Fwd: ĐIỂM TIN DIỄN ĐÀN 31-03-2026 (SỐ 059-2026)

1 view
Skip to first unread message

Giu Tran

unread,
Mar 31, 2026, 11:46:35 AM (5 days ago) Mar 31
to


---------- Forwarded message ---------
From: soan....@hotmail.com <soan....@hotmail.com>
Date: Tue, Mar 31, 2026 at 4:01 AM
Subject: ĐIỂM TIN DIỄN ĐÀN 31-03-2026 (SỐ 059-2026)
To:



GOOD MORNING VIET NAM - CANADA - USA

ĐIỂM TIN DIỄN ĐÀN 31-03-2026  (SỐ 059-2026)


Image insérée



MỤC LỤC

  1. BÀI THƠ MỪNG SINH NHẬT EM
  2. HỒI SINH TỪ TRO TÀN
  3. Tế bào ung thư bị tiêu diệt trong 42 ngày bằng ly nước ép đã thành công .
  4. NHÌN NGƯỜI MÀ NGHĨ TỚI TA.
  5. ĐẤT NƯỚC NÀO?
  6. CẢI CÁCH RUỘNG ÐẤT !
  7. Âm nhạc miền Nam và những ngày xưa thân ái 
  8. Tưởng nhớ King Bee Nguyễn Văn Nghĩa
  9. Trời Mưa Nhớ Bạn
  10. ĐỒNG ĐỘI ĐỒNG MÔN


BÀI THƠ MỪNG SINH NHẬT EM

Viết cho em vần thơ mừng sinh nhật.

Khi nắng vàng đang nhảy nhót trên cây

Giọt sương sớm khẽ giật mình thức giấc

 

Đón niềm vui đong ánh mắt dâng đầy

 

        Sinh nhật em, anh gần mà như xa

                                Không có hoa hồng, không bánh, không quà

 

Chỉ có lời thơ ngây ngô, ngọng nghịu

 

Mong em hiểu dùm,đừng trách chi ra.

 

        Cứ mỗi sáng anh thấy mình hạnh phúc

Tin nhắn em mang lời chúc mỗi ngày

 

Lời dung dị nhưng thắm tình thân thiết

 

Miệng anh cười mà sóng mắt anh cay...

 

        Cám ơn em giữa dòng đời bận rộn

Vẫn không quên mang tới những niềm vui

 

Để anh thấy đời còn nhiều người tốt

 

Luôn bên anh chia sẻ những ngọt, bùi...

 

 

       Gửi tới em những lời yêu thương nhất

Sự nghiệp em sẽ mãi rộng thênh thang

 

Thêm một tuổi thêm nhiều niềm vui mới

 

Đường em đi luôn rực rỡ nắng vàng.

    

              San Jose  sáng 4 -8-2025

                                   Duy Văn 

 



HỒI SINH TỪ TRO TÀN
  • Năm mươi năm nhìn lại và tiếp-nối

    Chương trình của nhóm Viet-American

    Lễ Tưởng Niệm 74 Anh Hùng Tử Sĩ Hoàng Sa và chương trình văn nghệ "Ta Còn Sống Đây":

    https://youtu.be/vxQZMA6Ybrs?si=A3whTYYqKyua4Xpn

    Khi năm 2025 khép lại, lịch sử Việt Nam tròn năm mươi năm kể từ biến cố 1975 – một mốc thời gian không chỉ đánh dấu sự chấm dứt của một chính thể, mà còn mở ra một thời kỳ thử thách toàn diện đối với thân phận và phẩm giá của con người Việt Nam.

    Một nền tảng cộng hòa – dân chủ tuy còn non trẻ của Miền Nam Việt Nam đã bị kết thúc bằng bạo lực và cưỡng chiếm. Nhưng điều tiếp theo không phải là hòa bình, mà là một guồng máy cai trị độc tài, được dựng lên để kiểm soát xã hội bằng sợ hãi, cưỡng chế và dối trá.

    Năm 2026 sắp đến lại là một mốc năm mươi năm khác: năm mươi năm kể từ Tết Nguyên Đán 1976 – cái Tết Nguyên Đán đầu tiên sau biến cố 1975 - giữa lòng Âu Châu, tại Paris, những sinh viên Việt-Nam tự do đã chọn cho mình một lời tuyên ngôn ngắn gọn mà bất khuất: “Ta Còn Sống Đây.” Bản Quốc ca Việt-Nam Cộng-Hòa đã hát cùng nước mắt.

    Giữa hai con số năm mươi ấy là toàn bộ một hành trình lịch sử chưa bao giờ đứt đoạn: giữa hủy diệt và phản kháng, giữa áp bức và sinh tồn, với tro tàn và phục sinh – tất cả diễn ra song song với cường độ tàn khốc và mãnh liệt.

    ______________

    I. Tro tàn do guồng máy cai trị

    (Gọi đúng tên sự thật để trả lại công lý cho lịch sử)

    Những rụi tàn từ bom đạn trong suốt 20 năm cuộc chiến không so sánh được với những gì đã bị hủy diệt, thiêu đốt bởi kẻ cầm quyền sau cái gọi là “hòa bình”. Tro tàn đó phủ lên đất nước Việt Nam suốt nửa thế kỷ qua không phải là hệ quả tất yếu của chiến tranh, mà là sản phẩm trực tiếp của một chế độ cai trị phi nhân.

    Một chế độ đã:

    * Giam cầm con người không qua xét xử - trại “cải tạo”, “tù nhân chính trị”, “tù nhân lương tâm” – biết bao thân phận đã bị đốt trụi …

    * Tước đoạt quyền sở hữu và sinh kế bằng những chiến dịch cưỡng đoạt có hệ thống. – “đánh tư sản”, “kinh tế mới”, “hợp tác xã”, “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” – biết bao mái nhà, cơ sở, tài nguyên đã bị đốt trụi …

    * Biến luật pháp thành công cụ của quyền lực thay vì công lý – “điều 4 hiến pháp”, “luật hình sự”, “luật an ninh mạng” – biết bao giá trị nhân văn, nhân quyền, giá trị tinh thần đã bị đốt trụi …

    * Làm nghèo chữ nghĩa, bẻ cong lịch sử, và triệt tiêu tự do tư tưởng – “cải cách giáo dục”, “cách mạng văn hóa”, “văn hóa mới, con người mới” … nắm giữ mọi hình thức truyền thông, kiểm soát mọi hình thức tự do sáng tác, tự do nghiên cứu, tụ do phản bác – biết bao giá trị văn hóa dân tộc, tư tưởng bị đốt trụi …

    Hệ quả sâu xa nhất không chỉ là nghèo đói vật chất, mà là sự bào mòn đạo lý xã hội:

    nơi sự ngay thẳng trở thành nguy hiểm, nơi dối trá trở thành kỹ năng sinh tồn.

    Không chỉ con người mà lãnh thổ, lãnh hải cũng bị nạn chung: tài nguyên thiên nhiên bị hủi hoại, đất đai, biển đảo bị ngoại bang lấn chiếm, nắm quyền.

    Nói ra sự thật này không phải để nuôi hận thù, mà để chấm dứt một sự ngụy biện nguy hiểm: rằng mọi đau khổ chỉ là “quá khứ đã qua”

    Không. Tất cả những gì đã bị đốt trụi thành tro tàn này đều có nguyên nhân, có trách nhiệm, và có hậu quả kéo dài đến hôm nay. Lịch sử không tự gây tội ác mà chế độ gây ra tội ác.

    ______________

    II. Đấu tranh cho phục sinh

    (Nhân nghĩa song hành với trí dũng)

    Ngay trong khi guồng máy hủy diệt ấy vận hành với tất cả công suất của nó, người Việt không ngừng ý chí đấu tranh sinh tồn và khát vọng quang phục.

    Cuộc đấu tranh không đợi đến khi mọi thứ sụp đổ mới bắt đầu, mà diễn ra song song với chính quá trình bị hủy diệt – ngay từ năm 1975!

    * Trong nước: là nhiều cá nhân đã can đảm đứng lên dù bị sát hại, tù đày. Phần đông thì cố gắng giữ gìn các giá trị con người và dân tộc trong thinh lặng, chờ thời thế đổi xoay.

    * Trên đường vượt biên, vượt biển: là lựa chọn sinh tử cho tự do – một hình thức trưng cầu dân ý không cần giấy mực, kéo dài từ 1975 cho tới nay vẫn còn.

    * Nơi hải ngoại: là dựng lại đời sống từ tay trắng, không chỉ để tồn tại, mà để chứng minh một sự thật căn bản: con người Việt Nam có thể sống, sáng tạo và vươn lên mà không cần chủ nghĩa cộng sản.

    Tết Nguyên Đán 1976, chủ đề “Ta Còn Sống Đây” của Tổng Hội Sinh Viên Chống Cộng tại Paris không phải là lời an ủi, mà là tuyên ngôn của phục sinh.

    Đó là phục sinh dựa trên Nhân – không đánh mất nhân tính; trên Nghĩa – không phản bội lẽ phải; trên Trí – nhìn thẳng sự thật, không tự ru ngủ; và trên Dũng – dám trả giá để làm người tự do.

    Phải nói rõ: Có nhân nghĩa nhưng chỉ khi hội đủ trí dũng mới thắng được bạo tàn.

    ______________

    III. Nối-tiếp cuộc đấu tranh

    (Không thỏa hiệp với dối trá – không khoan nhượng với gian ác)

    Cuộc đấu tranh của người Việt chưa bao giờ ngưng từ năm 1975.

    Vì vậy, hôm nay, 50 năm của 1975-2025 và 50 năm của 1976-2026, không phải là “điểm bắt đầu”, mà là nhận diện để chống nguy cơ đứt đoạn.

    Nguy cơ ấy không đến từ đàn áp thô bạo, mà đến từ hậu quả của việc nhà cầm quyền qua 50 năm thiêu đốt, hủy hoại phẩm chất nhân văn:

    * Sự mệt mỏi kéo dài qua nhiều thế hệ.

    * Sự bình thường hóa bất công – hậu quả của việc “giáo dục định hướng”

    * Sự né tránh sự thật vì “sợ”, vì “an phận – hậu quả của hệ thống tinh vi “công an trị”

    Nhưng lịch sử cho thấy: không có phục sinh nào xây được trên nền dối trá và đớn hèn.

    Bởi vì:

    – Chế độ gây ra tro tàn vẫn còn tồn tại.

    – Con người trong nước vẫn chưa có tự do căn bản.

    Cho nên bước sang năm 2026, chúng ta cần-phải tiếp tục nối-tiếp cuộc đấu tranh!

    Không cần súng đạn, nối-tiếp từ các điều đơn giản – trong chính mỗi chúng ta - không cần súng đạn nhưng bạo quyền lại luôn hãi sợ. Đó là đạo đức của sự can đảm:

    * Can đảm gọi đúng tên cái ác.

    * Can đảm bảo vệ sự thật lịch sử.

    * Can đảm bảo vệ ý thức tự do và tấm gương trách nhiệm cho thế hệ sau.

    Thế hệ đi trước đã trả giá bằng tù đày, lưu vong, và mất mát để giữ lửa từ đống tro tàn. Thế hệ hôm nay có bổn phận không để ngọn lửa ấy tắt trong câm lặng của màn đêm bạo quyền.

    Phục sinh trọn vẹn không chỉ là phần thân xác được sống, mà là phần linh hồn không bị khuất phục.

    Đối với những ai không sinh ra trong dòng lịch sử đen tối của Việt Nam, cần hiểu rõ điều này:

    Người Việt tị nạn và cộng đồng Việt hải ngoại không tranh đấu vì hoài niệm, cũng không vì thù hận.

    Cuộc tranh đấu ấy xuất phát từ một chữ ngắn mà thiêng liêng – “ĐỂ SỐNG” – to live a life – không phải sống sót, mà là sống với phẩm giá:

    * Để sống với các quyền sống căn bản của một con người.

    * Để sống dưới một đất nước nơi quyền lực không đứng trên luật pháp.

    * Để sống không phải chọn giữa im lặng cho tồn tại, không phải rời bỏ quê hương cho làm người đúng nghĩa.

    Nhiều người đã không sống sót để kể lại. Nhiều gia đình đã mất tất cả chỉ để giữ quyền làm người.

    Vì vậy, khi người Việt nói về tự do, dân chủ, nhân quyền, đó không phải là khái niệm trừu tượng, mà là vấn đề sinh tồn của cá nhân và của cả một dân tộc.

    Hiểu điều này để biết cần tôn trọng sự thật, và cần lắng nghe những tiếng nói từng bị buộc phải im lặng.

    ______________

    Kết – từ 2025 sang 2026

    Nếu 2025 là năm nhìn lại năm mươi năm tro tàn và phục sinh, thì 2026 – năm Ngọ – phải là năm của ý thức tiếp bước.

    Ngựa không đứng yên giữa đồng cỏ cháy. Ngựa không chọn lúc đường bằng phẳng mới chạy. Ngựa phải phi nước đại vì Tự Do. Ngựa chỉ dừng khi bị thuần hóa.

    Nhân văn không có nghĩa là quên. Hòa giải không đồng nghĩa với giả vờ chưa từng có tội ác.

    Cuộc đấu tranh này không thuộc riêng thế hệ nào, nhưng sẽ đứt đoạn nếu không có người nối tiếp.

    Và chỉ khi còn người nối tiếp, thì lời tuyên ngôn năm xưa mới còn nguyên sức nặng:  Ta còn sống đây.

    (Chủ đề Tết Nguyên Đán 1976 của Tổng Hội Sinh Viên Chống Cộng tại Paris)



Tế bào ung thư bị tiêu diệt trong 42 ngày bằng ly nước ép đã thành công
  •  Rudolf Breuss đã dành cả cuộc đời để tìm cách chữa
    bệnh ung thư và cuối cùng vị nhân sĩ người Áo này đã thành công.
    Biện pháp của Rudolf Breuss nằm ở chế độ ăn hằng ngày. Chỉ với một ly nước ép hỗn hợp dễ làm, ông đã giúp hơn 45.000 người bị ung thư và các bệnh nan y khác điều trị bệnh hiệu quả. Sau đây là cách tiêu diệt triệt để tế bào ung thư chỉ trong 42 ngày mà Thuốc dân gian hay tổng hợp lại.
     
           Chuẩn bị:
    + Củ cải đường hay còn gọi là củ dền (55%): 550 gram
    + Cà rốt (20%): 200 gram
    + Cần tây (20%): 200 gram
    + Khoai tây (3%): 3 gram
    + Củ cải trắng (2%): 2 gram
     
         Thực hiện:
    + Gọt vỏ, rửa sạch và cho vào máy xay sinh tố.
    + Cho đến khi tất cả đã được xay nhuyễn thành một hỗn hợp đồng nhất thì đổ ra ly và thưởng thức.
    + Uống hết một đợt thì tiếp tục làm một đợt mới khác.
     
     
           Hiệu quả thu được:
    + Ly nước trái cây đặc biệt này sẽ tăng cường hệ thống miễn dịch, làm sạch máu và cung cấp năng lượng cần thiết cho cơ thể. Điều quan trọng nhất hơn cả là nó đã được chứng minh có hiệu quả cực cao trong cuộc chiến chống lại các tế bào ung thư.
    + Chế độ chỉ uống hỗn hợp 5 thành phần trên liên tục trong 42 ngày sẽ khiến các tế bào ung thư chết đói trong khi sức khỏe tổng thể của bạn lại được cải thiện triệt để.
     
              Ghi chú:
    + Nguyên liệu sử dụng phải là rau quả hữu cơ không nhiễm hóa chất.
    + Nhớ không lạm dụng nó như mức tiêu thụ của các loại nước trái cây, chỉ uống nhiều 
       như cơ thể đòi hỏi.
     
     
         Lợi ích của củ cải đường hiếm người biết là gì ?
     
    Củ cải đường dồi dào chất chống oxy hóa, C, B1, B2, vitamin B6, axit folic, pantothenic và các chất khoáng như kali, phốt pho, magiê, canxi, natri, sắt, kẽm. Màu đỏ trong củ cải đường hay củ dền đến từ chất betacyanins.
    Nhiều nghiên cứu đã chứng minh củ dền được coi là một trong những loại rau tốt cho sức khỏe nhất và cực kỳ hiệu quả trong việc điều trị chống lại bệnh bạch cầu, ung thư. Bởi củ cải đường chứa nhiều ở betain – là loại acid amin có tính chất chống ung thư mạnh. Nhiều nhà nghiên cứu xác nhận rằng betaine khi hấp thụ vào cơ thể sẽ phá hủy các tế bào trong khối u. Thêm vào đó, nó còn là một chất chống viêm và chống oxy hóa cực mạnh.
     
    Đối với người khỏe mạnh, tiêu thụ củ dền sẽ tăng cường chức năng của gan và túi mật, ngăn ngừa táo bón, chữa chứng đau đầu, đau răng, kiết lỵ và những vấn đề về xương khớp, da dẻ, kinh nguyệt. Đặc biệt, củ cải đường cực kỳ có lợi cho phụ nữ mang thai vì nó chứa hàm lượng cao acid folic.
    Quả thật củ dền là một cây thuốc không thể thiếu trong mọi chế độ ăn uống tốt cho sức khỏe hay điều trị bệnh tật.
             Chúc bạn và gia đình sống vui khỏe mỗi ngày!

