

Cỏ hoang
Như một con sâu nhỏ bé có thể tự bảo vệ bằng bề ngoài kinh khiếp của nó, như một cô gái, thiếu sắc đẹp, hấp dẫn kẻ khác phái bằng một thứ duyên thầm, bằng chính sự không may của mình, ngôi trường của tôi càng ngày càng trở nên dễ thương đối với những người đã từng chán ghét nó trong buổi gặp gỡ đầu tiên. Tất cả những điều đáng ghét, đáng sợ của ngôi trường này dần dần trở thành những sự khôi hài. Rồi sau này, khi những sự kỳ quái của ngôi trường đã hoàn toàn biến mất thì chúng tôi vẫn muốn nhắc nhở lại chuyện cũ như nói đến những kỷ niệm êm đềm, khó quên.
Hồi mới được xây lên, trường chỉ có hai lớp nhỏ bé, thấp và sơ sài như những căn nhà nghèo. Mái tôn thấp và nung nóng đến nỗi tôi có cảm tưởng thà vứt bỏ mái đi ngồi ngay dưới ánh nắng mặt trời còn thoải mái, dễ chịu hơn. Trong những ngày nắng to, nhìn lũ trẻ vừa vuốt mồ hôi vừa cặm cụi làm toán, thỉnh thoảng lại ngừng bút cầm vở quạt phành phạch, tôi nghĩ rằng nếu nhà trường không cho chúng được một số vốn kiến thức thì ít nhất cũng đã dạy chúng một bài học kiên nhẫn và chịu đựng. Ngày mưa thì còn tệ hơn, nước dội ào ào xuống mái tôn, tôi có gân cổ gào to đến mấy chúng cũng chẳng nghe thấy gì, tốt hơn hết là cho chúng ngồi xúm vào một chỗ không bị dột, để chờ mưa ngớt. Và như thế tôi lại còn có thì giờ để lo bảo vệ sổ sách khỏi bị ướt sũng.
Ngày đầu được gửi đến làm việc ở đây tôi đã đi hàng giờ để kiếm cái bảng tên trường mà mãi ba năm sau mới có. Rồi tôi mất nửa giờ nữa để đứng lặng nhìn ngôi trường, tồi tàn quá sức tưởng tượng, cứ phân vân chẳng hiểu kẻ chỉ đường có chủ tâm chơi xỏ hay đánh lừa mình không.
Một cái hàng rào để định ranh giới của ngôi trường cũng không có. Trường nằm chung trên một phần đất rộng với trạm y tế độc nhất của vùng ngoại ô, và một cái chợ nhỏ. Sân trường đầy cỏ hoang và những cây gai um tùm, đó là nơi tụ họp của các loài ngan, ngỗng, vịt, gà, chó, heo. Người lao công trông coi ở đây già yếu đến nỗi không ai nỡ nặng lời với ông ta. Ông ta chỉ cầm nổi cái chổi khi đã tỉnh rượu, và thường thường ông ta chỉ tỉnh rượu khi đã lên giường ngủ được một vài giờ, thời gian độc nhất có thể khiến ông ta tạm xa chai rượu.
Những ngày làm việc sau đó tôi phải đối phó với đủ thứ chuyện bất ngờ. Có nhiều lúc tôi ngẩn ra không biết phải phản ứng như thế nào cho hợp. Trong tất cả những sách vở viết về khoa sư phạm mà tôi đã được đọc, tôi chưa thấy một tác giả nào nêu ra trường hợp một ông thầy đang hăng hái giảng bài phải giật mình vì thấy một con heo đùng đùng chạy vào lớp mình. Con heo to lớn, dẫn theo một bầy con lít nhít, kêu eng éc, chẳng coi ai ra gì. Lớp tôi có hai cửa nên đã trở thành con đường giao thông ngắn nhất từ sân trường về chuồng của lũ heo, ở trong một căn nhà hàng xóm của nhà trường. Thấy tôi vô tình đứng cản đường đi của mẹ con nó, con heo đứng lại kêu to phản đối, mấy con heo con nhân dịp đó, bỏ hàng ngũ chạy đại vào những khoảng trống giữa hai dãy ghế học trò ngồi. Ấy thế là cái trật tự của lớp mà tôi đã mất bao công lao mới tạo được đột nhiên bị phá vỡ. Lũ trẻ nhao nhao nhảy ra khỏi chỗ để chống lại sự xâm lăng của bầy heo, dĩ nhiên, tôi cũng phải ngừng giảng bài để hợp tác với lũ học trò. Lớp học tràn đầy một không khí kỳ quái với tiếng trẻ la hét, dậm dọa, xen lẫn tiếng heo kêu. Mấy con chó cũng thi nhau chạy vùn vụt qua lớp luôn luôn. Về sau tôi không dám mở to cửa lớp ra nữa và lúc nào cũng phải để ý canh chừng để xua đuổi kịp thời những sự bất ngờ này.
Cái chợ ở ven trường thì lúc nào cũng ồn ào và có nhiều vụ cãi nhau hơn cả các chợ khác. Khi có vài bà bán tôm bán cá đùng đùng nổi giận mà chia làm hai phe đấu khẩu, chửi rủa nhau thì khó mà ngăn những câu nói của họ khỏi bay vào lớp học, dù tôi có đóng hết các cửa lại. Tôi bắt lũ học trò ngồi thật nghiêm trang, và cố gắng giảng cho chúng nghe những điều thật đặc biệt, nhưng vô ích, một vài câu chửi gợi lên những hình ảnh quá tục tĩu vẫn làm cho vài đứa bật ra khúc khích cười.
Phải mất hàng hai ba tháng trời tôi mới triệt được cái bệnh văng tục, bệnh ở bẩn của lũ học trò. Nhưng đó chỉ là những điều vụn vặt, khiến tôi bực mình, không gây nên sự chán nản.
Cái việc gây nhiều khó khăn, cản trở cho công việc của tôi, chính là đời sống của người dân ở đây. Ngoài một số rất hiếm người khá giả, thì người dân ở đây đều nghèo khổ. Họ không có một cơ sở hay việc làm vững chắc như người thành phố hay có một việc làm hiền lành như người miền quê. Họ như từ bốn phương tụ lại, đại diện cho khắp nơi và sống bằng đủ các thứ nghề, lương thiện có mà không lương thiện cũng có. Như những cây cối mọc chen chúc trong một khu vườn hoang họ vươn lên, tìm sống bằng các phương tiện hợp với khả năng họ, trong tầm tay họ. Và họ đã tạo nên được cái vẻ muôn mặt, hỗn độn, bí mật của một vùng ngoại ô cằn cỗi.
Vì thế, tôi không thể giảng một bài đức dục nào mà lại hoàn toàn không động chạm đến nghề nghiệp, tật xấu, hay quá khứ của một ông chủ gia đình. Khi tôi nêu ra một điều tệ hại cần tránh và thấy lũ học trò quay cả về phía một đứa đang cúi đầu ngượng nghịu thì tôi biết ngay rằng ba thằng bé này làm nghề gì. Có lần, sau một hồi hăng hái giảng về sự tai hại của tính mê tín dị đoan và sự láo khoét của mấy ông thầy pháp, tôi phải ngẩn người vì một thằng học trò bỗng đứng bật dậy, chỉ vào một đứa khác tố cáo:
– Thưa thầy, tía anh nầy cũng là thầy pháp, tối nào tía anh ấy cũng đi cúng.
Ðứa học trò có người cha bị tố cáo ngượng ngùng lấm lét nhìn tôi, miệng cười gượng, tay cấu mãi vào một góc vở, đôi mắt nó nhìn tôi để lộ những tia sợ hãi, tuyệt vọng, khổ sở. Thì ra ba nó chính là cái ông thầy pháp đã từng làm tôi mất ngủ, khó chịu. Ðêm đêm, khi cúng bái cho một nhà nào ông ta thường mặc bộ quần áo màu sặc sỡ, khua chiêng đánh mõ om sòm và thỉnh thoảng lại thổi một tiếng kèn ngắn ngủi, quái đản, nghe thật ghê sợ. Tôi vội vàng mắng át đứa kia và quả thực, sau đó, phải chật vật lắm tôi mới có thể làm cho lũ học trò, vừa biết rõ sự bịp bợm của mấy ông thầy pháp, lại vừa tin rằng ba của đứa học trò kia, dù thế nào cũng vẫn phải được kính yêu. Chúng chưa đủ trí khôn để tìm thấy sự mâu thuẫn trong cách giải thích của tôi. Nhưng thế nào mà chả có đứa phân vân. Thành ra tôi đã mở mắt cho chúng để chúng nhìn thấy những sai lầm trên các người sinh thành ra chúng.
