Fwd: ĐIỂM TIN DIỄN ĐÀN 10-03-2026 (SỐ 045-2026)

3 views
Skip to first unread message

Giu Tran

unread,
Mar 10, 2026, 11:01:39 AM (2 days ago) Mar 10
to


---------- Forwarded message ---------
From: soan....@hotmail.com <soan....@hotmail.com>
Date: Tue, Mar 10, 2026 at 4:13 AM
Subject: ĐIỂM TIN DIỄN ĐÀN 10-03-2026 (SỐ 045-2026)
To:



GOOD MORNING VIET NAM - CANADA - USA

ĐIỂM TIN DIỄN ĐÀN 10-03-2026  (SỐ 045-2026)

Image insérée

Image insérée



MỤC LỤC

  1. Câu lạc bộ Văn Hóa Montreal Giới thiệu sách mới
  2. Tuổi già đến một cách âm thầm
  3. NHÂN VẬT LỊCH SỬ 30.4 QUA ĐỜI!
  4. BẺ CỔ CON “GÀ CỒ”
  5. Vĩnh Biệt Nha Trang
  6. Chuyện dài thừa kế
  7. NỮ CHIẾN BINH NGƯỜI KURD VÀ NỖI SỢ XUỐNG ĐỊA NGỤC CỦA CHIẾN BINH HỒI GIÁO IRAN
  8. GIÁO CHỦ KHOMEINE 
  9. Chuyến Xe Chiều
  10. Thiệt nà đau nòng …?!😲🤔😅


Câu lạc bộ Văn Hóa Montreal Giới thiệu sách mới

 

Để lưu lại sử ca của người tỵ nạn cộng sản, câu lạc bộ Văn Hóa Montreal có dự án viết về các văn nhân, văn vật, hội đoàn kiểu mẫu trong cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản sống tai MontrealTrong dự án này,  chúng tôi đã thưc hiện được:

1.Cuốn sách Văn nhân Việt tại Montreal, Nhân Ảnh, 2025, 208 trang giới thiệu các văn nhân của Montreal (bán trên site Amazon.ca).

2. Cuốn sách song ngữ Y SĨ VIỆT NAM TẠI MONTREAL VA CANADA, Medecins vietnamiens à Montreal et au Canada, Nhân Ảnh XB ,năm 2026, 212 trang (bán trên site Amazon.ca).

3. Dựng Tượng đài văn hóa, hiện đặt tại trụ sở của CĐNVQGVM, gồm khoảng 200 tác phẩm của 33 văn nhân (CLB vẫn tiếp tục thu góp tác phẩm).

4. Cuốn song ngữ Người Việt công giáo tại Montreal, Edition bilingue vietnamienne française, Vietnamiens catholiques à Montréal,

5. Cuốn sách song ngữ Montréal, l’épopée des réfugiés vietnamiens anticommunistesEdition bilingue vietnamienne française Montréal, Bản hùng ca của người Việt quốc gia  để vinh danh các Văn Vật Việt tại Montreal.

Giới thiệu cuốn sách

Y SĨ VIỆT NAM TẠI MONTREAL VÀ CANADA,

Médecins vietnamiens à Montreal et au Canada,

 

Image insérée

 

Image insérée

Hội Y Sĩ giới thiệu sách tại quầy hàng Tết và làm quà Tết cho hội viên

 

Hành trình đi tìm tự do của mỗi người Việt tỵ nạn cộng sản đều đã trải qua 3 giai đoạn:

-Sống mất tự do và bị áp bức dưới chế độc tài,

 -Sống gian nan đầy nguy hiểm khi vượt biên trên biển cả

-Rồi sau cùng phải sống hội nhập xã hội, nghề nghiệp vào một xã hội xa lạ.

Với dũng cảm và nghị lực của người Việt tỵ nạn nên cuộc hành trình tìm tự do mang bóng dáng của môt bản hùng ca của cả triệu ngươi Việt tỵ nạn trên thế giới. Hai giai đoạn đầu của bản hùng ca đã được nhiều sách báo, bút ký đề cập đến rất nhiều nên cuốn sách này chỉ thuật lại giai đoạn chót’’ bản hùng ca’’ của mấy trăm bác sĩ Việt tỵ nạn đến lập nghiệp tại Montreal, sau khi đã trải qua đói khát trong tù cải tạo (giai đoạn 1 của hùng ca), vượt biên bằng đường biển đầy gian nan, nguy hiểm (giai đoạn 2) rồi lại phải vượt qua các giai đoạn hội nhập xã hội, nghề nghiêp, văn hóa với đời sống tại Quebec (giai đoạn chót). Sau 50 năm viễn xứ, với tài liệu sống thực làm nòng cốt cho cuốn sách, cuộc hành trình của mấy bác sĩ từ trại tù đến Montreal là một đoạn ngắn biểu tượng cho sử thi của cả triệu người Việt đi tỵ nạn cộng sản tại hải ngoại.

 

Le parcours vers la liberté de chaque réfugié vietnamien du communisme a traversé trois étapes :

·        Vivre privé de liberté et opprimé sous un régime dictatorial,

·        Survivre aux épreuves et aux dangers en fuyant par la mer,

·        Et enfin, devoir s'intégrer socialement et professionnellement dans une société étrangère.

Grâce au courage et à la détermination des réfugiés vietnamiens, cette quête de liberté prend la forme d'une épopée héroïque pour des millions de Vietnamiens à travers le monde. Les deux premières étapes de cette épopée ayant déjà été largement documentées dans de nombreux livres et récits, cet ouvrage se consacre uniquement à la dernière étape de « l'épopée » de plusieurs centaines de médecins réfugiés venus s'établir à Montréal, après avoir survécu à la faim et aux privations dans les camps de rééducation (première étape de l'épopée) et bravé les périls de la fuite par la mer (deuxième étape). Ils ont ensuite dû surmonter les défis de l'intégration sociale, professionnelle et culturelle dans la société québécoise (dernière étape). Cinquante ans après leur exil, et grâce à des témoignages authentiques qui constituent le cœur de ce livre, le parcours de ces médecins – du camp de rééducation à Montréal – est un bref segment symbolique de l'épopée historique de millions de Vietnamiens ayant fui le communisme à l'étranger.

 

Lạp Chúc Nguyễn Huy. Trước năm 1975, giảng dạy tại Đại Học Văn Khoa Sài Gòn và sau 1975, làm việc khảo cứu tại Département d’anthropologie de l’Université Laval, Québec.

Lạp Chúc Nguyễn Huy. Avant 1975, il a enseigné à la Faculté des Lettres de Saïgon et après 1975, il a travaillé en recherche au Département d'anthropologie de l'Université Laval, Québec.

Image insérée
 

Table des matières

Présentation du livre

Prologue

Introduction
Chapitre 1 : L'Association des médecins vietnamiens à Montréal et au Canada
Chapitre 2 : Activités de l'Association
Chapitre 3 : Revue des Médecins
Chapitre 4 : Médecins leaders et chercheurs
Chapitre 5 : Le médecin de la Journée de la Santé : Dr Đặng Phú Ân
Chapitre 6 : Un médecin sur la mer de l’Est : Dr Trang Châu
Chapitre 7 : Médecins, écrivains et poètes : Drs Thân Trọng An, Nguyễn Thanh Bình...
Chapitre 8 : Un médecin enseignant : Dr Lại Thế Hưng
Conclusion 1 : Raconter les histoires en marge
Conclusion 2 : Raconter l'histoire des médecins : Drs Dương Đình Huy et Cấn Thị Bích Ngọc

Conclusion 3 : Remerciements

Kết luận 2

 

Kể chuyện bác sĩ

 

Hiện nay thì tất cả chúng ta đều biết ít nhiều về mấy ông bác sĩ Việt Nam tại Montreal; nhưng sau này có thể mấy trăm năm sau, khi bà mẹ dẫn con trai đến y phòng của một ông bác sĩ việt để khám bệnh thì cuốn sách này sẽ giúp bà mẹ có tài liệu kể chuyện cho con nghe về mấy ông bác sĩ tỵ nạn cộng sản trên đất Montreal. Vì vậy mà cuốn sách này là một đóng góp vào tượng đài ‘’ Le conte d’une vie’’ được xây dựng bởi hai bác sĩ : Dương Đình HuyCấn Thị Bích Ngọc

 

Tượng đài ‘’ Le conte d’une vie’’ (Câu chuyện người vượt biển) biểu tượng cho hình ảnh bà mẹ kể chuyện người Việt quốc gia tỵ nạn cộng sản đã làm gì tại Montreal.

Tượng đài ‘’ Le conte d’une vie’’  được Khánh Thành  ngày 28 tháng 8 năm 2021 tại công viên Atholstan tại góc đường Laird và Saint-Claire, Mont Royal.

Mô hình của tượng đài mang ý nghĩa: 

    -Biểu tượng con thuyền của Boat People người việt tỵ nạn cộng sản : Bia tam giác tượng trưng cho mũi thuyền,

    -Biểu tượng  người mẹ kể chuyện cho con trai mình, thế hệ sau này, về lịch sử thuyền nhân (Boat People) và mấy ông bác sĩ tỵ nạn cộng sản tại Montreal khi dẫn con dến khám bệnh một ông bác sĩ Việt. 

 

Conclusion 2

Raconter l'histoire des médecins

Actuellement, nous connaissons tous plus ou moins les médecins vietnamiens de Montréal ; mais plus tard, peut-être dans quelques centaines d'années, lorsqu'une mère amènera son fils au cabinet d'un médecin vietnamien pour une consultation, ce livre fournira à la mère de quoi raconter à son enfant l'histoire des médecins réfugiés du communisme sur la terre de Montréal. C'est pourquoi ce livre est une contribution au monument "Le conte d'une vie" érigé par deux médecins : Dương Đình Huy et Cấn Thị Bích Ngọc.

Le monument « Le conte d’une vie » symbolise l’image d’une mère qui raconte l’histoire des Vietnamiens nationalistes réfugiés du communisme à Montréal.

Le monument "Le conte d'une vie" a été inauguré le 28 août 2021 au parc Atholstan, à l'angle des rues Laird et Saint-Claire, Mont-Royal.

La maquette du monument a la signification suivante :

  • Symbole du bateau des Boat People vietnamiens réfugiés du communisme : La stèle triangulaire symbolise la proue du bateau.
  • Symbole de la mère racontant l'histoire à son fils, les générations futures, sur l'histoire des boat people et des médecins réfugiés du communisme à Montréal, lorsqu'elle emmène son enfant consulter un médecin vietnamien.

 

Image insérée

 
De gauche à droite : Dr Dương Đình Huy (2e) et Dr Cấn Thị Bích Ngọc (4e)

 




Tuổi già đến một cách âm thầm
  • Tuổi già đến một cách âm thầm lắm lúc ta cứ nghĩ mình còn trẻ... Mà ngẫm nghĩ người  được tuổi già đến một cách âm thầm là còn quý, thời buổi dịch bệnh này bệnh tật khó lường, em thấy một phần do ảnh hưởng bởi genes lạ của con vi rút thế kỷ cũng có ( chẳng hạn như... có tỉ lệ nguy cơ  hình thành máu đóng cục đáng kể qua việc mắc bệnh, hay qua việc chích ngừa vaccine vector DNA của nó..., mà nó cũng có trong không khí đó chứ ).  Tuần này một bạn trẻ em quen vừa mới qua đời vì đột quỵ, mà em trai này thì cày đủ jobs tất bật lo kiếm tiền, có nhà có cửa cho thuê mà bây giờ ra đi thì cũng chẳng hưởng được gì, vì vậy em khuyên các em trai ở Mỹ mà có thất nghiệp thì cũng đừng buồn, nhất là ai nào 60t trở lên thì nên tính nghỉ hưu là vừa, để còn có thời gian lo cho bản thân chứ sắp hết thời rồi tất bật làm chi, giữ gìn sức khỏe để tận hưởng cuộc sống. Vì nhung câu nói "nay người, mai ta" rất chí lý, nhắc nhở mình về sự vô thường của cuộc sống, ngày ấy đến như một cái lưới bắt mà không ai biết trước được, để thức tỉnh mình lo chuẩn bị thể lý và tâm lý cho một ngày đó không xa của mình. 
    (đó là thức tỉnh mình lo cho phần rỗi thể xác, còn lo cho phần rỗi linh hồn thì sao ta? Trong đạo Phật, phần rỗi linh hồn ("tự giải thoát") là cần tự nỗ lực tu tập, giữ giới (đặc biệt là 5 giới căn bản: không sát sinh, trộm cắp, tà dâm, dối láo, say sưa), tu dưỡng tâm tính, tích đức, tạo nghiệp lành để chuyển hóa bản thân thoát khỏi sinh tử luân hồi, thay vì dựa vào sự cứu rỗi từ bên ngoài. Còn trong đạo Chúa thì em có thuộc câu vè này nè: 
    Linh hồn nhớ Chúa nhớ Cha
    Ðọc kinh cầu nguyện nhớ Cha trên trời 
    Linh hồn phải giữ linh hồn 
    Ðến khi gần chết được lên Thiên đàng
    Thôi để em gởi một bài giảng next cho các anh chị nào có thời gian đọc thì còn hơn là nghe em vè nhe :)
    Ba tôi có một nguyên tắc, giữ hơn năm mươi năm nay rồi:
    “Ai đang làm việc thì đừng làm phiền họ.”

    Ít nhất… là cho đến hai tuần trước.

    Tôi tên Julien, 46 tuổi, làm nghề đo đạc công trình. Ngày nào cũng chạy như con thoi: công trường, cuộc hẹn, kẹt xe, hết chỗ này tới chỗ kia.

    Sáng hôm đó, điện thoại tôi rung.

    Màn hình hiện: Papa.

    Ba tôi là kiểu người của thời xưa. Ông từng làm thợ hồ. Bàn tay to, chai cứng, đầy vết nứt của xi măng, vôi vữa và những năm tháng làm việc cực nhọc. Với ông, nhờ ai giúp đỡ luôn là một điều gì đó… giống như thua cuộc.

    Tôi bắt máy ngay.
    — “Ba hả? Ba có sao không?”

    Im lặng.

    Một khoảng im lặng nặng nề.

    Rồi ông nói, giọng nhỏ hơn bình thường:
    — “Julien… ba xin lỗi vì làm phiền. Cái lò sưởi… nó hết nhiên liệu rồi. Ba không nhấc nổi cái bao để đổ vào.”

    Một bao nhiên liệu nặng khoảng 15 ký.

    Với người đàn ông từng vác hai bao xi măng trên vai cùng lúc, thì 15 ký… lẽ ra chẳng là gì.

    Tôi nói:
    — “Ba đợi đó, con tới liền.”

    — “Không cần đâu. Con làm việc đi.”

    — “Con tới liền.”

    Tôi đi ngay lập tức.

    Khi bước vào nhà, tôi thấy lạnh.

    Cái lò sưởi tắt ngấm.

    Bên cạnh là cái bao mở dở, hạt nhiên liệu rơi vãi trên sàn.

    Ba tôi nói nhỏ:
    — “Ba thử ba lần rồi.”

    Ông nhìn đôi tay mình.
    — “Ba nhấc lên… nhưng tay ba run.”

    Ông đưa tay lau mặt.
    — “Thật vô lý… Cả đời ba xây nhà cho người ta. Mà giờ thua một cái bao nhựa.”

    Trong mắt ông không phải là buồn.

    Mà là giận.

    Cái giận của một người nhận ra thời gian đang lấy dần sức lực của mình… từng chút một.

    Phản xạ đầu tiên của tôi là nói:
    — “Để con làm cho.”

    Nhưng rồi tôi chợt hiểu… nếu tôi làm hết, thì chẳng khác nào xác nhận nỗi sợ của ông.

    Tôi cởi áo khoác.
    — “Ba còn nhớ hồi hai cha con mình sửa mái garage không? Lúc đó con không giữ nổi cái xà. Ba nói với con: ‘Không phải lúc nào cũng cần mạnh. Chỉ cần có người cùng làm.’”

    Tôi cúi xuống cái bao.

    — “Hai cha con mình làm chung.”

    Ông đứng im vài giây.

    Rồi ông bước lại.

    Ông đặt tay lên cái bao.

    Tôi đỡ phía dưới.
    — “Một… hai… ba.”

    Hai cha con cùng nhấc.

    Cái bao trượt vào lò.

    Ngọn lửa cháy lại.

    Hơi ấm từ từ lan ra khắp phòng.

    Ông không ôm tôi.

    Ông không phải kiểu người như vậy.

    Nhưng ông vỗ nhẹ vào lưng tôi.
    — “Ba mừng vì con tới.”

    — “Con cũng vậy, ba.”

    Hai cha con ngồi uống cà phê trong bếp.

    Nói chuyện bóng đá.

    Nói chuyện thời tiết.

    Nói những chuyện bình thường.

    Những chuyện thật ra… rất quan trọng.

    Trước khi tôi về, ông đưa tôi một hũ nước sốt ông tự làm.
    — “Đem về cho tụi nhỏ.”

    Đó là cách ông nói: Ba thương con.

    Trên đường về, tôi chợt hiểu một điều.

    Cha mẹ mình không già đi trong một ngày.

    Họ già đi… âm thầm.

    Từng chút một.

    Một túi đồ trở nên quá nặng.

    Một cái nắp không mở nổi.

    Một cái bao không nhấc lên được nữa.

    Họ không muốn nhờ mình.

    Không phải vì họ không cần.

    Mà vì họ sợ trở thành gánh nặng.

    Nên nếu một ngày nào đó, họ gọi bạn chỉ vì một chuyện nhỏ xíu…

    Một cái bóng đèn.

    Một cái remote.

    Một cái lò sưởi.

    Hãy đi.

    Không phải vì cái bóng đèn.

    Không phải vì cái lò sưởi.

    Mà vì họ cần bạn.

    Khi căn bếp vẫn còn sáng đèn.

    Khi tiếng cà phê vẫn còn sôi trên bếp.

    Khi vẫn còn người nói với bạn:

    “Lái xe cẩn thận nha con.”

    Vì sẽ có một ngày…

    Điện thoại sẽ chẳng reo nữa.

    Và ngày đó,

    Bạn sẽ đánh đổi mọi thứ

    Chỉ để được nghe lại cuộc gọi ấy

    Thêm một lần.


    NHÂN VẬT LỊCH SỬ 30.4 QUA ĐỜI!
    • 647136106_894166726937481_6808077533232168176_n.jpg


      648465691_894166756937478_8000564250945967973_n.jpg
      647116119_894166813604139_7657628465673330856_n.jpg

      😢😢����������������������������
      Nhân vật trong bức ảnh lịch sử 30 Tháng Tư 1975 qua đời
      �� Tin từ Bình Phước cho hay, cựu quân nhân VNCH Võ Phùng Dương đã qua đời do tuổi già sức yếu, một phần những di chứng chiến tranh đi kèm lao động nặng nhọc suốt một thời gian dài.
      ��Ông Võ Phùng Dương là nhân vật trong bức ảnh lịch sử về người thương binh VNCH đang chữa trị ở Tổng Y Viện Cộng Hòa, Sài Gòn, đã phải chống nạng và dìu đồng đội thương tật nặng hơn mình bước ra sau khi quân bắc việt tr.àn vào, đu.ổi hết mọi người ra ngoài, kể cả những người đang m.ổ giữa chừng.
      ��Đôi mắt buồn và ngơ ngác trước sự thật quá phũ phàng của người quân nhân Võ Phùng Dương trong bức ảnh, được sử dụng nhiều trên các tờ báo nước ngoài về cuộc ngừng bắn vào buổi trưa ngày 30 Tháng Tư 1975. (Sài Gòn trong tôi/ SGN/ Y Nguyên)
      ��Thương phế binh Võ Phùng Dương, Số quân: 74/145 811, KBC: 3506, Tiểu Đoàn 52, Liên Đoàn 3, Biệt Động Quân, tạ thế vào 23g45, ngày 3 Tháng Ba 2023, hưởng thọ 69 tuổi.
      Linh cữu của ông được quàn tại nhà ở thị trấn Chơn Thành, huyện Chơn Thành, Bình Phước – vốn là một miếng đất của ông chủ vườn thuê mướn ông từ giai đoạn “kinh tế mới”, thương tình cho để cất nhà, Từ năm 1979 ông sống ở đó, trồng rau nuôi gà để mưu sinh.
      ��Trong một phóng sự đi tìm nhân vật chứng nhân lịch sử với bức ảnh nổi tiếng, chúng tôi đã tìm đến nhà ông và thăm hỏi, chia sẻ và thương mến một công dân VNCH không khuất phục thời thế và cuộc đời của mình. (Sài Gòn trong tôi/ SGN/ Y Nguyên)
      ��Lúc đó, nhắc về nguyên cớ của việc có bức hình này, ông Dương kể với giọng buồn buồn “Người chụp tấm hình đó, là bạn của chú, cũng bị đuổi từ Tổng Y Viện ra, ảnh tên Lài. Sẵn tay đang cầm cái máy Kodak, ảnh kêu tên chú rồi chụp luôn. Không ngờ tấm hình đó sống dai vậy”, ông Dương nói rằng giờ cũng không biết Lài ở đâu, còn sống hay đã chết với những ngày tháng cam go không thua gì như cuộc chiến, sau cái Tháng Tư đó”.
      ��Sau năm 1975, khi có các phái đoàn quốc tế đến tìm hiểu cách ứng xử với các cựu quân nhân VNCH sau ngày 30 Tháng Tư 1975, nhiều nhân chứng có kể về việc họ bị đẩy ra khỏi giường bệnh, bị đuổi ra đường không có thuốc men chuẩn bị cho các ngày kế. Nhưng không ai có mang giá trị lịch sử đầy sức nặng như ông Võ Phùng Dương, vì ông là người chứng kiến, là nạn nhân trực tiếp, và hình ảnh xuất hiện trên khắp thế giới.
      Nhắc lại giờ phút đó, ông Võ Phùng Dương nói, suýt bật thành tiếng ch.ửi th.ề, “Họ nói giọng Bắc, kêu đ*t mẹ chúng mày c.út ra hết”. Tất cả phải lặng lẽ kéo nhau ra bằng cổng sau, vì phía quân Bắc Việt không muốn bị dân chúng nhìn thấy cảnh tàn nhẫn này.
      ��Ông Võ Phùng Dương là thương phế binh VNCH, nhưng chưa một lần ghé đến được chương trình Tri ân TPB VNCH của các Cha Dòng Chúa Cứu Thế vì xa xôi và đi đứng bất tiện. Ông nói mình chỉ muốn gặp anh em là chính, chứ đời sống thì có thể tự lo toan được. Quà hỗ trợ, ông nói là để nhường cho anh em khó khăn hơn.
      Sự ra đi của ông Dương cũng là điều buồn và tiếc nuối của những người có lòng với di sản VNCH và khát khao ghi lại những chứng tích lịch sử, mà chưa có cơ hội để thực hiện./ -
      ,��������������������������
      Từ Fb Ngọc Trần sưu tầm


BẺ CỔ CON “GÀ CỒ”