NHÌN NGƯỜI MÀ NGHĨ TỚI TA.
  • Sang tháng, Quốc hội khóa 16 sẽ bầu Thủ tướng. Không biết tài năng xuất chúng nào được lựa chọn để lèo lái con thuyền kinh tế của đất nước. Bỗng chợt nhớ đến Thủ tướng Nhật bản.
    Thủ tướng Nhật Takaichi Sanae là một chính trị gia rất đa tài.
    Trong những năm đại học, bà tham gia một ban nhạc với vai trò tay chơi trống và từng là thành viên của một ban nhạc heavy metal. Một trong những bài hát bà yêu thích là "Burn" (tạm dịch "Rực cháy") của ban nhạc rock nước Anh Deep Purple.
    Takaichi cũng là một người đam mê xe cộ. Bà có một chiếc ô tô thể thao Toyota Supra, hiện đang được trưng bày trong bảo tàng ở tỉnh Nara. Thời trẻ bà cũng từng nhuộm tóc, di chuyển hàng ngày trên chiếc mô tô thể thao Kawasaki Z400GP.
    Không chỉ vậy, tuy là một phụ nữ chân yểu, tay mền nhưng dòng máu Samurai vẫn chảy trong bà, bà còn là một đao sĩ (Naginata) thượng thặng.
    Năm 1987, bà đi “xuất khẩu lao động” tại Hoa Kỳ làm nghiên cứu viên tại Quốc hội cho nữ hạ nghị sĩ Pat Schroeder thuộc Đảng Dân chủ. Sau khi trở về Nhật Bản, nhờ sự am hiểu về nền chính trị Mỹ, bà đã viết sách và xuất bản sách kể về những trải nghiệm của mình tại Mỹ.
    Bà từng đảm nhiệm người dẫn chương trình cho nhiều đài truyền hình như: TV Asahi (3/1989), Fuji Television (11/1990), chương trình tin tức buổi sáng Asa Da! Dō Naru … v.v
    Nói tiếng Anh lưu loát, tiếp xúc quốc tế không cần thông dịch viên .... Chính vì thế, dịp sang Mỹ vừa qua, đao sĩ Takaichi khi diệu kiến cao bồi Trump đã nói chuyện tay đôi đếch cần thông dịch viên.
    Tài giỏi thế mới xứng đáng là thủ tướng một siêu cường, do người dân được bầu cử tự do chọn lựa.
    Hỏi vậy sao nước người ta dù đông dân, dù nghèo tài nguyên lại lắm thiên tai mà vẫn giàu, vẫn mạnh.
    Tuy nhiên Takaichi dù rất đa tài nhưng vẫn chưa có … bằng Giáo sư, Tiến sĩ như lãnh đạo ta.

    Inline image


    Inline image


    Inline image


ĐẤT NƯỚC NÀO?
Fb Nguyên Nguyên
Lời dẫn: Thưa quý Độc Giả bài viết chưa hẳn viết đúng hoàn toàn, viết đúng hết cho mọi trường hợp nhưng nó lột tả những thảm trạng đang diễn ra tại Việt Nam.
Đất nước nào có những kẻ thản nhiên ngồi cắt từng miếng sắt thép cho thật nhọn rồi đem rải trên đường làm người khác té nhào để kiếm tiền từ việc thay vỏ ruột xe?
Đất nước nào nếu xảy ra tai nạn giao thông thì tài xế phải lập tức bỏ trốn mà không bao giờ dám ở lại hiện trường chờ nhân viên công lực đến giải quyết?
Đất nước nào thấy nạn nhân bị thương nằm rên la giữa đường nhưng mọi người chỉ đứng nhìn mà không dám cứu giúp vì có thể mang họa vào thân do gia đình nạn nhân hành hung, dàn cảnh lừa đảo hoặc sự hạch hỏi nhũng nhiễu phiền phức từ nhà cầm quyền?
Đất nước nào tỷ lệ trúng cử trong bất cứ cuộc bầu cử nào từ Trung ương xuống địa phương đều đạt con số trên 99%?
Đất nước nào mà bệnh nhân không có tiền đóng viện phí thì không được cứu chữa điều trị, cha mẹ không có tiền đóng học phí thì con cái phải chịu dốt?
Đất nước nào không bao giờ dám tổ chức trưng cầu dân ý nhưng luôn luôn "được người dân đồng tình ủng hộ" dù đó là chuyện tăng giá điện, giá xăng dầu, học phí, viện phí?
Đất nước nào một cô gái biểu diễn xe motor trên con đường không có ai lưu thông nhưng bị còng tay áp giải như tội phạm, bị khám xét nhà khẩn cấp?
Đất nước nào bắt được ăn trộm mà trói nó lại rồi đi báo cho nhà chức trách thì "bị khởi tố vì hành vi bắt giữ người trái phép"?
Đất nước nào tượng đài áp phích khẩu hiệu trạm BOT nhiều hơn trường học, bệnh viện?
Đất nước nào có mấy trăm tướng lãnh mà không ai thấy chúng nó làm được cái gì ích lợi cho dân cho nước?
Đất nước nào đánh thuế và thu những loại phí trên một chiếc xe hơn cả giá trị của chiếc xe?
Đất nước nào thu thuế "tiêu thụ đặc biệt" đối với xăng dầu y như du thuyền, siêu xe, rượu bia, thuốc lá, mỹ phẩm, xa xí phẩm?
Đất nước nào mà trong bất cứ sự kiện gì ở Trung ương xuống đến cấp Xã cũng đều tràn ngập hoa hòe lòe loẹt phủ đầy từ cái bục diễn giả đến sân khấu rồi hôm sau đem bỏ vô thùng rác mà đó là tiền thuế của dân?
Đất nước nào mà ai cũng biết rõ Cảnh sát Giao thông ra đường chặn xe không phải vì trách nhiệm mà chỉ là kiếm tiền?
Đất nước nào công dân muốn vào học ở Học viện Cảnh sát thì phải hối lộ, ra trường muốn được bổ nhiệm vào một vị trí nào đó cũng phải hối lộ.
Và một người phải hao tổn tiền bạc như vậy thì họ sẽ làm gì khi có chức quyền trong cái gọi là bộ máy bảo vệ pháp luật?
Đất nước nào có một cái Đoàn Thanh niên chuyên tổ chức những trò chơi dâm dục tởm lợm thô bỉ hạ tiện cho ông bà già, đàn ông đàn bà, thầy cô giáo, học sinh sinh viên, công nhân, thanh thiếu niên nam nữ?
Đất nước nào mà chính quyền cứ ôm khư khư nhiều ngành kinh doanh để rồi lỗ triền miên năm này sang năm khác nhưng nhất quyết không từ bỏ độc quyền "vì an ninh quốc gia" trong khi ngay cả chuyện chế tạo vũ khí xe tăng máy bay tàu ngầm thì cường quốc số 1 thế giới cũng giao cho giới dân sự đảm trách?
Đất nước nào trộm cắp như rươi, cướp giật nhan nhản, lừa đảo khắp nơi, ma túy tràn lan từ thành thị tới nông thôn, tỷ lệ hành hung đâm chém giết người so với dân số thì đứng hàng đầu thế giới nhưng luôn hô hào "là điểm đến hấp dẫn, an toàn, thân thiện"?
Đất nước nào chỉ tổ chức duy nhất một cuộc gặp giữa Tổng thống Mỹ và thằng Ủn mà đã ngông nghênh tự xưng là "trung tâm hòa giải xung đột thế giới"?
Đất nước nào mà cái gì cũng rầm rộ tổ chức "Lễ ra quân" một cách lố bịch nhố nhăng từ quét đường, thông cống, xịt muỗi đến thành lập nhóm tay sai chuyên đi bắt chó?
Đất nước nào mà chính quyền tặng băng vệ sinh cho bà già, tặng tranh cho người mù, tặng bồn cầu cho dân nghèo ăn Tết, hỗ trợ mỗi gia đình số tiền không tưởng là 3.000 VNĐ?
Đất nước nào ngang nhiên ăn chặn từng bữa cơm của trẻ thơ, tiền cứu trợ bão lụt, tiền khen thưởng cho vận động viên, tiền hỗ trợ công nhân mất việc?
Đất nước nào xua công dân ra ngoại quốc làm nô lệ thật nhiều thì lãnh đạo địa phương đó được khen thưởng vì "có thành tích"?
Đất nước nào lấy tiền thuế của dân nuôi cả ngàn đứa ngu si dốt nát chỉ để lên mạng chửi bới tục tĩu với bất cứ người nào không theo Cộng sản, không tin Cộng sản?
Đất nước nào dù hai vụ án "Kit test Việt Á" và "Chuyến bay giải cứu" rõ ràng là do sự móc ngoặc chặt chẽ của cả một hệ thống chính trị mafia, một thể chế cầm quyền thối nát nhưng báo đài thì trơ tráo xảo ngôn rằng đó chỉ là "sai phạm cá nhân"?
Và đất nước đó tự xưng là đạo đức văn minh, quang vinh vĩ đại?!
Có thể tìm thấy đất nước thứ hai trên thế giới có 1 trong những chuyện quái dị như vậy hay không?
Nguồn: fb Nguyên Nguyên.

Inline image



CẢI CÁCH RUỘNG ÐẤT !
(Xin vui lòng phổ biến rộng rãi)

  • VIETLIST.US

    Cải Cách Ruộng Ðất là một phong trào giết nông dân do Hồ Chí Minh và đồng bọn CSBV phát động ở miền Bắc từ năm 1952 đến 1956.

    Trước đó cán bộ đã được huấn luyện kỹ lưỡng và được đưa về nông thôn ở chung với dân để chờ ngày thi hành chiến dịch.

    Dân chúng được hô hào đấu tố những nông dân giàu để đánh đập, giết chết họ, cướp đất chia cho những tên đi theo Cộng sản.

    Gia đình nạn nhân bị đuổi ra khỏi nhà không còn phương tiện sinh sống và cấm không được ai mướn họ làm ăn !

    Từ tháng 10 năm 1952, Hồ Chí Minh đã gửi bản "chương trình cải cách ruộng đất của Đảng Lao động Việt Nam" (tức đảng Cộng Sản trá hình) cho Stalin để duyệt xét và cho chỉ thị. Hồ cho biết chương trình hành động được lập dưới sự giúp đỡ của Lưu Thiếu Kỳ, Trung cộng.

    Chính Hồ Chí Minh đã bịt mặt đi dự buổi đấu tố giết bà Nguyễn Thị Năm, mẹ nuôi của Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng và Trường Chinh..., có con trai là Trung đoàn trưởng của Quân đội Nhân dân Việt Minh. Gia đình bà cũng đã hiến 100 lượng vàng cho đám Cộng sản này.

    Các cán bộ cao cấp làm thơ để xúi giục, nung chí nông dân ngu dốt mạnh tay giết hại những nông dân khá giả như các bài thơ sau đây:

    “Giết! Giết nữa! Bàn tay không ngơi nghỉ
    Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong
    Cho Đảng bền lâu
    Cùng rập bước chung lòng
    Thờ Mao Chủ tịch, thờ Xít-ta-lin bất diệt!”

    Tố Hữu
    Nguyên Ủy viên bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng kiêm Bí thư Ban chấp hành Trung ương đảng CsVN.

    "Địa hào, đối lập ra tro
    Lừng chừng phản động đến giờ tan xương
    Thắp đuốc cho sáng khắp đường
    Thắp đuốc cho sáng đình làng hôm nay
    Lôi cổ bọn nó ra đây
    Bắt quỳ gục xuống, đọa đầy chết thôi."

    Xuân Diệu

    Như vậy công cuộc Cải Cách Ruộng Ðất này đã được chuẩn bị kỹ lưỡng, từ cấp cao đến cấp thấp.

    CCRÐ được chia làm nhiều đợt, sau mỗi đợt báo cáo kết quả về cấp trên và chờ chỉ thị để thi hành đợt kế tiếp.

    Hoàn toàn đây không phải là những hành động ngẫu hứng, thi hành một cách vội vàng, nông nổi !

    Theo thú nhận của bọn Cộng sản Bắc Việt thì họ đã giết oan 172.000 nông dân vô tội.

    Nhưng vì cộng sản hay nói láo, sự thật có thể đến 300-400 ngàn địa chủ bị giết oan và có từ 2-3 triệu thân nhân bị sống đời đau khổ, mất nhà, mất đất, bị xã hội tẩy chay, khinh rẻ, không có phương tiện mưu sinh...

    Nhà thơ Trần Dần ghi chép về CCRÐ ở Bắc Ninh năm 1955-1956, chỉ riêng đợt 4 tại 76 xã Đái Bắc:

    - Con giết bố mẹ: 26 vụ
    - Vợ viết chồng: 7 vụ
    - Anh em giết nhau: 14 vụ
    - Chú giết cháu: 4 vụ
    - Bố giết con: 1 vụ
    - Ðốt nhà: 86 vụ.

    Nhà thơ Hữu Loan nhận xét về Hồ Chí Minh như sau:

    "Tôi thấy thằng này là thằng mất đạo đức... Tôi cho thằng này là thằng mất dạy, không còn là giống người nữa".

    Sau khi chiến dịch đã thành công, nhà đất đã được cướp chia cho đồng bọn, Hồ Chí Minh lên đài phát thanh chậm nước mắt khóc thút thít và thú nhận là đảng đã sai lầm.

    Vài ba tên Đảng viên cao cấp như Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Lê Văn Lương... bị cách chức.

    Lẽ ra với tội ác tày trời như thế này, tất cả Đảng viên Cộng sản phải cắt cổ, mổ bụng tự tử để đền tội. Nhưng không hề có và cũng chẳng nghe nói ai được bồi thường vì đã bị đấu tố một cách oan uống !

    Ðặc biệt Hồ có nói rằng Đảng Cộng sản đã dám nhìn nhận là đã giết oan hàng trăm ngàn người vô tội và vì có can đảm nhận khuyết điểm như thế, đảng Cộng sản của hắn là một đảng "TIẾN BỘ".

    Chỉ có tiêu diệt Cộng sản mới cứu được đất nước !




    CaiCacRuongDat

    Trần Long

    -

  • Âm nhạc miền Nam và những ngày xưa thân ái 
    Vũ Đông Hà

    Nếu ai hỏi tôi rằng sau ngày 30 tháng 4, 1975 cái gì mà cộng sản không thể “giải phóng” được; cái gì vẫn âm thầm nhưng vũ bão giải phóng ngược lại tâm hồn khô khốc của người dân miền Bắc lẫn nhiều cán binh cộng sản; cái gì vẫn miệt mài làm nhân chứng cho sự khác biệt giữa văn minh và man rợ, giữa nhân ái và bạo tàn, giữa yêu thương và thù hận; cái gì đã kết nối tâm hồn của những nạn nhân cộng sản ở cả hai miền Nam Bắc… Câu trả lời là Âm Nhạc Miền Nam.

    Nếu ai hỏi tôi, ảnh hưởng lớn nhất để tôi trở thành người ngày hôm nay, biết rung động trước hình ảnh của Ngoại già lầm lũi quang gánh đổ bóng gầy dưới ánh đèn vàng, biết nhung nhớ một khe gió luồn qua hai tấm ván hở của vách tường ngày xưa nhà Mẹ, biết man mác buồn mỗi khi đến hè và trống vắng với một tiếng gà khan gáy ở sau đồi, biết tiếc nuối một mặt bàn lớp học khắc nhỏ chữ tắt tên người bạn có đôi mắt người Sơn Tây, biết ngậm ngùi trăn trở chỉ vì một tiếng rao hàng đơn độc đêm khuya… Câu trả lời là Âm Nhạc Miền Nam.

    Âm Nhạc Miền Nam đã trở thành một chất keo gắn chặt cuộc đời tôi vào mảnh đất mang tên Việt Nam. Âm Nhạc Miền Nam đã làm tôi là người Việt Nam.

    Tôi lớn lên theo những con đường đất đỏ bụi mù trời và cây reo buồn muôn thuở. Niềm say mê âm nhạc đơm mầm từ các anh lớn của Thiếu và Kha đoàn Hướng Đạo Việt Nam, trổ hoa theo những khúc hát vang vang của các anh giữa vùng trời Đạt Lý đang vào mùa cà phê hoa trắng nở:

    “Tôi muốn mọi người biết thương nhau. Không oán ghét không gây hận sầu. Tôi muốn đời hết nghĩa thương đau. Tôi muốn thấy tình yêu ban đầu…”

    Các bậc đàn anh như nhạc sĩ Lê Hựu Hà, Nguyễn Trung Cang của Phượng Hoàng đã lót đường nhân ái cho đàn em nhỏ chúng tôi chập chững trở thành người, để biết ngước mặt nhìn đời và “cười lên đi em ơi, dù nước mắt rớt trên vành môi, hãy ngước mặt nhìn đời, nhìn tha nhân ta buông tiếng cười…”

    Những đêm tối, giữa ngọn đồi nhiều đại thụ và cỏ tranh, bên nhau trong ánh lửa cao nguyên chập chờn, chúng tôi cảm nhận được niềm hãnh diện Việt Nam với bước chân của cha ông và bước chân sẽ đi tới của chính mình:

    “Ta như giống dân đi tràn trên lò lửa hồng. Mặt lạnh như đồng cùng nhìn về một xa xăm. Da chân mồ hôi nhễ nhại cuộn vòng chân tươi. Ôm vết thương rĩ máu ta cười dưới ánh mặt trời…”

    Và anh Nguyễn Đức Quang, người nhạc sĩ của thị xã đèo heo hút gió đã trở thành thần tượng của chúng tôi. Có những buổi chiều buông trong Rừng Lao Xao bạt ngàn, những đứa bé chúng tôi theo anh ngậm ngùi số phận “Xương sống ta đã oằn xuống, cuộc bon chen cứ đè lên. Người vay nợ áo cơm nào, thành nợ trăm năm còn thiếu. Một ngày một kiếp là bao. Một trăm năm mấy lúc ngọt ngào. Ôi biết đến bao giờ được nói tiếng an vui thật thà.”

