

THẰNG BẠN LÍNH ÔNG ĐỊA
Huy hiệu Địa Phương Quân Quân Lực VNCH.
50 năm, một nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng cái “giờ thứ 25” định mệnh của mùa Xuân năm 1975 ấy vẫn là một vết cắt chưa bao giờ khép miệng trong lòng tôi. Mỗi khi gió chướng về, hay lúc bóng hoàng hôn nhập nhoạng đổ dài trên những mái lá nghèo nơi quê cũ, gương mặt hiền lành, nụ cười hở lợi của thằng bạn nối khố lại hiện về, rõ mồn một như vừa mới hôm qua.Tôi và nó, hai đứa trẻ lớn lên từ một xóm nhỏ ven sông, chia nhau từng miếng kẹo đậu phộng. Những buổi trưa hè nắng đổ lửa trốn đi bắt dế thủa tiểu học về giành nhau từng con dế than, dế lửa. Những ngày trung học, hai đứa lại chở nhau trên chiếc xe đạp cà tàng đến trường tỉnh, cùng mơ mộng về 1 tương lai thái bình, nơi những trang truyện chưởng của Kim Dung chứa đầy anh hùng hào hiệp và chính nghĩa, không vương mùi thuốc súng. Nó học giỏi hơn tôi, tâm hồn lãng mạn, nhưng chiến cuộc khắc nghiệt đã bứng hai đứa ra khỏi giảng đường.Ngày đi lính, tôi chọn vào binh chủng Hải Quân xa nhà, còn nó, nó kiên quyết xin vào Địa Phương Quân. Nó bảo tôi bằng cái giọng chân chất, rưng rưng: “Tao không sợ đi xa, nhưng nhà tao chỉ còn mình mẹ. Hai anh tao đã nằm lại dưới màu cờ Nhảy Dù ở Hạ Lào và Quảng Trị rồi. Giờ tao mà đi nữa, lỡ có bề gì, ai lo chén cơm, hớp nước cho mẹ lúc trái gió trở trời?”
Thế là nó thành người lính “áo thun đại hàn”, chân đi giầy “bố”, canh gác chính mảnh đất, nơi nó lớn lên. Đêm đêm, nó vác súng đi tuần trên những bờ đê, những lối mòn mà chính chúng tôi từng chạy nhảy thời đi bắt cào cào nuôi gà đá. Nó chọn ở lại để được gần mẹ, để mỗi chiều ra khỏi đồn có thể ghé ngang nhà, thấy khói bếp của mẹ còn bay là nó an lòng.
Nhưng sự nghiệt ngã của định mệnh lại ập xuống đúng vào cái giờ phút mà người ta ngỡ rằng tiếng súng sẽ ngưng hẳn. Giờ thứ 25, cái giờ mà ranh giới giữa sự sống và cái chết trở nên mong manh và vô nghĩa đến khác thường. Trong khi người ta đang hoang mang, tan hàng, thì ở một góc nhỏ nơi quê nhà, nó và những người anh em Địa Phương Quân vẫn đứng đó, giữ gìn một nút chặn cuối cùng. Nó ngã xuống khi mặt trời đã lên cao, khi niềm hy vọng về một ngày trở về nguyên vẹn vừa mới nhen nhóm. Nó chết ngay trên mảnh đất mình sinh ra, cách ngôi nhà của mẹ chỉ một cánh đồng xa.
Cái tin nó tử trận bay về giữa lúc làng xóm đang nháo nhào trong những giờ phút cuối cùng của cuộc chiến. Giờ thứ 25, khi người ta bắt đầu tháo băng cá nhân, vứt bỏ súng đạn để tìm đường sống, thì nó lại được đưa về nhà trên chiếc cáng dã chiến, phủ lên mình tấm poncho đầy bụi đất quê hương làng nó.
Tôi đã về được nhà, khi nghe tin dữ, tôi vội vã chạy sang nhà nó. Tôi sẽ chẳng bao giờ quên được hình ảnh mẹ nó lúc ấy. Mẹ không gào thét, không vật vã như người ta vẫn tưởng. Khi những người lính đồng đội đặt nó nằm xuống giữa gian nhà ngoài, mẹ từ trong bếp bước ra, đôi bàn tay gầy guộc còn dính đầy tro trấu. Mẹ đứng sững lại, đôi mắt đục mờ nhìn trân trân vào đôi giày bố lấm lem cũ kỹ mòn vẹt đế lòi ra dưới tấm poncho.
Mẹ lảo đảo tiến lại gần, đôi tay run rẩy vén mép tấm poncho che mặt nó. Nhìn thấy gương mặt đứa con út còn dính vệt máu khô nhưng thanh thản như đang ngủ, mẹ bỗng đổ ụp xuống như một thân cây mục. Mẹ không khóc thành tiếng, mà là những tiếng nấc khan, khô khốc phát ra từ lồng ngực gầy yếu. Mẹ ôm lấy cái đầu của nó, áp vào lòng mình như cái ngày nó còn là đứa trẻ thơ dại, rồi mẹ thều thào: “Tổ cha mày... sao mày bảo mày đi Địa Phương Quân để ở gần tao? Mày hứa là chiều nào cũng về ăn cơm mẹ nấu mà? Sao giờ mày nằm đây lạnh ngắt vậy con ơi....”