Lũ trẻ thường bị rơi vào giữa gọng kìm của một cuộc đời thực tế và một cuộc đời tốt đẹp trong sách vở.Chúng trở nên hiền lành, sợ hãi một cách thật đáng thương.Nhưng càng mến yêu lũ học trò thì tôi càng tỏ ra nghiêm khắc với chúng. Tôi đã làm ngược lại những điều mà lớp người trước căn dặn tôi: phải tạo một không khí thân mật giữa thầy và trò, phải cho học trò thấy rõ là mình rất thương mến chúng. Nếu tôi cố gắng tạo cho lớp học một không khí quá vui tươi, cởi mở thì sẽ có nhiều đứa học trò của tôi nhìn thấy gia đình chúng là một nơi thật đáng ghét, đáng sợ, đôi khi mang dấu vết xấu xa, tối tăm của địa ngục. Có đứa coi những giờ đến trường là những giờ được nghỉ ngơi sung sướng nhất, bởi vì khi trở về nhà nó phải làm việc quần quật suốt ngày. Khi được giao công việc nhẹ nhàng nhất là việc bế em thì lập tức chúng lại tìm đến sân trường, chơi đùa với lũ học trò ở đây, sung sướng như đang sống trong một thiên đường nhỏ. Tôi cố giả vờ tạo một bộ mặt nghiêm khắc đến thế nào thì cũng không thể làm cho chúng sợ hãi bằng nét mặt cau có của một người cha say rượu khi ông ta cầm trong tay một thanh củi lớn và hung hăng đập lên người chúng như đập lên một kẻ tử thù. Phải thấy cha mẹ mình lầm lỗi và bị hàng xóm khinh ghét một đứa học trò cảm thấy đau đớn, tủi hổ gấp trăm, ngàn lần những khi nó bị phạt ở nhà trường. Có những đứa trẻ quen chịu đựng sự cực khổ đến nỗi lúc nào nó cũng giữ được vẻ thản nhiên, ấy thế mà khi bị ốm nằm nhà, thấy thầy và bạn đến thăm nó lại đâm sững sờ rồi bật khóc nức nở. Tình thương, sự săn sóc đến bất ngờ quá khiến nó ngẩn ngơ, kinh ngạc.
Ðối với những đứa trẻ không được đi học tới 5 năm trời thì sự sung sướng của thế giới học trò thường làm chúng khổ sở khi phải rời khỏi học đường. Trường hợp của trò Dũng đã khiến tôi thấy rõ điều này. Ðã có nhiều đứa đang học thình lình phải bỏ ngang để đi học nghề. Nhưng chỉ có cái buồn rầu của trò Dũng trong lần cuối cùng nó rời khỏi lớp học là được ghi đậm trong ký ức tôi.
Cho đến bây giờ, ngôi trường đã được kiến thiết đẹp đẽ, sân trường không còn một sợi cỏ, thế mà mỗi lần nhìn thấy những luồng gió lốc tung cát, chạy quanh trong sân trường, tôi tưởng như vẫn thấy bóng trò Dũng ngập ngừng bước bên đám cỏ hoang, đôi bàn chân đen đủi của nó còn ghi vết trên con đường nhỏ.
Trong buổi học của ngày đầu niên học tôi đã chú ý ngay đến nó. Ngồi ở dãy bàn cuối lớp, Dũng cao hơn các bạn nó hẳn một đầu. Nét mặt nó lúc nào cũng tươi tỉnh, làn da đen xám khiến nó càng có vẻ láu lỉnh, khôn ngoan. Nó quay sang bên phải nhe răng cười rồi lại quay sang bên trái nháy mắt như có điều gì thú vị lắm. Ðầu tiên tôi tưởng nó thuộc loại những đứa trẻ lớn đầu và ngỗ nghịch. Nhưng khi tôi gọi đến nó thì nó lại tỏ ra là một đứa trẻ hết sức lễ phép và ngoan ngoãn. Tôi chưa thấy đứa trẻ nào tha thiết, sốt sắng với công việc của lớp học như trò Dũng. Tính sốt sắng ấy nhiều khi trở nên quá đáng. Tôi vừa hỏi có trò nào viết trên bảng được không thì lập tức Dũng nhỏm ngay dậy. Ngoài cánh tay giơ cao nhất lớp nó còn át các bạn của nó bằng cách nói lia lịa:
– Con viết được, con viết được, thầy cho con viết.
Và tôi vừa gật đầu là nó đã hấp tấp chạy lên bảng để rồi viết ra những hàng chữ ngả nghiêng, leo dốc xuống đèo làm cho cả lớp kêu ầm ĩ vì không đọc nổi. Trong những ngày sau đó Dũng trở thành nguồn vui của lớp học. Trước câu hỏi của tôi, dù khó khăn đến đâu nó cũng giơ tay xin trả lời, và trả lời mười lần sai hết chín. Dũng viết những chữ rất xấu, nhưng nó có tài giữ gìn sách vở. Nó thường chỉ nổi giận khi có một đứa bạn làm dây mực vào sách vở của nó. Thỉnh thoảng nó lại đem tặng lớp học một món quà nhỏ. Và lớp học dần dần có vẻ tươi mát với những cây leo trồng trong một cái bóng đèn điện chứa đầy nước, hay trong một con ốc nhiều màu.
Thỉnh thoảng Dũng lại đem đến lớp một cái búa và mấy cái đinh để sửa lại những bàn ghế quá ọp ẹp, mà bọn học trò nhỏ của tôi thường vin vào đó để lấy cớ cãi nhau.
Dần dần bọn học trò tôi cũng khám phá ra cái tính sốt sắng của Dũng và bắt đầu lợi dụng nó. Chúng giao cho thằng Dũng đủ các việc lặt vặt, nhất là những việc có liên can đến mục vệ sinh của lớp. Dũng nhận làm hết. Ðứa nào có đồ chơi hay một vật dụng gì hư hỏng đều có thể nhờ đến bàn tay sửa sang của thằng Dũng. Có lần nó sửa được cả bộ máy của một chiếc xe hơi nhỏ chạy dây cót, khá rắc rối mà nó mới được mở xem lần đầu. Chủ nhân của chiếc xe khoái quá thưởng công Dũng bằng cách cho nó mượn về chơi hẳn một ngày.
Nhờ cái tài khéo tay này mà Dũng vẫn đứng đầu về môn thủ công. Trong kỳ chấm bài lũ trẻ thường hồi hộp chờ xem tác phẩm của nó. Ðể cho những món nó làm ra thêm phần giá trị, Dũng thường có một lối giấu giếm và pha trò rất khôn khéo. Một lần nó nặn được một quả chuối, tô màu giống hệt như quả chuối thật, nó gói kỹ trong một tờ giấy, và mặc cho mấy đứa trẻ khác chạy theo gạ gẫm, năn nỉ, nó không cho đứa nào xem cả. Gần tới giờ thủ công Dũng mới giở quả chuối ra giơ lên rồi, miệng há tròn, nó giả vờ như sắp đớp quả chuối làm cho những đứa khác cùng ồ lên, phục lăn.
Vì học hành thất thường nên Dũng chỉ đứng hạng trung bình trong lớp, nhưng nó khá thông minh và chăm nên không mấy khi tôi phải trách nó về tội lười. Vẻ tha thiết với việc học của nó hiện rõ nhất khi nó làm một bài làm chậm hơn các bạn, nó cuống quít lên và dù hay dù dở nó cũng cố gắng xin tôi cho điểm. Nếu chỉ vì chậm chân mà nó không được phê điểm thì nó tỏ ra khổ sở, bực bội lắm. Vào những ngày trả bài luận, Dũng có vẻ hồi hộp, lo lắng của một con bạc trước khi biết kết quả tiếng bạc của mình. Cầm cuốn vở luận trong tay, Dũng ngửa mặt lên, đôi mắt nhắm nghiền, miệng lẩm bẩm như khấn khứa, rồi thình lình nó mở bung quyển vở ra để xem điểm. Nếu thấy được điểm khá nụ cười liền cũng bật tung ra, tràn lan trên khuôn mặt đen xạm của nó, làm cho đôi mắt long lanh sáng. Nhấp nhổm trên chỗ ngồi, hai tay nó hích phải hích trái, nó có vẻ muốn cười phá lên, vỗ tay mà rồi không dám. Nó cười với đứa bên phải, khẽ “hì hì” vào tận tai đứa bên trái, và kéo cả cổ áo của đứa ngồi trước mặt để cho thằng kia rõ sự thành công của nó. Có lần tôi phải mắng nó về cái tội đã dám đóng khung, tô màu và vẽ hoa lá xung quanh con số mười điểm mà nó kiếm được nhờ một bài chính tả không có lỗi.
Ðiều đáng tiếc nhất là Dũng làm luận rất dở, bao giờ nó cũng ba hoa đến độ thành lạc đề và chẳng mấy khi được điểm cao. Trong suốt năm học nó chỉ có mỗi một bài thật khá mà lại không được điểm, đó là bài tả một đám cãi nhau. Nó viết kín ba trang giấy, nhắc lại rất trung thành lời nói của hai địch thủ tặng cho nhau. Tuy nó cũng biết loại bỏ những câu quá đáng, nhưng bài ấy vẫn bị tôi kiểm duyệt, giống như những bài văn tả chân thường gặp bước không may.
Quả thực, chưa bao giờ tôi thấy trò Dũng nói chuyện trong lúc tôi giảng bài. Mỗi lần tôi lên tiếng là nó khoanh tay, chăm chú ngước nhìn, chờ đợi. Những lần có một con heo hay con chó nhào vào phá đám giữa lúc tôi đang nói thì Dũng thường nổi giận, nó kêu với vẻ vừa thất vọng vừa tức tối:
– Trời đất ơi!…Và nó tự động nhảy ra khỏi chỗ, vừa hò hét vừa đuổi theo con vật cho đến cuối sân trường.Vì là đứa lớn tuổi nhất lớp nên nó cũng thường tỏ ra khôn ngoan, dễ biết ý tôi hơn các trẻ khác. Khi ở các nhà bên cạnh trường có những vụ cãi vả, những vụ đánh nhau, trong lúc những đứa khác đứng dậy, nhìn qua cửa sổ thì thằng Dũng cau có xin phép tôi cho đóng các cửa sổ lại. Nó đã biết những lời thô tục làm vẩn đục cả không khí của học đường. Nó mến thầy, mến bạn, mến lớp học và lúc nào cũng chỉ muốn bảo vệ, che chở cho cái lớp học của nó.
