Fwd: ĐIỂM TIN DIỄN ĐÀN 27-02-2026 (SỐ 039-2026)

4 views
Skip to first unread message

Giu Tran

unread,
Feb 27, 2026, 11:49:34 AM (13 days ago) Feb 27
to


---------- Forwarded message ---------
From: soan....@hotmail.com <soan....@hotmail.com>
Date: Fri, Feb 27, 2026 at 4:46 AM
Subject: ĐIỂM TIN DIỄN ĐÀN 27-02-2026 (SỐ 039-2026)
To:


GOOD MORNING VIET NAM - CANADA - USA

ĐIỂM TIN DIỄN ĐÀN 27-02-2026  (SỐ 039-2026)

Image insérée

Image insérée




MỤC LỤC

  1. Người Kinh ở Trung Quốc vẫn nói Tiếng Việt
  2. Nồi Canh Khổ Qua Đêm Giao Thừa
  3. Những Ngày Nắng Vỡ
  4. Vung kiếm bên trời, Dakto
  5. Dân bất lịch sự nhất thế giới + Muốn trở thành quý phái +
  6. ĐÀN BÀ HAY ĐÀN ÔNG ĐỀU NÊN ĐỌC BÀI VIẾT NÀY
  7. Ngọn Đèn Dầu Trong Góc Khuất



Người Kinh ở Trung Quốc vẫn nói Tiếng Việt
Nồi Canh Khổ Qua Đêm Giao Thừa

  • Căn bếp của gia đình Nam ở ngoại ô bang California vốn dĩ luôn bóng loáng với những mặt đá marble lạnh lẽo và các thiết bị điện tử hiện đại. Nhưng chiều 30 Tết này, không gian ấy bị xâm chiếm bởi một mùi hương lạ lùng: mùi nồng nồng, đăng đắng của khổ qua hầm thịt.
    Bà nội đứng đó, dáng người nhỏ thó, lưng đã hơi còng nhưng đôi tay vẫn thoăn thoắt nhồi thịt vào từng khoanh khổ qua xanh mướt. Bà vừa làm vừa lầm bầm trong miệng, như thể chỉ cần sơ sẩy một chút thôi là cái Tết sẽ không còn vẹn tròn. Đây là cái Tết đầu tiên bà sang Mỹ sống cùng vợ chồng Nam sau khi ông mất.
    Hồi ông còn sống, dù nghèo khó hay dư dả, mâm cơm Giao thừa chưa bao giờ thiếu món canh này. Ông thường bảo:
    - Ăn cái khổ cho nó qua đi bà nó ạ, để năm mới chỉ còn cái ngọt bùi.
    Câu nói ấy theo bà suốt mấy mươi năm, trở thành một niềm tin không thể lay chuyển.
    Năm nay là lần đầu tiên bà nấu món canh này ở Mỹ, không phải ở ngôi nhà bên con rạch từ bến sông Hàm Luông đổ vào róc rách tiếng nước lên rồi xuống quen như hơi thở; cũng không có ông bên cạnh để hít hà mùi hành ngò thơm nức mũi.
    Bà nén một hơi thở dài, nêm nếm thật cẩn thận. Bà hy vọng, nồi canh này sẽ giúp con trai bà, con dâu Mỹ và những đứa cháu nội mang dòng máu lai hiểu được cội nguồn, hiểu được cái triết lý giản dị mà sâu xa của người Việt: muốn có ngọt bùi thì phải biết đi qua đắng cay.
    6 giờ tối, bữa tiệc Giao thừa bắt đầu. Nhưng trên bàn ăn không có bánh chưng, không có dưa hành. Thay vào đó là một “tháp” hamburger cao ngất, những đĩa khoai tây chiên vàng ruộm và chai nước ngọt lớn. Tô canh khổ qua nằm lạc lõng ở một góc bàn.
    Sarah, con dâu bà, cười rạng rỡ. Cô là một phụ nữ Mỹ gốc Pháp đôn hậu, rất yêu chồng con nhưng hoàn toàn xa lạ với những phong tục Á Đông.
    Nam đặt miếng bánh vào đĩa của bà:
    - Mẹ thử hamburger đi. Sarah mua ở tiệm ngon nhất vùng đấy.
    Bà cười hiền, cầm mẩu bánh lên nhai. Nhưng miếng bánh mì béo ngậy và miếng thịt bò nướng quá lửa cứ như một khối bông khô khốc mắc lại trong cổ họng. Bà nhai mãi mà không sao nuốt trôi.
    Xung quanh bà, cuộc trò chuyện rộn ràng bằng tiếng Mỹ. Hai đứa cháu nội, Tyler và Chloe, ríu rít kể về trận bóng đá ở trường. Nam và Sarah thỉnh thoảng lại cười vang. Họ là một gia đình hạnh phúc, đúng nghĩa. Bà hiểu điều đó, và bà không trách ai cả. Con cháu bà đều thương bà theo cách của chúng. Chỉ là, trong cái hạnh phúc ồn ào ấy, bà thấy mình như một gốc cây già bị bứng khỏi mảnh đất quen thuộc, cố gắng bám rễ vào một nền xi măng lạnh giá. Cái thương ở đây không có mùi khói bếp, không có tiếng giao thừa, nên bà thấy mình như đang sống nhờ trong chính căn nhà của con trai.
    Bà nhìn tô canh khổ qua. Những khoanh khổ qua nằm im lìm giữa rừng hamburger và khoai tây chiên, không ai đụng đến. Bà hiểu, ở đất nước này người ta không quen ăn đắng. Nhưng trong lòng bà vẫn nhói lên, như thể cả một quãng đời lam lũ của mình vừa bị đặt sang một góc, lạnh và im.
    Chloe chun mũi:
    - It smells weird, Grandma! (Mùi kỳ quá, bà nội ơi!)
    Nam vội vỗ nhẹ vai con, rồi gắp cho bà một miếng gà rán để khỏa lấp sự ngượng ngùng:
    - Năm nay có mẹ nên nhà con mới tổ chức Giao thừa. Mẹ ăn nhiều vào nhé.
    Bao nhiêu câu chuyện bà định kể - qua Nam - về ý nghĩa thiêng liêng của thời khắc giao thừa, về món ăn dân dã của quê nhà, bỗng nghẹn lại trong cổ họng. Bà không buồn, chỉ thấy xót xa.
    Sau bữa ăn, nồi canh vẫn còn nguyên. Sarah thu dọn, cẩn thận múc canh vào hộp nhựa rồi cất vào góc sâu nhất của tủ lạnh.
    12 giờ đêm. Giao thừa chính thức chạm ngõ. Căn nhà chìm vào yên tĩnh khi mọi người về phòng ngủ sớm để mai còn đi làm, đi học. Bà vẫn ngồi lại trong phòng ăn, dưới ánh đèn mờ.
    Bà lặng lẽ đứng dậy, mở tủ lạnh. Hơi lạnh của máy móc phả vào mặt bà. Bà lấy hộp canh ra, không cần hâm nóng. Bà múc một chén nhỏ rồi ngồi xuống chỗ cũ. Lần này, bà đặt thêm một bộ bát đũa ở phía đối diện. Ngày xưa, dù nghèo mấy, bà và ông cũng chưa bao giờ để giao thừa trôi qua trong im lặng. Có ông ngồi đối diện, bà mới thấy mình còn nguyên vẹn. Bà thì thầm:
    - Ông ơi, ăn canh với tôi...
    Bà múc một miếng khổ qua đưa lên miệng. Vị đắng lan từ đầu lưỡi xuống tận tâm can.
    - Món này ông thích nhất mà. Ở bên này họ không ăn, ông ạ. Chúng nó quên mất vị quê mình rồi.
    Nước mắt bà rơi xuống chén canh. Bà ăn như đang thực hiện một nghi lễ thiêng liêng, như thể mỗi miếng khổ qua là 1 sợi dây níu bà lại với người chồng đã khuất và với mảnh đất hình chữ S xa xôi.
    Cửa phòng trên lầu khép hờ. Nam đứng đó từ bao giờ. Anh xuống bếp định lấy nước, nhưng cảnh tượng trước mắt khiến tim anh thắt lại. Mẹ anh - người đàn bà đã dành cả đời hy sinh cho anh - đang lặng lẽ gặm nhấm nỗi nhớ quê qua một chén canh nguội lạnh trong đêm Giao thừa.
    Lần đầu tiên, Nam hiểu rằng bấy lâu nay anh đã nhầm. Anh nghĩ chỉ cần cho mẹ một cuộc sống đủ đầy tiện nghi là tròn bổn phận. Anh quên mất rằng, có những người già không cần nhiều vật chất, chỉ cần được sống trong những gì quen thuộc. Nam bước tới, kéo ghế ngồi cạnh bà:
    - Mẹ... cho con ăn cùng mẹ nhé.
    Bà giật mình, vội lau nước mắt, gật đầu:
    - Ừ, con ăn đi. Canh mẹ nấu còn nhiều lắm.
    Hai mẹ con ngồi đó, giữa đêm khuya nơi đất khách, cùng chia nhau vị đắng của khổ qua. Nam kể về những kỷ niệm cũ, hồi anh còn nhỏ, hay vòi ông cho ăn những miếng thịt trong nhân canh. Bà nghe, mắt rưng rưng, nhưng nụ cười đã nở trên môi.
    Sáng mùng Một, ánh nắng mùa đông California nhạt nhòa len qua khe rèm, đậu lên mái tóc bạc của bà. Bà thức dậy muộn hơn mọi ngày, lòng còn vương nỗi buồn âm ỉ của đêm qua. Bà nghĩ về Tết ở quê, về tiếng pháo, mùi nhang trầm, tiếng gọi nhau mở cửa đón lộc. Ở đây, ngày đầu năm có lẽ cũng sẽ trôi qua lặng lẽ như bao ngày khác.
    Nhưng khi bà vừa bước ra phòng khách, một luồng ấm áp bất ngờ khiến bà sững lại. Cả gia đình đã tụ họp từ lúc nào. Sarah bước tới, vụng về nhưng nâng niu ôm lấy bà. Cô bập bẹ từng chữ:
    - Con... mừng... tuổi... mẹ!
    Tyler và Chloe khoanh tay, cúi đầu ngọng nghịu:
    - Mừng tuổi bà! Happy New Year!
    Tiếng Việt, tiếng Mỹ đan vào nhau, không hề khập khiễng. Bà nhìn những khuôn mặt trẻ thơ, nhìn ánh mắt trong veo của chúng, và thấy lòng mình thôi co rúm lại.
    Nam đặt tay lên vai mẹ. Anh không nói gì, nhưng ánh mắt đỏ hoe đã nói thay tất cả. Bà hiểu, để có được cuộc sống hôm nay, con trai bà đã phải bước rất xa, và mang theo cả bà - cùng một gia tài ký ức nặng nề. Bà run run đón nhận những yêu thương. Nước mắt trào ra, nhưng không còn là nước mắt tủi thân. Đó là nước mắt của sự an lòng. Bà chợt hiểu rằng, các thế hệ không cần phải giống nhau để yêu thương nhau. Chỉ cần chịu chậm lại một chút, lắng nghe nhau một chút, thì những khác biệt rồi cũng sẽ tìm được cách ở chung. Nồi canh khổ qua đêm giao thừa không chỉ là món ăn, mà là một cuộc chuyển giao âm thầm giữa quá khứ và hiện tại.
    Mùa xuân, hóa ra không nằm ở tờ lịch, mà nằm ở sự thấu cảm trong ánh mắt của những người thân yêu.
    Biển Cát


