Fwd: ĐIỂM TIN DIỄN ĐÀN 15-04-2026 (SỐ 069-2026)

10 views
Skip to first unread message

Giu Tran

unread,
Apr 15, 2026, 12:06:18 PMApr 15
to


---------- Forwarded message ---------
From: soan....@hotmail.com <soan....@hotmail.com>
Date: Wed, Apr 15, 2026 at 5:20 AM
Subject: ĐIỂM TIN DIỄN ĐÀN 15-04-2026 (SỐ 069-2026)
To:




GOOD MORNING VIET NAM - CANADA - USA

ĐIỂM TIN DIỄN ĐÀN 15-04-2026  (SỐ 069-2026)

Image insérée



Image insérée


MỤC LỤC

  1. Bóng Ma Trong Sòng Bài
  2. Đại Tá Nguyễn Văn Của - Tỉnh Trưởng kiêm TK Bình Dương
  3. Người Con Gái Áo Trắng Điện Bàn
  4. THIẾU ÚY HÙNG
  5. KÝ ỨC MỘT THỜI TÙ CẢI TẠO
  6. Thuốc chữa GOUT rất hay .
  7. MỘT BÁC SĨ BĐQ chẳng giống ai!
  8. Theo tin từ Bộ GD & ĐT : tới nay ở VN đã có trên 35.000 tiến sỹ, 785 giáo sư, 5908 phó GS
  9. K.I.N.H H.O.À.N.G
  10. SỰ HY SINH THẦM LẶNG



Bóng Ma Trong Sòng Bài
  • Sau những lần ốm đau bịnh hoạn rề rề mà không rõ lý do vào những tháng cuối hồi năm ngoái, Trang bỗng dưng trở nên chậm chạp và nhút nhát hẳn đi. Đầu óc cũng ù lì kém tinh nhanh, làm trước quên sau. Ai dặn cái gì cũng chẳng nhớ. Phải chăng đó là triệu chứng của bịnh… “đã toan về già”?
     
    Cách chữa đúng nhất là phải có một người bạn đời để nâng đỡ và chăm sóc nhau trong những lúc trái gió trở trời như thế. Nhưng nếu rủi người bạn đời của mình sức khoẻ không thành vấn đề mà lại bị bịnh (nói theo phim bộ của Tàu) là “si khờ người già” trước mình thì chỉ có nước cùng nhau nắm tay trực chỉ… viện dưỡng lão cho rồi chứ con cái làm sao có thì giờ mà chăm sóc cho nổi. Ôi! Viển ảnh cuối đời người sao mà thê thảm.
     
    Để đề phòng mình đừng bị rơi vào tình trạng thê thảm như vậy, cách duy nhất là phải siêng tập thể dục và năng vận dụng đầu óc, học hỏi không ngừng. Trí óc có làm việc thì mới tránh được bịnh si khờ người già. Trang nghe nói đến chữ học là sợ muốn chết. Có một lần, cách đây gần mười năm rồi, lúc đó Hiền, ông xã Trang còn đang dạy học thêm buổi tối ở trường Điện Tử Bác Ái. Sẵn Hiển đi dạy, Trang đi theo Hiển ghi tên học “Technician” ở đó luôn cho tiện. Thời gian đầu Trang siêng năng hăm hở lắm! Đi học về là mở ra ôn lại liền, một chốc sau Trang hoa mắt, chóng mặt buồn nôn. Kết quả bịnh hết mấy ngày mới lấy lại được quân bình. Trang định trốn học, Hiển la quá chừng, Chàng nói Trang lười biếng, không chịu cho đầu óc làm việc về già sẽ dễ bị bịnh lẫn thẫn. Nhưng rồi Trang cũng học được hết khoá, lấy được cái bằng đem về treo trước cổng nhà cho ông đi qua bà đi lại ngó chơi chứ Trang đâu có “được” đi làm. Hiển muốn Trang ở nhà lo việc nhà cửa và chăm sóc con cái. Để không bị chồng la, Trang bắt đầu viết truyện, làm thơ trở lại. Trang lấy cái cớ đó nói với Hiển:
     
    - Em viết văn cũng phải vận dụng đầu óc, để tưởng tượng và hư cấu thành một câu truyện chứ bộ khơi khơi là viết được sao.
     
    Hiển la còn bạo hơn nữa:
     
    - Cứ tưởng tượng vớ vẩn, viết láo viết lếu mua vui cho thiên hạ rồi nó vận vào người cho em xem. Để thì giờ đó mà đọc những sách có giá trị, như kinh Phật chẳng hạn. Anh lúc nào cũng thích học hỏi, cái gì càng khó anh càng thích học. Anh mà không như vậy thì giờ này anh “tiêu” lâu đời rồi cho em hay.
     
    Ý Hiển muốn nói là tạo dựng cho vợ con một cuộc sống tuy chẳng bằng ai nhưng cũng còn hơn chán vạn người trên đất Mỹ này. Mà Trang cũng phục chồng thật, cứ mỗi một lần đổi sở làm là một lần phải học chết bỏ. Vậy mà chàng chỉ cần vài tháng là “nắm” được hết, lại còn đem chuông đi đánh xứ người nữa chớ, đi “overseas” lia liạ, không có lần nào là không thành công. Trang vừa kính phục vừa thương Hiển đi làm cực khổ để kiếm tiền lo cho vợ con được đầy đủ, nhưng nếu bảo Trang học một cái gì đó thì Trang sợ lắm! Cứ tìm cách tảng lờ. Khuyên bảo Trang hoài không được riết rồi Hiển cũng thôi để mặc Trang muốn làm cái gì thì làm.
     
    Tháng vừa qua vợ chồng Trang phải đi viếng đám tang một người thân quen bên phía nhà Hiển. Bình thường đi viếng đám tang nào, sau khi lễ bàn thờ xong Trang cũng đều đến trước quan tài để “chiêm ngưỡng” và cầu cho người quá cố được siêu thoát. Nhưng không hiểu sao lần này Trang bỗng sợ, nàng ghé vào tai Hiển thì thầm:
     
    - Em chỉ lễ bàn thờ thôi chứ không đến gần quan tài đâu nhé! Em sợ…
     
    Hiển gật đầu nói:
     
    - Em lạy xong rồi ra ngoài chờ anh không cần phải đứng đây.
     
    Sau khi làm xong nghi thức lễ lạy, Trang bước ra khỏi phòng đứng quan sát. Nhà quàn “Oak Hill” này chẳng xa lạ gì đối với Trang mà còn mang nhiều kỷ niệm đau thương khó phai mờ. Biết bao lần thăm viếng người quen, và đã hai lần an nghỉ cho bố mẹ. Sao hôm nay nhìn xung quanh nhà quàn Trang bỗng thấy ghê ghê thế nào ấy, Hiển chắc còn đang tíu tít vì tang gia là người thân quen, lâu lắm mới có dịp gặp đông đủ như vầy, và lát nữa còn phải dự khóa lễ cầu siêu cho nên chắc còn lâu lắm mới ra. Nghĩ thế nên Trang đẩy cửa bước ra khỏi căn nhà quàn để đi xuống những thảm cỏ xanh ngoài kia.
     
    Nghĩa trang buổi chiều bao giờ cũng buồn hiu hắt, tuy trời mùa hè phải đến 8, 9 giờ mới tối hẳn. Nhưng mặt trời đã không còn nắng tạo cho nghĩa trang một màu âm u, lạnh lẽo. Kỳ lạ, ở trong nhà quàn thì Trang cảm thấy sợ, nhưng ra đến phía ngoài, đi giữa hai hàng mộ bia Trang lại không thấy sợ một chút nào hết. Có lẽ đây là nơi cuối cùng của một đời người, ai cũng phải đến. Cát bụi rồi lại trở về với cát bụi, rồi mình cũng phải “dọn” đến đây mà thôi! Trang bước từng bước chầm chậm, mắt tò mò chăm chú đọc những dòng chữ trên những tấm mộ bia đặt chìm trên mặt đất. Trang chợt phát hiện hình như cái tên này quen quá: “Lâm Ngọc Phùng”. Trang lật đật đưa mắt liếc nhanh lên tấm hình bên trên rồi buộc miệng kêu lên:
     
    - Hả! Thì ra “thầy” nằm ở đây?
         
                                                               *
                                                            *    *
     
    Dạo ấy hình như Trang vừa tròn đôi chín. Lâm Ngọc Phùng không biết bao nhiêu tuổi, chỉ biết là lớn hơn Trang, đang học Văn khoa, sắp sửa lấy cử nhân Anh văn. Trang có một ông bác tu ở một ngôi chùa gần nhà, mẹ hay dắt Trang lên chùa lễ Phật và luôn tiện thăm bác. Nghe Trang nói muốn học thêm Anh văn, ông bác đã nắm tay Trang lôi ra phía sau chái chùa, chỗ đặt bàn ping pong cho mấy “thầy” chơi thể thao. Bác chỉ vào một ông thầy tu rất lạ đời (không mặc áo nâu, chỉ mặc áo màu lam và không cạo đầu) nói
     
    - Này cháu! Vào đây bác giới thiệu cho một người, nó đang học cử nhân Anh
    văn đấy! Cháu có muốn học thì nhờ nó đỡ tốn tiền đi trường. Tên nó là Ngọc Phùng.
     
    Trang lí nhí:
     
    - Cháu không quen tiếp xúc với thầy tu.
     
    Ông bác phá ra cười:
     
    - “Nó” không phải là sư, nó không có đi tu. Nó mồ côi cha mẹ, các thầy nuôi làm phước lâu rồi. Nó mặc áo lam để dễ xin được hoãn dịch học cho xong ấy mà.
     
    Nghe ông bác nói một hơi về “nó”. Trang mắc cười quá nhìn Phùng tủm tỉm quan sát, tên gì mà như con gái, lại còn mắc cỡ đỏ mặt sượng sùng nhìn Trang luống cuống đánh rơi cả vợt ping pong khiến Trang nổi máu lí lắc ghẹo:
     
    - “Thầy” Ngọc Phụng có hai cái má lúm đồng tiền “ngộ” quá hé!
     
    Phùng càng đỏ mặt lúng túng:
     
    - Tui tên Phùng chứ không phải Phụng. Tui không phải nhà tu hành, đừng gọi tui bằng “thầy”.
     
    Trang vẫn không tha, có ông bác Trang đứng đây mà Trang sợ gì:
     
    - Uả vậy hả? Tại thấy thầy… ủa quên anh… cười có hai má lúm giống con gái quá nên tưởng anh tên là Ngọc Phụng chớ.
     
    Rồi chỉ vì tiếng khen hai má lúm đồng tiền “ngộ” quá mà từ đó Ngọc Phùng đâm ra “mết” Trang. Lâu lâu “thầy” chạy Honda đến nhà Trang nhấn chuông. Trang ra mở cửa, “thầy” nhăn răng cười, “móc” trong bụng ra khi thì một nải chuối, khi thì vài trái cam hay trái bưởi đưa cho Trang nói:
     
    - Cho Trang nè!
     
    Rồi chạy mất tiêu, Trang không kịp phản ứng gì hết đành phải nhận món quà nóng hổi “hơi người” thấy mà ghê đó! Bỏ thì tội, mà ăn thì Trang gớm. Những lần như vậy, Trang cứ để trên bàn rồi thì ai ăn thì ăn, Trang không đụng đến. Thế là từ đó, hể rảnh giờ nào là “nó” lại chạy đến nhà Trang đòi dạy Trang học Anh văn. Mặc dù Phùng không phải là nhà sư, không phải cạo đầu, nhưng vì ở trong chùa, lại mặc áo lam nên Trang thấy kỳ kỳ không chịu học. Thế là Phùng đành phải ngồi đấu khẩu bằng sinh ngữ với thằng em trai của Trang lúc đó đang học Anh văn ở hội Việt Mỹ, và đây là cái dịp để nó thực tập đàm thoại Anh văn. Có một lần Trang nghe nó hỏi “thầy” Ngọc Phùng rằng:
     
    - Tại sao anh thích chị Trang? Đó có phải là tình yêu không? Và anh có thể định nghĩa được thế nào là yêu không?
     
    Cái thằng đúng là ranh mãnh hỏi cắc cớ, Ngọc Phùng đã trả lời như thế này:
     
    - Đừng hỏi tôi tại sao thích, chỉ biết thích là thích thế thôi! Bảo tôi định nghĩa về tình yêu thì tôi không dám vì tôi chưa từng yêu ai bao giờ. Đây là lần đầu tiên tôi biết thích một người con gái. Định nghĩa thì tôi không biết, nhưng tôi hiểu khi mà mình yêu thích một người nào đó thì lúc nào mình cũng muốn gặp mặt người đó.
    Phùng kín đáo liếc qua Trang nói tiếp: “Vắng “người đó” mình nhớ lắm! Dù là gặp mặt chẳng biết để nói cái gì nhưng chỉ cần nhìn thấy mặt thôi cũng đủ thoả lòng mong nhớ rồi.”
     
    Thằng em của Trang vẫn không buông tha:
     
    - Như vậy là yêu rồi còn gì?
     
    Ngọc Phùng gật gù ngó sang Trang “tỏ tình” kín đáo:
     
    - Có lẽ vậy, nhưng đó là về phía tôi, không biết phía “bên kia” như thế nào?
     
    Thằng em Trang vỗ tay khen hay. Những câu đối thoại trên dĩ nhiên là bằng tiếng Anh rồi. Lúc đó Trang đâu có hiểu mô tê gì, chỉ hiểu lõm bõm và biết là hai người đang nói về mình. Đã mấy lần Trang ngắt ngang đòi dịch nghĩa mà hai người cứ phớt lờ, Trang phải nổi cáu lên thằng em mới chịu dịch lại cho Trang nghe. Nghe xong Trang “phang” một câu liền:
     
    - Dễ ợt! Tình yêu là những… nải chuối, những trái cam, những trái bưởi ướp… hơi người thấy mà ghê!
     
    “Thầy” Ngọc Phùng đỏ mặt tía tai sượng trân. Sao lúc đó Trang đanh đá thế nhỉ? Có lẽ tại tức hai người cứ xổ Anh văn không cho Trang nghe. Vậy chứ mà Trang vẫn đâu có bị mất điểm, dưới mắt “thầy” Ngọc Phùng lúc nào Trang cũng là “number one”. Ông bác Trang kể lại thầy tâm sự rằng:
     
    - Con vì không muốn đi lính mới nhờ các thầy che chở. Mai sau quá tuổi lính rồi, học xong con sẽ xin đi dạy học và nhờ bác xin cưới Thiên Trang cho con. Con sẽ đưa Trang về quê nhà con ở Quảng Trị, nơi đó có bà dì ruột của con vẫn còn giữ cho con ngôi nhà ngói ba gian rất đẹp của cha mẹ con để lại với đầy đủ tiện nghi, đất rộng bao quanh và ruộng vườn cò bay thẳng cánh. Nếu Trang không thích ở đó, con sẽ bán hết ruộng vườn đưa Trang trở lại Sài Gòn lập nghiệp.
     
    Đúng là “thầy tu”, ngây thơ thế thì thôi! Hắn cứ tưởng hắn yêu là được. Rồi thời gian cứ trôi, nước mất nhà tan, tu cũng chẳng được yên. Đa số các thầy tu trẻ giải tán, lớp ra đời lấy vợ, lớp vì dính vào “Nha Tuyên Uý Phật Giáo” đóng lon sĩ quan nên bị đi “học tập” mút chỉ cà tha. Chùa chỉ còn ông bác Trang và các thầy lớn tuổi. Thầy Ngọc Phùng cũng về quê “làm ruộng” và từ đó mất liên lạc luôn. Thời gian sau thì mạnh ai nấy lo thân chẳng còn ai liên lạc với ai nữa cả. Ông bác Trang bỗng đâm nghi ngờ lẩm cẩm:
         
    - Không khéo cái thằng nó là “Việt cộng” cũng nên. Tại sao sau khi mất nước nó “tếch” về Quảng Trị mà lại sống yên thân được? May mà cháu không ưng nó, chứ nếu ưng mà nó là Việt cộng thì thật bỏ mẹ.
     
    Nhưng bác đã lầm. Khi Trang đã có chồng con đùm đề và định cư ở San Jose rồi. Bác viết thư sang kể, Ngọc Phùng cũng định cư ở Mỹ và làm cho một sóng bài nào đó. Ngọc Phùng vừa mới liên lạc lại được với các thầy ở quê nhà, trong đó có ông bác của Trang. Từ đó thỉnh thoảng Ngọc Phùng gởi tiền về trợ cấp cho bác. Trang nghe bác kể vậy thì biết vậy chứ không hỏi thêm gì nữa.
     
    Thấm thoát thế mà đã hai, ba chục năm. Câu chuyện tưởng trôi vào quên lãng, nào ngờ hai năm trước vợ chồng Trang cùng bạn bè đi Las Vegas chơi. Sau khi nhận phòng xong, mạnh ai nấy đi chơi. Trang cũng ham vui, xông xáo một lát là thua sạch bách. Kiếm hoài không thấy Hiển đâu hết, Trang lại không giữ chìa khoá phòng và cũng không đem cell phone, không biết đám bạn chơi ở chỗ nào. Trang đành phải lên phòng gõ cửa đại, may ra có ai về ngủ sớm mở cửa cho Trang vô… mượn tiền. Bởi có bao nhiêu tiền Trang giao cho Hiển giữ hết, Trang không thích giữ tiền, trang chỉ thích xài tiền mà thôi!
     
    Gõ hoài mà chẳng có ai ra mở cửa, đi trở xuống mà tìm chồng và đám bạn trong đám người đông như kiến vậy Trang bắt chóng mặt, trong túi lại không có tiền thì chơi cái gì? Thôi thì ngồi đại xuống hành lang này mà nghỉ mệt coi bộ còn khoẻ hơn. Nghĩ thế Trang ngồi bó gối xuống thảm trước cửa phòng mình, lưng và đầu ngữa dựa vào tường nhắm mắt nghĩ ngợi lung tung. Đang lim dim như vậy, Trang bỗng “feeling” như có ai đang nhìn mình, Trang mở choàng mắt dậy bẻn lẻn đứng lên khi thấy xế xế cửa phòng đối diện có một người đàn ông, ăn mặc rất là lịch sự, Nguyên bộ đồ “vét” đen và áo sơ mi trắng, đang nhìn Trang mỉm cười và gật nhẹ đầu chào Trang rồi đi khuất sau cua quẹo của hành lang khi thấy Trang mở mắt ra nhìn. Đầu óc Trang đánh dấu hỏi dữ dội, nụ cười này quen lắm đây. Trang đứng lên chạy theo cua quẹo thì đụng phải Hiển đi lên, Trang mừng quá níu lấy Hiển xoè tay:
     
    - Em hết tiền rồi, đi lên phòng chẳng có ai ở trong phòng ra mở cửa cả, chìa khóa anh giữ em đành phải ngồi ngoài hành lang chờ.
     
    Hiển nhăn mặt trách:
     
    - Ai bảo không chịu mang cell phone. Em thật lạ đời có phôn mà không chịu xài thì mở làm gì?
    Trang có cái tật hay quên, đi đâu mà xách theo lỉnh kỉnh đủ thứ đồ phụ tùng trong bóp, móc ra móc vô một hồi thế nào Trang cũng làm mất cho nên Trang cứ vờ “quên” như thế cho nó khoẻ tấm thân. Sợ Hiển giảng “moral” Trang đánh trống lãng:
     
    - Cho em tiền em xuống chơi tiếp. Anh lên ngủ hả?
     
    Hiển gật đầu móc trong túi ra một nắm tiền đưa cho Trang nói:
     
    - Đừng có chơi khuya quá hại sức khoẻ. Liệu mà chơi giải trí thôi chứ đừng có đam mê sát phạt đỏ đen anh không có thích đâu đấy!
     
    Trang cầm nắm tiền “dạ” một tiếng rồi chạy đến thang máy bấm nút, nói là một nắm tiền cho oai chứ thực ra chỉ là giấy năm, mười đồng và giấy một đồng là nhiều nhất, hoặc cao lắm là giấy hai chục đồng trở lại mà thôi. Vợ chồng Trang không có máu mê cờ bạc, lần đi chơi nào cũng thủ sẵn chỉ vài trăm, chơi hết bao nhiêu đó là thôi chứ không có cố đấm ăn xôi để gỡ. Mỗi lần đi mấy chỗ giải trí này, Trang thích nhất là cái máy kéo 5 xu, chỉ tốn có 5 xu một lần  mà kéo hoài không hết. Có lần Trang trúng “đắp bồ” được vài lần lên đến một trăm mấy đồng “đã” ơi là đã. Không phải Trang hà tiện, tại dốt chẳng biết đánh bài, và cũng tại cái máy này nghe vui tai và dễ trúng. Mỗi lần máy ra lệnh cho Trang phải “dí” vào cái con vật gì đó đang bay qua bay lại thật nhanh trên màn hình là Trang khoái nhất. Phải thật lẹ tay, mỗi lần Trang “dí” trúng nó một cái là nghe “chéo, chéo” bên tai và đồng thời máy đếm tiền cũng hoạt động nghe rào rào thấy “thương” gì đâu.
     
    Đang say sưa “dí, dí” như vậy. Một người đàn ông ngồi xuống bên cạnh cái máy trống kế bên Trang, bỏ tiền vào làm một hơi “chéo, chéo” đinh cả tai, nhức cả mắt khiến Trang phải ngừng chơi, tò mò đưa mắt theo dõi. Phải công nhận hắn nhanh tay thật. Trang hoa cả mắt, mà tay hắn thì cứ như phù thủy dí qua dí lại như làm “magic”, miệng thì kêu “chít chít! Chít chít!” theo tiếng máy đếm tiền nghe mà bắt ham. “Game over”, hắn kéo cái biên nhận ra hai trăm mấy chục đồng Trang phục quá trời! Hắn cười nói với Trang (vẫn nụ cười quen thuộc khi nãy mà Trang chưa nghĩ ra):
     
    - Chơi cò con như thế này chỉ được bây nhiêu thôi! Muốn ăn lớn thì phải vô sòng bài. Thiên Trang có muốn thử không?     
     
    Thấy hắn kêu tên mình ngon ơ, Trang ngạc nhiên ngó thẳng vào mặt hắn, lần này hắn cười “hết cỡ”, hai cái má lúm đồng tiền hằn sâu hai bên má khiến Trang buột miệng kêu lên:
     
    - Thầy… Ngọc Phụng…
     
    Hắn xụ mặt:
     
    - Bao năm rồi sao Trang vẫn không thay đổi? Tôi là Phùng và tôi không phải là “thầy”.
     
    Trang cười xin lỗi:
     
    - Sorry! Tại quen miệng làm anh buồn, xin lỗi anh.
     
    Hắn hình như ít nói đi, chỉ có Trang là tía lia. Trang hỏi câu nào hắn trả lời câu nấy không thêm không bớt. Được biết trước kia hắn có làm cho sòng bài ở đây (Las Vegas) nhưng bây giờ thì không còn nữa, hôm nay là hắn trở lại đây để chơi. Hắn còn nói hắn đã dọn về San Jose lâu rồi và ở rất gần Trang. Trang chỉ gật gù nghe thôi chứ cũng không hỏi địa chỉ và xin số phôn làm gì. Hắn nhắc lại chuyện đánh bài, Trang nói Trang không biết đánh bài, không nhớ được lá nào là ách, cơ, chuồng, bồi, đầm, già gì hết nhưng lại cứ thích chơi cái gì mà “cù lũ, cù lũ” đó! Hắn cười nói:
     
    - Binh xập xám.
     
    Trang cũng cười theo:
     
    - Phải rồi, binh xập xám. Nhưng mà chơi cái đó dễ bị “cụt vốn” lắm đó! Chỉ thua vài lần là hết chơi, Trang chỉ có bao nhiêu đây thôi!
     
    Trang xoè “nắm” tiền ra cho hắn coi, Ngọc Phùng cười kéo Trang đi theo hắn và nói:
     
    - Bao nhiêu đó đủ rồi. Tin tôi đi, tôi sẽ giúp Trang có một kỷ niệm nhớ đời. Đi lên đây mà không thắng được một chút tiền đem về thì buồn lắm!
     
    Hắn lôi Trang đến khu “baigow”, chọn một cái bàn trống nhất đẩy Trang ngồi xuống, rồi kéo ghế ngồi cạnh Trang và dặn Trang cứ yên lặng đừng nói gì hết, để một mình hắn nói thôi. Trang nghe theo sự sắp xếp của hắn. Một lát sau Trang chẳng hiểu mô tê gì nữa, chỉ nghe bên tai mình tiếng “rét rét, rẹt rẹt” thật nhanh. Và đôi tay hắn “múa” trên những lá bài của Trang thật lẹ mà sao người chia bài hình như chẳng thấy gì. Kết quả hôm đó Trang… “thắng” được hai ngàn rưỡi đô la. Lần đầu tiên trong đời Trang đi chơi mà còn được tiền đem về. Những lần trước ăn được chút xíu, chơi lại là thua sạch bách, chưa lần nào được tiền mang về, dù là một hai đồng chứ đừng nói chi đến hai ngàn rưỡi. Trang mừng quá cám ơn hắn rối rít và “good night” hắn để đi ngủ, hắn không say “good night” lại với Trang mà lại nói:
     
    - Vĩnh biệt Trang.
     
    Trang nhăn mặt thắc mắc:
     
    - Tại sao lại vĩnh biệt?
         
    Hắn cười:
     
    - Không phải là Trang chẳng bao giờ muốn gặp lại tôi hay sao?
     
    Thấy hắn nói trúng tim đen của mình, Trang tảng lờ:
     
    - Nói bậy không hà! Trang còn ở đây đến ngày mốt mới về. Rồi Trang nói nhanh trước khi chạy ù đi: Ngày mai gặp.
     
