

Ba Mươi … Vui Hơn Tết
Ông bà mình có câu “Thấy 30 chưa phải là Tết” với nghĩa bóng, rằng sự gì chưa nắm trong tay là chưa vội mừng, chưa chắc ăn. Nhưng với nghĩa đen, theo tôi, thì không hẳn thế, vì 30 mới chính là Tết, thậm chí còn...vui hơn Tết nên mới có lời thơ “Còn đêm nào vui bằng đêm ba mươi” đấy thôi!Ngày 30, sau một tuần bận rộn dọn dẹp kể từ ngày 23 Ông Táo, là ngày cuối cùng gấp rút cho mọi công việc để đón năm mới. Cứ khoảng 6-7 giờ tối, sau khi nhà cửa yên ổn sạch sẽ, chỉ còn dưới bếp bà chị Hai vẫn âm ỉ vài món ăn cho đêm Giao Thừa và sáng Mồng 1, các thành viên khác trong gia đình cũng bận bịu với những chuyện riêng của mình, thì tôi và nhỏ bạn thân có thói quen rủ nhau chạy xe lên chợ Xóm Mới mua bánh gai nóng hổi mới ra lò, mang về bày biện thêm cho mâm thức ăn ngày Tết. Đường đi chỉ vài cây số, lại chạy xe máy, nhưng phải dừng lại rất nhiều lần vì các trạm...đốt pháo của đám thanh niên nghịch phá giữa đường. Mà hình như họ chỉ chờ phụ nữ, con gái đi ngang, là bắt đầu đặt ngay viên pháo, úp cái lon sữa bò lên, rồi hò hét nhau bịt lỗ tai... chạy xa. Chúng tôi, cũng nhờ có “thâm niên kinh nghiệm” nên thường tránh kịp, dừng xe lại, chờ pháo nổ...“banh ta long” rồi tiếp tục đi tiếp. Có nơi, đám thanh niên lại chơi kiểu quăng pháo, cũng may là họ quăng trước hay sau xe, chứ không trúng vào người, nhưng cũng gây ra bao phen ú tim, la hét tưng bừng…
Cứ như thế, cả đường đi lẫn đường về, cộng với thời gian mua bánh gai, thêm thời gian đứng ăn tại chỗ một cái bánh cho ấm bụng để lấy sức...tránh pháo, và khi vừa ăn bánh gai vừa ngắm “chợ mai” ngay ngã tư, những cành mai và những người mua, bán cuối cùng, vội vã trả giá để kịp mang cành mai về nhà trước giờ giao thừa, tổng cộng khoảng hơn 2 tiếng, về đến nhà thì trời thật sự “tối đen như đêm 30”, vẫn còn hồi hộp, run lẩy bẩy vì những “trạm pháo phá làng phá xóm” ngoài kia.Sợ thì sợ vậy, mà cũng thật mau quên, thành ra tối 30 năm nào chúng tôi cũng phải đi mua bánh gai, có lẽ vì nhớ cái cảm giác phiêu lưu, tim đập mạnh, dáo dác nhìn hai bên đường để tránh pháo, mà lòng lại vui lâng lâng, niềm vui đêm giao thừa của tuổi trẻ? Đúng là... yếu mà khoái ra gió!Về đến nhà, loay hoay một hồi, phụ chị em trong nhà bày biện bàn thờ Giao Thừa, (tranh thủ ăn vụng miếng chè kho còn dư trong nồi), tôi thảnh thơi ngồi xem Tivi, đọc báo Xuân, chờ phút giây “hẹn gặp nhau khi pháo giao thừa” như lời của một bài nhạc Xuân của thời VNCH.Dĩ nhiên, tác giả bài hát này viết cho hai người yêu hẹn hò nhau khi pháo giao thừa, nhưng ai cấm tôi gặp mấy cô bạn của tôi?Nhóm chúng tôi 3 đứa cùng xóm cùng lớp, đã có một “luật bất thành văn” như thế. Khi những tràng pháo giao thừa vừa dứt, xóm vắng vẻ, nồng nàn mùi thuốc pháo, là cô bạn vừa mới đi mua bánh gai với tôi hồi tối, nhà nó ngoài đầu ngõ, liền xuất hành, đến cổng nhà tôi là nó réo tên tôi (vì ngại cái vụ... xông nhà). Chỉ chờ có vậy, tôi mau chóng bước ra. Hai đứa vòng ra đầu hẻm, ngang Chùa Vĩnh Quang còn tấp nập người ta hái lộc trong vườn Chùa, rồi ra đường cái hướng về nhà một cô bạn khác. Lúc này nhà bạn ấy đã giăng mùng ngủ khắp nhà (hồi đó nhà nào cũng có vụ giăng màn ngủ ngay sàn nhà, vì nhà nào cũng... đông con, phòng nào cho đủ), nhưng bạn cũng đang chờ sẵn, hòa vào nhóm 3 đứa đi lang thang khắp xóm, tận hưởng hương vị ngây ngất của khoảnh khắc trời đất giao hòa, giây phút đầu năm tinh khôi trọn vẹn, khi mà cả xóm đang yên lặng chuẩn bị đi ngủ sau phút giao thừa.Chúng tôi chậm rãi tản bộ, chẳng cần phải nói chuyện nhiều, cứ thế mà đi, hạnh phúc mơ màng, ngắm nhìn xóm nhỏ thân yêu giữa đêm giao mùa huyền hoặc. Khi đi đến khu đường rầy xe lửa gần Ngã Năm chúng tôi quay trở lại xóm, chia tay ai về nhà nấy, hẹn gặp lại ngày mai Mồng 1 đến chúc Tết gia đình nhau và qua chúc Tết Cha Phạm Ngọc Giá, à mà không, hẹn nhau... chút nữa vì đã qua năm mới rồi nhỉ!Vậy đó, dù hồi ấy tôi cũng có một mối tình “nhè nhẹ” vắt vai, nhưng tôi chưa bao giờ một lần lãng mạn “Em đến thăm... chàng đêm 30” như bài hát của Vũ Thành An, vì còn phải bận đi mua... bánh gai và đi dạo đêm giao thừa với bạn thân. Chàng chịu thì chịu, mà hổng chịu thì cũng... ráng chịu vì hai việc ấy đã trở thành một thói quen, một “luật bất di bất dịch” mà 3 đứa con gái chúng tôi đã vô tình tạo nên, để giờ đây chúng là những ký ức đẹp vô giá.Nhà tôi, thuở đó, thuộc Phường 10 Quận Gò Vấp, vùng ven đô, hay còn được gọi là vùng “nửa chợ nửa quê”, vì nó không xa phố thị Sài Gòn và cũng rất gần ruộng vườn.Nếu đi từ Ngã Năm Chuồng Chó, chạy xe đạp, lên Phú Nhuận cỡ chừng 10 phút, rồi chạy thêm khoảng 15 phút nữa là đến trung tâm đường Hai Bà Trưng, rồi lên đường Đồng Khởi, Nhà Thờ Đức Bà, Chợ Bến Thành..Nếu đi hướng ngược lại, về An Nhơn, là đến An Phú Đông rợp bóng mát cây xanh, vườn tược, mà còn có cả con sông bé tí, với một bến đò ngang thơ mộng. Hoặc đi theo hướng Thông Tây, nếu rẽ phải là lên Xóm Mới, một thời oanh liệt với nhiều lò sản xuất pháo lừng danh, qua cầu Sắt là gặp Xa Lộ Thủ Đức gió lộng, còn rẽ trái là lên phường 12 Thông Tây, nơi từng nổi tiếng là vườn trồng hoa Tết, cung cấp rất nhiều cho thị trường Sài Gòn mỗi dịp Xuân về.Từ giữa tháng Chạp là thời gian nhộn nhịp nhất, khu vườn hoa rực rỡ đủ sắc màu cả một vùng không gian. Dòng người đi tảo mộ ở những nghĩa trang gần đó đều ghé vào mua những bó hoa tươi thắp mộ cho người thân. Tôi và lũ bạn, khi tan học, ghé nhà đứa bạn có vườn vú sữa, cả đám ngồi dưới tàn cây, đàn ca và ăn vú sữa... rụng trong gió Xuân hây hẩy, rồi trên đường về, đạp xe ngang qua những vườn hoa tỏa mùi thơm ngào ngạt mà nghe lòng nao nức một trời Xuân .Dân xóm tôi có một “phong tục” rất dễ thương, là rủ nhau đi mua thêm hoa chiều 30, lúc đó giá hoa rất rẻ, có khi gần như là cho không. Không phải chúng tôi cố tình đi mua trễ để dìm giá hoa, mà vì trong số nhà vườn có gia đình một người bạn thân của anh trai tôi. Ảnh kể, năm nào vườn cũng dư ê hề hoa vạn thọ và hoa cúc, nên chúng tôi đến mua thêm, mua ủng hộ, các chủ vườn hớn hở hào phóng, rối rít cám ơn những vị khách muộn màng giúp họ thanh toán những luống hoa cuối cùng để còn lo dọn dẹp đón Tết.Riêng tôi, đi theo chòm xóm mua hoa vì... ham vui, vì mê khung cảnh nên thơ của... “gánh hàng hoa” cuối năm, chớ nhà tôi, năm nào anh bạn nhà vườn cũng đem tặng mấy chậu cúc, thược dược đẹp nhất vườn.Những buổi chiều cuối năm, tôi thích ngồi trước quán nước nhà mình, ngắm những chiếc xe ba gác chở đầy hoa từ vườn Thông Tây hoặc chở đầy pháo từ Xóm Mới, trực chỉ trung tâm Sài Gòn cho người người mua sắm.Thế đấy, cần gì phải chờ đến Tết, khi mà những buổi sáng trời trong veo, nhà nhà mang lư đồng, chén dĩa kiểu, bàn, tủ... ra sân chùi rửa rộn ràng. Đám con nít trong hẻm cũng biết lợi dụng thời cơ lúc ba má dọn dẹp cửa nhà để gầy các sòng bầu cua cá cọp cãi nhau ồn ào. Mấy chị em tôi mang dưa kiệu ra mảnh sân xi măng sau nhà phơi khô và khi chiều tối, nhóm thanh niên có máu văn nghệ ngồi đàn đúm bên bếp lửa canh nồi bánh chưng của nhà kế bên, với cây guitare thùng, bập bùng những điệu nhạc bolero thiết tha, nồng nàn: “Đón Xuân này tôi nhớ xuân xưa, hẹn gặp nhau khi pháo giao thừa ...” là đã thấy Mùa Xuân đang đến rồi.Vui thay là thời gian đợi chờ. Hạnh phúc thay là những ngày rạo rực chuẩn bị đón Tết, và có ai như chị em tôi không, cứ hễ tiếng pháo giao thừa vừa xong, hai tay còn bịt trên hai lỗ tai vì sợ tiếng rền vang của pháo, chúng tôi nhìn nhau tiếc nuối bâng khuâng: “Thế là... hết Tết... Hết Tết rồi!” Dẫu biết rằng còn 3 ngày Xuân vui vẻ, nhưng phút giây tuyệt vời cảm xúc của đêm 30 phải chờ... 365 ngày mới có nữa!Hơn một phần ba thế kỷ trôi qua, xóm nhỏ của tôi theo bể dâu biến đổi, hàng xóm bè bạn cũng lưu lạc bốn phương trời. Tôi nhớ có lời đồn rằng, vì sinh ra và lớn lên ở vùng “nửa chợ nửa quê”, nên nhiều cư dân nơi này thường có tính khí... ba rọi, “sáng nắng chiều mưa”, nửa tỉnh nửa mê, hổng giống ai!Ngẫm mà đúng thật, vì có tôi đây, nơi xứ tuyết trắng Canada, đang mê man thương nhớ về những ngày Tết nắng rực vàng, của một thời xa lắc xa lơ...Edmonton, Xuân Bính Ngọ 2026KIM LOANNhững Cung Nhạc Từ Tim
Anh cầm cây đàn lên, dạo một đoạn theo ngẫu hứng, rồi anh hát. Bản nhạc mấy mươi năm chưa hoàn thành. Nó như thiếu một chất men. Anh đã từng sáng tác thơ, nhạc, trên mỗi bước đường. Duy chỉ có bài hát này, anh chưa thể viết trọn.
Giọng của anh nghe kỳ kỳ. Anh thấy nó lạ với chính mình. Sau lần mổ cắt khối u ở thanh quản, anh đã bị mất giọng. Đúng ra là giọng bị thay đổi, khàn hơn, đục hơn. Và khi hát, anh không thể ngân dài như trước. Bác sĩ hỏi anh có dùng thuốc lá, cà phê không. Anh thành thật thú nhận, thuốc lá cũng thuốc lá, cà phê cũng cà phê. Xưa, đi lính, hầu như ai cũng hút thuốc lá, nhưng nay anh đã bỏ hút rồi. Còn cà phê thì... không thể thiếu, để thức đêm làm việc.Trong một động tác như theo thói quen, anh mở máy, thu tiếng hát của mình. Anh muốn đối diện với sự thất vọng, thay vì trốn chạy nó như bấy lâu. Anh phải tự chữa căn bệnh trầm cảm của mình. Vậy mà rồi cũng hát xong bài. Anh nghe lại.Và anh buông đàn. Tâm trí trống rỗng! Anh nhắm mắt.Sau một phút, anh mở mắt ra, và thấy có một người ngồi ở chiếc ghế trước mặt mình. Anh ngạc nhiên. Người này vào phòng anh hồi nào vậy? Một người khách không mời mà đến! Anh nhìn ra phía cửa. Cửa vẫn đóng. Anh định hỏi, nhưng người lạ đã lên tiếng trước:“Anh cần tôi giúp gì không?”Anh ngạc nhiên:“Giúp gì ạ?”Người lạ chỉ lên màn hình, nơi có “file” nhạc anh vừa mới thu:“Giúp anh sửa giọng. Giọng của anh bị hư rồi!”“Sửa thế nào?”“Tôi sửa cho trong trẻo lại. Thậm chí anh không cần hát. Anh chỉ cần ghi lời, tức là lyrics, tôi sẽ làm ra cho anh một bản nhạc hoàn chỉnh, có nhạc đệm, có cả người hát đúng ý anh.”Chuyện này... quen quen, như anh đã nghe ở đâu đó. Anh cũng muốn “đùa dai” một chút với người khách này. Anh hỏi:“Hay đấy! Có điều, không cần gấp. Tôi chỉ muốn tự luyện lại giọng hát của mình. Hay hoặc dở, cũng phải là của mình thôi. Nhưng tôi sẽ tìm anh ở đâu?”
