

THẰNG TÂM “THI SĨ”
Trên con tàu già nua nằm phơi mình trên cầu tàu, có một nhân vật nổi tiếng hơn cả ông Thượng Sĩ “thuốc rê” Quản Nội Trưởng nữa. Đó là thằng Tâm “thi sĩ”. Nó là Thủy Thủ Nhất Trọng Pháo, người lúc nào cũng sạch sẽ, râu tóc gọn gàng, nhưng trái tim nó thì lúc nào cũng… hồng như cánh phượng đầu hè.
Chuyện bắt đầu khi một buổi chiều biển êm như ru, anh em đang ngồi tán dóc. Thằng tựa lưng vô thành tàu chăm chú đọc tờ Chiến Sĩ Cộng Hòa cũ mèm, nhàu nát. Kẻ đánh cờ tướng, người pha trà, thì thấy Tâm ngồi một góc, tay cầm cuốn sổ nhỏ, mặt đăm chiêu như đang chuẩn bị… Tuyên Bố Độc Lập. Miệng ngậm cây viết bi, nhìn ra hướng chân trời xa xăm, nơi mà theo lời nó nói là… “hướng đó có em”.
Thằng Hòa Vô Tuyến liếc qua, nhướng mày nói:- Ủa, bộ tàu mình sắp bắn đại bác hay sao mà mày làm mặt nghiêm trang dữ vậy?Tâm không trả lời. Nó hắng giọng một cái, rồi đọc nho nhỏ:
- “Biển đêm thao thức gọi tên nàng,
Sóng vỗ lòng anh nỗi nhớ mang…”
Cả đám im lặng đúng… 3 giây. 3 giây sau, tiếng cười nổ ra như cây 20 ly hai nòng bắn “ra phan”.
Cả bọn nhao nhao lên:
- Trời đất, quỷ thần ơi. Sóng vỗ mà nhớ mang? Sóng vỗ là say sóng te tua đó ông nội.
- Đọc tiếp đi, để tui lấy sổ ghi lại, mai mốt gửi đăng báo… “Phong Ba Tình Ái”.
Gương mặt thằng Tâm đỏ ửng lên, nhưng vẫn cố giữ phong độ… “thi sĩ”. Nó đứng dậy, khoa tay chống chế:- Tụi bây không hiểu đâu. Đây là thơ tình. Thơ là phải lãng mạn.Thằng Bảy Vận Chuyển giả bộ lau nước mắt:- Ừa, sầu thương, lãng mạn quá mạng he, nghe xong tui muốn… nhảy xuống nước bơi dô bờ liền.Từ đó, mỗi lần thằng Tâm Thi Sĩ móc cuốn sổ ra là y như rằng cả Thủy Thủ đoàn tụi tui trong tình trạng báo động đỏ. Đám tụi tui tự động bu lại, đứa cầm ca nước trà, đứa mang gói kẹo mè sửng ra và chuẩn bị giữ vững tinh thần để… thưởng thức thi ca văn nghệ. Có lần nó viết:
“Anh là Hải Âu giữa trùng khơi,
Em là bến đợi suốt cuộc đời…”
Thằng Huy Tiếp Vụ lập tức chen vô:
- Ê, khoan cái đã. Hải Âu thì nó “ ị” tùm lum đó nha. Em nào dám làm bến đợi. Ừa, mà mắc công tao phải dẹp mớ cơm dư tao phơi trên boong nữa nghe mậy.
Cả bọn lại cười nghiêng ngả. Tâm tức lắm, nhưng càng bị chọc nó càng làm tới. Nó tuyên bố:- Sau này tao nổi tiếng, tụi bây đừng có xin chữ ký, không ký tặng cho thằng nào hết.Thằng Hòa Vô Tuyến làm mặt đau khổ, chắp tay:- Dạ, làm ơn cho em xin chữ ký để em đem về… trừ tà.Nhưng nói cho ngay, giữa những tràng cười chọc ghẹo đó, anh em ai cũng biết Tâm nhớ người yêu thiệt. Con nhỏ tên Lan, bán cà phê gần bến tàu. Mỗi lần tàu chuẩn bị đi công tác, Lan ra tiễn, tay cầm gói xôi còn nóng, mắt đỏ hoe. Tâm nhận xôi mà mặt làm bộ cứng rắn lắm, nhưng lên tàu là ngồi thừ người ra cả buổi.
Ban đêm đi ca quan sát, nó hay lẩm bẩm đọc thơ một mình. Có bữa tôi đi ngang nghe nó sửa tới sửa lui hai chữ “nhớ em” thành “thương em”, rồi lại đổi thành “yêu em”. Đúng là chuyện hệ trọng cấp… Quốc Gia.
Một lần khác, nhân ngày biển động, tàu lắc qua lắc lại, anh em say sóng nằm dài như cá khô. Riêng Tâm vẫn ôm cuốn sổ viết hăng say. Thằng Bảy Điện Khí bò lại hỏi:
- Ê, viết gì nữa đó?
- Thơ về sóng.
- Sóng nào?
- Sóng lòng!
Bảy Điện Khí lắc đầu:- Vậy là sóng lòng ông mạnh hơn sóng biển đó.Dù bị chọc không thương tiếc, nhưng mỗi lần có thư từ đất liền gửi ra, cả đám lại tự động nhường cho Tâm mở trước nếu thấy phong bì có nét chữ con gái. Nó đọc xong, cười một mình như thằng khùng. Hòa Vô Tuyến lại la lớn:- Báo cáo mọi người. Thi sĩ đã nhận được tiếp tế… tinh thần.
Có bữa cao hứng, tụi tôi còn bày trò làm “đêm thơ trên biển”. Lấy cái thùng đạn làm bục, bắt Tâm đứng lên đọc. Đọc xong, cả bọn vỗ tay rần rần, rồi góp ý rất chân thành:
- Thơ hay lắm! Chỉ cần bớt đi 18 câu là được.
Tâm quê một cục, nhưng cũng cười theo. Nó biết tụi tôi chọc là chọc vậy thôi. Ở giữa biển mênh mông, tiếng cười nhiều khi còn quý hơn gói mì… Hai Con Tôm.
Rồi có lần tàu cập bến dài ngày. Lan ra thăm. Tâm dẫn cô nàng đi ngang qua đám tụi tôi. Bảy Vận Chuyển thì thào đủ lớn:- A, ‘bến đợi suốt cuộc đời’ tới rồi nè tụi bây ơi.Lan đỏ mặt, còn Tâm thì đưa tay ra sau lưng xua tay lia lịa. Nhưng tôi thấy nó đứng cạnh người yêu, ánh mắt hiền khô, chẳng còn là anh chàng “thi sĩ” mơ mộng nữa, mà là một chàng Thủy Thủ rất hiền lành.
Sau này mỗi đứa một phương, có đứa giải ngũ, có đứa trôi dạt xứ người. Không biết Tâm “Thi Sĩ” còn làm thơ không. Nhưng tôi tin, giữa bao nhiêu phong ba của đời lính, những vần thơ vụng về năm đó chính là sợi dây giữ cho nó mềm lòng, để giữa tiếng máy nổ ầm ầm và mùi dầu mỡ, vẫn còn chỗ cho một ánh mắt, một nụ cười.
Và tôi cũng tin, nếu bây giờ cả đám gặp lại, chỉ cần Tâm móc túi lấy cuốn sổ nhỏ, chưa cần đọc câu nào, tụi tôi cũng sẽ cười ầm lên ngay như ngày cũ.