    Nhưng cũng từ anh đã gieo cho chúng tôi niềm lạc quan tuổi trẻ: “Hy vọng đã vươn lên trong màn đêm bao ưu phiền. Hy vọng đã vươn lên trong lo sợ mùa chinh chiến. Hy vọng đã vươn lên trong nhục nhằn tràn nước mắt. Hy vọng đã vươn dậy như làn tên…” Và từ anh, chúng tôi hát cho nhau “Không phải là lúc ta ngồi mà đặt vấn đề nữa rồi. Mà phải cùng nhau ta làm cho tươi mới.”

    Cô giáo Việt văn của tôi đã mắng yêu tôi – tụi em thuộc nhạc Nguyễn Đức Quang hơn thuộc thơ của Nguyễn Công Trứ!

    Nguyễn Công Trứ. Đó là ngôi trường tuổi nhỏ có cây cổ thụ già, bóng mát của tuổi thơ tôi bây giờ đã chết. Tôi nhớ mãi những giờ cuối lớp tại trường, Cô Trâm cho cả lớp đồng ca những bài hát Bạch Đằng Giang, Việt Nam Việt Nam, Về Với Mẹ Cha…

    Đứa vỗ tay, đứa đập bàn, đứa dậm chân, chúng tôi nở buồng phổi vang vang lên: “Từ Nam Quan, Cà Mau. Từ non cao rừng sâu. Gặp nhau do non nước xây cầu. Người thanh niên Việt Nam. Quay về với xóm làng. Tiếng reo vui rộn trong lòng…”

    Nhìn lên lớp học lúc ấy, có những biểu ngữ thủ công nghệ mà cô dạy chúng tôi viết: Tổ quốc trên hết, Ngày nay học tập ngày sau giúp đời, Không thành công cũng thành Nhân… Nhưng đọng lại trong tôi theo năm tháng vẫn là những câu hát “Tình yêu đây là khí giới, Tình thương đem về muôn nơi, Việt Nam đây tiếng nói đi xây tình người…”

    Cô giáo của tôi đã ươm mầm Lạc Hồng vào tâm hồn của chúng tôi và cứ thế chúng tôi lớn lên theo dòng suối mát, theo tiếng sóng vỗ bờ, theo tiếng gọi lịch sử của âm nhạc Việt Nam, để trở thành những công dân Việt Nam yêu nước thương nòi và hãnh diện về hành trình dựng nước, giữ nước của Tổ tiên.

    Trong cái nôi nhiều âm thanh êm đềm nhưng hùng tráng ấy, trừ những ngày tết Mậu Thân khi tiếng đạn pháo đì đùng từ xa dội về thành phố, cho đến lúc chui xuống gầm giường nghe tiếng AK47 và M16 bắn xối xả trước nhà vào ngày 10 tháng 3, 1975, tuổi thơ tôi được ru hời bởi dòng nhạc trữ tình của miền Nam để làm nên Những Ngày Xưa Thân Ái của chúng tôi.

    Những ngày xưa thân ái xin buộc vào tương lai
    Anh còn gì cho tôi tôi còn gì cho em
    Chỉ còn tay súng nhỏ giữa rừng sâu giết thù
    Những ngày xưa thân ái xin gởi lại cho em…

    Các anh, những người anh miền Nam đã khoác áo chinh nhân lên đường đối diện với tử sinh, làm tròn lý tưởng Tổ Quốc – Danh Dự – Trách Nhiệm, đã hy sinh cuộc đời các anh và để lại sau lưng các anh những ngày xưa thân ái cho đàn em chúng tôi. Nhờ vào các anh mà chúng tôi có những năm tháng an lành giữa một đất nước chiến tranh, triền miên khói lửa.

    Lần đầu tiên, chiến tranh tưởng như đứng cạnh bên mình là khi chúng tôi xếp hàng cúi đầu đưa tiễn Thầy của chúng tôi, là chồng của cô giáo Việt Văn, một đại úy sĩ quan Dù đã vị quốc vong thân. Cô tôi, mồ côi từ nhỏ, một mình quạnh quẻ, mặc áo dài màu đen, tang trắng, đứng trước mộ huyệt của người chồng còn trẻ. Cô khóc và hát tặng Thầy lần cuối bản nhạc mà Thầy yêu thích lúc còn sống – “Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo… Đôi chúng ta sẽ chẳng còn nhìn nhau nữa! Trên cõi đời này, trên cõi đời này. Từ nay mãi mãi không thấy nhau…”

    Và tôi say mê Mùa Thu Chết từ dạo đó. Trong những cụm hoa thạch thảo đầy lãng mạn ấy có đau thương đẫm nước mắt của Cô tôi. Có hình ảnh lá cờ vàng ba sọc đỏ phủ nắp quan tài của người Thầy Đại úy Sĩ quan Binh chủng Nhảy Dù vào mùa Hè hầm hập gió Nồm năm ấy.

    Từ những ngày xa xăm tuổi nhỏ, những người lính VNCH là thần tượng của chúng tôi. Tôi mơ được làm một người lính Dù bởi anh là loài chim quý, là cánh chim trùng khơi vạn lý, là người ra đi từ tổ ấm để không địa danh nào thiếu dấu chân anh, và cuối cùng anh bi hùng ở lại Charlie. Giữa những đau thương chia lìa của chiến tranh, những dòng nhạc của Trần Thiện Thanh đã cho tôi biết thương yêu, kính trọng những người lính không chân dung nhưng rất gần trong lòng chúng tôi. Những “cánh dù ôm gió, một cánh dù ôm kín đời anh” cũng là những cánh dù ôm ấp lý tưởng đang thành hình trong tâm hồn tuổi nhỏ của chúng tôi.

    Nhìn lại quãng thời gian binh lửa ấy, tôi nhận ra mình và các bạn cùng lứa không hề biết rõ Phạm Phú Quốc là ai, chỉ biết và say mê huyền sử của một người được “Mẹ yêu theo gương người trước chọn lời. Đặt tên cho anh, anh là Quốc. Đặt tên cho anh, anh là Nước. Đặt tên cho Người. Đặt tình yêu Nước vào nôi”, chỉ ước ao một ngày chúng tôi cũng được như anh, cũng sẽ là những “Thần phong hiên ngang chẳng biết sợ gì!”

    Chúng tôi, nhiều đứa núi đồi, rừng rú, chưa bao giờ thấy biển nhưng thèm thuồng màu áo trắng và đại dương xanh thẳm, thuộc lòng câu hát “Tôi thức từng đêm, thơ ấu mà nghe muối pha trong lòng. Mẹ là mẹ trùng dương, gào than từ bãi trước ghềnh sau. Tuổi trời qua mau, gió biển mặn nuôi lớn khôn tôi. Nên năm hăm mốt tuổi, tôi đi vào quân đội. Mà lòng thì chưa hề yêu ai”.

    Chúng tôi cũng không tìm đọc tiểu sử, cuộc chiến đấu bi hùng của Đại tá Nhảy Dù Nguyễn Đình Bảo, cũng không biết địa danh Charlie nằm ở đâu, nhưng Đại tá Nguyễn Đình Bảo là biểu tượng anh hùng của chúng tôi để chúng tôi thuộc lòng khúc hát “Toumorong, Dakto, Krek, Snoul. Trưa Khe Sanh gió mùa, đêm Hạ Lào thức sâu. Anh! Cũng anh vừa ở lại một mình, vừa ở lại một mình. Charlie, tên vẫn chưa quen người dân thị thành.”

    Chúng tôi không biết “Phá” là gì, “Tam Giang” ở đâu, nhà thơ Tô Thùy Yên là ai, nhưng “Chiều trên phá Tam Giang anh chợt nhớ em, nhớ ôi niềm nhớ ôi niềm nhớ đến bất tận. Em ơi, em ơi…” đã thân thiết chiếm ngự tâm hồn để chúng tôi biết thương những người anh chiến trận đang nhớ người yêu, nhớ những người chị, cô giáo của chúng tôi ngày ngày lo âu, ngóng tin từ mặt trận xa xăm.

    Trong cái nôi của những ngày xưa thân ái ấy, từ nơi khung trời đầy mộng mơ của mình chúng tôi chỉ biết đến nỗi niềm của các anh bằng những “Rừng lá xanh xanh lối mòn chạy quanh, Đời lính quen yêu gian khổ quân hành”.

    Giữa mùa xuân pháo đỏ rộn ràng con đường tuổi thơ thì chính âm nhạc nhắc cho những đứa bé chúng tôi biết đó cũng là “ngày đầu một năm, giữa tiền đồn heo hút xa xăm, có người lính trẻ, đón mùa xuân bằng phiên gác sớm”.

    Giữa những sum vầy bình an bên cạnh mai vàng rực rỡ, thì ở xa xăm có những người con rưng rưng nhớ đến Mẹ già và gửi lời tha thiết “bao lứa trai cùng chào xuân chiến trường, không lẽ riêng mình êm ấm, Mẹ ơi con xuân này vắng nhà…”

    Âm nhạc Việt Nam đã gieo vào tâm hồn chúng tôi hình ảnh rất bình thường, rất người, nhưng lòng ái quốc và sự hy sinh của thế hệ đàn anh chúng tôi – những người lính VNCH – thì ngời sáng. Và chúng tôi biết yêu thương, khâm phục, muốn noi gương các anh là cũng từ đó.

    Sau ngày Thầy hy sinh, chúng tôi gần gũi với Cô giáo Việt Văn của mình hơn. Nhiều đêm thứ bảy, tôi và các bạn ghé nhà thăm Cô. Đó là lúc chúng tôi đến với Một thời để yêu – Một thời để chết. Chúng tôi bắt đầu chạm ngõ tình yêu với những Vũng lầy của chúng ta, Con đường tình ta đi, Bây giờ tháng mấy, Ngày xưa Hoàng Thị, Tình đầu tình cuối, Em hiền như Ma Soeur, Trên đỉnh mùa đông, Trả lại em yêu…

    Đó là lúc Cô đọc thơ Chiều trên Phá Tam Giang của Tô Thùy Yên cho chúng tôi nghe, giảng cho chúng tôi về tài nghệ “thần sầu” của Trần Thiện Thanh trong lời nhạc “anh chợt nhớ em, nhớ ôi niềm nhớ… ôi niềm nhớ…….. đến bất tận. Em ơi… em ơi!…” khi diễn tả nỗi nhớ ngút ngàn, và sau đó chú Trần Thiện Thanh Toàn – em ruột của nhạc sĩ Nhật Trường ở Sài Gòn lên thăm Cô, vừa đàn vừa hát.

    Những buổi tối này, mình tôi ở lại với Cô tới khuya. Cô đọc thơ và hát nhạc phổ từ thơ của Nguyễn Tất Nhiên, chỉ cho tôi tính lãng đãng của lời nhạc Từ Công Phụng, khắc khoải của Lê Uyên Phương, mượt mà của Đoàn Chuẩn – Từ Linh, sâu lắng của Vũ Thành An… Và qua âm nhạc, Cô kể tôi nghe chuyện tình của Cô và Thầy. Hai người đến với nhau khởi đi từ bản nhạc mà Cô hát khi Cô còn là nữ sinh Đệ Nhất và Thầy là Sinh Viên Sĩ Quan Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Bản nhạc ấy có những dòng như sau:

    “Nhưng anh bây giờ anh ở đâu
    con ễnh ương vẫn còn gọi tên anh trong mưa dầm
    tên anh nghe như tiếng thở dài của lòng đất mẹ
    Dạo tháng Ba tên anh lẫn trong tiếng sấm đầu mùa mưa
    nghe như tiếng gầm phẫn nộ đến từ cuối trời.”

    Thầy và cô tôi yêu nhau từ sau khúc hát Người Tình Không Chân Dung ấy và “người chiến sĩ đã để lại cái nón sắt trên bờ lau sậy này” cũng là định mệnh Thầy, của cuộc tình bi thương giữa một cô giáo trẻ và người lính VNCH.

    Cô tôi sống một mình và qua đời vào năm 2010. Bạn cùng lớp của tôi là Phương lùn, vào một ngày cuối năm, từ Sài Gòn trở về Ban Mê Thuột, xách đàn đến trước mộ Cô và hát lại “Ta ngắt đi một cụm hoa Thạch Thảo” để thay mặt những đứa học trò thơ ấu kính tặng hương hồn của Cô. Còn tôi, năm tháng trôi qua nhưng tôi biết rõ trong dòng máu luân lưu và nhịp đập của tim mình vẫn đầy tràn những thương yêu mà Cô đã gieo vào tôi bằng Âm Nhạc Miền Nam.

    Một buổi tối chúng tôi ngồi hát với nhau. Các bạn từ Hà Nội, Nam Định, Yên Bái, Đà Nẵng, Sài Gòn… nhưng chỉ có mình tôi là sinh ra và lớn lên trước 1975. Các bạn tôi, hay đúng ra là những người em đang cùng đồng hành trên con đường đã chọn, đã thức suốt đêm hát cho nhau nghe. Rất tự nhiên, rất bình thường: toàn là những ca khúc của miền Nam thân yêu.

    Đêm hôm ấy, cả một quãng đời của những ngày xưa thân ái trong tôi sống lại.

    Sống lại từ giọng hát của những người em sinh ra và lớn lên trong lòng chế độ độc tài. Các em hát cho tôi nghe về những người lính miền Nam mà các em chưa bao giờ gặp mặt “Anh sẽ ra đi nặng hành trang đó, đem dấu chân soi tuổi đời ngây thơ, đem nỗi thương yêu vào niềm thương nhớ, anh sẽ ra đi chẳng mong ngày về…”.

    Tôi hát cho các em mình về những ngày tháng mộng mơ trước “giải phóng” của những “Con đường tuổi măng tre, nắng vàng tươi đẹp đẽ, bóng người dài trên hè, con đường tình ta đi...” Các em tâm sự về cảm nhận đối với người lính VNCH qua những dòng nhạc êm đềm, đầy tình người giữa tàn khốc của chiến tranh:

    “Tôi lại gặp anh, người trai nơi chiến tuyến, súng trên vai bước lê qua
    đường phố; tôi lại gặp anh, giờ đây nơi quán nhỏ, tuổi 30 mà ngỡ như trẻ thơ”..

    Tôi chia sẻ với các em về nỗi ngậm ngùi quá khứ: “Như phai nhạt mờ, đường xanh nho nhỏ, hôm nay tình cờ, đi lại đường xưa đường xưa. Cây xưa còn gầy, nằm phơi dáng đỏ, áo em ngày nọ, phai nhạt mây màu, âm vang thuở nào, bước nhỏ tìm nhau tìm nhau”…

    Đêm ấy, khi các bạn nói lên cảm nhận về những mượt mà, êm ả, nhân ái của Âm Nhạc Miền Nam, tôi đã tâm sự với các bạn rằng: Chỉ cần lắng nghe và hát lên những dòng nhạc ấy, các em sẽ hiểu thấu được những mất mát khủng khiếp của con người miền Nam. Những mất mát không chỉ là một cái nhà, một mảnh đất, mà là sự mất mát của cả một đời sống, một thế giới tâm hồn, một đổ vỡ không bao giờ hàn gắn lại được. Khi những mượt mà, nhân ái ấy đã bị thay thế bởi những “Bác cùng chúng cháu hành quân” và “Tiến về Sài Gòn” thì các em hiểu được tuổi thanh xuân và cuộc đời của những thế hệ miền Nam đã bị đánh cắp hay ăn cướp như thế nào.

    Gần 42 năm trôi qua, Âm Nhạc Miền Nam vẫn như dòng suối mát trôi chảy trong tâm hồn của người dân Việt. Chảy từ đồng bằng Cửu Long, xuôi ngược lên Bắc, nhập dòng sông Hồng để tưới mát tâm hồn của mọi người dân Việt đang bị thiêu đốt bởi ngọn lửa bạo tàn cộng sản. Dòng suối trong mát ấy cũng cuốn phăng mọi tuyên truyền xảo trá của chế độ về xã hội, con người miền Nam trước 1975 cũng như về tư cách, phẩm giá, lý tưởng của những người lính VNCH và tình cảm trân quý, yêu thương của người dân miền Nam dành cho họ.