Nỗi đau của mẹ lúc đó như lặn ngược vào trong, tàn nhẫn hơn bất cứ vết thương bom đạn nào.Hai đứa con trai trước chết ở nơi rừng xanh núi thẳm, mẹ chỉ nhận được tin báo qua những tờ giấy báo tử vô tri lạnh lùng. Còn lần này, nó nằm chết ngay trước mắt mẹ, ngay khi hòa bình tưởng chừng như đã chạm được vào đầu ngón tay.
Nhìn mẹ lui cui đi tìm bộ đồ bà ba sạch nhất để thay cho nó, đôi mắt mẹ không còn nước mắt để rơi, chỉ còn sự trống rỗng đến rợn người. Mẹ cứ vuốt ve mái tóc nó, thỉnh thoảng lại nhìn ra cửa như thể vẫn đợi nó vác súng bước vào rồi cất tiếng gọi “Mẹ ơi” như mọi khi. Hình ảnh người mẹ còm cõi, vò võ bên xác con trong cái giờ khắc đất trời nghiêng ngả ấy là một bi kịch đau đớn nhất mà tôi từng chứng kiến. Mẹ đã dâng hiến tất cả, để rồi cuối cùng chỉ còn lại một mình với 3 bát hương nghi ngút khói trong căn nhà hoang lạnh.
Tôi đứng bất động nhìn mẹ nó, trái tim tôi thắt lại. Người mẹ ấy, sau khi đã hiến dâng hai đứa con trai cho quê hương tận nơi xa xôi mây trời viễn xứ, giờ đây lại phải chứng kiến đứa con út, niềm hy vọng cuối cùng, nằm xuống ngay giữa nhà mình. Mẹ không còn nước mắt để khóc. Mẹ ngồi đó, còm cõi như một gốc cây khô héo giữa nắng cháy. Đôi mắt mẹ đục ngầu, nhìn chăm chăm vào khoảng không vô định.
Cái đau đớn của người mẹ mất con trong giờ phút cuối cùng ấy, nó không ồn ào mà âm ỉ, vò võ như ngọn đèn cạn dầu trước gió. Mẹ cứ lẩm bẩm: “Nó bảo nó đi lính ở gần nhà để lo cho tao, sao giờ nó lại đi xa nhất, mãi mãi hả con?”
Câu hỏi ấy cứ xoáy vào lòng tôi, xót xa đến nghẹn lời. Mỗi lần sang thăm, thấy mẹ lui cui một mình bên mâm cơm chỉ có một bát, một đôi đũa, tôi lại thấy hình bóng nó hiện hữu đâu đây, trong cái tiếng kẽo kẹt của võng trưa, trong mùi nhang trầm nghi ngút trên bàn thờ có 3 tấm hình thanh niên trẻ măng, mặc quân phục.
Sự mất mát này quá lớn, không gì bù đắp nổi. Nó không chỉ là sự ra đi của một người bạn, mà là sự tan vỡ của một gia đình, là nỗi đau tột cùng của người mẹ miền Nam tần tảo. Nhớ nó, tôi nhớ về một thời tuổi trẻ trong trẻo, nhớ về lòng hiếu thảo vẹn toàn và cả cái chết tức tưởi trong giờ phút giao thời.
Nằm sâu trong ký ức về những ngày trung học, có một buổi chiều mưa tầm tã mà mỗi khi nhớ lại, lòng tôi vẫn thấy thắt nghẹn. Đó là năm Đệ Nhị, khi cái bóng đen của chiến trường bắt đầu đổ dài lên những dự định tương lai của đám học trò tụi tôi.
Hôm ấy, mưa như trút nước xuống mái trường tỉnh, hai đứa không có áo mưa, đành trú lại dưới hiên lớp học cũ. Nó ngồi bệt xuống hành lang, lôi từ trong cặp táp sờn cũ ra một bọc ni-lông gói kỹ mấy tấm ảnh trắng đen đã ố vàng.Đó là ảnh hai người anh của nó trong bộ đồ rằn ri Nhảy Dù, đứng hiên ngang giữa rừng núi bạt ngàn.
Nó vuốt ve tấm hình rồi quay sang bảo tôi, giọng trầm hẳn xuống: “Mày biết không, hôm qua tao thấy mẹ lén mang mấy bộ đồ cũ của anh Hai, anh Ba ra giặt rồi gấp lại cất vào tủ. Mẹ không khóc, nhưng cái lưng mẹ cứ run bần bật. Tao định sau này thi vào Sư Phạm để làm Thầy Giáo như ước nguyện của mẹ, nhưng nhìn mẹ còm cõi vậy, tao không đành lòng đi xa. Tao sẽ xin vào Địa Phương Quân, chấp nhận làm ‘lính kiểng’, làm người lính giữ làng giữ xóm, miễn là mỗi chiều tao còn được thấy bóng mẹ tựa cửa đợi cơm.”
Nói rồi, nó cười, một nụ cười hiền lành nhưng chứa đựng bao nỗi lo toan vượt quá cái tuổi 18. Lúc đó, tôi còn trẻ con, còn đùa giỡn bảo nó “đồ nhát gan, không chịu bay nhảy”. Nó chỉ im lặng nhìn màn mưa trắng xóa, đôi mắt xa xăm như đã dự cảm trước điều gì.