Bởi vì trên con tàu năm ấy, giữa biển trời bao la, có một anh Thủy Thủ làm thơ nhớ người yêu và có một đám bạn suốt ngày xúm vào chọc ghẹo, mà thương nhau hết biết.FB De NguyễnGỞI ANH
Người đàn ông mang cả mùi muối mặn về trong mỗi giấc mơ của em. Đêm nay, ngồi khêu ngọn bấc đèn, em chợt nhớ về cái ngày đầu tiên mình gặp nhau bên bến phà Mỹ Thuận. Khi đó anh là chàng Hải Quân đang chờ phà qua sông, bộ Canada mới tinh, cái quần jean ống loa xanh đậm mang hình ảnh của Sài Gòn hoa lệ soi bóng xuống dòng Tiền Giang đỏ sậm phù sa. Anh nhìn em không chớp mắt, lúng túng làm sao mà để rơi chiếc nón Polo trắng muốt xuống nước, rồi đỏ mặt ngượng ngùng nhìn em cười “cầu tài” khoe hàm răng đều đặn trắng bóc. Chính cái nụ cười hiền khô, chơn chất ấy của anh lúc đó đã “bỏ bùa” con gái nhà người ta, để rồi em đánh đổi cả cuộc đời thanh xuân để làm người đàn bà “đợi cửa”.Anh còn nhớ đêm trăng rằm năm ấy ở bến Ninh Kiều không? Mình ngồi bên nhau, anh nắm tay em thật chặt, bàn tay thô nhám vì làm việc trên tàu nhưng sao ấm áp lạ lùng. Anh chỉ tay về phía cuối sông nơi chân trời xa tắp, có những ánh đèn le lói của tàu bè, rồi thỏ thẻ: “Sau này cưới nhau, anh sẽ là con tàu, em là bến cảng. Tàu đi đâu rồi cũng phải quay về bến, vì bến là nơi duy nhất giữ được mỏ neo của lòng anh”.Lời hứa “mỏ neo” ngày đó, em vẫn giữ kỹ trong tim. Vậy mà anh ơi, con tàu của anh sao đi hoài đi hủy. Có những đêm con đau, em thức trắng cầm cự với cơn sốt, nhìn lên bức tường thấy bộ áo Đại Lễ của anh treo đó mà lòng em thắt lại. Em nhớ có lần anh được về phép đúng dịp tết, hai đứa mình dắt nhau đi chợ hoa. Anh mua cho em chậu Mai vàng rồi hứa:“Sang năm, anh sẽ xin phép trực chiến gần nhà, rồi tết nào mình cũng cùng nhau gói bánh tét”.Để rồi sang năm, và nhiều năm sau nữa, nồi bánh tét của em chỉ có khói bếp làm bạn. Anh lỗi hẹn hết lần này đến lần khác. Có lúc em giận lắm, em muốn gào lên rằng em ghét biển, ghét con tàu, ghét luôn cả cái đại dương mênh mông đã cướp mất chồng em. Nhưng rồi, mỗi bận anh trở về, chỉ cần nhìn thấy đôi bàn chân anh bị nước biển ăn lở loét, nhìn làn da cháy nắng đen sạm tróc ra từng mảng. Tim em lại mềm nhũn ra.Anh còn nhớ lần anh hứa về phép để mừng sinh nhật con không? Em đã chuẩn bị sẵn nồi lẩu mắm thơm lừng, thằng nhỏ thì cứ chạy ra chạy vô ngóng trông ba nó. Vậy mà cuối cùng, anh lại lỗi hẹn vì con tàu phải chuyển hướng vào phiên hải hành khẩn cấp để trực canh vùng biển phía xa. Anh nhắn tin về: “Tàu anh đang chuyển quân khẩn cấp sẵn sàng chiến đấu, mình và con ngủ sớm, đừng đợi anh”.Lúc đó, em giận anh đến phát khóc. Em tự hỏi cái “bổn phận” ấy to tát đến dường nào mà khiến anh quên cả lời hứa với gia đình? Nhưng rồi, khi có dịp lên thăm anh tại bến cảng, nhìn thấy anh cùng đồng đội tất bật chuẩn bị cho chuyến hải hành tuần dương, thấy đôi mắt anh thâm quầng vì những đêm thức trắng bận rộn làm việc, em bỗng hiểu ra tất cả. Con tàu ấy, khẩu súng ấy, và cả những hệ thống radar đang quét liên tục kia chính là “mắt thần” giữ gìn bình yên cho đất nước. Nếu anh không đi, nếu anh không giữ vững con tàu giữa những đợt sóng cao cuồn cuộn, thì làm sao mẹ con em có được giấc ngủ yên lành?Em nhớ mãi cái lần anh thừa cơ vội vàng ghé bến tàu vài mươi phút để gặp mẹ con em. Anh vội vã dúi vào tay em một chiếc vỏ ốc biển to thiệt to, bảo rằng: “Khi nào nhớ anh, em cứ áp tai vào vỏ ốc, sẽ nghe tiếng sóng biển kể chuyện anh thương em”. Anh đi rồi, em áp tai vào đó, chẳng nghe thấy sóng đâu, chỉ nghe thấy tiếng nhịp tim mình thổn thức vì thương người đàn ông vì nước quên gia đình.Em tha thứ cho anh tất cả, kể cả những lời hứa “cuội” dối lòng rằng “Sẽ xin về phép sớm”. Bởi em biết, anh không chỉ thuộc về em, anh còn thuộc về những chuyến hải trình gìn giữ sông biển,anh thuộc về nhữngđồng đội đang cùng anh chia nhau điếu thuốc giữa đêm biển dậy sóng. Sự hy sinh của anh là vì chén cơm manh áo cùng yên bình cho cả xóm nhỏ này, trong đó có mẹ con em.Em nhớ mãi kỷ niệm lần anh dắt em lên thăm tàu. Anh chỉ vào cái la bàn rồi bảo: “Kim la bàn luôn chỉ về hướng Bắc, còn lòng anh dù có chao đảo giữa sóng cấp 7, cấp 8 thì vẫn luôn hướng về phía em”. Câu nói đó của anh như một “mỏ neo” tâm hồn, giúp em trụ vững qua bao mùa gió chướng. Dẫu biết rằng đời lính biển là “Lấy tàu làm nhà, lấy biển cả làm quê hương”, nhưng em vẫn tự hào vì mình là người giữ vững mái nhà cho người lính Thủy kiêu hùng đó.Anh cứ yên tâm nha, em ở nhà vẫn vẹn nguyên lòng chung thủy của người đàn bà Nam Kỳ “Đã thương là thương cho trót”. Em sẽ thay anh chăm lo vườn tược, dạy dỗ con nên người, để khi nào con tàu anh cập bến, anh sẽ thấy một hậu phương vững chãi nhất. Anh cứ là con tàu can trường giữa đại dương, còn em sẽ mãi là bến cảng lặng lẽ, bình yên, sẵn sàng đón anh vào lòng sau mỗi chuyến hải hành đầy thử thách.Chỉ cần anh nhớ, nơi này chỉ có một mình anh duy nhất trong tim em. Thương anh, người lính Thủy của đời em.Thương và đợi anh, vợ của anh.De NguyễnNGÀY RA TRẠI
--Rồi cũng qua hai ngày nôn nao, pha lẫn hồi hộp. Một ngày viết bản tường trình cá nhân buổi sáng, họp lần cuối với quản giáo và ban quản trại buổi chiều. Ngày thứ nhì nhận quần áo, lương thực, lộ phí đi đường, giấy "Phóng Thích" và nghe "giảng" lần cuối. Sáng nay, 20-03-1976, 100 tù tàn binh được tập họp để cán bộ kiểm tra hành lý, mục đích là tìm xem có thư từ của bạn đồng cảnh nhờ mang về hay không. Cũng may là họ chỉ xét hành trang, không xét người, nên mấy lá thư tay viết vội của một anh bạn đồng cảnh ở Đà Nẵng và vài bạn gốc Sài Gòn, vẫn bình yên nằm dưới bàn chân.Vừa ra khỏi cổng là không ai hẹn ai, tất cả đều quay lại nhìn nơi mình vừa rời bỏ. Vài nụ cười kèm tiếng thở phào...nhẹ nhõm! Không có lời xì xào hay câu trao đổi. Im lặng! Nhưng không phải là sự im lặng của lo lắng, sợ sệt, hay của lòng cam chịu như khi lần đầu bị lùa vào trại lao động khổ sai mang mỹ từ "cải tạo"; mà là thứ im lặng để tận hưởng tự do, cho dù chỉ là thứ tự do tạm bợ, vì trong tờ giấy phóng thích có ghi câu "...địa phương chịu trách nhiệm quản lý và giáo dục...". Nhưng đó là chuyện của tương lai. Hiện nay chúng tôi đã ở bên ngoài vòng rào của doanh trại có bộ đội ôm súng trên chòi gác.Toàn cảnh của Trại 4, Tổng Trại 1, thuộc Quân Khu 5 CS, nằm im lìm tắm nắng. Hôm nay là một ngày tuyệt đẹp và cũng là một ngày hăm hở, nôn nao, pha lẫn thoáng bùi ngùi của 100 tù tàn binh được nhà nước "khoan hồng" cho về đoàn tụ với gia đình. Cả năm gắn bó với nhau suốt từ các trại tù Hội An, Hòa Cầm rồi lên đến miền núi Hiệp Đức này; đủ làm chúng tôi quyến luyến, nao nao, khi chia tay với bạn bè đồng cảnh.Mặc dù những gì cần nói đã nói hết từ hôm qua, nhưng giờ đây tôi lại có cảm giác mình chưa nói được tất cả những gì còn chất chứa trong lòng. Họ - những người còn phải trả nợ đời trong trại tù khổ sai - chắc chắn cũng bồi hồi và nôn nao không kém; vì rốt cuộc cũng đã có tia hy vọng ở cuối đường hầm khi hôm nay, đã có người được thả về đoàn tụ với gia đình. Hy vọng lại bùng lên, vì đây là đợt thứ nhì của tổng trại 1 sau lần thả tù đầu tiên vào dịp Tết, chỉ mới hơn một tháng trước mà thôi.
Từ khi bị lâm vào cảnh đọa đày, ai cũng mong có được như hôm nay, nhưng nguyên ngày hôm qua, tôi cứ mong thời gian trôi chậm lại để còn bịn rịn với anh em đựơc thêm chút nào, hay chút đó. Mới hôm nào mọi người bị lùa lên xe từ Đà Nẵng rồi gom vào các trại chuyển tiếp ở Hội An, Hòa Cầm để sau đó phải lầm lũi lội sình, đội mưa, theo lối mòn Trường Sơn mà bước vào chốn đọa đày dưới họng súng gườm gườm của những kẻ thắng cuộc.Ngày đó, khu rừng và đồi núi chung quanh xã Bình Hòa, thuộc quận Hiệp Đức này còn dày đặc cỏ tranh, ngút ngàn cây lá; cùng với muỗi mòng, rắn rít và lũ vắt tanh tưởi lúc nhúc trên khắp lối đi. Còn hôm nay, con đường lầy lội của mùa mưa năm trước đã quang đãng, khô ráo và thênh thang hơn nhiều so với một năm hoang dã trước đây.Con người tới đâu, núi rừng lui tới đó. Vùng đồi núi hoang phế, loang lỡ chung quanh khu lán trại của 500 tù tàn binh và doanh trại bộ đội; bây giờ là phần đất của những luống rau lang xanh thắm, hay những khoảng đất basalt màu mỡ đã được khai quang, cào cuốc. Đây vốn là công sức lao động, là mồ hôi pha máu hồng của những kẻ sa cơ, một thời mang màu áo lính cộng hòa của miền Nam tự do.
Giã từ đồng cảnh! Chia tay hôm nay mai này có thể sẽ không có cơ hội gặp lại nhau. Bất giác, lòng tôi bồi hồi dấy lên một niềm thương cảm rất nghẹn ngào. Dù sao, nơi đây cũng đã từng chứng kiến những nhục nhằn, gian lao, khổ ải mà tù tàn binh đã trải qua. Làm sao quên được những ngày phá rừng, cuốc rẫy dưới ánh nắng nung người, hay cơn mưa tầm tã?! Đói lạnh run mà vẫn phải "lao động tốt", để khỏi nghe những lời sỉ vả, hăm he của mấy tên bộ đội nhóc con kè súng chĩa ngang hông.Lệ thương thân khóc đời cùng tận, hay mồ hôi pha hạt mưa nhòa, mà mắt bỗng cay xè thả vị mặn xuống môi?! Là con người hay nô lệ?! Là ngoại chủng hay đồng bào mà những dằn vặt, dày xéo, tra tấn tinh thần lẫn thể xác; cứ ngày đêm phủ chụp lên những tàn binh, giờ đã thành tù lao động khổ sai?! ..."Nhà nước khoan hồng, nhân dân rộng lượng..." mà sao rừng ngay kế bên không cho mót củi, đốn cây mà lại bắt tù phải lội vào hang sâu, núi thẳm - nơi đã từng là bản doanh của sư đoàn 711 CSBV, bị xóa tên bởi Sư Đoàn 2BB và Biệt Động Quân mấy năm trước - để phá hầm, dở xà, nhổ cột, gỡ kèo rồi còng lưng vác về trại dựng nhà, hay để dành chụm bếp?!Nếu đường đất lầy lội làm tù tàn binh té lên, té xuống chưa đủ làm cho kẻ coi tù thích chí, hả hê, thì màn lên núi cột mấy thớt gỗ - rồi từng hai người một, kẻ đẩy, người kéo ngay từ thượng nguồn của dòng suối để chuyển về tận trại - đúng là một hình ảnh nô lệ bị ngược đãi như thời kim tự tháp Ai Cập 5000 năm về trước. Trời vào đông, nước lạnh bầm da, tái thịt mà tù tàn binh thì tất cả đều lưng trần, xà lỏn; chân không, đạp đá sỏi mà đi, còn đôi dép thì được xỏ dây cẩn thận, đeo trên vai để lội nước cho dễ.Nước uống đã có suối, còn hai nắm cơm mang theo; đi chưa tới chỗ đã không còn một hột. Hành trình bao xa không rõ, nhưng sáng tù rời trại khi mặt trời tháng 12 chưa kịp ấm, chiều về đến nơi thì cũng vừa tắt nắng. Giao gỗ cho quản trại xong, ai nấy đều lo xuống nhà bếp ngồi sưởi cho ấm, rồi bỏ cả ăn để ngủ cho đã vì quá mệt sau một ngày làm bạn với...hà bá.
