Fwd: ĐIỂM TIN DIỄN ĐÀN 02-06-2021

29 views
Skip to first unread message

Giu Tran

unread,
Jun 2, 2021, 11:08:49 AM6/2/21
to


---------- Forwarded message ---------
From: soan nguyen <soan....@hotmail.com>
Date: Wed, Jun 2, 2021 at 3:55 AM
Subject: ĐIỂM TIN DIỄN ĐÀN 02-06-2021
To:








GOOD MORNING VIET NAM


Image insérée
 







ĐIỂM TIN DIỄN ĐÀN 02-06-2021

  MỤC LỤC

1.        VÀI CHUYỆN ĐÃ QUA TRONG ĐỜI SỐNG

2.       HOA PHƯỢNG

3.       Thất Thập Cổ Lai Hy

4.       Tình báo Anh giúp Mỹ điều tra thuyết virus rò rỉ từ phòng thí nghiệm Vũ Hán

5.       Những lò đào tạo ca sĩ của một thời Sài Gòn đáng nhớ đáng yêu

6.       ÁO LỤA

7.       BỎ QUA ĐI TÁM!

8.       Hi c thi điêu linh… lò du hôi

9.       THƠ PLEIME

10.    Nước Ý xây dựng đường cao tốc sạc cho xe điện đầu tiên trên thế giới

11.    DẠY CON DÂU

12.    Trần Hoài Thư và Ngọc Yến, với con chim chằng nghịch và nỗi nhớ quê

13.    Vẻ vang dân Việt

14.    Cùng nhau cười, vui là chính!!!

15.    Mẹo hay nhà bếp. Lưu lại nha. Sẽ có ích lắm đấy

16.    Corona và Con Đường Tơ Lụa mới





HOT YAHOO NEWS: Trump say hell be back in WH by August

Despite his predictions, Trump won't simply be reinstated as president

David Knowles
David Knowles
·Senior Editor
Tue, June 1, 2021, 2:41 PM·5 min read

Former President Donald Trump is reportedly setting his sights on a quick return to the White House. 

New York Times reporter Maggie Haberman tweeted Tuesday that Trump has been telling confidants that he expects to be reinstated as president by August as a result of ongoing election audits in states like Arizona and Georgia. 

While there is no constitutional or legal remedy to overturn the results of an election once the Electoral College votes have been certified by Congress, Trump appears to be betting that the findings from highly partisan audits might somehow convince enough people of his bogus claim that fraud cost him the election.

A Yahoo News/YouGov poll released last week found that 64 percent of Republicans believe that the 2020 election was "rigged and stolen from Trump," but the courts have not been as kind to the former president, almost unanimously turning back his legal challenges to the results (Trump's lawyers won a single case in Pennsylvania that did not affect the final results). Recounts and official audits of the votes in several states have also failed to overturn President Biden's victory in both the popular vote and the Electoral College. 

None of those points have seemed to deter Trump or his ardent supporters from the mistaken belief that he will be restored to power. How will this happen? At a QAnon conference held over the weekend in Dallas titled "For God & Country Patriot Roundup," some theories emerged. 

UNITED STATES - NOVEMBER 19 (FILE): Sidney Powell, attorney for President Donald Trump, conducts a news conference at the Republican National Committee on lawsuits regarding the outcome of the 2020 presidential election on Thursday, November 19, 2020. Trump attorney Rudolph Giuliani also attended. (Photo By Tom Williams/CQ-Roll Call, Inc via Getty Images)
Sidney Powell, an attorney for President Trump, holds a news conference on Nov. 19, 2020. (Tom Williams/CQ-Roll Call, Inc via Getty Images)

Sidney Powell — the lawyer who is the subject of a $1.3 billion defamation lawsuit by voting-machine manufacturer Dominion Voting Systems over her claims that the company helped rig the election against Trump — assured the conference attendees that the U.S. Constitution is no match for their righteous cause.  

"He can simply be reinstated," Powell said of Trump, eliciting loud cheers despite the fact that Trump cannot simply be reinstated. 

Michael Flynn, the retired U.S. Army lieutenant general and former national security adviser who was forced to resign from the Trump administration after lying to Vice President Mike Pence about his interactions with the Russian ambassador to the U.S., Sergey Kislyak, floated another possibility. 

Asked in Dallas why a Myanmar-style coup "can't happen here," Flynn seemed to signal his approval of that idea.

"No reason. I mean, it should happen here. No reason. That's right," Flynn responded, causing the audience to erupt in more applause. 

In a post later in the day on Parler, Flynn claimed the media had misrepresented the meaning of his comments.

"For all the fake news 'journalists': Let me be VERY CLEAR — There is NO reason whatsoever for any coup in America, and I do not and have not at any time called for any action of that sort," Flynn said in his post. "Any reporting of any other belief by me is a boldface fabrication based on twisted reporting at a lively panel at a conference of Patriotic Americans who love this country, just as I do. I am no stranger to media manipulating my words and therefore let me repeat my response to a question asked at the conference: There is no reason it (a coup) should happen here (in America)." 

Despite Flynn's clarification, not everyone was convinced that the retired general was not, in fact, advocating for Trump to be returned to office via a military coup. 

While partisan conspiracy theories are not uncommon in American history (polls showed that more than half of Democrats believed President George W. Bush knew about the 9/11 attacks ahead of time and did nothing to stop them), they are especially prevalent among QAnon adherents. The followers of Q, a self-proclaimed high-ranking military officer, believe that the federal government is controlled by a group of Satan-worshipping pedophiles. Among the many QAnon predictions that have failed to come to pass, Trump was said to have planned the mass arrest of several high-profile child abusers on Jan. 20. And despite the fact that Biden was sworn in to office that same day, QAnon adherents clung to the widely circulated belief that Trump would be inaugurated for a second term on March 4. 

Outgoing US President Donald Trump addresses guests at Joint Base Andrews in Maryland on January 20, 2021. - President Trump and the First Lady travel to their Mar-a-Lago golf club residence in Palm Beach, Florida, and will not attend the inauguration for President-elect Joe Biden. (Photo by ALEX EDELMAN / AFP) (Photo by ALEX EDELMAN/AFP via Getty Images)
Former President Donald Trump at Joint Base Andrews, Md., on Jan. 20. (Alex Edelman/AFP via Getty Images)

This would all be easier to dismiss were it not for the fact that a significant portion of Americans actually believe it. According to a poll released last week by PRRI, 23 percent of Republicans and 15 percent of Americans overall think "the government, media, and financial worlds in the U.S. are controlled by a group of Satan-worshipping pedophiles who run a global child sex trafficking operation." Twenty-eight percent of Republicans and 20 percent of Americans overall are also convinced that "there is a storm coming soon that will sweep away the elites in power and restore the rightful leaders."



   VÀI CHUYỆN ĐÃ QUA TRONG ĐỜI SỐNG

PHẠM ĐÌNH LÂN, F.A.B.I.
image.png

Tôi không có số sống ở nơi sinh quán và gần gia đình. Khi đệ nhị thế chiến chấm dứt, tôi chỉ là một cậu bé năm tuổi. Quê nội tôi bị thiêu hủy. Cha tôi bị bắt giải ra Lái Thiêu. Tôi về sống ở quê ngoại với bà ngoại giữa lúc mẹ tôi trốn tránh ở nơi nào tôi không rõ.

Khi cha tôi được Pháp trả tự do và trở lại cuộc đời công chức trong tỉnh Thủ Dầu Một, tức tỉnh Bình Dương sau nầy. Gia đình tôi được đoàn tụ ở Lái Thiêu. Cái khám mà người Pháp nhốt cha tôi trở thành nhà ở tạm của gia đình tôi ở Lái Thiêu. Tôi là người con sau cùng đến Lái Thiêu đoàn tụ với cha mẹ và các anh tôi. Tôi phải vất vả đi bộ từ Bình Chuẩn ra Thuận Giao để đến Búng. Tại đây tôi đi Lái Thiêu bằng xe ngựa.

Tôi là một đứa trẻ sinh và sống ở thôn quê. Lúc ấy tôi chưa đi học nên tạm xem là một đứa trẻ vừa quê mùa vừa dốt nát. Những ấn dấu ban đầu mà tôi ghi nhận về thành phố là: những đàn chim sẻ, mùi hôi xông lên từ các hệ thống cống rãnh trong thành phố, đèn điện, đèn dầu, đèn Hoa Kỳ, đèn măng-sông (manchon), phông tên (fontaine) nước mặc dù các giếng nước vẫn có đông đảo người đến để gánh nước.

Hai người anh lớn của tôi không có mặt ở Lái Thiêu. Hai người anh lớn khác sớm rời Lái Thiêu theo đuổi việc học hành ở Sài Gòn. Trong nhà chỉ còn cha, mẹ, tôi và một đứa em nhỏ. Không bao lâu tôi phải rời Lái Thiêu xuống Sài Gòn học. Hàng tuần đến chiều thứ bảy tôi đạp xe đạp về thăm gia đình, đồng thời giúp cho cha tôi vài công việc mà tôi có thể làm được.

Tôi không đến nỗi lạc lõng ở Sài Gòn. Tôi quen thuộc với Thủ Dầu Một và Sài Gòn khi đi lên hướng bắc để thu tiền bán thuốc lá của mẹ tôi và đi về hướng nam để đem tiền cho các anh tôi hàng tháng. Lúc bấy giờ việc di chuyển từ vùng nầy đến vùng khác bằng xe đò rất nguy hiểm vì phải đợi các xe thiết giáp mở đường xe mới dám chạy. Dọc đường có thể bị Việt Minh chận bắt nên người lớn hạn chế việc đi lại tối đa để tránh hiểm họa. Vì vậy tôi sớm có vai trò quan trọng trong nhà. Tôi luôn luôn có bạc ngàn trong chiếc nón cối màu trắng mà tôi đội trên đầu.

Ngày mới đến Lái Thiêu, tôi thấy nước uống ở đó không hợp khẩu vị bằng nước mạch quê ngoại Bình Chuẩn hay quê nội ở An Phú. Ngày sống ở Sài Gòn tôi thấy nước uống ở Sài Gòn không bằng nước uống ở Lái Thiêu. Con người như một cây trồng. Trồng ở đâu thì quen đất và quen nước ở đó.

Cha tôi mất sớm vì hoài hương, vì tiêu tan sự nghiệp do chiến tranh và vì sự xâu xé của hai bên lâm chiến. Việt Minh xem cha tôi là người hợp tác với Pháp. Chánh quyền thuộc địa xem cha tôi có liên hệ với Việt Minh! Vài ngày sau khi cha tôi mất, mẹ tôi sanh em gái út của tôi. Căn nhà rộng lớn ở Lái Thiêu bây giờ đặt dưới sự điều khiển của mẹ tôi và hai em còn nhỏ, một đứa sáu tuổi và một đứa vừa mới sanh. Tôi vẫn về Lái Thiêu hàng tuần để an ủi mẹ tôi.

Việc học của tôi không bị gián đoạn sau cái chết của cha tôi. Tôi chân thành biết ơn các anh và các chị dâu của tôi. Tôi sống rất tự do và hay ngao du sơn thủy suốt thời niên thiếu. May mắn là tôi đạt được kết quả tốt trong các kỳ thi Brevet, Bac I và Bac II, được đậu và tốt nghiệp đại học một cách suôn sẻ.

Tôi chọn ngành sư phạm, một ngành mà nhiều người không để ý vì không uy quyền và không tạo nhiều tiền bạc. Tôi xin ghi lại vài ý tưởng xem thường ngành sư phạm qua những câu sau đây:

Dưa leo chấm với cá kèo,
Học trò nghèo đi học “nột-man” (1).

*

Học trò đi mò cá sặc
Thầy giáo ở nhà c… c… nấu canh.

Tôi không để ý đến sự khinh dễ của người đời về ngành học của tôi mà mải mê nghĩ đến tương lai của thế hệ mai hậu, tương lai của một quê hương oằn oại trong sự chậm tiến. Không có một nền giáo dục tốt thì đất nước không có tương lai tốt. Trước mắt tôi suy nghĩ nhiều về em trai của tôi.

Ɖó là một đứa trẻ có gương mặt sáng sủa, trán cao, ngôn ngữ đối đáp rất thông minh và dễ thương. Cha tôi rất thương yêu nó. Khi còn học tiểu học, tôi vẫn thường cõng nó đi vòng quanh xã Tân Thới và Phú Long. Nó có vài đặc điểm kỳ lạ. Mỗi khi có tiếng súng nổ, nó la thét lên vì bị bắt chun dưới bộ ván gỗ. Mỗi lần chị Hai giúp việc ẵm nó đi dưới sào phơi quần áo thì nó bị bịnh ngay. Có lần nó bắt chước thằng Hùng, con anh Henri, cạo đầu để tiết kiệm tiền hớt tóc thì nó bị bịnh vùi cả tháng. Khi tóc mọc lại, nó khỏe mạnh bình thường! Qua kinh nghiệm nầy tôi thấy chuyện Samson không đến nỗi là chuyện vô lý.

Tôi đau lòng khi thấy em tôi học sa sút ở trường Trịnh Hoài Ɖức. Tôi bàn với anh cả tôi để đem đứa em mới sáu tuổi đã sớm mồ côi cha về học ở Sài Gòn. Tôi bàn với anh Hưng xin cho em chuyển trường từ Trịnh Hoài Ɖức xuống bất cứ trường trung học nào trong vùng Gia Ɖịnh-Sài Gòn. Trường Võ Trường Toản nhận em tôi một cách miễn cưỡng vì thành tích học hành nghèo nàn của em. Mùa hè năm 1961 tôi bắt đầu thi thố khả năng sư phạm của tôi khi dạy em tôi trước khi nhập học trường mới. Năm học đệ lục trường Võ Trường Toản em tôi đứng đầu lớp. Một vài bạn học hỏi em tôi: “Mầy học dở ở trường Trịnh Hoài Ɖức. Xuống đây mầy dẫn đầu lớp. Vậy mấy thằng học giỏi ở trường Trịnh Hoài Ɖức ghê gớm lắm sao?” Từ đó về sau em tôi đạt nhiều thành tích vẻ vang trong các kỳ thi Trung Học Ɖệ Nhất Cấp, Tú Tài I, Tú Tài II, Cử Nhân Luật, Cao Học Hành Chánh (thủ khoa).

Tôi là thầy giáo khi chiến tranh Việt Nam II bắt đầu. Tôi không bị kỳ thị nhưng tôi sống trong biển kỳ thị địa phương, tôn giáo và sự nghi ngờ lẫn nhau. Tôi sống trong một xã hội ồn ào và phức tạp dựa trên những nhận xét chánh trị căn bản như: người đen đúa, ốm gầy là Cộng Sản; người có đạo mới chống Cộng; kẻ đi lang thang là điệp viên, tình báo;  người nói ngoại ngữ là tay sai của ngoại bang v.v. Tôi không hình dung vóc dáng của tôi như thế nào mà thời Quốc Gia thì có người nói tôi giống ông Hồ Chí Minh. Thời miền Trung biến động có người nói tôi giống ông Thích Trí Quang. Ɖến thời Cộng Sản thì có người nói tôi giống ông Nguyễn Văn Thiệu. Làm sao tôi có chỗ sống yên ổn với những sự ví von kỳ lạ nầy? Nhưng tôi giữ im lặng và cầu xin những “ ác ý” trên lắng dịu và chìm trong quên lãng. Thâm tâm tôi muốn xa lánh và đứng ngoài các vấn đề tôn giáo, chánh trị và địa phương, ý thức rằng đó là những mầm mống chia rẽ giữa người đồng chủng và đồng văn, tai hại cho tương lai tươi sáng và sự phát triển của đất nước cho dù phe nào thắng thế trong cuộc nội chiến.

Tôi đã thành nhân và có gia đình. Tôi trở về Lái Thiêu và hàng ngày vẫn đi dạy hoặc ở Hóc Môn, Gia Ɖịnh, hoặc ở các tư thục ở Sài Gòn và Bình Dương. Khi có con, tôi bắt đầu nghĩ đến việc về sống ở Sài Gòn. Tôi đã thực hiện điều nầy với sự khuyến khích của anh Hưng, người anh kế tôi có nhiều liên hệ mật thiết với tôi.

Một hôm anh Henri từ Phú Giáo về thăm tôi và đề nghị cho tôi một miếng đất trên Quốc Lộ 13 Lái Thiêu để cất nhà. Tôi không nhận lời đề nghị ngay mà nói là sẽ trả lời với anh sau vì tôi đã đặt tiền cọc để mua một căn nhà ở Gò Vấp. Khi đến trả nốt số tiền còn lại để nhận nhà thì người chủ nhà xin lỗi tôi bằng cách trả lại tiền đặt cọc. Thế là tôi và em tôi lên Phú Giáo để trả lời với anh Henri về miếng đất của anh trên Quốc Lộ 13 Lái Thiêu. Tôi lại trở về Lái Thiêu, nơi tôi sống gần 40 năm kể từ khi cuộc chiến tranh Ɖông Dương bùng nổ. Anh Hưng cũng như anh Henri đều muốn tôi sống gần hai anh vì cả hai đều muốn trò chuyện với tôi mỗi khi có chuyện vui buồn hay khó khăn cần sự góp ý của tôi. Anh Hưng muốn tôi ở Sài Gòn. Anh Henri muốn tôi trở về Lái Thiêu.

***

Gần Tết năm 1975, trên đường đến trường Bồ Ɖề Bình Dương tôi nói với em tôi rằng tôi sẽ gặp mười năm gần như đói kém. Em tôi có vẻ không để ý đến lời nói kỳ lạ của tôi mặc dù biết rõ tôi không cường điệu bất cứ chuyện gì, tốt cũng như xấu.

Cuộc chiến tranh Việt Nam kết thúc ngày 30-04-1975, đúng 35 năm sau ngày Berlin thất thủ. Chuyện mười năm đói kém của tôi bắt đầu được kiểm chứng. Tôi được tân chế độ cám ơn và là đối tượng bị Công An Bảo Vệ Chánh Trị điều tra theo dõi. Tôi nhận sự kỳ thị từ bên thắng cuộc với tư cách là phần tử của phe chiến bại. Gia đình tôi, con cái tôi đều bị phân biệt đối xử.

Tôi đau lòng nhìn đại gia đình sụp đổ. Tôi thất nghiệp và bị theo dõi điều tra. Anh tôi bị cải tạo ở miền Bắc. Em tôi bị tố giác là “đại tá” Cảnh Sát và bị bắt giam trước khi đưa lên trại học tập cải tạo Nhà Ɖỏ gần Phú Giáo. Sau khi tốt nghiệp Cao Học Hành Chánh, em tôi làm việc cho Bộ Tài Chánh và có dạy vài giờ ở Học Viện Cảnh Sát, hai trường tư thục ở Gò Vấp và Bình Dương do chính tôi giới thiệu.

Tôi chua xót nhìn vợ con ăn uống thiếu thốn và bị liệt vào công dân thứ 13 trong tân chế độ. Các con tôi không có quyền học đại học hay chọn ngành nghề mà mình ưa thích, cũng không xin được bất cứ công việc làm nào trong xã hội vừa đổi mới. Con gái út của tôi luôn luôn than phiền với mẹ về cách sắp hạng của cô giáo. Cháu đưa cho mẹ xem cháu luôn luôn được 10/10 cho tất cả các môn học. Nhưng lúc nào cháu cũng được xếp hạng 20 trở xuống! Thấy con đau khổ vì sự bất công trong học đường, tôi đành phải viết thơ nêu thắc mắc: Một học sinh được 10/10 cho tất cả các môn học và được xếp từ hạng 20 trở xuống. Vậy người học sinh đứng nhất lớp được bao nhiêu điểm? Tôi không nhận được sự hồi âm nhưng sau đó thấy con tôi được xếp hạng ba, hạng tư. Như vậy phải hiểu rằng có kỳ thị trong việc sắp hạng trong lớp. Con cái gia đình hạng 13 trong thang xã hội Cộng Sản không thể được xem là người giỏi được.

Tính theo cách tính tuổi của người Mỹ thì trưởng nam của tôi tốt nghiệp Trung Học Phổ Thông năm 16 tuổi. Ɖường học vấn của cháu đến đó bị tắc nghẽn. Cháu học Kế Toán nhưng không nơi nào nhận cháu làm việc cả.

Trong hoàn cảnh đen tối và tuyệt vọng vì không thấy ánh sáng tương lai, tôi vẫn cương quyết không bán một vật gì trong nhà. Thực tế vợ tôi âm thầm bán sạch vàng vòng sắm được khi tôi còn dạy học ở các trường công và tư. Ɖó là cách tôi dùng chút của cải vật chất để nuôi dưỡng niềm tin vào cuộc sống đầy cam go thử thách. Tôi cho các con tôi học đàn để tạo chút âm thanh dễ nghe thay cho những lời mắng nhiếc, nguyền rủa và ngạo nghễ của người ở thế thượng phong. Tôi dạy sinh ngữ để tạo nguồn sống và châm cứu miễn phí để giúp cho những người đồng cảnh ngộ. Chính hoạt động vô vị lợi nầy đã nuôi dưỡng sự yên tĩnh trong tâm hồn và làm giàu sự hiểu biết của tôi về những điều mà trước kia tôi không một thoáng nghĩ đến. Nhưng nó làm gia tăng sự nghi ngờ của chánh quyền địa phương đối với tôi. Một điều lạ đáng ghi nhận là trong cảnh nghèo đói trầm trọng, cây cối quanh nhà tôi vẫn tốt tươi và có nhiều trái đến nỗi người đi đường nào cũng dừng lại để xem. Chim sẻ về ngủ trong các cây quanh nhà. Các cán bộ Cộng Sản dùng súng bắn chim để có thịt bồi dưỡng. Ɖàn chim sẻ rời các cây quanh nhà để tránh sự giết chóc.

Niềm vui của tôi chỉ là niềm vui tinh thần. Tôi sung sướng khi thấy một người bịnh do tôi chữa đã bình phục. Tôi không đến nỗi bị xã hội cô lập hay xỉa xói khinh khi. Thỉnh thoảng vài học sinh cũ từ Hóc Môn, Gò Vấp sang thăm và ở lại trò chuyện đến chiều tối mới về. Hàng ngày có ba học sinh gốc Hoa luân phiên nhau đến chở tôi đi uống cà phê sáng, trưa và tối. Các viên chức địa phương không ghét bỏ, cũng không hạ nhục tôi. Một cán bộ tập kết luôn luôn gọi tôi là giáo sư. Có lần tôi vác cuốc để đi lao động, một thanh niên không quen biết nói với tôi: “Thầy về đi! Thầy mà lao động sao nổi?” Thế là tôi khỏi lao động. Cho đến bây giờ tôi cũng không biết người thanh niên nầy là ai? Nhưng do đâu anh ấy biết tôi? Một cán bộ tập kết khác làm việc trong xã tỏ ra có cảm tình với tôi sau khi nghe tôi nói chuyện về Châm Cứu, Thuốc Nam và xác định vị trí xã sinh quán của nhà thơ Ɖồ Chiểu tức Nguyễn Ɖình Chiểu, tác giả của Lục Vân Tiên.

Không chánh sách Cộng Sản nào không khắc nghiệt. Người hiển danh trong xã hội Cộng Sản không thể là người giàu lòng nhân ái được. Những người có cảm tình hay thương hại tôi đều không thể là những người hanh thông trên đường quan lộc trong xã hội Cộng Sản tuy rằng họ không bao giờ dám công khai bày tỏ cảm tình hay thương hại đối với người không cùng chiến tuyến với họ như tôi.

Sau gần mười năm theo dõi và điều tra tôi, tân chế độ thấy tôi là một người nghèo đói và cam phận. Cả nước xôn xao về chuyện vượt biên. Tâm tôi vắng lặng trước trào lưu nầy vì còn tiền đâu mà nghĩ đến chuyện xa vời đầy nguy hiểm. Tôi là người đứng ngoài cuộc chơi. Tôi xem đời tôi như đã hết rồi. Người công an bảo vệ chánh trị cũng có cảm giác như thế. Chánh quyền địa phương cũng thấy như vậy. Gia đình tôi luôn luôn đứng hàng 13 trong bậc thang xã hội Cộng Sản theo đúng chánh sách và đường lối của đảng và nhà nước.

Chuyện tôi không nghĩ đến là chuyện tôi phải làm. Ɖó là một nghịch lý ngộ nghĩnh.

Lớp dạy của tôi càng ngày càng ít học viên vì tất cả tuần tự rời khỏi Việt Nam để đoàn tụ với gia đình ở Hoa Kỳ, Úc Ɖại Lợi, Canada, Tây Ɖức.

Các thầy học cũ mà tôi thường thăm viếng lần lượt qua đời.

Trưởng nam của tôi sống ủ dột với cây đàn guitar sau hai năm tốt nghiệp Trung Học Phổ Thông.

Tôi như bị bao vây bởi những cảnh đen tối và buồn bã không cách nào thoát khỏi. Trong giấc ngủ nhập nhằn có lắm chiêm bao và tiếng gọi đến nỗi vợ tôi cho rằng tôi quá mơ tưởng chuyện vượt biên nên mới có những giấc chiêm bao và nghe những tiếng gọi như vậy. Tôi không nghĩ như vậy mà cho rằng tôi bị dồn vào thế phải thay đổi ý tưởng về việc ở lại quê hương hay đi tìm lẽ sống cho tương lai con cái. Giữ vững ý tưởng cũ là không rời bỏ Việt Nam dầu thiên nan vạn nan. Bây giờ nghèo xác xơ muốn vượt biên, nghĩa là rời bỏ Việt Nam, để đi tìm nguồn sống và chút ánh sáng cho tương lai con trẻ cũng không có tiền để thực hiện ước muốn của mình. Có ngờ đâu tôi là người tôn vinh câu “Ai không tin vào phép lạ là thiếu thực tế” (Celui qui ne croît pas aux miracles est irréaliste) của người Do Thái lại bị rơi vào thế cùng đường. Phép lạ bắt đầu đến với tôi sau những giấc mơ và lời kêu gọi.

Thấy con tôi buồn vì không có ánh sáng tương lai, một người dì họ của cháu sẵn sàng cho cháu tiền để vượt biên. Liền sau đó có người quen bên chị dâu tôi gặp tôi giữa đường và khuyên tôi nên vượt biên. Chị cho biết có một “đường dây” khả tín sắp “ra khơi”. Ɖây là chuyện không tìm mà gặp. Tôi bàn với chị dâu tôi về việc cho con trường của tôi vượt biên. Chi dâu tôi hỏi:

“Sao chú không đi?”

Tôi đáp:

“Tôi cho cháu đi vì một người dì họ của cháu cho cháu tiền. Tôi có tiền đâu mà đi.”

“Chú phải đi. Trong chuyến đi nầy bên phía tôi có chín người đi. Tôi muốn chú đi. Chú gặp khó khăn gì nói cho tôi biết xem có thể giải quyết được không?” Chị dâu tôi nói.

“Khó khăn duy nhất tôi vừa nói qua.”

“Chú Năm vừa bán nhà. Ɖể tôi nói chú Năm cho chú mượn.” Chị dâu tôi đề nghị.

“Giải pháp nầy không ổn chị ạ! Anh Năm đi học tập về đã cạn mạch sống đến nỗi phải bán nhà. Tôi nỡ lòng nào mượn tiền bán nhà của anh để vượt biên. Số của tôi bây giờ đen lắm. Nếu thất bại thì tiền đâu tôi trả cho anh.” Tôi nói.

“Chú để tôi nói với chú Năm.” Chị dâu tôi nói.

Chị dâu tôi nói với anh Hưng cho tôi mượn hai lượng vàng để vượt biên. Anh Hưng đồng ý ngay và có ý muốn vượt biên với tôi. Sự quyết định của anh rất đột ngột đến nỗi vợ con anh đều không hay biết.

Chị dâu tôi muốn tôi đi trong chuyến đi có nhiều thân nhân của chị tham dự với niềm tin rằng tôi mang lại sự may mắn cho chuyến đi. Chị cho rằng tôi là người may mắn chỉ vì tôi chưa bị tân chế độ cầm tù!!! Quả thật chị có suy nghĩ đúng. Chuyện vượt biên của chúng tôi, trong đó có chín người bên chị dâu tôi cộng với bốn người bên phía tôi (anh tôi, tôi, em tôi và con trưởng của tôi), được tàu Jean Charcot của Pháp cứu vớt sau khi rời khỏi bến nước Việt Nam ba mươi hai tiếng đồng hồ. Chúng tôi được vào trại tỵ nạn Palawan, Phi Luật Tân, trước khi được định cư ở đệ tam quốc gia.

Tôi không học về Thần học nên không định nghĩa rõ ràng thế nào là phép lạ. Tôi xin tóm lược lại vài điều lạ về:

- Các giấc chiêm bao và lời kêu gọi hoàn toàn ứng với những gì xảy ra sau đó.

- Việc tôi không bao giờ dám nghĩ đến chuyện vượt biên vì nghèo khó lại gặp được người chỉ đường vượt biên. Dì họ của con tôi cho cháu tiền. Anh Hưng bán nhà giữa lúc có lịnh cấm bán nhà. Tôi không mượn tiền anh mà chị dâu tôi mượn cho tôi. Trong cảnh nghèo anh Hưng không từ chối với những lý lẽ quanh co mà chấp nhận cho tôi mượn tiền một cách sốt sắng và vui vẻ.

- Người nghèo trong thế tuyệt vọng và không bao giờ nghĩ đến chuyện vượt biên như tôi lại vượt biên hai người.

Tôi và con tôi dự trù xuống Sài Gòn ngày 25-05-1985 để xuống miền Tây sáng ngày 26. Ɖêm 24 rạng 25 Lái Thiêu không có điện. Tôi và vợ tôi bàn tính chuyện tương lai nếu vượt biên thành công hay thất bại. Có tiếng đập mạnh vào cửa ngõ. Người trưởng khu truyền lịnh cho con tôi phải ra trình diện ở xã để khám sức khỏe thi hành nghĩa vụ quân sự. Thực tế không có việc khám sức khỏe gì cả. Con tôi về nhà và thi hành kế hoạch đã định. Con tôi đi Sài Gòn trước . Lối một giờ đồng hồ sau tôi cỡi xe đạp chạy theo sau. Con tôi ngủ ở nhà em tôi. Tôi ngủ ở nhà anh Hưng.

- Ɖêm 25 tôi ngủ ở nhà anh Hưng để chuẩn bị đi miền Tây vào lúc hai giờ sáng ngày 26. Lúc 12 giờ khuya, tức hai giờ trước khi chúng tôi được một người trong nhóm tổ chức vượt biên chở đi miền Tây theo kế hoạch đã định, công an phường xét nhà anh tôi. Họ xét tất cả các phòng trong nhà nhưng họ không xét phòng nơi tôi giả vờ ngủ. Hai ngày trước đó nhà anh tôi cũng bị xét vì sự có mặt của tôi nhưng họ không xét phòng tôi ngủ. Trong vòng hai ngày một căn nhà mang lý lịch “ngụy” có người lạ đến mà không trình báo bị xét hai lần nhưng công an không xét phòng nơi có người lạ ngủ. Ɖêm 25 là đêm cuối cùng anh Hưng sống trong nhà của anh trước khi trao cho chủ mới ngày hôm sau.

Người Tây Phương nói: L’homme propose, Dieu dispose.

Người ta nói: Mưu sự tại nhân thành sự tại Thiên.

Thú thật tôi không có MƯU gì cả. Vạn sự do sự sắp đặt và định đoạt từ Thiên.

Năm mười tuổi tôi bị đưa ra phòng khảo của Phòng Nhì Pháp ở Phú Long để điều tra về việc  tôi dẫn hai người bạn (Nguyễn Văn Sâm và Nguyễn Văn Pièrre) đi chiến khu. Ɖến phiên tôi bị tra khảo thì có một ông ách (adjudant) người Việt Nam tên D. (sau nầy làm việc ở Sở Quan Thuế Sài Gòn) can thiệp cho tôi được tự do và tránh khỏi sự tra khảo.

Năm 1978 tôi bị giữ trong nhà bạn N.K.L. ở Thị Nghè. Tôi đến thăm bạn và bị giữ lại do vì bạn L. đã bị công an thành phố bắt giữ. Ɖêm đó tôi cảm thấy mệt mỏi và buồn ngủ lạ thường. Tôi ngủ say đến quên đi tôi là người mất tự do và ngủ ở nơi lạ, tay bị còng trên sofa trong phòng khách của anh N.K.L. Ɖây là lần thứ hai tôi được chúa Jesus cho tôi được gặp. Sáng hôm sau tôi được tự do nhưng tất cả giấy tờ của tôi đều bị công an giữ. Mỗi tuần tôi phải đi Sài Gòn trình diện vào ngày thứ tư trong suốt năm năm và không có một tờ giấy tùy thân trong người. Không ai biết chuyện nầy kể cả vợ và các anh tôi. Khi đến Palawan tôi mới cho anh Hưng biết chuyện nầy. Ɖiều đáng nói là suốt năm năm liền không ai hỏi tôi phải xuất trình chứng minh nhân dân. Cũng không có chuyện gì cần đến chứng minh nhân dân. Nếu Sở Công An thành phố liên lạc với Ty Công An Bình Dương thì cửa nhà tù rộng mở cho tôi. May mắn là điều nầy không xảy ra.

Khi bước xuống thuyền đi vượt biên, tôi mê man bất tỉnh nên không biết gì để sợ khi thuyền lênh đênh ngoài khơi Thái Bình Dương. Thuyền vượt biên gần hết xăng dầu, gạo và nước ngọt. Anh tôi bắt đầu lo sợ. Trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê tôi nói: “11 giờ có tàu vớt”. Anh tôi xem đồng hồ và nói: “Bây giờ mới bảy giờ sáng.”

Thuyền vượt biên kéo cờ trắng như một dấu hiệu kêu cứu. Một chiếc tàu đánh cá chạy lại. Thấy tên Tiền Giang, tất cả người trên thuyền  đều hoảng hốt. May mắn thay, tàu Tiền Giang ra dấu cho thuyền vượt biên tiếp tục cuộc hải trình. Ɖúng 11 giờ thuyền vượt biên gặp tàu Jean Charcot. Lúc ấy tự nhiên tôi khỏe mạnh như chưa hề trải qua hàng chục tiếng đồng hồ mê man trên một chiếc thuyền dài chín mét với bốn mươi mốt người vượt biên. Việc cứu vớt kết thúc trong vòng ba mươi phút. Lúc 11:30 một chiếc tàu Cộng Sản chạy đến nhưng không thấy vết tích của chiếc thuyền vượt biên vì thủy thủ tàu Jean Charcot đã đánh chìm sau khi bốn mươi mốt người được đưa lên tàu Jean Charcot.

***

Thân xác tôi rời Việt Nam nhưng tâm hồn tôi vẫn còn gắn bó với mảnh đất già nua về tuổi tác nhưng ấu trĩ về nhiều mặt. Ɖó là nơi tôi sinh ra, lớn lên và chia sẻ với những người đồng chủng mọi đắng cay, chua chát của một quê hương đầy bất hạnh, nơi:

Tiếng chim sẻ dễ thương
Lặng chìm trong bom đạn
Bài ca dao dang dở
Trên môi trẻ lặng câm
.

P. Ɖ. L.

Ɖó là nơi tổ tiên tôi nằm an giấc ngàn thu. Mẹ tôi, vợ tôi, con tôi và các thân thuộc của tôi vẫn còn sống ở đó. Mỗi buổi chiều tôi hướng về phương tây từ trại tỵ nạn Phi Luật Tân với tất cả nỗi niềm thương nhớ và chua sót lẫn lộn. Tôi không khóc nhưng nước mắt đổ dồn về tim. Trời mưa trong tim tôi.

Sau một tháng trong trại tỵ nạn Palawan chúng tôi được chọn định cư ở Paris. Vào giờ chót bốn người chúng tôi có lịnh đình hoãn chuyến bay đi Paris từ phi trường Puerto Princesa, Palawan (Puerto Princesa - Manila rồi Manila - Paris).  Việc định cư ở Paris hủy bỏ. Chúng tôi được đưa lên trại Bataan để chuẩn bị định cư ở Hoa Kỳ.

Chúng tôi đến Hoa Kỳ vào đầu năm 1986. Cả thành phố bao trùm bởi màu tuyết trắng giá buốt. Chúng tôi không có chỗ ở nên đành tạm sống dưới basement của một nữ xã công làm việc cho Catholic Social Services. Có sáu người Lào âm thầm rời thành phố không biết vì lý do gì. Nhờ đó chúng tôi có một căn nhà lầu ba phòng có basement, tủ lạnh, bàn ghế, bếp điện, máy giặt và máy sấy đầy đủ. Mỗi tháng chỉ trả $100.

Một buổi sáng chúng tôi dùng xe bus ra văn phòng Catholic Social Services. Từ trạm xe bus chúng tôi đi trên một đống tuyết trắng dài cả trăm thước, cao từ 50 - 100 cm. Thình lình có tiếng la to: “Go home!  Go home!” Tôi dừng bước để xem tiếng la ấy phát xuất từ đâu và nhắm vào ai. Thì ra đó là tiếng gào thét của một người có màu da sậm hơn da tôi. Và người anh ta kêu gọi “Go home” là bốn người trong gia đình chúng tôi. Chúng tôi lầm lũi bước đi trên tuyết như không quan tâm đến sự gào thét của người “đồng bào” chưa hề quen biết. Dưới mắt một số người nào đó, chúng tôi là kẻ xâm lăng âm thầm, chia xẻ công việc và phần ăn của họ.

Tôi gạt bỏ mọi chuyện ngoài tai để tìm công việc làm hầu bảo lãnh vợ và bốn đứa con còn ở Việt Nam.

Vừa đến xứ lạnh vào mùa đông, anh em chúng tôi sớm phân tán.

Anh tôi chịu lạnh không nổi nên sang California.

Tôi vừa mới đến Hoa Kỳ đã phiêu bạt nhiều nơi trên nước Mỹ cố tìm công việc làm mới hy vọng có ngày đoàn tụ với vợ con. Tôi để con tôi ở lại thành phố mà tôi được gọi đến để chờ ngày nhập đại học.

Em tôi cùng đi sang tiểu bang khác. Thế là con tôi làm chủ căn nhà vừa nói trên và tự túc sống trên vùng đất mới xa lạ.

Em tôi có một công việc ở  miền Nam và gọi tôi xuống để xin một công việc trong Chương Trình Ɖịnh Cư Người Tỵ Nạn. Hai anh em ở chung trong một chung cư được hơn một năm thì em tôi sang Phi Luật Tân làm việc trong trại tỵ nạn Bataan.

Tôi sống một mình trong một apartment hai phòng. Chỉ mỗi một mình tôi không giống ai trong chung cư cả. Một đêm, trong lúc ngủ, tôi nghe có tiếng đập mạnh vào cửa, rồi có một vật gì đó ném vào cửa. Ɖến lần thứ ba tôi mở cửa và nắm giữ một đứa bé độ mười hai, mười ba tuổi ném trứng gà vào nhà tôi. Tôi la thét một cách giận dữ. Cả xóm thức dậy. Bằng chứng liệng trứng vào cửa apartment của tôi không thể chối cãi được. Những người hàng xóm bạch chủng bắt cậu bé ném trứng lau sạch cửa cho tôi. Từ đó về sau tôi sống yên ổn với mọi người trong chung cư.

Kỳ thị rất đa dạng nên có nhiều nguồn gốc khác nhau chớ không chỉ giới hạn trong việc kỳ thị chủng tộc. Hình như 7,5 tỷ nhân loại đều có mang một tỷ lệ máu kỳ thị nào đó trong người: kỳ thị sắc tộc, kỳ thị tôn giáo, kỳ thị chánh trị, kỳ thị địa phương, kỳ thị giai cấp, kỳ thị giàu-nghèo, kỳ thị học vấn, kỳ thị xấu-đẹp, kỳ thị dơ-sạch, kỳ thị khôn-ngu, kỳ thị mới cũ, kỳ thị giữa kẻ thắng và người bại, kỳ thị giữa những kẻ đô hộ và người bị đô hộ, kỳ thị nam-nữ, kỳ thị già-trẻ v.v. Kỳ thị được chẻ mỏng ra từ mặc cảm tự tôn , tự ty đến ganh tỵ suy bì.

Kỳ thị bộc lộ như chuyện cậu bé liệng trứng vào apartment nơi tôi ở. Chắc chắn cậu bé ấy được sự đồng tình ủng hộ của cha mẹ, thân nhân và người láng giềng của cậu. Nó đáng ghét nhưng không nguy hiểm bằng sự kỳ thị thầm lặng. Ɖó là sự biểu lộ kỳ thị bằng hành động nông nổi của thiểu số cực đoan. Dù người kỳ thị mang màu da gì, sự kỳ thị của họ được liệt vào KỲ THỊ CŨ-MỚI. Họ là người đến trước kỳ thị người đến sau và cứ thế luân chuyển dần trong thời gian vô định.

Kỳ thị thầm lặng là sự kỳ thị của đại đa số, kể cả những người tự cho mình không kỳ thị.

Hoa Kỳ là một nước hợp chủng. Sự kỳ thị lẫn nhau không thể tránh được. Nhưng nó bị ngăn chận bởi một hệ thống luật pháp dày đặt nhằm bảo vệ an ninh, an toàn và sinh kế cho mọi công dân. Cường độ kỳ thị nặng hay nhẹ tùy thuộc vào sự phán quyết công tâm và công bằng của công lý.

Giữa người và người thiếu thông cảm nhau vì thiếu hiểu biết văn hóa và hoàn cảnh của nhau. Vì vậy cần tìm hiểu nhau để tránh sự va chạm lẫn nhau, hiểu lầm nhau và tránh sự vi phạm luật pháp. Việc ăn cẩu nhục, tiết canh, làm gà, vịt, heo, thỏ trong nhà là chuyện bình thường ở Việt Nam. Chúng không bình thường ở Hoa Kỳ. Bị bắt và bị xử phạt vì vi phạm luật pháp không thể xem là bị kỳ thị.