Chiều hôm ấy, hai đứa về chung trên chiếc xe đạp, nó cầm lái, tôi ngồi sau che mưa bằng tàu lá chuối. Nó gò lưng đạp qua những vũng nước đục ngầu, miệng vẫn còn ngân nga câu hát về quê hương. Tôi đâu có ngờ, đó là một trong những lần cuối cùng tôi được nghe nó hát, và cái “nguyện ước gần mẹ” ấy cuối cùng lại biến thành nỗi đau truyền kiếp. Nó đã giữ đúng lời hứa là ở lại gần nhà, nhưng lại nằm xuống ngay dưới chân mẹ trong cái giờ thứ 25 nghiệt ngã, để mẹ nó phải “gần” nó qua nấm mộ đất lạnh lẽo sau vườn.
Cái kỷ niệm về buổi chiều mưa và những tấm ảnh cũ ấy cứ như một vết dao cứa vào tâm can mỗi khi tôi nhìn thấy những người mẹ già ngồi vò võ một mình bên thềm cửa.
Mày đi rồi, bạn ơi, nhưng kỷ niệm về những buổi chiều tan học, những lần chia nhau điếu thuốc lá Quân Tiếp Vụ, và ánh mắt lo âu cho mẹ của mày vẫn mãi là nỗi ám ảnh đầy yêu thương trong tao. Ngủ yên nhé, người lính Địa Phương Quân của tao, nơi ấy chắc không còn chiến tranh, và chắc chắn mày đã gặp lại các anh mình dưới bóng cờ vàng lộng gió. Còn mẹ, tao sẽ thay mày ghé qua, dù biết rằng chẳng có gì khỏa lấp được khoảng trống mênh mông mà mày đã để lại trong lòng người mẹ già vò võ ấy.De NguyenQUA TRẠM — MỘT THỜI NGĂN SÔNG CẤM CHỢ
Tháng 11 năm 1982.Lê LiênGió bấc từ biển Đông hun hút thổi qua triền đèo Cả, quất từng luồng lạnh ngắt vào mặt người đi đường. Chiếc xe Renault cũ kỹ, loại xe khách Pháp còn sót lại, ì ạch bò lên dốc như con trâu già kéo cày giữa mùa hạn. Khói than đặc quánh phả ra từ ống xả, quyện với mùi dầu, mùi áo quần ẩm và tiếng trẻ con khóc khàn khàn.Tôi, sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Nha Trang, ngồi chen giữa đám hành khách lam lũ. Sau mấy ngày về quê Phú Thứ thăm nhà, tôi lại lên đường trở lại trường, trong túi chỉ còn vài đồng bạc và niềm háo hức mơ hồ của tuổi trẻ.Xe bò chậm như rùa. Mỗi khi gặp đoạn dốc khó, phụ xe lại nhảy xuống, tay cầm “cục canh”, khúc gỗ dằn bánh đề phòng xe tụt, rồi hô to:“Lên đi anh Năm! Mở thêm xăng phụ!”Tiếng máy gầm gừ, xe trườn được vài mét rồi khựng lại. Gần đến đỉnh đèo, bỗng nhiên xe khựng mạnh, rồi tụt lùi. Tài xế gào lên:“Canh mau! Canh mau!”Phụ xe hớt hải đáp:“Mở thêm xăng chớ! Ai tắt xăng vậy trời!”Một tiếng ẦM! vang rền. Đuôi xe húc thẳng vào vách đá, thân xe nghiêng hẳn sang một bên. Tiếng la hét, tiếng bà cụ niệm Phật, tiếng kim loại lạo xạo hòa vào mùi khói than nồng nặc.Khi mọi người hoàn hồn mới biết mình vừa thoát chết trong gang tấc. Xe nằm chết dí bên vách đá, không thể đi tiếp. Những chuyến xe sau cũng chẳng dừng, vì đã chật kín người. Đêm xuống, gió trên đèo thổi hun hút, lạnh buốt đến tận xương. Tôi lục túi, mấy đồng bạc ít ỏi đi đường đã không cánh mà bay. Thế là, tôi đành cuốc bộ suốt đêm, từ đèo Cả về Phú Thứ.Mưa táp vào mặt, đường trơn trượt, mỗi bước chân như nặng gấp đôi. Gần 1 giờ sáng, tôi về đến nhà, ướt như chuột lột. Cha tôi ra mở cửa, thấy tôi, tròn mắt hỏi:“Sao thế con? Gặp chuyện rồi hả?”Nghe kể lại, cả nhà thở phào nhẹ nhõm. Cha tôi chỉ lặng nói:“Còn sống là may. Xe mà lọt xuống vực thì xong rồi.”Nhưng “còn sống” cũng chẳng giúp tôi có tiền quay lại trường. Vài ngày sau, cha tôi lặng lẽ bảo:“Thôi, tao cho bao lúa. Bán đi mà lấy tiền học.”Bao lúa ấy là phần ăn của cả nhà trong tháng. Nhưng cha vẫn cho, không một chút đắn đo. Tôi rủ thằng cháu, nó học nghề ở xã bên, cùng đem lúa xay lấy gạo, rồi chất lên 2 chiếc xe đạp cà tàng. Mỗi đứa chở chừng 30 chục ký, chọn đêm trời tối để xuống Phú Lâm bán.