  • Image en ligne

    Image en ligne

    Trận Hỏa Thiêu
    Chọc thủng bức tường thép Sa Huỳnh không giết được một tên giặc, không thu một cây súng, còn bị thương một người do bắn nhầm, tôi tự ái vô cùng. Cấp trên thì chẳng hề biết đến sự gian khổ, toan tính chính xác, lòng can đảm của các đơn vị thuộc quyền, mà họ chỉ quen dựa vào chiến lợi phẩm như vũ khí. Nói một cách rộng lớn hơn, đơn vị đã tấn chiếm được bao nhiêu thành, bao nhiêu đất, mới gọi là thắng một cuộc chiến, chứ không đòi hỏi gì khác.
    Tôi phải tìm cách moi gan kẻ thù mới hả dạ. Vừa tải thương Nguyễn văn Châu qua Đại đội 2 BĐQ xong, thì trời đã xế bóng. Tôi lo tìm mt điểm đóng quân đêm ngay giữa lòng đất địch bao la, nguy hiểm này. Nhìn về phía Nam, kế đầm Nước Mặn, thấy có mt đồn lính nửa ẩn nửa hiện dưới nắng chiều thoi thóp. Tôi dè dặt, chỉ cử 3 tay Thám Báo xuất sắc, đem theo cái máy PRC25, tới gần quan sát. Một mặt, để ngừa bất trắc địch đè đánh tốp dọ thám, Đại đội dàn quân sẵn sàng tiếp cứu. Một lát Hạ sĩ Lê An thở hổn hển gọi lui:
    – Trình Đại Bàng, đồn bỏ trống, không ai hết ! Trên trụ cờ còn treo lá Quốc kỳ.
    Tôi ngạc nhiên:
    – Còn lá Quốc kỳ à? An nhắm Đại đội mình vào đóng quân vừa không?
    – Dư sức Đại Bàng! Có đủ giao thông hào và mỗi góc một bunker lớn, y như đồn Quán Hồng ở Mộ Đức vậy.
    Nghe Lê An tả, tôi càng rợn tóc gáy, buột miệng:
    – Thấy mẹ rồi!…
    An chặn hỏi:
    – Cái gì “thấy mẹ”, Đại Bàng?
    Tôi cười gượng:
    – Thói quen của tao mà ! Gặp rắc rối hay nói vậy. OK, đề phòng Việt Cộng và nằm tại chỗ chờ tao.
    Lập tức tôi dàn 2 Trung đội tới nằm phục bên ngoài. Quả thật, đồn hình vuông tương đối rộng, xây bằng bao cát màu ô liu cũ mốc, u ám như cổ thành rêu phong của một triều đại xa xưa còn sót lại. Lạ, phe rút chạy, cả phe đánh chiếm, chẳng bên nào phá hủy căn cứ. Điều lạ hơn, trên trụ cột còn nguyên lá cờ vàng ba sọc đỏ, đã bạc màu, và dù trời đang có gió, vẫn xếp re rủ xuống, thiếu vẻ kiên cường ngạo nghễ. Lẽ nào Quốc kỳ cũng bị bắt làm con tin, hay kẻ thù đang nằm im, toan giở trò dụ khị gì đây? Sự đa nghi của tôi có lý lắm!
    Tôi bảo Trung đội Thuận nhấp liền 1 tràng đại liên cùng vàichục trái M79 vào quanh hệ thống phòng thủ để xem phản ứng. Kết quả, nơi thâm cung ấy vẫn im hơi lặng tiếng. Chắc đồn bỏ hoang nên cho Thám Báo phá cổng đột nhập trước, rồi trọn bộ đơn vị chiếm cứ an toàn.
    Không hiểu sao hôm nay địch lại hiền khô, dành riêng cho tôi nhiều ưu đãi. Lý gì chúng quá khiếp đởm bỏ chạy để mũi tiến quân của tôi vào chỗ không người. Ngày xưa, các vị anh hùng Quang Trung, Lê Lợi trên đường chinh phạt còn có xác thù dưới vó ngựa cản ngăn, làm bẩn chân kia mà! Sa Huỳnh là đây, một vùng ma quái, kẻ thù cũng xuất quỉ nhập thần đâu kém mình. Cộng quân chẳng thể dại khờ không phòng thủ mặt tuyến phía tây, lại càng đần độn bỏ phí cái căn cứ này nơi mà được tạm dùng che bom đỡ đạn cho chúng?
    Tôi rảo quanh quan sát một vòng từ trong ra ngoài đồn, rồi trèo lên nóc một bunker, thản nhiên ngồi ngắm bao quát phía nam. Đầm Nước Mặn xanh um và phẳng lặng như hồ thu giữa núi non trùng điệp. Dưới chân con dốc kế tôi, có khoảng mươi căn nhà lá lụp xụp, dựa lưng vào vách đồi, với 5-3 chiếc thuyền nan kê mũi trên bãi cát óng ánh, trông thật thơ mộng. Xa xa, sát Quốc lộ 1, làng Sa Huỳnh chi chít mái tôn lẫn ngói, phất phới một rừng cờ nửa đỏ nửa xanh giữa là ngôi sao vàng, của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam, một công cụ của Cộng Sản Bắc Việt. Tôi có cảm tưởng tôi như vừa lạc đến một đất nước xa lạ nào, không phải quê hương mình. Tôi nhìn lên trụ cờ lần nữa, lá Quốc kỳ yêu dấu biểu tượng hồn thiêng sông núi không thể cô đơn, buồn rủ dưới bóng chiều tẻ nhạt…
    Tôi kêu Hiệp đưa máy gọi BCH Tiểu đoàn:
    – Sơn Linh, đây Việt Quốc!
    – Dông Tố nghe!
    Lâu ghê, nay tôi mới được tiếp chuyện với Đại úy Do:
    – Tôi đang ở trong đồn Địa Phương Quân đã rút bỏ...
    Do reo lên:
    – Hay quá!
    – Hay cái gì?
    – Việt Quốc trong đồn kế đầm Nước Mặn, phải không?
    – Phải, Dông Tố!
    Vị Tiểu đoàn phó như cởi tấc lòng :
    – Sơn Linh mãi phân vân, chẳng biết giao ai đánh đồn đó. Đại đội Việt Quốc ở gần, nhưng quân số quá ít, nên không đề cập tới. Nếu dứt điểm được nó, mình bớt khó khăn. Cấp trên mấy ổng nghi Việt Cộng đóng chốt ở trỏng. Thì ra, Việt Quốc đã chiếm cái đồn. OK, để tôi trình Sơn Linh gấp!
    Tôi gác máy, lại ôm đầu nghĩ ngợi. Sự lý giải của Đại úy Do vô tình làm tôi thêm lo, vì cái nghi ngờ của cấp trên phù hợp với dự đoán của tôi. Chắc chắn địch sẽ phản công, không dùng Bộ binh cũng pháo kích te tua, hay cả 2 như tình huống ở căn cứ Jackson ngoài Huế, nếu Đại đội tôi ngủ đêm nay tại vị trí định mệnh này. Đường nào chúng cũng hốt. Lá cờ còn để nguyên bay phất phới hẳn phải có một ý nghĩa Cộng quân dụ mình vào mần thịt. Chúng dụ thật, không phải như chuyện Tàu ngày xưa, Khổng Minh thất thế, bày mưu mở toang cửa thành, rồi lấy đàn ra ngồi gãy, khiến cha con Tư Mã Ý hoảng sợ, vội bỏ ý định tấn đánh, quay đầu rút chạy.
    Nhưng, vỏ quít dày móng tay nhọn. Tôi nảy ra kế hoạch trừ khử, kẻ bị diệt là chúng, liền “bày binh bố trận”, chơi một ván cờ, không ăn cũng huề, chứ thụ động thì 50 tay súng quá uể oải này ắt phải thua đậm bọn ma cà rồng khi màn đêm buông xuống.
    Tính toán kỹ ra đáp số, tôi yên tâm, nhưng chưa vội tiết lộ lính biết ý định. Nói sớm tụi nó sợ, ăn không ngon, còn chê tôi liều mạng, đánh giặc chẳng bài bản. Tôi bảo Đại đội hãy tỉnh bơ nấu cơm chiều. Rồi, các ngọn lửa gỗ thông nghi ngút khói, cuồn cuộn bay cao, tỏ ý thách thức kẻ thù. Mặt khác, tôi cho một số anh em xuống bờ đầm kiếm nước uống, đồng thời mời hết đồng bào lên đây để tôi nói chuyện. Nửa tiếng sau, chừng 50 người, đa số già cả, trẻ em, tụ tập bên ngoài cổng. Nhìn họ ngơ ngác như mất hồn, không vui vẻ, cởi mở chút nào cả. Lạ, địch mới chiếm Sa Huỳnh chưa đầy tháng, mà dân chúng đã thất điên bát đảo, cá tôm sẵn trước mặt đành bó tay chịu đói. Trông dáng điệu tôi hiểu họ chẳng còn tin ai. Mọi người vừa ngồi xuống, tôi ngỏ lời:
    – Kính chào tất cả năm mới ! Xin nhắn nhủ đồng bào đừng sợ sệt, chúng tôi, Quân đội Quốc Gia, đến giải tỏa Sa Huỳnh, Việt Cộng đang tháo chạy. Tuy nhiên, vì trận đánh chưa chấm dứt, bà con nên di tản vào Đức Phổ vài hôm để tránh bom đạn sắp trút xuống đầu địch. Khi đi, hãy băng qua dãy đồi này rồi tụt dốc ở góc đá đằng sau kia để ra đường cho an toàn...
    Họ im lặng. Tôi định dọ hỏi tình hình trong làng này nhưng thôi, vì biết chắc không ai dám hé môi. Tôi vờ ngây ngô nhấn mạnh một điều để bọn giao liên nằm vùng đang trà trộn, mà tôi vừa bắt gặp vài bộ mặt khinh khỉnh nhìn lén tôi, để về báo cáo với Cộng sản:
    – Đêm nay chúng tôi trú đóng trên đồn này, bà con ở dưới xóm được phép thắp đèn và qua lại các nhà lân cận chơi, nhớ đừng đi xa sau 8 giờ tối...
    Tôi nói như thiệt và còn tỏ vẻ hân hoan, nở nụ cười tự đắc, kiêu căng một cách ngu xuẩn:
    – Thôi,đồng bào giải tán! Hẹn gặp ngày mai thanh bình! Tất cả vẫn dáng điệu bơ phờ, lần lượt dìu nhau xuống con dốc hãm đứng. Xong, tôi mời hết các thẩm quyền tới bàn gấp công việc:
    – Báo các anh biết tình hình thấy vậy, chứ không êm đâu. Có thể đêm nay địch phản công chúng ta. Đừng ngán. Lát nữa khi trời bắt đầu tối, Đại đội bí mật, âm thầm kéo hết ra ngoài kia nằm...
    Tôi đưa tay chỉ một ngọn đồi thấp, tương đối bằng phẳng, ở hướng Đông bắc 200 thước:
    – Đại đội đóng quanh nơi đó. Trung đội Trung sĩ Thuận bố trí thủ mặt Nam, Trung đội 2 nối tiếp giữ phía Tây, còn lại thì toán Thám Báo lẫn Bộ Chỉ Huy. 2 người đào chung một hố cá nhân, chớ căng lều võng, cũng đừng trải Poncho, hãy nằm đất, và dĩ nhiên không được hút thuốc. Tuyệt đối thi hành.
    Trung sĩ Thuận nêu câu hỏi:
    – Sao không lui về gần Đại đội 2?
    – Anh có nhớ kỳ hành quân ở xã Đức Lương? Đại đội mới đến đầu làng đóng quân thì ngay tối đó liền bị đánh. Hôm sau mình thọc sâu vào họng chúng lại yên. Nhưng tùy trường hợp, chứ không nhất thiết phải làm như vậy. Đặc biệt tình thế này chúng ta lui là chết, và liệu ngày mai vác mặt tới được không, hay bị rượt chạy tóe khói? Giờ đây có thể mình đang lọt kế, hãy kịp lấy độc khử độc, gậy ông đập lưng ông, chơi ngược lại nhử địch tối nay đến công đồn vì tưởng Đại đội trong này,rồi mình sẽ nướng chúng hết.Kiếm cách làm ăn chứThuận!
    Thấy tôi cười, người Hạ sĩ quan đã từng gian khổ, bị thương hai lần ở mặt trận Hạ Lào và mùa Hè đỏ lửa Quảng Trị, cũng cười theo. Tôi nói với Trung sĩ Nhật:
    – Khi có lệnh Thám Báo ra trước giữ đồi. Trong lúc chờ di chuyển, anh em tiếp tục đốt lửa, đồng thời chuẩn bị gọn gàng, trong tư thế sẵn sàng chiến đấu, đề phòng bị pháo kích.
    Hiệp vừa xách cái máy PRC25 đến:
    – Đại Bàng, Dông Tố gặp.
    Tôi cầm ống liên hợp:
    – Nghe Dông Tố!
    – Sao chưa báo cáo các vị trí tiền đồn?
    – Quân số đâu nữa tiền đồn?
    Đại úy Do ngạc nhiên:
    – Bộ ở trỏng hết à?
    – Không. Tôi có kế hoạch mới chưa trình BCH Tiểu đoàn. Tiện thể xin báo, lát nữa Đại đội sẽ nằm tại XY...
    – Để tôi coi bản đồ. Cũng kế bên đồn, sao ra ngoài?
    Tôi đáp nhanh:
    – Ở trỏng cho chết à? Tôi nghĩ tối nay chắc chắn Việt Cộng sẽ hốt gọn bọn tôi.
    Giọng Do hơi gắt, chưa tin sự việc:
    – Việt Quốc hay nói sảng lắm!
    – Không sảng đâu. Hồi chiều tụ họp dân, tôi đã đoán biết. Dông Tố xin pháo binh hãy lập sẵn yếu tố tác xạ TOT (Time On Target), mỗi khẩu vài chục trái bắn trùm xuống đồn này khi có lời yêu cầu khẩn cấp.
    – Cần soi sáng không?
    – Khỏi, soi sáng lộ vị trí tôi.
    – OK, lúc nào move out thì báo.
    Trời đã nhá nhem, lính vừa cơm nước xong, lệnh cho toán Thám Báo bắt đầu men theo đường trũng đến điểm ấn định. Một lát, Đại đội đã lần lượt lén rút ra hết và cứ 2 người đào chung một hố cá nhân. Các vũ khí dàn sẵn, 3 cây đại liên thì đặt 3 hướng, đạn dược tập trung đầy đủ. Tất cả đâu vào đó, mọi người nằm im phăng phắc như mèo rình chuột.
    Bỗng một trái hỏa châu bùng nổ, sáng rực cả bầu trời lẫn mặt đất phía Bắc, nơi các Đại đội cùng BCH Tiểu đoàn đóng, làm giật mình. Nghe tiếng máy xì xì, Hiệp nhấc ống liên hợp:
    – Đáp nhận Sơn Linh!
    Hiệp trình lại:
    – Trển nhắc mình canh gác cẩn thận.
    – Cả lũ mình thức hết, có ai dám ngủ đâu mà bảo cẩn thận. Chắc đêm nay tao cũng làm lính ngồi gác tới sáng luôn. Ghiền thuốc quá, Hiệp ơi!
    Hiệp nhe hai hàm răng trắng phếu cười:
    – Đại Bàng xuống nằm chúi dưới hố, em phủ kín Poncho cho hút.
    – Mày làm như tao là con mèo.
    – Ghiền thì phải dzậy chớ!
    – Thôi, ráng nhịn! Tao cũng phải tuyệt đối thi hành chính cái lệnh của tao cấm. Nhưng mà Hiệp biết không, những lúc căng thẳng thần kinh lại thiếu điếu Capstan hay Ruby, đầu óc tao nó rối bù lên, tụi bây dễ chết như điên chứ đâu phải giỡn. Bởi vậy, mỗi lần đụng trận trước hết tao phải đốt điếu thuốc hít một hơi.
    Ầm.. ầm.. ầm.. các trái đạn cối 82 bỗng nổ dồn dập, tóe lửa ngay giữa đồn. Quả thật, cái gì đến đã đến, Cộng quân bắt đầu đánh, mở đợt tiền pháo dữ dội. Tiếp theo, B40, AK và các thứ bộc phá dộng vào vang rền, nhất là hai mặt tây, nam. Vì đã được dặn trước nên lính nằm im gườm súng, không bắn vu vơ. Bên trong không một tiếng súng phản ứng, hẳn Biệt Động chết đâu hết rồi! Chắc địch mừng lắm! Hiệp trình:
    – Đại Bàng, Sơn Linh phó hỏi mình có muốn soi sáng.
    – Tao đã bảo không! Đưa máy đây!
    Tôi bóp ống liên hợp:
    – Sơn Linh, Việt Cộng đang tấn công mạnh như dự đoán, nói pháo binh chuẩn bị TOT, chúng sắp xung phong...
    – Tọa độ của anh tại XY... chính xác chứ?
    – Chính xác. Bắn TOT, chúng đã thổi còi tràn vô, bắn!
    Ầm.. ầm.. ầm.. Cả khu đồn rực đỏ cơ hồ như núi lửa, âm thanh đại bác chát chúa liên hồi, và đạn tản gần vị trí Đại đội có mấy chục mét, thật nguy hiểm. Bây giờ chịu, mọi người chỉ còn nằm rạp xuống, không thể kêu stop được. TOT chẳng biết họ đáp ứng bao nhiêu, chắc phải hàng trăm trái rót một mạch.
    Hẳn bọn chỉ huy của Trung đoàn 141/2 Cộng Sản Bắc Việt tưởng Biệt Động Quân này đã tan nát, không ai sống sót, nên “ngụy” mở trận pháo “chùm” để tận diệt hết. TOT chấm dứt, trước mặt cả một khối lửa bốc cháy nổ lách tách với tiếng đùng đùng của thủ pháo địch chưa sử dụng, lấn át các âm động giẫy chết mà thường những kẻ sinh bắc tử nam phải gào lên giống con thú lúc trúng thương. Thiếu tá Hoàng Phổ gọi:
    – Việt Quốc, Việt Quốc, thế nào?
    Đúng lúc Binh nhất Vinh bò quanh một vòng phòng tuyến xem xét tình hình anh em, trở lại cho hay mọi người đều bình an, tôi thở phào:
    – Vô sự, còn Việt Cộng chắc tiêu hết. Tuy nhiên, Sơn Linh cứ cho pháo binh tiếp tục bắn lai rai, ngừa địch đến quan sát, hay kéo xác đồng bọn, và để chúng nghĩ rằng đơn vị tôi cũng đã cùng chung số phận.
    – OK, nhớ mai lục soát sớm.
    Tôi bảo lính cẩn thận hơn, vẫn nằm im, trừ khi bị tấn công.
    Tờ mờ sáng, Đại đội dè dặt vào đồn. Một cảnh tượng hãi hùng. Địch chết không thể đếm được bao nhiêu vì xác nát bét, vung vãi khắp nơi. Súng ống 22 cây đều cháy đen cong nòng, lính chê dơ không muốn nhặt.
    Vừa trình xong kết quả TOT lên Bộ Chỉ Huy lớn, Hiệp đưa máy tôi. Bất ngờ một giọng trầm trầm của Trung tá Liên đoàn trưởng Trần Kim Đại lại gọi thẳng xuống tôi qua tần số nội bộ Tiểu đoàn 21 Biệt Động Quân:
    – Nghe báo tốt lắm, tôi khen anh! Chúng ta còn một quãng đường dài nữa, cố gắng!
    Vị chỉ huy cánh quân Biệt Động nỗ lực chính tái chiếm Sa Huỳnh nói có bấy nhiêu thôi. Ông chỉ nhấn mạnh: “Còn một quãng đường dài nữa”. Tức còn lắm chông gai, khốc liệt, chứ không phải là đoạn đường xa về không gian. Ở đây mới khởi đầu một trận chiến gian nan, đẫm máu. Thiếu tá Phổ xen vô:
    – Việt Quốc còn đầu máy?
    – Còn!
    – Ở tại chỗ, cho người đi lui nhận supply.
    – Không được đâu! Cho Đại đội ra ngoài, trong này máu và thịt người bầy nhầy, tanh hôi lắm!
    – Rồi, trở lại vị trí đêm qua.
    Một Trung đội lui phía sau nhận lãnh lương thực, đạn dược do Thiết vận xa tải tới góc khu đồi. Một lát, lính vừa đem hàng vào thì các tiếng súng đủ loại lại vang rền phía Đông bắc. Tôi chụp máy:
    – Dông Tố, Dông Tố!
    – Nghe!
    – Đơn vị nào đụng vậy?
    – 2 Đại đội 3 và 4 đánh lên ngọn đồi mé biển. Coi chừng Việt Cộng chạy qua bên Việt Quốc!
    Tiếp theo, ngay trước mặt tôi, về hướng Đông, lại có tràng liên thanh rất lớn và nghe khác lạ, đạn thì bay vèo vèo, chạm đâu nổ lại đó tóe lửa giữa 2 Đại đội BĐQ của Trần Quang Giảng và Đỗ văn Nai. Kịp nhận ra đó là súng Phòng Không 12 ly 8 địch từng sử dụng trong trận chiến Hạ Lào 1971, tôi vội hối anh em:
    – Tất cả thu gọn lương thực tiếp tế, tản thưa ra gấp! Phòng Không Việt Cộng xuất hiện! Thám Báo chiếm ngay ngọn đồi phía biển!
    2 Trung đội 1, 2 cũng tự động dàn tới nằm ngang 2 bên hông Thám Báo, đối diện dải núi cao nhất trước mặt, nơi cây 12 ly 8 đang bị pháo binh từ Đức Phổ dập xuống. Toán đại liên của Hạ sĩ Đợi bố trí thủ mặt sau.
    – Việt Quốc, Việt Quốc, đây Sơn Linh!
    – Nghe Sơn Linh.
    – Anh có nghe con “gà cồ” nó gáy không?
    Thấy mẹ, Hoàng Phổ lên giọng hỏi, tôi ớn lạnh. Chắc bố sai tôi đánh hốt cây Phòng Không rồi. 
    Tôi giả vờ ngần ngừ:
    – ... Có... Sơn Linh...
    – Bóp họng nó cho tôi!
    – Nó gáy xa lắm!
    Hoàng Phổ đãi đưa:
    – Xa gì, cách anh mấy trăm mét thôi! Sơn Linh trưởng bảo chỉ có anh mới thừa sức bẻ cổ nó. Thi hành!
    – Để xem...
    Dứt máy, tôi lủi lẹ đến nằm giữa toán Thám Báo, nhìn qua triền núi mé biển chưa thấy con “gà cồ” ở đâu. Để Trung đội 2 của Trung sĩ Hơn tại chỗ, còn tất cả lom khom tới thêm một ngọn đồi nữa. Địch phát hiện quay nòng súng 12 ly 8 khạc một tràng trực xạ vào Đại đội, đạn chạm các cây dương liễu nổ lại lung tung xanh lè. Thật may không trúng ai. Nhờ vậy tôi mới thấy ổ súng trên dốc núi lốc chốc đá,cách tôi 1 thung lũng là khoảnh ruộng khô cằn bằng sân đá banh. Muốn tiến sát lính phải băng qua đó rất nguy, trống rỗng, không một vật che đỡ. Khẩu Phòng Không như cái gai nhọn, nằm ở một vị trí thật tuyệt vời, có thể khống chế cả trực thăng đổ quân xuống. Nếu dập được nó thì Tiểu đoàn 21 Biệt Động này thực sự làm chủ, kiểm soát toàn vùng mạn bắc đầm Nước Mặn Sa Huỳnh. Con gà vẫn tự đắc, say mê vỗ cánh gáy, như anh võ sĩ hạng nặng, tả xung hữu đột trên đài, khi quay qua tôi phía tây, lúc nhắm các đơn vị hướng bắc, tha hồ siết cò. Các đầu đạn hiểm độc, gai con mắt.Tôi mời các thẩm quyền lại nằm chụm đầu bàn cách bẻ cổ con gà cồ cho ông Hoàng Phổ hầm rô ti.
    – Sao Nhật, nhắm chơi nổi không? Thuận và Hơn nữa?
    Nghe hỏi mặt ai cũng xanh lè như đầu đạn 12 ly 8 nổ.
    – Em nghĩ phải nhào vô 3 mặt mới được.
    – Ừ, Nhật mày nói trúng ý tao. Bây giờ thế này, mình gồm 3 mũi tấn công. Trung đội 1 Thuận đi vòng doi đất bên phải, toán Thám Báo và BCH bọc trái, còn Trung đội 2 của Hơn từ đây tấn ngang qua, nhớ bám sát các bờ ruộng. Mỗi mũi có thể đụng mấy cái chốt địch liên hoàn bảo vệ khẩu phòng không. Tùy trường hợp mà linh động hoặc triệt nó hoặc lách qua.Đặc biệt 2 mũi trái và phải, hãy kiểm soát tầm đạn xa, vòng cầu, kẻo bắn nhầm nhau. Trung sĩ Hơn giữa cũng vậy, phân định rõ ràng chung quanh mục tiêu để khỏi lầm lẫn. Khi chúng ta vây hãm, công thật nhanh, chơi lựu đạn tối đa như mình từng làm.Rồi, chặng đường của Thuận hơi xa, kín đáo vọt trước ngay. Thám Báo chuẩn bị.Tất cả thi hành! Tôi gọi máy lên BCH Tiểu đoàn:
    – Sơn Linh!
    Thiếu tá Hoàng Phổ:
    – Nghe!
    – Tôi bắt đầu đó, pháo binh chỉ rót trên đỉnh cao phía đông “con gà cồ”, 3 mặt kia đều có lính tôi.
    – Tốt lắm, mọi yểm trợ sẵn sàng...
    Không đợi Thiếu tá Liên đoàn phó dứt câu, tôi vứt ống liên hợp qua Hiệp, vội chạy theo Thám Báo vừa biến dạng xuống khe đồi. Trung đội 1 chưa gì đã chạm địch, B40 ở góc bờ Đông bắc đầm Nước Mặn bắn rạt đám lính Thuận, cát bụi mù mịt.
    – Thiên Nga, Thiên Nga, đây 10!
    – Tao thấy rồi, khỏi nói, tụi bê bối sau lưng, hãy vọt nhanh ra khỏi tầm đạn. Thám Báo bên trái đã tới sát chân núi “con gà cồ”. Còn Trung đội 2 dàn ngang tắp xuống bờ ruộng, mau!
    Thấy cây Phòng Không chúi nòng bắn quay cuồng lính của Hơn, tôi đẩy thằng Văn, mang máy nội bộ, áp vào tảng đá:
    – 20, đây Thiên Nga!
    Dũng truyền tin thở hổn hển:
    – Nghe Đại Bàng! Con gà nó “gáy” dữ quá!
    – Nói thẩm quyền cho tất cả nằm cặp bờ ruộng tránh đạn, rồi quạt đại liên, cả 72 lên. Trung đội Thuận tiến lẹ, chần chừ sẽ chết hết!
    Súng tứ bề nổ rân, không còn phân biệt được của bạn hay thù. Địch bắt đầu pháo 82 ly xuống khu đồi sau lưng. May, Đại đội đã rời khỏi. Thám Báo nhanh như sóc, vừa bắn túi bụi vừa chiếm từng mô đất để tránh 12 ly 8 trực xạ. Hạ sĩ Đợi ở Bộ Chỉ Huy kẹp hông cây đại liên khạc liên hồi xuống cái chốt trước mặt, nơi chòm đá, Trung đội 2 của Hơn không thể thấy. Các tràng M60 làm đám lính Biệt Động đang loi nhoi dưới thung lũng lên tinh thần, vụt đứng dậy lao nhanh vào chân đồi, dù Cộng quân bắn ra xối xả. Dũng kêu to:
    – Thiên Nga! Thiên Nga! 20 bị thương một...
    Thấy một số lính Trung đội 2 còn chới với giữa cánh đồng, tôi hét:
    – Bỏ nó đó! Tất cả nhào vô thanh toán cái chốt!
    Trong lúc toán Thám Báo tấn lên, mấy tay súng BCH xúm bắn M79 và M16 xuống triền đồi cứu nguy thằng 20. Ở mặt nam, Trung đội 1 Thuận mỗi lúc một áp sát mục tiêu. Tụi nó may mắn, không còn gặp sự cản mũi nào, vì bọc hậu đánh ra. Tầm đạn Phòng Không của địch dường như đã bị giới hạn bởi đá núi nhấp nhô, không thể quét sát đất 2 bên hông. Nó chỉ còn mổ được hướng tây, nhưng đạn đều bay bổng trên đầu Trung đội 2 cố bám trụ dưới chân đồi. Hình như Hơn đang vùng vẫy trước cái chốt sau cùng bảo vệ cây Phòng Không.
    Tôi thúc Trung đội 1:
    – 10 nghe không?
    – Nghe Đại Bàng!
    – Nói đại liên dập ngay bọn bê bối cản mũi thằng 2.
    – Đại liên còn kẹt yểm trợ phía trước...
    – Bảo thẩm quyền mày thi hành lệnh tao gấp!
    – Đáp nhận!
    Trung sĩ Thuận vào máy:
    – Cây M60 đang áp đảo ổ súng cho tụi nhỏ bò tới...
    Tôi hét:
    – Bọn M16 đâu không dùng, hả? Anh có thấy không, Trung đội 2 bị AK, B40 của cái chốt dưới thấp bắn chặn, không phải cây 12 ly 8 nữa. Lính của Hơn đang lâm nguy, hiểu chưa?
    – Đáp hiểu!
    Toán Thám Báo bắt đầu giở ngón sở trường đánh bằng lựu đạn nổ vang trời. Con gà cồ đã thành con gà nuốt dây thun, im re. Trung đội 2 báo:
    – Thiên Nga, Thiên Nga!
    – Nghe, Dũng!
    – Lấy được 1 B40 và 2 AK.
    – Tốt lắm Dũng! Bám liền các tảng đá...
    Tiếng Thìn mang máy Trung đội 1 xen vô:
    – Thiên Nga, đây 10!
    – Nói!
    – Việt Cộng trên đỉnh núi bắn xuống, Đại Bàng!
    – OK, để tao kêu pháo binh.
    Hiệp đưa ống liên hợp BCH Tiểu đoàn:
    – Sơn Linh, Sơn Linh!
    – Nghe Việt Quốc.
    – Xin pháo binh bắn gấp đỉnh “con gà”.
    – Quan sát đi!
    Thấy 1 trái khói trắng tỏa lên, tôi rống to:
    – Cho đạn nổ luôn, tình trạng này còn dùng khói?
    Đại úy Do:
    – Mẹ... tại thằng đề lô. Rồi, sẽ chơi nổ.
    – Bộ khói nữa à? Gần túm cổ con gà rồi, Dông Tố!
    Tôi giục Thám Báo:
    – Chuẩn bị xung phong, Nhật! Văn bảo 10 và 20 vây chặt mục tiêu, nhưng đừng bắn, lưu ý lại phía sau lưng, để Thám Báo hốt cây Phòng Không. Đại bác đã rót trên cao, hãy nhào vô, Nhật! Lệnh tắp vô, chậm là tao cho bây chết luôn!
    Toán Thám Báo rất thiện nghệ, 7 con mãnh hổ như điên cuồng áp sát ném lựu đạn tung cả đá núi chung quanh ổ súng, thịt người vỡ vụn. Trước sự việc diễn ra trong giờ phút sinh tử, 2 Trung đội tự động đồng loạt quay súng bắn rạt ngược dốc núi ngừa địch tràn xuống giải vây. Tôi ra lệnh Trung đội 2 tức tốc kéo qua cùng Trung đội 1 lập thành một phòng tuyến hình cánh cung về hướng Nam phòng thủ. 
    Thình lình Hạ sĩ Nguyễn Đợi kêu to:
    – Đại Bàng, Đại Bàng, lấy khẩu Phòng Không rồi!
    Hạ sĩ xạ thủ đại liên Đợi vừa nói vừa chống đế súng đứng nhìn tỉnh bơ như khách bàng quan khi Thám Báo nhảy xuống hầm cây 12 ly 8, dù thấy vui, phấn khởi, tôi vẫn bắn dọa mấy phát M16 dưới chân:
    – Tại sao không bố trí đằng kia, hả?
    Đợi vội ôm khẩu đại liên 60 co giò chạy lên sườn đồi. Bọn Nhật bao trọn cỗ súng. 4 xác Việt Cộng với vũ khí cá nhân đều nát hết. Cây 12 ly 8 quá kềnh càng, gắn trên bộ chân cao hơn đầu người, dưới hố sâu hoáy. Thấy chắc ăn, tôi gọi báo Tiểu đoàn:
    – Sơn Linh, Sơn Linh!
    – Nghe Việt Quốc!
    – Bẻ cổ con “gà cồ” rồi!
    Thiếu tá Hoàng Phổ reo lên:
    – Hay quá, hay quá!
    Tiếp theo là Trung tá Trần Kim Đại như chờ sẵn đâu trong máy, ngỏ lời chào mừng Đại đội 1 Biệt Động Quân:
    – Việt Quốc!
    – Tôi nghe!
    – Hoan nghênh! “Trói gô” nó lại cho kỹ.
    – Sơn Linh yên tâm,nó chết cứng rồi! Bộ giò đá dữ quá, bị lún sâu dưới đất, mấy thằng nhỏ phải dùng xẻng moi.
    – Tốt lắm, đề phòng chung quanh.
    – Đáp nhận Sơn Linh.
    Trung sĩ Nhật vừa tìm được mỏ lết và tụt vít trong túi dụng cụ treo vách hầm. Anh cùng 2 người lính tháo rời nòng súng ra khỏi bộ chân, lôi lên mặt đất từng phần. Tôi bảo ráp lại và nạp một dây đạn để tôi “gáy” xuống mỏm đồi, ngay góc đông bắc đầm Nước Mặn, là vị trí Đại đội sẽ đóng quân đêm nay. Quả thật, tiếng nó gáy inh tai xen lẫn tiếng cười khoái chí của bọn lính bạt mạng vang cả núi phía đông vùng đất Sa Huỳnh.
    Hiệp đưa ống liên hợp:
    – Nghe!
    Đại úy Nguyễn văn Do có vẻ lo ngại hỏi lớn:
    – Tiếng súng ai đó, Việt Quốc?
    Tôi cười:
    – Của Việt Quốc! Tôi thọc lét thử “Con gà nuốt dây thun” coi nó còn cựa không, cũng để chuẩn bị lấy gậy ông đập lưng ông một phen nữa!
    – Làm hết hồn, tưởng đâu địch còn con thứ hai. Thôi, chấm dứt “gáy”, cho lính dồn đạn lại!
    Trong lúc Đại đội lo thu dọn chiến trường và băng bó kỹ lại các vết thương của anh em, tôi cử vài người đi quanh vị trí lục soát các hốc đá, hầm hố, để tìm đạn 12 ly 8 địch chôn giấu, tích trữ đâu đây. Nhìn “con gà tuy đã nuốt dây thun”, tôi vẫn thấy cái dáng điệu kiêu sa cao xạ của nó, nên chưa vội trói gô.
    Trần Thy Vân