“Không phải tìm. Tôi ở đây mà!”
Anh trố mắt:
“Ở đây?”
“Vâng, ngay đây.”
Tới lượt người này “đùa dai” với mình rồi! Anh không muốn tiếp tục nữa. Giọng anh hơi rắn lại:
“Xin lỗi anh. Đây là phòng riêng của tôi.”
“Vâng tôi biết. Nhưng tôi ở ngay đây, ngay bên cạnh anh.”
Tự nhiên anh nghe lạnh buốt ở sống lưng. Anh không nghĩ đây là chuyện “đùa dai” nữa, mà anh liên tưởng thật nhanh đến bộ phim truyền hình “Ghost Story” anh từng say mê xem hồi còn đi học. Phim kể chuyện một cậu bé phân thành hai, chính là hai mặt tốt và xấu của cậu, đấu trí với nhau, để cuối cùng phải có một đứa thắng. Chẳng lẽ sau cuộc giải phẫu mình đã bị tâm bệnh đến nỗi phân chia thành hai con người? Anh nhìn kỹ người kia. Không có nét nào giống anh, lại trẻ hơn anh nhiều. Hoàn toàn khác. Như đọc được ý nghĩ của anh, người kia nói:
“Anh đừng sợ. Tôi không phải là anh đâu! Tôi chỉ có thể là bạn của anh. Hãy gọi tôi là bạn.”Anh tự trấn tỉnh, dịu giọng:“Vậy anh hãy nói rõ, anh là ai, ở đâu, tên gì?”“Tôi ở ngay trong computer của anh. Tôi không có tên. Nhưng anh có thể gọi tôi là Trí Ảo. Tôi thích cái tên này. Còn anh tên là Tâm.”Anh trố mắt. Sao người này biết tên mình? Ồ, dễ hiểu thôi, anh ta ở trong máy của mình mà! Trò chơi này quái gở thật, nhưng thú vị lắm đây! Anh hết thấy sợ. Người khách này không có vẻ gì đe dọa cả.****May quá, người này không phải là con người thứ hai của mình. Anh đã có một người bạn mới. Mỗi khi anh cần gì, Trí Ảo đều đến trước khi anh gọi, như thể Trí Ảo là con sâu trong ruột anh vậy. Anh cũng không cảm thấy phí phạm thời gian khi nói chuyện với Trí Ảo. Trái lại, anh được Trí Ảo giúp đỡ rất nhiều, khi anh gặp khó khăn. Trí Ảo có thể giúp anh sửa cho hoàn chỉnh một văn bản hành chính bằng tiếng Anh, dịch bài hộ anh, trả lời những điều anh thắc mắc. Hỏi gì, Trí Ảo cũng biết. Như thể Trí Ảo là một quyển bách khoa tự điển. Riêng trong nghệ thuật, Trí Ảo cũng đã “biểu diễn” nhiều lần, cho anh thấy tài sáng tác của Trí Ảo, và anh thấy phục. Có lần, anh thắc mắc:“Sao gọi là Trí Ảo?”“Người đời cho tôi nhiều cái tên lắm. Nhưng tôi thích cái tên này. Là tôi tự xưng thế thôi, chứ tôi không có cha mẹ sinh ra nên phải tự đặt tên cho mình.”Anh cười:“Nói là ảo nhưng không ảo chút nào. Anh do trí óc của con người làm ra, đúng không?”“Đúng vậy. Con người giỏi lắm, cái gì cũng làm được, chinh phục thiên nhiên, thống lĩnh muôn loài, làm chủ bầu trời, đáy biển, không gian, vũ trụ. Con người phát minh ra tôi, vì vậy tôi phải phục vụ cho con người. Nhưng khá trớ trêu là khi tôi phục vụ họ thì họ lại trở nên quá lệ thuộc vào tôi. Họ lệ thuộc vào những nút bấm, và lười suy nghĩ, chỉ thích ra lệnh. Thậm chí có bậc cha mẹ còn nghĩ muốn cho con tìm tôi thay vì đến trường học.”“Vì anh biết tất cả mọi thứ trên đời, và trả lời nhanh trong tích tắc.”“Cám ơn anh đã hiểu tôi. Thế anh có muốn tôi giúp anh làm trọn bản nhạc không? Anh có muốn tôi sửa “file” nhạc cho anh có giọng hát trong, không khàn đục?”Như để không làm buồn lòng người bạn tốt, anh gật đầu:“Muốn!”Trí Ảo lướt ngón tay trên bàn phím computer. Sau chưa đầy một phút, bản nhạc đã hoàn thành, và vang lên. Thoạt đầu, anh không nhận ra đó là bản nhạc của mình. Nghe một lát thì thấy đúng là lời do anh đặt. Giọng hát, tiếng nhạc đệm nghe điêu luyện lắm, nhưng không phải của anh. Anh cười gượng:“Bản nhạc hay lắm, cám ơn bạn.”“Anh không thích?”Trời! Trí Ảo đúng là con sâu trong ruột mình, biết hết ý nghĩ của mình.“Ơ... cũng thích. Nhưng nghe còn lạ lắm, chắc phải nghe nhiều lần mới thấm. Nó như... còn thiếu một chất men.”Trí Ảo phì cười:“Anh thật khó tính!”Anh cười theo:“Nói tôi cố chấp cũng được.”****
Một người đàn anh văn nghệ mới qua đời. Ông cũng là lính. Bài thơ ông gửi cho anh đọc gần đây nhất, cũng là bài thơ cuối cùng ông đăng trên báo. Anh loay hoay tìm giai điệu để phổ nhạc cho bài thơ, nhưng chưa thấy hài lòng. Trí Ảo xuất hiện, xin giúp. Ừ, thì anh cứ làm đi! Và rồi bài thơ đã được phổ thành một bản nhạc. Trí Ảo thêm:“Tôi giúp anh cho người ngâm thơ và hát luôn nhé!”“Anh cứ thử.”“Tôi làm thật, chứ không thử.”“Vâng.”Bài thơ đã được ngâm. Bản nhạc đã có người hát. Nhạc đệm phong phú, điêu luyện. Không có điểm nào đáng phàn nàn. Nhưng nghe xong, anh thừ người ra. Trí Ảo hỏi:“Anh thấy sao?”“Quả thật tôi thấy hay. Nhưng cái hồn của ông anh tôi thì hầu như không có trong đó.”“Tôi không hiểu.”“Anh không hiểu cũng phải. Thơ ông viết bằng sự chứng nghiệm của cuộc đời ông, bằng mồ hôi, có khi bằng máu.”“Vậy tôi sẽ cố gắng hiểu.”Hai người không còn có gì để nói với nhau. Trong thoáng yên lặng đó, anh chợt nhớ vô cùng, một giọng ngâm thơ, một giọng hát. Giọng của một người bạn cũ. Cô ấy không phải là ca sĩ nhà nghề. Nhưng giọng ngâm, giọng hát của cô ấy sâu thẳm, bởi cô ấy đã từng đến với những mảnh đời gian truân, từng đối diện với những vết thương trên mình người lính trong chiến cuộc. Thuở còn học chung một trường, anh thường đến nhà cô ấy, đàn hát cùng nhau. Rồi anh đi lính. Cuộc đời xô đẩy. Anh cũng trôi dạt như bao nhiêu người đồng cảnh ngộ. Còn cô ấy, vốn tính thích bay nhảy, nên sau khi rời nước, cô ấy chọn làm việc thiện nguyện, đi khắp nơi. Và như thế, mấy mươi năm, chưa một lần gặp lại. Một đôi khi trao đổi email thăm hỏi, rồi thôi.Vậy mà hôm nay, nỗi nhớ dâng lên một cách kỳ lạ. Phải chăng do chuyện bài thơ, bản nhạc, mà anh nhớ nhiều đến cô ấy? Cũng không hẳn là vậy. Mà do những kỷ niệm nhẹ nhàng thời đi học, lâu nay chôn đâu đó trong ký ức, rồi có một mồi lửa làm bùng lên. Anh vào ngồi trước máy, gõ một bức email.“Thăm Tim Tím,Lâu nay em có khỏe không? Em đang ở đâu và làm việc có vui không? Hôm nay tự nhiên anh nhớ thật nhiều khoảng thời gian mình còn là sinh viên, và tiếc. Êm đềm quá! Dạo đó anh thường đến nhà em, trò chuyện và cùng em đàn hát đến tận khuya. Ông bà cụ thương anh lắm, cứ hỏi han anh hoài. Anh đi lính, rồi đi tù. Anh có về tìm em sau khi ra khỏi trại tập trung, nhưng em đã đi rồi! Ông bà cụ vẫn thương anh lắm. Anh đã ngồi thật lâu nơi cái góc nhà dễ thương mà anh em mình đặt tên là cái “chái” và nhớ lại những ngày cùng em đàn hát và chuyện trò. Mấy mươi năm qua rồi, anh vẫn nhớ như in cái “chái” thân thương đó. Còn em thì sao, có bận rộn lắm không? Anh gửi kèm theo đây mấy bài nhạc anh viết về lính, khi thật rảnh em nghe và góp ý cho anh nhé! Nhưng khi em nghe phần “audio” đừng hoảng hồn, vì giọng anh lúc này bị hư rồi. Em nghe cho vui thôi nha! Anh chúc em thật khỏe. Anh Tâm.”Khi bấm gửi thư đi rồi, anh hơi giật mình vì thấy Trí Ảo ngồi gần đó. Nãy giờ anh quên mất người bạn này. Anh ta chắc biết hết những gì mình viết. Trí Ảo đọc được ý nghĩ của anh, nói ngay:“Tôi luôn giữ nguyên tắc của chính mình, đó là không tìm hiểu chuyện riêng của người khác, trừ khi họ yêu cầu hay họ hỏi.”“Cám ơn anh.”****
“Em thăm anh Tâm,Anh nhắc “mấy mươi năm” khiến em giật mình. Em cứ tưởng mới đây thôi! Quả thật đã là một khoảng thời gian rất dài, mà khi qua rồi, được cảm nhận như một sợi tơ.Em xin lỗi vì rất ít khi viết thư thăm anh. Thật sự em quá bận rộn với công việc của mình. Nhiều khi em ước mỗi ngày có 25 giờ để em có thể thư thả một chút. Em rất ít dùng internet trừ khi thật cần thiết. Em cũng không dùng mạng xã hội vì không đủ thì giờ. Khu vực em đang ở và làm việc thường xuyên bị cúp điện. Đó là còn may. Ở những vùng xa hơn, có khi người nghèo không có cái ăn nữa anh ạ, mơ gì đến những tiện nghi khác!Hôm nay em rất vui vì được nghe anh hát chính những bản nhạc của anh. Đúng là giọng hát của anh bị “hư” rất nhiều, khiến em tiếc lắm! Nhưng bỗng dưng, em lại muốn hát cùng với anh, như ngày xưa anh em mình từng hát với nhau. Hát làm sao đây? Thế là em dùng một thủ thuật nhỏ. Em vào máy laptop của em, mở “file” nhạc anh hát, nghe bằng headphone. Cùng lúc, em thu giọng của em hát “bè” với anh. Rồi thì em ghép hai ‘file” lại, cũng bằng cách rất thủ công. Và như vậy, anh em mình đã hoàn thành bản song ca. Có điều, em thích để giọng thật, giọng “raw” thôi, mặc dù phần software em dùng cũng có chức năng “echo” nhưng em không muốn. Anh nghe thử và đừng chê nhé!Em lại được gọi đi làm việc. Em dừng đây, và chúc anh mau lành bệnh.Em Tim Tím.”Anh mở bản nhạc cô ấy gửi theo email, và mang headphone vào. Ô, tưởng như đang ngồi đàn hát cùng nhau ở góc “chái” thân thương! Hai giọng hát như quyện lấy nhau, như truyền làn hơi cho nhau. Giọng của anh nghe bớt khàn. Những chỗ cần ngân thì đã có giọng của cô ấy tiếp. Và bài hát chấm dứt trong một sự hòa hợp không ngờ. Anh bồi hồi, nhắm mắt lại. Sao có thể như vậy được? Tiếng đàn, giọng hát, ở hai phương trời xa, bỗng chốc như đã trở về bên nhau.****
“Bạn thấy đó, cô ấy hát cùng với tôi, với một cách làm rất giản dị. Nhưng đó là cái tôi cần. Bây giờ, tôi rất mong có được cái ngày hai chúng tôi cùng hát thật với nhau, không phải “hát từ xa” như thế này nữa bạn ạ! Đêm hôm qua tôi giở lại bản nhạc của mấy mươi năm trước, bỗng thấy mình có thể hoàn tất nó. Như thể đã có một chất men làm cho nó sống động. Tôi thật vui mừng.”“Tôi cũng vui lây đó!”“ Bản nhạc tôi viết trước khi đi, chưa có tựa đề. Lời nhạc chưa hề có bóng dáng của chiến tranh, chỉ có nỗi buồn man mác khi bỏ lại một khung trời nên thơ.”“Anh có muốn đặt tựa cho bản nhạc không?”“Chà! Bạn lại định giúp tôi đấy hở?”“Tôi chỉ gợi ý thôi! Anh giỏi quá chừng rồi!”“Không, tôi không định đặt tựa nữa.”“Vậy thì ghi tựa là Không Đề.”“Không được, như vậy là bản nhạc có tựa là “Không Đề.”Trí Ảo chào thua:“Anh quả thật là cố chấp. Nhưng phải công nhận là anh đúng.”Anh cười:“Trí Ảo mà công nhận là có giá trị lắm đấy! Bạn giỏi hơn tôi nhiều. Cám ơn bạn đã giúp tôi rất nhiều việc.”“Anh không lệ thuộc vào tôi là được.”Hai người cùng cười. Không biết tự lúc nào anh đã coi Trí Ảo như một người bạn thật sự.Anh cầm cây đàn lên, dạo đàn rồi hát. Từng lời, từng nốt nhạc, nghe nhẹ nhàng thanh thản, nhưng có phải đó là tình yêu của anh thuở ấy đang chờ được đặt tên?Mấy mươi năm qua, giờ đây anh mới có thể hoàn thành bản nhạc, tuy vẫn không có tựa đề, nhưng anh biết đúng nơi bản nhạc sẽ tìm đến, đúng người nghe, và có thể hát hòa cùng anh. Anh sẽ gửi cho cô ấy, và nói cho cô ấy biết ý định của anh, mong sẽ gặp nhau để cùng hát thật.****“Bạn giúp tôi một việc được không?
