Fwd: ĐIỂM TIN DIỄN ĐÀN 08-05-2026 (SỐ 083-2026)

1 view
Skip to first unread message

Giu Tran

unread,
May 8, 2026, 12:44:03 PM (2 days ago) May 8
to


---------- Forwarded message ---------
From: soan....@hotmail.com <soan....@hotmail.com>
Date: Fri, May 8, 2026 at 3:32 AM
Subject: ĐIỂM TIN DIỄN ĐÀN 08-05-2026 (SỐ 083-2026)
To:


GOOD MORNING VIET NAM - CANADA - USA

ĐIỂM TIN DIỄN ĐÀN 08-05-2026  (SỐ 083-2026)

Image insérée


Image insérée


MỤC LỤC

  1. SÀIGÒN CỦA TÔI ĐÂU: tác giả hồi tưởng những kỷ niệm về một thành phố dấu yêu ngày trước
  2. THẰNG BẠN LÍNH ÔNG ĐỊA
  3. QUA TRẠM — MỘT THỜI NGĂN SÔNG CẤM CHỢ
  4. Thống nhất và nỗi đau ly tán của dân tộc
  5. Văn minh và KHÔNG văn minh, quân tử và KHÔNG quân tử, khác nhau xa quá!
  6. NỘI CHIẾN
  7. CHUYẾN VƯỢT BIỂN ĐAU LÒNG
  8. Viết Về Một Số Các Bạn Tôi Ở Delta Ngày Đầu
  9. Hà tiện
  10. Người đàn ông làm cho máy bay trở nên “vô hình”: Denys Overholser qua đời ở tuổi 86
  11. Úc "sát phạt" thẻ xanh- Giấc mơ 30 năm tan thành mây khói- May 5, 2026
  12. ĐỜI SỐNG MỘT DÂN THƯỜNG SAU 75


THÔNG BÁO
Điểm Tin Diễn Đàn tạm ngưng gởi bài từ 11-18 tháng 5 năm 2026
Cám ơn, LHCT



SÀIGÒN CỦA TÔI ĐÂU: tác giả hồi tưởng những kỷ niệm về một thành phố dấu yêu ngày trước

THẰNG BẠN LÍNH ÔNG ĐỊA

  • Image en ligne

    Huy hiệu Địa Phương Quân Quân Lực VNCH.

    50 năm, một nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng cái “giờ thứ 25” định mệnh của mùa Xuân năm 1975 ấy vẫn là một vết cắt chưa bao giờ khép miệng trong lòng tôi. Mỗi khi gió chướng về, hay lúc bóng hoàng hôn nhập nhoạng đổ dài trên những mái lá nghèo nơi quê cũ, gương mặt hiền lành, nụ cười hở lợi của thằng bạn nối khố lại hiện về, rõ mồn một như vừa mới hôm qua.
    Tôi và nó, hai đứa trẻ lớn lên từ một xóm nhỏ ven sông, chia nhau từng miếng kẹo đậu phộng. Những buổi trưa hè nắng đổ lửa trốn đi bắt dế thủa tiểu học về giành nhau từng con dế than, dế lửa. Những ngày trung học, hai đứa lại chở nhau trên chiếc xe đạp cà tàng đến trường tỉnh, cùng mơ mộng về 1 tương lai thái bình, nơi những trang truyện chưởng của Kim Dung chứa đầy anh hùng hào hiệp và chính nghĩa, không vương mùi thuốc súng. Nó học giỏi hơn tôi, tâm hồn lãng mạn, nhưng chiến cuộc khắc nghiệt đã bứng hai đứa ra khỏi giảng đường.

    Ngày đi lính, tôi chọn vào binh chủng Hải Quân xa nhà, còn nó, nó kiên quyết xin vào Địa Phương Quân. Nó bảo tôi bằng cái giọng chân chất, rưng rưng: “Tao không sợ đi xa, nhưng nhà tao chỉ còn mình mẹ. Hai anh tao đã nằm lại dưới màu cờ Nhảy Dù ở Hạ Lào và Quảng Trị rồi. Giờ tao mà đi nữa, lỡ có bề gì, ai lo chén cơm, hớp nước cho mẹ lúc trái gió trở trời?”

    Thế là nó thành người lính “áo thun đại hàn”, chân đi giầy “bố”, canh gác chính mảnh đất, nơi nó lớn lên. Đêm đêm, nó vác súng đi tuần trên những bờ đê, những lối mòn mà chính chúng tôi từng chạy nhảy thời đi bắt cào cào nuôi gà đá. Nó chọn ở lại để được gần mẹ, để mỗi chiều ra khỏi đồn có thể ghé ngang nhà, thấy khói bếp của mẹ còn bay là nó an lòng.

    Nhưng sự nghiệt ngã của định mệnh lại ập xuống đúng vào cái giờ phút mà người ta ngỡ rằng tiếng súng sẽ ngưng hẳn. Giờ thứ 25, cái giờ mà ranh giới giữa sự sống và cái chết trở nên mong manh và vô nghĩa đến khác thường. Trong khi người ta đang hoang mang, tan hàng, thì ở một góc nhỏ nơi quê nhà, nó và những người anh em Địa Phương Quân vẫn đứng đó, giữ gìn một nút chặn cuối cùng. Nó ngã xuống khi mặt trời đã lên cao, khi niềm hy vọng về một ngày trở về nguyên vẹn vừa mới nhen nhóm. Nó chết ngay trên mảnh đất mình sinh ra, cách ngôi nhà của mẹ chỉ một cánh đồng xa.

    Cái tin nó tử trận bay về giữa lúc làng xóm đang nháo nhào trong những giờ phút cuối cùng của cuộc chiến. Giờ thứ 25, khi người ta bắt đầu tháo băng cá nhân, vứt bỏ súng đạn để tìm đường sống, thì nó lại được đưa về nhà trên chiếc cáng dã chiến, phủ lên mình tấm poncho đầy bụi đất quê hương làng nó.

    Tôi đã về được nhà, khi nghe tin dữ, tôi vội vã chạy sang nhà nó. Tôi sẽ chẳng bao giờ quên được hình ảnh mẹ nó lúc ấy. Mẹ không gào thét, không vật vã như người ta vẫn tưởng. Khi những người lính đồng đội đặt nó nằm xuống giữa gian nhà ngoài, mẹ từ trong bếp bước ra, đôi bàn tay gầy guộc còn dính đầy tro trấu. Mẹ đứng sững lại, đôi mắt đục mờ nhìn trân trân vào đôi giày bố lấm lem cũ kỹ mòn vẹt đế lòi ra dưới tấm poncho.

    Mẹ lảo đảo tiến lại gần, đôi tay run rẩy vén mép tấm poncho che mặt nó. Nhìn thấy gương mặt đứa con út còn dính vệt máu khô nhưng thanh thản như đang ngủ, mẹ bỗng đổ ụp xuống như một thân cây mục. Mẹ không khóc thành tiếng, mà là những tiếng nấc khan, khô khốc phát ra từ lồng ngực gầy yếu. Mẹ ôm lấy cái đầu của nó, áp vào lòng mình như cái ngày nó còn là đứa trẻ thơ dại, rồi mẹ thều thào: “Tổ cha mày... sao mày bảo mày đi Địa Phương Quân để ở gần tao? Mày hứa là chiều nào cũng về ăn cơm mẹ nấu mà? Sao giờ mày nằm đây lạnh ngắt vậy con ơi....”

    Nỗi đau của mẹ lúc đó như lặn ngược vào trong, tàn nhẫn hơn bất cứ vết thương bom đạn nào.Hai đứa con trai trước chết ở nơi rừng xanh núi thẳm, mẹ chỉ nhận được tin báo qua những tờ giấy báo tử vô tri lạnh lùng. Còn lần này, nó nằm chết ngay trước mắt mẹ, ngay khi hòa bình tưởng chừng như đã chạm được vào đầu ngón tay.

    Nhìn mẹ lui cui đi tìm bộ đồ bà ba sạch nhất để thay cho nó, đôi mắt mẹ không còn nước mắt để rơi, chỉ còn sự trống rỗng đến rợn người. Mẹ cứ vuốt ve mái tóc nó, thỉnh thoảng lại nhìn ra cửa như thể vẫn đợi nó vác súng bước vào rồi cất tiếng gọi “Mẹ ơi” như mọi khi. Hình ảnh người mẹ còm cõi, vò võ bên xác con trong cái giờ khắc đất trời nghiêng ngả ấy là một bi kịch đau đớn nhất mà tôi từng chứng kiến. Mẹ đã dâng hiến tất cả, để rồi cuối cùng chỉ còn lại một mình với 3 bát hương nghi ngút khói trong căn nhà hoang lạnh.

    Tôi đứng bất động nhìn mẹ nó, trái tim tôi thắt lại. Người mẹ ấy, sau khi đã hiến dâng hai đứa con trai cho quê hương tận nơi xa xôi mây trời viễn xứ, giờ đây lại phải chứng kiến đứa con út, niềm hy vọng cuối cùng, nằm xuống ngay giữa nhà mình. Mẹ không còn nước mắt để khóc. Mẹ ngồi đó, còm cõi như một gốc cây khô héo giữa nắng cháy. Đôi mắt mẹ đục ngầu, nhìn chăm chăm vào khoảng không vô định.

    Cái đau đớn của người mẹ mất con trong giờ phút cuối cùng ấy, nó không ồn ào mà âm ỉ, vò võ như ngọn đèn cạn dầu trước gió. Mẹ cứ lẩm bẩm: “Nó bảo nó đi lính ở gần nhà để lo cho tao, sao giờ nó lại đi xa nhất, mãi mãi hả con?”

    Câu hỏi ấy cứ xoáy vào lòng tôi, xót xa đến nghẹn lời. Mỗi lần sang thăm, thấy mẹ lui cui một mình bên mâm cơm chỉ có một bát, một đôi đũa, tôi lại thấy hình bóng nó hiện hữu đâu đây, trong cái tiếng kẽo kẹt của võng trưa, trong mùi nhang trầm nghi ngút trên bàn thờ có 3 tấm hình thanh niên trẻ măng, mặc quân phục.

    Sự mất mát này quá lớn, không gì bù đắp nổi. Nó không chỉ là sự ra đi của một người bạn, mà là sự tan vỡ của một gia đình, là nỗi đau tột cùng của người mẹ miền Nam tần tảo. Nhớ nó, tôi nhớ về một thời tuổi trẻ trong trẻo, nhớ về lòng hiếu thảo vẹn toàn và cả cái chết tức tưởi trong giờ phút giao thời.

    Nằm sâu trong ký ức về những ngày trung học, có một buổi chiều mưa tầm tã mà mỗi khi nhớ lại, lòng tôi vẫn thấy thắt nghẹn. Đó là năm Đệ Nhị, khi cái bóng đen của chiến trường bắt đầu đổ dài lên những dự định tương lai của đám học trò tụi tôi.

    Hôm ấy, mưa như trút nước xuống mái trường tỉnh, hai đứa không có áo mưa, đành trú lại dưới hiên lớp học cũ. Nó ngồi bệt xuống hành lang, lôi từ trong cặp táp sờn cũ ra một bọc ni-lông gói kỹ mấy tấm ảnh trắng đen đã ố vàng.Đó là ảnh hai người anh của nó trong bộ đồ rằn ri Nhảy Dù, đứng hiên ngang giữa rừng núi bạt ngàn.

    Nó vuốt ve tấm hình rồi quay sang bảo tôi, giọng trầm hẳn xuống: “Mày biết không, hôm qua tao thấy mẹ lén mang mấy bộ đồ cũ của anh Hai, anh Ba ra giặt rồi gấp lại cất vào tủ. Mẹ không khóc, nhưng cái lưng mẹ cứ run bần bật. Tao định sau này thi vào Sư Phạm để làm Thầy Giáo như ước nguyện của mẹ, nhưng nhìn mẹ còm cõi vậy, tao không đành lòng đi xa. Tao sẽ xin vào Địa Phương Quân, chấp nhận làm ‘lính kiểng’, làm người lính giữ làng giữ xóm, miễn là mỗi chiều tao còn được thấy bóng mẹ tựa cửa đợi cơm.”

    Nói rồi, nó cười, một nụ cười hiền lành nhưng chứa đựng bao nỗi lo toan vượt quá cái tuổi 18. Lúc đó, tôi còn trẻ con, còn đùa giỡn bảo nó “đồ nhát gan, không chịu bay nhảy”. Nó chỉ im lặng nhìn màn mưa trắng xóa, đôi mắt xa xăm như đã dự cảm trước điều gì.

    Chiều hôm ấy, hai đứa về chung trên chiếc xe đạp, nó cầm lái, tôi ngồi sau che mưa bằng tàu lá chuối. Nó gò lưng đạp qua những vũng nước đục ngầu, miệng vẫn còn ngân nga câu hát về quê hương. Tôi đâu có ngờ, đó là một trong những lần cuối cùng tôi được nghe nó hát, và cái “nguyện ước gần mẹ” ấy cuối cùng lại biến thành nỗi đau truyền kiếp. Nó đã giữ đúng lời hứa là ở lại gần nhà, nhưng lại nằm xuống ngay dưới chân mẹ trong cái giờ thứ 25 nghiệt ngã, để mẹ nó phải “gần” nó qua nấm mộ đất lạnh lẽo sau vườn.