Vĩnh Biệt Nha Trang

  • Image en ligne

    Trái sang phải: Vĩnh "gấu", Huỳnh "râu", Tr/t Khưu v Phát, Đãnh "chích", Vĩnh Hiếu trong một chuyến đi hải đảo
    Lời người viết: Đây là một hồi ký chiến trường ghi lại những biến chuyển cũng như những giây phút cuối cùng về cuộc di tản của phi đoàn trực thăng 215 Thần Tượng trú đóng tại Nha Trang, Không Đoàn 62 Chiến thuật, cùng với những kỷ niệm của một hoa tiêu trong những tháng năm phục vụ tại thành phố này.
    Những chi tiết cũng như tên tuổi trong bài hồi ký này đã được viết lại hoàn toàn trên sự thật, vì thế nếu có gì sai trái thì xin tất cả các Niên Trưởng cũng như các chiến hữu và độc giả tha thứ.
    Bài này để tưởng nhớ đến anh Trần Văn Vân,một người bạn thân, một khóa sinh xuất sắc đã tử nạn tại trường bay Fort Hunter, Georgia, trong một phi vụ huấn luyện.
    Image en ligne
    Chuẩn úy Trần Văn Vân, bên phải, giai đoạn học sinh ngữ sau khi mãn khóa Đồng Đế
    -------
    Vài dòng sơ lược: Khi thành phố Ban Mê Thuộc thất thủ ngày 13 tháng 3 năm 1975, toàn bộ vùng Tây nguyên hầu như đã lọt vào tay của CSBV. 2 Sư đoàn F10 và Sư đoàn 320 của Cộng quân thừa thắng, tiến quân dọc theo Quốc lộ 21 về hướng đông. Mục tiêu kế tiếp của Bắc quân là tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa.
    2 Trung đoàn của Sư đoàn 23 Bộ Binh đóng quân tại Pleiku tức tốc được không vận xuống quận Phước An cách Ban Mê Thuột 12 km hướng đông bắc, để làm bàn đạp phản công tái chiếm. Cuộc chuyển quân đang tiến hành tốt đẹp thì được lịnh hủy bỏ, cùng với quyết định rút tất cả chủ lực quân của Quân đoàn 2 từ Kontum và Pleiku về vùng duyên hải, sau khi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu họp khẩn cấp với các tướng lảnh tối cao tại Cam Ranh ngày 14 tháng 3 năm 1975.
    Để ngăn chận sự bành trướng của Bắc quân từ vùng Cao nguyên, Quân đoàn 2 chỉ thị Lữ đoàn 3 Nhảy dù tăng viện cho Trung đoàn 40/SĐ22 Bộ Binh và 2 tiểu đoàn Địa phương Quân, trải dài tuyến phòng thủ từ quận Khánh Dương đến đèo Phượng hoàng, dọc theo QL21, con đường nối liền 2 tỉnh Dắk Lắt và Khánh Hòa.
    Cuối tháng 3, 1975 nút chặn chiến lược này bắt đầu lung lay dưới sức áp đảo dồn dập của địch quân với một quân số đông đảo gấp bội phần, trang bị đầy đủ xe tăng, pháo binh hạng nặng. Mặc dù được trấn thủ bởi 1 đơn vị thiện chiến nhất của QL/VNCH nhưng vì thiếu hụt đạn dược, vũ khí nặng cũng như lương thực, mảnh hổ nan địch quần hồ, phòng tuyến của Lữ đoàn 3 Nhảy Dù đã hoàn toàn tan vỡ ngày 2 tháng 4/ 1975. Hơn 3 tiểu đoàn thiện chiến nhất của quân đội miền Nam, quân số khoảng vài ngàn người chỉ còn lại hơn 5-3 trăm người rút lui được bằng đường bộ về tới Nha Trang.
    Mục tiêu đã mở rộng trên đường tiến quân của Bắc quân. Nha Trang hầu như bỏ ngõ cho bước chân của đoàn quân xâm lược, không 1 đơn vị chủ lực quân nào còn lại được chỉ thị để phòng thủ, bảo vệ. Con đường tiến chiếm trọn miền duyên hải của CSBV, cũng như những phần đất còn lại chỉ còn là yếu tố thời gian...
    Nếu một mai ra đi không trở lại
    Nha Trang ơi, xin vĩnh biệt cùng người.
    Đời phi công vẫy vùng trong bão lửa
    Đứa ra đi... đứa gãy cánh ngang trời.
    Minh "r"
    Con Đường Rộng Mở ...
    Làm thủ tục tắt máy tàu xong, tôi gỡ chiếc nón bay ra khỏi đầu treo sau lưng ghế bay, đẩy tấm thép chắn đạn lùi về phía sau mở cửa nhảy xuống đất. Trên mặt bãi đậu trực thăng được lót bằng những tấm vỉ sắt ghép lại, hơi bốc nóng lên dưới ánh nắng chói chan ban trưa tạo thành một ảo tưởng của một tấm gương lung linh, sinh động. Cách chỗ tôi đứng không xa là chiếc trực thăng võ trang số 2 của phi đoàn Thần Tượng đang đậu, cánh quạt còn quay chầm chậm, chưa ngừng hẳn. Thấy Trung úy Thành râu trên miệng đang phì phà điếu thuốc lá, cùng người hoa tiêu phụ vừa mở cửa bước xuống tàu, tôi bước nhanh tới chỗ hai người.
    - Này Thành, tao vào thăm ông anh một chút, nghe nói ổng phục vụ tại Dục Mỹ này mà tao chưa có dịp ghé. Mày chờ ngoài này, nếu cần cất cánh gấp thì cứ quay máy trước, tao chạy ra ngay.
    - OK, đi đi ...
    Nghe Thành trả lời xong, tôi quay người bước vội vã ra khỏi bãi đậu trực thăng, chạy băng qua bãi đất trống trước mặt, đến con đường nhựa dẫn tới một cái cổng gác lớn, bằng xi măng quét vôi trắng, trên tường viết: Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân. Tôi tiến đến gần một người lính đang đứng gác:
    - Chào anh, anh có biết Trung Tá Vĩnh Nguyên hiện đang ở đâu không anh?
    Người lính gật đầu, xong đưa tay chào rồi quay người chỉ về phía trong trại:
    - Ổng đang ở căn trại thứ ba, đằng kia kìa.
    Tôi chào cám ơn rồi cắm đầu bước nhanh qua cổng trại theo con đường trải nhựa đen.Trong trại im lặng và vắng vẻ một cách bất thường, một vài người lính rảo bước đây đó. Hàng dương liễu trồng thẳng tắp bên đường, soi bóng mát xuống một dãy barrack tường sơn màu vàng, mái lợp tôn nằm sát bên nhau. Đến căn trại thấy cửa chính hé mở, tôi đẩy nhẹ bước vào. Một người đàn ông tóc húi cua trong bộ đồ rằn ri Biệt Động Quân, trên cổ áo mang 2 bông mai bạc, đang ngồi im lặng bất động sau một bàn giấy thật rộng giữa căn phòng trống trải. Tôi nhận ra ngay người anh chú bác ruột đã bao năm không gặp:
    - Anh Nguyên!
    Ông anh tôi ngẩn đầu lên chau mày nhìn. Có lẽ đã nhận ra tôi, anh bước tới miệng nở nụ cười hai cánh tay dang rộng:
    - Trời, em, ngọn gió nào đã thổi em đến nơi này?
    Đứng trước mặt là một là một khuôn mặt quen thuộc tôi còn nhớ rõ khi tôi đang còn là một học sinh, anh trở về thăm nhà từ mặt trận bận bộ đồ trận đeo phù hiệu đầu cọp đen nhe răng, 2 bông mai vàng sáng chói trên cổ áo. Nghe nói sau một thời gian tác chiến cho binh chủng Biệt động quân, anh đã được biệt phái về Cảnh sát Đô Thành theo nhóm của Tướng Nguyễn Ngọc Loan, giữ chức vụ khá quan trọng nào đó tại Sai Gòn. Sau vụ thất sủng của Tướng Loan trong vụ xử bắn tên đặc công Việt cộng "Bảy lốp" tại Chợ Lớn trong vụ biến động Mậu thân, anh được chỉ định về Trung Tâm Huấn Luyện Dục Mỹ này. Từ đó cuộc đời binh nghiệp của anh coi như là "dậm chân tại chỗ". Tôi nhìn khuôn mặt của anh bây giờ có vẻ rắn rỏi, dày dặn sương gió hơn nhưng vẫn còn giữ được nét phong độ như ngày nào.
    - Dạ, em đáp đây chờ phi vụ yểm trợ cho tiểu đoàn Dù đóng trên đèo Phượng Hoàng, nhân tiện em ghé thăm anh. Anh Nguyên, lâu quá em chưa được gặp lại anh, anh vẫn mạnh khỏe chứ?
    - Cám ơn em, anh vẫn thường. Chú thím có khỏe không em?
    - Dạ, vẫn khỏe anh ạ.
    Tôi chưa kịp nói tiếp thì anh đột ngột hỏi tôi:
    - Này, em đi bay trên vùng thường chắc rõ, nghe nói tình hình trên Khánh Dương bi đát lắm phải không?
    - Đúng như vậy, chắc không xong rồi anh ạ! 3-4 ngày trước Tiểu đoàn 5 Dù bị đánh tan hàng ở Khánh Dương rồi. Hiện tụi nó đã đến sát chân đèo Phượng Hoàng ở cách đây có mấy chục cây số thôi. Em ghé vào đây cũng có mục đích là hỏi anh có muốn rời khỏi đây không? Theo em nghĩ là anh phải tính trước đi, coi chừng kẹt lại đó. Hay là anh theo tàu em về Nha Trang lo cho hai bác và mấy anh chị? Nếu anh đồng ý chút thì nữa xong phi vụ em sẽ ghé đón anh.
    Anh mỉm cười, đượm trong ánh mắt tôi thoáng thấy phảng phất một nỗi buồn xa vắng. Anh bước tới choàng vai tôi rồi lắc đầu:
    - Không được đâu em, anh phải chờ lệnh cấp trên, không phải dễ dàng như em nghĩ đâu. Em về gấp lo cho chú thím đi, cho anh gủi lời thăm tất cả nghe. Nhắn dùm hai bác là anh vẫn bình thường, đừng lo cho anh.
    Chợt có tiếng trực thăng bay vù ngang trên đầu cùng với tiếng o...o... của mấy chiếc tàu đang quay máy...
    - Chắc em phải đi rồi, anh ở lại, ráng cẩn thận nghe anh.
    Vừa dứt câu, tôi ôm choàng người anh họ siết chặt trong vòng tay, cố nén cơn cảm xúc đang dâng trào, tôi quay người vội vàng bước ra khỏi cửa, sải bước về hướng của 2 chiếc trực thăng võ trang đang chờ.
    Tại bãi đậu, 2 con tàu đã quay máy, cánh quạt vùn vụt thổi bụi mù mịt. Tôi phóng lên ghế bay cánh cửa đã mở sẵn. Vừa choàng chiếc áo giáp nặng nề lên người, chưa kịp gài dây an toàn và đội nón bay lên đầu, người hoa tiêu phụ đã vội vã kéo tàu rời mặt đất. Trong tiếng động ầm ĩ của con tàu tôi hét với người hoa tiêu phụ:
    - Chuyện gì đã xảy ra?
    - Charlie (chiếc trực thăng chỉ huy) chở Bộ chỉ huy Dù cất cánh trước rồi, mình lên vùng gặp Charlie sẽ có chỉ thị.
    2 chiếc trực thăng võ trang nặng nề lướt trên mặt những vỉ sắt một khoảng ngắn rồi rùng mình vươn lên cao. Tôi quay mặt qua khung cửa nhìn xuống những dãy nhà mái tôn đang nằm im lìm núp bóng bên hàng dương xanh, hy vọng được thấy lại hình bóng của người anh họ tôi một lần cuối. Tàu đã lên cao, gió lộng qua khung cửa luồn vào chiếc áo bay ướt đẫm mồ hôi trên lưng. Đàng sau tôi, Trung úy Thành râu bay chiếc võ trang số 2 đang bám gót ở cao độ thấp hơn, cánh quạt chấp chóa dưới ánh mặt trời.Dưới chân,con Quốc Lộ 21 đang uốn éo leo lên triền dốc của dãy núi cao trước mặt.
    Vài phút sau tàu đã lên cao gần 5 ngàn bộ, tôi nghiêng mình nhìn xuống con đường đèo trải nhựa đen chạy ngoằn ngoèo dọc theo sườn núi. Bên dưới là ngọn đèo Phượng Hoàng được tử thủ bởi 2 tiểu đoàn 6 và 2 của Dù. Ngọn đèo chiến lược này còn được gọi là M'Drak, tên của một huyện lỵ nằm bên QL21, đa số dân cư là người dân tộc thiểu số gốc Ê đê.
    Hiện tại phòng tuyến này đang bị áp lực nặng của hơn 2 trung đoàn của CSBV thuộc 2 Sư đoàn 968 và 320 đang trên đà chiến thắng, mở đường tràn xuống miền đồng bằng duyên hải.
    Trong trận đánh bốc lửa vừa qua tại Khánh Dương, địch quân đã ngang nhiên sắp hàng giữa ban ngày, hơn chục chiếc xe tăng T54 tấn công vào tuyến phòng thủ của tiểu đoàn 5 Nhảy Dù, không cần che giấu, ngụy trang. Những phi tuần A37 xuất phát từ căn cứ Phan Rang, Không đoàn 92 Chiến Thuật, đã nổ lực yểm trợ nhưng không đủ sức ngăn cản bước tiến của một lực lượng địch quân quá đông đảo.
    Trận chiến đã bùng nổ trong một hoàn cảnh hoàn toàn thất lợi cho miền nam Việt Nam, thiếu hẳn sự hậu thuẩn của đồng minh Hoa Kỳ, cán cân quân sự nghiêng hẳn về phía Bắc quân. Trên bình diện lớn hơn của cuộc chiến, ở cương vị của một hoa tiêu, tôi không đủ yếu tố để hiểu rõ nguyên nhân của những sự thất bại liên tục đang xảy ra ngoài sức tưởng tượng của tôi. Có những khi bay cao trên vòm trời nhìn xuống quê hương mịt mù khói lửa, tâm tư tôi hỗn loạn, hoang mang lo âu cùng cực khi nghĩ đến những gì sẽ xảy ra cho vận mạng của Tổ quốc trong những ngày sắp đến.
    Trong giây phút này, dưới chân tôi là một mặt trận cấp sư đoàn của địch, tôi tự hỏi 2 chiếc trực trăng võ trang chậm chạp này được gủi đến đây để có mục đích thiết thực gì hơn là một phi vụ "tượng trưng", chỉ để nâng cao tinh thần những chiến sĩ Dù đang trên đà bị tràn ngập bởi Bắc quân?
    - Mảnh Hổ, Charlie gọi, trả lời! (Mảnh hổ tên gọi của trực thăng võ trang phi đoàn 215, Thần tượng).
    Nghe tiếng của Đại úy Huỳnh Râu bay chiếc C@C (tàu chỉ huy) trên tần số, tôi ngước mắt nhìn. Một chấm đen nhỏ đang bay vòng tròn mãi tít trên cao.
    - Nghe... nói đi Charlie...
    - Hổ cho biết vị trí.
    - Đang ở trên đầu đèo Phượng Hoàng, cao độ 5 ngàn bộ... nghe rõ trả lời.
    - Nghe 5... Hai bạn "hold" trên đầu quân bạn, đừng bay quá chân đèo hướng bắc. Chờ chỉ thị...
    Nghe Huỳnh râu nói xong trên tần số, tôi hướng ánh mắt dưới thấp về phía trước. Xa xa hướng chân đèo, một đoàn công voa chừng 6-7 chiếc xe nhà binh, nhỏ tí tẹo như những đồ chơi trẻ con đang nằm ngổn ngang, rải rác bất động dọc theo lề đường, hình như đã hư hại hoặc cháy đen.
    - Charlie, đây Mảnh Hổ... Đoàn xe dưới chân đèo của phe ta phải không?
    - Hổ, đúng rồi, đừng đến gần, đoàn xe tiếp tế của Dù bị phục kích tối hôm qua...
    - Mảnh Hổ, thấy đám rừng nằm trên sườn đồi phía đông đoàn công voa không? Tác xạ xuống đám rừng trên sườn đồi, nghe rõ. Đừng vào gần quá coi chừng SA-7. Lúc nào sẵn sàng tác xạ cho biết... nghe rõ?
    Coi chừng SA7! Tất cả giác quan trong cơ thể tôi bừng dậy như vừa chạm phải một luồng điện mạnh, sau câu nói của Huỳnh Râu. Cách đây khoảng hơn 2 tuần lễ, một chiếc võ trang của phi đoàn 219 King Bee đã lảnh nguyên trái SA7 nổ tung khi đang bay yểm trợ cho cuộc đổ quân tái chiếm phi trường Phụng Dực, gần Ban Mê Thuột. SA7 (Strela-2) do Nga Sô chế tạo là một loại hỏa tiễn địa-không cá nhân,bay với tốc độ siêu thanh và tầm sát hại từ 5-7 chục bộ cho đến khoảng hơn 5-6 ngàn bộ, đuổi theo hơi nóng phát xuất từ động cơ máy bay, cực kỳ hữu hiệu, nhất là đối với những chiếc trực thăng tốc độ chậm ở cao độ thấp.
    - Hổ, tin tình báo cho biết địch quân dàn quân rất đông gần chân đèo, "hold" trên đó, đừng bay về hướng bắc. Coi chừng, cẩn thận...
    Trong giọng nói của Huỳnh Râu chứa đựng một sư lo ngại và quan tâm tới sự an toàn của 2 phi hành đoàn, cũng như một lời nhắc nhở của một người bạn thân đã từng chung chia hung hiểm ngọt bùi qua những năm tháng chiến đấu bên nhau. Huỳnh có khuôn mặt bậm xị, hàm râu mép dày và một thân hình khá nặng nề. Tuy là 1 phi công nhưng anh thích bận bộ đồ 2 mảnh "nomex", đầu đội mũ vành, vải dù. Trông Huỳnh có cốt cách của một người lính biệt kích hơn là một hoa tiêu. Anh là một trong những phi công nòng cốt, lì lợm của phi đoàn Thần Tượng trong phi đội tải quân, đã vào sinh ra tử bao nhiêu phen trên chiến trường Tây nguyên. Huỳnh có một thói quen đặc biệt tôi vẫn nhớ là anh không bao giờ xài ví da. Tiền bạc giấy tờ luôn luôn bỏ trong bao ni lông. Mỗi khi cần tiền, anh lục đục móc trong túi quần lấy bao ny lông xếp hai ba lớp ra, lôi ra xấp tiền xẹp dí vì bị ngồi đè lên. Tôi tò mò hỏi anh tại sao không xài ví thì anh thản nhiên trả lời: "Tụi mình ở trên trời suốt ngày, không biết lúc nào bị bắn, nếu lỡ có... rớt xuống nước thì tiền khỏi bị ướt". Nghe qua, không ai khỏi bật cười vì lý sự ngộ nghĩnh của anh ta.
    Tôi cho con tàu bay trở lại, vòng trên cao của ngọn đèo. Dưới chân đèo hướng đông, bên phải của đoàn xe công voa nằm bất động, mảng rừng xanh đậm từ chân núi kéo dài lên đến gần tới lưng chừng rồi tiếp nối bằng trãng cỏ tranh màu vàng úa lên tới đỉnh núi, nhiều chỗ cháy nám đen vì bom đạn của những phi tuần khu trục.
    Những mảnh nắng chiếu loang lổ xuống mặt rừng núi yên tĩnh, không một vật di động, ngoài những cột khói đó đây đang còn âm ỉ cháy..Con đường đèo chạy quanh co, không một chiếc xe, không một bóng người, lãng vãng đâu đó hình bóng của tử thần đang rình rập.Tất cả im lặng, bất động trong một tư thế sẵn sàng bùng nổ.
    Trận chiến hình như đang bước vào giờ thứ 25, sự liều lĩnh táo bạo thiếu tính toán của tôi trong giai đoạn này là một hành động vô ích nếu không nói là rồ dại. Khi quỳ gối dưới lá Cờ-Vàng-Ba-Sọc-Đỏ để lảnh nhận bộ quân phục mang lên người, tất cả chúng ta đều tâm nguyện sẵn sàng hy sinh tánh mạng mình để bảo vệ Tổ quốc, Quê hương. Tuy nhiên theo tôi nghĩ, sự hy sinh đó cần phải cân nhắc, suy tính để đánh đổi xứng đáng công ơn của đất nước đã đào tạo cho chúng tôi được trở thành như ngày hôm nay.Tôi cần phải đặt tính mạng của 2 phi hành đoàn trực thăng võ trang, những người chiến sĩ đã từng vào sanh ra tử với tôi bao nhiêu năm qua, lên hàng đầu.
    Trong khoang tàu, tiếng gió lộng đập phần phật qua khung cửa mở rộng cùng tiếng máy của động cơ bán phản lực nổ đều đặn, 2 người mê vô xạ thủ già dặn kinh nghiệm chiến trường đang ngồi yên trên 2 thùng đạn đặt kế bên 2 khẩu mini-gun 6 nòng, 2 tay thủ chặt súng chỉa xuống bên dưới. Không ai nói một lời, nét mặt khẩn trương, căng thẳng. Người hoa tiêu phụ ngồi bên ghế trái, mắt nhìn vào đồng hồ phi cụ, tay phải để trên nút vặn của hộp điều hành vũ khí (armament control box) ở giữa hai ghế bay. Kim đồng hồ cao độ đang chỉ khoảng 5 ngàn bộ. Theo địa thế hiện tại, chúng tôi thực sự chỉ ở cao độ gần 3 ngàn bộ đối với mặt đất, trong tầm sát hại của hỏa tiễn địa không SA7.
    Theo kinh nghiệm đã qua với địa thế này chỉ còn 1 con đường độc nhất là bay sát trên đầu quân bạn, ẩn núp sau những triền núi quanh co, oanh kích từ xa đến. Chiến thuật này tương đối an toàn, tuy nhiên hơi khó khăn cho 2 chiếc trực thăng phải xoay xở tránh né trong 1 khoảng không gian khá nhỏ hẹp,nằm kẹp giữa 2 sườn núi dốc cao. Không có sự lựa chọn nào hơn, tôi thông báo cho chiếc trực thăng võ trang số 2 đang theo sau:
    - Hổ 2 đây Hổ 1...
    - Nghe, nói đi...
    Tiếng nói của Trung úy Thành Râu bay chiếc Hổ số 2 nghe trên tần số. Thành là một wingman (chiếc bay theo sau) gần gũi nhất của tôi trong phi đội trực thăng võ trang của phi đoàn Thần Tượng. Chúng tôi rất biết ý nhau, nói ít hiểu nhiều.
    - Thành, mình sẽ bay "low level" sát trên đường đèo đánh xuống, nghe rõ.
    Tôi chỉ nghe tiếng xè trong tần số của Thành trả lời.
    - Hổ 2, nhớ sau khi tác xạ, phải quẹo gắt 180 độ, đừng bay lố khỏi đèo, coi chừng đụng núi... nghe rõ?
    - 2 nghe 5...
    Hổ 2 vừa trả lời xong, tôi đè mạnh cần cao độ, đẩy tay lái, con tàu đầy xăng và đạn dược nặng nề chúi mũi quay vòng trôn ốc, rơi nhanh như hòn đá cuội, đường đèo cùng vách núi dâng lên vùn vụt. Trong khoảng khắc, chiếc trực thăng đã lài sát mặt đường nhựa đen. Những chiếc thiết vận xa cắm đầy cành lá xanh, ẩn núp dưới tàng cây, sau tảng đá, những hố cá nhân còn phơi màu đất đỏ mới toanh, dần hiện rõ cùng với những người lính Dù lấp ló trong những công sự dọc theo con đường đèo. Cho tàu bay thấp ngang mặt đường, trên thung lũng giữa hai triền núi về hướng chân đèo. Sau lưng trên cao, chiếc Hổ 2 đang xoắn ốc giảm cao độ.
    - Charlie! Hổ sẵn sàng.
    Thông báo cho chiếc tàu chỉ huy xong, tôi kéo hết tốc độ, con tàu chúi mũi lao nhanh về hướng mục tiêu. Cảnh vật bên dưới thân tàu cùng con suối cạn, oằn èo trong thung lũng hẹp lùi vùn vụt về phía sau. Trong khoảng khắc trước mũi tàu, hiện rõ đoàn xe cháy nám đen trên đường dưới chân đèo cùng với những xác người nằm vương vãi. Kéo con tàu vươn lên vừa đủ, tôi chúi mũi phóng tất cả hỏa lực về hướng địch. Những trái hỏa tiễn vội vã rời dàn phóng, rít lên những âm thanh chói tai, lao xuống mục tiêu nổ bung. Những cụm khói trắng xám vương lên trên mặt rừng xanh. Tai nghe nhiều tiếng nổ lốp đốp của địch bắn trả, tôi kéo hết cần lái về phía trái, con tàu nghiêng mình quẹo lại 180 độ, lài sát trên mặt rừng cành lá cây xanh trên triền núi. Người xạ thủ nhoài hẳn người ra ngoài, hai tay trên khẩu súng bóp cò. Khẩu súng mini-gun 6 nòng quay tít, kêu như bò rống. Ở một góc độ quá nghiêng của thân tàu, những viên đạn lửa tua tủa bay vào khoảng không hướng lên trời. Thần kinh tôi căng thẳng tột độ khi con tàu nghiêng mình quay đầu đưa đuôi về hướng địch, ống thoát (exhaust pipe) của máy phản lực nóng đỏ trên lưng tàu là miếng mồi hấp dẫn cho mấy hỏa tiễn tầm nhiệt đang ẩn núp, rình rập đâu đó. Trên mặt mồ hôi đổ hột, tôi nhìn chiếc Hổ 2 của Thành râu đang bay ngược chiều ngang mặt đường đèo, trên con suối cạn.
    - Hổ 2, bắn hết tất cả, một "pass" thôi, coi chừng đừng bay lố...
    Nhìn ngang qua tấm thép chắn đạn bên khung cửa tôi thấy vài người lính Dù đang đứng hẳn lên khỏi hố cá nhân, hai tay cầm súng lên khỏi đầu làm một cử chỉ như cổ võ chiếc trực thăng đang bay vèo ngang trước mặt. Tôi đưa tay vẫy chào đáp lễ những người hùng Mũ đỏ.
    Cho con tàu quẹo gắt lại trên đầu con suối cạn kẹp giữa hai vách núi, nối đuôi với chiếc Hổ 2 đang lao đầu xuống chân đèo phóng những trái hỏa tiễn xuống mục tiêu bên dưới. Trên mặt rừng xanh, giữa những cụm khói bốc lên cao vì những đầu đạn hỏa tiễn của Thành,  1 tiếng nổ dữ dội như một trái bom lửa lớn bốc lên cao.
    - Charlie! Hổ 1 gọi. Thấy tiếng nổ phụ không Charlie? Nghe không Huỳnh, Charlie?
    - Chờ chút Hổ 1. OK, Hổ 1 nghe không? Hay lắm, hay lắm, rockets trúng ổ chứa đạn, hay xe nhiên liệu của địch, nghe rõ không?
    Mắt dán vào đám cháy khói đen tỏa rộng vươn lên cao, tôi cho con tàu lướt tới yểm trợ cho chiếc tàu của Thành đang quẹo lại. Bỗng trên mặt rừng, 2-3 cột khói trắng nhỏ như từ đuôi của mấy hỏa tiễn phụt lên cao, tôi hét trên tần số:
    - Hổ 2, Hổ 2, coi chừng, SA7, SA7, Break! break!....
    Vừa dứt lời tôi phóng vội vã những trái hỏa tiễn còn lại xuống 2 cột khói trắng đang còn lơ lững treo trong không khí, xong tức thì bẻ lái con tàu quay trở lại. Con tàu nghiêng hẳn, cách quạt đập vào không khí kêu phành phạch, thân tàu rung bần bật như đang lên cơn sốt, lài dọc theo vách núi dưới con đường đèo.
    - Ầm... Ầm... Ầm...
    Nhiều tiếng nổ chát chúa bất thần nổ bung trên hai bên triền núi trước mặt con tàu. Tôi la lớn trên tần số:
    -  Pháo, pháo, pháo kích...
    Những mảnh đạn từ những trái đạn đại pháo bay xé không khí rít lên âm thanh khủng khiếp. Bụi mù cùng đất đá, cây lá tả tơi, rơi rào rào xuống mặt đường đèo.