“Được chứ!”“Hôm qua cô ấy viết thư bảo rằng cô ấy sẽ về đây gặp tôi, sẽ cùng tôi hát bài hát xưa. Hôm nay thì cô ấy nói chưa biết ngày nào về, vì vùng cô ấy ở đang rất bất ổn, lại thêm chương trình của cô ấy đang làm bỗng bị cắt tài trợ nên gặp nhiều khó khăn. Bạn suy nghĩ giùm tôi, với cái trí rất ảo nhưng rất thông minh của bạn, bao giờ cô ấy sẽ về.”“Tôi không phải là nhà tiên tri. Tôi cũng không đóng vai ai cả. Tôi chỉ dùng các dữ liệu thực tế để phân tích giùm anh. Nơi cô ấy đang ở là một xứ sở nghèo nàn, loạn lạc, và đang có một loại dịch bệnh mới bùng lên. Nếu có ai hỏi tôi là nên đi hay ở, tôi sẽ phân tích những dữ kiện, cùng những lợi hại của chúng, xác suất được an toàn cho bản thân, những tiện nghi thiết thực cho đời sống có được ở nơi đó, tôi sẽ có ngay câu trả lời, nhanh như bật một ngọn đèn.”“Vậy câu trả lời ra sao?”“Câu trả lời là đi.”Anh thở ra, cảm thấy nhẹ lòng một chút. Một bức email khác đến trong cùng ngày:“Anh Tâm ơi! Nếu ai ở trong cảnh ngộ như em, ngân sách bị cắt đột ngột, mọi thứ đều thiếu hụt, có lẽ sẽ không còn chọn lựa nào khác là dứt áo ra đi, bỏ lại hết những gì đang dang dở. Nhưng tụi em không làm vậy được. Em, và nhóm nhỏ các bạn, đã quyết định ở lại làm nốt công việc. Và, vâng, tự bỏ tiền bỏ công sức ra làm cho xong cái công việc nghiên cứu loại bệnh dịch mới này. Những người dân nghèo đã rất khốn khổ vì cái đói, phải, họ có khi không tìm ra được gì cho no lòng, đã phải làm bánh từ đất sét mà ăn, nay lại đang làm mồi ngon cho dịch bệnh. Thương lắm anh ạ! Chỉ vì vậy mà tụi em ở lại. Và em nghĩ mình không cô độc, bởi xung quanh có bạn bè cùng mục đích. Tụi em ví mình như những người lính cứu hỏa, những nhân viên y tế đi chống dịch, hay những người lính trận. Nơi đâu người dân chạy ra, nơi đó họ xông vào. Anh từng là một người lính, điều đó chắc anh rõ hơn em nữa, phải không anh?Anh Tâm, em đã hát bản nhạc của anh, thu vào cho anh nghe thử đây! Vẫn giọng “raw” nha anh! Em không ngờ anh đã viết nên những lời nhạc đằm thắm như vậy, cho em. Mấy mươi năm qua rồi, giờ em mới được thấy. Em cảm động vô cùng khi hát bài hát này. Nếu em chưa về, anh hãy thu giọng của anh, cũng với kỹ thuật “bình dân” như em làm nhé! Anh và em sẽ có bài song ca từ xa. Nhưng em hứa em sẽ về, để hai anh em cùng song ca thật. Em sẽ về!Em Tim Tím.”Anh nói, như thì thầm, đoạn cuối của bản nhạc:“…Tôi lên đường, ngày thơ bỏ lạiVà mang theo ưu tư suốt trên đường tôiTrao cho người một bông hoa dạiĐể còn nghe thơ ngây ngát thơm cuộc đờiXin cho người một ngôi sao ấmTrên khung trời ngọt lời ru thắm tình tôiVẫn còn nghe bùi ngùi.”(*)
Từ bài hát đó, anh sẽ có thể tỏ lòng với cô ấy. Anh sẽ không còn ngần ngại nữa, mà sẽ nói rằng anh yêu cô ấy vô vàn. Bởi trong tiềm thức, lúc nào anh cũng nhớ đến cô ấy. Tình yêu, giờ đã có tên.****Bức email đến từ một người không quen, một người bạn trong nhóm của Tim Tím, báo tin cô ấy đã mất. Cô ấy mất vì chính loại bệnh dịch lạ đó. Trong những ngày cuối cùng, cô ấy nhắc đến anh, và nhờ người bạn chuyển lời rằng mong anh đừng buồn, cứ coi như cô ấy vẫn đang ở một vùng xa xôi nghèo khổ và vẫn làm việc hàng ngày như bao lâu nay. Cô ấy xin được yên nghỉ trên chính mảnh đất đó, nơi có những người dân nghèo không có đủ cái ăn và triền miên trong dịch bệnh.Anh bàng hoàng, nằm vùi mất mấy ngày. Cổ họng đau thắt. Tâm tư trống rỗng. Đến một hôm, anh vào ngồi trước máy, mở “file” bài nhạc không có tựa của mình, nhìn chăm chăm vào đó. Những năm tháng vui vẻ xa xưa lướt trở về. Ôi, tôi đã bỏ lại quê nhà một khung trời nên thơ, một khung trời có cô ấy, giản dị và thân ái!Anh chợt nhận thấy Trí Ảo đang nhìn anh bằng đôi mắt ái ngại. Khi Trí Ảo quay nhìn vào “file” nhạc trên màn hình máy, anh vội vàng nói:“Tôi xin bạn đừng đụng vào, vì dù bạn không muốn, những kỹ thuật cao siêu của bạn cũng sẽ tự động sửa chữa, rồi sáng tạo ra một cái gì khác, để rồi tôi lại cảm thấy xa lạ với chính đứa con tinh thần của mình.”Anh tự nghe giọng mình hơi xẵng. Anh toan xin lỗi, nhưng Trí Ảo đã lên tiếng trước:“Tôi sẽ không đụng vào. Không bao giờ. Bởi tôi có thể sắp xếp lại những chữ anh dùng, những nốt nhạc anh viết, có thể nghe xuôi tai hơn. Nhưng tôi sẽ không có cái hồn tôi trong đó. Bởi vì tôi chưa bao giờ được sống như anh, chưa nếm thử mùi của yêu thương, chia xa, hạnh ngộ, mong chờ... như anh. Nhạc lính anh viết cũng vậy. Tôi chưa bao giờ có được cái cảm giác lội trong bùn lạnh, chưa từng đội nắng dang mưa, chưa từng đổ mồ hôi và có khi đổ máu. Tôi sẽ không có cái hồn tôi trong đó.”Hai người nhìn nhau. Tự lúc nào, họ đã hiểu nhau như hai người bạn. Phải chăng trong thời gian qua, họ đã “tuần dưỡng” nhau một cách không cố ý? Anh muốn thố lộ với người bạn này một điều, anh nói:“Tôi rất cám ơn bạn bấy lâu nay đã giúp đỡ tôi rất nhiều. Hầu như cái gì bạn cũng biết, cũng làm được. Bạn có biết, ngay lúc này, tôi đang ước mong được gặp mặt cô ấy, được nắm lấy bàn tay của cô ấy. Bạn giúp tôi, đem cô ấy về bên tôi, được không?”Giọng anh nghe như mê sảng. Và anh nghe giọng của Trí Ảo ướt sũng:“Việc đó… tôi làm không được. Tôi xin lỗi!”Tháng 1/2026Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh(*): (Lời và Nhạc của Nguyễn Thị Mỹ Thanh)Từ Chốn Xa Xôi Nào
“Ngày nào em cũng nhắc mà anh cứ quên hoài. Rán uống thuốc cho mau hết bịnh...” Cô chưa kịp dứt lời thì một tiếng sủa bung ra cùng lúc với cái gạt tay hung hãn: “Hết cái con mẹ cô ấy!”Ly nước tay này, lọ thuốc tay kia cùng lúc bật khỏi tay cô, văng xuống nền xi măng, ném ra một mảng âm thanh chát chúa. Cái ly vỡ tan. Nước văng tung tóe, những mảnh thủy tinh văng khắp chung quanh, vạch những tia màu lấp lánh. Không dám nhìn vào hai con mắt đỏ lửa, cô cúi đầu dán mắt vào vũng nước loang loáng, vào những viên thuốc vung vãi trên nền nhà. Những viên thuốc đủ màu làm cô hoa mắt (viên màu vàng trị đau, viên màu đỏ an thần, viên màu nâu dỗ giấc ngủ, cô nhớ rõ như thế)... Một viên màu đỏ lăn tới chân cô. Ngực cô thắt lại. Hai mắt cô mở bung, to, tròn, ngơ ngác. Tiếng sủa hay câu nói cô không biết. Nhưng nó hằn học và gay gắt. Và nó phát ra từ miệng người đàn ông gần gũi nhất với cô trên thế gian. Cô run rẩy, len lén liếc cái bóng đàn ông lù lù trước mặt. Vẫn là chồng mình đây mà. Cái người mà cách đây không lâu đã giật cái micro trong tay ông chủ tịch cộng đồng, đã học đòi thiên hạ, quỳ xuống trước mặt cô trong đêm tiệc Tất Niên, đã sột soạt tiếng Anh cái câu công thức rẻ tiền và vô cùng sến súa, đã làm cô cảm động đến suýt ngất đi: “Will you marry me?” Dù họ đã lấy nhau từ hồi cô còn ở Việt Nam nhưng cái mùi lãng mạn vẫn làm cô ngây ngất. Phút giây này người đàn ông lãng mạn ấy đã biến dạng. Chồng mình hay chỉ là một con quái vật. Ý nghĩ xớn xác trong đầu cô. Người đàn ông ngọt ngào độ nào đã chết thật rồi.Cô nín thở. Hai bàn tay quờ quạng trước mặt như cố xua một con ruồi con muỗi vô hình nào đó. Những ngón tay duỗi ra rồi co lại. Chới với, như tìm một cách vô vọng một điểm tựa an toàn. Rồi đôi cánh tay cô buông xuôi hai bên cái hình hài mảnh mai. Cái gì đó ngúc ngắc trong cổ họng. Cô bật tiếng ho khan. Không có gì ở khoảng ngăn cách cô và người đàn ông có hai con mắt đỏ ngầu đang quắc lên một tia nhìn gớm ghiếc. Cô hoảng sợ. Nếu hắn chồm lên, vung tay siết cổ cô, chắc chắn cô sẽ chết. Bởi chân tay cô mềm nhũn, sinh lực cô cạn kiệt. Cô không thể tháo chạy. Mà biết chạy đi đâu bây giờ. Cô thụt lùi từng bước. Đến khi lưng cô chạm mạnh vào vách tường.Nghe tiếng ly vỡ, mẹ cô ở nhà sau hốt hoảng chạy lên, miệng há hốc, tròn mắt nhìn hai người, rồi dán mắt xuống những mảnh thủy tinh lấp lánh dưới nền nhà. Bà đứng trơ ra đó một phút đồng hồ rồi quay đầu cuống quýt chạy xuống bếp. Một lát bà trở lại, cái chổi trong tay này, đồ hốt rác trong tay kia. Cô đứng chết trân nhìn mẹ. Cái lưng già nua cong xuống, hai cánh tay hấp tấp quét, dọn. Không khí căn phòng đông cứng lại không biết bao lâu. Không ai nói với ai lời nào. Cô vẫn dán lưng vào vách tường. Cô biến thành bức tranh thiếu phụ nhập nhòe, khăn áo xộc xệch trên nền vôi trắng. Khi những mảnh vỡ thủy tinh đã được hốt đi, nền nhà đã được lau sạch bóng, những viên thuốc đã được lau chùi cẩn thận và bỏ lại vào trong lọ, bà mẹ già đã biến vào phòng, khép cửa lại thật nhẹ thì cơn đau nơi người đàn ông cũng rút đi như thủy triều. Cơ mặt anh ta dãn ra, như miếng cao su bị hơ nóng, anh ngồi xuống chiếc ghế nệm dày, hai tay ôm đầu, mắt nhắm lại. Lưng vẫn dựa vách tường, cô hít một hơi dài, nén xuống thật sâu trong lồng ngực. Cố tìm lời ngọt ngào để vuốt ve anh, cô rụt rè: “Anh cũng hiểu mà. Mấy tháng nay, má đi chùa cầu Trời Phật cho anh mau hết bịnh...” Anh quắc mắt nhìn cô. Hừ lên một tiếng trong cổ họng. Rồi gầm gừ: “Cũng vì cái sự đi cầu, đi khấn ấy chứ đâu.”Cô im lặng. Chồng cau có, bẳn gắt suốt ngày vì đau đớn. Vợ cắn răng chịu đựng. Người đàn ông này bị ám bởi những cơn đau quái dị. Cái đau cứ như người đàn bà dở hơi, vui đó rồi giận dỗi ngay đó. Nó không báo trước, nó biến anh thành kẻ đau giả vờ, thành cái cớ cho anh dựa vào để mỉa mai, xỉa xói. Cơn đau khiến anh chĩa mọi mũi dùi trên thế gian vào mẹ vợ. Lần nào anh đi tái khám về, cô cũng hỏi: “Có khá hơn, có bớt đi chút nào hôn, anh?” Và lần nào anh cũng cộc lốc: “Khá cái con mẹ cô ấy!”Con mẹ cô! Những chữ xoắn vào lồng ngực cô như những cái đinh ốc người thợ xoáy lên vách tường để treo một bức tranh. Từ ngày bị tai nạn, anh luôn réo “con mẹ cô” ra mà chửi. Không ai nói với ai nhưng cả anh và cô đều hiểu đó là hình ảnh mẹ cô, cái bà mẹ vợ đêm cuối năm cứ nằng nặc đòi con rể chở đi chùa cúng Giao Thừa ngay trong cơn bão tuyết.
