Fwd: ĐIỂM TIN DIỄN ĐÀN 10-04-2026 (SỐ 066-2026)

15 views
Skip to first unread message

Giu Tran

unread,
Apr 10, 2026, 10:58:33 AMApr 10
to


---------- Forwarded message ---------
From: soan....@hotmail.com <soan....@hotmail.com>
Date: Fri, Apr 10, 2026 at 5:24 AM
Subject: ĐIỂM TIN DIỄN ĐÀN 10-04-2026 (SỐ 066-2026)
To:



GOOD MORNING VIET NAM - CANADA - USA

ĐIỂM TIN DIỄN ĐÀN 10-04-2026  (SỐ 066-2026)

Image insérée



Image insérée


MỤC LỤC

  1. Lão Hóa Của Các Bộ Phận -
  2. MÙA XUÂN ĐẦU TIÊN TRONG TRẠI TÙ.
  3. Một Thời Quái Dị
  4. TẠI SAO TT TRUMP KIÊN QUYẾT CHẶN ĐỨNG NẠN FENTANYL
  5. Công ước Geneva bảo vệ những người không còn khả năng chiế/n đấu trong chiến tranh
  6. TÌNH ĐỒNG ĐỘI, NGHĨA ANH EM….NGOÀI CHIẾN TRƯỜNG
  7. Tháng Tư trong tuổi thơ em bé Ấn Độ
  8. ĐỒN 133 VÀ NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG...
  9. “LEAVE NO MAN BEHIND” (KHÔNG BỎ LẠI AI PHÍA SAU)! (*)
  10. Tin vui cộng đồng người Việt quốc gia hải ngoại.


Lão Hóa Của Các Bộ Phận - 
  • Theo thời gian, cơ thể con người sẽ bị lão hóa, thể hiện bằng những biến đổi về hình thái và chức năng của các bộ phận của cơ thể. Quá trình lão hóa không diễn ra đột ngột, mà đến từ từ.
    Vậy hãy xem lịch trình lão hóa của các bộ phận trong cơ thể như thế nào nhé.
     
    Tim: Lão hóa từ tuổi 40
    Ở tuổi 40, mạch máu dần mất đi sự đàn hồi, động mạch cũng có thể trở nên cứng hoặc bị tắc, nguyên nhân gây ra sự thay đổi này là do chất béo tích tụ ở động mạch vành. Điều này làm cho hiệu quả truyền máu của tim tới toàn bộ cơ thể cũng bắt đầu giảm xuống. Do đó, để giữ cho trái tim khỏe mạnh, tốt nhất bạn không nên ăn quá nhiều chất béo bão hòa.
     
    Phổi: Lão hóa từ tuổi 20
    Dung tích của phổi bắt đầu giảm dần từ tuổi 20. Ðến tuổi 40, một số yếu tố như lồng ngực biến dạng, các khớp bị cứng, nhu mô phổi giảm đàn hồi... kết hợp với sự xơ cứng ở cơ bắp và xương sườn buồng phổi có thể khiến cho nhiều người bị khó thở.
    Hoạt động của phổi gặp khó khăn, đồng nghĩa với việc không khí sau khi hít thở sẽ lưu lại trong phổi nhiều hơn dẫn tới khó thở.
     
    Da: Lão hóa từ khoảng tuổi 25
    Cùng với sự giảm tốc của quá trình tạo collagen, da bắt đầu lão hóa tự nhiên từ tuổi 25. Các tế bào da chết
    sẽ không biến mất một cách nhanh chóng, trong khi lượng tế bào da mới có thể giảm đi chút ít. Kết quả là
    da sẽ xuất hiện nếp nhăn và trở nên mỏng hơn, ngay cả khi dấu hiệu lão hóa da ban đầu có thể đến tận tuổi
    35 mới xuất hiện.
     
    Ngực: Lão hóa từ tuổi 35
    Phụ nữ đến tuổi 35, các mô vú và chất béo trong ngực bắt đầu mất dần, kích cỡ và sự căng đầy cũng
    giảm xuống. Từ tuổi 40, ngực phụ nữ bắt đầu chảy sệ, quầng vú (khu vực xung quanh đầu vú) bị thu
    hẹp mạnh.
     
    Cơ quan sinh sản: Lão hóa từ tuổi 35
    Cơ quan sinh sản của các chị em bắt đầu suy giảm sau tuổi 35. Nội mạc tử cung có thể trở nên mỏng
    hơn, khiến việc thụ tinh gặp khó khăn hoặc tạo thành môi trường kháng tinh trùng. Khả năng sinh sản của
    đàn ông cũng bắt đầu suy giảm ở độ tuổi này. Sau tuổi 40, chất lượng tinh trùng giảm xuống, nên khả năng
    có con của nam giới cũng có dấu hiệu suy giảm.
     
    Cơ bắp: Lão hóa từ tuổi 30
    Sau tuổi 30, tốc độ lão hóa của cơ bắp còn nhanh hơn cả tốc độ phát triển. Ở độ tuổi này, hầu hết chúng ta
    có xu hướng tích trữ chất béo nhiều hơn và đốt cháy lượng calo ít hơn nên cơ bắp dần bị mất đi. Qua tuổi
    40, tốc độ lão hóa cơ bắp của con người càng tăng nhanh hơn. Thường xuyên luyên tập có thể giúp
    ngăn chặn sự .
     
    Xương: Lão hóa từ tuổi 35
    Sau tuổi 35, xương bắt đầu mòn và rơi vào quá trình lão hóa tự nhiên do các tế bào xây dựng xương
    hoạt động kém hơn. Xương của phụ nữ mãn kinh mòn nhanh hơn và có thể gây ra bệnh loãng xương.
    Kích thước và sự suy giảm mật độ xương có thể làm giảm chiều cao của bạn.
     
    Răng: Lão hóa từ tuổi 40
    Khi chúng ta già đi, lượng nước bọt tiết ra cũng ít đi. Nước bọt có thể rửa sạch vi khuẩn, nếu nước bọt ít
    đi, răng và nướu của chúng ta dễ bị hôi. Sau khi các mô nha chu mất dần, nướu răng sẽ bị thu hẹp, đây
    là triệu chứng thường gặp ở người lớn trên 40 tuổi.
     
    Thính lực: Lão hóa từ khoảng tuổi 55
    Hơn một nửa số người trên 60 tuổi có thể bị giảm thính lực do lão hóa . Triệu chứng này gọi là điếc lão hóa,
    là do sự thiếu “các tế bào lông” gây ra. Tế bào lông cảm quan trong tai có thể tiếp nhận sự rung động của
    âm thanh và truyền âm thanh tới não bộ.
    Theo TTVN
     


MÙA XUÂN ĐẦU TIÊN TRONG TRẠI TÙ.
  • BM: Người tù đặc biệt của trại tù Suối Máu
    Ngày 25 tháng 06 năm 1975, tôi khăn gói lên đường.

    Tờ giấy thông báo ghi rõ: trình diện học tập cải tạo mười ngày. Ai cũng hiểu chữ “mười ngày” chỉ là một cách nói. Nhưng dù hiểu hay không, chúng tôi vẫn đi. Không đi thì còn đường nào khác?

    Tôi trình diện tại trường nữ trung học Gia Long. Sân trường đông nghẹt người — những khuôn mặt quen thuộc của một thời quân ngũ, giờ đứng lặng lẽ như những chiếc bóng. Không ai nói lớn. Mỗi người ôm một túi đồ nhỏ, vài bộ quần áo, chút hy vọng mỏng manh rằng rồi sẽ sớm trở về.

    Xe chở chúng tôi về Tân Hiệp.

    Nghe nói nơi này từng là đồn quân cảnh của VNCH. Giờ chỉ còn hàng rào kẽm gai, chòi canh và mùi ẩm mốc của thời cuộc đổi thay.

    Ở Tân Hiệp, chúng tôi ngủ chung với rắn.

    Ban đầu tôi tưởng là lời hù dọa. Nhưng không. Ban đêm, trong ánh đèn vàng yếu ớt, có người giật mình vì thấy thứ gì lạnh và trơn bò qua chân. Có người ngủ dậy thấy rắn cuộn dưới lưng chiếu. Chúng tôi học cách nằm yên, không cử động mạnh. Sợ nhất là hoảng loạn — vì hoảng loạn có khi còn nguy hiểm hơn rắn.

    Hai tháng sau, cai tù chuyển chúng tôi sang trại An Dưỡng Biên Hòa.

    Những dãy nhà xi măng cũ của trung tâm an dưỡng quân đội ngày xưa giờ thành nơi giam giữ. Nền xi măng lạnh buốt. Đêm xuống, hơi lạnh thấm qua xương.

    Phía sau trại còn đầy dấu tích chiến tranh — lựu đạn, đạn cối, vật liệu nổ nằm rải rác trên đất. Vì vậy bọn cai tù kiểm tra rất gắt gao. Đi đứng phải theo hàng, không được tự ý rời khu vực.

    *Trại An Dưỡng – Cái chết Đại Úy Cảnh Sát – Nhạc sĩ Minh Kỳ.

    Ở đây, phần lớn là sĩ quan cảnh sát và an ninh quân đội.

    Tôi ở nhà số 3. Nhạc sĩ Minh Kỳ ở nhà số 1 — cách nhau một khoảng đất trống. Thỉnh thoảng giờ nghỉ, chúng tôi nhìn nhau từ xa, gật đầu. Trong trại tù, một cái gật đầu cũng đủ là tình người.

    Rồi đến ngày 31 tháng 8 năm 1975.

    Một tiếng nổ xé toạc không gian.

    Không phải tiếng pháo — mà là tiếng chết.

     

    Mặt đất rung lên. Khói bụi cuộn thành từng đám. Ai cũng sững sờ. Chỉ vài giây sau, vệ binh xuất hiện, hét lớn:

    — Nằm xuống! Không ai được di chuyển! Ai động đậy sẽ bị bắn.

    Chúng tôi nằm im trên nền xi măng, không được đi vệ sinh, không được hỏi han. Thời gian như đông lại.

    Sau đó mới biết: một trái nổ đã cướp đi mạng sống của nhạc sĩ Minh Kỳ và nhiều bạn tù khác. Tổng cộng khoảng mười hai người chết và bị thương.

    Trong trại cải tạo, cái chết đến lặng lẽ như vậy — không nhạc tang, không vòng hoa, chỉ là một khoảng trống không ai dám nhắc lớn.

    Sau cái chết của Nhạc sĩ Minh Kỳ, kỷ luật tại trại An Dưỡng khép lại gắt gao, dường như ngày nào các vệ binh đều xách súng xuống tận các nhà và trong khu vực để gọi là làm “an ninh” đối với những người tù “ phản động”.

    Và cũng từ sau cái chết của nhạc sĩ Minh Kỳ, bộ phận an ninh trại thường gọi tên từng người theo dõi kỷ, những người được trại gọi lên phần lới là Sĩ Quan Cảnh Sát Đặc Biệt và Sĩ Quan An Ninh Quân Đội của Việt Nam Cộng Hòa.

     

    Một buổi sáng hôm nọ, bọn cai tù gọi tên nhiều người lên ban an ninh trại. Thấy hiện tượng lạ, nhưng Không ai hỏi đi đâu nữa. Vì người tù sau vài tháng cải tạo, người ta học được một điều: hỏi cũng vô ích.

    Một đêm trăng sáng, bọn cai tù gọi người tù chúng tôi ra ngồi sắp hàng, họ nói là có một số anh chị em đã học tập tốt nên Ban Quân Quản đưa về một nơi để làm lễ xuất trại cho đoàn tụ gia đình.

    Một số người được gọi tên và ngồi chờ xe lên di chuyển. Một số khác thì cho vào trại lại. Tôi là người trong danh sách chờ xe. Chúng tôi ngồi hằng đêm để chờ xe.Tiếng ầm xe motolova theo gió mỗi gần và họ đến, cứ mỗi xe có 2 vệ binh mang băng đỏ cầm súng AK và họ áp tải chúng tôi lên xe, cứ 20 người tù vào một xe.

    Xe chở chúng tôi đến Tân Cảng. Khi thấy con tàu, nhiều người đứng lặng. Có người nhận ra ngay:

    — Duyên vận hạm 504… tàu của Hải quân mình ngày trước…

    Không ai nói thêm.

    Chúng tôi bị lùa xuống khoang như lùa gia súc.

    Hai ngàn người.

    Không gian đặc quánh hơi người. Mùi mồ hôi cũ, mùi áo quần ẩm mốc, mùi chân, mùi da thịt lâu ngày không được tắm trộn vào nhau thành một thứ mùi khó tả — nặng như bùn. Chỉ vài giờ sau, ai cũng quen. Không quen thì cũng phải quen.

    Không có chỗ nằm thẳng.

    Chúng tôi ngồi co chân, dựa vào nhau. Khi người bên cạnh đổi tư thế, cả dãy người phải nhúc nhích theo như một con rắn khổng lồ.

    Ngày đầu tiên, mọi người còn nói chuyện.

    Ngày thứ hai, chỉ còn tiếng thở.

    Ngày thứ ba, tiếng rên bắt đầu nhiều lên.

    Khát.

    Cái khát không giống ở ngoài đời. Nó không chỉ ở cổ họng mà chạy vào xương. Lưỡi dính vào vòm miệng. Mỗi lần nuốt nước bọt, cổ họng đau như có gai.

    Nước uống chỉ vài ngụm nhỏ. Có người giữ nước trong miệng thật lâu trước khi nuốt, như tiếc từng giọt.

    Một người bên cạnh tôi thì thầm:

    — Nếu có ly nước mưa thôi cũng đủ…

    Không ai trả lời.

    Trên boong tàu, bóng lính vệ binh đi qua đi lại. Mỗi lần cửa khoang mở, ánh sáng tràn vào rồi tắt ngay. Chúng tôi nhìn thấy nòng súng AK chĩa xuống. Không cần lời đe dọa — chỉ cần thấy súng là đủ.

    Ban đêm, tiếng rên vang lên như tiếng sóng.

    Có người mê sảng gọi tên vợ. Có người lẩm bẩm đọc kinh. Có người im lặng tuyệt đối — đáng sợ hơn cả tiếng khóc.

    Mùi người càng lúc càng nặng.

    Có lúc tôi cảm giác không còn phân biệt được mùi của mình với người khác. Chúng tôi trở thành một khối thân xác chung, nóng, ẩm và kiệt sức.

    Ngày thứ tư.

    Tiếng ai đó yếu ớt:

    — Đất… thấy đất rồi…

    Không ai đứng dậy nổi để nhìn.

    Chỉ có một làn sóng thở dài chạy qua khoang tàu.

     

    **Hai mươi tám tháng Chạp năm Ất Mão (1975)

    Phú Quốc.

    Nhà tù Phú Quốc - 'Địa ngục trần gian' | baotintuc.vn

    Chúng tôi lê xuống tàu. Không phải bước đi — mà là kéo thân mình trên lớp nước như những cái bóng.Khi đến bờ đất. Nhiều người ngã ngay khi chạm đất.

    Gió biển thổi qua mặt, mặn và lạnh.

    Trại 20 nằm gần sân banh. Những dãy nhà trống với nền xi măng lạnh ngắt. Chúng tôi nằm xuống như rơi vào đá.

    Người quản trại tù Phú Quốc — đại tá Võ Đông Giang — cái tên được truyền nhau bằng giọng thấp.

    Không ai cần biết nhiều hơn.

     

    Đói quá, một người tù nhặt được vài cọng rau dại. Nồi canh loãng được chuyền tay. Mỗi người một muỗng.

    Không ai chê.

    Gió biển thổi rít qua khe cửa.

    Chúng tôi nằm im. Chỉ còn tiếng thở. Bởi đói, tôi khao khát.

    Trong đầu tôi hiện lên hình ảnh mâm cơm nhà, tiếng pháo xa, ánh đèn vàng… rồi biến mất.

    Trong song sắt, ký ức là thứ xa xỉ.

    Nhưng chính ký ức giữ chúng tôi không hóa thành đá.

    Dù bị nhốt trong hàng rào kẻm gai, nhưng trong người của tôi  vẫn còn một thứ không ai khóa được.

    Niềm nhớ.

    Và hy vọng.

    Buồn nhớ, thật nhiều. Làm vội trong đầu mấy câu thơ để ghi nhớ về người bạn tri kỷ

    An Thới chiều hôm mây trắng trôi

    Thương người tri kỷ chốn xa xôi

    Sài gòn thơ quá em yêu nhỉ?

    Lòng nghĩ về em dạ bồi hồi

     

    Anh ở nơi đây rõ kiếp tù

    Sương mù vây khắp chốn hoang vu

    Biển xanh gió núi nưa ngàn thẳm

    Bảo biển quanh năm thổi vụt vù

     

    Em giữa Sài gòn có biết không?

    Anh đang khoắc khoải nỗi chờ mong

    Suốt đêm thao thức cùng thương nhớ

    Vằng vặc con tim nát cả lòng

     

    Mơ mãi Sài gòn, mơ dáng em

    Mưa giăng gió lạnh thổi qua rèm

    Đơn côi thân lẻ trên hè phố

    Nhung nhớ ai mà lệ cứ hoen

     

    Mây trắng trôi rồi em thơ ơi!

    Hồn anh chết lặng giữa chơi vơi

    Bàng hoàng chợt tỉnh trong đơn lẻ

    Mới biết mình xa tự lâu rồi.

     

    ***Mùa Xuân Không Màu

    Chiều hai mươi tám Tết, gió biển Phú Quốc thổi suốt đêm.

    Không phải thứ gió mát của ngày du lịch mà người ta kể về sau này, mà là thứ gió khô, mặn, đi xuyên qua song sắt và thổi thẳng vào xương.

    Không ai nhắc chữ Tết.

    Nhưng buổi chiều hôm đó, ai cũng biết.

    Hai mươi tám tháng Chạp đã sắp qua. Ngày hai mươi chin và ba mươi Tết sắp đến. Ngày hai mươi chin, bầu trời đỏ hơn thường ngày. Mặt trời chìm xuống biển như một hòn than tắt dần. Một vài con chim biển bay ngang — rồi mất hút.

    Trong trại 20, không có gì thay đổi.

    Vẫn nền xi măng lạnh.

    Vẫn tiếng dép râu.

    Vẫn hàng người xếp hàng nhận khẩu phần như mọi ngày.

    Chỉ có ánh mắt tù nhân khác đi.

    Ai cũng nhìn xa hơn thường lệ — như cố nhìn xuyên qua hàng rào kẽm gai để thấy một nơi khác.

    Một mùa xuân khác.

     

    -Buổi chiều ba mươi.

    Không pháo.

    Không hoa mai.

    Chỉ có vài cọng cỏ dại mọc sát hàng rào. Một người cúi xuống nhổ lên, đặt vào góc trại. Không ai nói gì, nhưng mọi người hiểu — đó là cách duy nhất để gọi mùa xuân về.

    Nồi canh rau loãng được chuyền tay.

    Hơi nước bốc lên, mang theo mùi nhạt nhẽo. Nhưng trong khoảnh khắc ấy, nó giống như mùi của một bữa cơm gia đình.

    Một người già khẽ nói:

    — Vậy là Tết…

    Không ai trả lời.

    Chữ “Tết” rơi xuống nền xi măng nghe nặng như đá.

    Đêm giao thừa.

    Gió biển mạnh hơn.

    Song sắt rung lên những tiếng kim loại khô khốc. Đêm về  mờ sau lớp mây mỏng tối.

    Chúng tôi nằm sát nhau để tránh lạnh.

    Không ai ngủ.

    Có người nhắm mắt nhưng không ngủ. Có người nhìn lên mái trại như đang xem một cuốn phim cũ trong đầu.

    Một giọng hát rất nhỏ cất lên.

    Không rõ là ai.

    Chỉ vài câu nhạc xuân miền Nam — rồi im bặt khi tiếng dép râu đi ngang.

    Khoảng lặng sau đó dài đến mức nghe được cả tiếng sóng đập vào bờ xa xa.

    Trong khoảnh khắc ấy, tôi hiểu thế nào là mùa xuân không màu.

    Mùa xuân không đỏ pháo.

    Không vàng hoa.

    Không xanh áo mới.

    Chỉ có màu xám của xi măng.

    Màu rỉ sét của song sắt.

    Và màu nhạt dần của ký ức.

    -Sáng mùng Một.

    Không lời chúc.

    Không lì xì.

    Chỉ tiếng kẻng.

    Chúng tôi đứng xếp hàng. Gió biển làm áo quần mỏng dính vào da.

    Một người đứng cạnh tôi thì thầm:

    — Ngoài kia chắc trẻ con đang mặc đồ mới…

    Tôi không trả lời.

    Vì trong đầu tôi cũng đang thấy hình ảnh đó — nhưng càng nghĩ càng xa.

    Ở đây, mùa xuân đi ngang như một người khách lạ. Nó không ghé lại.

    Nhưng lạ thay, chính trong mùa xuân không màu ấy, tôi lại thấy rõ nhất một điều:

    Chúng tôi vẫn còn nhớ Tết.

    Và khi còn nhớ, chúng tôi chưa hoàn toàn mất.