    Gần 42 năm trôi qua, trong tuyệt vọng của những kẻ thật sự đã thua trận trong cuộc chiến giữa chính nghĩa và gian tà, nhà cầm quyền cộng sản đã tìm mọi cách để tiêu diệt Âm Nhạc Miền Nam. Nhưng họ không biết rằng, dòng âm nhạc đó không còn là những bản in bài hát, những CD được sao chép, bán buôn… Âm Nhạc Miền Nam đã trở thành máu huyết và hơi thở của người dân Việt, bất kể Bắc – Trung hay Nam, bất kể sinh trưởng trước hay sau 1975. Bạo tàn và ngu dốt có thể đem Âm Nhạc Miền Nam vào những danh sách cấm đoán vô tri vô giác, nhưng không bao giờ đem được Âm Nhạc Miền Nam ra khỏi con người Việt Nam.

    Ai giải phóng ai? Hãy hỏi Con Đường Xưa Em Đi và đốt đuốc đi tìm xem Bác Cùng Chúng Cháu Hành Quân đang nằm trong cống rãnh nào trên những con đường Việt Nam!!!

    Vũ Đông Hà.

    24.03.2017


    Tưởng nhớ King Bee Nguyễn Văn Nghĩa

    • Image en ligne
      CCKQ Nha Trang, 1973: Trung tá Đặng Duy Lạc (PĐT tiên khởi của PĐ-524) đang chúc mừng “tân” Trung tá Nguyễn Văn Nghĩa. Phía bên trái là Trung tá Phạm Văn Phạm (PĐ-524) và Trung úy Đặng Quỳnh (PĐ-219). Người đứng đầu bên phải đeo kính là Trung Tá Nguyễn văn Nghĩa phi đoàn trưởng PĐ-219 phi đoàn bay cho Lực Lượng Đặc Biệt, đã chết trong trại giam việt cộng 1980.
      Image en ligne

      Image en ligne
      Danh hiệu hành quân của Phi Ðoàn 219 là King Bee, huy hiệu của Phi Ðoàn là một con thú đầu rồng, mình ngựa (Long Mã) đang bay trên mây.
      -----
      Cố Trung Tá Nguyễn Văn Nghĩa sinh năm 1940 trong một gia đình giàu có, theo đạo Công giáo ở Sàigòn. Gia nhập Không Quân khóa 58A Trần Duy Kỹ tại Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân Nha Trang. Sau khi tốt nghiệp anh cùng với người bạn đồng khóa, Trần Văn Luân, được gởi sang Stead AFB, Nevada, Hoa Kỳ để xuyên huấn trên trực thăng H19, do hảng Sikorsky chế tạo. Khi trở về anh phục vụ ở Phi Ðoàn 1, trực thăng đồn trú trong Tân Sơn Nht cho đến cuối năm 61 khi Phi Ðoàn 213 tân lập thì thuyên chuyển đến căn cứ 4 trợ lực Không Quân Ðà Nẵng.
      Tôi gặp anh Nghĩa lần đầu vào tháng 8 năm 1963, khi ấy anh là Thiếu úy Sĩ Quan Huấn Luyện của Phi Ðoàn 213. Vào thời Ðệ Nhất Cộng Hòa việc lên lon lá và chức vụ khó khăn trần ai lắm chớ chẳng phải chơi đâu. 
      Trách nhiệm của Phi Ðoàn vào thời khoảng nầy có vẻ nặng nề vì ngoài việc hành quân ra Phi Ðoàn còn gánh thêm phần kỷ thuật và tiếp liệu nữa. Thế nhưng cấp bậc của các Sĩ Quan trong ban Tham mưu của Phi Ðoàn chỉ từ Thiếu úy đến Ðại úy là cao lắm rồi. Chỉ Huy Trưởng Phi Ðoàn 213 trước ngày 1/11/63 là Ðại úy Nguyễn Hữu Hậu, Ðại úy Ngô Khắc Thuật, Sĩ Quan Kỷ Thuật và Tiếp Liệu, Thiếu úy Nguyễn Văn Trang,Trưởng phòng Hành Quân, Thiếu úy Hồ Bảo Ðịnh, Sĩ Quan An Phi và Sĩ Quan Huấn Luyện là anh Nghĩa như đã nêu ở phần trên. Mặc dù có chức vụ trong Phi Ðoàn nhưng tôi vẫn thường nghe các đàn anh gọi anh là Nghĩa “con”. Hỏi ra mới biết tên tục nầy do các bạn đồng khóa đặt cho anh (có lẻ vì nét mặt trẻ, đẹp trai) để phân biệt với anh Chế Văn Nghĩa (Nghĩa chàm, Phi Ðoàn 514 sau nầy).
      Trong 2 năm ở Phi Ðoàn 213 tôi bay huấn luyện với anh Nghĩa nhiều lần và sau nầy ra Hoa tiêu chánh rồi Trưởng phi cơ bay hành quân chung với anh cũng lắm bận. Tôi nhận thấy anh bay rất giỏi, tay lái nhẹ nhàng chính xác và đặc biệt là lúc nào cũng bình tỉnh như những khi bay vào mây mù giông bão hay đáp vào những bãi đáp hiểm nguy để tản thương hay "bốc" quân bạn. Theo tôi, có lẽ anh Nghĩa là một người thầm lặng nhất của Phi đoàn 213 dạo ấy. Tôi chẳng bao giờ thấy anh tham dự một cuộc tranh luận hoặc bàn cãi hay to tiếng với ai cả. Hai người trong Phi đoàn mà anh có nhiều cm tình nhất là anh Nguyễn Văn Trang và anh Nguyễn Phi Hùng, thế mà lâu lâu tôi mới thấy anh trò chuyện thân mật vui vẻ với các anh nầy. Khoảng 63-65 việc hành quân của Phi đoàn chẳng có gì là nhiều và hàng ngày những người không đi bay có thói quen tụ họp ở phòng hành quân (cũng là phòng họp và phòng nghỉ của nhân viên phi hành) chơi cờ tướng, domino, đọc sách báo hay ngồi tán chuyện gẩu cho qua thời giờ, những lúc ấy tôi lại thấy anh Nghĩa hai tay chấp sau lưng, miệng phì phèo điếu Lucky Strike, đi tới đi lui hay đứng tựa cửa sổ nhìn mông lung ra ngoài trời, nét mặt đăm chiêu như đang suy nghĩ một điều gì! Còn nhớ có một dạo tôi với anh và anh Hảo "mù" Quân Báo ở trong một căn phòng nhỏ trước mặt câu lạc bộ Trần Văn Thọ và tôi thường thấy anh Nghĩa ngồi chơi bài Solitaire hàng giờ mà không biết chán! Hai thú vui mà anh đam mê nhất là mạt chược và nhảy đầm. Dạo chưa biết chơi mạt chược tôi ngạc nhiên vô cùng khi thấy anh, Trần Văn Luân và Vũ Hùng Lượng, Vũ Bắc Hà của Phi đoàn 110 đêm nào cũng ngồi gỏ lốp cốp ở câu lạc bộ!
      Mùa hè năm 1965 tôi tình nguyện gia nhập biệt đội H34 biệt phái dài hạn cho Lực Lượng Ðặc Biệt Delta ở Nha Trang, do Thiếu tá Phạm Duy Tất chỉ huy (Thiếu tá Tất trước ngày 30/4/1975 được thăng cấp Chuẩn Tướng và chỉ huy cuộc triệt thoái của Quân Ðoàn 2).Từ đó tôi ít có dịp gặp anh Nghĩa cho mãi đến năm 66 khi chúng tôi cùng thuyên chuyển đến Phi đoàn 219 tân lập thuộc Không đoàn 41 Ðà Nẳng và anh được bổ nhiệm vào chức trưởng phòng hành quân của Phi đoàn nầy. Hàng ngày, ngoài việc điều động hành quân anh còn phụ giúp bay huấn luyện cho các nhân viên phi hành mới thuyên chuyển đến Phi đoàn. Phi đoàn 219 có l là nơi tụ họp nhiều đấng anh hào có máu me cờ bịch nhất. Hình như ở phòng nghỉ của Phi đoàn lúc nào cũng có sòng bài cào hay xập xám đang hồi gay cấn và thỉnh thoảng anh Nghĩa cũng có mặt xây sòng, mua vui đen đỏ với anh em. Về sau nầy Phi đoàn nhận thêm một trailer có máy điều hòa để làm phòng nghỉ cho nhân viên phi hành thì hai anh Nghĩa và Luân là những ông thầy truyền nghề mạt chược cho thế hệ đàn em và căn phòng nầy biến thành phòng mạt chược thường trực lúc nào cũng đầy ắp khói thuốc!
      Khoảng tháng 6 năm 69 anh Trần văn Luân đi học tham mưu ở Hoa Kỳ, anh Nghĩa được đôn lên gi chức vụ Phi đoàn phó. Ðến tháng 9 cùng năm anh được chỉ định làm Sĩ Quan Liên Lạc ở Fort Wolters, Texas. Cuối năm 69 Tống Phước Hảo và tôi nối gót anh sang làm Sĩ Quan Liên Lạc ở Fort Hunter, Savannah, Georgia. Tháng 4 năm 1970 ba Sĩ Quan Liên Lạc tại Fort Wolters là các anh Hồ Bảo Ðịnh, Nguyễn Văn Ức và Nguyễn Văn Nghĩa nhận được nghị định thăng cấp Thiếu tá và vì anh Ðịnh cũng vừa mãn nhiệm kỳ nên Trung tá Trần Minh Thiện, Trưởng phòng Sĩ Quan Liên Lạc tại Lackland AFB đưa Nguyễn Văn Ức sang thay thế tôi trong chức vụ trưởng ban liên lạc ở Fort Hunter và tôi sang Fort Wolters làm việc dưới quyền của anh Nghĩa. Tôi ở chung với anh trong căn nhà thuê hai phòng ngay trong căn cứ chỉ cách nơi làm việc độ 5 phút đi bộ. Tôi thấy anh chẳng có gì thay đổi, vẫn ít nói, trầm mặc và những lúc rảnh rổi ở nhà anh vẫn thường ngồi chơi bài Solitaire hàng giờ! Trở về Việt Nam sau nhiệm kỳ Sĩ Quan Liên Lạc, anh được bổ nhiệm vào chức vụ Phi đoàn trưởng Phi đoàn 219 thay thế Trung tá Ðặng Văn Phước. Ðầu năm 71, Tống Phước Hảo và tôi về trình diện anh, và Hảo chọn ở lại làm Phi đoàn phó cho anh Nghĩa và tôi thuyên chuyển lên Không Ðoàn 51 tân lập làm việc với Trung tá Phước. Tháng 9 năm 71 tôi được đề cử đi học Chinook ở Fort Rucker, Alabama và khi trở về thành lập Phi đoàn 241 tại căn cứ 60 chiến thuật KQ/Phù Cát. Từ đó tôi không có dịp gặp lại anh Nghĩa và những anh em ở Phi đoàn 219 một thời đã cùng tôi xuôi ngược suốt dọc từ Khe Sanh,Lao Bảo qua A Shau, A Lưới đến Khâm Ðức và vùng Dakto, Dak Pek. Ðược biết cuối năm 71 trong kế hoạch Việt Nam hóa các phi cơ H34 già nua, cũ kỹ của Phi đoàn 219 được thay thế bằng loại UH1 hiện đại hơn và các phi hành đoàn được đưa đến Vũng Tàu để xuyên huấn và thực tập tác xạ trên trực thăng võ trang. Ðến năm 72 Phi đoàn dời về Nha Trang vì địa bàn hoạt động của Phi đoàn lúc nầy chỉ bao gồm các vùng Kontum, Ban Mê Thuột, Quản Lợi và Long Thành. Năm 1973 trong một phi vụ thăm viếng biệt đội ở Ban Mê Thuột anh ghé lại Ðà Lạt vào sáng hôm sau để thăm Phạm Công Khanh, một nhân viên phi hành của phi đoàn đang nằm dưỡng thương tại đây, và phi cơ đã bị mất cắp. Anh Nghĩa mất chức Phi đoàn trưởng và bị đưa vào quân lao Nha Trang chờ ngày ra tòa án quân sự. Theo lời anh Nguyễn Văn Trang, một người bạn rất thân của anh Nghĩa từ những ngày ở Phi đoàn 1 trực thăng, kể lại những lần vào thăm anh Nghĩa: “Thỉnh thoảng tôi đến thăm anh và mang quà tiếp tế cho anh, anh ra gặp tôi vẫn bận chiếc áo bay, hút thuốc lá Mỹ, người vẫn phây phây. Anh bảo tôi đến thăm là đủ rồi không cần quà vì anh đã có đủ. Tôi ngạc nhiên hỏi thêm thì anh bảo, hiện anh có rất nhiều đàn em phục vụ. Tên du đảng số một Nha Trang đã kết nghĩa huynh đệ với anh. Hằng ngày chúng nó hầu hạ cung phụng đủ thứ...” 
      Cuối tháng 3/75 Phi đoàn tôi di tản về Sàigòn, nhân viên phi hành và vài ba chiếc Chinook còn khả dụng được gởi đến tăng cường cho Phi đoàn 237, Sư Ðoàn 3 KQ. Riêng phần tôi ngày ngày vào trình diện phòng đặc trách trực thăng và tôi cứ lang thang hết phòng sở nầy đến phòng sở khác với một tâm trạng hoang mang, đợi chờ những bất hạnh sắp sửa xảy ra! Vào một buổi trưa gần cuối tháng tư 75 trên đường từ căn cứ Tân Sơn Nht trở về nhà, tôi chợt thấy anh Nghĩa mặc quân phục kaki, lái chiếc xe jeep màu trắng bên kia đường vào căn cứ. Tôi vẫy tay chào anh, cùng lúc ấy anh cũng nhận ra tôi và đưa tay ngoắc tôi trở lại. Vào thời khoảng đó trên con đường Cách Mạng trước cổng Phi Long lúc nào cũng đầy ấp xe cộ, hn độn và thật tình lúc đó tôi chỉ mong sớm về nhà để trấn an gia đình trong những ngày đầy sôi động nầy, nên tôi đã không quay trở lại. Ðây là lần cuối cùng tôi nhìn thấy anh. Sau ngày 30 tháng 4 năm 75 anh bị đưa đi học cải tạo và đã chết ở trong tù! Bây giờ mỗi lần nhớ đến tôi lại thấy ân hận, cứ mãi trách mình sao quá vô tình với anh!
      Bài viết nầy xin được xem như một lời tạ lỗi, một tưởng niệm gởi đến anh Nghĩa, một người đàn anh của tôi trong quân chủng Không Quân. Anh là một người giàu tình cm, luôn luôn đối xử hòa nhã với mọi người, một phi công ưu tú của Không Lực Việt Nam Cộng Hòa đã hiến trọn quảng đời tuổi trẻ của mình để bảo vệ Tổ Quốc, Không Gian. Tiếc thay khi lìa đời đã không có được một lá Quốc Kỳ để ấp ủ xác thân! Anh Nghĩa! Gia đình anh, bạn bè anh, và chúng tôi, những người đã từng chia xẻ với anh những hiểm nguy, gian khổ cùng vinh quang của những ngày ở Phi đoàn 219 sẽ luôn tưởng nhớ đến anh. Cầu mong linh hồn Jean Nguyễn Văn Nghĩa luôn được an bình nơi cỏi phúc.
      KQ. Ðỗ văn Hiếu


Trời Mưa Nhớ Bạn
  • (Để tưởng niệm các đồng đội đã nằm xuống trên quê hương)


