên bố hoàn tất diện tích ấn định. Những đội không đạt định mức, phải cố gắng ở lại làm thêm cho đến khi nào xong, theo khẩu hiệu của cộng sản “làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm”, một chén cơm độn bắp cho buổi trưa đã tan biến ngay sau khi vào thực quản, trong hoàn cảnh này mới hiểu được đầy đủ ý nghĩa của hai chữ Cơ Hàn tức là đói và lạnh, giờ phút này sức như đã hết mà phải làm thêm, cùng tâm lý chán nản của cảnh tù không bản án mà chế độ cộng sản đã áp đặt lên toàn thể Quân, Cán Chính miền Nam Việt Nam.
    Cứ mỗi buổi sáng sớm trong không khí lạnh cóng của núi rừng Thanh Hóa, tiếng kẻng đã bắt người tù trổi dậy, tiếp nối một ngày mới. Trong mỗi nhà (lán) đều có đốt lửa để sưởi ấm từ 6 giờ tối, mỗi người tù phải thay phiên trực gác 1 giờ, có nhiệm vụ quan sát anh em ngủ và đốt củi. Trời tháng Chạp, ngồi bên đống lửa, phía trước ngực thì ấm, nhưng phía sau lưng lại lạnh, những anh em không ngủ được ngồi hút thuốc lào, hai bàn tay hong lửa nên người khét mùi khói. Phần lớn nằm co lại như tôm, trằn trọc, uống nước đầy bao tử để cố gắng tìm được giấc ngủ qua đêm chỉ đôi ba giờ cũng là khó.
    Trong cảnh khổ cực thời gian như a tòng trôi qua thật chậm chạp, nhưng ngược lại, bên ngoài lán, tầm nhìn càng lúc càng xa hơn vì rừng bị những người tù chặt hạ, đẩy lùi ra với tốc độ nhanh, bù lại hình hài của họ càng lúc càng ốm, sức lực càng yếu đi, bước chân là đà sát đất, hầu hết những người tù không còn sức để gượng lại, thường bị té nhào xuống khi vấp phải dây rừng nhỏ bò sát mặt đất. Họ nhìn tình trạng của người bạn mình để suy gẩm cho bản thân.
    Sau khi chiếm toàn bộ miền Nam, đoàn 76 tỉnh Bình Trị Thiên di chuyển các trại tù binh ở Ta Cơn (hướng Tây Bắc phi trường Khe Sanh với 2 giờ đi bộ), về khu vực căn cứ Cồn Thiên xưa, dựng nhà mới, phát quang trồng trọt, khi mọi việc đang phát triển tốt đẹp thì đoàn 76 sát nhập các tù binh, phần đông từ mặt trận Thuận An đến trại tù vùng Ái Tử gần thị xã Quảng Trị. Tùy theo chức vụ hay cấp bậc, những quân cán chính miền Nam nay trở thành Tù Tàn Binh bị đưa vào các trại 1, 2, 3, 4 và 5. Theo chính sách khoan hồng của Chính Phủ cộng sản để kêu gọi Quân Cán Chính của Việt Nam Cộng Hòa tự ra đầu thú thì thời gian gọi là học tập cải tạo khoảng vài tuần, và tối đa 3 năm. Vì là một chính sách của Chính Phủ nên nó tạo được niềm tin cho những người trình diện, ngậm đắng nuốt cay, cố gắng vượt qua những ngày tù khổ sai, đói khát để có chút hy vọng mong manh trở về với gia đình, vợ chồng con cái cực khổ bên nhau.
    Trong buổi tối sinh hoạt tại hội trường trại 3 Cồn Thiên, để giải tỏa những thắc mắc cho anh em trình diện, cán bộ chính trị viên Hiệp sau khi đấu tố Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa với những gì xấu xa nhất, đã dõng dạc cho biết:
    – Các anh nói với gia đình coi như các anh đã chết ở Thuận An hay một nơi nào khác rồi, đừng có mong đợi gì cả. Các anh nghe rõ chưa?