Nhắc đến cái ăn, mới thấy thấm thía nỗi cơ cầu của người dân miền bắc, lúc nạn đói Ất Dậu xảy ra. Tuy không đến nỗi chết người như vào thời đó, nhưng cái đói hành hạ tù tàn binh ngày nay, còn tàn độc hơn cả roi đòn, hay bất cứ hành vi thô bạo nào khác. Cơn đói làm cho người tù lả người vì kiệt lực, nhưng đồng thời nó cũng làm tinh thần suy sụp và lụn bại đến tận cùng bằng số. Mỗi ngày ăn 3 bữa. Mỗi bữa 1 chén cơm chan nước muối, hoặc mắm cá lấy nguyên xi từ thùng thiếc chiết ra.Đói quá nên con gì nhúc nhích là ăn! Rắn rết, cóc nhái, chuột núi là cao lương mỹ vị. Dế, thoạt đầu là mồi bắt chim khướu, sau trở thành nguồn đạm đỡ lòng. Vào rừng sâu rút mây, đốn gỗ mà gặp được tổ ong thì chẳng khác nào như tìm được đống vàng. Nhấm nháp chúp mật trên miếng sáp cũng đủ "phê", nói chi đến chuyện bỏ nguyên chú ong con vào miệng; để thấy chất đạm pha với mật ngọt tuyệt vời đến mức không thể tả thành lời, nhứt là với những người tù bệnh tật, ốm đói.
Họ, những kẻ say sưa trên ( cái là gọi là ) chiến thắng lịch sử, cứ ngày đêm đòi dạy cho kẻ thất thế những bài học lịch sử và lao động. Nhưng lịch sử chỉ quanh quẩn ba mớ giáo điều hoặc tuyên truyền phóng đại, còn lao động là chỉ sau vài tháng phá rừng, cuốc đất, đốn cây; thì trại tù trở thành một công viên với đủ loại hoa tìm được trong rừng mang về trồng trước "nhà", hay treo, máng bên trong.Cùng lúc đó thì lồng chim để nhốt khướu, trở thành loại "trang sức" mà hầu như từ nhà 1 đến 20, nhà nào cũng có một, hai lồng treo ngay trước cửa, để nghe chim hót thật sướng tai. Dần dà, cán bộ trại cũng lân la xin chúng tôi vài cái mang qua doanh trại bộ đội bên kia hàng rào, để nghe chim hót cả ngày cho thỏa thích. Cũng vậy, điếu cày - loại làm bằng ống tre - vốn là vật bất ly thân của bộ đội miền bắc, đã trở thành sản phẩm thời thượng; được quản giáo và bộ đội đặt hàng dài dài.Lý do là vì điếu cày do người tù bỏ công chăm chút "nổ" lớn hơn, trông kiểu cách hơn. Thậm chí có người còn khắc, chạm những hình ảnh khá đẹp mắt khiến cho đám nón cối và quản giáo đặt hàng không ngớt. Ngay lúc đó "kẻ chiến thắng" đã mở mắt, nhưng vẫn không muốn ( hay không dám ) nhìn nhận tù tàn binh miền Nam rõ ràng là hơn hẳn họ về mọi mặt!
Cũng may là rừng núi còn thương người khốn cùng nên đọt dương xỉ, lá tàu bay, lá giang và nhứt là rau má thì hầu như nơi nào cũng có. May mắn cho chúng tôi là vì muốn hành xác những người từng là kẻ thù của mình; nên chúng cứ bắt chúng tôi hết leo núi, lên rừng rút mây tới gánh gạo, gánh gỗ tận trong vùng Phước Sơn hẻo lánh, nên mọi người mới có dịp "cải thiện". Hễ thấy bụi rau má ven đường là bất kể lời hối thúc, hăm dọa hay nạt nộ của cảnh vệ, mọi người bỏ gánh để nhào ngay xuống quơ, bứt cho đã tay rồi mới tiếp tục lên đường.Những luống rau lang trồng ngay bên ngoài khu trại cũng được chiếu cố rất tận tình, lén lút hoặc công khai ( nhờ toán lao động nhẹ, ngắt đọt mang về chia nhau ăn ) kể cả khoai mì và cà chua trồng ngay sau "nhà" cũng không kịp ra củ hay trái, để giúp tù có thêm chất rau tươi ăn qua ngày. Cứ vậy mà mọi người nén lòng, cam phận, chấp nhận hoàn cảnh và chịu đựng khổ hình, để gượng sống và hy vọng vào một ngày như hôm nay...
Mải mê đắm mình trong suy tưởng mà chúng tôi đã ra tới bến xe quận Hiệp Đức từ lúc nào không biết. Nói là bến cho thuận miệng, chứ thật ra đó chỉ là một bãi đậu xe trơ màu đất đỏ, với duy nhứt hai gian nhà. Căn có nóc là nơi bán vé, còn gian nhà kế bên là khu chờ đợi, với lưa thưa vài băng ghế đóng tạm rất sơ sài. Chỉ không đầy nửa giờ là 3 chiếc xe đò Renault của thời Pháp - loại xe chạy liên tỉnh thường được gọi là xe đò lỡ ( Đa số là loại Renault camionnette từ thời 1950's,1960's ), phía sau có một tấm bửng để thêm người đeo, vịn - rề rà tách bến để đưa đợt tù sau cùng ra khỏi quận.Xe cỗ lỗ xỉ, người đông, chật chội đến ngộp thở nên một số trong chúng tôi leo lên mui ngồi cho thoáng mát. Lại thêm một thoáng bùi ngùi, khi nhìn lại phía sau lưng và trải lòng với chập chùng nhấp nhô của rừng xanh, núi thẳm. Hôm chúng tôi "nhập trại" là một chiều hè trời mưa như trút nước. Xe chở tù đóng bạt kín mít, còn cai tù thì lăm lăm khẩu AK trên tay, sẵn sàng nhả đạn suốt đoạn đường từ Hòa Cầm đến bãi đất trống bây giờ đã là bến xe. Sau đó là hơn 4km đường rừng để vào trại tù. Ngày vần vũ gió mưa của năm trước, nay đã thay bằng trời mây quang đảng, như muốn chào mừng những người vừa hưởng chút không khí "tự do"; thứ tự do tạm bợ, bởi thân phận đích thực của chúng tôi chỉ là một "phó thường dân" không hơn, không kém.
Tỉnh lộ 534 nối các quận miền núi Quế Sơn, Hiệp Đức với đồng bằng và quận Thăng Bình tại vùng biển phía đông, đã hoang phế từ lâu, nên lồi lõm đất đá và loang lỡ hết mức. Xe chạy như rùa bò, dằn xóc liên tục nhưng hình như không ai sốt ruột. Chúng tôi im lặng nhìn quanh như muốn thu hết cảnh vật sau những tháng ngày chỉ biết có núi và rừng. Thỉnh thoảng, chúng tôi trao đổi bâng quơ với nhau cho có chuyện để nói. Hầu như ai cũng mang một vẻ đăm chiêu, tư lự rất xa xăm.Có lẽ ai cũng chung một tâm sự như nhau. Đó là niềm vui sắp được sum họp với gia đình. Hạnh phúc này đang dần dà nhường chỗ cho nỗi lo lắng về một tương lai nhiều bóng tối hơn ánh sáng, khi biết rằng mình vừa ra khỏi nhà tù nhỏ, để bước vào một loại tù ngục bao la hơn và u tối hơn nhiều. Thì thôi cũng đành! Cuộc đời đã bị đóng khung từ khi Nước mất, Nhà tan nên làm gì cũng phải ngậm hờn qua ải. Đã qua được thử thách ban đầu, nên từ hôm nay trở đi cuộc sống có cơ cầu cách mấy; cũng còn có gia đình để nương tựa, có bè bạn và đồng cảnh để ủi an và biết đâu "...không lẽ ta cứ mãi thế này?!"
Rồi cũng ra đến ngả ba Thăng Bình! Quận miền biển nhưng sinh hoạt thị tứ thì lại nằm ngay trên quốc lộ 1. Thăng Bình, quận cực bắc của Quảng Tín ngày xưa vốn nhộn nhịp, sầm uất; nay cũng còn nét rộn ràng của một khu kinh tế hàng đầu của vùng Quảng Nam, mặc dù hoạt cảnh có phần thu gọn vào trong các hàng quán dành cho bộ hành và xe cộ trên các hành trình xuôi nam, ngược bắc.Xe vừa vào bến là chúng tôi lũ lượt leo xuống và đa số đều ghé vào các quán ăn bình dân ngoài quốc lộ. Bữa cơm đích thực đầu tiên sau một năm cuốc rẫy, phá rừng sao mà ngon hết biết! Ly cà phê và điếu thuốc có đầu lọc hiệu President "phê" không kém gì "tép" thuốc lào đầu tiên trong đời. Không hẹn mà nên! Ai cũng muốn tận hưởng chút hạnh phúc đơn giản mà nồng nàn này đến mức tối đa.Đến bây giờ mới có tiếng rì rào bên câu chuyện trao đổi về việc ai xuôi Nam, ai ngược Bắc. Hiếm hoi lắm mới có người trong Nam kẹt lại như Trần Ngọc Dũng và tôi, nên đa số đều hẹn gặp tại Đà Nẵng, hay Huế và Quảng Trị. Riêng trong 4 người chúng tôi, anh bạn "Trâu Điên" Trần Ngọc Dũng nhứt định "... Càng về gần Sài Gòn bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu!..." nên sau bữa ăn là Dũng hăm hở bắt tay từ giã, rồi vọt nhanh ra ngã ba để bắt kịp một chiếc xe đò từ Huế về Bình Định vừa thả người và lấy khách dọc đường.