    Nhưng ngày mai và mãi mãi chẳng bao giờ Trang gặp được hắn nữa. Khi Trang điện thoại về Việt Nam kể cho bác nghe cuộc gặp gỡ với hắn tại sòng bài. Bác Trang yên lặng một hồi rồi chậm rãi:
     
    - Cháu phải thật là bình tỉnh đừng có “xỉu” khi nghe bác nói. Thằng Phùng nó chết cách đây đã năm năm rồi cháu ạ! Cái thằng thật là có tình có nghĩa, tuy mất đi nhưng vẫn gởi lại danh sách các thầy cho một người khác lo dùm. Bác vẫn nhận được trợ cấp đều hằng năm, vẫn với danh nghĩa cái tên “Ngọc Phùng”.
     
    Nghe bác nói mà Trang hãi hùng. Suốt một buổi tối đi chơi với “ma” mà không biết. Sao Trang không nhận thấy gì khác lạ nơi Phùng ngoài cặp mắt hơi buồn buồn, và đôi tay giá lạnh khi hắn kéo Trang đi. Ở nơi đó máy lạnh chạy suốt ngày ai mà không lạnh nên Trang đâu có để ý làm chi. Cho đến hôm nay, Trời xui đất khiến sao Trang lại được “gặp” Phùng ở đây! Thì ra Phùng nói đã dọn về San Jose và “ở” rất gần Trang, tức là ở nghĩa trang “Oak Hill”. Trang chắp hai tay cúi đầu khấn xin cho Phùng được siêu thoát và cũng không quên thì thầm:
     
    - Trước không biết thì thôi, bây giờ đã biết anh không còn trên thế gian này nữa. Trang rất là nhát gan, anh sống khôn thác thiêng thì xin âm thầm mà phò hộ cho Trang chứ đừng bao giờ “hiện” ra lần nữa Trang sẽ chết mất. Mỗi tối Trang hứa đọc kinh một tháng để cầu nguyện cho anh được siêu thoát. 
     
    Một cơn gió nhẹ lướt qua làm cây lá rung xào xạc, Trang ngước mặt nhìn lên bầu trời trong xanh mà có cảm tưởng như hồn của Phùng đã nương theo gió mà bay bổng lên tít tận chín tầng mây xanh biếc đó rồi. Trang tin tưởng như vậy khi chợt nhớ lại câu “vĩnh biệt Trang” của Phùng hôm ở sòng bài. Thì ra đó là hôm cuối cùng Phùng muốn gặp Trang để rồi vĩnh biệt thật. Trước khi bước trở lại nhà quàn, Trang đưa mắt nhìn vào tấm hình của Phùng đưa tay vẫy và thì thầm:
     
    - Vĩnh biệt Phùng. Chúc anh an giấc ngàn thu…
      
    Nguyễn Mộng Giang

Đại Tá Nguyễn Văn Của - Tỉnh Trưởng kiêm TK Bình Dương

  • Đại Tá Nguyễn Văn Của, sinh tháng 4 năm 1932 tại Gia Định. Nhập ngũ ngày 3/7/1952, xuất thân khóa 7 trường sĩ quan Võ Bị Đà Lạt. Tỉnh Trưởng Bình Dương. Chết trong trại tù "Cải Tạo" Hoàng Liên Sơn.
    ------
    Tôi được hân hạnh biết ông khi ông về làm Tiểu Ðoàn Trưởng TÐ1/8 với cấp bậc đại úy. Ông đã biểu lộ tư cách hào hiệp của một đàn anh để bênh vực cho đàn em trước vị tư lệnh sư đoàn hống hách. Khi ÐÐ2 vừa xuống xe tại bãi đậu xe BTL/SÐ5BB ngày 10 tháng 5, Ð/U Của và 2 đại đội trưởng trong quân phục láng bóng đã vẫy tay để báo cho tôi theo họ vào trình diện vị tư lệnh. Vừa bước vào văn phòng tôi đã thấy cặp mắt cú vọ của Chuẩn Tướng Trần Thanh Phong đang bám chặt vào quân phục còn dính máu và hôi hám của tôi. Bỗng nhiên ông nổi giận đập bàn: “Sĩ quan gì mà lại ăn mặc như ăn mày!” Ðang bực mình vì cái chết anh hùng của anh Tấn và các binh sĩ của đại đội, tôi trở thành kẻ bất cần đời, cứ tha hồ chỉ trích vị tư lệnh về sự chậm trễ của phi pháo và tiếp tế đạn dược cũng như sự vắng mặt của ông trên chiến trường. Ông xé bỏ cả hồ sơ đề nghị thăng thưởng cho TÐ1/8, rồi bấm chuông gọi quân cảnh bắt nhốt tôi. Ð/U Của điềm nhiên đứng dậy để xin cùng vào tù với tôi, rồi hai ÐÐT cũng xin theo vị TÐT để cùng chung số phận. Khi Ð/U Hoàng, K15 TVBQGVN, dẫn 2 quân cảnh vào trình diện Tướng Phong, Ð/U Của cũng vừa kể xong chuyện chiến trường tại An NhơnTây nên Tướng Phong bảo hai người quân cảnh ra ngoài rồi ông xin lỗi việc nóng giận vô lý của ông.
    Mấy ngày sau, Ð/U Của đã đến ăn cơm chiều với tôi rồi ngủ đêm với ÐÐ2. Ðêm đó Ð/U Của đã tâm sự cái mộng yêu nước của ông; ông ghê tởm việc Cộng Sản tàn sát các nhà ái quốc chống Pháp cũng như các vị lãnh đạo yêu nước Cao Ðài và Hòa Hảo vì tội không chịu theo chủ nghĩa cộng sản; vì vậy ông đã thấy rõ cái hiểm họa của chủ nghĩa CS nên quyết gia nhập quân đội để chống cộng trước rồi chống Pháp sau để dành độc lập cho Việt Nam.
    Khoảng 2 tuần lễ sau, ÐÐ2 đã được dịp phục hận cho anh Tấn và các tử sĩ của ÐÐ2 trong trận đánh An Nhơn Tây. Trong cuộc hành quân mở đường dọc theo QL13 từ Ấp Bưng Cầu đến Bến Cát thuộc tỉnh Bình Dương, toàn bộ TÐ1/8 ngoại trừ ÐÐ2 bị lọt ổ phục kích của một tiểu đoàn địch. ÐÐ3 đã bị lọt phục kích về phía nam của Bến Cát nên bị thiệt hại nặng, đã phải rút về BCH/TRÐ8 tại Chi khu Bến Cát. BCH/TÐ1/8 và ÐÐ1 lại bị địch phục kích và bao vây tại Ấp Bưng Ðĩa. Ð/U Của và ÐÐ1 đã chiến đấu anh dũng, đẩy lui 3 đợt xung phong của địch trong khi ra lệnh cho ÐÐ2 đang mở đường ở Bưng Cu trở lại tiếp cứu gấp tiểu đoàn. Tướng Phong đã bay trên đầu BCH/TÐ để chỉ huy trực tiếp cuộc phản công và cầm cự của TÐ1/8. Tinh thần lên cao vì có sự hiện diện của vị tư lệnh, ÐÐ2 gom quân lại rồi đánh bọc hậu từ hướng nam để chọc thủng vào BCH của tiểu đoàn địch, làm địch bỏ chạy tán loạn. Khi Tướng Phong đáp trực thăng để xem chiến lợi phẩm và xác địch,ông đã chứng kiến Ð/U Của và ÐÐT/ÐÐ1 vẫn còn nắm 2 trái lựu đạn để thề sống chết với địch. Tướng Phong đã đề nghị thăng cấp tại mặt trận cho Ð/U Của và 2 đại đội trưởng. Ngày nhận cấp bậc thiếu tá, Ð/U Của không vui bởi vì hai ÐÐT đã lọt sổ thăng cấp. Ông đã an ủi tôi bằng cách can thiệp với vị tư lệnh mới để cho tôi được theo học khóa 7 Tiểu Ðoàn Trưởng tại Ðà Lạt, để trở về làm Tiểu Ðoàn Phó TÐ1/8 cho một vị TÐT mới, Ð/U Nguyễn Văn Vỹ, mở đầu cho một giai đon thân bại danh liệt trong 3 năm của tôi.
    Khi tôi nhận lệnh thuyên chuyển về làm TÐP/TÐ1/9, Thiếu tá Của đã mời tôi bữa cơm chiều tại tư gia, để hỏi chuyện lý do tôi ra lệnh cho một người Tàu dân sự không được đem gái Việt cho Mỹ chơi tại Lai Khê. Tôi chỉ trả lời vì thấy nhục quốc thể. Ông đã mỉa mai tôi vì cái quan niệm nhỏ nhoi và kỳ thị nầy, rồi ông cố điều tra để biết ai là kẻ ra lệnh cho tôi đi làm cái việc ngoài bảng cấp số nầy. Tôi đâm ra ở trong thế hỏa mù, bởi vì hai khuynh hướng đối nghịch của 2 vị sĩ quan đàn anh của tôi, tuy nhiên tôi không muốn Ð/U Vỹ chịu trách nhiệm vì cái lệnh của ông bởi vì tôi đã hứa với ông trước khi thi hành một nhiệm vụ ngoài bảng cấp số nầy nên tôi đã từ chối nói sự thật với T/T Của, để chấp nhận lãnh đủ hậu quả của việc làm nông nổi của tôi. Về sau tôi mới biết vị tư lệnh mới của tôi cũng là một tướng lãnh tài ba; ông đã đem một sinh khí mới cho SÐ5 bằng cách bổ nhiệm nhiều sĩ quan trẻ xuất thân từ TVBQGVN vào các chức vụ chỉ huy trưởng như cố Trung Tá Châu Minh Kiến, một anh hùng của QLVNCH và một vị tiểu đoàn trưởng ngoại hạng thuộc K19 TVBQGVN, vào chức vụ TÐT/TÐ1/8, Ð/U Thiều, K19 TVBQGVN, vào chức vụ TÐT/TÐ4/8, Ð/U Nguyễn Kỳ Sương vào chức vụ TÐT/TÐ2/8, Ð/U Lê Sỹ Hùng vào nhiệm vụ ÐÐT/ÐÐ5TS; ngoài ra vị tư lệnh mới của tôi cũng rất mã thượng khi ông chấp thuận cho tôi được thuyên chuyển về TVBQGVN theo ý nguyện của tôi vào đầu năm 1969, đồng thời ông cũng chấp thuận cho tôi được đi tu nghiệp ở Mỹ trước khi về trường VBQGVN. Chính Trung Tá Của đã đề nghị với Tướng Hiếu hủy bỏ lệnh thuyên chuyển về trường võ bị của tôi sau khi tôi về nước, để về làm TÐT/TÐ1/8 cuối năm 1969.
    Mỗi lần tôi đến thăm ông khi ông làm Tỉnh Trưởng Bình Dương là ông biểu lộ nỗi băn khoăn và lo lắng về đời sống và an ninh của người dân, làm tôi nhớ đến C/U Bùi Thương, người chiến sĩ thám kích anh hùng mấy năm về trước....
    Cũng vì quá thương dân, ông đã bị cầm chân chức vụ tỉnh trưởng hơn 5 năm cho đến ngày mất nước, mặc dù ông đã xin ra cầm quân đánh giặc nhiều lần. Ðầu tháng tư năm 1975, ông đã khẳng định với tôi trên đường dây viễn liên quốc tế rằng ông sẽ ở lại chiến đấu với quân dân, chứ không bỏ chạy ra khỏi nước. Ông đã giữ trọn lời thề để chết trong ngục tù của CSVN, theo nguồn tin của một người bạn cùng khóa với tôi, anh Nguyễn Văn Hiệp.
    Trần Văn Thưởng


Người Con Gái Áo Trắng Điện Bàn

  • Image en ligne

    Tím Hai... Ðây Tím Một gọi...

    - Tím Hai nghe Tím Một... 5/5.

    - Tím Hai... Vòng bắn hỏa tiễn cuối cùng rồi vào hợp đoàn về cho sớm đi tắm biển... Chiều nay trời đẹp gió lặn mặt biển yên như tờ giấy... Chắc có nhiều người đẹp... Bikini... tắm lắm.

    - Tím Hai... Roger.

    - Tím Một... In... salvo (bắn hết) luôn 2 bó hỏa tiễn 2,75 Tím Một... Out.

    Tôi kéo cần lái vội qua tay phải để dể nhìn Tím Hai làm vòng bắn chót. Chiếc phi cơ T28 màu sơn trắng bạc có dấu hiệu đầu Cọp vàng đen của Phi Ðoàn 516 Khu Trục trên đuôi coi oai phong lẫm liệt vào thời năm 1962.

    - Tím Hai... In...

    Nhìn theo chiếc phi cơ Tím Hai vừa nhả 2 ổ hỏa tiễn 14 trái 2.75 Inches phía trước đầy khói, như rồng phun lửa từ miệng, cuộn khói sau đuôi con tàu làm một vòng hào quang do ánh nắng chiều rọi xuyên đám khói trắng vòng tròn phi cơ vừa bay lướt chui qua... tuyệt đẹp. Những trái hỏa tiễn nổ trên đồi trong đám rừng cây xanh lá cách đồn quân bạn chừng 300 thước như những... cánh hoa đất... nở trắng đồi. Ánh nắng chiều vàng le lói xuyên qua giữa những... cánh hoa đất khói trắng vừa nở... trong rừng xanh tạo nên một bức tranh đẹp mỹ miều khó tả được bằng bút mực cọ sơn của người trần thế.

    - Tím Hai... Out...

    - Quá đẹp... Tím Hai.

    Người bạn đường không gian của tôi hôm nay là anh Thiếu úy Phạm quang Ðiềm có biệt hiệu là ông Hoàng Sihanook màu da hơi ngâm ngâm, tánh tình vui vẻ dễ mến, bay rất chì và chịu khó học hỏi. Anh là phi tuần viên số 2 của Th/úy Ôn Văn Tài trưởng phòng hành quân phi đoàn Phi Hổ 516 khu trục. Trong lần biệt phái đi Ðà Nẵng 15 ngày kỳ nầy Phi đội Phi Hổ Tím thiếu Minh Chè Tím Hai đi phép, thành ra trưởng phòng hành quân Ôn Văn Tài đề cử Phạm Quang Ðiềm (Sihanouk) người phi tuần viên bay rất cừ và can đảm thay thế Minh Chè chỗ Tím Hai.

    - Ðống Đa... Ðống Đa... Ðây Phi Hổ Tím...

    - Phi Hổ Tím... Ðống Ða nghe bạn 5/5.

    - Phi Hổ Tím... Phi vụ hoàn tất. Rời khỏi tần số, chúc bạn một đêm ngủ an lành.

    - Ðống Ða... Vạn lần cám ơn Phi Hổ. Kết quả oanh kích khi kiểm tra sẽ báo cáo sau.

    - Tím Hai... Ðổi qua tần số 118.5.

    - Tím Hai... Roger.

    - Ðây Một gọi...

    - Hai... nghe 5...

    - Hai ơi!!... chắc kết quả chẳng có gì, chỉ được chừng 2 tấn Tăm Xỉa Răng. Hi... Hi... Hi...!!!! Tím Hai... Hợp đoàn giữ cao độ 1000 bộ hướng 90 ra bờ biển và lấy hướng bắc để về Ðà Nẵng.

    - Tím Hai... Roger!!!

    Trời chiều mùa hè, không mây gió, hợp đoàn xuống 300 bộ, bay theo dọc bờ biển êm ru, mở cocpick ra chừng một tấc, làm lòng người dễ chịu khoan khoái trong phòng lái như có máy lạnh làm mát những con tim đơn côi ... của người phi công, trong không gian mênh mông.

    - Hai... Ðây Một gọi...

    - Hai nghe... Một nói đi...

    - Một sẽ xuống 100 bộ. Hai giữ cao độ 200 bộ trên... Bay dọc theo bờ cát, ngang cửa biển Fai Fô và bờ biển Thanh Bình chắc có nhiều người đẹp phơi... rùa... bãi biển lắm nghen trong mùa hè nầy.

    - Hai... Roger... Hi... Hi...

    Hợp đoàn qua khỏi Chu Lai, sắp đến cửa biển Fai Fô, vô tuyến đã rồ lên trong nón bay:

    - Phi hổ Tím... Ðây Panama... Gọi... Phi Hổ Tím.... Ðây Panama... Gọi...

    - Phi Hổ Tím... Nghe Panama 5/5...

    - Phi Hổ Tím... Báo Cáo vị thế, xăng... và bom đạn...

    - Vị thế... Trên Cửa biển Fai Fô. Cao độ 100 Bộ. Bơm Và Rockets đã thân tặng cho các anh em Sanh Bắc Tử Nam hết rồi. Chỉ còn 4 Pot Ðại Liên 30 và 3 ngàn 200 viên đạn, xăng 1 giờ 15. Over.

    - Phi hổ Tím... Phi Vụ Khẩn cấp. Số Phi vụ #0041. Ðồn Ðịa Phương Quân ở Ðiện Bàn bị VC tấn công. Tần số FM 51,02... Danh hiệu... Bạch Ðằng...

    - Phi Hổ Tím hiểu rõ đang ở cách 5 phút cực Nam mục tiêu...

    - Liên lạc thẳng với Bạch Ðằng...Sẽ có Phi Yến Quan sát và Khu Trục thay thế Phi Hổ Tím trong vòng 30 phút.

    - Xin Panama lặp lại.. Danh hiệu cho rõ. Bạch Ðằng hay là Bật Ðèn đó Chú Tư Cầu ơi!!!

    - Ông Quan Hai tàu bay Tím Một ơi!! Bạch Ðằng... Bạch Ðằng... chớ làm gì có Bật đèn ban ngày đâu!!!

    - Bạch Ðằng... Bạch Ðằng... Phi hổ Tím... Roger... Out. Ha... Ha... Ha... Cám ơn Chú Tư Cầu.

    Hợp đoàn chúng tôi cũng vừa bay đến trên không phận quận Ðiện Bàn nằm về phía đông nam độ 30 cây số đường chim bay cách Căn Cứ không quân Ðà Nẵng.

    - Bạch Ðằng... Bạch Ðằng... Ðây Phi Hổ Tím... Gọi..

    - Phi hổ Tím... Phi Hổ Tím... Bạch Ðằng... Nghe Bạn 5 trên 5.

    - Bạn cho biết tình hình.

    - Địch đang chận xe đò phía Ðông Bắc cách đồn chừng một ngàn thước, trên đường tỉnh lộ Bắc Nam. Ðịch lùa hết hành khách xuống đám rừng chạy song song theo đường lộ làm bia đỡ đạn để tấn công đồn Ðiện Bàn. Chúng dùng đại liên 30, súng cối 60 ly pháo kích vào đồn... Xin Phi Hổ cho một bó Rockets vào đám rừng cây trước mặt đồn chạy dài theo hướng Nam lên Bắc bên kia con đường cho đến các xe đò đang bị chận lại...

    - Phi Hổ hiểu rõ. Thi hành ngay. Không thể dùng Rockets, hay bom nổ, vì quá gần dân chúng.

    - Tím Hai... Ðây Một...

    - Hai Nghe 5. Một sẽ Working Gun (bóp cò vừa đạp cho mũi phi cơ qua lại) theo bên kia đường trên đám rừng từ Nam lên Bắc, ngưng bắn cách 50 thước phía Nam của đoàn xe đò.

    - Hai... Roger...

    - Một... In...

    Chiếc T28 khu trục nhào từ 1000 bộ xuống, 2 cây đại liên nổ dòn từ 600 bộ cho đến 200 bộ theo nhịp điệu Working Gun, kéo trái, nhìn rõ đoàn xe đò không người.

    - Một... Out...

    - Hai... In...

    Phi cơ của Tím Hai cũng theo vòng bắn như Tím Một kèm theo bên trái, kéo lên vào khoảng cao độ 200 bộ.

    - Hai... out...

    - Một... In...

    Vừa bóp cò, 2 đại liên vừa mới nổ, tôi nhìn thấy một đoàn người từ trong đám rừng trước mặt ùa lên đường lộ chạy về phía đồn bạn, quần áo đủ thứ màu trắng xanh, xám.

    - Tím Hai ngưng bắn.

    - Roger... Hai... Out...

    Khi Tím Hai bay ngang trên đầu dân chúng tất cả nằm xuống, họ thấy máy bay không còn bắn nên yên tâm đứng dậy bồng bế nhau tiếp tục chạy về hướng đồn bạn.

    - Bạch Ðằng... Ðây Phi Hổ... Xin bạn đừng bắn... đoàn dân chúng đàn bà và trẻ em của đoàn xe đò đang hướng chạy về đồn bạn đó.

    - Bạch Ðằng... Hiểu rõ... Phi Hổ Tím.

    Tôi vội nhào phi cơ trở lại từ Bắc xuống Nam lắc cánh qua lại bay bên trái của đoàn người dân vô tội đáng thương hại đang bị kẹt giữa hai lằn đạn... Bạn và thù... Chiến tranh quá đau thương và tàn bạo. Tôi nhìn thấy trong đoàn người đang di chuyển sau cùng có 2 người đang dìu một người mặc áo dài trắng, dáng đi khó khăn khập khểnh, hai tay ôm vạt áo dài trước vào ngực đầy máu, vạt áo sau còn phất phơ theo gió, hình như bị thương. Lòng tôi se thắt lại, tim tôi bóp nghẹn như đập thiếu nhịp, vì đâu dân Việt bị đau khổ triền miên. Nếu không có người Cộng Sản vô thần vô tổ quốc, đem chiến tranh từ phương Bắc vào Nam, gây cảnh tương tàn sầu thảm thì mảnh đất miền Nam chắc sống thanh bình trong muôn thuở. Chúng tôi bay vờn lên múc xuống như đang bảo vệ, trên đầu đoàn người vô tội đáng thương cố chạy hướng về đồn bạn để tìm sự sống trong cái chết. Khi dân chúng đã đến được vòng rào phòng thủ ngoài của đồn Ðịa Phương Quân an toàn, Phi Tuần trở lại mục tiêu bắn vài loạt đạn cầm chừng trên đám rừng bên phải đường tỉnh lộ chỗ các xe đò bị chận lại. Gần 6 giờ chiều, mặt trời mùa hè vẫn còn sáng ửng đỏ, có lẽ nhờ sự có mặt yểm trợ của Phi cơ khu trục trên vùng nên VC chưa dám tấn công đồn bạn.

    - Ðây Phi Hổ Vàng Một... Gọi Tím Một... Nghe không Trả lời!!!!!

    - Tím Một... Nghe Vàng 5/5. Bạn hãy liên lạc Bạch Ðằng. Chắc không có gì. Chỉ vài chục... Delta Kilo (Du Kích) thôi.

    - Bạch Ðằng... Ðây Phi Hổ Tím.

    - Bạch Ðằng nghe... Phi Hổ Tím 5 trên 5.

    - Ðã có Phi Hổ Vàng thay thế Phi Hổ Tím. Chúng tôi chúc bạn an lành và vững lòng tin để chiến đấu và bên bạn lúc nào cũng có chúng tôi. Xin bạn cho biết có ai bị thương nặng không trong số dân chúng đã về được tới đồn.

    - Phi Hổ Tím.. Không có ai nặng lắm, có người con gái áo trắng bị thương đã được băng bó xong.

    - Cám ơn bạn. Phi Hổ Tím rời khỏi tần số!!!!

    - Panama... Panama... Ðây Phi Hổ Tím.

    - Panama... Nghe Phi Hổ Tím 5/5.

    - Phi hổ Tím.. Phi Vụ Xong rời tần số... Panama.

    - Chấp thuận.

    - Ðài Kiểm Soát Ðà Nẵng... Phi Hổ Tím... hai T28... Xin vào vòng phi đạo và hạ cánh.

    - Chấp thuận. Ðường bay 27 phải. Gió yên lặng.

    - Phi Hổ Tím hiểu... cám ơn Ðà nẳng...

    Trong lúc hợp đoàn đáp xong, di chuyển vào bến đậu tôi vẫn còn nghĩ miên man đến Người Con Gái Áo Trắng bị thương nặng hay nhẹ, có mệnh hệ gì không? Lòng tôi nặng trĩu lo âu vì trách nhiệm bảo vệ dân lành oằn oại trên đôi vai của người trai thời chiến, nhứt là đối với các anh em phi công khu trục. Chiến trường miền Trung sôi động, biết bao nhiêu đạn thù bay ngang đầu cánh, một số bạn bè chết non gãy cánh vĩnh viễn ra đi, để lại gia đình và vợ con thương tiếc. Th/úy Võ Trường Chí mất tích ở vùng đồng bằng Cửu Long tỉnh Sóc Trăng, Th/úy Trần Như Hạnh gãy cánh khi thả bom Napalm ở ngoài khơi bờ biển Nha Trang trước sự chứng kiến của đồng bào và cả vợ con, Th/úy Nguyễn Văn Nông, phi vụ thả bom Napalm bị phòng không địch bắn rơi tả tơi trong mật khu phía tây vùng núi Bạch Mã, Th/úy Thư, Nhàn, bị mất tích tại bờ biển Ninh Hòa trong vụ hành quân truy kích địch. Nhưng ấn tượng Người Con Gái Áo Trắng, khi tôi gặp lại bất cứ một cô gái nào mặc áo dài trắng, gợi lại hình bóng Người Con Gái Áo Trắng Ðiện Bàn được nâng dìu đi chân bước khập khểnh vạt áo dài trước ôm vào ngực máu đào thắm đỏ của năm xưa. Hình ảnh áo dài trắng vẫn theo đuổi hồn tôi trọn cuộc đời Bảo Quốc Trấn Không và có lẽ theo tôi cho đến hơi thở cuối cùng trên bước đường lưu lạc nơi xứ người. Chừng một năm sau vào khoảng tháng 12 năm 1963 chúng tôi được đề cử làm Chỉ huy trưởng Liên Ðoàn Yểm Cứ ở Không đoàn 41 Chiến thuật KQ đầu tiên tại Ðà Nẵng do Th/tá Phạm Long Sửu người anh cả KQ đáng kính và nhiều nể, thành lập trong đà bành trướng của KQVNCH.