    Liên tiếp 3 ngày nay mưa bão tới tấp đổ vào đây. Nơi tôi đang sinh sống là một thành phố nhỏ đã có từ rất lâu, có lẽ cả hơn trăm năm nay. Tôi đành phải bỏ 3 buổi sáng cuốc bộ thể dục. Thường thì mỗi ngày khi tôi thức dậy, làm vệ sinh cá nhân xong là tôi khoác chiếc áo lạnh và mở cửa bước ra khỏi nhà. Từ đường Sobrato, qua đường Budd rồi băng qua đại lộ San Tomas là tới công viên Morgan. Tới đó, tôi sẽ gặp hai người bạn già từ khu chung cư Rincon, dành riêng cho người cao niên lợi tức thấp, ra cùng đi. Cả 3 sau đó đi một vòng tròn lớn, theo đường Rincon qua Winchester rồi trở về lại đường Budd. Thời gian tròn một tiếng. Thói quen này chúng tôi có từ cả chục năm nay. Hôm nào mưa gió hoặc cảm cúm không đi đưọc thì trong người thấy bứt rứt khó chịu.
    Như hôm nay đây, qua khung cửa nhìn ra đường, những hạt mưa theo gió tạt rào rào lên mái, hơi nước phủ mờ khung kính, thỉnh thoảng một chiếc xe hơi chạy qua hắt nước tung lên hè. Mưa lớn quá, nước chảy vào hệ thống cống không kịp rút. Tivi thông báo có lụt ở vài nơi. Đã thật lâu, tôi mới lại thấy đưọc một cơn mưa lớn như thế này. Thả hồn trôi theo dòng thời gian và cùng với những hạt mưa kia, tôi trở về những hình ảnh quen thuộc cũ, từ lâu nằm ủ sâu trong tiềm thức.
    Thói quen đi bộ thực ra chẳng phải do tôi thích làm mà đúng hơn là do lời khuyên của bác sĩ Phan khi phát hiện tôi bị bịnh thấp khớp và cao máu. Phan, trước ngày mất nước, là một bác sĩ của tiểu đoàn quân y ở vùng 4 chiến thuật. Sau 3 năm tù “cải tạo”, trở về nhà được hơn 1 năm thì anh cùng gia đình vượt biên sang Hoa kỳ. Tại đây, hai vợ chồng vừa đi làm vừa đi học lại và lấy đưọc bằng hành nghề của tiểu bang. Lúc tôi gặp Phan là năm 1993, khi đó tôi cũng qua đây định cư được gần 1 năm. Tuổi tác tôi nằm ngay đúng ranh giới của sự dở ông dở thằng. Bằng cấp chuyên môn ngoài nghề cầm súng là hai bàn tay trắng, một cơ thể đủ các loại bịnh do hậu quả của những năm tù đày trong các trại tù từ Nam ra Bắc.
    Năm 93 cũng là năm kinh tế Hoa kỳ trong giai đoạn suy trầm nên xin công việc làm thật khó. Từ việc assembler với lương tối thiểu $4.25/ giờ mà nạp đơn xong cũng phải chờ cả vài tuần mới có nơi gọi phỏng vấn. Nhìn đám người xếp hàng dài chờ đợi tới phiên mình mà chán ngán! Quả đúng như lời của một người bạn sang trước bảo “Lứa tuổi mình thì chỉ có đi hành nghề tự do là thích hợp thôi.” Đó là lý do tôi đi theo một anh bạn cùng đơn vị ngày trước để làm nghề cắt cỏ. Huỳnh qua trước tôi gần 3 năm theo diện HO. Nhờ đứa con út còn vị thành niên nên hắn được chính phủ cho đi học nghề, hắn đã chọn lấy cái nghề ít cần chữ nghĩa này. Dĩ nhiên tôi chỉ là phụ tá, một tay lái phụ cho chiếc máy cắt cỏ và công việc chính là sử dụng chiếc máy thổi bụi và lá cây - chúng tôi gọi là cây chổi quét - để vun rác thành đống và sau đó hốt vào bao đựng rác tống lên xe truck rồi đem đi đổ. Những ngày mới vào nghề khá vất vả nhưng bù lại tối về nhà mệt nhừ tử, nằm ngay cán cuốc đánh một giấc cho tới sáng. Lương ăn chia theo thoả thuận theo số việc có trong ngày, vì thực ra khi còn chung đơn vị, chúng tôi coi nhau như anh em nên giờ đây cũng là dịp bày tỏ tình nghĩa huynh đệ chi binh vậy thôi. Huỳnh người miền Nam, vùng Cái Vồn nên khi phát âm chữ r thành chữ g nghe cũng vui vui.
    Năm đó là năm 1964. Tôi ra trường đã hơn một năm, là đại đội trưởng Đại Đội 2 Tiểu Đoàn 3/11. Cả tiểu đoàn đang tham dự một cuộc hành quân săn diệt địch. Khu vực hành quân nằm về hướng đông bắc chi khu Cai Lậy, trong vùng Hưng Thạnh Mỹ. Một khu vực chằng chịt kinh rạch. Đơn vị chúng tôi được trực thăng vận từ ngã ba Cái Bè, xuống vùng Kinh Cái Đôi, từ đó lục soát dọc theo Kinh Tổng Đốc Lộc về hướng đông, qua Kinh Một, Kinh Hai...
    Cả tiểu đoàn dừng lại giữa cánh đồng ngâp nước mênh mông. Tháp Mười lúc này vào mùa mưa. Bốn bề nước trắng xóa chói cả mắt. Xa xa là những hàng cây so đũa chạy dọc theo các mương đào. Xa hơn nữa là những xóm nhà nằm cặp theo bờ kinh. Tất cả phủ mờ dưới cơn mưa buổi chiều. Hành quân vùng Đồng Tháp trong mùa này luôn đòi hỏi những đại đội trưởng đi đầu có khả năng đọc bản đồ giỏi, nếu không, khi đụng trận kêu hoả lực pháo yểm là mang họa. Lộc là đại đội trưởng kỳ cựu nhất trong tiểu đoàn và đặc biệt anh có khả năng chấm tọa độ số một, nên không lạ, mỗi khi hành quân vùng này, đại đội anh luôn tiên phong. Tiếng đại úy Cao tiểu đoàn trưởng gọi cho Lộc.
    - Còn cách mục tiêu bao xa nữa Sàigòn?
    - Chừng cây rưỡi nữa thôi, thẩm quyền.
    - Có thấy động tĩnh gì không?
    - Trời mưa như trút thế này làm sao mà thấy? Thẩm quyền cho thằng Sao Mai đánh vài vòng xem sao, chứ tôi có cảm giác là lạ sao ấy. 
    Sao Mai là danh hiệu truyền tin của máy bay quan sát.
    - Sao Mai về rồi, nó bảo khi nào ngớt mưa mới lên đưọc.
    - OK, thôi thẩm quyền cho tôi một trái khói điều chỉnh ngay giữa mục tiêu xem sao trước khi vào. 
    - OK, nói với thằng em đi chung làm đi. 
    Thằng em đi chung đây chính là toán tiền sát viên pháo binh đi theo đại đội của Lộc.
    Đoàn quân dừng giữa đồng, từ đây tới bìa Xóm Ông Bốc cũng còn cả cây số. Nhưng cứ lùi lũi tiến vào mục tiêu như kiểu này, nếu tụi nó nằm phục trong đó mà bắn ra thì chết chắc. Đại úy Cao, tiểu đoàn trưởng tự nhủ như thế và cho mời đại úy Hiền tiểu đoàn phó trở lại phía sau hội ý. Đại úy Hiền trở về đại đội tôi rồi kêu Lộc qua cùng bàn bạc. Hiền hỏi chúng tôi:
    - Hai chú có nhìn thấy cây liễu cao nằm ở phía tay phải kia không?
    Lộc nhanh miệng:
    - Đó có lẽ là cái đình, đại úy ạ.
    - Sao chú mày biết?
    - Kinh nghiệm bản thân của tôi mà đại úy. Đại úy nhìn xem trên bản đồ đây này. Chúng ta đang đứng ở đây, nhìn xéo qua hướng hai giờ là cây liễu đó, cũng chính là ký hiệu cái đình miếu gì đó trên bản đồ đây này.
    Tôi gật đầu tán thành. Kinh nghiệm bản thân tôi cũng thấy thế. Trong khuôn viên các miếu đình hoặc chùa trong vùng chúng tôi đi qua luôn luôn có một loại cây gì đó không đa thì phong hoặc thông hoặc liễu. Hình như trồng loại cây tán cao là một chỉ dấu để cho bà con dễ nhận biết khi đi tìm những địa điểm này.
    Đại úy Hiền chỉ về hướng một rặng trâm bầu nằm nhô trên mặt nước quay qua bảo tôi:
    - Vũ cho tắp đại đội vào dọc theo rặng cây đó bố trí yểm trợ cho Lộc vào mục tiêu. Còn Lộc tiến tới cách mục tiêu chừng 800 thước thì dừng lại. Cho tiểu đội quân báo mò vào trước xem sao rồi mới tính nghe chưa?
    Lộc gật đầu nhận lệnh. Trái pháo khói được yêu cầu từ trước bây giờ mới nghe tiếng nổ. Tiếng đạn rít khi bay qua ngang đầu rồi rớt vào trong làng, một cuộn khói trắng bay lên cao.
    Đại đội tôi dàn hàng ngang tiến dần đến rặng cây nằm nhô lên giữa cánh đồng, còn đơn vị của Lộc tách qua hướng tay trái tôi, sau đó bì bõm lội nước di chuyển. Cơn mưa như ngày càng nặng hạt hơn, nước trên đồng lăn tăn gợn những đợt sóng nhỏ. Vào gần bìa làng, mực nước có vẻ đỡ hơn đôi chút, giữa đồng nước lội trên đầu gối, có chỗ ngang lưng, bây giờ chỉ còn giữa bắp chân một chút. Nước từ trên trời, nước ngập dưới chân, chúng tôi như đang đi giữa một không gian đẫm nước. Có lẽ không một hình ảnh nào ảm đạm hơn hình ảnh những ngưòi lính trùm kín poncho, đi dưới trời mưa mù mịt, lặng lẽ như chúng tôi trong giờ phút này…
    Chuẩn úy Huỳnh khi tới bờ cây gọi máy báo cho tôi biết đã tới vị trí. Tôi cho lệnh ngừng và dàn hàng ngang bố trí hướng về phía kinh sẵn sàng yểm trợ cho cánh quân Đại Đội 1 của Lộc ở phía trái.
    Tiểu đội tiền sát của Lộc cách bìa làng chừng gần trăm mét thì súng từ bìa làng bắt đầu khai hỏa. Trời mưa vẫn ầm ầm trút nước, tiếng đạn bay vèo vèo trong mưa, những tia chớp lòe sáng nhấp nháy, tiếng người kêu tản thương, tiếng lội nước bì bõm, Tiểu đoàn may mắn nằm ngoài tầm đạn súng nhỏ, ngoại trừ đại đội của Lộc và 1 trung đội của tôi. Tiếng pháo binh bắn chặn, tiếng la hét tuyệt vọng của những người lính ngã xuống nước vì trúng đạn. Tất cả nhòa đi trong mưa. Tôi bất động, không thể làm gì được trong tình thế này. Biển nước mênh mông chạy tới sát ven làng không cho phép chúng tôi dàn quân mở một cuộc xung phong sinh tử. Chúng tôi đứng giữa hai biển nước, từ trên trời dội xuống và một biển nước phèn chua nằm dưới chân.
    Lệnh của tiểu đoàn cho Lộc và tôi rút về phía sau 200 mét ra ngoài tầm hỏa lực của địch. Vẫn không chỗ núp, vẫn đứng dưới mưa.
    Nửa giờ sau, 2 chiếc phi cơ quan sát lên lại bầu trời, cơn mưa thưa hạt dần. Trời về chiều. 4 chiếc khu trục được gọi đến bay trên mục tiêu, giờ đây pháo binh đã ngưng. Phi cơ lao xuống thả bom dọc theo kinh. Có tiếng đại liên phòng không bắn lên phi cơ. Đạn phòng không toả những vòng khói nhỏ nổ lụp bụp trên trời. Ven làng từng cột nước dâng cao trộn lẫn những đám khói và quầng lửa vụt lên mỗi khi có trái bom được thả xuống. Khi máy bay làm xong nhiệm vụ, pháo binh lại tiếp tục. Cả mục tiêu trở thành một vùng khói phủ. Tiếng súng bắn trả thưa thớt dần. 4 chiếc khu trục khác lại vào cuộc, vần vũ bắn phá mục tiêu...
    -----
    Năm 1995, tôi được nhận vào làm việc cho một hàng lắp ráp điện tử. Công việc của tôi là kiểm soát lại toàn bộ những component đã được gắn trên board xem có thừa thiếu gì không hoặc có bị chập mạch nào không, sau đó đánh dấu và chuyển qua cho bộ phận touch-up sửa chữa điều chỉnh. Nói chung công việc cũng nhàn hơn thời đi cắt cỏ, bỏ báo. Xếp của tôi là một anh chàng Mỹ gốc Jamaica có tên là Jason. Hôm mới vào nhận việc, Jason hỏi tôi đủ mọi thứ chuyện, sau khi nghe tôi kể tôi từng là một sĩ quan quân lực VNCH, hoạt động hành quân khu vực Mỹ Tho, Kiến Phong, Kiến tường. Jason cho biết cũng từng là hạ sĩ quan mang máy truyền tin cho một đơn vị thuộc Sư Đoàn 9 Hoa Kỳ đóng quân tại căn cứ Đồng Tâm Mỹ Tho. Jason bảo hồi tết Mậu Thân hắn bị thương trong cuộc hành quân giải tỏa khu bến xe thị xã. Hắn được đưa ra Hạm Đội 7 điều trị và sau đó được đưa về Mỹ giải ngũ vì đáo hạn phục vụ 2 năm đã ký trước đó. Jason nghe tôi kể về những ngày tù đày gian khổ trong các trại tù cải tạo từ Nam ra Bắc, hắn thực sự cảm thông và chia xẻ. Hắn bảo: “Đất nước you nếu không có chiến tranh thì dễ thương biết mấy.”
    Tôi gật gù đồng tình. Jason bảo từ nay you chịu khó overtime kiếm thêm chút đỉnh mà xài, vì theo hắn nghĩ chắc hãng này cũng không kéo dài được lâu. Từ đó tôi cặm cụi làm thêm giờ, mỗi ngày thêm 2 tiếng, lợi tức nhờ vậy cũng khá hơn. Đám công nhân trẻ ham vui ít ai chịu làm thêm ngoại trừ được manager yêu cầu khi có công việc bất ngờ cần hoàn tất. Cùng làm chung phòng còn có một ngưòi Việt khác tên là Bách. Bách xưa kia là một chuẩn úy bộ binh thuộc Sư Đoàn 2 đóng tại Quảng Ngãi. Bách đi tù 4 năm rưỡi tại Quảng Nam thì được thả, sau đó vào Nam vưọt biên mấy lần, bị bắt lên bắt xuống mới tới được Nam Dương và đến năm 1983 mới vào được Hoa kỳ. Từ ngày qua đây, Bách cũng làm đủ mọi ngành nghề nhưng không thành công vì hắn bịnh tật triền miên. Bách bảo hồi còn trong tù “cải tạo”, đói quá đang sức trai nên ăn uống xô bồ linh tinh đủ mọi thứ cây củ rễ lá, cào cào châu chấu ếch nhái nên khi qua đây theo hắn nói, bộ đồ lòng kể như phế thải. Bao tử thì lúc đau lúc không, ruột già ruột non gì cũng thế. Đồ ăn thì dị ứng đủ thứ, ăn thịt bò thì nổi mề đay, ăn trứng thì ói, ăn cá thì ngứa gãi rách da, tóm gọn lại chỉ có món thịt gà là tạm ổn. Vì thế Bách giống như một ông già khó tính, lúc nào cũng nhăn nhó khó chịu, đôi lúc bẳn gắt hắn còn cà khịa với cả Jason sá chi là ai. Được cái Jason cũng từng là một quân nhân nên tốt tính, hắn thông cảm với những người vừa ra khỏi cuộc chiến đầy gian nan và bất hạnh nên thường bỏ đi những lúc khó xử như thế.
    -----
    Trời về chiều. Mưa đã ngớt dần. Một đoàn trực thăng chở thêm Tiểu Đoàn 32 BĐQ trừ bị đổ vào phía nam khu Xóm Ông Bốc phía bên kia bờ kinh cách chỗ chúng tôi chừng 2 cây số. Những đợt bắn dọn bãi đáp của toán trực thăng võ trang và sau đó là các loạt pháo binh từ quận Cai Lậy và Long Định phủ trùm lên mục tiêu trước khi các toán quân được đưa vào trận địa. Đại úy Cao lại kêu Đại úy Hiền trở về Bộ chỉ huy để bàn bạc. Đồng hồ bây giờ chỉ 5 giờ 40. Đại úy Hiền kêu tôi và Lộc căng đội hình hàng ngang, mở hoả lực tiến chiếm bờ kinh. 6 giờ, dàn xong đội hình, chúng tôi bắt đầu vừa di động vừa khai hỏa. Nước mênh mang bốn bề. Dưới những hạt mưa đan chéo, chúng tôi lầm lũi bưóc. Từng bước bìa làng hiện ra ngày càng rõ hơn và trong cái mù mịt của khói súng, mùi thuốc đạn, mùi rơm rạ cháy, còn thêm mùi tanh tanh của máu và mùi khét của thịt da. Có vài loạt đạn bắn ra từ một căn nhà sập vách. Không ai bảo ai, tất cả đều ùa chạy vào mục tiêu. Tiếng đạn rít man rợ trên đầu, tiếng người la, tiếng thét gào, tiếng hét thất thanh của ai đó trúng đạn, tiếng chửi thề... những âm thanh hỗn độn ấy làm cho không khí chung quanh ngột ngạt khủng khiếp. Sau cùng thì đại đội tôi và Lộc cũng bám được vào bìa làng. Cuộc lùng giết nhau bắt đầu...