Tôi từng đến trường học để giải thích cho một y tá về những vết bầm do việc cạo gió (coining therapy) gây ra. Người y tá cho rằng cậu học sinh bị cha mẹ đánh bầm cả lưng và cổ. Tôi yêu cầu mẹ cậu bé hứa sẽ không làm như vậy nữa để người y tá hủy bỏ báo cáo về viêc đánh đập, hành hạ trẻ em.

Một hôm bà giám đốc nhà trẻ gọi tôi với sự giận dữ về chuyện các bà mẹ Việt Nam đánh trẻ sơ sinh bầm mình. Tôi hỏi bà có bao nhiêu trẻ em bị đánh bầm mình? Bà trả lời nhanh nhẩu: “Tất cả!”. Tôi gác điện thoại và chạy đến nhà giữ trẻ. Tôi thấy các cháu nằm ngủ. Bà giám đốc lật lưng từng cháu cho tôi xem các vết bầm. Tôi cười và nói: “Nếu các cháu sáu tháng tuổi bị mẹ đánh thì làm sao các cháu ngủ yên được? Và do đâu các bà mẹ đánh con sáu, bảy tháng tuổi tập thể như vậy? Ɖây là vết chàm (Mongolian spot – Slate grey nevus – Congenital dermal melanocytosis) trên lưng, mông, tay, chân trẻ em Á Châu hoàng chủng mới sinh. Vết màu xanh nhạt nầy biến dần khi các cháu lên mười ba, mười bốn tuổi. “ Bà giám đốc cười xòa và cám ơn sự giải thích nhân chủng học của tôi.

Một buổi sáng có một phụ nữ Việt Nam có con lai đến nói với tôi: “Ông ơi! Ông làm ơn đến trường học giùm tôi. Tụi nó kỳ thị. Hôm nay con tôi bị đưa ra hội đồng kỷ luật để bị đuổi không đi học được.” Theo cách nói của người phụ nữ thì người ta sắp đuổi con bà ra khỏi trường vì kỳ thị chớ không phải con bà vi phạm điều gì cả. Tôi biết vì sao con bà bị đưa ra hội đồng kỷ luật và đoán biết cậu ấy chán học nên bị đuổi là điều cậu ước mong. Dù vậy tôi vẫn đi với bà đến trường học.

Ɖến trường, tôi thấy đông đảo thầy giáo ngồi trong phòng họp. Phiên họp bắt đầu. Mỗi thầy giáo đưa ra nhận xét về cậu học trò Việt Nam nầy. Người thì nói cậu lơ là trong việc học. Người thì nói cậu hay trốn học, nhất là sau giờ ăn. Người thì nói cậu không hiểu gì cả v.v.. Sau phần nhận xét và buộc tội của các thầy giáo, tôi xin có lời phát biểu. Tôi nói: “Tôi từng là thầy giáo ở Việt Nam. Trong các học trò của tôi có người hoạt động, có người thụ động. Có người thông minh, có người chậm chạp về trí tuệ. Cậu học trò nầy là người lai, mẹ Việt, cha Mỹ. Ở Việt Nam cậu không được đối xử tốt. Mẹ cậu sống trong cảnh thiếu hụt nên cậu không được đi học như những đứa trẻ khác. Cậu nói tiếng Việt nhưng cậu không biết đọc hay viết tiếng Việt. Sang Hoa Kỳ, cậu được đưa vào học lớp chín vì cậu mười lăm tuổi! Ngôn ngữ không biết. Chữ viết không thông Các môn học đều xa lạ khiến cậu ngao ngán khi bước chân đến trường học.Tất cả các nhận xét của quí vị về cậu học trò nầy đều không sai nhưng nguồn gốc của vấn đề chưa được thấu hiểu tường tận.” Ɖến đây phòng họp trở nên yên lặng khác thường. Một thầy giáo rời khỏi phòng họp. Tôi hỏi ông hiệu trưởng về kết quả của phiên họp. Ông trả lời: “Nó đi học như thường lệ.”

Rồi cậu bé tiếp tục trốn học. Ít lâu sau tôi nghe tin cậu và mẹ di chuyển sang tiểu bang khác ở miền Tây Hoa Kỳ.

Từ Georgia xuống các tiểu bang vùng Vịnh Mexico có nhiều người Á Châu như Triều Tiên, Phi Luật Tân và Việt Nam cư trú. Người Triều Tiên thành công trong việc kinh doanh ở Georgia. Mục sư Sun Myung Moon (1920 - 2012), một mục sư người Triều Tiên sáng lập một hệ phái tôn giáo riêng có nhiều tín đồ nhập đạo sau những đám cưới tập thể long trọng cử hành ở nam Triều Tiên hay trên lãnh thổ Hoa Kỳ. Một nhóm tín đồ Moonist sống ở Bayou La Batre, điều hành một công ty hải sản đông lạnh. Ɖây là một thành phố nhỏ với 3.000 cư dân, trong đó trên 30% dân số là người Việt Nam và lối 2% tín hữu của mục sư Moon. Người Việt Nam ở vùng Vịnh sống bằng nghề chài lưới, làm việc trong các công ty may mặc, công ty sản xuất giày, công ty hải sản, xưởng đóng tàu và sửa chữa tàu.

Năm 1988 tờ The Atlanta Journal Constitution đăng một bài báo bài xích người Á Châu, đặc biệt nhắm vào người Triều Tiên, Việt Nam và Phi Luật Tân mà họ gọi bằng từ Gook. Không biết chuyện người Á Châu trong vùng có vấn đề gì nghiêm trọng đến nỗi có hai ký giả từ Paris và Tokyo đến Bayou La Batre để tìm hiểu sinh hoạt của người Á Châu sống trong ngư cảng chỉ vỏn vẹn có 3.000 cư dân nầy. Thành phố nhỏ nhưng đó là ngư cảng của Alabama và là nơi tỷ lệ người Á Châu cao (lối 32% dân số địa phương). Cuộc sống của những người Á Châu nầy rất ổn định. Có người có tàu đánh cá. Có người có quán tiệm. Tín đồ của mục sư Moon có công ty hải sản đông lạnh. Một thành viên của hội đồng thành phố khen người Á Châu và nói riêng người Việt Nam mới đến Hoa Kỳ nhưng sớm ổn định cuộc sống, có nhà cửa, tàu đánh cá và làm chủ quán tiệm. Tôi hiểu thâm ý của ông và chấp nhận lời khen của ông bằng một nụ cười xã giao thay cho lời cám ơn.

Tôi xin dừng bút tại đây mặc dù còn rất nhiều chuyện xảy ra trong cuộc sống không thể ghi chép đầy đủ trong khuôn khổ bài viết nầy. Vài ý mọn xin trao đổi cùng bạn đọc.

 

Phạm Ɖình Lân, F.A.B.I.



HOA PHƯỢNG

Hoa Phượng nở đây muà Hè đã tới
Hoa Phượng rơi man mác ngập lòng tôi
Hoa Phượng ơi hoa Phượng đẹp muôn đời
Hoa Phượng tới mùa thi mùa ly biệt

Đâ
u đấy tiếng ve sầu đang rên siết
Nghe thảm thê như khóc cảnh biệt ly
Của bao người ở lại kẻ ra đi
Cuả những kẻ đi thi rồi vĩnh biệt

Hoa Phượng đẹp nhưng biết bao buồn tẻ
Vì biệt ly vì chia rẽ ra đi
Hoa Phượng hoa Phượng là cả bài thi
Đầy những nét nhớ nhung và luyến tiếc

Nơi mái trường bấy lâu bao thân thiết
Phượng vô tri liệu có biết hay chăng
Ở nơi đây và vạn nẽo đất bằng
Có bao kẻ giang tay chào ly biệt

Co bao thi nhân run tay  muốn viết
Muà biệt ly, ly biệt khi phượng rơi
         (  Khuyết danh )





Ý nghĩa của hoa phượng – hoa phượng vĩ

Hoa phượng gắn liền với tên gọi “Hoa học trò” mà ai đó đã gọi một cách trìu mến và thân thương. Có lẽ vì phượng đã quá gần gũi và thân thuộc, bởi phượng đơm hoa là báo hiệu mùa hè sắp đến. Cô học sinh nhỏ sớm nay chợt giật mình: “Phượng nở rồi sao?”.
Hoa phượng loài hoa của tuổi học trò
“Những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng.
Em chở mùa hè của tôi đi đâu.
Chùm phượng vĩ em cầm là tuổi tôi mười tám.
Tuổi chẳng ai hay thầm lặng mối tình đầu”.
Tên “phượng vĩ” là chữ ghép Hán Việt – “phượng vỹ” có nghĩa là đuôi của con chim phượng. Đây có thể là một hình thức đặt tên gọi theo cảm xúc vì các lá phượng vỹ nhất là các lá non trông giống như hình vẽ đuôi của loài chim phượng.
Phượng vĩ có nguồn gốc từ Madagascar, tại đó người ta tìm thấy nó ở trong cánh rừng ở vùng Malagasy. Trong hoang dã nó là loài đang nguy cấp nhưng nó được con người trồng ở rất nhiều nơi.
Phượng vĩ được người Pháp du nhập vào Việt Nam trồng khoảng những năm cuối thế kỷ 19 tại các thành phố lớn như Hải Phòng, Đà Nẵng, Sài Gòn. Hiện nay phượng vĩ là loài cây được trồng rộng rãi từ miền Bắc vào miền Nam trên vỉa hè, công viên, trường học. Thành phố Hải Phòng được gọi là thành phố Hoa phượng đỏ; nơi đây hoa phượng được trồng khắp nơi, có cả một công viên hoa phượng ngay trung tâm thành phố, có lễ hội hoa phượng diễn ra vào tháng 5 rất độc đáo.

Phượng vĩ biểu tượng của tuổi học trò.
Loài hoa gắn liền với nhiều kỷ niệm buồn vui của tuổi học trò, Mùa nở của hoa trùng với thời điểm kết thúc năm học, mùa chia tay, mùa của những cuốn số ghi đầy nhật ký, ép đầy cánh phượng khô.
Cái tên gọi “Hoa học trò”. Ai đó đã gọi một cách trìu mến và thân thương như vậy. Có lẽ vì phượng đã quá gần gũi và thân thuộc, bởi phượng đơm hoa là báo hiệu mùa hè sắp đến. Cô học sinh nhỏ sớm nay chợt giật mình: “Phượng nở rồi sao?”, rồi cô nhìn mông lung, ánh mắt đong đầy biết bao nhiêu là cảm xúc.

Hoa phượng loài hoa e ấp mối tình đầu.
Không hiểu từ bao giờ và ai đã có ý tưởng thật hay là trồng những cây phượng nơi trường học. Những bông hoa đỏ thắm như nhắc nhở cái ngày chia tay của niên học đã sắp gần kề.
Hoa phượng không phải là một loài hoa hiếm, hoa nở liên tục từ khoảng giữa tháng 5 cho đến giữa tháng 9, đôi khi vào tháng 10 người ta còn tìm thấy một vài chùm hoa dấu mình sau những tàn lá xanh. Hoa nở từng chùm, mỗi hoa có 5 cánh, 4 cánh mầu đỏ cam mang những vết loang mầu đỏ đậm, cánh thừ 5 dầy hơn những cánh kia đem lại cho hoa phượng một dáng kiêu sa với mầu trắng mượt điểm những vệt đỏ hài hòa như đuôi của một loài chim phượng cho nên hoa đã được gọi là hoa phượng vĩ.
Khi còn trong nụ,nhất là khi nụ còn non phải để ý lắm mới phân biệt được sự khác nhau giữa các cánh hoa. Hình như trong chúng ta không một ai đã không một lần ép cho mình một vài cánh phượng giữa những trang vở học trò mang đầy nét chữ vụng dại.
Phượng tỏa hương khác với các loài hoa. Nó hăng hăng, chua chua nhưng không gắt như trái me, trái sấu, mà man mác đượm một nỗi niềm hoài vọng xa xôi. Phượng vừa là sự khởi đầu, vừa là sự kết thúc.
Hoa phượng vĩ cười trong nắng hạ
Tuổi học trò tấc dạ bâng khuâng
Ngày qua ta tiếc mùa xuân
Hạ về chia rẽ tình thân tuổi ngà
(Hoa Sơn)
-ST-







Thất Thập Cổ Lai Hy

 

Những phát minh của ngành Y, Dược đã giúp nhân loại vượt qua được các bệnh hiểm nghèo, mà người xưa kêu là bệnh nan y như bệnh lao, bệnh phong cùi, bệnh suyễn.

Ngày nay người ta sống đến 80, 90 tuổi không phải là ít. Tuy nhiên sống lâu chưa phải là hạnh phúc. Hạnh phúc là luôn cảm thấy vui vẻ, yêu đời, biết tận hưởng cuộc sống. Muốn vậy thì cần phải giữ cho thân tâm được an lạc.

Nhà tôi treo một "lốc" lịch to nơi phòng khách, mỗi sáng thức dậy, tôi gỡ một tờ quăng đi… Khi ló ra tờ mới, tôi xem kỹ câu danh ngôn nếu có, coi đấy như lời dạy dỗ đầu ngày của các bậc tiền bối! Không biết ai ra sao, riêng tôi thấy tâm đắc việc này lắm!

Ví như, sáng thứ 2 tuần trước, ngủ dậy liền đến bóc tờ lịch, tờ mới có ghi câu danh ngôn của Turenne (một vị Công tước của Pháp):
"Tôi có ý kiến này muốn tặng bạn:
Đó là, mỗi khi bạn muốn nói, bạn hãy làm thinh"
.

Xem câu ấy xong, tôi ngẫm nghĩ… và thấy có lý, hay lắm. Quá hay đi chứ! Lời khuyên răn này rất xác đáng, đã đúc kết một kinh nghiệm quý báu trong cuộc sống đầy những chuyện khôn lường của lòng dạ con người! Và, ngày hôm đó tôi thấy cần đến câu danh ngôn này hơn lúc nào hết!


Tôi chỉ thực hành nửa câu nói ấy mà cũng thấy mình khá rồi! Còn thực hành nguyên câu dĩ nhiên là không nổi! Xin cảm ơn ông hay bà Turenne người nước nào tôi không rõ, đã cho tôi một chút của báu dắt lưng phòng thân trên đường đời gian truân! Tôi không muốn coi tiếp câu danh ngôn của ngày kế tiếp… Ừ, cứ giữ bí mật để đó, vội gì!


Đến sáng ngày thứ 3, ngủ dậy, tôi lại gỡ lịch, gặp câu nói của Swift:
"Nổi giận là tự gánh giùm lỗi của người khác!"
Chí lý! Dại gì mà nổi giận cơ chứ! Quả nhiên, câu ấy tác động nơi từng sâu thẳm tâm hồn, ngày hôm đó tuy có nhiều việc thấy bực mình, mà tôi đâu có thèm giận! Ngu gì gánh lỗi giùm cho kẻ khác! Lại phải cảm ơn cái ông Swift hay bà Swift gì đó nữa!…

Rạng đông ngày thứ 4, lại ló tờ lịch ghi câu của Montesquieu:

"Con người phải khóc lúc sinh ra, chứ đâu phải lúc chết"...

Chết rồi, có phải làm gì nữa đâu mà cực với nhọc! Thế thì cũng chả nên khóc lóc mà làm chi! Ừ nhỉ! Lạ thật! Cái chết đột nhiên làm giảm đi bộ mặt khủng khiếp trong tâm tưởng tôi, nói chí tình cũng phải có chút ít tác dụng của Montesquieu mới ra thế! Và, ngày hôm đó tôi thấy mình nhiều nghị lực hơn, yêu đời hơn! Lại cảm thấy mình cứng cáp lên!

Sang ngày thứ 5, tờ lịch hiện lên câu ngạn ngữ của Ba Tư: "Lưỡi dài thu ngắn đời sống"

Ôi, thật quá chất lượng! Dân Ba Tư kinh nghiệm quá dày dặn! Nói cho lắm chỉ được cái "nguy to", chỉ được cái "rước họa vào thân"! Còn nhớ trong ngày ấy, lúc nhậu cùng bạn bè, vậy mà tôi cũng ráng tịnh khẩu! Cứ sợ sa vào cái "vạ mồm"!


Đến ngày thứ 6, tờ lịch lấp lánh câu danh ngôn khác, thật cao siêu của Villier de l’Isle Adam:
"Người nhục mạ bạn, họ chỉ nhục mạ ý nghĩ của họ có về bạn, tức là họ nhục mạ chính họ!"
Câu này trong tầng sâu là đúng, nhưng thưc hiện quả là thiên nan vạn nan! Lên hàng thánh mới có thể xài được! Tâm đắc lắm nhưng cứ cất yên đấy! Công lực chưa đủ, chờ thời gian nữa hẵng hay!

Sang ngày thứ 7, lại ló câu của Cervantes: "Ăn to thì di chúc nhỏ" Úi cha! Cũng có lý quá!


Tôi coi tiếp luôn ngày Chủ nhật xem sao… Đó là câu của G. Herbert:

"Ai cũng có một thằng điên trong ống tay áo"

Trời đất! Lại cũng quá đúng! Những lúc bưng ly bia, cốc rượu chỗ đông người, trong ống tay áo tôi thường rớt ra thằng điên, thậm chí đôi lúc rớt ra hai thằng! Say quá, có khi rớt đến ba thằng!

Ôi chao! Riêng về phần danh ngôn, tờ lịch vậy mà hay! Một lần nữa xin cảm ơn, cảm ơn… tờ lịch gỡ mỗi ngày! Việc gì phải đi thư viện đọc sách hao tốn thời gian, cứ theo lịch đấy mà học mãn đời không hết!…

Trần Gian Một Khúc, Con người ta sinh ra, ai thoát khỏi: Sinh, Lão, Bệnh, Tử?

Sinh, Trụ, Hoại, Diệt là định luật của Tạo hóa, không có cách chi thay đổi được.

Cây cối đâm chồi nảy lộc vào muà xuân, xanh tốt xum xuê trong mùa hè, lá héo vàng vào mùa thu, đến mùa đông thì lá vàng rơi rụng, chỉ còn trơ trụi cành cây. Rồi đến mùa xuân năm sau, cây lại đâm chồi nảy lộc. Cái chu kỳ Sinh, Trụ, Hủy, Diệt cứ tiếp nối nhau, không ngưng nghỉ.


Ðời người là bể trầm luân, cõi thế gian đầy những ưu tư phiền não. Vạn vật đều bị chi phối bởi luật vô thường... Vừa mới sinh ra cất tiếng khóc oa oa chào đời. Rồi lớn lên, bước vào đời với bao nhiều mộng đẹp. Thoắt một cái, mái tóc đã điểm sương, mắt đã mờ, lưng đã mỏi, 2 chân đã chậm chạp. Rồi cuối cùng, là hai tay buông xuôi, đi vào lòng đất, bỏ lại trên thế gian tất cả các thứ mà cả đời phải bôn ba vất vả mới làm ra được.

Ðời người như giấc mộng

Người ngoại quốc cũng có câu: "Life is too short!" (cuộc đời sao quá ngắn). Thế mà, con người ta khi còn sức khỏe thì mải mê kiếm tiền, lo củng cố địa vị, danh vọng, không có thì giờ để hưởng đời đúng nghĩa.

Cũng ít ai biết sửa soạn tâm tư để đón nhận những cái vô thường của tuổi gìà. Ðến khi mái tóc đã điểm sương, da đã nhăn, mắt đã mờ, chân đã chậm thì mới giật mình, rồi buồn phiền, thất vọng, nuối tiếc. Khi đó, bao nhiêu tiền của cũng trở thành vô dụng.

Ăn uống thì phải kiêng thứ này, cữ thứ kia vì đường lên cao, cholesterol lên cao. Ăn đồ cứng không được vì hàm răng cái thì rụng, cái lại lung lay. Ði chơi xa thì không dám, vì sức khỏe kém, đầu gối đau nhức. Nghe nhạc, xem phim cũng không được vì tai đã nghễng ngãng, mắt đã lèm nhèm.


Người VN mình vốn cần kiệm, chăm làm, chắt bóp để có của ăn của để. Làm việc thì liên miên quên cả cuối tuần, bất kể ngày lễ hay ngày Tết. Làm thì nhiều, mà ít dám vui chơi huởng thụ như người Âu Mỹ... Suốt đời cặm cụi, nhịn ăn nhịn mặc, để dành, mua cái nhà cái cửa để một mai khi chết thì để lại cho con cháu. Sống như vậy quả là thiệt thòi.


Người xưa đã nói:
Một năm được mấy tháng xuân
Một đời phỏng được mấy lần vinh hoa


Và:
Chẳng ăn, chẳng mặc, chẳng chơi
Bo bo giữ lấy của Trời làm chi
Bẩy mươi chống gậy ra đi
Than thân rằng thuở đương thì chẳng chơi


Con người có tham vọng, có nhu cầu nên mới bon chen. Suốt đời cứ miệt mài lo tìm kiếm những thứ vô thường mà quên mất chữ "nhàn". Những thứ vô thường này là nguyên nhân đưa đến lo âu, căng thẳng, mất ăn, mất ngủ. Và nếu kéo dài có thể đưa đến bị đột quỵ, bệnh tâm thần.

Ông Cả ngồi trên sập vàng
Cả ăn, cả mặc, lại càng cả lo
Ông bếp ngồi cạnh đống tro
Ít ăn, ít mặc, ít lo, ít làm
Ðời người sống mấy gang tay
Hơi đâu cặm cụi cả ngày lẫn đêm

Hoặc là:
Ăn con cáy, đêm ngáy o..o...
Còn hơn ăn con bò, mà lo mất ngủ.


Người xưa tuổi thọ kém, ngay đến vua chúa cũng chỉ sống đến khỏang 50 tuổi. Khi 60 tuổi đã ăn mừng "lục tuần thượng thọ". Còn đến 70 tuổi, thì thực là hiếm hoi. Bởi vậy mới có câu: "Nhân sinh thất thập cổ lai hy" (tức là, người ta có mấy ai mà sống được đến 70).


Ngày nay nhờ khoa học tiến bộ. Con người được sống trong điều kiện vật chất vệ sinh tốt, và thoải mái hơn.
Những phát minh của ngành Y, Dược đã giúp nhân loại vượt qua được các bệnh hiểm nghèo, mà người xưa kêu là bệnh nan y như bệnh lao, bệnh phong cùi, bệnh suyễn. Ngày nay người ta sống đến 80, 90 tuổi không phải là ít.

Tuy nhiên, sống lâu chưa phải là hạnh phúc. Hạnh phúc là luôn cảm thấy vui vẻ, yêu đời, biết tận hưởng cuộc sống. Muốn vậy thì cần phải giữ cho thân tâm được an lạc. Tâm thân an lạc là biết vui với những cái trong tầm tay của mình, chấp nhận những điều mình không thể nào tránh khỏi. Sống hòa hợp vui vẻ với mọi người chung quanh, không chấp nhất, tỵ hiềm.


Lớn tuổi thì không làm ra tiền, nhưng cũng may, ở những nước tân tiến đều có khoản tiền trợ cấp cho người già để có thể tự lực mà không cần nhờ cậy vào con cháu. Các cụ già nên mừng vì sang được xứ này, thay vì ấm ức với số tiền quá khiêm nhượng, không thể tiêu pha rộng rãi như bạn bè.

Già thì phải chịu đau nhức, mắt mờ, chân chậm, đừng nên than thân trách phận, cau có, gắt gỏng, đã không làm được gì hơn mà còn tạo sự áy náy, thương cảm cho những người chung quanh.

Ở đời mỗi người một cảnh, vui với cảnh của mình, không suy bì, thèm muốn, ganh ghét với những người chung quanh. Biết đủ thì đủ "Tri túc, tiện túc"


Người ta bảo trên 60 tuổi, mỗi ngày sống là một "phần thưởng tặng thêm" (bonus_jackpot) của Thượng Đế, nếu đi kéo máy đánh bạc ở sòng bài (slot machine)... dzui hết biết!!

Vậy thì hãy nên vui vẻ, tận hưởng những ân sủng mà không phải ai cũng có thể có được!


 


Tình báo Anh giúp Mỹ điều tra thuyết virus rò rỉ từ phòng thí nghiệm Vũ Hán

Thành Dung
 
 
Các cơ quan tình báo Anh đang giúp Hoa Kỳ điều tra xem liệu Covid-19 phải chăng là bị rò rỉ từ một phòng thí nghiệm của TC. Hành Động  này là do Tổng thống Mỹ Joe Biden đã ra lệnh cho quan chức tình báo Hoa Kỳ “nhân đôi” nỗ lực để xác định nguồn gốc của virus và báo cáo trong vòng 90 ngày.
 
Theo Tờ Daily Telegraph của Anh, ông Biden đã ra lệnh xem xét lại sau khi các nhà khoa học hàng đầu phương Tây khẳng định rằng virus là do con người tạo ra và không lây lan qua động vật như tuyên bố ban đầu.

Các quan chức tình báo Anh đã tiến hành cuộc điều tra của riêng họ về nguồn gốc của đại dịch sau những tuyên bố rằng Covid đến từ một phòng thí nghiệm ở TC – điều mà chính quyền Trung Quốc luôn bác bỏ.

Vào tối thứ Sáu (ngày 28/5), cựu Giám đốc MI6, ngài Richard Dearlove nói rằng tình hình này đang trở thành một “vấn đề tình báo” và nếu TC không mở rộng cửa về nghiên cứu của mình, các cơ quan an ninh của Anh có thể cần phải “khích lệ” những người đào tẩu TC nói ra sự thật.
image.png


Ông Richard Billing Dearlove 
Quan điểm chính thức của Anh là bởi vì đại dịch đã bắt đầu ở Vũ Hán, TC, do đó không nên bỏ qua tuyên bố rằng virus rò rỉ từ một phòng thí nghiệm ở thành phố này.

Một nguồn tin an ninh cấp cao ở Whitehall (Chính phủ Anh) xác nhận rằng các quan chức tình báo Anh đang hợp tác với cuộc điều tra mới của Mỹ trong nỗ lực xác định sự thật về đại dịch.

Nguồn tin cho biết: “Chúng tôi đang cung cấp  tin tình báo mà chúng tôi có về Vũ Hán cũng như đư ra  giúp người Mỹ xác minh và phân tích bất kỳ  tin nào họ có mà chúng tôi có thể hỗ trợ. Để xác định sự thật đằng sau sự bùng phát của virus corona, điều cần thiết là thông tin từ các nguồn tốt hơn, chứ không phải phân tích thông tin, mà điều này rất khó để có được.”

Cùng với Mỹ, Anh đã chỉ trích gay gắt cuộc điều tra nguồn gốc dịch bệnh do Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) thực hiện, cho rằng TC cố tình ngăn cản quyền truy cập vào dữ liệu và mẫu khi một nhóm của WHO thực hiện chuyến thăm 4 tuần đến Vũ Hán vào hồi tháng Một.

Vào tối ngày 28/5, các tạp chí khoa học hàng đầu, bao gồm Nature Medicine, đã từ chối công bố bằng chứng cho thấy virus này có thể đã được chế tạo trong phòng thí nghiệm.

Các lá thư mà tờ Telegraph đã xem, cho thấy vào tháng Tư năm ngoái, các chuyên gia vắc-xin đã liên hệ với một số tạp chí vì lo ngại rằng có các chi tiết cấu trúc của virus trông giống như do con người tạo ra nhưng đã bị bỏ qua, cũng như chỉ ra các sai sót trong các bài báo đã xuất bản trước đó cho rằng virus có nguồn gốc tự nhiên.

Mặc dù không tìm thấy lỗi nào trong phân tích, tờ Nature Medicine vẫn từ chối công bố công trình này, đồng thời nói với các tác giả rằng có nhiều “vấn đề cấp bách khác về sức khỏe cộng đồng và sự quan tâm lâm sàng cần được ưu tiên”.

Tạp chí Virology và BioRxiv server (kho lưu trữ in sẵn truy cập mở cho các ngành khoa học sinh học) cũng từ chối việc này, mặc dù một giáo sư nổi tiếng đã nói riêng với The Telegraph: “Theo tôi, bài báo này tốt, mặc dù kết luận thật đáng ngạc nhiên, nhưng nó có vẻ hợp lý.”

Ngài Richard luôn nói rằng việc một loại virus đã được chế tạo bị thoát ra từ trong phòng thí nghiệm là một kịch bản có thể xảy ra cho đợt bùng phát virus corona. Ông nói rằng thật “khiến người ta tức giận” khi các tạp chí đã không công bố các báo cáo từ các nhà khoa học hàng đầu đã thách thức quan điểm tiêu chuẩn.

Ông nói với The Telegraph: “Theo tôi, hoàn toàn không có cuộc tranh luận khoa học nào. Người Trung Quốc đưa ra khẳng định mà không có bất kỳ lời giải thích nào, và hầu hết mọi người trong cộng đồng khoa học dường như chấp nhận giá trị bề ngoài của khẳng định này. Rõ ràng là họ đã thực hiện một hoạt động thông tin để cố gắng ngăn chặn bất kỳ quan điểm nào khác.”

“Một số tạp chí khoa học tuyệt đối từ chối công bố bất cứ điều gì không đồng ý với quan điểm của TC. Tôi đặt Nature ở vị trí đầu tiên! Nature đã hoàn toàn thái quá trong cách họ hợp tác với câu chuyện của TC.”

“Đây là sự kiện gây xáo trộn lớn nhất trên toàn cầu kể từ Thế chiến thứ Hai. Nó rất lớn. Chúng tôi ngồi đó, coi trọng những gì người Trung Quốc nói, và những gì chúng tôi đang ủng hộ là một cuộc tranh luận hoàn toàn rõ ràng và một cuộc thảo luận thích hợp, chứ không phải trấn áp hoàn toàn.”

“Nếu nó thực sự là thoát ra từ phòng thí nghiệm, nó sẽ đặt ra nhiều câu hỏi khác nhau về nghiên cứu virus học, thực tế này đã xảy ra rồi, và phá vỡ toàn bộ nền kinh tế thế giới, điều đó nói lên điều gì đối với một chế độ độc ác hiếu chiến, những người có thể muốn theo đuổi một loại virus?”

Các nhà khoa học kêu gọi điều tra độc lập
Đầu tháng này, 18 trong số các nhà dịch tễ học và di truyền học hàng đầu thế giới đã viết một lá thư trên tạp chí Science kêu gọi một cuộc điều tra độc lập về lý thuyết rò rỉ trong phòng thí nghiệm.

Ngài Richard cho biết các nhà khoa học trước đây không muốn liên kết với chính quyền Donald Trump hiện đang tiến tới sau lời kêu gọi điều tra của ông Biden.

Ông nói thêm: “Không ai muốn liên kết mình với Trump, và bây giờ bạn có Biden, họ thực sự đã thay đổi vị trí. Bây giờ, đột nhiên, con đập bị vỡ.”

“Tôi đã gửi những tài liệu này đến Porton Down một năm trước, điều làm tôi tức giận là một năm trước mọi người đã từ chối lắng nghe chúng tôi. Trong năm qua, bất kỳ ai có ý tưởng này đều bị buộc tội là người theo thuyết âm mưu và nói với bạn rằng bạn không biết mình đang nói về điều gì.”

Bài báo bị Nature Medicine từ chối, được viết bởi Giáo sư Angus Dalgleish, giáo sư khoa Ung thư Cơ bản của Viện Nhiễm trùng và Miễn dịch tại Đại học St. George, London và ông Birger Sorensen, một trong những nhà chế tạo vắc-xin hàng đầu thế giới.

Nó bao gồm một đánh giá nghiên cứu nêu bật cách các nhà khoa học TC đã dành hơn một thập kỷ để tiến hành các thí nghiệm “tăng cường chức năng” để làm cho virus dơi có khả năng gây chết người cao hơn, khiến chúng có thể lợi dụng các bệnh mới xuất hiện. Họ chỉ ra những phần chèn trong bộ gen virus corona dường như là bằng chứng về hoạt động này.

Thành Dung, Vision Times



Những lò đào tạo ca sĩ của một thời Sài Gòn đáng nhớ đáng yêu

      

    Nguyễn Đức* Ngọc Chánh*Hoàng Thi Thơ*Nguyễn Văn Đông*Duy Khánh

Trúc Giang MN

1* Mở bài


Miền Nam trước năm 1975 là vùng đất màu mỡ, phì nhiêu cho cây tự do đơm hoa kết trái. Văn nghệ và âm nhạc cũng do đó là phát triển với muôn màu, muôn sắc vô cùng rực rỡ. Có thể nói, nền tân nhạc Việt Nam nầy là thời kỳ cường thịnh nhất lịch sử. Môi trường văn nghệ mở rộng, là nơi để tuổi trẻ phát triển năng khiếu và tranh đua thi thố tài năng âm nhạc.

Nhạc sĩ nổ lực sáng tác vì được tự do diễn đạt cảm xúc của người nghệ sĩ. Nhưng điều quan quan trọng nhất là người dân miền Nam, đủ ăn đủ mặc, sẵn còn cái tâm trạng để thưởng thức âm nhạc qua các đài phát thanh, phát hình, đại nhạc hội, phòng trà ca nhạc và vũ trường. Các trung tâm băng, dĩa cũng góp phần truyền tải âm nhạc đến quần chúng. Cuộc sống vật chất tương đối đầy đủ, món ăn tinh thần không thể thiếu. Âm nhạc lên ngôi.

Âm nhạc lớn mạnh kéo theo các lò đào tạo ca sĩ, các lớp nhạc, cung ứng tài năng âm nhạc cho miền Nam.

Sau năm 1975 nền âm nhạc đó đã được hồi sinh tại hải ngoại với những trung tâm tổ chức trình diễn và sản xuất băng, dĩa nhạc như Trung Tâm Asia, Thúy Nga Paris, Vân Sơn và nhiều trung tâm khác.

 

2* Các lò đào tạo ca sĩ trước 1975

 

Trước năm 1975 các ca sĩ thành danh xuất thân từ các lò đào tạo, từ các phòng trà ca nhạc, vũ trường, phong trào văn nghệ học đường, phong trào nhạc trẻ, các đoàn văn nghệ của Tổng Cục Chiến Tranh Chánh Trị.

Lò nhạc có nhiều môi trường để lăng xê đệ tử của mình, nổi tiếng nhất là lò Nguyễn Đức, đã đào tạo nhiều ca sĩ thành danh trong làng nhạc Việt Nam. Kế đến còn có các lò nhạc như Tùng Lâm, Duy Khánh, Bảo Thu, Hoàng Thi Thơ, Nguyễn Văn Đông…

 

3* Lò nhạc Nguyễn Đức với các ca sĩ tên Phương

 

        Ng Duc 2 9 Ng Duc 4

 

     Image result for ca sĩ trước 1975 Related image

                          Kim Loan                                       Phương Diễm Hạnh

 

Nhạc sĩ Nguyễn Đức đã đào tạo nhiều ca sĩ thành danh nhất trước 1975. Một lô ca sĩ tên Phương gồm Phương Hồng Loan, Phương Hoài Tâm, Phương Hồng Hạnh, Phương Hồng Quế, Phương Hồng Ngọc, Phương Diễm Hạnh (1999 ở Canada) và trước đó có Hoàng Oanh, Kim Loan và Thanh Lan, hai danh hài Thanh Hoài và Trần Tỷ. Nguyễn Đức còn đào tạo xướng ngôn viên cho đài phát thanh và truyền hình gồm có  Bạch Yến, Xuân Kiều, Phương Hồng Trinh.

Lò nhạc nào cũng có môi trường để lăng xê đệ tử của mình trước công chúng. Nhạc sĩ Nguyễn Đức có hai chương trình trên đài truyền hình và hai chương trình ở đài phát thanh để đánh bóng đệ tử của mình. Đài truyền hình số 9 có Ban Thiếu Nhi Sao Băng với 40 thiếu nhi, và Chương Trình Ban Gia Đình Văn Nghệ Nguyễn Đức. Ở đài phát thanh có Ban Việt Nhi và Ban ABC.

 

Hơn nửa thế kỷ đào tạo ca sĩ từ trong nước ra tới hải ngoại, với bàn tay phù thủy nhạc sĩ Nguyễn Đức đã biến những thiếu nhi trong ban Việt Nhi và ban Thiếu Nhi Sao Băng trở thành những ca sĩ nổi tiếng hiện nay.

Ra hải ngoại năm 1991, định cư ở Toronto, Canada. Về Việt Nam, nhạc sĩ Nguyễn Đức mất tại Sài Gòn ngày 25-5-2015. Thọ 86 tuổi.

 

4* Ca sĩ Thanh Lan

 

4.1. Vài nét tổng quát về Thanh Lan 

Trước năm 1975, trong lãnh vực sân khấu và điện ảnh Việt Nam nổi bật lên sáu mỹ nhân tài sắc: Kiều Chinh, Thẩm Thúy Hằng, Kim Cương, Thanh Nga, Mộng Tuyền và Thanh Lan. Trong đó Thanh Lan là một hiện tượng  khá đặc biệt, một tài năng hiếm có và đa dạng, đã thành công trên ba lãnh vực: âm nhạc, kịch nghệ và điện ảnh.

Thanh Lan nổi tiếng với những bài hát tiếng Pháp và cũng là một trong những gương mặt tiêu biểu trong phong trào nhạc trẻ đầu tiên ở Sài Gòn.

 

4.2. Tiểu sử Thanh Lan

 

          

 

Thanh Lan tên thật là Phạm Thái Thanh Lan sinh ngày 1-3-1948 tại thành phố Vinh, Nghệ An. Cha là Phạm Đình Vịnh, mẹ tên Thái Chi Lan, em của đạo diễn Thái Thúc Nha, chủ hãng phim Alpha.

Thanh Lan học chương trình Pháp, tên Tây là Cathérine. Tiểu học ở trường Saint Paul, trung học Marie Curie. Đậu tú tài toàn phần Pháp. Tốt nghiệp cử nhân Văn Khoa ban văn chương Anh.(1973)

 

4.3. Quá trình học nhạc của Thanh Lan

Từ năm 9 tuổi, Thanh Lan học đàn piano suốt 3 năm với các Sơ ở Saint Paul rồi được bà Thẩm Oánh và nhạc sĩ Nghiêm Phú Phi hướng dẫn.

Đã ghi tên học các lớp dân ca Việt Nam và đàn tranh ở Trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ Sài Gòn.

Tóm lại, Thanh Lan thông thạo tiếng Pháp, lưu loát tiếng Anh, trình độ văn hóa đại học và được đào tạo về âm nhạc một cách rất có bài bản.

 

4.4. Sự nghiệp văn nghệ của Thanh Lan

Thanh Lan tham gia văn nghệ từ năm 9 tuổi. Bắt đầu sự nghiệp văn nghệ năm 12 tuổi trong Ban Việt Nhi của nhạc sĩ Nguyễn Đức, đơn ca đầu tiên trên đài phát thanh Sài Gòn với bản nhạc Vui Đời Nghệ Sĩ của Văn Phụng.

Năm 18 tuổi tham gia ban kịch Vũ Đức Duy trên đài truyền hình. Năm 20 tuổi đóng phim.

 

1). Sinh hoạt âm nhạc của Thanh Lan

 

     9-thanh-lan-2  9-thanh-lan-5

 

Năm lớp 11 trung học Marie Curie, Thanh Lan gia nhập ban nhạc sinh viên Hải Âu của nhạc sĩ Lê Hựu Hà. Là ban nhạc trẻ đầu tiên có khuynh hướng Việt hóa nhạc trẻ Việt Nam. Nét đặc biệt của Thanh Lan là hát nhạc Pháp.

Thanh Lan là một hiện tượng trong giới ca nhạc Sài Gòn trước 1975. Báo chí săn đón. Hình ảnh Thanh Lan tràn ngập trên các bìa băng nhạc, bản nhạc, bày bán khắp nơi ở Sài Gòn.

Thời gian đó, Sài Gòn có hai trung tâm nhạc lớn và có uy tín là Trung Tâm Tú Quỳnh của nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương và trung tâm Shotguns của Ngọc Chánh.

Thanh Lan thường hát chung với Nhật Trường Trần Thiện Thanh, với nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng, Vũ Thành An, Từ Công Phụng…

Năm 1967, Thanh Lan theo đoàn văn nghệ Nguồn Sống lưu diễn các nước từ Châu Á tới Châu Âu: Thái Lan, Lào, Pháp, Bỉ, Thụy Sĩ, Anh Quốc và Đức.

Năm 1973, Thanh Lan cùng với Phạm Duy và Ngọc Chánh sang Nhật Bản tham dự Đại Hội Âm Nhạc Quốc Tế Yamaha Festival in Tokyo, với 100 quốc gia tham dự. Thanh Lan hát bản Tuổi Biết Buồn của Phạm Duy và Ngọc Chánh, được vào chung kết với hai ca sĩ nổi tiếng thế giới là Anne Marie David ca bản  “Tu te Reconnaîtras” (Nhạc Pháp) và với nam ca sĩ nổi tiếng Hy Lạp Demi Roussos với bản Rain and Tears. Sau đó Thanh Lan ở lại Tokyo để thu hai bài Ai no hio Kesanaide và Tuổi Mộng Mơ của Phạm Duy.

 

2). Về kịch nghệ

 

    9-thanh-lan-3  

 

Trong chương trình học của trường Marie Curie, nữ sinh có môn học về kịch nghệcụ thể là phân tích và phê bình nhiều vở kịch của Molière, Corneille, Racine…Đó là căn bản về kịch nghệ của Thanh Lan. Hồi còn bé Thanh Lan thủ vai em bé trong Ban Kịch Kiều Hạnh trên đài phát thanh Sài Gòn. Rồi trong ban kịch Linh Sơn diễn chung với Vũ Huyến.

Năm 1973 Thanh Lan tham gia ban kịch Vũ Đức Duy trong vở kịch Những Người Không Chịu Chết của Vũ Khắc Khoan.