    BUỔI LIÊN HOAN CỦA PHI ÐOÀN 217 H34.

    Buổi tiệc ăn mừng của phi đoàn 217 vào khoảng tháng 6 năm 1964 do Ðại úy Ông Lợi Hồng Phi Ðoàn Trưởng thành lập ở Ðà Nẵng. Khi nhận H34 do Thủy Quân Lục Chiến Mỹ giao lại, được tổ chức tại phòng họp khá rộng và khang trang của Hàng Không Việt Nam ở lầu 1 phòng khánh tiết dưới đài kiểm soát không lưu phi trường Ðà Nẵng. Nhiều quan, quân cán chính Việt Mỹ tham dự. Quân Ðoàn có Th/tướng Nguyễn Chánh Thi và đoàn tùy tùng. Bên Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ có Tr/Tướng Walte và đoàn tùy tùng. Không Ðoàn 41 có Th/tá Phạm Long Sửu và anh em Phi Ðoàn 516 Phi Hổ Khu Trục do Ðại/úy Ôn Văn Tài Phi Ðoàn Trưởng hướng dẫn. Bên dân sự có Ðại/tá Thiện, thị trưởng Ðà Nẵng, và rất nhiều người đẹp từ các trường Ðồng Khánh và trường Ðại Học Sư Phạm Huế vào rất đông. Ở địa phương, trường Nữ Trung Học có một người đẹp như hoa hậu. Cô nữ học sinh lớp 11 tên Thái Thu làm chóa mắt nhiều chiến sĩ và các niên trưởng của vùng hỏa tuyến. Sau các thủ tục chào cờ Mỹ Việt, mặc niệm xong, bài diễn văn đầu tiên do người anh cả của Không đoàn 41 Thiếu Tá Phạm Long Sửu chào mừng các quan khách Việt Mỹ và cầu chúc PÐ 217 gặt hái nhiều kết quả trên chiến trường QÐ1. Trong bài diễn văn Thiếu Tướng Nguyễn Chánh Thi thân mến chào tất cả quan khách tham dự buổi lễ hôm nay và khen ngợi sự thành công vượt bực của PÐ 217. Còn riêng với Tr/Tướng Walte và phái đoàn quân sự ghi ân đặc biệt của dân tộc VN nói chung và nói riêng về Quân Ðoàn 1, sự cảm tình sâu đậm dành riêng cho tất cả quân nhân các cấp của Sư Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ. Dưới quyền chỉ huy của Tr/Tướng Walte đã cùng chung vai đấu cật chiến đấu anh dũng với quân đội VNCH trong mọi tình huống để chống trả lại quân thù Cộng Sản Bắc Việt xăm lăng. Tới đến bài diễn văn của Tr/Tướng Walte, trước hết ông kính chào toàn thể quan khách tham dự hôm nay, và ông rất hãnh diện với những lời khen, lời cám ơn, lời chúc tụng của Th/Tướng Nguyễn Chánh Thi và Th/tá KÐT41/Chiến Thuật Phạm Long Sửu đối với Sư Ðoàn dưới quyền chỉ huy của ông. Ông rất hứng thú vui vẻ được làm việc chung với Th/Tướng Nguyễn Chánh Thi Tư Lệnh Quân Ðoàn 1, sau cùng ông gởi lời khen ngợi đến Phi Ðoàn Trưởng 217 Trực Thăng Ðại/Úy Ông Lợi Hồng và các sĩ quan phi công với phi hành đoàn, cùng các quân nhân các cấp của Kỹ Thuật đã cố công học tập và huấn luyện trong thời gian kỷ lục 3 tháng đã hoàn thành một phi đoàn tân lập và đầy đủ khả năng hành quân đổ bộ cho KQVNCH. Sau cùng Phi Ðoàn Trưởng 217 Ðại/úy Ông Lợi Hồng cám ơn tất cả quan khách hiện diện đông đủ ngày hôm nay và hứa cùng Th/Tướng Nguyễn Chánh Thi, Phi Ðoàn sẽ cố gắng hết lòng để hoàn thành các phi vụ đổ quân trong tương lai cho Quân Ðoàn 1. Còn riêng về Tr/Tướng Walte TQLC Mỹ, và Trung tá Mỹ (không nhớ tên) Phi Ðoàn Trưởng Phi Ðoàn Trực Thăng H34 Mỹ, Ðại/úy Ông Lợi Hồng nhân danh Phi Ðoàn Trưởng Trực Thăng 217 gởi đến toàn thể quân nhân và sĩ quan các cấp Hoa Kỳ đã ra công huấn luyện cho phi đoàn 217 VNCH, lòng tri ân và tình cảm sâu đậm ngàn đời không bao giờ quên ơn các người bạn Mỹ của các quân nhân PÐ217. Sau cùng Ðại/úy Hồng không quên cám ơn sự ưu ái của Th/tá KÐT 41/Chiến Thuật dành cho các nhân viên PÐ 217 trong khi tạm trú để huấn luyện tại Ðà Nẵng. Trước khi dứt lời Ðại/úy Ông Lợi Hồng mời toàn thể quan khách cùng dự buổi cơm thân mật ra ngoài sân trước cửa phòng họp. Các phu nhân của sĩ quan trong phi đoàn tiếp tân xếp hàng đón rước quan khách.
    Tr/úy Châu Rết trưởng phòng hành quân đọc thực đơn:
    - Bê thui.
    - Bò Steak BBQ.
    - Tôm Rằng Nướng (tại chổ).
    - Bánh mì và Sà lách.
    - Nước Uống; Johnny Walker, Beer, Coke, 7Up.
    Quan khách và các quân nhân cơ hữu của phi đoàn được một bữa cơm ngon no nê. Nhứt là các người bạn Mỹ rất thích món tôm rằng nướng và món bê thui. Họ ăn hết dĩa nầy tiếp tục thêm dĩa khác. Những tiếng Dô.. Dô.. Dô vang dậy cùng hòa hợp tiếng Cheer.. Cheer.. Cheer... rền vang đang nói lên sự liên kết giữa hai dân tộc Việt Mỹ cùng nhau quyết chiến đấu chống quân thù cộng sản. Quyết bảo vệ miền đất tự do Việt Nam Cộng Hòa tiền đồn chống cộng ở Miền Ðông Á Châu. Phòng khánh tiết được trang hoàng chu đáo cho đêm dạ vũ hôm nay. Gồm có 2 ban nhạc, một của Thủy Quân Chiến Mỹ và một của KQVN do Tr/úy Tuynh hướng dẫn từ Sàigòn ra, cho nên đầy hứa hẹn một đêm nhạc dạ vũ vui tưng bừng. Trái đèn địa cầu xoay muôn màu, tiếng nhạc Pasodoble bắt đầu nổi lên, Ð/úy Phi đoàn trưởng khả ái, hào hoa Ông Lợi Hồng dìu người đẹp Ðà thành tên Thái Thu bước ra sàn nhảy để mở đầu buổi dạ vũ hôm nay. Theo đó các quan khách và nhân viên của Phi Ðoàn cũng ra khiêu vũ cùng các người đẹp điạ phương trong bản Paso đầu tiên.
    Hầu như toàn thể các người dự tiệc hôm nay đều chung vui trong đêm dạ vũ nầy, sàn nhảy đã đầy chật các cặp trai gái dìu nhau qua các điệu nhạc Rumba, Bolero, tiếp theo Slow Rock, Mambo, Twist... làm cho đêm liên hoan được vui tươi thành công trọn vẹn.
    Tôi để ý trong một góc bàn ngồi ngoài sân có một tà áo trắng không bao giờ khiêu vũ. Mỗi lần ban nhạc trỗi lên, tất cả người ngồi chung bàn đều ra sàn nhảy chỉ còn một mình nàng ngồi lại, vẻ mặt tư lự nhìn ra khoảng trời đêm với nghìn ánh sao buồn mênh mông. Tôi bước tới cúi đầu chào làm quen:

    - Xin chào người đẹp, cho phép tôi ngồi lại cùng bàn để trò chuyện cho vui.

    - Dạ, chả dám ạ, xin ông cứ tự tiên.

    Tôi kéo ghế ngồi kế bên nàng: 

    - Sao người đẹp không ra khiêu vũ?

    - Em cảm thấy không có thích thú đêm nay.

    - Xin người đẹp cho biết quý danh. 

    - Tên em là Thùy Trang.

    - Tôi là Tuyền. 

    - Hân hạnh gặp ông Tuyền.

    - Hân hạnh được biết Thùy Trang. Tên Thùy Trang đẹp quá. Nhưng còn kém xa người.

    Thùy Trang cười mỉm:

    - Ðúng là Phi Hổ Tím Một rồi phải không?

    Tôi quá ngạc nhiên:

    - Sao Thùy Trang lại biết Call Sign (Phi Hiệu) của tôi?

    - Vì em có người anh cô cậu mới về Phi Ðoàn 516 Phi Hổ Khu trục, anh tên là Nguyễn Du. Mỗi lần về thăm gia đình thường hay nhắc tới các ông thầy Papa Sửu, thầy Tuyền và Tài nhiều lắm.

    Bản Tango vừa dứt để thay ban nhạc của TQLC Mỹ vào. Từng cặp vào bàn ngồi nào là Huề, Sỉ Cò, Cương Khào, Ninh Lumumba, Ðiềm Sihanouk, Lê Trai Ðại Ðức, Hưng Phệ, Hợi Voi, Phiên Rách, Vũ Nghê Ngô... những cây bay của phi đoàn và Nguyễn Du người phi công đẹp trai, trẻ nhứt và gan lì của Phi Ðoàn 516 Khu Trục, thấy tôi liền đứng nghiêm chào và nói:

    - Kính chào thầy.

    Tôi chào lại vừa nói:

    - Hèn chi Thùy Trang biết từ đầu cánh chong chóng cho đến cuối đuôi phi cơ của PÐ 516 hết rồi, không còn gì giấu được Thùy Trang nữa đâu, phải không Phi Hổ Vàng 3?

    Nguyễn Du cười:

    - Dạ thưa vâng.

    Ban nhạc Mỹ đã chuẩn bị xong,bản nhạc đầu tiên Let’s Twist Against được đánh lên nghe như máu trong người được vận chuyển mau hơn và sự vận động tay chân càng thêm hăng hái bội phần. Nhạc càng đánh, những cặp trai gái càng nghiêng qua nghiêng lại, các động tác của toàn thân người khiêu vũ càng lắc, đít lắc, đầu lắc, chân tay lắc, mình lắc, vú ngực lắc... theo tiếng hát của người ca sĩ Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đã đem hết nghệ thuật trình diễn hòa vào lòng nhạc và lòng người làm thêm sống động đêm khiêu vũ hôm nay. Tôi để ý thấy Thùy Trang có một nỗi buồn kín đáo trong tâm tư dù rằng ngoại cảnh đang vui tươi rộn rã. Tôi lên tiếng nhỏ nhẹ hỏi:

    - Thùy Trang có tâm sự buồn phải không? Sao tôi thấy Thùy Trang hình như có một tâm sự buồn kín đáo nên không được vui trong đêm nay.

    Lời nói của tôi vừa dứt, như một động lực mãnh liệt khơi dậy nỗi buồn đau đã chôn sâu từ lâu trong tiềm thức, Thùy Trang nhìn tôi nhẹ nhàng trả lời:

    - Em đâu có buồn đâu.

    Và cúi đầu xoay mặt nhìn qua hướng khác để che giấu hai giọt lệ đang từ từ ứa chảy trên gò má xinh xinh của người trinh nữ. Nàng vội lau đi những giọt lệ rồi nhìn qua tôi. Trên lông mi còn đọng lại những giọt nhỏ li ti lóng lánh như những giọt sương đêm còn tụ đọng trên đọt lá cỏ may, làm gương mặt Thùy Trang càng đẹp thùy mị và dễ thương hơn. Tôi vội có lời xin lỗi:

    - Nếu tôi có nói lời gì khơi động nỗi buồn thầm kín của Thùy Trang, cho tôi muôn vàn xin lỗi!!!

    - Không đâu, ông Tuyền không có làm gì Thùy Trang buồn và nếu Thùy Trang có làm ông Tuyền không được vui trong đêm nay, xin tạ tội vậy. Ðêm đã khuya, xin ông Tuyền cho Trang về được không? Vì ngày mai Trang còn phải dậy sớm để về Huế thăm gia đình.

    Tôi liền nói:

    - Thùy Trang muốn tôi đưa về với một điều kiện!

    - Ðiều kiện gì vậy?

    - Xin đừng gọi tôi bằng Ông.

    - Vậy Thùy Trang gọi anh Tuyền hay Tím Một?

    - Thùy Trang gọi sao cũng được.

    - Gọi Ông Tuyền không ổn vì thiếu tế nhị và khách sáo, thôi xin gọi bằng Anh Tuyền hay Tím 1, để cho có vẻ thân tình trong cùng gia đình Phi Hổ và trọng nể để buổi ban đầu gặp gỡ thêm phần ấm êm vui vẻ, mong ta còn nhớ mãi về sau.
    Tôi đứng dậy kéo ghế để mời Thùy Trang cùng ra xe, tôi hỏi xem Thùy Trang về đâu? Nàng bảo, em về bên Sơn Trà mà Không Quân các anh thường gọi xóm Monkey Mountain. Xe chạy ra khỏi cổng phi trường, tôi quẹo tay phải hướng về phía biển để đưa Thùy Trang về nhà. Xe chạy qua khỏi cầu vừa vào con đường nhỏ của quận, có rất nhiều ổ gà làm xe Jeep chao đảo sụp xuống nhồi lên. Chắc có lẽ vì chiến tranh, quận 5 Sơn Trà chưa có tiền để tu bổ nên tình trạng đường xá càng ngày càng tệ hơn. Nhưng bù lại, nhìn ra ngoài biển đèn ghe đánh cá về đêm sáng cả một vùng trời, như một thành phố nổi riêng biệt ngoài khơi đẹp đẽ muôn màu dễ làm ấm dịu lòng người đang có tâm sự đau buồn như Thùy Trang.
    Xe rẽ qua con đường tráng nhựa cũ kỷ đầy hang lỗ chắc còn ghi lại vào thời kỳ Pháp thuộc năm xửa năm xưa. Ở chân núi Sơn Trà chạy thẳng ra biển, xóm nhà vách tường và lợp ngói đỏ có vườn tược chung quanh, những hàng dừa xanh nên thơ cành lá xum xê đang reo đùa trước gió. Thỉnh thoảng Trang cho tôi biết có những vườn nhãn hột tiêu trái vừa chín mùi thơm như mời gọi đám dơi tứ phương tám hướng về hưởng thụ. Xe chạy tới bờ biển, Thùy Trang chỉ cho tôi đậu xe dưới hàng dương liễu thân cây nghiêng về phía đất liền chứng tỏ hướng gió biển luôn luôn thổi mạnh từ biển vào đất.

    Thùy Trang nói:

    - Chúng mình ngồi đây nhìn trời biển về đêm được không anh?

    Tôi trả lời:

    - Anh hoàn toàn đồng ý và chấp thuận lời đề nghị của Thùy Trang.

    Tôi cho xe đậu lại chiều ngang theo bãi biển dưới hàng dương liễu, về đêm nhìn ra biển khơi những đóm đèn mờ tỏ của các thuyền đánh cá như cả một thành phố trên mặt nước chông chênh. Trên vòm trời có vạn tỷ vì sao như một bức tranh thiên nhiên êm đẹp dịu hiền khó tả và làm lòng người có tâm sự buồn đau như Thùy Trang cũng được trầm lắng xuống dễ chịu hơn trong cảnh nên thơ hiếm có như đêm nay. Tôi vào xe lấy áo ấm jacket phi hành để trải xuống bờ biển cho Thùy Trang ngồi dựa lưng vào thành xe jeep. Trời về đêm vào khoảng tháng sáu nóng bức vì ảnh hưởng gió lèo thổi qua khi ngồi xuống bãi cát vẫn còn thấy ấm bàn tọa. Trên bờ biển nhờ đêm nay trời yên lặng không gió không một đợt sóng, những con dã tràng hăng say tranh đua nhau xe cát làm từng viên nhỏ như đang vui chơi trong trời ấm áp. Thùy Trang và tôi ngồi kế bên nhau tâm sự giữa trời nước mênh mông, mặt biển yên như tờ.

    Thùy Trang cất tiếng êm nhẹ:

    - Anh có biết không - Thùy Trang chỉ tay về hướng Bắc - nơi bãi biển nhỏ bé xinh đẹp nên thơ và kín đáo nầy ngày xưa có những nàng tiên xuống trần gian để đi tắm biển đó! Nếu ban ngày mình sẽ nhìn thấy các cánh bông hoa rừng xinh tươi muôn màu mọc lên từ các kẻ hở đất cát và vách đá dựa lưng vào núi Sơn Trà trông rất nên thơ và một vẻ đẹp thiên nhiên tuyệt diệu. Bức tranh thiên tạo ít có trên trần gian. Không chừng vì lẽ đó nơi đây ngày xa xưa các nàng tiên xuống trần để vui đùa cùng sóng nước biển trong xanh trên nền cát trắng mịn, ngắm nhìn các vách đá với những hoa đẹp muôn màu. Các nàng tiên với thân hình đẹp hoàn hảo, dưỡng nghỉ dưới những tàn cây xanh tươi rợp bóng mát trong mùa nắng hạ, nên nhân gian mới cho tên rất mỹ miều thơ mộng bãi biển Tiên Sa.

    - Anh cũng mới biết đây, nghe nói ngày xưa có các nàng tiên giáng xuống trần để vui đùa sóng nước với cảnh thiên nhiên. Anh không biết các nàng tiên ngày xưa đẹp như thế nào vì anh lúc đó còn là hạt bụi nhỏ đang bay lang thang ngoài không gian... nên chưa được gặp bao giờ. Nhưng có một điều anh chắc chắn rằng các nàng tiên xuống đây mặc quần áo tắm toàn kiểu rất mắc tiền hiệu... No... Kini…

    Thùy Trang liền hỏi:

    - Em thường nghe nói áo tắm cho phụ nữ là phải Bikini hay quá lắm là Monokini, chớ còn em chưa bao giờ nghe thứ áo tắm kiểu No... Kini. Vậy No... Kini là thứ hiệu nào, mặc ra sao vậy anh?

    Tôi nhìn Thùy Trang nghiêm nghị giải nghĩa:

    - Bi là hai mảnh, Mono là một mảnh. No... Kini là... không có mảnh nào hết. Nghĩa là "cuồng trởi".

    Thùy Trang đôi mắt dịu vợi thơ ngây, không một lời, với một cử chỉ nhè nhẹ nàng hất cánh tay vào hông tôi, nhìn tôi mỉm cười đầy trìu mến và nói:

    - Anh nầy...

    Ngồi bên nhau nàng kể tôi nghe về gia đình nàng di cư từ Bắc vào Nam năm 1954, cư ngụ tại Huế. Người cha ngày trước đi lính cho Pháp vào Nam được đi học ra trường sĩ quan Ðồng Ðế chừng độ 50 tuổi đang làm đại đội trưởng Ðịa Phương Quân đóng đồn ở quận Điện Bàn tỉnh Quảng Nam. 2 người anh, một người 23 tuổi đang học trường kỹ sư Phú Thọ và một người anh 21 tuổi kế Thùy Trang đang học ở trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức, nàng 19 tuổi hiện đang ở với cô chú để theo học trường nữ trung học tại Ðà Nẵng và đã thi lớp 12 xong. Năm nay phải vào Qui Nhơn 4 năm nữa cho xong Ðại học Sư Phạm nên không ở theo gia đình được. Nàng còn 2 đứa em một gái kế nàng 15 tuổi đang bắt đầu vào trung học Ðồng Khánh và em trai mới 3 tuổi. Tôi nhìn nàng cười hóm hỉnh và nói:

    - Ông già còn Gân quá há!!! nên em mới có đứa em mới 3 tuổi đầu!

    - Mẹ em đâu có muốn đâu nhưng anh phải hiểu cho đời lính chiến, lâu lâu ba em mới về thăm nhà mà lỵ... Thả giàn.

    Tôi bảo cho nàng biết về địa thế ở quận 5, phía Bắc có núi Sơn Trà, có bãi biển Tiên Sa, ở phía Ðông có biển Mỹ Khê, ở phía Tây thạch động Tiên Trú tại núi Ngũ Hành về phía nam. Cho nên các nàng tiên xuống Tiên Sa tắm biển, lên núi Sơn Trà thưởng thức trà và đàm đạo, rồi về thạch động Tiên Trú để ngủ qua đêm. Ngọc Hoàng đã dành một chỗ rất tiện lợi cho các nàng Tiên xuống trần.

    Tôi ngừng ở đây, Thùy Trang nhìn tôi mơ màng trìu mến hỏi:

    - Tiên xuống trần, rồi để làm gì nữa hở anh?

    - Thì các nàng Tiên đi nghỉ mát Vacation và có một nàng tiên mới nhìn dễ mến, nhìn lâu thêm yêu. Nàng lỡ tay đập bể bình nước của Ngọc Hoàng cho đem theo uống vì sợ nước trần gian ô nhiểm nên bị đày ở lại và hiện giờ hình như đang lang thang ở bãi Tiên Sa trong đêm nay... Và...

    Tôi ngưng ở đây. Trang nhìn tôi hỏi:

    - Nàng tiên đang lang thang, làm gì ở đâu hở anh?

    Tôi nhìn thẳng vào đôi mắt ngây thơ dịu hiền của Thùy Trang, rồi thả tầm mắt ra biển đông:

    - Nàng Tiên đang... đang... ngồi kế bên anh đây chắc đúng rồi thì phải? Chớ còn gì nữa... phải không em?

    Nàng mỉm cười e lệ nhìn tôi và bảo:

    - Anh sao khéo nói...

    Hai đứa chúng tôi cười bên nhau trong đêm thanh vắng giữa trời nước mênh mông. Nàng dựa đầu vào vai tôi hơi thở nhè nhẹ thơm và trìu mến ngước nhìn tôi. Tôi luôn thận trọng và thương nể những người con gái tôi gặp lần đầu tiên, đó là tánh của tôi không bợp chợp không lợi dụng. Chúng tôi đứng dậy thả dài theo bãi biển, tôi kể chuyện:

    - Anh ra đây nhận nhiệm vụ mới ở căn cứ KQ Ðà Nẳng, mấy người bạn dẫn đi chung quanh cho biết dân tình, anh thấy địa hình của khu nầy rất hữu tình thật đẹp. Phía bắc có núi Sơn Trà, có bãi biển xinh xinh đẹp nên thơ Tiên Sa, bên ngoài có biển Mỹ Khê, bên phía trong có núi Ngũ Hành toàn đá cẩm thạch... Có chùa Non Nuớc, có thạch động Tiên Trú, xa hơn nữa theo tỉnh lộ lần về phía nam có quận Ðiện Bàn.

    Tiếng Ðiện Bàn vừa dứt, chúng tôi đang đi, Thùy Trang đứng lại xoay qua nhìn tôi với ánh mắt ngỡ ngàng thoáng buồn và thốt lên lời hơi rung động:

    - Anh cũng biết Ðiện Bàn nữa sao?

    Thùy Trang quay trở về lại hướng xe Jeep đang đậu, tà áo trắng bay phất phơ, bước đi khập khểnh, chiếc khăn tay che vào miệng để khỏi bật lên thành tiếng khóc. Tôi bàng hoàng bước theo Thùy Trang và cất tiếng xin lỗi:

    - Thùy Trang em, nếu anh có nói gì không phải và chạm phải vào đời tư và tâm sự u buồn của em, anh xin muôn vàn tạ lỗi vậy!!

    Nàng vẫn khóc thút thít và nói thì thầm bên tai tôi:

    - Trời ơi!! Em khổ lắm anh Tuyền ơi!!! Em khổ lắm!!!!

    Khi đến xe Jeep chúng tôi ngồi xuống, nàng tựa lưng vào tôi dù rằng Thùy Trang đang cắn chặt chiếc khăn tay vẫn còn khóc, bờ vai run run và than thở trong tiếng nấc:

    - Trời Phật ơi!!! Ðiện Bàn ơi!! Tại sao lại xảy ra cho đời con phải khổ thế nầy?

    Tôi khuyên Thùy Trang:

    - Trong đời ai cũng có lầm lỡ, đừng mang theo mãi trong lòng để càng ngày càng lớn nặng tâm tư làm em khổ thêm thôi. Em hãy nói ra đi để được vơi bớt sự đè nén lòng mình trong muôn một.

    Thùy Trang càng nấc lên nhiều hơn, tôi tiếp tục khuyên nàng:

    - Nói đi em, nói đi em, để anh chia xẻ cùng em cho vơi được nỗi tâm sự buồn đau trong tận cùng của con tim.

    Sau một hồi, tiếng nấc lần bớt lại, Thùy Trang ngước nhìn tôi với hai dòng lệ nóng tràn dâng chan hòa lên khóe mắt với khuôn mặt nặng trĩu buồn đau và nói:

    - Em chưa lầm lỗi trong đời, em chỉ là người con gái trời bắt phải khổ đau thôi. Vết thương đó còn lưu mãi trọn đời, khi em tắm dòng nước mát chảy vào càng đau nhói vào tim, thay quần áo đụng vào còn ê ẩm xót xa và khi nhìn xuống càng buồn hận não lòng cho đời người con gái. Em sẽ mang nó mãi mãi trọn đời cho đến hơi thở cuối cùng khi em đi về miền Miên Viễn.

    Thùy Trang bắt đầu kể:

    - Mùa hè 1962, lúc bải trường, nếu em chịu nghe lời và cùng đi với mẹ về Huế thì việc chắc không xảy ra. Em được Dì mời cùng đi chung vì em nóng lòng muốn xuống Ðiện Bàn để gặp thăm...

    - Chắc em nôn nóng đi gặp người tình muôn thuở hay người yêu suốt đời của em chớ gì?

    Thùy Trang nghe tôi hỏi bắt đầu khóc ra tiếng trở lại:

    - Không đâu anh...