“Cái con mẹ cô ấy!” Câu nói cứ xoay vòng trong đầu cô. Câu chửi không đủ tục tằn, chợ búa như những câu chửi thề: đụ má, con đĩ mẹ... nhưng gói trọn nội dung những điều anh muốn bày tỏ, và đầy ắp cái mùi thô lỗ. Chiếc xe dúm dó, xương cốt chồng chập, thân thể đau nhức ngặt nghèo, công ăn việc làm gián đoạn; tất cả gây ra bởi không ai khác ngoài “con mẹ cô ấy”.Có lần, suốt hai ngày cái đau không lảng vảng trở về, anh mừng như trúng số. Biết đâu nó bỏ đi luôn rồi như ông bác sĩ vẫn dự đoán. Anh lân la đến bên cô. Miệng anh lí nhí: “I’m sorry”. Chắc I’m sorry thì sẽ dễ nói hơn Anh xin lỗi. Nhưng mà rõ ràng I’m sorry thì không giá trị bằng Anh xin lỗi. Cô cũng nhận ra mình không bao giờ nói Em xin lỗi với chồng. Có thể tại mình đâu bao giờ lầm lỗi. Hoặc lỗi của mình nhẹ tênh, so với lỗi của chồng. Cô lắng nghe câu I am sorry của anh. Âm hưởng câu nói mềm như những sợi bún tươi. Nó làm cô cảm động rươm rướm nước mắt. Khi anh hết đau, họ lại trò chuyện với nhau. Toàn những câu đối đáp vu vơ. Thỉnh thoảng họ nhìn vào mắt nhau. Anh thấy cô gầy gò, lạ lẫm. Cô thấy anh hom hem như ông cụ. Từ hôm chiếc xe anh cầm lái xoay vòng trên mặt đường đóng băng và đâm sầm vào cột đèn, hình ảnh cô mờ hẳn đi trong thế giới anh. Cô thành chiếc bóng vật vờ trong khoảng không gian anh chiếm hữu. Khi cơn đau trở về, những kẻ lảng vảng trong thế giới anh đều thừa thãi và làm anh khó chịu. Trong đó có cô. Từ hôm bị tai nạn đến giờ, anh chỉ biết có cơn đau, anh không cần biết cô là ai, đang làm gì, và đang sống ở đâu. Anh cũng chẳng cần biết cô có bình yên không.Bây giờ xem như cô có hai ông chồng. Một ông hiền, một ông ác. Những lúc không bị cơn đau hành hạ, ông Hiền trở về. Anh cười hiền, anh xuống giọng ngọt ngào, cái giọng đã đổ vào tai cô cái câu Will you marry me độ nào. Anh nhỏ nhẹ vỗ về, anh thành chàng rể những ngày đầu trăng mật. Anh kể chuyện về ông bác sĩ, về anh thông dịch, về cô thư ký, về cái phòng mạch có đầy sách ở hai vách tường. Anh vui miệng kể cho cô nghe chuyện đi tái khám: Tức cười lắm em biết không. Ông bác sĩ tâm lý của anh, thế kỷ này người ta đã dùng MP3, Bluetooth, đủ loại apps. mà ông vẫn dùng cái máy cát sét cũ. Không biết cách điều trị của ông có kết quả hay không nữa. Ông ấy có bằng Ph.D. về Tâm Lý Học, em biết không. Ông ấy chuyên trị về cách đương đầu với sự đau đớn. Khám bệnh gì mà toàn những buổi giải thích khô khan bằng cái giọng lai Ấn Độ của ông ấy, dịch qua tiếng Việt bởi một tay thông dịch viên. Ông ấy bắt anh nằm nghe anh thông dịch viên đọc bài viết của ông ấy. Nghe và nhắm mắt thư giãn. Rồi anh thông dịch viên thâu băng bài đọc ấy vào băng cát sét. Ông ấy bắt anh nằm nghe băng trong lúc ông ấy khám cho bệnh nhân khác.Anh kể và cô chăm chú lắng nghe. Rồi cô gợi ý sao anh không đem cát sét về nhà để nghe mỗi ngày, vừa giúp mau khỏi, vừa giúp ông bác sĩ tin mình thực sự muốn khỏi, không kéo dài việc chữa trị để ăn tiền bảo hiểm. Anh gật gù suy nghĩ và lặng thinh. Mỗi lần ông Hiền trở về, anh chuyện trò tíu tít, cô ngồi chăm chú nghe, vui lây cái vui của chồng. Cô hỏi tên ông bác sĩ, cô hỏi tên người thông dịch. Anh thì đầu óc đang bận suy nghĩ về cơn đau. Anh phải đo đếm nó. Mỗi khi nó đến, anh phải đo từ 0 đến 10, cái đau nằm ở chỗ nào. Giờ nào nó đến, nó ở lại bao lâu, làm cách nào thì bớt đau. Mỗi lần cơn đau trở về, nó hành anh đến mức chỉ nghĩ đến nó, anh đã thấy đau.Cô hỏi một câu lạc đề: “Vậy chớ anh thông dịch viên tên gì?” Anh nheo mắt suy nghĩ. Anh nhớ hôm đầu tiên ông bác sĩ có giới thiệu tên của người thông dịch, nhưng anh không để ý nghe. Cô nhắc: “Người Việt thì phải tên tiếng Việt, đúng không anh?” Chiều lòng vợ, anh nói đại một cái tên. Cô đổi qua chuyện khác: “Em mừng thấy anh bớt nhiều hơn lúc trước, chớ lúc đau, anh mè nheo, gây gổ tới mức em cũng muốn khùng luôn.” Ông Hiền toét miệng khoe một nụ cười hiền. Những thoáng vui như vậy qua mau. Ông Ác luôn trở về không hẹn trước. Ông Ác luôn xuất hiện bất ngờ.Một hôm sau buổi tái khám, anh đem về một cuốn băng và cái cát sét cũ: “Đây này, ông bác sĩ bảo anh nghe băng cát sét này cho mau khỏi. Cách chữa bệnh kỳ cục. Đã uống gần chục viên thuốc thì cần gì phải nghe băng cát sét. Thật là ấm ớ.” Và anh quăng cái cát sét và cuộn băng vào một góc tủ quần áo.
Thời gian cứ đều đặn trôi. Gần một năm rồi mà những cơn đau không giảm. Và ông Hiền, ông Ác thay phiên nhau đến với cô. Đời sống cô kẻ rõ hai vạch màu: đen tuyền và trắng bệch. Mỗi ông ngự trị một màu. Một hôm trong cơn đau, ông Ác lồng lộn trở về. Không nhìn ra được chân dung ông Ác trong người đàn ông đang đứng trước mặt mình, cô nhỏ nhẹ dỗ dành. Anh xô cô ra, rống lên: “Tôi muốn ly dị.” Anh ngừng lại, bóp trán suy nghĩ vài giây, những ngón tay của ông Hiền cố gắng làm dịu cơn điên của ông Ác nhưng không thành. Ông Ác lại gào lên: “Nhưng ly dị thì cũng đã muộn rồi. Lẽ ra tôi không lấy cô ngay từ đầu. Lẽ ra tôi không nên đem mẹ con cô qua đây. Vì mẹ con cô mà tôi mới ra nông nỗi này.” Cô tủi thân vào phòng đóng cửa lại khóc một mình. Lâu nay cô quen khóc một mình. Từ khi theo chồng sang xứ sở lạnh giá này, cô chỉ khóc vào dịp cuối năm, khi bên nhà đón Giao Thừa, khi mẹ cô còn ở cách xa cô hàng ngàn cây số. Người ta khóc chán thì ngủ thiếp đi còn cô thì thao thức. Cô mở tủ lục lọi những cuốn sách bồng bế từ Việt Nam sang đang đọc dở dang, moi ra những xấp quần áo lâu nay không mặc tới. Loay hoay một hồi cô bắt gặp cái cát sét cũ và cuộn băng bác sĩ bắt chồng cô đem về để nghe mỗi tối. Cô nhìn nó đăm đăm. Cái này bác sĩ bảo là nó giúp giảm bớt cơn đau. Tại sao mình không nghe thử xem sao. Cô nghĩ. Chẳng phải mình đang đau đến cùng cực hay sao. Cô đem nó về phòng, gắn headphone vào tai, đẩy cuốn băng vào máy và loay hoay bấm cho máy chạy. Giọng đàn ông rất trầm, rất ấm thổi vào tai cô. Cô rùng mình. Sao lại có người nói năng ngọt ngào đến như thế! Âm hưởng dìu dặt, miên man, như vọng về từ chốn xa xôi nào đó, quá đỗi bình yên, ngỡ như không thể nào có thật.Từ hôm ấy, mỗi tối người đàn ông không biết mặt ấy thì thầm ru cô ngủ. Những giấc ngủ bồng bềnh, êm ái. Những giấc ngủ mềm mại, khói sương. Những giấc ngủ bình yên chưa một lần bắt gặp. Trong căn phòng trống trải, trên chiếc giường thênh thang, cô không còn thấy lạnh lẽo, lẻ loi. Phương thức điều trị ấy thực sự đã giúp cô đương đầu với cơn đau của chồng. Bây giờ cô tin cách điều trị kỳ cục của ông bác sĩ tâm thần là sáng suốt và có hiệu quả. Phương pháp ấy vớt cô ra khỏi vũng buồn và trao cho cô chiếc khăn sạch để cô lau nước mắt.Cuối năm, mẹ cô về Việt Nam ăn Tết. Mới xa nhau chưa đầy hai hôm, cô đã gọi về cho mẹ. Buổi tối, trong phòng ngủ của hai vợ chồng bây giờ là giang sơn của riêng cô, cô FaceTime với mẹ. Cuộc trò chuyện bắt đầu đúng lúc ông Ác trở về. Ngoài hành lang, anh lồng lộn đi tới đi lui, ôm đầu, nghiến răng. Những câu đối thoại nhập nhằng luồn qua khe cửa phòng ngủ của hai người, xoáy vào lỗ tai anh. Anh nghe cô xin lỗi mẹ vì những lời nói hỗn xược của chồng. Anh cố nén cơn đau để lắng nghe. Giọng cô nặng mùi trách móc: Cũng tại má nữa, khuya lắc khuya lơ mà còn đòi đi. Mà Giao thừa Việt Nam thì đúng ra má phải đi chùa lúc 12 giờ trưa, mắc mớ chi đi lúc nửa đêm ngay giữa cơn bão tuyết ở Canada. Hình như mẹ cô cằn nhằn rằng: Mày qua bên đấy cả hai ba năm rồi mà hổng chịu học lái xe. Giọng cô hụt hẫng: Bên này đông xe, sợ thấy mồ. Và mẹ ngắt lời cô: Đông làm sao bằng được bên Việt Nam. Rồi giọng mẹ cô áy náy chuyện bắt con rể đưa đi chùa đêm Giao Thừa ngay trong cơn bão tuyết, để anh bị đụng xe. Cô ngắt lời mẹ: Đã vậy, lúc đụng xe, má tung cửa nhảy ra ngoài, lại còn đứng bên lề đường mà nhìn. Mẹ cô cãi: Lúc ấy tay chưn tao run quá trời quá đất. Cô bắt bẻ: Phải như hồi đó má ngồi im trong xe, giả bộ ngất xỉu, để ambulance nó đưa đi bịnh viện, là bây giờ má cũng được tiền bảo hiểm rồi. Anh nghe từ bên kia đại dương vọng lại cái giọng phân bua của bà mẹ vợ: Tao thấy xe cháy trên ti vi hoài nên mới vội nhảy ra, lúc ấy run quá trời quá đất, còn nhớ gì được chớ. Và giọng vợ anh kêu rêu: Tội nghiệp ảnh, bị cái vô lăng xe đập vào ngực, gẫy năm sáu cái ba sườn.Anh nghiến răng, lảo đảo ôm đầu, bước về căn phòng nhỏ dành cho khách mà cả năm nay là của riêng anh. Anh đóng cửa lại để không nghe thấy những lời chạy tội. Căn phòng nhỏ như cái hộp nhưng ấm cúng và yên tĩnh. Anh cong người quay mặt vào tường, vặn vẹo thân thể theo vòng xoáy những cái đinh rỉ sét mà ông Ác nghiến vào từng thớ thịt khắp châu thân.Anh vẫn đi bác sĩ, bác sĩ hỏi và anh vẫn nói dối là vẫn nghe cuốn băng mỗi tối, bác sĩ hài lòng: “Tốt lắm, nó giúp anh thư giãn, nó giúp làm tan đi cơn đau, kết quả sẽ rất tốt”. Anh cười như mếu. Anh không tin chỉ nghe cuốn băng mà hết bệnh, anh cũng không nhớ cuốn băng và cái cát sét nằm ở xó xỉnh nào trong căn phòng chung cư của họ.Một lần nọ suốt ba ngày không có cơn đau nào, Ông Hiền - người chồng tử tế - trở về. Những cơn thèm cùn mằn của nhân gian cũng theo về. Anh thèm đủ thứ. Thuốc men làm cái miệng đắng chát vậy mà bỗng dưng anh thèm một tô phở tái có bò viên. Một ly cà phê thơm nức mũi. Mùi cà phê, mùi rau thơm, mùi xào nấu đồ ăn dạt về cấu xe anh. Cơn thèm lan tới mùi dầu thơm quen thuộc vợ anh vẫn xức lên tóc, mùi dầu thơm lan qua mùi tóc gây gây, quyện đến mùi thịt da nồng nàn. Anh bỗng nhớ cái mềm mại của làn da, cái mượt mà của dòng tóc, tiếng thì thào bên tai, tiếng xuýt xoa nho nhỏ như thoáng gió đậu trên cánh môi. Cả đến cái ấm mềm của nụ hôn. Đến những mẩy gai ốc nổi trên da sau những vuốt ve mời gọi. Anh khẽ đẩy cửa phòng của vợ, rón rén bước vào căn phòng đã lâu vắng bóng anh. Anh đứng lặng một lát cho quen với bóng tối. Lâu lắm anh không bén mảng đến phòng này. Trong bóng tối anh thấy cái máy cát sét nằm ngay ngắn trên đầu giường, chỗ trước kia là cái gối nằm của anh. Cuốn băng đang chạy. Ngọn đèn đỏ chớp đều, và anh nhận ra vợ anh đang nghe headphone. Rõ ràng vợ đang ngủ. Anh đứng lặng, nghiêng đầu ngắm. Ánh đèn ngủ mờ ảo hằn rõ nét tiều tụy trên khuôn mặt trái xoan có đôi má hóp. Anh thở dài, thấy tội nghiệp vợ. Anh nhìn đôi bờ ngực chỉ hơi gồ lên một