    Phần đông những tù binh tại mặt trận Thuận An thuộc Lữ Đoàn 147 Thủy Quân Lục Chiến, với khoảng 3000 quân nhân, sau khi chuyển cấp Hạ Sĩ Quan và Binh Sĩ đi Nam Đông còn lại khoảng 200 Sĩ Quan, nhóm người này dửng dưng, không màng gì đến thời gian, đó là lính mũ xanh mà người Cộng Sản cho là thành phần Ác Ôn, có nhiều nợ máu với chế độ, với nhân dân, đánh phá cách mạng, làm chậm trể công cuộc giải phóng miền Nam của cộng sản.Đây cũng là lúc Quân Cán Chính miền Nam phải chịu đựng những đớn đau về thể xác cũng như tâm hồn do sự vận động đấu tố của cộng sản qua 7 bài học chính trị tập trung vào chính phủ cùng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và chính phủ Hoa Kỳ; ngược lại người cộng sản luôn luôn đề cao vai trò của Trung Quốc, Nga Sô và các nước chư hầu. Người tù bị bắt buộc phải tuân theo cái lập luận một chiều, cái mẫu mực rập khuôn từ người lãnh đạo đảng cộng sản cho đến anh cán bộ thấp nhất.
    Sát nhập về trại Ái Tử, nơi đây tập trung những quân cán chính trình diện gọi là học tập cải tạo, hầu hết biết rõ và đọc hết chính sách khoan hồng trên báo Nhân Dân, cơ quan ngôn luận của đảng và chính phủ cộng sản. Tại nơi đây việc làm có tổ chức quy củ, phân chia và kiểm soát định mức, mà cộng sản gọi là “cân đo đong đếm”, sức khỏe tương đối nhờ vào những hy sinh vô giá của gia đình, dành dụm, hoặc bán dần những gì có trong nhà, để có tài chánh đi thăm viếng, bới xách thức ăn bù vào sự phân phối thực phẩm quá thiếu thốn của nhà tù cộng sản.
    Tháng 10 năm 1977, các phân trại tù tổ chức những buổi sinh hoạt, hô hào khẩu hiệu để khích động sự tham gia nhiệt tình của người tù.
    – Các anh là những thành phần học tập tiến bộ, Trại đã lựa chọn, không phải ai cũng được tham gia “Lao Động Xã Hội Chủ Nghĩa” ở miền Bắc, vì chỉ có người tốt mà thôi, khi xong công việc các anh sẽ trở về trong Vinh Quang.
    Những lời hô hào này gúp người tù thêm hy vọng, gắng hết sức tối đa làm việc, để sớm hoàn thành công tác sắp tới mà người tù ao ước thấy được ánh sánh ở cuối đường hầm là trở về cùng gia đình, phải chăng đó chính là giây phút Vinh Quang dành cho người tù cải tạo tốt.
    Những đoàn xe Molotova được bao phủ kín mít chở những người tù trai trẻ, khỏe mạnh đến thị trấn Đô Lương trên quốc lộ 7, nhiệm vụ đào vét lòng kinh Mụ Bà. Hai bờ kinh là vách đá, phải đào bằng cuốc chim, đôi khi những mãnh đá nhỏ sắt bén văng ra chạm vào thân thể người tù, nhìn máu rướm trên làn da sạm nắng, họ đau xót với máu chảy ra, làm sao có chất bổ dưỡng tạo ra thay thế. Nghĩ thân phận người tù không bản án, chỉ được một ít cơm mà phải trộn chung khoai mì khô sắc lát, bắp hoặc toàn những hạt lúa mì bo bo dai như cao su, nuốt vào bao tử, rồi sau khi phân hóa thải ra có những hột còn nguyên vẹn. Người tù dùng ống tay áo quẹt mồ hôi trên mí mắt, chuyền những ky đựng đá từ dưới lòng kinh lên mặt đất cao.
    Trong giờ nghỉ giải lao, anh em các trại tù tìm cách gặp nhau hàn huyên, thăm hỏi, những câu chuyện vui tạo nụ cười trong cảnh đời héo hắt. Dăm phút tâm sự tràn đầy tình cảm, tạo thêm nhiều nghị lực trợ giúp mọi người vượt qua bao bất trắc đang ẩn hiện phía trước.