    Cái kỷ niệm về buổi chiều mưa và những tấm ảnh cũ ấy cứ như một vết dao cứa vào tâm can mỗi khi tôi nhìn thấy những người mẹ già ngồi vò võ một mình bên thềm cửa.

    Mày đi rồi, bạn ơi, nhưng kỷ niệm về những buổi chiều tan học, những lần chia nhau điếu thuốc lá Quân Tiếp Vụ, và ánh mắt lo âu cho mẹ của mày vẫn mãi là nỗi ám ảnh đầy yêu thương trong tao. Ngủ yên nhé, người lính Địa Phương Quân của tao, nơi ấy chắc không còn chiến tranh, và chắc chắn mày đã gặp lại các anh mình dưới bóng cờ vàng lộng gió. Còn mẹ, tao sẽ thay mày ghé qua, dù biết rằng chẳng có gì khỏa lấp được khoảng trống mênh mông mà mày đã để lại trong lòng người mẹ già vò võ ấy.
    De Nguyen

QUA TRẠM — MỘT THỜI NGĂN SÔNG CẤM CHỢ
  • Tháng 11 năm 1982.
    Gió bấc từ biển Đông hun hút thổi qua triền đèo Cả, quất từng luồng lạnh ngắt vào mặt người đi đường. Chiếc xe Renault cũ kỹ, loại xe khách Pháp còn sót lại, ì ạch bò lên dốc như con trâu già kéo cày giữa mùa hạn. Khói than đặc quánh phả ra từ ống xả, quyện với mùi dầu, mùi áo quần ẩm và tiếng trẻ con khóc khàn khàn.
    Tôi, sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Nha Trang, ngồi chen giữa đám hành khách lam lũ. Sau mấy ngày về quê Phú Thứ thăm nhà, tôi lại lên đường trở lại trường, trong túi chỉ còn vài đồng bạc và niềm háo hức mơ hồ của tuổi trẻ.
    Xe bò chậm như rùa. Mỗi khi gặp đoạn dốc khó, phụ xe lại nhảy xuống, tay cầm “cục canh”, khúc gỗ dằn bánh đề phòng xe tụt, rồi hô to:
    “Lên đi anh Năm! Mở thêm xăng phụ!”
    Tiếng máy gầm gừ, xe trườn được vài mét rồi khựng lại. Gần đến đỉnh đèo, bỗng nhiên xe khựng mạnh, rồi tụt lùi. Tài xế gào lên:
    “Canh mau! Canh mau!”
    Phụ xe hớt hải đáp:
    “Mở thêm xăng chớ! Ai tắt xăng vậy trời!”
    Một tiếng ẦM! vang rền. Đuôi xe húc thẳng vào vách đá, thân xe nghiêng hẳn sang một bên. Tiếng la hét, tiếng bà cụ niệm Phật, tiếng kim loại lạo xạo hòa vào mùi khói than nồng nặc.
    Khi mọi người hoàn hồn mới biết mình vừa thoát chết trong gang tấc. Xe nằm chết dí bên vách đá, không thể đi tiếp. Những chuyến xe sau cũng chẳng dừng, vì đã chật kín người. Đêm xuống, gió trên đèo thổi hun hút, lạnh buốt đến tận xương. Tôi lục túi, mấy đồng bạc ít ỏi đi đường đã không cánh mà bay. Thế là, tôi đành cuốc bộ suốt đêm, từ đèo Cả về Phú Thứ.
    Mưa táp vào mặt, đường trơn trượt, mỗi bước chân như nặng gấp đôi. Gần 1 giờ sáng, tôi về đến nhà, ướt như chuột lột. Cha tôi ra mở cửa, thấy tôi, tròn mắt hỏi:
    “Sao thế con? Gặp chuyện rồi hả?”
    Nghe kể lại, cả nhà thở phào nhẹ nhõm. Cha tôi chỉ lặng nói:
    “Còn sống là may. Xe mà lọt xuống vực thì xong rồi.”
    Nhưng “còn sống” cũng chẳng giúp tôi có tiền quay lại trường. Vài ngày sau, cha tôi lặng lẽ bảo:
    “Thôi, tao cho bao lúa. Bán đi mà lấy tiền học.”
    Bao lúa ấy là phần ăn của cả nhà trong tháng. Nhưng cha vẫn cho, không một chút đắn đo. Tôi rủ thằng cháu, nó học nghề ở xã bên, cùng đem lúa xay lấy gạo, rồi chất lên 2 chiếc xe đạp cà tàng. Mỗi đứa chở chừng 30 chục ký, chọn đêm trời tối để xuống Phú Lâm bán.
    Đêm ấy, trăng non mảnh như sợi chỉ. Tiếng bánh xe nghiến sỏi kèn kẹt giữa con đường tỉnh lộ chi chít ổ gà. Khi đến gần trạm kiểm soát đặt gần ủy ban xã Hòa Bình 1 thời nay, nơi “ngăn sông cấm chợ” gắt gao nhất vùng, hai đứa tôi xuống xe, dắt bộ, đi thật khẽ.
    Nhưng chưa kịp qua khỏi trạm, bỗng có tiếng quát:
    “Đứng lại! Ai đó?”
    Hai luồng đèn pin rọi thẳng vào mặt. Tôi đứng chết trân, tay run cầm cập. Một người trong nhóm du kích tiến lại gần, soi kỹ, rồi quát:
    “Mấy thằng nhóc tụi mày mà cũng buôn lậu hả?”
    Tôi nhận ra giọng ông MT, người bà con xa trong xóm, vẫn hay nhờ cha tôi coi ngày dựng nhà, đào giếng. 
    Tôi khẩn khoản:
    “Dạ, tụi con đem ít gạo xuống bán lấy tiền học, chứ không buôn lậu đâu ạ...”
    Ông MT im lặng một lát, rồi lạnh giọng:
    “Luật là luật. Tịch thu hết! Xe, gạo, tất cả.”
    Tôi sững người. Mấy anh du kích ùa đến, khiêng hai nửa bao gạo ném vào kho. Tôi vừa giận, vừa tủi, vừa đói. Đêm ấy, hai thằng dắt xe về trong mưa, áo quần ướt đẫm, bụng lép kẹp.
    Sáng hôm sau, cha tôi đến nhà ông MT, mang theo ít quà quê nhỏ, năn nỉ xin lại gạo. Ông ta chỉ cười nhạt:
    “Để tui nói lại với đội rồi trả.”
    Nhưng sau đó thì im bặt. Người ta đồn, kho lương thực của đội du kích chất đầy gạo tịch thu. Không ai biết số đó có sung công hay... “vào túi riêng”.
    Trớ trêu thay, ngay đêm đó tôi chứng kiến có những chuyến xe lam của mấy người quen biết, chở cả tạ gạo đi qua trạm, lại được cho qua dễ dàng.
    Vài năm sau, nhiều người trong nhóm du kích năm ấy lần lượt “ra đi”, trong đó có cả ông MT. Dân làng xì xào:
    “Ác giả ác báo.”
    Tôi không dám tin, nhưng lòng vẫn se sắt, bởi suy cho cùng, họ cũng chỉ là những nạn nhân của một thời...
    Giờ đây, đoạn đường đặt trạm năm xưa đã đổi thay, xe cộ tấp nập, hàng hóa qua lại tự do. Nhưng mỗi lần đi qua, tôi vẫn nhớ như in đêm hai thằng dắt xe run rẩy trong mưa lạnh, bị tịch thu bao gạo, phải quay về trong nỗi buồn nặng trĩu.
    Gió vẫn thổi qua rặng phi lao, nghe như tiếng thở dài của bao kiếp người trong cái thời đói nghèo, khi chỉ một bao gạo nhỏ cũng đủ khiến người ta khốn đốn, khiến lòng người ngả nghiêng.
    Lê Liên

Thống nhất và nỗi đau ly tán của dân tộc
  • Cảnh sum họp của những người con có cha tập kết ra Bắc trở về Nam sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, tưởng chừng vui tươi cảm động đầy nước mắt trong một màn tái ngộ, đã trở thành một cảnh ngỡ ngàng xót xa.
    Lưu Quý Kỳ, vụ trưởng báo chí ban tuyên huấn trung ương và tổng thư ký (TTK) hội nhà báo bắc việt, năm 1954, đã ngu ngốc nghe lời dụ dỗ của lũ thổ phỉ bắc việt, cùng vợ ra đi tập kết, để lại miền Nam 2 đứa con, một trai mới lên 1 tuổi và một gái mới lên 3, cho bà ngoại nuôi. Người con trai bị bỏ lại Miền Nam khi mới 1 tuổi nay là Thiếu Úy Lưu Đình Triều thuộc Sư Đoàn 7 Bộ Binh – Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, chờ đợi cái ngày hội ngộ với cha mẹ sau thời gian ly tán 30 năm, đã thấy rõ ràng mình vẫn là kẻ thù của cha mẹ và những đứa em sinh ra ở miền bắc, khi bọn chúng đã lố bịch hát trước mặt anh câu “xô lên xác thù hung bạo!” Kẻ thù đó là đứa con bị bỏ lại 30 năm về trước.
    Lưu Quý Kỳ, cũng giống như thân phụ nhà văn Phan Nhật Nam, hay biết bao nhiêu người cha dại dột ngu ngốc theo cộng sản đi tập kết trở về, rút cuộc chỉ có một câu động viên con đang ở trong nhà tù tập trung không có bản án: “Ráng học tập, lao động tốt cho mau về với gia đình!” (theo Bên Thắng Cuộc. T.1).
    -----
    Trong thời gian chúng tôi đi tù ở huyện Tân Kỳ thì nhà ông anh rể tôi ở huyện Đức Thọ cùng trong một tỉnh, thư không có, mà thăm cũng không. Nghe gia đình ở Huế kể lại ông anh rể tôi viết thư lên án gia đình bên vợ là “đã gây nhiều tội ác” trong khi nhà chỉ có mình tôi bị động viên vào lính, còn lại là 4 người làm nghề dạy học.
    -----
    Lê Khắc Nghi, chú họ người viết bài này, có vợ là một hoa khôi làng Văn Xá, “cưới nhau xong là đi!” Ở miền Nam đứa con trai duy nhất lớn lên, “được” VC xã dụ dỗ tham gia du kích vì có cha đi tập kết, trong một cuộc hành quân bị nghĩa quân miền Nam bắn chết. 30 năm sau, ông chú trở về mang theo một bà vợ răng đen do đảng “cơ cấu” và mấy đứa con rặt Bắc, “cháu bác Hồ.”
    Ngày trùng phùng hóa ra là ngày khởi đầu cho một giai đoạn ngỡ ngàng cay đắng. Sum họp như thế thà chia lìa còn hơn! Họ không còn giống nhau từ sự hiểu biết, giọng nói, lối sống và tư tưởng. Vợ chồng mà đó, anh em ruột thịt mà đó, cha con mà đó, nhưng xa cách nghìn trùng, càng dùng ngôn ngữ để tiến lại gần nhau, càng thấy xa nhau.
    Trong Đèn Cù, nhà văn Trần Đĩnh kể chuyện một ông cụ thổi kèn Tây trong ban nhạc của triều đình Huế thời Bảo Đại, tập kết ra Bắc, sau ngày “chiến thắng” chỉ còn độc một đôi dép râu, không có cả... bít tất. Ông cụ nói như lời trăng trối: “Cảm ơn ông, đoàn với ai, tụ với ai? Vợ con chưa biết hiện ở đâu, đi theo nhà khác mất rồi có khi. Họ hàng thì chết trong Tết Mậu Thân 1968... Tôi về đó vẫn lại trơ làm thằng tập kết đợt hai trơ trọi một mình... Ra đi để thống nhất đất nước, bây giờ ai thống nhất với thân già tôi?”
    Trần Đĩnh cũng như triệu triệu người miền Bắc ngây ngô, mơ màng thằng dân trong này bị bóc lột tận xương tủy không có nổi cái chén mà ăn cơm, trong hành lý vào Nam của TrầnĐĩnh có năm bảy thứ cứu đói được mang vào, trong đó có cả một cái thùng nhựa đựng nước kẻo sợ trong Nam không có được cái miểng sành chăng?
    Người ngoài bắc nô nức đi Nam xem chúng nó bị bóc lột đến cỡ nào, không ngờ “trong kia dân nó ối chà giàu ơi là giàu. Vàng chỉ 50 đồng Cụ 1 cây. Tủ lạnh vài chục đồng một chiếc. Lạnh cứ là liên lu liền lù suốt năm. Bảo cho tay vào lâu là hóa ra đá!” hay “buồng nào cũng máy lạnh. Xin lỗi anh, tôi thấy sướng nhất là đi toa lét!”
    Dân miền Nam quả là không đợi không chờ ai vào giải phóng. Câu chuyện của Minh Trường, nguyên phóng viên nhiếp ảnh Thông Tấn Xã Bắc Việt, kể lại cái hí hửng của kẻ “giải phóng” khi vào Sài Gòn đã bị một thau nước lạnh dội vào mặt. Bà mẹ ra mở cửa, thấy mặt anh thì vội vàng chấp tay lạy:
    – Anh còn sống thì tôi mừng nhưng anh về thì tất cả các đứa con bao lâu nay sống với tôi, chăm sóc phụng dưỡng tôi đều đã bị các anh lôi đi tù hết mất rồi. Anh về thì nhà này tan nát, tôi thì trơ trọi. Thôi, tôi xin anh, anh đi với đồng chí của anh đi cho mẹ con tôi yên!
    Lê Khắc Hoan, một ký giả, nhà văn cũng là nhà giáo “Bên Thắng Cuộc,” đã viết cuốn “Trăm Năm Ly Hợp” nói về chuyện đoàn tụ và ly cách của dòng họ Lê Khắc từ một ngôi làng nhỏ của miền Trung sỏi đá: Văn Xá, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Sau 30 năm tập kết, cán bộ Bắc Việt Lê Khắc Hoan trở về, hí hửng tưởng bà con dòng họ này ai cũng chờ đợi, hân hoan đón tiếp. Nhưng sự thật hoàn toàn khác những điều ông đã suy nghĩ! Ông về, vẫn mang theo loại chữ nghĩa nghịch với lỗ tai người miền Nam, có đoạn ca tụng “bác Hồ,” dùng chữ “ngụy quyền Sài Gòn,” kêu gọi bà con “về đầu tư, xây dựng đất nước,” ca tụng làng Văn Xá Anh Hùng chống Mỹ (!), thiết nghĩ không có sức thuyết phục để anh em trong dòng tộc ngồi lại với nhau, mà chỉ gây thêm chia rẽ. 
    Nhưng khi tác giả trở về Nam, một số thân tộc đã bỏ nước ra đi, một số phải chịu cảnh tù đày, một số khác thất vọng, cay đắng, trừ những người ít bị thương tổn, không ai muốn liên lạc hay hợp tác, nhận họ với phía “giải phóng.” Ông tác giả này đã thú nhận gặp phải những sự lạnh lùng, ngỡ ngàng cay đắng, đã gửi đi hằng trăm e-mail, lời nhắn cho bà con, nhưng không hề được hồi âm, và ngay đối với người viết bài này, đứa em họ ở miền Nam, cũng ngần ngại không muốn cho tác giả biết địa chỉ, dù là địa chỉ e-mail. Điều này chứng tỏ, “miền Bắc nhận hàng” đã xong, nhưng miền Nam vẫn còn miễn cưỡng, chưa muốn “nhận họ.”
    Cuối cùng, trong một sự thật cay đắng, người đi tập kết trở về đã phải thốt lên: “.... Các mảnh vỡ từ hai bên cố ráp vào vẫn rời ra, xộc lệch không tài nào ăn khớp!”
    Sau 30 năm, khi con tàu xuyên Việt có thể nhả khói, kéo những hồi còi, chạy suốt, nối Hà Nội-Huế với Sài Gòn, nhân gian bao nhiêu dòng họ tưởng là đoàn tụ, nhưng đây là lúc chia cách lớn nhất, không còn là vì khoảng cách của sông núi, mà bởi lòng người ly tán, tưởng chừng, rồi đây cả trăm năm sau, cũng chưa thể hàn gắn được.
    Để kết luận bài này tôi xin mượn lời của Lê Khắc Hoan, một nhà văn tập kết trở về sau ngày “thống nhất:” “Hai phần ba thế kỷ trong vòng xoáy đối đầu tàn khốc, rốt cuộc, không một người nào ở phía nào được hạnh phúc vẹn tròn. Cho dù công danh hiển đạt. Cho dù vợ đẹp con khôn. Cho dù tiếng tăm lừng lẫy, chính trực nhân từ, tài ba uyên bác cũng nổi chìm quăng quật trong cuộc chiến đa diện, đa phương...”
    Chúng tôi nghĩ khác, hạnh phúc sẽ được vẹn toàn, nếu từ nửa thế kỷ trước, nếu đất nước này không bất hạnh có nhân vật Hồ Chí Minh, tên tay sai bán nước cho ngoại bang Trung Cộng, mang cái thứ “chủ nghĩa cộng sản quái thai, hoang tưởng” từ Liên Xô về để đày đọa dân tộc Việt Nam trong suốt bao nhiêu năm dài.
    Nhưng chắc chắn rồi mai đây chúng ta sẽ có “hạnh phúc vẹn toàn”, đó là ngày chế độ cộng sản độc tài, tàn ác, quỷ quyệt, hiểm độc, gian xảo, hèn hạ, tàn lụi trên Quê Hương Việt Nam bởi theo quy luật của Tạo Hóa, không có bất cứ một chế độ độc tài tàn bạo nào có thể tồn tại mãi mãi; kể cả những tên bạo chúa Tần Thủy Hoàng, Adolf Hitler, Mussolini, Stalin, Leonid Illich Brezhnev, Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình, Nicolae Ceausescu, Saddam Hussein, Muammar Gaddafi, ...
    Cuộc chiến đấu này vẫn còn đang tiếp diễn chứ chưa bao giờ và chưa bao giờ thật sự chấm dứt như bọn phỉ quyền Hà Nội vẫn tưởng bở rêu rao và dòng sông Bến Hải sẽ vẫn muôn đời còn đó.
    Huy Phương
    với Nguyễn Tâm An