Năm 2009 khi ở Hoa Kỳ, Thanh Lan thủ một vai trong vở bi trường kịch “Âm Mưu và Tình Yêu” (Intrigue and Love) của Friedrich Schiller, và vở Ngôi Nhà Không Có Đàn Ông.

 

3). Về điện ảnh

       Related image  9-thanh-lan-4

 

Từ năm 1970, Thanh Lan thủ vai chánh trong phim Tiếng Hát Học Trò của đạo diễn Thái Thúc Nha. Qua bộ phim nầy Thanh Lan được trao giải nữ diễn viên triển vọng nhất, là Giải Văn Học Nghệ Thuật của Tổng thống VNCH.

Thanh Lan cũng thủ những vai diễn trong các bộ phim Lệ Đá, Gánh Hàng Hoa, Ván Bài Lật Ngữa…

Cuối năm 1974, Thanh Lan nhận giải Diễn Viên Đẹp Nhất Miền Nam, do đạo diễn Lê Dân trao trong buổi lễ ở khách sạn Continental. Như vậy tài sắc vẹn toàn.

Tháng 3 năm 1975, Thanh Lan đóng vai chánh bên cạnh các diễn viên Nhật Yusuke Kawazu, Kenji Isomura và tài tử Đoàn Châu Mậu. Phim do hãng Amino in Tokyo thực hiện với tựa đề Number Ten Blues, về sau đổi tên lại là Goodbye Saigon.

Thanh Lan đóng 8 bộ phim, trong đó có hai bộ phim truyền hình.

Tóm lại, Thanh lan là một nghệ sĩ tài sắc vẹn toàn có tầm vóc quốc tế, thành công trên ba lãnh vực, ca nhạc, kịch nghệ và điện ảnh. Đóng phim, đóng kịch, làm thơ và sáng tác nhạc.

Cuộc đời cũng lắm gian truân. Vượt biên bảy lần, hai lần bị bắt, nếm mùi tù tội dưới chế độ Cộng Sản. Xin tỵ nạn chính trị tại Hoa Kỳ ngày 28-12-1993.

Có thể nói “Cuộc đời lắm nổi gian truân đúng với câu hồng nhan bạc phận”

 

5*  Lò nhạc Tùng Lâm

 

5.1. Liên kết Tùng Lâm, Bảo Thu và Duy Khánh

 

      vannghesy 1623738-305347546314657-656856-1475-7089 “Cong nghe lang xe” ca si cua cac “ong bau”mot thoi - Anh 4

    Tùng Lâm                   Bảo Thu                           Duy Khánh

 

Lò nhạc Tùng Lâm giới thiệu Trang Thanh Lan, Trang Kim Yến, Trang Mỹ Dung rồi Chế Linh, Giang Tử. Riêng Trang Mỹ Dung là tên do gia đình đặt ra. Quái kiệt Tùng Lâm tuy có môi trường lăng xê ca sĩ là Đại nhạc hội và Ban Tạp Lục trên đài truyền hình, nhưng vì Tùng Lâm mù tịt về việc đào tạo thanh âm nên phải liên kết với lớp nhạc Bảo Thu và Duy Khánh. Việc liên kết nầy tạo ra cơn sốt đối với các lò nhạc khác vì có đầy đủ môi trường để mầm non trẻ phát triển tài năng. Tùng Lâm có chương trình đại nhạc hội, Bảo Thu có chương trình truyền hình và lớp nhạc dạy thanh âm và nghệ thuật trình diễn. Chế Linh thuộc lò Tùng Lâm nhưng được Duy Khánh đào tạo thành danh đến ngày hôm nay.

 

5.2. Câu chuyện về Tùng Lâm và Chế Linh

 

      10 Mot thoi 8 “Cong nghe lang xe” ca si cua cac “ong bau”mot thoi - Anh 3  

 

Tác giả Nguyễn Việt kể lại. Sáng chủ nhật đại nhạc hội hôm đó tại rạp Olympic, một anh chàng da ngâm đen, tóc quăn vào tận bên trong hậu trường gặp ông bầu Tùng Lâm để xin hát. Tùng Lâm quyết liệt từ chối. Thế rồi những chủ nhật sau đó, anh ta không bỏ cuộc. Cuối cùng Tùng Lâm phải chịu thua trước cái lì lợm của anh ta. Cho lên hát thử mà không có tiền “cát sê” (Cachet-Pháp). Được giới thiệu tên Chế Linh, hát một bản của Duy Khánh.

Bài hát chấm dứt. Hoàng loạt tiếng vỗ tay nhiệt liệt không ngừng ở hàng ghế khán giả với những tiếng hét bis, bis.

Sau đó mới biết khán giả đó là những người đồng hương họ Chế mà Chế Linh mua vé cho họ vào xem và chờ đúng cái dịp ngày hôm đó để vỗ tay, hô bis!, bis!. Tuy Chế Linh thuộc lò Tùng Lâm nhưng ông bầu đại nhạc hội nầy không biết về thanh âm nên mới liên kết với Duy Khánh, Bảo Thu để rèn luyện ca sĩ.

 

6* Những ca sĩ thành danh từ các phòng trà, vũ trường

 

6.1. Nở rộ phòng trà ca nhạc và vũ trường

 

      Tu Do anh-vu Image result for hình òng trà maxims

Năm 1963 phòng trà ca nhạc nở rộ ở Sài Gòn. Chỉ riêng quận 1 đã có mấy chục phòng trà và vũ trường: Maxim’s, Tự Do, Queen Bee, Đêm Màu Hồng, Orchalet, Rex, Continental, Jo Marcel, Thanh Thế, Kim Sơn, Olympia, Văn Cảnh, Tháp ngà, Ritz, Baccara, Macabane, Anh Vũ, Mỹ Phụng, Bồng Lai, Melody, Đệ Nhất Khách Sạn…Khách đến đó vừa nghe nhạc vừa khiêu vũ.

 

6.2. Những ca sĩ nổi bật của phòng trà và vũ trường

 

  

 

Đó là thời điểm của Lệ Thu, Elvis Phương, Nhật Trường, Thanh Lan, Carol Kim, Ngọc Minh, Lan Ngọc, Hồng Vân, Connie Kim, Cathy Huệ, Julie Quang…

Phòng trà Anh Vũ ra đời khoảng năm 1957 ở đường Bùi Viện. Lớp ca sĩ đầu tiên được biết đến như danh ca Duy Khánh, Việt Ấn, Nhật Thiên Lan, Lệ Thanh, Thanh Thúy, Minh Hiếu. Ca sĩ Việt Ấn để lại trong lòng khán giả với bản Hận Đồ Bàn làm say mê người nghe.

Cũng tại Anh Vũ, nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 lần đầu tiên đệm dương cầm cho Thanh Thúy hát bài Ướt Mi của Trịnh Công Sơn. Dấu ấn sâu đậm còn in lại trong lòng công chúng là hàng đêm Thái Thanh và ban hợp ca Thăng Long (Hoài Trung, Hoài Bắc) được đánh giá là “Tiếng hát vượt thời gian”.

 

  Ban Thang Long UserPostedImage Image result for ban nhac shotguns

            Ban Hợp Ca Thăng Long và Thái Thanh

 

Thời đó, ca sĩ Sài Gòn được chia làm hai nhóm: một nhóm chuyên hát phòng trà và vũ trường, nhóm kia thường xuất hiện trong các đại nhạc hội hoặc trong những chương trình lưu diễn các tỉnh như: Túy Phượng, Hùng Cường-Mai Lệ Huyền, Chế Linh, Thanh Tuyền, Giao Linh, Phương Hồng Quế…

Trong tất cả các ca sĩ, Thái Thanh luôn được gọi là con chim đầu đàn, “Tiếng Hát Vượt Thời Gian”.

 

7* Những lớp nhạc đào tạo ca sĩ

 

7.1. Lớp nhạc Nguyễn Văn Đông

 

  image   

 

    Hai đệ tử Giao Linh,Thanh Tuyền chụp chung với sư phụ Nguyễn Văn Đông

 

Năm 1963, Nguyễn Văn Đông là Trưởng Ban Tiếng Thời Gian của đài phát thanh Sài Gòn. Ban nhạc gồm có: Lệ Thanh, Khánh Ngọc, Trần Văn Trạch, Minh Diệu, Mạnh Phát, Thu Hồ, Anh Ngọc…

Thành lập hãng dĩa Continental và Sơn Ca. Năm 1960, Nguyễn Văn Đông và người bạn tên Huỳnh Văn Tứ, một doanh nhân có tiếng ở Sài Gòn, thành lập hãng dĩa chú trọng về tân nhạc và sân khấu cải lương.

Sản xuất những album riêng cho từng cá nhân. Lệ Thu Sơn Ca 9. Thái Thanh và Ban Thăng Long với tên Sơn Ca 10. Tiếp theo là những dĩa Hà Thanh, Phương Dung, Thanh Tuyền, Giao Linh…

Nguyễn Văn Đông thu nhận Giao Linh, Thanh Tuyền và Sơn Tuyền (Em Thanh Tuyền) làm học trò. Giao Linh nổi tiếng là “Nữ Hoàng Sầu Mộng”. Thanh Tuyền là “Nữ Hoàng Bolero”.


  Related image Thanh Tuyền tiết lộ chuyện tình định mệnh  Image result for ca sĩ trước 1975

          Giao Linh             Thanh Tuyền         Hà Thanh      Phương Dung

 

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông sáng tác những ca khúc nổi tiếng như: Chiều Mưa Biên Giới, Sắc Hoa Màu Nhớ, Tình Khúc Hàng Hàng Lớp Lớp, Mấy Dặm Sơn Khê, Lá Thư Người Lính Chiến, Phiên Gác Đêm Xuân, Anh Trước Tôi Sau, Lời Giả Biệt…

Nguyễn Văn Đông mang cấp bậc đại tá phục vụ tại Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH. Bị tù cải tạo 10 năm. Đủ điều kiện để được thu nhận vào chương trình HO nhưng vì sức khỏe quá yếu do nhiều chứng bịnh, nên ở lại Sài Gòn chờ…thế nhưng vẫn còn sống đến hiện nay.

 

7.2. Những lớp nhạc Hoàng Thi Thơ, Bảo Thu và Duy Khánh

 

1. Lớp nhạc Hoàng Thi Thơ.

 

  Image result for ban nhac shotguns Related image

                                           Ca sĩ Họa Mi


Hoàng Thi Thơ đào tạo ba ca sĩ nổi tiếng là Sơn Ca, Họa Mi và Bùi Thiện.

Sáng tác trên 500 bản nhạc về quê hương, dân ca nổi tiếng nhất là những bản: Chuyện Tình La Lan, Nổi Buồn Châu Pha, Chuyện Tình Người Trinh Nữ Tên Thi, Rước Tình Về Quê Hương, Tà Áo Cưới, Đường Xưa Lối Cũ, Trăng Rụng Xuống Cầu, Gạo Trắng Trăng Thanh, Đám Cưới Trên Đường Quê, Duyên Quê, Ta Với Mình…

Năm 1957, Hoàng Thi Thơ tổ chức nhiều đại nhạc hội ở rạp Thống Nhất. Năm 1961, thành lập Đoàn Văn Nghệ Việt Nam với hơn 100 nghệ sĩ có tên tuổi đi lưu diễn qua nhiều quốc gia Châu Á và nhiều thành phố lớn như: Vạn Tượng, Hồng Kong, Đài Bắc, Tokyo,  Bangkok, Singapore, Sénégal, Paris, London, và nhiều nơi ở Hoa Kỳ.

Năm 1967, thành lập Đoàn Văn Nghệ Maxim gồm 70 diễn viên ca-vũ-nhạc-kịch tại nhà hàng Maxim’s.

 

2. Lớp nhạc Duy Khánh

Duy Khánh tên thật là Nguyễn Văn Diệp sinh năm 1936 tại Quảng Trị. Là ca sĩ có giọng ca đặc biệt. Khi ở chung cư đường Trần Hưng Đạo, Duy Khánh mở lớp dạy thanh nhạc cho học trò 12, 13 tuổi.

Duy Khánh hướng dẫn Chế Linh, Lâm Gia Minh, Trường Vũ trở thành những ca sĩ chuyên nghiệp.

Bản nhạc tiêu biểu của Duy Khánh là những bài: Xuân Nầy Con Không Về, Ai Ra Xứ Huế, Xin Anh Giữ Trọn Tình Quê, và 40 bài hát: Thương Về Miền Trung, Bao Giờ Em Quên, Biết Trả Lời Sao, Đêm Bơ Vơ, Lối Về Đất Mẹ, Sao Không Thấy Anh Về, Sầu Cố Đô, Thư Về Em Gái Thành Đô…

Duy Khánh mất ngày 12-2-2003 tại Quận Cam, Cali.

 

3. Lớp nhạc Bảo Thu

Bảo Thu tên thật là Nguyễn Trung Khuyến, sinh ngày 19-12-1944 tại Sài Gòn. Hai học trò nổi bật nhất là Thanh Tâm (vợ ông) và Thanh Mai. Ông sáng tác trên 50 bản nhạc như: Giọng Ca Dĩ Vãng, Cho Tôi Được Một Lần, Đừng Hỏi Vì Sao Tôi Buồn, Nếu Xuân Nầy Vắng Anh, Hoa Tình Thương, Em Đâu Rồi…

Bảo Thu còn là ảo thuật gia danh hiệu Nguyễn Khuyến, có bằng Tiến Sĩ Ảo Thuật do Hiệp Hội Ảo Thuật Quốc Tế trao tặng. Màn đặc biệt là hóa con thỏ thành chim bồ câu…

 

8* Những biệt danh của các ca sĩ


“Nữ Hoàng Sầu Mộng” với Giao Linh. “Nữ Hoàng Bolero” Thanh Tuyền. “Tiếng Hát Khói Sương”, “Tiếng Hát Liêu Trai”, “Tiếng Hát Lúc Không Giờ” của Thanh Thúy.

“Giọng Ca Tủ Lạnh” của Mai Lệ Huyền. Còn có biệt danh là “Cúc Lủi” vì khi hát cứ lủi ra phía trước. Tên thật của Mai Lệ Huyền là Nguyễn Thu Cúc, sinh năm 1946 tại Lào. Cô mang hai dòng máu Việt Lào. Lớn lên ở Bình Long.

 

  10 Mot thoi 2 Related image

 

Với giọng khàn khàn nhún nhẩy trong các bản nhạc Twist, Agogo gây không khí náo nhiệt mỗi khi cặp Hùng Cường&Mai Lệ Huyền đứng trên sân khấu.

Nhóm nhạc sĩ Trịnh Lâm Ngân (Trần Trịnh, Lâm Đệ, Nhật Ngân) sáng tác một loạt các bản nhạc kích động cho cặp đôi nầy. Các bản như: Gặp Nhau Trên Phố, Vòng Hoa Yêu Thương, Hai Trái Tim Vàng, Mắt Xanh Con Gái, Làm Quen Với Lính.

Các nhạc sĩ khác gồm Khánh Băng, Y Vân, Hoàng Thi Thơ, Tuấn Lê, Giao Tiên, cũng viết riêng cho Mai Lệ Huyền - Hùng Cường những ca khúc: Say, Lính Dù, Người Lính Chung Tình, Ghét Anh Lắm, Thiên Duyên Tiền Định, Túp Lều Lý Tưởng, Xây Nhà Bên Suối, Hờn Anh Giận Em

 

9* Ca sĩ Thanh Thúy


    
10 Vinh biet 1

 

9.1. Vài nét tổng quát về ca sĩ Thanh Thúy

Tên đầy đủ là Nguyễn Thị Thanh Thúy, sanh ngày 2-12-1943 tại Huế, trong một gia đình 5 chị em. Năm 1964 Thanh Thúy kết hôn với tài tử Ôn Văn Tài, (Sau mang lon Đại tá Không Quân VNCH).

Thanh Thúy là một trong 10 ca sĩ có ảnh hưởng lớn trong nền tân nhạc Việt Nam trước năm 1975. Được mệnh danh là Nữ Hoàng trong thể điệu Bolero và Rumba-Bolero.

 

9.2. Sinh hoạt ca hát của Thanh Thúy

Tên tuổi của Thanh Thúy gắn liền với những ca khúc mà nhạc sĩ Trúc Phương viết riêng cho chị hát. Đồng thời cũng gắn liền với những nhạc khúc tiền chiến, nổi bật nhất là bản nhạc bất hủ Giọt Mưa Thu của Đặng Thế Phong.

Thanh Thúy được các nhạc sĩ, nhà thơ, nhà văn và diễn viên điện ảnh nổi tiếng hết lòng ca ngợi bằng những mỹ từ như “Tiếng Hát Khói Sương”, “Tiếng Hát Liêu Trai”.

Năm 1961. Đạo diễn Nguyễn Long thực hiện cuốn phim “Thúy Đã Đi Rồi” nói về Thanh Thúy. Ngoài cuốn phim nầy, tên tuổi Thanh Thúy còn xuất hiện trên sân khấu kịch và truyền hình.

Năm 1962. Thanh Thúy được bầu chọn danh hiệu “Hoa Hậu Nghệ Sĩ”.

Năm 1964. Bản nhạc Chuyến Tàu Hoàng Hôn đã khắc sâu tên tuổi và tài nghệ của chị trong lòng khách mộ điệu.

Năm 1970. Đoạt giải Kim Khánh của nhật báo Trắng Đen dành cho nữ ca sĩ ăn khách nhất với nhạc phẩm Tình Đời (Duyên Kiếp Cầm Ca) của hai nhạc sĩ Minh Kỳ và Vũ Chương.

Năm 1972. Đoạt hai giải Kim Khánh dành cho nữ ca sĩ được ái mộ nhất trong năm và show truyền hình được yêu thích nhất của năm 1972 do chị làm trưởng ban.


9.3. Thanh Thúy và những ca khúc u hoài của cuộc đời

Nhiều ca khúc nói lên nỗi niềm cay đắng, nghiệt ngã về tâm trạng thương cảm, ngang trái trong cuộc đời và cuộc tình, được dàn trải qua tiếng hát Thanh Thúy tạo dấu ấn sâu đậm trong lòng người thưởng ngoạn.

Từ nhạc phẩm tiền chiến như Giọt Mưa Thu, Con Thuyền Không Bến của Đặng Thế Phong, Đêm Đông của Nguyễn Văn Thương, Tan Tác của Tu Mi, Chuyển Bến của Đoàn Chuẩn, Biệt Ly của Dzoãn Mẫn, Nhắn Gió Chiều của Nguyễn Thiện Tơ, Tiếng Còi Trong Sương Đêm của Lê Trực, Tiếng Đàn Tôi và Thuyền Viễn Xứ của Phạm Duy…cho đến Ngăn Cách, Người Em Sầu Mộng của Y Vân, Lạnh Lùng của Đinh Việt Lang sang Kiếp Cầm Ca của Huỳnh Anh, Tiếng Ve Sầu của Lam Phương, đến Mộng Chiều của Khánh Băng, Nhạt Nắng của Xuân Lôi, Đường Nào Lên Thiên Thai cửa Hoàng Nguyên… và nhiều ca khúc của Trúc Phương phù hợp với tiếng hát Thanh Thúy đã gắn liền giọng ca và dòng nhạc trong giới yêu nhạc.


9.4. Tiếng hát Thanh Thúy qua ngòi bút của các văn, thi sĩ.   

Nhà thơ Nguyên Sa viết: "Thanh Thúy là nữ ca sĩ được ngợi ca nhiều nhất trong văn, trong thơ. Thi sĩ Hoàng Trúc Ly, nhà văn Mai Thảo, nhà thơ Viên Linh, nhà văn Tuấn Huy cũng có những bài ca ngợi Thanh Thúy bởi vì Thanh Thúy chính là người yêu trong mộng của cả một thế hệ, trong đó có những nhà văn, nhà thơ. Tiếng hát Thanh Thúy đã từng được nhà văn Mai Thảo mệnh danh là "Tiếng hát lúc 0 giờ", giáo sư Nguyễn Văn Trung thì gọi chị là "Tiếng hát liêu trai", nhạc sĩ Tuấn Huy gọi là "Tiếng sầu ru khuya".

Nhiều nhạc sĩthi sĩ sáng tác ca khúc, bài thơ để dành riêng cho Thanh Thúy hát. Trịnh Công Sơn viết bản nhạc đầu tay “Ướt mi” và "Thương một người", Tôn Thất Lập sáng tác "Tiếng hát về khuya"Anh Bằng viết ca khúc "Tiếng ca u hoài" để chị hát. Y Vân với "Thúy đã đi rồi" trong phim cùng tên. Và rất nhiều sáng tác của Trúc Phương đều lấy cảm hứng từ tình cảm của ông dành cho Thanh Thúy.

Nhà thơ Hoàng Trúc Ly đã viết tám câu thơ lục bát nổi tiếng bày tỏ lòng giao cảm với tiếng hát Thanh Thúy, tựa đề "Sầu ca sĩ".

Nhà thơ, danh họa Vũ Hối, qua nét bút độc đáo như tranh vẽ dành tặng bốn câu thơ:

Liêu trai tiếng hát khói sương
Nghẹn ngào nhung nhớ giòng Hương quê mình
Nghiên sầu từng nét lung linh
Giọng vàng xứ Huế ấm tình quê hương.


Nguyên Sa viết:

“Từ em tiếng hát lên trời

Tay xao dòng tóc, tay mời âm thanh.

Sợi buồn chẻ xuống lòng anh

Lắng nghe da thịt tan tành hư vô”


9.5. Những ca khúc dành riêng cho Thanh Thúy hát:       

  • Trúc Phương: "Hình bóng cũ", "Lời ca ca nữ", "Mắt em buồn", "Tình yêu trong mắt một người", "Mắt chân dung để lại"
  • Trịnh Công Sơn: "Ướt mi", "Thương một người"
  • Châu Kỳ: "Được tin em lấy chồng"
  • Hoàng Thi Thơ: "Lời hát tạ ơn", "Tôi yêu Thúy"
  • Y Vân: "Thúy đã đi rồi" (thơ Nguyễn Long),
  • Nhật Ngân: "Lời tự tình"
  • Anh Bằng & Lê Dinh: "Phận tơ tằm" (ký Hồ Tịnh Tâm), "Tiếng ca u hoài", "Chuyện buồn của Thúy". Minh Kỳ & Vũ Chương: "Tình đời".Tôn Thất Lập: "Tiếng hát về khuya”

9.6. Mối tình đơn phương mang xuống tuyền đài chưa tan

     Related image

Trúc Phương.

Chàng nhạc sĩ ở tuổi ba mươi, dang dở mối tình đầu với cô học trò con nhà giàu có, Trúc Phương đã rời Trà Vinh lên thủ đô Sài Gòn. Một lần nữa, hình ảnh của ca sĩ Thanh Thúy đã dẫm lên con tim đau khổ của chàng nhạc sĩ đam mê sáng tác. Thanh Thúy nổi danh, được yêu thích qua những ca khúc của Trúc Phương.

Tâm trạng, nổi lòng của người mang tình yêu đơn phương vẫn còn vang vọng qua những bản nhạc: Chuyện Chúng Mình, Hai Lối Mộng, Ai Cho Tôi Tình Yêu, Chiều Cuối Tuần, Buồn Trong Kỷ Niệm, Bóng Nhỏ Đường Chiều, Tàu Đêm Năm Cũ, Hình Bóng Cũ.

Với Trúc Phương, duyên nợ bẽ bàng nhưng mối giao cảm vẫn còn cao đẹp. Hình ảnh Thanh Thúy vẫn trọn vẹn trong tim Trúc Phương.

Tiếng hát Thanh Thúy chơi vơi trên đỉnh non cao, trái tim rướm máu của Trúc Phương đi dần xuống vực thẳm. Trúc Phương từ trần ngày 18-9-1995.

Được tin Trúc Phương vĩnh biệt trần gian,  Thanh Thúy viết :

– “Anh Trúc Phương, một ngôi sao sáng của vòm trời âm nhạc Việt Nam vừa vụt tắt. Tin anh qua đời đến với tôi quá đột ngột. Tôi đã bàng hoàng xúc động với sự mất mát lớn lao nầy. Anh và tôi không hẹn nhưng đã gặp nhau trên con đường sống cho kiếp tằm. Anh trút tâm sự qua cung đàn, còn tôi qua tiếng hát. Trong khoảng thập niên 60, tên tuổi anh và tôi gắn liền nhau: nhạc Trúc Phương, tiếng hát Thanh Thúy…

“Đường đời đã chia đôi chúng tôi ra hai ngã, hai hướng đi. Tôi đã giã từ sân khấu, giã từ lời ca tiếng nhạc, theo chồng đi đến những phương trời xa. Còn anh vào quân ngũ và tiếp tục hăng say sáng tác, hầu hết những nhạc phẩm đều nói về cuộc đời người lính phong sương, xa nhà, xa thành phố, xa người em nhỏ hậu phương…

“Rồi lại thêm một lần cuộc đời lại chia đôi chúng tôi đôi ngã : Anh kẹt lại quê nhà, tôi sống đời lưu vong…” (TGNS, tháng 2-1996).

Nhận xét về Thanh Thúy, nhà văn Hồ Trường An viết: “Thanh Thúy là nghệ sĩ có tư cách, có phẩm hạnh. Cô không gây ngộ nhận nào cho nhóm ký giả ưa săn tin giật gân… Trong hàng ngũ các nữ ca sĩ nổi tiếng thuở xa xưa thì Thanh Thúy, Lệ Thanh và Hoàng Oanh là nhu mì, khiêm tốn, ngoan hiền. Ở chót vót đỉnh danh vọng mà Thanh Thúy không hề nói một lời kiêu căng hay một lời làm thương tổn tha nhân, không hề bôi bẩn kẻ vắng mặt, không khoe khoang thành tích của mình khi tiếp xúc với báo chí”.

Nhìn lại cuộc đời nghệ sĩ, Thanh Thúy được ái mộ từ nghệ thuật đến nhân cách.

10* Kết luận

Âm nhạc Miền Nam đã có một thời phồn thịnh. Phát triển nhanh. Sở thích của quần chúng khiến cho âm nhạc trở nên đa dạng, mang nhiều màu sắc riêng biệt cho tầng lớp khán thính giả khác nhau. “Lò nhạc” “sản xuất” ca sĩ nổi tiếng nhất là lò Nguyễn Đức với các ca sĩ tên Phương đã thành danh. Các trung tâm sản xuất băng, dĩa nhạc cũng đã góp phần phổ biến âm nhạc đến quảng đại quần chúng.

Tháng tư 1975. Đứt phim. Điện ảnh chết. Âm nhạc chết. Và người dân miền Nam cũng chết… đói. Ăn bo bo dài dài. Băng dĩa nhạc ra chợ trời.

Trúc Giang

Minnesota ngày 6-2-2017

 




ÁO LỤA 

Truyện ngắn -  Đoàn Dự
                            (Thân tặng anh H.V.Thịnh để nhớ hôi nhỏ anh em mình
                              ở làng Quý Hiệp quận Bến Cát tỉnh Bình Dương. Và 
                              tặng quý bạn nào hồi nhỏ cũng nghèo như thế.- ĐD)
                             
    
        CÔ GÁI, có lẽ là người giúp việc, lễ phép mời chàng ngồi vào chiếc bàn rộng có hai hàng ghế sang trọng xếp gọn ghẽ gần bộ xa lông. Trên bàn, một chiếc bình bằng pha lê đặt ở giữa tấm vải lót trắng tinh với những đường viền đăng-ten. Quỳnh vốn thích hoa huệ, chàng gặp lại đây những cành hoa tươi với những bông hoa trắng muốt mang theo hương thơm thoang thoảng.
Thưa mời ông ngồi chơi, mợ tôi ra bây giờ. 
Vâng, được, không sao.
Cô ta bật quạt trần rồi vào bên trong chuẩn bị nước trà đem ra mời khách.
Còn lại một mình, Quỳnh đưa mắt nhìn chung quanh. Căn phòng của ngôi biệt thự nho nhỏ bày biện rất đơn giản: vài bức tranh thủy mặc lồng kính, một bộ đồ gỗ gồm hai chiếc muổng, một chiếc nĩa dài khoảng một thước, làm bằng gỗ quý, treo trên tường. Ngoài sân, một đôi chim công thơ thẩn kiếm ăn. Chúng đi bên nhau, thỉnh thoảng lại dừng lại mổ những đám rêu mọc dưới chân một chậu cây kiểng. Trên ngọn cây nhãn đang bắt đầu trổ bông, có tiếng chim sâu lích rích tìm mồi, một hình ảnh khá lạ Quỳnh rất ít gặp trong cảnh tấp nập của thành phố Sài Gòn đông đúc hiện tại.
Chủ nhà ra. Đó là một thiếu phụ đã đứng tuổi, rất đẹp, nước da trắng, mặc chiếc áo lụa màu nguyệt bạch, gương mặt trông rất quen. “Quái, hình như mình đã gặp bà này ở đâu rối nhỉ?”.
Quỳnh vội vàng đứng dậy. Thiếu phụ giơ tay, vẻ lịch sựi:
Xin mời ông ngồi!...
Vâng ạ.
Người làm công bưng nước trà ra. Chủ nhà đỡ lấy, đặt trước mặt chàng:
Mời ông dùng nước!...
Vâng ạ.
Quỳnh không uống ngay, chàng lựa lời vào đề:
              -   Thưa bà, tôi được bạn bè ở các nước ngoài cho biết tranh của bà ở bên ấy bán  được lắm, họ cho tôi địa chỉ của bà.
 Hoạ sĩ mỉm cười:
Nước nào vậy ông?
Dạ thưa Pháp, Mỹ, Canada...
             -   Thì ra tại các nước bên đó. Chắc lại Tiệc ly, Vinh quy, Vu quy, Hội chùa Hương...?
 Dạ vâng.
          -     Tôi vẽ như  một cái máy. Bên Pháp còn đỡ, bên Mỹ và Canada họ đua nhau mua, nhà này có nhà khác cũng phải có, treo trong phòng khách cho oai. Hầu hết họ đăt toàn các tranh lụa khổ lớn, chiều dài thước sáu, thước tám, thậm chí tới hai thước hai, hai thước tư và cùng một loại như nhau, Tiệc ly, Vinh quy, Vu quy, Hội chùa Hương...; vẽ khác họ không bằng lòng. Giá cả tôi cũng tính theo công thức: bức một thước sáu kể cả công bồi lẫn ống nhôm gởi ra nước ngoài giá một cây sáu, tức cỡ hơn bảy trăm đô; bức thước tám giá một cây tám, bức hai thước hai giá hai cây hai, cứ thế mà tính, ba tuần được lấy, trả bằng tiền Việt cũng được. Nghe nói tiền khung gỗ ở bển mỗi bức cỡ năm trăm đô, nếu khung gỗ quý  lại càng mắc hơn.
Quỳnh im lặng suy nghĩ. Hoạ sĩ nói tiếp:
-   Nghệ sĩ thì phải sáng tạo, đàng nầy tôi không được phép sáng tạo, cứ vẽ y chang những bức như vậy, chẳng ra sao cả. Hình như người ta chỉ cần cái tên, chữ ký và con dấu của tôi đóng dưới bức tranh, không cần tác phẩm. Nhiều lúc những ý nghĩ chợt nảy ra trong đầu óc, tôi thèm muốn để chút ít thì giờ sáng tác nhưng bận quá. Bây giờ tôi phải hẹn tới năm tuần, giá vẫn giữ nguyên như cũ. Chắc ông cũng đặt Tiệc ly, Vu quy, Vinh quy gì đó đặng gởi qua bển?
-      Thưa không.
Hoạ sĩ ngạc nhiên. Chàng bưng tách nước:
-     Thưa mời bà dùng nước!...
Dạ, mời ông!
Mùi trà thơm thơm, nhè nhẹ. “Kỳ lạ, mình đã gặp loại trà này ở đâu rồi nhỉ? Hoa sói không phải hoa sói, hoa lài không phải hoa lài, hương sen không hẳn hương sen...”.
Thưa bà cho phép tôi hút thuốc? Tại tôi có tật hút thuốc mỗi khi nói chuyện.
Dạ được, ông cứ tự nhiên.
Hoạ sĩ với tay lấy chiếc gạt tàn ở phía mặt bàn xa-lông trong khi chàng bật lửa.
             -     Thưa bà tôi đã được coi tấm thiệp Trong trắng của bà do bạn bè ở bên ấy gửi về  nên tìm tới đây...
            -      Có, tôi có biết. Người ta in ra thành thiệp bán tại các nước phương Tây, dùng trong các dịp lễ Giáng sinh, Đám cưới, Tết Dương lịch, Tết Âm lịch..vv.., dịp nào cũng được.
            -     Theo tôi thấy, có thể coi đó là một tác phẩm bà vẽ hoàn toàn theo cảm hứng. Tôi hết sức khâm phục nên hỏi địa chỉ, tìm tới đây để nhờ bà vẽ cho một bức theo lời tôi đề nghị.
-     Bức  tranh đó thế nào?
   -   Một pho tượng khoả thân, nho nhỏ, cao khoảng ba tấc hoặc ba tấc rưỡi, mô tả một cô gái rất trẻ, rất đẹp, vừa mới tắm xong, đang ngồi quỳ trên một tảng đá, chiếc khăn tắm vắt ngang qua đùi, mặt hơi ngửa lên, đưa hai tay lên vuốt tóc.
- Ông định vẽ để gởi ra nước ngoài?
            -    Thưa không, tôi vẽ cho tôi, cho các kỷ niệm của tôi. Bà cứ vẽ đi vẽ lại nhiều lượt cho đến khi nào bà vừa ý, tôi vừa ý, lúc ấy tôi sẽ đo kích thước, tạc nó thành một pho tượng bằng đá cẩm thạch.
Ông là một nhà điêu khắc?
           -   Dạ không, từ nhỏ tới lớn tôi chưa từng biết điêu khắc bao giờ cả mà cũng không hề biết về  nghệ thuật hội hoạ, vì vậy tôi phải nhờ bà. 
-   Tạc tượng đâu phải chuyện dễ? Ông chưa hề biết điêu khắc...
-   Tôi làm được. Quyết chí thì phải làm được  miễn sao có kế hoạch và có đầu óc kiên nhẫn. Hồi nọ tôi ra ngoài Bắc, bất ngờ mua được ở ngoài đó một khối đá nho nhỏ cao khoảng bốn tấc, trắng muốt như sữa do người ta đào được. Không ai hiểu đá gì nhưng tôi biết đó là một trong các loại đá cẩm thạch rất quý. Họ bán khá mắc, tôi mua. Từ đó đến nay tôi vẫn mơ ước  tạc được một pho tượng.
Chàng dụi mẩu thuốc vào chiếc gạt tàn:
-   Kế hoạch của tôi là sẽ mua đất sét trắng có pha silicát trong nhà máy sứ Thiên Thanh, đem về làm thành một khối cũng cùng kích thước với khối cẩm thạch rồi đem phơi khô. Khởi đầu tôi tạc với khối đất sét đó, cứ làm đi làm lại nhiều lần sẽ quen tay, bao giờ có kinh nghiệm tôi sẽ bắt đầu với khối đá.
           -    Ông dự định làm trong bao lâu?
           -    Cò thể một tháng, hai tháng, ba tháng..., một năm, hai năm, ba năm...; tôi chưa biết rõ nhưng ý tôi đã quyết là phải làm được. 
           Hoạ sĩ  im lặng. Chàng nói tiếp:
          -     Tôi đã ra tận Ngũ Hành Sơn ở Đà Nẵng quan sát người ta điêu khắc các bức tượng Đức Mẹ, Đức Phật, Ông thọ, Đứa trẻ chăn trâu, Người phụ nữ gánh hàng..vv... bằng loại đá hoa Ngũ Hành Sơn – marbre – dùng để xuất khẩu. Họ làm được thì tôi cũng làm được và tôi đã tìm kiếm, đặt tại các lò rèn một bộ đồ gồm năm mươi hai cây. Ở Bình Dương, gần Lái Thiêu đi lên thì họ tạc tượng bằng gỗ, bộ đồ có hăm nhăm cây, nước thép khác hơn. 
         -     Ông làm nghề gì?
         -    Kỹ sư công nghiệp. Tôi đã lăn lộn nhiều trong cuộc sống, bây giờ muốn nghỉ ngơi ít lâu. Trong khi nghỉ ngơi như vậy tôi muốn sống cho riêng tôi, cho những kỷ niệm của tôi...
        Những tiếng “cho những kỷ niệm của tôi...” khách nói rất nhỏ. Hoạ sĩ nhíu mày, tỏ vẻ thông cảm:
        -    Chắc lại hình ảnh về một mối tình nào đó rất lớn? Tôi hiểu ý ông nhưng tôi rất bận. Tiệc ly, Vinh quy, Vu quy, Hội chùa Hương..., người ta đặt nhiều lắm, tôi vẽ không kịp. Ông không trả nổi số tiền tôi gác mọi chuyện để vẽ cho ông đâu.
       -     Tôi trả được. Bà tính bao nhiêu tôi xin gửi đủ bấy nhiêu không nói một tiếng và tôi rất biết ơn bà. 
       -    Thế còn người ta đăt hàng? Toàn người ở nước ngoài, ai cũng đòi tôi phải làm trước cho họ?
       -     Bà vẽ xen kẽ, ưu tiên cho tôi bởi vì tôi còn phải tạc tượng. 
       -     Cũng được, để tôi suy nghĩ  xem đã. Nhưng tôi hỏi thiệt ông điều nầy trước khi quyết định.
       -     Xin bà cứ hỏi. 
       -     Ông tạc pho tượng đó làm gì? Ông không phải là một nhà điêu khắc trong khi tạc tượng đá quý rất khó. Những đường nét, dáng điệu...Nhứt là khi lấy mặt phẳng. Ông nên nhớ một pho tượng khoả thân luôn luôn có những mặt phẳng, ví dụ gò má, cánh tay, bộ ngực, cặp đùi..., tất cả đều là mặt phẳng. Ngoài ra đá quý không như đá đen, chỉ hơi sơ xuất là nó sẽ lộ hẳn ra. Đôi mắt cũng vậy, trông phải có hồn. Tạc tượng mà mắt như mắt “tượng” là hỏng, không chấp nhận được. Với những chiếc đục và chỉ có những chiếc đục cộng thêm giấy nhám cao cấp, ông phải tạo nên những mặt phẳng mịn màng giống như da người, thứ da của một cô gái nho nhỏ, trẻ đẹp, mới tắm.
       -     Tôi sẽ làm được. Nhất định là phải làm được. Tôi là kỹ sư.
       -   Nhưng ông chưa cho tôi biết ông bỏ công ra như vậy để làm gì? Không lẽ để ... tặng nàng? Theo tôi hiểu, ông lớn tuổi rồi, có lẽ ngang với tuổi tôi, chúng ta nhìn đời bằng con mắt thực tế, không mơ mộng như hồi còn trẻ.
       Khách nhíu mày, đặt tay lên trán. Lát sau chàng ngửng lên, nét mặt rất buồn pha chút cương nghị:
       -    Tôi muốn chứng tỏ tài năng của mình bà ạ. Bên cạnh đó là một tình yêu lạ lùng, bất diệt. Bà có thể bớt chút thì giờ quý báu để nghe tôi kể lại một chút kỷ niệm khi cả hai chúng tôi đều còn nhỏ dại, lý do khiến tôi quyết tâm phải làm bằng được pho tượng mặc dầu tôi biết là rất khó khăn. Cái bóng điện ấy nó đã đâm nát lưng tôi, xuyên thấu da thịt tôi không biết hàng bao nhiêu mảnh. Tôi khóc, nàng khóc. Một thứ tình yêu khờ dại, đau đớn, xẻ da rách thịt...
         Người nữ nghệ sĩ run giọng:
         -    Hồi nhỏ ông...ông... bị nàng làm cho đau đớn vì cái bóng điện?
         -     Vâng. Tôi chỉ xin bà ít phút thôi, không dám làm mất thì giờ của bà. 
         Hoạ sĩ nuốt nước miếng:
         -     Không sao, ông cứ việc kể, bao lâu cũng được, tôi rất muốn nghe. 
         Và bà bưng tách nước tra đưa lên mời khách, giọng thân mật:
         -     Nhưng ông dùng trà đi đã!...
          Khách không để ý, vẫn đắm chìm trong những ý nghĩ:
         -     Dạ được, bà để mặc tôi. 