Chia tay với Dũng mà trong lòng cũng thấy buồn buồn. Lẽ ra chúng tôi nên đi chung với nhau về Sài Gòn cho có bạn. Nhưng tôi đã gắn bó với đơn vị tại hậu cứ Liên Đoàn 12 BĐQ ở Phú Lộc - Hòa Khánh hơn 15 tháng. Thôn Phú Lộc chỉ cách Đà Nẵng 6km, nên lần nào Tiểu Đoàn 37 BĐQ về dưỡng quân, nhóm "Con bà phước" gốc Sài Gòn chúng tôi đều lê la, xuôi ngược khắp phố phường Đà Nẵng. Kỷ niệm đẹp, nên lưu luyến đã thật sâu lắng trong lòng!Tình cảm cả ngày hôm nay thật khó diễn đạt cho đúng với tâm trạng còn nhiều bỡ ngỡ với hiện thực. Tôi đã có ý định nhờ Tài và Bôn đem thư tay của anh bạn đồng cảnh ghé lại nhà đưa cho vợ anh ấy. Đây cũng là chị của một người bạn quen khá thân tại Đà Nẵng. Hai anh em gốc Huế cũng đã vui vẻ nhận lời khi tôi ngỏ ý. Nhưng Sài Gòn thì trước sau gì cũng sẽ là chốn nương thân dài hạn, còn Đà Nẵng vốn chỉ cách vài chục cây số! Không trở lại thăm chốn xưa thì mai này biết bao giờ mới có dịp nhìn lại khung trời kỷ niệm và để nhớ một thời giày saut, áo trận?! Vì lẽ đó, nên tôi quyết định cùng với hai anh em Nguyễn Văn Bốn và Nguyễn Văn Tài đón xe ngược bắc.Đêm nay có thể là đêm cuối dành cho sông Hàn, Hùng Vương, Độc Lập, Chợ Cồn.... Sẽ là đêm thức trắng, gom hết hình ảnh của phố xá và con người, để mai này trở thành khúc phim chiếu chậm của ký ức. Đà Nẵng ơi, ta lại về đây! Phố phường ơi, hãy cùng bước chân lãng tử nối lại quá khứ vàng son của thời giày trận, áo hoa; để mãi mãi Đà Nẵng sẽ là tiếng đồng vọng dễ thương và ấm lòng, cho dù ở bất cứ phương trời nào!
HUY VĂNBí ẩn loài chim bay suốt mười tháng không hạ cánh: Ăn ngủ trên trời nhưng vẫn sinh con bình thườngCó loài chim gần như sống trọn cuộc đời trên bầu trời, bay liên tục hàng trăm ngày, vừa ăn, uống và ngủ ngay giữa không trung. Điều khiến nhiều người tò mò nhất là trong điều kiện như vậy, chúng sinh sản và duy trì nòi giống ra sao.TVS, Google và Qualcomm bắt tay tạo xe điện Android Auto đầu tiên trên thế giới, mở cuộc đua công nghệ mới cho xe hai bánh Trong thế giới chim trời, khi nhắc đến tốc độ bay, phần lớn mọi người thường nghĩ ngay tới chim cắt, loài săn mồi nổi tiếng với những cú bổ nhào đạt vận tốc hàng trăm km mỗi giờ. Tuy nhiên, bên cạnh đó còn tồn tại một nhóm chim khác cũng sở hữu khả năng bay đáng kinh ngạc, thậm chí có lối sống gần như hoàn toàn gắn liền với bầu trời. Đó chính là chim yến.Khả năng bay của chim yến khiến nhiều nhà khoa học phải kinh ngạc. Chúng có thể duy trì vận tốc hơn 100 km mỗi giờ, trong khi một số cá thể thậm chí đạt tốc độ trên 300 km mỗi giờ trong những pha bay nhanh. Điều đặc biệt hơn cả là khoảng 90% thời gian trong cuộc đời của loài chim này diễn ra trên không trung.Các hoạt động thiết yếu như tìm kiếm thức ăn, uống nước, thậm chí ngủ nghỉ đều được thực hiện trong khi đang bay. Nghiên cứu của các nhà khoa học từng sử dụng thiết bị định vị gắn trên cơ thể chim yến cho thấy có những cá thể đã bay liên tục gần 300 ngày, tương đương gần 10 tháng, mà không hề hạ cánh xuống đất. Khả năng này phần nào được giải thích bởi cấu tạo cơ thể đặc biệt của chim yến. Chúng có đôi cánh dài, thon và rất khỏe, thích hợp cho việc bay đường dài. Ngược lại, chân của chúng lại cực kỳ nhỏ và yếu. Bốn ngón chân đều hướng về phía trước, khiến chúng gần như không thể đứng vững trên mặt đất. Chính vì cấu tạo đó mà chim yến còn có một biệt danh khá đặc biệt: “chim không chân”. Thực tế chúng vẫn có chân, nhưng đôi chân này chủ yếu dùng để bám vào vách đá hoặc mái hiên nhà, chứ không phục vụ cho việc đi lại. Nếu chẳng may rơi xuống mặt đất bằng phẳng, chim yến sẽ rơi vào tình trạng rất nguy hiểm. Với đôi cánh dài và chân yếu, chúng khó có thể lấy đà để cất cánh trở lại. Trong môi trường tự nhiên, điều đó đồng nghĩa với việc chúng có thể trở thành con mồi của các loài động vật khác như mèo hoặc thú săn mồi. Chính vì vậy, việc duy trì phần lớn thời gian trên không trung chính là cách sinh tồn hiệu quả nhất đối với loài chim này. Trong khi bay, chim yến tìm kiếm thức ăn bằng một phương thức rất đặc biệt. Chúng có thể mở miệng rộng khi bay và bắt những côn trùng nhỏ như muỗi hoặc ruồi bay trong không khí. Trung bình mỗi ngày, một cá thể chim yến có thể ăn tới hàng nghìn côn trùng bay. Khi cần uống nước, chúng sẽ bay thấp sát mặt hồ hoặc sông, lướt mỏ qua mặt nước để lấy nước uống. Cách này cũng giúp chúng dễ dàng bắt thêm những côn trùng bay gần mặt nước. Một trong những bí ẩn khiến nhiều người ngạc nhiên nhất là cách chim yến ngủ. Trong khi con người và nhiều loài động vật phải hoàn toàn nghỉ ngơi khi ngủ, chim yến lại có khả năng duy trì trạng thái nửa ngủ nửa tỉnh. Não bộ của chúng có thể nghỉ ngơi luân phiên giữa hai bán cầu. Khi bán cầu não trái ngủ, bán cầu não phải vẫn tỉnh táo để điều khiển cơ thể tiếp tục bay. Đồng thời, một bên mắt vẫn mở để quan sát môi trường xung quanh. Sau khi phần não này nghỉ ngơi đủ, hai bán cầu sẽ đổi vai cho nhau. Cơ chế này cho phép chim yến vừa bay vừa ngủ trong thời gian dài mà không rơi khỏi bầu trời. Khả năng bay bền bỉ cũng giúp chim yến thực hiện những hành trình di cư đáng kinh ngạc. Một số loài yến thường thấy tại khu vực Bắc Kinh, Trung Quốc, mỗi năm di cư từ đây tới miền nam châu Phi rồi quay trở lại. Tổng quãng đường của chuyến đi có thể lên tới khoảng 38.000 km. Tuy nhiên, dù có thể sống phần lớn cuộc đời trên không trung, chim yến vẫn phải hạ cánh khi đến mùa sinh sản. Đây là thời điểm hiếm hoi chúng tìm đến các vách đá, hang động hoặc mái hiên nhà để làm tổ và ấp trứng. Một trong những loài chim yến nổi tiếng nhất liên quan đến hoạt động sinh sản là chim yến sào. Loài chim này xây tổ bằng chính nước bọt của mình. Trong suốt hơn 20 ngày, chúng liên tục tiết ra chất dịch dính từ tuyến nước bọt, trộn với một ít lông, dần dần tạo thành chiếc tổ nhỏ có hình dạng giống một chiếc bát. Những chiếc tổ này chính là tổ yến, một loại thực phẩm được nhiều người xem là có giá trị cao. Trên thực tế, việc “nuôi yến” hiện nay không phải là nhốt chim trong lồng để lấy tổ. Chim yến chỉ có thể sống và săn mồi khi bay tự do trên bầu trời. Nếu bị nhốt, chúng không thể bắt côn trùng và sẽ nhanh chóng chết. Thay vào đó, ở nhiều quốc gia nhiệt đới, người ta xây dựng các “nhà yến”. Bên trong những ngôi nhà này, ánh sáng được giữ ở mức rất thấp, độ ẩm cao và thường phát âm thanh của chim yến để thu hút chim hoang dã. Khi chim yến bay vào làm tổ và nuôi con, con người sẽ không can thiệp. Chỉ sau khi chim non trưởng thành và rời tổ, người ta mới tiến hành thu hoạch tổ yến. Tuy vậy, sự gia tăng nhu cầu tiêu thụ tổ yến cùng với những thay đổi trong môi trường sống đang đặt ra nhiều thách thức đối với loài chim đặc biệt này. Việc sử dụng thuốc trừ sâu khiến số lượng côn trùng bay giảm mạnh, đồng nghĩa với nguồn thức ăn của chim yến cũng suy giảm. Ngoài ra, quá trình đô thị hóa với các tòa nhà cao tầng hiện đại cũng khiến số lượng địa điểm thích hợp để chim yến làm tổ ngày càng ít đi. Theo ghi nhận hiện nay, trong hơn 100 loài chim yến trên thế giới, đã có ít nhất 6 loài đang suy giảm nghiêm trọng về số lượng và đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Loài chim gần như dành cả cuộc đời trên bầu trời này vì thế không chỉ là một kỳ quan sinh học, mà còn là lời nhắc nhở về sự mong manh của cân bằng tự nhiên trong thế giới hiện đại.
Đại Tá Phan Văn Huấn, “Linh Hồn” Biệt Cách Nhảy Dù -Vương Trùng Dương
03-19-2026, 09:17 PM(Bài viết nầy đăng trong mục Lịch Sử Ngàn Người Viết trên nguyệt san Chiến Sĩ Cộng Hòa số
200, tháng 4 năm 2026 – Vương Trùng Dương, Chủ Bút)“Tôi chưa bao giờ vắng mặt trong bất cứ một trận đánh lớn nhỏ nào kể cả chiến trường An Lộc. Tôi chấp nhận hy sinh, đã nhiều lần bò sát đến từng vị trí phòng thủ để an ủi khuyến khích anh em chứ không chịu ngồi dưới hầm sâu để ra lệnh, do đó tôi nghĩ vì thế mà tinh thần chiến đấu của LÐ81 mỗi ngày mỗi lên cao” - Đại Tá Phan Văn Huấn.