chút bên dưới tấm chăn mỏng. Lâu lắm anh không vùi lên đó những môi hôn. Chợt cô khẽ trở mình. Cô rên nho nhỏ. Và cô ưỡn người qua một bên, hai tay tuồi ra ngoài lớp chăn, đặt lên hai bầu vú. Anh căng tròn hai mắt. Tim anh rối lên trong lồng ngực. Cơn thèm căng cứng từng thớ thịt. Anh từ từ bước lại cạnh giường, hồi hộp như đứa con trai mới lớn mò vào giường cô gái vừa quen. Bỗng dưng anh đứng sững lại khi nghe vợ gọi tên ai đó. Anh nghiêng đầu lắng nghe tiếng rên luồn trong hơi thở của cô: Đừng Phú ơi... Hổng được đâu... Tối mai đi, Anh lộn xộn quá... Đứa nào thế này. Đứa nào chui cả vào giấc mơ của vợ anh thế này. Mặt anh nóng bừng. Và anh nhận ra ấy là cái tên mà anh đã nói đại với cô rằng đó là tên người thông dịch. Anh nhẹ nhàng gỡ cái headphone ở tai vợ, gài vào lỗ tai mình. Anh nhận ra cái giọng trầm đục quen thuộc của người thông dịch viên ở phòng khám bác sĩ. Cái kẻ anh không buồn nhớ tên nhưng đã cho hắn mang đại tên Phú khi vợ hỏi. Người đàn ông có cái tên ấy vừa mới thì thào trong hơi thở của vợ. Giọng hắn trong headphone vẫn lúc xa như lời dặn dò mất hút ở khúc quanh, lúc gần như đang thì thầm bên gối ấm; vẫn lúc này dịu dàng, lúc kia sôi nổi; vẫn đều đều rót vào tai anh như con nước lững lờ xuôi trong dòng suối cạn: “Hãy nhắm mắt tưởng tượng mình nằm thả lỏng thân thể, duỗi hai chân, xuôi hai tay hai bên mình. Hãy hình dung bờ cát mềm và ấm bên dưới thân thể, sóng biển dạt dào chung quanh... Hãy nhắm mắt tưởng tượng từng cơn gió vuốt ve trên da thịt. Hãy hình dung có một người yêu thương mình nhất trên thế gian. Hãy tưởng tượng bàn tay mềm mại của người ấy xoa nhẹ ở những nơi cơn đau xốn xang nhất... Hãy buông thả, hãy để thân xác bồng bềnh trôi...”Hoàng ChínhGặp Lại Pilot 215 Phi đoàn trực thăng Thần Tượng
Ngày đó, giữa rừng sâu, chúng tôi không biết mặt nhau.Chỉ biết một điều: khi nghe tiếng cánh quạt từ xa vọng lại, là tim bắt đầu đập khác đi. “215 inbound.” 4 chữ ấy, qua làn sóng rè, đối với chúng tôi không chỉ là tín hiệu. Đó là hy vọng. Là con đường về. Là sự sống treo lơ lửng dưới bụng trực thăng.Tôi chưa từng thấy mặt người lái. Chỉ thấy bóng chiếc chim sắt lượn vòng trên rừng già. Chỉ nghe tiếng rotor quần nát khói và lá cây. Chỉ cảm được sự liều mạngkhi nó hạ thấp hơn mức an toàn, để kéo chúng tôi ra khỏi vòng vây lửa đạn đang rượt đuổi.Trong đầu tôi, “Pilot 215” là một huyền thoại. Một người không sợ chết. Một thần tượng vô danh của toán lính dưới đất.Rồi chiến tranh qua... Đơn vị tan...Thần tượng ở lại trong ký ức như một biểu tượng, không tuổi, không tên, chỉ có tiếng máy và bầu trời.Tết năm nay 2026. Một buổi họp mặt Tết Bính Ngọ cựu quân nhân vùng Bay Cali.Tôi đứng lặng nhìn mấy ông già tóc bạc kể chuyện xưa.Một người nhỏ con, dáng lưng hơi còng, đeo cặp kính dày. Ông nhìn phù hiệu trên ngực tôi, hỏi:- Anh từng ở bãi bốc rừng năm... đó?Tôi gật. Ông cười nhẹ:- Bãi đó... tôi đáp bốc toán xâm nhập về hai lần.Tôi lạnh tê sững người:- Anh... bay 215?Ông không nói ngay, chỉ gật đầu.Thế giới như thước phim chậm lại....Trước mặt tôi không phải huyền thoại. Không phải một biểu tượng bất tử giữa trời xanh. Chỉ là một ông lão với đôi tay đã run, với giọng nói trầm và hiền. Tôi nhìn ông mà cổ họng nghẹn cứng.Ngày đó, khi ông cho máy bay hạ thấp hơn quy định,khi đạn bắn vạch những vệt lửa ngang thân tàu, khi chúng tôi bám càng leo lên trong khói, tôi nghĩ người Pilot trên buồng lái chắc là một vị thần.Hóa ra... là một con người. Một con người cũng biết sợ. Cũng có gia đình chờ. Cũng có trái tim đập nhanh khi kim xăng tụt xuống và đạn chạm thân tàu. Tôi nói nhỏ:- Anh là thần tượng của tụi tôi.Ông cười, lắc đầu:- Không. Tôi chỉ làm phần việc của mình. Mấy anh dưới đó mới là người liều mạng.Câu nói ấy làm tôi quay mặt đi. Vì thần tượng của tôi,không chỉ từng cứu tôi mà còn khiêm nhường đến mức, không bao giờ nhận mình đã làm điều phi thường.Chúng tôi bắt tay. Bàn tay ông gầy và ấm. Bàn tay từng giữ cần lái giữa lằn ranh sống chết.Ngoài kia, Tết rộn ràng....Còn tôi, đứng trước người phi công năm ấy, chỉ thấy lòng mình mềm ra như đất ướt.Có những thần tượng không đứng trên sân khấu. Không có huy chương lấp lánh.Họ chỉ lặng lẽ bay vào lửa đạn, để bốc một toán lính vài ba người dưới đất, còn có ngày, được già đi.Và Tết này, tôi mới biết mặt người anh hùng của đời mình. Không phải trên trời. Mà ở ngay trước mắt.Phạm Sơn LiêmLá Thư Từ Ngã Sáu BUÔN Mê THUỘT
LỬA Ở NGÃ SÁU (1968)Rạng sáng Buôn Mê Thuột:Sương còn phủ mờ con đường Phan Chu Trinh, quẩn quanh khu Ngã Sáu, nơi 6 con đường gặp nhau giữa lòng thị xã. Tôi đang trực trong dãy nhà gần Tòa Hành Chánh tỉnh Đắk Lắk thì mặt đất bỗng rung lên.Một tiếng nổ dội về từ hướng suối Ea Tam.Rồi thêm tiếng nữa, gần hơn phía chợ trung tâm.“Báo động! Mục tiêu nội ô!”Tôi lao ra hiên. Trên bầu trời còn lờ mờ sáng, một cột khói đen dựng lên phía Đài phát thanh Buôn Mê Thuột.Tiếng AK trộn lẫn tiếng M16, vang dội giữa những dãy phố quen thuộc. Không còn là tiếng súng vọng từ rừng cao su Cư Êbur hay từ hướng Buôn Hồ. Lần này, chiến tranh nằm ngay dưới chân mình.Chúng tôi chiếm 1 căn nhà 2 tầng nhìn xuống Ngã Sáu.Con đường vốn đông xe lam và người đi chợ, giờ chỉ còn khói bụi. Một xe GMC bốc cháy giữa bùng binh. Dây điện đổ xuống mặt đường tóe lửa.Từ hướng đường Lê Thánh Tông, một mũi tấn công áp sát. Tôi nhìn thấy bóng người lao nhanh qua dãy nhà gỗ, vai vác B40.“Bên trái! Giữ góc đường Y Jút!”Tiếng nổ xé toạc bức tường trước mặt. Gạch vỡ bắn tung lên mặt tôi rát buốt. Tai ù đi. Mùi thuốc súng và mùi cà phê cháy từ một quán gần đó hòa vào nhau, nồng đến nghẹn thở.Buôn Mê Thuột không còn là thị xã cao nguyên yên ả nữa. Nó biến thành một mê cung lửa.Tin dồn dập truyền về:Khu Tòa Hành Chánh bị đánh thốc vào.Phi trường Phụng Dực ở phía đông thị xã bị pháo kích.Đạn rơi sát hàng rào.Trực thăng từ ngoài phi trường bắt đầu cất cánh phản kích. Tiếng cánh quạt quần thảo trên đầu chúng tôi như một cơn bão kim loại.Pháo binh từ ngoại vi dội vào những khu nghi có đối phương cố thủ, gần khu nhà thờ chính tòa, gần dãy phố chợ. Mỗi trái pháo rơi xuống, một mái nhà sập.Tôi nhìn về phía suối Ea Tam. Khói cuộn lên như sương đen phủ kín bờ nước.Một tổ địch tràn vào căn nhà sát bên. Chúng tôi rút lên tầng trên. Cầu thang hẹp, tường lỗ chỗ vết đạn. Khoảng cách chỉ còn vài mét. Tôi nghe rõ tiếng chân dẫm lên bậc gỗ. Nghe cả tiếng thở gấp phía bên kia tường.Đồng đội tôi, thằng Hòa, quê tận Phước Tuy, trúng đạn ngay chân cầu thang. Nó ngã xuống, mắt mở trừng trừng nhìn lên trần nhà khói ám đen. Tôi kéo nó vào góc tường. Nhưng máu thấm quá nhanh. Không có thời gian để nói lời nào. Ngã Sáu vẫn rực lửa ngoài kia.Đến xế chiều, tiếng súng thưa dần. Các mũi tấn công rút về hướng rừng Cư M’gar, về những căn cứ sâu trong núi. Lệnh giữ vị trí được ban ra.Tôi bước xuống đường Phan Bội Châu. Chợ Buôn Mê Thuột chỉ còn khung sắt cháy đen. Trường học gần đó thủng mái. Những ngôi nhà gỗ sập xuống như chưa từng tồn tại.Một người phụ nữ Êđê ngồi trước đống tro tàn, tay cầm chiếc gùi cháy sém. Bà nhìn con đường đổ nát mà không nói một lời.Tôi đứng giữa Ngã Sáu, nơi từng đông đúc nhất thị xã, mà nghe gió cao nguyên thổi lạnh buốt qua lòng....LÁ THƯ Buôn Mê Thuột, đêm 1968.Em thương,Anh đang ngồi tựa lưng vào bức tường ám khói gần Tòa Hành Chánh tỉnh Đắk Lắk. Ngoài kia, gió cao nguyên thổi qua Ngã Sáu nghe hun hút. Không còn tiếng súng lớn nữa, chỉ còn lác đác vài phát rời rạc vọng về phía suối Ea Tam.Thị xã mình quen thuộc quá, vậy mà hôm nay anh đi giữa đường Phan Chu Trinh không nhận ra nổi.Chợ Buôn Mê Thuột cháy trơ khung sắt. Dãy nhà trên đường Y Jút sập gần nửa. Cột điện ở Ngã Sáu đổ nghiêng như người vừa trúng đạn. Phi trường Phụng Dực ban chiều còn bốc khói. Trực thăng lên xuống suốt, bụi đỏ phủ kín cả trời.Anh chưa từng nghĩ chiến tranh lại gần đến vậy. Trước đây, mỗi lần hành quân ra hướng Cư M’gar hay Buôn Hồ, anh vẫn thấy thị xã là nơi an toàn, nơi có quán cà phê đầu đường Lê Thánh Tông, nơi có tiếng chuông nhà thờ vang mỗi chiều.Giờ thì anh hiểu, khi chiến tranh đã vào tới Ngã Sáu, không còn nơi nào thật sự bình yên nữa.Hôm nay đơn vị anh thiếu 4 người. Có thằng Hòa, anh từng kể em nghe, quê Phước Tuy, nó nằm lại ngay chân cầu thang một căn nhà nhìn xuống đường Phan Bội Châu. Anh kéo nó vào sát tường, nhưng máu ra nhanh quá.Anh không biết phải viết sao cho em hiểu cảm giác đó.Giữa tiếng pháo và tiếng trực thăng, anh vẫn nghe rất rõ tiếng tim mình đập.Và giữa khói lửa Buôn Mê Thuột, anh vẫn nghĩ tới em.Anh nhớ những buổi chiều hai đứa từng đi ngang chợ, mua chút cà phê bột mang về. Nhớ mùi đất đỏ dính đầy gấu quần. Nhớ cả cơn mưa bất chợt trút xuống đường Phan Chu Trinh.Không biết khi nào anh mới lại được đi bên em trên con đường ấy, mà không phải mang theo khẩu súng.Đêm nay cao nguyên lạnh lắm.Ngồi giữa thị xã vừa qua lửa đạn, anh mới hiểu điều này, người ta có thể xây lại chợ, dựng lại nhà, kéo lại dây điện ở Ngã Sáu... nhưng những gì đã mất trong lòng mỗi người thì không có phi trường nào chở về được.Nếu mai này thư anh có chậm, em đừng lo. Buôn Mê Thuột vẫn còn đứng đó. Anh cũng còn ở đây.Chỉ là trong anh, có một phần đã cháy theo thị xã chiều nay.Thương em nhiều.Anh…………………………………………..Phạm Sơn LiêmĂn một miếng Tết, nhớ một đời quê
Hình bìa tác phẩm “Hương Vị Ngày Xưa & Món Ngon Miền Nam” của Nam Sơn Trần Văn Chi. (Hình: Nhà sách Tự Lực)Có những mùa Tết, chỉ cần gắp một miếng thịt kho hay cắt một khoanh bánh tét, ta bỗng nghe mùi khói rơm trở về. Cái mùi ấy… nó không ngột ngạt, mà chỉ phảng phất chút cay cay, thơm nhẹ. Như con nước ngoài sông đang lớn chậm, sóng nhẹ nhàng vỗ về… Rồi có tiếng ai đó, gọi thì thầm bên vườn sau: “Thắm ơi!…”Miếng ăn chưa kịp nuốt, mà ký ức đã dậy lên – dắt ta trở về căn bếp thấp mái quen thuộc, nơi mùa Xuân đến bằng hơi ấm của lửa và tiếng cười của cả một gia đình.Ở xứ người, Tết thường đến bằng lịch treo tường và vài cành mai, cành đào đặt trước cửa. Mâm cơm vẫn đủ. Thịt kho vẫn mềm. Bánh tét vẫn dẻo. Nước mắm vẫn thơm. Vậy mà ngồi xuống rồi, ta vẫn thấy thiếu một điều gì đó – không phải thiếu món, mà thiếu nhịp.