    Duy Văn

    (Mùa Xuân trong trại giam 20 Phú Quốc)

     




Một Thời Quái Dị
  • Khi nói đến thơ tình người ta thường để ý đến các bức thơ tình của các ngôi sao vang bóng một thời trên sân khấu chính trị, màn ảnh, nghệ thuật hay mấy bức thư của các danh nhân, của ông vua, bà chúa, Napoléon Đại Đế, Hoàng Hậu Josephine, của Tổng Thống Washington, Lincoln, Roosevelt, của các văn hào thi bá Voltaire, Victor Hugo, Beethoven. Mới đây thư tình năm 1943 của viên phi công George H.W. Bush hồi thế chiến thứ 2 trước khi trở thành Tổng Thống thứ 41 của nước Mỹ gởi cho vị hôn thê Barbara Pierce sau này là Cựu Đệ Nhất Phu nhân Barbara Bush qua đời ngày 17/4/18 ở tuổi 92 cũng đã được nhắc tới. Chẳng ai nghĩ đến thơ tình của những cặp tình nhân trong đám đông thầm lặng. Ấy vậy mà ông Võ Chinh Chiến cựu Đại Úy VNCH vẫn nhớ như in từng dòng, từng chữ bức thư của một cán bộ gác cổng gởi cho người yêu nấu bếp vì ông thấy bức thư quá độc đáo, phản ảnh cả một thời đại.
    Đồng Chí H.. thân mến,
    Qua nhiều đêm đấu tranh với tư tưởng anh đã nhất trí yêu em. Nếu em đồng ý anh sẽ mời ba má anh tới tham quan nhà em. Anh hứa sẽ quản lý tốt đời em và làm đúng theo lời Bác và Đảng dạy: 
    Một thiếu, hai vừa, ba thừa, bốn lạc hậu. 
    Chào đoàn kết để xây dựng thành công xã hội chủ nghĩa.
    Bức thư không nhòe, viết bằng bút nguyên tử của cán bộ Nguyễn minh... gởi cho người yêu cô Lê thị H.., đề ngày 20 tháng 6 năm 1980. Ông Võ Chinh Chiến lượm được khi giặt đồ đá banh cho cán bộ ở trại tù lao động Tiên Lãnh ở miền Trung. Ông bị bắt đi học tập cải tạo 12 năm từ 19/5/1975 đền 1/5/1987 và sau đó còn bị một năm quản chế. Ông cùng với vợ và 3 trai, 2 gái đến Mỹ theo diện HO vào lúc 11 giờ ngày 9/6/1994. Hiện cuộc sống gia đình ông ổn định, tậu được nhà cửa. Các con đều thành đạt; công ăn việc làm vững chắc. Tôi quen ông Chinh Chiến trong dịp đi tham dự các buổi sinh hoạt trong cộng đồng, được khoảng 2 năm. Ông Võ kín đáo, tự tại, hơi lãng tai. Qua câu chuyện trên trời dưới đất không biết từ đâu dẫn đến bức thư nói trên. Thấy hay tôi yêu cầu ông ghi cho tôi. Viết lại trên một tờ giấy bỏ, ông nói, bác và đảng mà không chữ hoa là mang vạ vào thân.
    Dịp khác, ông Võ Chinh Chiến hiện đã hơn 70, sĩ quan trừ bị Thủ Đức khóa 19 cho biết chuyện ngày xưa giờ chỉ còn nhớ lờ mờ, dù vậy, có một “điệp khúc” mà mãi hơn mấy chục năm sau ông vẫn thuộc nằm lòng vì ngày nào ông cũng phải nghe cán bộ lên lớp như sanh như sứa. Sau đó nhóm tù của ông 20 người, phải lần lượt trả bài. 
    (Đất nước ta giàu đẹp; dân tộc ta anh hùng. Kẻ thù nào cũng đánh thắng, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua. Việt Nam ta rừng vàng biển bạc. Việt Nam ta là đạo quân xung kích hàng đầu của thế giới. Đến Việt Nam ra đường gặp anh hùng, về nhà gặp dũng sĩ. Việt Nam ta thay trời đổi đất; sắp xếp lại giang san; bắt sông cong thành sông thẳng; bắt thiên nhiên phục vụ cho con người. Việt Nam ta đào Trường Sơn cho biển xuyên qua. Việt Nam ta ngàn lần anh hùng,đến Việt Nam quan đi mất chức, lính về mất thây).
    Lan man về thời VNCH, ông Võ Chinh Chiến kể, hồi đóng đồn Ngọc Khô, thuộc quận Thăng Bình, tỉnh Quảng Tín, khoảng năm 1966 nơi bị đổi chủ vài lần, ông đã đánh lộn với ma. Thường mình chỉ nghe chuyện ma quái qua người khác; chớ chưa hề nghe chính lời thuật về ma của người đích thân đối diện với ma. Nửa đêm đi vòng đồn kiểm soát, khi vào bên trong một căn nhà ông Võ vấp ngã loạng quạng như bị kẻ nào gạt chân. Thấy một người mặt bôi đen hiện ra truớc mặt; phản ứng nhanh, ông khựng lại vung tay thoi tới tấp. Nó né rồi biến mất. Tay ông đụng mạnh vào thành căn nhà toét chảy máu. Nhờ băng lại vết thương ông mới sực nhớ là nghe nói căn nhà này có ma. Trước đó, ông đã bảo lính dẹp cái lư hương trên đầu giường nằm. Ba ông có lần dặn mỗi lần thấy ma thì niệm Đức Phật Quan Thế Âm Bồ Tát. Ông Võ đã thỉnh tượng Ngài để vào chỗ lư hương.
    Ăn Sống Chuột Con:
    Ông Võ Chinh Chiến nói, nay tuy nhớ nhớ quên quên, nhưng vẫn bị ám ảnh cái trạng thái lúc đói triền miên và thời khóa biểu lao động cật lực suốt ngày: đêm 11 giờ 30 ngủ; sáng 5 giờ dậy tập họp điểm danh. Hình ảnh ông bạn tù vì đói ăn sống 5 con chuột con bắt được khi đi lao động lâu lâu lại hiện đến với ông. Ngày vô trại tù "học tập cải tạo" ông nặng 70 ký. 12 năm sau được thả về lết đi chỉ còn 40 ký. Ông cho rằng những người đã từng sống dưới chế độ cộng sản, đặc biệt những người đã từng sống trong nhà tù cộng sản đều có cùng ý nghĩ: chưa sống dưới chế độ cộng sản,trong nhà tù cộng sn thì chưa hiểu về cộng sản. Và câu “bất hạnh nhất của đời người là chưa biết đau khổ là gì” trong cuốn Tình Yêu Hiện Sinh của Bác sĩ Trung tá Quân Y, Phùng Văn Hạnh, một bạn tù ở trại Tiên Lãnh (Quảng Nam), cũng 12 năm như ông là câu quá hay rất đáng suy ngẫm.
    Bác sĩ Phùng Văn Hạnh (PVH), tác giả cuốn sách trên chính là người ăn chuột con. Trong sách, Bác sĩ viết: “Có lần tôi giở mái tranh để lợp lại, bắt được 1 ổ chuột có 5 con đỏ hỏn. Nghĩ là chuột chỉ bú sữa mẹ, chắc sạch, tôi nuốt sống luôn 5 con chuột. Chắc cũng bổ như bà Từ Hi ăn chuột bạch nuôi bằng sâm.” Ông Võ Chinh Chiến thố lộ, ông hay đọc cuốn này vì sách cho ông nhớ lại những năm tháng cũ. Nó ghi lại những nỗi thống khổ mà các tù nhân trại Tiên Lãnh đã trải qua. Tại sao Bác sĩ PVH viết? Để “kể lại một thời mà cháu con mình khi đọc đến phải thốt lên: Ông cha ta đã sống qua một thời kỳ quái dị”. Đầu sách có câu “Tình yêu hiện sinh, chứ không phải là từ chối hiện sinh, mang lại cuộc đời mọi giá trị”. Tác giả mượn lời của văn hào Siegfied khi nói về lòng hoài hương: người lưu vong đầu tiên, suốt đời vẫn là  người xứ gốc (le premier émigré demeure sa vie durant, un homme de son pays d’origine).
    Sách là một tập tự truyện qua một nhân vật tên Hoạt do tác giả tự xuất bản năm 2002, dày 170 trang. Hiện vợ chồng Bác sĩ và 4 trai, 3 gái định cư ở Canada: “Nay các con đều ra trường và có nghề nghiệp vững chãi”. Sau ngày 30/4/1975 ông bị áp giải từ Saigon đưa về trại tù cải tạo Tiên Lãnh. Nhà ở Đà Nẵng bị tịch thu. Các con bị phân biệt đối xử, không cho học bậc đại học. 3 người con đầu vượt biên năm 1983. Bác sĩ ra tù tháng 2 năm 1988; ba tháng sau vợ chồng ông và 4 con (3 gái, 1 trai) cũng tìm đường vượt biên, đến Canada năm 1989. Dù học cật lực nhưng vì đến bờ tự do quá trễ và không có đủ sức khỏe, Bác sĩ PVH không thể trở về nghề cũ. Ông đã phải lần lượt làm 4 nghề. Nghề chót làm assembleur cho một hãng đèn được 8 năm trước khi về hưu. Tuy vậy, Bác sĩ PVH vẫn thấy mình “may hơn bạn bè chết trong tù cộng sản hay chôn vùi xác trên con đường tìm tự do”.
    Trong chương gánh sắn, tác giả cho biết, sắn là nguồn ăn chính. Phần ăn bới ra lổn chổn sắn tươi xắc khúc, cơm bu xung quanh.Xem như 9 phần sắn, 1 phần cơm. Ngày 3 bữa, mỗi bữa lưng 3 chén nhỏ. Ăn như vậy nên “chỉ vài tháng sau nhập trại, toàn thể sĩ quan trở nên rách rưới, ốm đói, phờ phạc, hãi hùng”. 1 tù hình sự đói quá, phanh ngực ra trước cán bộ, xin cho ăn một bụng thật no, rồi chết cũng hả dạ. Anh ta bị bắn ngay tại chỗ. 
    Cán bộ mổ trâu ăn thịt. Xương gánh đi đổ. Trại viên tranh nhau chạy lại kiếm một mảnh xương còn dính chút thịt. Các em tù hình sự lượm cơm dưới mương chảy ra từ nhà ăn cán bộ, rửa rồi cho vào gô nấu cháo. Có em giành ăn với heo. Còn các trại viên vì ăn đói, tối ruột sôi ồn ào không ngủ được, nên ai nấy cũng tìm cách làm cho bụng đầy. Kẻ uống nước cho no. Kẻ ăn một gô (lon sữa guigoz bằng nhôm) rau lang hoặc cải tàu bay nấu với nhái, dế, sung, chuột.
    Một Hạt Đậu Hai Người Khiêng:
    Ngoài ra, Bác sĩ PVH còn có một truyện ngắn về hạt đậu. Anh Lộc nguyên là giáo sư Anh văn, có tài kể chuyện giúp vui bạn tù, vượt biên bị bắt, đã ở tù 5 năm. Vào mùa trồng đậu phụng mỗi tối trại viên phải làm công tác lột đậu. Hầu như ai cũng ăn lén. Hạt đậu vừa béo vừa ngọt, cơ thể đang cần. Rủi cho anh Lộc, từ bóng tối góc sân, một tên cán bộ bước ra: “Anh hãy mở miệng cho tôi xem’’. Anh bị kéo ra giữa sân. 4 tên khác vây quanh: “Chúng tôi trừng trị các anh để chừa thói ăn cắp’’. Anh ngã xuống, chúng nâng anh dậy vừa đấm, vừa đá. Anh Lộc nằm bất động. Tên giám thị bắt 2 trại viên khiêng anh Lộc về chỗ anh ở. Nhân câu chuyện này, trại Tiên Lãnh mới có giai thoại: “một hạt đậu hai người khiêng’’. Từ ngày đó, anh Lộc lầm lì. Nước da tái dần. Ít lâu sau, anh được phóng thích vì lý do sức khỏe. Anh Lộc có tên qua Mỹ. Cùng đi với anh có chị Hoa học trò cũ của anh. Tháng 9/1989 sáng thứ hai anh nhận vé để hôm sau ra phi trường. Tối thứ hai ấy, anh lên cơn đau; chết vì xuất huyết nội. 
    Được dịp trình bày trước một phái đoàn Trung ương vào kiểm trại tù, Bác sĩ PVH nói chênh lệch giữa năng lượng cung cấp (1500 calô) và năng lượng cần cho lao động hằng ngày (3000 đến 5000 calô) quá lớn. Bởi thế trại viên da khô, nứt nẻ, bắp thịt teo tóp, yếu nhược. Bệnh suy dưỡng một ngày một nhiều. Thiếu sinh tố gây chảy máu răng và phù thủng. Thiếu protein đã gây bệnh sâu răng. Thuốc men rất hiếm. Thuốc sốt rét cấp không đủ dùng. Thuốc trụ sinh thỉnh thoảng mới có. Nhà cầu lộ thiên, ruồi quá nhiều mang bệnh truyền nhiễm. Dùng phân người bón rau và bón ruộng gây dịch kiết lỵ. Mỗi lần hàng trăm trại viên bị bệnh. Thuốc men không đủ, nhiều người chết uổng. Sau khi phái đoàn rời về, Bác sĩ PVH bị tố là xuyên tạc chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước. Ông bị bắt đi lao động gánh sắn. Mỗi ngày 3 chuyến, mỗi chuyến đi về 10km; gánh sắn phải nặng 40kg tối thiểu.
    Phân người nói trên lấy ở đâu? Lấy từ một nhà cầu công cộng. Sách viết, trại viên ngồi trên những lỗ cầu. Dưới lỗ là những thùng hứng phân. Nhìn xuống lỗ cầu dòi lúc nhúc trong thùng phân. Giấy vệ sinh rất hiếm, thường là giấy báo cũ. Phần lớn dùng que tre gạt đít. Kỹ hơn thì mang theo gô nước để rửa, rồi về rửa tay sau. Tù hình sự lo việc đổ các thùng phân. Mỗi thùng có hai quai; xỏ cây vào khiêng đi đổ dồn vào một hố cách chỗ đi cầu chừng 20m. Bên cạnh hố là một đống tro lấy từ các lò nấu cơm nước của cấp dưỡng; xúc tro trộn vào phân để làm phân xanh. Mỗi ngày tổ rau và các đội nông nghiệp đều vào xúc phân đem ra bón rau và ruộng. “Tôi đã có nhiều lần bốc phân ấy rải ruộng. Thật gớm ghiếc. Tối về rửa xà phòng nhiều lần mà tay vẫn thum thủm. Hình sự còn rửa thùng phân ở suối. Dịch kiết lỵ xảy ra vì thế. Dân chúng dọc sông suối chắc cũng bị ô nhiễm.”
    Tác giả PVH ở trại 12 năm, trong đó chỉ có 3 năm làm y tế, còn 9 năm lao động. 3 năm y tế ấy không liên tục; ra vào 3 lần. Bác sĩ cho biết, ở trại chết vì sốt rét ác tính rất nhiều. Một bệnh khá phổ biến khác là bệnh loét dạ dày. Nguyên do là vì buồn bực, sợ sệt triền miên và thiếu dinh dưỡng. Họ chết đột ngột do xuất huyết, mửa ra cả đống máu. Mỗi tháng đưa ra nghĩa địa vài ba người. Bệnh nhân mất nước mà không có dung dịch truyền tĩnh mạch, không có trụ sinh để chữa trị. Nhiều người chết ngay trên đường vào nhà cầu. Các trại viên chết mắt cứ mở trừng trừng, dù ông vuốt mắt cho họ nhiều lần. Chắc họ uất ức lắm. Mỗi khi có thân nhân thăm mộ người khuất, ông dẫn họ ra mộ phần. Họ nằm lăn ra mộ khóc lóc thảm thiết. Có một chị đã cắt mớ tóc dài của mình, quấn lên bia mộ chồng trước khi ra về. Một bà sau khi khấn vái, đốt hương đèn xong, bà giã từ chồng: “Ông ở lại, tôi về nghe ông”.
    Đau Răng Nhức Răng:
    Bác sĩ PVH dành hẳn một chương để nói về chuyện đau răng. Ông viết, nói chung không ai đi tù cộng sản mà không bị hư răng. Nhiều người mất cả hàm răng. Riêng ông bị mất gần 6 chiếc răng. Nguyên do là thiếu chất thịt. Men răng mòn dần không được thay thế, răng dễ bị sâu. Bản thân bác sĩ đã trải qua sự đau đớn khi cái răng cấm bị lũng lỗ lúc ở tù Tiên Lãnh. Không ăn uống gì được, lại phải đi lao động, đau buốt lên tận óc. Ông đã dùng cái kềm nhổ đinh bình thường kẹp răng đau bẻ ngang ra. Đau quá chừng song phải cố gắng. Sau đó, ông nghĩ cách nhổ răng cho các trại viên. Nhờ tổ rèn làm cho 2 cái kềm nhổ răng. Hình dạng gần giống kềm nha sĩ. Phần lớn nhổ răng không có thuốc tê. Trường hợp răng lung lay thì dễ. Gặp trường hợp khó, bệnh nhân và nha sĩ bất đắc dĩ phải tranh đấu cả giờ mới xong. Nhờ vậy, hàng ngàn răng sâu đã được nhổ và biết bao đau đớn đã được giải thoát.
    Trại tù Tiên Lãnh thuộc huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam. Trong thời chiến đây là chiến khu của Liên khu 5 Việt Cộng. Trại giam công chức, đảng phái, đoàn thể và tù nhân hình sự gồm có lưu manh, trẻ em hè phố, xì ke ma túy. Sau này hàng trăm cựu sĩ quan VNCH dồn lên Tiên Lãnh nên nó trở thành quan trọng bậc nhất trong tỉnh. Nơi này, lúc đầu ma thiêng nước độc, chỉ là đồi núi hoang vu, muỗi mòng như trấu. Nhóm tù chính trị đầu tiên đã dãi nắng, dầm mưa, phải đốn cây về làm chỗ ở cho mình và cho công an áp giải họ. Họ đã hoàn thành trại giam cho chính mình và nhà cửa khang trang cho ban giám thị. Trong nhóm tù chính trị có xã trưởng và các thành phần nòng cốt của miền Nam rất thành thạo về nông nghiệp và rất tháo vát. Chính họ đã khai thác những vùng ruộng bỏ hoang. Họ đã làm giàu cho trại. Trại mở rộng diện tích canh tác.Toàn cảnh trại là một làng nhà ngói đỏ, khác hẳn với làng lụp xụp của dân chúng gần đó.
    Qua chương lao động, tác giả mô tả trại tù cải tạo hóa thành một nông trường lớn ở giữa rừng, mang lại cho bộ máy công an nhiều lợi tức. Xe tải lớn của ty công an tỉnh lên chở gạo, heo, bò, trứng, rau, gà, vịt... để chia nhau sử dụng. Tất cả sản phẩm này do trại viên làm ra. Trong khi đó, người tù ăn sắn là chính với muối hoặc mắm cái pha loãng với nước. Tiên Lãnh gồm cả trại Na sơn, Thôn năm, trại nữ. Có đến 5.000 người lao động. Công việc hàng ngày: nông nghiệp, chăn nuôi, tiểu công nghệ. Công việc đồng áng cổ truyền giống đời xưa từ gieo mạ, cày bừa, cấy lúa, phát bờ, làm cỏ, rải phân. Ruộng làm 2 mùa, trại viên quanh năm đầu tắt mặt tối như cái máy. Ăn không no, làm không nghỉ. Cày ruộng không phải bằng trâu mà bằng người đã xảy ra ở đây. Trại viên chia thành nhiều toán: toán chăn nuôi, toán thợ rừng đốn cây, toán cấp dưỡng lo nấu ăn... Làm ngày không đủ thì làm đêm. Không biển máu, song khai thác triệt để sức lao động tù cải tạo; hành hạ sống dở, chết dở....
    Theo bác sĩ PVH, sinh năm 1931 ở Điện bàn, Quảng Nam, chế độ tập trung cải tạo không những đày đọa cá nhân người tù mà còn toàn thể gia đình họ. Nhà cửa bị tịch thu, đi vùng kinh tế mới; con cái không cho đi học, lâm cảnh bụi đời. Vợ đi lấy chồng khác. May cũng có nhiều phụ nữ đảm đang, gìn giữ gia đình. Họ đi thăm nuôi chồng tận ải Nam Quan. Khi gặp chồng con, họ không được khóc lóc, phải vui vẻ "động viên" chồng con lo "học tập cải tạo tốt" để mau về với gia đình. Nếu khóc thì tù cải tạo không được nhận quà. Quà này và tất cả con gì cử động là nguồn chính giúp tù cải tạo "cải thiện" (chữ của bộ đội miền Bắc) tức là kiếm thêm chất thịt để bồi dưỡng. Ăn cơm độn sắn với nước muối hoài nên thèm chất tanh. Ông viết “sức chịu đựng con người ở trại cải tạo gần như là một phép lạ”. Tuy vậy, cũng có vài trại viên quá tuyệt vọng đã tự tử.
    Cách Mạng Tháng Tám:
    Tập truyện còn kể lại vụ án Trần Quang Trân, một biến cố đặc biệt của trại Tiên Lãnh trong chương Đau Khổ Triền Miên. Ban giám đốc trại đã kêu anh Trân thiết lập một hệ thống tổng đài điện thoại; vì trước 1975 anh là một chuyên viên điện tử đã đi tu nghiệp ở Nhật do tài trợ của hãng Panasonic. Anh có một căn nhà riêng để sửa máy thu thanh và các máy điện tử. Anh nghe lén các đài ngoại quốc báo lại cho các trại viên tin tức bên ngoài nhằm giúp họ nuôi dưỡng tinh thần. Một số cựu sĩ quan đã dự mưu tổ chức cướp súng, cướp trại. Đây là một tổ chức có mục đích, có hệ thống. Nhưng chẳng may máy đo điện trở có lắp linh kiện điện tử để nghe đài phát thanh bị phát hiện. Khi vỡ lở, công an phải mất vài tháng điều tra trước khi đưa ra xử. Anh Trần Quang Trân đứng ra lãnh cái chết cho anh em. Anh không xin ân xá. Ra pháp trường anh không chịu bịt mắt. Anh còn làm thơ mạt sát chế độ và đọc to lên cho trại viên nghe.
    Đề cập đến cách mạng tháng Tám, tác giả PVH, nguyên là Trung tá bác sĩ biệt phái Trung tâm y tế toàn khoa Đà nẵng (1965-1975) khu giải phẫu chỉnh hình, nhận định rằng, cuộc cách mạng này không cần thiết. Có thể tránh cuộc kháng chiến chống Pháp. Sau khi Nhật đầu hàng, Pháp trở lại, Bảo Đại và nhóm Trần Trọng Kim có đủ sáng suốt để tạo một Việt Nam độc lập trong khối Liên Hiệp Pháp hoặc hoặc kiểu Pháp Việt đề huề như cụ Phan chu Trinh khởi xướng. Hồ Chí Minh đã chọn giải pháp chiến tranh vì Lenine đã dạy: chỉ trong chiến tranh, rối loạn, đảng cộng sản mới diệt được phe quốc gia và đảng sẽ vững mạnh lên. Theo Bác sĩ PVH, phải bác bỏ luận điệu chính quyền thoát thai từ một thùng thuốc súng của Mao. Cách mạng tháng Tám đến, vì buộc mọi người “yêu nước là yêu xã hội chủ nghĩa” nên mang theo chiến tranh, chết chóc trong 30 năm; chia cắt đất nước; chia cắt lòng người; hàng triệu thuyền nhân vượt biên, vượt biển cùng trại tù lao động "cải tạo" mọc lên từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau; lại thêm mất đất, mất đảo Hoàng Sa, Trường Sa vô tay Tàu Cng.
    Tại sao Bác sĩ PVH ở tù lâu dữ vậy? Tác giả hỏi cán bộ giáo dục thì cán bộ bảo ông gián tiếp có nợ máu với nhân dân. Bác sĩ đã chữa lành cho lính ngụy để họ lại cầm súng giết cách mạng. Một cán bộ chấp pháp có lần nói rõ vì sao ông bị giam: “Tư tưởng của anh nguy hiểm cho việc xây dựng XHCN. Phải cách ly anh ra khỏi xã hội. Trong Thay Lời Tựa cuốn sách này của một bạn tù Nguyen T Giao thì thầy thuốc PVH ở tù lâu vì một phần cái quá khứ của tác giả: “nhưng lý do chính nhất để anh ở lâu quá chắc chắn là do cungcách sống và lương tâm của một kẻ sĩ miền Nam trong anh”. Bạn tù Nguyen T Giao còn viết rõ “khi đứng trước bọn cai tù để xin phép hoặc cấp báo điều gì hãy nhìn anh Hạnh: anh không bao giờ khép chặt hai tay vào người anh; anh dùng một cánh tay đưa lên cùng với ngón trỏ để nói. Cái cao ngạo của anh đã trả thù được cho anh em quá nhiều”.
    Trong một buổi giao ban, bác sĩ giám đốc mới từ Hà nội vào đã nói thẳng:
    - Các anh ở trong này dốt lắm!
    Sửng sốt tôi hỏi:
    - Tại sao anh bảo chúng tôi dốt?
    - Lý thuyết hay nhất trên thế giới hiện nay là chủ nghĩa Mác-Lê, mà các anh không biết đến. Như thế không phải dốt sao?
    - Xin lỗi anh, có lẽ anh đón gió có một phương. Ở trong Nam chúng tôi đón gió bốn phương. Mac, Lênin chúng tôi có đọc trong nguyên tác cũng như nhiều tác giả khác kể cả những tác giả phê phán thuyết Mác-Lê. Các anh chắc đọc sách trích dịch kèm theo lời bàn ca tụng Mác-Lê. Vả lại ở miền Nam không ai cấm đọc Mác, trong khi ngoài Bắc cấm đoán nhiều loại sách của phe tư bản. Chúng ta cũng nên suy nghĩ về câu của St Augustin: je crains l’homme d’un seul livre” (tôi sợ người chỉ biết một cuốn sách), (trang 57).
    Một buổi sáng sửa soạn đi làm thì trật tự gọi tác giả ra gặp cán bộ lo về phóng thích. Bác sĩ PVH thắc mắc tại sao mình được thả ra đột ngột. Khi vào Tiên Lãnh ông nặng 75 kg, ngày về chỉ còn 45 kg; từ một tráng niên sau 12 năm, ông rời trại là “một ông già, tóc rụng quá nửa, lưng còng, mặt nhăn nheo”. Cứ theo lời 2 cán bộ trên và nhớ lại câu thơ của Tố Hữu “chúng bây là súc vật, ta đây mới là người” cùng lời nhục mạ trại viên “các anh là dã thú đội lốt người” của cán bộ trong trại, ông nghĩ mình chẳng bao giờ được về. Hơn nữa các con đã đến nhà ông giám thị TiênLãnh lạy ông ta như tế sao để ông ta xét cho cha về sớm nhưng ông ta vẫn“ngồi chễm chệ, hách dịch, trịch thượng chẳng chút thương xót”. 
    Vượt biên tới trại tị nạn Palawan, Bác sĩ mới hay bạn bè ở Mỹ đã nhờ Hội Ân Xá Quốc tế giúp ông ra tù. 
    Bác sĩ PVH viết “tôi ghi nhớ ngày ấy và mỗi năm mừng ngày ấy một mình”./.
    Phan Thanh Tâm