Đại Tá Phan Văn Huấn, Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù vừa qua đời ngày 10/3/2026 tại California Hoa Kỳ. Hưởng đại thọ 93 tuổi. Ông sinh năm 1933, tại tỉnh Thừa Thiên. Xuất thân Khóa 10 Trần Bình Trọng (10/1953-6/1954), Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt.
Trong bài viết Câu Chuyện Chiếc Mũ Xanh của ông đã ghi lại cuộc đời quân ngũ, Lực Lượng Đặc Biệt và Biệt Cách Nhảy Dù.
“Ngày 22/4/57, tôi vào trình diện Bộ TTM để nhận lệnh mới thì được đưa đến tạm trú tại dãy nhà ở đường Hiền Vương, gần Câu lạc bộ Sĩ quan An Ðông, Chợ Lớn để đợi lệnh. Sau hơn một tháng chờ đợi, hơn 20 anh em mới được đưa ra Vũng Tàu để học lớp Truyền tin đặc biệt, Đại Úy Bùi Thế Minh được chỉ định làm trưởng lớp, Đại Úy Tống Hồ Hàm làm phó...
Sau một tháng học nhảy dù, chúng tôi di chuyển ra Nha Trang, học lớp LLÐB tại trường Biệt Ðộng Ðội ở Ðồng Ðế do một toán LLÐB Mỹ từ Okinawa đến huấn luyện. Ðại Úy Cramer là trưởng toán, lớp học được hơn một tháng thì trong một cuộc thực tập phục kích gần đèo Rù Rì, Đại Úy Cramer, một Thượng Sĩ Cố Vấn và Trung Úy Phan Thanh Ðàn tử thương vì sơ ý trong việc xử dụng chất nổ!...
Sau 4 tháng gian khổ học tập, khóa A đầu tiên của Binh chủng LLÐB mãn khóa vào tháng 12/57. Các khóa B, C, D sau đó vẫn tiếp tục huấn luyện tại trường Biệt Ðộng Ðội Ðồng Ðế Nha Trang và huấn luyện viên của các khóa sau này đều do khóa A đảm trách. Vì tính cách quan trọng của việc thành lập binh chủng LLÐB. Lúc đó Ðại Úy Phạm Văn Phú (Thiếu Tướng) và Trung Úy Trần Hữu Tác (Trung Tá) là khóa sinh khóa B cũng như nhiều khóa sinh ưu tú khác nhập học. Sau khóa D mãn khóa thì có cuộc hành quân thực tập, nhảy dù xuống vùng Xuyên Mộc, Ðất Ðỏ thuộc tỉnh Bình Tuy chừng 2 tuần, cuộc hành quân này gồm nhiều toán A, mỗi toán 15 người, toán tôi thì có Tr/Úy Lê Tất Biên toán phó, Thượng Sĩ Kalani làm cố vấn…
Sau khi khóa A mãn khóa thì được mang danh hiệu là Liên Ðội Quan Sát Số 1 (LÐQSS1), Đại Úy Bùi Thế Minh làm Chỉ Huy Trưởng và Đại Úy Tống Hồ Hàm, Chỉ huy phó. Nhưng đến khóa B thì Thiếu Tá Ðàm Văn Quý thay thế làm Chỉ Huy Trưởng và được đội Mũ Ðỏ như Nhảy Dù. Ðến ngày 11 tháng 11 năm 1960, Liên Ðoàn Nhảy Dù do Đại Tá Nguyễn Chánh Thi, Tr/Tá Vương Văn Ðông, và Tr/Tá Nguyễn Triệu Hồng chỉ huy làm cuộc đảo chánh Tổng Thống Ngô Ðình Diệm nhưng bất thành, phải bỏ trốn sang Campuchia…
Sau chính biến, toàn bộ LÐQSS1 di chuyển vào đóng quân ở trại Hùng Vương, cạnh trường đua ngựa Phú Thọ. LÐQSS1 đổi danh thành Liên Ðoàn 77 của Bộ Quốc Phòng ngày 3/10/61, rồi LÐ77 đổi danh thành LD301 và giải tán do nghị định 284/QP/NÐ ngày 9/6/65. Liên Ðoàn 31 do Đ/Úy Phạm Duy Tất làm Chỉ Huy Trưởng. Quân số 2 Liên Ðoàn 301 và 111 giải tán để sắp xếp lại và chính thức gọi là binh chủng LLÐB vào tháng 4/63, gồm có một Bộ Tư Lệnh, một Đại Đội Tổng Hành Dinh, một Trung Tâm Huấn Luyện, và 4 bộ chỉ huy C ở 4 vùng Chiến Thuật, mỗi C có một số B và mỗi B có một số toán A tùy theo tình hình địa phương, mỗi toán A quân số vào khoảng 12 người, tổng cộng quân số LLÐB vào khoảng trên dưới 5,000 cho đến khi giải tán vào năm 70.
Từ năm 1961, LLÐB bắt đầu kế hoạch mở các trại Biệt Kích Biên Phòng (BKBP) (CIDG) dọc theo biên giới Việt Miên Lào để ngăn chặn việt cộng xâm nhập vào lãnh thổ VNCH, tùy theo tình hình, mỗi trại quân số BKBP có từ một Tiểu Đoàn hoặc nhiều hơn. Cho đến ngày BKBP đổi danh thành Biệt Ðộng Quân Biên Phòng khi LLÐB giải tán vào năm 70 thì quân số đã lên đến trên 50 ngàn quân với gần 50 trại.
Cũng từ năm 1961 thì LLÐB bắt đầu thành lập các đại đội Biệt Cách Nhảy Dù (BCND) biệt lập rồi đến năm 1964 thì sát nhập lại thành lập Tiểu Đoàn 91 BCND, Thiếu Tá Trần Minh Huy làm Tiểu Đoàn trưởng đầu tiên, đến ngày 1/4/68 đổi danh thành Tiểu Đoàn 81/BCND. Cũng trong năm 64 này thì LLÐB lập thêm một đơn vị nữa, lấy tên là Trung Tâm Huấn Luyện Hành Quân Delta (TTHL/HQ/Delta) gồm có 12 toán Thám Sát, mỗi toán 6 người, và 12 toán Thám Kích Tiền Phong (TKTP) là Biệt Kích Quân lấy từ các trại do Mỹ trả lương. Ðại Úy Nguyễn Văn Khách là Chỉ Huy Trưởng Delta đầu tiên.
Bộ Tư Lệnh LLÐB chính thức thành lập vào tháng 4/63 do Đ/Tá Lê Quang Tung làm Tư Lệnh, lần này Mũ Ðỏ lại đổi thành Mũ Ðen của binh chủng LLÐB cho đến đầu năm 64 di chuyển ra Nha Trang vẫn còn đội Mũ Ðen, rồi chẳng bao lâu sau, Mũ Ðen đổi thành Mũ Xanh cho đến khi LLÐB giải tán vào tháng 8/70…
LLÐB là binh chủng đầu tiên thi hành những nhiệm vụ vô cùng bí mật đó là thả các toán Biệt Kích ra Bắc hoạt động. Khởi đầu thả vào năm 1961 và chuyển giao nhiệm vụ này cho Nha Kỷ Thuật vào năm 64 để từ đó LLÐB chỉ lo hoạt động ở nội địa mà thôi.
LLÐB đã tham dự các trận đánh quyết liệt từ Khe Sanh, Lao Bảo, Làng Vei, Ashau, Alưới, Tà Bạt, Dapek, Dakto, Ben Het, Pleime, Ðức Cơ, Vũng Rô, Ðức Phong, Ðồng Xoài, Bình Long, An Lộc, Tống Lê Chân, Thiện Ngôn, Trại Bí, Ðức Hòa, Ðức Huệ, Ðôn Phục, Cái Cái, cho đến Biệt Khu Hải Yến, Côtô, v.v... Ða số các trận đánh này đều nằm dọc theo biên giới Việt Miên Lào để ngăn chặn Việt cộng xâm nhập vào lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH)…
Không có cái buồn nào bằng cái buồn binh chủng LLÐB bị giải tán vào tháng 8/70! Anh em LLÐB phân tán đi nhiều binh chủng nhưng đa số là chuyển qua BÐQ và NKT; một số ít qua bộ binh, hoặc các Trung tâm huấn luyện, nha sở, v.v... Duy chỉ có TTHL/HQ/Delta và Tiểu Đoàn 81/BCND là không giải tán mà sát nhập lại để lập nên Liên Ðoàn 81/BCND do tôi làm Chỉ Huy Trưởng. LÐ 81/BCND trở thành lực lượng tổng trừ bị trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu (BTTM)...
Ngày 25/12/70, toàn bộ LÐ81/BCND di chuyển vào đóng quân tại trại Bắc Tiến, cạnh Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung. Sau khi đã ổn định nơi đồn trú, tôi được lệnh lên trình diện Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng QLVNCH. Ý tôi muốn cứ giữ nguyên Màu Cờ Sắc Áo của binh chủng Lực Lượng Ðặc Biệt nhưng khi đề cập đến vấn đề đó thì tất cả sĩ quan cao cấp của BTTM đều cho biết là khó thể Đại Tướng chấp nhận yêu cầu này… Với quyết tâm đó, cho nên khi vào trình diện Đại Tướng, tôi đã có sẵn những lý do vững chắc để xin giữ lấy chiếc Mũ Xanh và phù hiệu LLÐB. Sau những lời hỏi han về tình hình quân số, nơi ăn chốn ở, tinh thần quân sĩ của Liên Đoàn, cuối cùng Đại Tướng liền hỏi tôi có đề nghị gì không?... Sau khi trình bày Đại Tướng Cao Văn Viên nói: “Ðược rồi, để giữ vững tinh thần chiến đấu như khi còn LLÐB, tạm cho phép Liên Ðoàn được đội Mũ Xanh và mang phù hiệu LLÐB cho đến khi có lệnh mới”…
Tôi chưa bao giờ vắng mặt trong bất cứ một trận đánh lớn nhỏ nào kể cả chiến trường An Lộc. Tôi chấp nhận hy sinh, đã nhiều lần bò sát đến từng vị trí phòng thủ để an ủi khuyến khích anh em chứ không chịu ngồi dưới hầm sâu để ra lệnh, do đó tôi nghĩ vì thế mà tinh thần chiến đấu của LÐ81 mỗi ngày mỗi lên cao.