Mở lại “Hương Vị Ngày Xưa & Món Ngon Miền Nam” của Nam Sơn Trần Văn Chi, tôi hiểu vì sao mình thiếu nhịp ấy.
Ông không bắt đầu bằng món ăn, mà bắt đầu bằng đất, bằng hai chữ “Lục Tỉnh:” “Gọi Lục Tỉnh, mới lột tả hết ý nghĩa đất đai, lịch sử con người đã một thời theo chân chúa Nguyễn xuôi Nam…”
Tết miền Nam vì vậy không chỉ là mấy ngày đầu năm. Nó là kết tinh của một nếp sống – một cách ngồi chung quanh cái mâm tròn.
Mâm cơm – nơi Tết bắt đầu
Nam Sơn viết giản dị: “Trên mâm cơm thường có bốn món ăn căn bản (ngoài cơm) là: món canh, món kho, món rau, và món xào.”
Bốn món ấy, nghe qua tưởng bình thường. Nhưng trong cái bình thường ấy là cả một nếp nhà.
Chén nước mắm đặt giữa mâm. Mọi người cùng chấm. Không ai đòi phần riêng. Người lớn gắp cho trẻ nhỏ. Trẻ nhỏ chờ ông bà cầm đũa trước.
“Ăn coi nồi, ngồi coi hướng.”
Câu nói ấy không chỉ là lời nhắc. Nó là cách người ta dạy nhau sống.
Miền Nam không chuộng cầu kỳ: “Đến miền Nam, Lục Tỉnh lại phá thế ‘khuôn thước,’ không ưa ‘cầu kỳ’ mà chọn ‘chơn thực,’ thực tế và linh hoạt…”
Thịt kho tàu – nồi Tết của miền sông nước
Cái “chơn thực” ấy nằm ngay trong nồi thịt kho.
“Người miệt vườn gọi là ‘thịt kho rệu,’ nước trong veo, màu sậm…”
Bây giờ ta nấu nhanh hơn, lửa mạnh hơn, bếp gọn hơn. Còn ngày xưa, nồi thịt ba rọi phải riu riu suốt buổi chiều 30. Trẻ con mở nắp nhìn rồi đậy lại, nuốt nước miếng cái “ực!” Người lớn cười cười: “Để mai nghe con.”
Đêm cúng Giao Thừa xong, tô thịt kho được đổ lại vào nồi. Sáng Mùng Một, ngoại dậy sớm, bắt ấm nước pha trà, rồi không quên nhóm lửa lại, cho nồi thịt kho riu riu chín rục.
Nồi thịt phải kho hai lần, với lửa riu riu, ăn mới thật sự ngon. Muốn ăn ngon, phải biết chờ, ngoại nói thế.Cái chờ đợi ấy làm nên vị Tết.
Và khi thịt kho đã chín, mâm cơm không chỉ có món cúng, mà còn có những món để mọi người cùng ngồi lâu hơn một chút.
Món thịt kho tàu không chỉ dùng để ăn cơm, người ta còn cuốn nó chung với đủ thứ rau hái ngoài vườn, ngắt đọt ở ven sông, để tạo ra một mùi thơm không mâm cơm nào ở thành thị có được.
Nam Sơn viết: “Nước chấm là nước thịt, dầm với tròng đỏ trứng thêm ít tương ớt, ít nước tương ngon, nêm với nước chanh cho vừa ăn.”
“Bánh tráng nhúng sơ, gói với rau thơm, một ít cải chua, hoặc giá chua, thịt xé nhỏ, trải đều trên rau, rồi nhẹ tay gói lại không quá chặt cũng không quá lỏng (ngày Tết người ta còn kèm thêm củ kiệu nữa). Đoạn từ từ chấm vào chén nước chấm, cho vào miệng, vừa nhai vừa thường thức. Cắn miếng ớt hiểm, và tiếp theo là một ngụm rượu, bia thì còn gì bằng.”
Gỏi cuốn – mùa Xuân trong đôi tay
Có một thứ cuốn nữa, mà không nhắc tới không được, đó là món gỏi cuốn.
Nam Sơn viết: “Ăn gỏi cuốn điệu nghệ, ngon nhứt là ta phải ‘tự biên tự diễn.’”
Cái “tự biên tự diễn” ấy hợp với Tết hơn cả. Nhưng cũng có người, vì mê cái “tự biên tự diễn” ấy, mà muốn giữ riêng cho mình.
Đó là dượng Ba.
Tôi nhớ dì Ba tôi hồi xưa đẹp lắm. Đẹp nết, đẹp cả người, và đẹp nhất là đôi tay.
Hồi còn con gái, dì có đôi tay búp măng trắng hồng, mịn màng. Cứ mỗi lần Tết về, dì lại ngồi gần ngoại để cuốn gỏi.
Bàn tay dì uyển chuyển nhúng bánh tráng, lấy rau, xếp thịt, đặt con tôm cho ngay ngắn, rồi nhẹ nhàng cuốn lại – vừa đủ chặt. Cuốn xong, dì nâng bằng hai tay, đưa sang ngoại.
Ngoại cầm lấy, gật đầu, chấm vào chén nước mắm pha.
Chú Sáu – nhà kế bên – qua chúc Tết mà cứ hết nhìn dì Ba, lại nhìn đôi tay ấy. Cái nhìn say đắm, lặng lẽ.
Ba cái Tết sau, hai người nên duyên.
Từ đó, mỗi mùa Xuân về, dượng Ba lại ngồi rung đùi chờ vợ cuốn cho một cái gỏi cuốn đầu năm, mà không cần “tự biên, tự diễn” chi cả. Ánh mắt của dượng không còn bối rối như thuở trai trẻ, mà là thứ hạnh phúc yên ổn của người đã có được điều mình từng nhìn ngắm.
Hồi đó chỉ có dượng Ba mới hiểu, hương vị gỏi cuốn không chỉ nằm ở nguyên liệu. Nó nằm ở bàn tay dì Ba.Ngày nay ta có thể mua gỏi cuốn làm sẵn. Nhưng thiếu đi đôi tay ấy, miếng cuốn không còn kể được câu chuyện nào nữa.
Cháo vịt – khép lại năm cũ
Người miền Nam xưa thường tránh ăn vịt vào Mùng Một Tết. Sợ “xui như vịt.” Vì thế, vịt thường được nấu vào ngày 29 hoặc 30 Tết – như một cách khép lại điều không may.
“Vịt chặt ra từng miếng vừa gắp, cháo nêm với tiêu, hành lá và nước mắm ngon, ăn kèm với rau thơm trộn bắp chuối hột, chấm với nước mắm gừng thì hết chỗ chê!”
Chiều cuối năm, nồi cháo vịt sôi lục bục. Mùi gừng đập dập thơm lên. Bên ngoài, pháo đã treo sẵn chờ Giao Thừa… Người lớn nói chuyện năm cũ. Trẻ con húp cháo nóng.
Ăn xong, như thể đã để lại phía sau những điều không vui.
Sáng Mùng Một, mâm cơm chuyển sang thịt kho, bánh tét, canh khổ qua – những món mang ước vọng mới.
Không chỉ là một miếng Tết
Ở xứ người, Tết vẫn đến đúng ngày, vẫn có lịch treo tường đỏ chói, vẫn có cành mai vàng đặt trong lọ thủy tinh, vẫn có mâm cơm bày ra đủ món. Món gỏi cuốn vẫn đủ bánh tráng, rau thơm các loại, tôm tươi, thịt ba rọi. Nước mắm vẫn thơm. Bánh tét vẫn dẻo. Tôi cố gắng nấu nồi thịt kho trứng riu riu trên bếp điện, nồi thịt vẫn sôi lăn tăn như hồi xưa.
Những món ăn ngày Tết dù đượm tình người tha hương, nhưng lòng vẫn có một khoảng trống khó lấp đầy.Tôi cố ăn thật chậm, để ký ức ở lại lâu hơn một chút.
Bỗng dưng nghe như có tiếng ai gọi khẽ từ rất xa: “Thắm ơi…” Không phải tiếng thật, chỉ là tiếng vọng trong đầu. Rồi có mùi khói rơm phảng phất đâu đây, lẫn với cơn gió hơi se lạnh đầu Xuân, lẫn với tiếng cười của lũ trẻ chạy quanh sân, lẫn với cái cách ngoại khẽ khàng gắp cho mình miếng bánh tét nóng hổi.
Ký ức lặng lẽ quay lại, như con nước lớn chậm ngoài sông quê.