Nhưng học đều đặn được chừng ba tháng thì thằng Dũng bắt đầu đến lớp thất thường, bỏ bê việc học hành. Tôi đã quen với những vụ nghỉ học trường kỳ của lũ học trò. Vào những ngày cuối năm, khi một người Tàu già đội chiếc mũ cói rộng vành bắt đầu bón nhiều phân lên một vườn rau cải nhỏ của ông ta ở gần trường, thì lớp học của tôi bắt đầu thưa thớt. Chẳng phải lũ trẻ không chịu đựng nổi mùi phân bón bốc lên nồng nặc, làm chúng phải vừa bịt mũi vừa học, mà chính vì trong thời gian này, chúng phải đem cái sức nhỏ bé ra để giúp đỡ cha mẹ chúng. Có đứa vừa phải coi nhà vừa giữ em cho cha chúng đem hoa đi bán. Có đứa phải phụ với cha mẹ trong công việc gánh hàng ra chợ. Có đứa phải gạt hết sách vở để suốt ngày cưa sừng làm lược, hay cặm cụi đánh từng con suốt chỉ cho bà mẹ dệt vải. Buổi tối, trong lúc ngồi hóng gió trước nhà, tôi thường thấy hai đứa học trò ngoan nhất của tôi đi bán bánh trên con đường dài, không có ánh đèn, dẫn vào các xóm nhà nghèo. Chúng là con một người đàn bà gốc Trung Hoa sống bằng nghề bán hoa quả lặt vặt. Ðồ đạc của hai đứa trẻ này là một cái thúng có đựng những miếng bánh bò màu trắng, hoặc vàng úa đã cắt sẵn, để thành từng lớp có thứ tự. Mỗi đứa khiêng một đầu đòn gánh, lồng qua quang gánh mang cái thúng. Thằng em đi trước cầm chiếc đèn bão soi đường thỉnh thoảng lại cất tiếng rao. Thằng anh đi sau giữ tiền. Hai đứa giống nhau từ mái tóc, nét mặt đến bộ quần áo. Khi có người gọi lại, chúng vội vàng đặt gánh xuống. Thằng em nhấc ngay cái lồng bàn che bánh lên, thằng anh ngồi thụp xuống, dùng một cái xiên sắt lấy bánh ra, gói vào giấy, trao hàng và nhận tiền. Chúng đã chia nhau từng cử chỉ lặt vặt ấy. Ánh đèn bão mập mờ soi hai nét mặt trẻ lúc nào cũng bình thản, không còn dấu vết tinh quái, nghịch ngợm của những đứa trẻ bình thường.
Có khi lên giường nằm rồi tôi còn nghe tiếng rao của chúng vang lên đột ngột, cô đơn như một tiếng động vừa rơi lơ lửng vào giữa bầu trời mênh mông của miền ngoại ô. Ánh đèn của chúng hắt qua khe cửa nhà tôi tạo thành những vệt sáng dài, vừa run rẩy vừa di chuyển chậm chạp trên tường. Nếu trong buổi học ngày hôm sau đó chúng có không thuộc bài tôi cũng gắng cho chúng điểm trung bình.
Nhưng bọn trẻ này nghỉ học bận việc có định kỳ, một năm chúng chỉ nghỉ một lần thật lâu rồi lại đi học đều đặn. Trái lại, trò Dũng nghỉ vài ngày rồi lại đi, rồi lại nghỉ vài ngày. Mỗi lần đến trường nó vẫn tỏ ra sung sướng, vui vẻ say mê với việc học. Cuối buổi học, trong giờ hoạt động thanh niên nó vẫn hăng hái cộng tác với các bạn để làm vui cho cả lớp. Hoặc nó ca vài câu, kể một câu chuyện, hoặc nó xắn quần ống cao ống thấp, bôi phấn vào mặt, vẽ râu để làm anh hề trong một kịch vui, làm cho cả lớp cười bò. Từ sau bảng bước ra, nó mới nheo mắt, nhe răng, đi khệnh khạng, chưa kịp nói câu gì, là lũ bạn nhỏ của nó đã không nín cười được. Thành ra, những hôm vắng thằng Dũng tự nhiên lũ trẻ mất vui, cảm thấy nhớ. Có đứa tức quá đứng lên tố cáo:
– Thưa thầy, anh Dũng bỏ học đi chơi đấy ạ.
Vài đứa khác lại nhao lên bênh vực:
– Thưa thầy anh ấy ở nhà bế em cho má anh ấy đi chợ.
– Anh ấy phải trông nhà.
Dũng cũng nêu những lý do đó để xin nghỉ học. Tôi đành phải tin nó vì cha mẹ nó chẳng bao giờ chịu đến trường xin phép nghỉ cho con. Một lần gặp thằng Dũng đang loay hoay phụ giúp với một người đàn ông sửa một chiếc xe trong một căn nhà nhỏ, mái tranh, lập chênh vênh ven bờ ruộng, trên con đường vào thành phố, tôi mới biết người đàn ông đó chính là cha Dũng. Ông ta làm nghề sửa xe đạp, xe gắn máy chứ không phải “buôn bán” như ông ta đã ghi trong lý lịch của con. Hai cha con đều mặc những bộ quần áo ka-ki đen đặc dầu mỡ, chắc trước kia màu vàng. Thấy tôi, thằng Dũng vội vàng vứt cả kìm, búa đứng dậy khoanh tay chào, nét mặt hân hoan. Cha Dũng cũng gật đầu chào tôi, mấy sợi tóc uốn quăn xõa xuống cái trán cao có một vết sẹo ngang của ông ta làm cho khuôn mặt ông ta vừa có vẻ dày dạn lại vừa có vẻ phong lưu của một công tử giàu tiền. Ông ta trẻ hơn tôi tưởng. Ông nói với tôi:
– Nhà tôi độ này bận quá, thành ra phải xin thầy cho cháu Dũng nghỉ ít bữa.
Tôi chỉ gặp ông ta một lần ấy thôi. Từ đấy về sau mỗi lần đi qua đây tôi chỉ thấy một mình thằng Dũng đang loay hoay làm việc. Thằng bé khéo léo này đã có thể thay thế cha nó trong công việc sửa xe, vá những lỗ thủng trên ruột xe. Hỏi thăm về cha nó thì nó cho tôi biết là ông ta đi vắng.
Càng ngày nó càng đến trường ít hơn, và mỗi lần đến là một lần nó cuống quít đi mượn vở chép bài. Sách vở của nó bắt đầu mất cả sự sạch sẽ, quần áo của nó cũng không còn gọn gàng như trước. Nhưng nó vẫn vui vẻ, sốt sắng, vẫn ca hát và làm hề cho cả lớp cười, vẫn nhảy nhót khi được điểm cao. Ngoài giờ học, nó lại mặc bộ quần áo đầy dầu mỡ, làm bạn với kìm, búa, với những chiếc xe hỏng.Buổi trưa, thỉnh thoảng có dịp đi qua căn lều nhỏ của gia đình Dũng, tôi thường thấy nó ngồi trên chiếc chiếu nhỏ, dựa lưng vào một chân cột, dáng điệu nửa thức nửa ngủ. Ðồ đạc, dụng cụ sửa xe xếp ngổn ngang quanh nó. Nó không nhìn thấy tôi vì ngồi quay lưng về phía con đường nhựa mềm ánh nắng buổi trưa, có lẽ nó đang thả tầm mắt mơ hồ qua cánh đồng không, tới những ống khói cao ngất trong thành phố. Những luồng gió nóng như hơi nước trong một nồi nước sôi thổi phần phật vào mái lá, hoặc xoay tròn, bốc cát bụi mù trên con đường đất đỏ chạy ngang cánh đồng. Tôi tưởng như thằng bé ngồi bất động, cô đơn kia không thể nào là thằng Dũng, một đứa trẻ láu táu, vui tính nhất lớp tôi. Bầu không khí, phong cảnh cằn cỗi ở vùng ngoại ô này có thể nung khô tất cả những tâm hồn dịu dàng, vui tươi, và đốt cháy những nguồn hy vọng nhỏ bé. Quả thực tôi không như những người dạy học khác, mong mỏi nhìn thấy sự thành công trong tương lai của đám học trò mình, tôi chỉ muốn lũ trẻ được ngồi học yên ổn và đều đặn trong lớp tôi cho đến cuối năm.
Tôi không đoán nổi trong lúc ngồi cô đơn như thế bé Dũng đã nghĩ gì, mơ đến những điều gì. Nhưng một trong những sự mơ ước của nó, đột nhiên hiện ra trước mắt tôi vào một buổi học, khi nó bị tôi phạt về tội nói chuyện trong lớp. Và ngay sau đó tôi nhìn thấy tất cả nỗi tuyệt vọng của nó. Sự vùng vẫy, phấn đấu, để thoát ra khỏi ngõ bí của nó đầy tính cách mong manh, khờ dại khiến ta xúc động, xao xuyến như khi ta nhìn thấy một con chim non lạc tổ sắp chết vì một trận mưa.
Dũng để một vật gì dưới ngăn bàn, hai đứa bên cạnh nó cùng chụm đầu lại để nhìn. Vừa nói, Dũng vừa cười có vẻ thích thú và hai đứa bên cạnh nó cũng cười theo. Bị gọi tên thình lình, Dũng giật mình đứng dậy, luống cuống khoanh tay. Nó chưa kịp trả lời câu hỏi của tôi thì một trong hai đứa bên cạnh nó đã nói:
– Thưa thầy, anh Dũng khoe cái xổ số anh ấy mới mua.
Rồi nó cố nín cười để giữ giọng tự nhiên:
– Anh ấy nói nếu trúng độc đắc anh ấy sẽ mua cái xe hơi chở cả thầy và hết cả lớp đi chơi và đi coi hát bóng.