TẠI SAO TT TRUMP KIÊN QUYẾT CHẶN ĐỨNG NẠN FENTANYL
  • May be an image of 3 people and the Oval Office

    1- Fentanyl là gì?

    Đây là một loại thuốc giảm đau gây mê trong y học, mạnh gấp 100 lần Morphin (Thuốc phiện) và 50 lần Heroin. Nó được sử dụng dưới nhiều dạng: Uống, tiêm truyền tĩnh mạch hoặc miếng dán...vv Nó thường được sử dụng gây mê, giảm đau trong phẫu thuật, bệnh nhân bị ung thư...vv..vv.. Tuy nhiên với liều rất nhỏ, thường là 50mcg. Chỉ cần một liều lượng 2mg (khoảng vài hạt cát) thì đã đủ gây chết người.

    2- FENTANYL ĐÃ TÀN PHÁ NƯỚC MỸ.

    Theo kết quả thống kê của Bộ Y tế Mỹ thì mỗi năm nước Mỹ bị chết từ 80.000 đến 100.000 vì sử dụng Fentanyl quá liều.

    Hãy so sánh với những thiệt hại khác để thấy mức độ nghiêm trọng của Fentanyl.

    Mỗi năm nước Mỹ:

    - Bị chết vì xả súng: 45.000

    - Bị tai nạn giao thông: 40.000-45.000

    - Cuộc chiến tranh Việt Nam: 58.000

    - Cuộc chiến Triều Tiên: 37.000

    Mới thấy rõ sự nguy hại của Fentanyl đối với nước Mỹ như thế nào, đặc biệt trong hàng trăm ngàn người chết thì hầu hết trong độ tuổi sung sức nhất của đời người từ 25 -40 tuổi, những người lao động chính của nước Mỹ.

    3- AI LÀ NGƯỜI CHỦ TRƯƠNG ĐƯA FENTANYL VÀO MỸ.

    Theo các tài liệu được tiết lộ thì đó là ông Vương Hộ Ninh - phó tướng của ông Tập. Ông Vương là tác giả của cuốn sách ‘Dùng người Mỹ, chống người Mỹ.

    Trước đây Fentanyl ít người biết đến mà hầu hết chỉ biết đến Morphin, Cocain, Heroin. Bắt đầu từ năm 2013, thời ông Tập lãnh đạo thì Fentanyl đã được ồ ạt tuồn vào Mỹ với nhiều con đường khác nhau, chủ yếu là do các băng đảng Mafia ở Mexico và Canada.

    Một trong những lý do mà Fentanyl được các băng đảng Mafia ưa thích đó là siêu lợi nhuận. Theo các chuyên gia tính toán thì chỉ cần bỏ ra 1.700 USD mua tiền chất Fentanyl thì có thể điều chế được 1 triệu viên thuốc, giá bán 10-20 USD/ viên, có nghĩa là kiếm được 10 - 20 triệu USD, mức lợi nhuận khủng khiếp khó tưởng tượng!

    Hiện tại Trung Quốc đang là nước sản xuất fentanyl nhiều nhất thế giới.

    (Copy từ FB Q Bao Doan).

     


Công ước Geneva bảo vệ những người không còn khả năng chiế/n đấu trong chiến tranh

  • Công ước Geneva bảo vệ những người không còn khả năng chiế/n đấu trong chiến tranh, bao gồm cả các thành viên phi hành đoàn đã nhảy dù thoát hiểm khỏi máy bay bị hư hại và đang tiếp đất. Một khi đã tách khỏi máy bay một cách rõ ràng và không thực hiện bất kỳ hành vi thù địch nào, họ được coi là những người ngoài vòng chiến và không được phép trở thành mục tiêu tấn công có chủ đích.
    Trong Thế chiến II, một số phi công đã bị b#n khi đang nhảy dù, hành động này thường được biện minh bằng lý do rằng họ có thể sẽ quay trở lại chiế/n đấu. Luật pháp quốc tế hiện đại bác bỏ lập luận đó đối với các thành viên phi hành đoàn gặp nạn và nghiêm cấm việc tấ/n công khi họ đang nhảy dù. Quy định này nhằm mục đích giảm bớt sự tà/n bạ/o không cần thiết và duy trì những tiêu chuẩn nhân đạo tối thiểu ngay cả trong thời chiế/n.
    P/s: Ở Việt Nam thì chúng ta còn hân hạnh tiếp đón các phi công Mỹ tại "Hanoi Hilton" luôn �� con bài đàm phán chiến lược mà lị ��
    Webshop: ww2shopvn.com

    Inline image



TÌNH ĐỒNG ĐỘI, NGHĨA ANH EM….NGOÀI CHIẾN TRƯỜNG
  • Tôi xin kể tình anh em ngoài đơn vị cho các anh em hậu phương nghe những chuyện vụn vặt có thật, hai nhân chứng sống còn đây là các Thiếu Úy Lê Đình Quỳ K20 và Huỳnh Vinh Quang K22. Mà dù không có Quý và Quang thì cũng không thể nổ với những người đã khuất như các anh Nguyễn Xuân Phúc K16, Trần Văn Hợp K19, Nguyễn Quốc Chính K20, và các HS1 Bùi Ngọc ĐườngNguyễn Văn Thà.

    Khi Đại Đội Trưởng ĐĐ4/TĐ5 “nói nặng” Quỳ, vì tôi là đại đội phó nên vào can, vô tình chạm vào khiến anh chảy máu… mũi, tôi liền bị 15 ngày trọng cấm, bị nhốt Quân Cảnh 202/BTL/TQLC của NT Trần Ngọc Toàn K16, nhưng tối đến thì chúa ngục TNT lấy jeep chở tù tôi ra Saigon chơi, cho thêm tí tiền lẻ, chừng nào hết tiền thì liệu tìm cách mà tự trở về phòng giam. Mãn hạn tù, tôi bị đuổi khỏi TĐ5/TQLC, thuyên chuyển về ĐĐ4/TĐ2/TQLC, gặp ĐĐT là Đ/úy Nguyễn Xuân Phúc, ĐĐP Tr/Úy Trần Văn Hợp và Th/Úy Chính. Anh Phúc và Hợp đối xử lạnh nhạt, coi tôi như “cùi” khiến tôi bực, muốn đào ngũ, (sau này tôi mới biết anh Phúc giao cho Hợp săn sóc, thử lửa tôi). Thấy tôi buồn, Chính đến an ủi, thấy tôi tuyệt thực... hút thì Chính mồi điếu Ruby Queen nhét vào miệng tôi nói: “Thuốc trị bệnh buồn, bia trị bệnh câm”.

    Sau những tháng ngày gian nan bên nhau với súng đạn và quân thù, 4 anh em tôi, Phúc Hợp, Cấp, Chính sống với nhau thân tình hơn anh em ruột thịt. Rất buồn là ngày nay cả 3 anh Phúc, Hợp Chính không còn nữa! Các anh là những cấp chỉ huy lý tưởng của Quân Đội, là niềm tự hào của TQLC, các anh đã sống, chiến đấu và hy sinh như thế nào thì tôi đã viết nhiều rồi, nay chỉ xin tóm gọn như thế này:

    Binh nghiệp của hai anh Nguyễn Xuân Phúc và Trần Văn Hợp đều đi từ trung đội trưởng lên đến TĐT/TĐ2/TQLC, tiểu đoàn mang danh “Trâu Điên”, hai anh đã góp công cho TĐ2 được 8 lần tuyên dương công trạng trước Quân Đội (với nhành Dương Liễu), mang dây biểu chương màu Tam Hợp và đã được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, PTT, Đại Tướng TTMT cùng phái đoàn tướng lãnh cao cấp đến hậu cứ (trại Lê Hằng Minh, Thủ Đức) để tưởng thưởng. Nhưng vào những giờ phút cuối cùng của cuộc chiến thì các anh ở đâu?

    Anh Nguyễn Xuân Phúc: Anh là Lữ Đoàn Trưởng LĐ369/TQLC, gồm TĐ2 của Th/Tá Trần Văn Hợp, TĐ6 của Tr/Tá Lê Bá Bình K12/TĐ và TĐ9 của Th/Tá Lâm Tài Thạnh K17/TĐ, Lữ Đoàn đang hành quân bảo vệ vòng đai Đà Nẵng vào những ngày cuối tháng 3/75.

    Sáng ngày 29/3/1975, LĐT Nguyễn Xuân Phúc, LĐP Đỗ Hữu Tùng đã điều động được TĐ2 của Hợp và TĐ6 của Bình về bãi biển Non Nước (ĐN) và sau đó thì cả Hợp và Bình đã lần lượt lên tàu HQ, còn hai anh Phúc và Tùng thì vẫn ngồi trên bãi biển để chờ TĐ9 của Thạnh từ xa đang rút về, và rồi bãi biển Non Nước bị VC pháo kích mù trời, tàu HQ đang đậu gần bờ để vớt anh em TQLC, cũng phải vội vàng tháo lui ra khơi!

    Anh Phạm Văn Sắt và tôi đứng trên tàu nhìn xuống mặt nước, nhìn quanh sườn tàu HQ, những đám lục bình trôi… những “xác” của anh em tôi bị cuốn theo dòng nước! Ngước nhìn vào bờ, mắt tôi mờ đi vì khói lửa cát bụi mịt mù, hai anh Phúc và Tùng trở về với cát bụi hay không thì không ai biết, các anh mất tích từ đó. Tại sao hai anh không lên tàu HQ như chúng tôi?

    Trách nhiệm chỉ huy, tình đồng đội của TQLC Nguyễn Xuân Phúc, Đỗ Hữu Tùng là những tấm gương sáng cho chúng ta soi, những Người Hùng cho thế hệ sau noi theo.

    Tôi không “thần thánh hóa” các anh, tôi không nghe tin đồn, tôi nói lại những gì tôi thấy với hy vọng tinh thần đồng đội của các anh cần được nêu cao, không phải vinh danh cá nhân.

    Trần Văn Hợp: Tiểu Đoàn Trưởng Trâu Điên cuối cùng. Hợp là bạn tôi, là đồng đội, là thầy tôi, là người Hùng TQLC của tôi, tôi và “nó” cùng ở chung trong trại gia binh Cửu Long, Thị Nghè, sau 30/4/75, nằm cùng chiếu, uống chung một ca nước vo gạo mục trong ngục tù CS, rồi chia tay nhau ở rừng núi Bắc Việt, rồi “nó” tử nạn trong ngục tù! Ai biết nguyên nhân chính xác? Tôi không biết, nhưng tôi biết chắc chắn một điều VC rất thù Trâu Điên. Trong buổi “lên lớp” tháng 8/75 ở Long Giao, tên giảng viên nhai “tội ác của ngụy quân” rồi hắn hét lên: “Những cái gọi là Cọp Ba Đầu Rằn, Trâu Điên thì phải thẳng tay trừng trị”.

    Có tù nào còn nhớ không? Chắc không, vì có ai thèm nghe chúng sỉ vả mình, nhưng tôi nghe, Hợp nghe vì chúng tôi là “Trâu Điên”, nghe VC nói xong, tôi thúc cùi chõ vào ba sườn Hợp rồi liếc Trâu Điên Trưởng mỉm cười, khẽ nói: “Nó đòi thiến mày”. Nào ngờ Trâu Điên “tử nạn” trong vũng bùn, chết trong ngục tù như lời đã báo trước, chính sách “khoan hồng XHCN” “tao sẽ giết mày”.

    Võ Bị/TQLC Trần Văn Hợp đã sống, chiến đấu và “tử nạn” như thế, nếu tôi có nhắc lại thì không phải là vinh danh cá nhân, tôi nhắc lại để vợ con Hợp, thế hệ sau hãnh diện có những chồng, cha, ông TQLC là như thế, như thế.

    Xin kể tiếp về đàn em khác, đó là Nguyễn Quốc Chính và Huỳnh Vinh Quang.

    Cuối năm 1967, Huỳnh Vinh Quang K22(A) về trình diện ĐĐ1/TĐ2/TQLC, tôi bảo với Chính, ĐĐP, săn sóc kỹ “chú em này” như khi xưa anh Phúc đã bảo Hợp săn sóc tôi. Lúc đó ĐĐ1 của tôi có 3 trung đội trưởng là các thiếu úy thâm niên, kinh nghiệm chiến trường đầy mình nên tôi cũng cho Quang làm trung đội trưởng luôn, không cần đi OJT theo 3 thiếu úy kia, vì có đàn anh Chính làm thầy nên tôi miễn cho Quang thực tập.

    Sau thời gian ngắn thử lửa, Quang dư sức bay solo, nhưng Chính vẫn chưa an tâm, vẫn kìm kẹp thẳng em, dù tôi bảo Chính “tha” cho Quang. Sáng 31/12/1967, ĐĐ1 đổ bộ trực thăng lên kinh Cái Thia, quận Cai Lậy thì đụng nặng, trước tình thế nguy hiểm, Chính đã chỉ huy thay Quang điều động và xung phong, rồi… đạn xuyên màng tang, Chính hy sinh!!!

    Quang nằm bên xác Chính khóc, tôi nằm sau lưng Quang khóc to hơn, tôi khóc trên máy khi báo cáo tình hình khiến Đồ Sơn, tiểu đoàn trưởng hoảng hốt. Làm sao quên được cái cảnh khi 3 anh em xà quần trong ruộng nước lúa cao khỏi đầu, trước họng súng địch. Rồi Quang xoay sở kéo được Chính về phía sau!!!

    Hơn 40 năm rồi tôi vẫn như còn nhìn thấy những dòng máu chảy ra từ đầu thằng em K20! Nghĩ đến là nước mắt vẫn còn muốn ứa ra, thương thằng em K22. Tôi nghĩ thầm, không biết chừng nào tới phiên nó và mình đây?

    Từ sau trận đó, Quang trở thành “tên sát Cộng”, tuy các trung đội luân phiên đi đầu nhưng cứ Quang đi đâu là đụng đó, mà đụng nặng, chỉ trong vòng chưa đầy một năm, cờ TĐ2 được gắn thêm 3 Dương Liễu, trong đó công của Quang không nhỏ.

    Tháng 9/68, TĐ2 đổ bộ trực thăng xuống mật khu Bời Lời, nhưng mới xuống được ĐĐ1 của tôi và ĐĐ3 của Đ/Úy Trần Văn Thương thì lọt vào vòng vây của địch, bãi đáp không dùng được nữa nên Tiểu Đoàn 2 (-) đành ứng chiến tại bãi bốc… xin miễn kể chuyện hai bên đánh nhau mà kể chuyện Quang cứu cố vấn Mỹ.

    Vì TĐP/TĐ2 là NT Nguyễn Kim Đễ đi học nên cố vấn Mỹ (CV) đi theo tôi, vừa xuống đến nơi thì CV bị thương, bằng mọi cách trực thăng Mỹ phải tải thương CV Mỹ ngay và thả “gà tây” khác xuống thay thế. Họa vô đơn chí, trực thăng Mỹ thả lầm CV Mỹ vào tuyến Việt Cộng (VC), lệnh từ trên cao hai ba tầng mây cho tôi:

    – Bằng mọi giá anh phải tìm và đem CV về ngay.

    – Nhận Đại Bàng 5/5, nhưng phải từ từ, dù sao thì CV đã mất tích hay chết rồi, vội vàng thì lính tôi chết! Kinh nghiệm Bình Giả còn đó. (Bực mình vì bị hối nên tôi bạch văn luôn).

    Tôi giao cho Quang nhiệm vụ này với lệnh:

    – Dùng tối đa súng Mỹ cứu CV Mỹ, không dùng mạng lính mình cứu “xác Mỹ”.

    Tôi tăng cường tất cả M60 và M79 của đại đội cho trung đội của Quang và Quang đã tìm, đã đem được CV về. Chàng CV còn sống nhưng bị bắn tét nách bên phải, còn “lính” của Quang thì an toàn 100%. Mỹ lại tải thương CV và Chiến Đoàn Trưởng Tôn Thất Soạn (anh ruột của Tôn Thất Trân K20) phải cho CV thứ ba xuống thay thế. Mới có nửa ngày mà thay 3 CV thì trận chiến đâu phải nhẹ nhàng gì, mỗi khi trực thăng đến thì lại nghe tiếng nổ “cành, cành”, chắc là súng 12.7 ly đây, đơn vị VC được trang bị loại súng này thì phải là nặng ký lắm.