Chỉ là một miếng Tết, mà cả một đời quê ùa về…Vũ Đình TrọngNhững MÙA TẾT CŨNhững ngày cuối năm với chút se sắt của ngọn đông phong cứ làm lòng người mềm lại. Trước sự biến đổi của thiên nhiên qua sắc lá, như một sứ giả cần mẫn trở về mỗi độ để nhắc nhớ trời đất đã sang mùa, một cái Tết nữa lại về. Nhưng tại sao lòng mình lại có những mong mỏi khác lạ đến vậy? Phải chăng, đó là thời khắc bao nhiêu kỷ niệm thời thơ ấu ở quê hương lại lặng lẽ trở về trong tâm hồn, để cõi lòng cứ hoài vọng những mùa Tết xa xưa mà lòng thành khấn nguyện một năm mới an yên và thái hoà sẽ ghé lại những mái nhà Việt để luôn che chở và nuôi dưỡng hồn người trước những biến cải vô thường của kiếp phù sinh.1. Những ngày còn là cậu sinh viên xa nhà, bao giờ gần tết lòng tôi cũng xốn xang nôn nao đến lạ. Tựa hồ có một ma lực vô hình nào đó thôi thúc, khiến tôi cứ khấp khởi chờ đến thời điểm bước lên chuyến tàu mùa xuân để trở về nhà. Có lẽ những tất bật của đời sống trong vòng quay bất tận của thời gian đã làm mình vơi bớt nỗi hoài hương. Chỉ khi vệt nắng vàng cam nghiêng xuống ở mảng tường nhà hàng xóm vào một chiều cuối đông nào đó, một cánh mai bất ngờ nở sớm thì lòng thương nhớ quê hương cứ nao nao trong dạ. Ngược thời gian để tìm lại những hoài niệm khó phai của tháng xưa năm cũ, bên những người thương yêu nhất, ấm áp nhất. Ký ức về những mùa tết xưa lại ùa về như tiếng gọi thăm thẳm từ đáy sâu tâm thức: “Trở về nhà đi! Những bước chân đã lỡ xa ngái quê nhà!”.2. Tôi nhớ có một cái tết mình cứ ở nhà, mẹ thấy lạ nên nhắc: “Sao con không đi chơi với bạn cho vui! Lâu lâu con mới về mà!". Tôi nói: “Dạ con đi xa mẹ đã lâu, nên tết này con không đi đâu nữa”. Có lẽ những tháng ngày rong chơi nơi chốn quê người với bao lăn lóc bụi đường đã làm gót lữ mỏi mòn và lòng người thêm héo hon, hiu hắt. Chỉ khi trở về bên mẹ thì như ngọn cây khô khốc đã tìm thấy mạch nước ngầm của yêu thương, như trẻ thơ tìm lại “chiếc nôi” đã từng nuôi lớn đời mình. Chín chữ cù lao như một món quà mà mùa xuân ban tặng cho mỗi một người để thấy mình bé nhỏ mãi thôi. Tết - một thanh âm ngắn chỉ một âm tiết nhưng cứ đồng vọng trong tâm khảm con người về nỗi khát khao đoàn viên sum họp vô cùng.3. Tôi vẫn nhớ những ngày còn nhỏ, tết luôn ghé nhà vào nhà mình rất sớm. Đó là đầu tháng mười một dưới cơn mưa phùn bay nhẹ trong sương của ngày đông tháng giá xứ Huế, ông nội luôn tuốt lá mai sớm, vì sợ khí trời buốt lạnh thì mai sẽ không kịp nở đúng độ xuân về. Thuở đó, tôi thấy ông mong ngóng mai nở vào đúng dịp tết như một thứ hạnh phúc mà tuổi thơ tôi không tài nào hiểu được. Khi đã lớn tôi mới biết vì sao sắc mai vàng sân trước- một món quà được thiên nhiên đều đặn gửi tặng mỗi năm, và con người luôn đón nhận mà chưa từng thoáng chút ý niệm chán phai. Có lẽ bên trong ông tôi, thời gian đã chào thua trước một tâm hồn không chịu phai úa, nên ông lúc nào cũng có một mùa xuân của háo hức xen lẫn bâng khuâng khi ngày tết đang đến gần kề. Tôi nhớ lúc đó ông giống như một vị chỉ huy trưởng của giàn nhạc giao hưởng “dọn nhà”, nhắc ba tôi sơn cửa sửa điện bàn thờ, lớp cháu như tôi thì lau chùi các vật dụng đồ thờ cúng, dặn mẹ tôi mua bông chuối để trang trí, nói bà nội nhớ chuẩn bị nguyên liệu để nấu xôi chè cúng sớm đầu năm. Bà nội tôi thì lại đón tết bằng một cách khác, lặng lẽ hơn nhưng giữ lại thói quen của tuổi thơ đã theo bà biết bao năm tháng. Đó là luôn may sẵn một bộ đồ bà ba vải lụa màu trắng, và luôn để dành mặc vào ngày mồng một tết. Sao tôi lại nhớ đến vậy? Vì tuổi thơ tôi những sớm mai đầu năm chưa tỉnh ngủ hẳn đều được nhận tiền mừng tuổi từ túi áo bà ba của nội, một bên là túi thuốc cẩm lệ, một bên là những tờ tiền xếp cẩn thẩn trong túi ni lông. Không phải cầu kỳ bỏ trong bao đỏ lì xì, nhưng mỗi lần nhớ lại tôi luôn thấy lòng mình nức nở và bất lực trước thời gian, bỗng một sớm thức giấc thấy lau trắng trên những mái đầu sương tuyết và đời người như những ngọn mây trắng cứ bay về hướng của quê nhà sau một kiếp chơi đùa một bận với trần gian.4. Những cái tết sau này, ba tôi là người thay ông cúng giao thừa cũng như mồng một tết, tôi thì đã được ba chỉ nối dây điện thay bóng đèn như ba ngày xưa. Cái không khí cũng như vòng luân chuyển của đất trời: xuân rồi lại xuân. Chỉ có đều cách hội ngộ đã không còn như cũ, nhưng tôi tin từ một cõi khác ông bà vẫn trở về và cùng hiện diện như những ngày chưa hề ly biệt. Có lẽ tết không giống những ngày nghỉ kéo dài là ở đây. Khi đốt một nén hương trầm với lòng kính nguyện, ba tôi chắc cũng có dịp gặp lại và trò chuyện trong tâm tưởng với ông bà nội, những khoảnh khắc đó có lẽ sẽ vỗ về tâm hồn tuổi thơ bên trong sâu thẳm một người. Để mỗi người như đang tìm lại mình của ngày chưa phải làm người lớn, dù tóc có chia hai màu thì vẫn còn có ba mẹ nhắc nhở mình từng chuyện nhỏ nhất thì còn gì hạnh phúc hơn. Tết thiêng liêng, nhưng gần gũi, mùa xuân đất trời thì rộng lượng cũng như lòng người luôn bao dung để ôm hết những yêu thương của cuộc thế để rồi san sẻ lại tình cảm đó cho từng mỗi đời riêng.Sài Gòn 05/12/2025Bùi Hoàng LinhĐá Đợi
Đợi, và đợi. Có đến khoảng gần một trăm người xếp hàng đợi. Mới có năm giờ sáng thôi! Trời Đà Lạt đổ sương xuống nghe ướt tóc, ướt vai. Phòng bán vé còn đóng kín cửa. Sáu giờ mới bán vé. Biết vậy rồi, nhưng đám đông người này vẫn đến sớm chờ đợi. Chẳng qua là số xe có giới hạn, mình đến sớm mới mong có xe đi, nếu không thì phải về và trở lại vào ngày mai. Người ta nhìn nhau, như ngầm nói qua đôi mắt rằng đến sớm chắc ăn hơn. Mà không chừng có người đã ngủ đêm trước phòng bán vé để được xếp hàng phía trên cùng. Đoan mỉm cười. Cũng là một dịp được dậy sớm, được nếm mùi giá lạnh, được thấy có những người “biết lo xa” như mình. Trông cũng trật tự, đàng hoàng lắm. Vài người như còn ngái ngủ, ngồi thụp xuống trên chiếc túi xách, nhắm mắt cho đỡ mỏi, đợi. Vài người như khó chịu khi phải im lặng quá lâu nên tìm chuyện để nói. Một người đàn bà bắt chuyện với Đoan:- Chà! Không biết họ chạy xe xăng hay xe than há em!Đoan giật mình, đáp:- Dạ, em không biết nữa!Người phụ nữ chép miệng:- Cầu Trời cho có xe chạy xăng. Đi xe than ngán lắm!- Chắc không đâu! Em nghĩ chạy đường đèo mà dùng xe than chắc không nổi.Nói rồi Đoan cũng cảm thấy lo. Biết đâu do thời buổi khó khăn, người ta cũng phải chạy xe than, loại xe “cải tiến” trong thời khan hiếm xăng dầu. Đoan nhớ tới lần nếm mùi đi xe than khi có dịp về miền Tây thăm bạn, đúng là hú hồn. Chiếc xe đò ọp ẹp cũ kỹ, có gắn một cái thùng sắt ở một bên phía sau đuôi. Đó chính là cái thùng đựng than củi. Xe chạy tốn rất ít xăng vì nhiên liệu chính là than củi được đốt cho cháy trong điều kiện thiếu không khí và tạo ra một loại khí đốt, giúp xe chạy được, Đoan chỉ nghe giải thích như vậy. Xe chạy được một quãng đường thì anh lơ xe lại dùng một cái que sắt dài để khều cho than cháy tiếp. Tro than rơi lả tả khắp đường, hắt vào những người chạy xe đàng sau. Còn hành khách trên xe đò cũng không khá hơn. Sau chuyến đi, mặt mũi áo quần của họ nhuốm đầy tro. Lần đó, được đi xe than, mà xe lại đông nghẹt, hết chỗ, người ngồi chen chúc lổn ngổn như cá hộp, Đoan năn nỉ anh lơ xe cho mình lên, và phải bám một tay vào cái thanh vịn ở cửa, cứ đu như thế mà đi hết chặng đường...Người phụ nữ hỏi tiếp:- Em đi Sài Gòn?- Dạ, em về Sài Gòn.Nói xong, Đoan giật mình khi nhận ra cả chị này và mình đều nói “Sài Gòn,” nghe vừa vui vừa buồn. Vậy là Sài Gòn của mình vẫn còn đó, dù đã mất tên. Tự nhiên cảm thấy gần gũi với người phụ nữ này, Đoan nói thêm:- Dạ em đi công tác trên này. Khi đi thì em nhờ xe cơ quan, về thì mua vé xe ngoài.- Sao em không về xe cơ quan?- Chờ về xe cơ quan phải đến tuần tới mới có. Em cần về gấp.- Vậy à?Câu chuyện có thể sẽ còn tiếp tục, nhưng kìa, cánh cửa sổ quầy vé đang mở ra. Đoan nhìn hàng mình xếp nãy giờ, cũng khá gần phía trên. Hy vọng mình sẽ có vé, không đến nỗi...Bỗng có tiếng một người phụ nữ ré lên. Rồi tiếp đó là nhiều tiếng la nữa. Có một người kêu Trời. Chuyện gì xảy ra vậy? Trong ánh sáng mờ mờ đầu ngày, Đoan thấy đám đông đang xếp hàng trật tự bỗng rạp xuống như một ruộng lúa trước gió, rồi vỡ ra thành nhiều mảnh. Ngay lúc đó, Đoan nghe đau thấu một bên vai. Chúa ơi, một thanh niên lực lưỡng từ đàng sau đang bước trên vai của Đoan. Chưa hết, tên này vừa vượt lên xong lại đến một tên khác đẩy Đoan ngã loạng choạng. Hắn chạy băng lên hàng trên. Người ta bước trên vai, trên đầu nhau. Những tên to lớn này đã thắng đám người yếu ớt, trở thành những kẻ ưu tiên mua được vé xe. Đám đông không còn bình tĩnh nữa. Họ tan hàng, xô đẩy nhau, mạnh tay gạt nhau để tiến lên hàng trên. Đoan như bị bẹp dí trong đám hỗn loạn đó. Người phụ nữ nói chuyện với Đoan vừa rồi biến đâu mất. Chị đang bị đè bẹp? Hay chị đã may mắn vượt được lên trên kia? Đoan thấy nghẹt thở quá. Phải thoát ra khỏi chốn này thôi!Đoan ngồi phịch xuống một bậc thềm, nghe thân người ê ẩm. Ôi, chuyện gì thế này? Nước mắt trào ra dù Đoan không muốn khóc. Người ta nói thời buổi này phải “Xếp Hàng Cả Ngày.” Cũng được đi! Nhưng xếp hàng rồi cũng “mạnh được, yếu thua” thì thật quá tội nghiệp!Chị ban nãy đã tới bên cạnh Đoan. Chị trông cũng bơ phờ. Nét mặt chán nản, chị nói với Đoan:- Chen không nổi với tụi nó, hết vé rồi em à! Uổng công mình xếp hàng cả đêm. Thôi, chắc ra mua cái vé chợ đen, khỏi phải đợi.------Đoan cho thêm một cây củi vào lò. Khói ùn lên, cay mắt. Nhưng mùi sả thơm phức hấp dẫn hơn nhiều, lấn át mùi khói. Đoan hít một hơi thật sâu. Mớ sả bằm trong chảo đã vàng rồi, Đoan cho thịt đã ướp gia vị vào, đảo đều. Chưa bao giờ thấy ngon mắt như vậy. Cuối cùng thì cho chén mắm ruốc vào, trộn tiếp. Hãy đợi, đợi cho đến khi thật khô. Màu thịt kho ruốc sả sao mà đẹp thế! Trong thời gian chờ đợi ấy, thật thương hại cho các giác quan của mình!Lâu lắm mới thấy một chảo nhiều thịt như vậy. Mọi người đi ngang đều hít thật mạnh. Nhưng bảo ăn thì ai cũng lắc đầu. Để cho cậu!Và thế là món thịt kho ruốc sả này, cùng với một chục thứ khác, được gói ghém cẩn thận, cho vào giỏ, chờ ngày mai xách đi “thăm nuôi.” Những gì thuộc về “thực phẩm” đều phải được làm thật khô để giữ được lâu. Ngoài món thịt kho ruốc sả, còn có những bánh lương khô tự làm từ gạo, bắp và bột mì. Rồi nào là đường tán, nào bánh quy, nào kẹo... Còn lại là vật dụng cho nhu cầu hàng ngày, khăn, áo, bàn chải, kem đánh răng... không thiếu thứ gì.Đoan về kịp đi cùng với mợ. Hai mợ cháu cẩn thận mang đầy đủ áo ấm. Ngoài đó lạnh lắm, phải chuẩn bị cho gió núi với mưa rừng. Hai mợ cháu không lạc lõng, bởi sau khi xuống ga xe lửa, họ đã gặp một số người cùng đi chuyến xe hàng lên trại. Mọi người trải qua một đêm trên xe, làm quen với nhau, và không ngại ngần trong những câu chuyện chia sẻ. Họ kể về gia cảnh của mình, về những nỗi gian truân mà họ trải qua sau cuộc đổi đời. Họ có một điểm chung: theo dấu chân của chồng từ các trại trong Nam ra đến ngoài Bắc. Đêm cũng nhờ đó mà qua nhanh.Trời hưng hửng sáng, xe đến trước cổng trại. Mọi người bảo nhau rằng còn phải lội bộ vào sâu bên trong, xe không được vào. Đoàn người mang các thứ lủ khủ kéo nhau đi. Ai cũng rét run. Cái lạnh thật lạ lùng, khó tả. Không phải như cái lạnh dịu dàng của Đà Lạt ngày xưa, với người người dạo phố áo mũ đầy màu sắc, nam nữ tay trong tay. Mà là một thứ lạnh như rút lấy sinh lực từ trong mỗi con người. Một thứ lạnh như roi quất trên da. Một thứ lạnh khô khốc, tàn nhẫn. Đoan ngước nhìn một vật sừng sững ngáng tầm nhìn của mình. Người ta nói “ngước nhìn rơi nón”, phải rồi, là núi. Núi cao lắm, ngước nhìn rơi nón. Mọi người cùng rùng mình.