Cả lớp cười, vài đứa xì xào:
– Xe hơi nào mà chở được cả lớp…
Dũng có vẻ ngượng, nó mỉm cười và cúi đầu. Nhìn vẻ tiều tụy của nó tôi không nỡ mắng, bao giờ cũng thế, khi biết sắp bị mắng nó thường buồn rầu và lo sợ. Tôi bảo:
– Thôi cất xổ số đi… bao giờ trúng hãy đem khoe.
Dũng tươi tỉnh hẳn lại, đôi mắt nó long lanh tin tưởng, nó đã trở lại vẻ nhanh nhẩu bình thường:
– Thưa thầy, mấy người nghèo hết tiền mua giấy số hay trúng lắm thầy.
– Vậy hả. Ờ, thầy cũng hy vọng sẽ được đi xe hơi của trò Dũng. Bao giờ mở số đấy?
– Chiều nay ạ.
Nó ngồi xuống, trịnh trọng nhét tấm xổ số vào cặp. Tôi vội giảng bài tiếp để chặn đứng cuộc bàn về xổ số đang lan tràn trong lớp. Hình như có tấm vé xổ số trong cặp, Dũng vững tin ở cuộc đời hơn. Suốt giờ học tôi không nhận thấy vẻ buồn rầu thoáng qua mặt nó như mấy buổi học trước. Nó chịu đặt cả hai tay lên bàn nhưng không ngồi yên, thỉnh thoảng lại quay nhìn phải, nhìn trái, môi lúc nào cũng hé như sẵn sàng cười thật to. Cuối giờ, trước khi về học nó còn đi quanh lớp để ngắt lá úa trên những dây vạn niên thanh và siết lại những đầu dây thép gắn vài con ốc vào đầu đinh trên tường. Niềm vui, sự hân hoan của trẻ con thường tràn ra thành các cử chỉ như thế.
Buổi chiều, khi nghe máy thu thanh, tôi nhớ đến tấm xổ số của trò Dũng và ý nghĩ của tôi, tôi mỉm cười như những lần tôi nhớ đến một kỷ niệm ngộ nghĩnh về đám học trò.
Sáng hôm sau, bầu không khí có vẻ oi bức khiến tôi cảm thấy khó chịu. Những đám mây đen mờ che khuất mặt trời báo hiệu một ngày không có nắng. Vùng ngoại ô quá rộng để ta có thể cảm thấy tất cả sự khó chịu của một bầu trời nặng nề. Sức nóng không tỏa từ ánh nắng một cách tự nhiên mà như xuất hiện bất cứ chỗ nào. Sự bình thản, vui vẻ trong tâm hồn tôi hình như bị sự oi bức làm rạn nứt và đã trở thành một cái gì mong manh dễ vỡ.
Buổi học lại bắt đầu bằng vài chuyện lộn xộn. Hai đứa nhỏ ở cạnh nhau, đến lớp còn cãi vả om sòm vì một chuyện đã xảy ra giữa hai gia đình trong ngày hôm trước. Ðứa này bảo bố đứa kia là đồ ăn cắp gỗ và đứa kia tố cáo việc anh đứa này bị người ta đánh vì dám cướp tiền một đám bạc. Một thằng học trò khác thì đem lên bàn tôi một quyển vở chỉ còn độ bốn năm tờ giấy trắng, nó kêu rằng nó không hề xé vở mà chính ba nó đã lấy giấy gói hàng. Tôi không thể nén sự bực mình, tôi đã gửi một bức thư cho ông ta về việc này và ông ta chưa trả lời. Tôi thở dài nhìn đứa trẻ, nó chớp mắt sợ hãi, cả nó và tôi đều lọt vào cái thế đáng chán. Tôi vừa lấy giấy ra định biên thêm cho ba đứa trẻ mấy dòng thì cuối lớp, một đứa đứng dậy báo cáo:
– Thưa thầy, hôm nay anh Dũng lại nghỉ.
– Lại nghỉ. Nó học hành thế thì còn ra làm sao…
Ðứa bé cọ bàn tay phải vào cạnh bàn rồi nói rất nhanh, có vẻ kiêu hãnh vì những điều nó biết:
– Con thấy mấy người lối xóm nói: ba trò Dũng bị tù rồi. Hồi trước ổng mua vỏ ruột xe hơi của mấy người ăn cắp, bị tù mười lăm ngày mới được tha ra. Giờ không biết sao lại bị bắt nữa…
Một đứa khác đứng phắt dậy, vừa xếch lại quần vừa nói như sợ đứa khác nói tranh mất:
– Ba trò Dũng ăn cắp xe gắn máy, thầy. Cả những người khác cũng bị bắt hết, mấy bữa nay rồi thầy.
Sự bất ngờ làm tôi bất động, chỉ biết chăm nhìn vào mắt những đứa trẻ vừa đứng lên nói, những lời nói vừa mở tung bức màn che giấu một thảm kịch.Lớp học hình như không bị xao động một chút nào.Vài đứa định đứng lên nói thêm nhưng tôi ra hiệu bắt chúng ngồi xuống.Chúng yên lặng,khoanh tay, mở mắt chăm chú nhìn tôi, hình như chờ đợi tôi nói một điều gì về việc ba trò Dũng. Tôi nói gì được? Cái sự làm tôi khó chịu,bực bội nhất là nét thản nhiên trên mặt lũ học trò.Chúng đã quen với những sự này đến thế cơ ư?
Ðưa tờ giấy viết thư lên ngang tầm mắt, tôi nhìn chăm chú vào đó để tránh những đôi mắt ngây thơ, khờ dại và bình thản. Tờ giấy chưa có một chữ nào, đang mở dần thành một khoảng trời trắng, rỗng và xa vời. Tôi lấy lại sự thản nhiên bằng một ý nghĩ tàn nhẫn.
Giữa buổi học thì trò Dũng đến. Nó lững thững đi qua cổng trường, hai vai co lên một chút như bị lạnh. Nó không đá chân vào đám cỏ hoang cho những con châu chấu bay vụt lên như mọi lần, trong bộ quần áo đẹp nhất của nó, Dũng có vẻ trịnh trọng. Nó bước vào lớp và nói với tôi:
– Thưa thầy, con xin thôi học.
Dũng đưa ra một cái đơn, chữ viết nghiêng ngả:
– Con phải về tỉnh ở với bà nội.
– Ở đó có trường công không mà về?
– Dạ, thưa thầy, khỏi cần. Con không đi học nữa. Bà nội con ở làng, trồng khoai với bắp.
Tôi cúi xuống đọc lại tờ đơn, phân vân. Dũng nhìn tôi thật lâu rồi chợt quay xuống với các bạn nó, nó đi qua các dãy bàn để thanh toán mọi việc. Trả đứa này món nợ một đồng, cho đứa kia mấy viên bi, trao lại đứa khác chiếc xe hơi hỏng nhờ nó chữa. Công việc đó diễn ra không gây một tiếng ồn nhỏ nào. Lũ trẻ đã giữ được một sự yên lặng lạ lùng.
Dũng trở lại bàn cúi đầu thật thấp chào tôi rồi đi ra, lên phòng hiệu trưởng. Suýt nữa thì tôi mở miệng khuyên nó nên cố gắng chăm học.
Mười phút sau nó trở lại đứng ở cửa lớp học, hai tay nắm vào một bên khung cửa, tần ngần nhìn lũ bạn đang ngồi học, những ngón tay nhỏ của nó cong lại, vuốt nhẹ lên mặt gỗ. Tôi hỏi:
– Lấy hồ sơ rồi chưa?
– Thưa thầy, lấy rồi, con chờ thầy trả bài thi.
– Bài thi?… à, bài thi toán ấy hả.
Tôi ra hiệu cho nó vào lớp và giở tập bài thi ra. Dũng hớn hở đứng cạnh tôi, chăm chú chờ đợi:
– Thưa thầy, hôm đó con làm đúng hết…
Và chợt nó reo khẽ:
– Ðây rồi… trời! 18 điểm!
Bài thi nó làm hoàn toàn, chỉ hơi bẩn một chút.
Dũng nắm tờ giấy trong hai tay, nhìn chăm chú vào con số mười tám màu đỏ. Miệng nó, đôi má nó, đôi mắt nó đều chan hòa một nụ cười. Nó giương đôi mắt long lanh nhìn tôi rồi lại nhìn vào bài thi của mình. Rồi chợt nó nghiêng tờ giấy và nháy mắt với mấy đứa bạn ngồi ở bàn cuối cùng, kiêu hãnh mỉm cười với chúng. Nó cứ đứng lặng như thế để tỏ lộ tất cả sự hân hoan của mình. Tôi buột miệng nói:
– Bài này trò làm khá lắm.
Có lẽ chính câu khen của tôi đã làm cho trò Dũng phập phồng muốn khóc khi nó chậm chạp để bài thi xuống bàn. Tôi không đủ can đảm để nói một lời thân mến với nó.
Khi chào tôi lần cuối, Dũng cúi đầu thật thấp như muốn giấu tất cả sự thê thảm trên mặt nó vào đôi tay khoanh lại. Nó trở ra rất nhanh, đá bung mấy viên gạch trên sân trường, nhìn mấy cây nhỏ, mới được trồng ở đầu sân để cho lũ trẻ có bóng mát sau này. Rồi nó cúi đầu, ra khỏi cổng trường.