    Chúng tôi chịu trận, suốt đêm, TĐT Đồ Sơn và TB3/TĐ2 là Lâm Đồng Đinh Xuân Lãm K17 bay C&C liên tục để hướng dẫn hỏa long và “lên dây cót” tinh thần thằng em K19 giữa vòng vây địch. Sáng hôm sau tiểu đoàn (-) mới xuống được hết và Tướng Tư Lệnh Nhẩy Dù Dư Quốc Đống, chỉ huy cuộc hành quân này (TQLC biệt phái), đã đáp trực thăng xuống ngay trận địa còn đầy khói súng, nhìn xác địch la liệt, ông gật gù: “Tìm được Cố Vấn là giỏi lắm”.
    Cấp trên cho đại đội tôi một “bông-dơ-xì-ta”. Cứu CV từ cõi chết về mà chỉ có một bronze star! Silver cũng coi như “pha” chứ cần chi bronze, lính ta không chết vì kiếm xác CV là OK. Tôi ngó Quang, Quang ngó tôi, anh em mỉm cười và đưa tên HS1 Bùi Ngọc Đường, người cõng CV về, lãnh cái “bông” này. HS1 Đường còn được BTL/SĐ tặng một chiếc xe honda 50. Rất tiếc vì còn hành quân, Đường chưa kịp về phép để lái honda chở đào đi dạo phố thì Đường hy sinh! Đường là cận vệ của tôi, trước Đường, HS1 Thà, người mang máy của tôi cũng banh xác vì B40 sau khi cứu được cố vấn Mỹ.

    Ranh giới tử sinh nơi chiến trường cách nhau từng phút giây, mỏng như sợi chỉ, chừng nào tới phiên mình, tới phiên Quang đây? Cái số “sát cộng” thế này thì quả thật tính mạng chúng tôi như “chỉ mành treo chuông”, nhưng đã chọn võ nghiệp, đã được đào tạo từ một quân trường được gọi là danh tiếng, đã tình nguyện là TQLC thì không có đường lui.

    Sau mỗi cuộc hành quân, trên bàn nhậu thế nào cũng có những ly bia tràn bọt, đầy mãi mà không có người nâng, điếu thuốc đã đốt mà không có người hút! Bạn còn sống nhớ tới anh và em đã ở lại chiến trường nên cứ mời anh em nhậu và hút thuốc rồi ngâm nga qua hơi men:
    – “TQLC sống hùng, sống mạnh nhưng không sống lâu”!

    Sự hy sinh của những thằng em, Nguyễn Quốc Chính, HS1 Đường, HS1 Thà xẩy ra ngay trước mắt khiến tôi cứ áy náy mãi, giá như… giá như… Tôi nhớ buổi chiều hôm trước, Chính và tôi nằm trên võng song song với nhau bên bờ kinh, “nhớ nhà châm điếu thuốc” thì Chính còn thêm nỗi nhớ “nhà tôi” mới cưới nên hơi buồn, tôi bảo:

    – Mai đổ bộ trực thăng, chú mày đi với trung đội súng nặng, còn Quang thì nó bay solo được rồi.

    – Nhưng là nhẩy trực thăng đầu tiên của nó, và tới phiên Trung Đội 14 nó đi đầu.

    – Không sao, cả đại đội cùng lần lượt xuống một lúc, tao đi chiếc thứ hai, sẽ đáp xuống ngay sau lưng nó, trung đội vũ khí nặng đi sau cùng…

    Thế rồi Chính thương “em mới” nên lại nhẩy lên trực thăng đầu để kèm Quang và nước mắt đã chảy ra. Đôi lúc tôi nghĩ đến câu: “thương phu trích lệ” của những hiền thê có nốt ruồi dưới khóe mắt, Lựu, vợ Chính cũng thế, nhưng đây chỉ là niềm tin, hay đúng hơn là dị đoan. Đã đôi lần tôi ghi lại ý nghĩ này khi viết về Chính, nhưng rồi lại xóa đi cái dị đoan này đi.

    Đành rằng những ai lăn lộn với súng đạn thường có những niềm tin, đúng hơn là dị đoan. Trước khi xuất quân mà cần ăng-ten bị gẫy, dây kéo cờ bị kẹt là đơn vị trưởng lo “xón đé”, nhưng dù gẫy hay không gẫy, không kẹt mà đã có súng nổ thì có thương vong.

    Một điều chắc chắn, tiền tuyến hy sinh vì nước nhiều hơn hậu phương, chắc chắn Nguyễn Quốc Chính hy sinh vì tinh thần trách nhiệm, vì tình đồng môn chứ không phải vì cái nốt ruồi nào cả, tin dị đoan mà làm mờ tấm gương hy sinh cao quý thì có lỗi với các anh linh rồi.

    Trở về với Huỳnh Vinh Quang, tính tình hiền lành mà sao nó “sát” Cộng quá, chưa biết giờ nào, ngày nào sẽ bị Cộng “sát”, tôi phập phồng mỗi khi điều động thằng em lên tuyến đầu, nhưng biết làm sao hơn, TQLC mà.

    Từ cuối năm 1968, KQ mở rộng thêm vài sư đoàn nên được TTM cho phép KQ tuyển các thiếu úy và chuẩn úy ở các quân binh chủng khác, TQLC nhận được văn thư này, cũng thông báo các thiếu úy nào muốn thuyên chuyển thì nạp đơn và đã có nhiều thiếu úy nạp, trong đó có Quang. Nhưng với TQLC thì đây chỉ là thủ tục, mấy khi thả gà nòi ra cho đơn vị khác, nạp đơn và nhận đơn cho vui vậy thôi chứ hy vọng gì, dù cho dư sĩ quan thì cũng cứ giữ lại để sẵn sàng thay thế, vì chết nhiều.

    Rồi một hôm, khi TĐ2 đang hành quân ở Long Thành thì các đại đội nhận được lệnh từ tiểu đoàn bảo rằng sau cuộc hành quân này, (dự trù kéo dài 7 ngày) thì các đại đội cho sĩ quan nào đã nạp đơn xin sang KQ về trình diện…

    Nhân lúc dừng quân ven đường, tôi gọi Quang đến báo tin vui, nhìn mắt thằng em, dường như có nước, tôi nhớ lúc nó khóc Chính, tự nhiên chân tay tôi bủn rủn, tôi chơi liều, bảo:

    – Sau hành quân chú mày về trình diện KQ, nhưng có muốn đi bây giờ không?

    Quang nhìn tôi với ánh mắt nghi ngờ, không biết tôi nói đùa hay thật, nhưng tôi biết tôi nói thật, tôi sẽ cho Quang “nhẩy dù” ngay vì mấy lý do sau đây:
    – Những anh chàng đã có lệnh thuyên chuyển mà còn bị giữ lại để vớt vát thêm cuộc hành quân chuyến chót thì thường dễ bị dính lắm, không tin cũng phải tin. Tôi không muốn Quang theo… đàn anh Chính. Tiểu đoàn trưởng biết khả năng của tôi, của Quang, nhất là sau vụ cứu CV Mỹ, và đó cũng là lý do tôi tự tin có thể thuyết phục TĐT khi cho Quang đi trước, coi như cho đi phép.

    Không chờ Quang trả lời, tôi nói:

    – Cho chú mày zoọt ngay, ra đường đón xe, zoọt, mọi chuyện tao lo.

    Buổi chiều cùng ngày, sau khi đóng quân xong thì tiểu đoàn gọi máy báo cho các đại đội biết là hủy bỏ lệnh cho các sĩ quan TQLC xin về Không Quân! Tôi không ngờ lệnh thay đổi nhanh như thế! Có lẽ giờ đó Quang cũng chưa về tới Saigon, nếu lệnh hủy bỏ mà tôi cho Quang đi là sẽ rắc rối với ông tiểu đoàn trưởng, nhưng kệ, lỡ rồi, “im lặng là vàng”, sáng mai tính.

    Dĩ nhiên là tôi bị “cạo” rồi, nhưng ăn thua gì, lính mà không bị ký củ, không hơi men, không xuống xóm thì họa có là thánh sống, miễn sao thằng em nó thoát cái vòng… con kiến bò quanh miệng chén. Tôi chả hiểu khi về Saigon, Quang đã xoay sở ra sao mà hắn là tên duy nhất lọt về KQ, tất cả những bạn đồng khóa khác cứ vẫn súng đạn trên vai qua 4 vùng chiến thuật, từ Cao Miên, Hạ Lào, Quảng Trị v.v... đã có nhiều anh ra đi, người còn lại thì… vì đất chật, sĩ quan đông, chức vụ đến ngày cuối cùng cũng vẫn luẩn quẩn đại đội trưởng với ban 3, vì đàn anh khóa trước đã mấy ai leo lên cái đỉnh vinh quang là tiểu đoàn trưởng đâu!

    Những anh em tôi ngoài đơn vị, sống và chiến đấu bên nhau là thế, chết là thế nên thương vô cùng, nhớ vô cùng, phục vô cùng những người đã ra đi, họ trả ơn trường mẹ đã dầy công đào tạo và nuôi dưỡng, không hổ danh là những sĩ quan TQLC xuất thân từ đồi 1515, đồi Tăng Nhơn Phú. Ước mong ở đâu đó, Đa Hiệu, Sóng Thần hay bản tin, tài liệu sách báo, cái danh các anh được nhắc đến, bởi vì các anh không phải là những “Chiến Sĩ Vô Danh”.

    Nhớ về 30/4/75.
    Tô Văn Cấp
    TĐ2/TQLC



Tháng Tư trong tuổi thơ em bé Ấn Độ


    • Cha tôi tên là Pranay. Chị tôi tên là Ahana. Tôi tên là Vihaan. Nghe chị tôi kể lại mẹ tôi chết khi tôi được sinh ra chưa tròn một năm. Chết vì bị dê húc ngã xuống vùng sình-lấy hồ Kỳ-Hòa, lúc mẹ tôi chăn giữ mấy con dê sữa. Hai con dê đánh nhau, mẹ tôi ngăn cản chúng, một con say máu húc mẹ tôi. Không ai nhìn thấy. Không ai cứu. Gia-đình tôi hoàn-toàn gốc Ấn-độ.Tôi không biết tại sao cha mẹ tôi không ở Ấn-đố mà sống ở nước Việt-nam, tại thành-phố Sài-gòn. Nhà cha mẹ tôi ở khu Chuồng Bò ngã bảy, không xa rạp chiếu bóng Long-Vân bao nhiêu. Gia-đình tôi nuôi đâu chừng mười con dê để lấy sữa. Hàng ngày cha mẹ tôi vừa chăn dê vừa cắt cỏ cho dê ăn. Mỗi sáng sớm cha mẹ tôi vắt sữa dê. Mẹ tôi để những chai sữa dê vào hai cái giỏ treo hai bên, sau cái ghế chở người của xe đạp, đem đi bỏ mối những nơi quen biết .Lúc mẹ giao, bán hết sữa về lại nhà thì cha mẹ lùa dê đi ăn cỏ những nơi còn sình lầy không xa khu Chuồng Bò nhiều.
     
    Chị Ahana kể cho tôi nghe, lúc mẹ chết, chị phải bỏ học ở nhà phụ giúp cha săn-sóc tôi và đi giao sữa mỗi buổi sáng. Mọi việc còn lại trong ngày cha làm hết. Tôi được đi học. Bát đầu lớp mẫu-giáo trong phường. Trước đây chị Ahana học trường Việt, nay tôi cũng được học trường Việt. Trong xóm tôi ở, có ba gia-đình người Ấn-độ đều có con học trường Việt. Hồi đó, con cái những gia-đình người Ấn-độ khá giả đều học trường dạy Tiếng Pháp. vì Việt-nam không có trường dạy tiếng Ấn. Ở nhà, buổi tối cha thường dạy cho hai chị em tôi học nói tiếng Hindu. Ông bắt buộc chị em tôi phải nói chuyện bằng tiếng Hindu trong nhà và với những người Ấn-độ khác trong xóm.
     
    Chị Ahana lúc nầy đã lớn. Mỗi khi chị mặc áo-quần may theo kiểu mấy cô tài-tử đóng phim Ấn-độ xuất hiện trong máy truyền-hình, tôi thấy chị đẹp lắm. Áo dài Saree. Mỗi khi chị mặc y-phục Ấn-độ, tôi vui vô cùng, tôi biết, chị chuẩn bị đi xem phim Ấn-độ ở rạp chiếu bóng Long-Vân...chị phải dẫn tôi theo, không thì tôi khóc, chạy theo chị.
     
    Khi đến trước rạp, tôi đã thấy anh Báu đang chờ chị. Anh mua vé cho hai chị em tôi cùng anh vào xem. Hôm nay anh Báu mặc áo-quần lính. Bộ áo quần treillis Dù ôm sát người anh, làm nổi bật cơ-thể anh...một lực-sĩ. Anh Báu không ở cùng phường với tôi. Anh ở khu Vườn Lài gần rạp hát. Cha mẹ anh tiêu-thụ sữa dê hàng ngày của gia-đình tôi. Chị tôi giao sữa. Không biêt duyên-nợ nào ghép tình-yêu của hai người. Cha anh làm thầy dạy võ. Mẹ anh buôn bán thực-phẩm khô trong chợ Bến-Thành. Anh học trường Trung-học Trương-vĩnh-Ký. Ngoài giờ học ở trường, anh phụ cha anh dạy võ trong câu-lạc bộ ở vườn Tao-Đàn. Thinh-thoảng anh hay đến nhà tôi chơi. Anh hay mua bánh Cay của một người Ấn-độ bán ngoài đầu hẽm cho tôi.Tôi ăn nhiều lần đâm ghiền. Cha tôi lúc nào cũng vui-vẻ nói chuyện với anh mỗi khi anh đến chơi. Anh thường gọi tôi: " thằng cả-ri nị " Mấy anh con trai trong xóm thấy chị tôi quen với anh, không biết có phải họ ghen-tỵ với anh, mỗi khi anh đến gặp chị Ahana, họ hay nói to nhỏ với nhau: "  thằng nầy dân ở khu nào mà cua được con gái lão chà-dà nuôi dê ở xóm mình ? ". Nghe mấy thanh-niên nầy nói như vậy. Một hôm anh nắm cổ áo của một anh thanh-niên, anh chỉ tay vào người nầy: " tại sao bạn gọi người ta là lão Chà-dà, giọng bạn đầy âm-điệu xấc-xược, kỳ-thị..? ".Mấy thanh-niên khác binh bạn. Lời qua tiếng lại xẩy ra xô-xát. Cảnh-sát phải can-thiệp....Gần một năm sau, anh xuất-hiện tại nhà với bộ quân-phục binh chủng nháy Dù, hai vai anh điểm hai nụ-hoa chuẩn-úy màu vàng đậm. Anh và chị Ahana ôm nhau. Chị Ahana khóc. Tôi nắm tay anh sung-sướng vì gặp lại anh. Anh vắng mặt khá lâu. Trong gia-đình không ai rõ lý do. Chị Ahana suốt ngày sầu thảm. Đôi lúc chị không ăn uống. Ngồi khóc.
    Cha nói chuyện với anh, hỏi anh có thương chị Ahana thật không . Anh trả lời: " con đã thưa với cha mẹ con rồi. xin bác nửa năm tới, cha mẹ con sẽ xin gặp bác để nói về chuyện thương nhau của cháu và Ahana ".
     
    Đầu năm học của năm 1973, tôi không còn học lớp mẫu-giáo trong phường, tôi được học trường tiểu-học Bàn-cờ. Lúc nầy cha mua cho chị Ahana chiếc xe Honda để chị đi giao sữa và đưa đón tôi đi học, nhờ vậy tôi biết nhà anh Báu. Người ta gọi nhà của cha mẹ anh Báu là "villa ", nó khác hơn nhà người xung quanh, nhà của cha mẹ anh có tường thấp bao quanh, có trồng hoa và nhiều cây ăn trái.
     
    Ra trường, tốt-nghiệp binh-chủng nhảy dù, anh Báu  được biệt-phái từ tiểu-đoàn Dù về làm việc tại Quân-vụ thị-trấn Sài-gòn Gia-định, làm sĩ-quan cận-vệ cho một ông Đại-tá, nên cuối tuần anh thỉnh-thoáng có phép đến thăm chị Ahana. Một thời gian sau, anh từ-nhiệm cận-vệ, trở lại đơn-vị chiến đấu nhảy Dù. Anh nói anh thích nghe tiếng súng đạn nổ hơn là ngồi văn-phòng nghe tiếng chuông điện-thoại reng hay theo ông đại-tá đi họp-hành rồi sau đó ăn-uống, chuyện trò của mấy ông lớn làm anh mệt mỏi, nhàm chán..
     
    Tháng hai năm 1975,cha chuẩn-bị cho chị Ahana làm dâu nhà anh Báu . Lúc nầy đơn vị dù của anh Báu đang chiến đấu mặt-trận Quảng-tri... Trận đánh lớn chưa từng thấy từ khi cuộc chiến khởi sự những năm trước đó. .Anh Báu không về phép được.Tiệc cưới vẫn được tiến hành, nhưng nghi-thức lễ cưới đón dâu và đưa dâu không có. Chị Ahana không có dịp măc chiếc áo dài Saree màu đỏ của cô dâu mà trước đó chị hay măc thử, đứng soi mình trước tấm kính cửa tủ áo quần, mặc dầu theo giao-ước giữa hai họ, anh Báu ở rể.
     
    Một tuần sau lễ cưới của chị Ahana và anh Báu, trong xóm người dân gặp nhau nói với nhau trong sự lo-âu về cuộc chiến đang lan ra dữ-dội trong cả nước. Thành-phố bắt đầu nhận thiệt hại nhân-mạng và cơ-sở vật chất hàng đêm và đôi khi cả ban ngày do những viên đạn 122ly.từ vùng ven thành-phố bắn vào. Dân trong xóm làm hầm trú-ẩn chống đạn pháo-kích. Cha, chị Ahana và tôi cùng nhau đào hầm bằng một cây xà-beng mượn được của người nhà bên cạnh. Chị Ahana dùng xe Honda đi chở những bao cát mua ở vựa bán vật-liệu xây dưng từ trong Chợ-lớn để làm trần hầm. Đêm về, cha trải chiếu ngũ cạnh miệng hầm, hai chị em tôi ngũ trong hầm. Ngủ dưới hầm được vài hôm, thì thành-phố lại bị pháo-kích, xe của sở cứu-hỏa hụ còi suốt đêm. Nằm dưới hầm tôi vẫn thấy những tia sáng lóe lên trước khi những tiếng nổ rung chuyển làm trần hầm rung rung. Tôi sợ. Tôi ôm chị Ahana, tôi khóc.
     
    Vào trường học, lớp tôi thiếu vắng mấy đứa. Thằng Trí, bạn thân ngồi canh nhau cũng vắng mặt. Có đứa trong lớp nói với tôi nhà thằng Trí ở bên cạnh nhà nó bị trúng đạn pháo-kích cháy trong đêm. Tôi không biết có chuyện gì không may đến với thằng Trí ? Tôi cảm thấy buồn.
     
    Buổi chiều đi học về, chị Ahana ngồi khóc . Chị nói với tôi trong đau đớn: " Toàn gia-đình anh Báu đêm qua bị trúng hỏa-tiển, hầm bị sập, không còn ai sống sót...cha mẹ và hai em anh ấy...lính cứu-hỏa đã đưa xác họ vào quàng ở bịnh-viện Bình-Dân. Sáng nay chị đem sữa qua giao, chị thấy phân nửa cái nhà bị sập. Mùi khói chưa tan hết. Nói xong chị ôm tôi. Chị lại khóc. Tôi khóc theo chị.

    Ngày 25 tháng tư, tôi nhớ ngày nầy vì là ngày sinh của tôi. Chị Ahana chở tôi cùng đi giao sữa, ngày hôm đó không có lớp học. Chị nói với tôi, giao sữa xong, chị sẽ chở tôi xuống chợ Bến-Thành mua tặng tôi bộ áo quần mới mừng sinh-nhật. Lúc chạy ngang qua nhà gia-đình anh Báu, chị dừng xe. Trên cánh cửa ngõ nhà, có dán một tờ giấy bằng giấy vỡ học trò: " chuẩn-úy  Lê-huy-Báu, số-quân../ .thuộc tiểu-đoàn..../sư-đoàn nháy dù đang dưỡng-thương tại Tổng-y-viện Cọng-hòa, xin báo cho thân-nhân đến thăm gặp. ". Chị Ahana đứng yên như một pho tượng. Từ hai mắt chị long-lanh những giọt nước. Tôi phải nắm tay chị giật giật mấy cái...chị lấy cánh tay quệt mắt rồi chở tôi đi giao tiếp phần sữa còn lại. Giao hết sữa, chị chở tôi về nhà; chị không chở tôi xuống chợ Bến-Thành.

    Về đến nhà, chị bảo tôi ở nhà, chị vào tổng-y-viện tìm thăm anh Báu. Tôi không chịu xuống xe. Tôi đòi cùng đi thăm anh Báu. Trên đường vào tổng-y-viện, chị lái xe chạy, nhiều lúc tôi tưởng xe chị và xe người khác tông vào nhau...người ta hét lên: " con nầy chạy xe bạt mạng...nghĩa địa không ai tranh chỗ đâu... con điên ! "
     
    Không khó khăn lắm để tìm ra nơi anh Báu nằm điều-trị. Thời gian lúc bấy giờ bịnh-viện rất đông thân-nhân đến thăm viếng thương-bệnh-binh. Nhiều thương-binh nằm trên xe cáng được nhân-viên bịnh-viện đẩy qua lại trong các hành lang. Anh Báu nằm phòng hồi-sức. Anh vừa được giải-phẩu cưa một chân phải. Anh bị thương ở mặt-trận Quảng-trị, được đưa vào tổng-y-viện Duy-Tân ở Đà-nẵng. Tại đây bị quá tải, anh được máy bay C.130 đưa vào Sai-gòn cùng nhiều thương-binh khác. Anh bị cắt bỏ một phần chân hai ngày trước. Tôi đứng lặng câm nhìn chị Ahana hai tay ôm một cánh tay anh ép vào ngực chị. Người chị rung lên.trong thổn-thức. Anh Báu cười không che được khuông mặt đau thương của anh.... Chị Ahana vừa mở miệng , nghẹn-ngào chưa thốt ra lời, anh Báu rút bàn ray khỏi hai bàn tay của chị Ahana, anh nắm cánh tay chị: "  anh biết rồi... anh biết hai ngày rồi. Một nhân-viên trong bịnh-viện được cử đến nhà anh báo tin của anh. Anh ấy trở về báo cho anh biết gia-đình anh đã bị đạn pháo kích chết không còn ai, anh ta viết giấy dán vào cửa báo tin và để tìm thân nhâna.Anh biết thế nào em cũng đến..anh còn gia-đình người chú, em của ông già nhưng ở ngoài Huế...đang lúc nầy làm sao mà liên lạc được, người dân di-tản khắp nơi.. ! ".Anh bật khóc như đứa con nít. Tôi, chị Ahana cùng khóc theo anh.
     