Những Ngày Nắng Vỡ
  • Nắng lập lòe... Những tiếng nổ như vỡ ra từ ống khói của chiếc xe Cady màu vàng. Không có gì bền vững hơn nó, cũng không có gì mong manh hơn nó, chiếc xe Cady. Đoan cau mày suy nghĩ. Cái tiếng xe nổ dòn vui mọi ngày, hôm nay được thay bằng một tràng những tiếng là lạ, như xô đẩy nhau, như giục giã, như bất an. Đoan vuốt nhẹ lên "ghi-đông" sáng bóng. Chỉ có chỗ đó là sáng bóng. Còn lại là một chiếc xe bám đầy bụi bặm. Đoan đã không có thì giờ để lau chùi như thói quen lâu nay. Bàn tay của Đoan như mơn man trên đầu của một con ngựa nhỏ. Phải, nó như con ngựa nhỏ, chở Đoan đi, về mỗi ngày vài bận, khi đến trường, khi vào bệnh viện.
    Nhà để xe như vơi đi hơn một nửa. Đoan ngỡ mắt mình hoa lên vì nắng. Không! Đúng là như vậy mà! Đám xe gắn máy, xe đạp, sao thưa thớt quá! Ngày nào mà hai giảng đường Một và Hai đều có lớp, như hôm nay, thì sân để xe phải chật cứng mới đúng. Sinh viên nghỉ học đi đâu cả? Đoan dựng xe, khóa lại, chào bác giữ xe rồi chạy vội đến trước Giảng đường Một. Những hàng ghế thưa vắng. Sinh viên ngồi trông ra ngoài như chờ đợi. Trên bục giảng, không có thầy. Giảng đường Hai cũng vậy! Đoan chạy nhanh lên lầu. Các "labo" (*) vẫn mở cửa, lác đác người ra vào. Nhưng cái không khí lạ lắm, như một nốt nhạc trầm chùng xuống lạ kỳ. Đoan bước nhanh về phòng thí nghiệm Ký Sinh Trùng. Cánh cửa chớp đang lung lay như có ai vừa mới vào phòng. Quả nhiên, Đoan thấy Thầy Tính, dường như Thầy mới đến. Thầy chưa khoác áo blouse. Nghe động, Thầy Tính ngó ra. Thầy hơi mỉm cười khi thấy Đoan. Đoan chào:
    - Dạ thưa Thầy con mới đến ạ!
    Thầy Tính gật đầu, hỏi:
    - Chị vẫn đi học?
    Đoan ngơ ngác:
    - ???
    Thầy gật gù:
    - Tốt lắm!
    - Dạ cám ơn Thầy. Hôm nay... Thầy dạy bài nào để con soạn hình vẽ ạ?
    - Không. Vì... có lẽ sinh viên sẽ không đến nhiều đâu! Tôi muốn cho họ nghỉ.
    - Dạ.
    Rồi không biết nói thêm điều gì, Đoan tiến đến phòng thay áo, định thay áo blouse để làm nốt những công việc còn dở dang hôm qua. Nhưng Thầy Tính gọi:
    - Không cần phải làm gì đâu! Sẽ có những thay đổi cho labo này, cho cả trường này, cho cả...
    Thầy bỏ lửng câu nói. Thấy Đoan bỡ ngỡ, Thầy lại tiếp:
    - Sáng nay Khoa trưởng đi rồi!
    - Dạ, sao ạ?
    - Ông Khoa trưởng đi rồi, mới nhậm chức có một ngày. Nhưng sẽ có ông khác thay. Mình không phải lo. Tôi có chuyện muốn nói với chị. Chị ngồi đi!
    Đoan ngồi ở băng ghế dành cho học trò. Thầy Tính ngồi ở bàn giấy của Thầy. Ông nói:
    - Chị Đoan, có bao giờ... chị gặp V.C. chưa?
    Đoan giật mình, tê dại trong một tích-tắc, nhưng đáp ngay được, như một cái máy:
    - Dạ thưa Thầy... chưa ạ.
    Thầy Tính cười, nụ cười không lộ tình cảm, nói chắc nịch:
    - Tôi là V.C. đây! Chị nghĩ sao?
    Đoan thấy mình giật bắn người. Đoan trân mắt nhìn Thầy Tính, chưa nói được lời nào thì Thầy tiếp:
    - Nghe vậy chị có sợ không?
    Đôi mắt của Đoan càng mở to hơn nữa. Ôi! Sao giống như thuở nhỏ đi xem phim ma với anh chị, khi đến đoạn gặp ma, ông anh - lúc ấy cũng là một cậu nhóc, thường hỏi: "Ma đó! Em có sợ không?" Và con bé khóc ré lên.
    Bây giờ thì không. Đoan không thể khóc, dù câu hỏi đột ngột và câu tự trả lời của Thầy Tính cũng đột ngột. Sao lại sợ nhỉ? Đoan tự trấn an mình. Thật ra thì V.C. cũng là người mà! Theo báo chí phim ảnh tin tức hàng ngày là như thế. 
    Thầy Tính nhìn Đoan, chờ đợi câu trả lời. Đoan có câu trả lời rồi:
    - Dạ thưa Thầy, nếu V.C.... giống như Thầy thì... con không sợ ạ!
    Đoan còn định nói thêm một tràng dài, rằng Thầy là người tận tụy trong phòng thí nghiệm, lo lắng cho sinh viên qua mỗi kỳ thi; Thầy làm việc quên ăn, quên thời gian; Thầy là người dìu dắt Đoan và các bạn làm phụ tá cho Thầy, kỹ lưỡng từng bài vở từng nét vẽ, sắp xếp một cách khoa học cái phòng thực tập này, v.v... Nhưng Đoan thấy gương mặt của thầy Tính bỗng dưng xa lạ. Xa lạ như tiếng nổ kỳ khôi của chiếc xe Cady hồi nãy ở dưới sân. Như là Đoan cùng một lúc nhìn thấy hai con người. Thầy Tính cười, lại một cái cười không biểu lộ cảm xúc buồn hay vui:
    - Không có gì phải sợ cả. Chị còn trẻ, chưa biết nhiều về thời cuộc. Tôi tin rằng chị sẽ sớm hòa nhập vào cuộc sống mới.
    Đoan ngơ ngác, cuộc sống mới? Đoan không hiểu nổi. Thầy Tính nói tiếp:
    - Sẽ có cuộc sống mới. Chị tin đi!
    Đoan ù cả hai tai. Cuộc sống mới là thế nào? Những ngày xảy ra bao nhiêu thay đổi trong trường là chuẩn bị cho "cuộc sống mới" ư? Như một cái sân khấu chính trị thu nhỏ, nhà trường này trong vài ngày đã xảy ra lắm điều trọng đại. Chức Khoa trưởng được bàn giao cho một vị giáo sư cũng là người giảng dạy trong trường. Ngày hôm sau thì người tân Khoa trưởng biến mất, và người khác lên thay. Sân trường vắng vẻ. Các giảng đường và phòng thí nghiệm thưa thớt người. Chỉ có những sinh viên chăm chỉ như Đoan đến trường. Thật ra không phải là chăm chỉ. Tâm trạng của Đoan cũng rối bời. Nhà của dì Đoan đông nghẹt người di tản từ các thành phố đến. Họ cũng chờ đợi. Đoan muốn thoát khỏi bầu không khí chờ đợi ngột ngạt ấy nên vác xe chạy đến trường. Chỉ còn nơi này, sự yên tĩnh ít ra cũng giải tỏa được phần nào căng thẳng.
    Nhưng giờ đây lời nói của Thầy Tính làm Đoan hoang mang, chóng mặt. Đoan xin phép thầy, ra khỏi labo. Đoan tì người vào thanh lan can, nhìn xuống sân trường vắng. Hai nhỏ bạn thân không đến. Hai đứa thuộc loại "sâu gạo" thế mà lại biến mất. Hôm nay có giờ thực tập Vi Trùng Học, có lẽ chỉ một mình Đoan với mớ đĩa thủy tinh, với đèn cồn, que cấy và đám vi trùng vô tri.
    - Chị Đoan, sao chị đứng đây?
    Đoan quay lại. Một người bạn học đồng thời là em họ của Đoan: Hùng, con của người cô ruột. Hùng hỏi lại:
    - Chị làm gì mà đứng một mình vậy?
    - Chị đi học.
    - Đi học?
    - Vâng.
    - Học cái gì giờ này?
    - Thế còn Hùng?
    - Em chạy vào tìm mấy đứa bạn... rồi về nhà ngay.
    Hùng kề sát tai Đoan, nói nhỏ:
    - Em đi chị à!
    - Đi đâu?
    - Di tản.
    - Sao?
    - Di tản. Em ra bến tàu ngay đây!
    Hùng vội vã bước đi. Bỗng Hùng dừng phắt lại, hỏi Đoan:
    - Chị đi với em không?
    Đoan thấy mình giật mình. Giống như cái giật mình khi nghe câu hỏi của Thầy Tính ban nãy. Và... bỗng như một phản xạ, Đoan lắc đầu, nói nhanh:
    - Chị không đi đâu!
    Đoan không biết Hùng còn nói gì nữa. Nhưng cái bóng nhanh nhẹn của Hùng đã khuất sau khúc quanh hành lang rồi.
    Đoan chạy đến phòng thực tập Vi Trùng. Không có ai. Buồn rầu, Đoan vòng trở lại và lên thang lầu. Tầng trên cùng thường ngày đã vắng, giờ lại càng vắng hơn. Đứng ở vị trí cao nhất này, tầng thứ ba của tòa nhà chính, Đoan thấy mình giống như một người đã thoát khỏi những phiền toái vụn vặt. Đoan nhắm mắt lại, muốn hít thở luồng không khí mát lành vào thật sâu đến hai buồng phổi.
    Không được 5 giây, Đoan phải mở mắt ra vì nghe vẳng lại tiếng khóc rấm rứt. Tiếng khóc như đến từ phía cầu thang. Tiếng khóc của con gái. Đoan rón rén tiến về phía đó.
    Tiếng khóc bỗng im bặt. Đoan ngạc nhiên, không ngăn được mình bước nhanh hơn. Và, Đoan đã thấy, nơi đầu cầu thang, hai người, một nam một nữ. Họ như đang khóa chặt vào nhau trong một cái hôn tưởng chừng không thể dứt. Đoan chợt nghĩ ngay đến Hùng. Trong một hoàn cảnh vỡ tung như thế này, có lẽ một trong hai người đã chọn ra đi. Họ hầu như không còn biết gì về xung quanh. Đoan đứng lặng chỉ trong tích-tắc, rồi lại rón rén đi ngược trở về. Đoan dùng chiếc cầu thang ở đầu bên kia, vì muốn tôn trọng phút giây cảm động của họ.
    Đoan không biết phải làm gì. Sân trường càng vắng thêm. Đoan vòng ra phía vườn dược thảo. Khu vườn vẫn xanh một vẻ đẹp hiền lành. Đoan như con chim muốn bay vào đó trốn nắng. Đoan đi bên những cây đại thụ, rồi ngồi xuống bên đám bông dừa. Những cây thuốc này có chữa lành được ngay các vết thương chiến cuộc đang nóng bỏng hay không? Đoan bàng hoàng, cảm thấy lênh đênh như người đang bơi trong một vùng nước quá lớn.
    Hôm nay chắc là sẽ không được học gì cả. Như cái bánh xe đang lăn đều bỗng có ai lấy một vật cản chẹn ngang, mọi sinh hoạt đều khựng lại. Mấy hôm trước, khi thực tập cùng với nhau trong phòng Sinh Hóa, Đoan thấy vẻ mặt của nhỏ Mỹ có vẻ khác thường. Mỹ như muốn tránh nói chuyện với bạn bè. Nhỏ bạn này, cái gì cũng chia sẻ với Đoan, kể cả chuyện về những người cô người chú bí ẩn của hắn. Còn nhỏ Xuân nữa, cái miệng lúc nào cũng líu lo, lại mau nước mắt, nhưng trong buổi thực tập ấy cô nàng cũng có vẻ trầm ngâm. Đến hôm nay thì cả Mỹ và Xuân cùng vắng mặt. Chưa bao giờ Đoan cảm nhận một nỗi cô đơn như thế này.
    Đứng phắt dậy, Đoan vùng chạy ra khỏi vườn. Nắng lại lóa trước mặt như quất lên da. Chưa bao giờ thấy một thứ nắng quái đản như vậy. Một vài tiếng nổ xa xa nghe như tiếng súng. Đoan hoảng hốt. Chiến trận đã về gần! Mỗi ngày nhà của dì lại tiếp đón một số người mới. Mọi người cùng chen chúc nương náu trong một không gian chật hẹp. Như là một cái trạm vậy. Và mỗi ngày lại có một vài người biến mất. Họ có lẽ đã như Hùng, chạy ra bến tàu, hay chạy vào phi trường? Những người còn lại thì chờ đợi. Chờ đợi gì? Sự chờ đợi hằn trên đôi mắt thâm quầng của người lớn, trên nụ cười gượng gạo của trẻ con vì phải sống quá gò bó. Mọi thứ đều vượt quá khả năng của gia đình dì. Đoan ngoài giờ học và làm ở trường, về nhà cũng xắn tay áo phụ dì nấu nướng, dọn dẹp. Gần 50 miệng ăn. Một con số gây choáng váng. Nhưng mọi người vẫn cố gắng vén khéo để vượt qua những ngày khó khăn. Mỗi khi có một người hay một gia đình thoát chạy được về đến Sài Gòn, mọi người đều reo mừng hớn hở. Như cái dòng nước chảy xuôi ra hướng biển, làn sóng người cuốn dần xuống nam. Mỗi ngày lại nghe một phần đất bị mất. Và trong hoàn cảnh vỡ vụn đó, Thắng từ Khánh Dương trở về. Cánh tay đã bị thương nhiều lần, bây giờ lại treo lên ngang ngực. Anh được tản thương về Sài Gòn ngay ngày Khánh Dương thất thủ. Thắng đứng lặng trước cửa nhà, không dám bước vào, vì kẻ nằm người ngồi đầy nhà không có chỗ chen chân. Đoan cùng Thắng ra quán nước gần nhà để trò chuyện. Rồi Thắng trở vào bệnh viện. Từ hôm đó Đoan thường vào thăm Thắng bằng chiếc xe Cady vàng.
    Đoan đi vào nhà để xe. Nắng vẫn chói lọi. Có lẽ phải về thôi! Không có gì để làm ở trong trường nữa. Đoan chạy theo dòng xe cuồn cuộn. Đường phố xao xác những con người hối hả. Có một cái gì đè nặng lên những gương mặt lướt qua. Chợt có tiếng còi hụ của xe cứu thương. Đoàn xe tấp qua bên phải để tránh đường. Đoan chợt lạnh người. Thảng thốt, Đoan vụt có ý nghĩ: "Phải vào đó ngay!" Và Đoan phóng xe thật nhanh. Vượt qua nhiều phố xá tấp nập, Đoan rẽ vào con đường yên tĩnh quen thuộc. Đường cây còng. Trại Hoàng Hoa Thám trước mặt đây rồi! Đoan sẽ gặp Thắng trong bệnh viện Đỗ Vinh. Đoan sẽ được nhìn thấy Thắng ngồi trên giường, đang tự tay tháo lớp băng, chờ y tá đến thay. Đoan sẽ thấy yên lòng vì ít ra Thắng cũng đã được bình an.
    Đoan phải xuống xe. Người lính gác cổng ngăn lại. Đoan chuẩn bị trình thẻ căn cước. Nhưng anh lính lắc đầu, nói:
    -  Hôm nay không ai được vào trại hết, cảm phiền cô trở về.
    Đoan ngơ ngác:
    - Ồ, sao vậy thưa anh?
    - Lệnh đã ban hành, tôi không thể giải thích thêm, xin cô thông cảm.
    - Nhưng tôi chỉ xin vào thăm bệnh.
    Người lính lại lắc đầu, giọng ái ngại:
    - Dù là thăm bệnh cũng không được. Mọi người đều được lệnh cấm trại, không ai được ra vào.
    - Nhưng...
    Chưa ai nói được gì thêm thì người lính gác phải mở cổng cho một chiếc quân xa chạy vào. Đoan chỉ kịp nhìn thấy những người lính trên xe với những bộ quân phục đầy bụi bặm. Những đôi mắt thấm mệt nhìn xuống. Đoan đứng lặng bên vệ đường. Người lính gác như quên mất sự có mặt của Đoan. Đoan nhón chân nhìn vào bên trong. Chiếc quân xa đã nhỏ dần, mất hút. Bỗng như bật ra một tiếng nấc từ trong tim. Thắng ơi! Thắng ơi!..
    Nắng vỡ vụn dưới những tán lá của hàng cây còng.
    ------
    Lũ trẻ kéo nhau chạy theo Đoan. Chúng tưởng chị Đoan của chúng đang bày một trò chơi. Mà thật giống như một trò chơi. "Rồng rắn lên mây!" 10 đứa nhỏ níu áo nhau. Đoan dẫn chúng vào phòng ngủ của bà ngoại. Đây là căn phòng kín đáo nhất nhà.
    Thêm một tiếng nổ ầm vang. Lũ trẻ dáo dác. Như một phản ứng không thể nào khác hơn, Đoan bảo lũ trẻ ngồi hết xuống đất, rồi kéo nhanh tấm nệm giường, dùng tấm nệm ấy che chúng lại. Lũ trẻ hồn nhiên lại thấy như trò chơi tiếp tục. Chúng khoái chí với cái mái nhà dầy cộp trên đầu. Nhưng rồi những tiếng nổ tiếp theo nhau dồn dập làm cho mấy đứa nhỏ bắt đầu sợ hãi. Chúng biết không phải là trò chơi rồi. Giờ đây, tiếng trái đạn như đang bay vút qua đầu. Một đứa ré lên khóc. Vài đứa khóc theo. Và tới lượt Đoan muốn khóc. Bởi Đoan không biết mình đang làm cái gì đây. Không phải là phương tiện che chở an toàn nhưng tấm nệm giường lại được Đoan dùng như một cái mái che. Nhà ở thành phố làm gì có hầm trú! Mà đạn pháo kích thì réo ầm bên tai. Nghe người lớn ở nhà ngoài bảo nhau đang có pháo kích ở Tân Sơn Nhứt. Đoan không biết rồi cuộc pháo kích này sẽ kéo dài bao lâu. Và nếu lỡ như có một trái rớt ngay căn nhà này thì sẽ ra sao? Cái "mái che" này có đủ bảo vệ mấy đứa trẻ yếu ớt không? Nhưng thôi kệ, Đoan nghĩ cách làm cho bọn nhỏ yên tâm. Đoan bắt đầu kể một chuyện vui. Bầy trẻ dễ dụ, nghe chuyện rồi rủ nhau cười.
    Rồi thì "Ngày xửa ngày xưa"... Ồ, không được, chuyện cổ tích không hợp trong lúc này. Đoan chuyển sang câu chuyện của bé Tuyên. Chuyện của đầu tháng tư mà cũng như một chuyện đời xưa.
    "Có một chú bé ngoan thật là ngoan, đi theo bố vào Sài Gòn chơi. Bố đi làm ở trong trại lính, chú bé ở nhà người cô ruột. Bố lại bay ra thăm nhà ở Đà Nẵng. Chú bé được gửi lại nhà người cô ruột, chờ bố vào đi làm tiếp. Đùng một cái, không được tin gì của bố, của mẹ và cả nhà. Chú bé không biết sự gì xảy ra, vì không có ai nói cho chú bé biết cả. Nhưng chú bé tinh ý lắm, chú nhìn nét mặt kỳ lạ của mọi người là chú đoán được có một cái gì ghê gớm lắm đã xảy ra. Mọi người có vẻ nâng niu chiều chuộng chú bé hơn, lo lắng cho chú hơn, và có lúc, cô và các anh chị nhìn chú và chảy nước mắt. Chú bé không dám hỏi họ, không dám thắc mắc.  Chú mới 4 tuổi thôi, là con út của bố mẹ. Chú lặng lẽ ngồi vào một góc. Chú cũng muốn khóc lắm, mà chú không hiểu tại sao. Mọi người xem ti-vi, đọc báo. Chú bé chưa đi học, nên chỉ xem hình ảnh trên ti-vi và nghe người ta giải thích trên đó. Chú bé hiểu. Chú biết nơi bố mẹ và các anh chị mình ở đã "mất". Chữ "mất" nghe kỳ quặc quá, chú không muốn nghe, bởi vì đó mà chú không biết gì về bố mẹ và các anh chị mình nữa." Đoan ngừng kể, thở một chút. Lũ trẻ quá biết đoạn tiếp theo của câu chuyện, nhất là chú bé Tuyên ngồi trong đám "khán giả" đây. Nhưng chúng vẫn thấy vô cùng hấp dẫn. Hầu như tiếng đạn thỉnh thoảng xéo ngang không còn làm chúng để tâm. Đoan nhớ lại khoảng thời gian đó, mỗi khi bé Tuyên giương đôi mắt to đen nhánh nhìn mình, Đoan đã không chịu nổi. Cái viễn cảnh một đứa bé con không bao giờ còn gặp lại cha mẹ và anh chị của nó làm mọi người nát lòng. Cả một gia đình bặt tăm. Và số phận của Đà Nẵng như đã khép lại.