    - Hoặc Thùy Trang lỡ gặp một chàng đẹp trai mộng tưởng sở khanh nào đó, phá đời trinh nữ, rồi gã quất ngựa truy phong để hận muôn đời trong lòng người trinh nữ phải không em?

    - Không phải đâu anh!!! Em đi xuống thăm ba, bằng xe đò.

    - Trời ơi!!! Người cha nào tàn nhẫn vô lương tâm vậy, con gái xuống thăm mà để hận lòng tủi nhục suốt đời cho con vậy?

    - Không phải như anh tưởng đâu, đừng nghĩ vậy làm thêm đau lòng Trang. Xe đò xuống gần đến quận Ðiện Bàn còn cách chừng 2 cây số đến chỗ ba em đóng đồn Ðịa Phương Quân. Thấy có lính ra chận xe, hành khách tưởng đâu Địa Phương Quân trạm xét hỏi như thường lệ, nào ngờ đâu chúng nó lùa tất cả mọi người xuống trong đám rừng...

    - Chắc lính ÐPQ chúng nó làm hỗn hại đời trong trắng của em phải không? Cho anh biết đồn ở đâu, nếu có một cơ hội nào bay ngang qua anh gởi tặng cho chúng nó vài trái bom 500 cân nhắc nhở anh em đừng hãm hại dân lành, phải bảo vệ sinh mang tự do và đời sống của họ.

    - Không đâu Tím 1 ơi!!! Đó là tụi lính việt cộng đang định tấn công đồn ba em đó và phi cơ khu trục bay đến yểm trợ. Chiếc phi cơ đầu bắn một loạt súng, phi cơ thứ hai vừa nhào xuống, ngưng bắn lại kéo lên, may là không thả bom.

    Tới đây Thùy Trang ôm ngực, càng sùi sụt khóc lớn trong tiếng thở than:

    - Sao Trời Phật không cho lằn đạn hôm đó nhích thêm chừng một phân nữa đi thẳng vào xuyên tim em chết tức khắc trong giây phút, như vậy sướng cho đời con gái của em hơn. Sao trời lại bắt đời người con gái phải mang vết đau và tật suốt đời và phận sự làm mẹ trong tương lai không còn đủ khả năng nữa.

    Vì khi Thùy Trang đang chơi vơi trong biển đau khổ tột cùng như muốn tìm ai chia sẻ và nâng đỡ tinh thần, nàng không ngần ngại trịt áo dài và áo nịt xuống một phần để lộ rõ ra trên bộ ngực hai bầu sữa của Thùy Trang không còn nguyên vẹn vì viên đạn lạc vô tình. Chỉ còn để lại những vết thẹo sần sùi lồi hủn vì đường may không khéo tay của các y tá bịnh viện. Tôi siết chặt Thùy Trang trong vòng tay, tim như đứng lại, thiếu nhịp không đủ chuyển máu đi nên đóng băng toàn thân, toát mồ hôi lạnh. Ðời sao quá nghiệt ngã để tôi rơi vào một tình huống phũ phàng ngang trái thế nầy.

    Nỗi đau buồn cùng cực của người nữ học sinh ngây thơ vô tội vì chữ hiếu đi thăm cha mà nên nổi nầy, đang dày xéo con tim tôi. Lời nguyền và tinh thần trách nhiệm của đời phi công Khu Trục là bảo vệ dân lành đang cắn xé và nghiến nát tâm cang tôi, sẽ pha hòa lẫn vào dòng máu tôi cho đến trọn đời. Tôi cắn môi đến rỉ máu để khỏi bật tiếng khóc. Nhưng hai giòng nước mắt âm ấm rơi từ từ xuống trên lòng ngực Thùy Trang, không chỉ mong để chia bớt và xoa dịu phần nào vết thương đau ngàn đời trên người trinh nữ, mà mong hòa lòng hối hận mông lung đang tràn ngập đời phi công khu trục của tôi, với tâm sự người con gái trời bắt khổ đau.

    Sau những tiếng Thùy Trang thở than, nào là Tím 1 ơi!!! Phi cơ khu trục đến bắn loạt súng đầu, phi cơ thứ hai nhào xuống, ngưng bắn, kéo lên... đã kéo trả tôi trở về với dĩ vãng...

    Ngày X tháng Y, năm 1962, vào một buổi chiều hè... Panama gọi phi vụ khẩn cấp. Tiếng Bạch Ðằng gọi... Phi Hổ Tím... Hình ảnh... Người áo trắng... Ðiện Bàn... đi khập khểnh tay ôm ngực đầy máu, tà áo sau bay phất phới... đã theo đuổi tâm hồn tôi trong 2 năm qua. Giờ đây tôi gặp được người bằng da bằng thịt, người nữ sinh nạn nhân của chính tay tôi và phận sự của đời trai tôi không làm tròn cho đất nước để bảo vệ dân lành. Chính tôi là thủ phạm và chịu trách nhiệm viên đạn vô tình đã để lại vết hằn trên thân thể của người trinh nữ vô tội giữa hai lằn đạn bạn và thù. Tại sao cao xanh quá trớ trêu và thần linh trên trái đất tròn rộng lớn nầy, đã xui khiến cho tôi gặp lại nạn nhân đau khổ mà chính tay tôi gây ra. Thùy Trang cài nút áo lại sau mấy giọt nước mắt ấm xót đau thương, ăn năn hận tủi rơi vào vùng đỉnh cao chiến thuật của Thùy Trang. Nàng ngước mặt lên:

    - Tím 1 cũng khóc để chia sẻ nỗi đau buồn vô tận của tâm tư cùng Trang phải không?

    - Ðúng vậy, nhưng anh xem đó không chỉ là phần thân thể thầm kín của Thùy Trang, mà nơi tượng trưng lòng đất mẹ bị cày nát vì những vết bom đạn đau thương hằng ngày, chính các anh phải mang đi để ngăn giặc chặn thù trên mảnh quê hương đất Việt miền Nam.

    Trời đã quá khuya hơn 2 giờ sáng rồi, muôn vạn vì sao đang chớp trên nền trời, gió im lặng. Cảnh vật như chìm đắm vào tâm tư đau buồn của Thùy Trang hòa cùng nỗi lòng tan nát vì trách nhiệm của người phi công khu trục trong thời chiến tranh tương tàn của đất nước Việt. 

    - Thôi chúng mình về đi em!

    Thùy Trang lên xe, tôi rồ máy trực chỉ nhà nàng. Chừng 5 phút sau, tôi ngừng lại trước cửa một nhà khá khang trang, cổng vào có giàn hoa thiên lý và hoa lài tỏa một mùi hương thơm dìu dịu làm dễ chiụ lòng người trong đêm khuya thanh vắng. Trước khi bước xuống xe Thùy Trang bảo:
    - Nếu vì chuyện của em làm buồn lòng Tím 1 đêm nay, Thùy Trang xin tạ lỗi cùng Tím 1. 

    Bước xuống xe nàng đi vòng qua bên trái chỗ tôi lái xe đứng sát bên nhìn tôi và nói:

    - Một lần nữa xin cám ơn Tím 1 đã cho Thùy Trang một đêm tâm sự đầy tình người.

    Tôi chúc lại Thùy Trang mau thành cô giáo sư đẹp của miền Sông Hương Núi Ngự. Nàng mở cổng hàng rào đi vào gần đến cửa nhà, tôi biết thế nào Trang cũng trở ra. Cái ví của nàng còn nằm dưới ghế xe tôi, lẹ tay tôi móc túi sau quần lấy trọn bao thơ mà lương của tôi vừa lãnh hồi chiều nhét vào chiếc ví của Thùy Trang. Em trở ra đứng áp sát bên tôi, ngước mặt nhìn tôi với đôi mắt ngây thơ như đang chờ đợi. Tôi lắc đầu nhẹ, lòng tôi ngỗn ngang. Tôi đang cầm chiếc ví, tôi trao cho Trang, nàng nói cám ơn và hôn nhẹ vào bên má trái của tôi rồi thoăn thoắt đi vào nhà. Tôi nói vói theo khi Thùy Trang vào đến cổng:

    - Anh có gởi cho em món quà trong ví.

    Tôi rồ xe chạy đi, Thùy Trang chạy trở ra cổng và còn đứng trông theo cho đến khi xe quẹo vào tỉnh lộ. Tôi vẫn còn thấy màu áo trắng và sẽ theo đuổi hồn tôi trọn kiếp người. Ngày mai, sau khi đi bay về nhận được tờ thư của Thùy Trang do Phi Hổ Vàng 3 Nguyễn Du đem đến, nàng có đôi lời cám ơn Tím Một và sẽ dùng món quà trọn cho năm học tới ở trường Sư Phạm Qui Nhơn.

    Tháng sáu 1964 tôi đổi về làm chỉ huy trưởng Căn Cứ Tân Sân Nhứt, tôi không theo dõi Thùy Trang cho đến năm 1972, khi ra nhận lãnh Căn Cứ 60 Chiến Thuật KQ Phù Cát do Mỹ trao lại, trong chương trình Việt Nam hóa chiến tranh. Tôi có dịp ra thăm Căn Cứ KQ Ðà Nẵng gặp lại Thiếu tá Nguyễn Du, anh cho biết Thùy Trang đã ra trường Sư Phạm và làm việc tại Qui Nhơn, về thăm gia đình ngoài Huế miền An Cựu vào dip Tết Mậu Thân, cả gia đình đã bị thảm sát, chỉ trừ có người anh thứ ba còn sống mà không biết bây giờ đang phiêu bạt nơi đâu...

    LỜI CUỐI VỚI THÙY TRANG

    Thùy Trang em, Tím 1 xin tạ tội cùng em vì anh đã không đủ can đảm thú thật với em, anh chính là người đã gây ra sự đau khổ trọn đời của vết thương trên thân thể người trinh nữ. Anh không muốn gây cho em một ấn tượng ác cảm với các anh em trong Phi Ðoàn 516 Khu Trục Phi Hổ, trong lúc em có cảm tình sâu đậm và coi mình cũng là một phần trong gia đình Phi Hổ vì có người anh chú bác Phi Hổ Vàng Thiếu tá Nguyễn Du. Tím 1 giữ kín và mang nặng trong lòng nỗi buồn thầm kín tàn phá tâm tư, anh chưa bao giờ thổ lộ cho ai biết đúng nửa thế kỷ từ năm 1964 cho đến nay 2014, Tà Áo Trắng của Cô Gái Ðiện Bàn vẫn vờn bay trong tiềm thức anh, khi Tím 1 nhìn thấy tà áo trắng nào tung bay, anh liên tưởng ngay đến tà áo Thùy Trang, Cô Gái Áo Trắng Ðiện Bàn.
    Thùy Trang mến, anh đã 82 tuổi rồi, anh không còn mang nổi ân hận về lòng trách nhiệm đó nữa. Sau khi anh mổ tim từ 9/9/10 cho đến hôm nay 1/18/14, hơn 4 năm 4 tháng rồi anh không viết thêm được dù chỉ đoạn chót, lúc từ biệt Thùy Trang bên hàng rào đầy hương thơm bông lài và hoa thiên lý trong đêm buồn không trăng nhưng nhiều sao, tâm sự cùng nhau ở bãi biển thơ mộng gần Tiên Sa. Mỗi lần anh ngồi xuống là anh thấy màn ảnh trên máy vi tính mờ đi khi giọt nước mắt rơi trên máy. Gợi lại hình ảnh những giọt nước mắt của ngày xa xưa rơi trên vết thương muôn đời không bao giờ lành trên cơ thể em hiện ra làm anh lạnh run và toàn thân tê dại anh phải tắt máy đi. Nhưng hôm nay anh phải cố gắng lắm viết cho xong lời nguyện cầu để gửi đến chúc Thùy Trang và gia đình được hưởng trọn Nhan Thánh Chúa vĩnh cửu nơi Thiên đàng. 
    Tím 1



THIẾU ÚY HÙNG

  • Image en ligne

    Image en ligne


    Thiếu Úy cảnh sát Dương Mạnh Hùng có thời gian phục vụ trong ngành ngắn ngủi chỉ 2 năm, nhưng thời gian tù cải tạo lại dài gấp 4 lần, nghĩa là 8 năm.
    Tình nguyện vào học tại trường Sĩ quan cảnh sát Thủ Đức năm 1973, lúc ấy Hùng mới 19 tuổi, trên mặt vẫn còn sót lại lưa thưa những cọng lông măng của tuổi dậy thì. Ngày mãn khóa huấn luyện, trong lúc các bạn đồng khóa vui mừng chuẩn bị đón nhận lonThiếu Úy mới tinh trên vai áo thì Hùng bị bắt. Một chiếc xe jeep mang biển số ẩn tế (giống như xe mang biển số xanh bây giờ) của Bộ Tư lệnh Cảnh sát quốc gia chạy vào trường, còng tay Hùng quăng lên xe vì cái tội khai báo lý lịch gian dối.
    Về tới Bộ Tư Lệnh cảnh sát, Hùng được tháo còng, đưa đi gặp Trung Úy Ngọc, Trưởng lưới tình báo đặc trách mảng “Sinh viên, học sinh”, thuộc Khối Cảnh sát Đặc biệt do Đại Tá Tây làm trùm. Tại đây Hùng được biết, việc bắt Hùng chỉ là một màn kịch để che mắt mọi người trong việc tuyển Hùng vào làm cho ngành cảnh sát Đặc biệt, chuyên trà trộn, theo dõi và báo cáo các hoạt động của bọn sinh viên “phản chiến”. Hùng được dặn cấm mặc đồ cảnh sát, cấm vào Bộ Tư lệnh, coi như mình còn đang đi học đại học.Mọi chuyện chỉ được liên lạc qua một người mập mập, chạy xe vespa, chính người này mỗi tháng sẽ đến nhà đưa tiền lương cho Hùng hoặc nếu không gặp thì đưa cho mẹ của Hùng.
    Sau này, qua rải rác những chuyện phiếm bên bàn rượu, hắn được biết đã có nhiều khuôn mặt việt cộng từng nằm trong “tầm ngắm” của Hùng. Đó là: Hạ Đình Nguyên (về sau phản tỉnh, có đi biểu tình chống Trung Quốc vài lần), Phan Công Trinh (sau 75 làm Giám đốc Sở Tư pháp TP/HCM, rồi đi tù vụ nước hoa Thanh Hương, tù về, mở nhà hàng Hương Giang rất bự trên sông Hương, Huế), Ba Châu (Chánh văn phòng Quận 3, nghe nói đã chết), Ba Hội (Giám đốc xí nghiệp xuất nhập khẩu Quận 8, giờ không biết ra sao, lần chót hắn gặp là năm 1983, khi Ba Hội đến nhà chơi xì phé với ông anh hắn, lúc xuống cầu thang đi tiểu, súng K54 rớt cả ra ngoài). Và toán của Hùng đang trong chiến dịch chuẩn bị bắt nữ nghệ sĩ Kim Cương thì đứt phim. 
    Sau 75, đi qua nhiều trại cải tạo cũng như chịu đựng mấy trận đòn thù cứ gọi là nên thân, Hùng được thả về cuối năm 1983. Năm sau, Hùng lấy vợ (là cô cháu vẫn thường đi thăm nuôi người chú là bạn tù của Hùng trong trại Z30 D), có được 2 người con gái. Cái gia đình nhỏ bé 4 người này đã trải qua những năm tháng lếch thếch, nghèo khổ... Hắn nhớ lại, lúc đó tài sản quý giá nhất của gia đình Hùng hình như chỉ là mấy cái chậu giặt đồ xanh đỏ bằng mủ. 
    Rồi khó khăn cũng qua đi, Hùng và cả gia đình leo lên máy bay qua Mỹ theo diện HO. Tại thành phố Knoxville, bang Tennessee, Hùng làm lao công cho một bệnh viện lớn ở đây. Cả ban giám đốc bệnh viện đều khoái Hùng vì sự chăm chỉ và cẩn thận vượt quá óc tưởng tượng của mọi người. 
    Cách đây khoảng 2 hay 3 năm gì đó, Hùng về hưu non. Hàng tháng lãnh lương hưu chỉ để vui chơi, chăm sóc 2 đứa cháu ngoại mà Hùng thương yêu nhất trên tổng số 7- 8 tỷ con người đang sống trên mặt đất. Thỉnh thoảng Hùng đi câu cá. Cá sợ Hùng lắm, nhưng sợ thì sợ, kết cục cũng phải nằm trong cái thùng nước đá mà Hùng mang theo lúc đi câu.
    Tới đây chắc phải nói qua một tí về quỹ hưu trí của nước Mỹ. Theo hắn đoán, đây là nơi tập trung những bộ óc thông thái nhất của nước Mỹ về các ngành Sinh học, Nhân chủng học, Tâm lý học, Y tế học, vân vân và mây mây... Các bộ óc siêu việt này, ăn toàn đồ bổ của Mỹ, đã cùng nhau phát minh ra một hệ thống lương hưu, mà không hiểu sao, 80% những người nhận lương hưu sẽ chết trong vòng 5 năm. Chỉ có 20% là may mắn sống vượt ngưỡng 5 năm để tiếp tục lãnh lương mà không phải làm gì cả.
    Thiếu Úy Hùng đã không vượt qua được sự tinh khôn của các nhà khoa học Mỹ. Cách đây chừng 4 tháng, trong lần Hùng tới chơi nhà hắn, Hùng cho biết bị ung thư thận, sắp phải mổ. Hắn bảo đừng mổ, để thời gian đó đi chơi cho đã rồi chết cũng được. Hùng ừ. Nhưng cuối cùng chắc chiều theo ý gia đình muốn níu kéo, còn nước còn tát, Hùng nhập viện để mổ.
    Thế rồi sau 2 tháng nằm đau đớn trong bịnh viện, với đủ các loại ống linh tinh cắm vào người, Hùng được về nhà theo yêu cầu và đã ra đi lúc 8g 40 ngày 15/2/2022, trước sự chứng kiến của gia đình, có cả hai đứa cháu ngoại mà mấy tháng nay không được nhìn thấy mặt ông, vì còn quá nhỏ, bệnh viện không cho thăm gặp sợ ảnh hưởng tới tâm lý của hai bé. 
    Với bài viết hơi bị dài này, (vì không thể rút ngắn hơn được) hắn coi như một nén nhang, một lời chào từ biệt đứa em thân với hắn nhất trong nhà. Từ thuở còn bắn bi, đặt bầu cua, cho tới lúc lớn, gặp nhau là cười suốt bên bàn rượu, bởi vì tánh Hùng thích nói giễu, nhất là nói chuyện giễu về việt cộng thì ít ai có thể qua mặt được Hùng. 
    Thôi Hùng đi thanh thản. Anh ở lại sẽ buồn, nhưng anh sẽ sống với ý nghĩ một ngày nào đó anh em mình sẽ gặp lại nhau ở thế giới bên kia. Và anh em mình sẽ lại cười giỡn như chưa hề được cười giỡn với nhau.
    Loc Duong


KÝ ỨC MỘT THỜI TÙ CẢI TẠO
  • Image en ligne

    Tôi không mấy tin tưởng vào các tin đồn sẽ có đợt thả tù nhân dịp những ngày kỷ niệm “gọi là quan trọng”, như ngày 19/8 đến 2/9 và ngày kỷ niệm tháng 10 Nga. Tuy nhiên, tin đồn cũng làm nhiều người mất ăn mất ngủ.
    Một người bạn cùng phòng với tôi được bạn hữu cho hay kỳ thả tù này sẽ có tên anh, vì nghe nói anh có người họ hàng dây mơ rễ má, làm chức vụ quan trọng gì đó ngoài Hà Nội, một chỗ dựa khiến anh tin tưởng. Trông anh vui hẳn lên, niềm vui đã làm anh thay đổi. Anh cho bạn các thứ đồ dùng, chia một phần thức ăn vì khi được về anh cũng không cần những thứ này. Thời gian trôi qua, đến ngày lễ lớn không có đợt nào về, niềm thất vọng tác động mạnh, khiến anh xìu xuống như một người mang bệnh nặng. Tin đồn thả tù lần này xuất hiện từ đầu tháng 8. Mọi người nghĩ đến ngày 19 tháng 8, kỷ niệm “Cách mạng mùa Thu”. Không khí vui nhộn ngày một lan rộng, một hiện tượng tâm lý vì trông đợi lâu ngày. Theo kinh nghiệm những người miền Bắc, 6 năm không về sẽ phải đợi thời điểm 9 năm và như thế kéo dài sự chờ đợi “3 năm” vào lần kế tiếp. Người ta ví “án lệnh 3 năm tập trung cải tạo” như một sợi dây thun kéo dài vô tận.

    Ngày lễ 19 tháng 8 qua đi, vẫn không có một dấu hiệu nào xẩy ra. Tin đồn lại hướng về ngày 2 tháng 9.

    Một ngày sau khi đi lao động về, anh Đèo Văn Tsé nói riêng với tôi:

    - Cán bộ cho tôi hay có đợt tha vào dịp lễ này.

    Tôi tin lời anh Tsé, một người “Dân Tộc” miền Bắc. Tính anh hiền lành và thẳng thắng nên được cán bộ tin tưởng, nhưng tôi vẫn hỏi anh:

    - Anh có nghe rõ không? Cán bộ nói là ngày nào?

    - Tôi có hỏi nhưng cán bộ chỉ nói tới đó.

    Tôi bảo anh Tsé:

    - Ngày mai đi lao động, anh hỏi lại cán bộ là trong danh sách đợt tha này có tên anh không?

    Ngày hôm sau anh Tsé cho tôi hay:

    - Tôi đã hỏi lại và cán bộ cho biết đợt tha này có tên tôi. Cán bộ còn nói Chuẩn úy Hòa phụ trách mua vé tàu.

    Tôi nghĩ tin đồn lần này có thể tin tưởng phần nào vì chính cán bộ quen anh Tsé nói. Tuy nhiên, tôi bảo anh Tsé:

    - Anh nói có quen cán bộ Hòa, nên đi hỏi cho chắc ăn.

    Đối với tôi hình ảnh “được tha” rất mơ hồ. Tôi nhớ tới ngày lãnh gói quà 3Kg đầu tiên từ ngày tôi ra Bắc mà vợ tôi gửi qua đường bưu điện. Khi Thiếu úy Lăng gọi tên tôi lên lãnh quà, có sự hiện diện của Đại úy Bông, Trại Phó. Thấy tôi, Đại úy Bông hỏi:

    - Anh Kim đi lãnh quà phải không?

    - Thưa vâng.

    - Anh có nhận được quà thường xuyên không?

    Tôi tự nhủ, mới từ trại Quyết Tiến (Cổng Trời, Hà Giang) chân ướt chân ráo về trại này làm gì có phiếu gửi quà. Trong mấy năm nay, vì di chuyển bất thường nên gia đình tôi cũng không biết tôi đang ở đâu. Khi về trại này, nhờ bạn có gia đình tới thăm nuôi nhắn tin nên vợ tôi mới biết tôi ở đây. Không hiểu vợ tôi lấy phiếu gửi quà ở đâu, hay nàng mua chợ đen tại khu Bưu điện Sài Gòn như lời đồn. Tôi chậm rãi trả lời:

    - Mấy năm đi cải tạo, đây là lần đầu tiên tôi nhận được quà.

    Đại úy Bông đột nhiên đổi giọng với vẻ mặt giận giữ:

    - Gia đình anh gửi quà cho anh nhiều vào, anh ăn cho khỏe để chống lại nhà nước.

    Tôi im lặng mỉm cười. Qua khung cửa sổ, bên ngoài tấm vách ngăn, hai anh Tô Tứ Hướng và Nguyễn Khắc Linh đang đợi đến lượt vào lãnh quà, đã nghe rõ câu Trại Phó nói. Tôi nghe thấy hai bạn nói nhỏ: “Chuyến này Kim thê thảm rồi, bị trại Phó ghim thì khó mà sống yên thân.” Tôi quay nhìn ra ngoài, thấy anh Hướng dơ cao ngón tay cái.

    Dưới sự chứng kiến của trại Phó, gói quà của tôi trong tay cán bộ Lăng đã trở thành một mớ xà bần. Ngay ống thuốc đánh răng cũng bị hắn tháo phần đáy, lấy chiếc đũa tre ngoáy bên trong, không thấy gì, hắn liệng ống kem vào gói quà. Bánh thuốc lào hiệu 3 số 8 cũng bị xé nhỏ. Hắn nghi ngờ trong gói quà của tôi có giấu những thứ trại cấm, như tiền hay tài liệu vo tròn trong thức ăn. Hắn đổ lọ thuốc B1 trên tấm giấy, vì viên thuốc quá nhỏ nên tha không đập vỡ. Dù sao, gói quà đến với tôi thật đúng lúc. Tôi đang ở trong tình trạng hạn hán đợi mưa, như cây khô chờ từng giọt nước. Phần thịt trên người đã để lại trên trại Cổng Trời, thân thể tôi chỉ còn da bọc xương…

    Tin đồn ngày một rõ. Một số anh em cũng được cán bộ cho hay có đợt tha vào dịp lễ này. Tôi cũng chỉ biết vậy, không mấy hứng khởi, vì hồ sơ của tôi đã ghi đầy đủ nhận xét của những trại tôi đi qua. Từ trại Ty lên Thành, với hàng chữ lớn “CIA” thêm nhiều dấu hỏi in đậm bằng bút chì màu đỏ, viết bên lề bản lấy cung, đến các trại miền Bắc, cả về “lao động: xấu lẫn kém”, kèm thêm hình ảnh một tên “Phản động, chống cách mạng và nhà nước cộng sản”.

    Vào 1 buổi sáng đầu tháng 10, trước giờ lao động, chúng tôi được lệnh tập họp dưới sân trại. Khi Ban giáo dục của trại đến, 1 cán bộ đứng trước hàng chúng tôi nói lớn:

    - Tôi gọi tên người nào, người đó đứng lên bước sang bên xếp hàng. Các anh có tên trong đợt tha kỳ này về phòng thu xếp đồ dùng cá nhân, sẽ được chỉ định chỗ ở sau.