Đêm ấy, trăng non mảnh như sợi chỉ. Tiếng bánh xe nghiến sỏi kèn kẹt giữa con đường tỉnh lộ chi chít ổ gà. Khi đến gần trạm kiểm soát đặt gần ủy ban xã Hòa Bình 1 thời nay, nơi “ngăn sông cấm chợ” gắt gao nhất vùng, hai đứa tôi xuống xe, dắt bộ, đi thật khẽ.Nhưng chưa kịp qua khỏi trạm, bỗng có tiếng quát:“Đứng lại! Ai đó?”Hai luồng đèn pin rọi thẳng vào mặt. Tôi đứng chết trân, tay run cầm cập. Một người trong nhóm du kích tiến lại gần, soi kỹ, rồi quát:“Mấy thằng nhóc tụi mày mà cũng buôn lậu hả?”Tôi nhận ra giọng ông MT, người bà con xa trong xóm, vẫn hay nhờ cha tôi coi ngày dựng nhà, đào giếng.Tôi khẩn khoản:“Dạ, tụi con đem ít gạo xuống bán lấy tiền học, chứ không buôn lậu đâu ạ...”Ông MT im lặng một lát, rồi lạnh giọng:“Luật là luật. Tịch thu hết! Xe, gạo, tất cả.”Tôi sững người. Mấy anh du kích ùa đến, khiêng hai nửa bao gạo ném vào kho. Tôi vừa giận, vừa tủi, vừa đói. Đêm ấy, hai thằng dắt xe về trong mưa, áo quần ướt đẫm, bụng lép kẹp.Sáng hôm sau, cha tôi đến nhà ông MT, mang theo ít quà quê nhỏ, năn nỉ xin lại gạo. Ông ta chỉ cười nhạt:“Để tui nói lại với đội rồi trả.”Nhưng sau đó thì im bặt. Người ta đồn, kho lương thực của đội du kích chất đầy gạo tịch thu. Không ai biết số đó có sung công hay... “vào túi riêng”.Trớ trêu thay, ngay đêm đó tôi chứng kiến có những chuyến xe lam của mấy người quen biết, chở cả tạ gạo đi qua trạm, lại được cho qua dễ dàng.Vài năm sau, nhiều người trong nhóm du kích năm ấy lần lượt “ra đi”, trong đó có cả ông MT. Dân làng xì xào:“Ác giả ác báo.”Tôi không dám tin, nhưng lòng vẫn se sắt, bởi suy cho cùng, họ cũng chỉ là những nạn nhân của một thời...Giờ đây, đoạn đường đặt trạm năm xưa đã đổi thay, xe cộ tấp nập, hàng hóa qua lại tự do. Nhưng mỗi lần đi qua, tôi vẫn nhớ như in đêm hai thằng dắt xe run rẩy trong mưa lạnh, bị tịch thu bao gạo, phải quay về trong nỗi buồn nặng trĩu.Gió vẫn thổi qua rặng phi lao, nghe như tiếng thở dài của bao kiếp người trong cái thời đói nghèo, khi chỉ một bao gạo nhỏ cũng đủ khiến người ta khốn đốn, khiến lòng người ngả nghiêng.Thống nhất và nỗi đau ly tán của dân tộc
Cảnh sum họp của những người con có cha tập kết ra Bắc trở về Nam sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, tưởng chừng vui tươi cảm động đầy nước mắt trong một màn tái ngộ, đã trở thành một cảnh ngỡ ngàng xót xa.Lưu Quý Kỳ, vụ trưởng báo chí ban tuyên huấn trung ương và tổng thư ký (TTK) hội nhà báo bắc việt, năm 1954, đã ngu ngốc nghe lời dụ dỗ của lũ thổ phỉ bắc việt, cùng vợ ra đi tập kết, để lại miền Nam 2 đứa con, một trai mới lên 1 tuổi và một gái mới lên 3, cho bà ngoại nuôi. Người con trai bị bỏ lại Miền Nam khi mới 1 tuổi nay là Thiếu Úy Lưu Đình Triều thuộc Sư Đoàn 7 Bộ Binh – Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, chờ đợi cái ngày hội ngộ với cha mẹ sau thời gian ly tán 30 năm, đã thấy rõ ràng mình vẫn là kẻ thù của cha mẹ và những đứa em sinh ra ở miền bắc, khi bọn chúng đã lố bịch hát trước mặt anh câu “xô lên xác thù hung bạo!” Kẻ thù đó là đứa con bị bỏ lại 30 năm về trước.Lưu Quý Kỳ, cũng giống như thân phụ nhà văn Phan Nhật Nam, hay biết bao nhiêu người cha dại dột ngu ngốc theo cộng sản đi tập kết trở về, rút cuộc chỉ có một câu động viên con đang ở trong nhà tù tập trung không có bản án: “Ráng học tập, lao động tốt cho mau về với gia đình!” (theo Bên Thắng Cuộc. T.1).-----Trong thời gian chúng tôi đi tù ở huyện Tân Kỳ thì nhà ông anh rể tôi ở huyện Đức Thọ cùng trong một tỉnh, thư không có, mà thăm cũng không. Nghe gia đình ở Huế kể lại ông anh rể tôi viết thư lên án gia đình bên vợ là “đã gây nhiều tội ác” trong khi nhà chỉ có mình tôi bị động viên vào lính, còn lại là 4 người làm nghề dạy học.