    Tiếng của Huỳnh gào lên trong máy: “Có cây trung liên trong lùm tre trước mặt đó!” Rồi những tiếng nổ nghe nhức cả tai, tiếng súng phóng lựu M79, tiếng lựu đạn, tiếng hét “Bắt lấy nó!” không phân biệt được của ai...
    Đạn bay vèo vèo trên đầu. Tiếng rít của đạn xuyên trong không trung nghe rờn rợn vì nó cảnh báo người lính sự chết chóc đang diễn ra là có thật. Súng đạn vô tình, chẳng e dè hoặc nể mặt bất kỳ ai, đúng đường đi của nó là mất mạng vậy thôi. Trúng đạn hay không chẳng cần tài giỏi gì, lại càng không thể cố tình mà tránh đưọc. Có những tiếng đạn đi nghe nhè nhẹ mượt mà khi xuyên qua thịt da, cũng có những tiếng nghe khô khốc cục mịch khó chịu. Nhất là những tiếng đạn phang vào các gốc cây, tường nhà, vào các chướng ngại bằng kim khí, tiếng mảnh văng ngược lại nghe chát chúa không chịu nổi.
    Đang bám theo trung đội 2 của chuẩn úy Trí bước vào căn nhà bìa xóm đầu tiên thì tôi kịp nhận ra một cú đẩy mạnh vào ngực và ngã ngửa ra phía sau không thể gượng lại được. Tôi nghi ngờ mình đã bị thương. Tôi nhủ thầm, không sao cả, còn biết đưọc mình trúng đạn nghĩa là mình còn sống. Phải bình tĩnh, không có gì phải hốt hỏang cả. Có tiếng thét thất thanh của Cầu, người lính mang máy truyền tin của đại đội: Trung úy bị thương rồi! Cầu vực tôi dậy, dìu tôi ngồi dựa vào một gốc rạ cháy xém một bên nằm cạnh căn nhà. Tiếng Cầu kêu y tá đại đội. Tôi mê man không thấy gì nữa.
    Lúc tỉnh lại, có lẽ đã quá nửa đêm, trời lạnh và mưa đã tạnh hẳn. Tôi thấy nhói đau vùng ngực phải. Khát nước quá, nhưng không sao nói ra lời, chân tay nặng như đeo chì, không thể nhúc nhích nổi, thậm chí cả một tiếng rên nhỏ cũng không có sức mà phát ra. Tôi nghĩ là tôi sẽ chết. Số phần của một người lính là thế. Kể từ sau khi ra trường giáp mặt với cái chết hàng ngày mỗi khi nhận được lệnh hành quân thì cái chết không còn ám ảnh khiến tôi phải sợ hãi. Vả lại chính mắt tôi đã chứng kiến biết bao nhiêu cái chết và cách chết của đồng đội, của địch quân, lâu dần thành quen.
    Tôi nhớ tới lời của Võ Thừa Tự, một thằng bạn cùng khóa, cùng đơn vị, Tự bảo: “Mỗi con ngưòi có một cái số. Sợ cũng thế mà không sợ cũng vậy. Chỉ có điều cái sợ làm cho mình hèn đớn, và khi chết là cái chết lãng xẹt”. Đôi lúc nhậu nhẹt sau một lần hành quân dài ngày hoặc sau những lần đụng độ lớn hắn còn triết lý: “Trong chiến tranh có rất ít anh hùng còn sống sót. Những người còn lại sau chiến tranh đa phần là những người may mắn thoát chết...” Tự lớn hơn tôi 2 tuổi. Hắn tuổi con cọp. Xuất thân là một học sinh Cao Thắng nên Tự rất khéo tay và rành rẽ kỹ thuật. Sửa xe, sửa súng là cái thú vui của hắn. Lúc tôi về tiểu đoàn nhận nhiệm vụ đại đội trưởng đại đội 2 cũng là lúc Tự bàn giao chức vụ đại đội trưỏng đại đội chỉ huy tiểu đoàn lại cho Minh, một sĩ quan đàn anh trước tôi một khóa. Tự là sĩ quan thâm niên trong các đại đội trưởng của tiểu đoàn này, Minh và tôi cũng từng là đại đội trưởng nhưng lại từ các tiểu đoàn khác trong cùng trung đoàn, sau khi học xong khóa đại đội trưởng từ Thủ Đức trở về thì được bổ sung sang đây.
    Mặt trời vừa hừng lên, Tự đã đến thăm tôi. Tôi mơ màng không nhìn rõ mặt người mà chỉ còn phân biệt được tiếng nói. Tiếng Tự chửi thề “Mẹ kiếp”, sau khi nghe máy liên lạc từ Bộ chỉ huy hành quân cho biết phải chờ một tiếng nữa mới có trực thăng tản thương. Có tiếng nói nhỏ bên tai tôi: “Yên chí, tao đã xin tản thương cho mày rồi, yên tâm, không sao đâu”. Đầu óc tôi mù mờ những hình ảnh không rõ nét. Tôi nghĩ đến mẹ tôi. Tôi bỗng thấy hình ảnh bà nhạt nhòa nước mắt..
    -----
    Bách tâm sự từ hồi mới qua đây, lúc đầu em đi bỏ báo, nghề này đơn giản không cần học hành gì, ngoài sự chú tâm luyện tập cách quăng sao cho chính xác vào địa chỉ mình muốn giao là đủ, vì thế nghề còn có tên là nghề quăng chữ!! Nhưng sau khi làm đưọc vài tháng thì chịu không nổi, vì công việc đòi hỏi phải thức rất sớm bảo đảm cho khách hàng có báo đọc trước giờ đi làm nên những ngày mùa hè thì không mấy trở ngại. Nhưng về mùa đông, sương mù dầy đặc lái xe chạy vào các con lộ nhỏ quăng báo cho những căn nhà trên núi thì vô cùng vất vả khó khăn. Hắn đành phải bỏ nghề và nhường dây bỏ báo lại cho một nguời khác. Sau đó thì hắn đi bán chợ trời. Chợ trời ở đây gồm có 2 nơi, một trên đường Beryessa còn gọi là chợ trời Lớn, một nhỏ hơn trên đường Snell gọi là chợ trời Nhỏ. Cũng do một bạn đồng hương khác giới thiệu, hắn phụ cho gia đình người Campuchia có 1 nông trại nhỏ tại Gilroy chuyên trồng các loại rau cải và rau thơm. Hàng tuần Bách phụ thu hoạch và phụ đứng bán, mỗi tuần 4 ngày từ thứ 5 đến chủ nhật. Mỗi ngày chủ bao ăn và trả cho 50 tiền mặt, vị chi được 200 một tuần cũng tạm sống qua ngày. Ở những ngày rảnh khác thì hắn đi phụ bếp, bưng phở, dọn vệ sinh linh tinh đủ thứ...
    Ấy vậy mà hàng năm Bách cũng dành dụm gởi về cho gia đình bà chị ruột ở trong nước cả ngàn đồng. Làm được gần 2 năm thì Bách bỏ chợ, lý do đơn giản, Bách bảo, sống kiểu này chỉ hơn mấy người homeless một bước chân. Thành ra hắn cũng giống tôi đi học điện tử cho nó ra một cái nghề! Khi nói chuyện về gia đình, Bách thổ lộ, hắn mới cưới vợ đưọc chưa đầy năm thì mất nước, trong thời gian đi tù cô vợ trẻ bỏ đi cặp bồ một cán bộ tập kết trở về làm chủ tịch xã. Khi đưọc tha, Bách không dám trở về làng mà đi ra tá túc nhà bà chị hai tại Hội An. Một thời gian sau đó Bách vào sống lang thang tại Sàigòn theo một người bà con buôn bán thuốc tây, quần áo cũ tại chợ trời. Có lần tâm sự, Bách bảo tôi, ngày xưa các cụ bảo nước mất nhà tan là đúng thiệt anh nhỉ. Rồi hắn nói người ta bảo ông Thiệu nói câu nổi tiếng “Đừng nghe những gì cộng sản nói, hãy coi những gì cộng sản làm”. Riêng em thì em lại thích câu này hơn “Đất nước còn, còn tất cả, đất nước mất, mất tất cả!” Tôi bảo câu nào cũng đúng hết. Chỉ có điều nghe rồi chẳng ai tin nên mới ra nông nỗi này thôi.
    -----
    Năm 1965. Tôi bị thương lần thứ hai trong cuộc hành quân truy đuổi tiểu đoàn 516 tại vùng Thạnh Phú Kiến Hòa. Lần này thì nhẹ hơn. Viên đạn xuyên qua đùi phải khi tôi dẫn đại đội tiến quân vào làng. Viên đạn đi ngọt quá, đến nỗi khi phát hiện ra ống quần có vết máu và nhìn thấy một lỗ thủng nhỏ trên đùi tôi mới hay. Cũng may là chúng tôi đã tràn ngập mục tiêu và tôi đang theo dõi các binh sĩ dưới quyền lục soát thu dọn chiến trường. Buổi chiều tôi và một số đồng đội được trực thăng chuyển về bịnh viện dã chiến tại Mỹ Tho. Sau gần 2 tháng vừa chữa thương vừa dưỡng thương tôi nhận sự vụ lệnh trở về lại trung đoàn. Trung tá Thanh, trung đoàn trưởng, hỏi tôi:
    - Sao sức khỏe chú mày thế nào?
    Tôi cười trả lời:
    - Cũng bình thường thôi, trung tá.
    - Thời gian nghỉ vừa qua đã lại sức chưa?
    - Cũng tàm tạm.
    Trung tá Thanh nguyên là vị sĩ quan huấn luyện chúng tôi khi tôi còn là sinh viên sĩ quan. Ông tốt nghiệp khóa 1 Nam Định. Tướng ông cao lớn khôi ngô, tính tình cởi mở. Ông bảo tôi:
    - Tớ biết chú mày còn mệt, nhưng tình hình cán bộ giờ này kẹt quá. Chắc chú mày có nghe vụ thằng 2 (Tiểu Đoàn 2) mới vừa đụng một trận nặng tại Cái Nứa, hiện đang trở về Vĩnh Kim nằm dưỡng quân và nghỉ ngơi. Ngày mai chú mày về trình diện đại úy Rỡ nhận đại đội, giúp hắn nghe. 
    Tôi gật đầu đồng ý. Có điều rất lạ, khi đi tác chiến lâu, những người lính như chúng tôi đã trở nên quen thuộc với nếp sống đánh đu với tử thần này rồi. Sau những giờ phút hiểm nguy là sự thoải mái thống khoái. Chẳng lo ai tranh giành đoạt ghế! Mỗi lần trở về thành phố nghỉ chừng ít ngày lại thấy nhớ thấy thương bạn hữu đồng đội, nhớ đơn vị. Nơi đó tình cảm và thái độ cư xử giữa con người luôn được thử thách, sàng lọc. Vì phải đối mặt với cái chết thường trực nên chân thành đùm bọc nhau hơn. Những lọc lừa giả mạo được nhận diện chỉ mặt rất nhanh, chỉ cần sau một lần đụng độ là biết đá biết vàng. Khi súng nổ lên, tên bay đạn réo, những phét lác huyênh hoang trốn mất, chỉ còn con người trần trụi thực sự hiện mặt. Đó có lẽ là lý do chính khiến cho những ai từng ở những đơn vị tác chiến lâu năm luôn cảm thấy lạc loài cô đơn khi được đưa trở về các đơn vị yểm trợ hậu phương. Hiểm nguy dễ kết bạn, phú quý lắm kẻ thù, cổ nhân dạy thế.
    Đời lính chiến là cuộc hành trình vòng tròn: Trại lính - Mặt trận - Nhà thương. Cái chết đối với lính có khi là một cách giải thoát. Sự khốc liệt của chiến tranh, sự bế tắc không thể vượt qua nổi cái phi lý và bất công của hiện thực luôn phơi bày ra trước mắt. Khi không có con đường nào để đi ra khỏi cái địa ngục trần gian ấy thì cái chết cũng là một cách để nghỉ ngơi. Đã có lúc tôi suy nghiệm như thế. Lâu dần, tôi thấy mình chai lỳ đi, mất dần cảm xúc. Những hoạt động hàng ngày hoặc trong chiến đấu trở thành một thứ phản xạ mang tính bản năng. Lần bị thương đầu năm 1964 trong cuộc hành quân phía đông bắc Cai Lậy khu vực Kinh 1 thước, Xóm Ông Bốc, lần ấy đại đội của tôi chạm mặt với trung đoàn Đồng Tháp 1.
    Nằm tại Quân y viện Cộng Hòa gần 2 tháng. Ngửi mùi thuốc, nhìn cảnh chăm sóc thay băng, chích thuốc hàng ngày... tự dưng tôi đâm ngang chán đời! Một anh chàng thiếu úy BĐQ tên Du nằm ngay cạnh giường, 2-3 ngày đầu tiên cứ nằm thiu thỉu ngủ chừng một lát lại hô xung phong! Viên đạn đại liên lấy đi mất hơn nửa cánh tay, về tới quân y viện đành cho đi nốt phần xương vỡ vụn còn lại! Du bảo tôi: “Lần này thì chắc em được giải ngũ thôi anh nhỉ!” Tôi cười buồn: “Thì cũng tốt cho cậu thôi”. Rồi những ngày về Sàigòn nghỉ dưỡng thương, nhìn cảnh nhốn nháo biểu tình, xuống đường. Những lần chính biến nối tiếp nhau làm tôi không còn hứng thú gì với cái hậu phương luôn luôn hỗn loạn ấy nữa. Tôi nhớ và thương các đồng đội và đơn vị của mình. Giờ đây chắc hẳn họ đang di chuyển trên các vùng hiểm nguy truy tìm địch hoặc đang nằm nghỉ ngơi trong các làng xóm ven quốc lộ trong khi chờ đợi một lệnh hành quân mới. Hôm chia tay mẹ để trở về đơn vị, mẹ tôi còn dặn đi dặn lại: “Kỳ này con nhớ xin với ông chỉ huy cho về làm văn phòng nghe con!” Tôi gật đầu cho mẹ vui lòng.
    Tôi đón xe đò đi ngã ba Trung Lương rồi đi xe lam về lại trung đoàn vào buổi sáng. Buổi chiều, Vĩnh, sĩ quan ban 1 của trung đoàn, rủ tôi ra một quán nhậu ven kinh Long Định uống rượu. Bộ chỉ huy trung đoàn 11 nằm ngay bên cạnh Kinh Sáng, tọa lạc trong một căn nhà hai tầng lầu. Con kinh nối liền từ sông Mỹ Tho đi ngược lên hướng bắc mở ra hướng vận chuyển đưòng thủy vào khu vực Mỹ Phước Tây và Tháp Mười. Nước kinh trong veo, mặt kinh rộng hơn 20 thước, cư dân trong những vùng bắc của kinh về sống tập trung gần quận Long Định để có an ninh hơn.
    Xị rượu đế gần hết, Vĩnh muốn kêu thêm một xị khác thì tôi cản lại:
    - Nhức đầu thấy mẹ, thôi không uống nữa.
    Dĩa lòng heo cũng gần hết, mỗi đứa ăn một tô cháo, xong thì chúng tôi ra về. Vĩnh hỏi ngày mai có muốn về Sài gòn chơi một hai bữa trước khi đi Vĩnh Kim không? Tôi bảo thôi, tháng qua ở nhà chán rồi, bây giờ có về cũng vậy thôi.
    Tôi đón xe lam đi ngã ba Vĩnh Kim vào buổi sáng hôm sau. Đầu còn váng vất vì chai rượu đế uống với Vĩnh chiều hôm trước. Chiếc xe cũ chạy trên hương lộ gập ghềnh làm tôi tỉnh táo dần. Đến gần khu chợ, gặp lại Chương, một sĩ quan khóa đàn em cùng dân Võ Bị đang ngồi trong một quán cóc bên đường. Tôi xuống xe khoác ba lô đi dọc theo lộ. Chương nhìn ra kêu: “Niên trưởng, niên trưởng...” Anh em gặp lại nhau mừng rỡ. Chương bảo: “Anh về thế anh Lê Ba phải không?” Tôi gật đầu. Ba, bị tử thương trong trận đánh mấy hôm trước, Liên, đại đội phó bị thương nhẹ hiện đang nằm quân y viện.