               Lúc mới di cư tôi còn nhỏ, gia đình tôi nghèo lắm, ở trại định cư Quý Hiệp cách Bến Cát tỉnh Thủ Dầu Một khoảng 3 km về phía Lai Khê, Lộc Ninh, Hớn Quảng. Cả làng đều theo Công giáo, chỉ có một mình gia đình tôi là người bên lương nên mọi người gọi mẹ tôi là “nhà bà Lương”.
          Trại có ngôi nhà thờ nằm ngay giữa làng, lợp tranh, vách đất. Cha xứ ở trên Bến Cát cùng lúc coi cả mấy trại định cư: Bến Cát, Rạch Bắp, Quý Hiệp I, Quý Hiệp II. Cha tên Phao-lồ Đàm Quang Quý nên đặt tên hai trại là “Quý” Hiệp I,  “Quý” Hiệp II với ý nghĩa đồng tâm, hiệp lực. Mọi việc trong làng đã có ông trùm trông nom. Mỗi buổi tối, cỡ khoảng 7 giờ, ông đánh trống cái “thùng” , chờ mười lăm phút rồi xách roi mây đi lùng từng nhà, đứa trẻ nào lười chưa đến học kinh hay đang học mà ngủ gật thì ông giơ thẳng cánh quất đánh véo một cái vào mông, đau quắn đít. Tụi nó sợ lắm. Càng khóc ông càng đánh. Lơ là không thuộc ông cũng đánh. Cha mẹ rất bằng lòng, thường nói với nhau rằng ông trùm có dữ đòn thì chúng mới thuộc.
          Tôi không bao giờ bị đánh. Bởi vì tôi là “gia đình nhà lương”, cha dặn mọi người phải đối xử tử tế, không được ép buộc. Hơn nữa tôi học rất mau, tuy ngồi ngoài cửa nhưng anh Hải con trai ông trùm chỉ đọc một lần là tôi thuộc ngay, không cần phải khảo.
 Ban ngày, hễ hôm nào cha có công việc xuống trại, trông thấy chiếc ô tô hòm bít bùng màu đen giống như con cóc của cha từ ngoài đường nhựa rẽ vào trong làng, ông trùm đánh ba tiếng trống “thùng, thùng, thùng” thật lớn báo cho dân làng biết. Lúc cha đi thì đánh một hồi, gõ thêm ba tiếng “chát, chát, chát” vào cái tang trống. Người cha thấp lùn, bụng thật bự nhưng đi rất nhanh. Tính cha mau mắn, luôn luôn xuống làng hỏi thăm mọi chuyện và cha coi tất cả dân làng như người trong nhà. Hễ ai có điều gì cần trình, họ luôn luôn mở đầu bằng hai tiếng “Trình cha”.
Một buổi sáng, cũng như mọi chủ nhật khác, cha xuống làm lễ Misa cho giáo dân. Tôi đứng khoanh tay phía ngoài nhà thờ. Tôi là người ngoại đạo, dù đến sớm cũng đứng chung với những người thanh niên đến trễ ở phía bên ngoài, không bao giờ bước vào bên trong vì không hiểu mình có được quyền vào hay không. Ngoài ra, một lý do khác, nếu vào bên trong nhà thờ, được ngồi trên những mảnh gỗ đóng thay cho ghế, được quỳ trên những thanh gỗ đó nhưng phải bỏ tiền lễ vào những chiếc rổ nhỏ khi người ta đưa tới trước mặt mình, mà tôi thì không có tiền, gia đình tôi nghèo, tôi còn nhỏ tuổi, chẳng bao giờ có lấy được một hào trong túi để bỏ tiền lễ. 
          Hôm ấy, làm lễ xong, cha đi ra, mọi người đi theo. Đi ngang qua trước mặt tôi, trông thấy tôi đứng đấy, cha bỗng ngạc nhiên dừng lại, nhìn tôi chăm chăm :
-   Quái, thằng bé này trông mặt mũi sáng sủa quá, con cái nhà  ai ấy nhỉ?
          Tôi vội vàng khoanh tay, cúi đầu chào cha. Ông trùm  đỡ lời:
         -    Dạ thưa cha, nó là con nhà bà Lương.
         -    Lạ nhỉ, trông nó xinh xắn khác hẳn với trẻ con trong làng mình.
         Rồi cha hỏi tôi: 
        -     Con đã đi học gì chưa?
        -     Dạ, thưa bẩm cha...
        -     Nói trình cha, không nói bẩm cha!...
        -     Dạ, thưa trình cha, con không đi học. 
        Cha rất ngạc nhiên:
        -     Sao vậy? Làng có trường, có lớp do anh Hải dạy kia mà?
        -     Thưa cha, ở trên Sài Gòn con đã bắt đầu lên lớp Đệ Lục trung học, ba con mất nên phải về đây. Dưới này anh Hải chỉ dạy những đứa mới biết đọc biết viết là cao nhất, con không đi học.
         Cha giật mình, kinh ngạc:
        -    Con mới lớn bằng bây nhiêu mà đã học tới lớp Đệ Lục? Trường công hay trường tư?
        -   Dạ, thưa trường công. Hồi thi vào lớp Đệ Thất con đậu hạng nhì, trường công.
        -    Con còn giữ được giấy tờ không?
        -    Dạ còn, mẹ con giữ đủ. Con mới phải nghỉ học gần một năm nay.
          Cha nhíu mày suy nghĩ:
         -  Thôi được, con học giỏi như vậy mà không đi học tiếp rất uổng. Cha phải đi có chút công việc, lát sẽ trở lại. Con về nói với mẹ là lát cỡ chừng mười giờ cha đến gặp mẹ. Nếu đồng ý, mẹ thu xếp sẵn quần áo, sách vở, đồ dùng cá nhân cho con, bỏ vào trong tay nải. Nói chuyện xong, cha sẽ giúp đỡ, đem con lên Bến Cát cho con đi học. Nhớ nhé, về nhà nói ngay với mẹ.
        -   Dạ, vâng ạ, con cám ơn cha.
         Từ nhỏ tôi đi học rất sớm do anh và cha tôi dạy, lúc thi Tiểu học phải làm giấy xin miễn tuổi kèm theo học bạ và lời phê của ông Giám đốc Nha Tiểu học xác nhận học sinh đặc biệt, được đặc cách cho đi thi sớm. Cha tôi ở trại định cư, gửi tôi ở nhờ nhà người bác trên Sài Gòn để ăn đi học. Tôi còn một đứa em gái rất nhỏ. Cha tôi đi làm rừng, cưa gỗ, đốt than, bị con rắn cắn vào chân, làm độc rồi mất. Anh tôi cũng còn ít tuổi, làm tay trái, không đủ sức lo cho gia đình nên mẹ tôi phải lên xin phép nhà trường cho tôi nghỉ học, về trại định cư cho đỡ tốn kém.
Cả làng đồn um lên là tôi được cha đưa lên Bến Cát ăn học. Mẹ tôi mừng lắm, không biết kiếm ở đâu được mấy cây nhang, thắp lên, khấn vái trước bàn thờ cha tôi và thu xếp các thứ cho tôi. Sự thực chẳng có gì nhiều, một chiếc quần ka ki rách mẹ tôi đã vá cẩn thận dùng để đi học hồi nọ, hai chiếc áo sơ mi cũ ngắn tay người ta phát cho học sinh nghèo ở lớp Đệ Thất ; hai chiếc áo may-ô ba lỗ cũng do người ta phát ; hai chiếc quần xà lỏn, một chiếc bàn chải đánh răng và chiếc khăn mặt. Ngay kem đánh răng tôi cũng chẳng có, thường đánh bằng muối, nếu “tiết kiệm” muối thì đánh bằng tro củi, cũng sạch. Ở nhà quê ít khi người ta đánh răng, sáng  dậy chỉ súc miệng rồi khò khò trong cổ, nhổ toẹt vài lượt là được. Nhiều người lại không có cả khăn mặt nữa, chỉ múc nước giếng rửa bằng hai tay không rồi kéo vạt áo lên lau, vậy là xong. 
Mẹ tôi nhét vào túi áo ngực của tôi một tờ giấy năm đồng, cài kim băng cẩn thận, dặn đi dặn lại:
-   Phúc đức ông bà nên được cha thương tình giúp đỡ. Lên đấy ngoan ngoãn lễ phép thì ai cũng quý. Đây, mẹ cho năm đồng để dành, có gì cần thì xài.  
           Tôi thương mẹ tôi lắm nên mở kim băng, trả lại cho mẹ:
            -    Con đâu có tiêu cái gì, mẹ giữ lấy mà xài.
            -    Không, mẹ có tiền rồi, con cứ yên tâm, đừng lo. 
Vậy là tôi đi với cha, lần đầu tiên được ngồi lên chiếc xe con cóc do cha lái. Dân chúng đến xem đông lắm, nhiều người cúi sát tận cửa kính nhìn vào bên trong. Lúc xe chạy, mẹ tôi thẫn thờ nhìn theo. Tôi trông thấy chiếc áo trắng ngắn tay cũ kỹ của mẹ có một miếng vá rất lớn ở trên vai. 
Nhà cha cũng lợp tranh, nền đất tối um nhưng vách đóng bằng ván, sơn màu xanh. Cụ cố năm nay chắc khoảng tám mươi tuổi, hai mắt đã loà, đầu trọc, tóc mọc ngắn, đang ngồi trên giường bưng bát cơm nguội. Tôi chắp tay lạy cụ một lạy: “ Con lạy cố ạ”. Cụ nghe tiếng nói, ngửng lên, giương cặp mắt trắng đục nhìn tôi: “Đứa nào đấy?”.
-    Trình cố thằng bé này học giỏi, con đem về đây định gửi nó vào trong quận cho nó đi học.
-    Ừ, cha làm vậy là phải. Bảo nó lại gần đây.
Tôi thò đầu lại gần. Cụ sờ mặt, sờ mũi tôi:
-    Ừ, chịu khó mà học con ạ. Tất cả là nhờ ơn Chúa. Ngày trước cố ông mất, nhà cố nghèo, cố nuôi cha cũng khó khăn lắm. Chúa cho là được. 
-    Trình cố, vâng ạ. 
Cha dặn tôi ở nhà ngồi chơi nói chuyện với cố rồi lái xe đi. Một lúc sau, cha về, bảo tôi đem gói quần áo lên xe theo cha.
-    Con đem thằng bé này vào trong quận cố ạ. Con vừa mới nói chuyện rồi, ông bà quận rất bằng lòng.
            -    Ừ, tùy cha định liệu.
Chúng tôi đi vào dinh quận. Lúc cha lên xe về xong, ông quận hỏi kỹ mới biết là tôi đã bắt đầu học Đệ Lục trong khi ở Bến Cát lúc ấy mới chỉ có tới lớp Nhất là hết mức, học sinh muốn thi, học tiếp lên lớp Đệ Thất thì phải lên trên Thủ Dầu Một.
-    Thôi được, cha đã có lời nói thì mi cứ ở lại đây, ngày mốt tao có việc lên tỉnh sẽ đem mi lên trển gởi cho ông bà bác sĩ anh chị của bả ở trển.
            Tôi ở lại, ăn cơm dưới nhà bếp, ngủ tạm ở ngoài phòng khách. Hai hôm sau, ông quận chở bà quận và tôi bằng chiếc xe jeep, còn người tài xế thì lái chiếc xe màu xanh đi phía đằng trước. Hình như họ bắt được được một chiếc xe nhà màu xanh da trời rất đẹp không biết của ai bỏ ở trong rừng, hôm nay ông quận đem lên trên tỉnh giao nộp. 
 .  -   Trong khi tôi ngồi nói chuyện với anh bác sĩ ở trên văn phòng thì mình đem thằng nhỏ nầy vô gặp chỉ trước xem sao. Cứ kêu là của cha xứ gởi tất nhiên ảnh chỉ phải bằng lòng. Dường như hồi chiều hôm qua cha đã lên trển gặp ảnh. 
-   Làm sao cha biết mình tính gởi nó lên anh chị bác sĩ ?
-   Biết. Tôi có nói chuyện. Cha kêu để ổng lên nói trước, nhận là người của ổng gởi. 
-  Được mà, cha hổng cần nói cũng được. Ở trển ảnh chỉ bồi bếp hà rầm, thêm một đứa nhỏ đâu có nhằm nhò gì. 
Và bà cho tôi hai chục đồng:
-     Nói ông bác sĩ can thiệp cho vô học tiếp lớp Đệ Thất, Đệ Lục gì đó trường công, đừng thèm học trường tư. Ráng học thiệt giỏi, bỏ qua cả mấy cô mấy cậu con của ổng bả  đặng ổng bả sợ luôn!
            -   Bỏ qua sao nổi, mấy đứa đó nó lớn, học trường Tây trên Sài Gòn. Hoạ chăng nó bằng tuổi với con gì đó nhỏ nhứt đang học trường đầm. 
Con Mari.
Ờ, con Mari.
           Đoạn, ông quận cười:
          -   Bây bằng tuổi cổ hoặc nhỏ hơn chút đỉnh, ráng học thiệt giỏi, kỹ sư bác sĩ đặng lấy được cổ luôn tao kể làm tài. Cổ xinh lắm, mỗi tuần thường theo mấy anh về chơi.
Bà quận cũng cười, nói đùa:
-    Sao, liệu được không mầy, Quỳnh? Phải mầy tên Quỳnh không mầy?
-    Dạ, thưa bà con còn nhỏ, nhà con nghèo...
Nghèo thì đâu đã sao? Cứ học thiệt giỏi, có bằng cấp lớn là người ta gả.
Vâng, gia đình tôi quá nghèo, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, và tôi cũng không hiểu học tới kỹ sư bác sĩ thì phải mất bao nhiêu năm, liệu có đủ sức hay không. Nhưng, với khái niệm đầu tiên do ông quận vô tình nói ra, tôi nghĩ rằng kỹ sư lớn lắm, sau này tôi sẽ phải trở thành một kỹ sư. 


            Tư thất của vị bác sĩ nằm trên một khu đất rộng và cao, có nhiều cây lớn, trông giống như một ngọn đồi. Bên trái là nhà, bên phải là phòng khám bệnh với những bãi cỏ luôn luôn cắt xén, rung rinh, sang trọng. Đằng trước có một con đường trải nhựa, lên giốc, vắng lặng đến nỗi mỗi buổi trưa người ta thường nghe thấy cả tiếng chim hót ở phía trên cao. Nếu đi hết con đường đó, xuống giốc, sẽ tới một con đường khác nằm ngang,  rồi tới một con đường chạy dọc mé sông. Tôi đoán con sông này từ Lái Thiêu lên, rộng mênh mông.
Nhà riêng rất lớn. Từ ngôi nhà có bậc thềm cao bên trên, ngăn cách với dãy nhà ngang bên dưới của bồi bếp là một sân gạch khá rộng và một bể nước. Trên sân có hai mái “cầu kiều” cũng lợp ngói, nối liền nhà trên với nhà dưới, mưa không bị ướt. Phía dưới”cầu kiều” bắc một chiếc võng bằng vải hoa. Loại võng này tôi chưa từng trông thấy bao giờ cả. Lúc đầu tôi ngạc nhiên không hiểu tại sao người ta lại phí của, cắt các vải bông ra bện thành võng mặc dầu ngồi chắc êm lắm và trông rất đẹp. Sau tôi mới biết đó là những mụn vải ở các tiệm may, bỏ cũng uổng, các bà đan võng mua về, rọc ra bện thành võng thay sợi. Ông bác sĩ không bao giờ ngồi võng, chỉ có bà với cô Út thỉnh thoảng mới ngồi. Mát lắm và tất nhiên là êm lắm. 
Tôi ngủ trong căn phòng nhỏ ở phía bên trái, chỗ cửa sổ lên. Phía tay mặt là phòng tắm và phòng vệ sinh dành cho gia đình ông bà. Bồi bếp dùng riêng, ở phía nhà sau bên dưới. 
Vì đã cuối niên khoá, nhà trường xếp cho tôi học tạm lớp Đệ Thất, năm tới sẽ lên lớp Đệ Lục ngang sức với tôi. Vậy cũng phải, nếu vào Đệ Lục thì tôi bị hẫng vì lúc ở  Sài Gòn tôi chỉ mới học Đệ Lục  được hơn một tháng. 
Bồi bếp người nào cũng có vợ con ở ngay trong biệt thự nên ăn cơm với gia đình, hàng tháng lãnh lương như mọi người khác. Chỉ riêng tôi là ăn cơm của ông bà bác sĩ. Buổi sáng, trước khi bưng khay lên nhà trên, bác bếp để cho tôi nửa ổ bánh mì và hai trái chuối, hoặc cũng có khi một ly sữa thay cho chuối. Ăn xong, tôi chuẩn bị đi học. Trưa về, chờ ông bà ăn xong, bác bếp bưng mâm xuống, tôi đứng ăn một mình bên cạnh chiếc bàn ở dưới bếp. Tôi đứng, không ngồi mặc dầu bếp cũng có một chiếc ghế. Tại vì tôi thấy ai đun nấu gì cũng đứng nên tôi bắt chước. Món gì ăn dư thì bà để  riêng ra, dặn bác bếp khi bưng mâm xuống, tôi ăn những món bà đã vạch riêng để phần ở các góc dĩa. Cứ tôi ăn xong thì tới phiên mấy con chó: hai con chó Nhật, một con bẹc-giê. Bác bếp sẽ trộn cho chúng, chia ra làm ba phần để cách xa nhau mỗi con một nơi, xong bác bắt đầu thu dọn, đi rửa chén dĩa. Buổi tối cũng vậy. 
Công việc hàng ngày của tôi những khi có mặt ở nhà là hễ có khách thì rót nước, bưng ra mời khách, và thỉnh thoảng, mỗi tuần một lần, dẫn mấy con chó ra sông tắm. Tôi bơi thì chúng cũng bơi. Tôi bơi giỏi hơn mấy con chó.
Ông bà bác sĩ là người Nam, cũng theo Công giáo nhưng không đọc kinh buổi tối. Mỗi sáng chúa nhật bà chỉ bắt tôi đi lễ nhà thờ. Tôi vẫn tiếp tục đứng phía bên ngoài và không bao giờ nghĩ tới việc theo công giáo. Ngoại trừ...
Vâng, ngoại trừ cô Mari bảo tôi theo đạo thì tôi theo ngay, nhưng tính cô đơn giản, không để ý tới việc đó.  Mỗi tuần cô về một lần. Hình như ở trên Sài Gòn cô học trường đầm, ở trong nội trú. Cứ đến trưa Thứ Bảy thì người tài xế đem xe lên đón, sáng Thứ Hai lại chở đi sớm cho cô kịp giờ vào học. Có khi cậu Rọt, cậu Bôn, cậu Ri cũng cùng về nữa. Tôi không hiểu tại sao ông bà bác sĩ là người Việt mà các con lại toàn tên Tây: “Rọt” tức George, “Bôn” tức Paul, còn “Ri” tức Henri, có lẽ quốc tịch Pháp. Họ lớn hơn tôi nhưng chơi với tôi rất thân, coi tôi nửa như đứa ở, nửa như đứa bạn. Cái trò mà các cậu thích bày ra nhất là đi bẻ trộm bắp non. Bác Hai tài xế răng vàng cũng thích ăn trộm, lái xe tới những chỗ có các ruộng bắp thật vắng, đậu xe bên ngoài rồi các cậu xúi tôi với cô Mari  vô bẻ trộm, đem về cả bọn nướng ăn với nhau, quết mỡ hành vô, ngon lắm. Cô thường mặc chiếc áo lụa, nước da trắng, mái tóc dài kẹp một chiếc kẹp, đuôi tóc thả xuống ngang lưng: “Bắp hái trộm mới ngon, bắp mua hổng ngon”. “Tôi sợ lắm”. “Kệ, cứ hái, đừng sợ. Bất quá họ bắt được thì mình thường tiền, đã có chú Hai với mấy ảnh ở ngoải, lo gì !”. 
Ấy vậy mà một lần tụi tôi đang hái bỗng nghe có tiếng người ho khặc khặc, tiếng chân bước và giọng ông già thều thào: “Dường như có đứa nào hái trộm bắp?”.  Cô không dám hái nữa, kinh hoàng đưa mắt nhìn tôi. Thân hình tôi hơi cao, sợ cái đầu lú lên khỏi ngọn cây, tôi bèn núp xuống, ngồi im phăng phắc. Cô cũng ngồi xuống, núp sát cạnh tôi. “Tao có roi mây đây, bắt được uấn chết tụi nó!”. Ôi chao, cô hoảng hồn nép chặt vào tôi, má kề bên tôi. Tôi nghe rõ hơi thở của cô phập phồng, tim đập thịch thịch. Da thịt cô mềm mại với chiếc áo lụa, ngực hơi nhu nhú như trái bắp non và những sợi lông măng trên mép sao mà rõ thế. Môi cô cong lên, phịu ra, đôi mắt trong sáng, long lanh, thơ dại. Tôi ôm  ngang lưng cô, nắm chặt hai tay cô như muốn truyền cho cô sức mạnh, an úi cô đừng sợ, đã có tôi đây.
Chợt, những tiếng cười phá lên, ba người anh xuất hiện, ôm bụng cười ngặt nghẹo. Cậu Rọt lớn nhất trong bọn bóp tay trên mũi, bắt chước giọng “ông già” : “Tao đó roi mây đây, uấn chết tụi nó đi bà con ơi!”. Cậu Bôn la lớn : “Ủa, hai đứa nó làm gì vầy nè ?”. Thì ra chúng tôi vẫn còn cầm tay nhau. Cô Út đỏ mặt, phụng phịu hất hàm: “Đồ quỷ, đốt mấy người đi!”. Cả bọn lại cười.
Đêm ấy hình như tôi đã lớn dậy. Hình như tôi mơ hồ thức giấc từ trong tiềm thức vẫn quen ngủ yên một cái gì đó khát khao, vô cớ, không tên không tuổi. Tôi mơ thấy một tà áo lụa với làn da thịt mềm mại, những sợi lông măng trên mép, hơi thở dồn dập, và cả cánh đồng biến thành ruộng ngô, những hoa ngô non lắc lư, dật dờ xa thẳm tới tận chân trời. Mênh mông, cô quạnh…
Một trò chơi khác của các cậu là đem bình ra rừng cao su dốc trộm các chén mủ người ta đang hứng. Cũng lại sai tôi. Về, khuân hết các ghế ra ngoài sân, chỗ có ánh nắng. Đổ mủ cao su lên thành những khoảng hình tròn giống như người ta tráng bánh tráng. Mủ cao su lúc ướt thì trắng đục như sữa, phơi khô sẽ trong vắt như chiếc bánh tráng chưa nướng nhưng vẫn hơi dính. Chúng tôi viên thành cục tròn rồi cứ thế lăn mãi, lăn mãi, nhiều lớp, lớp nọ chồng lên lớp kia làm thành những trái banh to bằng cỡ nắm tay, dùng để ném nhau, rất tốt. Cứ một đứa xung phong đứng ra, đeo chiếc mặt nạ, “làm bia” cho những đứa kia ném. Phải liệng thật nhanh, thật trúng, thật mạnh kẻo “cái bia” bắt được thì phải ra đứng, đau lắm.
              -   Quỳnh đừng có đứng trước. Mấy ảnh khôn, bắt Quỳnh đứng trước là hổng công bằng. Cứ uấn tù tì ai thua người đó làm bia.
   Tôi bắt banh thì hay nhưng uấn tù tì lại dở, cô Út uấn thay bao giờ cũng thắng.
Nhỏ nầy gian lận, nó toàn ra sau không hà!  
Ra sau hồi nào? Anh xuất cái búa tui ra tờ giấy chớ bộ!
Cô Út lẹ lắm, rõ ràng cô ra cùng lúc mà người ta xuất cái kéo, cô đổi ngay thành chiếc búa thiệt lẹ, chẳng ai “ăn” nổi. Cô nói nhỏ với tôi rằng học trò trường Pháp thường chơi như vậy, cái gì cũng uấn tù tì nên cô rất quen. 
Chúng tôi cũng làm những cây cung, đầu các mũi tên bịt mủ cao su, lấy phấn đỏ cà ra, trét vô, bắn nhau. Mấy đứa núp vô gốc cây, một đứa đi tìm. Phải bắn thiệt lẹ kẻo nó bắn mình. Một lần tôi đang “trinh sát”, bỗng thấy nhúc nhích, bắn liền. Bỗng nghe tiếng kêu : “Ui da, đau quá, chết tui!”. Đó là cô Út. Tôi bắn phải mạng mỡ cô. 
Tôi vội vàng liệng cây cung, quỳ xuống xem xét. Cô khóc:
-    Đau quá, trời đất ơi, bắn người ta hổng bắn, bắn tui!...
Cô làm gì mà ngồi đây?
Tui bắt mấy con kiến cho nó đá nhau...Ui da, đau quá, bắn chết tui rồi!
Cô ôm cạnh sườn, rên rỉ. Tôi gỡ tay cô ra coi:
-   Đâu, tôi bắn trúng cô chỗ nào?
Cô vạch áo. Đúng là trên áo cô có vết phấn đỏ thật. Da cô trắng mịn, cả chỗ xương sườn bị mũi tên bắn cũng có vết đỏ. Tôi xoa xoa, nắn bóp cho cô. Da cô mát rượi, một cảm giác mềm mại nào đó truyền vào tay tôi. Cô nhăn nhó trông mới đáng yêu làm sao, trông giống như đứa trẻ con :
-    Ui da, đã đau lợi còn nhột nữa!...
Mấy người anh xách cung đi tới. Cô vội vàng kéo áo xuống. Họ cười ngặt nghẹo:
-    Y cha, thằng nầy giỏi, nó bắn trúng một “nữ  tướng”!
Cô hếch mặt lên, tức giận:
-    Dẹp mấy người đi, chuyên nhạo người ta không hà!...
Những tháng nghỉ hè đối với chúng tôi thật vui. Cô Út về nghỉ hẳn dưới tỉnh, không phải nội trú trên Sài Gòn. Tôi lại càng mừng hơn khi được cha cho biết ở dưới Bến Cát cha đã xin với ông quận cho anh tôi làm chân thư ký hộ tịch trong quận thay ông Phán Đàm về hưu, lương tháng được một ngàn một trăm sáu mươi đồng, gia đình cũng đỡ chật vật. Chữ anh tôi rất đẹp, ông quận bằng lòng lắm. Anh tôi thuận tay trái nhưng viết thì viết tay phải. 
Các cậu về chơi đem về cho tôi rất nhiều các quần áo cũ đã bỏ không xài tới. Đồ của cậu Ri tôi mặc vừa vặn còn những bộ của hai cậu lớn thì chị Hai răng vàng vợ bác Hai tài xế sửa lại giùm, tôi bận đẹp như đồ may ngoài tiệm.
Những tháng hè cũng là mùa mưa, ban đêm đom đóm bay nhiều và cả cà cuống từ phía bờ sông cũng bay lên nữa.
Nè, Quỳnh, tụi mình mình đi bắt đom đóm đi Quỳnh!
Đựng bằng cái gì bây giờ?
Kệ, tui gói vô chiếc khăn mùi soa...
Cô gói vô khăn mùi soa, đom đóm không sáng, cô chán không chơi trò chơi đó nữa. 
Nè Quỳnh, chiều mơi cho chó đi tắm cho tui đi theo được không?
Được, nhưng sợ bà rầy.
Hổng sao đâu, không nói thì má hổng biết, không rầy.
Chiều hôm sau có cả mấy cậu cũng cùng đi nữa. Thấy chúng tôi bơi lội, đùa nghịch, cô thích lắm, về kể um xùm. 
Má, mơi mốt má cho con tắm nữa nghe má?
Trời đất ơi, con gái mà tắm cái gì? Người ta trông thấy người ta cười. 
Thì cũng như tắm biển Vũng Tàu chớ có gì đâu mà người ta cười, má.
             -   Thôi được, tắm cũng được nhưng phải kiếm chỗ thiệt vắng. Mà coi chừng, đừng có bơi ra xa, chết đuối.
Dạ.
Cô mừng lắm, chuẩn bị đồ tắm từ buổi sáng. Lúc đi, bà dặn tôi trông nom cho cô.
Hai đứa chúng tôi đang tắm thì trời đổ mưa. Tắm sông trời mưa là một cái thú vô hạn. Cả vùng trời dường như sụp xuống, sẫm lại, mặt sông nổi sóng, giống như bốc khói. Chân trời đen nghịt, sấm chớp đùng đùng, mưa tới giá lạnh.
Thú quá há cô?
Ừa, nhưng thôi lên đi, tui lạnh rồi, tóc ướt hết trơn...
Người con gái lên bờ. Nàng quỳ chân trên hai đầu gối, ngửa mặt lên trời đón những giọt nước mưa, hai cánh tay đưa ra phía sau vuốt mái tóc ướt. Thân hình nàng trông đẹp như một pho tượng...
      
          Nước mắt người nữ nghệ sĩ dàn dụa. Bà ngồi hai tay khoanh trên bàn, không cần che giấu:
-  Ông chưa kể đoạn ông bị nàng làm cho chiếc bóng điện đâm nát da thịt...     

          Vâng, một hôm tôi vô tình tìm được một chiếc bóng điện đã đứt dây tóc bỏ trong chiếc thùng đựng than để dưới góc bếp. Tính tôi ham sửa chữa các đồ vật, không nỡ vứt đi. Tôi rửa sạch, lấy cát đánh bóng cái đui đồng, định tìm cách nối lạisợi dây tóc bên trong nhưng không nối được. Một ý nghĩ chợt thoáng qua trong óc tôi. Nếu bây giờ ta đâp vỡ ở chỗ cái đui đồng thì thủy tinh sẽ lởm chởm, xài không được. Chi bằng dùng mũi dao nhọn khoét ra, đưôi nó bằng nhựa và chì, có lẽ khoét cũng dễ.
Nghĩ là tôi làm. Tôi hì hục một lát quả nhiên khoét được. “Ồ, cái này lau sạch mà đựng đom đóm thì nhất!”. Tôi sung sướng đem khoe với cô út.
Hay quá ta! Tối nay tụi mình đi bắt đom đóm.
Nhưng tối hôm đó trời quang, không có đom đóm.  Hôm sau cậu Ri rủ tôi ra rừng cao su bắn chim, mỗi đứa có một giàng ná, trời mưa, tôi về bị cảm.
            -    Chà, thằng nầy bịnh rồi ạ, trông cái mặt bây là tao biết liền. Uống thuốc chưa?
 Dạ, thưa bà con uống rồi. 
Uống rồi thì đi nằm. Muốn ăn cháo biểu chú Ba nấu cháo.
Thưa bà con ăn được cơm.
  Tôi đi nằm. Người tôi nóng hừng hực nhưng bên trong lại rét. Tôi đắp mền, mồ hôi vã ra như tắm, mặt đỏ bừng bừng, ngay đến hơi thở cũng nóng.
Nó bịnh rồi nghe Mari, hổng được rủ nó ra ngoài vườn bắt đom đóm nữa ạ.
Dạ.
Ban đêm, tôi nghe tiếng suỵt suỵt rất khẽ ở cửa sổ. Tôi gượng ngồi dậy, cô Mari thì thầm:
Nè, ngoài vườn nhiều đom đóm lắm, xuống bắt với tui đi.
Trời ơi, tôi đang bịnh, trời lạnh, ngoài vườn lại mới mưa ướt, bây giờ mà đi bắt đom đóm thì chắc tôi chết. Nhưng cô bảo đi là tôi đi. Tôi mặc thêm chiếc áo blu-dông của do cậu Rọt cho. Cô kéo tay tôi, giọng vẫn thì thầm, hơi thở con gái phả vào mặt tôi. Nếu cô bảo tôi chết thì tôi cũng chết, tôi quen với thứ hơi thở ấm cúng thơm thơm mùi tóc và mùi da thịt con gái ấy lắm:
Leo qua lối nầy, đừng đi lối kia má biết. Có đèn pin đây rồi...
Tôi kiếm cây vợt.
Chiếc vợt bằng vải mùng do chị Hai khâu giùm dùng để bắt bướm. Hễ bươm bướm  mắc vô đó là sẽ bị bắt, cả đom đóm nữa.
-    Có, tui đem đủ rồi. 
Hai con chó Nhật làm biếng, ở trong nhà ấm không chịu ra ngoài, con chó bẹc-giê kèm sát bên tôi. Trời hơi lành lạnh, người tôi ơn ớn, đi đứng không vững. 
Quýnh làm sao vậy? Bịnh lắm hả?
Dạ không. 
Cố gắng lắm tôi mới ra được tới vườn, chỉ sợ đụng phải con chó thì sẽ té nhưng nó khôn, không làm vướng chân tôi. 
Mặt cỏ ướt nước. Các lá cây cũng ướt nước. Ánh sao mờ nhạt, hình như không có trăng. Đom đóm bay cao, thỉnh thoảng có những con bay thấp, và đôi khi ở những đám lá mục có những con cứ nằm nguyên một chỗ mà chớp sáng, chớp sáng theo nhịp đều đặn như những tín hiệu.
Nè  Quỳnh, cột sợi dây đồng nầy vô cái bóng đèn đăng tui xách cho tiện.
Cô trao cho tôi một cọng dây đồng nhỏ xíu, tôi dừng lại cột. Sợi dây bé tí teo, hai cái chấu trên chiếc đui đèn cũng nhỏ, khó cột. Tôi ngồi xuống, quỳ hai đầu gối trên cỏ, cắm cúi. Cứ hễ làm việc gì là tôi chú tâm hết vào đó. Cô cũng ngồi quỳ trước mặt tôi, xem tôi cột. Có con đom đóm bay qua thật cao, chớp nháy, chớp nháy. Cô ngửa mặt nhìn lên, khao khát:
Đom đóm xuống đây ăn cơm, ăn cá, ăn thịt...
Môi tôi trễ ra, định nói đom đóm thì nó đâu có ăn cơm, ăn cá, ăn thịt nhưng lại thôi. Tôi nể cô lắm, không muốn bắt bẻ cô. Tự nhiên cô ngồi xích tới, áp mặt vào mặt tôi, tóc cô chạm vào trán tôi che khuất cả mắt. Cô áp hai tay trên má tôi, kéo tôi lại gần rồi hôn lên trán tôi, lên má tôi, lên môi tôi. Môi cô mềm và ấm, hơi ướt nhưng rất ngọt ngào.
            -    Thích há, tụi mình cứ sống với nhau thế nầy suốt đời thì thích há! Sau nầy lớn lên, Quỳnh học giỏi rồi cưới tui nha?
Tôi khẽ gật. 
Thiệt không?
Thiệt.
Nhớ ngheng?
Nhớ.
Vậy thì hun tui đi, hổng được nói xạo ạ!...
Tôi ôm ngang qua người cô. Thân hình cô mềm mại, rất ấm và thơm mùi thơm con gái. 
Ui da, hun gì dữ vậy? Làm cái kẹp xiết vô lưng tui...
Tại cô bảo hun.
             -  Người ta biểu hun sơ sơ chớ bộ! Mà người Quỳnh cũng nóng quá đi, in hệt lò lửa...
Lại một con đom đóm bay qua, cô sửa lại mái tóc:
Thôi tụi mình đi bắt đom đóm đi.
Dạ.
            -    Vợ chồng thì nói ừa chớ hổng có nói dạ. Quỳnh thấy ba có dạ với má bao giờ đâu.
Đêm ấy chúng tôi bắt được nhiều đom đóm bỏ vô chiếc bóng đèn. Con chó đi trước, hai đứa theo sau:
-    Tui soi đường bằng cái nầy ngheng? Ủa, mà phải đóng nút nó lợi.
Cô trao cho tôi miếng vải mùng dùng để làm nút.
Mệt lắm hả? 
Tôi khẽ gật đầu, không trả lời. Cô đặt tay lên trán tôi:
-    Nóng quá chừng, tội nghiệp! Thôi, đi về.
Cả cái cửa lớn phía sau lẫn các cánh cửa sổ đều khép hờ, chứng tỏ bà bác sĩ đã biết chúng tôi đi bắt đom đóm. Cô rón rén bước, khe khẽ thì thầm:
-    Tui đi lối nầy, Quỳnh leo cửa sổ. 
Khốn khổ, sao cô cứ bắt tôi leo cửa sổ? Người tôi mệt rã rời và nóng hừng hực. Tôi trèo vào được trong phòng,  khép cửa, cởi chiếc áo blu-dông rồi nằm vật ra giường. 
Khoảng năm giờ sáng, khi có tiếng chuông Nhà thờ Thánh Giu-se đổ, mọi ngưởi đã dậy, tôi nghe có tiếng bà rầy:
-    Đó, thấy chưa, nó bịnh nặng hết dậy được rồi đó. Đã biểu đừng rủ nó đi bắt đom đóm mà hổng nghe lời. Vô coi nó ra làm sao lát kêu chị Hai cạo gió cho nó. 
Có tiếng khẽ dạ, và giọng bà bác sĩ nói tiếp:
Biểu anh Bếp nấu giùm nó tô cháo, bỏ nhiều hành vô đặng ra mồ hôi.
Dạ.
Có tiếng chân bước, rồi một bàn tay nhẹ nhàng đăt lên trán tôi, nghe ngóng. Tôi nằm nghiêng, nhắm mắt giả bộ ngủ. Cô ghé ngồi lên giường, khe khẽ thở dài:
-    Tội nghiệp, bịnh dữ quá, rên la suốt đêm.
Cô kéo mền đắp tới vai tôi rồi rón rén đi ra. Tôi có cảm tưởng cô giống như một người mẹ.
            -    Sao?
            -    Dạ, ngủ yên rồi má à.
  -    Đó, kêu nó đi bắt đom đóm nữa đi, nó chết cho bây coi. Nói chị Hai cạo gió giùm nó, lát cho nó uống thuốc.
-     Dạ, chỉ đang đâm gừng dưới bếp.
Chị Hai có lối đánh cảm là đâm gừng ra, đổ rượu vô, nấu sôi trên bếp. Sau khi cạo gió, chị dùng một miếng vải mùng tẩm thứ nước gừng và rượu nóng đó thoa lên mặt, lên lưng và ngực, hai lòng bàn tay, hai bàn chân người bịnh rồi bắt trùm kín mền cho ra mồ hôi, đỡ lắm. 
          -   Nè, cô coi, hai bên lưng bầm hết trơn, vậy là cảm nặng lắm. 
          Chị dùng đồng hào bằng bạc cạo cạo và bắt gió hai bên thái dương tôi.
              -     Đau không Quỳnh?
              -    Dạ, khá đau.
     -   Chị cạo nhẹ nhẹ tay. Ý, đừng có bắt gió trên trán, mơi mốt nó bầm lợi coi kỳ cục lắm!
     -   Dạ, em biết mà cô. Em bắt khéo hổng có bầm.
Chị Hai tuy lớn nhưng vẫn xưng em với cô Út. Xong, chị trùm chiếc áo tôi đang mặc, đắp mền cho tôi rồi thu dọn các thứ, đi ra. Cô Út đem thuốc vô:
   -    Nè, dậy uống thuốc đi Quỳnh.
Cô bưng nửa ly nước lọc, giục tôi dậy uống. Tôi hơi e ngại. Mình là cái thứ tôi tớ sống nhờ trong nhà người ta mà để cho vị tiểu thư cành vàng lá ngọc con nhà người ta phải hầu. Hơn nữa nếu ngồi dậy...tôi đang ở trần. 
-     Dạ, cô làm ơn để đó lát tôi uống. 
-     Không, dậy uống ngay đi, má mới rầy tui.
Có lẽ cô nhớ tới những chuyện trong vườn hồi đêm, mặt hơi ửng hồng:
-    Tui nói điều gì thì hổng bao giờ quên đâu. Lỗi tại tui rủ Quỳnh...
-     Dạ không...
-     Vậy thì uống thuốc đi kẻo bà rầy.
Uống xong tôi nằm trằn trọc. Cửa đã đóng lại thêm cháo của bác Ba đem lên  nữa. Cháo nóng, bỏ nhiều hành, ăn vào muốn toát mồ hôi. Tôi mơ thấy tôi đang nằm trên lò lửa, nước sông dâng cao và sôi sùng sục, cô Mari biến thành pho tượng...”Cô, cô...”, tôi chạy theo, tôi khóc.
-     Tội nghiệp, ban ngày mà cũng mớ kêu cô.
Hình như có người đứng bên cạnh giường. Hình như có bàn tay con gái mát rượi đặt lên trán tôi và tiếng cô khe khẽ thở dài.
Tôi trở mình nằm quay mặt vào phía trong. Trời hầm muốn chết. Mồ hôi nhễ nhại và dính nham nháp. Tôi nóng tới độ hất chiếc áo ướt đẫm mồ hôi từ trong tiềm thức, đạp tung chiếc mền xuống chân cho mát. Cả một biển ruộng ngô rì rào, hoa ngô lắc lư, đong đưa theo gió. “Ông già” giống như cậu Rọt giương cung bắn hai đứa chúng tôi, trúng mạng mỡ cô, cô lăn ra chết. “Cô ơi!...”.
   -     Khổ, cứ mê sảng thế nầy thì chịu sao nổi!...
Hình như cô ngồi sụp xuống bên cạnh giường. Hình như cô khóc. Đã chết sao còn khóc được?
         -      Thôi, cái nầy làm tội Quỳnh tui trả cho Quỳnh...
Cô trả pho tượng. Hình như cô kéo mền đắp cho tôi rồi cô đi.  Pho tượng quỳ hai chân trên đầu gối bên bờ sông, ngửa mặt ra phía đằng sau đưa tay vuốt tóc, miệng cắn chiếc kẹp: “Sau nầy học giỏi Quỳnh cưới tui nha...”. Đám cưới rất lớn, giết ba con chó Nhật, hàng chục con chó bẹc-giê...
Không biết tôi ngủ thiếp đi bao lâu, lúc trằn mình nằm lại tôi nghe cái “rốp”, những tiếng rào rạo đau xé dưới lưng. Tôi nằm xích sang chỗ khác. Ôi chao, hình như có hàng ngàn hàng vạn mảnh thủy tinh vỡ đâm vào lưng tôi. Tự nhiên tôi sực tỉnh, vội vàng ngồi dậy, quờ tay ra phía sau lưng. Các đầu ngón tay tôi đau nhói, chính chúng cũng bị các mảnh thủy tinh vỡ đâm chảy máu. Tôi ngạc nhiên không hiểu chuyện gì. Sau, nhìn thấy chiếc đui đèn bằng đồng lởm chởm những mảnh thủy tinh nằm lăn long lóc trên giừờng  cùng với xác của những con đom đóm có lẽ đã chết từ  ban đêm, dính máu, tôi bỗng lạnh mình: thì ra cô Út ân hận về việc rủ tôi đi bắt đom đóm nên đem cái bóng điện ấy  đặt dưới lưng tôi, “đền bù” cho tôi!
Toàn thân tôi nổi gái ốc, toát mồ hôi lạnh. Máu từ trên lưng chảy xuống ướt đẫm thấm cả xuống chiếc quần pyjama, chảy thành dòng khiến tôi điếng người. Biết làm thế nào bây giờ? Những mảnh thủy tinh đâm ngập trong da thịt, tôi không nhìn thấy thì làm sao rút ra được? Lại còn những mảnh nhỏ li ti, bén nhọn...Mà chính các đầu ngón tay tôi cũng bị đứt nữa. Máu chảy xuống chiếu. Đau thì tôi chịu được nhưng sợ bà chủ biết. Tôi ứa nước mắt, không biết phải tính cách nào.
Giữa lúc đó cô Út mở cửa đi vô. Trông thấy cái lưng tôi, cô trợn tròn mắt, bưng miệng kêu rú lên nho nhỏ: “Trời đất ơi, làm sao thế nầy?”. Tôi im lặng, lòng tôi xót xa, đau đớn. Cô bước tới. Nhìn thấy chiếc đui đèn lởm chởm và những mảnh thủy tinh bê bết máu, tự nhiên cô chợt hiểu. Cô run rẩy, quỳ phục xuống cạnh  giường:
Trời đất ơi, Quỳnh ơi tôi giết Quỳnh rồi!...
Không sao đâu, cô đừng có la, la lớn bà biết bà rầy...
      Làm thế nào bây giờ? Tôi rút miểng ra cho Quỳnh ngheng? 
          -      Không được đâu, cô xuống nói nhỏ kêu giùm chị Hai. Nhớ khép cửa lại kẻo bà thấy. 
Chị Hai đi chợ...
Tôi thất vọng:
Bác ba cũng được. Nói bác giữ thiệt kín...
Được. 
Cô len lén đi ra, quay lại khép cửa. Lát sau, người vô lại chính là chị Hai. Chị đã đi chợ về. Trông thấy cái lưng tôi chị cũng hết hồn:
Làm sao thế nầy? 
          -    Dạ, em nằm đè phải cái bóng điện. Chị lấy miểng thủy tinh ra giùm em.
Giọng tôi thì thầm, chị Hai biết là cần giữ kín nên bí mật xuống nhà pha nước ấm vào chiếc chậu rửa mặt, đưa lên qua chỗ cửa sổ, cô Út ở bên trong đỡ vô. Chị đặt chậu nức lên giuờng, pha thuốc tím, nhúng bông gòn lau máu và rút các miểng. Ôi chao, đau thấu da thịt. Môi tôi cắn chặt, đau chảy nước mắt. Cô Út quay mặt đi không dám nhìn.
-    Còn ít miểng nhỏ chút xíu chung tuốt vô bên trong không lấy ra được, cô kiếm giùm em cái kẹp hay cái nhíp gì đó thì mới lấy nổi.
Máu tiếp tục chảy. Chậu nước pha thuốc tím nổi bọt do nắm bông gòn luôn luôn nhúng vô, đỏ lòm màu máu thay vì màu thuốc tím. 
Không hểu cô Út kiếm đâu được chiếc pince đem vô.
Đã cần thay nước chưa chị?
          -  Dạ khỏi, lát em lau lợi nước di-ốt cầm máu rồi thoa bôm-mát. Cô làm ơn xuống nói nhỏ với anh Ba chạy đi mua giùm một cuồn băng-gạc loại dài cái hộp thiệt bự, một lọ bút-đờ-sulfa, thứ bột, nắp hộp có các lỗ nhỏ dùng để rắc vô vết thương...Cô nhớ nói ảnh đi xe máy, đem theo cái túi đệm em vẫn đi chợ, bỏ vô trỏng kẻo bà thấy.
Dạ được.
Máu tôi rất lành, hàng ngày cứ thế chị Hai lau phiso-Hex, rắc poudre de sulfa, quấn băng cho tôi, dần dần tôi khỏi, bà bác sĩ không biết gì hết. Chỉ những đêm đầu tiên là tôi đau không ngủ được, nhức lắm, hễ trở mình là các lớp băng bị đụng chạm, phải luôn luôn nằm nghiêng qua một bên, không dám động đậy. Cô Út có vẻ buồn, thường thường im lặng, ít ra vô trong phòng tôi. Tôi khỏi, cô mừng, dần dần lại vui vẻ như cũ.
-  Mau quá há, quay tới quay lui sắp hết hè rồi. Hết hè tui lợi phải lên trển ở trong nội trú. 
Một hôm, ông bà bác sĩ đi vắng, hình như xuống thăm các bệnh viện quận rồi dự tiệc tùng, buổi trưa không về. Cô Út xuống bếp ăn cơm với tôi. Tôi đứng, cô cũng đứng, cô ăn có hai lưng chén trong khi tôi ăn tới ba bốn chén.
-   Vui há, ăn cơm dưới bếp coi bộ lợi vui hơn ở trển với ba má. Sau nầy...
Nói xong hai tiếng “sau nầy” tự nhiên cô đỏ mặt, bỏ lửng không nói thêm nữa. Buổi chiều, cỡ lúc hai giờ, cô đưa mắt nhìn đồng hồ:
-     Bữa nay ba má mắc đi công chuyện, phải chi tụi mình ra sông tắm như bữa hổm thì thích há Quỳnh?
-   Không dám đâu cô. Cô không xin phép sợ về bà rầy.
        -  Hổng có, má nói cỡ năm hay sáu giờ chiều mới về tới nhà. Tại xong công chuyện ba má còn ghé Bến Cát thăm  dì dượng.
Tôi im lặng. Cứ nói tới tắm sông tôi lại nhớ tới hình ảnh trời mưa xối xả, cô ngồi quỳ trên bờ, ngửa mặt lên trời đón những giọt nước mưa, đưa hai tay lên vuốt mái tóc ướt.
Cô cũng im lặng. Lát sau, cô cúi mặt, vẻ tâm sự:
-     Tui...tui có lỗi với Quỳnh nhiều lắm, làm Quỳnh đau muốn chết bây giờ vẫn còn các thẹo trên lưng. Quỳnh thích điều chi cứ cho tôi biết...
-      Dạ không, việc đó đâu đáng để ý. Tôi chẳng thích cái gì cả.
Chỉ thích học?
Dạ, cũng không nữa. Nhà nghèo thì phải ráng học vậy thôi.  
-     Vậy Quỳnh thích điều chi, thử nói nghe coi?
Cô lục vấn mãi, cuối cùng tôi phải nói thật rằng tôi...tôi thích hình ảnh ở bên bờ sông bữa trời mưa và việc ở ngoài vườn lúc cô ngồi xích lại gần tôi, coi tôi cột sợi dây đồng.
Cô đỏ mặt mắc cở:
Trời đất ơi, bị đau như vậy mà chưa ngán sao? Tui tưởng Quỳnh ghét tui.
Dạ không, tui không ghét cô. 
Tôi bắt chước xưng “tui” theo lối nói của cô. Cô bật cười:
- Chuyện ở ngoài vườn...Còn chuyện bên bờ sông bữa hôm trời mưa thì tui chìu ý Quỳnh đâu có gì khó.
Cô đứng dậy đi vào trong phòng, lát sau đem ra một chiếc áo tắm – chiếc áo lập thể nửa đen nửa đỏ vắt chéo trên ngực cô mặc bữa đi tắm sông. 
-   Hổng có mưa tui mần ra mưa. Tui để hờ cửa, lát tui bận đồ tắm xong Quỳnh thử  vô coi, trông giống y hệt bữa hổm! 
Ở trong phòng tắm, cô tháo chiếc kẹp tóc, mở vòi hoa sen nước. Những tia nước từ bên trên toá ra như trời mưa. Cô ngửa mặt lên hứng nước. Tóc cô ướt, người cô ướt. Cô ngồi quỳ chân trên hai đầu gối, đưa hai tay ra phía đằng sau vuốt tóc, vuốt mặt. Rồi cô từ từ cởi mấy chiếc nút áo tắm trên vai, kéo xuống. Ngực cô nhu nhú. Thân hình cô giống như pho tượng khỏa thân… 
                                                       