    Cha đứng ra nhận làm tang-lễ cho cho gia-đình anh Báu. Cha có đạo Hindu, gia-đình anh Báu đạo Phật nên mọi chuyện tang lễ nhờ nhà đòn lo. Người trong xóm tôi và người trong khu vườn Lài theo đưa tang rất đông. Chỉ có duy-nhất chị Ahana mặc tang phục theo phong-tục Việt-nam. Giữa đám người đưa-tiển, chỉ có mình chị Ahana khóc. Tro cốt bốn người trong gia-đình anh Báu được gởi ở chùa Già-Lam bên Gò-vấp.
     
    Ngày 30 tháng 4 năm 1975, người dân trong xóm tôi gặp nhau mặt người nào cũng đượm buồn. Họ nhìn nhau trong im-lặng và lo âu. Có nhà người ta đánh chó, tiếng chó kêu đau tru lên lạnh người. Có người đánh con, tiếng trẻ con vừa khóc vừa phân bua: " con có làm gì đâu mà cha đánh con ? ".Tiếng bà mẹ bảo-vệ con: " anh nầy vô-lý, sợ mấy ông trong rừng ra...con nó làm ồn một chút, đổ lo sợ trên đầu thằng nhỏ ! "
     
    Vào buổi trưa, ông Dương-văn-Minh nói trên đài-phát-thanh tuyên-bố đầu-hàng, hai bên đánh nhau ngồi lại cùng nói chuyện hòa-hợp hòa giải dân-tộc.. Mấy anh thanh-niên trong xóm đi lính không chết nay lần lượt trở về. Anh đi chân không, trên người chỉ còn cái quần xà-lỏn. Anh thì trên thân băng bó vết thương. Anh thì chống nạng. Chị Ahana chạy xe Honda vào Tổng-y-viện Cọng-hòa tìm anh Báu nhưng không thấy. Người dân nguyền-rủa những người thắng trận vào tổng-y-viện đuổi tất cả thương-bệnh-binh ra ngoài là lũ tàn-ác rừng-rú. Tôi lang-thang ra ngoài Ngã Bảy, mặt đường nhiều áo quần lính, mũ sắt, có cả súng nằm rải-rác khắp nơi. Có vài nhà treo cờ xanh đỏ có ngôi sao vàng. Nhiều tốp người già, trẻ, trai gái, tay quấn vải đỏ, tay cầm gậy, dao đi đầy đường, miêng hoan-hô, đã đảo. Sự bình-an hàng ngày ngoài đường đã biến mất. Sự xáo-trộn thay-thế. Tôi cảm thấy lạc-lõng cô-đơn như chưa bao giờ có.
     
    Mấy anh lớn trong xóm, có thời kỳ trước đây gây-gỗ với anh Báu vì ghen không chiếm được trái tim của chị Ahana hay có lời kỳ-thị gọi cha là chà-dà, có anh đi lính thương tật trở về, có anh thua trận mới về hôm nay, có anh không bị đi lính, họ tụ tập với nhau đốt những lá cờ vàng ba sọc đỏ mà mấy anh gom từ nhà đem đến. Mấy anh im-lặng trang-nghiêm nhìn ngọn lửa lim dần trên nền đất.
    Thấy tôi đứng bên cạnh, có anh để tay xoa đầu tôi: " hãy nhớ hình ảnh màu sắc lá cờ nầy trong tim..mai sau có may lại phải y chang như vậy nghe cưng ! ". Tôi làm-lũi đi vào nhà mà cảm thấy đôi chân tôi như bị níu lại.
     
    Sữa dê không còn bán được. Những mối nhà hàng nhận sữa hàng ngày đã không mua nữa. Thời thế đang thay đổi. Ai cũng nín thở chờ qua sông. Không ai ăn uống.phí-phạm.như trước. Tư-gia thì thay đổi nơi ở. Sữa vắt ra không có phương-tiện bảo quản, phải phân-phát tặng cho lối xóm. Có người thông-cảm cho lại chút ít tiền.
     
    Trong ngày, chị Ahana lái xe Honda đi từ sáng đến tối mới về. Mặt mày thỉu-não. Mấy con dê chị dành hết phần cho cha lo. Chị nói với cha chị đi tìm anh Báu. Chị nói tôi lớn rồi, có thể giúp cha lo trông chừng mấy con dê ăn cỏ ngoài vùng sình lầy hai bên bờ kinh đào. Trường vẫn còn đóng cửa. Tôi nghe lời chị, đi chăn dê.
    Tháng 5...ngoài đường đã gới-nghiêm, chị Ahana về nhà chở theo anh Báu. Chị nói, trên đường về nhà, sau một ngày chạy vòng vòng tìm anh Báu, chạy ngang qua nhà anh Báu, nhìn thấy anh ngồi như một con chó đói trước cửa nhà. Tôi mừng, cầm tay anh Báu. Cha mừng, đỡ anh Báu xuống xe rồi dìu anh vào nhà
    Tôi nghe anh nói với cha: " người ta vào, người ta đuổi ra ngoài hết những ai đang nằm điều-trị trong quân-y-viện...những người đang nằm trên bàn mỗ, bác sĩ đang giải-phẩu cũng bị đuổi. Anh bị đuổi, chưa có nạng được cung-cấp...bác-sĩ nói sẽ làm chân giả cho anh...nên anh phải bò ra đường ...bò không nổi vì đau đớn, phải nằm bên đường...người dân thương tình đưa vào nhà săn-sóc...chờ cho vết cắt nơi chân hết chảy máu...hôm nay họ thuê xích-lô nhờ chở anh về nhà. Đến nhà, không có cách nào vào nhà : nhà bị sập nên ngồi bên ngoài ...".Sao  con không bảo người ta chở thẳng về đây , " Tiếng cha hỏi . Anh trả lời: " con là sĩ-quan VNCH, đang lúc cơm canh lẫn lộn, về đây sợ người ta khó dễ cha, tố cáo gia-đình cha chứa-chấp sĩ-quan VNCH...nhà có sĩ-quan Ngụy…!"

    "Trời ơi, sao con nói vậy, con là rể của cha, là con của cha...họa, phước có đến, cả nhà đều cùng chia sẻ...! " Giọng cha ngừng lại. Máy radio nhà ai đó vang lên lời của ông nhạc-sĩ Trịnh-công-Sơn: " anh em hãy cùng nhau hát bài nối vòng tay lớn " Trời đang tháng tư, nghe bài hát, người tôi tự nhiên thấy lạnh. Ngày nay, đang ghi lại chuyện nầy tôi vẫn còn thấy lạnh.
     
    Vết thương của anh Báu nhiễm trùng, anh nóng sốt cao độ. Vết thương bị rĩ máu. Nhà thuốc tây đóng cửa. Nhà thuốc nào mở cửa thì không có thuốc trụ-sinh để mua. Chị Ahana phải đi tìm mua ở quanh khu Chợ-cũ mới có. Tìm được thuốc, tìm y-tá. Trong xóm có bác y-tá già, mời bác, bác lắc đầu, bác nói:" chồng cháu là sĩ-quan Cong-hòa...bác mà săn-sóc chích thuốc cho chồng cháu, người ta tố-cáo, nói bác chữa thương cho sĩ-quan Ngụy thì đi tù không biết ngày nào về lại với vợ con.! " Chi Ahana năn-nỉ. Bác lên giọng đuổi chị Ahana về. Nhưng vài giờ sau đó, lúc đèn trong xóm vừa được thắp sáng...có tiếng bác y-tá gọi cửa, bác nói lớn như cho nhiều người nghe: " ông Pranay, nhà còn sữa không, bán cho tôi một chai....thằng cháu ngoại tôi cần sữa...mẹ nó không biết lo sợ gì mà tắt sữa cả hai ngày nay ! " Tôi mở cửa. Bác bước nhanh vào bên trong. Bác cúi sát  tai tôi, bác hỏi: " chồng chị con ở đâu ? ".vừa lúc chị Ahana mở cửa phòng của chị. Bác để ngón tay của bác lên miệng. Hai mắt chị Ahana mở lớn.
     
    Tôi mở của cho bác y-tá rời nhà.. Trên tay bác cầm một chai sữa. Tôi vừa khép cửa lại, tôi nghe tiếng bác : "  ông Pranay, nhớ đừng quên để dành cho thằng cháu cưng tôi một hai sữa nữa, ngày mai tôi qua nhận. ".
     
    Bác y-tá qua nhà tôi liên-tiếp ba buổi chiều. Mỗi khi bác ra về trên tay bác lđều có một chai sữa. Anh Báu không còn nóng, sốt và anh có thể xê-dịch trong nhà. Cha đem về cho anh một cặp nạng bằng kim loại nhôm. Cha nói cha thấy cặp nạng nằm bên bờ kênh, bên cạnh, dưới nước có một xác người nổi, mặc áo quần lính, trên đầu quấn băng trắng đầy máu đen sẩm. Cha báo cho mấy người tay mang băng đỏ, cầm dao, gậy đang đi gần đó. Mấy người nầy dùng dây kéo cái xác lính đi dọc bờ kênh, không biết kéo đi đâu. Cha lượm cặp nạng. Nhờ có cặp nạng, anh Báu đi lại,sinh-hoạt bình thường.
     
    Trong khu Chuồng Bò bắt đầu có chính-quyền mới. Xóm tôi có bà Tư hốt rác làm tổ trưởng dân phố. Bà không chồng con. Có người trong tổ muốn yêu cầu bà chứng giấy di-chuyển hay xin chính-quyền mới việc gì cần, bà đều nhờ tôi đọc đơn cho bà nghe hoặc viết tên bà vào giấy chứng-nhận để bà ký Cha tôi thường hay tặng bà sữa vài ba ngày một chai. Người trong xóm nói cha tôi có tình-ý với bà. Nhưng tôi nghĩ ngược lại, bà có tình-ý với cha tôi đúng hơn. Không biết ai đúng, ai không đúng. Từ khi bà làm tổ-trưởng tổ dân phố, tôi không còn thấy cha tôi tặng sữa cho bà. Chị Ahana tôi thắc-mắc, cha nói: " hồi trước khác, bây giờ khác. Hồi bà ấy còn cực, thiếu-thốn mình cho, mình giúp, bây giờ tặng sữa, người ta nói gia-đình mình nịnh cách-mạng, nịnh bà tổ-trưởng ! ".
     
    Ngày 19 tháng 5. có một toán bộ-đội đến đóng chốt ở khu Chuồng Bò. Người ta nói bộ-đội đến giữ an-ninh trật-tự cho ngày mừng sinh-nhật bác Hồ. Ngày hôm đó nhà nào cũng treo cờ hai màu xanh đỏ có ngôi sao vàng và cờ đỏ sao vàng. Ngoài đường lớn, người tham-dự biểu-tình hô vang " Hồ-chí-Minh muôn năm ". Trong khi đó ba người bộ-đội, anh công-an khu Chuồng Bò và mấy người làm việc cho chính-quyền cách-mang ở khu Chuồng Bò cùng bà tổ trưởng dân phố đến nhà tôi. Người ta hỏi cha tôi ủng-hộ cho ủy-ban cách-mạng chính-phủ lâm-thời khu Chuồng Bò hai con dê để ăn mừng sinh-nhật bác Hồ. Tôi nhìn thấy cha há-hốc miệng khi nghe người ta nói như vậy. Một hồi lâu cha nói: " Mấy con dê là nguồn sống của gia-đình ba cha con tôi. Nếu tôi ủng-hộ thì gia-đình tôi sẽ không còn phương-tiện.sống.! Gia-đình tôi sẽ ủng-hộ tiền để ủy-ban cách-mạng lâm-thời đi mua dê nơi khác thay thế ! ". " Có tiền chúng tôi không biết tìm dê ở đâu để mua. Gần đây chưa có hợp-tác xã bán dê ".Một người trong nhóm nói .Cha tôi lắc đầu thở ra, lo âu. Anh công-an khu Chuồng Bò lại nói: " Ông Pranay khó đễ chúng tôi, thiếu tinh-thần cách-mạng, không nhiệt-tình ủng-hộ ủy-ban cách-mạng lâm-thời khu Chuồng Bò để ăn mừng sinh-nhật  Hồ chủ-tịch ! " Lời anh công-an cắt từng chữ, như lời cha tôi răn đe tôi mỗi khi tôi làm gì sai trái để cảnh báo, tôi không tuân lời sẽ bị phạt..Họ kéo nhau đi. Cha tôi nắm tay bà tổ trưởng, dúi tiền vào tay bà. Cha năn-nỉ: " bà giữ tiền nầy giúp tôi mua dê nơi khác hay mua thứ gì khác để mấy ông ăn mừng ngày sinh bác Hồ...! "

    Sáng sóm hôm sau, đang ngủ , tôi tỉnh dậy vì nghe tiếng cha tôi nói với chi Ahana : mất hai con dê. Chị nói hai con dê chắc sẩy chuồng chạy quanh đâu đó. Tôi nghe tiếng cha tôi giả tiếng dê kêu:" be he " để tìm dê. Không thấy dê. Cha tôi nói như khóc: "  người ta làm thịt ăn rồi ! ". Tôi chạy ra chuồng dê. Mặt cha bơ-phờ, tiếc hai con dê bị mất. Nghe cha bị mất dê, vài người lối xóm gần nói vọng qua: " ông Dranay nên đi báo công-an...từ cha sinh mẹ đẻ đến giờ, trong khu Chuồng Bò nầy đâu có ai nghe chuyện mất trôm gì đâu...!" .Một chút yên-lặng, rồi tôi nghe cha tôi cười khì giọng mũi. Không biết có phải cha tôi trả lời người hàng xóm tốt bụng đã khuyên cha ?
     
    Ủy-ban cách-mạng lâm-thời khu Chuồng-Bò lập hợp-tác-xã. Người ta kêu gọi cha tham-gia bằng cách nuôi dê sửa. Người ta hứa sẽ mua thêm dê để bầy dê đông hơn. Cha làm chủ chăn, hợp-tác-xã quản-lý. Cha nói để cha hỏi ý tòa đại-sứ Ấn-độ vì cha là người Ấn. Trước nay cha nuôi dê theo luật-lệ của thời chính-quyền VNCH, nay chính quyên mới, luật-lệ cha chưa biết, nên cha phải hỏi tòa đại-sứ.
     
    Người ta lại bắt mọi gia-đình phải khai lại hộ-khẩu. Phần đông không ai biết hộ-khẩu là gì. Bà tổ-trưởng phải giải thích cho từng nhà " khai báo lại hộ-khẩu là khai lại tờ khai gia-đình." Bà tổ-trưởng lại nhờ tôi viết, sao lại tên những người trong tờ khai gia-đình vào tờ khai hộ khẩu của những gia-đình trong tổ của bà.
    Cha tôi xin khai tên anh Báu vào tờ hộ-khẩu. Bà tổ trưởng do-dự. Cha tôi nói với bà: " thằng Báu là rể của tôi, lúc tôi gả con gái tôi cho nó, tôi có mời bà dự cưới, bà quên rồi sao ?  Gia-đình thằng rể tôi bị hỏa-tiển 122ly giết chết cả nhà, chết không toàn thây...nhà của nó đâu còn mà về để khai hộ-khẩu ? " Không nghe bà nói gì, tôi nhìn bà. Dường như bà không biết tôi đang nhìn bà để hỏi ý bà...Tôi hơi lo... viết tên anh Báu vào tờ khai hộ khẩu....
     
    Ủy-ban quân-quản thành-phố Sài-gòn la-lệnh cho những sĩ-quan, viên-chức chính quyền cũ trình-diện học-tập mười ngày. Anh Báu chống gậy đi trình-diện ở trường trung-học Trương-vĩnh-Ký, nơi anh đã trãi qua những năm học-trung học không âu-lo .Và từ ngôi trường cũ nầy và từ ngày anh đến để được đi học mười ngày...cả gia-đình tôi không thấy anh trở về và cũng không biết anh học tập trường nào và ở phương trời nào.? Chị Ahana buồn thảm theo ngày tháng từ khi vắng anh.
     
    Anh Báu đi trình-diện được vài ngày....mấy con dê còn lại trong chuồng biến mất. Những người hàng xóm chia buồn sự mất dê của cha, hỏi : " ông Pranay này, ông có nghi ai  ban đêm giờ giới-nghiêm  dám vào đây bắt dê của ông không ? ". Cha lại buông tiếng thở dài trong lặng câm.
     
    Cha phá sập chuồng nuôi dê, thay vào đó là một vườn rau nhỏ. Suốt ngày cha cứ lẫn-quẩn ngoài vườn.
     
    Một hôm cha kéo về một chiếc xe ba-gác hai bánh có càng kéo phía trước. Cha nói của một gia-đình bạn cho cha trước khi đi vượt-biển ra nước ngoài. Người bạn có giới thiệu mối cũ cho cha buôn bán ngoài chợ Cầu muối. Chị Ahana theo phụ cha lên hàng, xuống hàng cho khách. Đôi khi xe chở nặng chị theo đẩy phía sau. Cái bụng của chị ngày càng lớn, cha không cho chi theo phụ cha. Cha bảo chị phải nghĩ để dưỡng cái thai. Thỉnh-thoảng, biết ngày hôm đó có hàng nặng, cha bảo tôi theo giúp đẩy xe.
     
    Trường học mở cửa lại. Tôi đi học. Cô giáo cũ không còn dạy. Bạn học cùng lớp vắng mặt cũng nhiều. Cô giáo đã đi vượt biển, bị bắt đang bị giam tù. Học trò cùng lớp có đứa theo gia-đình vượt biển, có đưa theo gia-đình về lại quê-quán. Cô giáo mới có giọng nói tôi không nghe được, nghe không quen. Bạn đồng lớp cũng nói như vậy. Có đứa nói giọng cô giáo mới, nghe như mấy ông thầy chùa đoc kinh, thần- chú bằng tiếng Phạn.
     
    Tôi được ghép vào đội thiếu-nhi quàng khăn đỏ...làm cháu ngoan bác Hồ. tập hát nhiều hơn học chữ. Buổi sáng vào lớp học, cô giáo gọi từng đứa học trò lên bảng hát bài " Dường như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng ".. Nhiều đứa không thuộc lời, trong đó có tôi. Cô giáo lại bắt cả lớp hát lại. Không chỉ có lớp tôi mà những lớp khác đều hát. Chắc những lớp khác cũng có nhiều đứa không thuộc lời ?. Cô giáo kể chuyện bác Hồ đi làm cách mạng cứu nước vì yêu nước thương dân cho cả lớp nghe. Tôi không biết làm cách-mạng là gì. Tôi chưa thấy bác Hồ bằng xương bằng thịt đi cứu nước.Tôi chỉ nhìn thấy hình ông già râu dài treo nơi tường bên trên tấm bảng đen trong lớp học, không nhúc-nhích. Tôi lại nhớ hồi còn chiến-tranh, đêm ngũ nghe đạn pháo kích nổ, làm chết người, ngày hôm sau truyền-hình chiếu, ông tổng-thống Nguyễn-văn-Thiệu đến thăm viếng giúp đỡ những gia đình bị nạn.....ông còn đi ra nơi lính hai bên đang đánh nhau để thăm phe mình...không biết ông có yêu dân yêu nước như bác Hồ không ?. Tự nhiên tôi hỏi chị Ahana lúc chị ngồi rầu-rĩ sau bếp...có lẽ chị đang nhớ thương anh Báu. Chị kéo tai tôi, tôi đau, may mà tai tôi không bị sứt. Chị nói, chị hăm tôi thì đúng hơn: " về sau, có nghe ai nó gì về ông già nầy, im-lặng mà nghe... để giữ thân...nghe rồi thì bỏ ngoài tai...em muốn nhà mình bị đốt cháy ...rồi ra đường ngũ ?
     