Văn minh và KHÔNG văn minh, quân tử và KHÔNG quân tử, khác nhau xa quá!

  • Tấm hình bên dưới là cảnh các sĩ quan và binh sĩ của miền Bắc, bên thắng cuộc, chào tạm biệt tướng Lee của miền Nam, sau khi ông ký văn bản đầu hàng tại Appromax Court House. Hình ảnh của vị tướng miền Nam nhìn vẫn hiên ngang tuy là người thất thế. Tất cả là vì ông và đoàn quân thất trận vẫn được đối xử một cách đầy tôn trọng.
    Nước Mỹ còn rất "trẻ", chưa đủ tuổi để được gọi với cái tên mỹ miều "ngàn năm...". Nhưng cách mà người Mỹ đối xử với nhau thời nội chiến nói lên rằng "tuổi tác" của một quốc gia không quan trọng. Quan trọng là quốc gia đó được xây dựng trên nền tảng nào, cùng cách hành xử của con người ở quốc gia đó. Nội chiến Hoa Kỳ đã kết thúc cách đây 157 năm, nhưng cách bên thắng cuộc đối xử với bên thua cuộc sau chiến tranh cho thấy thời đó người Mỹ đã văn minh dường nào.
    Còn ở một nơi khác, chiến tranh kết thúc chưa được 50 năm, nhưng cách bên thắng thế đối đãi với bên thất thế lại khiến tôi nghĩ cuộc chiến đó dường như đã xảy ra cách đây hơn ngàn năm. Hành động nói lên tất cả. Thay vì hành động theo cách của bậc quân tử thì họ lại dùng những lời sáo rỗng dối trá để tô vẽ tuyên truyền. Tệ hơn nữa là nói một đường làm một nẻo.
    Văn minh và KHÔNG văn minh, quân tử và KHÔNG quân tử, khác nhau xa quá!
    sưu tầm

    Inline image


NỘI CHIẾN
Năm 1861-1865 Cuộc nội chiến Nam-Bắc Mỹ kết thúc.
Bắc Mỹ đã chiến thắng và chế độ nô lệ ở nam Mỹ đã được xóa bỏ. Và khi quân miền Nam đã rơi vào thế bại trận thì đột nhiên tổng thống Abraham Lincoln muốn được đàm phán. Cách làm này của ông đã khiến cho một vị đồng sự bất mãn. Ông ấy giận dữ đập tay xuống bàn và nói: "Quân địch nhất định phải bị tiêu diệt!". Tổng Thống Lincoln vẫn giữ vẻ ôn hòa nói: "Khi họ trở thành bạn của chúng ta, thì chẳng phải là kẻ địch đã bị tiêu diệt rồi sao?"
Sau cuộc nội chiến, các tướng sĩ quân đội miền Nam, sau khi đầu hàng đều nhận được một văn kiện của liên bang, cam kết bảo đảm rằng từ đó về sau họ không bị làm phiền. Và Tổng thống Lincoln cũng kết thúc những xung đột giữa hai miền bằng một câu nói cao thượng: "Nội chiến không có người thắng!", mặc dù lúc đó phe miền Nam đã bị thua cuộc.
Công việc sau chiến tranh thật bề bộn, cửa văn phòng tổng thống luôn bỏ ngỏ để bất kỳ ai cũng có thể gặp tổng thống bất cứ lúc nào.
Tổng thống Abraham Lincoln đang đứng, hai tay chống mép bàn, đầu cúi xuống tấm bản đồ trải rộng.
- Báo cáo ngài tổng thống - Lincoln ngẩng lên, trước mặt ông là tổng tư lệnh quân đội.
- Có việc gì - Lincoln hỏi rất từ tốn.
- Thưa ngài còn hơn 500 ngàn tù binh định giải quyết ra sao?
- Tù binh nào - Lincoln sẵng giọng.
- Những lính miền nam bị ta bắt... - viên tổng tư lệnh lúng túng . Lincoln ngồi xuống ghế, nói chậm rãi:
- Tôi nhắc lại, đây là những công dân của nước Mỹ thống nhất, không có tù binh, tôi đã ra lệnh cho các anh phải cấp lương thực, ngựa cho họ về quê sản xuất rồi kia mà. Các anh làm ngay đi.
- Vâng, thưa ngài ! Viên tư lệnh quay người đi ra.
- À này - viên tư lệnh vừa tới cửa quay lại - nhớ là phát súng và năm cơ số đạn cho mỗi đầu người - Lincoln ra lệnh.
- Cái này...viên tư lệnh lưỡng lự...
- Họ phải có vũ khí chống thú dữ, bảo vệ mùa màng chứ.
- Rõ - viên tư lệnh đưa tay lên vành mũ rồi quay ra.
Lincoln liền có mấy chỉ thị quan trọng tiếp ngay sau đó:
1 - Trợ cấp tử sỹ như nhau tính theo đầu người đã hy sinh cho cả hai bên.
2 - Xây một tượng đài lớn với dòng chữ "Đời đời nhớ ơn những người đã ngã xuống cho sự thống nhất nước Mỹ".
3 - Các nghĩa trang của hai bên tự xây dựng và tự chăm sóc, được chính phủ quan tâm như nhau.
Sau này tại thủ đô Washington chính phủ Mỹ đã xây dựng nghĩa trang Arlington để tập kết các tử sỹ của cả hai bên nam bắc Mỹ, từ chiến sỹ đến các vị tướng.
Sau khi tổng thống Abraham Lincoln qua đời thì ý tưởng của ông đã được các đời tổng thống sau này thực hiện triệt để.
Cứ hình dung, sau những động thái của tổng thống Lincoln, các bà mẹ của hai miền chỉ còn biết ôm chầm lấy nhau mà khóc. Họ không nghĩ rằng đã có một cuộc chiến tranh. Nước Mỹ ngay sau nội chiến dc phát triển như thế nào thì các bạn đều đã biết.
Abraham Lincoln, Ông là một tổng thống có tư tưởng vĩ đại, ông đã khuyến khích người dân Mỹ góp ý cho chính phủ với câu nói nổi tiếng:
"Tự do ngôn luận là chìa khóa của sự phát triển"