    Nghỉ dưỡng quân và bổ sung quân số được đúng một tuần thì đại úy Rỡ về Bộ chỉ Huy Trung đoàn nhận lệnh hành quân. Tiểu đoàn tập trung di chuyển bằng xe tới Ba Dừa rồi lội bộ vào tới ngã ba Long Trung. Từ đó, 8 giờ sáng hôm sau sẽ tiến về hướng tây tới mục tiêu là xã Xuân Sơn Cẩm Sơn. Nơi đây nổi tiếng là khu hang ổ cố thủ của các trung đoàn Đồng Tháp thay phiên nhau trú đóng để thực hiện các cuộc tấn công phá hoại và phục kích trên quốc lộ 4. Cuộc hành quân được tổ chức quy mô với sự tham dự của nhiều đơn vị, binh chủng. Chúng tôi đi men theo sông Mỹ Tho trong khi một tiểu đoàn TQLC và một tiểu đoàn BĐQ tiến quân từ ngoài quốc lộ 4 đi vào. Ngoài ra còn có thiết vận xa thuộc Thiết Đoàn 6 và các đơn vị địa phương quân thuộc tiểu khu Định Tường phối hợp.
    Cuộc chạm súng lẻ tẻ bắt đầu từ 10 giờ sáng từ các hướng tiến quân khác. Cùng thời gian đó, chúng tôi vẫn đang lặng lẽ di chuyển. Cho tới gần trưa đại đội tôi mới chạm địch khi còn cách mục tiêu chính cả gần cây số, khu Xóm Ông Khâm. Tôi nhận định đây chỉ là các toán tiền tiêu canh chừng và hứa hẹn sẽ có một cuộc nổ lớn tiếp theo. Bám theo từ những xóm nhỏ trên đồng dần dần chúng tôi áp sát bìa làng. Trên bản đồ hành quân, khu chúng tôi lục soát nằm gọn bên này kinh, một nhánh ăn thông vào sông Mỹ Tho. Cả khu vực là một bệt xanh đậm toàn là dừa và dừa nước.
    Cuộc chạm súng thực sự nổ lớn lúc gần 1 giờ. Súng đủ loại bắn ra từ bìa làng ghìm chân đơn vị chúng tôi lại. Nhờ địa thế ở đây là ruộng khô và bờ thửa nhiều nên chúng tôi có chỗ núp tránh dễ dàng hơn. Đại úy Rỡ cho lệnh xin pháo binh tác xạ yểm trợ, một chi đoàn thiết vận xa thuộc Thiết Đoàn 6 có một đại đội ĐPQ tùng thiết cũng được điều tới hỗ trợ chúng tôi. Lại một màn luân vũ mới với súng đạn và người chết.
    Đơn vị địch bỏ vị trí rút sang bên kia kinh bằng những chiếc ghe ba lá nhỏ, lúc trời chạng vạng tối. Dấu vết máu và bông băng kéo lê bê bết trên cỏ và vài xác người nằm vùi trong các hầm cá nhân chữ A đã bị đạn pháo và bom đánh sập. 8 giờ, tiểu đoàn mới kiểm soát được mục tiêu nhưng trời đổ tối rất mau nên không lục soát kỹ được. Tổn thất của đơn vị chúng tôi cũng chưa được kiểm kê chính xác. Đại úy Rỡ ra lệnh cho bố trí phòng thủ tạm thời trong khu vực.Đại đội tôi được phân công bố trí quay về hướng bắc.Đại đội của Chương tổn thất nặng hơn lui về nằm chung với tiểu đoàn. Phía ngoài bìa làng giao lại cho chi đoàn thiết quân vận. Bên kia kinh có tiếng chân người chạy lào xào. Tôi xin bắn chiếu sáng, có tiếng người hét nằm xuống. Chúng tôi khai hỏa. Địch đang rút quân. Những lằn đạn chiếu sáng vạch những vệt xanh đỏ chen nhau găm vào các lùm bụi bên kia bờ kinh. Lại có tiếng người la í ới kêu gọi nhau, những tiếng chân chạy bì bõm trong nước...
    9 giờ đêm. Chiến trường chìm trong im lặng. Cả tiếng côn trùng cũng không nghe. Cái lặng lẽ của chết chóc và kinh hoàng. Tôi nằm sau một thân cây dừa nhìn qua bên kia bờ kinh. Bên ấy giờ đây cũng lặng im không tiếng động. Nhìn lên bầu trời mây phủ không một vì sao. Chiếc phi cơ thả trái sáng bay vần vũ, tiếng động cơ ù ù nghe buồn nẫu ruột. Lâu lâu một chiếc phi cơ bay ngang rất cao, chỉ có đèn tín hiệu màu đỏ nhấp nháy ở phía đuôi là còn thấy rõ. Cuộc chiến này sẽ kết thúc như thế nào đây? Vài tháng trước, mấy ông tướng còn thay nhau làm đảo chánh, chỉnh lý. Sinh viên học sinh nay xuống đường biểu tình, mai xuống đường tranh đấu... Không biết những người đó có bao giờ nghĩ tới những ngưòi lính quần áo ướt sũng bùn nước, đang nằm giữa cái chết rình rập? Từ tiền tuyến nhìn về một hậu phương luôn nhốn nháo xáo trộn. Rất buồn.
    Lũ bạn cùng học chung lớp thời trung học, đại học nay cũng tản ra tứ hướng. Đứa vào lính, đứa trốn lính vào bưng, đứa dọt ra nước ngoài..chẳng đứa nào yên phận. Đất nưóc tôi điêu linh quá, oan nghiệt quá, cứ chém giết hoài như thế này bao giờ mới ngưng tay? Nhớ tới bức thư cô bạn gái mới nhận được 2 hôm trước, đánh tiếng gia đình muốn có cuộc gặp mặt chính thức của hai bên. Mới đó mà cũng 2 năm rồi từ ngày gặp nhau. Đời người con gái có thì, đâu có thể cứ chờ đợi viễn vông không rõ đích đến sẽ như thế nào. Tôi định bụng sau cuộc hành quân này về sẽ viết trả lời rõ ràng khuyên cô ta hãy tìm một người khác có cuộc sống bớt hiểm nguy hơn. Thực ra cũng đã có lần tôi viết bóng gió như thế nhưng không biết cô ấy có nhận ra không, hay nhận ra mà làm như không hay biết! Khóa sĩ quan của tôi ra trường hồi cuối tháng 3 năm 63, mới hơn 2 năm mà đã hơn 20 mạng trong tổng số 180 thiếu úy ra trường giã từ cuộc chơi. Cuộc chiến ngày càng hung dữ hơn, tính mạng con người ngày càng rẻ rúng hơn. Đất ăn thịt người, đồng ruộng hoang hóa, dân tình xơ xác, tản lạc, biết bao nhiêu là điều buồn đau.
    -----
    Làm cho hãng Sequel được 2 năm thì hãng bán lại cho tập đoàn Solectron lớn hơn. Trước hôm chia tay, Jason bảo hãy giữ liên lạc xem khi nào có thể giúp được gì hắn sẽ giúp. Còn Bách thì bảo tạm thời hắn nghỉ làm, lãnh lương thất nghiệp 1 thời gian rồi tính tiếp. Tôi bảo: - Tuổi cậu còn trẻ sao không vào college học lấy một nghề chính thức mà sống cho có tương lai. 
    Bách cười bảo: 
    - Tôi cũng đã thử rồi, đầu tôi trống rỗng, bụng dạ muốn đau lúc nào thì đau, lúc nào cũng ngồi đứng không yên, chẳng làm gì ra hồn. Cuộc chiến tranh đã cướp đi của tôi mọi thứ. Ba tôi, từ khi tôi và ông anh rể đi tù, đâm chứng bất mãn chửi tứ tung, chính quyền địa phương bắt ông đi tù cho tới lúc nhìn ra ông bị chứng tâm thần, gần 2 năm sau mới thả ông về thì ông cũng không sống nổi quá một tháng. Mẹ tôi bị trầm cảm, cả ngày chẳng nói một lời với bất cứ ai. Khi tôi ra tù về bà có nguôi ngoai chút ít và lúc tỉnh táo nhất là lúc bà vào Hội An thăm tôi rồi khuyên tôi phải bỏ xứ màđi tìm đường sống. Bà bảo: “Đất nưóc này không có dung chứa con đâu”. Tôi từ giã mẹ khóc sưng cả mắt. Chị hai tôi bán nhà của ba má ruột, rút về bên nhà chồng ngoài Hội An sống với 5 đứa con sau khi ba má tôi mất. Ông anh rể là đại úy tiểu đoàn trưởng địa phương quân bị đưa đi Bắc năm 1977 thì bị bịnh kiết lị chết chẳng biết chôn ở đâu. Con vợ tôi cưới chưa đầy năm bỏ đi lấy làm bé thằng chủ tịch xã, ông thấy có tức không? Thà rằng nó lấy ai cũng được đằng này lại đi lấy ngay một thằng hại cả gia đình mình.
    Tôi lặng im nghe Bách kể mà bùi ngùi. Tôi bảo: 
    - Cô ta lấy hắn chắc cũng vì cuộc sống mà thôi, trách làm gì! Cậu phải biết là khi tụi mình đi tù, chỉ có đám cán bộ mới có khả năng kiếm ra đồ ăn mà chu cấp cho người khác. Đừng trách cô ấy, cô ta còn quá trẻ mà. Vả lại, chính cậu đâu có tin rằng khi đi tù rồi sẽ có một ngày cậu trở về, phải không?
    Bách nghe tôi nói, ngồi lặng im không lên tiếng nữa, tôi chẳng biết hắn nghe lời tôi nói là có lý, hay cho rằng những lời khuyên đó chỉ là lời nhảm nhí cũng nên.
    ------
    Sáng hôm sau, Tiểu Đoàn 41 BĐQ phía bên kia kinh lục soát tiến quân lên ngang với chúng tôi. Tiếng Thông, thằng bạn cùng khóa hỏi vọng sang: 
    - Tiểu đoàn mấy đấy?
    Một người lính trong đại đội trả lời:
    - Tiểu Đoàn 2/11. 
    - Có trung úy Vũ đó không? 
    Tôi nhận ra Thông. Hắn đưa tay vẫy, hỏi vọng sang: 
    - Mày khỏe không? Có gì lạ không? Vợ con gì chưa?... Tôi cười lớn:
    - Không có gì mới, cũng vẫn vậy thôi. 
    Hồi trên Võ Bị, hai đứa chúng tôi cùng chung đại đội F. Thông người Huế tính hiền lành dễ thương, ít nói. Thỉnh thoảng hai đứa về gặp mặt nhau tại Mỹ Tho thường rủ nhau đi nhậu tại các quán bên sông. 
    Tôi hỏi: 
    - Có thấy dấu vết gì không?
    Thông bảo: 
    - Vết máu me tùm lum với vài cái xác và mấy tên ngắc ngoải nằm lại, còn tụi nó chạy về hướng Bắc hết rồi.
    Tiểu đoàn chúng tôi được lệnh gom những thương binh về một địa điểm để di tản, riêng những người chết thì được chở sau. Sau đó, đơn vị được lệnh bọc theo kinh đi ngược ra quốc lộ 4 trở về quận Cai Lậy. Chúng tôi nhận lệnh đêm nay sẽ tạm trú quân theo xóm ven quận để làm trừ bị cho tiểu đoànTQLC và 2 tiểu đoàn bộ binh khác của TrungĐoàn 12 tiếp tục truy kích địch đang đào tẩu về hướng Đồng Tháp. Trên đường đi ra quốc lộ, tôi bắt gặp từng đoàn ghe xuồng nhỏ nối đuôi nhau quay trở về khu vực giao tranh hôm qua. Bà con dân làng trở về xem nhà cửa của mình ra sao. Cuộc chiến tranh này thật tức cười, giống như một trò chơi. Tôi thầm nghĩ khi nhìn thấy những dân làng đang trên đường trở về nhà nơi cuộc giao chiến chưa bay hết mùi thuốc súng. Họ sẽ vun quén thu dọn lại đống tro tàn đổ nát lợm mùi tanh của máu và mùi khét của thịt da người và súc vật chết, để rồi một ngày nào sau đó khi những đơn vị cộng sản trở lại, lại có một cuộc giao tranh mới! Rồi chạy tiếp, làm hoài. Không biết những người dân vô tội đó đang suy nghĩ gì?
    Cuộc chiến này đã làm mọi người dửng dưng với sự đau thương mất mát, với cái tàn bạo vô nhân rồi. Tất cả chỉ một trò chơi trốn tìm. Cuộc chơi có súng đạn thật và người chết thật, chỉ có những lời tuyên bố của các chính trị gia hàng ngày trên báo chí đài phát thanh là giả dối thôi. Cay đắng là cả người tìm, lẫn người trốn đều không muốn gặp mặt nhau, bởi vì, cứ mỗi lần gặp mặt như thế, biết bao oan khiên tang tóc lại đổ ập đến. Tối hôm ấy, 5 đứa chúng tôi, Nguyễn Thông, Tiểu đoàn 41/BĐQ, Trịnh văn Huệ và Nguyễn ngọc Điệp, TQLC, Vĩnh Nhi, Tiểu đoàn 3/12 và tôi kiếm một quán nhỏ góc chợ ngồi uống bia. Lâu lắm kể từ ngày ra trường, đã gần 2 năm bây giờ mới có dịp gặp nhau đông như vậy. Chúng tôi ngồi kể nhau nghe những bạn cùng khóa đã ra đi, ôn lại những kỷ niệm trong sáng hồn nhiên lúc còn ở trường, những giờ học văn hóa, những buổi tập quân sự... Gần nửa đêm, Nhi đứng dậy nói với Huệ và Thông: “Thôi tụi bây về nghỉ đi ngày mai phải đi sớm rồi đó nha!” Chia tay nhau ai về đơn vị nấy mà thấy trong lòng nao nao. Có lẽ bởi vì cuộc chơi trốn tìm này lại tiếp tục khởi đầu ở một vùng địa thế khác. Biết đâu cuộc hội ngộ đêm nay cũng là cuộc vĩnh biệt của một đứa nào đó trong bọn vào ngày hôm sau!
    Rốt cục, cuộc chơi nửa nước đi tìm nửa kia đi trốn cũng đã chấm dứt gần 10 năm sau bữa nhậu của chúng tôi đêm ấy. 3 trong 5 đứa cũng không còn. Giờ đây chỉ còn lại Thông và tôi. Ngày 30 tháng 4 năm 75, hai bên trốn và tìm đã giáp mặt nhau. Mọi che giấu được phơi bày. Dân tộc tôi lê lết ra khỏi cuộc chiến tranh với thương tích đầy mình và một tâm thần hoảng loạn hoang mang tột độ. Và cũng từ buổi sáng tháng tư năm ấy cả dân tộc lại dắt tay nhau bước vào một cuộc trốn tìm mới. Lần này thay đổi thành phần tham dự, đảng cầm quyền truy đuổi, cả dân tộc tôi đi trốn! Dân tộc tôi ơi, biết đến bao giờ mới được sống bình yên?
    ----- 
    Trời đã bớt mưa hơn những tuần trước đó. Một hai ngày nắng ráo xen kẽ trong tuần lạnh cóng cả người. Buổi chiều ngày Lễ Tạ Ơn trời lất phất mưa. Lái xe đi qua những khu nhà sang trọng đèn kết thành chùm lấp lánh chiếu sáng, bỗng dưng tôi nhìn thấy hình ảnh những ngày mưa của vùng Đồng Tháp ngày nào trong quá khứ trên quê hương. Nhớ tới những đồng đội của tôi đã nằm xuống trên khắp vùng đất nước. Thương những người dân quê chân chất trên những vùng đất xa xôi hẻo lánh với những cái tên hết sức bình dị mộc mạc: Xóm Ông Bốc, Xóm Ông Đùm, gẫy Cờ Đen, Cờ đỏ, Cổ Cò, Cái Quao, Cái Mơn, Sông Trăng, Mỏ Vẹt, Hốt Hoả, Cầu Ngang, Cầu Kè, Ô Lắc, Bà Om, Sóc Ruộng... Những nơi ấy tôi đã đi qua. Máu của chúng tôi đã đổ xuống, một số đồng đội chiến hữu của tôi đã nằm lại.Chúng tôi, những người lính chiến đã từ trong không gian đan dầy dấu đạn, bước trên những nẻo đường chằng chịt bom mìn, đã hít thở cái không khí nặc nồng trí trá và phản bội để ra khỏi cuộc chiến, trong nỗi cô đơn và khổ đau tận cùng của kiếp nhân sinh. Một cảm giác rất mạnh như bỗng dưng có ai chặn ngang cổ. Tôi cho xe dừng sát bên lề đường. Mắt tôi mờ đi không biết vì cơn mưa ngoài kia hay bởi một cơn mưa khác đang đổ xuống ngay trong chính lòng mình.
    Song Vũ