    Chừng như tiếng đạn pháo đã ngưng. Tụi con nít bắt đầu cảm thấy ngột ngạt. Đoan giở tấm nệm, bảo chúng ra ngoài. Từng đứa, từng đứa đứng dậy. Mồ hôi lấm tấm trên trán chúng. Đoan thở ra. Chưa thấy cảnh trốn đạn nào kỳ quặc thế này. Chẳng biết nơi nào là an toàn cả. Khi bọn trẻ ra hết ở nhà ngoài, Đoan thu xếp lại căn phòng. Sẵn đó, Đoan quét dọn cả nhà. Đống giày dép để ngoài cửa ai nhìn thấy cũng thất kinh. Khoảng 50 đôi. Vâng, 50 đôi! Và cũng con số chừng đó người hiện giờ đang trú ngụ trong căn nhà nhỏ chỉ vừa cho một gia đình. Một cái trại tị nạn thu nhỏ! Và căn nhà, nhà của dì, từ gần một tháng nay hầu như ngày nào cũng có người vào thêm. Thoạt đầu là bà con từ Đà Lạt, sau đến Nha Trang, rồi Phan Thiết kéo vào. Và, cái gia đình ở Đà Nẵng tưởng như đã tuyệt vọng, gia đình của cậu, đã theo được chuyến tàu cuối cùng, lênh đênh nhiều ngày rồi vào đến Sài Gòn - gia đình của bé Tuyên. Mọi người sống xúm xít, mỗi gia đình một mảnh nhỏ trong căn nhà. Họ cố gắng tiết giảm tối đa những sinh hoạt, sao cho những ngày tạm trú được an vui. Mà họ không biết sau những ngày tạm trú này sẽ là cái gì. Bởi họ không dám chắc họ sẽ còn dịp trở về nơi chốn cũ của họ hay không. Họ thấy tương lai mờ mịt. Mỗi ngày lại có tin mất một thành phố, một thị xã, thậm chí một tỉnh. Họ bó gối ngồi nhà theo dõi tin tức hoặc rủ nhau đi lang thang nơi này nơi khác vì căn nhà chật quá. Không làm lụng, không học hành. Chỉ có gia đình của chủ nhà là còn duy trì được các sinh hoạt tối thiểu, bên cạnh đó là lo cho sinh hoạt của "trại tạm cư" này. Đoan mấy năm nay ở trọ nhà dì để đi học, nên cũng làm việc y như các con của dì, đi học về là xắn tay áo lên để giúp mọi người nấu nướng, giặt giũ. Công việc cũng như các vật dụng đều "phình" lên gấp bội. Và những ngày này, cuối tháng, Đoan không đến trường, bởi sinh hoạt nhà trường cũng đã ngừng lại. Không ai bảo ai, mọi người rút về lo cho công việc của nhà mình. Một số bạn bè đã đột nhiên biến mất trước đó. Những sinh viên cần mẫn nhất khi đến trường cũng thất vọng vì không thấy thầy cô.
    Tháng tư, nóng bức, ngột ngạt. Dù trời đã tối nhưng cái nóng như vẫn quyện lấy từng con người. Bữa cơm cũng đã xong. Không có dọn bàn, mà chỉ là thay nhau lấy cơm ăn vì không có đủ chỗ cho mọi người cùng ngồi ăn. Bé Tuyên, chú bé 4 tuổi, giờ không còn buồn rầu theo người lớn nữa, vì đã được đoàn tụ với gia đình. Chú bé còn được gặp chị giúp việc của nhà mình, là chị Son, cũng từ Đà Nẵng chạy theo vào. Chị này là một cô gái đôi mươi, vạm vỡ như nam giới. Đoan thường hay hỏi thăm chị về gia đình, biết chị ở thôn quê, nghèo nên không được đi học, từ 13 tuổi đã đi làm thuê giúp việc để phụ nuôi gia đình. Trông vẻ mặt chị rất hiền lành. Bỗng tối nay, khi nghe tin tức dồn dập về những cuộc chạy loạn, chị nói lẩm bẩm mà như nói với Đoan:
    - VC mà vô thì tui sướng.
    Đoan giật mình, hỏi ngay:
    - Ai bảo với chị như vậy?
    - Người anh bà con của tui nói.
    Đoan lặng người. Cảm giác y như cảm giác lúc nghe thầy Tính, người thầy dạy môn Thực tập Ký Sinh Trùng trong trường, thản nhiên nói "Tôi là VC đây! Chị có sợ không?"
    Đêm qua dường như không ai ngủ được. Không nói ra, nhưng ai cũng thấy mình mong chấm dứt cảnh chen chúc này. Trở về! Ai cũng đang mong được về lại những thành phố đã mất. Nhưng không đơn giản chỉ thế, đã có vài thanh niên trong họ hàng nhà Đoan tìm đường ra đi. "Ra đi", từ ngữ lạ tai. Có người ra phi trường, có người ra bến tàu.
    Một người bà con chạy ra Tân Sơn Nhứt chờ chực cả đêm, rồi trở lại với gương mặt hốc hác. Anh đi không lọt. Anh bảo ngoài đường đang náo loạn cả lên. Nhiều cảnh cướp bóc đã xảy ra.
    Má và dì đang bưng khệ nệ một giỏ thức ăn mua ở chợ đầu xóm để lo cho "trại tạm trú" qua ngày. Đoan chạy tới phụ khiêng vào nhà bếp. Chợt có tiếng của cậu:
    - Mọi người lại đây, nghe này!
    Tiếng nói từ trong radio vang ra, mọi người lắng nghe.
    "Đường lối, chủ trương của chúng tôi là hòa giải và hòa hợp dân tộc để cứu sinh mạng đồng bào. Tôi tin tưởng sâu xa vào sự hòa giải giữa người Việt Nam để khỏi phí phạm xương máu của người Việt Nam. Vì lẽ đó, tôi yêu cầu tất cả các anh em chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa hãy bình tĩnh ngưng nổ súng và ở đâu thì ở đó. Chúng tôi cũng yêu cầu anh em chiến sĩ chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam ngưng nổ súng, vì chúng tôi ở đây đang chờ gặp chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam để cùng nhau thảo luận lễ bàn giao chính quyền trong vòng trật tự, tránh sự đổ máu vô ích cho đồng bào."
    Mọi người nhìn nhau, như tê cứng lại một phút. Cậu nhắm nghiền mắt lại. Người sĩ quan dành cả thời trai trẻ cho binh nghiệp, từng nếm mùi gian nguy trên chiến trường, từng chia sẻ niềm vui nỗi buồn của người dân suốt 20 năm, trong phút giây này đầu óc hầu như trống rỗng. Mọi người cùng im lặng theo với cậu. Trong những ngày cuối cùng của Đà Nẵng, gia đình bị kẹt lại, cậu đã thấy trước được làn sóng dữ đang cuồn cuộn chảy vào Nam. Cậu tưởng không bao giờ thấy lại người thân, nhất là đứa con trai út còn ở trong Sài Gòn. Như có một phép lạ, vào lúc nguy nan nhất gia đình cậu đã hòa cùng dòng người tất tả lên được một chiếc tàu tư nhân và xuôi vào Sài Gòn. Những ngày cuối, khi vào công tác trong Sài Gòn, cậu đã có nhiều cơ hội ra đi để tránh cho mình những nguy hiểm sau này. Cậu bị giằng xé trong tư tưởng. Cậu thương anh thương chị, thương đại gia đình của cậu. Cha mẹ mất sớm, cậu gắn bó với anh chị, với cái đại gia đình này biết bao! Cậu biết cái cơ hội cuối cùng sẽ dễ vuột mất. Trong đầu của cậu, hai chữ "không đi" hiện ra thật lớn. Nhiều người sẽ cho là cậu dại, nhưng họ không thể nào hiểu cậu đâu! Nhiều lần cậu đã quay đi để tránh ánh mắt trách móc của mợ. Và đến giây phút này, cậu tự hỏi phải chăng cậu đã sai.
    Không khí ngột ngạt. Đoan lấy cớ đi mua thêm mấy thứ cần dùng, nổ máy xe Cady chạy ra đường. Bỗng nhiên Đoan muốn chạy vào đó, con đường cây còng. Nhưng đã không được, vì mấy ngày nay người ta cấm không cho ra vào khu vực ấy. Họ giờ đang ra sao, những người thương binh đang nằm trong bệnh viện? Nếu có một sự thay đổi lớn xảy ra, họ sẽ bị đối xử thế nào? Và Thắng nữa, vết thương của Thắng ra sao rồi? Thắng có được bình an không? Đoan thấy mình lênh đênh trong một thứ không khí nhờn nhợn.
    Người ta xô đẩy nhau chạy náo loạn, chạy cả xuống đường. Có ai đó nói "Hôi của! Hôi của!" Đoan hoảng sợ chạy nép vào sát lề đường. Mấy hôm trước đã có một "phong trào" xông vào những nhà mà chủ đã bỏ chạy, lấy bàn ghế đồ đạc, bất cứ cái gì khiêng vác và chở được là họ lấy, và tha về nhà mình. Hôm nay cảnh này còn hỗn loạn hơn nữa. Đoan không chịu nổi. Đầu óc váng vất, Đoan quay xe trở về. Vừa đến cửa, Đoan nghe tiếng của dượng:
    - Mọi người nghe đi, thôi rồi!
    Và đây! 
    "Tôi, đại tướng Dương Văn Minh, tổng thống chính quyền Sài Gòn, kêu gọi quân đội Việt Nam Cộng Hòa hạ vũ khí, đầu hàng vô điều kiện quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam. Tôi tuyên bố chính quyền Sài Gòn, từ trung ương đến địa phương phải giải tán hoàn toàn, giao toàn chính quyền từ trung ương đến địa phương lại cho chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam."
    Có tiếng phụ nữ bật khóc. Nhưng tiếng khóc sớm ngưng vì sự im lặng của phía nam giới. Còn bầy trẻ nhỏ thì kéo nhau lên gác. Chúng không biết cái gì đã xảy ra, nhưng con nít tinh ý lắm, chúng bảo nhau chơi một trò chơi không có tiếng ồn. 
    Đoan dự vào trò chơi im lặng đó. Đoan cắm đầu nhìn xuống một trang giấy. Trang giấy trắng bóc. Có đột ngột quá không? Rõ ràng đã có những điều như báo trước. Từ những địa danh nóng bỏng - Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng, Ban Mê Thuột, Khánh Dương, Xuân Lộc... là những nơi mất dần theo luồng sóng dữ, từ sự hiện diện của 50 người từ khắp nơi về chen chúc trong một căn nhà nhỏ, từ câu tuyên bố thẳng thừng của một ông thầy "Tôi là VC đây!", đến lúc Đoan bị từ chối không cho vào thăm bệnh trong quân y viện. Tất cả là những dấu hiệu thấy được trong cuộc sống của một người thường dân. Dấu hiệu của một sự tan vỡ. Nó không để người ta chờ đợi thấy lại sự chiến thắng, như trong Tết Mậu Thân, như trong Mùa Hè Đỏ Lửa. Người ta không có đường để hy vọng.
    Nghe bên hàng xóm thoáng có tiếng người nói với nhau đi xem xe tăng vào Dinh Độc Lập.Thế nữa ư? Mấy hôm trước đây cũng những người đó bù lu bù loa nói với dì Đoan rằng rồi đây sẽ bị họ rút móng tay. Bỗng như một phản xạ, Đoan mở hộc bàn, lấy ra một tấm bằng đã được bao bọc rất cẩn thận. Hàng chữ "Giải Nhất Cuộc Thi Văn chương Nữ sinh Toàn quốc, năm..." trông hoa mỹ quá! Đoan nghe đau nhói nơi ngực. Có là cái gì quý giá lắm không? Có quý như những sinh mạng đã mất đi trong cuộc chiến?Có quý như những gì mà mảnh đất này đã có và nay mất đi vào tay những người xa lạ? Có quý như những thầy, bạn, anh em đã ngã xuống trên chiến trường? Có quý như những gì mình đã học được trong bao năm ngồi ở ghế nhà trường? Đã có ai nói gì chưa? Vẫn đang ở những phút giây giữa thắng và bại. Nhưng có lẽ sẽ thay đổi hết, cả một nền văn hóa và giáo dục.
    Đoan đi vào bếp. Bếp có nồi cơm thật lớn đủ cho 50 người, chưa ai ăn nổi trưa nay. Nồi canh, chảo cá cũng rất lớn. Lò than đỏ hồng. Đoan lột bỏ bao plastic, cuộn tròn tấm bằng lại như một thanh củi, cho vào lò. Giấy bắt lửa, loại giấy dày chậm cháy. Ngọn lửa yếu ớt từ từ liếm vào giấy, ăn dần theo hình cong chữ S. Đến cuối cùng, ngọn lửa bùng lên, sáng chói, rồi lịm đi. Không còn gì.
    Đêm qua dường như không ai ngủ được. Không nói ra, nhưng ai cũng thấy mình sắp chấm dứt cảnh chen chúc này. Trở về! Họ phải trở về thôi! Về lại những thành phố đã mất. Đà Lạt, Nha Trang, Đà Nẵng... Nhưng đâu còn ý nghĩa đó nữa! Tất cả đều đã như nhau. Một mối!
    Sáng sớm đã có mấy người ra bến xe xem thử có xe chạy chưa. Mợ ra mua thức ăn sáng, trở về nói khắp đường phố đã ngập cả cờ. Cờ đỏ và cờ xanh đỏ.
    Mợ vào bếp, đưa cho chị Son mấy tờ giấy bạc, nói khẽ:
    - Son, đi về quê đi nhé! Sắp tới chắc khó khăn lắm, không mướn em nổi đâu!
    Son cầm tiền, chưa kịp nói gì thì mợ đã tiếp:
    - Nhà này ai cũng quý Son, nhất là bé Tuyên, nó sẽ buồn lắm nếu không có em, nhưng đành vậy...
    Đôi mắt Son chợt rưng rưng. Chị thấy Đoan cũng có mặt ở đó. Chị cúi đầu ấp úng những gì nghe không rõ. Đoan quay đi, rùng mình khi nghĩ đến những gì có trong đầu của cô gái này. Liệu chúng có xâu xé chị ta hay không, ai mà biết được!
    Ở nhà ngoài có tiếng xôn xao. Đoan và mợ chạy ra. Anh Đan, người anh họ đi lính ở Gò Công, đang có mặt. Anh đã về. Mọi người mừng rỡ xúm lại hỏi han. Hôm qua ai cũng lo rằng anh bị kẹt dưới đó không biết ra sao. Nhà biết tính anh không bao giờ chịu nhịn nhục, nên nghĩ dại nhiều chuyện có thể xảy ra. Nét mặt anh thất thần. Chị Đan rót nước, lấy khăn cho anh. Thằng con chập chững đi đến bên cha. Anh bế con lên, hôn nó, và siết chặt, chặt quá đến nỗi nó khóc ré lên. Chị Đan hoảng hốt bảo anh trao con cho chị. Anh chạy nhanh ra cửa sau. Mọi người nghe anh khóc to, tiếng khóc đau lòng. Anh đấm tay vào cột gỗ nghe rầm rầm. Khi chị can anh được rồi, hai nắm tay anh đã rỉ máu.
    Đoan nghĩ mình phải ra đường, và phải đến trường. Hôm nay không còn tiếng súng, có lẽ trường mở cửa lại. Đầu óc hoang mang, Đoan chạy trên những con đường quen thuộc sao bỗng thấy lạ hoắc. Đường phố còn vương vãi quần áo giày mũ của lính. Và những cờ là cờ, đầy đường. Cờ đã thay màu. Mai đây những con đường này chắc cũng sẽ thay tên.
    Chạy qua cổng trường ở đường Cường Để, lòng nghe một chút bình an. Dù sao đây cũng là nơi thân ái của mình. Quả thật trường đã đông đúc trở lại. Có lẽ qua những ngày sóng gió, thầy trò sẽ cố gắng tạo được sinh hoạt bình thường.
    Đoan gặp trước tiên là thầy Tính. Ông đứng dưới sân trường, không phải ở trong labo nơi cố hữu của ông. Tất cả sinh viên được thông báo vào họp trong Giảng đường lớn. Thầy Tính nán lại chờ Đoan. Ông cười, nụ cười lạ lùng không lộ tình cảm:
    - Mừng gặp lại chị Đoan.
    Đoan hơi ngơ ngác, chợt hiểu ra rằng sau một biến cố lớn như vậy, sẽ có cảnh người đi kẻ ở. Ông mừng là phải. Đoan chỉ biết nói "dạ". Thầy Tính nói tiếp:
    - Mọi việc rồi sẽ bình thường thôi chị Đoan nhé!
    - Dạ, thưa thầy.
    - Tôi biết những người như chị rất giàu tình cảm. Nhưng chị hãy nhớ một điều: sống trong chế độ này, chỉ cần mình yêu nước, yêu dân tộc là đủ.
    - Dạ, thưa thầy. Con nghĩ điều đó... là có thể ạ.
    - Vậy tôi chúc mừng chị.
    Trên bục giảng, "ban giám hiệu mới" đang ra mắt. Người mới được gọi là Hiệu trưởng, không gọi là Khoa trưởng. Vị Khoa trưởng của "những ngày trước ngày hôm qua" được mời lui về làm giáo sư giảng dạy. Đoan nghe được thêm một chữ mới: "tiếp quản". Trường được những người mới "tiếp quản". Nhìn quanh, thấy thiếu một số bạn quen. Đoan nghĩ mình đã thành "người ở lại", rõ ràng như thế thôi.
    Sau buổi họp, nhà trường cho sinh viên về lớp "họp tổ", lại một chữ mới. Không thấy người trưởng lớp, chắc đã đi rồi. Một ban phụ trách lớp đã được chỉ định sẵn ra mắt, sau đó giới thiệu các "tổ trưởng phụ trách thảo luận". Nhiều bạn ngơ ngác nhìn nhau, như ngầm hỏi: "Thảo luận" cái gì? Trước đây cũng có nhóm mà là nhóm thực tập, không phải để "thảo luận". Nhưng rồi những ánh mắt cũng dịu lại, tuổi trẻ dễ đón nhận cái mới.
    Những gương mặt tổ trưởng thảo luận đây rồi, không lạ, cũng là các bạn trong lớp mình thôi. Một người chuyên vắng mặt giờ "học cours" trong giảng đường, chỉ đi thực tập vì thực tập là bắt buộc. Một người có thành tích học không mấy khá. Một người có vẻ bề ngoài rất nhút nhát, hầu như chưa ai được nghe bạn ấy nói trọn vẹn một câu. Một người có cách nói cộc lốc. Một người có giọng nhỏ nhẹ. Muôn màu muôn vẻ! Họ cho biết sắp tới sẽ chia nhóm để "thảo luận chính trị".
    Chỉ là những bước mở đầu cho giai đoạn mới. Không có giờ học. Đoan lấy xe ra về. Trên đường, Đoan cứ nghe như văng vẳng câu nói của thầy Tính: "sống trong chế độ này, chỉ cần mình yêu nước, yêu dân tộc là đủ". Có phải thế không? Đoan giật mình khi có một tiếng còi xe nghe lạ đàng sau lưng. Đoan chạy xe sát vào gần lề, ngước nhìn những chiếc xe mà mình đã từng xem thấy trên báo. Xe Molotova. Những người lính trên xe lướt mắt nhìn người dân đi dưới đường, nhìn phố xá lạ lùng đối với họ. Có nhiều gương mặt còn quá trẻ. Súng trên tay. Áo màu xanh lá rừng. Nón cối. Giày hình dạng như dép có quai chéo nhau, làm bằng cao su màu đen, Đoan đoán là cao su của vỏ bánh xe hơi. Đoan lại đi ngang những con đường vương vãi quần áo giày mũ của lính. Đoan ngậm ngùi. Thấy trước mắt gương mặt tuyệt vọng của cậu, nắm tay rỉ máu của anh Đan, vết thương của Thắng. Tôi khóc đây!!!
    ------
    Xong một "buổi học"! Đoan đứng dậy, đầu óc choáng váng. Sáng nay đã có một nữ sinh viên ngất xỉu trong giảng đường và được đưa ra ngoài. Chẳng qua là vì trời khá lạnh nên người ta đóng kín cửa hội trường lại. Không quạt máy, không máy lạnh. Bầu không khí tù túng với cả ngàn con người. Thiếu không khí, chịu không nổi, chị ấy xỉu.
    Cái rạp hát trước đây thường lệ mỗi tuần làm nơi xổ số, "xổ số quốc gia giúp đồng bào ta mua lấy xe nhà giàu sang mấy hồi", nay được dùng làm giảng đường để học chính trị. Ít nhất có sinh viên của 4 trường cùng đến học chung, rồi sau đó về trường vào "tổ thảo luận": Trường Y, trường Dược, trường Luật, trường Kiến Trúc. Nghe hấp dẫn vậy nhưng không có mối liên kết nào cả, chỉ là ghép lại cho tiện các "thầy". Sinh viên mạnh ai nấy ghi chép, về nhà học, thảo luận, rồi làm bài thi. Ngay cả trong chính nhóm trường lớp của mình, Đoan cũng là một người cô độc. Một mình một bóng đến rồi ra. Khác với trước đây, mỗi lần đi học "cours" hay thực tập Đoan đều có hai nhỏ bạn thân là Xuân và Mỹ. Nhưng Xuân đã đi mất. Mỹ thì không còn thân nữa, bởi chính Đoan đã tự lìa xa. Mỹ bây giờ làm tổ trưởng một nhóm thảo luận. Còn Đoan lặng lẽ, lặng lẽ như cây sầu đâu trong vườn dược thảo.