-     Thưa bà, câu chuyện của tôi chỉ có thế thôi. Nó không phải là một mối tình lớn như lời bà nói nhưng tôi nhớ nàng suốt đời.
Người nữ hoạ sĩ ngồi bất động, nhíu mày, cắn môi cố nén tiếng thở dài:
-   Rồi sau sao ông trở thành kỹ sư?
-  Anh tôi làm thư ký hộ tịch trong quận cho tôi biết là anh đang xin chuyển về Sài Gòn. Anh dự định nếu được đổi, kiếm được chỗ ở anh sẽ đón mẹ và em gái tôi lên đấy, còn tôi thì cứ ở nhờ ông bà bác sĩ  ở Thủ Dầu Một, thi xong Trung học sẽ lên Sài Gòn. May sao, cuối năm tôi học Đệ Lục, anh tôi thuê được nhà, tôi lên Sài Gòn. Một điều may mắn lạ lùng khác là sau khi đậu xong Tú tài phần II, tôi thi đậu đầu vào ngành kỹ sư công nghệ Phú Thọ. Tây Đức cho ba học bổng với điều kiện là phải biết tiếng Đức và một trong hai ngoại ngữ,  tiếng Anh hoặc tiếng Pháp. Tôi biết tiếng Đức, vậy là tôi được ưu tiên. Trước khi đi tôi có xuống tỉnh nhưng ông bà bác sĩ  đã đi từ lâu, hình như sang Pháp, nghe nói cô Mari đã lấy chồng.
Sao ông không liên lạc từ trước?
          -  Bà thử nghĩ coi, tôi là một học sinh nghèo, trong tay chưa có gì cả. Lương bổng của anh tôi đâu có bao nhiêu, mẹ và em gái tôi phải buôn thúng bán bưng ngoài chợ rất cực khổ. Mãi tới lúc sắp được đi Tây Đức tôi mới dám xuống tìm cô, hẹn ngày gặp lại nhưng không được gặp.   
Rồi sau đó?
          -   Mười năm sau tôi trở về nước. Lúc ấy tôi đã đậu tiến sĩ khoa học. Cô vẫn biệt tăm, hình như cô ở bên Pháp. 
-   Ông không sang Pháp?
-   Có, tôi đã sang nhiều lần dự các hội nghị khoa học. Nước Pháp không phải là nhỏ mặc dầu tôi đã để tâm tìm kiếm. Tôi mong gặp cô.
-   Gặp để làm gì?
-  Chính tôi cũng không biết nữa. Tôi tha thiết mong được nhìn thấy cô một lần, được nói với cô rằng tôi đã làm hết sức mình như lời cô hẹn trong vườn ngày nào. Tôi luôn luôn gặp may mắn, không phụ công ơn giúp đỡ của ông bà bác sĩ nhưng không biết làm thế nào hơn.
-   Hiện nay gia đình ông ra sao?
-   Tôi giảng dạy tại trường Kỹ sư Phú Thọ, không nghĩ tới việc lấy vợ. Đầu óc tôi chỉ có vấn đề làm việc và linh hồn tôi vẫn vất vưởng, nghĩ tới hình ảnh của một pho tượng. Tính tôi vẫn thế, nửa như nghệ sĩ, nửa như một người thực tế. Chỉ đáng tiếc một điều là tôi...tôi đã quên gương mặt của cô, không nhớ một chút nào cả. Tôi xin lỗi, hình như...hình như trông cô hơi nhang nhác giống bà, đại khái như vậy.
Người nữ họa sĩ bật cười:
-  Ông quá khen. Thôi được, tôi sẽ tìm cách vẽ cho ông một bức tượng thiệt đẹp. Đêm nay tôi vẽ, ghi sẵn thước tấc đàng hoàng, cũng bằng giờ nầy ngày mai mời ông tới lấy.
          -  Ngày mai? Có thể sớm vậy được sao? Còn dáng điệu, cử chỉ, gương mặt...Xin bà nhớ giùm rằng...nàng rất đẹp. 
Họa sĩ cười:
 Tất nhiên, không đẹp thì làm sao một người như ông, bị những miếng miểng thủy tinh đâm nát lưng mà vẫn nhớ mãi, suốt đời không quên. Tôi đoán rằng lúc ấy nàng vào khoảng mười lăm hay mười sáu tuổi.
Vâng vâng, bà cứ cho là mười sáu tuổi đi. Thân hình nàng đầy đặn, ngực vừa nhu nhú...
Trời ơi, ông cứ nhắc tới bộ ngực đó hoài! Phải chi tôi vẽ được cả những cái hôn thơ dại, ngốc nghếch trong khu vườn nữa!
 Tôi xin gửi tiền...
 Không, tôi không lấy tiền. Bao giờ ông làm xong, thiệt vừa ý tui mới lấy tiền. Lúc đó tui sẽ lấy thiệt mắc cho ông chết luôn.
          Người khách cũng cười : 
        -     Không chết đâu bà. Tôi sẵn sàng đánh đổi cả cuộc đời tôi cho những gì mà tôi mong muốn. 
Hôm sau chàng trở lại. Coi bức tranh, chàng ngạc nhiên kêu lên: : 
        -    Trời ơi...
          -   Sao, vừa ý ông không? 
   Kinh khủng thật, giống hệt như nàng! Tại sao bà  giỏi đến thế, chỉ tưởng tượng mà vẽ ra được? Bà làm tôi nhớ lại gương mặt và thân hình nàng... 
  Tại ông nói giống tôi nên tôi vẽ giống tôi hồi còn con gái.  Ông đem về đi, bao giờ xong mang tới đây cho tôi coi.
                                                               
 . 
        Ba tháng sau chàng trở lại, hãnh diện đặt pho tượng lên bàn. Đến lượt họa sĩ ngạc nhiên:
       -   Ông... 
Tôi không cần phải tạc bằng đất sét trước. Tôi nhớ rõ từng đường nét như bà đã vẽ.
     -  Nhưng ông làm cách nào tạo nên được các mặt phẳng? Việc đó rất khó và đòi hỏi một thời gian lâu dài trong nghề.
             - Tôi nghĩ ra một chiếc máy giống như chiếc Dremel của Mỹ với tốc độ cao nhưng sức mạnh hơn. Sự thực không phải tôi chế tạo mà là biến đổi từ chiếc khoan điện ra, máy chạy băng băng không bị trục trặc như chiếc Dremel. Tại tôi bận nhiều công việc, chỉ làm trong lúc nghỉ ngơi chứ nếu không sẽ hoàn tất trong vòng một tháng.
           -   Ông vẫn còn đầu óc trông nom công việc?
           -  Vâng, con người tôi là như thế, một nửa dành cho công việc, một nửa nhớ tới các kỷ niệm cũ. 
  Mời ông dùng nước!
Vâng, không dám, mời bà. Tôi nghĩ ra rồi. Đây là loại trà ngày trước bà bác sĩ vẫn thường dùng để mời khách. Bỏ tất cả các loại trà ngon vô, hương sen, hương sói, hương lài, đủ cả, rất kỳ lạ. Bà bác sĩ cũng hay mặc áo lụa như bà và... và cô Mari. Xin lỗi, vậy bà... bà là ai?
  Tôi là một họa sĩ  bình thường như mọi họa sĩ khác. Ông rất minh mẫn nhưng có những điều ông không biết đâu... 
          -  Ví dụ? 
  Ví dụ Mari hay Maria là tên thánh, cùng tên với Đức Mẹ, không phải quốc tịch Pháp. Cả các tên George, Paul, Henri cũng vậy, gọi theo thói quen của các gia đình giàu có tại miền Nam lúc ấy. Cô Mari là một nữ sinh bình thường, không giỏi gì cả, chỉ riêng xuất sắc về môn hội họa...
          -  Tôi chưa từng thấy cô vẽ bao giờ! 
  Cô không theo học các lớp hội họa nên không biết vẽ bằng giá. Hơn nữa hai đứa trẻ cứ quấn quýt với nhau trong ngôi biệt thự, làm gì cô có thì giờ để vẽ? Đậu xong Bac II, cô lấy chồng rồi theo gia đình sang Pháp. Người chồng mắc tật ghiền rượu, họ không yêu nhau, có với nhau một đứa con gái, sau đó người chồng trong cơn say rượu bị đụng xe chết. Nay đứa con đã lớn, đã lập gia đình, ở lại bên Pháp với ông bà ngoại. Cô  theo học ngành hội họa tại Pháp lúc còn trẻ tuổi rồi trở thành một họa sĩ tương đối được mọi người biết tiếng. It lâu sau cô trở về quê hương sống trong ngôi biệt thự của cha mẹ ở Sài Gòn. Đó là ngôi nhà này... 
         -    Bà...
   Tất cả các hình ảnh hồi nhỏ tôi giữ trong cuốn album nầy, ông đem về đi. Ở trỏng có cả một nhúm bông thấm máu nữa, ông đem về, pho tượng cứ để lại đây, tôi giữ, bao giờ tiện thì sẽ đến lấy.  Ông về, tự động mở cổng như nhà của mình, tôi không cần tiễn.
 Không, tôi không về. Chúng ta đã đi quá nửa đường trần mà không gặp nhau, lúc gặp thì gặp dễ thế. Tôi không về, đừng bỏ tôi lần nữa tội nghiệp! 
         Họa sĩ bật cười:
   Lại lì, y hệt hồi đó! Hổng ai bỏ đâu, cứ yên tâm về đi, lúc khác trở lại.
          -   Được, tôi về.
  Chàng đi, tay cầm theo tập album. Ra tới cổng, tự nhiên chàng nhìn lại. Người thiếu phụ đứng bên pho tượng, áp mặt vào mái tóc pho tượng, đưa mắt thân thiết ngó theo. Nàng với pho tượng là một mặc dầu thời gian đã phôi pha. Nàng vẫn mặc chiếc áo lụa màu nguyệt bạch như tự thuở nào.






BỎ QUA ĐI TÁM!


 

Người Sài Gòn thuở xưa (kéo dài cho tới trước năm 1975) ưa nói câu "bỏ qua đi Tám". Sao không nói "bỏ qua đi Hai / Năm / Chín...", một thứ tự nào đó bất kỳ, mà phải là "Tám"?

Đưa lên fb về một cách diễn giải, đọc cho biết .

Cre: THANH CHƯƠNG Mt

Người Sài Gòn định danh cho nghề nghiệp, chức vị trong xã hội bằng thứ bậc, dính chặt vô thứ bậc luôn, rất ngộ nghĩnh.

* HAI: để chỉ dân có học, làm việc trong các công sở. Tỉ dụ "thầy Hai thơ ký", "thầy Hai thông ngôn"...

* BA: để chỉ giới thương gia người Hoa, tạo thành một thế lực dễ nể. Nghe gọi "chú Ba", biết ngay đó là người Hoa

* TƯ: tức các đại ca trong giới giang hồ, tuy kiếm sống bằng nghề đâm chém nhưng cũng có "đạo nghĩa" chớ không tạp nhạp, thiếu nghĩa khí như các băng nhóm "trẻ trâu" bây giờ. Người Sài Gòn gọi là "anh Tư dao búa", giới bình dân và kể cả một số tiểu thơ khuê các coi bộ cũng thiện cảm với các "anh Tư"

* NĂM: để chỉ giới lưu manh móc túi, cò mồi mại dâm..., gọi bằng "anh Năm đá cá lăn dưa"

* SÁU: để gọi giới cảnh sát, người Sài Gòn nói "thầy Sáu phú lít", "thầy Sáu mã tà"

* BẢY: khi cần vay vốn làm ăn thì gặp các "anh Bảy Chà và", hồi xưa người Ấn Độ qua Sài Gòn, họ thường buôn bán vải và nhứt là làm nghề kinh doanh tín dụng (cho vay)

* TÁM: đây là thành phần đông đảo nhứt trong xã hội, làm đủ thứ nghề thuộc về lao động chân tay (bốc vác, gánh nước, phu xe...), tức giới bình dân.

* CHÍN: dùng chỉ giới chị em kinh doanh "vốn tự có", gọi bằng "chị Chín Bình khang".

(Trên đây có hai thứ bậc được gọi bằng "thầy": "thầy Hai", "thầy Sáu phú lít". Làm nghề cảnh sát, người Sài Gòn tuy gọi "thầy" nhưng xếp dưới cả dân đâm thuê chém mướn là "anh Tư dao búa", "anh Năm đá cá lăn dưa")

* Trở lại với thành ngữ "Bỏ qua đi Tám":

Thứ bậc "Tám" thuộc về giới bình dân, họ không ăn trắng mặc trơn như "thầy Hai", giàu có như "chú Ba", "anh Bảy Chà và", bặm trợn như "anh Tư dao búa" hay "anh Năm đá cá lăn dưa", thành thử họ yếu thế hơn. Mỗi khi đụng chuyện chẳng lành, họ ưa khuyên nhau đừng để ý tới làm gì cho nhức đầu: "Bỏ qua đi Tám"!

Riết rồi, câu nói này cũng lan qua các thành phần xã hội khác, thay vì nói chữ nghĩa "dĩ hòa vi quý" để khuyên nhau, người Sài Gòn nói gọn bâng, "bỏ qua đi Tám", cho thấy cách sống hiếu hòa được chuộng hơn hết.

P/S : Quí bạn đọc stt trên, xin góp ý thêm; còn rủi chưa ưng bụng mà cũng không biết góp ý gì, vậy thời... "bỏ qua đi Tám" nghen!

Nguồn: Trang Văn Chương Miền Nam

 


Hồi ức thời điêu linh… lò dầu hôi



Nguyễn Ngọc Chính

Xếp hàng mua dầu hôi đọc trên Facebook thấy có bạn viết về lò dầu hôi, một loại bếp “hiện đại” trong thời kỳ “điêu linh” mà chỉ những gia đình “khá giả” mới có thể sở hữu một cái trong nhà để nấu nướng.

Dĩ nhiên lò dầu hôi dùng dầu lửa để làm chất đốt trong thời kỳ bao cấp, thay cho củi hoặc than. Lý do để loại lò này xuất hiện vì nhà nước mở ra những “của hàng chất đốt” trong đó có bán dầu hôi cho dân theo “chế độ tem phiếu”.

Những nơi này còn có khi mang một cái tên rất ngộ nghĩnh: “Cửa hàng chất đốt thanh niên”. Không phải nơi đây bán những chất đốt cho thanh niên mua về để đốt cuộc đời minh, mà đó là nơi bán dầu hôi do thanh niên quản lý, đứng ra bán theo tem phiếu!

Tem phiếu mua chất đốtDầu hôi là một trong những mặt hàng do nhà nước quản lý nên mới xuất hiện một sản phẩm “ăn theo” là… lò dầu hôi. Những cơ sở nhỏ lẻ của dân bắt đầu nắm bắt cơ hội đứng ra chế các loại lò đốt bằng dầu hôi.

Lò dầu hôiKhi đi học tập về, tôi có thời gian đứng trông hàng cho một bà chị họ trong chợ Bình Tây ở tít trong Chợ Lớn. Cửa hàng của bà có bán lò và các “phụ tùng” cho bếp dầu hôi. Khi hết hàng, tôi chạy vào tổ sản xuất nhỏ lẻ của một “xì thẩu” người Hoa để lấy hàng về bán.
Đó là cơ duyên cho tôi gặp gỡ… lò dầu hôi. “Đầu óc kinh doanh” giúp tôi nảy sinh “kế hoạch” làm ăn trong thời buổi “gạo châu, củi quế”. Tôi tính toán, dân Sài Gòn được mua dầu hôi của nhà nước nên lò dầu hôi là một mặt hàng phải nói là “ăn khách”, “bán đắt như tôm tươi”.

Lò dầu hôi trong gia đìnhNghĩ là làm ngay. Tôi lên Cống Quỳnh mượn chiết xe đạp mini của một bà cô, chiếc xe đạp đã lâu không dùng đến. Từ Quận 1 tôi đạp xe vào “cơ sở sản xuất lò dầu hôi” của xì thẩu trong Chợ Lớn để lấy hàng. Rồi từ đó, chiếc xe đạp mini tỏa đi khắp các chợ lớn cũng như nhỏ ở Sài Gòn.
Bạn hàng của tôi là những chủ sạp trong chợ. Thay vì phải tự vào Chợ Lớn lấy hàng, nay có một cậu thư sinh đến giao hàng nên bà nào cũng vui, tuy “tiền công chuyên chở” hơi đắt một chút nhưng được cái tiện lợi đủ bề.
Mặt hàng tôi mua của “xì thẩu” có đủ các thứ liên quan đến lò dầu hôi. Quan trọng nhất là “họng lò”, được coi như “trái tim” với nút điều chỉnh ngọn lửa. Giữa lò là một ống hình trụ và có thêm một ống có đục lỗ thoáng khí vây quanh để giữ ngọn lửa bốc lên theo chiều thắng đứng.
Ngoài ra còn có tim đèn (bấc) để hút dầu với cấu trúc tương tự như các loại đèn dầu thường thấy trong thời kỳ còn thắp đèn dầu từ thời… “Chị Dậu”. Loại bếp phổ biến có 12 tim, những người cẩn thận còn kiểm tra tim trước khi nấu.

Họng lò và tim lòKhi tim bếp có ngọn lửa màu xanh là bếp trong tình trạng hoàn hảo nhưng lửa màu đỏ là dấu hiệu tim bếp có vấn đề. Lúc đó phải cắt tim cho đều hoặc thay bộ tim bếp mới. Đó là lúc các bà nội trợ tìm đến những sạp bán đồ phụ tùng lò dầu hôi trong chợ và “nuôi sống” anh chàng bỏ mối!

Đó cũng là những “đồ phụ tùng” cần thiết, là những mặt hàng tôi chuyên chở đến những sạp trong chợ, từ những chợ lớn như Bến Thành, Tân Định, Bà Chiểu cho đến những sạp nhỏ trong những chợ… không tên!

Các bà chủ sạp rất “thông cảm” với anh bỏ mối khi tôi thú thật “không thể cho gối đầu”, có nghĩa là “tiền trao, cháo múc”. Các bà vui vẻ trả tiền ngay khi nhận hàng, không như những mối hàng chuyên nghiệp khác, họ thường có “chế độ gối đầu”.

Cũng có bà hiểu anh chàng này vừa từ trại cải tạo trở về, vốn liếng chẳng có bao nhiêu nên lấy hàng là một hình thức “làm phúc”, giúp đỡ người vừa được… đổi đời. Tình người Sài Gòn là vậy!

Với chiếc xe đạp mini và những đồ phụ tùng bếp lò được xâu thành chuỗi phía sau, tôi đã “ngao du” khắp các chợ ở Sài Gòn. Chợt nhớ đến câu thơ của thi sĩ “điên” có tên Bùi Giáng:
“Sài Gòn, Chợ Lớn ngao duĐi lên, đi xuống đã đời… du côn!”

Một chiếc lò cũQuả là một kinh nghiệm hiếm có khi được thâm nhập vào cái xã hội buôn bán nhỏ lẻ của “Hòn Ngọc Viễn Đông” khi miền Nam thất thủ.

Bây giờ ngồi viết lại chuyện xưa mà vẫn còn nghe đâu đây văng vẳng tiếng những đồ phụ tùng bếp lò rổn rảng phía sau lưng chiếc xe đạp mini.
Ôi, một thời… “điêu linh”!

--



THƠ PLEIME


Inline image

THƠ PLEIME
Thiếu úy Nhảy Dù Lê Anh Thái tử trận khi tái chiếm cổ thành Quảng Trị 1972. Khi được đơn vị giao hoàn xác con, người cha là thi sĩ Anh Tuyến đã tìm thấy một lá thư viết gởi bạn chưa kịp gởi trong những di vật còn lại của con. Ông phổ lá thư đó thành bài thơ sau đây tựa đề là THƠ PLEIME vì thiếu úy Lê Anh Thái đã viết từ lúc đơn vị còn ở Pleime cho đến khi chuyển quân đến Quảng Trị vẫn chưa kịp gởi.
Thiếu uý Lê Anh Thái đã đền nợ nước khi mới tròn 24 tuổi, và có một đứa con mới chào đời 2 tháng đã mồ côi cha.
Thư Pleime
Tao được thơ mày cả tháng nay
Hành quân liên tiếp suốt đêm ngày
Lưng không rời giáp, tay rời súng
Liên lạc thì không có máy bay
Tao vẫn luôn luôn nhớ tụi mày
Nhớ Sài Gòn đẹp nắng vàng hây
Nhớ đường Lê Lợi ngập hoa nắng
Nhớ ngõ Tam Ða tà áo bay
Pleime suốt tháng mưa dầm dề
Mày ơi, thèm quá khói cà phê
Thèm tô phở tái thơm chanh ớt
Thèm rót bọt đầy một cốc bia
Xi Nê mày vẫn xem phim chưởng?
Băng nhựa còn thu nhạc Khánh Ly?
Những chiều thứ bảy còn đi nhót?
Hay lén ông già nhậu whisky?
Năm nay mày có lên đại học?
Hay thôi, xếp sách nhập quân trường?
Mày tính vào Dù hay Lục Chiến?
Tao chờ mày nhé, ải biên cương
Hôm qua thằng Tiến dẫn quân ngang
Giữa rừng gặp bạn mừng hơn vàng
Ôm nhau, hai đứa cười ha hả
Râu tóc bù xù như cái bang
Mày nghĩ, đã lâu không được tắm
Hành quân liên tiếp giữa rừng già
Ăn thì gạo sấy nhai qua bữa
Tối ngủ nằm sương lạnh cắt da
Hôm qua địch pháo giữa ban ngày
Tao bị thương xoàng ở bả vai
Mảnh đạn còn ghim trong thớ thịt
(Mày đừng có nói mẹ tao hay)
Mẹ tao không biết giờ ra sao?
Còn khóc đêm trường để nhớ tao?
Còn giận tao là thằng bất hiếu
Xem tình cha mẹ như chiêm bao
Mẹ tao chỉ muốn tao quanh quẩn
Lính kiểng châu thành, lính phất phơ
Mày nghĩ, tụi mình như cánh gió
Ai đi nhốt gió được bao giờ?
Những đêm biên cảnh sống xa nhà
Cũng thấy đôi lần nhớ xót xa
Cũng có đôi lần tao muốn khóc
Muốn về thăm mẹ, thế nhưng mà...
Thôi nhé, thư sau tao viết tiếp
Trực thăng đã đáp trong vòng đai
Tản thương lính đã đưa lên đủ
Tao viết thơ này vội gởi ngay
<>
t/g Anh Tuyến
Hình: Thiếu Úy Lê Anh Thái tại quân trường.







Nước Ý xây dựng đường cao tốc sạc cho xe điện đầu tiên trên thế giới


Nhiều thách thức sẽ cần phải vượt qua nếu chúng ta muốn "dịch chuyển" hoàn toàn các tài xế trên khắp thế giới chuyển sang sử dụng xe điện.

Một trong những thách thức lớn nhất trong việc phổ biến xe điện là xây dựng cơ sở hạ tầng các hệ thống sạc cho loại phương tiện này. Các trạm sạc sẽ phải được bố trí đầy đủ để hỗ trợ tất cả những ai sử dụng xe điện và cũng để tăng tốc độ sạc, vì hiện tại để sạc đầy cho một số dòng xe điện sẽ phải mất đến hàng giờ đồng hồ.

Các trạm sạc sẽ phải được bố trí đầy đủ để hỗ trợ tất cả những ai sử dụng xe điện.
Các trạm sạc sẽ phải được bố trí đầy đủ để hỗ trợ tất cả những ai sử dụng xe điện.

Dẫu vậy, nhiều nhà sản xuất ô tô và các nhà nghiên cứu đã nhìn thấy được tiềm năng tương lai trong việc sử dụng tuyến đường cao tốc chuyên dụng để sạc điệncho những chiếc EV ngay cả khi chúng đang di chuyển. Mặc dù nghe có vẻ giống như khoa học viễn tưởng, nhưng nước Ý đã chuẩn bị những bước đầu tiên cho ý tưởng cao tốc này.

Theo đó, con đường sẽ được triển khai trên tuyến giao thông ở miền bắc nước Ý. Hệ thống được phát triển bởi một công ty đến từ Israel có tên ElectReon Wireless. Công nghệ mà ElectReon Wireless phát triển cho phép sạc pin khi phương tiện di chuyển dọc theo đoạn cao tốc, thiết kế đặc biệt với thiết bị điện khí hóa được tích hợp vào bên trong.

Thử nghiệm đầu tiên của hệ thống đang diễn ra ở Ý trên một đoạn đường cao tốc dài 1km chạy giữa Milan và Brescia. ElectReon đang xây dựng cơ sở hạ tầng cho đoạn đường cao tốc bằng cách lắp đặt các cuộn dây đồng nằm ẩn bên dưới lớp nhựa đường.

Lắp đặt các cuộn dây đồng nằm ẩn bên dưới lớp nhựa đường.
Lắp đặt các cuộn dây đồng nằm ẩn bên dưới lớp nhựa đường.

Năng lượng từ các cuộn dây đồng sẽ được truyền tải không dây đến cục pin trong xe bằng cách sử dụng cảm ứng từ trường. Hệ thống sạc của thiết kế sẽ yêu cầu bộ phận điều khiển được bố trí dọc bên vệ đường cao tốc và bộ thu được lắp trong khung của mỗi chiếc xe tham gia thử nghiệm. Nếu thử nghiệm thành công, thì chúng ta sẽ không còn cần đến nhiều trạm sạc điện như hiện tại.

Nếu tất cả đường lộ giao thông chính được trang bị công nghệ này, thì trong tương lai những chiếc xe điện sẽ không phải dừng lại để sạc nữa. Ý tưởng về cao tốc điện khí hóa cũng có thể loại bỏ một điểm nghẽn lớn đối với việc áp dụng và phổ biến rộng rãi xe điện trên toàn thế giới.
--



DẠY CON DÂU

(Thơ vui xả stress)


 . Mi hành chồng ít thôi con.
Đợt này thấy nó gầy còm ,xanh xao.
Gầy nhom đôi má hóp vào,
Còn mi chỗ ấy phổng phao lạ thường??.


 . Tuy rằng ảnh ốm dơ xương.
Thế nhưng cái khoản chiếu giường rất hăng.
Dâu , Trai , má phải công bằng.
Tạo sao má cứ khăng khăng , con hành.


 . Mấy đêm tao thức tao canh.
Tao nghe rõ tiếng , phành phành ,suốt đêm.
Toàn là tiếng của mày rên.
Miệng còn ú ớ ,mạnh lên ,anh à .
Làm tao bứt rứt bỏ cha..
Suốt đêm nằm nhớ tới ba chồng mày.


 . Là con bị dính gân tay.
Nhờ anh nắn hộ mấy ngày ,má ơi.
Mạnh lên ,là bóp tay thôi.
Chứ đâu bắt ảnh ,hạ tời ,giàn khoan..


 . Mày đừng ở đó kêu oan.
Vậy còn phành phạch ,râm ran , tiếng gì ???
Bảo mày hành nó bớt đi..
Bởi tao thấy nó còn bì ,với da.
Còn mi thì úi , chà ,,,chà,,.
Nhìn trông như cái bàn là liên xô.


 . Của con từ trước đã to.
Chứ đâu phải mới bây giờ mẫm đâu ??
Bởi do anh thích mỡ màu.
Thế nên mới cưới làm dâu má nè..


 Bảo mày mà chẳng chịu nghe..
Lại còn chu mỏ hằm hè ,với tao.
Bắt chồng cày xới lắm vào ..
Để giờ trông nó xanh xao gầy gò..


 . Chuyện này má khỏi phải lo.
Môt tuần con chỉ thụt thò , sáu đêm..
Tuần nào sức khỏe anh êm.
Tụi con cũng chỉ tăng thêm mấy lần..


 . Mày đang hành xác ép thân.
Thảo nào mà nó cứ đần mặt ra.
Mày không tiếc của con à .
Chồng bay chẳng mấy chắc là, đi tong..
 . Cũng như tao với Ba mày.
Giống mi giờ đó sài không giữ gìn.
Đêm ngày bắt ổng nạp bin.
Chỉ ham trước mắt không nhìn về sau.
 . Bốn mươi ổng đã cạn dầu.
Vài năm sau nữa về chầu tổ tiên.
Chồng bay tính nó khá hiền.
Mẹ qua trải nghiệm nên khuyên thế này.
 . Phải lo tẩm bổ chồng ngay.
Một tuần chỉ độ bốn ngày ái ân.
Phải lo sức khỏe ,tinh thần..
Kẻo sau này nó chẳng mần được đâu.
Những lời mẹ dạy con dâu.
Phải luôn ghi nhớ trong đầu ,biết chưa.







Trần Hoài Thư và Ngọc Yến, với con chim chằng nghịch và nỗi nhớ quê

Ngô Thế Vinh


Lời Dẫn Nhập: Trần Hoài Thư (THT) là một tên tuổi có trong danh sách các tác giả của Tuyển Tập Chân Dung VHNT & VH II, nhưng cũng để thấy rằng đây là một chân dung văn học rất khó viết, do đã có quá nhiều người viết về đủ mọi khía cạnh của THT. Hơn thế nữa cuộc đời và sự nghiệp của THT quá phong phú nên với một bài viết dù chỉ là phác thảo cũng vẫn là một thiếu sót. Gần đây, qua bao nhiêu biến cố dồn dập trong cuộc đời Trần Hoài Thư, đã đến lúc không thể không có một bài viết về người bạn văn, như một tấm thiệp mừng 50 năm ngày cưới – 50th Gold anniversary của đôi vợ chồng Nguyễn Ngọc Yến – Trần Hoài Thư, một “đám cưới nhà binh” của thế kỷ, với rất nhiều hạnh phúc cùng với nhiều khổ đau khi cả hai sắp bước vào tuổi 80. Cũng nhân đây, có một gợi ý với các bạn trẻ trong và ngoài nước đang chuẩn bị luận án tiến sĩ văn học, thì chân dung văn hoá của Trần Hoài Thư cùng với nỗ lực phục hồi Di Sản Văn Học Miền Nam 1954 – 1975 là một đề tài vô cùng phong phú và hấp dẫn, rất xứng đáng để các bạn khám phá và dấn thân vào. Các bạn cũng không còn nhiều thời gian – nói theo cách ví von của nhà văn trẻ Trần Vũ, chiếc kim đồng hồ trên tay anh Trần Hoài Thư đã chỉ 12 giờ kém 5 phút sắp qua nửa đêm và chỉ sau năm phút phù du đó, khi Trần Hoài Thư trở thành “người của trăm năm cũ”, tất cả sẽ bị lớp bụi thời gian mau chóng phủ mờ.

TIỂU SỬ TRẦN HOÀI THƯ

Trần Hoài Thư tên thật Trần Quí Sách, sinh ngày 16/12/1942 tại Đà Lạt. Tuổi thơ bị thất lạc cha, theo mẹ sống khổ cực ở thành phố Nha Trang, có một thời gian sống trong cô nhi viện Bethlehem Hòn Chồng. Sau khi được đoàn tụ với thân phụ – là một ông đồ còn mặc áo lương đen, THT mới được theo học trường Quốc Học Huế, rồi vào đại học Khoa học Sài Gòn. Từ năm 1964-1966 là giáo sư Toán đệ nhị cấp trường trung học Trần Cao Vân, Tam Kỳ tỉnh Quảng Tín (nay đã sát nhập vào tỉnh Quảng Nam).

Năm 1967, nhập ngũ khóa 24 SQTB Thủ Đức. Phục vụ tại đại đội 405 Thám kích sư đoàn 22 Bộ binh. THT bị thương 3 lần. Lần đầu tiên do một viên đạn AK VC bắn vào ngực trái khi đơn vị anh tới tăng viện cho mặt trận Quy Nhơn trong Tết Mậu Thân 1968, THT phải nằm Quân Y viện Quy Nhơn một thời gian. Hai lần sau đều là những vết thương miểng do lựu đạn trong hai cuộc giao tranh khốc liệt trên chiến trường Bình Định: một trên ngọn đồi Kỳ Sơn với 4 sĩ quan tử trận 2 sĩ quan còn lại bị thương trong đó có THT, một trên trận địa xứ dừa Bồng Sơn. THT rời đơn vị Thám kích sau 4 năm với 3 chiến thương bội tinh, rồi về làm phóng viên chiến trường ở vùng IV nơi anh mới có một người vợ đồng bằng – Ngọc Yến là một cô gái Cần Thơ mê văn anh, cho tới ngày 30/4/1975.

MỘT MỐI TÌNH VĂN CHƯƠNG

Trần Hoài Thư khởi sự viết văn từ năm 1964, có lẽ sớm hơn. Truyện ngắn đầu tay Nước Mắt Tuổi Thơ được đăng trên tạp chí Bách Khoa Sài Gòn. Ngoài Bách Khoa, những năm sau đó THT còn cộng tác với Văn, Văn Học, Đời, Bộ Binh, Thời Tập, Vấn Đề, Khởi Hành, Ý Thức...

Không biết cô gái Cần Thơ Nguyễn Ngọc Yến bắt đầu đọc và hâm mộ Trần Hoài Thư từ bao giờ. Trên Tạp chí Sóng Văn (1997), Ngọc Yến cho biết: “cũng vì yêu mến văn chương, nên duyên văn nghệ đã đưa chúng tôi gặp nhau, và nhà văn Nguyễn Lệ Uyên là ông mai”. Từ trước đến nay, tôi vẫn đinh ninh anh Lê Ngộ Châu chủ nhiệm Bách Khoa là ông mai. Qua Đỗ Nghê, tôi đã liên lạc được với Nguyễn Lệ Uyên, và anh đã mau mắn trả lời tôi ngay trong đêm qua một email [viết ngày 05.05.2021]:

Chuyện là thế này: hồi học Sư Phạm Đại học Cần Thơ (1968), lúc làm hồ sơ nhập học bị trễ mấy ngày, bị làm khó. May sao gặp chị Yến làm ở phòng Hành Chánh của Viện nói giúp với ông Khoa trưởng. Sau đó thì thân nhau, bởi chị cũng biết tôi có võ vẽ mấy truyện ngắn trên Văn, Khởi Hành... mà chị thì mê văn chương, đọc nhiều, các tạp chí văn học chị hầu như ít bỏ sót, nên chúng tôi coi như chị em, chị lớn hơn tôi 7,8 tuổi. Những dịp nhận nhuận bút, tôi thường chở chị đi ăn món gì đó. Rồi trên số Văn chủ đề Những cây bút trẻ, lại có truyện của tôi và anh Trần Hoài Thư. Khi nhận nhuận bút, tôi mời chị đi ăn bún bò Huế ở quán ông Ba Mập ngoài Bình Thủy, trên đường đi Long Xuyên. Ăn, chị hít hà, chảy nước mắt và khen ngon. Trong lúc ăn, chị hỏi tôi có biết, quen anh THT không, có nhận xét gì về truyện anh Thư. Tất nhiên là quen nhiều, vì ảnh, từ Quy Nhơn hay vào chơi với anh em văn nghệ Tuy Hòa năm ba hôm, thường thì ăn uống rồi ở lại nhà tôi.