Inline image



CHUYẾN VƯỢT BIỂN ĐAU LÒNG

  • Đôi lời vào truyện:   
    Tôi tên Nguyễn Bá Quang, là một sĩ quan QLVNCH cấp bậc Đại Úy thuộc đơn vị 101 P2/Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH. Ở tù CSVN tại trại tù Tiên Lãnh, Quảng Nam, Đà Nẵng suốt hơn 12 năm. Qua Mỹ với diện HO-5 năm 1991. Hiện cư ngụ tại Reda, Califonia.
    Trong thời gian tôi ở tù chưa được thả, gia đình vợ con tôi vượt biển tìm tự do tại Cà Mau tỉnh Minh Hải. Trong chuyến vượt biển hãi hùng ngày 22/2/1985, vợ và 6 người con trai của tôi đã bỏ xác trên biển cả vì bọn hải tặc làm đắm thuyền. Ngoài ra còn có cả nhạc phụ của tôi và các em vợ cùng các cháu đã chết một cách tức tưởi trên chuyến tàu đau thương ấy. Chỉ còn sống sót người con gái yêu thương của tôi tên Thùy Nhiên và dì ruột của cháu là Phạm Thị Sa.
    Năm 1975 mất nước, con gái tôi mới có 8 tuổi. Khi CS Bắc Việt chiếm miền Nam chúng dọa nạt, đày ải gia đình của các sĩ quan QLVNCH đi cải tạo tại các trại lao động khổ sai. Vợ con tôi phải đi kinh tế mới tại Cà Mau, Minh Hải, việc học hành khó khăn, cháu chỉ học tới lớp 7 rồi phải bỏ lỡ dở, đi buôn cá tại vùng ven sông thuộc Cà Mau để kiếm tiền nuôi gia đình và các em trai còn nhỏ tiếp tục đi học, vì thế nên cháu chỉ có thể thuật lại nỗi bất hạnh của đời tôi một cách trung thực.
    Là ba của cháu, tôi cũng chỉ sửa những lỗi văn phạm, chính tả. Qua sự thúc bách của tôi, cháu mới có thể thuật lại câu chuyện thương tâm, vì mỗi lần nhớ lại những cảnh đau thương tang tóc của gia đình thì cháu đâm thẫn thờ, ngơ ngẩn hết mấy ngày, và lòng tôi cũng quặn đau vô vàn. Hiện cháu đã lập gia đình và sống với chồng con tại Úc. Sau đây là câu chuyện của con gái tôi, nỗi bất hạnh của cháu, cũng là nỗi bất hạnh của tôi.
    Nguyễn Bá Quang
    ------
    Sau bao tháng ngày mẹ và các anh chuẩn bị ghe thuyền, từng can dầu, tom góp từng gói lương khô như gạo sấy, thuốc men.. v..v... một cách bí mật, ông ngoại, gia đình bà dì ruột, gia đình của cha Liêm, từng tốp, từng tốp len lỏi trong đêm tối lần lượt đến điểm tập trung tai bãi Đá Bạc Cà Mau thuộc tỉnh Minh Hải.
    Tất cả chúng tôi yên lặng lên thuyền, gồm có 22 người đã có mặt đầy đủ. Tiếng nổ dòn của máy lướt sóng ra khơi, mọi người chúng tôi nín thở hồi hộp.
    Qua mấy giờ lầm lũi chạy trong đêm, trời đã sáng, ánh nắng chan hòa,chúng tôi đã rời khỏi hải phận Việt Nam, mọi người thở ra nhẹ nhỏm, vui mừng, bồi hồi xúc động vì đã thoát qua được chặng đường  đầy nguy hiểm và bất trắc nhất, vì nếu chẳng may mà bị VC bắt lại, thì bị tù tội, tịch thu tài sản, tất cả đều mất sạch. Niềm vui thoát được khỏi bọn công an VC đang miên man trong đầu óc mọi người, bỗng nhìn đằng xa có chiếc tàu lớn hiện ra, tim tôi đánh thình thịch, tàu của ai đây? Của CS hay của thế giới tự do? Càng lại gần thì càng hồi hộp, một thoáng chán nản và sợ sệt hiện rõ trên nét mặt mọi người khi nhìn rõ màu cờ máu Liên Xô, thuyền của chúng tôi cố ý lái chệch hướng chiếc tàu lớn, cứ thế tiến thẳng, đã qua thêm một sự nguy hiểm, và cũng vì thế thuyền đã chệch hướng đi như ban đầu đã định trước của mình. Chạy thêm vài giờ nữa thì đằng trước hiện lên một chiếc thuyền đánh cá treo cờ VC (cờ đỏ sao vàng), bên hông tàu thấy hai chữ Kiên Giang, giây phút trọng đại, mọi người như nín thở, từ thuyền bên kia phát loa yêu cầu thuyền chúng tôi ngừng lại để cho họ kiểm soát. Không thể để bị bắt, rồi phải ngồi tù, tài sản bị mất sạch, nên thuyền chúng tôi quyết định mở hết tốc lực. Một loạt đạn AK nổ dòn bắn về phía chúng tôi, tài công lúc đó là anh Hai Liêm của tôi bị thương ở cánh tay, Mẹ bị thương ở bả vai, ông Ngoại bị thương nhẹ ở đầu. Thuyền bắt buộc phải ngừng lại. Tất cả bàng hoàng chờ đợi những gì xấu nhất sắp xảy ra. Thuyền Kiên Giang là thuyền đánh cá nhưng có cán bộ VC, công an mang theo súng, bọn chúng bước qua thuyền chúng tôi lục soát từng người một kể cả những em bé 3, 4 tuổi, tịch thu một số vàng và tiền bạc (đô la) mà mọi người mang theo, chúng lấy một máy lớn của thuyền chúng tôi và dọa sẽ đưa trở lại vào bờ giao cho công an địa phương xử lý. Ông ngoại tôi là người lớn tuổi nhất trong thuyền, ôm vết thương còn chảy máu trên đầu loang xuống mặt, cố gắng năn nỉ giải thích: “Các anh cho chúng tôi đi, nếu đưa chúng tôi trở lại bờ Việt Nam thì các anh chẳng có lợi gì cả, chúng tôi bị tù tội, tiền, vàng của các anh vừa tịch thu thì cũng phải giao nạp cho công an thôi”. 
    Sau đó bọn họ cho chúng tôi đi, và chỉ hướng cho tàu chạy. Còn lại một máy nhỏ, thuyền tiếp tục chạy một cách nặng nhọc, chậm chạp lướt sóng tiến về vùng biển Thái Lan. Chạy được một giờ đồng hồ nữa thấy có một chiếc thuyền giống thuyền đánh cá xuất hiện, khi chiếc thuyền này tiến lại gần không thấy treo cờ nước nào cả, nhưng dấu hiệu trên mạn thuyền được bôi lem, chạy với tốc độ nhanh rồi quay đầu chận ngang thuyền chúng tôi. Đã trải qua nhiều hiểm nguy, lần này tôi hồi hộp và lo sợ, tất cả như nín thở, những đứa nhỏ cũng biết được những gì quan trọng sắp xảy ra nên chúng ngồi thu mình vào thành ghe im re trông thật tội nghiệp. Tất cả không một tiếng động. 
    Tiếng nói ở thuyền bên kia là một tiếng lạ không ai hiểu gì, lúc đó cha Liêm là người biết tiếng Anh nói xin họ giúp đỡ. Toán người kia như không nghe biết, với cử chỉ hung hăng dữ tợn, cặp vào thuyền chúng tôi la hét lục soát từng người một. Một lần nữa vơ vét sạch những gì tàu Kiên Giang VC vơ vét còn sót lại. Thấy kết quả lục soát chúng chẳng được là bao, chúng đi tìm từng bộ mặt một, nhất là nhìn chằm chằm vào những người đàn bà con gái. Mẹ tôi còn trẻ đẹp nhưng vừa bị thương mất máu co ro, mặt mày tái mét nên chúng bỏ qua không để ý tới. Chúng đến gần tôi và chị H, bạn gái của anh Hai, chúng liền nắm áo chúng tôi kéo qua thuyền chúng nó. Trước cảnh dã man này mấy anh tôi không kềm hãm được nên đã có phản ứng binh vực em mình (tôi lúc đó mới được 18 tuổi, cô kia xấp xỉ tuổi tôi hoặc lớn hơn một tuổi) nên đã la ó phản đối. Mẹ tôi cúi ly xin chúng tha. Ông ngoại, cha Liêm năn nỉ nài nỉ chúng chẳng nghe. Chúng đẩy chúng tôi qua thuyền chúng. Phẫn uất trước hành động tàn bạo này, mấy anh tôi đánh trả lại chúng. Chúng rút súng lục ra uy hiếp và chế ngự mấy anh. Lúc đó chúng lôi chúng tôi xuống nhốt dưới hầm tàu tối đen. Từ đó không hay biết chi nữa những việc xảy ra bên ngoài.
    Sau khi bắt chúng tôi, chúng nổ máy cho tàu chạy, sau đó quay trở lại đâm vào thuyền chúng tôi làm vỡ thuyền, thuyền chìm, chuyện xảy ra tôi sẽ kể tiếp phần sau khi tôi gặp lại người dì ruột tại trại Song La.
    Ngồi trong hầm tàu tối đen mà lòng tan nát, tôi trấn tĩnh mình bằng lời cầu nguyện với Đức Trinh Nữ Maria, hiện ra trước mặt tôi là hình ảnh của mẹ, các anh, em tôi và ba tôi. Mẹ, các anh em tôi giờ đây trên biển cả mênh mông đã trôi dạt về đâu rồi? Đã được tàu của thế giới tự do vớt chưa? Ba tôi trong trại tù CS tại trại Tiên Lãnh, Quảng Nam Đà Nẵng, ba là sĩ quan QLVNCH ở tù 10 năm rồi tương lai sẽ ra sao đây??!! Tôi nhớ hết những người thân thương, đầu óc tôi rối bời như có trăm ngàn mũi kim nhọn đâm vào trái tim bé nhỏ của tôi tan nát. Chưa bao giờ tôi nghĩ đến hoặc tưởng tượng ra hoàn cảnh mà tôi phải gánh chịu như hôm nay. Nước mắt tràn đầy ra má mà chẳng hay biết gì, nước mắt đã làm dịu cơn khủng hoảng của tôi. Một niềm hy vọng loé lên trong đầu, chắc mẹ và các anh em của mình còn sống sẽ được tàu vớt, sẽ vượt qua nguy hiểm để đến bến bờ tự do và mình sẽ được gặp lại.
    Ở trên tàu của bọn cướp được vài hôm, chúng chuyển tôi qua tàu đánh cá thứ hai, còn chị H. thì ở lại trên tàu của chúng, chúng nói tiếng Thái với nhau tôi không hiểu một tí gì cả chỉ biết cảm nhận theo linh tính của mình, thấy tàu này chuyên lo đánh cá, chắc là họ vừa đánh cá vừa làm hải tặc ăn cướp chăng? Một tuần sau chúng lại chuyển tôi qua tàu khác, cứ thế lênh đênh trên biển cả qua ngày thứ 51, ngày này chúng chuyển qua một tàu khác nữa, người trên tàu có vẻ hung tợn dữ dằn hơn những chiếc tàu trước đây.
    Vào khoảng nửa đêm một tên đàn ông vào kéo tôi dậy, nhìn cặp mắt nó, thấy dễ sợ như muốn ăn tươi nuốt sống tôi. Người tôi run bần bật, miệng thầm đọc kinh xin ơn trên phù hộ cứu giúp. Chúng nó sờ mó và bắt cởi hết quần áo, chúng nói gì với nhau tôi không hiểu, chỉ biết kẹp hai chân cứng lại, hai tay ôm chặt lấy ngực, và nhìn vào vết thẹo nổi đỏ trên cánh tay tôi. Lúc nhỏ khoảng 2 tuổi bị tai nạn phỏng dầu làm đường đến 50% khi chữa lành vẫn còn vết thẹo luôn ửng đỏ. Không biết ai xui khiến cho tôi cứ nhìn vào vết thẹo ấy và kêu la thảm thiết. Bọn chúng nói với nhau những điều gì, tôi cảm nhận như chúng e ngại về vết thẹo của tôi là bị bệnh phong cùi gì chăng? Sau khi bàn bạc chúng đã xô tôi xuống biển không cho một vật gì có thể trôi nổi trên mặt biển. Nước lạnh làm tỉnh hẳn người, tôi đã thoát qua những bàn tay con quỷ dữ, cố gắng với hai chân để người mình nổi lên trên mặt nước (ở Cà Mau tôi sống bên sông nên bơi lội cũng khá giỏi. Trên biển giữa đêm đen, không có gì ghê rợn bằng. Tôi cố sức mình chống chọi với bao ý nghĩ bi thương, bản năng sinh tồn lại đến với tôi mãnh liệt, tôi kêu xin mẹ Maria bổn mạng hãy cứu giúp tôi. Một lần nữa hình ảnh của mẹ, anh, em và ba tôi ở trại cải tạo lại hiện ra như khuyến khích tôi hãy ra sức cố gắng chống chọi với tử thần để ráng sống may ra có người cứu vớt. Vì thế mà đã qua được 5 tiếng đồng hồ dưới biển lạnh.
    Trời đã hừng đông, một tia hy vọng đến với tôi, nhưng người càng ngày càng bị lạnh cóng, sắp sửa không chịu đựng nổi nữa rồi, thì may thay, nghe có tiếng động cơ của thuyền chạy đến. Tôi cố giơ tay lên nhưng thân hoàn toàn cóng cứng, rất may trên thuyền họ nhìn thấy, dừng thuyền lại và vớt tôi lên. Nguyện xin đây là một chiếc thuyền làm ăn lương thiện để tôi còn được sống an bình. Thật quả như lòng mong ước, tôi được những người này săn sóc tận tình, cho quần áo để mặc, cho ăn uống đàng hoàng và dùng máy vô tuyến gọi police (cảnh sát) Thái cho tàu ra đón tôi vào bờ và đưa đến trại Song La và đến trại Sikiew.
    Hằng ngày ở trại, cô đơn lạc lõng, thân gái dặm trường, hằng đêm nguyện cầu cho lòng vơi đi ít niềm đau.Mong chờ mẹ, anh em sẽ đến với mình, nhưng càng ngày càng thấy bặt tăm vô âm tín, lòng buồn rười rượi. Mỗi khi có người mới nhập trại tôi thường đến để cầu mong gặp người thân. Hôm nay bất thần tôi thấy dì Sa, em của mẹ thất thểu bước vào trại, dì cháu gặp lại nhau, nước mắt tuôn trào như mưa, và dì đã kể lại những gì xảy ra kế tiếp khi tôi bị hải tặc bắt qua tàu của chúng.
    “Sau khi bọn hải tặc bắt con và H qua tàu của chúng, vì không chịu nổi những uất ức các anh con đã phản ứng mãnh liệt đánh lại chúng nó. Nhưng chúng có súng, nên các anh con đành thúc thủ. Chúng lồng lộn lên lục soát nát bét trên tàu, bắt mọi người cởi bỏ hết quần áo chỉ cho mặc một quần lót mỏng, lấy hết những gì còn lại trên tàu, rồi rú máy cho tàu chạy. Mọi người chưa kịp hoàn hồn thì thấy tàu hải tặc quay đầu trở lại và chạy rất nhanh đâm thẳng vào hông thuyền của mình đánh rầm, thuyền vỡ làm đôi, một số người văng xuống biển. Đồ vật nặng chìm xuống nước, những vật nhẹ nổi lềnh bềnh. Trong lúc hỗn loạn, mỗi người đều bơi lội, vớ lấy can đựng dầu, đụng nước làm phao. Các anh con, Chương, Long bơi vớt những tấm ván để kết làm bè, kèm lên phần thuyền còn lại nổi trên mặt nước. Phần bè và thuyền nổi cho mẹ, dì, con của dì và Đạt, Hoài, hai em con. Ông ngoại và anh Liêm đã ra đi trong lúc thuyền bị đánh chìm vì cả hai đều bị thương.
    Trời bắt đầu sập tối, nỗi kinh hoàng xâm chiếm lòng người. Màn đêm đem đến sự sợ hãi cho mọi người trong cảnh thập tử nhất sinh, lạnh đói và khát, nhưng vẫn cố gắng bu lấy bên nhau, cùng nhau sống chết. Thấy các em con vì đói khát và lạnh, quá tội nghiệp nên Chương liều bơi, lặn xuống lòng thuyền may ra tìm được nước uống hoặc thức ăn. Nhưng đã lâu không thấy Chương trở lại, mẹ và dì kêu gào thật lâu chẳng có tiếng trả lời. Hễ người nào chịu không nổi buông tay ra là đi vĩnh viễn. Thấy những người thân lần lượt ra đi, lòng mẹ và dì tan nát nhưng biết làm sao đây hỡi trời, chỉ biết đọc kinh cầu nguyện Chúa, Mẹ cứu giúp, hộ phù. Phía bên kia có Linh mục Hồ Quang Liêm và người em Hồ Quang Lập cùng mấy người bà con của cha trong đêm đó cũng ra đi.
    Ngày thứ hai kể từ ngày đắm thuyền chỉ còn có dì, mẹ và mấy đứa nhỏ vì được ngồi trên bè, nên chống được sự lạnh cóng. Mẹ con bị thương máu ra nhiều, không ăn, không uống nên người mệt lả đi, hơi thở yếu dần, dì gọi mẹ không trả lời nổi, mẹ tức tưởi ra đi. Đạt, Hoài hai em của con ôm mẹ khóc thảm thiết, dì đứt cả ruột gan. Các cháu cứ muốn giữ mẹ lại bên cạnh không xa rời, dì khuyên nhiều lần các cháu mới chịu để mẹ con xuống lòng đại dương. Còn lại con Châu, con Xuân của dì mềm người vì đói khát lặng lẽ ra đi. Dì như người mất hồn, không còn biết gì nữa, đặt con mình xuống nước cho dòng nước trôi xuôi, đau đớn vô cùng.
    Ngày thứ ba chỉ còn lại dì, em Đạt của con, mệt quá gục trên tấm ván, bỗng nó ngồi nhổm dậy nói: “Để con lấy nước cho dì, con thấy có dòng suối trong xanh, nước ngọt lắm dì ơi!” Nó định bước xuống nước để đi. Dì cầm tay nó kéo lại: Con ơi, không có đâu, đó chỉ là ảo ảnh mà thôi, con ngồi xuống đây đọc kinh với với dì xin ngài ban phước. Sau khi kinh nguyện, yên tĩnh được một lúc, nó lại kêu lên khát nước quá dì ơi con chịu hết nổi rồi. Dì nói trong vô thức hay con uống đại một hớp nước biển xem có chống chọi được không? Sau khi uống một miếng nước vào bụng, tức thì cháu ôm bụng rên la khủng khiếp, nước bọt trào ra nơi miệng, nước bọt giống như bọt xà phòng trào ra, trào ra, cháu lịm người dần và nằm bất động, người cuối cùng ở bên cạnh dì cũng ra đi.
    Còn lại một mình đang nằm chờ chết dưới ánh nắng như thiêu như đốt bỗng thấy có đám mây đen kéo đến, trời đột nhiên dịu xuống, một vài giọt mưa rơi trên mặt dì, dì liếm từng giọt nước, nhưng người dì đã kiệt sức không còn hay biết gì nữa cả. Khi tỉnh dậy thì thấy mình đang nằm trên thuyền đánh cá của người Thái Lan. Theo tàu họ trên biển, 15 ngày sau thì được đưa vào trại Batani, qua trại Song La và dì gặp con tại đây.
    Ôi! Những biến cố đó trong đời  làm tôi điên dại, sống dưới ánh nắng mặt trời mà như trong hang âm u. Tôi đã mất mẹ, mất anh, mất em, mất ông ngoại, cậu, cháu và những người thân yêu, 18 người đã chết tức tưởi, bỏ mình trên biển cả... Đó là tất cả NỖI BẤT HẠNH CỦA ĐỜI TÔI.
    Mẹ ơi! Sao mẹ nỡ xa lìa con, xa lìa ba, ba đã chịu bao nhiêu điều cay đắng tủi nhục trong ngục tù Cộng Sản. Các anh ơi! Các em ơi! Tất cả đã xa lìa tôi, vĩnh viễn ly biệt tôi một cách tức tưởi: Khổ đau tột đỉnh, hận thành non cao, biển xa sóng lớn dạt dào, nhớ anh, em, mẹ có ngày nào nguôi.
    Thùy Nhiên 
    Viết từ Úc Châu
    *Viết để kính dâng linh hồn mẹ Phạm Thị Khanh, Ông ngoại Phạm Văn Đình, Cậu Phạm Văn Tiếng, các Anh: Nguyễn Bá Liêm, Nguyễn Bá Chương, Nguyễn Bá Long, các em, Nguyễn Bá Phú,Nguyễn Bá Đạt, Nguyễn Bá Hoài, Chú Nguyễn Văn Dậu, các em con dì: Nguyễn thị Minh Châu, Nguyễn thị Minh Xuân, Nguyễn Minh Toàn và Linh mục Hồ Quang Liêm, chú Hồ Quang Lập và các anh bà con với cha Liêm mà tôi không nhớ tên.
    *Viết cho Ba là Nguyễn Bá Quang. Ba và con cùng chịu NỖI BẤT HẠNH trên cuộc đời này.
    *Người dì trong câu chuyện đang ở cùng tiểu bang với BH 
    Thùy Nhiên 