    Đoan ra khỏi rạp. Đúng, nó là cái rạp hát, không thể là giảng đường. Mấy hôm nay Sài Gòn chịu ảnh hưởng của một cơn bão ngoài biển Đông nên mưa nhiều và khá lạnh. Đoan khoác áo mưa, lấy xe đi về trường. Chỉ một cái ngã ba, quẹo trái. Thật ra cũng không cần về trường vì thời gian này tất cả sinh viên đều chỉ học chính trị, không có giờ chuyên môn. Nhưng Đoan vẫn muốn hưởng một chút cái lặng yên của một buổi chiều mưa. Đoan vào cất xe ở chỗ cũ trong nhà xe, chào bác giữ xe con người ốm o, dáng nhẫn nhục, rồi lên đứng nơi hành lang, nhìn xuống những nhánh sông, chính là những dòng nước chảy men theo bờ tường thấp. Đoan nhắm mắt lại, tưởng như đó là nhánh sông đời của mỗi người. Chỉ riêng với những con người trong ngôi trường này thôi, biết bao nhiêu nhánh đời đã thay đổi. Đoan thở dài...
    Mỹ xuất hiện. Mỹ đi một mình. Như một phản xạ, Đoan lùi lại một bước. Nhưng Mỹ đã thấy Đoan. Mỹ mỉm cười. Đoan mỉm cười đáp lại. Hai đứa chào nhau. Đoan tưởng chỉ đơn giản như vậy thôi, như bao lần, nhưng có vẻ như Mỹ định nói một điều gì. Mỹ đi về phía Đoan. Đoan vẫn đứng yên khi bạn đến gần. Mỹ nói một cách hơi vui vẻ:
    - Định ngày mai sẽ nói với Đoan, nhưng đã gặp đây rồi, hay quá! Đoan nè, Đoan còn nhớ có lần Mỹ nói Mỹ có cô và chú ở "trỏng" không?
    Đoan hơi khựng, nhưng trả lời được ngay:
    - Đoan có nhớ.
    - Cô và chú đã về rồi. Họ đang công tác bên trường Văn Khoa.
    - Ừ, Đoan nhớ... Mỹ nói họ là sinh viên Văn Khoa.
    - Đoan nè, cô của Mỹ muốn gặp Đoan để nói chuyện đó!
    - Vậy à? Nhưng cô chưa gặp Đoan bao giờ mà!
    - Mỹ có nói nhiều với cô về Đoan, bởi Đoan là bạn thân của Mỹ mà!
    - Thì... cũng đâu có gì đặc biệt!
    - Đặc biệt chứ! Cô biết Đoan viết văn, Đoan là nhà văn của tuổi học trò.
    Đoan cố cười ra tiếng cho nhẹ bớt bầu không khí:
    - Trời ơi!Cho Đoan xin đi Mỹ ơi! Đoan có tự xưng mình là nhà văn bao giờ!Chỉ là viết cho con nít.
    - Dù muốn hay không, Đoan cũng đã đăng bài trên báo, Đoan đã xuất bản sách truyện. Nhiều người đã biết đến Đoan.
    Đoan thở ra:
    - Biết để làm gì chứ? Đoan không nghĩ đến những cái đó nữa Mỹ à! Nhưng... cái đó có liên quan gì đến cô của Mỹ?
    - Có chứ! Cô đang lo về công tác văn hóa văn nghệ cho thành phố mà! Cô nói rất muốn gặp Đoan. Mỹ cho Đoan địa chỉ, cuối tuần Đoan ráng đến nhé! Mà không phải nhà của cô đâu, nhà này là nhà của một người Đoan quen biết đấy!
    - Ai thế?
    - Nhà văn Mai Huyền, cùng tòa soạn với Đoan đó!
    Đoan ngơ ngác:
    - Cô Mai Huyền... cũng quen với cô của Mỹ hở?
    - Mới quen thôi! Mai Huyền là nhà văn khá nổi tiếng, cô của mình mời cô ấy cộng tác.
    - À!...
    Không có gì để trao đổi thêm. Đoan hứa với Mỹ, rồi cũng như hứa với mình:
    - Sẽ đến... xem sao.
    ------
    Đoan từng nghe nói về nhà của cô Mai Huyền, nhưng chưa đến. Thật ra, Đoan không thân lắm với nhà văn này như đã thân với các anh chị khác. Chỉ 1 vài lần gặp nhau khi có dịp họp tòa soạn, thế thôi. Cô Mai Huyền thường viết hoặc dịch những truyện về gia đình và xã hội, cũng chuyên cho lứa tuổi học trò. Cô có cái cách nói chuyện của người trong thế hệ học chương trình Pháp, thế hệ của Ba. Đoan có chút cảm mến đối với cô, nhưng thấy hơi khó gần. Nhưng thôi, hãy gác lại tất cả.
    Đoan đến trước cửa. Cánh cửa đã mở sẵn. Cô Mai Huyền đi ra ngay khi thấy Đoan. Cô đón Đoan vào nhà. Trong phòng khách đã có sẵn một người. Nhìn nét mặt, Đoan biết ngay là cô Liên của Mỹ. Người đó lên tiếng trước:
    - Chào em Đoan.
    - Dạ cháu chào cô.
    - Cứ gọi chị là chị nhé! Chị chỉ hơn em vài tuổi.
    - Dạ.
    Cô Mai Huyền mời:
    - Đoan ngồi đi, cô rót nước cho uống nhé!
    - Dạ cám ơn cô, xin cô để cháu tự nhiên ạ!
    Trong khi cô Mai Huyền đi rót nước, Liên lấy ra một tờ nhật báo. Cái tên báo đập vào mắt Đoan, tờ báo duy nhất được phép phát hành. Dù muốn hay không, Đoan và mọi người đều đã quen với cái tên này Sài Gòn Giải Phóng. Thành phố đã không còn tên Sài Gòn, nhưng hai chữ "Sài Gòn" lại nằm bình an trên cái tên của tờ báo ra mắt vào những ngày đầu tiên của tháng Năm. Liên lại mở ra một trang trong, đặt tờ báo lên bàn. Đoan nghe tim nhói đau. Cái trang báo mà Đoan đã đọc đi đọc lại cả chục lần ở nhà, bây giờ đang được bày ra trước mắt mình. Để làm gì cơ chứ? Chắc hẳn Liên đã có một dụng ý.
    - Em xem đi!
    - Thưa chị, số báo này em đã xem ạ!
    - Em... thấy sao?
    - Dạ, ý chị là...?
    - Chị muốn hỏi em cảm thấy thế nào khi đọc mục này?
    - Dạ em...
    Đoan nghẹn lời. Đoan cố gượng cho mình được tỉnh táo. Dù sao, Liên cũng chỉ là một người lạ. Đoan không thể khóc với người này.
    Một khoảng lặng ngắn qua đi. Cô Mai Huyền đưa cốc nước cho Đoan, rồi ngồi xuống ghế bên cạnh. Liên nói:
    - Chị tiếc cho em, rất tiếc. Em là một nhà văn đầy triển vọng. Nhưng trong danh sách này đã có tên hai truyện dài của em bị cấm, trong khi cô Mai Huyền và những cây bút khác thì không, tuy họ cùng trong một nhóm với em.
    Như người đưa tay đỡ một nhát roi đang bồi vào vết thương đang mở, Đoan nói:
    - Em biết, thưa chị. Bởi em viết về những chuyện em sống, không giống quý vị ấy.
    - Hơn thế nữa, em à, là cái nhìn của em, chứ không phải chỉ những sự kiện mà em chứng kiến.
    - Thưa chị, em chưa hiểu...
    - Cùng những sự kiện đó, người khác không viết như em. Em đã đứng về một phía. Cái phía đó, hiện nay đang là đối tượng mà nhân dân chê trách.
    Đoan thấy mình cần phải cứng rắn lên. Đoan nói:
    - Thưa chị, em đã viết trong sự tự do của em. Không ai yêu cầu em viết cả. Và cũng không ai yêu cầu em nên hoặc phải viết thế nào cả. Em sống và cảm nhận, và viết, thế thôi ạ.
    Cô Mai Huyền lên tiếng:
    - Liên à, cũng nên thông cảm cho các em như Đoan, mở mắt ra đã thấy Mỹ.
    Liên đáp:
    - Dạ phải. Không trách được. Các em không được tiếp xúc với tư tưởng cách mạng.
    Chúa ơi! Đoan cảm thấy không thể chịu đựng được nữa. Đoan đứng lên, nói nhanh:
    - Thưa cô, cháu có việc gấp, xin phép cô, xin phép chị...
    Liên nói:
    - Khoan đã Đoan à! Mục đích của buổi gặp hôm nay không phải là chuyện em có tác phẩm bị cấm, mà là chuyện xây dựng. Đoan hãy nán lại, nghe chị nói. Chị đang giữ trách nhiệm làm văn hóa văn nghệ cho thành phố. Trước mắt, chị sẽ xây dựng một tờ báo, phổ biến văn nghệ cách mạng. Chị thấy trong những truyện còn lại của em, có một quyển em viết về những người nông dân kháng Pháp, hay lắm! Nếu em phát triển ý đó, tiếp tục đi con đường của em, chị tin em sẽ tiến bộ.
    Đoan hơi dịu lại, ngồi xuống ghế. Liên gấp tờ báo lại, cất đi. Giọng của Liên thật nhẹ nhàng:
    - Đoan à, thời đại này rất cần những người như em. Tuy có chút lệch hướng, nhưng không quan trọng. Chị biết nhìn người. Qua cô Mai Huyền và qua Mỹ, bạn thân của em, chị tin rằng em là người rất tốt. Nếu được dìu dắt, em sẽ đóng góp rất nhiều cho xã hội.
    - Thưa chị, em đã vào danh sách đen rồi!
    - Rất nhiều người vào danh sách đó lắm, có phải riêng em đâu! Em hãy quên cái danh sách ấy đi, tiến tới, em nhé! Chị bảo đảm em sẽ thấy còn nhiều cơ hội cho em.
    Cô Mai Huyền nói thêm vào:
    - Đoan hãy còn trẻ lắm, hãy vươn lên Đoan ạ! Theo như cô đây, cô thấy rất dễ dàng để bắt tay vào cuộc sống mới.
    Cuộc gặp gỡ rồi tàn. Đoan có cảm giác mình như người tù được tha bổng.
    ------
    Danh sách những sách báo "phản động và đồi trụy bị cấm". Đoan thừ người trước tờ báo mà mình đã định xé bỏ ngay khi thấy đăng cái danh sách này, nhưng lạ sao Đoan lại cất nó đi. Bây giờ đem ra xem lại, tay lần theo từng cái tựa, mắt dò chăm chú như người đi coi bảng thi đậu. Nhiều người "rớt", mình "đậu"! Hai cuốn truyện dài được vào danh sách. Ngày đầu thấy nó thì Đoan bật khóc. Nhưng bây giờ thì không. Giống như người tù khi thấy mình đã ở sau chấn song thì không còn gì để tiếc rẻ hay lo sợ. "Phản động" và "đồi trụy" được gom lại làm một. Đoan cười chua chát. Mình, một cô bé mới lớn, đang ở trong một khu vườn ngát hoa thơm, bỗng vén bức màn lên, thấy mình chìm ngập trong màu xám xịt của khói. Đoan bập bùng trong đó...
    Phản động và đồi trụy, hai khái niệm nhưng đã thành một, qua danh sách đó. Người ta đã thật nhanh chóng nắm bắt được tất cả những hoạt động văn hóa văn nghệ của miền Nam, nhanh chóng lên được một danh sách để thông báo khắp nơi. Một "nhà văn của tuổi học trò", lại có hai tác phẩm "phản động và đồi truỵ" bị cấm! Đã mấy ngày qua, Đoan như người mắc một căn bệnh nhiễm trùng, nhưng còn trong giai đoạn hâm hấp sốt, nay sau khi Đoan gặp cô Mai Huyền và Liên, bệnh bước qua giai đoạn bùng phát. Nhiệt độ tăng cao, những triệu chứng hiển hiện, quật ngã người bệnh. Không! Đó chỉ là trong trí tưởng tượng của Đoan mà thôi, còn vẻ bề ngoài của Đoan vẫn luôn là một mặt hồ êm ả. Đoan muốn tránh tất cả các tác động cho gia đình. Các vị đã quá mệt mỏi với những biến cố xảy ra. Các vị đã đương đầu với những nỗi sợ, nỗi lo, nỗi buồn, nỗi chán. Đoan không có quyền làm tăng thêm một chút gì trong những nỗi ấy.
    Đoan lại cất tờ báo đi. Sau này, khi mình già, mang ra xem lại, có khi lại cười. Ôi, nhưng từ nay cho đến khi mình già, mình sẽ làm gì? Mình có còn viết được gì nữa không? Hiện giờ thì mình không bị bắt, không bị ai "ngó ngàng" tới, chẳng có gì phải sợ. Miễn là mình đừng làm cái gì như là "phản động đồi trụy" nữa. Ồ nhưng cũng không được, người ta nói có cơ hội khác mở ra cho mình kìa! Viết, viết tiếp!
    "Mở mắt ra đã thấy Mỹ". Bỗng nhiên câu nói của nhà văn Mai Huyền vang lên, xoáy mạnh trong tai Đoan. Đoan muốn la lên: Không! Không phải như thế! Sao một nhà văn lại có thể nói như thế?
    Người phát thư đi qua, ném vào nhà mấy lá thư. Có thư của Liên gửi cho Đoan. Trong thư, Liên hối thúc Đoan viết một bài cho tờ báo mới ra do Liên làm chủ nhiệm. Liên nhắc đến việc "dùng văn chương phổ biến triết học Mác-Lê-nin". Đoan nghe ù cả hai tai. Những buổi học chính trị gồng mình trong rạp xổ số chưa đủ hay sao? Những buổi "thảo luận tổ" nghe tổ trưởng gào thét "tinh thần đấu tranh giai cấp" chưa đủ hay sao?... Có một hôm, trong giờ họp tổ thảo luận mà các tổ viên phải ngồi vòng tròn, ngồi bệt dưới đất trong sân trường, Đoan đã lớn tiếng cãi lại tổ trưởng khi anh ta mạ lị những người lính của "chế độ cũ". Cả tổ nhìn Đoan ái ngại. Kể cả người bạn có cha đang ở trong tù "học tập cải tạo" cũng nhìn Đoan ái ngại. Đoan nói ngay:
    - Xin các bạn đừng nghĩ tôi nói vì tôi. Ba tôi không phải là quân nhân. Tôi nói cho những người bạn tôi. Tôi nói vì lòng tôi luôn cám ơn những người lính. Tôi nói vì sự hy sinh của họ. Còn anh tổ trưởng muốn nhận xét, phê bình tôi ra sao là quyền của anh. Anh hãy nhớ lại trong khi anh bình yên học hành ở thành phố thì ai là người đã bảo vệ anh. Có khi họ phải què cụt. Có khi họ phải chết. Ngày hôm nay họ là kẻ chiến bại thì anh quay lưng với họ, anh miệt thị họ... Tôi xin dứt lời.
    Sau buổi họp tổ ấy, tổ trưởng nói ít hơn. Các tổ viên ít phát biểu hơn. Đoan càng im lặng hơn.
    Một hôm, Mỹ tìm Đoan trong sân trường, mở lời:
    - Mỹ muốn nói với Đoan một chuyện.
    - Chuyện gì hở Mỹ?
    - Cô Liên nhờ Mỹ "động viên" Đoan.
    - Về chuyện gì?
    - Về chuyện viết văn. Đoan... chưa viết gì gửi cho cô Liên phải không?
    - Chưa. Ơ... phải nói là Đoan chưa biết viết gì.
    - Đoan giấu nghề thôi! Mình là bạn thân của Đoan từ mấy năm nay, mình biết hễ Đoan muốn viết thì chỉ một đêm là xong một truyện ngắn. Còn truyện dài thì Đoan cũng viết vèo vài tuần là xong.
    - Nhưng... Mỹ à, Đoan đâu phải là cái máy viết. Đoan phải có cảm hứng, có chất liệu để viết.
    - Thế bây giờ... không có chất liệu sao?
    Đoan yên lặng. Người bạn nói là thân này sẽ không hiểu Đoan đâu! Mỹ lại thuyết phục:
    - Mỹ hiểu Đoan lắm. Có khi Đoan còn vương vấn những cái thuộc về quá khứ. Chứ hiện nay đời sống quanh mình có vô số chất liệu cho Đoan viết mà! Đoan thấy không, xã hội đang thay đổi, đất nước đang vươn mình. Tụi mình còn trẻ lắm mà, sẽ hòa nhập dễ dàng Đoan à!
    Đoan nhìn Mỹ, chợt thấy mình không cảm động. Mỹ nói giống như thầy Tính nói với Đoan trong ngày đầu tiên trở lại trường với Ban Giám hiệu mới: "Sống trong chế độ này, chỉ cần mình yêu nước, yêu dân tộc là đủ." Hai cách nói khác nhau, nhưng sáo rỗng giống nhau. Đoan cười nhẹ một cách ơ thờ, không muốn nói nữa. Mỹ đưa cho Đoan một cuốn báo:
    - Tạp chí số đầu tiên đây, cô Liên nhờ Mỹ đưa cho Đoan. Chưa có bài của Đoan đấy nhé! Cố gắng số tiếp theo sẽ có Đoan xuất hiện ha!
    -----
    Đoan đặt cuốn tạp chí Mỹ mới đưa bên cạnh cuốn tạp chí cuối cùng của Đoan, số ra ngày 1 Tháng Tư 1975. Cuốn tạp chí của tuổi học trò! Đoan còn giữ cả chồng báo và sách của tuổi học trò. Lẽ ra Đoan đã ngoan ngoãn đem ra phường để nộp như một số bạn của mình đã làm rồi đứng nhìn người ta đốt những sách báo đó. Nhưng một sức phản kháng lặng lẽ khiến Đoan không làm vậy. Đoan giữ lại hết. Cùng lắm nếu họ có biết được thì mình nộp, chẳng ai bắt mình bỏ tù cho tốn cơm. Đoan và chị Thúy cười khúc khích với ý kiến này. Chẳng những vậy, mấy ngày nay Đoan lục những cuốn "cours" của lớp cũ đã học xong rồi đem ra tiệm sách cũ bán lại, cũng được một ít tiền. Ra đó Đoan mới biết hóa ra tiệm cũng đang tìm mua sách báo cũ để bán lại cho những người "săn sách". Thật buồn cười! Và thế là Đoan cùng chị Thúy lại ra tìm sách cũ để mua về đọc, đương nhiên là đọc lén.
    Đoan cười một mình. Có lẽ cái vườn hoa kỷ niệm của mình vẫn không thể mất. Theo quán tính, Đoan lật cuốn tạp chí học trò của mình, không với ý định tìm kiếm cái gì cả, chỉ để hít lấy mùi giấy quen thuộc. Cuốn báo vẫn còn như mới. Đó là cuốn báo do tòa soạn tặng Đoan. Vẫn còn mới mà! Mới Tháng Tư! Tay vẫn lật sách, mắt nhắm lại, Đoan hít thật sâu cái mùi giấy thơm tho đó. Chợt khi mở mắt ra, Đoan dừng lại ở trang "Từ Mọi Góc Đời", một mục mới toanh Đoan nhận phụ trách kể từ số báo này. Một mục chết non!!! Đoan đọc, bài "Trong Những Bức Thư Của Danh"...
    Phước Tuy 22-9-1974
    Tôi lại bắt đầu nghĩ đến việc mình phải làm. Làm gì bây giờ hả chị Huyên? Nằm không thì buồn chết. Còn học thì... đang thử. Chắc chắn là có rất nhiều trở ngại. Còn làm ruộng... không thể được rồi! Buồn buồn xem lại một cuốn truyện. Tôi phân vân quá! Không biết rồi mình có "vĩ đại" như nhân vật Nghiêm trong "Khúc Lan Can Gãy" được không?
    Phước Tuy 22-12-1974
    ... À, chị Huyên, tôi mới thêm một lần nữa nhập viện để chuẩn bị cắt xương dư và điều trị vết thương nơi chân phải. Lại một đoạn văn của chị làm tôi nhớ đến. Và không hiểu tôi nên vui hay nên buồn cho cái sự đang tăng trưởng của mình, cho lứa tuổi đang "trẻ" của mình (nhiều khi tôi cứ tưởng mình đã già từ lâu!)....
    "Khúc Lan Can Gãy", một trong hai tác phẩm bị cấm của Đoan! Đoan viết về họ, cho họ. Chất liệu là họ. Cảm hứng cũng là từ họ. Danh cũng trở thành "nhân vật" của Đoan rồi! Những Danh của đất nước sau ngày đổi đời đã trôi dạt đi đâu không biết.
    Đoan lại mở cuốn tạp chí mà Liên muốn mời Đoan viết. Cách viết của những người này hoàn toàn khác. Đoan không thể nào giống họ được. Không bao giờ!
    Đoan phải sống, phải làm người chân thật. Không thể nào Đoan nặn óc viết theo sự khuyến khích của Liên, của Mỹ, của nhà văn Mai Huyền. Đoan phải là chính mình, phải viết theo cảm xúc thật của mình. Mà cũng có thể không bao giờ Đoan cầm đến cây bút nữa, biết đâu được!
    Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh
    (*) labo: laboratory, phòng thí nghiệm


Vung kiếm bên trời, Dakto
  • Tưởng nhớ Nguyễn Viết Thanh TĐT/TĐ8/ND/K19/Trường VBQGVN.


    Image en ligne
    Trong hình từ trái sang: BS Trọng, Đ/U Nguyễn Viết Thanh, Thiếu Tá Phạm Kim Bằng, Thiếu Tá Lê Minh Ngọc, Đ/U Đoàn Phương Hải trong cuộc hành quân với Chiến Đoàn 333 giải toả Kompongcham năm 1970.


    Như thường lệ sáng nào tôi cũng vừa nhâm nhi ly cà phê, vừa đọc email Võ Bị để biết tin tức, sinh hoạt của các bằng hữu anh em khắp mọi nơi trước khi làm việc. Nhưng buổi sáng hôm nay, buổi sáng thứ Tư ngày 21 tháng 6 năm 2000, tôi đã sững sờ đánh đổ ly cà phê khi đọc những hàng chữ báo tin Thanh Râu Nguyễn Viết Thanh Khóa 19 Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam (TVBQGVN) vừa mới qua đời vì bạo bệnh tại Canada! 
    Tôi không biết phải bắt đầu từ đâu, dùng chữ nghĩa như thế nào để viết cho đủ, chuyên chở cho hết những ngày trên Võ Bị, những tháng năm cùng chung đơn vị với những trận chiến mịt mù bom đạn khi ở Tiểu đoàn 7 Nhảy dù với Thanh!
    Thẫn thờ nhìn tấm hình để trên bàn làm việc, tấm hình nhà binh duy nhất mà tôi có do Thanh râu gửi tặng mấy tháng trước đây. "Bùi Đăng" Phạm Kim Bằng, "Ngọc Nga" Lê Minh Ngọc, "Thanh Tâm" Nguyễn Viết Thanh, tôi và Bác Sĩ Trọng chụp chung ở một căn nhà hoang hồi Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù tham dự hành quân với Chiến đoàn 333 bên Cambodge vào khoảng tháng sáu năm 1970.
    Ở một nơi nào đó, tôi nghe như Thanh đang nói nói cười cười trêu chọc anh em, mắt như thấy Thanh ngồi trên thiết vận xa chỉ tay xua quân qua biên giới. Qua khung cửa nắng đã lên cao, rặng thông bên kia đồi ngả nghiêng rì rào trong gió. Trên những cành sồi, hoa nắng tròn tròn lung linh trên bộ áo hoa dù! Thanh như thoáng hiện ở đâu đây!
    Ngoài kia những con chim mỏ đỏ cánh đen, giống như những con sáo ở quê nhà cất giọng hót trong cao nghe thật buồn đang bay chuyền trên cành cây maple lá đỏ. Và như thế là Thanh đã thực sự nhắm mắt xuôi tay, bỏ vợ bỏ con, bỏ Toronto tổ ấm cuối đời để về một nơi xa thật xa. Có thể là rừng dương bãi biển ở quê nhà, có thể là thung lũng mù sương Dakto, Hạ Lào, A Sao, A Lưới... Hay có thể là một chốn bình yên, không danh không lợi... Nhưng đó là nơi yên nghỉ cuối cùng của một đời người!
    Cuối năm 1962 khi những chuyến xe lửa cuối cùng vừa vượt núi băng rừng, uể oải lăn bánh vào sân ga Đà Lạt trong ánh nắng héo hắt, hanh vàng co ro lạnh của thành phố cao nguyên thì tôi gặp Thanh và nhiều bạn hữu chờ xe vào trường Võ Bị. Thời gian thụ huấn ở quân trường, tuy ở hai đại đội khác nhau, nhưng tuần nào chúng tôi cũng gặp nhau trong những đêm trực gác súng cối gần kho đạn.
    Nhiều đêm mưa lạnh co ro trong cái áo gác "lính cà" màu olive dài tới gót chân, Thanh thường kể tôi nghe về Phan Thiết quê anh. Thanh cao lớn đẹp trai, đôi mi cong như lông mi con gái, nổi bật với hàm râu quai nón dù đã cạo nhưng vẫn đen đậm quanh hàm, vì thế bạn bè gọi anh là Thanh Râu hay Thanh Tây Lai.
    Cuối năm 1964 khi mãn khóa ra trường, Thanh và tôi nhảy múa reo hò, mua ngay chiếc nón đỏ đội lên đầu vì được về binh chủng Nhảy Dù. Thanh về Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù ở trại Phạm Công Quân. Anh bắt đầu làm quen với những người lính phong trần, len lỏi chiếc Vespa dọc theo những hàng cây cao su, cây bã đậu cao xanh rợp bóng đậm màu vôi trắng dưới gốc cây tại ngã tư Bảy Hiền.
    Còn tôi thì leo lên chiếc GMC ngồi bên những người lính dù mặt sạm đen, áo trận còn vương mùi thuốc súng vừa từ mặt trận Tây Ninh về phép thăm gia đình. Chiếc xe nhà binh vút trên xa lộ về hậu cứ Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù tại trại Vũ Đào Ánh nằm khuất dưới những rặng cao su xanh mát trong căn cứ Không Quân Biên Hòa.
    Sau hơn một tháng hành quân trong Chiến Khu D, cả khóa chúng tôi về học nhảy dù. Đứng ngay cửa máy bay chờ nhảy "saut" đêm, Saigon dưới chân, cả một vùng rộng lớn lấp lánh ánh đèn xanh đỏ, sông Đồng Nai như một giải lụa bạch ôm lấy thành phố uốn khúc xuôi về phía biển. Khi đứng lên móc khóa dù, Thanh nheo mắt chọc tôi:
    - Coi chừng nhảy vô đồn nghe Bắc Kỳ con!
    Đèn xanh vừa nháy lên, liền với tiếng "Go" tôi lao mình theo Thanh Râu phóng ra khỏi thân tàu. Trời trong vắt đầy sao, gió đêm hơi lạnh thổi mạnh từ bờ sông, hoa dù tản mạn bung trong gió, lòng lâng lâng với một cảm giác thích thú kỳ lạ khi dù nhẹ nhàng bay. Làng mạc xóm nhà quanh khu Quang Trung và bãi nhảy Ấp Đồn mờ đục trong đêm. Đôi chân hụt hững trong không khí, tôi vội co chân lấy thế. Cách tôi không xa Thanh đang kéo dù ngược chiều gió để khỏi rớt vào đồn. Lũ trẻ trong làng tay bấm đèn pin chạy đuổi theo những hoa dù căng gió, từ trên cao nhìn xuống như một bầy đom đóm, vừa chạy vừa la kéo dù như những tay chuyên nghiệp!
    Chân vừa chạm đất, tôi lăn mình một vòng và cảm thấy hơi thốn ở chân. Lũ trẻ chăn trâu chợt la lên:
    - Cố vấn, cố vấn Mỹ tụi bây ơi!
    Rồi một số bỏ chạy về phía Thanh râu. Trong nháy mắt tụi nhỏ đã dồn dù của tôi vào bao, vui vẻ nhận tiền "lì xì." Cách tôi không xa Thanh đang chống nạnh la oai oái:
    - Ê nhóc con, tao là Việt Nam chứ không phải là Mỹ, lấy đỡ tí tiền còm đi mấy em!
    - Thiếu Úy trông giống Mỹ quá! Cho thêm chút nữa đi, dù vướng vào đồn mà Thiếu Úy.
    Tôi rít một hơi thuốc thơm rồi thủng thẳng đến bên Thanh ngâm nga câu thơ chợt đến trong đầu để trêu chọc Thanh râu:
    - Dù bay Nam Bắc Đông Tây. Sao Ông lại kéo... dù ngay vào... đồn!
    Lũ trẻ nhảy lên ôm bụng ngặt nghẽo cười. "Râu" lườm tôi:
    - Đồ Bắc Kỳ đểu!
    Rồi hai đứa lủi nhanh vào mấy hàng cháo, chè, hột vịt lộn... của các cô gái trong vùng bán hàng cho các toán nhảy dù ngày và đêm. Chân gác lên chiếc ghế dài, rít một hơi thuốc Pall Mall, tu liền một hơi mấy lon bia, Thanh nhe răng cười hích hích rồi chỉ mặt tôi hát chọc cái gốc Bắc Kỳ mang rau muống và dắt theo con chó vào Nam.
    - Quê hương tôi cái mùng mà kêu cái màn.
    Hay:
    - Từ Bắc vô Nam tay cầm bó rau, tay kia cầm sợi dây và dắt theo con cầy... 
    Mấy thằng bạn cùng khóa và lũ trẻ cùng phá ra cười.
    Sau "saut" dù đêm mãn khóa chúng tôi ít có dịp gặp nhau, nếu có thì cũng chỉ một thoáng vội vàng trong núi trong rừng, vừa bàn giao khu vực hành quân, vừa chia nhau điếu thuốc, rồi lại mỗi đứa mỗi nơi miệt mài trên khắp bốn quân khu.
    Chiến trường càng ngày càng khốc liệt, chúng tôi đã trưởng thành trong lửa đạn chiến tranh. Xương thịt bạn bè, máu huyết anh em đã thực sự thấm đỏ quê hương. Hết Kháng, hết Hùng ra đi ở Bình Giả thì lại đến Châm, Trí, Chu, Bôn, Quang... một đời mũ đỏ, mũ nâu nằm xuống ở Hậu Nghĩa, Củ Chi hay Cần "bơi" vừa kịp thấy đứa con đầu lòng thì ngã gục ở Khe Sanh.
    Chiến tranh đã thực sự chuyển mình, không còn CKC bá đỏ, không còn mìn bẫy hầm chông. Chiến tranh đã lớn, hung dữ như một con quái vật, vươn những cánh tay lông lá khổng lồ ác độc từ Nga sô, Trung Cộng đưa xe tăng đại pháo, hỏa tiễn súng bom, những vũ khí cực kỳ tinh xảo và hàng hàng lớp lớp tuổi trẻ miền Bắc chết dọc Trường Sơn để xâm chiếm miền Nam.
    Sau Tết Mậu Thân tôi đang ở Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù, hành quân lội nát vùng An Phú Đông, Nhị Bình, Mười Tám Thôn Vườn Trầu, vòng đai ven đô thành phố thì được lệnh thuyên chuyển về Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù đang hành quân hỗn hợp với Sư Đoàn Không Kỵ của Mỹ tại Tây Ninh. Tôi ghé về thăm hậu cứ tiểu đoàn. Vẫn những căn nhà vòm thân yêu nằm dưới những hàng cây xanh mát. Vẫn những tiếng rơi khô cứng của những trái cao su khô trên mái tole. Hàng cây cao su trước sân Đại Đội 72, nơi tôi vẫn tập họp binh sĩ ngày xưa vẫn xanh tươi, những chiếc lá khô vàng bay như bươm bướm phủ đầy trên sân đại đội mỗi khi có cơn gió thổi về.
    Cảnh cũ còn đây nhưng người xưa chắc chỉ còn mình tôi trở về đơn vị. Chiến tranh đã cướp đi hầu hết những người lính cũ mà tôi biết mặt quen tên! Tiếng kèn hạ cờ buổi chiều tan loãng trong không gian, lướt thướt trên rặng cao su, quyện tròn theo những căn nhà vòm, len lỏi thật sâu trong ký ức để tôi nhớ về những người lính cũ năm xưa!
    Người lính kèn cúi đầu chào khi nhận ra tôi, những sợi tóc ngắn bạc trắng bên mang tai. Chiếc kèn với vết đạn xuyên một lỗ tròn ngay tay cầm nay đã ten màu đồng ngả sang màu xám, người lính đã thực sự già sau những năm dài chiến trận.
    Đến Tây Ninh chiều 27 Tết, ở một thành phố xa lạ tôi thấy lạc lõng không biết về đâu, nên lái xe đến Thánh Thất Cao Đài, đến để chắp tay cầu xin an lành cho chính tôi, cho đơn vị, cho bạn bè và đồng đội của tôi. Sáng hôm sau ngồi trực thăng bay vào Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn tại căn cứ Sandra.
    Đời lính chiến xa nhà, nhớ vợ, nhớ con, nhớ người tình nên mấy anh Cố Vấn Mỹ thường mượn tên người đẹp để đặt tên cho một dãy căn cứ hỏa lực nằm rải rác trong vùng rừng núi Tây Ninh. Sandra, Vicky, Carolyn, Barbara... những cái tên dễ thương, dễ gọi để phi cơ và pháo binh dễ liên lạc, dễ nhận trên bản đồ mỗi khi yểm trợ, tiếp tế hay tản thương. Trực thăng vừa đáp tôi đã thấy "Ngọc Nga" Lê Minh Ngọc, Tiểu đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù và anh cố vấn Mỹ đang cầm bản đồ chờ trực thăng để bay thám sát đổ quân. Ngọc Nga vui vẻ bắt tay và giới thiệu tôi với anh cố vấn. Chỉ trên bản đồ cho tôi biết các vị trí đóng quân, tình hình đơn vị rồi kéo tôi lên trực thăng bay với anh để chỉ huy các đại đội đang chạm địch.
    Trời trong xanh, từng vạt mây trắng mỏng quấn quít thân tàu. Rừng già xanh ngắt nằm dưới gót chân, hàng loạt hố bom B-52 đầy nước xanh lơ ẩn hiện trong rừng cây. Tôi nghe tiếng Nguyễn Lô, Võ Trọng Em, Thanh Râu oang oang trên máy. Nhận lệnh Ngọc Nga xong xuôi, Thanh Râu cười hich hích hát trên máy để trêu chọc tôi.
    Mấy họng pháo binh 105 ly nòng còn đang bốc khói vì vừa bắn yểm trợ cho các đơn vị hành quân. Vừa đáp xuống Sandra tôi gặp Trần Trung Nhất, anh kéo tôi đi một vòng căn cứ coi vị trí đóng quân. Nhất và tôi, bạn cùng khóa 19 Võ Bị, cùng có với nhau những ngày máu lửa khó quên tại Đồng Xoài.
    Đứng tựa chiến hào nhìn những cành mai nở vàng trên góc một chòi canh, bên bức tranh Tết pháo đỏ với lũ trẻ bịt tai dán trên bao cát cạnh lỗ châu mai của khẩu đại liên làm Nhất sực nhớ và kêu lên, ngày mai đã là 28 Tết! 
    Mặc dù mới đổi về tiểu đoàn, nhưng tôi không thấy xa lạ mà cảm thấy quá thân quen. Tiểu đoàn trưởng Ngọc Nga là cán bộ đại đội trưởng của tôi từ ngày còn ở Đại Đội A trên trường Võ Bị. Còn 4 đại đội trưởng tác chiến thì tất cả đều là đàn anh hoặc là bạn cùng khóa 19 mày tao chi tớ của tôi. Ngọc Nga chỉ định tôi làm sĩ quan hành quân, đáng lẽ do đàn anh Nguyễn Lô Khóa 18 đảm trách, nhưng vì anh thích coi đại đội nên tôi đảm trách chức vụ của anh.
    Thời gian này thì Trần Trung Nhất của Khóa 19 coi Đại Đội 71. Hiền, ít nói từ ngày ở quân trường, nhưng khi tức giận thì trời đất cũng phải ngả nghiêng. "Hồng Hà" Võ Trọng Em Khóa 19 nắm Đại Đội 72. Em trông có vẻ hiền lành nhưng thực ra là "tẩm ngẩm tầm ngầm đấm... chết voi". Tại sao tên là Em mà lại lấy danh hiệu truyền tin là Hồng Hà thì không ai hiểu. Có thể là tên người thân hay có thể là tên bồ nhí!
    Có lần Thanh Râu tình cờ lấy được bức thư tình Em đang viết dở cho người yêu, Thanh chạy xuống câu lạc bộ tiểu đoàn, tu một chai bia rồi hinh hích cười đọc cho chúng tôi nghe... "Em thương mến của Em." Hay "Em hôn Em ngàn cái..." Cả bọn ngây người không hiểu Em nào là Em nào!
    Thanh Râu hay Thanh Tây lai Nguyễn Viết Thanh, Khóa 19, đại đội trưởng Đại Đội 73, tính tình cởi mở phóng khoáng nhưng ưa trêu chọc bạn bè và luôn luôn..lỗi hẹn với đào để đi theo ông "Budweiser, ông 33... và ông Lô lọ rượu!" Trời nắng cũng như trời mưa, trời gió cũng như trời yên, lúc nào cũng có ve dầu nhị thiên đường và gói thuốc Pallmall trong túi. Nhiều lần đang lâm ly ái tình lẻ với đào, Thanh nhớ mùi lấy dầu xoa lên mũi, hít hít vài cái, đào hiểu lầm là chê mùi thơm của em nên phụng phịu ra đi. Thanh vẫn tỉnh bơ, hinh hích cười và thoa... dầu tiếp tục! Khi nhậu hơi ngà ngà Thanh thường lấy dầu bôi lên điếu thuốc, tròn mồm thở khói, sau đó bắt đầu đi trêu chọc anh em.
    "Lôi Hổ" Nguyễn Lô là đại đội trưởng Đại Đội 74, đàn anh Khóa 18 Võ Bị, đánh giặc có nét nhất của sư đoàn. Bằng hữu giang hồ đặt tên anh là "Lô lọ rượu," người nhỏ con, uống rượu như hũ chìm, tính tình hào sảng, phóng khoáng. Sống rất điệu nghệ giang hồ, chí tình với bằng hữu anh em.
    Đó! đơn vị tôi đó! Tiểu đoàn tôi đó! Tiểu Đoàn 7 nhảy dù! Tiểu đoàn đã đứng lên ngạo nghễ, dũng mãnh sau trận Đồng Xoài. Tiểu đoàn đã theo "Ngọc Nga" chạy bộ từ cây số 17 đánh tung cả trung đoàn địch độn thổ phục kích tại nghĩa địa An Hòa, vượt sông vào Thành Nội Huế, tấn công cửa An Hòa, tiêu diệt địch tại Mang Cá giải vây cho Thiếu Tướng Ngô Quang Trưởng (Tư Lệnh Sư đoàn 1 Bộ Binh), khi cả cố đô đắm chìm trong bom đạn hồi Tết Mậu Thân! Sau đó không vận về thủ đô, khí thế hừng hực như bão lửa, mạnh như cuồng phong, lùa Đại Đội 73 của Thanh Râu tiêu diệt gọn 1 đại đội đặc công của địch tại khu nghĩa địa Tây giữa cổng Phi Long và ngã tư Bảy Hiền trong đợt tổng công kích Mậu Thân lần thứ 2 tại Saigon. Sau đó lại cũng chính Thanh Râu kéo quân đánh thốc vào khu xưởng dệt sau nhà thờ Đắc Lộ kéo Lôi Hổ ra khỏi vòng vây, rồi cả 2 dẫn quân theo Ngọc Nga xung kích như vũ bão tiêu diệt sạch sẽ 1 tiểu đoàn địch, giải tỏa áp lực cho Bộ Tổng Tham Mưu và phi trường Tân Sơn Nhứt.
    Đó, Đơn vị tôi đó! Anh em tôi đó! Đơn vị đầy tình nghĩa đệ huynh, ấm tình niên trưởng niên đệ từ ngày trên trường Võ Bị.
    Chẳng gì thì cũng cùng thầy cùng trường, chia nhau Đồi Bắc, chung nhau Miếu Tiên Sự Thái Phiên, Chi Lăng đi chung một con đường, trưa chiều quây quần chung một phạn điếm, đêm đến ngủ chung một đỉnh đồi. Ngày ngày ngạo nghễ nhìn đỉnh Lâm Viên, và nhất là sắt son chung một lời thề ngoài Vũ ĐìnhTrường khi kiếm cung xuống núi.
    Anh em nương nhau mà sống, mang tình huynh đệ vượt qua những lúc nguy nan, dìu nhau lướt qua những cơn bão lửa.
    - Mày kẹt thì tao vô, mày bị vây thì tao giải cứu, thiếu đạn thì tao chia, thiếu máu thì tao tiếp máu...
    Sống như thế thì không thân thiết cũng thành thân thiết, không ruột thịt cũng thành ruột thịt, nghĩa đệ huynh còn đậm hơn tình nghĩa anh em. Phòng thủ căn cứ Sandra là Đại Đội 71 của Trung Nhất, Đại Đội Chỉ Huy và một pháo đội pháo binh Dù.
    Thanh Tâm, Lôi Hổ, Hồng Hà hành quân biệt lập ngoài căn cứ, ngày nào cũng nhảy diều hâu, trực thăng vận, phối hợp với Sư Đoàn Không Kỵ Mỹ tìm địch rồi dùng phi pháo để tiêu diệt địch trong vùng rừng núi Tây Ninh.
    Đầu năm 70 chiến trường đột nhiên cực kỳ sôi động. Đại Đội 72 đụng địch ở "Đuôi Cá," trận đánh tàn khốc kinh hoàng ngay từ giờ phút đầu khi 1 trung đoàn thuộc Công Trường 9 cục R tao ngộ chiến với Đại Đội 72. Dưới hỏa lực khủng khiếp và quân số vượt trội của địch, Võ Trọng Em gồng mình chiến đấu, một mất một còn chống trả nhiều đợt xung phong cuồng sát, đẫm máu của địch.
    Thanh Râu, Lôi Hổ đã đội pháo mà đi, đã xẻ rừng mà tiến, ào ào như giông bão đánh qua đầu địch, bằng mọi giá phải phá vỡ vòng vây để cứu thằng bạn cùng khóa, để gỡ cho thằng Em 19 thoát khỏi nguy nan. Khi gần bắt tay được với Hồng Hà thì Thanh Râu đụng nặng. Địch pháo như mưa, rồi như lũ thiêu thân lao mình vào lửa.
    Tôi nghe Thanh gầm lên trong máy, chỉnh pháo binh chạm nổ ngay trước phòng tuyến, ra lệnh cho Dalton anh cố vấn Mỹ đen phóng rocket, trải hỏa lực của trực thăng võ trang Cobra cách quân bạn không đầy 50 thước. Dalton la hoảng vì rocket bắn quá gần. Nhưng chính nhờ lối yểm trợ liều lĩnh và gan dạ đó mà địch bị tổn thất nặng nề, hàng ngũ rối loạn. Thanh Râu dẫm trên xác giặc mà đi để vào tiếp ứng cho Đại Đội 72.
    Trên trời Ngọc Nga, cố vấn Mỹ và tôi suốt ngày bay trực thăng, điều chỉnh khu trục, pháo binh trút hàng tấn bom tấn đạn lên đầu địch. Ngày thứ hai Ngọc Nga cho trực thăng bay sát ngọn cây, đạp được mấy thùng đạn và lựu đạn tiếp tế cho Đại Đội 72 thì trực thăng bị trúng phòng không bể ống dẫn dầu, khói bốc sau đuôi, chập choạng lết về rớt ngay ngoài căn cứ.
    Sau 3 ngày đêm hứng bom hứng đạn của pháo binh và không quân Mỹ Việt, thêm hai cánh quân của Lôi Hổ và Thanh Tâm đánh ngang hông. Lại thêm chi đoàn thiết giáp của Không Kỵ Mỹ thọc sâu sau lưng đánh trúng bộ chỉ huy và những đơn vị mới của địch đang bôn tập kéo de.Hơn lúc nào hết chúng tôi hiểu thế nào là tình nghĩa anh em.
    Sau trận "Đuôi Cá" thì Thiếu Tá Phạm Kim Bằng Khóa 16 Võ Bị về giữ chức vụ tiểu đoàn phó với danh hiệu truyền tin là Kim Bằng (sau này bạn bè gọi anh là "Bùi Đăng" đọc ngược lại là "Bằng đui" vì anh bị thương ngay mắt trong trận đánh rực lửa hãi hùng tại Đồi Gió khi anh mang quân đánh giải vây cho thị xã An Lộc trong mùa hè rực lửa 1972. Từ đó danh hiệu truyền tin "Bùi Đăng" đã thay thế danh hiệu Kim Bằng).
    Khi ở hậu cứ hễ khi nào rảnh rỗi là chúng tôi kéo nhau ra tiệm phở Thanh Bình ngay gần rạp hát Biên Hùng của Kim Bằng để thưởng thức phở, la de củ kiệu và món '"xíu quách" độc đáo, hết sẩy, sau đó tà tà kéo nhau ra... ghi sổ.
    Mỗi khi túng tiền đi bay bướm tụi tôi thường đưa Thanh Râu ra làm đầu tàu lên gặp Ngọc Nga. Với tài trêu chọc và câu hát sở trường "Xin mặt trời hãy ngủ yên... Cho tôi xin dăm thước mặt trời..."
    Niên trưởng Khóa 16 chỉ biết cười trừ, bỏ tiền vào phong bì, nghe Thanh Râu hích hích cười, giơ tay ra hiệu cho mấy "Cùi" đứng chờ sẵn ở ngoài sân. Cả bọn lại tiếp tục chương trình kéo nhau ra Quán Thịt Rừng hay vi vút ở Văn Cảnh, Tự Do. Nhiều hôm "Đích thân" cao hứng đi theo, hôm đó kể như đàn anh trúng số. Những ngày đóng quân ở vườn Tao Đàn, cả bọn thường kéo nhau ra Đêm Màu Hồng hay Blue Dragon. Thanh Râu lúc nào cũng là người gây gió bão. Ngọc Nga chỉ biết ôm đầu và... ký giấy lãnh đủ những ngày trọng cấm vì mấy đàn em!
    Chiến trường Quân Khu 3 đột nhiên bùng nổ dữ dội với những trận đụng độ ác liệt tại các đồn điền cao su vùng Hớn Quản, tỉnh Bình Long. Trung Tướng Đỗ Cao Trí, Tư Lệnh Quân Đoàn 3, quyết định tung quân vượt qua biên giới Cao Miên đánh thẳng vào các mật khu, cơ quan đầu não và hậu cứ an toàn tiếp tế chính của địch. Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù được lệnh tăng phái cho Chiến Đoàn 333, phối hợp với Biệt Động Quân, Thiết Giáp vượt biên giới qua ngả Gò Dầu Hạ đánh từ tỉnh lỵ SoàiRiêng lên thị trấn Kratie rồi vòng về Kompong Cham trong cuộc hành quân Toàn Thắng của Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 3. 
    Đụng liên miên khi tiến quân vào thị trấn Soài Riêng, phố xá vắng tanh, cửa tiệm đóng cửa im lìm. Quân đội Miên trang bị đủ loại súng ống hỗn tạp, quân phục không đồng nhất, nói tiếng Pháp như gió và chuyển quân toàn bằng xe vận tải Mercedes! Ra khỏi Soài Riêng, tiểu đoàn được lệnh tùng thiết với Thiết Đoàn 5 Kỵ Binh của Trung Tá Thoàn tiến quân về thành phố Kompong Cham. Kỳ này Đại Đội 73 của Thanh Râu đi chung với Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn nên tôi và Thanh có dịp gặp nhau tăng cường cho mặt trận. Địch rối loạn hàng ngũ tổn thất nặng nề nên rút quân bỏ chạy, để lại chiến trường hơn 300 xác giặc, bắt sống một số tù binh và tịch thu hàng trăm vũ khí đủ loại. Trực thăng đáp ngay trên trận địa, Ngọc Nga, Phương Hải, Lôi Hổ, Thanh Tâm, Hồng Hà xiết chặt tay nhau giữa lúc chiến trường còn vương mùi lửa đạn.