ĐỒNG ĐỘI ĐỒNG MÔN
  • Tháng 4, 1963, sau khi trình diện Tiểu Đoàn 3/11/Sư Đoàn 7 Bộ Binh, tiểu đoàn trưởng là Đại Úy Chính, tui được điều về Đại Đội 1 thay thế niên trưởng Ngô Gia Tiến Khóa 16 mới bị thương trong cuộc hành quân vùng Đức Hòa Đức Huệ thuộc tỉnh Long An. Tiểu Đoàn 3/11 lúc đó có 2 niên trưởng K16 là đại đội phó, đó là NT Ngô Gia Tiến và Hoàng Lê Cường, còn Khóa 17 thì có tôi và Nguyễn Tiến Mão cùng làm trung đội trưởng. Cả 2 ông đàn anh đều điềm đạm ít nói, niên trưởng Tiến thỉnh thoảng còn chịu đấu láo với đàn em mỗi khi ngồi nhậu lai rai còn niên trưởng Cường là con mọt sách! Ít khi nào thấy anh bỏ cuốn sách, thậm chí ngay trong cả lúc đại đội nghỉ dừng quân, vì anh đang theo học hàm thụ tại đại học Luật Khoa Sài Gòn, Đại úy Chính có lần nói chọc:
    - Thiếu Úy Cường tính học cử nhân tiến sĩ gì đây?
    Ở chung với nhau được 2 tháng, niên trưởng Tiến thuyên chuyển về Trường Võ Bị, đến đầu năm 1964 niên trưởng Cường thay thế Đại Úy Nghiêm làm đại đội trưởng khi tiểu đoàn đóng quân tại chợ Bến Tranh Mỹ Tho, yểm trợ cho các toán xây dựng nông thôn hoạt động. Đám du kích thuộc ấp Hòa Thạnh thường hay men theo sông Bảo Định bắn tỉa qua khu bộ chỉ huy tiểu đoàn hoặc trời tối, ra quốc lộ 4 chặn xe đò, đặt mìn, đắp mô. Đại Đội 2 của anh Cường trách nhiệm an ninh khu vực này, đã nhiều lần cho đi diệt toán du kích nhưng không thành công.
    Một hôm họp hành quân, Đ/Úy Dương Văn Tư, (thay Đ/Úy Chính bị thương) nói:
    - Sao Th/Úy Cường chịu thua mấy thằng du kích này à?
    Anh Cường có vẻ bực nhưng không nói gì và ngay sau buổi họp chiều hôm đó, anh đích thân lựa ra 1 trung đội do chính anh chỉ huy đi phục kích, và trời không phụ kẻ lòng người “tự ái cùng mình”, khi 4 tên vi xi gồm 3 tên đi đầu cầm súng, tên đi cuối cầm ống loa vừa đi vừa đấu láo trên lộ mòn cặp theo ven sông xuất hiện thì dĩ nhiên là chẳng tên nào thoát, và 3 cây súng bá đỏ cùng một ít lựu đạn nội hóa và ống loa nhôm được triển lãm tại chợ Bến Tranh vào sáng hôm sau! Từ đó ấp Hòa Thạnh an ninh hơn các ấp chung quanh và các toán xây dựng nông thôn đi lại tuyên truyền thoải mái.
    Hơn tháng sau vì có vụ“cãi cọ to tiếng”do tui không chịu đựng nổi kiểu chửi bới tục trongmáy truyền tin của Đ/úy TĐP Đặng S, tui bị điều đi Tiểu Đoàn 2/11. Niên trưởng Cường 3 tháng sau cũng thuyên chuyển. Năm 1973 khi về phép Sài Gòn tôi thấy hình ảnh của anh đặt trên khu bùng binh chợ Bến Thành. Anh được tuyên dương anh hung quân đội khi quyết tâm chiến đấu tới cùng lúc anh làm quận trưởng Bồng Sơn, tiểu khu Bình Định.
    Cuối năm 1967, khi tôi về làm TĐP/TĐ2/11 cho niên trưởng Nguyễn Văn Tạo K16, anh giới thiệu một số sĩ quan, tôi nhận ra ngay Ngô Gia Truy là em anh Ngô Gia Tiến K16. Cả hai giống nhau lạ lùng, nét mặt như lúc nào cũng đang mỉm cười, nếu có khác chăng là Truy vui vẻ nhanh nhẹn hơn còn tinh thần chịu chơi thì... ngang nhau! Cùng Khóa 21 với Truy lúc đó ở tiểu đoàn còn có Nguyễn Đào Đoán và Phạm Ngọc Tài, Khóa 19 có Trần Tấn Trung, Khóa 22 có Bùi Văn Nữa. Truy là ĐĐT/ĐĐ3, Tài là sĩ quan hành quân, Đoán và Nữa là đại đội phó.
    Tôi có nhiều kỷ niệm khó quên với Truy: Ngày mồng 1 Tết Mậu Thân khi đưa quân về giải tỏa Mỹ Tho, Tiểu Đoàn 2/11 lúc đó đang đóng trong doanh trại tại căn cứ Đồng Tâm. Đại úy Tạo tiểu đoàn trưởng được sư đoàn cho về thăm nhà 1 tuần, 20% quân số cũng luân phiên nghỉ phép nên khi nhận lịnh hành quân, kiểm điểm toàn bộ quân số tiểu đoàn tham chiến chưa tới 180 quân nhân. Đại đội của Truy được khoảng hơn 40. Đơn vị bắt đầu chạm súng từ lúc vượt qua ngã ba Đạo Lương chừng 500 mét. Súng nổ vang trời đất, cho dù chưa hề tác chiến trong đường phố nhưng vì bản năng sinh tồn, đơn vị làm quen rất nhanh kiểu đánh này, lục soát từng nhà, chiếm các cao ốc để yểm trợ nhau tiến vào. Tôi thấy Truy đứng sau một thân cây gạo cổ thụ, chỉ trỏ căn nhà phía bên kia lộ có toán việt cộng núp trên ban công, bắn chặn đường tiến quân của ĐĐ3, tui chạy lên chỗ Truy để tìm cách điều động ĐĐ2 lên song song và tiêu diệt ổ kháng cự này. Khi tôi vừa tới chỗ gốc cây Truy núp, hắn nheo mắt cười rồi lấy ra cuốn sổ tay ghi chép danh sách lý lịch quân nhân trong đại đội đưa cho tôi coi, Truy nói: cuốn sổ tay để lộ ra một đầu đạn AK xuyên thủng 2/3 cuốn sổ, xuyên qua lớp vải chiếc áo jacket rồi dừng lại ở đó, Truy ra khoe với tui:
    - Niên trưởng coi này!
    Tui cầm cuốn sổ tay ngắm nghía, cuốn sổ nằm ngay túi trái của chiếc áo, bị viên đạn AK xuyên qua áo giáp, xuyên qua 2/3 cuốn sổ, rồi bị kẹt nằm lại, chỉ cần 1/3 phân hoặc không có cuốn sổ, đầu đạn sẻ xuyên thủng tim Truy! Truy quay qua nói với tôi:
    - Tôi sẽ bọc vàng đầu viên đạn này để làm bùa hộ mệnh niên trưởng ạ.
    Sau này, trong câu chuyện vui khi gặp nhau tui hỏi:
    - Giờ này chú mày còn giữ được viên đạn bùa hộ mệnh đó không?
    Truy cười bảo:
    - Sau ngày niên trưởng đi học, đàn em bị thương suýt chết mấy lần, so ra viên đạn đó có thấm gì!
    Tháng 3/1968 tôi được trung đoàn cho đi học lớp chỉ huy tham mưu trung cấp tại Đà Lạt, hôm vừa thi xong môn cuối cùng, tôi nhận được hung tin Tiểu Đoàn 2/11 bị đặc công Việt Cộng nội tuyến đột kích, gây tử thương cho TĐT Nguyễn Văn Tạo K16, ban 3 là Thiếu úy Phạm Ngọc Tài K21, TĐP là Trần Tấn Trung K19, tiếp liệu Th/Uy Thới!
    Đọc tin trên tờ cáo phó, tui bàng hoàng không tin vào mắt mình. Khi mãn khóa học chừng 1 tuần lễ sau đó, tui trở lại Mỹ Tho đi thẳng tới khu doanh trại của tiểu đoàn để tìm hiểu sự việc ra sao. Tiểu đoàn đi hành quân, căn trại trống vắng hẳn, Tr/Sĩ nhứt Tâm dẫn tui đi từng khu nhà rồi kể cho tui mọi diễn tiến sự việc, Tâm kể:
    - Buổi sáng 17 tháng 6, toán tân binh vừa được bổ sung về tiểu đoàn mình mới được huấn luyện xong tại trung tâm huấn luyện sư đoàn ở Bình Đức. Toán tân binh này bị đặc công cộng quân trà trộn ngay từ lúc nhập ngũ. Buổi chiều hôm đó, Trung Úy Ngô Gia Truy cùng người bạn lái chiếc xe Dolphin xuống thăm Đại Úy Tạo, đến gần 10 giờ tối em mời Trung Úy Truy cùng người bạn xuống chỗ em hút thuốc lào uống nước trà. Ngồi chưa bao lâu thì nghe súng và tiếng lựu đạn nổ loạn xạ, cùng tiếng la tiếng hét lung tung. Trung Úy Truy vội chạy qua đại đội cũ xem tình hình đang xảy ra. Sau khi biết BCH/TĐ đang bị đặc công việt cộng tấn công, Trung Úy Truy ra lịnh tất cả binh sĩ tiểu đoàn phải ở nguyên vị trí, ai chạy trên sân coi như việt cộng, mọi người có quyền bắn bỏ. Chính nhờ các lịnh này mà chúng em đã tiêu diệt được các toán đặc công chạy lang thang trong doanh trại và đại đội ứng chiến bên ngoài cũng tiêu diệt được một mớ khi chúng tháo lui qua vòng rào. 
    Ngưng một lát, Tâm kể tiếp:
    - Sáng sớm hôm sau, kiểm tra tổn thất, các sĩ quan thuộc BCH/TĐ tử thương. Trước khi Phòng 2 và Phòng 3 Sư Đoàn xuống coi tình hình thì Trung Úy Truy và người bạn lên xe dông luôn. Tr/Úy Truy vì đang nghỉ dưỡng thương, đâu có nằm trong quân số tiểu đoàn, nhưng là đại đội trưởng thâm niên trong tiểu đoàn, khi biết bộ chỉ huy không còn ai lên máy nên Tr/Úy Truy mới điều động được, xong việc rồi thì ổng nói ng phải chuồn thôi, chẳng lẽ mặc quần áo civil chờ đeo huy chương à!
    Sau này tui hỏi lại Truy câu chuyện Tr/S nhứt Tâm kể, Truy cười bảo:
    - Tâm nó nói đúng đó, sau khi tiêu diệt hết toán đặc công, sáng ra khi nghe tin có phái đoàn của Sư Đoàn xuống thanh tra, em và thằng Thạc K21 leo lên xe lái ra Mỹ Tho ăn sáng rồi dông về Sài Gòn. Sau khi kết thúc cuộc tấn công, khi nghĩ lại thấy Thạc còn sống, em mừng hết biết, nếu giả dụ tên bay đạn lạc, em thì dẫu sao cũng là sĩ quan của tiểu đoàn, nhưng thằng Thạc từ Sư Đoàn 2 về Sài Gòn nghỉ phép, ham vui theo em xuống Mỹ Tho chơi cho biết, nếu có mệnh hệ gì thì không biết ăn nói làm sao với bà già nó!
    Năm 1973, trong dịp về phép Sài Gòn, đọc tin trên báo chí, tui lại thêm một lần sững sờ khi được tin Ngô Gia Truy đang là TĐT/TĐ404, một tiểu đoàn Địa phương Quân vang danh tại tiểu khu Vĩnh Bình, không thua bất kỳ một đơn vị nào. Khi nhắc chuyện xưa,Truy cười bảo:
    - Cũng là cái số thôi niên trưởng ạ, giữa năm 1968, sau khi nghỉ dưỡng thương xong, tui về lại Tiểu Đoàn 2/11, lúc đó Thiếu Tá Trương Văn B là TĐT. Em chịu không nổi cách làm việc của ông B nên xin trung đoàn cho qua Tiểu Đoàn 3. Ở đây em lại đụng độ với ông tiểu đoàn trưởng mới mà tụi sĩ quan chúng em gọi là “chú Tư Cầu”. Trong một lần ông ấy nói tiếng “đức” với em, thế là em nổi máu cao bồi, rút súng ra “phơ” xuống đất mấy phát gần chỗ ng đứng, ổng bỏ của chạy lấy người. Em lãnh củ và trả về sư đoàn, sư đoàn đẩy luôn lên tới Vùng và em bị qua địa phương quân. Lúc đầu nghe tin mình chuyển qua ĐPQ em cũng bất mãn lắm, em làm đơn khiếu nại, cuối cùng em gặp Đại Tá TMT, ông ấy bảo: “Chẳng có đơn vị nào là dở, chỉ có cấp chỉ huy dở thôi, nếu trung úy nghĩ là mình được đào tạo căn bản và có khả năng thì đây là cơ hội để cho trung úy thi thố đấy. Em cứng họng, vả lại cũng quá mệt mỏi với vụ khiếu nại này rồi thành ra em tự nhủ thầm: “Cũng liều nhắm mắt đưa chân, thử xem con tạo xoay vần đến đâu!” Và em về ĐPQ. Trong một trận giải tỏa áp lực địch, em được đặc cách thăng đại úy. Sau đó niên trưởng Lê Hữu Đông K17, tiểu đoàn trưởng, em là tiểu đoàn phó dẫn tiểu đoàn xuống trung tâm huấn luyện Thất Sơn và thành lập TĐ404/ĐPQ của tiểu khu Vĩnh Bình. Cuối năm 1969, NT Đông bị tử thương, em thay NT Đông làm tiểu đoàn trưởng. Từ đó đơn vị trở thành lực lượng tổng trừ bị thay thế nhiệm vụ của các đơn vị BĐQ và SĐ9. Tả xung hữu đột thét rồi thành quen, hành quân lien tục, đụng độ tơi bời, thắng nhiều trận, tiểu đoàn trở thành nổi tiếng cả Vùng 4. Chỉ trong vòng 4 năm 69-73, em 2 lần thăng cấp đặc cách tại mặt trận, được 7 lần tuyên dương trước quân đội, một thành tích mà hồi còn ở Sư Đoàn 7 em nghĩ khó mà có được.
    Trở lại chuyện của tui, sau khi tốt nghiệp khóa CHTM, tui xin trở về lại đơn vị cũ, dù có sự can thiệp của Trung Tá Trần Tiến Khang Trung Đoàn Trưởng Tr/Đ11 cũng không thành, tôi đành vác ba lô ra trình diện Sư Đoàn 23 tại Ban Mê Thuột.
    Năm 1972 khi SĐ23 hành quân tiếp cứu Kontum, tui có khá nhiều kỷ niệm buồn vui với trận đánh này với các đồng môn khác. Tui mới chỉ là thiếu tá thôi, vì lý do nào đó mà Tướng Lý Tòng Bá chỉ thị tui cầm quân chỉ huy hành quân cấp trung đoàn trong khi còn 2 vị cao cấp hơn thì... Nhưng cũng nhờ được cầm quân trong dịp này tui mới thấy tài chỉ huy và tinh thần trách nhiệm của những đồng môn, tui hãnh diện được chiến đấu với các tiểu đoàn trưởng thuộc K19 là Nguyễn Xuân Phán, Đặng Trung Đức, cùng trung tâm HQ Võ Quang Giáng, làm việc với 3 ông K19 này khiến trách nhiệm trung đoàn trưởng của tui nhẹ nhàng, cám ơn các bạn đồng môn. Rất tiếc Th/Tá Đặng Trung Đức đã hy sinh trong nhng cuộc hành quân sau đó.
    Năm 2012, khi xuống Nam Cali thăm bạn, tui phone cho Truy ra quán ngồi uống cà phê. Vẫn dáng dấp gầy còm cao lêu khêu, khóe mắt như lúc nào cũng cười. Hai anh em ngồi nhâm nhi cà phê, ngoài trời một cơn mưa nặng hạt bất chợt đổ xuống, nhìn những giọt mưa hắt lên khung kính, Truy nói:
    - Em mới đọc được bài viết của niên trưởng về chiến trường Đồng Tháp “Trời Mưa Nhớ Bn”, đọc xong em thấy nhớ tới những ngày anh em mình cùng chung đơn vị với niên trưởng Tạo quá chừng!
    Bất giác tui nói với Truy:
    - Anh cũng vậy, mỗi lần trời mưa, nhớ về chiến trường Đồng Tháp, anh lại thấy bồi hồi. Rồi nghĩ tới chuyện của Truy “bị đì” mà lại có dịp thi thố khả năng, trong quân ngũ, mỗi lần gặp nghịch cảnh hình như là dịp thử thách, và chính nhờ sự thử thách này, chúng ta sẽ trưởng thành nhanh hơn và hiểu ra ý nghĩa đích thực của cuộc sống hơn. Trong suốt thời gian chiến đấu, Truy có kỷ niệm nào khó quên?
    Suy nghĩ ít giây, Truy trả lời:
    -Kỷ niệm đáng nhớ nhất là trận đánh tại xã Nhị Trường, Quận Trà Cú năm 1973, khi xã này bị cộng quân vây, bị tràn ngập, em đưa tiểu đoàn đến ứng cứu, chạm địch từ 10 giờ sáng mà tới 11 giờ đêm mới thanh toán xong chốt cuối cùng. Khi vào văn phòng xã, anh có biết em gặp ai không? Em gặp lại Trung Tá Phạm Quang Mỹ, sĩ quan cán bộ hồi đó anh nhớ không? Em đến trước mặt Trung Tá Quận Trưởng chào và xưng danh: “SVSQ Ngô Gia Truy Khóa 21 trình diện Trung Tá”. Trung Tá Mỹ ôm chầm lấy em cảm động rơi nước mắt, ông không ngờ trong giây phút hiểm nghèo một học trò xuất hiện tới cứu sư phụ.
    Tui hỏi Truy:
    - Bộ cậu không biết ông làm quận trưởng Trà Cú à?
    Truy lắc đầu:
    - Em đâu có biết cho tới khi gặp ông thầy mới hay thôi!
    Cả hai chúng tui đều cười về lời nhận xét dí dỏm này của Truy. Ngoài trời mưa ngày càng nặng hạt hơn...
    Song Vũ Ngô Văn Xuân, K17



--
====================================================================
Trên Facebook :
http://www.facebook.com/DaiHocKhoaHocSaiGon
====================================================================
 
Bạn đã nhận được bài viết này vì bạn đã đăng ký vào Nhóm "KhoaHocSG" của Google Groups.
* Để đăng bài lên nhóm này, hãy gửi email đến "khoa...@googlegroups.com"
* Để RÚT TÊN ra khỏi nhóm này, gửi email đến "khoahocSG+...@googlegroups.com"
* Để có thêm tuỳ chọn (preference set up), hãy truy cập vào nhóm này tại: http://groups.google.com/group/khoahocSG?hl=vi
---
Bạn nhận được thư này vì bạn đã đăng ký vào nhóm Google Groups "KhoaHocSG".
Để hủy đăng ký khỏi nhóm này và ngừng nhận email từ nhóm, hãy gửi email đến khoahocsg+...@googlegroups.com.
Để xem cuộc thảo luận này, hãy truy cập vào https://groups.google.com/d/msgid/khoahocsg/CH2PR02MB65816BABBC1DC2ED89F2C254FC53A%40CH2PR02MB6581.namprd02.prod.outlook.com.
Reply all
Reply to author
Forward
0 new messages