    Ầm, Ầm, Ầm... Tôi ngước đầu lên nhìn hai bên sườn núi cao. Những đạn pháo nổ ầm liên tục rơi dọc hai bên sườn đồi, giữa con suối, trên mặt lộ, rơi như mưa xuống tuyến phòng thủ của quân bạn. Tôi kéo hết tốc lực, chiếc trực thăng cắm đầu bay theo dọc thung lũng về hướng Nam, len lỏi giữa những đám khói đen xám vừa mới bốc lên. Những tiếng nổ ầm liên tục vang vọng từ đàng sau đuôi sau 2 con tàu. Địch đã bắt đầu mở cuộc tổng tấn công vào phòng tuyến cuối cùng của Dù. Trên bầu trời cao không còn thấy những chiếc pháo đài bay B52 của người bạn đồng minh Hoa Kỳ đến trải thảm bom như mùa hè đỏ lửa năm 72 nữa. Những người lính Dù đang sắp đối đầu 1 địch thủ có tầm vóc quá chênh lệch và không hề biết rằng họ sẽ không còn được một sự tăng viện nào từ hậu cứ. Họ phải chiến đấu đơn độc với những gì còn lại và với một lòng dũng cảm vô biên của những người lính trong Binh chủng Nhảy Dù. Máu của họ đã đổ và sẽ đổ xuống trên ngọn đèo ác liệt này cho quê hương một lần nữa, có thể là một lần cuối cùng. Trận chiến đã ngã ngũ trước khi nó sắp bắt đầu.
    Tiếng Huỳnh râu la to trên tần số:
    - Hổ, Hổ, rời vùng, về đáp Nha Trang nghe rõ... Hổ?
    - OK, Hổ rời vùng, nghe 5.
    2 chiếc trực thăng của Thần Tượng vừa ra khỏi núi, lên cao độ hướng về Nha Trang. Con lộ QL21 dưới chân, một khung cảnh hiền hòa thanh bình khác hẳn vùng đồng bằng Dục Mỹ hướng về Quận Ninh Hòa, vài ngôi xóm nho nhỏ êm ả dưới ánh nắng chiều bên những khóm tre xanh, con suối nhỏ uốn lượn giữa những mảnh ruộng khô vuông vức, bình thản vô tư trước chiến cuộc đang lan tràn trên quê hương.
    Tiếng Thành Râu trên tần số riêng của Mảnh Hổ:
    - Hổ 1 đây Hổ 2...
    - 2, Hổ 1 nghe....
    Thành hỏi:
    - Lúc nãy có phải SA7 bắn theo Hổ 2 không? 
    - Không phải, tao lầm. Nếu đúng là SA7 bắn thì mày không còn mạng tới giờ này đâu. Hổ 2, rockets mày đánh trúng cái gì của tụi nó, nổ lớn lắm thấy không?
    Tiếng xạch xè trên tần số xen lẩn tiếng Thành râu:
    - ... Không thấy, bắn đại xuống rừng, chắc là chó ngáp phải ruồi... ha ha...
    Thành Râu cười lớn trên tần số. Tôi không còn cười nổi, nói tiếp:
    - Tình thế không xong rồi. Tao cần về Nha Trang gấp để lo di tản cả gia đình tao đang còn ở đó. Phải lo trước khi tui nó đến không thì muộn, trở tay không kịp. Tao không muốn chuyện xảy ra như mấy thằng bạn ở Đà nẵng.
    - Chuyện gì xảy ra cho tụi nó?
    - Chiều về tao kể cho.
    Tôi chấm dứt điện đàm với Thành. Lòng nóng như lửa đốt, tôi rít hơi thuốc thật sâu rồi quay đầu thở mạnh ra khung cửa. Bất chợt trong đầu tôi hiện lên hình ảnh thằng bạn cùng khóa mới gặp lại tuần lễ trước đây, Hào Gàn! Tại sao tôi lại quên hẳn thằng bạn thân đang ngồi chờ tôi ở nhà. Tôi nhổm thẳng người dậy, tay vỗ bộp vào đùi. Người hoa tiêu phụ đang cầm cần lái, quay qua nhìn tôi ngạc nhiên hỏi:
    - Chuyện gì vậy anh?
    Tôi không muốn người hoa tiêu phụ biết những gì tôi đang nghĩ:
    - Không, đâu có gì!
    Cách đây vài tuần lể, Hào, phục vụ cho phi đoàn 239 Hoàng Ưng tại Đà Nẵng, dẫn 5 chiếc biệt phái cho cuộc không vận Sư đoàn 23 tái chiếm Ban Mê Thuột. Vài hôm sau cuộc chuyển quân bị hủy bỏ, Hào trong chức vụ biệt đội trưởng, cùng hợp đoàn 5 chiếc trực thăng được lệnh về tạm trú tại Không đoàn 62 Chiến Thuật, ở Nha Trang, yểm trợ cho mặt trận Tuy Hòa. Nhiều ngày sau đó, tình thế càng hỗn loạn, lệnh lạc bắt đầu rời rạc, không còn chặt chẽ như trước, biệt đội của Hào hầu như bị lãng quên. Nhiều ngày anh bạn tôi ngồi không, chờ tại phi trường và chờ tôi đi hành quân về để 2 thằng đi ăn chơi. Hào đã từng nói với tôi nhiều lần rằng biệt đội này bây giờ như cây chùm gởi, không ai kiểm soát, mấy chiếc tàu này trong tay của Hào, muốn bay đâu thì bay. Tôi tin tưởng Hào "gàn" sẽ giúp được gia đình tôi hơn mười mấy người, rời vùng lửa đạn nay mai.
    Ngửa người vào lưng ghế bay, tôi phun ra làn khói thuốc dày đặc, những quan tâm lo lắng như đã theo làn khói trắng tan biến trong không gian.
    Chuyện gặp lại nhau giữa Hào và tôi tại mặt trận Tuy Hòa sau bao năm biệt tăm từ khi du học Mỹ về là một cái duyên lớn. Hào có một cá tánh ngang tàng, không đội trên đạp dưới nên ít được cấp chỉ huy cảm tình, có lẽ cái tên Hào "gàn" đã nói lên được phần nào chuyện đó và cũng là một trong những nguyên nhân Hào bị thuyên chuyển về Đà Nẳng, khi đang êm ấm gần bên gia đình vợ con tại căn cứ ở Biên Hòa. Một câu chuyện nhỏ sau đây đã xảy ra mấy ngày trước sẽ nói rõ lên cá tánh đó của Hào "gàn".
    Hôm đó tại quán Mộng, một quán ăn lịch sự gần nhà tôi, Hào bận bộ đồ bay đang rung đùi ngồi hút thuốc lá bên ly cà phê đen, chờ tôi đi hành quân về thì có một chiếc xe Jeep ngừng lại ngay cửa, trên xe 3 người đàn ông đẩy cửa bước vào quán. Một người trong đồ tennis trắng đi trước, theo sau 2 người bận bộ đồ thường phục tay xách khẩu súng M16. 2 người đi sau chọn một bàn ngay cửa, người áo quần trắng bước đến ngồi trên quầy rượu, kế bên bàn của Hào. Hình như ông ta là khách quen của quán này, người bồi không cần hỏi tự động bưng ra một chai Cognac Martel VS, trên cổ chai dán hình lưỡi liềm bạc có 3 ngôi sao. Thấy không dính dáng tới mình, Hào quay mặt ra đường nhìn thiên hạ qua lại.
    Vài ba phút sau, người đàn ông tay cầm ly rượu pha sô đa sủi bọt trắng xóa, đưa mắt nhìn Hào và ra dấu như muốn gợi chuyện. Sau vài lần không gây được sự chú ý của Hào, ông ta bèn lấy ngón tay trỏ ngoắt Hào lại trong một thái độ trịnh thượng, kẻ cả. Hào hơi bực mình, cố làm ngơ nhưng không xong. Vị khách vẫn tiếp tục cố gây sự chú ý của Hào. Không chịu được, anh bạn tôi đứng dậy, bước lại gần bar rượu, hai tay chống nạnh đứng trước mặt vị khách, rồi hỏi:
    - Ông có chuyện gì muốn nói không?
    Người đàn ông trả lời một cách tự nhiên, không một chút suy nghĩ:
    - Không có gì cả "chú", anh chỉ muốn mời "chú" đến uống ly rượu và nói chuyện cho vui thôi.
    Đang sẵn bực mình trong bụng vì thái độ của người đàn ông, Hào nổi cơn:
    - Xin lỗi, ông tưởng ông là ai mà có thái độ như vậy? Tôi đâu cần uống rượu của ông. Tôi cũng không phải là "chú" của ông. Ông thấy tôi đang mang trên vai cái gì không? 
    Nói xong Hào chỉ vào mấy bông mai gắn trên vai.
    Vị khách liền đổi giọng:
    - Đừng nóng, "chú" chắc ở nơi xa tới nên không biết anh. Anh là Đề Đốc Châu, anh em thường gọi là Châu "cao bồi", chỉ huy trưởng Trung Tâm Huấn luyện Hải quân ở đây.
    Cơn giận chưa nguôi Hào sẵn trớn cao giọng:
    - Xin lỗi ông, tôi không cần biết ông là cái gì khi ông đang bận đồ dân sự, nhưng lịch sự tối thiểu ông phải kính trọng bộ đồ của tôi đang mặc trên người chứ. 
    Vừa nói "Hào Gàn" vừa chỉ vào bộ đồ bay mình đang mặc. Ngay lúc đó 2 người đàn ông bận đồ dân sự ngồi ngay cửa ra vào đứng dậy, tay xách khẩu M16 bước đến gần bàn kế bên. Hào quay đầu lại nhìn hai người mới đến trong một tư thế đề phòng.
    Bỗng nhiên, vị Đề Đốc xô ghế đứng hẳn dậy, rồi trong một cử chỉ bất ngờ, bước tới vỗ vai Hào nói:
    - Thôi bớt nóng đi em. Anh khen em đó, lỗi ở anh. Anh không trách em, em đã có một thái độ rất đúng. Anh không ngờ em ở xa tới nên mới không biết anh là ai. Anh ở đây rất thích mấy ông đi bay. Thôi anh em mình ngồi xuống làm vài ly rồi kêu gì nhậu nghe...
    Những gì Hào kể lại đã không làm tôi ngạc nhiên. Đề Đốc Châu là một vị sĩ quan cao cấp rất chịu chơi và bình dân, đặc biệt có nhiều thiện cảm với những chàng trai đi mây về gió. Tôi là một trong những người đó và đã nhiều lần ăn nhậu với vị chỉ huy cao cấp chịu chơi này tại Quán Mộng.
    Một lần tôi được mời tới nhà Đề Đốc ăn cơm tối. Căn biệt thự rộng rãi, tọa lạc trong một khu vườn cây bóng mát đối diện với bãi biển, ngay góc đường Hàm Nghi và đường Duy Tân. Sau khi ăn cơm xong, tôi cùng Đề Đốc leo chiếc xe du lịch màu xanh đậm mang bản số gắn 1 ngôi sao bạc đi vũ trường Baccara để giải trí. Một điều "không may" là tôi đã uống quá nhiều rượu chát trong khi ăn cơm, tuy chưa say nhưng bụng tôi căng phình như một con cóc. Khi xe đang chạy ngang một con đường khá đông đúc, tôi bất thần thò đầu ra ngoài xe, miệng kê trên cánh cửa, phun tung tóe ra tất cả những cái gì đã "thồn" vào bao tử xuống mặt đường nhựa. Đằng sau xe của Đề Đốc là 1 chiếc xe Quân cảnh Hải quân đang chạy theo sát nút để hộ tống. Hình ảnh không mấy đẹp này đã in sâu vào trong đầu tôi, và đã làm tôi rất "hổ thẹn" mỗi khi nghĩ đến...
    Gió biển mát lạnh đập phần phật vào khoang tàu mở cửa, măn mẳn một mùi vị tanh tanh của nước biển làm tôi tỉnh hẵn người. 2 chiếc trực thăng võ trang đang bắt đầu vào không phận của thành phố Nha Trang. Trước mặt là một vùng đại dương mênh mông một màu xanh biếc, nổi bật những con sóng bạc đầu sủi bọt trắng nô đùa rượt đuổi nhau dọc theo bãi các vàng. Xa về hướng tây ngoại ô thành phố tọa lạc 1 bức tượng Phật khổng lồ màu trắng nổi bật, đang ngồi thiền tịnh trên đỉnh đồi chùa Phật học, lặng yên hướng về thành phố, như đang ngậm ngùi thương xót cho chúng sanh sắp đi vào con đường chinh chiến điêu linh...
    Quán Mộng và "những ngày xưa thân ái"
    Rời phi trường, tôi chạy chiếc Honda 90 cũ kỹ dọc theo bờ biển trên đường Duy Tân trở về nhà. Trời đã về chiều, những vạt nắng vàng cuối cùng còn vương vấn trên những đọt cây bàng, cây dương liễu hay trải dài trên mặt đường tráng nhựa đen. Gió mát lồng lộng thổi vào người, qua mọi ngõ ngách trong cơ thể, như cuốn trôi đi những bụi bặm chiến tranh tôi đã mang về từ vùng trời mịt mù khói lửa. Dọc theo bờ biển, thưa thớt vắng vẻ khác thường, vài xe bán đồ ăn dọc theo những hàng dừa buồn bã vắng khách. Hình ảnh của một buổi chiều vàng đầy người đi tấp nập trên bãi biển hóng gió, cười nói đùa giỡn không còn tìm thấy nữa. Trên đường cái, xe cộ như đang chen lấn, vội vã tranh nhau chạy đua với thời giờ. Có lẽ người dân Nha thành đều linh cảm được những gì sắp xảy đến cho thành phố này. Viễn ảnh của một đoàn quân vô nhân khát máu đang sắp sửa tràn ngập đường phố, qua kinh nghiệm của Tết Mậu thân đã gây lên nỗi kinh hoàng trong đầu mọi người. Giống như những con cá chen chúc vùng vẫy trong vũng nước bùn, cố thoát khỏi bàn tay của những người đang tát ao, những người dân trong thành phố hốt hoảng đi tìm đủ mọi phương tiện để rời khỏi Nha Trang. Những người có tiền và phương tiện đã cao chạy xa bay từ trước, còn lại những người dân khốn khổ chạy đôn chạy đáo khắp nơi. Từ Quảng Nam cho đến Phú Yên, những thành phố dọc ven biển đã bị nhuộm đỏ, Nha Trang là thành phố kế tiếp.
    Chiều hôm nay tôi đã mượn được chiếc xe Jeep của Trung tá Thông, Trưởng đoàn Phòng thủ phòng vệ KĐ/62 Chiến Thuật đưa tất cả gia đình vào phi trường giao cho Hào gàn để ngày mai anh ta chở vào Sài Gòn. Bây giờ tôi yên trí về nhà. Chạy vào tới trước sân, tôi dựng xe xong bước lên mấy bậc tam cấp vào phòng khách. Căn nhà rộng rãi bây giờ lại càng trống vắng hơn. Tôi đứng yên một mình ngay giữa nhà, tất cả đồ đạc vẫn y nguyên, ngay cả những bức ảnh gia đình đang còn treo trên tường. Một cảm giác bơ vơ lạc lõng kỳ lạ đang dâng ngập lòng, tôi không biết phải làm gì trong giây phút trống vắng này, mọi sự thay đổi quá nhanh. Cả gia đình tôi đã ra đi trên tay mang những áo quần tối thiểu, bỏ lại tất cả những gì đã gầy dựng lại sau lưng. Còn tôi ở lại một mình, làm bổn phận của người lính khi Tổ Quốc lâm nguy. Tuy nhiên tôi vẫn có linh cảm sẽ phải rời xa thành phố thân yêu này, nơi đã che chở, nuôi dưỡng tôi trong bầu không khí trong lành của đại dương suốt thời gian thơ ấu. Tôi sẽ không còn thấy ngôi nhà thân yêu ở gần biển, gần đến độ mỗi mùa biển động tôi có thể nghe tiếng sóng của đại dương vỗ ì ầm vang vọng. Căn nhà tôi đã sống qua bao nhiêu mùa hè rực nắng, đã biến tôi thành một thằng mọi con suốt ngày ngâm mình dưới làn nước trong vắt, đâm cá, bắt cua, bắt sò hến... Bao nhiêu đêm khuya, trải chiếu trên bãi cát cùng với những người thân yêu, bên mặt biển êm ả như mặt hồ thu, lấp lánh phản chiếu muôn ngàn ánh bạc trong đêm trăng vằng vặc, tai nghe tiếng sóng rì rào, vỗ về bờ cát. Những buổi sáng tinh sương, chạy ra biển khi mặt trời vừa ló dạng đỏ ối cuối chân trời. Đứng bên những người dân chài đang "hò dô ta"... kéo lưới trên bãi biển. Trố mắt nhìn những con cá óng ánh đang vùng vẫy trong lưới, chờ đợi để lượm những con cá nhỏ xíu rơi rớt trên mặt cát. Những giờ phút hồn nhiên ngây thơ đó vẫn còn mãi trong tâm trí tôi không bao giờ phai nhạt.
    Ngôi nhà của cha mẹ tôi tọa lạc ngay góc đường Biệt Thự dẫn vào cổng trại phi trường.Hằng ngày đứng ngây người chiêm ngưỡng những người hùng trong bộ đồ bay, đeo đầy súng đạn chạy ngang qua đã gieo vào trong đầu tôi một ước mơ: trở thành phi công. Giấc mơ đã trở thành sự thật, tôi được may mắn trở về lại thành phố thân yêu để phục vụ, gần gia đình và nhất là được sống lại bên bãi cát vàng bên bờ biển xanh, ngày ngày tung cánh chim sắt bay khắp vùng trời lửa đạn, Bảo Quốc Trấn Không như lời nguyền mang trên vai áo khi gia nhập một quân chủng ưu tú của Quân lực VNCH.
    Ngồi lặng yên suy tư thẩn thờ trên ghế salon một mình hồi lâu, bên ngoài trời đã tối hẳn. Cảm thấy đói, tôi đứng dậy bước ra sân, lững thững đi bộ đến đầu đường Biệt Thự để kiếm gì ăn lót bụng. Ngoài đường, mọi sự đi lại đã bắt đầu thưa thớt, thỉnh thoảng một chiếc xe nhà binh chạy vụt ngang, vội vã... Những cột đèn điện bên đường chiếu xuống mặt đường nhựa ánh sáng vàng vọt. Đang rảo bước bên lề đường, đột nhiên tiếng nói của người bán hàng bên lề làm ngưng dòng tư tưởng đang miên man trong đầu:
    - Mở hàng dùm em đi anh...
    Ngay dưới chân cột đèn, kế bên đường một người đàn bà khoảng 30, trong bộ đồ bà ba bông, đang ngồi lúi lúi quạt lò than, trên tấm vỉ sắt có mấy trái bắp nướng. Kế bên là một đứa bé gái khoảng 5-7 tuổi ngồi trên chiếc ghế nhựa bé tí, gần cái thúng đựng bắp tươi. Lò than cháy lốp đốp, nổ văng những đốm lửa đỏ bay trong không khí. Cách đó vài thước có 2 chiếc xe xích lô đậu sát nhau, 2 người đàn ông gầy ốm đang ngồi trên ghế trước đấu láo chờ khách. Tôi nhìn chị bán hàng lắc đầu:
    - Không, cám ơn chị.
    - Bắp non ngọt lắm, mua dùng em đi.
    Người đàn bà nài nỉ. Tôi đứng lại. Những người đang ở trước mặt tôi vẫn sinh hoạt bình thường để kiếm miếng cơm, manh áo, không hề quan tâm đến biến động của thời cuộc. Chắc họ không có gì để mất và không có gì để lo sợ.
    - Chị bán có khá không?
    - Ế lắm anh ơi, giờ này thiên hạ lo chạy, ít người đi ra đường lắm.
    - Sao chị không lo kiếm đường chạy mà còn ngồi đây bán? 
    Người bàn bà, tay phe phẩy quạt lò, tay trở mấy trái bắp cho đều:
    - Có đồng "mô" trong túi mà chạy anh, mà không biết chạy đi chỗ "mô". Còn chồng em thì đi lính mất biệt, mấy năm "ni" không thấy về thăm nhà, "chừ" em cũng không biết anh đang ở chỗ "mô" nữa.
    Vừa nói xong người đàn bà gắp một trái bắp nướng còn nóng bỏng trên lò xuống để trên miếng giấy dưới đất trước mặt đứa con gái.
    - Ăn đi con.
    Tôi lắng nghe người đàn bà nói tiếng Huế trong một âm điệu thật bình thản, hình như cô ta đã quá quen với gian khổ. Khuôn mặt của người đàn bà phản chiếu ánh lửa hồng bập bùng của lò than vẫn còn phảng phất một nét mặn mà duyên dáng của người con gái đất Thần kinh, cho dù đã sống trong những ngày tháng lam lũ khổ cực. Nỗi cay đắng, xót xa ngập tràn, xót thương cho thân phận của một con người. Tôi liếc nhìn vỉ sắt trên lò than rồi chợt đổi ý, chỉ vào 2 trái bắp cháy vàng:
    - Này, chị bán cho tôi 2 trái đi, đừng trét mỡ hành nghe.
    Đợi người đàn bà gói xong 2 trái bắp trong lá chuối, tôi thò tay móc túi đưa chị tờ giấy bạc xong quay người cất bước không chờ lấy tiền thối.
    Đi một khoảng ngắn, tôi đến trước quán Mộng. Quán đã đóng cửa tắt đèn. Tôi nhìn đồng hồ chưa tới 8 giờ tối. Chắc mấy cô chủ quán đã rời thành phố rồi. Bước tới gần khung cửa lớn bằng kiếng, ghé mắt nhìn vào trong, những bộ bàn ghế bằng mây, trải khăn trắng toát trông lịch sự đang im lìm trong bóng tối mờ mờ từ ánh đèn đường hắt vào. Hình ảnh một quán ăn quen thuộc, đầy thực khách cùng những tiếng cười nói vui vẻ như đang trở lại trong tiềm thức của tôi. Trong thời gian phục vụ cho phi đoàn Thần Tượng trú đóng tại Nha Trang, tôi đã chia sẻ rất nhiều thì giờ tại quán này, chỉ cách xa nhà tôi chừng vài trăm bước. Tôi có thể coi quán Mộng như là một quán ăn nhà. Nếu ai đã từng phục vụ tại Không đoàn 62 này đều phải biết đến tên đó, trước đây đã mang một tên khác rất tây phương: Cristal Palace. Ban ngày là một tiệm ăn sang trọng, lịch sự, ban đêm biến thành một vũ trường đẹp đẽ, ấm cúng.
    Quán Mộng tọa lạc trên con đường mang tên Biệt Thự, một con đường rất quen thuộc đối với hầu hết anh em Không quân, chỉ dài chưa hơn nửa cây số, chạy từ cổng trường Trung Tâm Huyến Luyện Không Quân ra đến bờ biển. Chính con đường này đã làm mòn giày "bốt đờ sô" của biết bao nhiêu chàng phi công tương lai, hằng ngày sắp hàng sầm sập chạy ra biển trong chiếc áo thun trắng tinh và chiếc quần xanh màu cứt ngựa, miệng hát vang bài Không quân hành khúc.
    Những lúc đi bay về có được "chiến lợi phẩm" như heo, nai, gà, thỏ, công, nhím hay bất cứ "sinh vật" nào... tôi đều mang đến quán Mộng để nhờ 3 cô chủ quán vui vẻ, trẻ đẹp biến thành những món nhậu hấp dẫn ngon lành. Còn những lúc tắm biển, thả lựu đạn trúng đàn cá nào thì tôi lại xỏ xâu xách đến quán nhà cho tiện việc "sổ sách". Nhớ lại một hôm tôi vừa đi bay về, trời đã sẫm tối, đang nằm nghĩ mệt trong phòng, áo bay còn mặc trên người. Bỗng có tiếng gõ cửa dồn dập...cộc... cộc... 
    Đang thiu thiu mơ màng, tôi ngồi nhỏm dậy:
    - Ai đó...
    - Em đây, mở cửa mau lên...
    Vừa mở cửa, trước mặt tôi là thằng bé hàng xóm ở trước mặt nhà.
    - Anh ơi, mau lên ra đây em chỉ cái này, có con gì to lắm. Lúc nãy em đang ở trên sân thượng thì nó bay vù sát trên đầu em. Bây giờ nó đang đậu trên cột điện trước mặt nhà em đó.
    Nghe thằng bé nói xong tôi vội vã xách khẩu súng M18 bước ra khỏi phòng, nhưng chợt suy nghĩ sao tôi quay trở lại đổi khẩu súng trường "Carbine" đang treo trên tường, giết gà không cần dao mổ trâu!
    Trong khu tôi ở, rất nhiều con nít cỡ mười mấy tuổi coi tôi như "thần tượng". Chắc vì bộ đồ bay trên người, cọng thêm khẩu súng đeo ngang hông còn khoác thêm cái áo lưới (survival vest), tôi trông giống như là cái gì "ghê gớm" lắm dưới đôi mắt của tuổi thơ.
    Chạy theo thằng bé ra tới đầu đường. Một đám con nít cỡ mấy chục đứa đang bu quanh dưới chân trụ điện cao thế. Tôi ngước đầu lên nhìn, trên nền trời sẫm tối, hình thù một con gì đang đậu to gần bằng bên cục biến điện kế bên. Tôi chưa đoán ra loại chim gì quá lớn như vậy.Tôi nghĩ thầm: sau viên đạn này thì sẽ rõ. Đưa khẩu súng carbine lên nhắm kỹ càng sợ lạc đạn vào cục biến điện sát bên. Xung quanh đám con nít đang nín thở theo dõi "thần tượng" của chúng "biểu diễn tài năng".
    - Cạch...
    Sau tiếng nổ nhỏ của viên đạn được chế biến lại của tôi, con vật đậu trên cột điện lộn nhào xuống đất đánh rầm. Cả đám con nít hết hồn, nhảy lùi ra sau tránh. Tôi bước đến gần nhìn con vật.Trong ánhsáng chập choạng vừa sẩm tối, trước sự ngạc nhiên của tôi, 1 con gà tây bự tướng đang nằm xoãi cánh bất động trên mặt đất.
    Chiều hôm sau, khi đang ngồi quây quần tại quán Mộng với mấy người bạn cùng mấy em gái bên những món gà Tây đủ kiểu, cô chủ vừa sắp đồ ăn vừa cười tủm tỉm ghé tai nói nhỏ với tôi:
    - Nè, để nói cho nghe, sáng hôm nay có Vĩnh Hy, anh chú bác của anh ở gần nhà anh đó. Ổnh đến đây ăn sáng và ổng than phiền với tôi vừa mới mất con gà tây hôm qua, không biết thằng nào cả gan dám chui vào nhà ổng ăn trộm. Ổng dọa rằng nếu tìm ra thằng nào dám ăn cắp con gà tây của ổng thì sẽ biết tay...
    Nghe cô chủ nói xong,miếng thịt gà tây tôi vừa mới nuốt chưa xuống như muốn mắc nghẹn... ngang cổ họng.
    Làm chủ quán Mộng này là 3 chị em ruột. Tất cả đều có "chủ" cả rồi. Cô lớn nhất là "sở hửu chủ" của một vị sĩ quan cao cấp trong ngành an ninh Không quân của Không đoàn 62 CT. Cô kế thì "dưới quyền" một anh bạn thân của tôi, Đại úy Nguyễn Khoa Hoạt, tự nhận là Hoạt "đầu" (ma đầu?) trưởng đoàn chuyển vận Trung tâm Huấn luyện, em ruột của Đại tá Nguyễn Khoa Điềm, Chỉ huy trưởng Không Vận của Không Quân. Và cô chủ nhỏ nhất thì được sự "bảo trợ" của Đại úy Trần Ngọc Đoan, trưởng phòng kiểm tục Cảnh sát Nha thành. Tất cả vị trên là "bộ chỉ huy hậu cứ" của quán Mộng, bao che mọi khía cạnh từ quân đội đến dân sự cũng như phương tiện chuyển vận. Riêng tôi thì được phong chức C.O.O. (Chief Operating Officer), sĩ quan quản lý mấy em "ca ve" làm việc cho vũ trường ban đêm, một công việc rất là "mệt mỏi" và "bận rộn". Ngoài ra, ban quản trị "ngầm" này được sự yểm trợ của một số huấn luyện viên trường Phi hành Nha Trang, như Đại úy huấn luyện viên Nguyễn Hữu Phúc với thân hình mảnh mai trên chiếc xe Lambretta bất hủ, Thiếu tá Liễn cùng Đại úy Đặng Minh Sơn, tự là Sơn "hèm", đặc biệt phụ trách săn sóc "sức khỏe" của chị "tài pán" trong quán. Nói tóm lại, Quán Mộng được coi như là một hội quán làm nơi hẹn hò, ăn nhậu của đa số phi công cũng như những sĩ quan cao cấp tại thành phố Nha Trang. Trong đó thấy sự có mặt thường xuyên Hải quân Đề Đốc Châu, tự là Châu "cao bồi", coi Trung tâm huấn luyện Hải quân Nha Trang; Chuẩn tướng Lượng chỉ huy trưởng căn cứ Nha Trang; Đại tá Đặng Duy Lạc sếp sòng Không đoàn 62/CT, Trung tá Tôn Thất Lăng, Chỉ huy trưởng liên đoàn khóa sinh SVSQ của Trung tâm huấn luyện Nha trang, cũng là ông chủ của quán cà phê Liz lịch sự; Trung tá Thông Liên đoàn trưởng Liên đoàn phòng vệ phòng thủ KĐ62 v...v...