Viết Về Một Số Các Bạn Tôi Ở Delta Ngày Đầu


  • Image en ligne

    Trại Delta được thành lập giữa năm 1964. Nhiệm vụ của trại là huấn luyện và cung cấp cho Khu Cấm các Toán Biệt Kích để hành quân viễn thám trên bắc vĩ tuyến 17 và đường mòn Hồ chí Minh. Doanh trại nằm trong phi trường Nha Trang. Khu Cấm là một bộ phận của trại và các kế hoạch hành quân của khu Cấm trực thuộc Sở Kỹ Thuật Bộ Tổng Tham Mưu. Khu Cấm đã từng có biệt danh là trại Đằng Vân.
    Tháng 9-1964 tôi từ bộ chỉ huy LLĐB Vùng 4 được thuyên chuyển về chỉ huy trại LLĐB/Delta.
    Thời sự nóng bỏng ở đây là 2 toán Biệt Kích vừa bị tổn thất nặng khi đi hành quân. Chúng tôi tức thì đúc kết các lỗi lầm của 2 Toán và của ban điều hành trại để phổ biến cho các Toán Hành Quân khác và để sửa lại cách huấn luyện.
    Cuối năm 1964 hoạt động ở Khu Cấm thưa dần. Hàng rào kẽm gai xiêu vẹo, cỏ bắt đầu mọc, cổng ra vô cửa đóng then cài. Cảnh thê lương của khu Cấm khiến tôi chạnh nhớ đến các bạn trong 2 Toán ra đi lần chót ấy. Thiếu úy Đặng ngọc Khiết, thượng sĩ 1 Nguyễn văn Pháo và một số các bạn khác đã không về. Thiếu úy Khiết đến LLĐB thẳng từ trường Võ Bị Quốc Gia cùng với 32 thiếu úy tân khoa. Đại úy Mã sanh Nhơn thuộc Bộ Tư Lệnh LLĐB đến tuyển các anh khi các anh đang chuẩn bị mãn khóa 17 sĩ quan Đà Lạt sau 3 năm học. Vào Delta không lâu, anh có mặt trong Toán hành quân này. Thao trường mồ hôi anh đổ nhiều, nhưng chiến trường kinh nghiệm thực tiễn anh chưa đủ. Anh đi và không về.
    Thượng sĩ Pháo là hạ sĩ quan sáng giá của Liên Đoàn 77. Năm 1962 trong chương trình Lôi Vũ phụ tá cho toán trưởng Cẩm ngọc Huân chuẩn bị xâm nhập Boloven, Hạ Lào. Gần giờ chót, thượng sĩ Lưỡng có điều kiện thích ứng hơn, đã thay thế anh. Khi di chuyển đến gần tỉnh Attopeu, Toán gặp một đơn vị Pathet Lào mặc quân phục Hoàng Gia Lào. Khi các cán bộ cố vấn Cộng Sản Bắc Việt, là những người chỉ huy đơn vị Pathet Lào này ra mặt, Toán mới biết là mình đã nhìn bạn lầm. Sau 2 ngày bị lọt vào tay địch, Toán dùng mưu mẹo đào thoát được. Toán đã khôn ngoan dụ địch đến bải thả để nhận tái tiếp tế. Địch không ngờ bức điện Toán gửi xin thả tiếp tế đó chính là bản mật mã để máy bay Hoàng Gia Lào đến oanh kích chúng khi chúng đang tập trung gần bãi, tạo cơ hội thuận tiện cho cả Toán đào thoát. Khi tháo chạy, một toán viên bị nhiều tên địch vây bắt, anh đã anh dũng tự sát để khỏi lọt vào tay chúng lần thứ hai. Khi gặp lại thượng sĩ Lưỡng, thượng sĩ Pháo nói: ”Tôi có số hên được anh Lưỡng đi hành quân thay thế. Vận hên của tôi lan sang anh Lưỡng, nên anh Lưỡng dù bị địch bắt mà vẫn về được…” Lần này anh Pháo rời Khu Cấm, vận hên không đến với anh. Anh đi và không về.
    Trong số rất ít người về có thượng sĩ 1 Trà văn He và trung sĩ 1 Nguyễn văn Đóa. 2 anh là HSQ lâu năm nhiều kinh nghiệm của Liên Đoàn 77. Sau này 2 anh được các Toán Hành Quân nhắc đến như các bậc lão thành của LLĐB về mưu sinh và thoát hiểm.
    Từ năm 1965 các đơn vị bộ binh Hoa Kỳ và đồng minh ào ạt đổ quân vào Việt Nam.Delta hướng các cuộc hành quân viễn thám vào việc yểm trợ các đơn vị bạn. Cuộc hành quân tại Bình Giả và núi Thị Vải vùng Phước Tuy ghi nhận sự thành công ngoạn mục về kỹ thuật bắt tù binh bằng trực thăng của các toán Delta. Trực thăng chở quân bay ở cao độ bình thường, bất thần hạ thấp. 3 anh Delta lao ra vây bắt 2 tên địch đang run sợ kinh hoàng, hai tay đang lập cập ôm ghì súng cá nhân. Trong một loạt hành quân kể trên để yểm trợ quân đội Hoàng Gia Úc, chúng tôi chịu cảnh đau thương để trả giá cho kỹ thuật táo bạo này: Hạ sĩ Triệu vĩnh viễn giã từ đồng đội.
    Sau nhiều chiến thắng vẻ vang, tinh thần đồng đội của Delta phát huy mau chóng. Sau này tình cờ tôi đọc được một bài báo của ký giả Phan Nghị trên nhựt báo Chính Luận. Phan Nghị thăm một tiền đồn biên phòng. Tại đây ông được Thượng sĩ Nguyễn văn Liếp thổ lộ tình cảm quyến luyến giữa các đồng đội Delta, đoạn nhờ anh Phan Nghị nhắn tin cho người bạn Delta... đã chết, là hạ sĩ 1 Nam Sách. Cảm động về tình khắn khít trong các Toán Delta, ký giả Phan Nghị đã viết một bài báo đặc biệt.
    Delta có những anh, một khi ta đã gặp, rất khó quên. Điển hình là Nguyễn bỉnh Quang, Nguyễn văn Tùng, Hồ văn Nhựt, Phan văn Cảnh, Nguyễn thanh Phong, Tống văn Hầu, Trần khắc Nghiêm, Nguyễn Nghi, Huỳnh thuận Nhã, Nguyễn văn Biên.
    Anh Quang xuất thân khóa 17 Đà Lạt. Về đây anh nổi danh là người bất cần đời. Từ trong Khu Cấm anh đào hào ngầm qua hàng rào kẽm gai, vượt trại ra phố đi giang hồ suốt đêm. Về sau anh trở thành toán trưởng gương mẫu xuất sắc. Năm 1975 anh không đi trình diện ủy ban Quân Quản Việt Cộng. Anh sống lẫn trốn ở Sàigòn cho đến ngày anh có được một thông hành hợp pháp để xuất ngoại. Hiện anh đang ở Pháp.
    Anh Tùng ít ai quên được sự điềm đạm chính chắn của anh. Do đức tính này khi rời Delta anh được chọn làm đại đội trưởng Đại Đội 4 Biệt Cách Dù. Tại Nha Trang hồi Mậu Thân, cùng với tiểu đoàn trưởng 91 BCD thiếu tá Lê như Tú, anh đã dũng cảm nằm xuống để mang lại chiến thắng vẻ vang cho Lực Lượng Đặc Biệt.
    Anh Nhựt, với giọng hát trầm hùng thiên phú, đời sống tình cảm của anh thiệt tràn đầy. Anh là toán trưởng luôn hết mình với anh em. Hết nhiệm kỳ ở Delta anh đi làm trại trưởng Sông Bé. Anh dũng cảm hy sinh tại đấy.
    Anh Cảnh là hạ sĩ quan có biệt tài chỉ huy. Do năng khiếu này anh được chỉ định làm Toán trưởng. Năm 1965 Quân Đội áp dụng triệt để Bảng Cấp Số, theo đó giới chức được mang cấp bậc theo đúng như Bảng Cấp Số ấn định. Trung sĩ 1 Phan văn Cảnh, là Toán trưởng Biệt Kích được mang cấp thiếu úy nhiệm chức. Sau nhiều tháng làm việc và đeo cấp bậc mới này, một ngày đẹp trời thiếu úy Cảnh nhận được nghị định Bộ Quốc Phòng vinh thăng chuẩn úy nhiệm chức!!! Thay vì buồn rầu vì bị bất ngờ xuống cấp, chuẩn úy Cảnh khao anh em một tiệc linh đình, vì từ nay anh đã có lương, không còn đeo lon “chùa” như trước nữa.
    Việc thăng cấp nhiệm chức cũng là đề tài sôi động trong nhóm Không quân thuộc phi đoàn trực thăng đang biệt phái cho trại chúng tôi. Các thiếu úy phi công Trưởng trực thăng dưới quyền thiếu úy Hồ bảo Định, trưởng đoàn biệt phái, được đồng loạt cùng lúc thăng cấp đại úy nhiệm chức. Mọi người vui mừng nhưng đồng thời rất đỗi ngạc nhiên vì tên của thiếu úy Hồ bảo Định không thấy có trong nghị định thăng cấp! Lý do là khi làm đề nghị thăng cấp, bộ Tư Lệnh Không Quân, muốn cho chắc ăn, đã xếp lộn thiếu úy Định vào một chức vụ cao hơn phi công Trưởng trực thăng. Nhưng chức vụ này chưa có trong Bảng Cấp Số. Việc này xảy ra khi Delta đang hành quân tại Bình Giả. Báo hại cho Bộ Chỉ Huy Hành Quân, chúng tôi phải dời một phi vụ lại đến 45 phút để lấy tàu khác thay thế. Thiếu úy Định dự trù bay với tôi, nhưng ông bị đau đầu vì cú sốc quá mạnh.
    Anh Phong, anh Hầu rời Delta mỗi người một ngã. Phong đi nắm đại đội Biệt kích, Hầu lên trại biên phòng Bù Đốp. 2 anh đều từ biệt bạn bè tại chiến trường. Người thay thế Hầu làm toán trưởng Toán 6 là Phan văn Ninh. Ninh nằm trong số 32 thiếu úy vừa mãn khóa 17 SQ Đalat là đến LLĐB ngay.
    Năm 1977 tôi tình cờ gặp lại Ninh ở trại cải tạo Hoàng Liên Sơn trong trường hợp khá đặc biệt. Tôi làm phụ thợ rèn cho Hồ bảo Định (Phi công trực thăng nói ở trên). Chúng tôi được lệnh làm gấp 2 bộ cùm cho nhà giam mới làm ở vách núi. Ráp xong trời đổ mưa. Nhìn ra ngoài tôi thấy mấy tên cán bộ cai tù cầm đèn đi tới. Chúng áp giải vào nhà giam 2 người quần áo ướt sũng, hai tay bị trói sau lưng. Dưới ánh đèn mờ mờ tôi nhận ra được một trong hai anh là trung úy Răng thuộc Thiết Đoàn 1 Kỵ Binh, Sư Đoàn 5, bạn đồng tù với tôi ở Quân Quản Bình Dương ngày đầu Cộng sản về. Còn người kia tôi thấy ngờ ngợ rất quen mà không nhận được là ai. Hôm sau đến nhà giam sửa lại cùm, tôi sững sờ nhận ra đó là Phan văn Ninh, bạn cũ ở Delta.