    Hắn cầm tờ giấy đánh máy đọc tên 34 người. Các anh Tô Tứ Hướng, Nguyễn Ngọc Liên và anh Nguyễn Văn Thành cùng phòng 5 với tôi có tên trong danh sách về đợt này. Một số tên khác được gọi tiếp. Tôi ngỡ ngàng khi nghe đọc tên mình. Tôi chưa kịp có phản ứng, thì người bạn ngồi bên cạnh vỗ nhẹ lưng tôi, nhắc: “có tên anh”. Tôi đứng lên theo các bạn được gọi tên trước ngồi theo hàng bên cạnh các đội đi lao động. Trong danh sách có 34 tên nhưng chỉ có 32 người thuộc trại Thanh Cẩm, còn hai tên khác nghe lạ hoắc. Mãi sau này tôi mới biết có 2 người thuộc trại Thanh Cẩm được về kỳ này cho đủ số 34, nhưng bị đưa lầm tên sang trại khác và 2 người thuộc trại khác lại có tên trong danh sách chúng tôi.

    Chúng tôi chuyển lên “khu Kiên giam”, sẽ ở đây ít ngày để đợi tàu về miền Nam.

    Khi lên khu kiên giam, anh Hướng nhắc lại chuyện cũ:

    - Kể cũng lạ, khi rời trại Nam Hà, trại thưởng công cho anh ở căn nhà mới vài giờ vì anh đã đổ mồ hôi hoàn chỉnh, để có chỗ cho anh em từ Hoàng Liên Sơn chuyển tới, còn bây giờ, anh lại được lên khu kiên giam ở vài ngày trước khi về.

    Khi tới trại này, tôi và anh Hướng “góp bữa ăn chung” và bây giờ chúng tôi lại về cùng một chuyến tàu. 32 anh em chúng tôi chia nhau chỗ nằm trên khu kiên giam, nơi mà 2 năm trước đội 16 của chúng tôi chịu trách nhiệm hoàn tất mái bằng với xi-măng cốt sắt.

    Đứng trên khu kiên giam nhìn xuống, 2 dẫy nhà 2 bên và cổng gác ôm trọn khoảng sân rộng. Ở giữa sân, căn hội trường, biểu tượng uy quyền của chính sách nhà nước, chiếm một khoảnh đất rộng gần phía khu kiên giam, mái dốc đứng như căn nhà Rông của người Thượng vùng Cao Nguyên Trung phần, mà tôi và anh Trương Văn Tuyên lãnh phần lợp lại mái tranh đầu hồi chỉ còn trơ xương tre. Hội trường lâu ngày không còn xử dụng, mái tranh xơ xác, tả tơi như cặp cánh gà chọi sau một lần thua trận. Tôi thường nói đùa với các bạn, nhìn cảnh tiêu điều của căn hội trường chẳng khác nào chính sách của chế độ này. Phía dưới, gần khu nhà bếp, một giếng nước cung cấp nước uống cho trại, tạm ngưng không xử dụng vì nước đục ngầu do đất bùn lọt qua lọt qua khe hở thành giếng. Tôi và 2 bạn Phan Công Tôn, Lê Ngọc Thạch được chỉ định sửa lại chỗ hở nơi tiếp giáp hai ống xi măng thành giếng. Tôi và anh Lê Ngọc Thạch đứng trên, dùng dây kéo ống xi măng để anh Phan Công Tôn ở dưới giếng điều chỉnh 2 vòng ống thành giếng. Hai chúng tôi cố sức kéo ống xi-măng để không gây nguy hiểm cho bạn ở dưới. Ống xi-măng quá nặng trong lúc sức khỏe chúng tôi ngày một suy sụp, khiến phần xương sống dưới thắt lưng của tôi rêm nhức. Từ đó, cơn đau hành hạ tôi ngày đêm nhất là vào mùa Đông giá lạnh, lưu lại như một kỷ niệm khó quên của thời “tù cải tạo”.

    Từ cổng trại, vượt qua con đường nhỏ chắn ngang, giòng sông Mã nằm sâu phía dưới, nước phù sa đục ngầu, cuồn cuộn như bóng ngựa phi.

    Nhớ lại chuyện cũ, vì tình hình chiến sự ngày một nghiêm trọng tại các tỉnh vùng biên giới phía Bắc, chúng tôi rời trại Quyết Tiến chuyển về đây. Chúng tôi xa dần vùng đất chết Cổng Trời, rũ bỏ được nỗi ám ảnh bỏ xác trên “đồi Bà Then”. Tôi thoát được nơi rừng xanh núi biếc quanh năm sương phủ của vùng biên giới, mà cái đói cái rét và lao động khổ sai đã nhận chìm ước vọng của đời sống cũng như nhân cách một con người. Như một vết chém khó lành in sâu trong tiềm thức, thường ẩn hiện trong giấc ngủ trằn trọc về khuya.

    Hậu quả của “đói, rét, bệnh tật” nhất là hoàn cảnh đời sống đã biến đổi 1 con người, luôn ám ảnh tâm trí của tôi. Tôi nhớ mãi nét mặt của Cẩn, một tù nhân hình sự miền Bắc với án chung thân khổ sai vì can tội trộm cướp giết người.Hắn đói đến nỗi, vào một ngày lao động, trông trước trông sau khi thấy cán bộ võ trang quay nhìn hướng khác, hắn lấy một nắm rau muống xanh non cao hơn một gang tay vừa tưới phân chuồng, chỉ kịp giũ bỏ phần nào nước tưới và giòi bọ còn bám trên lá rau, cho vào miệng nhai. Tôi nhìn rõ những vệt nước màu xanh ứa ra hai mép, vội bảo hắn:

    - Cháu ăn như vậy rất nguy hiểm cho sức khỏe.

    Hắn không trả lời tôi ngay vì mắc kẹt nắm rau trong miệng. Một lát sau hắn mới nói:

    - Bác ơi! Chết no còn hơn chết đói.

    Tôi hiểu ý câu hắn nói, dù chỉ là một câu đơn giản nhưng lại là một điệp khúc được người tù hình sự miền Bắc thuộc nằm lòng:

    “Sống no còn hơn sống đói,
    Sống đói còn hơn chết no,
    Chết no còn hơn chết đói.”

    “Bóp miệng Túm dạ dầy” vốn là chính sách độc trị hàng đầu của CSVN, nên “Đói rét” và “lao động khổ sai” được tận dụng, đã hủy diệt cả về thể xác lẫn ý chí đấu tranh của một dân tộc, đẩy con người xuống hàng súc vật. Với bản chất ngu dốt, tàn bạo, đã biến đổi thành phần cầm quyền trở nên mất tính người.

    Chúng tôi thoát khỏi vùng đất chết Cổng Trời. Về đây, trại Thanh Cẩm với nắng ấm, khí hậu ôn hòa bên giòng sông Mã, tinh thần trở lên phấn chấn dễ chịu hơn, gạt bỏ được phần nào hình ảnh đen tối trước đây. Tôi sống ở trại này đã 4 năm với nhiều kỷ niệm. Nhóm Quyết Tiến chúng tôi có 48 người, khi chuyển về đây được đưa vào căn nhà mang số 5, căn nhà cao nhất dẫy về phía bên trái, sát với khu kỷ luật.

    Chúng tôi được lập đội, mang tên đội 16, đội “xây dựng nhẹ”. Đội “Xây dựng” được gọi là “nhẹ” vì gồm những tay mơ, chưa một lần cầm đục cầm tràng. Cả đội chỉ có vài cái cuốc cái xẻng và một chiếc cưa tay nhỏ. Một đội mà người nào người nấy như những bộ xương biết đi, thân xác tả tơi như những con “Cò ma” gặp ngày mưa bão, vì phần thịt trên cơ thể đã để lại trại Cổng Trời.

    Các bạn trong trại ưu ái đặt cho đội của tôi danh xưng “Đại đội Trừng giới”, những con người sống sót từ trại Quyết Tiến–Hà Giang nằm sát biên giới Việt–Trung, một trại tù được mệnh danh là “Trại kỷ luật số 1 của Bộ công an Hà Nội” với 4 năm cầm cờ đỏ.

    Sau vài ngày ổn định chỗ nằm, 1 số anh em trong nhóm Quyết Tiến đi kỷ luật, trong đó có các vị Linh Mục. Có phải đây là một hành động dằn mặt những người mới tới, hay trại muốn ngăn ngừa hành động bất trị của chúng tôi có thể lây lan trong trại. Đến lượt Nguyễn Tiến Đạt, một người anh em trẻ nhất trong nhóm, đã cùng tôi dắt díu nhau từ trại Ty lên Thành rồi chuyển ra các trại miền Bắc, cũng vừa lên khu kỷ luật.

    Chúng tôi chưa có công việc nào gọi là ra hồn, vẫn chỉ làm vệ sinh trong khuôn viên trại. Vào một buổi lao động, 1 cán bộ trẻ đi qua, thấy anh Nguyễn Đức Khuân đeo kính cận, hắn gọi anh tới gần, nói lớn:

    - Tại sao anh đeo kính khi lao động? 
    Khuân trả lời hắn:

    - Tôi cận thị nên phải đeo kính. Tôi đã đi qua nhiều trại trước khi tới đây, chưa có cán bộ nào thắc mắc tôi đeo kính khi lao động.

    Hắn bực tức trước câu trả lời của Khuân. Mọi người dừng tay chờ xem hành động của tên cán bộ. Có tiếng nói trong đám anh em:

    - Nó ngu thật, cận mà không cho đeo kính thì khác gì mù.

    Hắn nghe rõ câu nói, quắc mắt nhìn về phía anh em như tìm người vừa buông lời sỉ nhục. Hắn quay qua Khuân, quát lớn:

    - Đưa kính đây.

    Khuân đưa kính cho hắn. Hắn cầm kính ném xuống đất đè gót giày lên rồi bỏ đi. Cặp gọng kính như cặp cánh gà vặn ngược trước khi cắt tiết, một mắt kính đã rời ra khỏi khung tròng. Khuân như kẻ mù, nhất là sau thời gian dài bị hành hạ, cùm xích trong phòng tối, cái đói và cái khổ cùng cực đã làm đôi mắt anh ngày càng tăm tối. Anh cận nặng nên không nhìn rõ hình ảnh trước mắt. Mọi người đều tức giận.

    Sau vụ của Khuân, không khí sinh hoạt của đội 16 căng thẳng hơn trước. Trong một buổi sinh hoạt hàng tuần, anh Lê Văn Khương (Chín Khương, tòng sự tại trại giam Côn Sơn) đưa lời phản đối hành động của cán bộ trại. Anh bảo anh thư ký buổi họp:

    - Xin anh ghi rõ và đầy đủ lời phát biểu của tôi.

    Mọi người chưa biết anh nói gì, nhưng nét mặt anh đầy vẻ bất bình. Anh nói tiếp:

    - Từ sau ngày miền Nam bị xâm chiếm và trong suốt thời gian đi tù tại các trại từ Nam ra Bắc, tôi xác định một điều, chế độ cộng sản là một chế độ vô nhân đạo, tước bỏ quyền sống của con người. Tôi không bao giờ chấp nhận và không thể sống chung với chế độ bạo tàn này.

    Anh thư ký ngưng viết, nhìn anh Chín như thầm hỏi anh có ý định thay đổi lời vừa phát biểu không. Anh Chín quay qua anh thư ký nhắc:

    - Xin anh ghi lời tôi phát biểu đầy đủ.

    Anh thư ký vẫn chưa ghi vào biên bản, quay nhìn anh em trong phòng như dò hỏi, để xem có lời nào can ngăn. Cả phòng vẫn im lặng như tán thưởng. Bất chợt, phút giây căng thẳng vụt biến mất, trả lại không khí vui tươi cho mọi người. Anh thư ký nhìn các bạn mỉm cười. Tập thể “Đại đội trừng giới” đã vượt qua nhiều thử thách, “48 người” vẫn chỉ là một.

    Buổi họp vẫn sôi động. Đến lượt anh Ninh Vệ Vũ dơ tay xin phát biểu, mọi người im lặng chờ nghe. Vũ nói:

    - Tôi quyết tâm. Thà chết không chấp nhận chế độ cộng sản. Một chế độ hủy diệt quyền sống của con người…

    Tôi nhìn Vũ bắt gặp một nụ cười. Anh vẫn như ngày nào, hồi còn ở trại Phan Đăng Lưu, Sài Gòn. Ra vào phòng kỷ luật như cơm bữa. Anh trải qua mọi kiểu cùm xích, từ xích chân xích tay trong phòng tối, đến xích thành xâu người tại phòng 7 khu A. Tôi nhìn anh Chín Khương đến Vũ, nét mặt họ thật cương quyết. Tôi cảm phục họ, những người bạn cùng chung một chiếc thuyền, có chung bầu tâm huyết.

    Mấy ngày sau, anh Chín Khương đi “làm việc”. Khi đội lao động về, chỗ nằm của anh Chín trống trơn. Anh đã ra khỏi phòng. Mấy năm sau này, anh Nguyễn Tường Ánh (con ông Hoàng Đạo) cho hay, anh Chín Khương chuyển về trại Nam Hà (Xã Ba Sao, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam Ninh), là trại đầu tiên tôi tới khi ra Bắc. Anh Chín Khương trở nên ngơ ngác, không nhớ điều gì. Tôi liên tưởng tới chính sách “tẩy não” mà chúng tôi đang được “học tập cải tạo”.

    Sau khi anh Chín rời trại, đến lượt Vũ đi “làm việc”. Trước khi đi lao động, tôi bảo Vũ:

    - Chuyện đến đã đến. Có chuyện gì anh nhắn cho anh em biết.

    Vũ mỉm cười trả lời:

    - Chuyện cũ tái diễn. Tôi đã sửa soạn tinh thần xa anh em một thời gian. Dù sao chúng ta cũng vừa trải qua những ngày thật vui và đáng ghi nhớ.

    Sau Nguyễn Đức Khuân và Nguyễn Tiến Đạt đi kỷ luật, chúng tôi sẵn sàng chờ đợi đến lượt mình vì biết tai ương sẽ ập đến bất cứ lúc nào. Bộ Nội vụ nắm giữ mạng sống chúng tôi, nhưng thân xác chúng tôi lại nằm trong tay đám cán bộ trại, nên họ có quyền hành hạ chúng tôi.

    Số anh em đội 16 đi kỷ luật khá đông, nhân số còn lại hơn 30 người nên thường đảm nhận những công tác vệ sinh trong khuôn viên trại, như dọn dẹp khu kỷ luật mới vừa hoàn tất, gạch đá còn ngổn ngang. Nhìn xung quanh khu kỷ luật chỉ thấy vòng tường cao, trên giăng nhiều hàng kẽm gai. Đứng trong vòng tường, không nhìn thấy khung cảnh phía xa, ngoại trừ những tàng cây bên sườn núi thấp thoáng trên đầu tường.

    Đến giờ giải lao, anh Đặng Văn Tiếp đề nghị tôi hát lại khúc hát mà có lần tôi hát cho anh nghe khi còn ở trên trại Quyết Tiến, ghi lại những giây phút đen tối của 1 kiếp người sau nhiều tháng bị cùm xích trong phòng tối của khu kỷ luật.Tôi trả lời anh Tiếp:

    - Có lẽ trong hoàn cảnh này tôi muốn diễn tả tâm tư của tôi, và có lẽ của cả chúng ta, 1 ngày nào đó, không sớm thì muộn, sẽ lần lượt bước vào chốn này, chung hưởng nỗi cay đắng với các bạn trong kia.

    Dù không phải là ca sĩ nhưng hát hay không bằng hay hát nhất là khi con người không nghĩ tới ngày mai xa xôi của mình. Tôi hát lại bài hát “Cacho / Xà Lim” dựa theo âm hưởng nhạc bản “Paloma”, một bản nhạc tôi đặt lời Việt trong căn xà lim, thuộc khu kỷ luật trại Băng Ky tỉnh Gia Định. Để diễn tả tâm trạng của người tù dưới chế độ CS, bị đày đọa trong căn phòng tối tăm nhơ nhớp, mà sự sống vốn thê lương ngắn ngủi, dù thức hay ngủ cũng chỉ là một giấc mộng phù du. Tôi đã hát bản nhạc này cho bạn tù trong các căn xà lim bên cạnh vào đêm giao thừa năm Bính Thìn 1976, để đón chào một năm mới với kiếp sống đọa đày.

    Khi tôi dứt tiếng ca, anh Tiếp vỗ tay, như quên hẳn sau lưng mình là khu kỷ luật thuộc vùng đất nổi tiếng Lý Bá Sơ. Mái tóc điểm muối nhiều hơn tiêu, khuôn mặt xương xương pha màu trắng xanh xao thể hiện quãng thời gian khổ ải đã qua, thêm đôi kính cận trông thật hiền hòa thân ái. Anh Tiếp cười vui:

    - Mẹ kiếp! Hát được quá đi chứ, đúng là ca sĩ thứ thiệt ngoài đời. Nếu có chiếc “kèn sắc” phụ họa thì hay biết mấy. Nhưng không hiểu sao, với nhạc điệu Tango trang trọng, vui tươi mà lời ca anh đặt lại đau thương như con tim đang rỉ máu và giọng ca của anh lại tan nát thê lương, diễn tả đúng kiếp sống không ngày mai của chúng mình. Phải! Chúng ta đang đi tới con đường cùng. Chua xót thật…

    Tôi nhận ra, cũng nhờ tinh thần của những lời ca, bài hát làm trong tù, đã giúp chúng tôi giữ được lòng bất khuất trước đàn áp, cực hình trong một cuộc sống quá khắc nghiệt.

    Rồi anh Tiếp đi kỷ luật. Anh tử nạn vào sáng ngày 2 tháng 5 năm 1979 vì những trận đòn thù trong một lần trốn trại. Cùng trốn với anh có LM. Nguyễn Hữu Lễ, Đại tá Trịnh Tiếu, giáo sư Nguyễn Sĩ Thuyên và anh Lâm Thành Văn. Anh Tiếp bị đánh chết tại chỗ, thân xác anh được trật tự Bùi Đình Thi kéo lê trên những bậc tam cấp qua cửa phòng 5, đường lên khu kỷ luật.

    LM. Nguyễn Hữu Lễ không khá hơn. Cũng như anh Tiếp, LM. Lễ bị đám cán bộ trẻ đánh hội đồng ngay bên bờ sông Mã. Kéo qua cổng gác và tiếp tục đánh cho đến khi ông ngất xỉu, rũ xuống như xác không hồn. LM. Lễ thật may mắn, trật tự Bùi Đình Thi tưởng ông đã chết nên kéo xác anh Tiếp đè lên người ông. LM. Lễ được trật tự Thi kéo lên khu kỷ luật, liệng bỏ vào phòng như một hành động phủi tay. Sau này các nạn nhân sống sót kể lại, trật tự Bùi Đình Thi cũng tiếp tay cán bộ, hành hạ thân xác các bạn tù tại sân trại.

    Sau nhiều ngày trăn trở giữa sự sống và cái chết trên nền đá nhơ nhớp, LM. Lễ tỉnh lại. Thương tích bầm tím đầy người, tiêu và tiểu pha máu kéo dài cả tháng. Không có thuốc chữa trị, cầm bằng thần chết cận kề. Nghe Nguyễn Tiến Đạt, một người bạn trẻ trong nhóm Cổng Trời chúng tôi kể lại, mỗi lần trật tự Bùi Đình Thi gánh phần ăn lên khu kỷ luật, hắn không dám vào phòng LM. Lễ vì xú uế xông lên nồng nặc, nên gọi Đạt bị giam kỷ luật ở phòng bên cạnh sang làm vệ sinh. Lợi dụng khi trật tự Thi ra ngoài, Đạt nhúng chiếc khăn mang theo vào tô nước muối, và vắt những giọt nước muối vào miệng LM. Lễ trước khi lau chùi người ông và dọn dẹp căn phòng. Có lẽ nhờ những giọt nước muối ấy phần nào đã làm dịu những vết thương đang loang máu trong cơ thể LM. Lễ, và cũng nhờ ý chí sống còn mạnh mẽ, ông đã thoát khỏi lưỡi hái của tử thần.

    Cuộc sống cam go của chúng tôi qua đi như một khúc phim quay chậm thường ẩn hiện mỗi đêm trong giấc mơ hãi hùng. Người chết đã yên phận, mặc dù thân xác được vùi lấp thật vội vàng. Nghĩ tới LM. Lễ, một bạn tù đã cùng tôi rời trại Nam Hà trên chuyến xe định mệnh vào đêm Giáng Sinh, ngày 24-12-1977. Khi đó tôi không biết mình sẽ tới đâu, xa hay gần, nhưng được nhắn nhủ nơi đó là “vùng đất chết”, không hứa hẹn có con đường về.

    Vào nửa đêm, sắp đến giờ hành lễ, anh em trên xe yêu cầu LM. Lễ làm phép lành. Trong xe đột nhiên yên lặng. Tôi nghe rõ từng hơi thở của các bạn hòa nhịp với lời kinh nhè nhẹ thanh thoát. Trong hoàn cảnh, vào giây phút này, bên bờ giữa sự sống và cái chết, tôi càng kính trọng hơn đối với người đại diện Chúa trước mặt. Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ cùng đi với tôi trên chuyến tàu “Sông Hương” từ Nam ra Bắc, đã chia xẻ với bạn tù nhiều cay đắng. Chẳng phân biệt giữa đạo và đời, giữa con chiên và người đại diện Chúa. Địa vị trước đây đã trở thành vô nghĩa, tất cả chỉ còn tình huynh đệ, là tình yêu thương con người mà sự sống và cái chết đã gắn bó với nhau.

    Mặc cho tiếng la hét, đe dọa của đám cán bộ công an võ trang trên xe, lời kinh vẫn trầm bổng, như gửi hồn vào chốn thiêng liêng tối thượng. Tôi nghe rõ cả tiếng trái tim mình đập trong lồng ngực, đã tự hỏi, tại sao những người này lại không khiếp sợ trước bạo lực, những đòn thù vào ngày sắp tới. Phải có gì mầu nhiệm khiến con người đã hết lòng tin tưởng, vượt qua những hiểm nguy đe dọa. Tôi chợt hiểu khi nhớ tới gương sáng của các “Thánh tử vì đạo” với đức tin cao cả.

    Anh Lâm Thành Văn chết sau đó một tuần. Anh bị đau dạ dầy nên phần ăn bo bo nguyên hạt chưa nấu chín, lần vỏ cứng sắc như lưỡi dao đã làm dạ dầy của anh chẩy máu. Khi chết chân của anh Văn vẫn còn trong vòng cùm. Đại tá Trịnh Tiếu và giáo sư Nguyễn Sĩ Thuyên cũng chẳng khá hơn. Thân thể bầm dập vì những trận đòn thừa sống thiếu chết, bị cùm xích lâu ngày trong phòng kỷ luật, sức khỏe yếu dần sau lần trốn trại.

    Đội 16 không đủ nhân số cho một đội lao động, nên trại đã chuyển một số anh em từ các phòng khác lên phòng 5. Anh Nguyễn Cao Quyền, nguyên Chánh Án Tòa Án Đặc Biệt, chuyển từ khu kiên giam xuống đội 16, dáng người cao nên trông anh càng gầy. Rất may anh còn đi lại được. Anh luôn vui vẻ, thân ái đối với anh em trong phòng. Trong đợt chuyển phòng lần này còn có anh Nguyễn Văn Thành, nguyên Chánh án, dược sĩ Phạm Văn Diệm và bác sĩ Trương Khuê Quan. Theo nội quy của trại, bác sĩ Trương Khuê Quan không được “hành nghề”, nhưng ông thường xem bệnh và cho lời khuyên khi anh em bị bệnh.

    Tôi nhớ bác sĩ Trương Khuê Quan có lần nói: “Nhiều người ngại không dám gần nhóm Cổng Trời các anh vì họ sợ bị ảnh hưởng tới ngày về của họ. Nhưng tôi muốn gần các anh, để được lây cái hên vì các anh đã thoát chết ở trại Cổng Trời. Tôi cũng thích câu anh thường nói, trời sập cũng thế thôi…” Đây là câu tôi thường tự nhắc nhở, vì cuộc đời của chúng tôi trong lúc này không còn tùy thuộc vào chúng tôi nữa, kể cả sự sống và cái chết. Nên còn gì để lo, để sợ.

    Đội 16 làm công tác xây dựng, các bác Phạm Văn Diệm (tiến sĩ Dược) và Bác sĩ Trương Khuê Quan (Giám đốc Quốc gia Nghĩa tử) trở thành phụ hồ trong tổ xây với tôi. Đó là nét “ưu việt” của Xã hội Chủ nghĩa, cải tạo mọi thành phần trí thức trở thành lao động chân tay. Đứng trên giàn giáo, tôi kéo phụ hai bác những thùng vữa đầy lên giàn trước khi xây và nhận ra sự thay đổi một cuộc đời thật dễ dàng và chua xót:

    “Bác sĩ Quan cuốc đất,
    Dược sĩ Diệm phụ hồ…”

    Về phần tôi, trong suốt thời gian “tù cải tạo”, đã đi lên từ công việc hạ tầng, từ đào mương vác đá đến chặt nứa khiêng cây, từ gánh nước tưới rau đến thợ mộc thợ nề. Và bây giờ, cuộc đời tôi dính liền với dao xây thùng vữa. Cán bộ trại thường nhắc nhở, chúng tôi “may mắn” được xã hội mới cải tạo, tôi luyện từ thể xác đến tinh thần, để trở thành “con người mới Xã hội Chủ nghĩa”, có tay nghề vững chắc, mà nhờ đó có cuộc sống ấm no sau này.