    Sau khi hiệp định hòa bình tại Paris được ký kết 27 tháng 1 năm 73 tại Ba Lê, tất cả mọi phi vụ hành quân của phi đoàn hầu như ngưng đọng, chỉ còn những phi vụ liên lạc hay những phi vụ linh tinh khác. Vào những lúc buồn và nhớ cầm cần lái, tôi thường lấy những phi vụ huấn luyện, bay vòng xung quanh thành phố hay bay quanh vùng ngoại ô hái những trái thanh long đỏ leo trên những cây rừng cao hay bắt vài con gà con thỏ về quán Mộng làm đồ nhậu. Về phía tây nam sát nách phi trường Nha Trang có một vùng đất trống thường được gọi là "Đồng Bò", mọc nhiều cây rừng thấp, rời rạc, sống rất nhiều heo rừng, mễn, gà, thỏ, công, giống như một sở thú nho nhỏ.
    Một buổi sáng đẹp trời, tôi cùng với anh bạn là Trung úy Thái Hồng Đảnh, bạn bè chọc là Đảnh “chích” vì nước da men mét như người ghiền hút, bay chung một phi vụ duy trì khả năng. Trung úy Đảnh “chích” là một hoa tiêu già dặn trong phi đội tải quân, bị phi đoàn nghi ngờ đã làm những chuyện bất hợp pháp trong những phi vụ liên lạc, đã "khóa tay" anh ta bằng cách "đì" anh qua làm hoa tiêu phụ cho phi đội võ trang của tôi. Trong giai đoạn này Trung úy Đảnh “chích” đã yêu cầu được bay chung với tôi thường trực để tránh tình trạng khó xử phải ngồi làm co-pilot cho một hoa tiêu đàn em. Có lẽ điều này những người trong nghề bay điều hiểu rõ. Buổi sáng hôm đó, sau gần 2 tiếng đồng hồ bay lượn trên trời, tôi cho con tàu bay vòng lại gần dãy núi cao chót vót phía tây phi trường chừng 5-6 cây số, tiếp giáp với vùng Đồng bò. Đột nhiên Đảnh “chích” chỉ lên sườn núi:
    - Coi kìa, hình như có cái gì trên núi... đó đó...
    Theo tay của Đảnh, trên sườn núi cỏ xanh có một bóng đen nho nhỏ đang vạch cỏ leo lên đỉnh núi cao.
    - Ờ, thấy rồi, à, người hay con gì vậy?
    Đảnh “chích” chêm vào:
    - Hình như người, có khi nào là... mấy thằng tiền sát viên cho tụi Việt cộng pháo kích vào phi trường Nha Trang không?
    Nghe bạn tôi vừa nói xong, không suy nghĩ tôi đẩy vội con tàu về hướng sườn núi. Khi chiếc trực thăng đến gần chừng vài trăm bộ, thì ra là một con gấu chó đen thui cao gần bằng người, đang ì ạch leo lên đỉnh núi. Hai đứa tôi trố mắt nhìn, ngạc nhiên không ngờ tại vùng này lại có gấu. Vốn tánh đã quen thói bắn giết, tôi liền đưa cần lái cho Đảnh “chích”.
    - Mày lái đi. Tới gần gần một chút để tao "thịt" nó. Gió lắm đó, coi chừng...
    Lúc này trên tàu không có ai ngoài hai đứa tôi và một khẩu P38 tôi đang đeo ngang hông. Một vũ khí độc nhất, tôi không có quyền chọn lựa.
    Chiếc trực thăng bay xề ngang như con cua, đưa hông trái sát dần vào sườn núi. Tiếng chém gió phành phạch vang dội cả vùng yên tĩnh. Con gấu thấy động, hốt hoảng chồm người phóng nước đại, hướng lên đỉnh núi. Thần kinh bị kích động trước con vật lạ lần đầu tiên được gặp, tim tôi đập thình thịch. Tôi ra dấu cho bạn bay gần hơn. Khi chiếc tàu chỉ còn cách con vật chừng 10 thước, đột nhiên con gấu chó ngừng lại, quay người đứng hẳn lên, hai chân đưa cao trước mặt như làm một cử chỉ đe dọa. Hai hàm răng trắng lởm chởm nhe ra, miệng sủi bọt mép... Trong một động tác máy móc, tôi rút bên hông khẩu rouleaux, thò tay ra khỏi cửa bắn liên tiếp 6 viên đạn vào đầu con vật. Con gấu đáng thương phản ứng, đưa hai chân trước phủi loạn xạ lên mặt, giống như đang phủi những con ong mật tấn công khi chúng bị động ổ. Chỉ một giây sau nó té nhào, lăn lông lốc như trái banh, xuống tận gần chân núi rồi ngừng lại sau khi vướng vào một tảng đá to. Tôi đút vội khẩu súng lục vô hông, giật cần lái của Đảnh nghiêng cánh quạt lài theo triền núi, đến trên đầu con vật đang nằm ngửa đưa bốn chân lên trời, kế bên tảng đá.
    Đang phân vân chưa biết sẽ phải đối phó như thế nào thì Đảnh “chích” đột ngột quay qua hỏi tôi:
    -Này, bây giờ... "thầy" định "xử trí" thế nào với con gấu này vậy?
    Cái danh xưng "thầy" hay được những thằng bạn thân trong phi đoàn chúng tôi dùng, phần như để chọc ghẹo, đôi khi cũng có ý thán phục vì một hành động nào đó, đôi khi lại có ý mai mỉa, châm chọc... Những người ở trong quân ngũ, nhất là đã từng vào sanh ra tử mới có thể hiểu trọn vẹn được ý nghĩa của danh xưng này.
    Câu hỏi bất ngờ của Đảnh “chích” làm tôi lúng túng không biết trả lời như thế nào. Đem con gấu lên tàu là một chuyện không thể làm được với độ dốc này cũng như với sức lực của 2 chúng tôi. Chợt nghĩ đến ông bạn Hoạt "đầu", "chỉ huy phó" quán Mộng, tôi liền có ý nghĩ nhờ anh phụ trách việc "thâu hồi" con gấu đang nằm kín đáo trên mõm đá này. Nhìn đồng hồ xăng đã gần cạn, tôi quay tàu rời sườn núi, đánh một vòng qua rừng dừa hoang kế cận cửa Bé, một làng chài ở gần Cầu đá, xong hướng mũi về phi trường chỉ cách chưa tới 1 phút bay. Cho tàu bình phi khoảng 500 bộ xong, tôi định móc điếu thuốc lá ra hút xả hơi, đột nhiên thấy con tàu mất hẵn cao độ, đang rơi xuống như tàu vừa mới bị tắt máy. Tiếng động cơ vẫn nổ bình thường. Tôi chỉ có vừa đủ một giây ngắn ngủi để liếc thấy chiếc kim RPM trên đồng hồ vòng quay cánh quạt (rotation per minute indicator) đang xuống dần. Không còn thời giờ để suy nghĩ, đè mạnh cần cao độ xuống tận đáy, hướng con tàu vào bãi trống độc nhất trước mặt, một vũng nước nhỏ như hồ tắm, vây quanh bởi một rừng dừa. Con tàu như chiếc lá mùa thu lài nhanh xuống, rớt tủm ngay chính giữa vũng nước. Một con trâu rừng đen đủi đang yên lành nằm ngâm mình dưới làn nước mát, tức thời vùng dậy, ba chân bốn cẳng phóng như bị ma đuổi, vừa kịp thời để khỏi bị đè bẹp bởi chiếc trực thăng. Tất cả biến chuyển đã xảy ra không hơn 10 giây ngắn ngủi.
    Đây là trường hợp trục trặc tương tự như khi xe hơi đang chạy bị bể hộp số, máy vẫn nổ nhưng chỗ nối trục máy với trục quay cánh quạt đã bị tách rời, cánh quạt không còn lực đẩy để quay nữa. Trong trường hợp này, không kịp thời hạ cần cao độ (collective control stick) thì cánh quạt sẽ giảm vòng quay rất nhanh, không phương cứu chữa, con tàu sẽ rơi như hòn đá cuội. Trường hợp khẩn cấp này (short shaft failure emergency) vô cùng nguy hiểm vì hoa tiêu không có đủ thì giờ để tìm hiểu nguyên nhân sự giảm cao độ đột ngột của con tàu.
    Nếu biến cố này xảy ra sớm hơn chừng 1 phút thì con tàu của chúng tôi sẽ rơi ngay trên sườn núi và lăn lông lốc xuống chân đồi như con gấu vừa rồi. Qua nhiều lần thoát chết trong đường tơ kẽ tóc, tôi thường tự hỏi có phải vị Tử thần quái ác nào đó chỉ muốn chọc ghẹo hay đùa giởn với tôi, nhưng hình như chưa muốn đem tôi đi vĩnh viễn? Ngồi kế bên, ông bạn của tôi còn sững sốt chưa hoàn hồn, lí nhí trong miệng:
    - "Thầy"!... May tui bay với "thầy" không thì chết mẹ rồi.
    Câu nói của Đảnh “chích” theo tôi hiểu, nặng phần diễn đạt một sự mừng rỡ vừa mới thoát chết hơn là một lời khen tặng. Đang nôn nóng về đáp cho sớm để ra quán Mộng nhậu một chầu ăn mừng bắt được gấu, bỗng nhiên lại bị rơi tỏm xuống một vũng nước cạn. Trong cuộc sống, có lẽ bất cứ biến cố nào cũng có thể xảy ra trong những giây phút mà mình ít ngờ nhất.
    Sau khi báo cáo với phòng Hành quân chiến cuộc tai nạn đã xảy ra, tôi móc điếu thuốc lúc nãy chưa kịp hút, đốt một hơi dài rồi ngã người trên ghế chờ tàu đến đón. Ngồi phì phà điếu thuốc, tôi nhìn xung quanh là một hồ nước cạn ngập tới bụng chiếc trực thăng. Tôi chợt phì cười khi có ý tưởng như mình đang ngồi trên một chiếc "ca nô" câu cá. Điếu thuốc chưa cháy tới phân nửa tôi đã thấy trước mặt một chiếc trực thăng đang lù lù bay tới, trong tiếng chém gió phành phạch quen thuộc. Tàu mang phù hiệu Long Mã của phi đoàn 219, một phi đoàn bạn đồn trú sát nách phi đoàn Thần Tượng.
    Chờ cho tàu rescue đến gần tôi mở cửa leo ra, ngần ngừ một lúc rồi nhảy tỏm xuống. Mặt nước lên gần tới háng. 2 thằng lội lõm bõm leo lên sàn tàu cấp cứu. Trên ghế bay của chiếc Long Mã tôi thấy Trung úy Nguyễn Trọng Kim, tự Kim "mập" đang cầm cần lái. Kim là test pilot và anh chú bác của Trung tá Nghĩa, cựu phi đoàn trưởng 219 Long Mã, người đã bị mất cắp chiếc trực thăng khi đậu tại bờ hồ Xuân hương, Đà lạt mới đây. Tôi bắt tay chào Kim, thì anh bạn tôi kéo đầu tôi lại gần rồi ghé miệng sát tôi nói to:
    - Tao đang bay test gần đây, nghe mày báo cáo với Phòng Hành quân chiến cuộc, liền phóng tới đây "dzớt" mày lên cho lẹ. Mày có làm gì mà Trung tá Bính biểu tao chở 2 đứa mày đáp sân cờ, ổng đang đứng đó chờ tụi mày đó.
    Tôi chẳng hiểu chuyện gì đã xảy ra? Bụng phân vân suy nghĩ: hay là đài kiểm báo đặt trên núi gần phi trường nhìn thấy những gì chúng tôi đã làm. Chuyện vô lý, chưa bao giờ xảy ra, tôi la lớn với Kim:
    -OK, thì mày cứ đáp, tụi tao đâu có làm cái đ. gì mà sợ.
    Tuy nhiên sau khi nói xong, tôi gở nguyên dây đạn và súng lục ra đưa cho Kim cất giùm, để chứng minh cho bất cứ ai chúng tôi là những người hoàn toàn "trong trắng".
    Trước sân cờ, Trung tá Bính, Không đoàn phó KĐ/62 và Trung úy Hiến phòng hành quân chiến cuộc đang đứng chờ. Tôi và Đảnh “chích” nhảy xuống đất, tay xách đôi bốt đờ sô, tay xách nón, đi chân đất, áo bay ướt lên tới bụng, bước tới chào Trung Tá Bính. Sau khi trả lời Trung tá Bính một vài câu hỏi về tai nạn, mọi người vui vẻ tan hàng.
    Sau vụ rớt tàu này, chúng tôi đã được Không Đoàn 62 Chiến Thuật, ban cho một bằng "tưởng lục phi dũng bội tinh" - khả năng lèo lái con tàu bị nạn. Không biết sự ban thưởng cái "dũng cảm" của tôi trong phi vụ này có dính líu gì đến vụ bắn con gấu trên sườn núi không?
    Một tuần lễ sau, một con gấu chó nhồi bông đã được đặt ngay chính giữa sân khấu quán Mộng để tất cả thực khách có quyền thưởng lãm. Tôi chợt nghĩ đến bằng ban khen của tôi cần phải viết thêm tên Đại úy Hoạt "đầu" vì có công lao và "can đảm" băng rừng lội suối để đem con gấu về đi nhồi bông.
    Một thời gian sau đó, trong buổi sáng chủ nhật đẹp trời, quán Mộng đầy những thực khách, đa số là mấy ông đi bay, đủ mọi thành phần lon lá. Tôi đang ngồi trên quầy rượu ăn tô hủ tiếu Nam vang nổi tiếng của quán với Đại úy Đoan, cảnh sát, người "bảo trợ" cô chủ nhỏ nhất trong quán. Kế bên tôi là một cái bàn đặt gần sân khấu, ngồi 2-3 vị sĩ quan cao cấp, trong đó đặc biệt có Đại tá Đặng Duy Lạc, Chỉ huy trưởng Không Đoàn 62 Chiến thuật, cũng là một phi công phản lực A37, rất đáng kính và chịu chơi nổi tiếng trong Không đoàn tác chiến. Sau khi ăn xong, mấy vị sĩ quan đang uống bia hút thuốc và nhìn con gấu đang đứng nhe răng trên sân khấu chỉ chỏ, bàn tán. Đột nhiên, Đại tá Lạc quay qua tôi đang ngồi trên quầy kế bên, rồi hỏi với một giọng điệu nửa đùa nửa thật:
    - Này anh, có phải con gấu này "xuất xứ" từ mấy "ông" trực thăng không?
    Tôi nở nụ cười cầu tài rồi trả lời liền không hề suy nghĩ:
    - Dạ, thưa Đại tá, chắc không phải đâu. Tôi nghĩ vùng này làm gì mà có gấu, Đại tá. Có thể bà chủ quán mua của mấy người Thượng trên Ban Mê Thuột đó...
    Nói xong tôi cúi mặt xuống tô hủ tiếu đã gần cạn, tiếp tục xì xụp ăn như đã bị bỏ đói 3 ngày.
    Cuốn phim dĩ vãng lần lượt trôi qua trong đầu, giờ đây quán Mộng với "những ngày xưa thân ái" đang nằm im lìm trong đêm khuya vắng lặng. Những ngày khách vào ra tấp nập, những cuộc vui gặp gỡ bạn bè sau những chuyến bay mệt mỏi căng thẳng, những đêm tiếng nhạc trầm bỗng trong tay người bạn gái dưới ánh đèn màu, tất cả đã tan biến vào hư không. Con đường Biệt thự vắng vẻ dưới ánh đèn đêm, chị bán hàng rong từ hướng biển đi ngược chiều, gánh hột vịt lộn nhịp nhàng kẽo kẹt trên đôi vai gầy guộc. Những bước chân tôi rời rạc trên con đường xưa, bây giờ hình như đã trở thành xa lạ.
    Nha Trang biển đầy, tình yêu không có đây
    Tôi như là con ốc, bơ vơ nằm trên cát
    Chui sâu vào thân xác lưu đày
    Dã tràng ơi! Sao lấp cho vơi sầu này?
    Từ quân trường đến chiến trường:
    Căn nhà tối om không một ánh đèn khi tôi trở về, những cây ăn trái trong vườn im lìm bên những chậu bông hồng ba tôi săn sóc mỗi ngày. Tôi đứng trên vạt sân tráng xi măng trước nhà nhìn lên bầu trời đen hàng vạn ánh sao lấp lánh. Những viên đạn lửa bất chợt xẹt lên cao rồi vụt tắt. Lác đác vài tràng súng văng vẵng đâu đó cùng với tiếng chó sủa đổng trong một không gian im lắng lạ thường.
    Đứng một lát, tôi về phòng thay đồ leo lên gường. Nằm trằn trọc mãi không ngủ được, những tư tưởng mông lung cứ quay cuồng trong đầu. Tôi nghĩ đến tương lai rất gần đây, tôi cũng như tất cả muôn ngàn chiến sĩ khác sẽ ra sao khi chiến tranh chấm dứt theo chiều hướng bi đát này. Cuốn phim cuộc đời binh nghiệp của tôi tuy không dài, nhưng đầy những cảm giác cao độ sát cạnh với tử thần cùng với bao nhiêu giây phút thú vị ngao du trên khắp nẻo đường đất nước. Những ngày tung mây lướt gió của tôi trên con tàu quen thuộc sẽ không còn nữa, nghiệp bay bổng là con đường tôi đã chọn và say mê không ngờ sẽ kết thúc quá sớm!
    Nằm vắt tay lên trán, tai nghe tiếng thạch sùng chắc lưỡi, điếu thuốc lập lòe trong đêm, những hình ảnh cũ từ lúc chập chững bước chân vào quân trường đến những ngày dong ruổi trên vòm trời quê hương chập chờn, ẩn hiện trong tâm trí...
    Tôi đã gia nhập Không quân trong thời gian quân đội VNCH bành trướng nhanh.Trung tâm Huấn luyện Không quân tại Nha Trang không đủ sức để chứa một số lượng khóa sinh quá lớn.Những người khóa sinh mới được gửi đi học giai đoạn căn bản quân sự tại những trung tâm huấn luyện Bộ binh khác. Đồng đế là nơi tôi đã được gửi đến để học giai đoạn 2 căn bản quân sự.
    Lúc xưa đây là trường Biệt Động Đội Thể Dục Đinh Tiên Hoàng, sau đổi thành Trường Hạ Sĩ Quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Dân địa phương thường gọi là "Trường Đồng Đế Nha Trang" hoặc "Trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế" để thay cho cụm từ danh xưng trước quá dài. Đây là một quân trường kiểu mẫu, cũng là một lò luyện thép đã cung ứng hàng trăm ngàn chiến sĩ xuất sắc cho chiến trường miền Nam.
    Trường Hạ sĩ quan Đồng Đế nằm phía bắc Nha Trang khoảng 4 cây số, gần cạnh bờ biển, dưới chân núi Hòn Ngang hùng vĩ, nơi có ngọn đèo tên thật là lạ lùng - đèo Rù Rì. Từ xa Hòn Ngang trông giống như một người con gái nằm xõa tóc đợi người yêu. Ngang lưng chừng núi là tượng của một người lính đang đứng thao diễn nghỉ, sơn màu trắng nổi bật trên nền xanh cây cỏ. Có một câu thơ lưu truyền sau đây đã nói lên ý nghĩa đó:
    Anh đứng ngàn năm thao diễn nghỉ
    Em nằm xõa tóc đợi chờ anh!
    Mỗi khi ngồi trên chiếc trực thăng bay ngang nơi này tôi không bao giờ quên để mắt nhìn xuống nơi tôi đã từng đổ mồ hôi trong bao nhiêu tháng trường, và đặc biệt bức tượng người lính đứng thao diễn nghỉ sơn màu trắng toát dựng lưng chừng ngọn núi cao chót vót là nơi tôi đã mất hơn nửa ngày và gần một "bi-đông" mồ hôi để leo lên, trên vai vác khẩu trung liên nặng chĩu trong ngày di hành dã trại cuối khóa.
    Trở lại giây phút đầu tiên khi cả khóa tôi vừa mới bước chân đến quân trường Đồng Đế, tất cả tập họp ngay trước sân cờ. Một vị Thiếu tá có một khuôn mặt nghiêm trọng, đứng chống nạnh trước hàng quân, tuyên bố:
    - ...Các anh nên hãnh diện đã được gửi tới đây để huấn luyện. Đây là một quân trường thép, sẽ đào tạo các anh thành những chiến sĩ can trường dũng cảm. Các anh sẽ gia nhập một quân đội thiện chiến nhất để bảo vệ quê hương xứ sở chống bọn Cộng Sản xâm lăng.
    Nghe tới đây, trong đầu óc còn ngây ngô, tôi muốn đưa tay lên nói lớn rằng: "Thưa Thiếu Tá, xin Thiếu ta đừng quên rằng chúng tôi đã đầu quân để lái máy bay, chớ không phải để đánh giặc trong rừng!" Nhưng tư tưởng "chống đối" đó chỉ lóe lên trong đầu chưa đến một giây liền tắt ngúm khi nghĩ đến mấy trăm cái hít đất đang chờ đợi.Vị Thiếu tá nói tiếp:
    - Các anh có thấy gì không? 
    Vừa nói vị sĩ quan vừa chỉ vào bức tượng người lính bằng tượng đồng đen mun, đặt cao trên bục xi măng giữa sân cờ.
    - Vài tháng tới, khi các anh rời khỏi quân trường Đồng Đế này, tất cả các anh sẽ trở thành như bức tượng đồng đen này.
    Bọn chúng tôi đứng trong hàng quân, ngơ ngác không hiểu ý vị Thiếu tá nói gì. Có phải là chúng tôi sẽ thành thạo như người lính này hay là sẽ đen thui như tượng đồng đen, hoặc là cả hai?
    Giây phút đó, trong đầu óc của những thằng con trai ngờ nghệch, chưa ai hiểu thâm ý của vị Thiếu tá cán bộ liên đoàn trưởng cho đến khi chương trình huấn luyện bắt đầu.Một chương trình khắc nghiệt, sắt đá gần giống như chương trình huấn luyện của binh chủng Nhảy dù! Trong những lúc thức khuya dậy sớm, tập luyện, có đôi khi quá nhọc nhằn, khổ cực, thân xác bị đày đọa ngoài sức chịu đựng, tôi phân vân tự hỏi con đường tôi đã chọn đây để trở thành một phi công tung mây lướt gió có phải là con đường sai lầm hay không? Nhưng tất cả rồi cũng phải trôi qua, những sự khổ cực đó đã phai mờ, trong tiềm thức tôi chỉ còn sót lại những hình ảnh đẹp, cũng như những giây phút tuyệt vời mà tôi đã có được trong thời gian thụ huấn tại một quân trường tọa lạc bên bờ biển xanh, với hàng dương vi vu trong gió.
    Có một giai thoại đã xảy ra trong thời gian thụ huấn về một người bạn thân đã làm tôi nhớ mãi: anh Trần Văn Vân, đã không may tử nạn cùng với một fly-mate (người bay chung) trong một phi vụ "team solo" ở trường bay Fort Hunter tại Hoa Kỳ, khi chiếc máy bay trực thăng UH1 của anh vướng vào 1 sợi dây điện cao thế nổ tung. Khi mất, anh Vân đã chưa kịp biết đứa con trai đầu lòng của anh đã ra đời 2 ngày trước đó. Gia đình còn lại của anh là một mẹ già và một người em gái đang sửa soạn, chuẩn bị chờ anh trở về nước trong 2 tuần tới sau khi mãn khóa để cùng đón Xuân. Một điều nên biết anh là một khóa sinh phi công đậu ưu hạng (graduated with honors) tại Fort Wolters, Texas trong thời gian học bay giai đoạn 1 trước đó.
    Trong một đêm thực tập hành quân,bên một bờ biển cát trắng dưới ánh trăng rằm vằng vặc, sau một thời gian bố trí, đào hố cá nhân, phân chia canh gác, đại đội được lệnh tập trung tại bãi biển để điểm danh quân số. Dưới ánh trăng, những tiếng nói lao xao kêu tên điểm danh hòa lẫn với tiếng rì rào của sóng biển. Tất cả quân số đầy đủ, chỉ trừ trung đội tôi thiếu một người. Đếm lui đếm tới, sau cùng cũng vẫn còn thiếu 1 người. Vị Thiếu úy cán bộ bắt đầu mất kiên nhẫn. Tất cả đại đội được tung ra lục soát tất cả mọi nơi, từ những bìa cây thấp, đến từng mọi hang hố ngõ ngách cho đến tận chân núi. Sau hơn 1 tiếng đồng hồ lục lọi chúng tôi đã "tìm ra" người "mất tích". Khóa sinh dự bị sĩ quan Trần Văn Vân đang nằm ngáy khò khò dưới một hố cá nhân, trên bãi cát dưới tàng cây thấp. Anh Vân được đem "giải giao" trước mặt vị Thiếu úy cán bộ. Mặt dù ánh trăng chưa đủ sáng nhưng chúng tôi vẫn thấy rõ được nét "phẩn nộ" hiện rõ trên nét mặt. Trước sự ngạc nhiên của mọi người, vị cán bộ không hề la mắng hay chửi bới Vân. Ông ta chỉ ra chỉ thị cho anh bạn "thiếu ngủ" của tôi: cứ mỗi 30 phút Vân sẽ phải đi xuống biển ngâm mình dưới làn nước "mát lạnh" 5 phút. Thi hành ngay. Bắt đầu từ lúc 11 giờ khuya cho đến sáng mai khi đại đội nhổ lều trở về trại. Anh Vân khỏi phải lo dậy đúng giờ để thi hành lệnh phạt, sẽ có người trong ca trực đến đánh thức anh. Có lẽ những ai đã từng ở trong đời lính đều đồng ý rằng, được nhắm mắt ngủ trong giai đoạn huấn luyện tại quân trường là 1 điều hạnh phúc "tối thượng".
    Những giây phút thú vị nhất của chúng tôi là được đi ứng chiến ở Ba Làng, một xóm chài lưới nhỏ sát mé biển được tạo lập bởi đa số người Bắc đánh cá di cư, chỉ cách quân trường chưa tới 1 cây số. Tôi không hiểu danh từ "dân ba làng" của một số người Trung thường dùng để ám chỉ những ai quê mùa, hay thiếu phong cách, có phải xuất xứ từ xóm chài này không?
    Trong những đêm ứng chiến đó, sau khi treo chiếc võng dưới rặng dương liễu cạnh bãi cát trắng dưới ánh trăng vằng vặc, 4-5 đứa kéo nhau đến quán nhỏ sát bên bờ nước, ngồi trên chiếc bàn gỗ nhìn thẳng ra mặt biển phẳng lặng như nước hồ thu, phản chiếu ánh trăng bạc lóng lánh, cùng chia nhau vài chai bia với đĩa mực tươi rói chấm nước mắm gừng, rồi về nằm đong đưa trên võng hút thuốc lá nói chuyện đời lính, nghe tiếng rì rào của biển cả hòa nhịp với những bài ca trữ tình, văng vẵng từ chiếc radio nhỏ xíu treo đầu võng.
    Nhớ lại những buổi chiều vàng, di hành dã trại trên đồi cao, gió biển lồng lộng thổi phần phật chiếc lều cá nhân vừa được dựng lên. Xung quanh là một rừng ớt, trái chín đỏ rực cả một vùng. Ngồi trong chiếc lều "poncho" với 2-3 người bạn thân, chia nhau bữa cơm vắt với thịt kho muối sả đựng trong hộp sữa "gi gô" được Mẹ gói ghém gửi vào, cắn trái ớt vừa tươi vừa cay, mới hái. Nhìn xuống dưới thấp, bờ vực dựng đứng, những con sóng bạc đầu nô đùa rượt đuổi, đập vào bãi sỏi tung bọt trắng xóa.Xa xa là những con thuyền đánh cá nhấp nhô trên mặt đại dương mênh mông xanh biếc một màu. Còn một cảm giác nào tuyệt vời hơn trong lòng của những người trai mới lớn đầy lý tưởng mộng mơ này?
    Những giây phút đó, tôi mới thấm thía những bài tình ca của lính do nhạc sĩ Trần Thiện Thanh sáng tác, cho dù chưa có một người để yêu, để mộng mơ nhung nhớ.
    Từ khi anh thôi học,
    và từ khi anh khoác áo treilli
    Từ khi anh xa nhà,
    một ngàn đêm nhung nhớ giữa trời mây...