    Chúng dẫn các anh từ trại khác tới. Lý do: các anh trốn trại, khi bị bắt còn “ngoan cố đoạt dao của đồng bào để tấn công các đồng chí công an...” Tháng 2 năm 1988 Ninh được tha, cuối năm 1988 anh vượt biên. Anh hiện định cư tại Canada.
    Các anh Nguyễn văn Biên, Nguyễn Nghi, Huỳnh thuận Nhã là những người rất nhiệt tình. Công việc chính của các anh là ở Ban Điều Hành, nhưng các anh thường có mặt với các Toán. Rất tận tâm, làm việc bền bỉ, trên môi luôn có nụ cười. Tính tình vui nhộn, nơi nào có mặt các anh, không khí bỗng trở nên tưng bừng sinh động. Các anh lần lượt ra khỏi Delta và đã lần lượt qua đời.Biên mất tại trại biên phòng Vùng 4 do một Biệt Kích quân “bắn lạc”. Nghi mất tại Nha Trang khi cùng tiểu đoàn 91 BCD tham chiến hồi Mậu Thân. Nhã sang Không Quân cùng với nhóm anh Tòng, anh Xướng hồi tướng Kỳ làm thủ tướng. Nhớ lại các anh những người mà ông đã thả hoặc đã cộng tác với ông hồi ông bay cho Lôi Vũ. Ông gọi các anh sang Không Quân. Năm 1975 Nhã mất khi di tản Ban Mê Thuột.
    Trong Ban Điều Hành, Trần Khắc Nghiêm gây nhiều ấn tượng nhất. Anh ra trường khóa 18 Võ Bị Quốc Gia. Thông minh, lanh trí, năng động, rất tinh nghịch, đặc biệt có nhiều sáng kiến độc đáo. Trong chương trình Lôi Vũ mà anh tham dự ngay từ ngày đầu, anh gợi ý thành lập các Toán Beo Gấm. Liên toán Beo Gấm quy tụ các quân nhân tinh thần kỹ luật không mấy cao, nôm na là các binh sĩ ba gai. Hai chữ Ba Gai viết tắt là B.G. mà B.G. cũng là chữ viết tắt của Beo Gấm. Toán viên nào phạm kỷ luật bị chuyển vào Beo Gấm bỗng cảm thấy hãnh diện được mang danh loài mảnh thú sơn lâm này. Việc này có tác động tâm lý rất thuận lợi. Thực vậy, liên toán Beo Gấm hoàn thành nhiều công tác một cách xuất sắc. Hồi ở Bộ Chỉ Huy LLĐB Vùng 4 tại Cần Thơ, Nghiêm và tôi làm việc chung rất ăn ý nhau. Tướng Lam Sơn đến thăm Vùng 4 là lúc tôi có lệnh thuyên chuyển về Delta. Tôi đề nghị có anh được về cùng. Một tuần sau tướng Lam Sơn chấp thuận. Sau một thời gian làm việc chung tại Delta, chúng tôi chia tay nhau. Anh đi trại Trảng Sụp (Tây Ninh), tôi về BCH LLĐB Vùng 3, rồi đi Hoa Kỳ. Chỉ đến năm 1981 tôi mới có dịp gặp lại anh. Hồi đó tôi đang ở tù Cộng Sản, tôi được chuyển đến chung trại cải tạo với anh ở Hà Tây. Anh vẫn chì như xưa. Những năm trong tù anh vẫn dùng lý lịch giả. Anh vẫn bình thường nghĩ đến vợ con mà theo anh, họ đang yên ổn ở Mỹ sau chuyến vượt biên an toàn. Qua thư từ thân nhân, anh vẫn có tin vợ, có hình nữa. Nhưng thư do chính tay vợ anh viết thì không có, và hình thì đã cũ, chụp trước ngày anh vô tù. Người vợ hiền của anh đã qua đời từ lâu mà anh không biết. Chị đã mất trong chuyến vượt biên. Gia đình anh vẫn giấu anh tin đau thương ấy trong nhiều năm. Ra tù một thời gian anh đến Mỹ, sống lặng lẽ, ít tiếp xúc với ai, râu trắng mọc dài ngang ngực.

    Tháng 7, Montreal 1996
    Image en ligne
    Mặc Khách

Hà tiện

  • Bạn tôi có tính hà tiện. Có lẽ vì thế anh trở nên người giàu có. Không phải người nào hà tiện cũng giàu. Nhưng muốn giàu phải là người hà tiện mới giàu được. Các bạn khác của tôi, rộng rãi, hào phóng, ăn tiêu xả giàn, tiền kiếm được bao nhiêu tiêu đến đó, không những thế, sẵn sàng hy sinh, tiêu tiền hộ cho bạn mình. Những người tốt lành như thế, lại không được ông trời hậu đãi, anh nào cũng nghèo rớt mồng tơi. Quả thật nói trời không có mắt, đúng như vậy thật!
    Hồi mới sang Mỹ, tôi và anh bạn có máu hà tiện này cùng ở một tiểu bang vùng Midwest. Hồi đó xăng rẻ như nước lã, vài chục xu một gallon. Nhưng anh bạn tôi không bao giờ đổ xăng gần nhà, anh chịu khó chạy tới cây xăng khác cách xa vài dặm, chỉ để tiết kiệm được một hai xu. Nhưng anh sung sướng lắm, một xu cũng không cho chúng nó lấy lời, xu nào hay xu đó! Anh mua báo không phải để đọc tin tức gì. Nhưng chỉ để cắt các coupons trong báo để ra chợ mua đồ được bớt tiền! Anh trở thành chuyên gia về coupons, ra supermarket là xách một bị đầy coupons, người nào đứng sau ở quầy trả tiền phải đợi anh moi hết coupon này đến coupon khác, ai cũng phải lắc đầu!
    Có lần đến nhà anh bạn thăm vào mùa đông, thấy chị vợ ra đón khách, tay xách kè kè máy sưởi điện nhỏ. Hỏi anh, anh bảo:
    - Bà này chịu lạnh dở, tôi ít để sưởi cho đỡ tốn, nên bà ấy lúc nào cũng phải xách máy sưởi theo. Tôi bảo bà ấy mặc nhiều áo vào mà không chịu! Tốn tiền quá!
    Sau đó ít lâu nghe tin chị vợ anh bạn phải vào nhà thương vì sưng phổi. Không lạ gì! Vì trời mùa đông tuyết phủ lạnh cóng, anh bạn vẫn không chịu để máy sưởi! Và cũng không ai ngạc nhiên khi mấy năm sau, nghe tin hai vợ chồng ly dị, bà vợ anh về vùng Cali nắng ấm, lập lại cuộc đời với một anh khác, ít hà tiện hơn, máy sưởi, máy lạnh chạy rì rì, không bao giờ để vợ phải than lạnh, than nóng!
    Anh bạn hà tiện của tôi cũng dọn về Cali, đi làm địa ốc, kiếm tiền rả rích. Anh quyết định ở vậy nuôi con, không lấy vợ khác. Không biết anh có sáng mắt ra không vì chuyện vợ bỏ chỉ vì tính hà tiện. Nhưng anh vẫn tuyên bố: "Lấy vợ làm gì nữa! Chỉ tổ tốn tiền! Rồi ly dị lại đòi chia đôi! Chả dại!" Anh càng ngày càng giàu. Nhưng vẫn độc thân tại chỗ! Lẽ sống cuộc đời của anh là mỗi tháng xem giấy nhà băng gửi về, xem tiền để dành bây giờ lên bao nhiêu. Thế là sướng rồi! Cần gì hơn nữa!
    Lâu ngày không gặp anh bạn,một hôm nhận được giấy mời ăn cưới thằng con trai của anh. Có vẻ sang trọng lắm! Hotel loại 5 sao, gửi cả thực đơn thấy hấp dẫn, ăn nhiều courses, tốn tiền bằng thích. Ban nhạc giúp vui với ca sĩ nổi tiếng cho buổi cưới. Ai cũng ngạc nhiên vì biết tính anh hà tiện, tưởng anh tổ chức đám cưới cho con ở McDonalds, cho ăn hamburger, uống Coca là quý lắm rồi! Ai dè anh chịu tốn tiền làm đám cưới linh đình cho thằng con trai như vậy! Không ai hiểu tại sao! Nhưng đoán là nhà gái đòi phải làm đám cưới sang, tốn tiền. Và anh bạn thương con, nên cắn răng gạt lệ để chịu chi tiền như vậy. Thiệp mời gửi rất sớm, cho buổi cưới phải gần 2 tháng sau. Ai cũng nôn nao để chờ đám cưới, xem cô con dâu anh như thế nào mà anh bạn hà tiện phải chịu nhẫn nhịn như vậy!
    Rồi đùng một cái! Hai tuần trước ngày đám cưới, mọi người nhận được một thiệp mời mới.Xem kỹ, thiệp mời giống hệt thiệp nhận được khi trước. Chỉ khác một điểm nhỏ. Là tên của chú rể con trai anh bây giờ đã được thay vào bằng chính tên anh bạn! Có nghĩa đám cưới này là đám cưới của chính anh, lấy vợ chưa cưới của con anh. Hay nói cách khác, thằng con trai anh đã nhường cho anh, bán tháo cho anh, lấy vợ hộ cho nó!
    Gọi điện thoại hỏi, anh bạn tỉnh queo:
    - Có sao đâu! Nó không chịu cưới, thì tôi lấy làm vợ cho chính tôi! Chuyện nhỏ mà!
    Gặng hỏi, anh bạn sau cùng mới thổ lộ:
    - Còn có mấy tuần là đám cưới mà thằng con trai tôi mới chịu nói là nó mê một con khác. Rồi nó nói với tôi là chính con dâu hụt của tôi tâm sự với nó là cô này lại ưng tôi! Thế mới lạ chứ!
    Anh chép miệng:
    - Làm sao được! Tôi đã định không bao giờ lấy ai nữa! Mà hai đứa chúng nó đưa mình vào cảnh khó xử như vậy. Rồi tôi mới nghĩ ra. Là tốn bao nhiêu tiền rồi, mấy chục ngàn đô la phải trả trước cho hotel, deposit cho bữa ăn, cho ban nhạc, ca sĩ, hoa hoét, trưng bày. Không làm đám cưới là nước lã ra sông, mất tiền nhiều quá, đau lắm! Mà cô con dâu hụt này cũng được lắm! Lại nói ra là chịu mình! Thôi đành vậy! Thằng con trai không lấy, thì mình lấy làm vợ vậy! Cho khỏi mất tiền. Phí của trời! Tội chết! 