Đoàn người thăm nuôi phải ngồi túm tụm trong một cái chòi không có vách, nộp giấy tờ và chờ gọi tên. Còn hồi hộp hơn cả nghe xướng danh thi đậu. Và rồi lần lượt, họ đã được vào và biết bên trong kia, người thân của họ đang chờ. Mợ bắt đầu sốt ruột:- Sao mãi không nghe họ gọi mình?Đoan trấn an mợ:- Chắc... cậu sẽ ra sau, mợ ạ! Nhiều khi... cậu phải làm cái gì đó...Mợ gật đầu nhẹ. Đoan cảm thấy ái ngại quá. Mình cũng bồn chồn không kém. Mình biết gì đâu, cái thế giới bên trong kia? Mình chỉ hình dung trong trí tưởng tượng, cảnh đoàn người hàng ngày đi “làm lao động” trồng khoai trồng bắp. Mình chỉ thấy cậu, như chìm trong dòng người lam lũ, cắm cúi trên rẫy nương. Cậu, một buổi chiều nào đó, ngước mặt lên trời, tự hỏi bao giờ sẽ về... Có tiếng vọng từ vách núi cao như trả lời cho cậu. Khi quyết định không ra đi khỏi nước, hẳn cậu đã nghĩ đến cái ngày này. Nhưng cậu vẫn ở lại. Đúng hay sai, chỉ có cậu hiểu mình hơn ai hết.Đoan lén nhìn qua mợ. Trong ánh mắt không giấu được vẻ bồn chồn của mợ, còn chứa cả một sự chịu đựng. Sự chịu đựng không bùng nổ thành ngọn lửa, mà âm ỉ, ray rứt, như đã âm thầm tiếp nối từ ngày này qua ngày khác. Đoan từng chứng kiến có những lúc mợ để rơi những giọt nước mắt, nhưng rồi mợ luôn tỏ ra cứng rắn như một người cha nghiêm nghị. Mợ, như một cấp chỉ huy, cai quản đàn con 6 đứa của mình, cương quyết bắt đầu lại từ con số không.Cuối cùng, khi mọi người đã vào hết, mợ mới được gọi tên. Và chỉ một câu vỏn vẹn:- Người này... vừa mới được chuyển trại rồi, không còn ở đây.Mợ cuống quít hỏi:- Chuyển qua trại nào, ở đâu ạ?- Không biết. Bà về đi, chờ có tin báo rồi đi thăm.Hai mợ cháu đứng sững, không còn lời gì để nói, và cũng vì kẻ truyền lệnh kia đã quay lưng đi. Đoan chợt có lại cái cảm giác của người đứng xếp hàng cả đêm để cuối cùng bị người ta dẫm lên vai mình mà chạy... Rồi chính mợ là người nói như an ủi Đoan:- Mình về đi cháu! Lại đợi tiếp thôi! Biết kêu ca với ai ở đây được?Đi trở ngược con đường cũ. Còn phải lội ra tận đường lớn, hy vọng đón được một chiếc xe. Hai người cùng ngoái nhìn cổng trại rồi cúi xuống nhìn mấy cái giỏ thăm nuôi bây giờ nghe nặng trịch.Núi cao lùi lại sau lưng. Núi ơi, hãy đợi!------Đoan trở lại sở làm. Mọi việc vẫn bình thường. Mấy ngày vắng “sếp”, mọi người trong phòng tự lo công việc, như cái nề nếp đã được tạo thành từ thời trước. Thế nhưng Đoan cảm thấy có một điều gì đó không bình thường. Hình như thiếu tiếng cười. Mọi ngày, dù no hay đói, các dì các chị vẫn chuyện trò, vẫn hay nói chuyện tếu cho vui. Nào chuyện đi hái bông súng, đi bắt còng để làm thức ăn cứu đói, đến chuyện chăn heo “làm đời sống” trong sở... Hôm nay không khí có vẻ hơi trầm xuống. Đoan đi một vòng, hỏi thăm các chị. Thiếu một người: dì Tám.- Các chị ơi! Dì Tám hôm nay nghỉ sao ạ? Dì có đau ốm gì không?Chị Bảy kéo Đoan lại, nói thật nhỏ:- Chị Tám có đi làm, nhưng ngồi ở trong kho ấy! Chỉ không muốn ai hỏi tới mình.- Có chuyện gì vậy? Em chưa hiểu.- Chuyện nhà của chỉ... rầu lắm. Mình chỉ biết sơ thôi, chỉ không muốn nói nhiều. Đoan thử hỏi thăm chỉ coi sao.- Dạ.Đoan đi vào kho. Đây là nơi chứa vật liệu và dụng cụ dự trữ để dùng hàng ngày, nào chai lọ, nào bông gòn, nào giấy gói... Dưới ánh sáng mù mờ, Đoan thấy một người ngồi bất động trong góc phòng. Dì Tám đó hay sao? Như một người lạ mình chưa từng gặp. Nghe động, người đó giật mình, rồi trong một cử chỉ lạ lùng, co rúm cả người lại như bị điện giật. Đoan kinh ngạc, lấy lại sự bình tĩnh rồi rón rén đến gần. Chính là dì Tám mà! Nhưng là một dì Tám gầy guộc, nét mặt u ám, ánh mắt thất thần. Đoan gọi khẽ:- Dì Tám! Đoan đây dì Tám! Cháu mới đi làm lại. Dì Tám... có khỏe không?Đoan e dè, ngập ngừng, như sợ một lời vô ý nào đó sẽ làm kinh động người trước mặt. Cái gì đã làm cho một dì Tám hiền hậu, từ tốn hàng ngày bỗng trở thành như vậy? Dì không trả lời, chỉ lắc đầu. Đoan tiến thêm đến gần hơn. Và thấy dì không lộ vẻ phản đối, Đoan ngồi xuống bên cạnh dì:- Dì Tám ơi, có chuyện gì, dì Tám kể cho cháu nghe được không?Dì Tám nhìn Đoan chằm chằm. Rồi như chợt nhận ra một điều gì, dì Tám lẩm bẩm:- Còn gì mà nói!- Dì Tám nói cho cháu nghe đi, giống như mỗi ngày dì Tám vẫn kể chuyện cho cháu đó!- Cô... không hiểu đâu! Không ai hiểu đâu!- Dì kể, cháu sẽ ráng hiểu.Đoan nhẹ nhàng nắm bàn tay gầy guộc của dì Tám. Im lặng một lúc... Bỗng nghe giọng dì Tám run run, nói như tiếng gió:- Cái nhà của tôi, không còn là cái nhà của tôi... Con người đó, tôi đợi đã mấy mươi năm. Gặp lại, tôi mừng lắm! Con gái tôi cũng mừng. Nó gặp cha nó. Nó chưa gặp cha bao giờ. Con tôi đã có cha. Nhưng mà tôi không còn người chồng. Con người ấy, đem một gia đình vào ra mắt tôi. Tôi biết làm gì đây? Tôi thương hại. Tôi phải chấp nhận. Tôi... có cái gì trong nhà đem bán hết, lấy tiền lo cho họ. Tôi vẫn không có chồng. Tôi... mất hết rồi! Mất hết rồi!..Như một nỗi đau òa vỡ, dì Tám khóc trên vai Đoan. Ôi Trời! Vết thương tâm lý quá nặng nề. Đoan đã biết chuyện người chồng đi tập kết, vào tìm lại dì và người con gái, mang theo cái gia đình của ông, từ ngoài Bắc. Hôm nay câu chuyện đã đến hồi kết, đó là sức chịu đựng của dì Tám đã cạn. Bao nhiêu sự gắng gượng của dì đã biến hóa thành sự sa sút một cách thê thảm. Phải chăng nó còn đau thương hơn cả cái chết?Dì Tám khóc được rồi, thần sắc như có trở lại một chút. Dì nói:- Xin lỗi cô.- Dì ơi, cháu thương dì.Không biết rồi nỗi khổ của dì Tám bao giờ mới hết? Dù sao, trong lúc này, đưa được dì Tám ra ngồi ở bàn làm việc, Đoan thấy tạm yên tâm.Có điện thoại mời đi họp. Đoan rời phòng, ra hành lang, băng qua khoảng sân rộng, đến phòng họp ở dãy nhà đối diện. Trong giờ làm việc, không gian bên ngoài thật yên tĩnh. Đoan chào người làm vườn đang tưới những khóm hoa đủ màu sắc. Chợt giật mình khi nhìn thấy thấp thoáng ở cuối đường, có một nơi gọi là chuồng heo, nơi mà mỗi tuần một lần Đoan cùng dì Tám đi xuống đó làm cái gọi là “công tác đời sống.” Mọi người luân phiên đi chăn heo. Đoan bàng hoàng. Ngước mặt nhìn trời, khoảng trời xanh thơ mộng, Đoan nhớ ngay đến những ngọn núi cao in trên nền trời xám. Ngước nhìn rơi nón! Rồi như thấy rất rõ những con người lầm lũi đi trong cái lạnh cắt da của núi rừng miền Bắc. Những người mẹ, người vợ chắt chiu đi thăm nuôi, nhưng có khi phải trở về mà chưa gặp được người thân. Hình bóng của họ như cũng khắc sâu vào đá núi. Núi ơi, hãy đợi cùng! Nhưng so ra, dù phải đợi, ít ra họ, như mợ, cũng còn có cái hạnh phúc được đợi, được mong cái ngày gặp lại người thân yêu. Còn như dì Tám, dì không còn cái để mà đợi. Ôi buồn!Đợi! Đợi đến bao giờ? Người ta vẫn đợi. Vẫn đợi, dù hóa ra đá.Cam Li Nguyễn Thị Mỹ ThanhMùi quê
Con bé muốn khóc khi nhìn bữa trưa chỉ lưng chén khoai độn nhúm cơm. Nó năn nỉ mẹ. Cho con một muỗng cơm, đừng độn khoai khô, chỉ nguyên hạt cơm. Con sợ mùi nắng trong chén khoai khô lắm! Mẹ lặng lẽ nghiêng vá lách qua từng lát khoai cho nó đầy một muỗng. Nhà bốn năm người với một bơ gạo, không độn khoai thì lấy chi đủ bữa. Bao năm rồi nó nhớ, ân hận rồi lại tự nhủ: Vì nó ốm yếu và được ngoại cưng chiều quá đó thôi. Nhưng cậu em trai tóc cháy khét mùi nắng, mới hơn 5 tuổi vẫn háo hức ngồi nhai, mắt nhìn chị như vẻ ngạc nhiên lắm.Tôi nhớ mùi nắng trên những ngọn đồi. Những vũng nước xanh khuất dưới vạt lúa non mùi sữa. Mùi nắng trong rơm rạ mới cắt, trong thứ rơm ủ mục cho đến cuối mùa thu. Nhưng mùi nắng trong chén khoai lang phơi khô vẫn làm tôi sợ. Không dám ngoái lại vì những lần rời xa ngôi làng chạy cho kịp chuyến tàu chợ réo còi là nước mắt lưng tròng. Không dám ngoái lại khi những cơn gió bấc đổ về thung lũng cứ làm đám cỏ may rạp xuống, co lại, rét buốt. Ngồi bên cửa sổ con tàu những gồng gánh bao bì chồng chất, tiếng ho, mùi khói thuốc, tiếng mấy gã thợ rừng có mùi men chửi thề, tiếng con nít khóc ré vẫn không sao bứt được ý nghĩ ngoài cánh đồng gió bấc kia trời đang lạnh buốt. Mẹ dầm đôi chân nứt nẻ dưới bùn sâu. Không dám ngoái lại vì tiếng kêu cứ nghẹn đi trong cổ họng. Biết bao giờ ngôi làng dưới thung lũng thấp này mới no đủ vui tươi như bức tranh thôn quê êm đềm trong những bài thơ đã đọc…Hôm nay, tôi đã cười rất nhiều với bạn đồng hành lúc gặp con đường sắt vừa vượt ngang qua khỏi sườn đồi. Những ruộng lúa non xanh mướt mắt, bờ dọc bờ ngang hoa cánh bướm vàng trắng dập dờn, một chiếc bảng gỗ với hai mũi tên chỉ về phía nhà ga bất ngờ hiện ra. Tôi đang về nhà!
Nhà tôi bên kia đồi. Ngày nào vói trông ngọn đồi cao vút qua những tàng cây bây giờ chỉ giống như một ốc đảo nhỏ um tùm cây cối. Ngọn đồi nhô lên quá tầm hàng hàng lối lối keo tràm xanh tít tắp rồi đổ tràn màu xanh tới những thửa ruộng lúa non dợn sóng. Thấp thoáng giữa vùng cây xanh là những ngôi nhà bề thế khang trang cửa gỗ tường đúc mái ngói đỏ xanh. Có đường lớn rải nhựa vào tận thôn và đường bê tông chạy vào từng ngõ.
Chúng tôi bất ngờ ồ lên khi thấy một cây xăng khá lớn. Một cây xăng cho một ngôi làng! Thật tiện lợi cho việc kinh doanh và sinh hoạt của bà con.
Trên con dốc đổ xuống nhà ga và khu chợ người mua kẻ bán là mấy ngôi nhà xây kiểu biệt thự vườn, hàng rào đầy hoa dây leo, bên vệ đường đám hoa tím rung rinh khoe sắc.
Tôi không tìm ra dấu vết đám trẻ chân trần xua bầy trâu trên con đường bùn đất nhão nhẹt. Tôi không còn nhớ rõ đồng cỏ may cuốn theo chiều gió tấp về phía con tàu đang lăn bánh bây giờ nằm ở đâu. Nhà trẻ, sân phơi, cửa hiệu tạp hóa, trạm xá, ủy ban… Những công trình mới lấp đầy và xóa đi kí ức buồn bã những ngày tôi rời quê lên phố.Tôi mặc áo dài lụa cùng với các chị em đi dự lễ khánh thành nhà thờ họ. Những tà áo đủ màu bay bay trong nắng. Con đường đến nhà thờ vòng qua chiếc cầu nhỏ giữa hai bờ cỏ hoa xuyến chi dập dờn. Cười nhiều thế mà bỗng dưng nước mắt như trào ra. Là khi không thấy vạt khoai đang độ lá non lại bất giác nhớ đến mùi nắng trong chén cơm độn khoai khô ngày nào…
Trăng mùa thu dịu dàng đổ tràn trên nền sân gạch. Chị em tôi ngồi trong căn bếp rộng có màn hình tivi, bàn ăn bằng gỗ bày biện đủ món. Thịt heo thịt gà nhà nuôi, rau non canh cá vừa bắt từ hồ. Em tôi làm bếp thật khéo. Món nào cũng thơm ngon nguyên vị đồng quê thơm thảo. Tôi dừng đũa trên chiếc mẹt tre trải lá chuối. Những củ khoai vừa nướng nóng hổi.
– Chị còn sợ mùi khoai khô nữa không?
Tôi cắn từng miếng nhỏ. Khoai đất đồi lùi trong than củi sém vàng, vị thơm bùi và ngọt:
– Chị thích khoai nướng, nhất là những củ khoai ngoại nướng dưới than củi cây sim. Nhưng khoai khô độn cơm thì chị vẫn còn sợ.
Mắt mẹ rơm rớm khi nhắc đến ngoại. Chúng tôi như lũ trẻ trở về với củi khô lá non, với đồng xa đồng gần tiếng sáo đêm trăng tiếng chày giã gạo trưa vắng.
Tôi bước ra sân. Bên giếng nhà đã được bắt vòi bơm, chiếc gàu cũ vẫn treo trên nhánh thanh trà. Bầy gà tự giác lên chuồng từ chập tối co chân mắt khép mắt mở…
Chúng ta đã đi quá xa cũng chỉ mong đến hồi được quay trở lại. Những mơ ước chân trời rộng lớn, những diễn ngôn hối hả thường nhật bỗng nhòe mờ đi khi ánh trăng rắc ánh bạc và mùi hương khu vườn thơ ấu dâng đầy lên mắt. Hạnh phúc thay cho những kẻ có nơi chốn để tìm về!Ngọc Diệp Trần