    Xong công tác vét kinh, các phân trại tù khởi hành với những giờ khác nhau, đi bộ trên 20 cây số đến nhà ga ở Diển Châu, chờ đợi và lên xe lửa chuyên chở hành khách (tàu chợ) ghé từng ga nhỏ. Người tù xuống ở Nông Cống, lầm lủi trên con đường rãi rác những nhóm người dân địa phương, áo quần lam lũ, nhóm đang xẻ đá, nhóm đập nhỏ và xếp lại từng khối, vải che khắp người tránh xây xát cho cơ thể, chỉ còn chừa lại đôi mắt. Họ ngồi dưới mái che tạm nhỏ phủ giấy báo, hoặc nhánh cây bên cạnh chiếc ấm nước cũ kỷ bằng kim loại, đôi mắt liếc nhìn đoàn tù, nhưng nào ai đoán biết họ đang nghĩ gì vì gương mặt bị phủ kín. Người tù đi qua những cánh đồng chuẩn bị vào mùa, chỉ thấy toàn phụ nữ cùng trẻ em đang cuốc và cày đất, có thể đàn ông, thanh niên là thành phần ưu tú thích hợp cho chiến trường nơi xứ Chùa Tháp Cam Bốt. Hai bên đường toàn là những khẩu hiệu hô hào về công trình Lòng Hồ Sông Mực mà chính quyền tỉnh Thanh Hóa đang phát động, phá rừng, đấp đập thủy điện đem ánh sáng đến thôn quê.
    Vượt qua vùng Như Xuân, tập trung sinh hoạt của người dân miền núi, có quán bán nước lá vối, ít kẹo bánh và ống thuốc lào, một số phục sức như người sơn cước. Đoàn tù phân trại 1 Ái Tử theo con đường đất mới ủi thẳng vào rừng.Càng vào sâu thì đây là khu rừng già, cây cao, che khuất bầu trời, con đường phát dọn sơ sài, những chỗ rậm rạp, chiều rộng độ chừng bằng bề ngang 2 chiếc xe molotova, và chiều cao hơn 1 thước cách mui xe.Trời chạng vạng tối thì có lệnh dừng chân. Chỗ ở tạm cho người tù với những tấm nylon phủ trên các cây đà mà người tù phải cúi khom người xuống. Cả ngày di chuyển mệt mỏi, nên sau khi được chỉ định vị trí, mọi người ngã vùi trên mặt đất. Ngày hôm sau được phân phối vài cây rựa phát dọn chung quanh, giúp toán nhà bếp dọn dẹp, khiêng vác thực phẩm, dụng cụ nấu ăn và chặt những nhánh cây nhỏ có nhiều lá rải ngay chổ nằm.
    Tuần đầu phát dọn khoảng đất trống, đốn ngã những cây to, chặc cột, mun, nứa và bắt đầu dựng lán (nhà dựng sơ sài bằng tre nứa để ở tạm). Gần khu vực lán nấu ăn có con rạch nhỏ, nước có màu giống như nước trong rừng tràm U Minh ở Rạch Giá, Cà Mau. Một số anh em đan rổ, khi hết giờ làm việc, xuống rạch xúc ốc, may mắn được thêm vài con cá nhỏ, sau đó tới nhà bếp xin nước uống trong chảo nóng, đem về chổ ngủ, bỏ tất cả vào. Một ngày vui có chất đạm bồi bổ cho cơ thể.
    Bộ đội giữ tù thỉnh thoảng ném Beta, lựu đạn của Trung cộng xuống rạch để giết cá, họ dùng mùng kéo bắt hết một đoạn dài. Vài hôm sau, một anh tù vớt được con cá ươn, anh mừng rỡ giấu đem về chỗ ở thì có lệnh mang cá lên khung (nhà chỉ huy của trại tù) trình diện. Bộ đội bắt anh phải nuốt sống hết con cá đó rồi mới cho trở về. Tội nghiệp bạn bè đã giúp anh ói ra hết pha lẫn ít mật xanh. Thường vớt được cá chết, người tù đem nướng chín, tuy thịt có mùi, nhưng cũng tạm có miếng ăn và không thấy ai bị phản ứng nào của bộ tiêu hóa cả. Chiều ngày hôm sau lúc trở về chỗ ngủ, tất cả rổ rá và những gì có thể giúp người tù kiếm thêm thức ăn đều bị tịch thu và thiêu hủy.