-----Lê Khắc Nghi, chú họ người viết bài này, có vợ là một hoa khôi làng Văn Xá, “cưới nhau xong là đi!” Ở miền Nam đứa con trai duy nhất lớn lên, “được” VC xã dụ dỗ tham gia du kích vì có cha đi tập kết, trong một cuộc hành quân bị nghĩa quân miền Nam bắn chết. 30 năm sau, ông chú trở về mang theo một bà vợ răng đen do đảng “cơ cấu” và mấy đứa con rặt Bắc, “cháu bác Hồ.”Ngày trùng phùng hóa ra là ngày khởi đầu cho một giai đoạn ngỡ ngàng cay đắng. Sum họp như thế thà chia lìa còn hơn! Họ không còn giống nhau từ sự hiểu biết, giọng nói, lối sống và tư tưởng. Vợ chồng mà đó, anh em ruột thịt mà đó, cha con mà đó, nhưng xa cách nghìn trùng, càng dùng ngôn ngữ để tiến lại gần nhau, càng thấy xa nhau.Trong Đèn Cù, nhà văn Trần Đĩnh kể chuyện một ông cụ thổi kèn Tây trong ban nhạc của triều đình Huế thời Bảo Đại, tập kết ra Bắc, sau ngày “chiến thắng” chỉ còn độc một đôi dép râu, không có cả... bít tất. Ông cụ nói như lời trăng trối: “Cảm ơn ông, đoàn với ai, tụ với ai? Vợ con chưa biết hiện ở đâu, đi theo nhà khác mất rồi có khi. Họ hàng thì chết trong Tết Mậu Thân 1968... Tôi về đó vẫn lại trơ làm thằng tập kết đợt hai trơ trọi một mình... Ra đi để thống nhất đất nước, bây giờ ai thống nhất với thân già tôi?”Trần Đĩnh cũng như triệu triệu người miền Bắc ngây ngô, mơ màng thằng dân trong này bị bóc lột tận xương tủy không có nổi cái chén mà ăn cơm, trong hành lý vào Nam của TrầnĐĩnh có năm bảy thứ cứu đói được mang vào, trong đó có cả một cái thùng nhựa đựng nước kẻo sợ trong Nam không có được cái miểng sành chăng?Người ngoài bắc nô nức đi Nam xem chúng nó bị bóc lột đến cỡ nào, không ngờ “trong kia dân nó ối chà giàu ơi là giàu. Vàng chỉ 50 đồng Cụ 1 cây. Tủ lạnh vài chục đồng một chiếc. Lạnh cứ là liên lu liền lù suốt năm. Bảo cho tay vào lâu là hóa ra đá!” hay “buồng nào cũng máy lạnh. Xin lỗi anh, tôi thấy sướng nhất là đi toa lét!”Dân miền Nam quả là không đợi không chờ ai vào giải phóng. Câu chuyện của Minh Trường, nguyên phóng viên nhiếp ảnh Thông Tấn Xã Bắc Việt, kể lại cái hí hửng của kẻ “giải phóng” khi vào Sài Gòn đã bị một thau nước lạnh dội vào mặt. Bà mẹ ra mở cửa, thấy mặt anh thì vội vàng chấp tay lạy:– Anh còn sống thì tôi mừng nhưng anh về thì tất cả các đứa con bao lâu nay sống với tôi, chăm sóc phụng dưỡng tôi đều đã bị các anh lôi đi tù hết mất rồi. Anh về thì nhà này tan nát, tôi thì trơ trọi. Thôi, tôi xin anh, anh đi với đồng chí của anh đi cho mẹ con tôi yên!Lê Khắc Hoan, một ký giả, nhà văn cũng là nhà giáo “Bên Thắng Cuộc,” đã viết cuốn “Trăm Năm Ly Hợp” nói về chuyện đoàn tụ và ly cách của dòng họ Lê Khắc từ một ngôi làng nhỏ của miền Trung sỏi đá: Văn Xá, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Sau 30 năm tập kết, cán bộ Bắc Việt Lê Khắc Hoan trở về, hí hửng tưởng bà con dòng họ này ai cũng chờ đợi, hân hoan đón tiếp. Nhưng sự thật hoàn toàn khác những điều ông đã suy nghĩ! Ông về, vẫn mang theo loại chữ nghĩa nghịch với lỗ tai người miền Nam, có đoạn ca tụng “bác Hồ,” dùng chữ “ngụy quyền Sài Gòn,” kêu gọi bà con “về đầu tư, xây dựng đất nước,” ca tụng làng Văn Xá Anh Hùng chống Mỹ (!), thiết nghĩ không có sức thuyết phục để anh em trong dòng tộc ngồi lại với nhau, mà chỉ gây thêm chia rẽ.Nhưng khi tác giả trở về Nam, một số thân tộc đã bỏ nước ra đi, một số phải chịu cảnh tù đày, một số khác thất vọng, cay đắng, trừ những người ít bị thương tổn, không ai muốn liên lạc hay hợp tác, nhận họ với phía “giải phóng.” Ông tác giả này đã thú nhận gặp phải những sự lạnh lùng, ngỡ ngàng cay đắng, đã gửi đi hằng trăm e-mail, lời nhắn cho bà con, nhưng không hề được hồi