Tôi rất hãnh diện được chỉ huy một đơn vị mà ở mặt trận nào, LÐ81 cũng làm rạng danh những người chiến sĩ QLVNCH, đặc biệt nhất là ở chiến trường An Lộc năm 72, với 2 câu thơ cảm đề của cô giáo Pha đã lưu truyền tiếng tăm của BCD đến cho mọi người:
“An lộc địa sử ghi chiến tích,
Biệt Cách Dù vị quốc vong thân”
(Ngưng trích)
Ngày 30/4/1975, khi TT lâm thời Dương Văn Minh ra lệnh buông súng đầu hàng, ông đã ở lại với binh sĩ và bị 13 năm tù trong các trại khổ sai từ Nam ra Bắc. Với tinh thần dũng cảm trên chiến trường, ông viết về chốn lao tù vẫn cương trực:
“Trại tù Nam Hà có gần 1,000 tù “cải tạo” vào năm 1978, trong số đó có vài trăm cấp Đại Tá không đi lao động suốt nhiều tháng, được nghỉ ở trại để viết về đề tài “Cuộc Ðời Tôi” nghĩa là kê khai tất cả chi tiết từ nhiều đời, đến khi vào quân đội cho đến ngày 30/4/75. Suốt ngày ngồi viết dưới sự trông coi của “cán bộ”, chiều đến thì nạp bài để đêm đến họ kiểm soát lại xem mình có viết đúng như họ hướng dẫn không. Sáng hôm sau thì họ kêu những người không viết theo hướng dẫn lên để xỉ vả! “Cán bộ” thì ngồi trên ghế, người bị kêu lên ngồi dưới đất để nghe những lời hạch hỏi thiếu văn hóa của kẻ “thắng trận”.
Tôi nhìn cảnh đó quá uất hận, rồi nghĩ nếu chẳng may đến lượt mình thì có chịu đựng được không? Nhất là khi Danh Dự của chiếc Mũ Xanh bị tổn thương, lúc đó chắc tôi khó mà kềm chế được sự tức giận để rồi sự thể có ra sao cũng đành cam chịu. Ðiều bất hạnh là tôi bị kêu lên thật, tên Tr/Úy Quốc là “cán bộ văn hóa” của trại tù với giọng nói cục cằn đã xỉ vả tôi “Anh viết tắt thế này (tôi viết tắt chữ Biệt Cách Nhảy Dù thành BCND), thì khi gởi thư, bố mẹ anh làm sao đọc được? “Không kềm chế được! Máu uất nổi lên, tôi đứng phắt dậy, dằn mạnh tập giấy đang viết xuống bàn và la lên cốt cho tất cả mọi người cùng nghe”.
“Nếu tôi có tội thì cứ giết tôi, còn cha mẹ tôi không có tội, cán bộ đừng đụng đến cha mẹ tôi”. Bị tôi phản ứng bất ngờ, tên Quốc giận tím mặt, ngồi yên lặng một lúc rồi đứng dậy đến bắt tay tôi và xin lỗi. Tôi liếc nhìn anh em Đại tá đang ngồi, thấy anh em hoảng hốt, sợ tánh mạng tôi sẽ bị nguy hại vì sự nóng giận đó, sau đó mới thấy tôi tuy quá uất hận nhưng cũng rất khôn ngoan đã lợi dụng cái lỗi của nó đụng chạm đến cha mẹ tôi để làm lớn chuyện mà tên Quốc không làm gì tôi được lúc đó nhưng tôi biết chắc chắn tôi sẽ bị trả đũa sau này. Từ sau ngày đó, tôi thấy bọn chúng bớt hống hách hơn với anh em Đại tá.
Viết xong “Cuộc Ðời Tôi” thì tiếp đến viết về đề tài “Các Tướng Ngụy”, viết tất cả những Tướng nào mà mình biết, tôi chỉ viết các Tướng Tư Lệnh LLÐB đã chỉ huy trực tiếp tôi mà thôi, tôi vẫn lập luận là cấp Tướng thì đương nhiên phải giỏi hơn tôi, tôi làm sao giỏi hơn để phê bình họ được? Tôi chỉ nói sơ lược cách hành xử của các Tướng Tư Lệnh mà không một phê bình nào về đúng hay sai nên cán bộ bực tôi lắm!...
Một buổi sáng nọ, tất cả lên hội trường để nghe “cán bộ ở Bộ Nội Vụ” về nói chuyện, khi đã ngồi yên vị, “cán bộ” liền nói “Hôm nay là buổi họp mặt để phê bình những khai báo của các anh trong mấy tháng qua, có 3 anh đáng được đưa ra để anh em phê bình xây dựng, đó là anh Phan Văn Huấn, anh Tạ Thành Long, và anh Lý Văn Minh đã có những tư tưởng không tốt như anh Huấn chẳng hạn, anh Huấn viết là:
“Tôi chưa bao giờ nói dối với các con tôi, ngày đi trình diện học tập cải tạo, tôi đã nói chính phủ cách mạng chỉ bắt đi học tập cải tạo một tháng rồi ba sẽ trở về với các con, nay đã 3 năm rồi không thấy về nhưng tôi không biết giải thích với các con tôi như thế nào, vậy xin cán bộ chỉ giùm cho, các anh cho biết những thắc mắc của anh Huấn như thế có đúng không?”
“Cán bộ” nói xong liền cho anh em nghĩ 10 phút để suy nghĩ và góp ý phê bình. Trong thời gian đó, tôi thấy nhiều cán bộ gọi nhiều người ngồi riêng để nói chuyện nhỏ to gì đó, tôi biết chắc là cán bộ khuyên dụ anh em phải phê bình tôi không biết ơn cách mạng đã tha tội chết cho mà còn đặt những câu hỏi làm mất uy tín cách mạng.
Ðến giờ vào họp lại thì lần lược các anh Cao Văn Ủy, Phạm Bá Hoa, Phan Thông Tràng, và nhiều anh em khác lần lược đứng lên phát biểu ý kiến, tôi biết chắc một điều là cộng sản chỉ cần một anh phê bình tôi là lập tức tôi bị cùm và dẫn đi kiên giam ở một nơi khác để dằn mặt các Đại Tá…
Bây giờ số phận tôi nằm trong danh dự của các anh em Đại Tá, thôi ta chấp nhận chết, đây cũng như là tử trận ở chiến trường mà ta đã chấp nhận từ lâu. Ðiều hãnh diện hết sức là anh em cứ nói vòng vo Tam Quốc, không đâu vào đâu hết khiến cho các “cán bộ” bực tức mà chẳng biết làm gì hơn được.
Năm 1988, tôi và một số lớn tù được tha về vào mấy ngày trước Tết, về tới nhà tôi rất đau lòng khi thấy vợ và 7 con đang sống trong cảnh nghèo nàn xơ xác, nhưng tôi cũng tự an ủi là mình còn may mắn hơn nhiều anh em khác, khi về nhà đến nhà thì không còn đủ vợ con.
Ngày 18/3/1993 vợ chồng tôi và 3 con được ra đi đến định cư tại California theo diện nhân đạo HO, tại đây đã có hội Thân Hữu Lực Lượng Ðặc Biệt thành lập từ năm 1987 và đang ngưng hoạt động, do đó anh em đã đề nghị tôi đứng ra thành lập hội Gia Ðình 81 BCND/LLÐB để đại diện đầy đủ hơn cho các chiến hữu của cả hai Binh chủng BCD, LLÐB cũng như anh em Delta, và hội đã được thành lập ngày 04 tháng 7 năm 1993”.
(Ngưng trích)
Trích dẫn những dòng trên vởi bản thân ông, Đại Tá Phan Văn Huấn đáng ngưỡng mộ với những chiến công hiển hách và khi trở thành “kẻ chiến bại” trong 13 lao tù vẫn giữ được hào khí của người lính QLVNCH.
*
Trong bài viết của Thiếu Tá Phạm Châu Tài, đoạn “Theo Chân Đoàn Quân Ma” có đoạn tường thuật như sau:
“Theo kế hoạch giải vây, hai đơn vị thiện chiến được sử dụng đến là Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù và Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù. Cả hai đơn vị nầy đều nhảy thẳng vào An Lộc với hai nhiệm vụ khác nhau, một phía trong và một phía ngoài thị xã.
Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù sẽ quét sạch hành lang vây khốn bên ngoài chu vi phòng thủ và Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù mở đường máu đánh thẳng vào An Lộc tiếp tay với quân trú phòng bên trong, chiếm lại phân nửa thành phố đã mất.
Người ta suy nghĩ, kế hoạch này là một ván cờ liều, một kế hoạch đánh xả láng “thí chốt để lấy xe”, và những đơn vị thi hành sẽ là những con thiêu thân bay vào ánh lửa. Đúng vậy, họ là những con chốt của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, những con chốt đã sang sông, đã nhập cung,và đã trở thành một pháo đài sừng sững trước mặt quân thù.
Ngày 14 tháng 4 năm 1972, từ Quận Chân Thành, Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù và một pháo đội được trực thăng vận vào một địa điểm cách An Lộc 04 cây số về phía Đông Nam…
… Sáng ngày 16 tháng 04 năm 1972 Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù được vận chuyển qua Lai Khê bằng trực thăng Chinook CH-46. 12 giờ trưa cùng ngày, khi kho đạn Lai Khê bị đặc công Cộng Sản phá hoại nổ tung, là lúc toàn bộ 550 quân cảm tử của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù sẵn sang tại phi trường Lai Khê để được trực thăng vào An Lộc.
Nắng hè chói chang oi bức, ánh nắng lung linh theo cánh quạt của trực thăng tiễn đưa đoàn quân Ma đi vào vùng đất cấm. Địa điểm đổ quân là những đám ruộng khô cằn, nứt nẻ phía Tây tỉnh lộ 245, chung quanh là những cánh rừng thưa trải dài theo hướng Tây Bắc, khoảng cách 1 cây số đi về phía Đồi Gió.
Phải một hợp đoàn 45 chiếc trực thăng đa dụng HU-1D với hai đợt đổ quân mới thực hiện xong cuộc chuyển quân, và Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù đã vào vùng hành quân lúc 04 giờ chiều ngày 16 tháng 4 năm 1972. Mở tần số liên lạc với Tướng Lê Văn Hưng trong An Lộc và liên lạc với Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù để biết vị trí quân bạn, sau đó nhanh chóng khai triển đội hình chiến đấu di chuyển về hướng Tây, len lỏi theo đường thông thủy giữa hai ngọn đối Gió và 169 âm thầm ngậm tăm mà đi.