    Những ngày trước ngày 3 tháng 2 năm 1976, người ta làm một lễ đài trước hẽm Chuồng-Bò để kỹ-niệm ngày thành-lập đảng Cộng-sản. Người ta kêu gọi cha tôi ủng-hộ công-sức đi chỡ tre gỗ và vật liệu linh-tinh về làm lễ đài. Vật-liệu được giao từ cầu chữ Y. Cha bảo tôi nghĩ học theo phụ cha. Tôi đẩy xe. Trên đường về, bị trạm kiểm-soát chận lại xét giấy tờ. Cha không có giấy chứng nhận chuyên-chỏ vật-liệu nầy. Người ta không tin lời cha khai báo là chở vật-liệu về làm đài kỹ-niệm lễ 3 tháng 2 ở khu Chuồng-Bò. Cha không hiểu tại sao ban tổ-chức làm lễ-đài không đưa giấy phép chuyê-chở cho cha. Tôi phải chạy về gặp bà tổ-trưởng báo lại sự việc, yêu cầu bà cấp giấy chứng nhận .Bà đi đâu gần hai giờ sau mới đưa giấy chứng nhận. Tôi lại chạy trở lại trạm kiểm-soát. Đèn đưỡng lúc nầy đã thắp sáng, nhưng có những đoạn hai bên đừơng có trụ-điện nhưng không có ánh sáng, tối om. Nơi nầy tai-nạn xẩy ra. Một xe chở bộ-đội tuần tra tránh một xe xich-lô máy, lệch tay lái, đẩy xe ba-gác hai bánh có càng của cha tôi lật nhào một bên. Xe chở bộ đội chay luôn. Người lái xe xích-lô máy nằm giang tay chân trên đường không động-đậy. Không biết đã chết hay còn sống ?. Hai cha con tôi bị thương nhưng còn gắng sức kéo xe vật-liệu về khu Chuồng-Bò .Lúc nầy tôi kéo càng xe. Cha tôi đẩy xe. Người đi đường nhìn hai cha con tôi. Có lẽ họ nhìn tôi : thằng bé cao chưa qúa một thước hai đang đu càng xe hơn là kéo xe.!
     
    Cha tôi phải nghĩ kéo xe gần hai mươi ngày ví tay và chân bị chấn thương. Ở nhà tự chữa-trị bằng gừng pha muối và nước ấm. Ban tổ chức lễ đài không thấy ai ghé nhà thăm hay thưởng công chuyên-chở. Một cũ khoai mì cũng không có . Vết thương nơi trán của tôi không nặng, nhưng vết sẹo vẫn còn, chưa biến mất lúc tôi ghi lại câu chuyện. Hy-vọng về già, vết sẹo sẽ bị những vết da nhăn-nheo che bớt, đánh lừa được cái nhìn của người khác.
     
    Chị Ahana chuyển bụng đẻ vào lúc nửa đêm. Cha chở chị Ahana trên xe ba-gác, tôi theo sau đẩy xe. Đang giò giới-nghiêm. Trên đường đi đến xưởng đẻ Từ-Dũ, đến trước rạp hát Đại-Đồng trên đường Cao-Thắng thì bị mấy anh mấy chị đeo băng đỏ chận hỏi giấy phép đi trong giờ giới-nghiêm. Cha trình-bày với họ: " con gái tôi đau đẻ...tôi phải chở nó đi đẻ...đêm khuya đâu có ai làm việc mà xin giấy đi đường trong giờ giới-nghiêm...mấy anh mấy chị thông-cảm.. xưởng đẻ Từ-Dũ cũng gần đây..! " Người ta chần-chừ chưa cho đi. Chị Ahana than đau. Chị vừa ôm bụng vừa van-xin: " mấy anh mấy chị cho chúng tôi đi..tôi đau quá...sợ không kịp đến...". Chị Ahana rú lên vì đau...có tiếng con nít khóc. Chị Ahana đã sinh con trên chiếc xe ba-gác. . Cha vội nắm hai càng xe kéo chạy. Tôi rán hết sức đẩy xe. Có lẽ vì thương tính mạng con gái và cháu, cha bất cần lời van-xin...Có nhiều tiếng gọi: " ông già đứng lại...ông già đứng lại." Làm như không nghe. Tôi cố sức đẩy.. cha tôi hết sức kéo. Cha chạy quá nhanh, tôi chạy theo đôi lúc không kịp để hai tay chạm vào xe.
     
    Chị Ahana cho ra đời một đứa con gái trên đường đi đến xưởng đẻ. May mắn hai mẹ con được bình-an. Chị khai-sinh cho con là Lê Amyra.Vườn-Lài, có nghĩa em bé công-chúa Vườn-Lài họ Lê. Cha luôn miệng-cám ơn Brahma, thường-đế tối-cao đã thương-yêu, đã che-chở, đã cứu hai mẹ con chị Ahana.
     
    Tôi bỏ học phụ cha đi chở hàng.thuê. Chị Ahana không phụ cha được, phải lo nuôi con. Trong gia-đình thiếu hụt đủ thứ...không có gạo, ăn bo-bo và khoai mì. Chị Ahana cần bổ dưỡng để có sữa cho Amyra Vườn Lài bú. Phải có tiền.
     
    Khi Amyra được một năm tuổi, chị Ahana xin phép cha bán chiếc xe Honda để có tiền đi tìm anh Báu. Từ khi anh Báu được gọi đi học tập mười ngày, đến nay , hai năm rồi không biết anh ở đâu, không tin-tức, không biết hỏi ai. Cha hỏi chị: " đã nghĩ kỹ chưa. Chồng con như kim chìm đáy biển biết đâu mà tìm ? ".Chị nói: " mấy bạn con có chồng đi học tập cải-tạo như anh Báu chồng con, không có tin-tức...nay họp nhau cùng đi tìm chồng...nếu cha cho phép con cùng đi với họ, cha cho phép con bán xe..? ". " Lòng cha không muốn con đi như vậy, bồng con theo...con bé còn nhỏ quá, trên đường đi nếu có chuyện gì không may....cố.chờ thêm một thời gian nữa , may đâu có tin của  chồng con ? ". Lời cha khuyên chị. Chị lại thổn-thức khóc: " hai năm rồi có tin-tức gì đâu..cha ơi ! ".Mấy ngày chị Ahana cứ xin cha được bán xe đi tìm chồng, chị năn-nỉ cha, chị khóc .Cha cầm lòng không được: " con không nghe cha, xe đó cha đã cho con, nay con muốn làm gì tùy con.! ".
     
    Một buổi sáng, như thường lệ, trước khi kéo xe đi làm, cha và tôi đến phòng chị Ahana nói vài lời gì với chị rồi nhìn cháu Amyra. ..sáng nay phòng chị trống trơn. Cha đứng lặng yên. Tôi hỏi: " chị Ahana đâu rồi ? ".Chỉ có tiếng tic-tắc của đồng hồ trên tường trả lời. Tôi kéo tay cha: " cha ơi, mình đi chở hàng cho kịp người ta bày bán trong chợ " Tôi đẩy chiếc xe chưa có hàng mà thấy nặng như đang chất đầy hàng. Cha cầm càng xe...có lẽ cha bước đi không nổi ?
     
    Đâu chừng một tháng sau, chị Ahana bồng con trở về. Mặt chị bơ-phờ hốc hác, hai mắt quầng thâm, sâu không thấy tròng trắng.. Toàn thân chị khẳng-khiu như cây khô nước. Chỉ có bé Amyra vẫn bụ-bẩm. Cha mừng. Tôi mừng. Chi Ahana khóc nghẹn-ngào. Không tìm được tin-tức anh Báu. Bé Amyra nói được tiếng ba...ba...Tôi nựng cháu: " Amyra nói ba..;ba, cậu Vihaan nghe như cháu gọi ..Báu...Báu.. ". Con nhỏ cười, giống nụ cười anh Báu..

    Chính quyền đã bắt đầu có lệnh cho hồi-hương những cư-dân có quốc-tịch nước ngoài . Người dân có quốc-tịch Ấn-độ không ngoại lệ. Chị Ahana bồng con đi tìm chồng ở các trại cải-tạo trở về, khoảng hai tháng sau thì tòa lãnh-sự Ấn-độ  ở thành-phố Hồ-chí-Minh gởi giấy mời họp cư-dân chuẩn bị hồi hương. Cha không bán nhà. Cha tặng cho bà tổ trưởng dân-phố với ao-ước, một ngày nào đó anh Báu được trở về từ trại cải-tạo, bà cho anh ấy tá-túc và địa chỉ nhà là cầu nối giữa anh và gia-đình bên Án-độ.
     
    Giữa năm 1978 gia-đình tôi rời Việt-nam về Ấn-độ. Thành-phố gia-đình được trở về là Pondischery, thành phố trước đây là thuộc-địa của nước Pháp. Là dân thuộc-địa, hai năm sau, cha xin định-cư ở Pháp. Tôi đi vào Pháp hành-trang mang theo là sổ thông hành với tuổi lên chín, con số chín là con số mà mấy người Tàu trong khu Chuồng-Bò tìm mua  hàng số sau cùng của vé số kiến-thiết quôc-gia giúp đồng bào ta giấy dựng cửa nhà, giàu sang mấy hồi !.
     
    ***
     
    Máu của tôi là máu Ấn-độ, nhưng trong tận cùng trái tim của tôi, tôi là người Việt-nam, nơi tôi được sinh ra và được sống ở đó một thời thơ-ấu bảy năm.. Tang-thương đã đến với gia-đình tôi sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, cũng không làm sao đánh mất trong tôi những kỹ-niệm yêu thương mà người dân trong khu Chuồng-Bò dành cho gia-đình tôi và tôi. Tôi trở về sống ở Ấn-độ chỉ hai năm, thời gian quá ngắn, nên quê hương nước Ấn của tôi như chỉ là bóng mây trôi rực nắng rồi lặn theo mặt trời chiều. Chị Ahana, từ khi đến Pháp, cứ hai năm một lần chị lấy những tuần lễ nghĩ phép dẫn con gái về Việt-nam để thăm, tìm tin-tức anh Báu nhưng không lần ra dấu vết. Chị không lập gia-đình, chị vẫn xinh-đẹp, có nhiều người Pháp thích chị, chị chỉ nhận họ là bạn, không phải là vợ.
     
    Những sĩ-quan tù cải-tạo tập-trung đã lần lượt được thả, có người đã đến Mỹ theo chương-trình HO.
     
    Tình cờ, một buổi chiều đi làm về, nơi trạm chờ xe điện ngầm; tôi gặp lại Trí người bạn học cũ ỏ trường tiểu-học Bàn-cờ,. Sau tháng 4 năm 1975, tôi bỏ học phụ cha đẩy xe ba-gác nay gặp lại nó. Trí từ Mỹ qua du-lịch nước Pháp cùng cha và mẹ. Giờ đi làm về, xe đông người, tôi mời Trí và cha mẹ nó đến nhà tôi chơi để có dịp chuyện trò . Tôi ghi địa chỉ Khách-sạn gia-đình Trí đang ở và hẹn cuối tuần sẽ đem xe đến chở.
     
    Tôi không biết cha của Trí  trước đây là trung-úy quân-lực VNCH. Sau tháng 4 năm 1975, ông đem lương khô, áo quần, đi trình diện học tập mười ngày theo lời kêu gọi của ủy-ban quân-quản thành-phố Sài-gòn. Trí khôi hài nói với tôi :" Cha nó đi học mười ngày, nhưng cha nó học quá kém, nên kéo dài đến bảy năm, trải qua nhiều trường : trường Long-Giao, trường Z.30 D, trường Z.30 C và cuối cùng là trường A.20  Đồng-xuân, Xuân-Phước.Phú-yên. Người dân nói đây là ngôi trường địa-ngục, nung người tù có tinh-thần sắt, đá tan thành nước, thành người cải tạo tốt..nhưng cha của Trí vẫn là sắt, là thép, là đá...chẳng tan thành gì hết..cuối cùng người ta cũng để cho về..nuôi tốn bo bo, tốn khoai mì và rau muống...Về với xã-hội, cha Trí được xã-hội trọng-thưởng cái bằng HO để xây dựng cuộc sống mới.".
     
    Được nghe chị Ahana kể về sự việc anh Báu không có tin-tức về với gia-đình sau khi trình-diện học-tập cải tạo. Ba của Trí ngồi đâm-chiêu một lúc, ông nói: " Tôi biết có một chuẩn-úy binh-chủng nhảy dù tên Lê-huy-Báu lúc tôi được chuyển đến trại tù A.20 Xuân-Phước năm 1978. Khi đến trại được vài ngày, một đêm có tiếng kêu la uất-nghẹn từ nơi biệt-giam : đả-đảo cọng-sản man-rợ tàn ác..hày đem thằng chuẩn-úy Báu này bắn đi...bọn bây đã nã đạn 122ly giết chết cả gia-đình nó bốn người...nay lại bắt nó giam-tù...bọn bây nói giải-phóng Miền Nam  là giải-phóng như vậy sao ? . Giải-phóng bằng cách giết người dân vô-tôi, giải-phóng bằng cách trả-thù giam-giữ người thua cuộc ?...đả-đảo Cọng-sản ! . Anh em trong trại đến trước, có người phạm kỹ-luật bị biệt-giam chung với anh Báu kể lại: chuẩn-úy dù Lê-huy-Báu, lúc trình-diện học-tập mười ngày ở trường-trung-học Trương-vĩnh-Ký, khi bị phân-phối lên xe để chuyển đến các trai cải-tao, vì bị thương mất một chân, lúc leo lên xe rất khó khăn. Chuẩn-úy Báu quơ cặp nạng lấy thế giữ cân bằng, một cái nạng đập vào đầu một bộ-đội, vết thương làm chảy máu. Bộ đội nói anh Báu đánh họ, anh Báu cướp chính-quyền. Người bộ đội đánh lại anh Báu. Hai bên xô-xát nhau. Vài bộ-đội khác cùng tấn-công anh Báu. Anh Báu có võ nên mấy bộ-đội né tránh, bỏ chạy. Anh Báu bị dẫn đi ... qua nhiều trại cải-tạo, anh Báu đều bị biệt-giam vì biết anh có võ, họ sợ anh, nhưng không biết họ sợ gì ở anh. Họ không tin vào những cây súng của họ ?...Không ai biết anh Bấu được đưa đến nhốt biệt-giam ở A.20 từ lúc nào. Cứ vài ba đêm lại vang lên tiếng kêu la nguyền-rủa của anh Báu.. Cho đến một đêm lại vang lên tiếng của anh Báu: đả-đảo cọng-sản tàn ác dã man...cha mẹ ơi !. Các em ơi !.Ahana..Ahana .;vợ tôi ơi .tiếng của anh như được ánh lửa của những ngọn đuốc chuyên-chở đưa lên cao và cao vút làm sáng rõ những ngọn cây...không ai biết sao đêm hôm đó nơi nhà biệt-giam có vài ánh đuốc như vậy.. Có giọng nói của một cha tuyên-úy công-giáo: hôm nay ngày 15 tháng 8, ngày  Đức mẹ lên trời....của năm 1978..Sau lời cha tuyên-úy...lại có tiếng súng .Yên-lặng được trả về cho những người tù tìm lại giấc-ngũ sau một ngày mệt rũ người, đào ao nuôi cá.
     
    Ngày hôm sau, trên đường từ trại giam ra nơi đang đào đất làm ao nuôi cá, những người tù nhìn thấy một góc bên chân đồi có một cái mã mới mà chiều hôm trước, cũng trên con đường nầy từ nơi đào ao nuôi cá trở lại trại giam không một ai nhìn thấy."
     
    Chị Ahana gục người trên ghế salon. Toàn thân chị rung lên...toàn thân chị lạnh cứng. Tôi phải gọi xe cấp-cứu.
     
    Năm 1994, tôi được hai mươi sáu tuổi. Cháu Amyra tròn mười tám. Chúng tôi cùng hẹn gặp ba của Trí ở Sài-gòn. Ông không còn thân-nhân gần gũi ở Việt-nam, ông về, trước để thăm những người lính ngày xưa do ông chỉ-huy, cùng chiến đấu, bị thương, nay còn ở lại quê nhà, sau hướng dẫn chị Ahana đi tìm mộ anh Báu.
    Theo đề-nghị và hướng-dẫn của ba Trí, chúng tôi thuê xe đi Xuân-Phước. Hơn nửa ngày ngồi trên xe, chúng tôi đến ngã ba Chí-Thạnh...xe tiếp-tục chay vài cây số, đường  trở nên khó đi, mặt đường lún sâu, đầy vết đào xới của những bánh xe chở nặng đá,đất, bụi bay mù mịt...Một trạm gác chận xe chúng tôi lại. Người bảo-vệ  bảo chúng tôi quay xe lại, xe không được chạy sâu vào bên trong, chỉ dành cho người đi bộ, chính-quyền địa-phương đang xây đập nước. Chúng tôi phải trở ra ngã ba Chí-Thạnh ngũ qua đêm. Sáng hôm sau, chúng tôi đi bộ hường về trại giam A.20 Xuân-Phước; Trại giam cũ vẫn còn đó. Nhưng không gian bên ngoài đã thay đỗi nhiều theo lời của ba Trí. Đường sá, nhà dân khang-trang , biến vùng rững núi mất đi vẻ hoang-dã rùng-rợn và chết chóc. Người ta đã phá đồi, đào đất xây đập; Người dân cho biết chính-quyền địa-phương đang làm con đập Phú-xuân, Xuân-phước, Đông-xuân, Phú-yên.để lấy nước và lưu-trử nước từ con sông Trà-Bương và hai con suối Cối và suối Đá-Cầu. Khu đất được dùng làm nơi chôn tù cải-tạo nơi góc dưới chân đồi không còn nhìn thấy. Người dân cho biết trước đây, một vài mồ mã đã được người thân di dời, số còn lại, có lẽ người thân không biết, thời gian mưa gió soi mòn, người dân thương tình đắp đất, đá sửa lại...Gần đây bắt đầu xây đập .. người dân không còn thấy những ngôi mồ nữa. Người ta nói chính-quyền địa-phương đã di dời .Mọi người đều nhìn nhau với đôi mắt đồng lõa, không ai trả lời, khi được hỏi có biết những ngôi mộ còn lại được chính-quyền địa phương di dời ở đâu ? Chị Ahana ngồi xuống đất, chị khóc. Amyra cũng ngồi xuống ôm mẹ, cùng khóc với mẹ.
     
    Trên đường về, đi theo con đường ven sông Trà-Bương, chúng tôi ngừng lại nơi bãi đất trống cạnh bờ sông. chị Ahana lấy nhang ra thắp, cắm bên bờ , âm-thầm khấn, vái . Amyra lấy bó hoa đem theo để cắm trên mộ cha mình ..đưa lên môi hôn với vài lời thì-thầm... nước mắt chảy dài hai bên má..Trời nắng chói chang, mang theo cơn gió nhẹ đưa làn khói hương lên cao, tỏa mùi hương. Con nước sông lặng-lờ chảy cuốn nhẹ bó hoa trôi xa dần bờ.
     
    Anh Báu ơi, anh đang ở một nơi nào đó, anh hãy đón nhận mùi hương khói ấm mà chị Ahana, vợ anh đã ấp-ủ dành cho anh...chị vẫn nuôi ấm tình anh trong tim của chị...và những bông hoa từ Amyra con gái anh, gởi đến cho anh bằng trái tim trong sáng, nuôi trong tâm cái chết của cha là một cái chết can-đảm , bất khuất.. cái chết của một anh-hùng, Amyra gởi theo dòng sông bó hoa để tặng cho người anh-hùng, bất-khuất. Anh Báu có nghe lời của Vihaan, thằng em Ấn-độ của anh ?
     
    – Nguyễn-đại-Thuật
    Ile de France Garges-lès-Gonesse
     
    * Ghi chú:
    Chà-dà tức Java, người Ấn-độ ở Đảo Java bên Nam-dương.

ĐỒN 133 VÀ NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG...