Dũng là đứa học trò độc nhất mà tôi mong cho nó chóng quên thầy, quên bạn…
Lê Tất Điều
A.I. Trong Y khoa
Bác Sĩ AINghe nói đến AI (robot thông minh nhân tạo) bạn dễ hình dung ra những con robot lạnh lùng cầm kim tiêm chạy vòng vòng khắp bệnh viện. Khác với phim viễn tưởng, công nghệ AI dễ thương hơn nhiều, chúng đang hiện diện như một người trợ lý thầm lặng nhưng siêu việt.
Sự tham gia của AI đang định hình lại ngành y tế toàn cầu. Điều quan trọng nhất là sự kết hợp giữa “bộ não” AI và trái tim nhiệt huyết của bác sĩ sẽ cứu muôn vạn sinh linh, bệnh nhân được chẩn đoán chính xác hơn, điều trị nhanh hơn và chi phí thấp hơn…
Trong vài năm gần đây, trí tuệ nhân tạo (AI) đã trở thành một trong những công nghệ có ảnh hưởng lớn đến tất cả các ngành nghề, trong đó có y tế.
AI có thể làm gì trong bệnh viện?
Trước đây, bác sĩ X-quang (radiologist) dùng mắt để tìm kiếm các dấu hiệu bất thường. AI có thể “đọc” một tấm phim X-quang hay một bản quét CT và lập tức trích xuất hàng trăm đặc trưng mà mắt người không thấy được như độ nhám bề mặt khối u, phân bố đậm độ pixel. Những dữ liệu này giúp dự đoán được khối u lành tính hay ác tính để bác sĩ quyết định bước tiếp theo.
Nếu “nó” phát hiện dấu hiệu cần cấp cứu như xuất huyết não (intracranial hemorrhage) hay tràn khí màng phổi (pneumothorax), nó sẽ “nhắc” bác sĩ ngay lập tức.
Bác sĩ có thể mệt mỏi sau một ca trực đêm. AI thì không. Nó đóng vai trò double-check (kiểm tra kép), bảo đảm không bỏ sót những chi tiết dầu là nhỏ nhất. Nó đo kích thước khối u, tính toán thể tích não hay độ hẹp mạch máu với độ chính xác gần như tuyệt đối.
Bác sĩ sẽ có thêm thời gian để tổng hợp thông tin và đưa ra phương cách điều trị thích hợp nhất. Ngoài việc trợ giúp việc chẩn đoán bệnh, phân tích hình ảnh film X-Quang, AI còn có thể “điều chế” thuốc mới, hoặc “sản xuất” thuốc phù hợp cho từng người. Ví dụ, một viên thuốc chống cao máu 10 mg được phân phát đều cho người 50 tuổi đến 90 tuổi, dầu trọng lượng và chiều cao, bệnh sử khác nhau. Vừa lãng phí thuốc và không có hiệu quả cao. AI sẽ “bào chế” lượng thuốc thích hợp với thể trạng từng người. Viên thuốc có thể là 15 mg cho người này hoặc chỉ 6.5 mg cho người khác.
Nhờ AI, hệ thống vận hành trong ngành y tế trở nên nhanh hơn, chính xác hơn và tiết kiệm hơn.
“Tài” chẩn bệnh
Điều mà các chuyên gia công nhận là AI chẩn ra bệnh sớm hơn và chính xác hơn bác sĩ. Không phải “nó” giỏi hơn bác sĩ mà “nó” có ba lợi thế so với con người:
Một bác sĩ nhiều lắm thì trong đời có thể xem vài chục nghìn bức chụp X-Quang. Nhưng AI có thể đọc hàng triệu tấm phim trong tích tắc, nhờ vậy “nó” dày dạn “kinh nghiệm” hơn cả những bác sĩ lão luyện.
“Nó” không bị mệt mỏi hoặc thiên kiến, một bác sĩ làm việc nhiều giờ căng thẳng, hoặc có chuyện riêng phân tâm có thể gây ra xao lãng và sai sót.
Nhiều thân nhân trách móc bác sĩ vì không cảnh báo ung thư sớm. Thực ra một khối u ung thư giai đoạn đầu chỉ vài milimet, mắt thường rất khó nhận ra. Tuy nhiên, AI có thể tìm ra được rất nhanh để “méc” cho bác sĩ.
Cũng nhờ tính chất này, AI có thể phát hiện khối u ung thư phổi trong ảnh CT nhanh hơn bác sĩ. AI nhận diện chính xác dấu hiệu ung thư vú rất sớm từ hình ảnh chụp nhũ ảnh.
AI phân tích ảnh võng mạc để phát hiện sớm bệnh tiểu đường.
Hiện nay nhiều bệnh viện hiện đang sử dụng các hệ thống AI, nó có thể phụ giúp xem xét hàng triệu bệnh án trong vài giây, điều mà không con người nào có thể làm được.
Hỗ trợ bác sĩ
AI không thay thế bác sĩ, nhưng OK để làm “trợ lý thông minh” và đắc lực cho bác sĩ, giúp bác sĩ chẩn bệnh nhanh hơn, chính xác hơn, bớt stress hơn. AI có thể phân tích hồ sơ bệnh án, xem xét kết quả xét nghiệm, so sánh với các nghiên cứu y khoa mới nhất và gợi ý phương pháp điều trị tối ưu.
Một số hệ thống AI đã được thử nghiệm để hỗ trợ điều trị ung thư, tim mạch, đột quỵ…
AI từng bước đang thay đổi nghề bác sĩ, trong nhiều thập niên, nghề bác sĩ được xem là một trong những nghề đòi hỏi trí nhớ, kinh nghiệm và sự tập trung cao nhất. Một bác sĩ giỏi phải đọc hàng nghìn hồ sơ bệnh án, cập nhật liên tục kiến thức y khoa mới và ra quyết định nhanh trong những tình huống sống còn.
Nhưng vài năm gần đây, khi trí tuệ nhân tạo (AI) trong lĩnh vực Artificial Intelligence và Medicine giúp bác sĩ làm việc nhẹ nhàng hơn, chính xác và hiệu quả hơn. Một số nghiên cứu cho thấy trong một số trường hợp, AI phát hiện ung thư sớm hơn bác sĩ vài tháng đến vài năm.
Đọc bệnh án
Mỗi bệnh nhân có lịch sử bệnh, kết quả xét nghiệm, thuốc đang dùng, tiền sử gia đình. AI có thể đọc và tổng hợp tất cả thông tin này chỉ trong nháy mắt, sau đó gợi ý cho bác sĩ bệnh nhân có nguy cơ bệnh tim, khả năng biến chứng, tránh dùng các loại thuốc có thể phản ứng lẫn nhau gây nguy hiểm.
Một điều ít ai biết là bác sĩ ở Mỹ dành 30 – 40% thời gian cho việc giấy tờ và lưu dữ liệu. AI có thể nghe cuộc trò chuyện giữa bác sĩ và bệnh nhân rồi tự động viết hồ sơ bệnh án, tóm tắt thông tin quan trọng. Sau đó tổng hợp để bác sĩ xem lại. Nhờ vậy bác sĩ có thể dành nhiều thời gian hơn cho bệnh nhân, thay vì dính vào màn hình máy tính.
Hỗ trợ phẫu thuật
Trong phòng mổ, AI hỗ trợ các robot phẫu thuật, hệ thống này giúp bác sĩ thực hiện ca mổ nhanh hơn với vết cắt nhỏ hơn, thao tác chính xác hơn, ít bị mất máu hơn, và giúp bệnh nhân hồi phục nhanh hơn.
Hiện nay robot đã được dùng rộng rãi trong phẫu thuật tim, phẫu thuật tuyến tiền liệt, phẫu thuật đường ruột v.v… Trước khi phẫu thuật, AI sẽ dựng mô hình 3D từ ảnh chụp CT hoặc MRI, thay vì bác sĩ phải tưởng tượng như trước. Bác sĩ có thể nhìn thấy rõ mạch máu, khối u và các cơ quan nội tạng rất chi tiết.
Tiếp theo, AI sẽ mô phỏng và chọn đường mổ (surgical simulation), cho phép bác sĩ mổ “nháp” trên máy tính cho quen tay, để sau đó chọn phương án tối ưu, cắt sạch khối u mà ít gây tổn thương cho các mô lành.
Song song, AI “đọc” dữ liệu từ tiền sử bệnh, nhóm máu, tuổi tác và kết quả xét nghiệm và báo cho bác sĩ những biến chứng có thể xảy ra như khó cầm máu, sốc thuốc để có sẵn phương án dự phòng.
Trong quá trình phẫu thuật nội soi, AI phân tích video và “tô màu” lên khối u cần cắt, đồng thời làm nổi bật (highlight) các mạch máu quan trọng hay dây thần kinh bị che khuất hoặc quá nhỏ để bác sĩ lưu ý. Nó giống như bác sĩ đang gắn một cái “Google Maps” bên trong cơ thể người.
Các cánh tay robot “lọc” hoàn toàn những run tay của bác sĩ. “Nó” có thể giúp bác sĩ cắt những vết cắt hoặc mũi khâu cực nhỏ, ở những góc chật hẹp với độ chính xác thần sầu. Ngoài ra, AI còn giữ vai trò “giám thị” khó tính, nó chong mắt xem, nếu bác sĩ mổ chệch khỏi mục tiêu hoặc có nguy cơ phạm vào vùng nguy hiểm, nó sẽ la chói lói, giống như chiếc máy báo khói nhà bạn.
Sau khi phẫu thuật AI sẽ liên tục cập nhật, phân tích nhịp tim, huyết áp, nhịp thở… nếu phát giác những thay đổi bất ổn sẽ báo động cấp kỳ cho y tá hoặc bác sĩ.