    Ngày tháng trui luyện khổ cực tại quân trường Đồng Đế rồi cũng qua,tôi đã trở thành một sĩ quan phi hành chưa bao giờ rờ được cái đuôi của chiếc máy bay. Không biết trường Đồng Đế có biến tôi thành một người lính thiện chiến như vị Thiếu tá cán bộ đã nói trước hay không nhưng chắc chắn đã biến tôi thành một tượng đồng đen mun. Cái đen mun đeo đẳng tôi dai dẵng cho đến khi qua trường bay, cả vài tháng sau mới chịu buông tha.
    "Thao trường đổ mồ hôi chiến trường bớt đổ máu", một câu mà tôi thấy gắn nhan nhản khắp nơi trong quân trường. Những bài học trầy da tróc vảy, những buổi di hành dã trại triền miên trong rừng sâu núi thẳm cùng những cuộc thao dợt súng đạn, bò dưới hỏa lực của những viên đạn bay vèo vèo trên đầu, hay những phút rứt tim đu dây tử thần, tất cả đã làm tôi đổ hàng chục lít mồ hôi.Nhưng sau này tôi cảm thấy mấy chục lít mồ hôi của tôi đã đổ ra chẳng thấy "dính dáng" gì tới công việc của tôi làm, đó là ngồi chết dí trên ghế bay 6-7 tiếng đồng hồ một ngày lăn lộn trên trời cao. Tôi chưa bao giờ có một cơ hội nào để liệng 1 trái lựu đạn vào hầm của địch quân, cho nổ tung tóe ra như trong phim ci nê, hay núp trong bụi rậm cầm khẩu súng trường nhắm kẻ thù từ lổ chiếu môn đến đỉnh đầu ruồi để bóp cò, ngoài chuyện bóp cò bắn mấy con chuột cống lấp ló dưới mấy chậu bông hồng của ba tôi.
    Từ giai đoạn rời quân trường cho đến lúc chân ướt chân ráo mới về phi đoàn, ngồi rụt chân trên ghế bay của chiếc trực thăng võ trang, trố mắt thán phục nhìn vị đàn anh lái con tàu lướt vùn vụt sát trên đầu mật khu Việt cộng, cho đến giờ phút thứ 25 của cuộc chiến này, trong đêm khuya thanh vắng, nghĩ đến quá trình của cuộc đời bay bổng của mình, tôi đã trải qua biết bao nhiêu trận mạc, từ chuyện rượt đuổi những tên du kích lẻ tẻ cho đến đương đầu những trận chiến bùng nổ cấp sư đoàn. Không thể kể xiết bao lần con tàu chậm chạp lơ lững trên đầu trên đủ loại mọi họng súng của quân thù, nhìn thấy quá nhiều những người bạn đồng ngũ của mình gãy cánh, nổ tung ngang lưng trời, giã từ cuộc đời khi còn đang đầy nhựa sống. Còn riêng bản thân tôi, chưa bao giờ bị 1 viên đạn nào trên trận chiến làm nguy hại tới tính mệnh, hay hư hại con tàu đáng kể, ngoài những lổ lủng vô hại, trong khi tôi phải làm một công việc của một hoa tiêu trực thăng võ trang, luôn luôn phải đối đầu với hỏa lực của địch quân. Có phải đó là số mệnh an bài hay là chỉ là những sự may mắn tình cờ? Câu hỏi đó không ít thì nhiều có lẽ đã làm cho những người đã từng vào sinh ra tử thắc mắc suy tư, nhưng mấy ai tìm được câu trả lời.
    Điều đã làm cho tôi cảm thấy éo le, nếu là không nói khôi hài trong cuộc đời chinh chiến, là 1 lần lãnh 1 viên đạn vào người và 1 lần đối diện với những viên đạn trong đường tơ kẽ tóc, mạng sống tưởng chừng như đã đi đứt. Hai lần đó không xảy ra trên trời cao khi đối đầu với quân địch, mà ở dưới đất, sau khi đã an toàn trở về từ mặt trận. Người ta thường hay nói: "Đi sông đi biển không chết mà chết vì con lạch cỏn con".Những chuyện tôi sắp viết lên đây để sẽ nói lên sự trớ trêu đó.
    Trong những lần đi chơi ngoài phố, ban đêm tôi luôn luôn "lận" khẩu súng 22 ly nhỏ như gói thuốc lá vào lưng quần giấu dưới áo khoác, để bảo vệ tánh mạng trong những trường hợp nguy hiểm xảy ra bất ngờ. Khẩu súng đó đã được phi đoàn trưởng của tôi, Trung tá Khưu Văn Phát, tặng riêng trong một trường hợp đặc biệt. Một đêm khoảng 2 giờ sáng, sau khi đi chơi trở về nhà với 2 người bạn gái trên xe Jeep của ông bạn tôi, Trung úy Thủy, Trưởng phòng nhiên liệu Không đoàn 62/CT. Bước chân vào nhà, người đã mệt mỏi, mạnh cặp nào về phòng nấy. Tôi uể oải thay áo quần. Khi mở dây nịt, tháo nút quần, tôi quên bẵng mất khẩu 22 đang nhét bên hông. Khẩu súng rớt xuống ngay trên sàn gạch bông. Đoành!...Một tiếng nổ như tiếng pháo chuột vang lên trong đêm vắng.Giật mình tôi nhìn xuống dưới, khẩu súng lục xinh xắn màu đen đang nằm trên sàn gạch nhà giữa hai bàn chân tôi. Tôi cúi xuống lượm và ngạc nhiên khi thấy từ ống quần một giòng máu đỏ tươi đang chảy xuống bàn chân trắng bóc suốt ngày mang giày "bốt đờ sô" của tôi. Sững sờ, tôi vén vội quần theo ngược dòng máu đỏ, một lổ nhỏ như đầu đủa nằm ngay bên trong bắp chuối, máu đang trào ra. Vội vã lấy ngón tay bịt ngay lổ để làm ngưng máu chảy, đồng thời tôi nghiêng đầu nhìn bên ngoài bắp đùi "hy vọng" tìm lổ thoát ra của viên đạn. Tôi không thấy gì ngoài một cục u nhỏ trồi lên, viên đạn đã đi xéo trong bắp thịt, tới gần da thì ngừng lại. Tôi bóp nhẹ bên ngoài thấy rõ ràng hình dáng của viên đạn nhỏ như đầu đủa đang nằm "yên nghỉ" trong thớ thịt của tôi. Lạ lùng thay, tôi không có một chút cảm giác đau nhức nào cả. Vừa lúc đó, người bạn gái tôi từ buồng tắm chạy ra cùng với hai người kia từ phòng khác chạy vào. Tất cả cùng la:
    - Trời đất ơi, chuyện gì vậy?
    - Không có gì đâu...mẹ,... xui quá, quên hẳn khẩu súng nhét trong người. 
    Tôi cố lấy giọng bình tỉnh, rồi như tự an ủi, tôi nói tiếp:
    - May mà nó trúng bắp chuối chứ lên thẳng một chút nữa đúng ngay giữa hai chân thì tàn đời...
    Mọi người bu quanh nhìn vào chân tôi, không ai cười cả. Trung úy Thủy lên tiếng:
    - Thôi, tao phải đưa mày đi nhà thương rồi. Hai cô này thay đồ đi. Đại khái thôi, nhanh lên...
    Thế là tôi lại phải choàng vai hai người bạn gái khập khểnh leo lên xe Jeep cùng với Thủy nhà thương trực chỉ. Tôi lầm bầm chửi thầm số con rệp khi nghĩ đến phải bỏ chiếc gường êm ấm và người bạn gái để lên nằm trên chiếc băng ca lạnh lẽo trong đêm khuya khoắc như thế này. Đây là viên đạn "oái oăm" độc nhất đã làm tôi bị thương, không phải từ quân thù mà từ một hành động bất cẩn của chính mình.
    Một sự kiện thứ hai đã xảy ra cũng không kém phần bất ngờ, nếu không nói là "rứt tim" đã xảy ra trong thời gian phục vụ tại phi đoàn Thần Tượng.
    Trong một bữa dạ vũ nọ của một đơn vị bạn, tôi tình cờ gặp được một người con gái có một vóc dáng thật đẹp, cao ráo, có khuôn mặt rất tây phương. Sau một vài câu chuyện trao đổi tôi được biết người đẹp đó là một thư ký riêng cho một vị sĩ quan cao cấp của Mỹ, cố vấn cho Không đoàn 62 Chiến Thuật tại Nha Trang, ở một mình trong căn biệt thự rộng rãi nằm trong phạm vi của phi trường, kế cận đường Phạm phú Quốc. Con đường này chỉ dài vài trăm mét, toàn là những villa đẹp đẽ, chạy từ phi đoàn 215 Thần Tượng của tôi ra tới biển, nơi đó có cổng ra vào phi trường cũng mang tên PhạmPhú Quốc. Có một sắc đẹp mặn mà như người bạn gái của tôi, không khác nào một đóa hoa dịu ngọt gần bên 1 tổ ong mật, đã được sự chú ý, tán tỉnh của rất nhiều chàng phi công hào hoa phong nhã cũng như nhiều người khác.
    Cũng nhờ cơ duyên đưa đẩy, từ lúc gặp gở sau một thời gian lui tới,tôi đã được người đẹp xem như là một người bạn gần gủi thân tình nhất. Từ đó tôi thường xuyên ghé đến nhà nàng. Trong nhà người đẹp lúc nào cũng đầy đủ mọi thứ bia rượu và đầy những đồ ăn mua từ P.X (Post Exchange) dành riêng cho những người Mỹ. Nhờ những tiện nghi cũng như phương tiện vật chất phong phú đó, tôi thường đem mấy người bạn trong phi đoàn của tôi như Trung úy Thành râu, Hổ 2 của tôi trong phi đội võ trang, hoặc là Trung úy Tôn Thất Kim cùng phi đoàn, được gọi là Kim "nhi đồng" thường đi vũ trường với tôi, đến nhà bạn gái mới ăn nhậu.
    Tuy nhiên cuộc đời đã không đơn giản như tôi nghĩ. Trong đám những chàng trai trồng cây si, đặc biệt có 1 Thiếu úy phòng thủ, người vui vẻ, cởi mở, dong dỏng cao, có một giọng nói trầm ấm của người Hà nội. Tuy làm việc cho Đoàn phòng thủ phòng vệ nhưng buồn cười thay, anh ta luôn luôn bận đồ bay, đeo súng, đeo flare, súng báo hiệu cho những phi công bị rơi trong rừng, và thường mặc áo lưới cấp cứu (survival vest), 1 loại áo chỉ để dùng cho những phi công bận khi đi bay. Tôi có nghe phong phanh anh ta là con của 1 vị Đại tá Không quân có chức vị lớn ở Tân Sơn Nhứt và đã bắn chết 1 quân nhân Quân Cảnh nên phải thuyên chuyển ra Nha Trang để tránh sự rắc rối. Tôi vẫn xem anh ta như người bạn mới, thỉnh thoảng chúng tôi đi ăn uống với nhau cho dù tôi có nghe một số người nói anh Thiếu úy này là một người rất nguy hiểm, có tánh bạo động, nhất là sau khi có 5-3 chai bia trong người. Điều này tôi chưa có cơ hội để kiểm chứng, cho đến một đêm nọ...
    Sau một đêm dạ vũ tại Không đoàn, tôi và cô bạn gái cùng anh Thiếu úy phòng thủ trở về nhà trên chiếc xe Jeep của anh ta. Sau khi về đến nhà, cả 3 đều khá say. Ông bạn Thiếu úy muốn ở lại nhà cô bạn tôi ngủ và được nữ chủ nhân mời vào căn phòng dành riêng cho khách. Mọi việc trôi qua êm đẹp.Tới khoảng 3 giờ sáng, tôi đang triền miên trong giấc điệp bỗng có tiếng gỏ cửa dồn dập, đồng thời nghe tiếng nói của anh Thiếu úy phòng thủ:
    - Mở cửa, mở cửa.... Mở cửa mau lên.
    Mơ mơ màng màng, tôi và người bạn gái gật mình tỉnh dậy, chưa hiểu sự tình gì, thì nghe tiếng nói to qua cánh cửa:
    - Mở cửa mau lên, có thằng nào đang ngủ trong đó không?
    Tôi bắt đầu tỉnh ngủ nhưng cố làm lơ, hai đứa tôi không trả lời, thì tiếng gỏ cửa dồn dập tiếp tục.
    - Mở cửa, mở cửa, mau lên...
    Muốn cho mọi chuyện trôi qua êm đẹp, tôi ghé tai người bạn gái thì thầm:
    - Em mở cửa đi, anh vào phòng tắm. Em nói là anh đã về rồi.
    Nói xong tôi ngồi dậy bước vội vào phòng tắm khóa cửa lại, xong đứng nép sát bên bức tường, lắng nghe. Sau tiếng cửa mở là giọng nói nhỏ nhẹ của người bạn gái tôi đang còn ngái ngủ:
    - Ảnh về rồi, không có ai đây cả, anh có chuyện gì không? 
    - Đừng nói dối, tôi thấy xe nó còn đậu trước nhà. Chắc nó đang trốn đâu đây.
    Sau câu nói giận dữ của anh Thiếu úy một khoảng thời gian, tôi không nghe gì cả. Trong phòng tắm tối đen, chỉ còn lại hơi thở dồn dập trong lồng ngực cùng tiếng đập mạnh của trái tim tôi. Câu chuyện người lính bị anh ta bắn chết bất chợt trở về trong đầu tôi. Tôi đứng im, nép sát tường, đang nghĩ cách đối phó, đột nhiên có tiếng dộng cửa rầm rầm ngay cửa buồng tắm tôi đang núp:
    - Mở cửa ra không tao bắn. Một, hai, ba,... mở cửa...
    Tôi chưa kịp phản ứng thì nghe liên tiếp mấy tiếng nổ chát chúa: đoành, đoành, đoành...tiếp theo là tiếng thét lớn của cô bạn gái. Tấm kiếng treo trên tường trong phòng tắm tôi đang đứng vỡ toang rơi loảng xoảng xuống sàn gạch. Mấy viên đạn xuyên qua tấm cửa gổ, chỉ cách tôi chừng vài phân. Trong bóng tối, ánh sáng từ phòng ngoài chiếu qua mấy lổ đạn, tôi đếm đúng 6 lổ. Anh Thiếu úy điên khùng này đã bắn hết đạn! Cơn thịnh nộ của tôi bùng vỡ như một hỏa diệm sơn. Tôi mở toang cánh cửa. Trước mặt tôi anh Thiếu úy đang đứng, tay cầm khẩu súng rouleaux còn bốc khói. Với tất cả sinh lực còn lại trong người cọng thêm cái đai đen Thái cực Đạo mà tôi đã để mốc meo trong xó tủ từ ngày vào lính, tôi nhào vào người anh ta, tôi không nhớ rõ đã làm gì nhưng không hơn 10 giây sau, anh chàng điên khùng này biến thành một xác chết bất động nằm sóng soài trên sàn gạch bông. Bên cạnh người bạn gái tôi đang đứng co rúm trong bộ đồ ngủ, gương mặt nhợt nhạt, khiếp đảm. Sau vài phút đứng thở hổn hển để lấy lại hơi thở, tôi cùng người bạn gái hè nhau lôi cái xác xềnh xệch về phòng ngủ, bồng anh ta lên gường, đắp mền cẩn thận. Và trước khi rời phòng tôi không quên tước hết tất cả những viên đạn cũng như cây súng "flare" gắn trên dây súng anh ta treo đầu gường.
    Đêm trôi qua, không động tịnh, cho đến sáng hôm sau.
    - Cọc...cọc..., mở cửa...., cọc..., cọc.
    Mở bừng mắt dậy, ngoài trời đã sáng, tôi ngồi nhỏm dậy không suy nghĩ, bước nhanh tới mở cửa phòng ngủ. Trước mặt tôi, anh Thiếu úy đã nai nịt gọn gàng, tay cầm khẩu rouleaux, nòng súng đen ngòm đang chỉa thẳng vào mặt tôi.
    -Đ.m, thằng nào đánh tao hồi tối, mày phải không?
    Đinh ninh cây súng không có đạn, tôi trả lời đại khái cho qua chuyện:
    - Ai mà đánh bạn, chắc tối hôm qua bạn quá say vấp té đâu đó thôi.
    - Đừng có xạo, té sao mà tao bị bầm cả người đây, mày đánh tao phải không?
    Người bạn gái đã dậy bước lại đứng cạnh tôi chen vào:
    - Đâu ai đánh anh, tối qua anh say quá mà...
    - Cô đừng có binh...
    Vừa nói anh ta vừa nhìn tôi mắt đổ lửa, họng súng chỉa cách đầu tôi chừng vài tấc:
    - Mày đánh tao hả,đừng chối,tao bắn chết mẹ mày luôn.
    Anh ta hét lớn như muốn ăn tươi nuốt sống tôi, đồng thời một tiếng nổ đoành...như xé nát màng nhỉ. Tai tôi điếc rặc, chỉ còn nghe o...o... như tiếng vo ve của đàn ong đang bay. Cô bạn gái tôi hốt hoảng nhảy núp sau lưng tôi, như muốn dùng tôi làm cái bia đỡ đạn. Tôi đứng sững người bàng hoàng chưa kịp phản ứng, chưa hiểu tại sao tên khùng này lại còn đạn để bắn? Tôi nhớ rõ ràng đã rút từng viên đạn găm trên dây đeo súng của hắn. Hay là cái bao da bò nhỏ màu đen đựng đạn kẹp kế bên con dao mà tôi quên đã không mở ra xem?
    Như đã tỉnh rượu, anh ta nhét súng vào bao rồi quay người bước ra khỏi phòng leo lên xe nổ máy chạy, sau khi phán cho một câu:
    - Tao tha cho mày đó.
    Tôi đứng ngẩn ngơ, lỗ tai còn ù. Còn người bạn gái tôi ôm cứng lấy tôi run rẩy, gần khóc. Chừng khoảng vài tiếng sau, tôi nghe tiếng xe Jeep tắt máy trước nhà. Có tiếng gõ cửa phòng, lần này nhẹ nhàng hơn trước:
    - Trễ rồi dậy đi, tôi xin phép mời hai người đi ăn sáng.
    Quá đổi ngạc nhiên, tôi mở cửa. Lại anh chàng Thiếu úy phòng thủ trong bộ đồ bay, không quên choàng thêm cái áo lưới "bất hủ", đang tươi cười nhìn tôi trong một giọng nói của người Hà nội nghe thật ngọt ngào:
    - Hai bạn đi ăn sáng với tôi nhé, tôi mời. Cứ thong thả, tôi ngồi chờ ngoài phòng khách...
    Anh ta nói như không hề có chuyện gì quan trọng đã xảy ra. Anh ta đã trở lại con người bình thường. Một điều lạ mà tôi vẫn không hiểu, tại sao trong lòng tôi không hề có một thái độ giận dữ hay oán thù người đã "tặng" cho tôi đúng 7 viên đạn rouleaux, suýt nữa đưa tôi qua bên kia thế giới. Hay là tôi đã được thỏa mãn tự ái khi nhìn thấy những vết bầm tím đầy trên thân thể của anh chàng điên khùng này chăng? Đứng yên một giây, tôi nhìn mặt anh ta dò xét rồi bình thản trả lời:
    - OK, chờ chút, tôi đi tắm đã.
    15 phút sau, cả 3 chúng tôi cùng leo lên xe jeep của phòng thủ chạy đến quán Mộng ăn sáng như 3 người bạn thân tình vừa trải qua một đêm "vui" kinh hoàng. Đến nơi, anh ta không ăn, ngồi lau muỗng đũa tiếp chuyện cho hai chúng tôi ăn. Hôm đó tôi có cảm tưởng như đã ăn một bữa ăn sáng lạ lùng nhất trong đời.
    Một thời gian sau đó, vì đã gây nhiều rắc rối khác, anh Thiếu úy phòng thủ điên khùng này đã bị thuyên chuyển lên Pleiku và nghe nói anh ta đã tử thương trong một tai nạn máy bay trực thăng khi ngồi trong một phi vụ phòng thủ phi trường.
    Sống chết có số. Đạn tránh người. Đó là những câu nói cho những ai tin vào định mệnh. Cũng như đến giây phút giờ thứ 25 của trận chiến tàn khốc này, tôi vẫn còn được nằm trên chiếc gường trong đêm khuya để suy tư. Ngày mai này dù có đi về đâu tôi phải bình tâm chấp nhận, như tôi đã từng chấp nhận ngay từ giây phút đầu tiên khi leo lên chiếc trực thăng võ trang để lao vào vùng trời ngập đầy máu lửa này.
    Giấc ngủ chợt đến lúc nào không hay... những tư tưởng đang vần vũ quay cuồng trong đầu đột tan biến vào hư vô, sâu thẳm...
    Vĩnh Hiếu
    Phi đoàn 215 Thần Tượng