Thâm tâm, tôi chỉ nghĩ chị hỏi để hiểu rõ thêm về một tác giả, nhưng không ngờ, chị mê truyện anh Thư, mê các nhân vật khốn khổ của ảnh, như hiện thân của một THT được bê nguyên xi vào truyện rồi yêu cả truyện và người viết! Tới cuối năm 69 đầu 70, nhóm sinh viên chúng tôi thực hiện chương trình ca nhạc, đọc, ngâm thơ hàng tuần ở giảng đường lớn, chị mới biểu lộ tình cảm thật của chị đối với anh Thư. Chị hỏi tôi gia cảnh, sinh hoạt cá nhân, tính tình... Vậy là đã rõ. Tôi ra sức vẽ vời anh THT còn hay hơn truyện tôi viết. Tôi sơn phết anh Thư cho tròn trịa hơn một chút, bặm trợn, lãng mạn như cụ Hemingway một mình giữa biển khơi. Tối đó, tôi viết cho anh Thư đến 4, 5 tờ pelures về chị Yến. Kể thật về điều tai nghe mắt thấy, về nhan sắc, tính tình của chị trong gia đình gia giáo (ông cụ thân sinh chị là GS Tổng Giám thị trường Trung học Phan Thanh Giản). Với anh THT, tôi viết thư nói đây là một mẫu người lý tưởng để làm vợ, anh đừng để mất cơ hội. Chị Yến thì gần, gặp nhau hai chị em nói chuyện thơ văn, tán dương ông anh Qúi Sách, khuyến khích chị viết thư làm quen với các nhân vật của ảnh. Sau vài ba lần như vậy, tôi nói thẳng với chị: Anh Thư là một người tuy không hoàn hảo, nhưng sẽ là người chồng tốt…” [hết trích dẫn]

Từ đó địa chỉ Tòa soạn Bách Khoa, trở thành hộp thư để cô gái miền Tây làm quen và liên lạc với người lính lang bạt Trần Hoài Thư. Sau đó Bách Khoa cũng là điểm hẹn cho lần gặp gỡ đầu tiên của hai người. Rồi trong một chuyến về phép ngắn ngủi, Thư có hẹn lần đầu gặp Yến ở Bách Khoa. THT vui bạn bè nên trễ buổi hẹn với Yến. Khi Đỗ Nghê chở Thư tới 160 Phan Đình Phùng thì Yến đã giận bỏ đi. Và cũng chính anh Lê Ngộ Châu đã tất bật đuổi chạy kịp theo Yến đưa trở lại toà soạn gặp THT. Những kỷ niệm trân quý với anh Lê Ngộ Châu là điều mà mãi sau này THT không bao giờ quên. Rồi không lâu sau đó hai người nên duyên vợ chồng. Thư đã làm lễ thành hôn với Yến ngày 18/6/1971.

Nguyễn Lệ Uyên viết tiếp: Cuối cùng, như duyên tiền định với tô bún bò Huế cay xè tôi đãi chị, hai người hẹn hò nhau ở tòa soạn Bách Khoa, đến tháng 6,1971 hai người làm đám cướikhi ấy tôi đang ở quân trường Thủ Đức, nhận được thư chị viết mấy dòng ngắn: Chị và anh Thư cưới nhau, ngày... tháng... năm... Em gắng lấy giấy phép về dự, không anh chị buồn".

Đúng là một “đám cưới nhà binh” tại Sài Gòn không thể nào đơn giản hơn, chỉ với mươi người bạn nơi một căn nhà trong xóm Bàn Cờ, không có rước dâu cũng không có cả nhẫn cưới.

Một tuần lễ sau, ngày 23/6/1971 Cơ sở Xuất bản Ý Thức tổ chức một buổi ra mắt sách cho Trần Hoài Thư với tác phẩm đầu tay “Những Vì Sao Vĩnh Biệt” có Trần Phong Giao thư ký toà soạn Văn tới tham dự.

TIỂU ĐĂNG KHOA ĐẠI ĐĂNG KHOA

Trong tờ Văn 181 tháng 07/1971, nhà văn Trần Phong Giao viết: “Người xưa coi đại đăng khoa là thi đỗ, tiểu đăng khoa là cưới vợ. Đối với người cầm bút trẻ thời nay, phải “xếp bút nghiên theo việc đao cung” thì đại đăng khoa không còn là thi đỗ, mà (có lẽ vậy) là có tác phẩm được in. Cây bút trẻ Trần Hoài Thư viết rất nhiều hiện nay, qua cả tiểu lẫn đại đăng khoa, cùng lúc. Ngày 18 tháng 6, anh đã làm lễ thành hôn với cô Nguyễn Ngọc Yến tại Sài Gòn trong vòng thân mật. Ngày 23 tháng 6, vào hồi 19 giờ 30, Cơ sở Xuất bản Ý Thức vừa tổ chức một buổi tiếp tân trình diện tập truyện đầu tay của Trần Hoài Thư “Những Vì Sao Vĩnh Biệt”. Tiểu đại đăng khoa xong, Trần Hoài Thư vội vã lên đường trở về đơn vị ở Quân khu II. Lính chiến chỉ có một tuần nghỉ phép. Chạy ngược chạy xuôi, không có tuần trăng mật, cũng như không kịp đem sách mới đi tặng anh em bà con. Vui vậy đó! Nhân dịp vui mừng này, chúng tôi xin có lời cầu chúc đôi bạn Thư -Yến một hạnh phúc bình dị, lâu dài và bền chặt, Cũng xin cầu chúc tác giả “Những Vì Sao Vĩnh Biệt” sẽ sớm có thêm nhiều tác phẩm mới khác, những tác phẩm não tuỷ và tinh tuỷ."

Một năm sau, đứa con trai đầu lòng Trần Qúi Thoại cũng là đứa con duy nhất chào đời. Đôi uyên ương Thư-Yến cho dù qua bao thăng trầm, họ đã có một cuộc sống lứa đôi hạnh phúc bình dị, lâu dài và bền chặt cho tới bây giờ, đúng một nửa thế kỷ (1971 – 2021).

Chủ nhiệm Lê Ngộ Châu và báo Bách Khoa, người chọn đăng truyện ngắn đầu tiên Nước Mắt Tuổi Thơ của Trần Hoài Thư trên Bách Khoa 1964.

Chủ nhiệm Lê Ngộ Châu và báo Bách Khoa, người chọn đăng truyện ngắn đầu tiên Nước Mắt Tuổi Thơ của Trần Hoài Thư trên Bách Khoa 1964.

***

Phải, nhà văn Trần Phong Giao Thư ký Toà soạn báo Văn [ photo by Lê Phương Chi, Tin Sách Hội Bút Việt ]; giữa, bản tin trên báo Văn số 181, tháng 7/1971 loan tin THT cưới vợ: tiểu đăng khoa, và THT ra mắt tác phẩm đầu tay: đại đăng khoa; trái, bìa cuốn Những Vì Sao Vĩnh Biệt do Nhóm Ý Thức xuất bản 1971. [tư liệu Thư Quán Bản Thảo]

Phải, nhà văn Trần Phong Giao Thư ký Toà soạn báo Văn [ photo by Lê Phương Chi, Tin Sách Hội Bút Việt ]; giữa, bản tin trên báo Văn số 181, tháng 7/1971 loan tin THT cưới vợ: tiểu đăng khoa, và THT ra mắt tác phẩm đầu tay: đại đăng khoa; trái, bìa cuốn Những Vì Sao Vĩnh Biệt do Nhóm Ý Thức xuất bản 1971. [tư liệu Thư Quán Bản Thảo]

Sự thực tác phẩm đầu tay của Trần Hoài Thư là cuốn Nỗi Bơ Vơ của Bầy Ngựa Hoang cũng do cơ sở Ý Thức xuất bản năm 1969, tại Phan Rang một tỉnh lỵ nhỏ của miền Nam, dưới hình thức “phổ biến hạn chế” theo cái nghĩa không qua kiểm duyệt. Mẫu bìa 2 màu do Lê Ký Thương vẽ, bản kẽm bìa làm từ Cliché Dầu Sài Gòn, được in typo bằng máy đạp / pedal thô sơ, và in 2 lần, mỗi lần cho một màu chồng lên nhau. Ruột sách thì in ronéo và khi thực hiện trên giấy stencil, được chị Kim Phương bạn của Nguyên Minh canh lề bằng chân sao cho giống bát chữ typo. Đợt đầu 100 ấn bản được ra mắt và phát hành từ nhà sách Huy Hoàng Nha Trang, cũng là quê hương tuổi thơ nghèo khó của Trần Hoài Thư. Và kết quả Nỗi Bơ Vơ của Bầy Ngựa Hoang đã được độc giả miền Nam đón nhận trong sự ngạc nhiên và thích thú.

Như vậy, Những Vì Sao Vĩnh Biệt phải được kể là tác phẩm thứ hai của Trần Hoài Thư nhưng là tác phẩm thứ nhất hoàn toàn được in theo kỹ thuật typo.

Les Trois Mousquetaires – Ba Chàng Ngự Lâm ít nhiều có “hệ luỵ” với cuộc đời Trần Hoài Thư, từ trái: Lê Ký Thương, người vẽ bìa cho tác phẩm đầu tay Nỗi Bơ Vơ của Bầy Ngựa Hoang của THT do Ý Thức xuất bản (1969), Nguyễn Lệ Uyên, “ông mai” xe duyên cho đôi uyên ương Ngọc Yến-THT (1969), Đỗ Nghê người chở THT tới buổi hẹn đầu tiên của Ngọc Yến-Trần Hoài Thư tại toà soạn Bách Khoa (1970). [tư liệu Đỗ Nghê, hình do Cao Kim Quy vợ Lê Ký Thương chụp tại nhà LKT 09.05.2021]

Les Trois Mousquetaires – Ba Chàng Ngự Lâm ít nhiều có “hệ luỵ” với cuộc đời Trần Hoài Thư, từ trái: Lê Ký Thương, người vẽ bìa cho tác phẩm đầu tay Nỗi Bơ Vơ của Bầy Ngựa Hoang của THT do Ý Thức xuất bản (1969), Nguyễn Lệ Uyên, “ông mai” xe duyên cho đôi uyên ương Ngọc Yến-THT (1969), Đỗ Nghê người chở THT tới buổi hẹn đầu tiên của Ngọc Yến-Trần Hoài Thư tại toà soạn Bách Khoa (1970). [tư liệu Đỗ Nghê, hình do Cao Kim Quy vợ Lê Ký Thương chụp tại nhà LKT 09.05.2021]

PHÓNG VIÊN CHIẾN TRƯỜNG VÙNG IV

Trần Hoài Thư sống sót sau 4 năm trong một trung đội Thám kích, với 3 lần bị thương, được coi như một phép lạ. Sau khi lập gia đình, Trần Hoài Thư đã nghĩ tới dừng chân lại. Phải được sống và tiếp tục được viết như một nhân chứng. Rồi bằng một cách thế không giống ai, không tuân theo hệ thống quân giai, một lỗi rất nặng về quân kỷ, Trần Hoài Thư tự viết một thư riêng cho vị tướng cao cấp nhất trong Tổng cục Chiến tranh Chính trị, với nguyện vọng vẫn được ở trong quân ngũ nhưng chuyển ngành sang làm một phóng viên chiến trường. Trong phong thư riêng ấy, có những trang báo, những bài viết, những tác phẩm đã xuất bản và dĩ nhiên cả những tin tức liên quan tới ba lần bị thương cùng với các huy chương.

Không phải chờ đợi lâu, một sự việc lạ lùng nhất đã xảy ra. Trần Hoài Thư đã viết báo tin ngay cho Yến: “Không thể tưởng tượng cho một kẻ xuất thân từ đơn vị hai quản trị mà tờ sự vụ lệnh vẫn còn ghi: sĩ quan đương sự phải phục vụ ở đơn vị tác chiến, xa trục lộ giao thông. Nhưng cái công điện đánh lên từ Tổng cục Chiến tranh Chính trị, cho biết Tổng cục chấp thuận ý nguyện của anh và hỏi anh muốn về nơi nào: vùng I, II, III, IV hay thủ đô. Dĩ nhiên anh chọn vùng IV nơi có Yến, người nữ độc giả của anh, và nay trở thành người vợ mới cưới của anh. Có lẽ anh may mắn hơn cả những người may mắn, bởi vì khó có ai được quyền lựa chọn một đơn vị mình ưa thích trên toàn cõi miền Nam như anh.”

Như một tự sự, THT viết: “Xin cảm tạ văn chương. Nhờ văn chương mà tiếng chuông ngân vang, như những niềm vui lẫn tự hào kỳ diệu. Nhờ văn chương mà ta quên đi thân phận nhục nhằn, nhờ văn chương mà ta thấy ta cao lớn hơn bao giờ.”

Hành Phương Nam là những dòng chữ mới mẻ của một Trần Hoài Thư khác, của một người lính đang từ Cao nguyên nay xuống dưới Đồng bằng:

“Phương Nam. Tôi bắt đầu làm quen với những chiếc xe lôi hay những chiếc xuồng tắc ráng. Hay những cánh đồng mênh mông bạt ngàn. Hay những rừng tràm rừng đước. Tôi bắt đầu làm quen với những bãi đầm sình lún ngập đến cổ người. Những hàng ô môi, những chòm bông điên điển, những lời kinh giảng vang vọng trong đêm trăng, những tấm lòng hiền như đất, trọng tình trọng nghĩa mà tôi đã gặp. Tôi cám ơn, rằng cuối cùng Ơn Trên đã cho tôi một cõi nương tựa sau những tháng ngày lênh đênh trôi nổi… Cánh cửa đã mở ra như Phương Nam đã mở ra, đón tôi. Có mùi thơm khó có thể quên của bông lúa, hương cau, của mùi đất phù sa lan toả. Cánh cửa ấy đã được kết bằng những chùm mận trĩu nặng trên cành, rực đỏ giữa màu xanh của lá. Nơi nào, từ vườn sau nhà, hay bên dòng kênh, hay trước nhà, hay cạnh bờ ao, hai bên đường quốc lộ, những vườn mận sum suê trái quả. Có trái màu đỏ, có trái màu xanh, trái ửng hồng. Mời mọc ngọt lịm như đôi môi hồng muốn cắn, no đầy tròn trịa như bầu ngực con gái thanh tân, bầu bĩnh au au như đôi má ửng hồng của người gái quê quấn chiếc khăn sọc vằn chèo thuyền xuồng đưa người qua sông trong một ngày mùa hạ để bắt người khách không muốn về:

Qua sông mùa mận chín
Tháng nắng ngại đường xa
Em ra vườn sau nhà
Hái mời anh chùm mận
Bông mận rơi lấm tấm
Da mận hồng như môi
Ôi con mắt có đuôi
Má hồng đào ửng đỏ
Si em người em nhỏ
Ta ở mãi quên về
Trái mận nào dậy thì
Ta giữ hoài không cắn…

‘NGƯỜI VƯỢN’ TRẦN HOÀI THƯ

Nhưng rồi cũng chẳng được bao lâu, tới ngày 30/4/1975 lại một đổi đời. Trần Hoài Thư bị bắt đi tù cải tạo khi thằng con trai mới 2 tuổi. Cây mận trước sân nhà bông đã nở trắng, trắng như tóc của bà ngoại nó.

Hơn 4 năm tù khổ sai, mấy tháng đầu bị giam tại Trung tâm Huấn luyện Chi Lăng cũ, thuộc huyện Tịnh Biên tỉnh An Giang; sau đó THT bị chuyển qua trại tù Kiên Lương, trong một khu đầm lầy còn hoang vắng phía tây bắc tỉnh Kiên Giang gần biên giới với Cam Bốt.

Kiên Lương cũng như mọi trại tù cải tạo cộng sản khác, không bỏ tù nhân chết đói nhưng luôn luôn phải thiếu ăn. Thiếu ăn ngay giữa một vựa lúa ĐBSCL có thể nuôi sống cả nước.

Nhân danh nhân đạo, ban quản giáo trại cho phép đám tù nhân được lập thêm toán cải thiện: trồng rau trái và hái lượm để có thêm chất xanh. Vì Kiên Lương là vùng trũng [thuộc khu tứ giác Long Xuyên, vùng trũng thứ hai là Đồng Tháp Mười], giữa mênh mông rừng tràm với rất nhiều tôm cá, cua ốc. Với cơ duyên đó THT tình nguyện xung phong ngay vào nhóm đi câu, gọi là nhóm chứ đó là thứ lao động mà đám tù nhân muốn xa lánh: do sợ đỉa vắt và cả vô số trăn rắn trong khu rừng tràm; họ còn sợ nước phèn ăn da thịt và cả sợ sa chân vào vùng đất lún trong khu đầm lầy. Do nghĩ rằng chẳng có lối nào mà trốn thoát, nên lính canh trại cũng không cần phải đi theo canh gác. Với THT đó lại chính là cơ hội để có những khoảnh khắc sống tự do cho một tên tù thám kích đã quá quen với mưu sinh và thoát hiểm. Chàng Robinson Crusoe bất đắc dĩ thời hiện đại THT viết: “Tôi thì muốn tránh những con mắt. Tôi muốn trong rừng tôi có quyền la hét, hát hò, ỉa đái, cười ha hả. Tôi muốn ôm lấy đời tôi cùng thiên nhiên, mây trắng. Tôi muốn ngồi trên cây tràm như một con vượn người.

Do nguồn cá thì ê hề: cá lóc, cá trê, cá rô… câu được với lưỡi câu tự chế với mồi trùn, những con trùn béo nhẫy rất dễ kiếm. Người tù khổ sai THT mỗi ngày dễ dàng “đạt chỉ tiêu” với số ký cá bỏ vào bao cát mang về nộp cho tổ anh nuôi. Dĩ nhiên phần cá ngon thì anh nuôi phải lựa ra nộp đem cho cán bộ quản giáo, phần còn lại mới là nguồn chất đạm / protein cải thiện cho anh em.

Hình ảnh mà THT không bao giờ quên là khuôn mặt đen đủi của Yến bám đầy bụi than mỗi lần đi thăm nuôi, do phải đi những chuyến xe đò cải tiến chạy bằng than củi.

Rồi cũng ra tù, THT trở về Cần Thơ quê vợ, với tấm thân xác nặng chưa tới 35 ký lô, để tiếp tục sống những ngày bị quản chế.

Ban ngày THT gò lưng trên chiếc xe đạp cũ nát với một thùng mốp cà-rem, đi vào các làng mạc, sáng chiều lắc chuông bán dạo, làm bầu bạn với đám con nít để kiếm sống. Cũng chính cái nghề rung chuông mua vui cho con nít ấy đã khiến một ông chủ ghe cảm kích, hơn nữa ông cũng đang cần một người dò đường mà đó cũng là nghề của chàng sĩ quan Thám kích THT. Ông cho Thư một vé xuống ghe “miễn phí” vì biết Thư quá nghèo. Chỉ có một chỗ, nhưng Thư thì còn vợ và một đứa con. Mãi sau này Thư mới được biết, chính Ngọc Yến vợ anh đã lén lút tìm đến ông chủ ghe năn nỉ. Ông chủ ghe nói: ‘Chị suy nghĩ lại, chúng tôi không muốn làm anh chị phải chia lìa’. Nhưng Yến vẫn cương quyết: ‘Tôi sẵn sàng để cho chồng tôi ra đi. Xin ông cứu giùm ảnh.’

Trần Hoài Thư viết: “Ở lại hay ra đi? Tôi đã sống trong sự giằng xé ghê gớm ấy. Ở lại thì ôm nhau mà chết, mà ra đi thì tôi sợ là một lần vĩnh viễn. Tôi đã thấy con thuyền ấy. Khoảng 20 thước bề dài, thuyền ván mong manh, chỉ dành đi trên sông sao lại đem nó ra thử với biển sóng hãi hùng?” Chính Yến giục giã chồng không thể bỏ qua cơ hội mà phải ra đi. THT viết tiếp: “Tôi chấp nhận. Tôi hèn nhát để chấp nhận. Ích kỷ để chấp nhận.

Rồi trước khi đi tôi phải đóng kịch, phải làm sao hàng xóm láng giềng biết việc tôi đào thoát không có sự đồng loã của gia đình. Nếu không Yến sẽ bị đuổi việc, vì sát bên vách là nhà của một mụ đảng viên. Không ai khác hơn chính bà mẹ Yến, một bà mẹ quá hiền quá tội, mẹ chưa một lần nói dối, lại là tác giả của vở tuồng cười ra nước mắt này. Bà khuyên hai con: “Con à, mình phải đóng tuồng. Hai vợ chồng con giả bộ gây lộn để hàng xóm biết, từ nay hai vợ chồng con mạnh ai nấy đi. Con hẳn biết, bên nhà hàng xóm là đảng viên.”

Tôi phải chứng tỏ rằng tôi bỏ bê, phụ bạc vợ con. Vở kịch chỉ có hai diễn viên. Người chồng và người vợ. Không gian là cái bếp. Thời gian là buổi chiều. Chỉ có chai đập nồi liệng, tiếng hét tiếng la, tiếng khóc, lớn chừng nào tốt chừng ấy. Với tiếng của Thư: Tao chán cái nhà này quá rồi. Tao sợ cái nơi này quá rồi. Tao đập hết, tao phá hết. Rồi với tiếng Yến: Tới nay thì liên hệ giữa tôi và anh kể như chấm dứt… Vai vợ chồng tôi đóng xuất sắc lắm. Đến nỗi thằng con trai 6 tuổi của tôi phải sợ hãi khóc oà. Và bà má vợ tôi phải sụt sùi nước mắt. Và chỉ có ba người biết rõ những gì trong lòng.

Tôi đi khi con tôi ngủ như một thiên thần. Tôi đi chỉ có một bộ đồ độc nhất. Vợ tôi đứng đầu ngõ dõi mắt nhìn theo. Sau đó nàng vào lại buồng chúng tôi ôm gối mà khóc ngất, khóc như chưa bao giờ khóc như vậy.” Và đó là một ngày cuối năm 1979, ngày anh đi cũng là ngày “xả chế”, chúng trả lại anh quyền công dân.

TỰ DO HAY LÀ CHẾT

Phải bỏ lại vợ con, Trần Hoài Thư vượt biển trên một chiếc ghe nhỏ đi sông dồn nén cũng chở được 93 người. Chuyến đi gian truân nhưng cuối cùng cũng tới được bến bờ tự do, đảo Pulau Bidong Mã Lai.

“Cuối cùng anh cũng quỳ xuống trên bãi cát để cảm tạ Ơn Trên. Tự do, mơ ước là đây. Biển bây giờ sao quá êm và quá xanh biếc. Sóng bây giờ sao quá đỗi hiền từ. Anh quỳ, dù hai tay anh đã che đỡ những cú đánh, cú thoi, cú đá từ người lính Mã Lai. Anh nhắm mắt lại, không kêu đau, không van xin. Để biết thêm về cái giá của một cuộc ra đi và thấm thía thêm thân phận của một người không có đất nước. ‘Này đất này là của vua ta, bãi biển này là bãi biển của vua ta… Còn ngươi, một thằng từ đâu lạc chợ trôi sông, mang bao khổ luỵ phiền toái tới đất nước này.’

… Cứ chửi, cứ rủa đi anh lính đội chiếc nón bê-rê đen, cầm thêm cây gậy, bên mình lủng lẳng khẩu súng ngắn. Tự do đâu phải quá dễ dàng như một lần du ngoạn. Bao nhiêu người đã không may. Bao nhiêu người đã nằm dưới lòng biển. Bao nhiêu người con gái đã bị hãm hiếp và bị bắt cóc. Và có người con gái tóc dài tung toé, nhảy ào xuống biển. Còn nữa, còn bao nhiêu người đã lênh đênh trong vô tận của ngày của đêm, không thức ăn, nước uống, trên những vùng đá ngầm san hô, cá mập… Tự do hay là chết. Chết hay là tự do. Anh cứ đập tôi đi, nhưng cơn đau bầm của tôi, bụm máu khạc ra từ cửa miệng tôi, đâu có thấm gì với cái bóng tối mà tôi bỏ lại. Tôi đã chờ đợi quá lâu, trong ngôi nhà mồ. Tôi đã muốn nhảy xuống biển tự tử khi nghĩ đến một lần họ bắt tôi trở lại. Bây giờ là ánh sáng rồi. Nó đã rực rỡ như muôn ngàn hào quang ân sủng. Nó vô hình vô dạng nhưng nó nồng nàn như mùi thuốc hồi sinh trong phòng cấp cứu. Tôi không buồn hay giận anh đâu. Bởi vì, tôi sẽ đứng lên, dù run rẩy đi nữa, dù đau tận cùng đi nữa.” (6)

Khi Tôi Đi Rồi, bài thơ đầy cảm xúc của Trần Hoài Thư khi phải cắn răng bỏ lại vợ con, lao mình ra biển khơi đi tìm tự do:

"... tôi ra đi thành thị sau lưng
chào từ biệt, quê hương mình lần cuối
tôi có thằng con chưa đầy bốn tuổi*
tôi có mẹ già tóc bạc tợ sương
tôi có vợ tôi cay đắng đoạn trường
đêm nay, đêm nay, trời ơi bỏ
 hết
khi tôi đi rồi một là chết biển
hai là bỏ xứ làm kẻ lưu vong
khi tôi đi rồi hai bàn tay không
giữa vùng mênh mông ngàn trùng bát ngát
khi tôi đi rồi, chắc hồn khó thoát
bởi quê hương cứ giữ chặt, không buông"


(* Năm 1979, con của Trần Hoài Thư - Ngọc Yến lúc đó 6 tuổi)

Trên đảo, tuy phải mòn mỏi chờ đợi nhưng là của hy vọng. Khi có phái đoàn Mỹ tới phỏng vấn, THT được hỏi có gì chứng minh ông là sĩ quan hay lính miền Nam, THT cởi áo vạch ngực chỉ vết thương đạn với sẹo lớn cắt đứt một núm vú nơi ngực trái; sang câu hỏi thứ hai ông dự tính làm gì nếu được vào Mỹ, THT nói anh là nhà văn anh sẽ tiếp tục viết về những nỗi khổ của miền Nam trong và sau chiến tranh. Không hỏi gì thêm, người Mỹ phỏng vấn tươi cười bắt tay anh và chúc may mắn. Rất sớm sau đó, THT được đi định cư tại Mỹ, thời gian đầu anh được đưa tới Maryland, sống tạm bợ tá túc khi thì trong một ngôi chùa nhỏ, khi trong nhà thờ rồi lang bạt qua nhiều nơi khác nhau sau đó.

NGỌC YẾN NỖI KHỔ NGƯỜI Ở LẠI

Trước 1975, Ngọc Yến là nhân viên hành chánh của Viện Đại học Cần Thơ, là thư ký của Giáo sư Viện trưởng Nguyễn Duy Xuân. Sau 1975, Gs Nguyễn Duy Xuân bị cộng sản bắt đi tù cải tạo 11 năm, cuối cùng chết tức tưởi ở trại tù Hà Nam Ninh, miền Bắc Việt Nam.

Chuyện chỉ được Yến kể lại về sau này, là sau 1975, chức thư ký cho Gs Viện trưởng của Yến ban đầu được “cách mạng” đánh giá là quan trọng: Ngọc Yến như là “bí thư” của Gs Nguyễn Duy Xuân, có thể là đối tượng bị thanh lọc để cho đi học cải tạo. Nhưng do ý kiến “nhân dân”, đám công nhân viên cũ bảo rằng Yến chỉ là một thư ký hiền lành lo giấy tờ, đánh máy trong văn phòng chứ chẳng có một quyền hành gì khác, và Yến đã không bị bắt đi cải tạo, không bị sa thải.

Nhưng vẫn chưa yên, sau khi chồng đi rồi, Yến là đối tượng được chăm sóc của đảng uỷ nhà trường. Yến luôn luôn được nhắc nhở rằng chồng chị là một tên sĩ quan Nguỵ phản quốc đã trốn đi, chị hãy quên nó đi để xây dựng cuộc đời mới. Khi ấy Ngọc Yến là gái một con, còn trẻ đẹp nên có nhiều cán bộ theo bám. Rồi Yến được đảng uỷ chuẩn bị tác thành cho lấy một tên Đại uý phục viên và cũng là cán bộ của trường. Đang là công nhân viên, tuy với đồng lương chết đói nhưng Yến cần phải giữ hộ khẩu với sổ lương thực cho hai mẹ con. Uất hận nhưng Yến không dám dứt khoát nói không và chỉ xin cho một thời gian nguôi ngoai.

Đầu năm 1980, khi biết được tin chồng đã đi thoát, Ngọc Yến quyết định bế đứa con trai chưa đầy 7 tuổi tìm ghe vượt biên, cũng lại là một “chuyến đi chùa” do một ông chủ ghe có tâm Phật cho đi. Thêm chuyến đi thừa sống thiếu chết với đói khát nhiều ngày trên biển cả, rồi gặp hải tặc và tiếp theo đó những ngày dài phải bồng con đi ăn xin nơi một ngôi làng hẻo lánh bên Thái Lan.

TỚI NGÀY MỘT GIA ĐÌNH ĐOÀN TỤ

Trần Hoài Thư kể lại, không hiểu bằng cách nào, Đại tá Nguyễn Bé nguyên chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện Cán bộ Xây dựng Nông thôn Chí Linh Vũng Tàu, có được số phone của THT. Ông báo cho Thư biết là có nhận được một phong thư gửi từ Thái Lan. Không chờ thư chuyển, Thư yêu cầu Đại tá Bé mở thư đọc qua phone, chỉ có vẻn vẹn một câu: “Em và con đã tới Thái Lan.”

Nhờ phước đức ông bà nay anh sẽ lại có một gia đình đoàn tụ. Sắp bước vào cái tuổi “tứ thập nhi bất hoặc”, THT thấy chỉ có một con đường tiến thân duy nhất là đi học trở lại. Từ Maryland, theo lời khuyên của một người bạn trẻ gặp được trong nhà thờ, THT quyết định đưa gia đình sang Philadelphia. Do không có tiền nên phải thuê một căn phòng giá rẻ trong một khu “slum” phía bắc thành phố, nghèo nàn mất an ninh, cư dân đa phần gồm nhóm người tỵ nạn Đông Dương như Lào, Cam Bốt và Việt Nam mới tới. Chỉ có một tay Đại Hàn hảo hớn là dám mở một tiệm Grocery store nơi đây. Đám tội phạm thường là từ bên ngoài đến, ra vào như chỗ không người. Có lần ban đêm, thấy cửa hàng Đại Hàn dưới lầu bị trộm phá cửa với các thùng hàng lớn nhỏ lũ lượt được khiêng ra. THT kêu 911, thì được sở cảnh sát cho biết: cửa hàng ấy đã có bảo hiểm, họ sẽ được bồi thường, và cảnh sát còn lưu ý là nên thận trọng, vì nếu tụi nó biết có người báo cảnh sát có thể bị trả thù. Hiểm nguy rình rập nhưng không có chọn lựa nào khác, gia đình THT vẫn phải tiếp tục sống trong khu ổ chuột ấy, trong một căn phòng chật hẹp với cửa sổ luôn luôn đóng kín, có đóng thêm cả đinh nhọn 10 phân làm chông.

Trần Hoài Thư đi học, vợ đi làm công nhân lắp ráp đồ điện tử với đồng lương tối thiểu. Thằng con trai thì được ba hoặc mẹ dẫn đến trường và hết giờ học thì nó phải tự về nhà một mình. Nó còn nhỏ và quá thấp để có thể với tới ổ khoá, vợ chồng Thư phải kê thêm hai cục gạch để nó có thể vói tới ổ khoá mở cửa vào nhà. THT lúc đó là sinh viên toàn thời gian ngành điện toán của Spring Garden College, ban ngày đi học, ban đêm thì làm janitor quét dọn phòng ốc để có thể trang trải cuộc sống.

Hai vợ chồng Thư đều biết luật pháp ở Mỹ, cho dù có lý do bận sinh kế đi nữa nhưng việc bỏ con nhỏ vị thành niên ở nhà một mình là phạm pháp. Vợ chồng vẫn phải luân phiên gọi điện thoại về thăm chừng con, khi không thấy ai lên tiếng, không biết chuyện gì xảy ra cho con, Thư phải tức tốc bỏ học về nhà nhưng đa phần là do nó ngủ quên không nghe chuông reng.

Rồi THT cũng xong học trình 4 năm, Thư tốt nghiệp điện toán với thứ hạng cao trong nhóm top five. Khi hãng AT&T tới trường tuyển chọn sinh viên vừa tốt nghiệp với thứ hạng cao, THT qua được cuộc Interview khó khăn, và ít lâu sau đó được nhận vào làm cho một chi nhánh của hãng này ở tiểu bang New Jersey. Đó là lý do gia đình THT dọn về đây, nơi có rất ít người Việt. New Jersey từ nay là nơi đất lành chim đậu. Ban đầu Thư ở nhà thuê, không còn phải lao động tay chân cực nhọc như một blue-collar worker, với đồng lương khá hơn hai vợ chồng dành dụm mua được căn nhà 4 buồng như hiện nay. Rồi thằng Thoại xong trung học, điểm cao nên được nhận vào trường Y khoa chương trình 7 năm, thuận buồm xuôi gió, nó tốt nghiệp bác sĩ y khoa.

Trong công việc của hãng, Thư chứng tỏ rất có khả năng và có sáng kiến, lại giỏi toán. Như một đầu tư lâu dài, hãng AT&T trả tiền cho Thư đi học thêm bán thời gian. Sau hai năm, Thư đậu thêm văn bằng Cao học Toán Ứng dụng / Master of Applied Mathematics. Nghiệp vụ tiếp tục thăng tiến. Khi chi nhánh của Thư được chuyển nhượng cho hãng điện toán IBM, Thư lên tới chức vụ Project Leader cho tới khi nghỉ hưu.

Từ trái, qua cơn bĩ cực, sau khi THT tốt nghiệp cử nhân điện toán, có công việc ổn định của một white-collar worker, hai vợ chồng Ngọc Yến và Trần Hoài Thư từ nay bắt đầu biết thế nào là vẻ đẹp muôn màu của mùa Thu miền đông bắc nước Mỹ. [ photo by Trần Quý Thoại 1990 Poconos, Pennsylvania ]; phải: Nguyễn Ngọc Yến và Trần Hoài Thư trong đám cưới của người bạn trẻ, đã từng đón gia đình THT bước đầu sang lập nghiệp ở Philadelphia, khi ấy Ngọc Yến còn rất trẻ, THT mái tóc chỉ mới ngả muối tiêu. [nguồn: Blog’s Trần Hoài Thư, ghi chú của Ngọc Yến]

Từ trái, qua cơn bĩ cực, sau khi THT tốt nghiệp cử nhân điện toán, có công việc ổn định của một white-collar worker, hai vợ chồng Ngọc Yến và Trần Hoài Thư từ nay bắt đầu biết thế nào là vẻ đẹp muôn màu của mùa Thu miền đông bắc nước Mỹ. [ photo by Trần Quý Thoại 1990 Poconos, Pennsylvania ]; phải: Nguyễn Ngọc Yến và Trần Hoài Thư trong đám cưới của người bạn trẻ, đã từng đón gia đình THT bước đầu sang lập nghiệp ở Philadelphia, khi ấy Ngọc Yến còn rất trẻ, THT mái tóc chỉ mới ngả muối tiêu. [nguồn: Blog’s Trần Hoài Thư, ghi chú của Ngọc Yến]

PHỤC HỒI DI SẢN VĂN HỌC MIỀN NAM

Từ năm 2001, tuy còn đi làm Trần Hoài Thư đã cùng với người bạn lính Phạm Văn Nhàn, người bạn văn thuở nào. Hai người sáng lập tạp chí Thư Quán Bản Thảo và nhà xuất bản Thư Ấn Quán.

Khi chi nhánh của công ty IBM outsourcing chuyển qua Ấn Độ, THT quyết định nghỉ hưu. Không còn bận bịu về sinh kế, đây cũng là thời điểm Thư có thể thực hiện điều mơ ước. THT có toàn thời gian bắt tay vào việc thực hiện tủ sách DI SẢN VĂN CHƯƠNG MIỀN NAM.

Trần Hoài Thư có hùng tâm và gần như đơn độc trong suốt nhiều năm nỗ lực khôi phục lại những văn bản của một thời kỳ văn học bị CS Việt Nam trong nước đã không ngừng truy lùng và huỷ diệt.

Trái, Phạm Ngọc Lư, Trần Hoài Thư, Nguyễn Lệ Uyên, Phạm Văn Nhàn. [nguồn: tư liệu Nguyễn Lệ Uyên, hình chụp năm 1969]; phải, Trần Hoài Thư và Phạm Văn Nhàn, hai người bạn lính và cho đến nay 2021 vẫn là hai bạn đồng hành của Thư Quán Bản Thảo và Thư Ấn Quan, cả hai vẫn bền bỉ trên con đường phục hồi Di Sản Văn Chương Miền Nam; phải, Trần Hoài Thư và Phạm Văn Nhàn trên đỉnh ngọn núi Watchung Green Brook, N.J. là một cao điểm từng được tướng George Washington 1777 dùng để theo dõi các đạo quân Anh di chuyển, nay là Washington Rock State Park với con đường ngoạn cảnh 30 dặm tuyệt đẹp rất hấp dẫn du khách. [photo by Tô Thẩm Huy]

Trái, Phạm Ngọc Lư, Trần Hoài Thư, Nguyễn Lệ Uyên, Phạm Văn Nhàn. [nguồn: tư liệu Nguyễn Lệ Uyên, hình chụp năm 1969]; phải, Trần Hoài Thư và Phạm Văn Nhàn, hai người bạn lính và cho đến nay 2021 vẫn là hai bạn đồng hành của Thư Quán Bản Thảo và Thư Ấn Quan, cả hai vẫn bền bỉ trên con đường phục hồi Di Sản Văn Chương Miền Nam; phải, Trần Hoài Thư và Phạm Văn Nhàn trên đỉnh ngọn núi Watchung Green Brook, N.J. là một cao điểm từng được tướng George Washington 1777 dùng để theo dõi các đạo quân Anh di chuyển, nay là Washington Rock State Park với con đường ngoạn cảnh 30 dặm tuyệt đẹp rất hấp dẫn du khách. [photo by Tô Thẩm Huy]

ĐƯỜNG XA CHI MẤY: TỚI THƯ VIỆN CORNELL

Qua các thư viện Đại học lớn ở Mỹ, Thư có thể tìm ra một số sách báo miền Nam. Tương đối gần nhà là thư viện Đại học Yale, chỉ cách nhà 2 tiếng lái xe, nơi có học giả Việt Nam nổi tiếng Huỳnh Sanh Thông, người đã dịch truyện Kiều của Nguyễn Du sang tiếng Anh, ông cũng là người giúp nhà văn Võ Phiến tài liệu để hoàn thành bộ Văn Học Miền Nam. Rồi đến thư viện Đại học Cornell tuy xa hơn, cách nhà 5 tiếng lái xe, nhưng thư viện Đại học Cornell, khu Đông Nam Á châu phải nói là nơi có đầy đủ sách báo miền Nam nhất.

Thường thường Trần Hoài Thư chỉ lái xe ban ngày lúc trời còn sáng, còn Yến giúp lái xe ban đêm vì biết chồng dễ ngủ gục khi lái. Đường rất nguy hiểm, có đoạn là đường núi, nhiều khi tuyết băng đông đặc. Cũng hai lần suýt chết vì tai nạn khi đi Cornell trên những đoạn đường mưa tuyết trơn trợt. Và không thể tưởng tượng được, tại Cornell sách báo Tiếng Việt của miền Nam rất là dồi dào thế nào; họ có cả tờ truyền đơn chiêu hồi cũng được lưu trữ.

Có lẽ do bản chất của dòng máu thám kích nên THT rất liều lĩnh với những bước chân khai phá. Rời nhà lúc 4 giờ sáng trời còn tối Yến lái xe, khi trời sáng là phiên THT. Thường là tới nơi thư viện Cornel lúc 10 giờ sáng. Đằm mình trong khu thư viện Á châu, lục lọi tìm tòi, ghi chép, làm photocopy cho tới sẩm chiều – ngoài một lunch break ngắn của hai vợ chồng, cho tới giờ ra về. Không phải chỉ một ngày, mà nhiều ngày, không phải một tuần mà nhiều tuần, trong nhiều năm như vậy. Nhiều chục ngàn trang sách thơ văn miền Nam của Thư Ấn Quán là thành quả tích luỹ của công sức bền bỉ của vợ chồng Trần Hoài Thư trong nhiều tháng, nhiều năm, cho tới năm 2012.

Trần Hoài Thư ngồi trong thư viện Cornell từ khi mái tóc còn xanh đến khi tóc trắng bạc như sương. [nguồn: tư liệu Trần Hoài Thư]

Trần Hoài Thư ngồi trong thư viện Cornell từ khi mái tóc còn xanh đến khi tóc trắng bạc như sương. [nguồn: tư liệu Trần Hoài Thư]

Về máy móc thì THT lên Craigslist tìm kiếm đồ phế thải. Có khi họ cho không, có khi họ bán rất rẻ. Sau khi thỏa thuận, họ cho biết địa chỉ, mình đến, với cái screwdriver trong túi. Họ hỏi máy nặng cả tấn sao ông lại khiêng nổi? Tôi cười, tao biết cách. Rồi tháo máy ra, đến mức không thể tháo. Fuser, ngăn giấy, mực, assembly parts, khung… Mấy anh chàng Mỹ trố mắt nhìn, ngạc nhiên. Chỉ có mực là mới có vấn đề. Lên eBay mua, nhưng làm sao biết ống mực tốt hay xấu?