Một sự kiện bất ngờ không may xảy đến khi đoàn quân đang di chuyển, một quả bom của Không Quân Hoa Kỳ định đánh vào vị trí của Cộng Quân lại rơi ngay vào đội hình đang di chuyển của Biệt Cách Dù, gây thương vong cho một vài binh sĩ, trong đó có Thiếu Úy Lê Đình Chiếu Thiện. Lập tức trái khói vàng được bốc lên cao giữa đoàn quân để phi công nhận diện phía dưới là quân bạn.
Phải mất một thời gian ngắn cho việc tản thương, hai cố vấn Mỹ; Đại Úy Huggings và Thượng Sĩ Yearta nhanh chóng liên lạc với Lữ Đoàn 7 Kỵ Binh Không Vận Hoa Kỳ yêu cầu trực thăng cấp cứu và được thỏa mãn ngay. Đây là hai cố vấn thuộc lực lượng đặc biệt Hoa Kỳ còn chiến đấu bên cạnh Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù khi quân bộ chiến Mỹ đã rút lui ra khỏi chiến trường Việt Nam theo kế hoạch Việt Nam Hóa Chiến Tranh được thi hành vào năm 1970.
Sự kiện thứ hai xảy đến là sự xuất hiện của 47 quân nhân thuộc Liên Đoàn 3 Biệt Động Quân từ đối 169 chạy tuôn xuống, mặt mày hốc hác vì mệt mỏi và thiếu ăn, bị thất lạc và phải trốn trong rừng. Họ đi theo Biệt Cách Dù để trở lại đơn vị gốc trong An Lộc…
Hoàng hôn phủ xuống thật nhanh, bóng tối lần lần bao trùm cảnh vật chung quanh. Súng vẫn nổ rải rác từng đợt, từng hồi trong rừng thẳm. Biệt Cách Dù chiếm ấp Srok Gòn trong im lặng và an toàn vì địch vừa rút ra khỏi đây. Lục soát, bố trí và dừng quân chung quanh ấp trong những công sự chiến đấu đã có sẵn của Việt Cộng.
Bóng đêm dày đặc, im vắng xa xa về hướng An Lộc- đạn pháo ì ầm nổ như tiếng trống cầm canh.
Sự đổ quân tăng viện ồ ạt của Việt Nam Cộng Hòa về phía Đông Nam cách An Lộc 4 km, đồng nhịp với các phi vụ đánh bom B52 tàn khốc về phía Nam của thành phố, đã làm cho Cộng quân hoang mang hốt hoảng. Lữ Đoàn 1 Dù là lực lượng đối kháng vòng ngoài để thu hút địch quân đồng thời tạo một lỗ hổng cho Biệt Cách Dù thâm nhập vào thành phố.
Sáng ngày 17 tháng 4 năm 1972, cùng một thời điểm Tiểu Đoàn 8 Dù tiếp cận ngoại vi tuyến phòng thủ của Thị Xã vế phía Nam, cạnh Quốc Lộ 13.
Cộng quân không ngờ Biệt Cách Dù đã lọt được vào Thị Xã tiếp hơi cho quân tử thủ và mở cuộc tấn công ngay trong đêm đó vào các khu phố mặt Bắc…
Nói về liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy dù, mặc dù chỉ có 550 chiến sĩ được đổ quân vào An Lộc nhưng khả năng tác chiến có thể bằng hay hơn 2000 quân bộ chiến (cấp Trung Đoàn) của các Công trường quân Cộng sản Bắc Việt, bởi chiến pháp linh động và bất ngờ, uyển chuyển theo tình hình, biết tùy theo thời tiết và địa thế, khi tấn công thì như vũ bão, sấm sét giáng lên đầu quân địch, khiến chúng không kịp trở tay, xuất hiện bất ngờ như những thiên thần trên trận mạc, đánh cận chiến tuyệt kỹ trên các hầm hố giao thông hào vào ban đêm, chui tường, đục lỗ tác chiến trong thành phố, cả ngày lẫn đêm rất điêu luyện (lấy ít đánh nhiều, sát hại địch nhiều mà thương vong lại ít), đột kích bất ngờ thu dọn chiến trường nhanh chóng đã làm kinh tâm khiếp đảm địch quân trên tận dãy Trường Sơn heo hút gió ngàn, và trong thành phố tại ngã ba Cây Thị kỳ Tết Mậu Thân 1968 tại Sài Gòn.
Thật là một đơn vị Biệt Kích - Commando thiện chiến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, hơn hẳn các đơn vị “đặc công” thiện chiến của Cộng Quân, và không thua bất cứ đơn vị Commando nào của các Quân Đội trên Thế Giới…
Điểm đáng lưu ý là Biệt Cách Dù đã tránh được một cuộc chạm súng với đơn vị Trung Đoàn 141 của Công Quân, có quân số đông hơn Biệt Cách Dù đến 5 lần, và địch được ưu thế phòng không và có công sự chiến đấu. Nhất là khi chuyến đầu đổ quân, không sao tránh khỏi đụng trận, các chiến binh Biệt Cách Dù kể cả các trực thăng đổ quân chắc chắn phải bị hao hụt ít nhiều, không còn được nguyên vẹn quân số, để tiếp tục làm tròn sứ mạng tiếp sức với Trung Đoàn 8 thuộc Sư Đoàn 5 Bộ Binh, chiếm lại ½ diện địa phía Bắc, trong những ngày kế tiếp sau đó.
Trung Đoàn 141 thuộc Công Trường 7 của Cộng quân, thật sự đã ẩn phục tại Ấp Srok Gòn từ hơn tuần qua, và mới nhận được lệnh điều động rời khỏi vị trí, di chuyển về vùng Phi Trường Quản Lợi. Vì bị trúng kế “Điệu Hổ Ly Sơn”, đúng theo sự thiết kế của Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 3 Việt Nam Cộng Hoà.
Câu chuyện này, cho đến nay vẫn có rất ít người biết, kể cả đơn vị Biệt Cách Dù cũng không biết được là nguyên do nào mà đơn vị mình được đổ quân ngay vào lòng địch, mà vẫn được an toàn tiến quân vào tiếp cứu quân bạn đánh bại Quân Đoàn xăm lăng quân Cộng Sản Bắc Việt, một cách oanh oanh liệt liệt như thế”.
Trong bài viết “Tàn Cơn Binh Lửa” của BCD Lê Ðắc Lực:
“Sau khi rời khỏi chức vụ Biệt Đội Trưởng để đảm nhận trưởng Khối Chiến Tranh Chính Trị Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù, tôi có thì giờ và có nhu cầu theo dõi tình hình quân sự và chính trị nhiều hơn. Ngoài những hành động gây chiến giành dân lấn đất, bọn Cộng Sản đang thăm dò thái độ của Mỹ sau khi họ ký Hiệp Ðịnh Paris năm 1973…
Sau khi chiếm Phước Long ngày 6 tháng Giêng, năm 1975, quân Cộng Sản chiếm Ban Mê Thuột ngày 10 tháng Ba cùng năm đó. Rõ ràng, như trong bài trước đã trình bày, đánh Phước Long, là Cộng Sản thăm dò phản ứng của Mỹ. Thấy Mỹ bất động, lại còn cắt viện trợ cho Việt Nam Cộng Hòa, Cộng Sản thấy thời cơ đã tới, làm tới luôn, mở đầu chiến dịch tổng tấn công miền Nam bằng trận đánh lớn kế tiếp: Ban Mê Thuột.
Mặc dù tình hình căng thẳng, ngày càng nặng nề, hoạt động của Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù vẫn bình thường. Theo lệnh của Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn III, Ðại Tá Phan Văn Huấn đã cho rút Bộ Chỉ Huy nhẹ của Trung Tá Nguyễn Văn Lân, từ Tây Ninh về lại căn cứ Hành Quân Biên Hòa, để lại Biệt Ðội 813 do Trung Úy Lại Ðình Hợi chỉ huy, tăng cường phòng thủ cho chiến trường Tây Ninh. Ðiều động Bộ Chỉ Huy 3 Chiến Thuật, do Thiếu Tá Phạm Châu Tài chỉ huy, gồm ba Biệt Ðội 811, 817 và 818 đến bảo vệ Bộ Tổng Tham Mưu.
Riêng tại căn cứ hành quân Suối Máu Biên Hòa, Bộ Chỉ Huy Liên Ðoàn do Ðại Tá Phan Văn Huấn chỉ huy và hai Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật 1 và 2, với quân số các biệt đội còn lại lên tới 2,000 binh sĩ, vẫn bố phòng ở mặt Bắc phi trường Biên Hòa, sẵn sàng chiến đấu. Các toán Thám Sát vẫn được thả vào Chiến Khu D để do thám, thu nhặt tin tức các hoạt động của địch.
Trưa ngày 28 tháng Tư, Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư Lệnh Quân Ðoàn III họp tất cả đơn vị trưởng, Chỉ Huy Trưởng các đơn vị đang đồn trú ở địa phương. Trong buổi họp, Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn thông báo tình hình quân sự tuyệt vọng ở Quân Khu III, và ra lệnh tất cả các đơn vị rút về phòng tuyến mới, dọc theo Xa Lộ Ðại Hàn, Thủ Ðức, để bảo vệ Thủ Ðô Sài Gòn. Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù là đơn vị rút cuối cùng, có nhiệm vụ bảo vệ cầu Biên Hòa, trên Quốc Lộ 1, gần ngã ba đường đi vào Núi Bửu Long, để toàn bộ binh sĩ rút qua khỏi cầu này được an toàn.
Cũng trong ngày hôm ấy, Bộ Tổng Tham Mưu hầu như có kế hoạch cho trực thăng đến đón các cấp chỉ huy di tản khỏi Việt Nam. Nhưng đối với Ðại Tá Huấn thì ông đã từng tuyên bố khẳng định: “Tôi có vợ và tám con. Tôi có thể bỏ lại gia đình, nhưng không thể bỏ lại hai ngàn chiến sĩ của tôi để mà ra đi trong hoàn cảnh như thế này được…”
Và Ðại Tá Huấn đã ở lại với binh sĩ của ông, cho đến giây phút cuối cùng, khi có lệnh buông súng đầu hàng của tân Tổng Thống Dương Văn Minh.