    Nguyễn Đình Phùng 

  • Người đàn ông làm cho máy bay trở nên “vô hình”: Denys Overholser qua đời ở tuổi 86
    Denys Overholser (1939-2026)- một kỹ sư cơ khí nổi tiếng đã thay đổi cách chế tạo máy bay quân sự, mới qua đời ở tuổi 86.
    Ông làm việc cho một bộ phận bí mật của công ty Lockheed có tên là “Skunk Works”.
    Ông nổi tiếng nhất vì đã đưa ra các tính toán và thiết kế dùng để tạo ra chiếc F-117 Nighthawk, chiếc máy bay “tàng hình” đầu tiên trên thế giới.
    Chiếc máy bay này đặc biệt vì nó có thể bay vào lãnh thổ đối phương mà không bị radar phát hiện.
    Trước phát minh của Overholser, hầu hết mọi người đều cho rằng việc che giấu một chiếc máy bay phản lực lớn khỏi radar là điều không thể.
    Ông đã khám phá ra rằng bằng
    cách chế tạo máy bay với các bề mặt phẳng, nghiêng thay vì tròn, sóng radar sẽ bị phản xạ lệch ra nhiều hướng khác nhau.
    Điều này khiến chiếc máy bay trên màn hình radar trông nhỏ chỉ như một con chim.
    Ý tưởng của ông thành công đến mức ngày nay vẫn còn được sử dụng để chế tạo các máy bay chiến đấu hiện đại như F-22 và F-35.
    Mặc dù công trình của ông đã được giữ bí mật tuyệt đối trong một thời gian dài, ngày nay Overholser được nhớ đến như một người hùng trong ngành hàng không.
    Các đồng nghiệp gọi ông là một thiên tài đã giải quyết một trong những vấn đề khó khăn nhất trong lịch sử hàng không.
    Ngoài việc là một kỹ sư xuất sắc, ông còn là một vận động viên tài năng và được vinh danh trong National Wrestling Hall of Fame (Đại sảnh Danh vọng Đấu vật Quốc gia).
    Công trình của ông thực sự đã giúp các phi công an toàn hơn khi thực hiện những nhiệm vụ nguy hiểm...
    • (Phan Thế Nghĩa lược dịch từ
    Historic Bytes).

    Inline image
Úc "sát phạt" thẻ xanh- Giấc mơ 30 năm tan thành mây khói- May 5, 2026


  •  

    Phạm Đình Tiến 

    Úc "sát phạt" thẻ xanh và quốc tịch: Giấc mơ 30 năm tan thành mây khói – Cái kết đắng cho những lời nói dối!

     

    Đừng tưởng có th xanh (PR) hay đã nhp tch là đã nm trong tay "kim bài min t". Đầu năm 2026, làn sóng trc xut cÚđang quét qua cng đồng người Vit vi mt tđộ kinh hoàng, không kém gì nhng chuyến bay trc xut "đặc sn" ca M. Mt cuc thanh trng âm thm nhưng tàn khđang din ra!

     

    image001.pngNhững bản án "hồi hương" không có ngày trở lại

     

    Câu chuyn ca T. Nguy mt ngườđịnh cư ti Melbourne t năm 1995 là mt hi chuông cnh tnh. Dù đã có v con và cơ ngơđịnh sut 30 năm, nhưng ch vì dính vào mt v dàn xếp "trng c" (cn sa) và b kếán 14 tháng tù, cuđời T. đã r sang hướng khác.

     

    Ngày mãn hn tù, thay vì được v nhà ăn ba cơđoàn viên, T. b lc lượng Border Force (ABF) áp gii thng t phòng giam ra xe chuyên dng. Tiếng khóc xé lòng cđứa con thơ ti sân bay cũng không th lay chuyđược lnh trc xuđã đóng du "Final". Mt hành trình gn nđời người ti x s chut túi kết thúc bng mt chuyến bay mt chiu v Tân Sơn Nht vi hai bàn tay trng. Lý do? Anh ta chưa bao gi nhp quc tch Úc.

     

    image002.png Luật mục 501 – "Lưỡi hái tử thần" cho người có thẻ xanh

    Úc không ào như M, h trc xut da trên Mc 501 cĐạo lut Di trú  mt th vũ khí sc béđể "quét sch" cư dân không xng đáng:

    Án tù 12 tháng = Vé máy bay mt chiu: Bt k bn phm ti gì (t trm cp, bo lc gia đình đến ma túy), ch cn tng hình pht cng dn t 12 tháng tr lên, visa thường trú s b hy t động.

    Bài kim tra tư cách (Character Test): B Di trú có quyn trc xut nếu h tin rng bn "không có nhân cách tt" da trên lch s phm ti, mà không cn ch bn phm ti mi.

     

    image003.png Nhập tịch rồi vẫn bị tước quyền cư trú: Cú sốc "song tịch"

    Sai lm ln nht ca nhiu người là nghĩ rng có quc tch là xong. Năm 2026, Úđã mnh tay hơn bao gi hết vi các trường hp:

    Gian di di trú: Nếu b phát hin tng khai man v bng cp, kinh nghim hođặc bit là kết hôn gi để có th xanh t 10-15 năm trước, h vn có quyn hi t, hy quc tch và tng xut.

    Cái by song tch: Nhng người gi c hai quc tch (Úc và Vit Nam) là đối tượng d b tn thương nht. Theo lut, Úc có th tước quc tch Úc ca người phm ti nng nếu viđó không khiến h tr thành người không quc tch.

     

    image004.png Những phát ngôn thép từ giới chức Úc

    Đại din lc lượng Biên phòng Úc (ABF) tng tuyên b đanh thép:

    "Cư trú tÚc là mđặc quyn, không phi là quyđương nhiên. Nếu bđếđây và làm hi cng đồng ca chúng tôi, bđã t hy b quyđượ li ca chính mình."

    Trong mt phiên hp an ninh gđây, mt chính tr gia thuđảng bo th đã nhn mnh:

    "Chúng tôi không có nghĩa v phi nuôi dưỡng nhng ti phm ngoi quc. Quc tch là mt cam kết v s trung thc. Nếu bn bđầu hành trình bng mt li nói di, chúng tôi s chm dt nó bt c lúc nào."

     

    image005.png Góc khuất: Khi sự chủ quan trả giá bằng cả tương lai

    Ti sao nhiu người vn "lưỡng l" không nhp tch để ri mt trng?

    Ch quan: Nghĩ rng sng lâu, đóng thuế đầđủ thì chính ph s "n tình".

    Lích kinh tế: Mun gi quc tch Vit Nam để d b mua đất, đầu tư bđộng sn ti quê nhà mà không biết rng tm h chiếu th hai đó chính là "chiếc vé kh hi" mà Úc s dùng để đui bđi nhanh hơn.

    Cnh báo: Vi tha thun dđộ và trc xut mi nht giÚc và Vit Nam có hiu lc t gia năm 2026, quy trình "bàn giao" người s din ra nhanh gn ch trong vài tun.

     

    Chuyển hướng sang "Quốc gia thứ ba"

    Mt thông tin gây tranh lun ln tÚc vàđầu năm 2026 là vic Chính ph bđầáp dng cơ chế chuyn người không có quc tch (bao gm c người t nn không đủ điu kin) sang đảo Nauru.

    Mc dù chưa có báo cáo c th v s lượng người Vit trong cáđợt chuyn sang Nauru này, nhưng chính sách này cho thÚđang cc k cng rn: Nếu không th trc xut v nước bn x vì lý do pháp lý, h có th đưđối tượng đó sang mt quc gia th ba để ch x lý.

     

    image006.png Góc tranh luận nảy lửa:

    Vic trc xut mt ngườđã định cư 30 năm, không còn người thâ Vit Nam là s công bng ca pháp lut hay là hành động thiếu nhân văn?

    Gia mt bên là "tình" và mt bên là "lý", bđứng v phía nào khi thy nhng gia đình Vit kiu b chia ct vĩnh vin vì nhng li lm trong quá kh?

    image007.png

    Để lại bình luận bên dưới và chia sẻ ngay để thức tỉnh những ai còn đang "ngủ quên" trên tấm thẻ xanh của mình!

    #ditruuc #trucxuatvietkieu #thexanhuc #luatditru2026 #vietkieuuc #PhạmĐìnhTiến #congdongnguoiviet #nhaptichuc