Vậy mà đã 46 năm qua đi 1975-2021, với đời người như một cơn gió thoảng, với lịch sử chỉ là một chớp mắt, nhưng lại là một chặng đường rất dài trải nghiệm những tang thương. Thêm một chớp mắt nữa, thế hệ những người cầm bút 1954-1975 đều trở về với cát bụi, một số có thể còn được nhắc tới qua tác phẩm nhưng rồi cũng phải kể tới cuộc sống đầy đoạ và cả những cái chết tức tưởi của họ trong các trại tù cộng sản. Nói tới Văn Học Miền Nam, không thể không có một “cuốn sách trắng / livre blanc” về thời kỳ đó, một Wikipedia mở, như một “bộ nhớ” cho các thế hệ Việt Nam tương lai.

Trái, địa chỉ 719 Coolidge Street, Plainfield, New Jersey 07062 là ngôi nhà vợ chồng Trần Hoài Thư đã sống ngót 30 năm, cũng là địa chỉ của Thư Ấn Quán, và là Toà Soạn Thư Quán Bản Thảo; phải, nhà văn Trần Hoài Thư đang còng lưng cắt xén những số báo Thư Quán Bản Thảo. Ước mong sao, rồi ra nơi đây sẽ là một landmark văn hoá của Thế hệ thứ Nhất cần được lưu giữ cho các thế hệ Việt Nam tương lai. [photo by Phạm Cao Hoàng]

Trái, địa chỉ 719 Coolidge Street, Plainfield, New Jersey 07062 là ngôi nhà vợ chồng Trần Hoài Thư đã sống ngót 30 năm, cũng là địa chỉ của Thư Ấn Quán, và là Toà Soạn Thư Quán Bản Thảo; phải, nhà văn Trần Hoài Thư đang còng lưng cắt xén những số báo Thư Quán Bản Thảo. Ước mong sao, rồi ra nơi đây sẽ là một landmark văn hoá của Thế hệ thứ Nhất cần được lưu giữ cho các thế hệ Việt Nam tương lai. [photo by Phạm Cao Hoàng]

Một phần của tủ sách Di sản Văn học Miền Nam của Thư Ấn Quán, bộ Văn Miền Nam 4 tập: I, II, III, IV (2013); bộ Thơ Miền Nam trong thời chiến 2 tập: I, II (2017); bộ Thơ Tình Miền Nam (2017); Một Thời Lục Bát Miền Nam (2008); Thơ Tự Do Miền Nam (2009). Tất cả đều do Trần Hoài Thư thực hiện bằng phương pháp thủ công và có thể nói THT là người đi tiên phong trong kỹ thuật POD / Print On Demand trong lãnh vực sách báo tiếng Việt ở hải ngoại. [photo by Phạm Cao Hoàng] (3)

Một phần của tủ sách Di sản Văn học Miền Nam của Thư Ấn Quán, bộ Văn Miền Nam 4 tập: I, II, III, IV (2013); bộ Thơ Miền Nam trong thời chiến 2 tập: I, II (2017); bộ Thơ Tình Miền Nam (2017); Một Thời Lục Bát Miền Nam (2008); Thơ Tự Do Miền Nam (2009). Tất cả đều do Trần Hoài Thư thực hiện bằng phương pháp thủ công và có thể nói THT là người đi tiên phong trong kỹ thuật POD / Print On Demand trong lãnh vực sách báo tiếng Việt ở hải ngoại. [photo by Phạm Cao Hoàng] (3)

Tác phẩm đã xuất bản:

Trước 1975

1. Nỗi bơ vơ của bầy ngựa hoang2. Những vì sao vĩnh biệt3. Ngọn cỏ ngậm ngùi4. Một nơi nào để nhớ.

Sau 1975

VĂN

1. Ra biển gọi thầm (Tập truyện)2. Ban Mê Thuột ngày đầu ngày cuối (Tập truyện )3. Về hướng mặt trời lặn (Tập truyện)4. Mặc niệm chiến tranh (Tập truyện)5. Đại đội cũ, trang sách cũ (Tập truyện)6. Thế hệ chiến tranh (Tập truyện)7. Thủ Đức gọi ta về (Tạp bút)8. Đánh giặc ở Bình Định (tự truyện)9. Hành trình của một cổ trắng (truyện vừa)10. Ở một nơi trên Trường Sơn (tập truyện); 11. Truyện từ Bách Khoa (Tập truyện)12. Truyện từ Văn (Tập truyện)13. Truyện từ Trình Bầy, Văn Học, Khởi Hành... (Tập truyện)14. Truyện từ Vấn Đề (Tập truyện)15. Tản mạn văn chương (tập I)16. Giấc mơ Giáng Sinh (Tập truyện)17. Cảm tạ Văn chương (Hồi ức).

THƠ

1. Thơ Trần Hoài Thư2. Ngày vàng3. Nhủ đời bao dung4. Ô cửa5. Xa xứ6. Quán7. Vịn vào lục bát
HAI TÁC PHẨM THẤT LẠC SAU CHIẾN TRANH

1. Của Chiến Tranh; 2. Một Ngày Gạo Ba Ngày Hành Quân.

Trong quân ngũ và ngay cả giai đoạn bỏ ngũ, Trần Hoài Thư viết rất khoẻ. Chỉ trong hai tháng sống ở Tháp Chàm với Phạm Văn Nhàn, Thư đã viết xong một truyện vừa có nhan đề Của Chiến Tranh, giao cho Thầy Từ Mẫn Võ Thắng Tiết * giám đốc nhà xuất bản Lá Bối lúc đó nhưng không sao qua được kiểm duyệt, và sau tháng Tư 1975 thì bản thảo duy nhất bị thất lạc.

[ *Sau 1975, anh Từ Mẫn Võ Thắng Tiết cũng là một thuyền nhân, đi cùng chuyến tàu với nhà văn Nhật Tiến, ban đầu sinh sống ở Alaska, rồi xuống ở Nam California, anh thành lập nhà xuất bản Văn Nghệ rất có uy tín ở hải ngoại trong nhiều năm trước khi anh nghỉ hưu ].

Tác phẩm thứ hai, Một Ngày Gạo Ba Ngày Hành Quân cũng là một truyện dài, được giao cho nhà văn Thế Uyên lúc đó đang trông coi nhà xuất bản Thái Độ và Tủ sách Văn Nghệ Xám.

[Thái Độ cũng đã từng in cuốn tiểu thuyết Vòng Đai Xanh của Ngô Thế Vinh]. Cho dù Thế Uyên rất xông xáo nhưng cũng vẫn không vượt qua được hàng rào “phối hợp văn học nghệ thuật” của bộ Thông Tin, cho tới Tháng Tư 1975, bản thảo duy nhất cũng bị thất lạc.

Cả hai cuốn sách trên đã được quảng cáo trên báo chí nhưng không bao giờ được ra mắt. Đó là những tác phẩm bị thất lạc, thêm vào những tổn thất trong chiến tranh, vĩnh viễn đi vào sự quên lãng.

Những tổn thất nhân mạng trong chiến tranh đã được thống kê và nói tới. Thế còn những tổn thất trong văn học, liệu đây có phải là phần trách nhiệm của các sử gia?

Trái, Trung uý Thám Báo Trần Hoài Thư với hạnh phúc được bồng con (1974); phải,Trần Qúi Thoại con trai Trần Hoài Thư tại Hội chợ Science Fair do Bell Lab bảo trợ và tổ chức. Thoại đang thuyết trình về công trình nghiên cứu khoa học “The magnetic field of a Superconductor” được một giải thưởng cho công trình nghiên cứu này. Trần Hoài Thư và Ngọc Yến có mặt và hãnh diện với đứa con của mình. Rồi không thể không chạnh nghĩ, Thoại với gốc là con một sĩ quan “nguỵ” nếu như còn kẹt lại ở Việt Nam, chắc nó chỉ là một đứa trẻ chăn trâu. Nay tới được một lục địa mới, một đất nước mới, nó có cơ hội làm đủ mọi điều để phát triển. Trần Qúi Thoại nay đã là một bác sĩ y khoa. [ nguồn: tư liệu Trần Hoài Thư ]

Trái, Trung uý Thám Báo Trần Hoài Thư với hạnh phúc được bồng con (1974); phải,Trần Qúi Thoại con trai Trần Hoài Thư tại Hội chợ Science Fair do Bell Lab bảo trợ và tổ chức. Thoại đang thuyết trình về công trình nghiên cứu khoa học “The magnetic field of a Superconductor” được một giải thưởng cho công trình nghiên cứu này. Trần Hoài Thư và Ngọc Yến có mặt và hãnh diện với đứa con của mình. Rồi không thể không chạnh nghĩ, Thoại với gốc là con một sĩ quan “nguỵ” nếu như còn kẹt lại ở Việt Nam, chắc nó chỉ là một đứa trẻ chăn trâu. Nay tới được một lục địa mới, một đất nước mới, nó có cơ hội làm đủ mọi điều để phát triển. Trần Qúi Thoại nay đã là một bác sĩ y khoa. [ nguồn: tư liệu Trần Hoài Thư ]

Trái, các trang trí trên đĩa xứ của Trần Qúi Thoại, vẽ tặng cha; giữa, tranh của Trần Qúi Thoại vẽ cảnh “Con Vịn Cha”; phải, bức hình mới nhất, nay thì cảnh “Cha Vịn Con”.

Trái, các trang trí trên đĩa xứ của Trần Qúi Thoại, vẽ tặng cha; giữa, tranh của Trần Qúi Thoại vẽ cảnh “Con Vịn Cha”; phải, bức hình mới nhất, nay thì cảnh “Cha Vịn Con”.

Con Vịn Cha

Lan can ba, ba thẳng lưng
Ba dạy con chân đạp bùn mà đi
Con nhón chân, con đưa tay
Con vịn ba với cái đầu ngẩng lên!

Cha Vịn Con

Bây giờ ba lại vịn con
Tay trong tay con dẫn ba qua đường
Ba đi từng bước ngập ngừng
Bỗng nghe hơi ấm chảy rần trong ba

Trái, Trần Hoài Thư, bán cà-rem nay nhận bằng Cao học Toán Ứng dụng tại Viện Kỹ thuật Steven New Jersey ngày 24.05.2005; phải, gia đình Trần Hoài Thư vui mừng đoàn tụ trong ngày lễ tốt nghiệp: Nguyễn Ngọc Yến, Trần Hoài Thư và con trai Trần Quý Thoại. Thoại tốt nghiệp bác sĩ.

Trái, Trần Hoài Thư, bán cà-rem nay nhận bằng Cao học Toán Ứng dụng tại Viện Kỹ thuật Steven New Jersey ngày 24.05.2005; phải, gia đình Trần Hoài Thư vui mừng đoàn tụ trong ngày lễ tốt nghiệp: Nguyễn Ngọc Yến, Trần Hoài Thư và con trai Trần Quý Thoại. Thoại tốt nghiệp bác sĩ.

NGỌC YẾN ĐỘT QUỴ SAU TRẬN BÃO SANDY

Chỉ một tháng sau cơn bão tố Sandy tàn phá nhiều nơi trong đó có New Jersey, Ngọc Yến bị tai biến mạch máu não / stroke tháng 12/2012. Hurricane Sandy thì được đài khí tượng báo trước, nhưng trận bão stroke của Ngọc Yến thì không. Với Trần Hoài Thư, thì đó là một trận động đất / earthquake, mà động đất thì không có dấu hiệu gì báo trước và Yến rất bất ngờ bị một cơn stroke đánh gục, bị liệt nửa người bên trái. Tay trái, chân trái không thể cục cựa. Nhìn Yến không thể ngồi, đứng, một nửa thân người không còn cử động, Với Thư thì Yến vợ anh đã bị đóng đinh khổ nạn từ đây.

Quan sát những gì người ta làm cho Yến ở nhà thương, Trần Hoài Thư tự tay biến đổi căn nhà với thêm bậc thềm, tay vịn sao cho thích nghi với người vợ tàn phế. Thư cũng mau chóng học được cách đưa người bệnh từ xe lăn lên giường, chuyển từ giường xuống ghế ngồi, rồi cả những công việc vệ sinh cá nhân cho Yến như tắm rửa, thay quần, thay áo, thay tã và những thao tác tập vật lý trị liệu cơ bản cho người bệnh liệt bán thân. Tất cả nhanh và gọn mà ngay cả những therapists và home caregivers cũng phải trố mắt ngạc nhiên. Thư cố tạo một cảnh sống gia đình gần như bình thường cho Yến. Thấy Yến ăn ngon, ngủ ngon, luôn miệng nói mình vui quá là Thư vui. Chấp nhận như số phận đã an bài và anh nghiệm ra là: hạnh phúc càng lớn khi nó được nẩy sinh từ khổ nạn. Thư trải lòng mình trên trang giấy: “Mỗi ngày tôi cố mang cho Yến niềm vui. Cũng mỗi ngày tôi giấu Yến nỗi buồn của tôi.”

Nhưng rồi chưa yên, Yến còn bị giáng thêm một trận stroke thứ hai, rồi thứ ba, đến tháng 05/2015, Yến không còn có thể sống ở nhà mà cần được chăm sóc 7/24 trong một nursing home, bác sĩ bảo đó là cách duy nhất để cứu Yến và cứu cả Trần Hoài Thư.

Trong suốt 11 năm [từ 2001 tới 2012], Ngọc Yến – người bạn đời của THT, đã đồng hành giúp anh rất nhiều trong việc thực hiện các công trình phục hồi Di Sản Văn Học Miền Nam.

Yến giúp tôi lái xe khi đi xa trong những lần tới Thư viện Đại học Cornell, rồi đóng bằng chỉ những cuốn sách dày cả ngàn trang, hay phụ với tôi khiêng những thùng giấy tôi mua với giá rẻ. Yến giúp tôi viết địa chỉ, bỏ sách báo vào phong bì, dán tem, hay nhắc tôi về những sơ xuất. Khi một người hỏi order một cuốn sách, Yến luôn luôn nói là tặng, đừng lấy tiền. Tâm Yến là tâm Phật. Mất Yến là mất cả cánh tay phải, tôi như hết chỗ vịn.

Rồi đều đặn như vậy, trong nhiều năm, ngày hai lần, Trần Hoài Thư nội trợ nấu thức ăn Việt Nam nóng đem vào cho Yến. Yến không chịu ăn đồ ăn Mỹ. Mỗi ngày Thư tìm cách kéo dài thời gian ngồi túc trực bên giường Yến. Đứa con trai bác sĩ thì đi làm xa, nhưng mỗi cuối tuần đều về để đi với ba vào thăm mẹ. Nó biết cách làm cho mẹ nó vui, cả gây cho mẹ mối ghen tuông với ba nó.

CHUYỆN ÔNG TRẦN HOÀI THƯ “CƯỚI CON PHƯƠNG”

Mỗi lần hai cha con vào thăm, bình thường thì Yến gọi Thư là “ba Thoại”, Trần Qúi Thoại là tên đứa con trai. Bỗng một hôm, chẳng rõ tại sao, Yến xoay lưng không thèm nói chuyện với Thư. Không biết chuyện gì đã xảy ra, Yến đổi hẳn cách xưng hô. Thay vì là “ba Thoại” thì hôm nay gọi anh là “ông Trần Hoài Thư”. Yến nói “Ông đang chờ tôi chết để cưới con Phương, có phải không?” Nghe Yến nói vậy, Thư tá hoả tam tinh, hỏi Yến: “Con Phương nào?” Một cái tên không thể nào Thư có thể nhớ ra. Thế là Yến giận, quay mặt vào tường không thèm nói chuyện với ba thằng Thoại nữa.

Nằm bệnh bao năm sau ba lần bị tai biến, chuyện mới thì Yến không nhớ, nhưng các chuyện cũ thì vẫn nhớ như in. Nhưng Thư thì vẫn nghĩ không ra “con Phương” là ai, hay là Yến ghen với một nhân vật nào đó trong các truyện đã viết của mình. Thế là về nhà suốt đêm vào máy tìm kiếm. Eureka! Cuối cùng Thư đã có câu giải đáp, thì ra “con Phương” là tên một cô gái giang hồ, một nhân vật trong truyện “Cơn Giông” được viên thiếu uý thám kích gặp trong một động điếm và đem lòng yêu thương, truyện mà chính Thư không còn nhớ, đã đăng trên báo Bách Khoa số 288 (1969) (5). Tuy bị Yến giận và ghen tuông vô lý nhưng Thư lại cảm thấy vui vì biết được phần trí tuệ còn sắc sảo của Yến.

NHỚ QUÊ NHỚ CHIM CHẰNG NGHỊCH

Trước đại dịch Covid-19, hầu như mỗi ngày 2 lần Thư được phép tới Nursing Home thăm Yến với thức ăn Việt nấu từ nhà đem vào. Nhưng rồi một hôm, các cô y tá cho biết, Yến không chịu ăn từ mấy ngày nay.

Yến không ăn đồ Mỹ điều ấy Thư đã biết nên Thư đã học nấu các món ăn Việt Nam từ Internet và cả biết Yến thích ăn món gì. Bác sĩ tới khám tổng quát cho biết tình trạng Yến vẫn ổn định và không mắc thêm một căn bệnh gì. Thư hỏi, vậy Yến thích ăn món gì để anh nấu. Yến trả lời: muốn ăn món chim chằng nghịch. Từ ngày về Vùng IV làm phóng viên chiến trường suốt 2 năm mà THT cũng chưa biết chim chằng nghịch là gì. Như mọi lần, Dr. Google đã giúp anh, và bây giờ Thư mới được biết, chim chằng nghịch hay còn gọi là gà nước vằn, mỏ dài chân đen là loại chim thiên nhiên chỉ có ở miền Tây Nam Bộ. Nhưng có lẽ chim chằng nghịch sau này quá hiếm và gần như biến mất khỏi đồng ruộng miền Tây rồi. Ngay cả bây giờ, nếu còn sống ở Cần Thơ quê Yến, thì cũng chẳng biết kiếm chim chằng nghịch ở đâu ra, huống chi đang ở Mỹ. Giải thích cho vợ hiểu nhưng Thư cũng thấm thía hiểu rằng, chẳng qua là Yến nằm bệnh quá lâu, quá nhớ quê mà nhớ ra tên con chim chằng nghịch từ một tuổi ấu thơ xa xưa nào.

Chim chằng nghịch hay nỗi nhớ quê, còn gọi là gà nước vằn, tên khoa học Gallirallus striatus, xưa kia có ở đồng ruộng miền Tây ĐBSCL nay hầu như không còn nữa, nhưng chưa thấy trong Danh mục sách đỏ động vật Việt Nam. [ nguồn: birdwatchingvietnam ]

Chim chằng nghịch hay nỗi nhớ quê, còn gọi là gà nước vằn, tên khoa học Gallirallus striatus, xưa kia có ở đồng ruộng miền Tây ĐBSCL nay hầu như không còn nữa, nhưng chưa thấy trong Danh mục sách đỏ động vật Việt Nam. [ nguồn: birdwatchingvietnam ]

Cũng sáng hôm đó, từ California tôi phone thăm Trần Hoài Thư. Lúc ấy Thư đang ở trong Nursing Home với Yến. Tôi bảo Thư đưa phone cho tôi được nói ít câu thăm chị. Thư giới thiệu tên tôi Ngô Thế Vinh thì chị nhớ ngay và nói “chào bác sĩ”. Tôi nhắc chị Yến, tôi là bạn của Thư, chị đừng gọi tôi là bác sĩ, nhưng lúc đó trong lòng thực sự có niềm vui, vì biết với cách xưng hô đó chứng tỏ trí nhớ chị còn rất tốt cho dù đã hơn 6 năm nằm bệnh. Tôi cũng nói với chị Yến qua phone, là mới đây tôi có về thăm miền Tây, và cũng chẳng còn thấy một con chim chằng nghịch nào. Và rồi Yến cũng quên đi chuyện con chim chằng nghịch và trở lại ăn uống bình thường với những món Thư tự tay nấu, trong nỗi vui mừng của cả hai cha con.

CÙ HUY HÀ VŨ THĂM ANH CHỊ TRẦN HOÀI THƯ 2016

Cù Huy Hà Vũ, là con trai của nhà thơ Huy Cận, nhỏ hơn Trần Hoài Thư 15 tuổi. Năm 1968, khi Thư là sĩ quan Thám kích đang lặn lội trong chiến tranh ở miền Nam thì Vũ mới là một cậu bé 11 tuổi, còn thập thò nơi cửa hang nơi đi sơ tán, xem phi cơ Mỹ từ xa oanh kích miền Bắc đạn bắn như pháo bông.

Văn kỳ thanh, nghe tiếng nhà văn Trần Hoài Thư, lại yêu thích văn học, hai vợ chồng Vũ đang sống ở Chicago, bay sang Boston, cùng với người bạn lái xe đi New Jersey thăm anh chị Trần Hoài Thư. Vũ xin được cùng THT đi thăm chị Ngọc Yến. Khi nghe Thư giới thiệu là có Cù Huy Hà Vũ là con trai của nhà thơ Huy Cận tác giả Lửa Thiêng, tới thăm, Yến kết nối được được ngay. Cũng ngay tại Nursing Home, Cù Huy Hà Vũ đã lấy giấy bút chớp nhoáng vẽ xong bức ký hoạ cùng với dòng chữ đề “Tặng Chị Nguyễn Ngọc Yến nhân Ngày của Mẹ Mother’s Day May 8, 2016”.

Vũ có nét vẽ tài hoa, bắt được ngay cái “thần” của Chị Yến, với đôi mắt đẹp thông minh và một vầng trán cao bướng bỉnh. Thấy Yến vui và cảm động, Thư cũng vui lây, cảm giác ấm áp như có “một chút mặt trời trong nước lạnh – Un peu de soleil dans l’eau froide”, cuốn phim mà Thư đã xem từ những năm rất xa xôi mà nay chỉ còn nhớ tên.

Hai vợ chồng Cù Huy Hà Vũ và Nguyễn Thị Dương Hà vào thăm chị Yến tại Nursing Home Ashbrook, N.J. nhân Ngày của Mẹ, Chủ Nhật 08.05.2016; trái, chân dung chị Nguyễn Ngọc Yến, vợ Trần Hoài Thư qua nét ký hoạ của Cù Huy Hà Vũ; phải, ký hoạ nhà văn Trần Hoài Thư, cũng qua nét vẽ của Cù Huy Hà Vũ. [ tư liệu Trần Hoài Thư ]

Hai vợ chồng Cù Huy Hà Vũ và Nguyễn Thị Dương Hà vào thăm chị Yến tại Nursing Home Ashbrook, N.J. nhân Ngày của Mẹ, Chủ Nhật 08.05.2016; trái, chân dung chị Nguyễn Ngọc Yến, vợ Trần Hoài Thư qua nét ký hoạ của Cù Huy Hà Vũ; phải, ký hoạ nhà văn Trần Hoài Thư, cũng qua nét vẽ của Cù Huy Hà Vũ. [ tư liệu Trần Hoài Thư ]

Về tới nhà, suốt ngày hôm đó Vũ chỉ đắm mình trong núi sách báo nơi tầng hầm nhà của Trần Hoài Thư. Cù Huy Hà Vũ đã được Trần Hoài Thư tặng cho nhiều bộ sách báo miền Nam.

ĐÔI UYÊN ƯƠNG GIỮA MÙA ĐẠI DỊCH

Mấy tháng đầu năm 2020, bắt đầu trận đại dịch, các Nursing Homes trên toàn nước Mỹ là nơi tới viếng của lưỡi hái tử thần Covid hung hãn nhất. N.H. Ashbrook cũng không hơn gì. THT được báo tin Yến phải nhập viện vì bị nhiễm Covid-19 cùng với một số bệnh nhân khác. Yến với bao nhiêu là bệnh nền, với 3 lần bị tai biến mạch máu não, ai cũng nghĩ Yến khó qua khỏi. Vậy mà Yến vẫn là một ngoại lệ, một trường hợp hiếm hoi khỏi bệnh, Yến không phải vào ICU không qua máy trợ thở, chỉ ít ngày sau thì Yến được xuất viện trở về Nursing Home còn nhiều chiếc giường trống trải. Có thể nói đây là phép lạ, Yến vẫn sống, vẫn vác chiếc thánh giá khổ nạn để ở lại với hai cha con Thư Thoại. Trong thời kỳ tuyệt đối cách ly, trong nhiều tháng hai cha con hoàn toàn không được vào thăm Yến.

Nhưng rồi hoạ vô đơn chí, tháng 06/2020 đến lượt Trần Hoài Thư cũng bị cơn bão tai biến. Nhưng lần này thì Trần Hoài Thư như bị phục kích. Một ngày bình thường như mọi ngày khác, khi Thư cầm bút viết ít dòng chữ lời đề tặng trên trang đầu một cuốn sách. Thư bỗng thấy bàn tay cầm cây bút sao mà khó khăn, rồi lại thấy cả hàng chữ viết run rẩy xiêu đổ. Biết đây là một dấu hiệu chẳng lành. Ngay trong đêm, Thư phone cho con, lúc ấy nó đang là bác sĩ trực ở Philadelphia. Thoại khuyên cha gọi ngay 911 để được đưa vào bệnh viện vì đó là triệu chứng của stroke, và nói cho biết sẽ lái xe về ngay sáng hôm sau. Trong nhà thương gặp lại con, Thoại cho biết ba bị một cục máu đông trong óc. Vậy ra, sau Yến cơn bão stroke Sandy nó cũng không chừa anh. Một thoáng bi quan, Thư đã chạnh nghĩ: “Số phần chúng tôi coi như là mạt lộ rồi. Thôi hết rồi giấc mơ Thư Quán Bản Thảo, giấc mơ Thư Ấn Quán. Thôi hết rồi những bài văn những bài thơ theo nhịp gõ êm êm trên bàn phím. Niềm vui trong tuổi xế chiều tự nhiên bị cướp mất”.

Thư mau chóng gạt mọi ý nghĩ bi quan ra khỏi óc. Anh chuẩn bị ngay cho một cuộc chiến đấu từng ngày. Sau một tháng nằm nhiều hơn ngồi, người ta cho Thư xuất viện; không phải vì đã hồi phục mà vì Insurance chỉ cho nằm bấy nhiêu. Thoại chở ba về cũng vẫn căn nhà cũ, sau một tháng đóng cửa. Vườn sau, sân trước cỏ dại mọc cao. Thư nghĩ bây giờ là lúc “ba bắt đầu phải vịn con”. Thoại dọn dẹp lại căn phòng bừa bộn, sắp xếp cho ba nằm trên cái giường bệnh viện / hospital bed có thể điều khiển cao thấp mà mẹ Yến đã bỏ lại khi vào Nursing Home. Thoại cũng mua và đặt camera khắp mọi nơi trong nhà, để có thể theo dõi ba từ xa qua chiếc iPhone. Sau đó trở lại Philadelphia nơi bệnh viện nó làm việc.

Rồi một mình trong căn nhà vắng, THT vẫn phải đương đầu với một thực tế trước mắt. Những ngón tay đã không giữ được cái muỗng, đôi đũa để những hạt cơm hay thức ăn khỏi vương vãi ra trên áo trên quần. Tệ hơn nữa, chúng không còn sức mạnh để gõ hay để viết trên bàn phím, bộ não đã không sao điều khiển được các ngón tay để có thể gõ cho chính xác…

Tinh thần chiến đấu với Trần Hoài Thư đã trở thành một bản năng thứ hai. Vẫn như một programmer, THT đã “phác thảo” cho riêng mình một chương trình “Hoạt động Trị liệu / Occupational Therapy” tại nhà với một lối tập độc nhất vô nhị. Thay vì là bài tập thô sơ như trong bệnh viện: các cô therapist tập cho anh cách bốc lượm đồ, cách lắp ráp các hình nhà, hình xe bằng những miếng gỗ. Những bài tập của Thư là tập viết khó khăn trên giấy hay tập bấm vụng về trên màn hình chiếc iPhone từng dòng thơ lục bát mà anh thích. Dần dần qua ít tuần lễ THT cũng làm chủ được mười ngón tay của mình. Sau đó, Trần Hoài Thư lại say sưa viết, anh làm việc như một người đang cạn kiệt quỹ thời gian.

Tìm lại được tập hồi ức dở dang viết rồi để đó, không có dự định cho xuất bản nhưng sau lần bị stroke THT nghĩ khác, anh phải viết xong giữa khoảng cách sống và chết, chưa biết sẽ đến lúc nào. Anh đặt tên cho tập hồi ức là: Cảm Tạ Văn Chương – mà anh cảm thấy như đang viết một Di chúc. Cuốn sách đã được THT hoàn tất trong một thời gian kỷ lục. Có những trang sách khiến người đọc phải rơi lệ. Sách tuy không bán, nhưng Cảm Tạ Văn Chương đã trở thành một best-seller của Thư Quán Bản Thảo.

Nơi mấy trang cuối của cuốn hồi ức, vẫn Trần Hoài Thư viết: “Thêm một lần nữa tôi phải cảm tạ văn chương. Nó đến khi tôi ngã xuống. Nó giúp tôi vịn mà đứng dậy. Nó là chiếc gậy thần, tôi chống mà đi. Cho dù bây giờ không hồi phục hẳn, nhưng tôi vẫn có thể gõ một bài thơ, post một bài viết, hay xuống hầm nhà để tự tay đóng một cuốn sách. Dù mắt mờ, bước chân xiêu đổ. Để niềm vui mọc cánh nở hoa”.

Cảm Tạ Văn Chương, hồi ức của Trần Hoài Thư – như một Di Chúc, dày 224 trang, được THT hoàn tất trong một thời gian kỷ lục sau 4 tháng bị tai biến mạch máu não (tháng 6/ 2020). Và là ấn bản đặc biệt của Thư Quán Bản Thảo Tháng 10 – 2020.

Cảm Tạ Văn Chương, hồi ức của Trần Hoài Thư – như một Di Chúc, dày 224 trang, được THT hoàn tất trong một thời gian kỷ lục sau 4 tháng bị tai biến mạch máu não (tháng 6/ 2020). Và là ấn bản đặc biệt của Thư Quán Bản Thảo Tháng 10 – 2020.

Tưởng cảnh khổ của hai vợ chồng Ngọc Yến - Trần Hoài Thư như vậy là đã đụng đáy, nhưng không. Đến tháng 2/2021 một cơn bão stroke Sandy thứ 4 lại phủ ập lên tấm thân đã đầy những thương tật của Yến. Ít ai sống sót được ở lần tai biến thứ tư này. Lần này Yến phải nằm bệnh viện lâu hơn, mang thêm một số thương tật mới: Yến bị mất tiếng nói vì tổn thương vùng ngôn ngữ trên não, Yến còn bị mất thêm nửa vùng thị giác do bị tổn thương vùng vỏ não thị giác. Rồi Yến vẫn sống sót để trở về Ashbrook N.H. Yến vẫn còn phần thính giác để nghe và hiểu được những câu đùa giỡn của hai cha con Thư Thoại, nhưng phần tham dự của Yến từ nay chỉ còn là biểu tỏ qua cử chỉ - mà thuật ngữ chuyên môn gọi đó là ngôn ngữ cơ thể/ body language. Yến cũng không nuốt được, THT từ nay cũng mất luôn nguồn hạnh phúc được nội trợ mỗi ngày nấu ăn cho Yến; và phần dinh dưỡng của Yến chỉ còn là một ống G-Tube dẫn thức ăn thẳng vào bao tử. “Bao nhiêu đau khổ của trần gian, trời đã dành riêng để tặng nàng” hai câu thơ ấy của Nguyễn Bính hình như đã vận vào người Yến.

Can đảm chấp nhận số phận nghiệt ngã, với Thư và Yến kể từ nay, hạnh phúc rồi ra chỉ là tính riêng cho mỗi từng ngày.

MỘT NGÀY NGHIỆN NGẬP CỦA TRẦN HOÀI THƯ

Trong một eMail mới gửi cho tôi, Trần Hoài Thư viết: “Bạn bảo tôi là típ người “ghiền làm việc / workaholic. Vâng, chính vậy. Nếu không có việc làm chắc tôi buồn mà chết sớm quá. Dù quá bận rộn mà vui. Vui như những trái hỏa châu được bắn lên trong cõi đêm của đời xế bóng. Chỉ trong vòng 2 tuần nào in: Mai Thảo – Bài viết ở trang cuối.” Nào là chuẩn bị bài vở viết bài cho Thư Quán Bản Thảo số 93 sắp tới. Nào là scan, layout, thực hiện toàn bộ tập san Chính Văn… Nào là làm thơ, viết văn… không ngưng nghỉ. Thực phẩm nuôi dưỡng tinh thần khiến tôi bận rộn cả ngày. Còn thực phẩm nuôi dưỡng thân xác thì có gì mà cần bận tâm chứ. …

Dĩ nhiên “ghiền làm việc” không phải là làm khi cảm thấy tay chân thừa thãi, nấu nướng cũng là một nghệ thuật, làm ngon cái miệng, sao lại không ham. Lại đi ham đánh máy bằng hai ngón tay, 32 bài tùy bút của Mai Thảo, mang khổ nhọc vào thân. Nhất là bị ảnh hưởng nặng nề sau trận stroke.

Ngón tay điều khiển khó khăn, muốn đánh được một chữ đúng thì đôi khi phải sửa đi sửa lại 4, 5 lần. Hay mỗi khi thực hiện một flipbook, phải scan chụp cả cuốn, layout lại, đổi size lại cho đúng kích thước, tìm cách làm giảm sức nặng mỗi trang từ cấp MB, giảm xuống vài trăm kilobytes, kẻo memory không “kham nổi.”

Bạn làm sao hiểu ở trong những con chữ mà tôi đánh máy ấy có sức nam châm kỳ lạ, khi ta đánh máy một bài văn ta ưa thích, chữ không còn là một hình phạt mà là niềm vui nở búp nở hoa! Bởi vì nó tỏa ra cái đẹp, đó là nghệ thuật. Ví dụ khi tôi đánh máy câu sau đây của Mai Thảo trong bài tùy bút Quán Bệnh:

Đêm tháng tám bên ngoài bát ngát sao.
Trong những lùm cây xôn xao, gió múa những thuyền đầy.

Tôi không khỏi ngây ngất cùng vớt những chữ trong câu gió múa những thuyền đầy”, Gió mà biết múa sao? Thưa bạn, tại mình không biết đấy thôi. Giờ ông MT đã nói cho chúng ta biết. Cho tôi biết. Chính vì cái muốn biết ấy đã giúp một lão già sắp 8 bó này phải đánh máy miệt mài, không nghỉ, không mệt và bây giờ cũng in miệt mài, không nghỉ một cuốn sách dày 200 trang để tặng đời!

Khác với quan niệm về già, phải hưởng nhàn, phải coi đời là phù du, hãy nhâm nhi hớp cà phê buổi sáng, đừng bận tâm đến in ấn, in báo, hay sưu tập các tạp chí cũ để thực hiện flipbook cho thiên hạ đọc chùa… Họ không hiểu tôi cần làm việc. Cần sự thách đố. Cần cái đẹp… Tôi có thể vất hàng trăm bìa in không thương xót, dù giá tiền không phải là nhỏ, mà chỉ cần một bìa – một bìa đẹp – đủ vui rồi. Sức mạnh của nghệ thuật kỳ lạ lắm.

Tôi bỗng liên tưởng đến người bạn đời. Yến gần như một pho tượng khổ hình. Không còn biết chuyện đời. Không còn thắc mắc suy tư. Không biết cái nắm tay nóng hổi tình thương yêu của người chồng, không còn mắt sáng ngời lên khi thấy con… Không cần ngồi xếp bằng nhắm mắt tham thiền. Nàng có một chỗ ngồi trong xe lăn, mắt nhìn về một cõi vô minh nào đó suốt 8 năm dài…

Tôi nghe lòng ràn rụa. Tôi phải làm gì để cứu khổ, cứu nạn, cứu nàng khỏi cơn mê thiếp. La hoài cũng vậy. Xiết tay chặt hoài cũng vậy. Thôi thì, chỉ có cách lấy Iphone mở bài Tóc Mây do Sỹ Phú hát, kê sát vào tai nàng. Để âm thanh lọt vào màng nhĩ, đánh động bộ não, xẹt lửa những sợi dây thần kinh đã chết, Tóc Mây. Đây là bài hát mà mình thích tôi mở cho mình nghe… Tóc Mây. Ngày xưa tóc đen huyền vì gội bằng bồ kết. Bây giờ thay vì bồ kết, tóc Yến vẫn đen mun vì gội bằng trái khổ nạn. Tôi nhìn vào mắt nàng, Tôi thấy mắt nàng lim dim muốn ngủ, thì ra, những lời ca kia, bài hát quen thuộc kia đã có một phép lạ. Tôi nói là phép lạ, Yến đã rơi vào giấc ngủ ngon như một đứa trẻ. Chúng mang lại bình an mà ta đang khao khát.

Hơn bao giờ bằng lúc này, chính tôi cần sự bình an đó. Yến đã trả nó bằng khổ nạn. Còn tôi công việc đâu có khổ nạn, khó khăn gì… Đánh máy ngón tay còn lẩy bẩy, không chính xác nên lỗi nhiều. Xin bạn thông cảm.

Hơn bao giờ bằng lúc này, chính tôi cần sự bình an đó. Yến đã trả nó bằng khổ nạn. Còn tôi công việc đâu có khổ nạn, khó khăn gì… Đánh máy ngón tay còn lẩy bẩy, không chính xác nên lỗi nhiều. Xin bạn thông cảm.