  • Image en ligne

    Nhìn chiếc đồng hồ đeo tay cũ, đã qua 1 giờ trưa sau lịnh tuyên bố từ đài phát thanh Saigon cho mọi người lính buông súng đầu hàng. Tám Mộc đứng trên lô cốt của cái đồn hình tam giác nhìn ra hướng cửa sông, thủy triều đang dâng cao làm con nước chảy mạnh vào trong đất liền mang theo những cơn gió làm hàng bần, mắm, mọc trên bãi bồi lắc lư qua lại. Phía bên kia sông quang cảnh vẫn im lìm, vài chiếc tam bản chèo sát rặng dừa xuôi theo dòng nước. Sau khi nói vài câu với người lính gác, anh bước xuống đi qua cái lô cốt nhìn về phía những mảnh ruộng đã khô cng vì nắng nóng cuối tháng tư. Người lính tên Chín Sao ngồi trên mặt thùng gỗ chăm chú nhìn ra bên ngoài, anh ta được tin tưởng nhất đồn vì rất kinh nghiệm khi đối đầu với với tụi du kích hoạt động xung quanh khu vực này. Tám Mộc nhìn hàng cây xanh xa xa cách đồn khoảng 2 cây số rồi hỏi:
    - Nãy giờ có thấy gì lạ không?
    - Em nhìn kỹ chỗ đó nhưng không thấy có gì lạ, anh có chắc là thằng Tư Sung nó không chơi mình không?
    Tám Mộc lắc đầu liếc nhìn về hướng hàng cây một lần nữa rồi hỏi:
    - Mày ăn uống gì chưa?
    Chín Sao gật đầu:
    - Em và tụi nó ăn xong hết rồi.
    - Ừ, ngồi gác bình thường như mọi ngày, đừng lăng xăng quá làm tụi nó nghi ngờ. Có dấu hiệu nào lạ thì cho tao biết.
    Anh đến cái lô cốt cuối cùng ở sát bờ sông thấy không có gì khác thường trừ tiếng súng bắn từng loạt ở xa vọng lại, có lẽ đám du kích ở xã nào đó nổ súng ăn mừng chiến thắng. Dặn dò người lính gác xong, Tám Mộc bước xuống căn hầm nửa chìm nửa nổi giữa đồn. Mấy người lính còn lại, 1 số nằm trên mấy cái giường, một số ngồi dựa lưng vào vách nói chuyện. Tất cả trong cái đồn gần cửa sông Mỹ Thạnh bây giờ chỉ còn lại 9 người, kể luôn anh là người đeo lon thượng sĩ thay thế cho chuẩn úy Hưng, trưởng đồn đã xin về nhà ở Sóc Trăng hôm qua. Hạ sĩ Mùi da ngăm đen, tay chân chắc nịch, mỉm cười khi thấy anh bước vào:
    - Anh Tám làm một chút cho ấm bụng, hôm nay bữa cuối mình còn ở đây. 
    Anh ta đưa bình tong nhôm cho anh. Anh cầm cái bình đưa miệng lên tu một hớp, cổ họng và dạ dầy bừng nóng vì thứ rượu đế gần như nguyên chất được nấu từ mấy ngôi làng quanh đây. Trên cái đi-văng ghép bằng 4 miếng ván, 1 cây đại liên, 1 cây trung liên và 2 cây M79 để gần bên những túi mìn Claymore. Không khí trong căm hầm khá ngột ngạt vì sự chờ đợi và nắng nóng bên ngoài, Tám Mộc nhìn mọi người nói:
    - Có đứa nào muốn đi về thì ra bờ sông lấy xuồng bơi qua bên kia.
    Tiếng binh nhì Được, người trẻ nhất còn ở lại đáp:
    - Tụi em ở lại chơi trận cuối, tối về.
    Có tiếng cười nhỏ vang lên trong căn hầm, anh nhìn những đôi mắt trên khuôn mặt mỗi người, Tám Mộc bỗng cảm động vì tình nghĩa làng xóm đã gắn chặt những người lính địa phương quân, một vài người thì mang nặng mối thù với Chín Bường và trung đội du kích dưới quyền chỉ huy của hắn. Nhiều người dân sống trong vùng này bị Chín Bường hạ sát hoặc bắt đi mất tích chỉ vì không hợp tác và bị nghi ngờ cung cấp tin cho cảnh sát và đồn. Sau đó một thời gian nó biến mất không để lại dấu vết. Tám Mộc đến những gia đình trong xã thăm dò tình hình an ninh, sẵn đó anh hỏi tin tức về Chín Bường nhưng mọi người đều lắc đầu không biết hắn ta đi đâu. Một vài lần anh nghe mấy cán bộ xây dựng nông thôn ở các xã sâu gần vùng bưng phía nam nói, Chín Bường bị thương trong trận phục kích của đồn 133 gần con lạch nhỏ phía tây nam. Nó được đồng đội khiêng đi, bây giờ không biết sống chết ra sao. Tám Mộc nhớ lại lần đó, có tin báo một nhóm du kích về định thu lúa gạo của dân trong xã. Tối đến chuẩn úy Hưng dẩn 6 người lính nằm phục kích trên con lạch chảy từ rừng mắm ra. Giữa khuya 2 chiếc xuồng lọt vào giữa hai bờ lạch, những họng súng khai hỏa bắn hạ 4 tên việt cộng, 2 chiếc xuồng bị bắn vỡ tan tành và đồn tịch thu được vài cây AK. Như vậy lần đó có mặt Chín Bường, nhưng hắn may mắn thoát chết. 
    Lúc còn trẻ, Tám Mộc hay qua xã kế bên chới với Tư Sung rồi quen biết Chín Bường. Nhà nó ở tuốt trong ruộng, lội qua bên kia con rạch gần hông nhà là khu rừng bần, mắm dầy đặc mà thời chống Pháp là căn cứ của việt minh. Dân xã đó biết gia đình nó có nhiều người đi theo vào rừng, còn Tư Sao nói là ba nó bị lính Pháp bắn chết dưới U Minh, Cà Mau, nhưng má nó nói đi làm bị bệnh sốt rét qua đời chôn dưới đó. Nó học cùng trường tiểu học với anh và Tư Sung, nhưng sau vài năm nó nghỉ học ở nhà làm ruộng. Cách đây 5 năm, Tám Mộc vào lính địa phương quân thì Chín Bường cũng vào bưng gia nhập du kích, còn Tư Sung xin vào làm nhân viên hành chánh xã kế bên kiêm nông dân.
    Giữa tháng tư, tình hình miền trung và vùng cao nguyên trở nên rối loạn. Các tỉnh ngoài đó lần lượt thất thủ rơi vào tay địch quân, cuộc chiến lan dần xuống phía nam gần Saigon. Riêng ở các tỉnh miền tây thì nhiều đồn bót trong vùng sâu bị các tiểu đoàn địa phương của việt cộng lần lượt đánh chiếm. Ban đêm trong xã những toán du kích mò về tuyên truyền, móc nối và lấy tin tức. 
    Cách đây gần 1 tuần, Tư Sung hẹn gặp anh ở một khu vườn ở bên kia sông Mỹ Thạnh. Tám Mộc lận trong người cây Colt và trái lựu đạn bơi xuồng qua đó một mình để gặp Tư Sung xem có chuyện gì. Ngồi trên gò đất trồng chuối, Tư Sung cho anh biết Chín Bường đã trở về cho người móc nối với anh ta để diệt đồn 133 mang tiếng là ác ôn, nhưng hậu ý là để trả thù lần hắn ta bị phục kích súyt chết. Hắn còn nói là vài ngày nữa sẽ dẫn 2 trung đội có trang bị đầy đủ vũ khí với sự yểm trợ của bộ đội chủ lực tỉnh làm cỏ đồn 133. Tám Mộc biết lý do Tư Sung cho mình biết tin này vì anh ta còn hận Chín Bường vào một buổi chiều cách đây khoảng 3 năm, hắn bất ngờ đến chỗ ông già vợ của Tư Sung đang làm ruộng gần con rạch đánh hai bạt tay coi như cảnh cáo tội hó hé tin cho lính xã. Còn anh cũng không thích đám du kích của Chín Bường từ lâu vì đã giết nhiều người dân vô tội. Sẵn lần này biết hắn muốn đánh đồn trả thù, anh chỉ dặn Tư Sung là bắt đầu từ ngày mai khi nào biết tin Chín Bường sắp đánh đồn thì kéo lá cờ xanh đỏ có ngôi sao vàng nhỏ lên ngọn dừa sau nhà anh ta ở cách đồn gần 2 cây số cho anh biết. Xong xuôi Tư Sung và anh chia tay đi về hai ngã để tránh tai mắt bọn du kích.
    Hôm sau anh cho chuẩn úy Hưng biết ý định của Chín Bường, bàn bạc xong trưa đó anh và Chín Sao lấy xung gắn máy chạy về đồn của đại đội nằm trên bờ con sông chính cách đó gần 4 cây số xin yểm trợ hỏa lực và thêm đạn dược để đề phòng. Đã vào những ngày cuối cùng của cuộc chiến, anh nhận được lời hứa không mấy nồng nhiệt của ông đại đội trưởng, nhưng ông ta nói sẽ cấp thêm những món mà trong kho còn nhiều. Lúc ra về, Tám Mộc im lặng không nói cho đến lúc chiếc xuồng cặp vào bờ sông sát chân đồn. Anh lên gặp chuẩn úy Hưng báo lại tình hình và lời hứa của sĩ quan chỉ huy đại đội. Tối đó anh suy nghĩ rất lâu và định xin về nhà, coi như bỏ đồn không quay lại và tìm cách báo cho Tư Sung.
    Sáng hôm sau, đại đội gọi qua máy truyền tin nhắn anh lên nhận “heo gà” về để dành ăn. Buổi chiều anh cử Chín Sao lấy xuồng ra đi và dặn đợi tối hẳn mới về dễ tránh bị du kích theo dõi. Âm thầm đi 2 chuyến, Chín Sao đem về một cây đại liên, rất nhiều mìn Claymore, đạn dược và một máy truyền tin mới được cất vào hầm kín đáo. Anh nói chuẩn úy Hưng cho 2 người lính có nhà ở cuối xã được đi về nhà “nghỉ phép” 4 ngày để làm tụi nằm vùng tin là đồn 133 vẫn lè phè. Tám Mộc nhìn đồng hồ thấy gần 2 giờ chiều, có tiếng bước chân thật nhanh của Chín Sao tới gần:
    - Anh Tám, em thấy hình như tụi nó di chuyển trong chỗ đám bần.
    Anh vội vã theo Chín Sao vào trong lô cốt cầm ống dòm nhìn qua lỗ châu mai thì nghe tiếng súng cối vọng lại, anh nói lớn:
    - Tụi nó pháo!
    Vài giây sau 1 trái đạn cối nổ tung trên miếng ruộng khô cách đồn gần 30 mét, đất cát từng đám văng lên cao. Từ trong hầm, Mùi và mấy người lính theo giao thông hào mang súng và túi mìn ra những vị trí đã được định sẵn. Khẩu súng cối bắn càng lúc càng chính xác hơn, tiếng đạn nổ gần hàng rào kẽm gai, Tám Mộc và 8 người lính chia ra giữ hai mặt đồn phía mặt ruộng và đầm lầy, còn phía con sông thì gần như bỏ trống vì anh tin việt cộng không tiến đánh mặt đó. Xung quanh đồn mịt mù khói bụi, từng lớp rào kẽm gai bị đứt bung ra từng mảng, 3 trái đạn rơi trúng giữa sân phá tan căn nhà gỗ, nhưng cây cột cờ vẫn đứng vững, lá cờ màu vàng vẫn bay trong gió. Anh mở máy truyền tin gọi về đại đội xin yểm trợ, nhưng không có ai trả lời, chỉ có tiếng rọt rẹt của sóng vô tuyến. Chín Sao và một người lính nhìn anh, ánh nắng mặt trời ngoài đám ruộng bị khói bụi che khuất, Tám Mộc thầm nghĩ, không lẽ chiều nay mình và 8 đồng đội sẽ chết tại đây. Tiếng nổ chát chúa của cây thượng liên bắn tung lớp bao cát che bờ hào giữa tiếng đạn cối ầm ầm khắp quanh đồn làm chao đảo mặt đất, nhưng không một tiếng súng từ bên trong bắn trả. Những trái đạn pháo bây giờ bay vọt ngang đồn rớt xuống sông rồi im hẳn. Tám Mộc và mọi người nhìn ra ngoài, những bóng người lố nhố chạy trên mặt ruộng khô, các toán địch quân không tỏ ra sợ hãi vừa chạy vừa bắn như mưa. Anh ra dấu cho những người lính chờ thêm rồi hỏi:
    - Đặt mìn Claymore hết hai mặt chưa?
    Tiếng Mùi đáp:
    - Rồi, em coi tụi nó đặt rồi.
    Tiếng AK giòn tan hòa với tiếng trung liên nồi, thượng liên bao trùm khắp nơi, Tám Mộc ước tính địch quân chắc phải hơn đại đội. Tiếng đạn B-40 găm vào bờ đất nổ tung, bên ngoài việt cộng tràn tới rất đông, những người lính trong đồn có thể thấy rõ những cái nón tai bèo, khăn rằn sau làn khói, Tám Mộc hét: 
     - Tất cả bắn!
    Mọi người kể cả anh siết cò súng, tiếng đạn lớn nhỏ nổ điếc tai trong mùi khói súng khét lẹt. Những thây người trúng đạn ngã vật xuống, lớp khác lao tới điên cuồng bắn vào đồn với những tiếng hét căm thù. Nhiều tên địch vượt qua lớp rào ngoài cùng đã ngã rạp trên mặt đất tiến sát đến gần lớp cuối cùng. Tám Mộc la lớn:
    - Bấm mìn.
    Những tiếng nổ như sấm sét khắp hai mặt đồn đẩy lùi địch ra xa. Đạn cối lại dồn dập nã vô đồn, cây cột cờ giữa sân bị gãy ngang, trên vùng đất nằm giữa 3 cạnh của cái tam giác đều bây giờ không còn cái gì nguyên vẹn. Tám Mộc và những người lính ngồi dưới hầm hào chịu trận. Đúng lúc đó từ căn hầm lớn giữa đồn Chín Sao khom người ôm máy truyền tin theo đường hào chạy đến:
    - Anh Tám, em vô lấy thêm đạn, nghe có đơn vị nào đó gọi mình.
    Anh cầm ống nghe lên nói:
    - Thượng sĩ Mộc, đồn 133 địa phương quân.
    Có tiếng rè rè vài giây rồi một người hỏi:
    - Tôi nghe có tiếng súng nổ vang qua máy truyền tin, có phải là đồn các anh đang bị tấn công không?
    - Đúng, tụi tui đang bị một đại đội việt cộng bao vây tấn công, các anh là ai?
    - Chúng tôi là tuần duyên đỉnh 22 đang trên đường di tản ra tàu lớn ngoài khơi. Đồn 133 nằm gần cửa sông Mỹ Thạnh phải không, trong đồn còn bao nhiêu người?
    - Đúng, cách cửa sông gần 1 cây số. Tất cả luôn tui là 9 người.
    - Rõ, đã nhận ra vị trí của anh trên bản đồ, bây giờ cho tôi biết hướng tấn công của tụi nó, thủy triều đang lên cao, chúng tôi có đại bác 20 ly và 12 ly 7.
    - Tốt quá, tụi nó đặt cối 82 trong rừng cách tui chừng hai cây, tui cần anh khóa nó lại, còn 12 ly 7 anh bắn theo hướng đông bắc - tây nam để tụi tui dồn hỏa lực về phía tây.
    - Nghe rõ, gần cửa sông có dãy cồn cát thấp tôi sẽ bắn cho nó sạt xuống lấy tầm nhìn, sau đó sẽ bắn vào rừng cây, anh quan sát và gọi khi cần điều chỉnh.
    Cùng lúc đó địch ngưng pháo kích, cây thượng liên lại bắn trực xạ vào đồn và những toán việt cộng bên ngoài nã AK, B-40 vô hầm ngầm dưới chân lô cốt. Tiếng đạn bắt đầu nổ ngoài cửa sông rồi sau đó bay thẳng vào rừng cây, Tám Mộc quan sát bằng ống dòm rồi nói qua máy:
    - Anh bắn sang bên phải một chút, sau hàng cây cao, ừ, anh vừa bắn trúng đúng vị trí cây cối 82 rồi, bắn tiếp đi.
    Qua ống dòm, Tám Mộc thấy hàng bần trúng đạn bay mất ngọn và chìm trong đám khói. Tiếng đại liên từ ngoài cửa sông quạt liên thanh sát mặt ruộng, từng thân người bị hất văng lên giữa tiếng súng của hai bên. Bỗng ngoài mặt sông có tiếng mìn nổ, Được và một người lính khác chạy theo con hào về phía đó rồi tiếng M16 và tiếng lựu đạn nổ dưới nước. Mùi cầm cây M79 và Chín Sao chạy đến chổ Được và người lính kia, lát sau Chín Sao quay lại nói:
    - Có 4 thằng việt cộng lội dọc bờ sông tính đánh tập hậu đạp trúng mìn chết hai thằng, hai thằng kia cũng bị bắn chết dưới sông.
    - Mày nói hai đứa nó coi mặt đó nghe.
    Chín Sao len lỏi đi dưới con hào ra bờ sông, Mùi vừa quay trở lại cười:
    - Đã quá anh Tám, trên tàu bắn ác quá, tụi nó chết như rạ.
    Cây đại liên và trung liên của đồn bắn càn quét mặt tây trong tiếng nổ của đạn M-79 bắn đuổi theo những toán địch quân đang rút chạy về khu rừng. Những người lính địa phương quân bây giờ lên khỏi hào nhìn ra bên ngoài với nụ cười trên khuôn mặt ám khói súng.
    Tiếng đạn pháo 20 ly vẫn nổ ầm ầm trong hàng cây thêm một lúc rồi chấm dứt. Người lính trên tàu tuần duyên nói lớn:
    - Anh cần yểm trợ thêm nữa không?
    - Tụi nó rút lui rồi, bỏ lại trên ruộng nhiều xác chết và súng đạn. Cám ơn các anh rất nhiều.
    - Không có gì, thôi xin chào. Chúng tôi đi đây.
    - Tui chưa biết tên anh.
    - Tôi tên Hải, cấp bậc chuẩn úy, còn hai người kia là Đằng và Phong.
    - Một lần nữa, đồn 133 xin cám ơn các anh.
    Tám Mộc chưa kịp chúc may mắn thì chuẩn úy Hải hỏi:
    - Tàu còn rộng lắm, anh và mấy người lính có muốn đi với tụi tôi không?
    Anh suy nghĩ một lúc rồi đáp:
    - Để tui hỏi tụi nó coi có đứa nào muốn đi, chờ tui một chút.
    Chín Sao kèm Được đi cà nhắc tới:
    - Nó bị thương nhẹ ở chân, em băng bó lại rồi, không sao!
    - Ngoài tàu hỏi đồn mình ai muốn đi theo thì đi liền bây giờ, mấy ảnh đang chờ mình.
    Mọi người im lặng nhìn anh và nhìn nhau,Tám Mộc hối:
    - Nhanh đi, tàu không chờ lâu đâu. Tao không đi vì có vợ con ở đây, Chín Sao, Mùi.
    Giọng Chín Sao nói nhỏ:
    - Em có vợ nên ở lại.
    Mùi đưa tay lên:
    - Em đi theo tàu.
    6 người lính trẻ còn lại, kể cả Được bị thương đều đưa tay lên. Tám Mộc nói lớn vào máy truyền tin:
    - Chuẩn úy cho tui gửi 7 đứa em đi theo nghe, bây giờ anh đậu gần cửa sông tụi tui chạy ghe ra.
    - OK.
    Mùi và một người lính chạy vô hầm khiêng cái máy đuôi tôm ra gắn lên chiếc xuồng, Được đến gỡ lá cờ vàng ba sọc đỏ trên cây cột gãy nằm trên sân cột lên cổ. Anh ra lệnh đem tất cả vũ khí còn lại bỏ vào trong căn hầm giao cho Chín Sao phá hủy không để lọt vào tay du kích. Tiếng máy nổ lớn vọng lại càng gần, thủy triều đang dâng cao nên chiếc tuần duyên vào sát gần đồn đón 7 người lính vẩy tay từ biệt Tám Mộc và Chín Sao.
    Tiếng chuẩn úy Hải trên máy:
    - Xin chào, chúng tôi ra biển đây.
    Chín Sao gài xong chất nổ rồi chạy ra nhẩy lên chiếc xuồng có Tám Mộc nổ máy xuôi theo con nước, đến giữa sông Tám Mộc bỏ máy truyền tin cho nó chìm xuống dòng nước vàng đục. Một tiếng nổ lớn làm cái đồn biến mất trong khói bụi dưới bầu trời dần sẩm tối.
    Hôm sau, Tám Mộc và Chín Sao bỏ xứ theo ghe lên Saigon sống, vài tháng sau nhắn hai bà vợ dẫn con cái lên để tránh bị trả thù. 2 năm sau, Tư Sung trên Biên Hòa liên lạc được với anh rồi xuống Saigon chơi. Ngồi trong quán cóc lề đường uống cà phê, Tư Sung kể lại chuyện cũ:
    - Trưa hôm đó, tui thấy tụi du kích của Chín Bường kéo về ấp kế bên, tui tính leo lên cây dừa treo cờ báo cho anh thì đứa em vợ chạy về nói Chín Bường ra lịnh cho du kích giết tui vì nó nghi ngờ, tui tức tốc nhảy xuống mương trốn rồi hôm sau chạy lên Biên Hòa ở chỗ thằng em họ tới bây giờ.
    - Vợ con có lên theo không?
    - Có, mấy tháng sau giả bộ xin lên Saigon thăm bà con rồi đi luôn.
    Uống một ngụm cà phê, Tư Sung cười với vẻ khoái trá nói tiếp:
    - Anh Tám biết sao không, sau trận đánh đồn hôm đó thằng Chín bị thương nặng, mấy thằng du kích kể lại nó bị trúng mảnh đạn nát mặt, mù hai mắt, một cánh tay xụi lơ, xác việt cộng chôn đầy nhóc trong rừng. Anh và tụi lính trong đồn đánh một trận “ác” quá, mấy thằng du kích còn sống thề tìm bắt anh và mấy thằng lính của anh để trả thù.
    Tám Mộc mỉm cười nhớ lại tiếng người chuẩn úy trên con tàu tuần duyên gọi trên máy truyền tin buổi chiều ngày 30 tháng 4 và tiếng máy tàu chở 7 người lính trẻ trong đồn sau trận đánh chạy ra cửa sông xa dần. 
    VŨ PHAN