    Một buổi họp phổ biến cách chặt hạ cây như gốc không cao quá 5 phân, kỷ thuật định hướng cho cây ngã, chặt mở miệng, la lớn báo cho mọi người chú ý trước khi chặt dứt gáy, băm trụi cành lá sau khi cây nằm trên đất... Rừng Thanh Hóa đặc biệt có Lim, một loại gỗ có lõi thật cứng và nặng, thêm vào đó Trường Mật cũng không kém. Nhiều gốc Lim to bằng hai người ôm, gần trên ngọn có làm chòi canh, có lẽ để quan sát hướng bay của phi cơ oanh tạc Hoa Kỳ trong năm 1971 và 1972. Hầu hết lưỡi búa, rựa, do công trường cung cấp, đều bị cong. Toán thợ rèn của trại tù làm việc ngày đêm để làm dụng cụ từ những cây thép nhỏ dùng nối liền hai tầm sắt lót phi đạo dã chiến ở phi trường Ái Tử.
    Toán nấu bếp nhận thực phẩm vào mỗi buổi sáng, 2 người tù gánh cao cái cân xách, bên dưới móc bao bố đựng thực phẩm, bộ đội giữ kho kéo mạnh quả cân trên cán từ trong ra ngoài, khi thấy đầu cán cân gục xuống, vội chụp ngay rồi đọc nhanh trọng lượng. Thực phẩm quá ít, mà lại làm việc nặng nhọc chặt phá rừng, đã không đủ ăn lại thêm bị phân phát gian lận nên cuộc sống người tù ở sông Mực càng ngày càng thê thảm. Một chén cơm lưng độn bắp, canh là lá tàn bay luộc với nước pha muối, hoặc một miếng bột mì luộc, mỏng và to bằng lòng bàn tay. Vì bánh luộc quá nhỏ nên sau đó thay thế bằng bánh canh bột mì, dù thay đổi hình thức tưởng như nhiều, nhưng thưc tế là xác bột và nước không làm sao phân chia đồng đều được, dù sao giúp cho bộ tiêu hóa hấp thụ nhanh chóng và cảm thấy mau đói hơn.
    Không ai quên được vào lúc chạng vạng Tết Mậu Ngọ 1978, cán bộ trên khung cho lệnh người tù đưa tiền cho đội trưởng để mua bánh bồi bổ cơ thể. Trong rừng vào đêm trừ tịch trời tối đen, chỉ có ánh sáng lập lòe của đom đóm, chờ đợi và háo hức, khi được nhận bánh, vì quá đói nên có người ăn ngấu nghiến, có người nhai chậm rãi kéo dài thời gian thưởng thức vì sợ nó tan biến quá nhanh, vài anh mua phụ trội thêm từ những bạn không có tài chánh, cất trong túi để dành cho hôm sau. Lần đầu tiên từ ngày ra Bắc người tù có được một giấc ngủ ngon.
    Âm thanh nôn mửa làm mọi người mở mắt, trong ánh sáng nhợt nhạt ban mai, một anh tù đang cố gắng thọc ngón tay móc vào cổ họng để nôn tháo hết thức ăn, bên cạnh túi ba lô, miếng bánh in mốc xanh mới mua tối hôm qua, tất cả bánh của các anh để dành đều cùng chung số phận.
    Mỗi buổi sáng người tù co ro tiến vào vùng chặt hạ, tiếng lộc cộc phá tan khung cảnh tĩnh mịch của núi rừng, mồ hôi rịn ướt lưng, những khi dừng nghỉ để thở, các ngón tay co quắp, phải kéo từng ngón duỗi thẳng ra thật khó khăn, người tù thường chà xát vào nhau tạo hơi ấm trong lòng bàn tay, có người phun nước miếng vào đó như một thói quen, hay sự ẩm ướt giúp giữ chặt vật dụng hơn.