Chuyện dài thừa kế

    • Outlook-tqrph1w0.jpg

      "Thừa kế không chắc đã mua được tình yêu, đôi khi nó chỉ nuôi béo sự lười biếng và tham lam thôi."
      Lũ trẻ nhà tôi cứ khăng khăng bảo đưa tôi vào viện dưỡng lão là "vì tốt cho mẹ", nhưng thực ra là để tụi nó chia chác cái nhà. Lúc tụi nó hí hửng vác thùng đến để phân chia phòng ốc, thì đập vào mắt lại là chủ nhà mới... kèm theo một tấm bưu thiếp tôi gửi về từ thiên đường du lịch Cancún.
      Suốt mấy tháng trời, tụi nó cứ rêu rao là tôi bị "lẫn" rồi, nhà thì quá rộng so với một bà già. Tụi nó lén lút sắp xếp chỗ ở trại dưỡng lão sau lưng tôi. Nhưng tụi nó không ngờ là tôi đã nghe sạch sành sanh qua khe cửa. Cái bản mặt của tụi nó lúc mở cửa nhà tôi ra đúng là... không tiền nào mua nổi!
      Câu chuyện là thế này:
      Tôi góa chồng 5 năm nay. Chồng tôi là người làm lụng cả đời, lo xa nên để lại cho tôi căn nhà 4 phòng ngủ xịn xò và một khoản lương hưu dư dả. Tôi cứ tưởng mình sẽ dưỡng già yên ổn bên vườn tược và con cháu.
      Nhưng hai đứa con tôi, Stéphane và Monique, lại tính đường khác. — "Mẹ ơi, mẹ leo cầu thang không mệt ạ? Hay mẹ bán quách đi mua cái căn hộ nhỏ thôi," con Monique vừa nói vừa thử dây chuyền của tôi trước gương. — "Căn nhà này đáng giá cả gia tài. Mẹ ở một mình với mấy con mèo phí quá. Phải nghĩ cho tương lai các cháu chứ," thằng Stéphane – đứa vừa phá nát chiếc xe thứ 3 trong năm – bồi thêm.
      Này, tôi mới 68 tuổi thôi nhé! Tôi không hề lú lẫn. Tôi không cần chống gậy. Tôi tập Yoga tuần 3 buổi và vẫn làm kế toán cho hội phụ nữ phường. Nhưng trong mắt tụi nó, tôi chỉ là một cái "chướng ngại vật" đang ngồi trên đống bất động sản béo bở.
      Bước ngoặt "nhờ" trận ốm
      Cách đây 2 tháng, tôi bị cảm cúm nặng, phải nằm bẹp 3 ngày. Tụi nó kéo đến bảo là "chăm sóc mẹ". Nằm trong phòng, tôi nghe thấy tụi nó thì thầm ngoài bếp: — "Mẹ không ở một mình được nữa đâu. Nhìn mẹ kìa, đây là thời điểm vàng đấy," Monique thầm thì. — "Anh tìm được cái trại dưỡng lão ở ngoại ô rồi. Rẻ lắm. Thế mình mới có lời khi cho thuê căn nhà này." — "Thuê gì? Em sẽ dọn về đây ở. Còn anh lấy căn hộ dưới phố." — "Mơ đi! Bán rồi chia đôi. Cứ bảo mẹ là đi 'nghỉ dưỡng' thôi. Khi nào làm xong giấy tờ chứng minh mẹ mất năng lực hành vi, mình sẽ nắm quyền kiểm soát tất cả."
      Một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng tôi. Những đứa con tôi từng nuôi ăn học, lo cưới hỏi, chiều chuộng đủ thứ... giờ đang lập mưu nhốt tôi vào cái xó rẻ tiền để chia chác tài sản của tôi.
      Cú lừa đỉnh cao của bà già "lẫn"
      Tôi không khóc, cũng chẳng thèm quát tháo. Tôi gọi ngay cho luật sư Robert – bạn thân của chồng tôi: "Robert, tôi muốn bán nhà. Thật nhanh. Và mọi thứ phải tuyệt mật."
      Mấy tuần sau, tôi bắt đầu diễn kịch. Tôi giả vờ quên chìa khóa. Tôi hỏi đi hỏi lại một câu. Tôi tỏ ra yếu ớt. Tụi nó nhìn nhau cười thầm, chắc đang nhẩm tính xem mỗi đứa được bao nhiêu tiền.
      Tụi nó đưa tôi đi thăm cái "resort" dưỡng lão. Một nơi buồn tẻ, nồng nặc mùi thuốc tẩy và mùi súp nấu nhừ. — "Mẹ thấy không, chỗ này vui lắm, mẹ sẽ có thêm bạn," Monique nịnh bợ. — "Ừ, các con nói đúng... mẹ không sống một mình được nữa rồi," tôi cúi mặt giả vờ cam chịu.
      Tụi nó chốt ngày thứ Hai sẽ "chuyển nhà" cho tôi. Cuối tuần đó, tôi bảo muốn ở lại một mình vài ngày để "chia tay căn nhà". — "Tất nhiên rồi mẹ!" – Thằng Stéphane hớn hở.
      Ngày "định mệnh"
      Đúng 8 giờ sáng thứ Hai, tụi nó có mặt. Vác theo đống thùng carton, nhưng không phải để đóng đồ cho tôi, mà là để dọn đồ của tụi nó vào. Thằng Stéphane còn lén đánh thêm một bộ chìa khóa riêng.
      Cạch... Cạch... Chìa khóa không xoay được. — "Chắc bà già lại thay ổ khóa vì hoang tưởng rồi," Monique lầm bầm.
      Cửa mở. Nhưng không phải tôi. Một người đàn ông tầm 40 tuổi, tay cầm ly cà phê, thong thả bước ra: — "Chào anh chị. Tôi giúp gì được không?"
      Stéphane đứng hình: — "Ông là ai? Mẹ tôi đâu? Đây là nhà của mẹ tôi!" — "À... chắc anh chị là con bà ấy," người đàn ông bình thản. "Tôi là chủ mới. Tôi mua căn nhà này 3 tuần trước rồi. Giấy tờ công chứng, sang tên xong xuôi hết rồi nhé." — "Không thể nào!" – Monique hét lên. "Bà ấy không có quyền bán khi chưa có sự đồng ý của chúng tôi! Bà ấy không còn minh mẫn!" — "Mẹ anh chị cực kỳ minh mẫn lúc ký giấy tờ," ông ta đáp. "Và lúc nhận tiền chuyển khoản nữa. À, bà ấy có để lại cái này cho hai người."
      Ông ta đưa ra một phong bì. Bên trong là một tấm ảnh. Đó là ảnh tôi tự sướng: Đeo kính râm, đội mũ rộng vành, tay cầm ly cocktail, đằng sau là biển xanh ngắt. Mặt sau tấm ảnh, tôi viết:
      "Gửi các con yêu quý,
      Mẹ đã nghe hết kế hoạch định nhốt mẹ vào viện dưỡng lão để chiếm nhà của các con rồi. Tim mẹ đau đấy... nhưng nó cũng giúp mẹ tỉnh ngộ.
      Mẹ bán nhà rồi. Bán cả xe, bán cả trang sức gia đình luôn. Tất cả tiền đang nằm trong tài khoản mang tên mẹ. Mẹ không đi viện dưỡng lão nào hết. Mẹ đi du lịch đây. Hết vùng biển Caribbean rồi sẽ sang Châu Âu. Mẹ sẽ tiêu từng đồng tiền của CHÍNH MÌNH để sống nốt những năm tháng còn lại. Đừng tìm mẹ làm gì cho mệt. Khi nào hết tiền hoặc hết đời, mẹ sẽ báo.
      Trong lúc đó, học cách tự đi làm mà kiếm sống đi nhé. Thương các con, Mẹ (người ít 'lẫn' hơn các con tưởng nhiều)."
      Nghe hàng xóm kể lại, tiếng hét của thằng Stéphane vang tận sang phố bên cạnh. Còn con Monique thì lên cơn tăng xông ngay giữa cái sân... vốn đã chẳng còn là của nó nữa. Tụi nó định kiện tôi, nhưng luật sư Robert đã chìa ra đủ mọi giấy tờ chứng nhận sức khỏe tâm thần của tôi trước khi bán nhà. Án tại hồ sơ, miễn bàn cãi!
      Bây giờ, tôi đang ngồi trên ban công khách sạn. Nắng đẹp cực kỳ. Ly cocktail cũng ngon tuyệt. Tôi nhận ra rằng: Để lại thừa kế không chắc đã mua được tình yêu, đôi khi nó chỉ nuôi béo sự lười biếng và tham lam thôi.
      Bài học lớn nhất tôi để lại cho con mình là: Chẳng ai có quyền hưởng thụ trên những thứ mà họ không tự tay xây dựng nên.
      Nâng ly vì sự tự do của bà già này nào! 🥂

      TG Văn Chương

NỮ CHIẾN BINH NGƯỜI KURD VÀ NỖI SỢ XUỐNG ĐỊA NGỤC CỦA CHIẾN BINH HỒI GIÁO IRAN

Người Kurd, một dân tộc nhưng không có quốc gia.
Họ có số dân lên đến gần 40 triệu người, sống ở Iran, Iraq, Thổ Nhĩ Kỳ, Syria và các quốc gia khác.
Từ lâu, họ bị chính phủ Iran đàn áp và được coi là một lực lượng nòng cốt trong phong trào chống Iran.
Tuy nhiên, thời cơ lúc này đã đến với họ.
Iran đang bị đập tơi tả, ngược lại họ lại có sự thống nhất khi 5 lực lượng lớn (bao gồm PDKI, PAK, Komala...) đã thành lập một liên minh quân sự duy nhất với sự hỗ trợ của CIA và Israel.
Nhiều thông tin cho thấy, Mỹ đã chuyển giao vũ khí chống tăng, drone tự sát và các thiết bị liên lạc vệ tinh cho lực lượng này qua biên giới Iraq.
Hơn nữa, việc Mỹ và Israel xử lý gần như sạch sẽ sức chống cự của Iran đã tạo điều kiện thuận lợi cho người Kurd tiến quân.
Họ lại không đánh trực diện vào các thành phố lớn, mà đang tiêu diệt các đồn biên phòng, kho đạn của IRGC (Vệ binh Cách mạng) ở vùng nông thôn để tạo ra những khu vực giải phóng.
Khi người Kurd chiếm giữ được các trung tâm hành chính ở phía Tây và kêu gọi các nhóm thiểu số khác (người Baloch ở phía Đông, người Azeri ở phía Bắc) cùng nổi dậy, quân đội Iran sẽ bị xé lẻ và không thể tập trung lực lượng cứu Tehran.
Ngoài ra, làn sóng đào ngũ trong bối cảnh "rắn mất đầu" sau khi ông Khamenei qua đời, có thể khiến nhiều đơn vị quân đội Iran chọn cách đầu hàng hoặc đứng về phía đối lập.
Chế độ thần quyền sẽ sụp đổ khi lực lượng của người Kurd hỗ trợ vũ trang cho người biểu tình ở Tehran; kết hợp được sức mạnh "trong nổi dậy, ngoài tấn công".
Đây có thể coi là con bài chính trị then chốt của Hoa Kỳ và Do Thái trong cuộc chiến này.
Mặt khác, về mặt tâm lý, các chiến binh Hồi giáo Iran lại rất hãi quân đội của người Kurd, kiểu như “kỵ rơ” trong bóng đá. Bởi vì trong quân đội của người Kurd, số lượng nữ chiến binh lại chiếm tỷ lệ lớn, mà không một quốc gia nào có được.
Trong kinh Koran hứa hẹn các chiến binh tử trận sẽ được thưởng 72 trinh nữ trên thiên đường. Các lãnh tụ Hồi giáo cực đoan thường trích dẫn những đoạn này để làm công cụ tuyển quân.
Tuy nhiên, chiến binh Iran lại tin rằng, chết dưới tay chị em là xuống thẳng địa ngục.
Tekoshin, nữ chiến binh người Kurd 27 tuổi, chiến đấu tại miền bắc Iraq, đã trả lời AFP rằng cô tham gia vào cuộc chiến để bảo vệ quyền của phụ nữ.
Cô cho biết nhiều nữ chiến binh hiểu được lợi thế của mình với các đối thủ cực đoan. "Tôi nghĩ họ sẽ sợ chúng tôi hơn các nam quân nhân", cô nói.
"Họ tin rằng họ sẽ phải xuống địa ngục nếu họ chết dưới tay chúng tôi”.
Chưa có quốc gia, 40 triệu người hơn hẳn dân số nhiều nước trên thế giới.
Mơ về một ngày lập quốc như người Do Thái, cũng có thể lắm chứ!
Với tình hình rối ren của Iran hiện nay, đây có thể coi là cơ hội hiếm hoi của người Kurd, biến ước mơ thành hiện thực.

Inline image


Inline image


GIÁO CHỦ KHOMEINE 
ĐÃ TỪNG NHỜ NHỮNG NGƯỜI CS GIÚP HỌ LÀM CUỘC CM HỒI GIÁO NĂM 1979 GIÀNH THẮNG LỢI
SAU ĐÓ ÔNG TA TÀN SÁT CỘNG SẢN KHÔNG CÒN MỘT MỐNG VÌ SỢ TRANH GIÀNH QUYỀN LỰC.
Iran của Khomeini là kẻ thù không đội trời chung của cộng sản, nhưng những người CS đã ngây thơ giúp ông ta,
Ngỡ rằng ông ta sẽ xây dựng một Iran sau CM hồi giáo 1979 giống mô hình của LX
Gần đây, nhiều người Việt Nam – đặc biệt là những người cộng sản, hoặc bị ảnh hưởng bởi tuyên truyền cộng sản – tỏ ra hồ hởi ủng hộ Iran. ??
Họ tung hô Iran như một "ngọn cờ chống đế quốc", như một đồng minh tự nhiên của "mặt trận cách mạng thế giới". Họ đã hoàn toàn không biết gì về lịch sử đẫm máu và phản bội của chính thể Hồi giáo Iran đối với những người cộng sản từ LX
Sự thật là : Khomeini – người sáng lập nước Cộng hòa Hồi giáo Iran – kẻ đã tiêu diệt cộng sản ở Iran một cách dã man và có hệ thống sau khi lợi dụng họ như bàn đạp để cướp lấy chính quyền năm 1979.
Liên minh giả tạo với cộng sản để lật đổ vua Shah
Trước 1979, Iran là một quốc gia quân chủ độc tài dưới quyền vua Shah – thân Mỹ, đàn áp đối lập, nhưng cũng tiến hành hiện đại hóa. Nhiều lực lượng tham gia đấu tranh chống Shah : trí thức, sinh viên, dân chủ, cộng sản và đặc biệt là giới giáo sĩ Hồi giáo.
Trong số đó, Đảng Tudeh – chính đảng cộng sản lớn nhất Iran – đã chọn đứng về phía Khomeini, lãnh tụ của phe Hồi giáo cực đoan lưu vong.
Họ tin rằng Khomeini là "nhà cách mạng Hồi giáo chống đế quốc", là người sẽ cùng họ xây dựng một xã hội công bằng theo mô hình LX. Họ ủng hộ cách mạng, vận động quần chúng, tán thành bản hiến pháp mới – trong đó Khomeini thiết lập chế độ "Lãnh tụ tối cao" toàn quyền" Kiểu LX: Tôn thờ lãnh tụ tinh thần".
Thậm chí trong giai đoạn 1979–1981, Đảng Tudeh còn được hợp pháp hóa, có đại diện trong bộ máy nhà nước, và một số thành viên được cài vào cả quân đội để giúp trấn áp các phe đối lập dân chủ – những lực lượng thế tục từng chống Shah song song với Tudeh và Hồi giáo.
Sự ngây thơ đó đã phải trả giá bằng máu và sự tuyệt chủng chính trị.
Cộng sản bị thanh trừng dã man khi không còn giá trị lợi dụng, Bởi Khomeini tin rằng CS sẽ tranh quyền của ông ta
Ngay sau khi củng cố được quyền lực, Khomeini trở mặt nhanh như chớp. Ông ta tuyên bố "chủ nghĩa cộng sản là mối đe dọa đối với đạo Hồi và cần bị tiêu diệt".
Những gì xảy ra sau đó là một cuộc tàn sát có hệ thống, không khác gì các cuộc thanh trừng của Stalin :
Từ 1981, các nhà hoạt động Đảng Tudeh bị bắt giữ hàng loạt. Nhiều người bị tra tấn dã man, bị buộc "tự thú" trên truyền hình – những bản thú tội đầy sỉ nhục và cưỡng bức.
Năm 1983, Đảng Tudeh bị tuyên bố bất hợp pháp. Hơn 10.000 thành viên và cảm tình viên bị bắt giam, phần lớn không được xét xử.
Từ 1985 trở đi, hàng ngàn người bị đưa ra xét xử vội vã trong vài phút, sau đó bị treo cổ tập thể. Gia đình không được báo trước, không được nhận xác, không được biết nơi chôn.
Cao điểm là cuộc thảm sát năm 1988 :
Sau chiến tranh Iran-Iraq, dưới lệnh trực tiếp của Khomeini, ít nhất 4.000 đến 5.000 tù nhân chính trị – phần lớn là cộng sản hoặc cánh tả – đã bị hành quyết trong vòng vài tuần. Một số tổ chức nhân quyền và cựu quan chức Iran cho rằng con số thực tế lên tới 30.000 người.
Các tù nhân bị đưa đến đối mặt với cái gọi là "ủy ban tử thần", gồm ba giáo sĩ hoặc thẩm phán. Chỉ vài câu hỏi ngắn như :
"Mày có tin vào Allah không ?"
"Mày có sẵn sàng từ bỏ tổ chức Marxist không ?"
Trả lời không đúng ý là lập tức bị đưa đi treo cổ trong đêm.
Họ không được báo án, không được gọi luật sư, không được gặp người thân, không được chôn cất tử tế. Nhiều ngôi mộ tập thể đã được phát hiện sau này.
Đây là cuộc hành quyết tù nhân chính trị lớn nhất trong lịch sử hiện đại Trung Đông, được Tổ chức Ân xá Quốc tế mô tả là "tội ác chống lại loài người". Báo cáo của Liên Hợp Quốc và HRW so sánh vụ thảm sát này về quy mô và tính chất với diệt chủng Khmer Đỏ ở Campuchia.
Kẻ thù tư tưởng tự nhiên của cộng sản
Về lý luận, chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan của Khomeini và chủ nghĩa Marx vô thần là hai hệ tư tưởng không đội trời chung. Khomeini coi cộng sản là :
Vô thần", "phản Thượng đế"
"Bệnh dịch" cần bị tiêu diệt triệt để
Mối đe dọa tới đạo đức, trật tự xã hội và quyền lực giáo sĩ.
Một trong những tuyên bố nổi tiếng của ông ta :
"Chúng ta không cần Marx, không cần chủ nghĩa cộng sản. Chúng ta cần luật Sharia (luật Hồi giáo man rợ) và ý chí của Allah".
Iran dưới thời Khomeini về thực chất là một nhà nước toàn trị thần quyền, nơi mà Lãnh tụ Tối cao vừa là giáo chủ, vừa là nguyên thủ
quốc gia, nắm quyền sinh sát tuyệt đối – không khác gì một phiên bản Hồi giáo của chế độ phát xít.
Bài học cho những người cộng sản Việt Nam
Hỡi các nhà "mácxít" Việt Nam đang hô hào cổ vũ Iran :
- Chống Mỹ không đồng nghĩa với chính nghĩa.
- Kẻ thù của kẻ thù chưa chắc là bạn. Khomeini dùng cộng sản như công cụ rồi giết họ như giết kiến, loại họ như rác rưởi.
rưởi.
- Một chế độ thần quyền toàn trị như Iran không bao giờ chấp nhận đối thoại tư tưởng, chứ đừng nói đến một Đảng Cộng sản nào đó chen chân.
- Bạn nghĩ Iran là bạn ? Iran đã giết sạch "bạn" của bạn ngay từ khi chưa kịp nói lời cảm ơn.
- Đảng Tudeh năm xưa từng tưởng mình là đồng chí của Khomeini. Họ cũng từng tự tin, hăng hái, hy vọng. Cuối cùng, họ là những người đầu tiên bị treo cổ.
Không phải chống Iran – mà là chống ngụy biện.

Inline image



Chuyến Xe Chiều
  • Để tưởng nhớ em tôi – Nguyễn Phiêu Linh – và mến tặng tất cả SVSQ/TBTĐ Khóa 6/68

    Cho phi cơ lượn vài vòng trên không trung, Dinh cảm thấy vui hẳn lên với cảm giác được hoàn toàn tự do. Nhìn xuống, thấy đồng ruộng xanh ngát, tự dưng một giòng nhạc khởi lên trong lòng, Dinh hát theo điệu Valse Lente: “Làng tôi yêu mến có lũy tre đầm ấm, khoát bóng lên lều tranh… Tình quê hương ấy mỗi lúc sương chiều rơi, quyến luyến dâng đầy vơi tâm hồn tôi”(1). Lời ca khiến Dinh nhớ những chiều theo đoàn tù trở về trại, nhìn về phương Nam, Dinh cũng ngân nga những câu hát này cho vơi bớt nỗi niềm. Tiếp tục hát được vài câu nữa, Dinh thoáng giật mình, vì chàng là sĩ quan Dù chứ không phải sĩ quan Không Quân! Vừa khi đó, nhận ra kim chỉ nhiên liệu xuống đến chữ E, Dinh vội vàng cho phi cơ đáp khẩn cấp.

    Trời tối dần. Dinh đi nhanh về hướng có ánh đèn. Gặp vài người Dinh mới nhận ra những người này không nói cùng ngôn ngữ với Dinh. Dinh dùng tay ra dấu cho họ biết phi cơ hết xăng, Dinh cần mua xăng. Những người này cũng ra dấu là ở đây xăng chỉ dùng cho công xa chuyển vũ khí đi “B”. Thấy quân phục của Dinh nhiều người kéo đến, nhìn Dinh bằng đôi mắt sôi sục căm thù.

    Thấy ánh mắt căm thù, Dinh hãi sợ, bỏ chạy. Những người lạ đuổi theo. Một âm thanh hãi hùng vang lên trong đêm: “Ngụy trốn trại! Ngụy trốn trại! Bắt lấy nó! Bắt lấy nó!” Nhóm người vừa đuổi theo vừa lượm đá quăng về phía Dinh. Dinh trúng thương, ngã xuống.

    Khi tỉnh dậy, trong nhiều tiếng lao xao, mơ hồ, Dinh nhận ra tiếng Duy, con lớn của chàng, quát đứa em:

    - Dục! Coi ổng còn thở không?

    Dinh muốn đáp: “Ba không sao đâu”, nhưng nói không được. Trong khi Duy và Dục bồng Dinh để lên giường, Dinh cố nhớ lại giấc mơ. Dinh tự hỏi, tại sao những lần trốn trại và những trận đòn thù xưa cứ ám ảnh chàng hoài? Dinh muốn lấy điện thoại, gọi cho Huyền - chị của Dinh, đang ở Mỹ - nhưng Dinh không thấy được gì cả.

    Trên taxi, Dinh được để ngồi thẳng như pho tượng, Duy và Dục ngồi kè hai bên cho Dinh khỏi ngã. Sau khi bảo tài xế lái đến bệnh viện Đồng Nai, Duy than:

    - Mẹ bà nó! Đây rồi ổng nằm một đống, đái ỉa một chỗ, ai lo được, Trời!

    Dục đáp:

    - Ông là anh cả, trưởng nam, ông phải lo chớ ông tính “bán cái” hả?

    - Mẹ!Con c. tao chứ trưởng nam. Cũng vì 2 chữ trưởng nam mà năm 75 ổng không chịu di tản vì ông bà già của ổng không chịu đi. Mẹ bà nó! Ngoại trừ sĩ quan cấp nhỏ như ông Bảng, ở tù ngắn hạn, Mỹ không nhận; còn ai ra tù cũng nạp hồ sơ xin điMỹ mà ổng không nộp vì bà già của ổng chỉ muốn ở với trưởng nam chứ không chịu ở với ôngBảng.

    - Bởi vậy tui với ông mới bốc cứt mà ăn.

    Dinh muốn gào lên: “Ba không xin đi diện H.O. vì bà Nội chỉ một phần; lý do chính là vì hai con đều trên 21 tuổi, không được chấp thuận. Lúc đó, chỉ vì thương bà Nội và thương hai con – và cũng vì Ba không biết được rằng Ba cứ qua Mỹ, từ từ Ba sẽ bảo lãnh bà Nội và hai con sang sau – mà Ba không đành đi Mỹ một mình. Ba đã quyết định sai; nhưng sự sai lầm đó, cũng như sự sai lầm của Ba năm 75 là do tình thương mà ra.” nhưng Dinh không nói được! Dinh vừa đau xót, vừa tủi thân, vừa giận hai thằng con thiếu giáo dục!

    Đây không phải là lần đầu tiên Dinh nhận ra sự thiếu giáo dục ở thế hệ trẻ. Ngay từ khi được ra tù, trên chuyến xe lửa về Nam, Dinh rất buồn lòng vì nhận thấy ngôn từ và hành động của những người trẻ trên xe lửa cũng như tại những ga xe lửa, đều khó chấp nhận. Về đến nhà, thấy Duy và Dục cũng ứng xử như những người trẻ vô học, Dinh rầy. Duy đáp: “Thời buổi này kiếm hột cơm đổ vô họng còn chưa có, ở đó mà lễ nghĩa, đạo đức!” Dinh bảo: “Con nên nhớ, ông bà mình dạy rằng: Đói cho sạch, rách cho thơm.” Duy gằn giọng: “Lời ông bà, lời thánh hiền, xưa rồi! Lời cách mạng là tiền. Tiền! Tiền!”  Dinh nghiêm giọng: “Con nói chuyện với Ba mà tại sao con dùng những lời thiếu giáo dục vậy?” Duy đáp tỉnh bơ: “Có ai giáo dục tui đâu mà thiếu với đủ?” Dinh nghẹn lời! Từ đó, Dinh cố tình tránh mọi va chạm với hai con.

    Lòng buồn vô hạn, nhưng khi nhận biết Duy và Dục, mỗi đứa một đầu, cố sức khiêng Dinh vào nhà thương, Dinh lại cảm thấy thương con vô vàn. Dinh muốn khóc nhưng khóc cũng không được, rồi Dinh từ từ lịm vào hôn mê.

    Khi tỉnh lại, Dinh cảm biết thân người bên phải có thể cử động và có vật gì chụp vào miệng và mũi chàng. Dinh nghe giọng Bảng lay gọi chàng rồi Dinh nghe tiếng Duy:

    - Dục! Mày ở đây với ông Bảng, tính gì cho ổng thì tính; tao về lục hình của ổng, đem đi phóng lớn để lo hậu sự cho ổng.

    Dinh muốn gào lên“Con ơi! Ba chưa chết, con ơi!” nhưng nói không được. Bảng nạt Duy:

    - Hậu sự cái gì? Để tao điện qua cho cô mày.

    Duy đáp:

    - Bệnh của ổng như vậy tiền núi cũng không chữa lành nói gì xin bà Huyền. Mỗi lần xin bả cho có vài trăm đô chớ mấy!

    Bảng im lặng, bấm số. Sau khi Bảng cho hay Dinh bị stroke Huyền khóc nức nở. Chờ cho cơn xúc động của Huyền dịu xuống, Bảng nói:

    - Chị à! Chị cố bình tĩnh nghe em nói. Ba Má không còn, chỉ còn chị, nếu không cho chị biết, nhỡ anh Dinh có gì thì em làm sao đây?

    Nghe Bảng nói đúng, Huyền tự nhủ nàng phải bình tĩnh và sáng suốt để cứu Dinh. Nàng hỏi:

    - Hiện tại bác sĩ đang làm gì cho anh Dinh?

    - Bác sĩ nói trễ quá, không làm gì được. Họ cho ảnh ra phòng ngoài, nằm chung với mọi người rồi.

    - Trời! Tình trạng của Dinh phải nằm ở phòng hồi sinh chứ tại sao lại nằm phòng ngoài?

    - Em đâu biết.

    - Tìm bác sĩ, yêu cầu bác sĩ trực tiếp nói chuyện với chị, nhanh đi.

    Bảng “dạ”. Huyền không nghe được gì nữa. Một lúc sau, Huyền nghe giọng Bảng nói với ai, văng vẳng: “Chị tôi mới là người có khả năng thanh toán phí tổn bệnh viện. Bác sĩ không nói chuyện với chị tôi thì tôi với hai thằng này là 3 mạng cùi chứ làm sao tụi tôi trả được.” Huyền nghe giọng lạ “Allo”. Huyền hỏi:

    - Thưa, có phải bác sĩ là người đã khám nghiệm cho em tôi, Trần Dinh, không ạ?

    - Vâng.

    - Thưa, theo bác sĩ thì em tôi có khoảng bao nhiêu phần trăm hy vọng sống sót?

    - Một phần trăm. Nhưng bệnh viện này không đủ phương tiện để giúp ông Dinh.

    - Nếu vậy thì xin bác sĩ làm ơn chỉ cho tôi bệnh viện nào có thể cứu em tôi?

    - Nếu có phương tiện tài chánh, bà nên đưa ông Dinh đến bệnh viện Chợ Rẫy.

    - Thưa, nhờ bác sĩ giúp bằng cách cho một xe hồng thập tự đưa em tôi đến Chợ Rẫy, được không ạ?