Qua hai bài viết của Thiếu Tá Phạm Châu Tài và Đại Úy Lê Đắc Lực trong binh chủng Biệt Cách Nhảy Dù dưới quyền chỉ huy của Đại Tá Phan Văn Huấn thể hiện nhân cách, tinh thần chiến đấu anh dũng, chỉ biết phục vụ cho lý tưởng. Một vị Chỉ Huy Trưởng của binh chủng, nhưng sau khi ra tù thì vợ con “sống trong cảnh nghèo nàn xơ xác” cho thấy sự trong sạch của ông trong suốt cuộc đời binh nghiệp. Trong giới truyền thông, ký giả Vũ Ánh (13 năm tù) qua bài viết Đại Tá Phan Văn Huấn, Người Anh Cả Gia “Chúng tôi chưa từng là thuộc cấp của ông, nhưng vẫn gọi ông là anh cả. Nhân cách và hình ảnh của ông chế ngự trong tôi suốt thời gian tôi được chuyển về sống tại Z-30A (trại C) năm 1986 và được ‘biên chế’ vào đội rau xanh cùng ông. Sắp bước sang năm thứ 12, nhưng trại C vẫn còn đầy ắp những sĩ quan cao cấp mà thời gian chinh chiến của họ dài gấp đôi gấp ba những năm tù. Giai đoạn cuối một đời ‘học tập cải tạo’ nhưng ‘không bao giờ thuộc bài’ của chúng tôi có nhiều điều đáng nói, nhiều hình ảnh cần nhớ và nhiều hình ảnh cũng cần quên để giữ vững tinh thần… Vui khi thấy một đàn anh xứng đáng, đàng hoàng và chỉ một lời trách nhẹ của họ, chúng tôi cũng coi như một lệnh phải thi hành. Buồn khi thấy một đàn anh khúm núm một cách không cần thiết trước mặt những kẻ thắng trận. Số người này ít nên nỗi buồn cũng chỉ thoáng qua. Số giữ được tư cách vẫn rất nhiều và làm cho lớp đàn em chúng tôi vững tin.
Những bạn tù của tôi, người Công Giáo, nói rằng, anh cả Phan Văn Huấn là người vác thánh giá cho lũ em. Mà quả thật đi chung với anh một đường, lòng thấy nhẹ đi, phơi phới hơn, tin tưởng hơn. Con đường khó cũng bớt khó. Dáng người cao, gầy, nước da đen xanh, nhưng đôi mắt sáng và nụ cười bao giờ cũng là đầu câu chuyện. Giọng Huế còn ‘chay’ lúc nào cũng nhỏ nhẹ, ý nhị, cười vui vừa phải, anh cả dẫn chúng tôi vào những câu chuyện buồn vui đời lính của chính ông và các sĩ quan binh lính thuộc cấp. Những kỷ niệm ông nói ra là những bài học không lúc nào mất giá trị.
Trang phục của ông trong tù khi quay về với cái nóng ở phương nam là quần áo may bằng bao cát xám. Chuyện mưu sinh chứ không phải là mốt thời trang. Người nào từng là tù cải tạo ra Bắc hoặc xuôi Nam đều biết loại quần áo tù bền muôn thuở này. Lúc đầu được phát mỗi năm hai bộ quần áo trận của quân VNCH, nhưng túi và cầu vai bị xé hết. Thời gian sau, họ phát quần áo tù bằng vải thô có đóng dấu cải tạo sau lưng. Mồ hôi của lao động khổ sai có thể xé rách bất cứ loại quần áo nào. Phải vá thôi, nhưng vải đâu. Thấy loại bao cát xám hay bao cát màu olive đem về giặt đi để đắp đỡ lên những chỗ rách trên áo tù. Thấy loại bao cát xám, càng giặt đi càng mịn có thể may quần áo được, tha hồ bền nên vài người tù trở thành thợ may bất đắc dĩ. Chúng tôi không được giữ vật bén nhọn, nhưng tìm trong vài ba lô vẫn có được những mảnh thép quí, mài đi thành dao nhỏ, cắt bao cát thay kéo, mài những cộng sắt làm kim, chỉ thì rút từ chính những sợi từ những bao cát bằng ni lông, thế là có một bộ đồ "ăn chơi quá thú"
Anh cả Phan Văn Huấn quanh năm suốt tháng mang trang phục rất ‘mốt’ may bằng bao cát xám. Tôi để ý thấy ông còn giữ được bộ đồ trận tương đối tươm tất nhưng chỉ thấy ông mặc nó vào ngày 19 tháng 6. Ở những trại tù trước, chúng tôi tổ chức kỷ niệm 19 tháng 6 bằng một phút im lặng chào quốc kỳ và chào nhau kiểu nhà binh trước khi bọn cai tù mở cửa buồng giam điểm số để ra lao động.
Ở trại Z-30A vào 3 năm cuối của thập niên 80, ngày Quân Lực được tổ chức theo từng nhóm riêng. Tôi mang áo lính nhưng binh chủng của tôi lại là đạo quân phóng viên, biên tập viên của hệ thống truyền thanh quốc gia, nên cả trại chỉ còn mình tôi. Phần lớn đồng nghiệp với tôi đã trở về sớm hơn, có đứa vào năm 1986 đã tốt nghiệp đại học ở Mỹ và làm lại cuộc đời rồi.
Anh cả Phan Văn Huấn quí tôi nên thường mời tôi tham dự những bữa cơm đoàn kết cùng với một số các sĩ quan thuộc cấp của Biệt Cách Dù, LLĐB cùng bị giam ở trại Z-30A. Ở đội rau xanh, tới giờ nghỉ giải lao, chúng tôi thường tụ tập hút với nhau điếu thuốc lào, nói dóc hay kiếm ếch nhái để ‘cải thiện’. Riêng anh cả Huấn thì không nghỉ, anh dùng giờ giải lao để chăm bẵm một giàn mướp và vài bụi mồng tơi ở bên cạnh "lãnh thổ" của đội rau xanh. Viên cán bộ quản giáo, còn một chút hiểu biết, nên cũng dễ dãi cho phép tù "cải thiện". Mỗi đợt thu hoạch, anh Huấn hái về 5, 7 trái mướp vừa độ, vài nắm lá mồng tơi. Về trại anh chia đều cho những sĩ quan thuộc cấp…
Có một lần vào ngày đầu tuần lễ, tôi bị bệnh được cho nghỉ nằm nhà. Anh Huấn được gọi ra thăm nuôi gặp gia đình. Bốn mươi phút sau, anh cả trở vào gọi tôi sang và dúi vào tay tôi những tờ giấy gói hàng. Ðó là những tờ báo của tờ Tuổi Trẻ mà gia đình khéo léo bọc ngoài những món đồ khô. Giỏ quà thăm nuôi của anh gồm rất nhiều gói nho nhỏ, mỗi thứ một chút: một ít mắm ruốc kho với tóp mỡ, chút ít cá khô chà bông, ít mì vụn, một hũ nhỏ nước mắm kho quẹt, ít thịt heo băm nhỏ rim mặn, ít ruốc xả theo kiểu Huế... Phía trong mỗi gói đều có một mảnh giấy với vài hàng chữ. Anh cho tôi đọc một lá thư, ngắn ngủi nhưng chứa đựng một tấm lòng thương kính của gia đình quả phụ tử sĩ đối với anh. Chỉ đọc lá thư đầu để trong một gói mắm ruốc kho với tóp mỡ, nước mắt tôi đã trào ra. Chữ nguệch ngoạc bằng bút chì trên một miếng giấy kẻ ô đã vàng xé ở đâu đó: “... Gia đình em, cha mẹ của cố Binh nhất... kính thăm Đại Tá. Chỉ có chút quà nhỏ do lòng thành của gia đình gởi biếu Đại Tá dùng lấy thảo. Vẫn nhớ Đại Tá và mong Đại Tá khỏe mạnh, sớm về với gia đình...”
Lá thư ngắn ngủi kèm theo gói nhỏ đạm bạc nhưng đầy ắp tình thương và quí mến của gia đình tử sĩ Liên Đoàn 81/BCD, dù rằng, vào lúc đó đại gia đình này đã tan đàn, xẻ nghé. Trường hợp như người anh cả của gia đình Biệt Cách Dù không phải là số nhiều. Nó chứng tỏ rằng, trong thời chiến, cựu Ðại Tá Phan Văn Huấn đã hành xử đúng vai trò người anh cả trong một đại đơn vị chiến tích lẫy lừng ấy. Trận mạc gan lì nhưng trái tim ông đầy lòng nhân ái, sống gắn bó với những người lính của mình, chia xẻ những mất mát không gì bù đắp được của các gia đình tử sĩ, cô nhi quả phụ…
Anh cả được trở về với gia đình sau tôi vài tháng. Một người họ hàng với mẹ tôi là phụ huynh của một thương binh trước đây là lính của anh cho tôi biết, anh sống khó khăn và việc tìm cách đến thăm có thể làm cho mối hoài nghi của bọn công an phường gia tăng thêm. “Cậu đến thăm chắc ông ấy vui lắm, nhưng chị thấy là nên tránh cho ông ấy”. Bà chị họ tôi nói như vậy.
Tôi đi định cư ở Mỹ trước anh cả Huấn. Rồi một hôm, đang ngồi làm việc ở tòa soạn của nhật báo Viễn Ðông của anh Nguyễn Ðức Quang, thì anh cả Huấn đẩy cửa bước vào. Tôi nhận ra anh ngay và chào kính. Vẫn nụ cười, anh cho tôi biết qua về đời sống hiện tại của anh ở Mỹ. Anh nói: “Lớn tuổi rồi, nhưng anh vẫn OK. Có chuyện này nhờ Ánh”. Chuyện anh nhờ thực ra anh không cần nhờ, tôi cũng có bổn phận phải làm. Ðó là một thư mời họp mặt Gia Đình 81/BCD - LLĐB.
Anh cả Huấn nói: “Bây giờ anh ngồi nhà, làm công việc kêu gọi anh em ở đây trợ giúp những người trong Gia Đình 81 còn kẹt và gia đình quả phụ tử sĩ. Khó đấy, nhưng cố gắng tới đâu hay tới đó”. Tôi được hân hạnh tham dự họp mặt của Gia Đình 81/BCD, nhưng các lần sau đó thì không còn cơ hội…
Vâng, đó chính là hình ảnh đích thực của anh cả Phan Văn Huấn và những đồng đội của anh trong Gia đình 81/BCD - LLĐB. Tới nay, dù tuổi đã cao, họ vẫn sống như những người lính đích thực của thời trận mạc…”
Nay ông đã vĩnh biệt cõi trần trong sự quý mến, kính trọng của quý chiến hữu, mọi người Việt tị nạn. Đại Tá Phan Văn Huấn xứng đáng là niềm hãnh diện trong QLVNCH. Năm 1988, ông ra tù với tấm thân bệnh tật vì những thương tích chiến trường và lao tù hành hạ nhưng được hưởng đại thọ như vậy, rất hiếm.
Vương Trùng Dương