âm, và ngay đối với người viết bài này, đứa em họ ở miền Nam, cũng ngần ngại không muốn cho tác giả biết địa chỉ, dù là địa chỉ e-mail. Điều này chứng tỏ, “miền Bắc nhận hàng” đã xong, nhưng miền Nam vẫn còn miễn cưỡng, chưa muốn “nhận họ.”Cuối cùng, trong một sự thật cay đắng, người đi tập kết trở về đã phải thốt lên: “.... Các mảnh vỡ từ hai bên cố ráp vào vẫn rời ra, xộc lệch không tài nào ăn khớp!”Sau 30 năm, khi con tàu xuyên Việt có thể nhả khói, kéo những hồi còi, chạy suốt, nối Hà Nội-Huế với Sài Gòn, nhân gian bao nhiêu dòng họ tưởng là đoàn tụ, nhưng đây là lúc chia cách lớn nhất, không còn là vì khoảng cách của sông núi, mà bởi lòng người ly tán, tưởng chừng, rồi đây cả trăm năm sau, cũng chưa thể hàn gắn được.Để kết luận bài này tôi xin mượn lời của Lê Khắc Hoan, một nhà văn tập kết trở về sau ngày “thống nhất:” “Hai phần ba thế kỷ trong vòng xoáy đối đầu tàn khốc, rốt cuộc, không một người nào ở phía nào được hạnh phúc vẹn tròn. Cho dù công danh hiển đạt. Cho dù vợ đẹp con khôn. Cho dù tiếng tăm lừng lẫy, chính trực nhân từ, tài ba uyên bác cũng nổi chìm quăng quật trong cuộc chiến đa diện, đa phương...”Chúng tôi nghĩ khác, hạnh phúc sẽ được vẹn toàn, nếu từ nửa thế kỷ trước, nếu đất nước này không bất hạnh có nhân vật Hồ Chí Minh, tên tay sai bán nước cho ngoại bang Trung Cộng, mang cái thứ “chủ nghĩa cộng sản quái thai, hoang tưởng” từ Liên Xô về để đày đọa dân tộc Việt Nam trong suốt bao nhiêu năm dài.Nhưng chắc chắn rồi mai đây chúng ta sẽ có “hạnh phúc vẹn toàn”, đó là ngày chế độ cộng sản độc tài, tàn ác, quỷ quyệt, hiểm độc, gian xảo, hèn hạ, tàn lụi trên Quê Hương Việt Nam bởi theo quy luật của Tạo Hóa, không có bất cứ một chế độ độc tài tàn bạo nào có thể tồn tại mãi mãi; kể cả những tên bạo chúa Tần Thủy Hoàng, Adolf Hitler, Mussolini, Stalin, Leonid Illich Brezhnev, Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình, Nicolae Ceausescu, Saddam Hussein, Muammar Gaddafi, ...Cuộc chiến đấu này vẫn còn đang tiếp diễn chứ chưa bao giờ và chưa bao giờ thật sự chấm dứt như bọn phỉ quyền Hà Nội vẫn tưởng bở rêu rao và dòng sông Bến Hải sẽ vẫn muôn đời còn đó.Huy Phươngvới Nguyễn Tâm An Văn minh và KHÔNG văn minh, quân tử và KHÔNG quân tử, khác nhau xa quá!
Tấm hình bên dưới là cảnh các sĩ quan và binh sĩ của miền Bắc, bên thắng cuộc, chào tạm biệt tướng Lee của miền Nam, sau khi ông ký văn bản đầu hàng tại Appromax Court House. Hình ảnh của vị tướng miền Nam nhìn vẫn hiên ngang tuy là người thất thế. Tất cả là vì ông và đoàn quân thất trận vẫn được đối xử một cách đầy tôn trọng.Nước Mỹ còn rất "trẻ", chưa đủ tuổi để được gọi với cái tên mỹ miều "ngàn năm...". Nhưng cách mà người Mỹ đối xử với nhau thời nội chiến nói lên rằng "tuổi tác" của một quốc gia không quan trọng. Quan trọng là quốc gia đó được xây dựng trên nền tảng nào, cùng cách hành xử của con người ở quốc gia đó. Nội chiến Hoa Kỳ đã kết thúc cách đây 157 năm, nhưng cách bên thắng cuộc đối xử với bên thua cuộc sau chiến tranh cho thấy thời đó người Mỹ đã văn minh dường nào.Còn ở một nơi khác, chiến tranh kết thúc chưa được 50 năm, nhưng cách bên thắng thế đối đãi với bên thất thế lại khiến tôi nghĩ cuộc chiến đó dường như đã xảy ra cách đây hơn ngàn năm. Hành động nói lên tất cả. Thay vì hành động theo cách của bậc quân tử thì họ lại dùng những lời sáo rỗng dối trá để tô vẽ tuyên truyền. Tệ hơn nữa là nói một đường làm một nẻo.Văn minh và KHÔNG văn minh, quân tử và KHÔNG quân tử, khác nhau xa quá!sưu tầmNỘI CHIẾNNăm 1861-1865 Cuộc nội chiến Nam-Bắc Mỹ kết thúc.Bắc Mỹ đã chiến thắng và chế độ nô lệ ở nam Mỹ đã được xóa bỏ. Và khi quân miền Nam đã rơi vào thế bại trận thì đột nhiên tổng thống Abraham Lincoln muốn được đàm phán. Cách làm này của ông đã khiến cho một vị đồng sự bất mãn. Ông ấy giận dữ đập tay xuống bàn và nói: "Quân địch nhất định phải bị tiêu diệt!". Tổng Thống Lincoln vẫn giữ vẻ ôn hòa nói: "Khi họ trở thành bạn của chúng ta, thì chẳng phải là kẻ địch đã bị tiêu diệt rồi sao?"Sau cuộc nội chiến, các tướng sĩ quân đội miền Nam, sau khi đầu hàng đều nhận được một văn kiện của liên bang, cam kết bảo đảm rằng từ đó về sau họ không bị làm phiền. Và Tổng thống Lincoln cũng kết thúc những xung đột giữa hai miền bằng một câu nói cao thượng: "Nội chiến không có người thắng!", mặc dù lúc đó phe miền Nam đã bị thua cuộc.Công việc sau chiến tranh thật bề bộn, cửa văn phòng tổng thống luôn bỏ ngỏ để bất kỳ ai cũng có thể gặp tổng thống bất cứ lúc nào.Tổng thống Abraham Lincoln đang đứng, hai tay chống mép bàn, đầu cúi xuống tấm bản đồ trải rộng.- Báo cáo ngài tổng thống - Lincoln ngẩng lên, trước mặt ông là tổng tư lệnh quân đội.- Có việc gì - Lincoln hỏi rất từ tốn.- Thưa ngài còn hơn 500 ngàn tù binh định giải quyết ra sao?- Tù binh nào - Lincoln sẵng giọng.- Những lính miền nam bị ta bắt... - viên tổng tư lệnh lúng túng . Lincoln ngồi xuống ghế, nói chậm rãi:- Tôi nhắc lại, đây là những công dân của nước Mỹ thống nhất, không có tù binh, tôi đã ra lệnh cho các anh phải cấp lương thực, ngựa cho họ về quê sản xuất rồi kia mà. Các anh làm ngay đi.- Vâng, thưa ngài ! Viên tư lệnh quay người đi ra.- À này - viên tư lệnh vừa tới cửa quay lại - nhớ là phát súng và năm cơ số đạn cho mỗi đầu người - Lincoln ra lệnh.- Cái này...viên tư lệnh lưỡng lự...- Họ phải có vũ khí chống thú dữ, bảo vệ mùa màng chứ.- Rõ - viên tư lệnh đưa tay lên vành mũ rồi quay ra.Lincoln liền có mấy chỉ thị quan trọng tiếp ngay sau đó:1 - Trợ cấp tử sỹ như nhau tính theo đầu người đã hy sinh cho cả hai bên.2 - Xây một tượng đài lớn với dòng chữ "Đời đời nhớ ơn những người đã ngã xuống cho sự thống nhất nước Mỹ".3 - Các nghĩa trang của hai bên tự xây dựng và tự chăm sóc, được chính phủ quan tâm như nhau.Sau này tại thủ đô Washington chính phủ Mỹ đã xây dựng nghĩa trang Arlington để tập kết các tử sỹ của cả hai bên nam bắc Mỹ, từ chiến sỹ đến các vị tướng.Sau khi tổng thống Abraham Lincoln qua đời thì ý tưởng của ông đã được các đời tổng thống sau này thực hiện triệt để.Cứ hình dung, sau những động thái của tổng thống Lincoln, các bà mẹ của hai miền chỉ còn biết ôm chầm lấy nhau mà khóc. Họ không nghĩ rằng đã có một cuộc chiến tranh. Nước Mỹ ngay sau nội chiến dc phát triển như thế nào thì các bạn đều đã biết.Abraham Lincoln, Ông là một tổng thống có tư tưởng vĩ đại, ông đã khuyến khích người dân Mỹ góp ý cho chính phủ với câu nói nổi tiếng:"Tự do ngôn luận là chìa khóa của sự phát triển"



Úc "sát phạt" thẻ xanh và quốc tịch: Giấc mơ 30 năm tan thành mây khói – Cái kết đắng cho những lời nói dối!
Đừng tưởng có thẻ xanh (PR) hay đã nhập tịch là đã nắm trong tay "kim bài miễn tử". Đầu năm 2026, làn sóng trục xuất của Úc đang quét qua cộng đồng người Việt với một tốc độ kinh hoàng, không kém gì những chuyến bay trục xuất "đặc sản" của Mỹ. Một cuộc thanh trừng âm thầm nhưng tàn khốc đang diễn ra!
Những bản án "hồi hương" không có ngày trở lại
Câu chuyện của T. Nguyễn – một người định cư tại Melbourne từ năm 1995 là một hồi chuông cảnh tỉnh. Dù đã có vợ con và cơ ngơi ổn định suốt 30 năm, nhưng chỉ vì dính vào một vụ dàn xếp "trồng cỏ" (cần sa) và bị kết án 14 tháng tù, cuộc đời T. đã rẽ sang hướng khác.