    ĐỜI SỐNG MỘT DÂN THƯỜNG SAU 75
    • Khi lấy thời điểm 75 làm mốc mà dùng từ "dân thường" tức là không có "làm Việt Cộng" mà cũng chẳng "theo Quốc Gia".
      Gia đình tôi sống cạnh Ty Cảnh Sát. Hàng xóm đa số là viên chức hành chánh "tối lửa, tắt đèn" có nhau.
      Ngày Mỹ rút khỏi Miền Nam,tôi nghĩ là họ đã biết trước. Những người hàng xóm của cha mẹ tôi chuẩn bị di tản. Họ bán đi những vật dụng có giá trị mà họ không thể mang theo. Cả xóm tôi "âm thầm" bán. Cha tôi mua tất cả những món đồ của họ bán. Gia đình tôi không có ý định di tản, ai cũng nghĩ cha tiếc của, đến sau này tôi biết, cha không đi vì bà Nội sắp trăm tuổi già.
      Cha rất hiếu thảo với bà, từ nhỏ đến giờ tôi đã quen cảnh cha nhất định giặt đồ cho bà nội, tự tay rót nước cho bà không để các con làm.
      Thời gian ấy, nhà tôi thật nhộn nhịp, người ra kẻ vào. Tôi quen các cô các chú đó hết. Họ cho tôi vài món đồ mà họ không thể mang đi nhưng họ rất quý: một cuốn sách, một cái cặp, cây bút máy... Có chú đưa tôi một túi đồ nặng nặng không biết là gì, tôi không mở ra xem về sau tôi cũng quên luôn.
      Những người đó đi luôn không trở lại, tôi nghe loáng thoáng trong số họ có người ra đến sông Cái giựt chốt lựu đạn tự sát. Phía sau Ty Cảnh Sát người ta đốt những chồng giấy cao và nặng, đốt mấy ngày đêm, ngọn lửa bốc cao lắm.
      Ngày 30/4/75, thị xã tôi vẫn bình yên, không tiếng súng, bọn nhỏ chúng tôi chạy ra đường xem Việt Cộng. Chỉ vài người bận đồ đen, quấn khăn "choàng tắm", vác súng đi vào Ty Cảnh Sát. Trong Ty không còn ai.
      Cuộc sống không gì thay đổi, theo góc nhìn của một đứa trẻ như tôi lúc bấy giờ, hàng xóm vẫn mang đồ qua nhà tôi bán, thỉnh thoảng có nhà đóng cửa đi mất...
      Tôi vào lớp 6. Trường phát mỗi đứa 10 hạt bobo về nhà trồng. Trước sân nhà tôi có trồng mấy chậu kiểng và một gốc Sabochê... Tôi gieo hạt dưới gốc Sabochê rồi tháng sau... ra chợ mua một lon bobo đem nộp!
      Lớp có một cô giáo dạy toán người bắc, cô mặc toàn quần đáy nem đen với áo sơ mi trắng chít bốn ben, tóc cô thật dài và thắt bím. Cái đặc biệt nhất ở cô mà tôi thấy là... tôi không thể nghe được cô giảng gì cả!
      Một hôm đi học về, tôi thấy cha đào hết khoảnh sân nhà lên, mấy chậu kiểng bị đẩy vào một góc sân. Cha trồng xuyên tâm liên, một loại thảo dược quý trị bá bệnh từ miền bắc đưa vào. Nhưng tôi thấy cha vẫn uống thuốc tây khi bệnh, chắc cha để dành cho trường hợp bệnh nặng hơn!!!
      Nhà nước đổi tiền, tội nghiệp cha tôi không có tiền để đổi, bao nhiêu tiền cha tôi lấy đi mua đồ của hàng xóm hết rồi. Hôm đó, cha đi đổi tiền dùm hàng xóm khi về cha kể, ông Trường Thành, chủ của mấy cây xăng trong thị xã đã ngất xỉu ở chỗ đổi tiền, có lẽ thấy vậy nên điểm đổi tiền chỉ để ông mang về nhà một số tiền tượng trưng còn bao nhiêu họ giữ lại dùm ông sợ ông vác về nặng... khi đi đổi tiền ông vác đến 2 bao, sau này mấy cây xăng của ông nhà nước của chính quyền mới cũng quốc hữu hóa hết luôn.
      Cha nói họ đánh tư sản, 500 đồng mang đi đổi được 1 đồng, ai nhiều mấy cũng mang về 500 đồng hay 250 đồng gì đó.
      Thời kỳ tem phiếu bắt đầu, cái sổ hộ khẩu quý như sinh mạng, ai không có nó là chết đói! Cứ theo nhân khẩu mà cho chỉ tiêu gạo, vải, nhu yếu phẩm rồi phát tem, phiếu. Tới đợt hợp tác xã bán gì thì mua nấy, cửa hàng là mấy ngôi nhà chủ đi vắng, "cách mạng lâm thời miền nam Việt Nam trưng dụng".
      Cha đi mua gạo vác về, mỗi người có tên trong hộ khẩu được 13kg, má kêu cha mang gạo qua cho nhà chị Mun, mẹ chị ấy đi mất từ hôm giải phóng vô. Má ăn gạo trong bao bố tời, mỗi bao 100kg, gạo phải thơm, quen rồi, má nói vậy.
      Cha đi mua vải, cả nhà lớn bé nam nữ gì cũng một loại vải mười, màu ruốc in hoa. Má tôi đem cất trong bếp.
      Bây giờ xóm tôi như người một nhà, vì ai cũng mặc đồ hoa vải giống nhau.
      Căn tin, cửa hàng xuất hiện, thay vì ra quán, tiệm, mua chè, mua bánh, cà phê bọn tôi ra căn tin mua. Cửa hàng bán chỉ một thứ mấy ngày liên tiếp, hết món đó bán đến món khác, cũng mấy ngày.
      Chợ vẫn nhóm bình thường, vẫn bán đâu thiếu thứ gì.
      Nhà tôi vẫn lúa dí đầy bồ, sau vườn nuôi vài con heo, cha thỉnh thoảng vác chài xuống sông vãi vài cái cho má tôi món cá kho tiêu.
      Một năm, sau khi đánh tư sản, "tàn dư của Mỹ Ngụy" cạn hết. Mỹ cấm vận, người ta đến tìm cha tôi mua những món đồ họ cần mà cha tôi có nhưng không xài. Nhà tôi lúc đó như cái kho, búa, kềm, khoan điện, khoan tay, mỏ lết, xà beng... đến tủ lạnh, tủ mát, bàn trang điểm, tủ thờ... trong phòng cha chất một góc rượu tây, hàng quân tiếp vụ, thuốc lá xigà... 
      Ai mua gì cha cũng có. Tôi nhìn đống đồ của cha mà biết tên và biết xử dụng hết các thứ đó, sau này điều đó rất có ích cho cuộc sống của tôi.
      Có bữa một người quen với cha ghé lại nói với cha gì đó không biết, chỉ nghe cha trả lời, không cần đâu, ngày xưa tưởng mày khổ, chứ biết mày làm VC tao đâu có giúp mày, lấy tờ giấy gia đình có công cách mạng làm sao tao đi Mỹ... Rồi cha lầm bầm, giải phóng cái gì không biết!
      Thời kỳ ngăn sông cấm chợ:
      Cha đi Saigon, về cha kể: từ quê lên Saigon có 150 cây số đi xe đò mà đi từ sáng sớm chiều mới tới Xa Cảng miền Tây. Trạm kiểm soát dựng lên dọc đường nhiều không nhớ nổi. Ấn tượng nhất là trạm Tân Hương, xe đến trạm phải vào một ngỏ riêng để kiểm soát, hành khách phải xuống xe hết, hành lý bị lục tung ra...thậm chí có khi họ xét người luôn, họ bắt lương thực, thực phẩm của tỉnh này mang qua tỉnh khác, đặc biệt là thịt heo, không biết cái ông ra sắc lệnh "ngăn sông cấm chợ" này có thù gì với con heo?! Quái lạ!!!
      Thịt đem ra khỏi tỉnh bán gọi là thịt lậu, người đi bán thịt ra ngoài tỉnh gọi là buôn lậu. Dân buôn lậu quấn thịt quanh người, giấu dưới băng ghế... những người đi buôn họ móc nối hoặc bắt bồ với nhân viên kiểm soát. Cha đi thăm chị học ở Saigon, má nấu thịt cho chị đựng trong lon guigoz để khỏi bị tịch thâu. Khổ thân!
      Thời này đến chơi nhà bạn bè, dù tay bắt mặt mừng nhưng phải ý tứ mang theo ít gạo thịt.
      Anh Tâm con dì Ba sống ở Đà Lạt, trồng rau củ...không có gì ăn, chạy về quê mang theo vợ con đùm đề.
      Chị tôi đậu đại học, ở ký túc xá sinh viên tháng được lãnh 12 ngàn, ăn cơm nhà bếp độn bobo thiếu chất bị phù thủng mặt tròn quay phải ăn gạo lức muối mè, lên giảng đường ngồi học mà đem chỉ gân theo thắt giỏ bán. Chị khoe mới bốc thăm được mua cây đàn, chị có đàn đâu, đem bán đó, chị xin tiền cha mua chiếc xe đạp, nói để đạp đi Long An mua gạo, mua thuốc tây... về bán, không nghe kể chuyện học hành.
      Sau này tốt nghiệp đại học chị vẫn còn nợ điểm, cha lo lót cho người quen trên đó một chỉ vàng để chị được giữ lại hộ khẩu thành phố, Saigon đổi tên là thành phố Hồ Chí Minh, người dân quê chúng tôi gọi tắt là thành phố cho nó gọn. Rối rắm!
      Tôi lên lớp 7. Trường tôi có thầy hiệu trưởng mới từ miền Bắc vào nhận "công tác".Thầy sống trong trường ở dãy nhà sau lớp học của tôi, sáng đi học sớm, tôi vào lớp hay nhìn qua cửa sổ thấy thầy ăn sáng, không biết ăn gì mà nghe thầy húp rồn rột, thầy hay ngửi ngửi cây tăm mới xỉa xong rồi gát nó lên chung trà... Thầy mặc thêm áo sơ mi vào chồng lên chiếc áo thun ba lỗ bị rách mấy đường sau lưng. Trước khi ra khỏi nhà, thầy "chiêu" một ngụm trà súc ộc ộc trong miệng rồi mới nuốt... Chuông reo...
      Cô Thoại rất hiền, người thô, cục mịch, hơi cà lăm, cô dạy toán không biết sao tự nhiên cô nghỉ dạy, tụi bạn nói thấy cô bán vé số ngoài chợ.
      Thầy Điệp cũng nghỉ dạy, tôi biết, tôi thấy thầy bán nước sâm, mỗi lần đi ngang xe nước sâm của thầy tôi đều đứng lại cúi chào, thầy cười, không giống ngày xưa, lúc thầy dạy văn, thầy vui hơn bây giờ.
      Thầy Đệ có “đề pô” nước đá trước khi đi dạy, thầy dạy tôi dễ hiểu nên tôi thích môn Lý của thầy, tôi là học trò giỏi được thầy cưng. Tôi cũng thương thầy lắm, thầy lùn tịt, mặt sần sùi đầy thẹo, chắc hồi nhỏ thầy nặn mụn hoài... Thầy nghỉ dạy, học cô mới tôi không vui, tôi nhớ những lần chọc phá của bọn tôi: thầy cho bài tập trên bảng, tôi hay nói:
      - Thầy đừng ghi... lộn đề... nhe thầy!
      Thầy nói tỉnh queo:
      - Không lộn!
      Nhưng lát nữa thế nào cũng có một cục phấn chọi vào trán tôi cái cốc...!!! Báo thù!
      Cô Huỳnh Liên không bỏ dạy mà đổi môn, cô dạy chính trị không dạy văn nữa... Chồng cô đang học tập cải tạo ở Trại Ba Sao, tháng sau cô đi thăm chồng, bọn học trò chúng tôi hùn tiền gởi cô mua đồ cho thầy... 
      Xóm tôi cũng có vài người đi học tập cải tạo ở Tân lập, Suối Máu, Bà Bèo...
      Nhỏ bạn tên Kim Anh, người Hoa, rủ tôi lãnh làm vỏ xe đạp bằng cách lấy bố từ vỏ xe tải cũ dán lại, để kiếm thêm "thu nhập". Cha không cho làm, biểu lo học cho giỏi đi... Thôi vậy!
      Gần đây tôi học được vài từ mới của chị lớp trưởng người Bắc vừa theo ba mẹ vào Nam "công tác": "khẩn trương", "tăng gia", "thu nhập", "cải thiện", "tập thể"... có vài từ không hiểu sao lại đọc ngược như: đảm bảo,  giản đơn...
      Rồi một hôm, trường tôi bị lấy, vì họ không báo trước nên thầy trò chúng tôi ngồi ngoài đường cả buổi sáng, nghe nói lấy làm trường cho con cái cán bộ học, nhưng họ không dùng từ Thiếu Sinh Quân vì đó là từ "Ngụy quyền Saigon" hay xài. Không biết họ là ai. Mù mờ...
      Nhà hàng xóm ồn ào, tôi chạy ra coi, bác Hai hớt tóc mở máy hát nghe nhạc Hoàng Oanh bị trên công an phường tịch thâu dĩa hát, lần sau lấy luôn cái máy đó nhe... tôi cũng thích Hoàng Oanh, cô ngâm thơ, bài Hòn Vọng Phu hay ác! "Nhạc ngụy", cấm đó nhe... Tối về tôi kể cả nhà biết, vì cha tôi thường uống rượu lúc ăn cơm chiều, có lúc vui vui cha mở nhạc rồi nhảy đầm nữa. Mẹ tôi nói ông mở nhạc không lời mà sợ gì, trời ơi! Nhạc không lời còn ghê hơn, tàn dư "Mỹ Ngụy" đó. "Nhất trí" nghe cải lương Út Trà Ôn, Minh Cảnh....
      Má đi đám cưới anh Chiêu, anh ở với chị Huỳnh có chửa, bên chị kêu làm cái "thú phạt". Cơ quan anh Chiêu bắt làm lễ “Tuyên hôn”, tiệc đãi ở trong nhà ngoại anh Chiêu, cây nhà lá vườn, heo với cá nuôi sẵn. Má nói, “Thủ trưởng” anh ăn cái đầu cá vồ còn nguyên con lãi trong mang... Thấy gớm!!!
      Sáng chúa nhật, cô Liễu qua nhờ mẹ sửa mấy cái quần ống loe, hôm nay chị cắt tóc ngắn, móng tay cũng ngắn và không sơn. Lúc trước móng tay chị để dài sơn đỏ chót, tóc cũng dài, uốn lọn, đẹp như Thẩm Thúy Hằng. Bây giờ chị cắt hết, tóc, móng, quần cũng cắt. Chị nói chị đang lo, mấy ông cách mạng bắt mấy người chưa chồng gả cho thương binh... Mẹ bảo, mầy thì ai mà lấy!
      Đi kinh tế mới:
      Vài gia đình xóm gò mã sau nhà tôi đóng cửa đi kinh tế mới. Họ đến những vùng hoang vu hẻo lánh khai khẩn đất hoang, nhưng được một thời gian sau họ lại quay về. Cứ hể khẩn xong phần đất nào là cán bộ đến dẫn họ đi sâu vào vùng đất hoang mới, xa hơn, hoang mạc hơn... Sao chịu được!!!
      Đất nước đi từ có đến không, từ không đến có. Chế độ độc tài, độc đảng, xã hội không có đối trọng, không có sự cạnh tranh thì không thể phát triển và tiến bộ được.
      Tất cả sự cạnh tranh của chế độ đều đi đến một mục đích dân giàu nước mạnh.
      Nhà cầm quyền và bộ máy nhà nước chỉ được lập ra để bảo vệ quyền lực mà không nghĩ đến nhân dân.
      Cuộc nội chiến gây nên tổn thương tinh thần và xương máu toàn dân. Nhưng chính quyền mới cứ luôn hả hê rằng mình là bên chiến thắng.
      Thay đổi chế độ, chỉ cần cướp quyền lực và thu phục lòng dân. Không được lòng dân mà giữ được quyền lực trong một thời gian dài thì chỉ có hai lý do. Nhà cầm quyền tài giỏi hoặc nhân dân yếu hèn. 
      Tôi là một người yêu nước hèn yếu.
      Nguyễn Kiều Phương


--
====================================================================
Trên Facebook :
http://www.facebook.com/DaiHocKhoaHocSaiGon
====================================================================
 
Bạn đã nhận được bài viết này vì bạn đã đăng ký vào Nhóm "KhoaHocSG" của Google Groups.
* Để đăng bài lên nhóm này, hãy gửi email đến "khoa...@googlegroups.com"
* Để RÚT TÊN ra khỏi nhóm này, gửi email đến "khoahocSG+...@googlegroups.com"
* Để có thêm tuỳ chọn (preference set up), hãy truy cập vào nhóm này tại: http://groups.google.com/group/khoahocSG?hl=vi
---
Bạn nhận được thư này vì bạn đã đăng ký vào nhóm Google Groups "KhoaHocSG".
Để hủy đăng ký khỏi nhóm này và ngừng nhận email từ nhóm, hãy gửi email đến khoahocsg+...@googlegroups.com.
Để xem cuộc thảo luận này, hãy truy cập vào https://groups.google.com/d/msgid/khoahocsg/BY5PR02MB657753BB7818F8413D7BD72BFC3D2%40BY5PR02MB6577.namprd02.prod.outlook.com.
Reply all
Reply to author
Forward
0 new messages