Đánh giá bác sĩ
Ngoài việc trợ tá cho bác sĩ, AI còn giữ vai trò “định giá” một bác sĩ. Nó sẽ “xem” lại toàn bộ video cuộc phẫu thuật để “chấm điểm” về độ chính xác, sai sót và cả tốc độ giải phẫu. Dữ liệu này được dùng làm tài liệu đào tạo cho các bác sĩ thực tập và nguy hiểm hơn, nó “báo” cho trưởng khoa hoặc ban điều hành của bệnh viện.
Nhờ AI, các ca đại phẫu đang ngày càng trở nên an toàn hơn, vết mổ nhỏ hơn và thời gian nằm viện của bệnh nhân được rút ngắn đáng kể, bệnh nhân phục hồi nhanh hơn, ít tốn tiền hơn.
AI sai, ai chịu?
Các chuyên gia đều đồng ý rằng AI không thể thay thế con người trong y khoa. Bởi vì một bác sĩ không chỉ chẩn đoán bệnh, kê thuốc mà còn đọc được cảm xúc của bệnh nhân, giải thích việc lựa chọn để điều trị tốt nhất và đưa ra quyết định đạo đức trong những tình huống khó xử. Vì vậy tương lai của y học không phải là bác sĩ AI mà bác sĩ (người) sử dụng AI để phục vụ cho người an toàn nhất, hiệu quả nhất, nhanh nhất, ít tốn kém nhất.
Nhưng lỡ nếu AI sai, ai chịu trách nhiệm?
Google Maps có thể nói là trùm thiên hạ về dẫn đường, nhưng chắc chắn đã có lần nó “dắt” bạn đi tầm bậy. AI trong y học cũng vậy, dầu nó có khả năng phân tích nhanh hơn con người gấp triệu lần, nhưng ai dám bảo nó sẽ không phạm sai lầm.
Nếu “nó” chẩn đoán sai, ai sẽ chịu trách nhiệm?
Tính đến thời điểm này, AI vẫn chỉ được coi là một công cụ hỗ trợ, không phải là một thực thể pháp lý. Vì vậy, trách nhiệm do bác sĩ và bệnh viện chịu. Bác sĩ vẫn là người đưa ra quyết định cuối cùng, AI chỉ “mách nước” mà thôi. Nếu AI báo là ung thư nhưng bác sĩ bỏ qua, bác sĩ vẫn là người chịu trách nhiệm, trong khi AI không hề được tăng lương hay lấy thêm vacation.
Ngoài ra chính bệnh viện phải bảo đảm rằng các hệ thống AI họ đang sử dụng đã được kiểm định, cập nhật và bác sĩ hoặc trợ lý đều đã được đào tạo bài bản để sử dụng. Nếu sai sót không đến từ nhận định của bác sĩ mà do lỗi software thì trách nhiệm thuộc về nhà máy sản xuất, lập trình. Do vậy các hệ thống này trước khi đưa vào sử dụng thường phải qua sự phê duyệt của các cơ quan như FDA (Mỹ) hay EMA (Châu Âu).
Nhiều công ty bảo hiểm y tế hiện nay đã bắt đầu cập nhật các điều khoản liên quan đến bác sĩ có sử dụng AI trong chẩn đoán hay điều trị hay không để tăng giảm giá cả.
Kết
Tóm lại dù AI có thông minh đến đâu, con người vẫn là lá chắn cuối cùng. Bác sĩ không thể dựa dẫm hoàn toàn vào “nó” hoặc đổ lỗi cho máy móc. Hiện nay, các hệ thống AI sử dụng trong y tế vẫn còn rất đắt đỏ. Trong tương lai, một bác sĩ có thể làm việc cùng với cả lố AI để phát hiện bệnh sớm hơn, điều trị hiệu quả hơn, giảm chi phí điều trị cho bệnh nhân và chính phủ.
Người ta dự báo, trong vòng 10 năm tới, AI có thể trở thành một “nhân vật” rất quen thuộc với bệnh nhân và nhân viên trong tất cả các bệnh viện.
Hoa nghĩa địa
Hoa hồng nhung tượng trưng cho tình yêu nồng cháyHoa hồng đỏ nói lên sự say mê cuồng nhiệtHoa hồng phấn tình yêu ngây thơ đầu đờiHoa hồng vàng mối tình quí phái vương giảHồng bạch ái tình tinh khiết...........Tôi gò lưng, cong người, thóp bụng, nghiến răng, cố vận sức xuống đôi chân khẳng kheo, trắng trẻo gầy gò, đôi chân sinh viên, tiểu tư sản trí thức, đôi chân thành thị, đôi chân nhảy đầm... đạp lên chiếc bàn đạp là một khối gỗ vuông làm chiếc pê-đan tự chế cho xích lô, pê-đan thường chỉ ba bảy hai mươi mốt ngày là hỏng. Chiếc xích lô nặng như cái cùm, nhích từ chút lên dốc. Nhờ những bông hoa hồng mà giờ đây tôi đã lên quá nửa dốc cầu Xóm Bóng, một cái dốc mà giới xích lô ba gác rất sợ. Mọi bác xích lô, dù trên 10 năm thâm niên nghề nghiệp, đến chân dốc đều phải "hạ mã", leo xuống xe cũng phải rất cẩn thận, nếu không xe chổng "ben" hất khách và hàng hóa xuống đất thì nguy to. Cũng có khi xe quá nặng, mặc dù đã cố níu vẫn cứ chổng ngược, lôi cả anh chàng lái xe bé như con nhái bén hỏng chân toòn teng trên cái yên xe. Xuống đất an toàn rồi mới giở nón ra quạt và thở, đỡ mệt mới đẩy xe lên dốc. Không ai dám ngồi trên xe đạp lên dốc như tôi.Không phải tôi mạnh khỏe hơn người, tôi dám làm như thế bởi tôi đang yêu, tôi có những hoa hồng và khúc ca hoa hồng, nó giống như bài hò dô ta kéo pháo lên núi. Mặc dù hành khách của tôi đang chở đây không phải cô tiểu thư khuê các, liễu yếu đào tơ,mình hạc xương mai, hay đứa bé học sinh tiểu học. Hành khách đi xe tôi là một chị bán cá, gọi là rỗi bờ, to lớn, mông bằng cái thúng, đến nỗi ngồi xích lô còn chật. Chị ta không đi mình không, chị đi với 2 thúng cá thu, cá ngừ, cá chù, đầy đã nặng còn ướp nước đá. Tôi tính trọng lượng này không dưới tạ.Đến nửa dốc thì bao nhiêu hoa hồng và bài ca hoa không tài nào giúp tôi nhích thêm được bước nào. Tôi vội vàng nhảy phóc xuống xe và luôn luôn nhớ bài học "hạ cánh an toàn" chống lại cái nạn chổng "ben". Và tôi đã hạ cánh an toàn thật. Không thể để chiếc xe đứng giữa dốc nguy hiểm như thế này, xe ô tô luôn có con chận, khúc gỗ to hình tam giác. Xích lô làm gì có đủ đồ nghề. Tôi vừa chống lại sức tuột lui, vừa đẩy lên dốc. Cuối cùng chiếc xe chở chị bán cá cũng đến được chỗ bằng. Tôi ghìm xe lại thở, tối thui mặt mày. Nắng lên, những con thuyền no cá đậu đầy cửa sông dập dờn trên sóng, lấp lóa nắng. Cửa sông có một đảo bé là những hòn đá to chồng chất lên nhau, trông như ổ trứng của loài thủy quái khổng lồ.Từ sáng đến giờ không phải vô cớ mà tôi luôn luôn nghĩ tới những đóa hoa hồng. Chiều nay sinh nhật Phương Lan, người tôi yêu mà nàng lại yêu hoa hồng, buộc tôi phải yêu theo. Một anh chàng xích lô ba gác như tôi hơi sức đâu đi yêu những cái vớ vẩn, những đóa hoa hồng và ý nghĩa của việc tặng hoa. Theo nàng hồng là hoa hậu loài hoa. Màu sắc loài hồng mang ý nghĩa này nọ là do nàng chép từ trong sách vở, Phương Lan bảo tôi học thuộc lòng, để theo nàng thì khi tặng hoa cho nàng, chọn hoa và màu sắc sao cho đúng ý nghĩa. Tôi chìu theo ý thích xa hoa trưởng giả, ngộ nghĩnh của nàng, chứ cái thứ xích lô ba gác như tôi có cần gì ý nghĩa hoa hồng.Chiều nay sinh nhật Phương Lan, giờ này tôi chưa có hoa tặng nàng, làm sao đây? Phương Lan, cô gái con nhà giàu sang đài các, sánh với tôi thì một trời một vực, giống như nàng công chúa và hoàng tử mặc lốt cóc. Tôi là một vị hoàng tử bị cuộc đời và thời thế, đúng là một mụ ác tiên cách mạng hôn một cái hóa thành cóc. Dĩ nhiên Phương Lan không thể yêu một thằng xích lô ba gác như tôi. Tôi giấu biệt tung tích mình. Mỗi lần tôi xuất hiện bên nàng đều dưới cái lốt của một vị công tử hào hoa phong nhã. Tôi đóng vai này khá đạt cũng nhờ trước đây tôi đã sống ở giai tầng trên. Tôi có bằng cấp cao, chức phận lớn và lại thêm một bộ mặt điển trai. Thời thế giống như cái sàng, lật một cái, tôi từ lớp trên lộn xuống đáy, bằng cấp thành giấy lộn, địa vị cao, không bị đi tù là may, nay thành anh phó thường dân, còn tiền bạc là thứ khó giữ nhất, nó giống nước đá, không có tủ lạnh, để ngoài gió một lúc sau tan hết. Tôi hết tiền từ "khuya". Lúc đầu tôi cố lê la khắp nơi tìm việc làm đúng với nghề nghiệp khả năng mình. Tới đâu trưng ra cái bản lý lịch "màu xám tro" cũng đều bị lắc đầu. Chỉ còn cách trông cậy vào chính đôi chân của mình. Tôi liều mạng đạp xích lô với đôi chân trắng trẻo khẳng kheo như cây sậy chỉ dùng vào việc bước những bước tăng-gô lả lướt, những bước valse dìu dặt... đôi chân nhảy đầm là tốt nay bị trưng dụng vào việc nặng nề, cũng tội nghiệp cái thân tôi, song cứ nghĩ mình chỉ làm tạm một thời gian rồi chuyển ngành. Nhờ nghĩ thế mà tôi vẫn tiếp tục cuộc phiêu lưu không bờ bến, phía trước mở mờ tương lai.Tôi mới ra nghề, kiếm tiền ít, chưa dám thuê xe riêng, tôi đạp chung xe với một ông lão có nhà ở núi Sạn, gần trại phong. Ông đạp ngày, tôi đạp