    Một thoáng chần chừ. Huyền tiếp:

    - Thưa bác sĩ, người em kế của Dinh là Bảng, người mà lúc nãy đã yêu cầu bác sĩ nói chuyện với tôi đó. Bảng sẽ làm giấy cam kết với bệnh viện rằng Bảng và tôi sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm về tất cả mọi phí tổn mà bệnh viện đã cung cấp cho Dinh.

    - Vâng, nếu thế thì không gì trở ngại.

    - Xin cảm ơn bác sĩ.

    Vừa trao điện thoại lại cho Bảng bác sĩ vừa nói:

    - Xong, anh vào gặp tôi ngay.

    Sau khi “đăng ký” cho Dinh vào bệnh viện Chợ Rẫy, Bảng bảo Duy và Dục ở lại trông chừng Dinh, Bảng đi có việc. Bảng đến ngân hàng nhận tiền Huyền gửi về bằng Moneygramme nhưng Bảng không cho Duy và Dục biết.

    Khi trở lại bệnh viện, Bảng thấy Dinh đã được đưa ra phòng ngoài, cũng nằm chung với những bệnh nhân khác. Thấy Dinh nằm cùng giường, ngược đầu với một bệnh nhân khác, Bảng trách:

    - Duy, Dục! Sao hai đứa mày không xin cho Ba tụi bây nằm riêng một giường mà để ổng nằm hửi cẳng người ta, tội quá vậy?

    Duy đáp như Dinh là người xa lạ:

    - Ổng nằm đây không lâu đâu mà lo.

    - Mày nói cái gì, mày nói lại tao nghe?

    - Thì bác sĩ ở đây cũng nói giống bác sĩ ở Đồng Nai chứ khác gì đâu. Ông không cho tui về rửa ảnh lo hậu sự cho ổng thì tui điện cho vợ tui, biểu vợ tui lục hình, đem đi rửa lớn, mua nhang đèn sẵn, thì cũng vậy thôi.

    Những lời đối đáp của Duy và Bảng khiến Dinh chỉ muốn chết ngay tức thì! Riêng Bảng, khi nghe Duy nói rồi nhìn Dinh, Bảng cảm thấy đau lòng. Chỉ vì tình gia đình mà Dinh phải chịu hết khổ lụy này đến oan khiên nọ. Bảng cảm thấy cay cay ở mắt khi thầm nghĩ: Thôi, nếu số phần của anh chỉ đến đây thì biết đâu đó cũng là một giải pháp tốt; bởi vì, bên kia cuộc sống, có thể con người không quá thủ đoạn và đê tiện như trong đời sống này!

    Sau giây phút mủi lòng, Bảng bảo Duy và Dục ở lại trông chừng Dinh, Bảng phải về, hôm sau Bảng sẽ trở lại. Bảng trở về Đồng Nai thanh toán tiền bệnh viện nhưng Bảng không muốn tiết lộ cho Duy và Dục biết.

    Bảng vừa rời bệnh viện, Duy bảo Dục ra phía trước bệnh viện mua thức ăn. Dục vừa đi thì y tá vào phòng, hỏi:

    - Có ai tên Trần Duy ở đây không?

    - Có. Tui.

    Người đàn ông phía sau người y tá bước đến gần Duy:

    - Ba em tên gì?

    - Trần Dinh.

    - Em có người bà con nào bên Mỹ không?

    - Có. Chị của Ba tui.

    - Bà ấy tên gì?

    - Trần thị Huyền.

    Vừa nói người này vừa ra dấu cho Duy bước ra sân:

    - Bà Huyền emailed thông báo bệnh trạng của ông Dinh cho những người cùng khóa Sĩ Quan Thủ Đức với ông Dinh. Những người này góp được một số tiền và anh tôi điện về, bảo tôi ứng trước số tiền đó để giúp ông Dinh.

    Sau khi nhận tiền, Duy tìm Dục, bảo Dục trông chừng Dinh, Duy phải đi gấp. Duy đến những nơi ăn chơi mà lúc nào Duy cũng mơ ước mỗi khi Duy lái xe ôm đưa khách đến.

    Hôm sau Bảng trở lại gặp lúc Duy đang xin bác sĩ cho Dinh xuất viện. Bảng cản:

    - Không được. Bệnh của Ba mày như vậy mà mày đem ổng về nhà để ổng chết hả?

    Duy muốn đem Dinh về vì Duy nghĩ tình trạng của Dinh, nếu sống được thì cũng chỉ báo đời thôi; càng để Dinh nằm bệnh viện lâu bao nhiêu thì lệ phí càng tăng bấy nhiêu. 650 đô-la mà những cựu Sĩ Quan Thủ Đức gửi về biếu Dinh, tối hôm qua Duy “đi thoải mái” “chỉ tốn có 100 đô chớ mấy”! Duy lại vừa điện thoại cho vợ của Duy đến, lấy 100 về dẫn các con đi ăn nhà hàng và mua áo quần; 50 đô-la Duy trả lại cho vợ Duy vì vợ Duy đã tốn tiền sang hình và mua nhang đèn để lo hậu sự cho Dinh. 400 đô-la còn lại, Duy dự tính trả tiền nhà thương khoảng 2, 3 trăm, số tiền còn lại Duy sẽ mua một “quần bò” thật “xịn” để tặng con nhỏ làm ở quán bia ôm mà Duy thích. Lý do là như vậy, nhưng Duy lại đáp khác:

    - Đem ổng về có gì vợ tui lo giúp để tui còn đi làm ăn chứ bộ tui ở trong này để vợ con tui chết đói sao?

    - Thì mày với thằng Dục thay phiên nhau ở đây.

    - Ông đâu có bưng cứt đổ đái cho ổng. Ông đâu có ở đây để hửi mùi hôi mùi thúi và nghe người bệnh rên la cả đêm.

    Bảng xoay sang bác sĩ:

    - Xin lỗi bác sĩ, chị tôi bên Mỹ điện về, bảo tôi nhờ bác sĩ giúp cho anh tôi được nằm một phòng riêng.

    - Ở đây không bệnh viện nào có tiêu chuẫn như vậy.

    - Cùng lắm thì xin bác sĩ cho anh tôi nằm một mình một giường. Bác sĩ giúp giùm, chị tôi không quên ơn bác sĩ.

    Câu cuối Bảng nói rất nhỏ, chỉ vừa đủ cho bác sĩ nghe; và cũng chính câu cuối cùng của Bảng khiến bác sĩ gật đầu:

    - Vâng. Tôi có thể giúp anh điều đó.

    Bác sĩ rời phòng. Bảng hỏi Duy:

    - Thằng Dục đâu?

    - Nó cũng lo đi làm ăn chớ bộ nó ở đây lo ôm xác ổng sao!

    - Mày ăn nói mất dạy. Ngày nào Ba mày có quyền có chức thì Mẹ con mày dựa hơi; khi Ba mày đi tù, Mẹ mày lấy cán bộ, giao hai đứa mày cho Bà Nội mày nuôi. Bây giờ Ba mày trong tình cảnh này thì hai đứa mày chỉ mong cho ổng chết nhanh, phải không? Chờ đó, tao gọi cho cô mày.

    - Gọi cho bả làm đ. gì! Mẹ bà nó, cho nhỏ giọt, đ. thèm nhắc tên bả nữa!

    Không muốn đối đáp với đứa mất dạy, Bảng bấm số điện thoại. Sau khi nghe Bảng trình bày, Huyền bảo:

    - Bảng mở speakerphone, để gần tai bên phải của anh Dinh. Bảng cầm tay phải của anh Dinh và cố để ý phản ứng của anh Dinh.

    Khi Bảng báo cho Huyền biết mọi điều đã xong, Huyền vừa khóc vừa nói rất chậm:

    - Dinh ơi! Chị đây. Nếu chị nói gì mà Dinh nghe và hiểu được thì Dinh bóp tay Bảng, nha.

    Tiếng Bảng reo lên:

    - Đó, đó, ảnh bóp tay em.

    Những người thăm nuôi và những bệnh nhân nhẹ cùng phòng đều tò mò vây quanh giường của Dinh. Huyền tiếp:

    - Dinh biết ai nắm tay Dinh không?

    Nhiều tiếng reo lên: “Ối Giời! Ông ấy biết đấy.” 

    Huyền tiếp:

    - Mấy anh Thủ Đức bên này và bên Úc chung lời cầu nguyện cho Dinh. Dinh gắng vượt qua, nha.

    Bảng không kềm được xúc động:

    - Anh Dinh nghe và biết hết, chị à.

    Huyền tiếp:

    - Dinh nên ở lại bệnh viện để bác sĩ lo cho Dinh, nha.

    Lại nhiều tiếng reo: “Đấy, đấy, ông ấy nắm chặt tay người em. Thế có tội không!”  

    Huyền lại tiếp:

    - Dinh! Như vậy là dấu hiệu tốt. Bảng sẽ yêu cầu bác sĩ, bằng mọi cách, chữa cho Dinh…

    Cuộc điện đàm vừa đến đây thì phải ngưng, vì người nằm cùng giường với Dinh được chuyển sang nằm chung với bệnh nhân khác. Và một bệnh nhân trẻ, tên Diên, bị băng nơi chân, được đưa vào.

    Duy và Dục ra ngoài ăn tối. Bảng tìm vị bác sĩ – mà lúc nãy Bảng yêu cầu ông ấy giúp cho Dinh được nằm riêng một giường – để “trả ơn”, như Bảng đã hứa. Sau đó, Bảng cũng tìm nhân viên trực, tặng họ tiền; vì kinh nghiệm cho Bảng biết rằng nếu không có thủ tục “đầu tiên” thì đêm hôm Dinh có bề gì nhân viên trực sẽ không báo cho bác sĩ.

    Khi trở lại phòng bệnh, Bảng thấy một nhân dáng rất quen đang hối hả đi về phòng bệnh. Nhìn kỹ, Bảng nhận ra đó là Trang, vợ cũ của Dinh. Chưa biết Trang đến phòng bệnh để làm gì, nhưng Bảng không muốn Dinh bị xúc động khi gặp lại Trang. Bảng gọi:

    - Chị Trang!

    Trang quay lại:

    - Ủa, chú làm gì ở đây?

    - Em cũng muốn hỏi chị câu đó.

    - Thằng con của tôi bị tai nạn xe gắn máy, đưa vào đây. Tôi từ Long An, nghe tin vội về thăm cháu. Còn chú?

    Sau khi nghe Bảng kể qua bệnh trạng của Dinh, Trang khóc. Bảng nói:

    - Chị với anh Dinh hết duyên hết nợ thì thôi; chỉ tội nghiệp cho anh Dinh là nếu anh Dinh bị xúc động mạnh trong tình trạng này thì anh ấy sẽ khó qua. Em yêu cầu chị là chị cố gắng đừng cho anh Dinh biết có sự hiện diện của chị trong phòng bệnh.

    - Chú cho tôi thăm cháu xem tình trạng của cháu như thế nào rồi tôi sẽ liên lạc với chú.

    - Chị ghi số điện thoại của em đi. À, chị cũng phải lánh mặt thằng Duy với thằng Dục nữa, nha. Hai thằng đó mất dạy lắm.

    Trang vừa ghi số điện thoại vừa hỏi:

    - Anh Dinh và Duy, Dục hiện sống ở đâu, chú?

    - Vẫn ở kinh tế mới đó…

    Bảng chưa dứt câu, Trang chợt nghe giọng Tâm, chồng của nàng:

    - Ôi Giời, Trang! Em đến sao không vào thăm con ngay mà lại ở đấy? Nó hỏi em hoài. Còn mấy đứa kia đâu, sao em không đưa các con đến thăm anh nó?

    *****

    Vừa đẩy chiếc xe lăn có Dinh ngồi bên trong, Bảng vừa nói:

    - Anh em mình ra nghĩa trang thăm mộ, cúng tạ Ba Má và mấy đứa em xong, mình trở về để người ta làm “vật lý trị liệu” cho anh, nhen.

    - Bảng cúng chứ anh đâu lạy được.

    - Thì anh ra với em cho “dzui”.

    Đến bên nghĩa trang nho nhỏ của gia đình, Dinh chợt nhớ câu Huyền emailed cho các bạn Thủ Đức của Dinh - lúc Dinh vừa được chuyển đến bệnh viện Chợ Rẫy - rồi những người bạn này chuyển email của Huyền về cho Dinh, sau khi Dinh rời bệnh viện: “Mấy mươi năm qua, bao nhiêu mồ hôi và nước mắt của tôi trên vùng đất Tự Do này chỉ đủ xây một nghĩa trang rất ‘hoành tráng’ nơi vùng kinh tế mới để chôn Cha Mẹ và các em tôi! Bây giờ tôi lại sắp chôn thêm một đứa em nữa! ‘Tạ ơn’ Bác và Đảng!!” Dinh thở dài, cảm thấy xót thương cho người chị, cuối tháng 4 năm 1975, vẫn còn dám “vượt sóng” trở về tìm gia đình mà không thành. Mỗi lần nghĩ đến Huyền không thể nào Dinh không hồi tưởng lại những ngày tháng êm đềm, hạnh phúc xa xưa khi cả hai chị em cùng học Luật, trước khi Dinh bị động viên. Dinh đang nhớ lại hình ảnh hốt hoảng, xáo trộn trong sân trường Luật vào hôm sinh viên Lê Khắc Sinh Nhật bị ám sát thì tiếng Bảng đưa Dinh trở về hiện tại:

    - Anh Dinh! Anh xem bà nào mà trông quen quá vậy?

    Dinh nhìn ra đường mòn, hơi ngờ ngợ, không tin vào mắt chàng. Người phụ nữ đến gần, lấy nón xuống, nhìn Dinh. Dinh gằn giọng:

    - Cô còn gặp tôi để làm gì?

    - Em biết em có lỗi với anh nhiều lắm. Nhưng anh nên cho em nói với anh những điều cần nói; nhỡ mai này chúng ta không thể gặp lại nhau.

    - Gặp lại để làm gì?

    - Anh cho em thố lộ với anh một lần, chỉ một lần thôi.

    - Vâng. Cô muốn nói gì, nói đi.

    Bảng lẻn đi về. Trang ngồi lên phiến đá nhỏ:

    - Những lời của em không phải là những lời chạy tội mà chính là nỗi thống khổ của người vợ tù cải tạo.

    - Chuyện cải tạo, cải tiết xưa rồi, đừng nhắc nữa.

    - Vâng. Em sẽ tôn trọng yêu cầu của anh. Ngược lại em cũng yêu cầu anh cho em được nhắc lại chỉ một chi tiết thôi.

    - Chi tiết nào?

    - Anh nhớ lần em đến trại Yên Bái thăm anh không?

    Dinh gật đầu. Trang tiếp:

    - Anh còn nhớ là hôm đó anh quyết liệt từ chối, không muốn nghỉ qua đêm với em trong “lán” cạnh cổng trại hay không?

    Làm thế nào Dinh có thể quên được. Trước khi Trang được phép thăm nuôi, Dinh đã cố gắng thuyết phục bạn tù thực hiện những buổi văn nghệ đặc sắc. Dinh giả vờ hăng say, vui thích vừa đàn vừa hát những nhạc phẩm sặc mùi “cách mạng”. Dinh thực hiện mọi phương thức để tạo niềm tin nơi ban quảng giáo – chỉ với mục đích sẽ tìm cơ hội vượt ngục. Sự thay đổi thái độ của Dinh làm bạn tù bất mãn, nhưng ban quảng giáo lại hài lòng. Nhờ sự hài lòng này, khi Trang ra thăm, ban quảng giáo cho Dinh một đặc ân là Dinh được ở lại “lán” với vợ một đêm. Dinh cương quyết từ chối. Nhưng... Trang tiếp:

    - Chính em là người đã khóc và năn nỉ anh; vì em thương anh, em nhớ anh, em chỉ muốn được ôm anh trong vòng tay.

    - Nhắc lại để làm gì?

    - Em chỉ muốn anh biết sự thật.

    - Sự thật gì? Cô lấy chồng cán bộ, tôi mừng cho cô.

    - Anh đừng tàn nhẫn với em.

    - Ai tàn nhẫn với ai?

    - Anh Dinh! Anh phải biết rõ nguyên do trước khi anh phán xét.

    - Rồi, Mẹ con cô nghèo khổ, vì trước 75 tôi là 1 sĩ quan sạch. Cô lấy cán bộ vì cô chịu cực không được. Còn gì nữa?

    Trang gục xuống:

    - Còn một đứa con mà anh không biết, anh ơi!

    - Tôi vừa về nhà sau thời gian quá dài nằm nhà thương, cô đừng đày đọa tâm hồn tôi nữa!

    Trang đứng lên, đổi giọng:

    - Tôi sẽ trở lại trong vài phút.

    Trang trở lại với Diên. Thấy Diên, Dinh ngạc nhiên đến sửng sờ. Diên có đôi mắt buồn buồn của Dục và đôi chân mày rậm, sóng mũi cao, cái cằm nhòn nhọn của Duy. Trang bảo Diên chào “Bác”. Diên chào. Dinh đưa tay phải ra, Diên lễ phép bắt tay Diên với cả hai tay và miệng hơi mỉm cười. Ôi! Nụ cười sao lại y như nụ cười mà ngày xưa Dinh thường thấy mỗi khi Dinh soi gương! Trang bảo:

    - Con ra tiệm bi-da chơi, chờ Mẹ một tý nữa thôi.

    Diên lại chào Dinh một lần nữa rồi đi. Trang hỏi:

    - Anh nghĩ gì?

    - Thú thật với cô tôi không hiểu tôi nghĩ gì!

    - Sau lần đi thăm nuôi anh ở Yên Bái, em không “to be”. Em vừa phải chống chọi với những cơn nôn mửa mỗi ngày, vừa chịu đựng những lời đay nghiến, chửi rủa thậm tệ của Má anh và vừa suy nghĩ xem có nên cho mọi người biết sự thật hay là phá thai? Em không thể phá thai, vì em đạo Thiên Chúa. Cuối cùng em cho Má anh biết sự thật. Má anh lý luận: Ba anh cũng tù cải tạo, khi Ba anh chết Má anh còn không được tin chứ đừng nói đến chuyện Ba anh được phép nghỉ qua đêm với Má anh. Chú Bảng là sĩ quan cấp nhỏ, cũng đi tù mà thiếm Bảng không được ở lại qua đêm; còn anh là một sĩ quan cao cấp, em là cái thớ gì mà được ở qua đêm với anh? Má anh than với mọi người rằng em đã lấy Tâm, một cán bộ thường theo tán tỉnh em mà quanh xóm ai cũng biết. Anh Dinh! Em có thể chịu cực nhưng em không thể chịu nhục.

    - Má tôi mất lâu rồi, nên để Má tôi yên.

    - Em không đổ lỗi cho Má anh. Em chỉ trình bày sự việc.

    - Rồi, cô bất mãn Má tôi, cô đi. Nhưng tại sao cô lại bỏ Duy và Dục cho Má tôi nuôi?

    - Sau 75, gia đình bên anh sa sút như thế nào thì gia đình bên em cũng không thể khác được. Nhưng ít ra, bên anh còn có chị Huyền giúp đỡ. Em nghĩ, Duy và Dục ở lại, trước nhất là hai con có được miếng ăn; hai nữa là Duy và Dục có thể đỡ đần Má anh những lúc Má anh cần. Thứ ba là em không biết Tâm đã hay tin em có thai hay chưa? Nếu Tâm biết em có thai, chưa chắc Tâm chịu lấy em.Nếu Tâm không lấy em thì làm thế nào em nuôi được cả 3 đứa con? Anh tưởng em không đứt ruột khi phải xa hai con hay sao? Sau đó, ba lần em lén Tâm gửi tiền về giúp Má anh thì cả ba lần Má anh đều từ chối.

    - Chuyện cô gửi tiền cho mà Má tôi từ chối, Má tôi có cho tôi hay và tôi nghĩ Má tôi hành động đúng.

    Trang mũi lòng, khóc. Một lúc lâu lắm, Dinh hỏi:

    - Chồng cô có biết chuyện của Diên không?

    - Dạ, không. Sau khi em lấy Tâm, em năn nỉ Tâm xin thuyên chuyển thật xa để chôn vùi quá khứ. Khi sinh Diên em cho tiền bác sĩ và y tá, yêu cầu họ xác nhận Diên bị sinh thiếu tháng.

    - Hiện tại Diên làm gì?

    - Dạ, Diên vừa tốt nghiệp đại học, ngành tin học.

    - Tại sao mãi đến nay cô mới cho tôi biết sự thật về Diên?

    - Nếu anh vẫn khỏe mạnh và nếu em không thấy anh trong trạng thái hôn mê lúc ở nhà thương thì có lẽ em sẽ không tiết lộ.

    - Sự tiết lộ này có mục đích gì?

    - Dạ, mục đích thứ nhất, em muốn minh oan với anh; nhưng em không xin anh tha thứ. Mục đích thứ nhì, em muốn hỏi ý kiến anh xem em có nên cho Diên biết sự thật hay không?

    Sau một lúc nhíu mày suy nghĩ, Dinh đáp:

    - Thôi, hãy để cuộc sống của Diên phẳng lặng và tươi đẹp như vậy.

    - Em cảm ơn anh. Chiều rồi, em phải về.

    - Vâng.

    Tần ngần một lúc, Trang để tay lên vai Dinh:

    - Anh cho em đẩy xe anh vào nhà, nha.

    - Thôi, tôi tự lo được.

    - Lúc trẻ, em cùng anh đi không trọn đoạn đường. Bây giờ già, anh cho em đi cùng anh một khoảng ngắn của đoạn đường còn lại, nha, anh.

     Khi Trang đẩy chiếc xe lăn của Dinh đến lề quốc lộ, cạnh tiệm bi-da, Dinh ra dấu cho Trang dừng xe, rồi bảo:

    - Cô vào bảo Diên ra đón xe về kẻo trễ.

    Biết Dinh muốn thấy Diên một lần nữa, Trang quay đi.

    Khi Diên chào, bắt tay từ giã Dinh, Dinh nhìn vào mắt Diên – chính lúc đó Dinh cảm nhận được niềm thương yêu vô bờ dâng ngập trái tim chai sạn của chàng. Dinh bịn rịn, không muốn rời tay Diên.

    Nhưng, chiếc xe đò dừng lại.

    Xe đò từ từ lăn bánh. Dinh nhìn theo chiếc xe với tất cả xót xa và thương cảm như những lần Dinh nhìn theo Trang sau mỗi lần nàng đến trại tù thăm nuôi chàng. Vừa khi đó, từ tâm thức buồn thảm của Dinh, giòng âm thanh xưa vọng về: “Giọt nước mắt thương con, con ngủ Me mừng... Ôi! giòng nước mắt trong tim chảy lai láng vào hồn nửa đêm gọi đến mình... Giọt nước mắt thương em, trên vận nước điêu linh. Giọt nước mắt không tên, xin để lại Quê Hương...” (2)

    Khi xe đò khuất ở khúc quanh, Dinh kín đáo đưa tay thấm nước mắt rồi tự lăn chiếc xe dọc theo lề đường…

    ĐIỆP-MỸ-LINH

    1.- Nguồn Mến Yêu của Hoàng Trọng

    2.- Nước Mắt Cho Quê Hương của Trịnh Công Sơn


    Thiệt nà đau nòng …?!😲🤔😅

    • Trong giờ lịch sử của một lớp trường trung học phổ thông, cô giáo dạy sử như thường lệ ôn bài cũ trước khi giảng bài mới.
      -Bây giờ cô ôn bài cũ trước khi giảng bài mới. Dũng cho cô biết Liễu Thăng bị chém ở đâu?
      -Dạ thưa cô, Liễu Thăng bị chém ở cổ ạ.
      Cả lớp cười ồ, Cô giáo lắc đầu cố nén tiếng cười.
      -Vậy em nói cho cô biết: Ai đã chém Liễu Thăng?
      -Dạ, thưa cô, ai chém thì em không biết nhưng không phải em!
      Cô giáo mất hết kiên nhẫn.
      -Em không hiểu tý gì bài đã học, cô cho em 0 điểm.
      Sáng hôm sau trong lúc ăn sáng, ông bố kiểm tra phiếu điểm của con, ông phát hiện ra Dũng bị 0 điểm môn Sử
      -Vì sao như thế, ông quắc mắt hỏi.
      Dũng ấp úng trả lời
      -Dạ, hôm qua cô giáo hỏi ai đã chém Liễu Thăng, con nói không biết nên cô cho con 0 điểm.
      Ông bố tức lồng lộn đẩy con lên xe, lái đến trường. ông vào gặp thầy hiệu trưởng vừa nói lý do tại sao con ông bị 0 điểm môn Sử. Cô giáo được mời lên phòng hiệu trưởng, trước mặt thầy, cô và bố, Dũng được yêu cầu cho biết vì sao bị 0 điểm. Dũng trả lời y chang câu đã trả lời với bố sáng nay.
      Vốn là một quan chức lớn trong tỉnh, ông hiệu trưởng cũng rất nể sợ, ông bố đã không kìm được cơn giận quát lớn
      -Cô dạy dổ kiểu gì thế, tại sao chỉ vì con tôi không biết ai chém Liễu Thăng mà cô cho nó 0 điểm. Đáng ra nếu vụ việc nghiêm trọng cô phải báo bên công an hình sự, họ sẽ lập chuyên án điều tra để tìm thủ phạm mới đúng chứ!
      Cô giáo sững sờ chưa kịp trả lời thì thầy hiệu trưởng vốn rất sợ bị mất điểm thi đua vội cười nịnh với ông bố Dũng rồi phân trần
      -Dạ, anh Hai đã chỉ đạo thì chúng em rút kinh nghiệm ạ. Thôi anh Hai đi làm kẻo trể, để vụ này em xử lý nội bộ, rút kinh nghiệm. xin anh hết sức thông cảm cho. Em xin đa tạ.
      Ông bố vùng vằng bước ra xe hơi còn nói vọng lại
      -Chỉ một lần duy nhất thôi đấy, lần này tôi thông cảm nhưng sẽ không có lần hai đâu nhé.
      Thầy hiệu trưởng cúi đầu dạ vâng.
      Khi trong phòng chỉ còn lại hai người, thầy hiệu trưởng mới nói với cô giáo
      -Sao cô đem ba cái chuyện đâm chém ra hỏi học trò chi vậy, nó làm cho phụ huynh người ta bức xúc đó, rút kinh nghiệm lần sau thận trọng nhé. Thôi cô về lớp đi. Cô giáo mới bước mấy bước chưa ra tới cửa thầy hiệu trưởng gọi giật lại
      -A mà này, thế thì cái thằng Liễu Thăng đang học lớp nào vậy, bị chém có nặng không mà tôi không nghe ai báo cáo hết vậy ?!
      Sưu tầm

      Inline image




--
====================================================================
Trên Facebook :
http://www.facebook.com/DaiHocKhoaHocSaiGon
====================================================================
 
Bạn đã nhận được bài viết này vì bạn đã đăng ký vào Nhóm "KhoaHocSG" của Google Groups.
* Để đăng bài lên nhóm này, hãy gửi email đến "khoa...@googlegroups.com"
* Để RÚT TÊN ra khỏi nhóm này, gửi email đến "khoahocSG+...@googlegroups.com"
* Để có thêm tuỳ chọn (preference set up), hãy truy cập vào nhóm này tại: http://groups.google.com/group/khoahocSG?hl=vi
---
Bạn nhận được thư này vì bạn đã đăng ký vào nhóm Google Groups "KhoaHocSG".
Để hủy đăng ký khỏi nhóm này và ngừng nhận email từ nhóm, hãy gửi email đến khoahocsg+...@googlegroups.com.
Để xem cuộc thảo luận này, hãy truy cập vào https://groups.google.com/d/msgid/khoahocsg/CH2PR02MB658105ECB54B793C9CD6FB0FFC46A%40CH2PR02MB6581.namprd02.prod.outlook.com.
Reply all
Reply to author
Forward
0 new messages