Trong mùa đại dịch, tháng bảy ở Mỹ không có mưa ngâu, nàng trên xe lăn, chàng vịn walker, Ngưu Lang Chức Nữ thời hiện đại, cả hai chỉ có 15 phút nhìn nhau bên ngoài cửa nursing home Ashbrook, New Jersey. [photo by Trần Qúi Thoại 2021]

Trong mùa đại dịch, tháng bảy ở Mỹ không có mưa ngâu, nàng trên xe lăn, chàng vịn walker, Ngưu Lang Chức Nữ thời hiện đại, cả hai chỉ có 15 phút nhìn nhau bên ngoài cửa nursing home Ashbrook, New Jersey. [photo by Trần Qúi Thoại 2021]

BÀI THƠ NGƯU LANG

Bây giờ Ngưu Chức đã già
Chàng vừa bị stroke đi bằng walker
Nàng cũng thoát dịch Corona
Hai người vẫn đợi đến ngày gặp nhau
Tháng bảy Mỹ không mưa ngâu
Bởi nước mắt họ thấm vào đá cương
Nở lên một đoá vô thường

NGÔ THẾ VINH



Vẻ vang dân Việt

Cựu Trung Úy Lê Văn Thiệu, tốt nghiệp khóa 1 Ðại Học Chiến Tranh Chính Trị Ðà Lạt bị tập trung trong các trại tù cộng sản 7 năm. Sau khi đi tù về, ông làm nghề thợ mộc nuôi con cho mãi đến năm 1995, gia đình mới sang Mỹ theo một chương trình H.O. khá muộn màng: H.31.
Sau 5 năm định cư tại Hoa Kỳ, năm 2000, con đầu là Lê Thành học xong bằng Master về ngành điện tử tại đại học UTA (University of Texas at Arlington).
Năm 2004, con trai thứ ba, Lê Ðức Hiếu tốt nghiệp Master Computer science.
Năm 2005, Lê Huy, con trai thứ nhì, lấy bằng tiến sĩ cũng ngành điện tử.
Năm 2010, con trai út Lê Ðức Hiển, ra đời năm 1982 sau khi ông Thiệu từ trại tù trở về, cũng đã tốt nghiệp y khoa.
Vào năm 2005, nhân ngày lễ kỷ niệm 15 năm ngày thành lập hội H.O. Dallas-Fort Worth, gia đình ông Lê Văn Thiệu đã được vinh danh là một gia đình đến Mỹ muộn màng nhưng đã sớm thành công trên đất người.
Năm 2006, ba anh em nhà họ Lê thành lập công ty “Luraco technologies, Inc.” sử dụng kỹ thuật cao (high-tech) chuyên về nghiên cứu và chế tạo sản phẩm cho quốc phòng Mỹ.
Ba năm trước, công ty được cấp kinh phí từ US Army để nghiên cứu và chế tạo ra một bộ cảm ứng thông minh (Intelligent Multi-Sensor) cho hai động cơ trực thăng chiến đấu hàng đầu của Mỹ là Blackhawk và Apache.
Ðể làm được điều này, nghiên cứu (research proposal) của công ty Luraco phải xuất sắc và vượt trội hơn nhiều công ty danh tiếng khác. Phát minh bộ cảm ứng thông minh này của công ty Luraco sẽ tiết kiệm hàng tỷ Mỹ kim mỗi năm cho Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ về vấn đề bảo trì và an toàn cho hai loại máy bay trên.
Hãng WPI tại Fort Worth, Texas đã mời Tiến Sĩ Lê Huy làm việc với chức vụ là khoa học gia (scientist) để đảm trách việc nghiên cứu về Flexible Active Circuits và Optical Sensors dùng trong hỏa tiễn và phi thuyền không gian.
Hai năm qua, công ty Luraco cũng thắng được hai hợp đồng với US Air Force và được cấp kinh phí để chế tạo hệ thống kết nối những sensors FADEC (Full Authority Digital Electronic Control) trong động cơ phản lực F.35 của Không Quân Hoa Kỳ. FADEC là project lớn dưới sự giám sát của cơ quan NASA Hoa Kỳ.
Ngoài NASA, công ty Luraco vinh dự được làm việc chung với Boeing và GE là hai công ty chế tạo động cơ phản lực (jet engine) cho phản lực cơ Hoa Kỳ. Ðây là công ty duy nhất của người Việt Nam nhận được kinh phí trực tiếp từ Bộ Quốc Phòng Mỹ để nghiên cứu và chế tạo những sản phẩm kỹ thuật cao cho quân đội.
Người Mỹ khó tin được là các em trong công ty mới mẻ này là con một gia đình tỵ nạn cộng sản chỉ mới đặt chân đến Hoa Kỳ từ năm 1995. Thực dụng trong ngành thẩm mỹ ở Mỹ, Luraco là công ty đầu tiên sáng chế ra ghế Mini Pedicure Spa cho trẻ em, Jet nam châm (Magna-Jet) cho bồn Spa, máy khử mùi hóa chất (ChemStop) và máy hút bụi nail (Partigon) cũng như ghế Massage iRobotics.
Hai năm liền 2010 và 2011, công ty Luraco được vinh dự đón nhận bằng khen là một trong 50 công ty Châu Á phát triển nhanh nhất trên toàn quốc Hoa Kỳ. Năm 2010, công ty Luraco được xếp hạng thứ 69 trong 100 công ty phát triển nhanh vùng Dallas Fort Worth do Khoa Thương Mại trường Ðại Học SMU bình chọn. Trong bốn anh em nhà họ Lê, Tiến Sĩ Kevin Huy Lê là một thành viên trong Hội Quang Học Quốc Tế (The International Society for Optical Engineering) và là người giám định (Peer Reviewer) cho nhiều công bố về khoa học kỹ thuật cũng như tác giả của hơn 20 “technical publications in journals and conference proceedings.”
Những ngày ở Gio Linh: Nhớ lại những ngày xa xưa, Lê Thành, giám đốc công ty Luraco, ngày nay cũng là một MC và “Mạnh Thường Quân” của cộng đồng tị nạn tại Dallas, Ft. Worth, đã nói rằng anh không bao giờ quên những ngày khốn khổ ở vùng quê Gio Linh, một vùng bị chiến tranh tàn phá rất nặng nề, ngổn ngang những đống gạch vụn và những hố bom. Sau tháng 4, 1975, khi thân phụ phải vào trại tù tập trung, mẹ anh phải đưa các con về nương tựa bên ngoại.
Khi mẹ anh kiếm được một chân y tá tại trạm y tế Gio Linh, Thành mới lên 5 tuổi, cùng với đứa em kế theo mẹ về trạm xá, còn hai em nhỏ trong đó có một đứa mới sinh phải “rứt ruột” gởi cho ông bà ngoại nuôi. Ba mẹ con ở trong một căn phòng lợp tranh, vách đất, không có điện bên cạnh trạm xá. Sau những giờ đi học, Thành phải đi mót củi, nấu cháo hay khoai và trông chơi với em. Thành rất thương mẹ, nhớ đến những lúc mẹ khóc, nước mắt ướt cả mặt anh vì cuộc sống quá cơ cực, cô đơn mà chồng không biết lưu lạc ở trại tù nào. Con đến trường thì bị gọi là “con ngụy”, mẹ nơi chỗ làm thì được xem là “chồng có nợ máu!”
Sau 7 năm, khi cha của ông đi tù về mở một tiệm mộc, mẹ ông bỏ việc trở về sum họp với gia đình tại thôn Gio Mai. Thành lên trung học rồi thi đỗ vào Ðại Học Sư Phạm Huế. Những năm cuối cùng trước khi lên đường đi Mỹ, Thành dạy tại trường Cao Ðẳng Sư Phạm Quảng Trị. Nhờ những tín chỉ của ÐH Sư Phạm, chỉ 5 năm sau khi đến định cư tại Dallas- Ft Worth, Lê Thành đã lấy xong Master ngành điện tử, cùng với các em Lê Hiếu, bốn năm sau lấy bằng tiến sĩ cùng ngành để xây dựng lên một công ty có đủ khả năng cạnh tranh với các công ty lớn của Mỹ.
So với những gia đình cựu tù nhân khác, gia đình ông Lê Thiệu đến Mỹ tương đối muộn vì lúc ra tù, ông tìm về quê cũ, một vùng đất xa xôi, nghèo khổ, xa ánh sáng đô thị, thiếu hẳn tin tức và bạn bè. Nhất là sau khi Thừa Thiên, Quảng Trị sát nhập với Quảng Bình của miền Bắc để thành Bình Trị Thiên, tỉnh này thuộc cơ chế hành chánh của miền Bắc, khắt khe và đầy sự kỳ thị.
Mãi đến đầu năm 1990, khi thấy rõ, chắc chắn bạn bè lên đường đi định cư ở Mỹ, ông Lê Thiệu mới dám nộp đơn cho công an địa phương. Nhờ tinh thần hiếu học và sự cố gắng vươn lên trong hoàn cảnh khắc nghiệt của tuổi ấu thơ nên khi đến Mỹ, anh em nhà họ Lê như giống tốt gặp môi trường đất đai, khí hậu, phân bón tốt đã đâm chồi, nẩy lộc, cho trái tốt. Tuy vậy "nhớ công ơn cha mẹ đã trải qua những nỗi nhọc nhằn, tạ ơn nước Mỹ, đất của cơ hội đã cưu mang cho chúng con một đời sống mới và cộng đ ồng người Việt tị nạn luôn luôn gần gũi, thương yêu gia đình chúng con,” đó là những lời giãi bày của những đứa trẻ từ mảnh đất Gio Linh nghèo khó, hôm nay đã thành công trên đất nước Hoa Kỳ.
Luraco Technologies lọt vào Top 50 tức 50 công ty hàng đầu do người Mỹ gốc Châu Á làm chủ có tiềm năng và đã phát triển mạnh.
Luraco Technologies Inc. là một công ty kỹ thuật cao, thành lập năm 2005 do ba anh em trong một gia đình người Việt điều hành.
Đây là một gia đình từ Đông Hà, Quảng Trị sang Mỹ theo diện HO năm 1995, định cư tại nơi Luraco ra đời là thành phố Arlington thuộc quận Tarrant tiểu bang Texas 18 năm qua. Quận Tarrant, bao gồm hai thành phố rộng lớn Dallas Fort Worth và Arlington, cũng có một ủy viên người Mỹ gốc Việt, anh Nguyễn Xuân Hùng.
Tuần trước, trong một lần gặp gỡ với ủy viên Tarrant County Nguyễn Xuân Hùng, Thanh Trúc được nghe về Luraco Technologies như sau:
"Tôi quen anh Lê Thành, anh Kevin Lê và các anh em trong gia đình đó. Tôi rất hãnh diện về những thành đạt của công ty Luraco Technologies, một trong những tiểu thương vượt bực trong vùng Bắc Texas này, đã được tổ chức SBA Small Business Administration công nhận điều đó. Tôi có đi tham dự nghi lễ trao tặng giải thưởng, tôi cũng rất hãnh diện và vui lây cho sự thành công đó của gia đình anh Lê Thành. Một trong những đặc điểm làm Luraco khác với những công ty khác là luôn khiêm nhường trước những thành công của mình, và đặc biệt Luraco lúc nào cũng đóng góp, tái đầu tư lại trong cộng đồng Á Châu và cộng đồng Việt Nam của chúng ta. Luraco lúc nào cũng đóng góp, tái đầu tư trong cộng đồng Á Châu và cộng đồng Việt Nam của chúng ta." (Ô. Nguyễn Xuân Hùng, UV quận Tarrant)
Ba người trong năm anh chị em của gia đình đã tạo dựng công ty kỹ thuật cao Luraco là anh cả Lê Thành, giám đốc điều hành Luraco, người em kế Lê Huy Kevin, tiến sĩ ngành Quang Học Điện Tử, giám đốc kỹ thuật, đã sáng chế Bộ Cảm Ứng Thông Minh Intelligent Multi- Sensor, sử dụng trong hai động cơ trực thăng chiến đấu Blackhawk và Apache của quân đội Hoa Kỳ.
Bên cạnh đó, Luraco Technologies còn đảm nhận hợp đồng của Bộ Quốc Phòng để nghiên cứu và sáng chế các cơ phận điều khiển và phản ứng cho phản lực cơ chiến đấu F35 của không lực Hoa Kỳ. Đó cũng là lý do hai lần liên tiếp Luraco Technologies được vào Top Denfense Contractors của Tarrant County.
Đến với mục Đời Sống Người Việt Khắp Nơi hôm nay, tiến sĩ Lê Huy Kevin là người đầu tiên nói chuyện cùng quí vị:
"Về hệ thống Multi Sensor, Hệ thống Cảm Ứng Thông Minh mà công ty Luraco Technologies đã thành công phát minh ra được thì Kevin không được phép nói nhiều. Nhưng nói sơ thì đây là hệ thống được dùng trong các máy bay chiến đấu của Hoa Kỳ và nó đảm nhiệm nhiều chức vụ rất quan trọng. Bên cạnh đó, công ty Luraco Technologies đã vinh dự nhận được sự ủng hộ của US Air Force, đã cung cấp chi phí để công ty nghiên cứu và phát triển ra một hệ thống điều khiển và phản ứng trong máy của F35."
Để có thể ký được những hợp đồng chế tạo Bộ Cảm Ứng Thông Minh cho trực thăng Blackhawk và Apache của quân đội Hoa Kỳ, tiếp đến là hệ thống kiểm soát và cảm ứng trong máy móc của phản lực cơ chiến đấu F35, giám đốc kỹ thuật Lê Huy giải thích tiếp:
"Bước chân vào lãnh vực nghiên cứu cho Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ là một quá trình rất khó khăn. Nghiên cứu khoa học đã khó rồi mà làm cho quốc phòng lại càng khó hơn. Thứ nhất, đối với quốc phòng Hoa Kỳ, khoa học kỹ thuật của họ rất cao, người ta chỉ bỏ tiền ra cho các công ty nghiên cứu những dự án mà chưa được làm, những gì phải rất mới mẻ, phải rất novel tức phải rất advanced, rất tân tiến thì người ta mới bỏ tiền ra chi cho các công ty nghiên cứu mà thôi.
Một điều nữa, khi giao trách nhiệm cho một công ty làm nghiên cứu cho họ thì người ta audit tức là người ta kiểm tra công ty đó về khả năng có làm được hay không, có đủ máy móc trang thiết bị hay không rồi thì lý lịch của từng kỹ sư, từng khoa học gia trong nhóm làm nghiên cứu cho dự án đó, nói chung là có đủ trình độ kỹ thuật cao hay không và công ty đó có tin tưởng được hay không nữa chứ người ta không muốn giao dự án cho một công ty mà có thể một năm hay hai ba năm sau công ty đó không còn tồn tại. Thành thử khi nhận được dự án của bên chính phủ, đặc biệt bên Bộ Quốc Phòng của Hoa Kỳ, thì rất khó khăn. Điều vinh dự là chúng tôi đã được sự ủy nhiệm của Bộ Quốc Phòng giao cho công ty Luraco Technology đảm nhiệm nghiên cứu khoa học được dùng trong Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ. Không chỉ là công ty công nghệ cao…"
Theo giám đốc điều hành Lê Thành, Luraco không phải là công ty lớn nhưng để làm được những dự án cho quốc phòng thì cũng phải hội đủ những điều kiện cần thiết:
Như tiến sĩ Huy Lê có nói là quốc phòng họ audit thường xuyên chứ họ không muốn đưa tiền mà cuối cùng không nhận được cái gì, thành ra là cái điều hành của một công ty mà coi như đầy đủ tất cả các ban ngành, đồng thời phải căn cứ vào cái standard của Bộ Quốc Phòng thì thực ra đó cũng là một vấn đề khó khăn.
Những ban ngành mà giám đốc điều hành Luraco, anh Lê Thành, vừa đề cập tới có thể được kể ra là Ban Quản Lý, Ban Khoa Học Kỹ Thuật, Ban Kế Toán, Ban Nhân Sự, Ban Tiếp Thị...
Bên cạnh đó, giám đốc kỹ thuật Lê Huy trình bày tiếp:
"Dưới sản xuất thì có Bộ Phận Sản Xuất, Ban Yểm Trợ Sản Xuất, Ban Yểm Trợ Kỹ Thuật. Tất cả các ban phải phối hợp làm việc và hỗ trợ lẫn nhau để dẫn dắt công ty mỗi ngày càng phát triển.
Rất nhiều người Mỹ làm trong này rồi người Ấn Độ, người Việt Nam cũng nhiều. Người Mexico vô đây xin việc cũng nhiều lắm nhưng anh em vẫn nói với nhau là mình tạo ra công ăn việc làm thì mình giúp cho công đồng Việt Nam chúng ta.
==========
Tháng Năm vừa qua, Luraco Technologies được giải thưởng Exporter Of The Year, Nhà Xuất Khẩu Của Năm, do SBA Phòng Tiểu Thương quận Tarrant trao tặng. Cũng trong hai năm liền, 2011 và 2012, Luraco Technologies lọt vào Top 50 tức 50 công ty hàng đầu do người Mỹ gốc Châu Á làm chủ có tiềm năng và đã phát triển mạnh.
Công ty Luraco hai năm liền (2011-2012) đứng Top 50 công ty toàn quốc do người Mỹ gốc Châu Á làm chủ về sự phát triển mạnh và hứa hẹn. Đồng thời cũng hai năm liền đạt danh hiệu Top Defense Company Công Ty Quốc Phòng Hàng Đầu ở Tarrant County tức là vùng này. Vùng Dallas Fort Worth này có rất nhiều hãng Defense Company, trong đó ngay cả Lockheed, Bell Helicopter, Raytheon là những công ty tên tuổi trong ngành quốc phòng, nhưng Luraco Technologies vinh dự được bình chọn là Top Defense Company trong quận Tarrant và được hai lần như vậy, năm 2011 và 2012.
Công ty Luraco Technologies đã vinh dự nhận được sự ủng hộ của USS Air Force, đã cung cấp chi phí để công ty nghiên cứu và phát triển ra một hệ thống điều khiển và phản ứng trong máy của F35." (Tiến sĩ. Lê Huy Kevin)
Với đầu óc kinh doanh nhạy bén cộng thêm tính cần mẫn, anh em nhà họ Lê trong Luraco Technologies còn tận dụng công nghệ cao để chế tạo những sản phẩm tiên phong cho ngành móng tay thẩm mỹ mà người Việt ở Hoa Kỳ gần như chiếm lĩnh thị trường của đất nước này:
Luraco có 3 divisions, một phần làm cho quốc phòng Hoa Kỳ, một phần làm cho sức khỏe và thẩm mỹ và một phần làm những bộ điều khiển hệ thống bồn tắm Jacuzzi, cái này cũng đi vào thị trường Mỹ.
Còn về ngành Nails, Việt Nam chúng ta chiếm 75% thị trường Nails của thế giới chứ không phải của Hoa Kỳ nữa thì Luraco có nhiều sản phẩm tiên phong trong đó. Ví dụ Luraco là công ty đầu tiên chế tạo ra cái ghế Mini Spa cho trẻ em, Luraco là công ty đầu tiên trên toàn cầu nghĩ ra và làm ra cái ghế Pedicure Spa cho trẻ em. Rồi Luraco đã được đài truyền hình NBC đưa tin nhiều lần vì đây là cái đột phá mới trong vấn đề vệ sinh an toàn và có rất nhiều sản phẩm mà Luraco là công ty tiên phong.
Còn ví dụ như ghế massage Irobotics, Luraco là công ty đầu tiên và duy nhất chế tạo ra ghế massage vật lý trị liệu y khoa. Không phải tự hào là đầu tiên nhưng ít ra Luraco cũng làm được cái điều mà Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc đã làm thì Việt Nam cũng có công ty đầu tiên là Luraco làm.
Với 18 năm định cư tại đất mới, chưa được hai thập niên khi tương đối đã lớn tuổi, do đâu mà các anh em trong gia đình lại thành đạt như vậy? Trả lời câu hỏi này, tiến sĩ Lê Huy cho biết có thể nhiều phần là do anh em trong nhà luôn tự hào về gốc gác Đông Hà Quảng Trị và truyền thống hiếu học mà cha mẹ trao truyền cho:
"Gia đình em đi theo diện HO 31, qua Mỹ năm 1995, trước khi đi gia đình em vẫn ở Đông Hà, Quảng Trị. Năm 1995 tức là 20 năm sau khi chiến tranh kết thúc thì lúc đó Kevin ở Việt Nam vừa mới vào đại học, qua đây phải làm lại tất cả từ đầu, phải đi học lại.
Từ nhỏ khi còn ở Việt Nam, ba mẹ lúc nào cũng khuyến khích con cái học hành.. Ba em là người rất hiếu học. Bởi vì có vốn tiếng Anh, tiếng Pháp học từ miền Nam mà sau này ba em đi làm thông dịch cho các phái đoàn nước ngoài vào thăm Việt Nam, đồng thời ba em cũng dạy cho tụi em tiếng Anh. Lúc bước chân đến Mỹ thì tụi em đã có ít vốn tiếng Anh học từ trường và học từ ba.
Qua đây, dĩ nhiên có nhiều cái mình phải cố gắng, nhất là tiếng Anh, mặc dù có học ở Việt Nam nhưng vẫn rất khó khăn. Lúc đầu thực ra mà nói vào trường mà muốn học tới bằng Cử Nhân là mừng lắm rồi nhưng sau khi tốt nghiệp cử nhân xong thì em thấy mình có khả năng để học lên nữa. Lúc đó, xong cử nhân thì em ra làm kỹ sư ở bên ngoài, buổi đêm đi học thêm để lấy bằng Master. Sau cái Master thì em nghỉ làm và em bắt đầu chương trình Tiến Sĩ."
Tiến sĩ Lê Huy Kevin, GĐ Kỹ thuật Luraco Technologies nhận bằng khen (Photo courtesy of Luraco)
Vừa đi làm vừa chịu khó đi học, mấy anh em của Lê Huy đều tốt nghiệp và có bằng cấp. Ngoài Lê Huy lấy bằng tiến sĩ, anh cả Lê Thành, hiện tại là giám đốc điều hành của Luraco Technologies, cũng tốt nghiệp bằng Master về ngành điện. Người em thứ ba, Lê Hiếu, tốt nghiệp Master về ngành Computer Science, còn người em trai út là bác sĩ về ngành tim:
"Có rất nhiều cái dẫn dắt gia đình với bản thân Kevin đến ngày hôm nay. Thứ nhất là sự khuyến khích và sự hướng dẫn của ba mẹ, thứ hai là sự cố gắng và thứ ba nữa là sự động viên của bà xã Kevin. Bà xã Kevin lúc nào cũng hết mình support ủng hộ cho Kevin học hành đó."
Đúng như lời ủy viên Tarrant County Nguyễn Xuân Hùng, Luraco Technologies không chỉ là một công ty công nghệ cao mà còn là một doanh nghiệp xã hội. Điều này được tiến sĩ Lê Huy xác nhận :
"Công ty Luraco trước tiên hết là một family company, khi là một công ty gia đình thì nói chung công ty rất quan tâm các vấn đề ngoài xã hội. Luraco thường xuyên tham gia các chương trình gây quĩ, giúp đỡ người nghèo hoặc giúp những em học giỏi ở Hoa Kỳ cũng có và ở Việt Nam cũng có. Tại Hoa Kỳ thường là công ty Luraco cũng có một quĩ trao phần thưởng cho học sinh tốt nghiệp hạng ưu để khuyến khích các em, Ở Việt Nam thì Luraco nhiều lần trao học bổng cho học sinh, sinh viên nghèo có thành tích xuất sắc, để giúp các em học hành.
Đối với quê hương Đông Hà Quảng Trị của Kevin thì công ty cũng cấp học bổng cho một số trường và các em học sinh nghèo quanh Đông Hà Quảng Trị để cho họ có cơ hội tiếp tục học hành. Đa số thì cũng còn túng thiếu nhiều thứ nên đối với bà con, nhất là những người lớn tuổi, thì gia đình Kevin coi đó là một phần san sẻ và cố gắng giúp cho những người kém may mắn hơn mình."
Với những lời chia sẻ của tiến sĩ Lê Huy, Thanh Trúc mạn phép ngưng câu chuyện về Luraco Technologies, công ty kỹ thuật cao đang sánh vai cùng những công ty Hi-Tech tên tuổi của người bản xứ ở Dallas Fort Worth và Arlington, tiểu bang Texas, Hoa Kỳ.
Thanh Trúc

Inline image



Cùng nhau cười, vui là chính!!!

Hảo tâm
LUẬT SƯ

Click image for larger versionName: 27.jpgViews: 0Size: 7.9 KBID: 1798896  
Ngày nọ, một luật sư đang lái xe trên đường thì bắt gặp một người đàn ông đang ăn cỏ. Rất ngạc nhiên, luật sư dừng lại và hỏi chuyện.

- Này, tại sao anh lại ăn cỏ thế?

- Vì quá nghèo khổ và không kiếm nổi thứ gì để ăn. - Người đàn ông trả lời.

- Thật tội nghiệp, thôi anh hãy đến nhà tôi đi.

- Nhưng tôi còn một vợ và ba đứa con ở nhà.

- Thế thì về nhà kêu tất cả họ cùng đi.

Sau khi tất cả đã lên xe, người đàn ông nói:

- Ông là luật sư tốt bụng nhất mà tôi từng thấy!

- Rồi anh và vợ con sẽ thích ngay thôi. - Luật sư trả lời.
- Ở sân sau nhà tôi, cỏ mọc ngập đầu rồi!


Trả lời quá chuẩn
CHỊ EM GÁI

Click image for larger versionName: 26.gifViews: 0Size: 12.8 KBID: 1798895  
Đứa em hỏi chị:
+ Tại sao mọi người thích làm "chuyện ấy" thế ?
- Thì cũng giống như mày thích ngoáy mũi mà

+ Thế con trai sướng hơn, hay con gái sướng hơn?
- Thế mày ngoáy mũi thì mũi sướng hay ngón tay mày sướng ?

+ Thế tại sao khi con gái bị cưỡng.....thì sao lại không sướng ?
- Thế có kẻ chọc tay vào mũi mày thì mày có sướng nổi không ?

+ Thế tại sao con gái đến tháng thì không làm chuyện đấy ?
- Mày chảy máu cam thì có muốn ngoáy mũi nữa không ?


Giấc mơ tuyệt vời
BẠN BÈ 

Click image for larger versionName: 25.jpgViews: 0Size: 31.7 KBID: 1798893  
Hai người bạn ngồi trong một quán bar đang kể cho nhau nghe về những giấc mơ của họ.

- Tôi mơ thấy mình đang đi nghỉ mát - Một người nói - Chỉ có tôi, cái cần câu và một cái hồ lớn tuyệt đẹp. Thật thơ mộng làm sao.

- Tối qua, tôi cũng có một giấc mơ đẹp - Người kia kể - Tôi mơ thấy mình đang trong vòng tay của hai cô gái xinh đẹp và cả ba đã có một đêm thật tuyệt!

Người đầu tiên mở to mắt nói:

- Cái gì, anh ở với hai cô gái xinh đẹp mà lại không gọi cho tôi à?

- Ồ có chứ - Người kia trả lời - Tôi đã gọi nhưng vợ anh nói anh đi câu cá rồi!!!


--
Lượm lặt.



Mẹo hay nhà bếp. Lưu lại nha. Sẽ có ích lắm đấy

























Corona và Con Đường Tơ Lụa mới

Nguyễn thị Cỏ May

Xưa nay, trong lịch sử nhơn loại, bịnh dịch không phải là điều mới lạ. Từ thời Trung cổ, và gần đây hơn, vào đầu thế kỷ XX, nhiều người hảy chưa quên cơn dịch cúm tây-ban-nha (grippe espagnole) xảy ra khi Đại thế chiến vừa kết thúc, sát hại hết 50 triệu người (có tài liệu thống kê 100 triệu). Suốt thời gian dài, người ta cầu nguyện thánh thần phù hộ tránh khởi bịnh dịch.

Ngày nay, khi dịch Corona xảy ra ở Vũ Hán, dân tàu không khấn vái Thổ thần và Hà bá nữa mà lại réo gọi đảng và Nhà nước cộng sản ra chửi rủa vì đã không quản lý được dịch Corona để cả 750 triêu dân tàu bị cô lập, người chết lăn cù ra khắp nơi,  …Từ vụ dịch Sras năm 2003, cách phản ứng của đảng cộng sản và Nhà nước tàu vẫn không có gì khá hơn. Vẫn đàn áp người dân nói sự thật, vẫn độc quyền thông  tin, vẫn tuyên truyền dối trá. Nhơn dân ngày càng thêm thù ghét đảng và Nhà nước cộng sản.

Từ Vũ Hán là cái nôi, nay dịch Corona lây lan ra 105 nước trên thế giới, nhiễm bịnh 114.151 người, chết hơn 4012 người (AFP, 10/3). Ở Âu châu có Ý và Pháp bị ảnh hưởng nặng hơn hết. Riêng Ý hiện nay có 11 tỉnh thành với 15 triệu người, tức ¼ dân số, bị cô lập hoàn toàn với bên ngoài.  Chánh phủ Ý vừa ban hành nhiều biện pháp nghiêm nhặt hơn để đối phó với bịnh dịch.

Dịch Cronavirus đang làm xáo trộn mạnh đời sống xã hội và kinh tế toàn cầu. Nhưng khi nó chấm dứt hẳn, hết lây nhiểm, hết chết chóc, liệu thế giới sẽ trở lại với sanh hoạt bình thường như trước đây hay không ? Và dự án đầy tham vọng «1 Con đường 1 Vành đai» của Xi sẽ được thực hiện như ước mơ hay không ?

 

Một con virus có thể làm thay đổi dòng lịch sử ?

Có thể lắm chớ khi một số đông dân chúng thế giới bị sát hại như trường hợp trận dịch «La Peste noire» (Dịch hạch đen) đã giết người hàng loạt tứ Á sang Âu và cả Phi châu. Nay dịch Corona đang lây nhiễm gần khắp thế giới nhưng lại không làm thiệt mạng nhiều người đến như vậy. Thật phước đức cho nhơn loại ! Tuy nhiên nó lại phá vở hệ thống kinh tế và địa chính đang chi phối thế giới. Pháp tỏ ra lo ngại. Ông Bruno Le Maire, Tổng trưởng Kinh tế và Tài chánh, cho rằng con virus Corona này là một thứ «game-changer», nghĩa là con virus làm thay đổi hẳn những qui luật của cuộc chơi từ trước đến nay.

Thật sự có đúng như vậy không ?

Chỉ trong vòng vài tuần lễ, trong lúc dịch bịnh chưa tới đỉnh điểm, thế mà người ta thấy ảnh hưởng của nó đã làm xáo trộn nước Tàu của Xi như chưa bao giờ đã xảy ra như vậy, làm chao đảo Iran, hăm dọa sự tăng trưởng của thế giới, ngấm ngầm len lỏi ảnh hưởng cuộc bầu cử ở Mỹ, nơi mà kinh tế vừa lấy lại đà phát triển và vấn đề bảo vệ sức khỏe cho toàn dân đang trở thành thời sự. Dịch Corona tuy chưa phải là cúm tây-ban-nha nhưng thế giới chắc chắn sẽ khó vận hành theo đường lối cũ một khi dịch ngưng tác hại !

Thật vậy một số hệ quả của bịnh dịch để lại rất hiển nhiên. Ở Tàu, nơi phát xuất bịnh dịch, con virus Corona làm bộc lộ sự bất tín nhiệm và chống đối ngầm của dân chúng đối với nhà cầm quyền mặc dầu họ bị kiểm soát nghiêm nhặt bằng hệ thống công an dày đặc và cả hệ thống công nghệ cao.  Sự giận dữ của dân chúng nổi lên đều khắp trên mạng về cái chết của Bác sĩ nhản khoa Li Wenliang, nhứt là khi biết ông báo động bịnh dịch đang lây nhiễm cho các bạn của ông làm việc ở  nhà thương mà ông bị công an bắt nhốt về «tội loan truyền tin thất thiệt gây hoang mang dân chúng» và ông phải làm tờ «tự kiểm». Lẽ ra nhà cầm quyền đã nghe lời báo động của ông mà phản ứng thich hợp thì đã tránh được cho nước Tàu và thế giới cái tai vạ như hiện nay. Phản ứng mãnh liệt của dân chúng chống đối nhà cầm quyền lần đầu tiên làm tổn thương nhóm lãnh đạo chốp bu Đảng-Nhà nước và đặt Xi trước một thách thức khó lường trước được.

Thấy được lòng dân, bộ máy tuyên truyền của Nhà nước liền tăng cường hết tốc lực nhằm thuyết phục nhơn dân tàu về khả năng ưu việt của bộ máy cầm quyền đã động viên mọi phương tiện để chặn đứng cơn dịch. Nhưng nói dối ban đầu và lấy quyết định chặm trễ của đảng và Nhà nước vẫn còn là vết đen làm hoen ố hình ảnh nhà lãnh tụ độc nhứt đầy quyền lực. Và điều chắc chắn mà người dân ai cũng thấy là các nhà lãnh đạo đang hoang mang, mất tự tin và hoảng sợ. Chính họ cũng thấy rõ điều này ở họ !

Về mặt kinh tế, hậu quả quan trọng của dịch Corona là các nước làm ăn với Tàu đã ý thức rõ sự lệ thuộc quá nhiều đối với «xưởng của thế giới » (usine du monde) là rất nguy hiểm nên họ đã bắt đầu di chuyển cơ sở tới những nơi khác an toàn, giá rẻ hơn và cách làm ăn thoải mái hơn. 

Hệ thống toàn cầu từ nay bắt đầu xét lại sâu sắc tuy chưa có thể nói nó sẽ thay đổi tới đâu, hay dở tới đâu. Hi vọng con virus Corona sẽ là điều kiện bắt buộc nhiều người suy nghĩ tìm cách chuẩn bị ngày mai này thế giới phát triển tốt đẹp hơn, an lành hơn. 

 

Corona và «1 vành đai 1 con đường » ? 

Xưa nay, bịnh dịch vẫn thường mượn con đường  thương mại mà tới viếng thăm nhiều nước (Theo nhà địa dư học, Michel Foucher, Les Frontières, CNRS, Paris 2016). Và Corona nay có mặt tại trên100 nước cũng bằng con đường  giao thương, dĩ nhiên không giống như xưa, mà cụ thể là hệ thống kinh tế toàn cầu.

Nhà địa dư học Michel Foucher nói điều đó để nhằm cổ võ cho thuyết tháo gở hệ thống toàn cầu hóa (la démondialisation). Năm sau, sử gia người Mỹ, Giáo sư Peter Frankopan dạy Oxford, Harvard, Yale, …trong cuốn sách best-seller quốc tế «Con đường tơ lụa» (Les routes de la soie, Nevicata, 2017), cuốn sách được báo chí quốc tế đánh giá là quan trọng nhứt từ nhiều thập niên nay, sau phần nhắc lại trận dịch hạch thế kỷ XIV bằng cách nào nó từ những đồng cỏ (steppes) âu-á lan qua tới Âu Châu nhanh chóng, làm đảo lộn trật tự thế giới lúc bấy giờ, ông đề cặp dịch Corona đang phát tán khắp địa cầu ngày nay.

Sử gia Frankopan suy nghĩ trên những số liệu vững chắc, khác với những số liệu được phổ biến, về qui mô của bịnh dịch. Trước tiên ông đau lòng cho những gia đình mất người thân yêu.  Kế đến, ông báo động dịch Corona làm xáo trộn trật tự thế giới. Và trong lịch sử, những mầm gây bịnh vẫn có thể giết chết nhiều nền kinh tế chớ không riêng gì chỉ con người mà thôi. Làm biến đổi xã hội. Ông nhắc lại hệ quả ghi nhận được từ cuôc chinh phục của quân mông-cổ, đó là làm thay đổi Âu Châu lúc đó không do thương mại, không do chiến tranh, không do văn hóa hay tiền tệ, mà lại do dịch hạch đen. Mặc dầu người ta vẫn chưa biết từ đâu nó xuất hiện, cái nôi sơ khởi của nó ở đâu, nhưng người ta thấy nó lây lan cực nhanh, do những con rận, con chuột, con lạc đà, từ những cánh đồng cỏ âu-á đem qua tới Âu Châu, Iran, Cận-Đông, Ai Cập và bán đảo á-rặp. Và hiển nhiên là những con đường thương mại nối liền Âu châu với phần còn lại của thế giới đã trở thành những con đường đưa bịnh dịch tới xâm nhập. Người ta ước tính Âu Châu phải mất ít lắm là 1/3 dân số vì cơn dịch hạch đen ấy, tức 25 triệu người trên tổng số dân 75 triệu.

Vậy đoàn quân mông-cổ lúc đó chỉ mượn con đường buôn bán mà chinh phục Âu Châu hay họ đã biết chiến tranh vi trùng rồi ?

Chắc họ đã nghĩ ra làm chiến tranh tiến chiếm xứ khác bằng sức mạnh của vi trùng. Khi tới trước thành của một nước muốn đánh chiếm, quân mông-cổ dùng xe trang bị giàn bắn đá, một thứ trọng pháo thời đó, bắn xác chết nhiễm dịch hạch đen vào bên trong thành của địch. Thế là bịnh dịch bắt đầu phát tán, bám lấy người trong thành. Chỉ ít lâu sau đó là đối phương im lìm, quân mông-cổ từ từ tiến vào và chiếm thành. Cũng như dùng thuốc độc. Khi thành bị vây, một thời gian sau, trong thành cần tiếp tế lương thưc. Nhứt là nước uống.

Giặc sẽ đầu độc nước. Khi có vài người trong thành bị ngộ độc thì cấp chỉ huy sẽ có biện pháp phản ứng.  Nhưng cách công thành của quân mông-cổ bằng xác chết đầy vi trùng thì đối phương không thể không mở cửa thành và xin đầu hàng. Biến cố năm 1346 của quân mông-cổ cho thấy mầm bịnh làm được thứ vũ khí cực mạnh, cực hữu hiệu, để đánh chiếm nước khác. 

Tập Cận-Bình nuôi Coronavirus ở Vũ Hán chắc phải có ý đồ gì chớ ?

Ngay từ thế kỷ thứ XIV, con đường thương mại nối liền Âu Châu với phần còn lại của thế giới vận chuyển hàng hóa, làm cho những nước trên tuyến đường đó trở nên giàu có nhưng đồng thời nó cũng đem tới những nơi đó những vi trùng bịnh dịch. Và một lúc nào đó biết đâu những vi trùng bịnh dịch lại không được biến thành vũ khí chiếm đất ?

Chuyện bất ngờ là Ý vốn là cửa ngõ của «Con đường tơ lụa xưa», cách nay vài tháng, lại là nước bị nhiễm dịch Tập Cận-Bình trước tiên ở Âu Châu, và nặng nhứt,rồi từ đây, virus corona mới từ từ bay qua các nước khác.

Vậy thử nghĩ «1 vành đai 1 con đường » một khi hoàn thành và đi vào hoạt động, Tập sử dụng nó để chuyên chở hàng hóa cùng với virus đem tới các nước nằm dọc theo lộ trình, hàng hóa thì bán, virus thì cho không để thực hiện «giấc mơ tàu» mà Tập từng ôm ấp từ lúc lên ngai Hoàng đế. TS Francis Boyle, tác giả Luật của Mỹ về võ khí vi trùng, xác nhận Coronavirus là thứ võ khí chiến tranh. Vậy khi con virus này được thí nghiệm đầy đủ và từ đó, tìm ra được thuốc chủng, thì ai ngăn cấm Tập sử dụng nó như vũ khí ?

Nhưng đó là người tính. Còn ông Trời nữa chớ. Ông có chịu đứng về phía người ác hay không ?

 

Thái độ của Âu Châu

Những nước trước đây từng coi Tập Cận-Bình là đồng minh có thể chia sẻ những vần đề thế giới thì nay họ chẳng những không tín nhiệm Tập nữa mà còn chống lại vì thấy Tập ngày càng tỏ ra độc đoán, cả với mọi người.

Tại diễn đàn Davos ở Thụy Sĩ, Tập ca ngợi chủ trương đa phương, trao đổi tự do và tranh đấu bảo về khí hậu. Nhiều nước Âu Châu thấy Tập hấp dẫn hơn ông Trump, không chỉ trích OTAN. Dự án «1 vành đai 1 con đường» làm cho nhiều nước khao khát tham dự. Nhưng sự hồ hởi ban đầu ấy dần dần lắng dịu trong lúc Âu Châu phải đối phó với đà vượt lên siêu cường của Tàu và toan tính áp đặt lên Âu Châu một trật tự mới theo lý thuyết của Tập.

Ở trong nước Tập đàn áp dân chúng, bên ngoài, như ở Âu châu, đảng-Nhà nước của Tập tìm cách dập tắt mọi phê phán. Âu Châu đã phản ứng mạnh mẽ chống lại việc Tập muốn gây ảnh hưởng lên Âu châu, làm áp lực Âu châu hướng theo mô hình của Tàu. Các nước Âu Châu đã phải khẳng định với Tập về sự khác biệt căn bản hệ thống chánh trị của Tàu với các nền dân chủ Tây phương. Cũng như Tây phương tôn trọng tính phổ quát của nhơn quyền còn Bắc Kinh thì vượt qua và mặc nhiên vi phạm nhơn quyền, cụ thể như trong vụ đồng hóa Duy Ngô-Nhỉ, tiêu diệt Pháp Luân-Công, bày trừ Thiên Chúa giáo, Phật giáo,…

Theo ông Volker Perthes, Cố vấn Chánh phủ Đức về vấn đề quốc tế, các nước Ảu Châu thấy rõ Bắc Kinh ngày càng làm áp lực mạnh lên Âu Châu để khống chế Âu Châu theo đường lối của họ nên đã phản tỉnh, chống lại nhà cầm quyền tàu, không chỉ chống như khách hàng, chống lại thị trường  lớn và xưởng sản xuất cho Âu Châu, mà Âu Châu chống Tàu vì thế địa-chánh và tác nhơn địa-kinh tế, kẻ thách thức với những  giá trị truyền thống của Âu Châu.

Theo kết quả thăm dò thì những cảm tình hay quan điểm tích cực đối với Tàu đã giảm mất rất nhiều từ năm rồi ở phần lớn các nước Âu Châu. Ba chánh đảng ở Thụy Điển đã đồng thanh lên tiếng yêu cầu chánh phủ hãy trục xuất Đại sứ Tàu ở Stockholm về nước vì tên tàu này đã dám hăm dọa công khai giới chức Thụy Điển, truyền thông và tổ chức nhơn quyền. Họ kêu gọi các xí nghiệp thụy điển hãy quan tâm quan điểm của dân thụy điển mà rút khỏi Tàu, một xứ khủng khiếp.

Hồi tháng 3 năm rồi, lần đầu tiên, Ủy Hội Âu Châu xác nhận Tàu là «một nước tranh chấp có hệ thống» tìm cách áp đặt lên Âu Châu cách cai trị của họ, xóa bỏ hẳn các ý niệm dân chủ, tự do, nhơn quyền truyền thống của Âu Châu. Một diễn tiến khá xa vì trước đây là quan hệ thuơng mại cùng có lợi . Từ nay các nhà lãnh đạo Âu Châu làm việc để đi đến một lập trường chung trước khi có chương trình họp thượng đỉnh giữa Chủ tịch Tập với 27 nước ở Leipzig, Đức  vào tháng 9 tới đây .

Với thái độ mới này, uu tiên tuyệt đối của Âu Châu là tránh để bị Tàu dẵm chơn.

Nếu các nước khác cũng lần lược lấy thái độ cứng rắn đối với Tàu thì họ phải thay đổi cách ứng xử của họ. Sáng kiến «1 vành đai 1 con đường» chắc chắn sẽ phải xét lại, khó thực hiện vì hiện tình kinh tề tàu đang suy thoái, chánh quyền đánh mất lòng tin với cả thế giới, sự tăng trưởng toàn cầu suy giảm nặng. Món vũ khí Coronavirus để đánh chiếm thế giới bị bể ngang. Ngoài ra ai dám chắc thanh niên tàu sẽ không nổi lên vì bất mãn, chống lại đảng cộng sản, đòi thực thi dân chủ tự do ? Như thanh niên hồng-kông. Như dân đài-loan.

Trời phải thương những kẻ lương thiện chớ !

 

Nguyễn thị Cỏ May

 




--
--
====================================================================
Web Site Diễn Đàn của Một Nhóm Thân Hữu CSVĐH Khoa Học Sàigòn:
http://khoahocsaigon.forumotion.com
====================================================================
Trên Facebook :
http://www.facebook.com/DaiHocKhoaHocSaiGon
====================================================================
 
Bạn đã nhận được bài viết này vì bạn đã đăng ký vào Nhóm "KhoaHocSG" của Google Groups.
* Để đăng bài lên nhóm này, hãy gửi email đến "khoa...@googlegroups.com"
* Để RÚT TÊN ra khỏi nhóm này, gửi email đến "khoahocSG+...@googlegroups.com"
* Để có thêm tuỳ chọn (preference set up), hãy truy cập vào nhóm này tại: http://groups.google.com/group/khoahocSG?hl=vi
---
Bạn nhận được thư này vì bạn đã đăng ký vào nhóm Google Groups "KhoaHocSG".
Để hủy đăng ký khỏi nhóm này và ngừng nhận email từ nhóm, hãy gửi email đến khoahocsg+...@googlegroups.com.
Để xem cuộc thảo luận này trên web, hãy truy cập https://groups.google.com/d/msgid/khoahocsg/DM6PR19MB40579BB3495D1C2B0F1237E9FC3D9%40DM6PR19MB4057.namprd19.prod.outlook.com.
1622393944242blob.jpg
FB_IMG_1622382284891.jpg
FB_IMG_1622382341189.jpg
FB_IMG_1622382351175.jpg
1622493630562blob.jpg
FB_IMG_1622382332676.jpg
FB_IMG_1622382377126.jpg
FB_IMG_1622382385513.jpg
FB_IMG_1622382361017.jpg
FB_IMG_1622382368890.jpg
IMG_6610.JPG
FB_IMG_1622382292613.jpg
FB_IMG_1622382298896.jpg
FB_IMG_1622382306993.jpg
FB_IMG_1622382322873.jpg
FB_IMG_1622382264128.jpg
FB_IMG_1622382269061.jpg
FB_IMG_1622382274373.jpg
Reply all
Reply to author
Forward
0 new messages