    Quê hương xứ Chùa Tháp bằng phẳng không có núi non, chiến xa như nước vỡ bờ xua quân ngang dọc trên những cánh đồng xanh rì cây cỏ. Xóm làng rải rác nằm bên lũy tre xanh. Những chiều dừng quân Thanh và tôi hay ngồi hàng giờ trên pháo tháp chiến xa phì phèo điếu thuốc, ngắm hoàng hôn đang từ từ xuống phía chân trời. Mặt trời xuống ngang tầm mắt, những mái chùa cong, những đỉnh tháp nhọn, hàng cây thốt nốt phất phơ hoa trắng, cao thẳng như những hàng cau ở quê nhà, nổi bật trên nền trời xám đỏ dưới những tia nắng tím vàng chìm dần trong cảnh hoàng hôn.
    Trên cánh đồng đàn bò nâu, vàng chậm chạp di chuyển trên bờ đê, theo sau là mấy ông Lục áo vàng (các nhà sư Cam Bốt, bận áo vàng, thường được gọi là "ông Lục") đang đi về phía những ngôi chùa lớn. Hình ảnh thật êm dịu và chiến tranh hình như còn ở mãi nơi xa! Thanh nói tới quê anh, ngày xưa cũng là một phần đất của dân Chàm nên thỉnh thoảng đó đây cũng còn lại những tháp, những đền đài hoang cổ ngày xưa!
    Trên đường tiến quân vào Kompong Chak, Đại Đội 71 chạm địch ở Phum Long Giêng. Sĩ quan liên lạc Cambodge cho chúng tôi biết làng không còn dân chúng và đã bỏ hoang từ lâu. Khi 2 trung đội đầu tiên của Trung Nhất rời chiến xa dàn hàng ngang tiến gần tới bìa làng thì súng bắt đầu nổ. Nhất lùa đại đội xung phong như vũ bão đánh chiếm bìa làng. Lợi dụng hệ thống phòng thủ kiên cố và chuẩn bị kỹ lưỡng nên địch nổ súng khi binh sĩ còn cách làng có mấy chục thước. Nhất bị trúng đạn gãy tay, con cái ngã mấy mạng trong đợt khai hỏa đầu tiên. Tuy nhiên 1 trung đội đã dùng tối đa hỏa lực và đánh toàn bằng lựu đạn chiếm được bìa làng. Nhất bám sát bìa làng tung con cái thanh toán những hầm hố chung quanh. Ngọc Nga cho Kim Bằng kéo Thanh râu dùng hỏa lực của chiến xa đánh vào bên hông làng và để Lôi Hổ lên thay thế Trung Nhất chỉ huy Đại Đội 71. Đột nhiên tôi thấy máu đỏ phun lên mặt, máu và óc nhờ nhờ trắng nhỏ trên bản đồ, tôi quay sang thì thấy Thiếu Úy Thức, sĩ quan truyền tin ngồi giữa tôi và Ngọc Nga, đầu nghiêng trên vai, óc và máu hòa nhau nhầy nhụa trên vai áo đang nhỏ giọt trên khẩu Rouleau P38. Thức bị trúng đạn ngay đầu, viên đạn thượng liên quá mạnh xuyên thủng qua nón sắt cướp đi sinh mạng của anh. Chúng tôi vội nhảy xuống xe thì vừa lúc hàng loạt đạn bắn trúng pháo tháp chiến xa kêu chát chúa, tóe lửa bên thành xe. Thiết giáp xả đại liên về phía ổ thượng liên còn sót lại giữa bụi tre dầy kín ngay bìa làng. Kể như chúng tôi đã may mắn thoát khỏi loạt đạn của ổ Thượng liên!
    Chi đội thiết vận xa dùng súng phun lửa xung phong vào chính diện. Lửa cuồn cuộn đốt cháy bìa làng, lũy tre xanh vặn mình bốc cháy. Đại liên 50, súng phóng lựu M79, hỏa tiễn M72 và đủ loại vũ khí khác đan những tấm thép lửa chụp xuống địch quân.
    Ngọc Nga và tôi theo cánh quân tiến vào làng, xác địch ngổn ngang trên các hầm hố. Tôi lợm giọng khi thấy hàng loạt xác cháy đen. Lửa đã đốt hết khí trời buộc cả đại đội địch phải chui ra khỏi hầm hố để làm mồi cho đạn và lửa. Vũ khí đủ loại nổ dòn phía đại đội của Thanh Tâm, Đại Đội 73 đang thanh toán bộ chỉ huy tiểu đoàn của địch. Tôi nghe Thanh ra lệnh cho các trung đội trưởng đánh bằng lựu đạn để thanh toán nốt những hầm hố kiên cố cuối cùng. Một lúc sau Thanh báo cáo bắt sống hết bộ chỉ huy của địch. Phía sau làng "Hồng Hà" Võ Trọng Em điều động Đại Đội 72 dứt điểm cuối cùng khi những tên địch chém vè chạy ra khỏi mục tiêu. Trận đánh chấm dứt, nguyên một tiểu đoàn thuộc Trung Đoàn 95 thuộc Công Trường 9 Cục R bị xóa sổ hoàn toàn với hàng trăm xác địch và vũ khí, gần 20 tên địch trong đó có viên thủ trưởng bị bắt làm tù binh. Trần trung Nhất bị thương nặng gẫy cánh tay vì loạt đạn AK khi tấn công vào bìa làng. Nhất rất tỉnh táo, băng bó xong xuôi ngồi chờ trực thăng tản thương. Thanh râu ngồi trên chiếc nón sắt, móc điếu thuốc, bôi tý dầu hít một hơi dài rồi nói với Nhất:
    - Về nhà là để dưỡng thương chứ không phải là để du dương đâu cha nội. Vớ vẩn là cưa tay đó em!
    Sau đó hích hích cười, rồi cho tôi cây K54 mà anh mới tịch thu của tên chính trị viên tiểu đoàn. Gần đó Tubib Trọng và toán y tá đang điều trị, băng bó cho những binh sĩ bị thương. Xác Thiếu Úy Thức và 9 đồng đội tử thương được gói ghém trong những tấm poncho màu lá rừng chờ trực thăng đưa ra khỏi vùng hành quân. Phía bên kia, tù binh ngồi sắp lớp, vũ khí chiến lợi phẩm của cả tiểu đoàn địch chất đầy cánh đồng.
    Nhìn Thức bó kín trong tấm poncho, nhớ lại tấm công điện vừa từ hậu cứ gửi ra chiều hôm qua báo tin Thức đã có lệnh giải ngũ sau 25 năm quân vụ! Sao cuộc đời lại có những cái oái oăm trùng hợp đến lạ lùng! 25 năm lính, Thức đã vào sinh ra tử trên khắp các chiến trường từ Bắc vào Nam, anh đã nhảy dù xuống Cao Bắc Lạng, đã vào Hòa Bình, đã chiến đấu ở Điện Biên Phủ, đã leo từ binh nhì lên đến sĩ quan. Ở giờ phút thứ 25 khi đã có lệnh giải ngũ thì tử thần lại đến kéo anh đi, chắc khi nằm xuống anh cũng không hiểu tại sao định mệnh lại quá tàn nhẫn đối với anh!
    Chiều hôm đó trực thăng đến thật nhiều, các sĩ quan cấp lớn cầm "can" chỉ huy đứng chống nạnh nhìn tù binh, rồi quay sang hỏi tôi và Thanh coi đếm được bao nhiêu xác địch, tịch thu được bao nhiêu vũ khí. Và cũng như bao nhiêu lần chiến thắng khác, rất ít ai tới hỏi han các binh sĩ tử thương hay bị thương!
    Và mặc dù đã được Ngọc Nga ra lệnh là phải chở thương binh và các tử sĩ ra khỏi trận địa trước để binh sĩ khỏi nhìn thấy cảnh poncho bó xác các đồng đội tử thương, nhưng các quan lớn vẫn dùng trực thăng chở tù binh và vũ khí chiến lợi phẩm đi trước. 
    Thanh râu đứng cạnh tôi chửi thề um sùm, ai nấy đều không vui. Thanh lấy thuốc ra hút, tiến lại gần các binh sĩ tử thương, anh cắm mấy điếu thuốc đang cháy xuống đất ngay cạnh những người đã chết rồi đứng nghiêm chào. Anh muốn đốt thuốc thay nhang để cúng vái, tiễn đưa các chiến hữu đã ra đi! Chiều hôm đó trực thăng quay lại chở hết các binh sĩ tử thương. Anh Thức ơi, dù có hơi muộn màng, nhưng cuối cùng rồi anh cũng được chở đi. Tù binh và vũ khí dầu sao cũng được ghi vào chiến tích vì đó là dấu hiệu của sự chiến thắng, đâu có ai đếm xác bạn mà được nhận huy chương! Ở phía bờ làng những người lính đang lấp đất chôn những tử thi của địch trong các hầm hố trong làng, những bộ đội Cộng Sản sinh Bắc tử Nam. Rồi gió núi mưa rừng sẽ gột sạch máu xương, chim chóc muông thú sẽ lại kéo về, cỏ cây hoa lá sẽ xanh tươi trở lại, thời gian sẽ xóa mờ vết tích chiến tranh.
    Một hôm giữa đêm khuya khi chúng tôi đang ngủ thì có tiếng trực thăng chỉ huy của Trung Tướng Đỗ Cao Trí vần vũ trên đầu và đáp ngay vị trí đóng quân. Thiết Đoàn 5 Kỵ Binh và Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù được lệnh di chuyển nội trong đêm nay phải đánh vào mật khu Damber, nơi Công Trường 9 Việt Cộng đặt bộ chỉ huy. Mấy sĩ quan Thiết Giáp nói với tôi, Trung Tướng Trí đang ngồi trên chiến xa chỉ huy, xua quân ào ào như nước vỡ bờ trực chỉ Damber. Trời chưa sáng chiến xa đã nghiền nát Damber. Cuộc tấn công chớp nhoáng, bất ngờ đã phá vỡ hậu cần tiếp liệu và tiêu diệt hầu hết bộ chỉ huy, bắt được một số cán bộ cao cấp nhưng Tư lệnh Công Trường 9 trốn thoát.
    (Sau này giữa năm 1971 ở Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù, tôi lại cùng với Anh Năm Nguyễn Đình Bảo tùng thiết với Thiết Đoàn 18 Kỵ Binh của Thiếu Tá Lộc vào lại Damber, và đã đánh một trận kinh hoàng, trời long đất lở với địch trong mấy ngày đêm. Chiến xa ào ạt xung kích, xoáy trên xác và máu địch nghiền nát mục tiêu, phối hợp nhịp nhàng nhị thức bộ binh thiết giáp tiêu diệt nguyên 1 trung đoàn Cộng Quân ngay tai Damber, mang lại chiến thắng lớn lao cho Quân Đoàn 3).
    Cuối năm 1970 tôi được lệnh về lại Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù làm sĩ quan hành quân thay cho Thiếu Tá Nguyễn Quang Sáng đi làm Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù. Sau mấy ngày ăn Tết ở nhà, toàn bộ Sư Đoàn Dù không vận ra phi trường Ái Tử ngoài Đông Hà trong cái giá rét mưa lạnh của mùa đông miền Trung để tham dự cuộc hành quân Lam Sơn 719 tại Hạ Lào.
    Ngày 8 tháng 2 năm 1971, Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù sau khi dừng quân ở nhà tù Lao Bảo, gần căn cứ Tà Bạt thì được lệnh xuất phát theo Quốc Lộ 9 vượt sông Tchepone đánh qua biên giới để thiết lập căn cứ hỏa lực Bravo. Tôi gặp lại Ngọc Nga và Thanh râu ngay chân "Đồi Ma, Suối máu". Lúc này Thanh Râu là sĩ quan hành quân của Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù.
    Đang hút điếu thuốc Pallmall bôi dầu của Thanh Râu thì một trái 75 ly không giật của địch bắn trúng ngay vách núi cách chỗ chúng tôi đứng không đầy 2 thước. Cả hai bị sức ép ngã chúi xuống đường, đất đá bay ào ào phủ kín hết người. Chú đệ tử mang máy truyền tin cho tôi bị một mảnh ngay bả vai. Nhưng tôi, Thanh Râu và Ngọc Nga không hề hấn gì. Vì Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù không phải thiết lập căn cứ hỏa lực nên hễ chỗ nào đụng nặng là phải đến tiếp viện tăng cường, vì thế đụng địch liên miên trên Quốc Lộ 9. Chiều 18 tháng 3/71 qua hệ thống truyền tin tôi được biết đơn vị của Ngọc Nga, Thanh Râu bị pháo nặng nề và đại bác 90 ly không giật của địch bắn trúng ngay bộ chỉ huy giữa lúc đang giao tranh đẫm máu với địch. Cả hai đều bị thương nặng, trực thăng cứu thương của Mỹ phải tắt đèn bay đêm để tránh phòng không tác xạ như đan lưới của địch, và sau nhiều lần liều lĩnh đáp mới cứu được Ngọc Nga và Thanh Râu ra khỏi Hạ Lào. Sau đó Thanh râu và Ngọc Nga về làm việc nhẹ, dưỡng thương tạm thời tại Trung Tâm Huấn Luyện Vương Mộng Hồng ở Quang Trung. Tôi vẫn không quên lần ghé thăm Thanh ở Trung Tâm, gặp Nhật Trường Trần Thiện Thanh, bạn học từ nhỏ, cùng làng cùng xứ Phan Thiết với Thanh Râu. Ngọc Nga, Lôi Hổ, Hồng Hạnh và một số bạn bè đang có "độ." Lần đầu tiên tôi thấy Thanh râu nổi hứng hát theo tiếng đàn. Ai cũng tưởng Thanh lại ê a mấy câu hát chọc ghẹo anh em. Nhưng không, lần này Nhật Trường đàn và Thanh râu như trút cả tâm sự của mình vào bài "Tâm Sự Người Lính Trẻ" mà Nhật Trường hình như muốn viết để tặng cho thằng bạn Phan Thiết của mình khi giã từ học đường, chia tay với người yêu để bước chân vào quân ngũ. 
    Thanh như kể lể, như tâm sự đâu đó cho một người tình nhỏ về những "mùa xuân xuôi quân về biên khu, cho tới đông tàn chỉ nhận một lần thư..." Những chiều ngồi trên pháo tháp chiến xa nhìn cảnh tà dương hồng, những đêm nghe nhạc ở phòng trà, băng nhạc, sách báo không thể thiếu trong những chuyến hành quân. Và sau một thời gian dài ở chung đơn vị, tôi tìm thấy sau cái dáng ngang tàng Thanh còn là một người rất văn nghệ, đầy tình cảm, nhiều tình đầy nghĩa với anh em.
    Sau buổi nhậu chiều hôm đó, chúng tôi và thằng bạn học Phan Thiết mày tao chi tớ cũng tên Thanh của Râu trúng "độ" đến quên cả đường về! Bẵng đi một thời gian Ngọc Nga báo tôi biết Thanh về làm tiểu đoàn phó Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù.
    Sau cuộc triệt thoái Cao Nguyên của Quân Đoàn 2 năm 1975 thì chiến sự càng ngày càng khốc liệt. Tháng 3, tháng 4/75, tháng của những cơn bão lửa đang mang bao nhiều tang tóc đổ ập xuống quê hương, và chiến tranh đã kéo tới sát nách Saigon. Mặt trận Long Khánh hừng hực lửa, trận thư hùng anh dũng cuối cùng của quân đội miền Nam ngăn chặn Cộng quân ngay cửa ngõ SaiGon.
    Giữa lúc dầu sôi lửa bỏng tại tuyến đầu thì Thiếu Tá Nguyễn Viết Thanh được chỉ định làm Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù thay thế Trung Tá Đào Thiện Tuyển về giữ chức vụ khác tại Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù. Cùng với các chiến hữu trong Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù và các cánh quân bạn thuộc Sư Đoàn 18 Bộ Binh, Tiểu đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù, Thanh Râu Nguyễn Viết Thanh, đã đánh một trận đẹp nhất trong đời, đốn ngã tất cả mọi cuộc tấn công cuồng sát biển người của địch tại vườn Cam Ông Tỵ. Long Khánh đã đứng vững trước sức tấn công vũ bão của 3 sư đoàn Cộng Quân. Bị tổn thất quá nặng nề Cộng Quân đã ngưng tấn công chờ lệnh mới của Bắc Bộ Phủ, Hà Nội. Khi được lệnh rời bỏ mặt trận Long Khánh, Thanh Râu và toàn bộ Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù kéo quân về Bà Rịa. Tại vùng đất đỏ Phước Tuy, Tiểu Đoàn lại dàn quân tử chiến với địch tại thành phố, sau đó cùng Tiểu Đoàn 1 và 9 giữ từng tấc đất ngăn chặn địch ở Cầu Cỏ Mây, cây cầu huyết mạch dẫn vào thị xã Vũng Tàu.
    Ngày 30 tháng 4/75 ập xuống như một định mệnh nghiệt ngã cho dân tộc, cả nước để tang khi Tổng Thống Dương văn Minh ra lệnh cho quân đội buông súng đầu hàng. Nguyễn Viết Thanh kéo quân ra biển, neo thuyền tại Gò Công chờ mang quân xuống Vùng 4. Nhưng vận nước cơ trời đã định, đại đơn vị Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù gồm các Tiểu Đoàn 1, 8, và 9 trôi theo vận mạng mà đi. Và đó cũng là đơn vị Nhẩy Dù đông đủ quân số nhất, ngồi trên tàu nhìn về cố hương, nhớ vợ nhớ con, nhớ gia đình, nhấp nhô theo sóng gió đại dương xa rời đất mẹ!
    Thanh Râu thân mến.
    Tao vừa viết để kể cho bạn bè, anh em và các chiến hữu biết về mày. Dĩ nhiên là thiếu sót, nhưng dù có thiếu ra sao, quên những khúc nào thì mày cũng đừng có buồn, vì cái thằng bạn Bắc Kỳ của mày không còn trẻ như ngày xưa, tóc sợi trắng sợi đen, trí nhớ không còn minh mẫn như ngày trước.
    Sau cái ngày bỏ nước ra đi tao gặp lại mày ở đảo Guam. Mặc dù ở chung với binh sĩ anh em nhưng cứ chiều chiều là mày rủ tao ra bãi biển Gap, ngồi trên ghềnh đá nhìn sóng đại dương để nhớ gia đình, nhắc đến bạn bè cùng khóa và nói về những trận đánh cuối cùng đẫm máu, kinh hoàng ở Long Khánh, Phước Tuy.
    Rồi mày về Canada, tao vào đất Mỹ, xa cách mấy ngàn miles nên dễ chừng cả chục năm không hề gặp mặt. Mãi đến giữa mùa hè năm 1990 khi cùng anh em Mũ Đỏ lên Washington DC dự lễ "rước ngọn cờ vàng" thì tao gặp lại mày. Cũng vẫn hàm râu quai nón ngày xưa, vết thẹo trên cằm ngày đánh Đồi 1416 ở Dakto để treo cho được chiếc mũ đỏ danh dự của quân đội trên đỉnh đồi. Thẹo dù có mờ đi, nhưng chiến tích khó quên của một đời mũ đỏ thì vẫn hằn sâu ở đó. Mày buồn buồn nói với tao là mày bị bệnh tiểu đường, phải chích thuốc hàng ngày. Nhưng chỉ một lúc sau gặp lại Bùi Đăng, Lôi Hổ, Ngọc Nga, Hồng Hà Võ Trọng Em thì lại hích hích cười, móc điếu Pallmall xoa tý dầu rồi lâng lâng nhả khói.
    Ngày Khóa 19 họp đại hội ở Orange county cuối năm 1998 tao lại gặp mày. Bạn bè bu tới hỏi thăm, hỏi thăm "thằng Râu" cầm cờ Liên Đoàn Sinh Viên Sĩ Quan trên trường Võ Bị độ này ra sao. Sau đó tụ lại bàn của hai thằng nước mắm "Phan Thiết" Thanh, Thừa để cùng chung chai lọ. Mày bảo là quá vui và hứa với bạn bè là sẽ trở về San Jose họp mặt kỳ tới. Vui, thì dĩ nhiên là phải vui, cứ 2 năm con cháu cụ Nguyễn Trãi, những con "đại bàng" xa xứ, từ mọi góc biển chân trời xoải cánh bay vượt rừng, vượt núi, vượt biển cả trùng dương quay về tổ cũ. Và chỉ ở tổ này mới lại được nghe những tiếng nói thân quen, để mày tao chi tớ nhớ lại quãng đời trai trẻ sóng gió hào hùng, để nhìn vết thẹo trên tay, trên mặt... vết tích của một thời trận mạc, huy chương đích thực phải trả bằng máu bằng xương, điểm danh thằng đi thằng ở, thằng còn thằng mất! Trước khi về mày nói với tao là độ này mày yếu hẳn đi, và người lính Nhảy Dù nào ra trận mà không có thương đau. Sau đó mày "dô" một cái rồi phá ra hinh hích cười bình thản.
    Lần tao gọi điện thoại thăm thì mày đã yếu lắm rồi. Ngọc Nga qua thăm, anh kể với tao là hai anh em kéo nhau lên thượng tầng của tháp Toronto, "Chuồng Cu" của lính Nhảy dù, khui chai Cognac rồi tự dưng mày nói với giọng thật buồn những chữ đầu của chai rượu Martell "Mai anh rời tình em lạnh lẽo," những chữ mà ngày xưa đi nhậu mày hay nói. Nhưng lần này như một lời trăn trở ở những ngày cuối của cuộc đời, rồi chỉ thành phố Toronto phía dưới mà nói với Ngọc Nga:
    - Tôi đã giữ đúng lời hứa là chỉ cho anh coi hết thành phố Toronro.
    Sau đó đệ huynh cạn hết chai Martell rồi chập choạng ra về. Trời Toronto lạnh lẽo đầy tuyết giá, nhưng mày lại thiếu chiếc áo gác 'lính cà" màu cứt ngựa mà mày vẫn mặc khi đổi gác với tao trên trường Võ Bị ngày xưa!
    Trung tuần tháng 2, Huyện Móm gửi email cho bạn bè trong khóa biết là mày đang nằm nhà thương qua tin của Nguyễn Kim Ngôn và Nguyễn văn Đối là 2 người bạn cùng khóa ở gần mày nhất. Những ngày trong bệnh viện Đối và Ngôn thường lui tới an ủi, nhất là Đối cũng cùng bệnh như mày, nhưng nay đã khỏe trở lại nên ngày nào cũng ngồi hàng giờ để san sẻ, tâm sự với mày thật nhiều về hy vọng chữa khỏi bệnh tình. Trần Thanh Huyện sẽ qua thăm mày vào cuối tuần này rồi cho anh em biết sự tình. Tao kêu nhà mày nhưng không gặp ai, vội phone qua Ngọc Nga, Anh cho biết mày đau nặng.Đùng một cái thì ngày 21 tháng 2, Ngọc Nga và email Võ Bị báo tin mày đã ra đi!
    Thanh Râu, Ngọc Nga gọi tao, đêm nay anh sẽ làm mâm cơm, có chai VSOP, có bao Pallmall, có ve dầu Nhị thiên đường để nhớ mày. Anh tin là mày sẽ về vì người mới ra đi thì hồn hay về thăm những người thân cũ. Tao gọi cho Võ trọng Em, Nhật Trường và Bùi Đăng rồi chạy ra báo cho Sông Lô, độ này anh làm chung với tao nên anh em ngày nào cũng gặp và hay nhớ tới mày.
    Đặt bao Pallmall trước tấm hình, lấy một điếu thuốc, bôi chút dầu lên trên rồi tao hít một hơi dài. Cái mùi ngái ngái của thuốc quyện với mùi thơm thơm của dầu làm lưỡi tao tê tê. Khói cay bốc lên quyện với mùi dầu làm tao chảy nước mắt. Nhưng tao biết tự đáy lòng tao đang nhớ mày. Tao đang nhớ những ngày đơn vị, những chuyện tâm tình ở đảo Guam, khẩu súng K54 mày cho tao, và nhất là cái tiếng cười hích hích của mày hay trêu chọc anh em, tự nhiên mắt tao nhòa đi và thấy mày nói nói cười cười quanh quẩn đâu đây.
    Thanh Râu.
    Mày đã biết trước ngày đi nên trăn trối với gia đình, vợ con là muốn được hỏa táng rồi đem tro rải trên biển cả. Vì biển chính là cái nôi nuôi dưỡng mày từ bé cho tới lúc lớn khôn. Trước khi nhắm mắt xuôi tay mày đã thực sự muốn sóng gió trùng dương đưa mày về Phan Thiết bãi biển quê nhà! Ở đó có giòng sông Mường Mán từ rừng núi Trường Sơn đổ về, có những lớp sóng bạc đầu ngoài bãi biển Thương Chánh. Lầu nước, vườn bông, giòng sông Cà Ty và những hàng cây đầy hoa vông vang rực đỏ, vang tiếng ve kêu mỗi mùa hè. Trường trung học Phan Bội Châu, cây cầu đúc đường Trần Hưng Đạo, quán cà phê hủ tíu trên đường Gia Long. Hay những lần theo ông bác ngồi trong chiếc thuyền thúng đi vớt cá ngoài bãi biển rừng dừa Mũi Né đầy thơ mộng.
    Bãi biển, ngôi trường, lối đi xưa, bờ sông cũ, hoa cỏ quê nhà... Tất cả như xôn xao, rung động, như cùng đứng lên thì thầm gọi tên cậu bé ngày xưa, để cùng được chạy nhảy nô đùa với nhau như những ngày thơ ấu!
    Thanh Râu thân mến.
    Ngày tiễn đưa mày đi có Ngôn, có huynh đệ anh em chung một mái trường. Trần Thanh Huyên từ DC, đại diện cho bạn bè đồng khóa từ các nơi xa đến chia buồn cùng gia đình mày, rồi cùng Đối, Ngôn thắp nhang tiếc thương tưởng niệm.
    Sinh lão bệnh tử rồi ai cũng phải một lần, khi đã nằm xuống thì Hạ Lào, Quảng Trị, Khe Sanh, Phan Thiết hay Toronto thì nào có khác gì nhau. Tao mới làm hai câu thơ để nhớ mày, câu đầu là lúc Trung Đội Trưởng Thanh Râu của Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù, đã đánh một trận vang danh chiến sử tại đỉnh đồi 1416 Ngok Wan ngoài Dakto với vết thương trên cằm, trên má. Câu thứ hai là trận đánh anh dũng cuối cùng của Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù Nguyễn Viết Thanh tại Long Khánh đã làm cho kẻ thù kinh sợ, rúng động nát tan.