    Phòng 5 ngày một đông. Các anh từ Hoàng Liên Sơn chuyển về đây, được thành lập đội 15, ở một nửa căn phòng 5 gần cổng ra vào. Nhờ có thêm anh em ở phòng khác tới, không khí đội 16 vui hẳn lên. Văn nghệ cũng khởi sắc. Ngày chủ nhật sân trại vắng tanh vì trại cấm tù nhân qua lại các phòng. Tôi nhìn về phía cổng gác, tìm lúc cán bộ trực gác đi khuất, băng qua khoảng sân rộng cuối hội trường để sang phòng 4. Một số bạn “mê” giọng ca của Nguyễn Hữu Phúc, Đại úy Không quân nên các bạn thường gọi anh là “Phúc giặc lái”, đã quây quần ở sàn trên. Chúng tôi yên tâm vì có một số anh em ngồi nơi cổng ra vào buồng canh chừng cán bộ bất thường tới kiểm soát.

    Bên ly trà bốc khói, chúng tôi lắng nghe Phúc hát, giọng hát trầm ấm, êm dịu diễn tả nỗi lòng thương nhớ cố nhân. Mà hiện tại chỉ còn là “Hoài Cảm”, âm hưởng nghe như đứt đoạn:

    “…Chờ hoài nhau trong mơ, nhưng có bao giờ thấy nhau lần nữa…”

    Tất cả chỉ còn lại ngậm ngùi, để “…nhớ nhau muôn đời mà thôi…”

    Khi Phúc hát đến khúc ca “Sài Gòn ơi! Vĩnh biệt” của nhạc sĩ Nam Lộc, giọng ca của Phúc trở lên day dứt, uất nghẹn như tiếng nấc tự đáy lòng làm nhạt nhòa nước mắt. Tất cả chìm vào dĩ vãng với những tiếc nuối về một thời huy hoàng đã qua:

    “…Sài Gòn ơi! Ta đã mất người trong cuộc đời…, Sài Gòn ơi! Thế là hết thời gian tuyệt vời…”

    Sài Gòn đã trở thành bất diệt, không thể thiếu trong tâm tư người miền Nam, đã lưu lại trong lòng người tới đây những hình ảnh dịu dàng nhưng trung thực. Cũng nhờ tính “Người Sài Gòn” ấy, đã chan hòa một thứ tình cảm quyến luyến, bao dung của người mẹ hiền, dang rộng vòng tay ấp ủ những đứa con lạc lõng. Và chính “Người Sài Gòn” ấy cũng thể hiện sự mời gọi của một người tình tha thiết thủy chung. Sài Gòn là nơi chốn đượm tình yêu thương. Vì vậy, xa Sài Gòn vẫn nhớ, vẫn mong muốn trở về.

    Đời sống tinh thần của người tù cải tạo khi vui lúc buồn bất chợt, phấn khởi lo âu lẫn lộn. Tâm tư luôn bị giao động với ý nghĩ không có ngày về. Đang im lặng chịu đựng, bỗng chốc lòng căm hờn trỗi dậy. Đêm 30 Tết là đêm khó ngủ. Mọi người tưởng nhớ tới khung cảnh gia đình xum họp đầm ấm trước đây. Sau bữa cơm chiều, khi cửa phòng đã khóa phía ngoài, từng nhóm xúm quanh ngọn đèn dầu nhỏ nhắc lại chuyện cũ, những thăng trầm trong thời gian tù đày, những tăm tối khổ ải đã trải qua. Bác Trần Duy Đôn (nguyên Thượng Nghị sĩ – VNCH) chợt lên tiếng:

    - Bác Kim, bác Quyền ơi! Hát cho anh em nghe đỡ buồn. Nhớ nhà quá…

    Không riêng gì bác, vào giờ phút thiêng liêng này, ai cũng liên tưởng tới gia đình. Rồi chẳng cần men rượu, tại chiếu nằm sàn trên, Huỳnh Thế Hùng ngồi quay lưng ra phía cửa sổ mở rộng, cất tiếng ca bản nhạc “Việt Nam – Việt Nam”. Mọi người trong nhóm ca theo. Có lẽ đó là bản nhạc đầu tiên được ca vang trong thời gian tù đày. Tiếng hát trầm hùng bùng lên, gợi nhớ tất cả một dĩ vãng đau thương với mảnh đất quê hương miền Nam, mà những đứa con đã tận tụy một đời hy sinh bảo vệ, đang trầm luân khổ ải trong kiếp sống nửa vời.

    Vòng người được nới rộng, như muốn đóng góp cho khí thế hào hùng, như men rượu lâng lâng thấm bầu nhiệt huyết. Mọi người thay nhau đơn ca những bản nhạc tình cảm miền Nam, nhuộm thắm tình yêu quê hương đất nước. Rồi bất chợt lời ca uất hận, căm hờn của các bản nhạc sáng tác trong tù, diễn tả những thân xác rũ liệt tả tơi trong phòng tối, quằn quại trên mặt nền nhơ nhớp vì trận đòn thù.

    Nhạc bản “Đôi giày dũng sĩ” vừa cất lên, tôi nhớ đến anh Nguyễn Văn Hồng, một sĩ quan trẻ tuổi, đã làm bài ca này. Cả trại truyền nhau hát. Cán bộ trại bắt anh vào kỷ luật, cùm xích ngày đêm. Anh đã gục ngã trong xà lim tăm tối của trại Nam Hà (Xã Ba Sao, Hà Nam Ninh). Khi sáng tác bài ca này, anh chỉ có ước mơ nhỏ bé, được là đôi giày dưới chân lớp trẻ mai sau, đập tan xiềng xích, khôi phục đời sống tự do hạnh phúc của quê hương. Lời ca diễn tả:

    “………

    “Này em, ta không quên đâu những ngày tù tội.”
    “Này em, ta không quên đâu mối thù muôn đời.”
    “Cho tôi xin một lần được chết,
    “Cho em tôi một trời yêu thương…”

    Ngoài hiên, trong không khí giá lạnh của ngày cuối năm, một cán bộ võ trang trẻ tuổi im lặng, thỉnh thoảng dừng lại lắng nghe những dòng nhạc trữ tình của miền Nam. Hắn không có một phản ứng nào. Anh em trong phòng thấy hắn từ lâu, làm như không biết có hắn đứng ngoài. Mọi người vẫn say sưa ca hát, cố tận hưởng những giây phút quý báu hiếm có trong cuộc đời tù cải tạo. Thấy hắn, tôi nhớ tới lời của một cán bộ trẻ tâm sự: “Các bác được ở trong phòng ấm áp, trong khi cháu phải đứng gác ngoài trời vào mùa đông giá rét. Các bác có nơi chốn để về, còn cháu có nơi nào đâu!”

    Trong thời gian vừa qua, theo yêu cầu của các bạn trong phòng, anh Nguyễn Cao Quyền đã chuyển lời một số bản nhạc quen thuộc của miền Nam từ tiếng Việt qua tiếng Pháp, như các bản: Khi người yêu tôi khóc: “Larmes D’amour” / Ai đưa em về: “Ce soir qui t’accompange” / Nhìn những mùa Thu đi: “Et l’automne s’enfuit”….”

    Tiếng ồn ào trong phòng chợt lắng xuống khi tiếng đàn ghita của anh Nguyễn Ngọc Liên nổi lên, xoa dịu những tâm hồn đang ngút lửa với thương hận tủi hờn. Tiếng đàn êm dịu hòa theo tiếng hát của anh Nguyễn Cao Quyền trong bản nhạc với tựa đề “Larmes d’amour”, chuyển qua lời Pháp từ nhạc phẩm “Khi người yêu tôi khóc” của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh. Âm hưởng lời ca như những giọt nước mắt ân tình của người vợ hiền đang ngóng đợi chồng về:

    “Quand tes larmes tombent, le ciel est sombre. Ces perles d’amour froissent mes jours. Tes beaux yeux en larmes, c’est si charmant. Sais tu, je t’aime si doucement et si tendrement.

    “Comme l’éclair qui brille dans l’ombre du soir. Toi, pourquoi tu viens si près de moi. Puis tu me donnes tant de désespoir. Vois tu tes larmes de bonheur ravagent mon coeur.”

    “Quand tu as dit oui pour toute ta vie je suis perdu. Nous avons vécu de si beaux jour de notre amour. Et pourquoi tu choisis de quitter loin pour toujours.

    “Quand tes larmes tombent j’oublie le temps. Et tes mots d’adieu glacent mon sang.

    “Moi, je prie Dieu pour ton bonheur. Sais tu ma vie sans tes douceurs n’est plus que malheur.

    Để tô đậm không khí đắm chìm trong nhớ thương của nhạc phẩm nhuốm đầy nước mắt người yêu, một bạn cuối phòng góp vui bằng lời Việt:

    “Khi người yêu tôi khóc trời cũng giăng sầu. Cho từng cơn mưa lũ xoáy trong tâm hồn. Khi người yêu tôi khóc thành phố buồn thiu. Em ơi tôi níu một lần ưu ái trên cung ngà hắt hiu.

    Mây từ đâu trôi đến mờ dấu chân trời. Em, tại sao em tới cho anh yêu vội. Cho một lần yêu cuối là những lẻ loi. Em ơi hãy nói vạn lời sầu đắng như em vừa trách anh…”

    Trong phòng thật im lặng, mọi người đang hòa theo lời ca tiếng nhạc, trở về một thời không xa trước đây với nếp sống đầy ắp niềm vui. Anh Lâm Minh Lê, nguyên chủ nhà hàng Bồng Lai, đường Lê Lợi Saigon, bước ra giữa lối đi, hai tay vòng ra phía trước, nhẹ bước theo tiếng nhạc, dáng điệu như đang dìu người tình trong mộng.

    Trong khoảnh khắc, tôi có cảm tưởng tâm tư mình lắng đọng, du hồn trong sóng nhạc, đắm mình dưới ánh đèn, với men cay, như đang theo bước chân lướt nhẹ trên sàn gỗ vào những ngày vui thuở nào.

    Nhạc bản “Nước mắt mưa ngâu” của Nguyễn Đức Khuân nói lên tâm trạng người tù trong phòng kỷ luật, với tay xích chân xiềng. Tương lai quả thật xa vời. Mọi thứ như vuột khỏi tầm tay. Có chăng chỉ còn hình ảnh yêu thương của người vợ hiền. Lời ca diễn tả:

    “Trời mưa hiu hắt như lệ em khóc đêm thâu. Tiếng mưa tí tách tiếng mưa nhẹ khơi cơn sầu. Lòng ta tê tái với bao nhiêu nỗi thương đau. Bóng đêm mênh mông không gian chìm sâu. Đời cho ta biết bao ngày xa vắng âm u. Còn đem mưa bão táp trên cuộc sống lao tù….” (Cuồng sĩ Thanh Cẩm)

    Khuân đã sáng tác nhiều bản nhạc được bạn tù truyền nhau hát. Nhưng khi bản “Ngày địa ngục trần gian” mang theo đi lao động bị phát hiện. Anh bị những tên công an võ trang đánh đập ngay tại cổng gác. Kèm theo tiếng thét: “Anh dám bảo chúng tôi là loài quỉ đỏ…” là những cú đá, cái đấm không nương tay trước khi nhốt anh vào phòng kỷ luật. Khuân đã bị cùm xích và chịu đựng sự hành hạ tàn nhẫn trong phòng kỷ luật kéo dài gần 4 năm sau đó. Chúng ta hãy xem nội dung của bản nhạc khiến anh bị cực hình:

    -“ Ngày địa ngục trần gian dâng lên với nỗi kinh hoàng. Ngày vừa nghe tiếng “keng”vang lên lúc trời mờ sương chưa nhòa bóng tối. Từng người tù như bầy ma vươn mình lên đang đón chờ những cực hình một ngày đọa đày. Mùa đông lạnh căm gió rét từng cơn như cắt thịt da vào thấu tận xương. Chợt nghe dậy lên cơn đói triền miên đay nghiến cuồng điên từ khi thức dậy nhìn nhau ái ngại trong nỗi đau vươn dài.”

    “Bầy quỷ đỏ như lũ sói hung chờ. Cửa địa ngục khua vang ba tiếng khóa, tiếng báo số kêu tù vội vã đi ra phơi bộ xương khô trên đồi nắng. Tiếng thét, tiếng búa, tiếng đòn hận thù, trên lưng oằn đau tím bầm đòn thù; trời rét căm căm mặc gió mưa dầm.”

    ... “Rồi người vào trong đêm đen bằng những giấc mơ kinh hoàng… và bóng tối tương lai mịt mờ!”

    (Cuồng sĩ Thanh Cẩm)

    Với tâm tư của tác giả trong lời nhạc cũng như lòng bất khuất trong cuộc sống, danh xưng “Cuồng sĩ Thanh Cẩm” đã được anh Nguyễn Cao Quyền mến tặng, khi tác giả di chuyển từ trại Cổng Trời tới trại Thanh Cẩm, lưu lại như một kỷ niệm với các bạn tù đã cùng nhau san sẻ những niềm vui hiếm hoi trong quãng đời nhiều cay đắng.

    Tiếng hát có khi lên cao, có lúc trầm lắng, tắc nghẹn như tiếng thở dài. Mọi người bị khích động, lôi cuốn hòa nhịp với niềm vui, quên hẳn những hiểm nguy đang rình rập trong lúc này, sẽ tới vào ngày mai hay những ngày kế tiếp.

    Số phận của tù cải tạo thật mong manh. Sau những đọa đày khổ ải, nhiều người thiếu may mắn không có ngày trở về, đã nhận mảnh đất nơi này là “quê hương”, sau khi trả xong “món nợ máu” cho “đảng CSVN”.

    Tôi ở căn “nhà 5” này đã lâu, cùng với các bạn cũ mà tình thân như ruột thịt, những người bạn đã chia sẻ với tôi những giây phút đau thương của quãng đời “tù cải tạo” từ Nam ra Bắc. Như “LM. Nguyễn Hữu Lễ, các anh: Tô Tứ Hướng, Vũ Văn Vang, Nguyễn Tôn Tính, Mai Văn An, Dương Văn Lợi, Ngô Đình Thiện, Nguyễn Văn Hà, Trần Phụng Tiên, Mai Ngọc Y, Nguyễn Tiến Đạt, Nguyễn Đức Khuân, Phạm văn Thông, Đỗ Duy Hùng, Huỳnh Thế Hùng, Phạm Hồng Thọ, Ninh Vệ Vũ, Nguyễn Sĩ Thuyên, Lê Văn Khương và Nguyễn Văn Huyền”.

    Và những người bạn thân trong 4 năm qua tại trại Thanh Cẩm, như quý anh Nguyễn Cao Quyền, Nguyễn Ngọc Liên, Nguyễn Văn Thành, Đèo Văn Tsé, Phan Công Tôn, Lê Ngọc Thạch, Phạm Phú Minh, Đỗ Việt Anh, Nguyễn Ngọc Xuân, Nguyễn Khắc Linh, Nguyễn Văn Bảy, Lê Sơn, Nguyễn Văn Vững, Ngô Trung Định, Nguyễn Mạnh Tuấn, Nguyễn Vũ Dương… đã cùng với tôi san sẻ những niềm vui hiếm hoi trong quãng đời nhiều cay đắng. Mà có những người bạn, tôi không còn cơ hội gặp lại, như lúc tôi chia tay với những người bạn thân thiết vào mỗi khi đổi phòng hay chuyển trại.

    Sau một tuần chờ đợi vé tàu, chúng tôi ra khu cơ quan, mỗi người nhận 23$ tiền ăn 3 ngày trên tàu và giấy ra trại. Khi cầm giấy ra trại tôi nói với các bạn: “Đây là giấy biên nhận” chúng ta đã để lại vùng rừng núi này cả mồ hôi, máu và nước mắt, đã chôn vùi quãng đời tuổi trẻ đẹp nhất của mình, để trở về một nhà tù lớn hơn”.

    Khi đưa giấy ra trại cho tôi, cô cán bộ Tư thấy tôi mặc bộ bà ba xanh trại phát, xé ngắn tay đã bạc màu, trong khi các bạn tôi mặc quần áo dân sự, cô hỏi tôi:

    - Anh không có quần áo dân sự mặc về hay sao?

    - Thưa không. Tôi chỉ có bộ quần áo đang mặc.

    - Anh mặc quần áo này về coi sao được. Anh đợi tôi một lát.

    Cô chạy sang phòng bên lấy một bộ quần áo nâu mới, thứ quần áo dành cho tù hình sự miền Bắc khi được tha. Cô bảo tôi:

    - Anh mặc tạm bộ quần áo này, còn mới nên dễ nhìn hơn.

    Tôi nhận bộ quần áo nâu và cám ơn cô. Nhưng tôi vẫn muốn mặc bộ quần áo xanh trại phát cho tù cải tạo miền Nam trên đường về, mặc dù đã bạc màu. Tôi muốn mặc vì hãnh diện là một người miền Nam đã đi tù dưới chế độ CS.

    Tôi nhớ mãi lời nhận xét của cô Tư,người mà tôi, anh Hướng và anh Cảnh đã sửa nhà cho gia đình cô vào dịp Tết vừa qua. Khi công việc đã xong, cô Tư tỏ lời cám ơn và hỏi:

    - Gia đình các anh đã ra thăm nuôi chưa?

    Tôi trả lời cô Tư:

    - Chúng tôi đã được gia đình ra thăm.

    - Tôi thấy gia đình các anh ra thăm mang hàng trăm ký quà, ăn cả năm chưa hết. Khi khám quà tôi thấy đầy đủ mọi thứ.

    Anh Hướng góp lời:

    - Chúng tôi thiếu dinh dưỡng đã lâu, không thể ăn dè được. Hơn nữa anh em chia nhau mỗi người một chút cho vui. Vì vậy, gói quà cả trăm ký chỉ được 1, 2 tháng.

    Tôi có cùng ý nghĩ như anh Hướng, cuộc đời tù cải tạo “no nhất thời, đói muôn thuở”, nay ở mai đi, di chuyển bất thường, biết cách nào mà mang, mà giữ để ăn dần.

    Cô Tư nói tiếp:

    - Nhìn thân nhân các anh tới thăm nuôi, tôi biết gia đình các anh rất khá giả, mặc dù các anh đi cải tạo đã lâu. 
    Cô nhìn quanh căn nhà tiếp lời: 
    - Nhà cửa của các anh trong Nam hẳn là khang trang đẹp đẽ, chẳng bù cho chúng tôi, nhà cửa nghèo nàn, chật hẹp.

    Tôi nhìn cô Tư đang diễn tả thực trạng đời sống của mình, nét mặt chứng tỏ lời nói. Vì ở địa vị cô, là người đang có quyền, không cần phải nói một lời “xuống nước” trước mặt người tù cải tạo. Nên khi nói ra, phải là lời thành thật, một nhận xét sau thời gian tiếp xúc với tù cải tạo miền Nam. Tôi tiếp lời cô Tư:

    - Chúng ta ở hai hoàn cảnh đời sống khác nhau, nhưng có điều cần thiết là phải sống vui, cô hãy sửa soạn để các cháu vui Xuân.

    - Cám ơn các anh đã sửa nhà giùm tôi. Sau khi quét vôi và làm lại nền, căn phòng sáng sủa hẳn lên.

    Chúng tôi ra nhà thăm nuôi, ngủ tại đây một đêm, sáng sớm mai xe tới đón, đưa chúng tôi ra ga Thanh Hóa. Anh Hướng đề nghị tôi sang khu gia đình cán bộ mượn gạo để nấu bữa cơm tối nay, vì đã lâu chúng tôi không biết tới mùi hạt gạo, nhất là trong không khí này. Tôi tới nhà cán bộ Chương. Thấy tôi, cán bộ Chương hỏi:

    - Anh Kim. Ngày mai các anh về phải không?

    - Vâng. Sáng mai chúng tôi sẽ rời khỏi đây.

    Cán bộ Chương hỏi tiếp:

    - Anh cần gì không?

    - Trời đã tối, chúng tôi không thể vào làng mua gạo, định mượn cán bộ vài lon gạo nấu ăn tối nay. Sáng sớm mai chúng tôi vào làng mua gạo sẽ hoàn lại cán bộ.

    Tôi thấy hắn ngưng giây lát, sau đó kéo tôi vào căn trong gần bếp, mở nắp vại đựng gạo bảo tôi:

    - Đúng ra tôi phải có chút quà mừng các anh được về. Rất tiếc nhà không còn một hột gạo. Cả ngày hôm nay chúng tôi phải ăn sắn.

    Nhìn thấy vại đựng gạo trống trơn, biết hắn nói thật. Tôi bảo cán bộ Chương:

    - Không sao, cán bộ. Chúng tôi muốn có bữa ăn để kỷ niệm ngày cuối cùng ở đây. Cán bộ đừng để tâm.

    Tôi chào hắn và chúc vợ chồng hắn có đời sống hạnh phúc.

    Chúng tôi có một đêm chuyện vãn để sáng mai sẽ ra ga Thanh Hóa, sau đó mỗi người mỗi ngả, mỗi người có một cuộc sống khác biệt trong một xã hội mọi thứ đã thay đổi.

    Chúng tôi dậy thật sớm uống ly trà nóng. Phải 10 giờ sáng xe mới tới đón. Hành trang của tôi chẳng có gì nhiều, ngoài chiếc mền nỉ, chiếc màn lưới của Mỹ, bộ quần áo nâu cô Tư đưa ngày hôm qua và chiếc khăn mặt hiệu Canon mà vợ tôi mang ra vào dịp thăm nuôi vừa qua, tất cả để trong túi vải.

    Tôi bước lên bậc tam cấp trước nhà thăm nuôi. Trời còn tối. Khu gia đình cán bộ bên kia đường vẫn im lìm say ngủ. Nhớ lại chuyện cũ, khi sửa mái tranh khu gia đình cán bộ, tôi đã chứng kiến nhiều cảnh xum họp rồi chia ly nơi nhà thăm nuôi. Và cả tiếng sáo miệng theo âm điệu bản nhạc “người yêu tôi đâu” trong phim “Bác sĩ Jivago” của các bạn tù đang ngóng đợi người thân.

    Tôi nhớ mãi gương mặt đầm đìa nước mắt của vợ tôi mỗi lần tôi về khuya, cũng ẩn chứa nét đau khổ, tuyệt vọng vào đêm tôi bị đám công an bắt tại nhà, như khi chia tay vào lần thăm nuôi vừa rồi sau nhiều năm bặt tin, những tưởng tôi không còn sống trên cõi đời. Một hình ảnh tưởng chừng đây là lần chia ly không hẹn ngày gặp lại. Thực ra, lấy gì để bảo đảm cho một kiếp người khi cái chết luôn ám ảnh cận kề.

    Giọt nước mắt của mẹ tôi vào đêm tôi bị bắt tại nhà, cứ ám ảnh, theo đuổi tôi trong nhiều năm tù đày. Tôi nhìn rõ gương mặt đau khổ của bà khi bọn công an tìm ra lá cờ Vàng 3 sọc đỏ mà bà cất giữ, và đinh ninh đây là chứng cớ khiến tôi bị bắt. Tôi thông cảm với ước vọng thầm kín nơi bà, vì lá cờ Vàng là biểu tượng của đời sống tự do hạnh phúc, một đời sống thể hiện nét tự hào, xứng đáng là một con người. Lá cờ Vàng là hình ảnh mà người miền Nam luôn trân quý, giữ gìn như linh hồn của dân tộc.

    Tôi lặng nhìn những giòng nước mắt đau khổ của bà tuôn rơi khi tôi bước ra khỏi nhà. Hai bàn tay bà che mặt cố ngăn tiếng nấc nghẹn như không muốn nhìn thấy cảnh chia ly đứt ruột. Cha tôi ngồi im lặng, chua xót nhìn tờ biên bản bắt giam để trên bàn kính trước mặt. Ông thừa hiểu mảnh giấy này chỉ là một tờ giấy lộn, một việc làm cho có, vì ngay cả các Hiệp định đã ký kết với quốc tế họ cũng chẳng thi hành đứng đắn. Ông biết rõ bản chất tàn nhẫn của chế độ này, nên đã dắt díu vợ con di cư vào miền Nam sau ngày chia đôi đất nước năm 1954.

    Chúng tôi rời trại Thanh Cẩm vào lúc 10 giờ sáng trên một chiếc xe chở hàng không mui che, thẳng đường tới ga xe lửa Thanh Hóa. Cùng đi với chúng tôi có Trung Úy Tuy, Ban giáo dục và cán bộ Ba. Khi tới ga, cán bộ Ba đi lo vé tàu. Chúng tôi mời cán bộ Tuy vào một quán ăn đối diện ga xe lửa dùng bữa ăn tối, vì từ sáng đến giờ chúng tôi không có chút gì vào bụng. Trong túi tôi chỉ có 23$, chắc đủ ăn một ngày. Tôi nhờ bà chủ quán bán hộ tôi chăn màn và bộ quần áo nâu để có thêm tiền ăn đường.

    Tôi gọi một cốc nước đá chanh lớn, Sài Gòn gọi là “ly cối”. Đã lâu tôi chưa được nếm vị thơm của mùi chanh và cảm giác lành lạnh của viên đá tan dần trong miệng. Tôi uống một hơi cạn cốc nước trước sự ngạc nhiên của bà chủ quán. Thấy cán bộ Tuy nhìn khi tôi uống một hơi cạn cốc nước đá chanh, tôi nói:

    - Tôi thèm cốc nước chanh này đã hơn 6 năm.

    Tôi lấy chiếc khăn mặt lớn còn mới, một vật duy nhất còn lại trong túi vải, mà vợ tôi mang ra khi thăm nuôi. Tôi đưa cán bộ Tuy và nói:

    - Tôi chỉ còn cái khăn này biếu cán bộ.

    Cán bộ Tuy cầm chiếc khăn ngắm nghía, chắc cảm thấy khác lạ đối với những chiếc khăn thường gặp. Tôi chỉ dấu hiệu mang chữ “Canon” phía đầu cái khăn nói tiếp:

    - Chiếc khăn này hiệu Canon. Sản xuất tại Mỹ.

    Tôi nhớ mãi lần chở phần gỗ trại cho cán bộ Tuy trước khi hắn về hưu. Hắn mời tôi uống bát nước trà xanh nóng hổi, loại trà tươi gia đình tôi thường uống tại miền Nam. Trong câu chuyện, như một lời “phân bua”, hắn nói khi giảng dạy trên hội trường đã nói theo chính sách.