“LEAVE NO MAN BEHIND” (KHÔNG BỎ LẠI AI PHÍA SAU)! (*)
  • * Có 5 khoảnh khắc quyết định (trải dài 65 năm, từ bãi biển Cuba năm 1961 đến sườn núi Iran năm 2026), và đây là thực tế cần nhìn cho tỏ tường, không được lãng quên: 4 đời Tổng thống Dân chủ ứng xử PHẢN BỘI, HÈN NHÁT, VÔ LIÊM SỈ khi sẵn sàng bỏ rơi người lính,
    và 1 đời Tổng thống Cộng hòa tìm cách giải cứu dù chỉ một người lính đi nữa.
    &1&
    Có 5 khoảnh khắc quyết định (1961, 1993, 2012, 2021, 2026) làm lộ ra một khuôn mẫu lặp lại với sự chính xác tàn nhẫn đến mức không thể gọi là ngẫu nhiên. Và khuôn mẫu ấy như sau:
    mỗi khi một tổng thống thuộc đảng Dân Chủ đứng trước lựa chọn giữa mạng sống người lính và tính toán chính trị, “tính toán chính trị” luôn thắng;
    trong khi tổng thống thuộc đảng Cộng Hòa đứng trước lựa chọn tương tự, người lính luôn được đưa về nhà!
    * Trong kho tàng nguyên tắc quân sự của Mỹ, không có nguyên tắc nào thiêng liêng hơn dòng chữ: “Leave no man behind”, “Không bỏ lại ai phía sau”.
    Nhưng 4 đời Tổng thống đảng Dân Chủ (J.F. Kennedy, Bill Clinton, Obama, Joe Biden) đã không tôn trọng nguyên tắc thiêng liêng nêu trên, dẫn đến 149 người Mỹ bị bỏ rơi và chết cay đắng.
    &2&
    Bốn tổng thống Dân Chủ, bốn lần bỏ rơi những người Mỹ cần giải cứu. Và một tổng thống Cộng Hòa chính là người DUY NHỨT huy động toàn bộ sức mạnh quân sự để cứu một mạng người nằm sâu trong lãnh thổ kẻ thù.
    Buộc chúng ta phải đặt câu hỏi: liệu có điều gì trong triết lý chính trị của mỗi đảng đã tạo ra sự khác biệt hệ thống này?
    Lịch sử nằm trên bãi biển Cuba 1961, trên đường phố Mogadishu 1993, trong đêm Benghazi 2012, tại cổng Abbey Gate ở Afghanistan 2021, và trên sườn núi Iran 2026.
    Lịch sử nằm trong thi thể của 149 người Mỹ bị bỏ rơi bởi 4 tổng thống Dân Chủ — và trong hơi thở của một Đại tá Không quân được cứu sống bởi một tổng thống Cộng Hòa.
    “LEAVE NO MAN BEHIND” không phải khẩu hiệu. Đây là khế ước thiêng liêng.
    &3&
    *: Mời quí bạn vào đọc trọn bài của fb Vô Danh, để biết tỉ mỉ, chi tiết về những lần người lính Mỹ cần được giải cứu nhưng bị bỏ rơi, phản bội, vô liêm sỉ bởi bốn tổng thống Dân Chủ ra sao;
    và được giải cứu bởi tổng thống Cộng hòa mới đây nhứt:
    /1/ VỊNH CON HEO, 1961: John F. Kennedy PHẢN BỘI
    Cựu sĩ quan CIA Grayston Lynch viết trong cuốn “Decision for Disaster: Betrayal at the Bay of Pigs” (Quyết định dẫn đến thảm họa: Sự phản bội tại Vịnh Con Heo), rằng Kennedy đã hành xử “hèn nhát.” Ông ta chọn an toàn cho mình và khiến cho 1.400 người chịu hậu quả.
    /2/ MOGADISHU, 1993: Bill Clinton ĐỔ LỖI CHO LÍNH MỸ VÌ DÁM CHIẾN ĐẤU
    Bill Clinton gọi gia đình tử sĩ vào văn phòng, và tổng thống đổ lỗi cho người chết vì tội dám chiến đấu. Bill Clinton không bao giờ nhận lỗi.
    /3/ BENGHAZI, 2012: Barack Obama PHỚT LỜ, VÔ LIÊM SỈ
    Về biến cố Benghazi, chính quyền tổng thống Obama từ chối cho nhân chứng ra điều trần. Sự khác biệt không nằm ở mức độ thất bại, mà ở mức độ VÔ LIÊM SỈ trong cách che đậy thất bại.
    Còn ngoại trưởng Hillary Clinton, khi bị chất vấn trước Quốc Hội về số người Mỹ chết tại Benghazi, bà ta ra thốt ra câu mà lịch sử không tha thứ: “Đến lúc này thì có khác biệt gì nữa đâu” (“What difference, at this point, does it make?”)
    /4/ KABUL, 2021: Joe Biden ĐỔI TRẮNG THAY ĐEN
    Joe Biden rút quân khỏi Afghanistan, phớt lờ lời cảnh báo của giới tình báo rằng Taliban sẽ chiếm Kabul trong vài tuần. Biden bỏ ngoài tai. Bỏ mặc hàng ngàn người Mỹ vẫn mắc kẹt phía sau Taliban.
    Đã có những lính Mỹ phải chết tức tưởi ngay trên lãnh thổ mà Joe Biden đã đầu hàng.
    Biden điềm nhiên, thản nhiên gọi 13 thi thể lính Mỹ là “thành công phi thường”.
    /5/ IRAN, THÁNG 4 NĂM 2026: Donald Trump “WE GOT HIM!” - KHI LỜI THỀ ĐƯỢC GIỮ
    Một vị Đại tá bị thương, kiệt sức nơi một vùng núi ở Iran, ông phát đi tín hiệu: “God is good” (“Thiên Chúa tốt lành”) - đây là lời cầu nguyện của người lính cho linh hồn mình trong những giờ phút sau cùng.
    Tổng thống Donald Trump yêu cầu, “Phải tìm được anh ấy bằng mọi giá”, không bỏ cuộc.
    Giữa ban ngày ban mặt tại Iran. Trước mũi súng kẻ thù. Vì một người.
    Donald J. Trump





    Inline image



    viết: “WE GOT HIM!” - và rồi nói câu mà 65 năm lịch sử đã chờ đợi:
    “Trong quân đội Mỹ, chúng ta không bỏ lại bất cứ người Mỹ nào còn sống" (Leave no man behind)!
    ---------------------------------------------

Tin vui cộng đồng người Việt quốc gia hải ngoại.

  •                                          
    1775240086009blob.jpg

               Mời xem lại  bản tin của Crystal Bailey
               trên đài truyền hình KTVU (FOX 2) về
               em bé Mỹ gốc Việt Sunny Nguyễn ở tại
               San José California vừa được hơn 100
               trường Đại học của Mỹ nhận nhâp học...
                
                                                   Thân ái.
                                         Nguyễn Tấn Thuận.
               PS. i/   Nguồn :
                   Nhớ click vào link trên đây để xem video.
                     ii/  Bài tự sự do chính Sunny Nguyễn viết trên 
                trang mạng : https://sunnyinspires.com/
                           iii/ Xem tất cả videos của Sunny Nguyễn ;
                          https://www.youtube.com/@sunnynguyenofsanjose

    Cậu bé 13 tuổi đến từ San Jose được nhận vào hơn 100 trường đại học.

      

    SAN JOSE, California - Mới chỉ 13 tuổi, Sunny Nguyen đến từ San Jose có thể sắp lập kỷ lục thế giới khi trở thành một trong những người trẻ tuổi nhất được nhận vào nhiều trường đại học nhất.

    "Bố mẹ tôi đã khuyên tôi nên đi học đại học và tôi đã đồng ý, và giờ tôi đang ở đây," anh ấy nói với KTVU trong một cuộc phỏng vấn gần đây. 


    Cha của Sunny, ông Tommy Nguyen, cho biết Sunny là con cả trong số năm người con của ông, và cậu bé luôn rất đặc biệt. 

    "Cậu ấy rất thích toán," bố cậu nói. "Cậu ấy học toán ở bất cứ đâu cậu ấy đến. Cậu ấy có thể nhìn thấy toán học trong mọi thứ, ở mọi nơi." 

    Bố cậu ấy nói rằng ông tin con trai mình sẽ có thể làm được bất cứ điều gì nó muốn trong cuộc sống. 

    Cậu thiếu niên này luôn yêu thích công nghệ – tự thiết kế website và học các môn như kỹ thuật phần mềm và trí tuệ nhân tạo tại nhà.

    Giống như hầu hết các bạn trẻ khác, Sunny cũng cho biết cậu ấy thích "chơi rất nhiều trò chơi điện tử". 

    Anh ấy cũng sở hữu một kênh YouTube đang phát triển mạnh mẽ với gần 60.000 người đăng ký.

    Vì vậy, khi trường công lập và giáo dục tại nhà không đáp ứng được nhu cầu, Tommy Nguyen bắt đầu nộp đơn xin học cho con trai mình.

    "Điều khiến chúng tôi bất ngờ là mọi người chào đón cậu ấy nồng nhiệt, thư từ liên tục được gửi đến nhà chúng tôi về việc trúng tuyển, học bổng và các thông tin khác," ông nói.  

    Một số trường đó bao gồm UC Berkeley và UC San Diego, cùng với một loạt các trường đại học công lập của bang California. 

    Sunny đặc biệt quan tâm đến trí tuệ nhân tạo (AI) và hy vọng sẽ sử dụng nó để tạo ra thứ gì đó giúp con người sống lâu hơn.

    "Tôi nghĩ phần thú vị nhất là được chứng kiến những gì sẽ xảy ra tiếp theo," Sunny nói. 

    Ông Tommy Nguyen cho biết con trai ông đã nhận được học bổng trị giá hơn 3 triệu đô la. 

    "Trường nào cũng tặng cậu ấy một món quà," bố cậu ấy nói. "Một số trường còn tặng cậu ấy học bổng lên đến hơn 100.000 đô la." 

    Dù Sunny quyết định đi đến đâu, cậu ấy đều dự định theo học ngành khoa học máy tính và thay đổi thế giới. 

    XIN CHÀO, TÊN TÔI LÀ

    Sunny
    Nguyen

    Sinh viên, nhà sáng tạo công nghệ và người anh cả đáng tự hào của năm đứa em.

    G...@SUNNYINSPIRES.COM
    Sunny Nguyen tại công viên
    Lời Cảm Ơn

    Trước hết, tôi muốn gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè và các thầy cô giáo đã luôn ủng hộ tôi trong suốt chặng đường. Nếu không có sự hướng dẫn, động viên và niềm tin của họ, tôi sẽ không thể đạt được thành công như ngày hôm nay. Tôi vô cùng biết ơn sự hỗ trợ và nguồn cảm hứng không ngừng nghỉ của họ, những điều đã định hình nên hành trình của tôi.

    Tôi cũng muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các phóng viên và chuyên gia truyền thông đã giúp lan tỏa câu chuyện của tôi và hỗ trợ hành trình của tôi. Sự đưa tin của họ đóng vai trò quan trọng trong việc giúp tôi chia sẻ kinh nghiệm và khát vọng của mình với đông đảo công chúng. Công việc của họ thực sự truyền cảm hứng cho những người khác theo đuổi ước mơ của riêng mình.

    Về Tôi

    Tôi là một sinh viên nhiệt huyết và nhà sáng tạo công nghệ với niềm đam mê công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) nhằm kéo dài tuổi thọ con người. Hiện đang sống tại San Jose, tôi tập trung phát triển các kỹ năng về trí tuệ nhân tạo và đóng góp vào các dự án về sức khỏe và tuổi thọ, với hy vọng một ngày nào đó công việc này có thể giúp kéo dài tuổi thọ của cha mẹ tôi. Hành trình của tôi chỉ mới bắt đầu, và tôi quyết tâm tạo ra tác động tích cực đến cả công nghệ và sức khỏe con người.

    Vai trò lãnh đạo trong gia đình: Người con cả trong năm anh chị em

    Sunny đang chơi đùa tại công viên nông trại Emma Prusch cùng gia đình.

    Hành trình của tôi được định hình bởi cả quá trình học tập và trách nhiệm của một người con cả trong gia đình đông con. Khi trưởng thành và phát triển các kỹ năng của bản thân, tôi tự hào khi được hướng dẫn các em mình, giúp các em khám phá và phát triển niềm đam mê cũng như khả năng của riêng mình, đảm bảo tất cả chúng ta cùng nhau phát triển về kiến thức và nhân cách.

    Là con cả trong gia đình có năm anh chị em, tôi có những trách nhiệm riêng. Từ việc chơi đùa cùng các em đến việc dạy dỗ những bài học quý giá, vai trò người anh cả đã định hình tính cách và đạo đức nghề nghiệp của tôi. Tôi không chỉ là hình mẫu mà còn là người hướng dẫn, giúp mỗi người em khám phá điểm mạnh và sở thích của mình. Ví dụ, một trong những người em trai của tôi, Raiden, mơ ước trở thành kỹ sư phần cứng trí tuệ nhân tạo, vì vậy việc học của cậu ấy tập trung nhiều hơn vào vật lý, toán học và khoa học. Một người em trai khác, Mason, lại muốn trở thành bác sĩ phẫu thuật thần kinh, và cậu ấy thường dành thời gian đọc thêm về sinh học và hóa học.

    Tôi cũng hỗ trợ bố tôi trong công ty xây dựng của ông. Thỉnh thoảng, tôi giúp ông lập bản vẽ mặt bằng trên Revit dựa trên số đo của ông hoặc giải thích bản vẽ và thảo luận chi tiết dự án với ông. Kinh nghiệm này đã giúp tôi hiểu sâu hơn về quy trình xây dựng và trau dồi sự tỉ mỉ, bổ sung cho các kỹ năng kỹ thuật của tôi.

    Hành trình YouTube: Xây dựng một kênh thành công

    Trong thời gian làm YouTuber, tôi đã điều hành một kênh thành công, thu hút hơn 60.000 người đăng ký chỉ trong vài tháng. Tôi đã có khoảng thời gian tuyệt vời khi tạo nội dung, chơi đùa cùng bạn bè và chia sẻ suy nghĩ của mình về nhiều chủ đề khác nhau. Kênh của tôi trở thành nơi tôi có thể tự do thể hiện bản thân, nói về bất cứ điều gì mình đam mê và kết nối với một cộng đồng người xem tuyệt vời. Trải nghiệm này không chỉ dạy cho tôi những kỹ năng quý giá trong việc tạo nội dung và truyền thông kỹ thuật số mà còn cho phép tôi vui chơi và khám phá khả năng sáng tạo của mình.

    Mặc dù thời gian làm YouTuber của tôi không dài, nhưng đó là một trải nghiệm vô cùng bổ ích. Tôi đã chia sẻ suy nghĩ của mình về nhiều chủ đề khác nhau, từ game đến quan điểm cá nhân, và xây dựng được một cộng đồng người hâm mộ tuyệt vời. Tuy nhiên, dù rất thích việc tạo nội dung, tôi nhận ra niềm đam mê thực sự của mình nằm ở lĩnh vực giáo dục và công nghệ trí tuệ nhân tạo, đặc biệt là trong chăm sóc sức khỏe và kéo dài tuổi thọ. Tôi quyết định chuyển hướng tập trung vào việc theo đuổi những lĩnh vực này, với mục tiêu một ngày nào đó giúp kéo dài tuổi thọ cho cha mẹ mình, những người luôn là chỗ dựa lớn nhất của tôi.

    Mặc dù tôi đã ngừng tạo nội dung trên YouTube để tập trung vào những mục tiêu mới này, tôi biết nhiều người hâm mộ đã thất vọng về quyết định của tôi. Nhưng tôi tin rằng đây là bước đi đúng đắn cho tương lai của mình. Biết đâu đấy – có thể một ngày nào đó tôi sẽ quay lại YouTube để tạo ra nhiều nội dung hơn, vui vẻ hơn và kết nối lại với tất cả các bạn. Khi ngày đó đến, chúng ta sẽ nói về mọi thứ – game, công nghệ, trí tuệ nhân tạo và bất cứ điều gì khác mà chúng ta đam mê!

    Sinh viên: Phấn đấu đạt thành tích xuất sắc

    Tôi được học tại nhà gần như cả đời. Tôi cảm thấy vô cùng may mắn khi nhận được sự hỗ trợ không ngừng nghỉ từ bố mẹ trong suốt quá trình đó. Họ không chỉ hỗ trợ việc học tập của tôi mà còn dạy tôi nhiều môn học khác nhau, thúc đẩy sự phát triển của tôi và đảm bảo rằng tôi được tiếp cận với một chương trình học toàn diện và đầy thử thách.

    Tính linh hoạt của việc học tại nhà đã cho phép tôi khám phá sở thích của mình và đi sâu vào những môn học thực sự khơi gợi sự tò mò của tôi. Nhờ sự tận tâm trong học tập, tôi tự hào chia sẻ rằng mình đã được chấp nhận vào hơn 100 trường đại học danh tiếng trên khắp nước Mỹ và nhận được học bổng trị giá hàng triệu đô la.

    Tôi vô cùng biết ơn sự hỗ trợ to lớn mà tôi đã nhận được từ tất cả các trường đại học. Sự ghi nhận của họ đối với sự chăm chỉ và cống hiến của tôi là một vinh dự, và sự hỗ trợ của họ đã giúp tôi tiếp tục theo đuổi ước mơ của mình mà không gặp phải rào cản tài chính.

    Một số trường đại học danh tiếng mà tôi đã được nhận vào bao gồm:

    Các trường trực thuộc hệ thống Đại học California (UCs):
    • Đại học UC Berkeley
    • Đại học UC Irvine
    • Đại học California, San Diego
    • Đại học UC Santa Cruz
    • Đại học UC Merced
    • Đại học UC Santa Barbara
    • UC Davis (đang trong danh sách chờ)
    21 trường đại học công lập bang California (CSU) được công nhận:
    • Đại học Tiểu bang San Diego
    • Đại học Tiểu bang San Francisco
    • Đại học Tiểu bang San Jose
    • Đại học Tiểu bang Los Angeles
    • vân vân

    Còn rất nhiều trường đại học xuất sắc khác: Viện Công nghệ New York (NYIT), Đại học Miami, Đại học Maine, Đại học San Francisco, Đại học bang Oregon, Đại học Massachusetts, Đại học Arizona, Đại học Đặc khu Columbia, Đại học Montana, Đại học Idaho, Đại học Purdue, v.v.

    Việc được chấp nhận vào những trường đại học xuất sắc này là minh chứng cho sự tận tâm của tôi trong học tập. Tôi vô cùng biết ơn những cơ hội mà các học bổng này đã mang lại cho tôi, và tôi sẽ tiếp tục nỗ lực để đạt được sự xuất sắc trong mọi việc mình làm.

    Lập trình viên Full-Stack: Tạo ra các giải pháp thiết thực và hiệu quả

    Với tư cách là một nhà phát triển website, tôi đã có cơ hội tạo ra nhiều dự án và trang web phục vụ mục đích thực tế và giúp đỡ người khác. Hai trong số những trang web mà tôi đặc biệt tự hào là TotalCalc.com và FreeBinChecker.com, chúng là những ví dụ tiêu biểu cho các giải pháp thiết thực mà tôi thích xây dựng.

    TotalCalc là một trang web được thiết kế để giúp học sinh giải quyết nhiều loại bài toán khác nhau. Mục tiêu của nó là đơn giản hóa quá trình học tập và cung cấp lời giải cho các bài toán khó, giúp học sinh dễ dàng nắm bắt các khái niệm chính. Mặt khác, FreeBinChecker là một công cụ kiểm tra tính hợp lệ của các loại thẻ khác nhau, chẳng hạn như thẻ ghi nợ và thẻ tín dụng. Dự án này được tạo ra trước thời kỳ trí tuệ nhân tạo (AI), và tôi đã tự mình lập trình hoàn toàn cả hai trang web này bằng cách sử dụng mô hình thiết kế MVC (Model-View-Controller), giúp tôi cấu trúc mã một cách hiệu quả.

    Mặc dù tôi đã không còn làm việc trên những trang web này trong nhiều năm, nhưng tôi vô cùng tự hào về những gì chúng đã đạt được. Cả hai trang web hiện thu hút hàng chục nghìn lượt truy cập mỗi tháng, chứng tỏ rằng những gì tôi đã xây dựng vẫn tiếp tục phục vụ mục đích có giá trị cho người dùng trên toàn thế giới.

    Chuyện gì đang xảy ra trong cuộc sống của tôi hiện nay?

    Hiện tại, tôi đang tìm hiểu về công nghệ blockchain bằng cách tham gia dự án Solana để tạo ra một loại tiền điện tử cho riêng mình. Đó là một hành trình thú vị và hào hứng khi tôi khám phá tiềm năng của tiền điện tử và công nghệ blockchain, biến nó thành cả một trải nghiệm học tập và một dự án thực tiễn. Tôi bị cuốn hút bởi sự đổi mới và những khả năng trong lĩnh vực này, và tôi mong chờ được chứng kiến sự phát triển của dự án này.

    Ngoài ra, tôi cũng đã kết nối với các chuyên gia trong lĩnh vực máy học để nâng cao hiểu biết và kỹ năng của mình về trí tuệ nhân tạo. Việc giao lưu với các chuyên gia trong lĩnh vực này vô cùng quý giá, và tôi rất mong muốn được tìm hiểu thêm về các ứng dụng của máy học trong nhiều ngành công nghiệp khác nhau, đặc biệt là ngành chăm sóc sức khỏe.

    Cuối cùng, tôi rất mong được theo học tại một trong những trường đại học đã chấp nhận tôi, nơi tôi có thể tiếp tục trau dồi kiến thức về trí tuệ nhân tạo và máy học. Tôi đặc biệt quan tâm đến việc nghiên cứu các lĩnh vực này trong bối cảnh chăm sóc sức khỏe và tuổi thọ, vì tôi mong muốn đóng góp vào những tiến bộ có thể một ngày nào đó cải thiện chất lượng cuộc sống và kéo dài tuổi thọ của mọi người, đặc biệt là những người tôi yêu thương
    573 videos của Sunny Nguyễn.




--
====================================================================
Trên Facebook :
http://www.facebook.com/DaiHocKhoaHocSaiGon
====================================================================
 
Bạn đã nhận được bài viết này vì bạn đã đăng ký vào Nhóm "KhoaHocSG" của Google Groups.
* Để đăng bài lên nhóm này, hãy gửi email đến "khoa...@googlegroups.com"
* Để RÚT TÊN ra khỏi nhóm này, gửi email đến "khoahocSG+...@googlegroups.com"
* Để có thêm tuỳ chọn (preference set up), hãy truy cập vào nhóm này tại: http://groups.google.com/group/khoahocSG?hl=vi
---
Bạn nhận được thư này vì bạn đã đăng ký vào nhóm Google Groups "KhoaHocSG".
Để hủy đăng ký khỏi nhóm này và ngừng nhận email từ nhóm, hãy gửi email đến khoahocsg+...@googlegroups.com.
Để xem cuộc thảo luận này, hãy truy cập vào https://groups.google.com/d/msgid/khoahocsg/SA9SPR01MB0002BAC6095DDDDEE4CDE168FC592%40SA9SPR01MB0002.namprd02.prod.outlook.com.
Reply all
Reply to author
Forward
0 new messages