đêm. Đạp xe đêm mất ngủ khổ sở lắm song được cái không chường mặt ra cho thiên hạ nhìn.Dù có khổ sở cách mấy đi nữa, đã là thanh niên, tới tuổi không ai tránh được chuyện yêu đương. Ban đêm trên những chuyến xe "hành hiệp giang hồ" tôi cũng gặp mấy cô bán hàng rong, bán vé số, trứng vịt lộn... đại loại những nghề hạ tiện như tôi, cân sức, cân tài, xứng đáng với nghề nghiệp của tôi. Họ thích tôi nhưng tôi đâu có chịu. Tôi ngước lên và tôi vói cao, cao quá sức mình, tôi yêu Phương Lan, một nàng tiểu thư khuê các giàu sang và rất đẹp được nhiều vị công tử hào hoa săn đón. Tôi lâm vào một cuộc tình, cuộc tình không lối thoát, không tương lai, tôi đặt tên là "cuộc tình không cân sức". Ai có thử qua kiểu cuộc tình không cân sức thế này sẽ thấy thế nào là khốn đốn, "biết thế nào là lễ độ"... Tôi giấu biệt "nhân thân" và sống theo một cái kiểu lạ đời, từ ngữ bây giờ gọi là "phồn vinh giả tạo!"Nhiều lần tôi dẫn nàng dạo phố, vào những ngôi quán, nhà hàng, vũ trường sang trọng nhất thành phố này. Để có tiền phục vụ cho những cuộc rong chơi phù phiếm, tôi phải làm việc cật lực và nhịn mọi thứ chi tiêu, kể cả cái chi tiêu vô cùng quan trong là mua gạo nấu cơm ăn mà sống. Tới bữa tôi nhai qua loa vài củ khoai lang, nhai cả vỏ. Tôi làm việc nặng, ăn uống như thế, làm sao đủ năng lượng để nói theo từ ngữ bây giờ là "tái tạo sức lao động"?Và tôi cũng đã có lần phải trả giá cho sự sai lầm cơ bản về định luật bảo tồn năng lượng này. Một hôm tôi dẫn nàng vào vũ trường, đang vi vu theo tiếng nhạc, tôi thấy xây xẩm mặt mày, bụng dạ cồn cào rất khó chịu. Suốt đêm qua tôi đạp xe, cả ngày chẳng ăn uống gì ra hồn, tối lại phải bấm bụng uống 2 lon bia ngoại. Tôi liền buông nàng ra chạy nhanh vào toa-lét. Tôi gập mình xuống cái lavabô bằng sứ trắng tinh, chọc cổ mửa, bao nhiêu khoai lang với thứ nước chua chua trào ra. Ác một nỗi tôi ăn khoai cả vỏ, nhai ngấu nghiến qua loa, vỏ khoai lang màu đỏ là thứ rất lâu tiêu, nổi bật trên nền men sứ trắng. Tôi chưa kịp mở nước xối tàn tích này đi thì Phương Lan xô cửa đi vào. Nàng hét lên, tưởng tôi hộc máu! Cũng may tôi mở nước xối đi.Tôi kể câu chuyện bê bối này để thấy cái tình yêu không cân sức nó đẩy người vào cuộc sống cơ khổ như thế nào.Chiều nay sinh nhật nàng, tối qua tôi chạy xe suốt đêm nhưng không kiếm được đồng nào, toàn bạn hàng quen mà lại đi chịu. Cuốc xe chở chị bán cá hồi sáng nay cũng đi chịu. Giờ đây tôi chưa biết phải "khắc phục" ra sao? Tôi đem xe trả lại lão Tư, mượn cục xà phòng giặt ra giếng ngồi giặt và nghĩ ngợi. Tôi nghĩ, cứ yên tâm, đời tôi không thiếu những dịp may hiếm có, và tôi là người trung, xưa nay đã có câu "người trung mắc nạn có tiên xuống phò".Chờ đợi "bộ áo quần ăn nói" khô, tôi diện vào và cứ lên đường. Tới đâu hay đó, người như tôi chẳng lẽ trời đất không thương? Tôi đi, mắt ngước lên nhìn những áng mây mang đầy ánh sáng tha thướt trên nền trời, miệng huýt sáo và cố thưởng thức ngọn gió chiều mát rượi, làm ra vẻ người nhàn tản vô tư, thật sự lòng tôi rối như tơ vò. Tôi ra phố, con đường băng ngang qua nghĩa địa núi Sạn, mồ mả sang hèn lớp lớp. Vào đây trong cõi hư vô con người vẫn không được bình đẳng. Những ngôi mộ có hình thánh giá, công giáo, nằm xa những ngôi mộ có chữ vạn, phật giáo. Những ngôi mộ sang trọng, xây cất tốn kém còn hơn ngôi nhà lầu, nằm cạnh những nấm đất thấp lè tè, cỏ áy bóng tà, không nhang khói, tội nghiệp. Đang đi bỗng tôi chú ý đến một ngôi mộ lớn. Bia là một tấm đá đen mài bóng loáng, khắc chữ, mạ vàng. Trước mộ có bát nhang bằng sứ trắng sáng loáng, chân nhang cắm đầy. Cạnh đó có một bó hoa hình như vừa cúng sáng nay, ngôi mộ nhà giàu, có mái che nắng nên bó hoa dù không có lọ nước vẫn còn tươi tốt. Hoa hồng nhung, màu đỏ thẫm, đỏ bọt-đô đang thời kỳ hé nở hàm tiếu. Bó hoa được gói bằng giấy bóng kính, thắt chiếc nơ lụa xanh, sắc lụa óng ánh, rất sang trọng, đắt tiền và cũng rất mỹ thuật.Ôi, cả ngày hôm nay tôi luôn nghĩ tới cái này đây. Ngay khi ấy tôi vẫn chưa có ý định nào, bỗng một ý tưởng tuyệt vời vừa lóe ra: Tại sao mình không mượn bó hoa này tặng Phương Lan? Kể ra thì cũng không đúng, ai lại đi ăn trộm hoa! Song chỉ một lúc sau tôi lại nghĩ khác. Trộm hoa cũng là tội, song là tội nhẹ, nhất là hoa của người chết. Người chết cần hoa làm gì kia chứ. Và thế là tôi đứng nghiêm trang trước mộ, khấn vái người khuất mặt bỏ qua cho cái tội trộm hoa, xong tôi cúi xuống cầm lấy bó hoa. Lại một lần nữa tôi thấy cái câu "người trung mắc nạn có tiên xuống phò" là đúng. Tôi cầm bó hoa đưa lên mũi, không thơm tho gì cả, phải rồi, hồng nhung đâu có hương thơm. Và tôi lẩm nhẩm "... Hồng nhung tượng trưng cho tình yêu nồng nàn... Lần này chắc Phương Lan thích lắm.Tôi đến nhà Phương Lan đúng lúc nàng thổi tắt 22 ngọn nến. Thấy tôi, nàng reo lên, tất cả mọi người nhìn tôi. Họ nghĩ tôi chính là hoàng tử của lòng nàng. Phương Lan đỡ bó hồng nhung tặng phẩm trên tay tôi, đặt nơi bàn, chỗ để đủ thứ tặng phẩm sang trọng của bạn nàng. Nàng dẫn tôi đi giới thiệu với mọi người trong bàn tiệc và nàng đặt tôi ngồi cạnh, ý hẳn đây là chỗ danh dự nhất. Buổi tiệc rất vui. Có thêm nhiều tiết mục văn nghệ tự biên tự diễn, mấy người hát. Tôi cũng được yêu cầu hát. Tôi cầm đàn ghi ta hát một bài. Tiếng ca và tiếng đàn điêu luyện của tôi hơn hẳn mấy ca sĩ nghiệp dư kia. Tôi được nhiều tràng pháo tay tán thưởng. Mấy cô gái nhìn tôi ngưỡng mộ và Phương Lan rất thích, tôi là niềm tự hào của nàng.Tối lại, tất cả mọi người về hết, Phương lan đến bàn để quà sinh nhật, điểm từng món và có lời bình. Cuối cùng là bó hồng nhung tặng phẩm của tôi. Nàng làm như cô giáo dò bài, hỏi ý nghĩa tặng phẩm hồng nhung. Tôi liếng thoắng như cậu học trò:- ... Hoa hồng nhung tượng trưng cho...- Tốt lắm. Nhưng này?- Sao?- Anh mua ở đâu bó hoa 10 đóa hồng nhung đẹp như thế này?- Mua ở chợ Đầm, sáng nay.Phương Lan phân vân:- ... Lạ nhỉ?Tôi hỏi:- Em nói sao?- Sáng nay em cũng ra chợ mua hoa, em thích nhất là hoa hồng nhung đang độ hàm tiếu.- Thì anh cũng mua ở chợ Đầm như em.- Nhưng sao em không gặp anh?- Chợ đông, gặp sao được.- Chợ Đầm chỉ có một cửa hàng bán hoa hồng Đà Lạt. Lẽ ra mình phải gặp nhau...Tôi bắt đầu nao núng:- Nhưng em mua hoa làm gì?Phương Lan:- Hằng năm, cứ mỗi dịp sinh nhật của em, em thường mua hoa ra nghĩa địa dâng cúng ba, báo cho ba biết em thêm một tuổi.- Mộ ba nơi đâu?- Núi Sạn, phía bắc Nha Trang.Thôi chết rồi! Tôi hoảng hồn, cố gắng bình tỉnh. Nếu nàng biết, tôi trả lời sao? Phương Lan vẫn chưa buông tha, nàng bắt đầu nghi ngờ, nói:- Sáng nay chị bán hoa nói chỉ còn bó 10 bông hoa hồng nhung này. Đó là những đóa hoa cuối cùng. Vậy anh mua hoa ở đâu? Khi cả Nha Trang chỉ còn bó hoa cuối cùng?Bỗng nhiên tôi lại nảy ra ý kiến:- Thì anh cũng ra chợ Đầm mua. Có thể anh đi sớm hơn em, hoặc là chị bán hoa nói láo, với lại những người buôn bán bao giờ cũng nói ấy là món hàng cuối cùng để đòi giá cho cao.Tôi tưởng nói thế tôi đã gạt được mọi điều nghi ngờ nơi nàng. Nhưng hình như không. Nàng cầm bó hoa lên xem, nói:- Giống hệt bó hoa em mua, cũng với chiếc nơ lụa xanh này, không lẽ...Phương Lan nhìn tôi nghiêm nghị hỏi:- Anh còn nhớ ý nghĩa của việc tặng hoa không?Tôi như học trò đọc bài: hồng nhung tượng trưng... Hoa hồng đỏ tượng trưng... Hoa hồng phấn tượng trưng... Hoa hồng vàng tượng trưng....Xong tôi cãi:- Tất cả biểu trưng kia do con người đặt ra chớ hoa đâu có biết.Giờ đây tôi tưởng đã đánh tan mọi nghi ngờ nơi cô gái khôn lanh tinh tế và tinh quái này, cho nên tôi mạnh dạn đặt câu hỏi:- Tại sao không có hoa hồng đen, loài hoa dối trá...Phương Lan cười khảy, cầm bó hoa lên, nói:- Có hoa hồng đen đấy...Tôi lạnh cả người!!!Quý ThểBa thứ Kiwi!