    Tới giờ tàu khởi hành. Chúng tôi chào cán bộ Tuy và cán bộ Ba trước khi lên tàu. 32 chúng tôi ngồi vào một toa, chia nhau những hàng ghế gỗ có lưng tựa. Hai hàng ghế đối diện nhau, một bàn gỗ nhỏ ở giữa. Tôi và anh Hướng ngồi một ghế. Tôi chọn chỗ ngồi sát bên cửa sổ, mong tìm một chỗ tựa vai. Bây giờ vào cuối năm, mùa Đông miền Bắc đã bắt đầu. Tàu chuyển bánh, đã gần nửa đêm. Tôi tựa vào lưng ghế, duỗi chân lên chiếc bàn nhỏ, nhắm mắt mong tìm một giấc ngủ. Suốt đêm hôm qua chúng tôi không chợp mắt, mải mê nói chuyện vì biết rất hiếm cơ hội gặp lại.

    Anh Hướng chợt quay qua tôi:

    - Anh ngủ được không?

    - Mặc dù chúng mình thức trắng đêm hôm qua và cả ngày hôm nay trên xe di chuyển, nhưng tôi vẫn cảm thấy khó chợp mắt.

    Hướng tiếp lời, giọng như chùng xuống:

    - Chúng mình như vừa trải qua một giấc mơ. Một thoáng đã hơn 6 năm qua đi. Biết bao nhiêu chuyện đổi thay trong đời sống xã hội.

    - Tôi có cùng ý nghĩ như bạn. Niềm vui đến với chúng ta thật bất chợt, cuộc sống của chúng ta như đang ở ngoài tầm tay. 
    Tôi hỏi Hướng:

    - Anh có ý định gì không?

    - Để về nhà xem hoàn cảnh gia đình ra sao rồi mới tính được.

    - Các cháu của anh ở Mỹ ra sao?

    - Chúng ở với các em của tôi, ngoan và rất chăm học.

    Tôi mừng cho bạn đã có những hạt giống tốt ở miền đất hứa. Tôi chợt nhớ tới lời cán bộ Chương: “Hồ sơ cá nhân của các anh sẽ chuyển về địa phương nơi các anh cư ngụ để địa phương quản lý…”, tôi nhận ra một điều, đời sống riêng tư của người dân luôn bị theo dõi, nhất là hoàn cảnh của chúng tôi, những người có “nợ máu” với đảng và nhà nước cộng sản, khó thoát khỏi cặp mắt của công an khu vực. Tôi quay qua Hướng:

    - Khi về, chúng ta bị địa phương theo dõi từng bước, chưa chắc đã sống yên thân.

    Chúng tôi trở lên yên lặng. Khó nói ra những suy nghĩ vào lúc này khi mà hoàn cảnh xã hội đã hoàn toàn thay đổi. Chúng tôi vừa trải qua một giai đoạn thăng trầm của lịch sử, là chứng nhân của một chế độ hà khắc, đã hủy diệt ước vọng của một dân tộc. Và cũng là nạn nhân của 1 tập đoàn cầm quyền, vì cuồng vọng nhất thời, đã đưa dân tộc tới bờ vực thẳm đói nghèo, biến đổi 1 nếp sống văn minh trở thành chậm tiến, lạc hậu.

    Tàu đỗ ở ga Đồng Hới khá lâu, chúng tôi có đủ thời gian tắm gội sau 2 ngày ngồi bó chân trên ghế và tối ngủ trên tấm báo trải xuống sàn tàu. Chúng tôi uống cạn những giọt bia với miếng gà luộc, một thức ăn bình thường trước đây, đã trở thành “quý hiếm” trong 6 năm qua.

    Con tàu mải miết chạy, khi tới địa phận Long Khánh, không còn bao lâu nữa sẽ tới Sài Gòn. Lòng tôi nôn nóng về nhà. Tôi chợt thèm hương vị cà phê, nên cùng các bạn vào toa ăn. Theo lịch trình tàu chạy, giờ này toa ăn cũng sắp đến giờ đóng cửa để thu dọn trước khi tới Sài Gòn. Chúng tôi tới toa ăn, trong toa không còn khách. Thấy chúng tôi, một cô tiếp viên hỏi:

    - Các anh cần gì không?

    - Chúng tôi muốn mua ly cà phê.

    Cô quay vào trong hỏi các bạn. Tôi nghe thấy một giọng nữ nói vọng ra:

    - Mời các anh vào.

    Cô đứng bên cửa mời chúng tôi vào. Trong toa ăn có 5-6 cô cả giọng miền Nam và Bắc. Tôi ngồi vào bàn với các anh Nguyễn Văn Thành, Tô Tứ Hướng, Nguyễn Ngọc Liên, Ngô Trung Định và các bạn khác… Thấy tôi mặc bộ áo tù, một cô hỏi:

    - Các anh vừa đi cải tạo về?

    - Vâng, chúng tôi vừa rời trại Thanh Cẩm, Thanh Hóa là lên tàu về miền Nam.

    Chúng tôi được tiếp đón thật nồng hậu. Ngoài thức uống, cô trưởng toán còn mời chúng tôi 1 chai Champagne của Liên Xô đã ướp lạnh với tôm khô và củ kiệu, để mừng ngày chúng tôi trở về. Chúng tôi chuyện vãn, dù chỉ trong khoảnh khắc nhưng thấm đượm tình người. Chúng tôi được biết quý danh các cô, nguyên là học sinh trường Gia Long-Sài Gòn, những người đã mang đến cho chúng tôi một thứ tình cảm thật gần gũi khó quên, hiếm có trong cuộc sống nhiều thay đổi này.

    Chúng tôi hy vọng có dịp gặp lại: Cô Oanh: 138/2 Cô Bắc, Phú Nhuận – Cô Cúc: 116/33/25 Tô Hiến Thành, Q.10 – Cô Duyên: 530 Lý Thái Tổ, Q.10 – Cô Liên: 212/11/27 Nguyễn Thiện Thuật, Q.3 – Cô Lan: 195/32 Hoàng Đạo (Cống Bà Xếp).

    Bất chợt có tiếng gõ cửa toa ăn. Qua ô cửa kính nơi cánh cửa, một vị khách mặc quân phục muốn vào toa ăn. Tôi nghe rõ câu trả lời của cô tiếp viên:

    - Toa ăn đóng cửa vì sắp tới ga chính.

    Vị khách nói:

    - Những người ngồi trong toa thì sao?

    - Những người này khác.

    Sau câu trả lời, cô quay vào làm tiếp công việc đang làm. Chúng tôi cám ơn các cô tiếp viên đã dành cho chúng tôi một sự ưu đãi đặc biệt. Đây là hình ảnh đẹp nhất sau một thời gian dài chìm đắm trong sự hà khắc. Một hình ảnh gợi nhớ tình cảm thân thiết của quê hương miền Nam.

    Tàu dừng lại ga Long Khánh, một người đàn ông lên tàu, tới cửa sổ chỗ tôi ngồi, đón nhận những bó củi, bao than và nhiều thứ khác được chuyển từ dưới sân ga qua cửa sổ. Đây là những món hàng được chuyển về bán tại thành phố.














    Tới ga Bình Triệu, trong túi tôi không còn 1 đồng. Tôi đứng trước cửa ga tìm phương tiện về nhà. Một chiếc xe xích lô máy chạy tới bên tôi. Người tài xế còn trẻ, mặc chiếc áo trận xanh đã bạc màu, da mặt nhuộm nâu vì nắng gió. Anh dừng xe và hỏi:

    - Bác về đâu?

    - Tôi về đường Tự Đức, Phú Nhuận.

    - Cháu biết đường này. Bây giờ đường Tự Đức đã đổi tên là Nguyễn Thị Huỳnh.

    - Tôi không có sẵn tiền. Anh chở tôi về nhà lấy tiền được không?

    - Không sao. Bác yên tâm.

    Anh chợt hỏi tôi:

    - Bác mới đi cải tạo về?

    - Tôi vừa về tới.

    Thấy tôi tay không, anh tài xế hỏi:

    - Hành lý của bác để đâu, chỉ chỗ cháu xách cho.

    - Tôi không có gì mang theo.

    Anh tỏ vẻ ngạc nhiên, có lẽ tôi là người đầu tiên, khác với những người anh gặp trước đây. Bất chợt anh lấy từ túi áo trận gói thuốc lá “Basto xanh”, thứ thuốc tôi bắt đầu hút từ sau ngày 30-4-1975. Anh đưa gói thuốc, hỏi tôi:

    - Bác hút thuốc không?

    Tự nhiên tôi thấy thèm khói thuốc. Từ lúc rời toa ăn ở Long Khánh đến giờ tôi chưa hút điếu thuốc nào. Tôi rút điếu thuốc và nói:

    - Cám ơn anh. Trời về chiều se lạnh. Hút điếu thuốc vào giờ phút này sẽ ngon vô cùng.

    Anh lấy chiếc bật lửa Zippo đưa cho tôi mồi lửa. Như một thói quen, tôi bật lửa bằng hai ngón tay. Vẫn âm thanh quen thuộc đã một thời theo tôi với gói thuốc Pall Mall. Tôi hít hơi dài, nuốt trọn phần khói trong miệng. Dĩ vãng như quyện trong khói thuốc, vừa thơm ngon đậm đà của một thời huy hoàng yêu thương thuở trước, nhưng cũng dậy lên vị đắng của cơn mê “Thiên đường hoang tưởng” hiện tại.
    Thấy cách tôi hút thuốc, anh hỏi:

    - Bác thường hút thuốc trong trại?

    - Tôi thường hút thuốc lào 3 số 8, vì thời tiết ngoài Bắc vào cuối năm rất lạnh. Thuốc điếu hút không đã cơn thèm.

    - Trước kia bác hút thuốc loại nào?

    - Tôi hút Pall Mall, nhưng sau 30-4 tôi đổi qua thuốc Basto xanh.

    - Cháu cũng như bác. Bây giờ cháu hút thuốc này, dù kém ngon nhưng không nhạt nhẽo như thuốc lá Điện Biên hay Vàm Cỏ.

    Tự nhiên tôi thấy gần gũi với người thanh niên này. Tôi hỏi anh:

    - Anh cho tôi biết tên được không?

    - Cháu tên Thành.

    - Anh Thành trước kia có vào quân đội không?

    - Cháu vào lính được hơn một năm thì miền Nam mất.

    - Anh ở đơn vị nào?

    - Cháu thuộc sư đoàn 18.

    - Hiện giờ gia đình anh Thành ra sao?

    - Cháu có 2 cháu nhỏ, nhà cháu buôn bán ở chợ gần nhà. Cháu cố kiếm đủ sống cho gia đình.

    Thấy tôi đứng đã lâu, Thành mời tôi lên xe, nói:

    - Trời còn sớm. Cháu chạy một vòng Sài Gòn để bác nhớ lại khung cảnh ngày xưa.

    - Cám ơn anh Thành. Tôi xa nhà đã lâu, mọi thứ đều khác lạ.

                                                        *****

    Tôi nắm chặt tay Thành khi chia tay anh, một người tuổi trẻ đã đóng góp phần mình để bảo vệ mảnh đất thân yêu này. Tôi cảm nhận một điều, miền Nam mới chính là quê hương của tôi, mặc dù tôi sinh ra và lớn lên tại miền Bắc, nhưng vẫn cảm thấy lạc lõng khi trở về quê cũ.

    Tôi bước vào nhà. Vợ tôi nét mặt vui tươi, ngấn lệ long lanh khóe mắt. Nàng và các con vây quanh. Tôi xúc động ôm chặt các con vào lòng, để tận hưởng hơi ấm gia đình xum họp, mà trong suốt thời gian tù đày vừa qua, những hình ảnh thân yêu gia đình đã là đốm lửa cuối đường để tôi nhắm tới mà hy vọng.

    Lòng tôi hân hoan. Chúng tôi thật may mắn, vừa tìm lại được tình yêu thương mà tưởng chừng đã mất.
    Trần Nhật Kim


Thuốc chữa GOUT rất hay .
  • Bệnh ( Gout ) thống phong , quê tôi có tên là bệnh đau đầu voi .
     
      Tôi đọc  mải bệnh gout  trên các trang net rồi tưởng tượng chứ chưa thấy hư thực ra sao , cách đây cũng hơn nửa năm tôi nghe tin anh Thành ( bạn của tôi ) lúc nầy bệnh quá nặng không đi đứng được , chúng tôi mấy người rủ nhau đến nhà thăm .
      Lần thứ nhất trong đời mới thấy tận mắt bệnh gout .Thật khủng khiếp , hai bàn tay của anh Thành trông  giống như nải chuối mật mốc chín muồi . vỏ đen , năm khớp xương trên mu  hai bàn tay và  các khớp của các ngón tay , nó ( U) lên giống như các mụt nhọt bóng lưởng , các ngon tay sưng no tròn   cứ tưởng tượng nó sắp bung nở  , màu tím bầm đen .
      Hai bàn chân sưng tấy , tím ngắt ,  thấy thật dễ sợ .
      Anh cho biết đã uống hằng chục bài thuốc lượm lặt trên net , khi chịu hết nổi thì đến BS , BS  chích thuốc trực tiếp vào các khớp bị sưng . Đỡ một vài tháng rồi tái lại , cứ như vậy kéo dài mải, nhưng năm nay thì quá nặng  như các anh đang thấy .
     
       CN tuần rồi  anh Thành tươi rói đến thăm  cho tôi mấy gói cà Phê , anh rất vui báo cáo hơn 6 tháng nay bệnh của anh nằm im , không nghe tái tại , còn lâu dài thì chưa biết ra  sao , nhưng người cho bài thuốc nầy nói thĩnh thoảng uống nó sẽ chấm dứt khg tái lại nửa vì người nhà của họ đã  trị dứt mấy năm nay không tái  lại ( cũng có thể tùy thể trạng của người bệnh hạp chăng ) bài thuốc chẵng có chi đặc biệt  chỉ có 2 món .
    1 -  1 kg trái ( khổ hoa )  mướp đắng .
    2 -  0.8 gram trái bưởi .
    Cả hai  đê nguyên , vỏ ruột , hột , không bỏ thứ gì . vằm chung lại cho vào nồi nầu , nước đổ vừa xấp trên mặt , nấu cạn còn lại 1/2 đổ ra  ly .  Nấu lại lần thứ 2 cũng như vậy ,  hai lần hòa chung cho vô  tủ lạnh uống như nước trà , có gắng uống trong ngày cho hết , rồi mai làm lại như vậy , khoảng 3 bữa là xẹp không đau nhức , rồi làm tiếp lâu mau tùy mình .( Đã 6 tháng không tái lại )
         Xin  quý huynh ghi lại để giúp người .
    Chúc vui vẻ .
    Thân mến
    Ngôn Nguyễn .

MỘT BÁC SĨ BĐQ chẳng giống ai!

  • Image en ligne

    Image en ligne

    Lời bạt: Năm 2015 tôi viết bài nầy và cố tình không viết về vợ con của Lê Văn Thại. Nhưng sau khi Hắn mỉm cười ra đi, tôi viết bổ sung câu chuyện cho tròn cái nghiệp mà Hắn đã trả xong. Mời quý vị xem đoạn cuối Hắn cưới vợ như thế nào và khúc quanh đời Hắn như cái "nghiệp" phải mang!
    Tôi và Hắn cùng quê hương Tam Quan, vùng đất trải dài rộng lớn những rừng dừa và hệ thống sông ngòi chằng chịt! Hắn là cháu nội một phú hộ vùng Cấm An Sơn thuộc xã Hoài Châu; còn tôi thì sanh ra và lớn lên trong thôn Cữu Lợi xã Tam Quan nổi tiếng sản xuất dầu dừa và dây dừa. Ông nội của Hắn là chủ những ruộng vườn cò bay thẳng cánh. Ông nội tôi thì là chủ ghe bầu buôn bán dọc ven biển và các thành phố từ Nam chí Bắc một thời.
    Tôi và Hắn cũng cùng chung số phận sống 9 năm trong vùng Cộng Sản Liên Khu 5, thời kháng chiến chống Pháp, 1945-1954. Cũng có những tháng năm ngồi học trong các đình chùa bị đục vách phá bàn thờ để làm nhà kho và lớp học. Chung số phận là cháu con nhà địa chủ, sắp có chính sách đem ra tòa án nhân dân đấu tố!
    Thế nhưng cuộc đổi đời năm 1954, sau Hiệp Định Genève chia đôi đất nước, chúng tôi cởi bỏ được lớp bùn đất "Thiếu nhi Bác Hồ"; bắt đầu được học trong các trường công lập, được ca hát tự do! Hắn và tôi sau cùng vào học trường Tăng Bạt Hổ Bồng Sơn. Hắn nhỏ hơn tôi 1 tuổi nhưng học trên tôi 1 lớp. Gia Đình Hắn có tiệm bán thuốc tây (Pharmacy), vì thế, vài năm sau, Hắn bỏ trường huyện, vào học Tabert ở Saigon. Thẳng cánh cò bay, xong Trung Học, Hắn vào trường thuốc. Đến năm 1970, Hắn ra Bác Sĩ và được động viên vào binh chủng Biệt Động Quân.
    Còn tôi, đang học Văn Khoa thì bị động viên năm 1967 vào khóa 26 SQTB Thủ Đức. Năm 1970, lúc đang đóng quân ở Pleiku thì lính vào báo: "Thẩm quyền, có một số sĩ quan BĐQ đi xe Jeep trông dữ dằn lắm, tìm thẩm quyền!" Tôi cũng vừa từ đơn vị tác chiến tiểu khu Bình Định đổi lên vùng đất đỏ chưa được mấy tháng, chưa quen biết nhiều, làm sao có BĐQ là bạn tìm tôi! Trong khóa 26, ra trường có hơn 80 tên về BĐQ, nhưng chưa biết tụi nó ở đơn vị nào. Chưa quyết định thế nào thì đám rằn ri mũ nâu chạy sộc vào văn phòng: "Ê! Dũng Lùn đâu, trình diện thượng cấp!"
    Dân mũ nâu rằn ri, đi tới đâu là ồn ào vang trời! Tôi nhìn lên, hóa ra tên dẫn đầu là Bác Sĩ Lê Văn Thại, tên thứ hai là Huỳnh Thọ Huyên, Khóa 26, tên thứ ba là Trần Tấn Đỡm, khóa 26, tên thứ tư là Lâm Đạo Đụng, khóa 26. Tôi bật dậy khỏi ghế như chiếc lò xo, mừng quá, bắt tay từng thằng. Hóa ra là Hắn - Lê Văn Thại - ra trường nghề thầy thuốc năm 1970 với 7 năm chương trình Bác sĩ dân sự. Sau đó được động viên về BĐQ, lên Pleiku chăm sóc Liên Đoàn 2 BĐQ, Y Sỹ Trưởng, đóng hậu cứ ở Biển Hồ.
    Cuộc hội ngộ "lính" vô cùng ồn ào và mùi "quân trường" còn thoảng hơi chưa phai! Chúng tôi kéo nhau ra cà phê Dinh Điền nhâm nhi và từng thằng khai "tình trạng quân ngũ", những gương mặt mới xa, nhưng cứ tưởng không có cơ hội nào gặp lại. 3 thằng Khóa 26 Thủ Đức búng ra sữa,bây giờ trông rất "ngầu".Bộ quân phục Biệt Động Quân, chiếc mũ nâu đội lệch, phù hiệu.... Thằng nào cũng hiên ngang và tự tin! 3 thằng cùng đang phục vụ Liên đoàn 2 BĐQ. Bác Sĩ Lê Văn Thại, Y Sĩ Trưởng với bộ vía tác chiến Biệt Động trông rất "lính". Hồi còn đi học, Hắn rất giỏi võ Bình Định, sở trường Hầu Quyền; vô Sài Gòn học thêm Taekwondo, Hapkido... Mỗi khi Hắn nổi hứng, nắm tay ai bóp nhẹ là người đó la làng. Hắn uống rượu như uống nước, lần nào ngồi với Hắn và mấy trự BĐQ, tôi chỉ là thằng phá mồi!

    *****
    Rồi thời gian trôi! Chiến trường các nơi sôi động. Cánh Biệt Động hành quân rày đây mái đó. "Mùa Hè Đỏ Lửa" năm 1972, tôi và đơn vị trấn thủ thành phố Pleiku để cho vợ con và dân chúng "di tản". Sau đó, các đơn vị Biệt Động phải di chuyển xuống giải tỏa Tam Quan Bồng Sơn, hành quân liên miên, nên tụi tôi ít khi gặp nhau; dù là ở thành phố trấn biên như Pleiku, mệnh danh là "thành phố của lính", dù hậu cứ của tụi nó ở ngay Biển Hồ! Mỗi thằng mỗi khung trời nhỏ trong guồng máy chiến tranh. Đã mang danh hiệu là "Biệt Động" thì có khi nào đơn vị được yên tịnh đóng ở một chỗ đâu! Cả "Vùng 2 Quân Khu 2" đều là địa bàn in vết giày Biệt Động Quân; có biết bao anh hùng ngã xuống! Cuộc di tản tháng 3 năm 1975 là những ngày Quân Dân Cán Chính Pleiku - Kontum - Phú Bổn không thể nào quên. Tôi được may mắn thoát khỏi cuộc di tản trong gang tấc nhờ cái lệnh thuyên chuyển về Đặc Khu Cam Ranh chỉ trước một tháng! Cánh BĐQ của BS Lê Văn Thại, Huỳnh Thọ Huyên cùng số phận kẹt cứng trong đoàn người và quân trang quân dụng trên Tỉnh Lộ 7b. Mấy thằng Khóa 26, lúc bấy giờ vừa được thăng cấp Đại úy, đều bị "tóm" ở gần Sông Ba - Phú Bổn! Đại úy Huỳnh Thọ Huyên cùng chung số phận với đơn vị. Vợ và 3 con của Hắn thì lạc mất trong rừng. Vợ của Huyên lạc luôn 3 đứa con, 1 trai 5 tuổi và 2 gái, đứa 3 tui và đứa chưa tròn một năm sanh. Sau nầy nhờ tìm kiếm, vợ của Huyên tìm được đứa con trai từ một gia đình người Thượng, cháu được nuôi để chăn trâu! Hai cháu nhỏ thì không còn dấu vết! Mấy tay BĐQ, bạn Khóa 26 của tôi bị nhốt ở nhiều nơi, sau rốt nằm ở Z30 A Tuy Hòa. Riêng tên Bác Sĩ lì Lê Văn Thại thì thoát được về Sai Gòn.
    Cuối tháng 3 năm 1975, từ Cam Ranh tôi về Saigon bằng đường bộ đến Phan Rang rồi đi ghe ở Bình Tuy về Vũng Tàu, vợ con gởi lại phía ngoại ở Ninh Hòa. Tôi và Lê Văn Thại lại gặp nhau, nhậu quên đời. Hai thằng quanh quẩn hũ rượu của ông già tôi ngâm. Rượu thuốc có thêm mùi trái ô môi vừa cay vừa ngọt. Ba tôi thấy hai đứa buồn chán nên cũng thường làm mồi cho hai đứa nhậu đưa cay!
    Thê thảm nhất là ngày 30 tháng tư năm 1975, Khu xóm tôi ở trên đường Bà Hạt - Chung Cư Ấn Quang - rần rần người ra đi và rậm rật những đứa mang băng đỏ. Nếu ngày ấy hai đứa ra bến Bạch Đằng thì có lẽ đời sẽ rẽ qua hướng khác. Đàng nầy, hai đứa ngồi nhìn nhau không nói gì nhưng tay thì cầm ly! Tôi có hơi men, thỉnh thoảng còn bày đặt khóc nhớ vợ con chưa biết ra sao...
    Cho đến một ngày cuối tháng 5/1975, Ba tôi làm cơm đải 2 đứa ngày mai "Trình Diện Học Tập" 10 ngày bằng 1 chai rượu tây đem về từ Embassy Hotel. Lúc nâng ly, Lê VănThại đặt tên cuộc nhậu nầy là:"Đăng Trình Tửu". Hôm sau, hai đứa xách bị áo quần và cái mền mỏng, đem theo tiền ăn 10 ngày, mấy bao thuốc lá, đôi dép Nhật hai quai... Hai đứa hí ha hí hửng "trình diện" tại trường Petrus Ký. "Học tập 10 ngày" thì nhằm nhò gì! Ông hàng xóm nói với tụi tôi khi thấy hai đứa khăn gói gỏ cửa nhà ông chào từ giã!
    Tôi làm ra vẻ sành đường đi nước bước trong trường, dắt Lê Văn Thại lên lầu bên trái, chỉ vào lớp gần cuối: "Tao mài quần chưa rách trong phòng nầy!" Thế là hai đứa tôi và mấy chục người trải nilon nằm dưới sàn. Có thằng leo nằm trên bàn học trò. Tôi tìm chỗ ngồi năm xưa, phía dưới hộc, quả nhiên còn tên của mình đã khắc bằng dao!
    Ở "khách Sạn" Petrus Ký, ăn cơm ngày 3 bữa do các nhà hàng nổi tiếng ở Chợ Lớn cung cấp. Mọi người hí ha hí hửng cho rằng "Cách Mạng" đối đải "Kẻ Đầu Hàng" sao mà tử tế quá!
    Nửa đêm, sau mấy ngày nằm chờ đợi "việc gì sẽ xảy ra", chúng tôi được gọi tên từng thằng, sắp hàng một, ôm hành lý leo lên xe bít bùng đang đậu hàng dài trước cổng trường. Cứ 20 thằng leo lên, trên xe có sẵn 2 chú nhóc bộ đội gườm súng bên hông. Xe phủ bạt kín mít, xe chạy rần rật trên các đường trong thành phố, chẳng ai biết nó về hưng nào mà đoán!
    2 chú nhóc tì mặt hầm hầm, luôn gườm súng hăm dọa: "Không được nhìn ra ngoài, không được ồn ào nhúc nhích..." Xe chạy miết đến xế chiều, chúng tôi được phát lương khô "made in China". Cuối cùng rồi cũng đến nơi, xe ngừng trong một trại lính của VNCH gần núi Bà Đen, Trảng Lớn Tây Ninh! Doanh Trại nầy, không biết trước kia làm gì mà có những gian trống trơn, chỉ có sàn xi măng quá to, quá dài, rất nhiều căn trại như thế chứa chúng tôi. Cứ 20 thằng là một B, "cán Bộ" chỉ định B Trưởng, chia nhau trải chiếu hay bao nilon nằm san sát bên nhau cho có hơi ấm! Cứ thế ở đó tự phân chia nấu ăn, tự biên tự diễn. Nếu có đứa nào bịnh thì "Bác Sĩ Cách Mạng" đến khám và bôi dầu cù là, chứ không có thuốc gì hết!
    BS Lê Văn Thại tìm được trong đám đông thêm bạn, đó là BS Lê Văn Một, người miền Nam, râu quai nón. 2 tên Bác Sĩ bắt đầu ngứa nghề. Trong đám ngàn người ngủ giống như ngoài trời suốt 2-3 tháng trời, chuyện bệnh hoạn xức dầu cù là được chúng tôi âm thầm chuyển qua "Bệnh Viện Một - Thại". 2 tên nầy kể cũng mát tay nên ít khi phải gọi Bác Sĩ "Dầu Cù Là"!
    Nhưng khi "biên chế", một số về trại lính Sư Đoàn 18 ở Long Khánh, B19 của tôi, B20 có Thại và Một, đều xách gói lên xe.Ở trại mới một thời gian, đang "được lên lớp" bài đầu tiên: "Ba Dòng Thác Cách Mạng" của Lê Duẫn thì có 4 thằng trốn trại trong đêm. 2 ngày sau thì tụi nó bị bắt, trong túi xách có một số thuốc tây, chúng khai là của BS Lê Văn Thại cho! Thế là nửa đêm, rần rật súng ống và cả đám đông bộ đội bao vây nơi BS Thại nằm, lôi hắn xuống sàn, còng số 8, đọc lệnh nhốt vào co néc (conex).Khung sắt nầy hình khối vuông, trước kia "Xâm Lược Mỹ" dùng loại nầy chở quân trang quân dụng, chuyên chở từ Hoa Kỳ bằng tàu thủy cung cấp cho chiến trường... Hắn bị thẩm vấn và nhốt vào cái khung sắt "kiên cố" đó bằng một khóa bự! Trời Long Khánh nắng đổ lửa mà ngồi trong cái thùng sắt dày, không có lổ thông hơi, bị khóa trái, ăn ngủ, tiêu tiểu một chỗ... do Bác Sĩ Lê Văn Một được "đặc trách" chăm sóc. Chúng tôi cứ tưởng chừng mấy ngày là Hắn chết khô! Thế mà nhờ ngồi thiền, Hắn không chết...
    Mấy tháng sau đó, một buổi trưa hè nóng gắt, kho đạn kế bên trại giam chúng tôi, không biết sao phát nổ. Toàn bộ bom, hỏa tiển, đạn 81 ly, 60 ly, M79 không những nổ mà còn bay đầy trời! Vụ nổ kéo dài đến tối. Trong trại chết một ít nhưng bị thương thì hơi nhiều. Ngoài dân chúng, những trái hỏa tiễn bay xa làm sập nhà và chết nhiều hơn chúng tôi. Vòng thiệt hại ở xa trung tâm nổ, nhiều hơn vòng trong gần với kho đạn!
    Trong lúc kho đạn nổ bay đầy trời, mấy anh chàng nhát gan nhảy xuống các hố hay giếng khô trốn thì đạn lại rơi vào chết thảm. Những thằng sợ quá mất khôn lấy đôi guốc gỗ che lên đầu đi lững lơ như người điên, thế mà chẳng sao. Có thằng lấy miếng carton che đầu. Riêng BS Lê Văn Thại an toàn ngồi trong khung sắt nghe tiếng nổ bên ngoài. Riêng tôi chui vào một cái lổ trong đống gạch, hai chân lòi ra ngoài chịu trận!
    Sau vụ nổ, một thời gian ngắn, chúng tôi được leo lên xe đến "Khu gia binh" ở Long Giao. Lê Văn Thại được "tháo cũi sổ lồng" lên xe cùng chúng tôi. Hắn vốn đã là người ốm cao lêu nghêu,bấy giờ xác xơ đi không muốn nổi. Hồi còn sinh viên, tôi đặt tên Hắn là "Khô trúc Đại Sư". Hai đứa ở Long Giao một thời gian ngắn thì tôi "được thuyên thuyển" ra Bắc trên con tàu chở xi măng, để nổi trôi Hoàng Liên Sơn, Lào Cay, Yên Báy, Vĩnh Phú... Còn Hắn, "được tha về" vì có cái made in Bác Sĩ! Làm việc dưới quyền các Bác Sĩ vốn xuất thân từ trường thuốc "Dầu Cù Là".