Ngày mãn hạn tù, thay vì được về nhà ăn bữa cơm đoàn viên, T. bị lực lượng Border Force (ABF) áp giải thẳng từ phòng giam ra xe chuyên dụng. Tiếng khóc xé lòng của đứa con thơ tại sân bay cũng không thể lay chuyển được lệnh trục xuất đã đóng dấu "Final". Một hành trình gần nửa đời người tại xứ sở chuột túi kết thúc bằng một chuyến bay một chiều về Tân Sơn Nhất với hai bàn tay trắng. Lý do? Anh ta chưa bao giờ nhập quốc tịch Úc.
Luật mục 501 – "Lưỡi hái tử thần" cho người có thẻ xanh
Úc không ồn ào như Mỹ, họ trục xuất dựa trên Mục 501 của Đạo luật Di trú – một thứ vũ khí sắc bén để "quét sạch" cư dân không xứng đáng:
Án tù 12 tháng = Vé máy bay một chiều: Bất kể bạn phạm tội gì (từ trộm cắp, bạo lực gia đình đến ma túy), chỉ cần tổng hình phạt cộng dồn từ 12 tháng trở lên, visa thường trú sẽ bị hủy tự động.
Bài kiểm tra tư cách (Character Test): Bộ Di trú có quyền trục xuất nếu họ tin rằng bạn "không có nhân cách tốt" dựa trên lịch sử phạm tội, mà không cần chờ bạn phạm tội mới.
Nhập tịch rồi vẫn bị tước quyền cư trú: Cú sốc "song tịch"
Sai lầm lớn nhất của nhiều người là nghĩ rằng có quốc tịch là xong. Năm 2026, Úc đã mạnh tay hơn bao giờ hết với các trường hợp:
Gian dối di trú: Nếu bị phát hiện từng khai man về bằng cấp, kinh nghiệm hoặc đặc biệt là kết hôn giả để có thẻ xanh từ 10-15 năm trước, họ vẫn có quyền hồi tố, hủy quốc tịch và tống xuất.
Cái bẫy song tịch: Những người giữ cả hai quốc tịch (Úc và Việt Nam) là đối tượng dễ bị tổn thương nhất. Theo luật, Úc có thể tước quốc tịch Úc của người phạm tội nặng nếu việc đó không khiến họ trở thành người không quốc tịch.
Những phát ngôn thép từ giới chức Úc
Đại diện lực lượng Biên phòng Úc (ABF) từng tuyên bố đanh thép:
"Cư trú tại Úc là một đặc quyền, không phải là quyền đương nhiên. Nếu bạn đến đây và làm hại cộng đồng của chúng tôi, bạn đã tự hủy bỏ quyền được ở lại của chính mình."
Trong một phiên họp an ninh gần đây, một chính trị gia thuộc đảng bảo thủ đã nhấn mạnh:
"Chúng tôi không có nghĩa vụ phải nuôi dưỡng những tội phạm ngoại quốc. Quốc tịch là một cam kết về sự trung thực. Nếu bạn bắt đầu hành trình bằng một lời nói dối, chúng tôi sẽ chấm dứt nó bất cứ lúc nào."
Góc khuất: Khi sự chủ quan trả giá bằng cả tương lai
Tại sao nhiều người vẫn "lưỡng lự" không nhập tịch để rồi mất trắng?
Chủ quan: Nghĩ rằng sống lâu, đóng thuế đầy đủ thì chính phủ sẽ "nể tình".
Lợi ích kinh tế: Muốn giữ quốc tịch Việt Nam để dễ bề mua đất, đầu tư bất động sản tại quê nhà mà không biết rằng tấm hộ chiếu thứ hai đó chính là "chiếc vé khứ hồi" mà Úc sẽ dùng để đuổi bạn đi nhanh hơn.
Cảnh báo: Với thỏa thuận dẫn độ và trục xuất mới nhất giữa Úc và Việt Nam có hiệu lực từ giữa năm 2026, quy trình "bàn giao" người sẽ diễn ra nhanh gọn chỉ trong vài tuần.
Chuyển hướng sang "Quốc gia thứ ba"
Một thông tin gây tranh luận lớn tại Úc vào đầu năm 2026 là việc Chính phủ bắt đầu áp dụng cơ chế chuyển người không có quốc tịch (bao gồm cả người tị nạn không đủ điều kiện) sang đảo Nauru.
Mặc dù chưa có báo cáo cụ thể về số lượng người Việt trong các đợt chuyển sang Nauru này, nhưng chính sách này cho thấy Úc đang cực kỳ cứng rắn: Nếu không thể trục xuất về nước bản xứ vì lý do pháp lý, họ có thể đưa đối tượng đó sang một quốc gia thứ ba để chờ xử lý.
Góc tranh luận nảy lửa:
Việc trục xuất một người đã định cư 30 năm, không còn người thân ở Việt Nam là sự công bằng của pháp luật hay là hành động thiếu nhân văn?
Giữa một bên là "tình" và một bên là "lý", bạn đứng về phía nào khi thấy những gia đình Việt kiều bị chia cắt vĩnh viễn vì những lỗi lầm trong quá khứ?
Để lại bình luận bên dưới và chia sẻ ngay để thức tỉnh những ai còn đang "ngủ quên" trên tấm thẻ xanh của mình!
#ditruuc #trucxuatvietkieu #thexanhuc #luatditru2026 #vietkieuuc #PhạmĐìnhTiến #congdongnguoiviet #nhaptichuc