    Trong lúc phá rừng, không một sinh vật nào có thể sống sót khi bị người tù phát hiện. Một con cheo chạy thật nhanh cũng bị chém chết, một con khỉ nhỏ rớt xuống đất, hai bàn tay luôn luôn bịt mắt lại, không phản ứng ngay cả lúc bị người tù bỏ vào lửa nướng, thật tội nghiệp, đúng thật như tên gọi con Cù Lần. Nào mật ong ruồi, nào sóc, tắc kè, cắc ké, kỳ nhông, rắn, cóc, nhái trong những hố nhỏ lấp xấp nước mưa, thỉnh thoảng có cây đầy trái giống như cà na vị chát, tất cả giúp cho người tù được tồn tại. Trời mưa ẩm ướt, một loại nấm trắng, nhỏ mọc trên thân cây được người tù rửa sạch với nước sôi và dùng trộn chung phần ăn buổi tối. Người tù ăn nhằm trứng cóc bị trúng độc chết, người tù quá cùng khổ, không còn ý chí tự treo cổ trên cành Lim, một số tai nạn như gảy tay, tét đầu, xây xát chảy máu thường xuyên tại nơi làm việc.
    Tùy theo đường kính, loại gỗ tốt hay xấu, thân cây được cắt đoạn theo kích thước ấn định và từng toán hoặc làm nài gánh, hay kề vai khiêng chất thành từng đống cho công trường, sau đó đốt cành lá, thu dọn sạch sẽ vào mỗi sáng chúa nhật, một số bạn xử dụng rìu chuyên nghiệp được đội tuyển lựa đi chặt hạ những cây cổ thụ cao, to, nhánh sum sê còn để lại vì sự an toàn lúc cây ngã.
    Những danh mộc được cưa xẻ thành từng tấm ván, và tất cả cũng được vận chuyển ra khỏi khu vực ngay sau đó. Địa thế lồi lõm của rừng núi nên sự đo đạt không được chính xác, cho đến khi chạm vào lằn mức cuối cùng của công trường, mới biết công tác đã hoàn tất sớm hơn thời gian ấn định. Ngày Vinh Quang trở về Ái Tử đúng theo lời cán bộ cộng sản hô hào trước ngày lên đường ra Bắc, làm người tù mơ ước dù thân xác rã rời, nhưng còn chút niềm tin mỏng manh chờ đợi vào ngày mai. Lần lượt các phân trại tù được chở xuôi Nam, Đoàn xe Phân trại 1 tù Ái Tử đến Quỳnh Lưu rồi quẹo phải theo con đường về Thị trấn Quỳ Châu, Quỳ Hợp. Những chiếc xe đò chở hành khách lên miền núi hoặc trở ra quốc lộ 1, lúc vượt qua mặt, đã thảy vào người tù trái cây và bánh kẹo, đó là niềm an ủi giúp người tù như chiếc xe ọp ẹp rán bò lên dốc núi ngoằn ngoèo trước mặt mà ngày về Vinh Quang như ảo ảnh ở mãi tận cùng phía sau.
    Trại 1 tiếp tục công việc tại Nghĩa Đàn, các trại khác đến Nam Đàn hay một vùng nào đó của Nghệ Tỉnh (Nghệ An và Hà Tỉnh) đang cần sức những người tù để khai phá đất hoang.
    Trích “Hồi Ký Người Lính Tổng Trừ Bị”
    Giang văn Nhân





--
====================================================================
Trên Facebook :
http://www.facebook.com/DaiHocKhoaHocSaiGon
====================================================================
 
Bạn đã nhận được bài viết này vì bạn đã đăng ký vào Nhóm "KhoaHocSG" của Google Groups.
* Để đăng bài lên nhóm này, hãy gửi email đến "khoa...@googlegroups.com"
* Để RÚT TÊN ra khỏi nhóm này, gửi email đến "khoahocSG+...@googlegroups.com"
* Để có thêm tuỳ chọn (preference set up), hãy truy cập vào nhóm này tại: http://groups.google.com/group/khoahocSG?hl=vi
---
Bạn nhận được thư này vì bạn đã đăng ký vào nhóm Google Groups "KhoaHocSG".
Để hủy đăng ký khỏi nhóm này và ngừng nhận email từ nhóm, hãy gửi email đến khoahocsg+...@googlegroups.com.
Để xem cuộc thảo luận này, hãy truy cập vào https://groups.google.com/d/msgid/khoahocsg/MN2PR02MB6592C463C859E2C98BEB0E8FFC93A%40MN2PR02MB6592.namprd02.prod.outlook.com.
Reply all
Reply to author
Forward
0 new messages