    ******
    Tôi được "Cách Mạng khoan hồng" lệnh tha về từ trại tù K2 Tân lập Vĩnh Phú, phải mất 10 ngày từ nhà tù, vượt qua con sông Đà, ngồi tàu lửa chen lấn, từ ga Ấm Thượng về Hà Nội và con tàu suốt xuyên Việt. Về đến Sài Gòn thì mới hay là ông nội tôi đã qua đời 10 ngày trước, vì nghe tin tôi được ra tù; mừng quá lên máu đứng tim! Bước vào nhà cha mẹ tôi, Ba tôi chờ bên bàn thờ chít khăn tang cho thằng cháu đích tôn. Bác Sĩ Lê Văn Thại cũng có mặt. Hắn kể lể một loạt từ khi hai đứa xa nhau. Lúc Ông Nội tôi bị đứng tim thì cũng có Hắn đưa cấp cứu nhà thương Chợ Rẫy và ẵm xác ông nội tôi về lại nhà. Hắn thay tôi trực lo chôn cất, sát cánh với gia đình thằng bạn còn trong tù ngục.
    Mấy tháng sau Hắn dẫn đến nhà một cô gái trẻ đẹp, có duyên và nói tiếng Bắc Kỳ ngọt xớt giọng Hà Nội. Hắn giới thiệu tên cô là Dung đang làm nữ y tá ở Bệnh Viện Chợ Rẫy. Ba tôi xách một chai đế ngâm thuốc và má tôi thì xào dĩa thịt bò hành tây đãi khách. Dung uống rượu cũng rất là tâm đắc với Thại. Tôi ngồi chuốc rượu mà ngạc nhiên là Hắn tìm đâu ra kỳ phùng dịch thủ.
    Một năm sau thì Hắn mời vợ chồng tôi mừng đám cưới Hắn với Dung. Năm đó Hắn 40 tuổi, là Bác Sĩ mà hàm răng cái mất cái còn trông tội nghiệp. Cô Dung y tá năm đó 25 xuân xanh! Một trời thơ mộng hạnh phúc mở ra cho thằng bạn tôi. Đám cưới ngoài vườn cây của ba mẹ Hắn trên Phú Lâm. Ngồi dưới tàng cây nhậu là hết ý.
    Tôi nổi hứng đứng lên trước hàng bao nhiêu Bác Sĩ, bạn bè tứ phương tụ tập vui chuyện chúc mừng. Tôi ra câu đối chúc mừng tân Lang và tân Giai nhân. Vế đầu tôi đọc lên: "Bốn mươi tuổi tròn, răng không còn, Thầy Lang cưới vợ!" Nếu ai đối hợp ý thì được toàn thể cử tọa vỗ tay và cụng ly với một chai rượu tây chính cống!
    Thế là một không khí ồn ào náo nhiệt bàn tán về ý của câu đối và rất nhiều tài danh viết nạp câu đối. Cuối cùng một anh bạn, nay đã quy tiên, có câu đối như thế này: "Hai mươi tuổi lẻ, vẫn còn trẻ, Y Tá vu quy". Câu đối được chấm xuất sắc!
    Tôi và giađình không được nhập cư SàiGòn với cha mẹ tuy trước năm 1975 chúng tôi có tên trong hộ khẩu. Vì thế nên chúng tôi phải đi vùng "KinhTếMới" ở ĐồngNai. Thời gian nầy Thại làm việc tại Bệnh Viện "Bệnh Nhiệt Đới" Chợ Quán. Cha Mẹ vợ Thại có con ở Hoa Kỳ đang làm bảo lãnh cho toàn thể gia quyến sang Mỹ. Lê Văn Thại lúc đó đã có được 1 con gái kháu khỉnh dễ thương tên Ngọc. Hắn không muốn ra đi "Tùy theo quê vợ" nên cứ dùng dằng "em chả"! Nhưng cuối cùng thì cũng phải vì tương lai con gái mà "theo em xuống thuyền".
    Về phần tôi, năm 1990, cả gia đình tôi được giải thoát theo HO3 tháng 7 năm 1990 và định cư ở Nam Cali. Gia đình Thại, vì không đủ 3 năm ở tù nên được đoàn tụ với đại gia đình vợ, định cư tiểu bang Oregon! Hắn quyết tâm học và quyết tâm lấy cho được bằng Bác Sĩ ở Hoa Kỳ, dù Hắn lúc đó đã lớn tuổi và sau năm 1990 thì chuyện học lấy BS rất khó! Vì nhiều lý do mà Hắn không thể theo học nghề thầy thuốc sau 2 năm gắng sức! Trước kia Hắn học trường Pháp, 7 năm mài quần trong Y Khoa Đại Học Sài Gòn, đậu bằng Bác Sĩ theo chương trình Pháp ở VN. Qua Hoa Kỳ hóa ra Hắn trở thành một tên "lộn chuồng"!
    Lúc Hắn than là học khó quá, tôi khuyên Hắn: "Mầy bỏ ý định thành BS ở đây, mầy mở võ đường dạy võ Bình Định Thiếu Lâm hoặc cùng với BS Phạm Gia Cổn dạy võ Hàn Quốc thì tốt hơn". Hn mĩm cười làm thinh tiếp tục hành hạ thân xác vì sĩ diện (?!).
    Chính vì thế mà Hắn chán đời, chán vợ, chán con, lặn sâu qua tiểu bang Delaware với mấy bạn Biệt Động Quân chán đời, cùng ở dưới hầm nhà hơn 8-9 năm trời để săn bắn và nhìn trời chiều bảng lảng!  Khi con gái Hắn đậu bằng Bác Sĩ, hắn lên tinh thần và về lại Cali ở với con gái. Bác Sĩ Ngọc rất có hiếu và chăm sóc tận tình, chiều chuộng ông cha già ương ngạnh!
    Tháng 3 năm 2019, Hắn được xe cấp cứu ò e, chở vào Fountain Valley nằm đã gần 10 ngày. Tôi vào thăm, Hắn nhìn tôi cười đểu: "Ê Lùn! sao không xách theo chai nào mà đi không vậy?" Cầu mong Hắn chóng qua cơn "bệnh viện", tôi sẽ nói với bà xã đúc bánh xèo "dõ" (chỉ có bột gạo) kiểu Tam Quan, hắn rất thích, chấm với mắm nêm; đải Hắn một bữa với vài ly xây chừng! Bây giờ Hắn cũng không còn uống được mấy ly, nhưng gà vẫn còn nhớ tiếng "gáy" một thời vang bóng!
    Sau 3 năm ở với con gái tối ngày đi trực bệnh viện vì dịch Covid-19 và là Bác Sĩ chuyên khoa, con gái Hắn ít khi ở nhà với Hắn. Nơi ở của Hắn và con gái xa Westminster 2 giờ lái xe trên xa lộ, chung quanh rất ít người Việt Nam sinh sống. Hắn không dùng Iphone, không chơi internet, không lấy bằng lái xe... Bao năm tháng ở cái xứ Hoa Kỳ nầy mà như Hắn thì có phải chính Hắn tự hủy hoại mình và hành hạ thân xác dẫn đến chỉ một đường... tự giải thoát!
    Được vợ Hắn báo tin Hắn đã được giải thoát ngày 3 tháng 3 năm 2022, tôi đang lái xe, phải dừng lại bên lề đường vì xúc động. Bây giờ Hắn nằm xuống, con gái Hắn không thể làm gì hơn là ngồi khóc, vợ Hắn thì đã sang ngang từ bao nhiêu năm rồi. Nhưng phút cuối cùng Hắn cũng được gục chết bên vợ con với những lời trăn trối sau cùng nhắn với bạn bè chào vĩnh biệt!
    Một người tài hoa không giống ai, một Bác Sĩ không giống ai, một người bạn mà mọi người đều cảm mến! Hắn là Lê Văn Thại!
    Tháng 3 năm 2022
    letamanh

Theo tin từ Bộ GD & ĐT : tới nay ở VN đã có trên 35.000 tiến sỹ, 785 giáo sư, 5908 phó GS

  • Theo tin từ Bộ GD & ĐT : tới nay ở VN đã có trên 35.000 tiến sỹ, 785 giáo sư, 5908 phó GS

    Theo tin từ Bộ GD & ĐT : tới nay ở VN đã có trên 35.000 tiến sỹ, 785 giáo sư, 5908 phó GS ( số liệu tính tới cuối năm 2025).Tôi chắc chỉ chưa tới 1/1000 đề tài có tính xác thực và có ích. Đa phần là vô bổ, tốn kém tiền dân... Việt Nam có phải là nơi “dễ” trở thành tiến sĩ, giáo sư? – Một góc nhìn thẳng thắn
    Trong nhiều năm qua, câu chuyện về việc học và phong hàm tiến sĩ, giáo sư tại Việt Nam thường xuyên gây tranh luận. Không ít ý kiến cho rằng Việt Nam là một trong những nơi “dễ” để đạt được các học vị, học hàm cao. Nhưng nhận định này có thực sự chính xác?
    Trước hết, cần khẳng định rằng việc đào tạo tiến sĩ hay phong hàm giáo sư ở bất kỳ quốc gia nào cũng có quy trình, tiêu chuẩn riêng. Tuy nhiên, so với các nước phát triển như Hoa Kỳ hay Đức, hệ thống đào tạo và đánh giá học thuật tại Việt Nam từng bị cho là có những “khe hở”. Trong quá khứ, yêu cầu về công bố quốc tế chưa thực sự chặt chẽ, dẫn đến tình trạng một số luận án tiến sĩ bị đánh giá là thiếu tính mới hoặc giá trị thực tiễn không cao.
    Một điểm đáng chú ý là số lượng giáo sư, phó giáo sư tại Việt Nam tăng nhanh trong một số giai đoạn. Điều này khiến dư luận đặt câu hỏi về chất lượng hơn là số lượng. Trong khi đó, tại các quốc gia có nền khoa học phát triển, việc trở thành giáo sư không chỉ dựa trên học vị mà còn đòi hỏi quá trình nghiên cứu dài hạn, ảnh hưởng học thuật rõ ràng và đóng góp quốc tế.

    Inline image


    Inline image


    Inline image


K.I.N.H H.O.À.N.G
 
Hàng chục ngàn người d.â.n thường Irăng đang đứng trên những cây cầu và bao quanh các nhà máy điện để làm la' chă'n, làm bja đỡ đ.ạ.n, nhằm ngăn chặn Mỹ tâ'n c.ông vào những cơ sở này.
Tình báo cho biết, những người nào không chịu đi thì cả gia đình của họ sẽ b.ị xửtử vì tộj phản quô'c. Chế độ Irăng thật sự quá t.àn a'c. Khi tuyên truyền trên mạng, họ nói rằng quân độj Irăng chjến thă'ng, đa'nh cho M.ỹ phải bỏ chạy. Nhưng đến lúc cần kíp, họ lạj đem ngườj dân ra làm la' chă'n sống, trong khi không hề có bóng dáng một người lính hay cảnh sát nào đứng đó.
Nếu Irăng thực sự chjến thă'ng và đa'nh cho M.ỹ bỏ chạy, tại sao họ không đưa quân độj, cảnh sát đến bảo vệ những nơi này mà lại đưa d.â.n thường ra? Họ đưa người d.â.n đến đó là vì nếu M.ỹ tâ'n cô.ng, chắc chắn sẽ có d.â.n thường thjệt m.ạ.n.g, và khi đó họ sẽ lu loa rằng M.ỹ gjê't ngườj vô tộj. Ngược lại, nếu Tổng thống Trump không tâ'n c.ô.n.g, Irăng sẽ tuyên truyền rằng ông Trump s.ợ Irăng, chỉ nói mà không dám làm.
Cho nên, các bạn đừng tin vào truyền thông Irăng hay những người "Irăng con" tuyên truyền rằng quân độj của họ là tha'nh chjến, sẵn sàng t.ử vì đạo. Nếu họ thật sự không s.ợ và sẵn sàng h.y sjnh, tại sao không có một người lính hay cảnh sát nào đứng ra canh giữ những nơi này mà lại đẩy ngườj d.â.n vô tộj ra bao quanh?
Khi thuộc cấp của ông tướng Irăng b.ị tjêu djệt, lúc đó họ đều đang chuj dưới hầm trú ẩn cả. Một số người "Irăng con" ở Việt Nam nói rằng đó là tin vịt, tin dối trá. Nhưng các bạn chỉ cần tìm kiếm trên Google là có thể thấy hình ảnh tràn lan trên đó rồi.
Cre: Lưu Lượng

Inline image


SỰ HY SINH THẦM LẶNG
  • Image en ligne
    Sau khi hai Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến và Nguyễn Thanh Long lần lượt bị mất chức và đi tù vì tham nhũng và buôn thuốc tây giả, chính phủ ta đã đưa một người không biết gì về y tế lên làm bộ trưởng.
    Đó là bà Đào Hồng Lan, người có khuôn mặt mũm mĩm, xinh ra phết, vốn là một nhà giáo đã có nhiều đóng góp cho ngành giáo dục nhưng rốt cuộc cũng chẳng đi đến đâu.
    Vừa lên ngôi, bà tân Bộ trưởng đã phát động cuộc thi viết về “ Sự hy sinh thầm lặng” của ngành y tế. Giải thưởng rất hấp dẫn.
    Có nhiều bài viết gửi về. Trong số đó có bài của một em học sinh lớp 6 bị ném ngay vào thùng rác, giống như dân Facebook vẫn hay nói là “bị loại từ vòng gửi xe”. Bài viết của em như sau:
    Người ta cứ bảo bác sĩ, y tá là lương y như từ mẫu, là những chiến sĩ thầm lặng, em thấy không đúng. Cả nước đều biết nếu không có phong bì hay tiền ứng trước viện phí, người bịnh sẽ có nhiều cơ hội bị bỏ nằm nhúc nhích ngoài hành lang, vừa thở vừa chờ cho tới sáng. Hay ai cần thay băng mà không lòi tiền bồi dưỡng ra, sẽ được các nhân viên y tế thay mạnh tay còn hơn đô vật…Cho nên em chỉ thấy những bịnh nhân bình thường như mẹ em mới xứng đáng đoạt danh hiệu “ sự hy sinh thầm lặng”.
    Mẹ em là một cô giáo, ở trong trường thì được chính phủ gọi là kỹ sư tâm hồn, nhưng lúc mẹ em bị bướu cổ phải đi bịnh viện thì không khác gì 1 con chuột đang bị cả hệ thống y tế xúm vô hành hạ.
    Mẹ em phải dậy sớm đi vô bệnh viện lúc 3 giờ rưỡi sáng để lấy số thứ tự. Ba em nằm trên giường cằn nhằn “ Chỉ có ăn trộm mới đi giờ này”.
    Em cũng phải đi “ăn trộm” với mẹ em, vì ba em nói chiều nay mắc nhậu, không giữ em được.
    Lấy số xong, mẹ em ngồi chờ tới trưa cũng không thấy đọc tên, trong khi có nhiều người tới sau thì lại được mấy cô y tá vui vẻ nắm tay dẫn vô trước. Có một ông ngồi ngủ gục cạnh mẹ em, lâu lâu mở một con mắt ra nói:
    - Không có người quen giới thiệu, không có tiền khám dịch vụ thì chị ngủ một giấc đi cho khoẻ tấm thân ngà.
    Tới hồi nghe đọc tên, mẹ em mừng muốn khóc, mẹ chạy lại ô cửa sổ. Cô y tá, khuôn mặt nghiêm khắc, sau khi điền tên tuổi, giấy tờ xong, nói với mẹ em: 
    - Đóng viện phí rồi tới phòng khám số 6.
    Mẹ em nhẹ nhàng hỏi: 
    - Phòng số 6 ở đâu chị?
    Cô y tá nạt: 
    - Ở trong miệng chị chứ ở đâu. Đi ra ngoài mà hỏi.
    Tại đây, sau khi chờ mòn mỏi thêm nữa tiếng nữa, mẹ em được vô gặp bác sĩ. Ông bác sĩ, mồ hôi đầy trên mặt và nách, chắc tại phải làm việc quá sức. Nhìn ổng, em không thấy giống bác sĩ chút nào, mà thấy giống mấy người bán keo dán chuột.
    Bác sĩ hỏi:
    - Bệnh sao? 
    Mẹ em đang trình bày thì bác sĩ đã ghi xong toa thuốc, ông nói: 
    - Đi chụp X quang và mua thuốc.
    Mẹ em dẫn em ra ngoài, im lặng đi như một xác chết. Em hỏi mẹ:
    - Sao mình chờ hết buổi sáng mà chỉ được gặp bác sĩ không tới 3 phút vậy mẹ?
    Mẹ thở dài: 
    - Ở đây, bác sĩ là chủ tịch nước. Con đói chưa, ra mẹ mua xôi con ăn rồi mình ghé quầy thuốc tây mua thuốc. 
    - Mẹ không đi chụp phim hả mẹ? 
    - Không kịp chiều nay đâu con ơi, người ta xếp hàng dài thế kia, để mai mẹ sẽ xin nghỉ dạy thêm một ngày nữa đi chụp.
    Tại quầy bán thuốc tây, cũng lại cảnh xếp hàng và chen lấn. Nhiều người ngồi luôn xuống đất cho đỡ mỏi chân. Em cũng ngồi nhưng mẹ em thì không. Chắc mẹ nghĩ trong bệnh viện mẹ vẫn là cô giáo chứ không phải bệnh nhân bướu cổ. Đứng lâu lắm thì mẹ cũng mua được một loại thuốc, còn hai loại khác người bán bảo rằng:
    - Ngành y tế đang thiếu thuốc, chị ra ngoài chợ đen mà mua.
    Mẹ thất vọng, lảo đảo đi ra như người say nắng. Thời may, có một bà tiên mập mạp hiện ra trước mặt cứu nguy. Bà tiên móc từ trong áo ngực ra mấy vỉ thuốc: 
    - Em có hai loại thuốc chị cần nè, chị lấy em để rẻ cho.
    Nhưng mẹ em cám ơn và nắm tay em lôi đi.Mẹ bảo mẹ sợ mua nhầm thuốc giả của mấy con buôn.
    Ngồi trên xe buýt về nhà, em thấy suốt ngày hôm nay khủng khiếp quá.
    Bịnh viện đông như kiến. Đông thế nhưng không kiếm ra một nụ cười. Ai cũng gắt gỏng. Ai cũng lê lết chầu chực để được khám qua loa. Mùi mồ hôi, mùi mấy người bịnh khiến em cũng muốn bịnh theo luôn. Vậy mà mẹ em vẫn im lặng chịu đựng. Lúc gần ra về, có cụ già nuôi bệnh, bị móc túi hết tiền, ngồi khóc lóc thảm thiết, mẹ em lẳng lặng lấy ra cho mấy ngàn, không nói một câu.
    Mẹ chỉ đổ quạu khi về tới nhà thấy ba em nằm say xỉn, ói tùm lum. Dọn đống ói xong, mẹ lại hấp tấp chạy đi mua nước chanh về cho ba uống giải rượu.
    Nhìn theo bóng dáng mẹ chạy đi mua nước chanh, em thấy thương sự hy sinh thầm lặng của mẹ vô cùng, cho nên em viết bài dự thi này. Mong bà Bộ trưởng cho em được giải để em đưa hết tiền lãnh thưởng cho mẹ em trị bịnh bướu cổ. Chứ bịnh viện kiểu này, không có tiền thì chắc mẹ em chỉ có nước sống và trị bịnh bằng niềm tin.
    Kính chúc bà Bộ trưởng dồi dào sức khoẻ, ngồi ghế được lâu, suy nghĩ được gì giúp ích cho dân nghèo bịnh hoạn, chứ đừng như ông Bộ trưởng trước, mới ngồi chưa nóng đít đã tham nhũng, phải vô khám ngồi bóc lịch mà nước mắt ổng cá sấu cứ rưng rưng.
    Loc Duong




--
====================================================================
Trên Facebook :
http://www.facebook.com/DaiHocKhoaHocSaiGon
====================================================================
 
Bạn đã nhận được bài viết này vì bạn đã đăng ký vào Nhóm "KhoaHocSG" của Google Groups.
* Để đăng bài lên nhóm này, hãy gửi email đến "khoa...@googlegroups.com"
* Để RÚT TÊN ra khỏi nhóm này, gửi email đến "khoahocSG+...@googlegroups.com"
* Để có thêm tuỳ chọn (preference set up), hãy truy cập vào nhóm này tại: http://groups.google.com/group/khoahocSG?hl=vi
---
Bạn nhận được thư này vì bạn đã đăng ký vào nhóm Google Groups "KhoaHocSG".
Để hủy đăng ký khỏi nhóm này và ngừng nhận email từ nhóm, hãy gửi email đến khoahocsg+...@googlegroups.com.
Để xem cuộc thảo luận này, hãy truy cập vào https://groups.google.com/d/msgid/khoahocsg/CH2PR02MB6581A09EC4DD35A8525D89B4FC222%40CH2PR02MB6581.namprd02.prod.outlook.com.
Reply all
Reply to author
Forward
0 new messages