    "Vung kiếm bên trời,
    Dakto xưa lềnh thây máu giặc"
    "Long Khánh tung hoành,
    giặc cờ đỏ run sợ khiếp tan"
    Viết để nhớ mày. Vĩnh biệt! Vĩnh biệt!
    Tiểu Đoàn Trưởng TĐ8 Nhảy Dù Nguyễn Viết Thanh, K19 Trường VBQGVN.


    Đoàn Phương Hải, K19 VBĐL


Dân bất lịch sự nhất thế giới + Muốn trở thành quý phái +

  • image.jpg
    Hai tuần trước vợ chồng tôi lần đầu tiên đi cruise trên chiếc Quantum of The Seas của hãng Royal Caribbean. Chiếc này bắt  đầu vào Tháng 5, 2015 đóng đô ở Shanghai, chỉ phục vụ  thị trường Trung Quốc. Năm ngoái là lần đầu tiên nó di chuyển sang  hoạt động ở Los Angeles.  Cruise đóng đô mãi ở một nơi thì dân ở đó nhàm chán không đi, đó là lý do các hãng cruise luân phiên  thay đổi tầu đến nước khác.
     
    Vì tầu này phục vụ thị trường Trung Quốc nên có tiệm ăn không khác gì nhà hàng Tầu:
     
    image.jpg
    Phải trả tiền, không miễn phí.
     
    và tất cả các bảng yết thị trên tầu in bằng hai thứ tiếng Anh và tiếng Hoa. Ở Mỹ mà tôi cứ tưởng mình đang trong Chợ Lớn.
    Vì hãng cruise bán giá quá rẻ nên vô số khách trong chuyến đi này là người Tầu và người Việt. Tôi chưa bao giờ đi cái cruise nào mà đông người Tầu và người Việt đến thế.
    Du khách Tầu nổi tiếng thế giới là bất lịch sự. Tôi “hân hạnh” trải qua kinh nghiệm đó trên chuyến cruise này. Họ nói năng to tiếng, không đếm xỉa đến người chung quanh, hành động lỗ mãng bất lịch sự:
    1. Ở nhà hàng buffet, cruise bắt mọi người phải xếp hàng rửa tay trước khi vào. Khi gần đến chỗ rửa tay, một người phụ nữ Tầu già đứng sau tôi từ đằng sau vượt lên qua mặt tôi và tất cả các người trước (tôi biết bà ta là người Tầu vì bà ta đứng sau tôi nói chuyện với vài người khác bằng tiếng Tầu). Tôi la bà ta là mọi người phải xếp hàng thì bà ta nói tay sạch không cần rửa nên không cần đứng xếp hàng đợi!
    2. Chiếc tầu này không đủ ghế ngồi ở nhà hàng buffet nên một khi đã lấy thức ăn thì phải đi vòng vòng tìm chỗ ngồi. Tôi thấy một bàn bốn ghế (thật sự là hai bàn nhỏ kê sát nhau) có người vừa mới ăn xong nên đến đó đứng đợi người bồi bàndọn dẹp. Lúc này chỉ có tôi, vợ tôi vẫn còn lấy thức ăn.
    Bàn dọn xong, tôi vừa ngồi xuống thì cô ngồi bàn bên cạnh nhẩy từ cái ghế của cô ta sang ngồi cái ghế trống sát cạnh tôi. Tôi quay sang trợn mắt, đang suy nghĩ người này sao quá ư là bất lịch sự qua bàn tôi ngồi mà không hỏi han một tiếng, thì bấy giờ tôi mới để ý là cái bàn đó bốn người Tầu đang ngồi (kể cả cô ta).
    Họ nói xí xa xí xô bằng tiếng Hoa, rồi cô ta và một người ở cái bàn đó tự động kéo một bàn, hai ghế của tôi về sát bên bàn của họ, không hỏi tôi đến một lời! (Sau này tôi khám phá ra họ kéo ghế trống để dành cho hai người nữa đến sau).
     
    Thấy tôi đã đứng đợi chờ bàn mà không hỏi tôi có dùng hai ghế trống được không, chỉ có tôi hay có ai khác,  mà cứ giật đại, mấy người Tầu này bất lịch sự không bút nào tả xiết.
    1. Cruise nào cũng đem hàng hóa bày bán ở giữa tầu, nói là bán hạ giá. Hàng hóa đều có ghi giá rõ ràng. Chúng tôi gặp bà người Tầu này muốn mua vài cái áo, nhưng không muốn trả tiền theo giá ấn định mà muốn bớt thêm.
    Bà ta hỏi anh bán hàng xuống giá thêm thì bà ấy mua. Anh ta nói không xuống được, giá ghi sao bán vậy. Kỳ kèo mãi anh bán hàng nhất định không xuống tiền, bà ta đòi anh này gọi Supervisor. Khi cô Supervisor ra, bà ta lập lại là muốn mua nhưng chỉ khi nào cruise bớt giá nữa. Cô Supervisor nói không thể xuống giá, không mua thì thôi.
    Đã nghe như thế mà bà Tầu  nhất định không đi, cứ đứng kỳ kèo nữa. Bên kia nhất định không xuống giá. Bà này xem tiền bạc quan trọng hơn liêm sỉ:  người ta nói không xuống giá thì thôi, ngược lại cứ đứng đó mặt dầy bắt người ta hạ giá.   
     
    Mới đây vào ngày 4 tháng Giêng, tiệm mì ramen Lekei ở Osaka loan báo trên mạng xã hội là không cho du khách người Tầu vào ăn vì họ “gây nhiều quấy rối”.
    Tôi nghĩ quán này lịch sự, dùng chữ “gây nhiều quấy rối” thay vì nói thẳng ra là du khách Tầu vô phép tắc, bất lịch sự.
     
    image.jpg
    Hai tháng trước khi ở Tokyo, Nhật Bản, tôi cũng gặp trường hợp người Tầu lỗ mãng ở khách sạn Hyatt Regency Tokyo.
     
    image.jpg
    Hotel này có lounge ăn uống. Khoảng 9 giờ tối tôi lên ngồi uống nước, định bụng ngồi thư giãn ngắm Tokyo vào ban đêm từ trên cao.
    Lúc đó đã tối nên chỉ có vợ chồng tôi, hai cặp khác, và cách tôi hai bàn là một người đàn ông đứng tuổi và một phụ nữ trẻ nói chuyện với nhau bằng tiếng Hoa. Chẳng những nói to tiếng mà họ còn cười ầm vang dội quấy rối sự im lặng, không nể khách chung quanh một tí nào. 
     
    Phải chi tiếng Hoa nghe thánh thót như tiếng Pháp, đằng này nó nghe cộc lốc, thô kệch, chói lỗ tai. Nếu khách sạn này bình dân rẻ tiền thì tôi không nói làm gì, nhưng Hyatt Regency Tokyo là khách sạn đắt tiền, khách đến đây trông đợi một môi trường sang trọng, thoải mái.
    Nghe họ ồn ào nói chuyện hơn năm phút mà vẫn không giảm , tôi không chịu nổi nữa nên phải nói với họ bằng tiếng Anh: “Excuse me, please lower  your voice”- “Làm ơn nói nhỏ một chút”. Họ ngừng không nói chuyện nữa, nhưng tôi để ý người đàn ông nhìn chằm chặp như muốn nuốt sống tôi.
    Chừng mười phút sau tôi đứng dậy trở về phòng thì hắn ta mới chửi thề tôi bằng tiếng Anh: “F..k you” (“Đ.M. mày”). Tôi phớt tỉnh Ăng-Lê không trả lời vì loại người hạ cấp như thế không đáng cho tôi bận tâm. Ông này vô giáo dục đến nỗi không biết điều mình làm là sai mà còn chửi tục người khác.
    Thật là trớ trêu cái quốc gia có Khổng Tử dạy dân chúng cách làm người qua Tam Cương (Quân, Sư, Phụ) Ngũ thường (Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín), thì chính du khách Trung Quốc lại là người bất lịch sự nhất thế giới.
     
    Buồn thay người Việt chúng ta sau một nghìn năm người Tầu đô hộ, vẫn còn có một thiểu số còn bị ảnh hưởng, cư xử không khác gì người Tầu: tranh giành chen lấn không xếp hàng, đổ rác, tiểu tiện khắp nơi, đặt cái tôi của mình trên hết, không tôn trọng người khác, nói năng xấc xược, hung hăng, ai phê bình là ghênh cổ chửi lại.  
     
    Khi tôi về Việt Nam, vì quen với người bên Mỹ nói năng nhẹ nhàng, lịch sự, cần gì thì luôn luôn nói “please”, tôi khó chịu khi thấy người Việt hay quát tháo, nói chuyện cộc lốc khi tiếp xúc.
    Một người đậu xe gắn máy xéo xẹo trên lề đường thì anh giữ xe bên cạnh la lên: “Đậu gì mà kỳ vậy? Chặn đường hết trơn. Đậu lại đi!”. Người kia bị la, la lại: “Tui đậu một chút ra liền, làm gì dữ dzậy?” Tôi nhấn mạnh là cả hai người la lớn tiếng, không nói chuyện giọng nhỏ nhẹ bình thường.
    Dưới mắt tôi, tôi đang chứng kiến một cuộc đàm thọai kém văn minh. Cũng cùng một cảnh đó, nếu anh giữ xe bắt đầu bằng một câu nói nhẹ nhàng: “Dạ, nhờ anh đậu xe lại cho không cản lối đi, cám ơn anh nhe”, thì tôi chắc chắn người kia sẽ tuân lời (À, đây là ở Việt Nam. Không biết người kia có tuân lời hay nổi sùng vì người khác chỉ trích mình nên sẽ trả lời: “Đ.M. Tao muốn đậu sao thì kệ tao!” ?) 
     
    Ở nhà hàng lịch sự ở Việt Nam, người hầu bàn hỏi khách  cũng ôn tồn, nhẹ nhàng, lịch sự: “Dạ thưa nhà mình hôm nay dùng món gì ạ”?, chứ nếu ăn uống ở hàng quán bình dân, nhân viên hỏi khách sẽ rất là cộc lốc: “Ăn gì anh?”.
    Cũng cùng câu hỏi đó nhưng nói lịch sự hơn: “Dạ thưa anh chị dùng gì?”, chữ “Dạ” của mình như là chữ “Please” của Mỹ, nghe êm tai, tỏ ra mình tôn trọng người khác, hạ mình xuống trước người khác, thì xã hội có phải là thần tiên hơn không?
     
    Điều tôi thấy ngộ nghĩnh chỉ xuất hiện sau 1975 là có rất nhiều khu xóm ở trước cổng có cái biển to chềnh ềnh, viết là “Khu Phố Văn Hóa”:
     
    image.jpg
    image.jpg
    image.jpg
    Tôi không hiểu sao có xóm có cái bảng này, có xóm thì không? Tôi đoán là khi một xóm nào đạt được những tiêu chuẩn “văn hóa” nhà nước đặt ra thì được tuyên dương là “Khu Phố Văn Hóa”, còn xóm nào không có là chưa đạt được Văn Hóa?
    Nếu thế thì tôi thấy cái bảng này chẳng có nghĩ lý gì cả vì ở xóm có hay không có bảng “Khu Phố Văn Hóa”, nơi nào tôi cũng nghe chửi thề, nơi nào tôi cũng nghe to tiếng, và rác vất đầy đường.
     
    Xóm trong hình dưới đây rác rưới chất đống,  rõ thật là vô văn hóa, thì tại sao lại được cấp chứng chỉ “Khu Phố Văn Hóa”?
     
    image.jpg
    Văn hóa hay không biểu lộ qua hành động chúng ta làm. Viết một cái bảng tự tuyên dương mình có văn hóa trong khi chúng ta cư xử như du khách Tầu thì rõ ràng là cái bảng chẳng những vô  nghĩa mà còn là một trò cười cho thiên hạ.
    Chúng ta chỉ học hỏi cái hay. Đừng học hỏi cái dở vì rất có thể một ngày nào đó vì học cái dở trong cách cư xử của người Tầu quá nhanh chóng và quá giỏi, người Việt chúng ta sẽ loại bỏ Trung Quốc để trở thành dân bất lịch sự nhất thế giới.
    Nguyễn Tài Ngọc
     
     
    Muốn trở thành quý phái
     
    image.jpg
    Tuần vừa rồi khi đi cruise, tôi thấy một cảnh tượng quen thuộc và đối với tôi thì nhức mắt trong một buổi tối trên nhà hàng buffet: một bà Việt Nam già vai mang xách tay hiệu Louis Vuitton, tay bên phải cầm đĩa thức ăn, tay bên trái dựa trên xách tay. Tôi biết bà ta là người Việt vì vợ chồng bà ngồi ở bàn sau lưng tôi, hai người nói tiếng Việt. Tôi đoán bà ta khoảng 72-75 tuổi.
    Tôi chụp hình bà ta từ sau lưng nên chỉ thấy một tí cái ví Louis Vuitton bà ta đeo bên trái (vòng tròn đỏ trong hình trên). Khổ của nó thì từa tựa như ví xách tay phụ nữ trong hình dưới đây:
     
    image.jpg
    Tôi nhức mắt vì hai lý do:
     
    1.Đi ăn buffet, ban tối chứ không phải ban ngày, và phòng ngủ ngay trên tầu, không cần đem ví, xách tay vì không lái xe, mà đeo ví tay đắt tiền làm gì, ngoài mục đích khoe khoang là ta đây có xách tay đắt tiền? Hay là bà ta dùng nó để giấu chuối, táo, mang về phòng?
    2.Diện mạo của bà ta: tóc búi một cục ra đằng sau, đàn bà già tướng không phải là dân tập thể dục mà lại mặc áo thể thao Adidas dài tay to quá khổ, áo T-shirt bên trong còn dài hơn, lòi ra khỏi áo choàng bên ngoài, quần và giầy cũng thuộc loại thể thao.
    Không một phụ nữ nào mang ví Louis Vuitton với trang phục thể thao luộm thuộm, tóc búi một cách cẩu thả trong khi đi lấy thức ăn ở nhà hàng buffet.
    Thoạt trông, tôi biết ngay bà ta không phải là người xuất thân trưởng giả, thế nhưng lại muốn học làm sang.  
     
    Ở Hoa Kỳ tiền làm ra quá dễ nên việc mua sắm những món tiền lớn, những đồ hiệu đắt tiền, không khó.
    Tôi cho một thí dụ: Một người “nghèo” làm lương tối thiểu $41,000 đôla/năm, $3,400/tháng. Sau khi bị đánh thuế 20% thì lương lấy về là $2,700/tháng. Đó là tiền thu vào mỗi tháng. (So với tiền lương trung bình của một kỹ sư trước khi đánh thuế là $101,000 đô-la).
     
    Tiền chi tổng cộng thì nếu người này share phòng, tiền mướn là $1,100/tháng. Cộng thêm các chi phí khác như xe cộ, xăng nhớt, điện nước, bảo hiểm, ăn uống…, người này vẫn dư sức để dành được vài trăm đôla/một tháng, nếu tiêu xài dè dặt.
    Vài trăm dollars một tháng thì trong hai, ba năm người này có thể mua vé máy bay về Việt Nam chơi, hay mua ví hiệu Louis Vuitton dễ dàng. Đó là tại sao chúng ta thấy nhiều Việt Kiều về Việt Nam, nhiều phụ nữ ở Hoa Kỳ gốc tía em hừng đông đi cày bừa giống như tôi xách ví tay đắt tiền Louis Vuitton nhan nhãn ở Mỹ.
     
    Trong bốn thương hiệu xách tay đắt tiền, giá xách tay của Hermès là đắt nhất, Gucci là rẻ nhất:
    Thứ hạng
     
    Hiệu
     
    Giá bắt đầu mỗi xách tay
     
    Giá hàng cao cấp mỗi xách tay
     
    1
     
    Hermès
     
    $5,000+
     
    $35,000+
     
    2
     
    Chanel
     
    $3,400-$6,000
     
    $10,000+
     
    3
     
    Louis Vuitton
     
    $1,300-$5,000
     
    $12,000+
     
    4
     
    Gucci
     
    $1,000-$3,000
     
    $8,000+
     
     
    Nhưng số lượng bán thì Louis Vuitton bán nhiều nhất:
     
    Thứ hạng
     
    Hiệu
     
    Tổng số bán 2025
     
    1
     
    Louis Vuitton
     
    $3.2 tỷ đô-la
     
    2
     
    Hermès
     
    $1.9 tỷ đô-la
     
    3
     
    Chanel
     
    $1.8 tỷ đô-la
     
    4
     
    Gucci
     
    $1.1 tỷ đô-la
     
     
    Louis Vuitton bán nhiều nhất vì không những thiết kế đẹp, đắt tiền, người giầu mua nhiều, mà Louis Vuitton khôn ngoan làm những xách tay giá “rẻ” entry level luxury người làm ít tiền cũng mua được.
    Thí dụ như xách tay kiểu “Neverfull” dưới đây, trang mạng của Louis Vuitton đề giá “chỉ có” $2,170 đô-la:
     
    image.jpg
    Xách tay Louis Vuitton Neverfull MM, giá bán $2,170 đô-la
     
    Đối với những người làm không nhiều tiền, $4,000 - $5,000 đôla một cái xách tay thì đắt quá, nhưng nếu là $1,500- $2,000 đô-la thì mua được, ra đường người khác nhìn ai cũng biết là hiệu Louis Vuitton, nên mình có thể khoe tôi cũng mang xách tay hiệu đắt tiền như ai.
    Vì thế, Louis Vuitton thành công trong lãnh vực thương mại, cả người giầu lẫn nghèo không những chỉ phụ nữ Việt Nam mà cả thế giới đều mua.
     
    image.jpg
    Xách tay Louis Vuitton Speedy 30, giá bán $3,450 đô-la
     
    image.jpg
     
    Xách tay Louis Vuitton Speedy P9 Bandoulière 50, giá bán $12,900 đô-la
     
    Tôi muốn nêu ra một điểm là ai mang xách tay Louis Vuitton có thể lừa người khác nghĩ là mình giầu, nhưng bà nào mang xách tay Hermès thì bảo đảm là dân quý phái thứ thiệt chính gốc con nai vàng.
    Anh chàng nào thấy cô nào mang xách tay Birkins hay Kellys của Hermès thì lại càng nên cua gấp gấp vì không phải ai cũng mua được: chỉ có người thường xuyên mua hàng Hermès mới có hân hạnh được mua xách tay Birkins hay Kellys.
     