Subject: Ba thứ Kiwi!Có một đất nước bé xíu nằm lủng lẳng trên Thái Bình Dương, cách Úc 2230 km một khúc biển rộng bằng mấy ngày lênh đênh tàu cá. Người ta gọi nó là New Zealand, mà dân bản xứ thì gọi thân thương hơn: Aotearoa – “vùng đất của dải dài mây trắng”.Ừ thì cũng được, nghe văn thơ và lãng mạn như câu hò của xứ quê mình. Nhưng người ngoại quốc thì không cần dài dòng. Họ gọi tất cả bọn họ bằng một chữ duy nhất: Kiwi.
Nghe tới đây, người Việt mới băn khoăn: “Ủa kiwi là trái cây mà? Sao lại gọi người ta là trái cây? Mà trái kiwi có phải là… trái cây đặc sản New Zealand không?”
Rồi còn con chim kiwi, chim mà không biết bay, chân ngắn, bụng bự, đi lạch bạch như mấy chú vịt xiêm mới lớn. Vậy rốt cuộc, kiwi là trái, là chim, hay là người?
Thôi thì bữa nay, ta kể cho rành ba thứ kiwi: trái chua, chim mập, người hiền.
1. Trái Kiwi – chua chua ngọt ngọt như trái thơm của quê mình. Trái kiwi, lần đầu tiên tôi thấy là trong siêu thị Coles của Úc ở Footscray – nó nằm gọn gàng trên khay, vỏ nâu nâu, lông lưa thưa. Ai chưa quen chắc ngán ngẩm, tưởng trái cây hỏng. Nhưng cắt ra bên trong, ruột xanh mướt như lá non, có mấy chấm hột đen tí xíu như hột é.
Ăn thử thì vị chua ngọt thanh thanh, mát rượi cổ họng. Mấy chị người Việt bán trái cây thường bảo: “Ăn kiwi đẹp da, sáng mắt, khỏi lo táo bón!” Nghe xong, bà nội trợ nào mà không xiêu lòng?
Điều thú vị là trái kiwi không phải gốc New Zealand. Nó bắt nguồn từ… Trung Quốc, tên gốc là Dương Đào. Nhưng tới tay người Kiwi, được trồng kỹ càng, chăm sóc chu đáo, nó đổi tên luôn thành “kiwi” – như thể dân xứ này nhận nuôi, cho ăn học đàng hoàng rồi đặt họ theo mình.
Từ đó, trái kiwi trở thành mặt hàng xuất khẩu chiến lược. Ai ăn trái kiwi ngon ở đâu đó trên thế giới mà không biết tới New Zealand là… thiếu hiểu biết!
Trái Kiwi
2. Chim Kiwi – là chim nhưng không biết bay. Nói về con chim kiwi, mới thiệt là quái lạ. Trong khi thiên hạ đều có cánh, có lông vũ óng ánh, có giọng hót véo von, thì chim kiwi lại không biết bay, không đuôi, không sắc sảo, cũng không biết gáy sớm như gà trống quê mình. Nó đi lòng vòng trong bụi rậm, mắt kém, mũi to, ngửi rất giỏi, và… bới đất siêu hạng.
Người New Zealand quý con chim này lắm, coi như linh vật quốc gia. Ai dám đụng tới chim kiwi là… không yên với cả nước. Ở mấy viện bảo tàng hay công viên quốc gia, họ làm chuồng tối om, bắt du khách đi nhẹ, nói khẽ, thở khều khều để khỏi làm chim kiwi giật mình. Chăm như chăm baby chưa ăn đầy tháng.
Chim kiwi chỉ sống ở New Zealand. Nó như ông lão trong chuyện cổ tích – lù khù nhưng bền bỉ, hiền lành nhưng không đầu hàng hoàn cảnh. Dân Kiwi thương chim kiwi, một phần vì thấy hình ảnh chính mình trong đó – nhỏ bé, thầm lặng, nhưng cứng đầu không chịu thua ai.
Chim Kiwi
3. Người Kiwi – hiền hòa, không nổ bậy, không nóng nảy. Giờ ta nói tới người Kiwi, tức là dân New Zealand. Cái tên “kiwi” để gọi người bắt đầu từ Thế chiến thứ Nhất khi lính New Zealand ra trận chung với lính Úc, lính Anh. Tụi nó cùng ông cố nội nên không khác nhau mấy. Để dễ phân biệt, người ta gọi lính Úc là Aussie, còn lính New Zealand là… Kiwi – lấy theo con chim biểu tượng quốc gia. Không ngờ cái biệt danh thân mật ấy dính luôn tới ngày nay, đến nỗi dân New Zealand tự nhận mình là Kiwi một cách đầy tự hào. Họ còn in hình chim kiwi lên tiền, lên tem, lên mũ bảo hiểm. Có nơi còn đặt tên quán là “The Happy Kiwi” hay “Kiwi Café” nữa kìa.
Về tính cách, người Kiwi hiền hơn người Úc, nói năng nhỏ nhẹ, không khoe khoang, không nổ, không nói “chuyện lớn tiếng”. Họ yêu thiên nhiên, chuộng công bằng, và cực kỳ kỵ phân biệt chủng tộc.
Nếu hỏi một người Kiwi: “Mày Úc hay Kiwi?” – đảm bảo họ sẽ trả lời một cách rõ ràng, không giỡn mặt: “Tôi là Kiwi!”
Người Úc và Người Kiwi tranh Bảo Huân
Một đất nước, ba nghĩa Kiwi
Trái kiwi, gốc Trung Hoa nhưng lớn lên ở xứ Đông so với Úc; xứ Đoài (so với Los Angeles) mây trắng lắm, trở thành trái cây toàn cầu.
Chim kiwi, không biết bay nhưng sống dai, trở thành biểu tượng tinh thần.
Người Kiwi, hiền lành, không khoe mẽ, sống chậm mà chắc, trở thành thương hiệu quốc gia.
Ba chữ kiwi, ba chuyện khác nhau, nhưng cùng gom lại thành một hình ảnh: New Zealand – nhỏ mà không nhỏ nhen, nhỏ mà có võ, bé mà không yếu ớt, khiêm tốn nhưng không hèn.
Nếu có dịp ghé xứ Kiwi, bạn hãy thử ăn một trái kiwi chính hiệu, đi dạo trong rừng đêm để nghe chim kiwi lục lọi, và dừng chân bên một quán nhỏ để trò chuyện cùng người Kiwi. Có thể bạn sẽ nhận ra rằng: không cần ồn ào, không cần nổi bật, chỉ cần chân thành – cũng đủ để người ta nhớ mãi Kiwis.
Đoàn Xuân Thu
Nguồn: Ba thứ Kiwi! - TRE Magazine
Ba thứ Kiwi! - TRE Magazine
Tun
Có một đất nước bé xíu nằm lủng lẳng trên Thái Bình Dương, cách Úc 2230 km một khúc biển rộng bằng mấy ngày lênh...