    Dưới đây là ảnh rao bán xách tay cũ đã dùng rồi, Hermès Birkin 25 giá $32,500 đô-la, và Hermès Kelly Sellier 20, $78,375 đô-la.
    Vào mạng của Hermès sẽ không bao giờ thấy giá tiền, vì nếu ai thắc mắc xách tay bán bao nhiêu thì chắc chắn không phải là dân giầu có đủ tiền để mua xách tay Hermès:
     
    image.jpg
    image.jpg
     
    Tại sao người làm ít tiền, không thuộc loại quý phái lại đua đòi mang xách tay đồ hiệu đắt tiền?  Vì nhiều lý do:
    1. Họ muốn người khác nghĩ là mình giầu,  nằm trong giới thượng lưu, dư sức mua xách tay hiệu đắt tiền.
    2. Họ mặc cảm với địa vị của họ trong xã hội, nhưng khi mang xách tay đắt tiền thì nó biến họ thành người quý phái,   không thua người khác.
    3. Họ tự hãnh diện hẳn ra, tự cảm thấy thành công trong cuộc sống.
    4. Sự tự hãnh diện tạo ra một điểm “tự” nữa là họ thấy đẹp hẳn ra vì chỉ có những người mẫu đẹp mới mang xách tay đắt tiền.
    Khi còn đi làm, đến năm thứ 20 thì ông chủ gọi tôi vào văn phòng. Ông ta tặng tôi một chiếc Rolex trị giá $5,000 đô-la, cảm ơn tôi đã làm việc với hãng 20 năm.
    Thời thơ ấu, nhà tôi ở Bàn Cờ nghèo vô cùng nên tôi nghĩ ngay là món trang sức đắt tiền này không phù hợp với tôi. Ngược lại, vợ tôi ngày xưa ở Sài-Gòn là dân giầu sang, học trường Tây từ nhỏ nên tôi hỏi ngay ông chủ  (tôi với ông ta khá thân) là có thể đổi sang đồng hồ phụ nữ để tôi đưa cho vợ tôi mang? Ông ta trả lời không vì hãng thưởng cho tôi, ông ta muốn tôi hưởng nên tôi phải mang.
    Tôi đem đồng hồ về để đó. Khi anh vợ tôi từ Paris sang chơi, anh ta thích quá muốn mua, tôi để lại cho anh ta với giá $2,000 đô-la. Tiền anh ta đưa, tôi đưa lại cho vợ.
     
    Tôi kể câu chuyện này để cho thấy ngược  với những người làm không nhiều tiền nhưng lại muốn mang xách tay đồ hiệu đắt tiền để người khác nghĩ mình giầu sang quý phái, tôi lại thấy xấu hổ nếu tôi mang một cái gì đó xa xỉ không phản ảnh chân thật con người tôi.
    Tôi chỉ mua những gì hợp với túi tiền, và vì không bao giờ tôi quên quãng thời gian nghèo rớt mồng tơi nên quần áo, giầy dép, đồng hồ…, tôi chỉ mua những gì đẹp và rẻ. Không bao giờ tôi mua vì nó là hiệu này, hiệu kia.
     
    Đối với tôi, cái đồng hồ Pulsar $100 đô-la hay Rolex $5000 đô-la, đôi giầy $30 đô-la hay $200 đô-la, cái áo dài tay mặc đi làm  $20 đô-la hay Polo $80 đô-la, cái xe Toyota $40,000 đô-la hay Mercedes $100,000 đô-la, tất cả phẩm chất như nhau thì dại gì tôi trả hơn tiền cho món bằng giá trị?    
    Với trang phục luộm thuộm, bà người Việt già mang xách tay Louis Vuitton chắc chắn gốc Tía em hừng đông đi cày bừa như tôi. Không một phụ nữ già quý phái nào khi đi ăn buffet trên cruise buổi tối  lại mang xách tay Louis Vuitton vào phòng ăn.
    Người giầu và quý phái thật sự không cần khoe khoang lộ liễu. Đối với họ, xách tay  Louis Vuitton chỉ là chuyện nhỏ. Họ có hơn chục cái đắt tiền, mua thêm lúc nào cũng được nên không cần khoe khoang.
     
    Bà già người Việt ở đây nghĩ rằng mang xách tay Louis Vuitton sẽ làm cho người khác nghĩ là bà ta giầu sang quý phái.
    Ngược lại, nó cho thấy bà ta là người kệch cỡm, nó lòi đuôi bà ta gốc Tía em hừng đông đi cày bừa, nghĩ rằng hình thức sẽ mang đến sự quý phái nhưng thiên hạ biết ngay nội dung của bà ta thì rỗng tuếch. 

    Nguyễn Tài Ngọc
     
     

ĐÀN BÀ HAY ĐÀN ÔNG ĐỀU NÊN ĐỌC BÀI VIẾT NÀY

  • 1772110755389blob.jpg

    ĐÀN BÀ HAY ĐÀN ÔNG ĐỀU NÊN ĐỌC BÀI VIẾT NÀY

    Đọc để ngẫm - để thấm - để hiểu!
    1. Hãy nhớ người ở cạnh bạn lúc khó khăn, mới là người thương bạn nhất.
    Người mà chỉ vui khi bạn giàu có, chỉ là người yêu tiền của bạn thôi.

    Người ở cạnh bạn ngay lúc bạn xấu xí nhất mới là người yêu bạn nhất.
    Người chỉ hớn hở khi thấy bạn xinh đẹp, chỉ là người muốn “ngủ’ với bạn thôi!
    2. Đàn bà dù có giỏi giang và thành đạt đến nhường nào. Đến khi rũ bỏ lớp quần áo trên người xuống, vẫn chỉ là bờ vai gầy guộc bị mài mòn theo bão giông của cuộc đời. Vậy nên hãy đối xử tốt, yêu thương vợ mình, trân trọng mẹ mình
    3. Đàn ông biết bênh vợ là đàn ông khôn. Đối với đàn bà, ngàn lời chê trách của thiên hạ cũng không bằng một lời chê của chồng
    4. Đàn ông thường không trân trọng người phụ nữ mình đang có
    Mà chỉ tập trung dòm ngó những người phụ nữ không thuộc về mình.
    Đến lúc hối hận cũng không kịp
    5. Đời phụ nữ ...
    Tim là của bố mẹ
    Thân xác là của chồng
    Thời gian là của con
    Chỉ có nếp nhăn là của mình mà thôi!
    6. Chẳng ai sinh ra mà đã hợp nhau
    Một chút nhường nhịn, một chút chịu đựng
    Thêm một chút nhẫn nại
    Và có cả một chút hy sinh vì nhau nên
    Tình yêu mới bền vững
    7. Quen biết một người là do duyên phận
    Hiểu được một người là do kiên trì
    Chinh phục được một người dựa vào trí tuệ
    Có thể ở bên nhau dài lâu hay không
    Thì phải dựa vào sự bao dung
    8. Không phải cứ bộc lộ ra mới là có chuyện. Người luôn giữ trong lòng luôn là người tổn thương sâu sắc nhất. Dù sao, khi đã chọn sự im lặng cũng là lúc khoảng cách dần tăng và con người ta không còn muốn gần nhau nữa... Đừng để người phụ nữ của mình im lặng
    9. Tình cảm sẽ chết đi khi niềm tin không còn tồn tại. Tình yêu sẽ khép lại khi không còn hai chữ QUAN TÂM
Ngọn Đèn Dầu Trong Góc Khuất




Ở thành phố London, Ontario, có một hội trường nhỏ sát bờ sông Thames, mỗi tuần mở cửa một lần cho mấy người già Việt Nam tới ngồi với nhau. Căn phòng lúc nào cũng ấm hơn ngoài trời, dù mùa đông hay mùa hạ, bởi mùi trà nóng, mùi dầu gió xanh quen thuộc tỏa ra từ vạt áo của những người già xa xứ, và những câu chuyện quen như gió thổi qua hàng dừa quê cũ.
Ông và bà quen nhau ở đó. Ông ngoài 70, quê miền Tây, lưng đã còng nhẹ như cây tre già sau nhiều mùa gió. Vợ ông mất 10 năm trước, một buổi sáng mùa thu, đi nhẹ như chiếc lá rụng không kịp báo. Từ đó, căn nhà nhỏ của ông chỉ còn tiếng đồng hồ treo tường và tiếng tuyết cào vào cửa sổ mỗi khi đông về. Ông đến Canada vài năm sau miền nam sụp đổ, ông làm nghề lao động cho đến khi về hưu nên đời sống kinh tế hơi bị eo hẹp.
Bà cũng ngoài 70, tóc bạc gọn gàng, giọng Huế ấm áp. Bà đang ở với đứa con trai và gia đình của nó, khá giả nhờ kinh doanh, sáng lo bữa ăn, chiều đưa đón, nhà lúc nào cũng có người, nhưng đông người không có nghĩa là không trống. Có những nỗi cô đơn không nói ra được.
Họ quen nhau vì được sắp chung nhóm “thất thập niên”. Ban đầu chỉ là gật đầu chào, rồi vài câu hỏi thăm sức khỏe. Sau quen dần, mỗi tuần gặp lại, họ bắt đầu kể cho nhau nghe những chuyện nhỏ nhặt: ông kể tuần rồi tuyết dày, ông phải tự xúc sân; bà kể cháu nội mới biết nói, gọi bà bằng giọng còn ngọng nghịu. Những chuyện không lớn, nhưng đủ để lấp đầy khoảng trống của một ngày cuối tuần ấm áp.
Ông hay im lặng nghe bà nói. Ông nghe bằng cả người, như người miền Tây nghe nước lớn lên nước ròng xuống. Trong câu chuyện của bà thường có bóng dáng quê nhà: con rạch nhỏ, bờ ao có bụi chuối, những đêm canh nồi bánh tét dịp xuân mà bây giờ ông chỉ còn gặp trong giấc ngủ trưa. Ông ít khi kể về mình. Đời ông sau khi vợ mất, ngày nào cũng giống ngày nào, như con đường phủ tuyết, đi hoài vẫn chỉ một màu trắng. Bà tuy còn con cháu, nhưng nhiều khi ngồi giữa phòng khách sang trọng, nghe chúng nó nói tiếng Anh với nhau, bà thấy mình như một người khách lạ trong chính gia đình mình. Cái cô đơn của bà là cái cô đơn trong đông đúc, còn cái cô đơn của ông là cái cô đơn trong tịnh không.
Bà biết ông cô đơn hơn bà. Bà không nói ra. Ở tuổi này, người ta thương nhau bằng cách giữ im lặng đúng lúc. Bà chỉ để ý những chi tiết nhỏ: hôm nào ông ho nhiều, bà pha trà gừng mang theo; hôm nào ông quên mang áo khoác, bà nhắc nhẹ một câu. Những quan tâm kín đáo như mưa phùn, không ướt áo liền nhưng ngấm lúc nào không hay.
Có những buổi họ không nói gì nhiều. Chỉ ngồi nhìn ra cửa sổ, nơi hàng cây trụi lá đứng im, chờ xuân. Trong khoảng lặng đó, ông nghĩ tới vợ mình, tới những năm tháng hai người còn trẻ, còn nghèo mà vui. Bà nghĩ tới quãng đường đã đi qua, tới cái ngày rời quê, mang theo cả một đời ký ức. Hai nỗi nghĩ khác nhau, nhưng cùng chung một màu buồn tênh.
Ông hiểu, bà không thuộc về ông. Bà có gia đình, có những sợi dây ràng buộc ấm áp. Còn ông, chỉ là một bến nước cũ, may mắn có người ghé lại ngồi nghỉ chân. Nghĩ vậy, ông càng quý những buổi họp mặt hơn, quý từng lần được nghe bà kể chuyện.
Ở tuổi xế chiều, tình cảm không còn ồn ào. Nó giống như ngọn đèn dầu đặt trong góc nhà: không sáng rực, nhưng đủ soi cho người ta thấy mình chưa hoàn toàn ở trong bóng tối. Ông và bà không gọi tên mối gắn bó đó. Họ chỉ biết, mỗi tuần còn có một buổi để chờ, một người để nhớ, là lòng đã bớt lạnh đi một chút giữa xứ người xa lạ. Và thế là đủ.
Con cháu bà dần dần biết chuyện....
Chiều London hôm ấy tuyết rơi lất phất, cái lạnh như kim châm vào những khớp xương già nua. Trong góc phòng họp mặt, ông ngồi khép nép hơn mọi khi, chiếc áo khoác cũ đã sờn cổ được ông cài kín mít như để che đi cái nghèo nàn đang bị người đời dòm ngó.
Hôm nay sinh nhật bà. Con trai và con dâu vừa đưa bà đến. Lúc bước vào, họ lướt nhìn ông bằng ánh mắt lạnh lẽo như băng giá ngoài kia. Tiếng xầm xì của chúng bằng tiếng Anh, ông hiểu hết từ cái giọng điệu khinh khỉnh đến cái nhếch môi khi nhìn vào đôi giày cũ mòn của ông cũng đủ làm một người đàn ông từng là trụ cột gia đình thấy lòng nhói buốt. Họ không muốn bà "gần gũi" với một ông già đơn độc, nghèo nàn, sợ ông là gánh nặng, hoặc đơn giản là sợ cái hình ảnh "không môn đăng hộ đối" làm mờ đi cái vẻ thành đạt của họ ở xứ sở này.
Đến giờ giải lao, mọi người cùng ăn nhẹ. Con bà bày ra những hộp thức ăn sang trọng, nhưng khi ông lại gần, họ ý tứ kéo ghế ra xa, hoặc giả vờ bận rộn để không phải mời ông một tiếng. Ông đứng lặng, bàn tay run run cầm mẩu bánh mì khô khốc. Bà nhìn thấy hết. Bà đau cái đau của người đàn bà kẹt giữa một bên là thâm tình con cái, một bên là sự tri âm của người bạn già. Bà lẳng lặng gắp miếng chả lụa vào đĩa của ông, nói nhỏ, giọng run run:
- Ông đừng có để bụng... tụi nhỏ nó sống bên này lâu quá, cái tâm nó bị đóng băng rồi. Để tui ăn với ông cho vui.
Ông nhìn bà, đôi mắt u uất khẽ gợn sóng. Ông muốn đứng dậy bỏ về, cái tự trọng của một người đàn ông miền Tây "đói cho sạch, rách cho thơm" đang trỗi dậy. Nhưng nhìn thấy bàn tay bà đang run rẩy vì lo lắng cho mình, ông lại ngồi xuống. Ông thương bà hơn là giận lũ trẻ. Ông buồn. Buồn lặng. Không phải vì nghèo, mà vì cảm giác mình bị làm phiền. Cái nghèo ông đã mang theo từ quê qua tới xứ người, ông quen rồi. Nhưng ánh mắt coi thường thì vẫn làm tim người ta nhói, dù đã sống gần trọn một đời. Ông bắt đầu nghĩ tới việc không nên đến nữa, không nên làm bà khó xử giữa con cháu và một người dưng như ông. Bà biết. Bà luôn biết những điều người khác không nói ra.
Lúc ra về, khi con cháu bà đang mải mê chào hỏi những người khác, bà nhanh tay dúi vào túi áo khoác rộng thùng thình của ông một bọc nilon trong đó có vài hộp nhỏ được gói kỷ trong giấy bạc. Bên trong là mấy cuốn gỏi cuốn bà tự tay làm, là miếng thịt kho tàu mềm rục đậm đà vị quê hương. Bà thầm thì: 
- Nè, đem về chung cư, tối hâm lại mà ăn cho ấm bụng. Đừng có nhịn, tui xót...
Ông nắm chặt lấy bọc đồ ăn qua lớp vải áo, cảm giác nó nóng hổi như vừa mới vớt ra từ nồi áp suất, hay chính là hơi ấm từ trái tim bà truyền qua? Ông không nói được lời nào, chỉ khẽ gật đầu, cổ họng nghẹn đắng.
Ông lầm lũi đi ra trạm xe buýt. Bóng ông đổ dài trên mặt đường sũng nước mưa xuân. Ông hiểu, trong mắt lũ trẻ, ông là kẻ "đào mỏ" hay một ông già lẩm cẩm, nhưng trong mắt bà, ông là cả một khung trời kỷ niệm, là người duy nhất hiểu được tại sao bà lại khóc khi nghe một câu hò giữa lòng London.
Tình già ở đây sao mà u uất quá. Nó không được phô trương dưới ánh đèn, mà phải giấu diếm trong túi áo, trong những món ăn vụn vặt và những lờidặn dò lén lút.
Ông mang những gói thức ăn ấy về căn chung cư im lìm của mình. Ông ăn chậm, ăn kỹ, như sợ hết quá nhanh. Mỗi miếng ăn không chỉ là no bụng, mà là một sự xác nhận âm thầm rằng trên đời này vẫn có người coi ông là người, không phải là gánh nặng hay cái bóng bên lề.
Ông không dám đòi hỏi gì hơn. Ông giữ khoảng cách, giữ lòng tự trọng, giữ cả nỗi buồn cho riêng mình. Nhưng trong những đêm tuyết phủ kín ban công, khi hâm lại nồi cá kho bà giấu cho, mùi nước mắm bốc lên rất khẽ, ông biết: có những thứ không cần gọi tên, vẫn đủ để một người già sống tiếp qua mùa đông dài.
Rồi tới một buổi họp, chỗ ngồi quen đã trống.
Một tuần, rồi hai tuần... cái ghế trống đối diện ông trong câu lạc bộ đã bắt đầu lạnh lẽo cho đến khi người trưởng hội thông báo bà đã trút hơi thở cuối cùng đêm qua, trái tim ông như có một mảnh sành cứa vào, không đau rát nhưng máu rỉ ra âm thầm, lạnh ngắt.
Ông đến đám tang với tư cách một người bạn đồng hương xa lạ. Ông mặc chiếc áo vest cũ kỹ, cài nút thật chặt để ngăn những cơn run rẩy của tuổi già và cả nỗi đau đang cuộn lên trong lồng ngực. Ông đứng lẫn vào đám đông, giữ khoảng cách với con cháu bà. Họ vẫn vậy, vẫn ánh mắt sắc lạnh, bận rộn với những nghi thức sang trọng mà có lẽ bà khi còn sống cũng chẳng mấy mặn mà.
Ông sợ họ thấy ông khóc. Ông sợ cái tình cảm kín đáo, tinh sạch như sương sớm của hai tâm hồn già nua bị họ vấy bẩn bằng những suy nghĩ thường tình. Ông cố nuốt nước mắt vào trong, khiến đôi mắt đục mờ càng thêm u uất.
Lợi dụng lúc con cháu bà đang bận tiếp khách phía sảnh ngoài, ông lầm lũi tiến lại gần linh cữu. Đôi bàn tay đồi mồi run run đặt lên bàn thờ những món quà mộc mạc mà ông đã chắt chiu mua từ những đồng tiền già ít ỏi: Một hộp mè xửng Thiên Hương chính hảng từ Huế, một bịch trà Bảo Lộc hiệu Cây Thông mà bà ưa thích, thứ trà chát đắng lúc đầu nhưng ngọt hậu về sau. Một hộp bánh pía Sóc Trăng: Món quà quê hương của ông, cái vị ngọt của đậu xanh, vị béo của sầu riêng. Và cuối cùng, chai dầu gió xanh: Kỷ vật ngày đầu quen nhau bà đã tặng ông. Ông trả lại cho bà, không phải vì muốn đoạn tuyệt, mà vì ông muốn hơi ấm của nó sẽ theo bà sang bên kia thế giới.
Ông đứng lặng, bóng dáng cô độc in trên nền hoa trắng xóa. Ông lâm râm, tiếng khấn chỉ đủ cho mình ông và linh hồn bà nghe thấy:
- Bà đi trước nha... Về dưới đó, chỗ có nắng ấm, có mùi bùn non, không còn tuyết lạnh, không còn những ánh nhìn ghẻ lạnh đâu bà. Cầu ơn trên rước bà về cõi Phật. Thỉnh thoảng... bà có nhớ tui, nhớ cái mùi trà này, thì về thăm tui trong giấc chiêm bao, để tui còn thấy mình không đơn độc giữa cái thành phố mênh mông này...
Lúc ông quay lưng bước đi, một cơn gió lạnh lùa qua cửa sổ làm khói nhang bay vòng rồi tan mất. Ông bước ra phố, chiếc bóng gầy guộc lọt thỏm giữa những tòa nhà cao tầng.
Từ nay, bọc thức ăn trong túi áo sẽ không còn nóng hổi, những câu chuyện về tiền già, về con cái sẽ chẳng còn ai để sẻ chia. Ông đi, mang theo cái nghèo, cái tự trọng và một khoảng trống mênh mông mà cả thành phố London này cũng không thể lấp đầy.
Hóa ra, cái chết không đáng sợ bằng việc người duy nhất hiểu mình đã không còn nữa.

T. Nguyen
London


--
====================================================================
Trên Facebook :
http://www.facebook.com/DaiHocKhoaHocSaiGon
====================================================================
 
Bạn đã nhận được bài viết này vì bạn đã đăng ký vào Nhóm "KhoaHocSG" của Google Groups.
* Để đăng bài lên nhóm này, hãy gửi email đến "khoa...@googlegroups.com"
* Để RÚT TÊN ra khỏi nhóm này, gửi email đến "khoahocSG+...@googlegroups.com"
* Để có thêm tuỳ chọn (preference set up), hãy truy cập vào nhóm này tại: http://groups.google.com/group/khoahocSG?hl=vi
---
Bạn nhận được thư này vì bạn đã đăng ký vào nhóm Google Groups "KhoaHocSG".
Để hủy đăng ký khỏi nhóm này và ngừng nhận email từ nhóm, hãy gửi email đến khoahocsg+...@googlegroups.com.
Để xem cuộc thảo luận này, hãy truy cập vào https://groups.google.com/d/msgid/khoahocsg/MN2PR02MB65927FBFBF67E5FCDD973643FC73A%40MN2PR02MB6592.namprd02.prod.outlook.com.
Reply all
Reply to author
Forward
0 new messages