Fwd: [ChinhNghiaViet] LeVanThang viết thật hay về nguyên nhân Đệ Nhất Cộng Hòa bị xụp đổ: Trước nhất là Phật Giáo Thống Nhất Ấn Quang tức tổ chức ngoại vi của Phật Giáo Cứu Quốc Liên Khu 5 Việt Cộng tuân lệnh VC đánh phá, biểu tình tuyệt thực liên tụ

5 views
Skip to first unread message

Dr Nguyen Thi Thanh

unread,
Dec 24, 2010, 11:02:17 AM12/24/10
to xaydun...@googlegroups.com


---------- Forwarded message ----------
From: LeThanh Hoang <phuong...@yahoo.com>
Date: 2010/12/23
Subject: [ChinhNghiaViet] LeVanThang viết thật hay về nguyên nhân Đệ Nhất Cộng Hòa bị xụp đổ: Trước nhất là Phật Giáo Thống Nhất Ấn Quang tức tổ chức ngoại vi của Phật Giáo Cứu Quốc Liên Khu 5 Việt Cộng tuân lệnh VC đánh phá, biểu tình tuyệt thực liên tục cho đến năm 1963 và Nguyên Nhân Đệ Nhị Cộng Hòa bị sụp đổ cũng bị Phật Giáo Thống Nhất Ấn Quang biểu tình đánh phá từ 1963 cho đến 1975, khi giúp VC lấy được toàn bộ Miền Nam thì hết biểu tình, tuyệt thực...
To: Lelyt...@aol.com, tuong...@yahoo.com, sach...@sachhiem.net, giaodie...@yahoo.com, pha...@aol.com, phucl...@sbcglobal.net, wim-impa...@bluewin.ch, phucng...@yahoo.com, lugia...@yahoo.com, anta...@gmail.com, ngoch...@yahoo.co.uk, chetru...@vnn.vn, chetru...@gmail.com, bernar...@gmail.com, nin...@gmail.com, vd...@yahoo.com, tyvn...@gmail.com, duyenda...@yahoo.com, nguyen_ca...@yahoo.com, dhuyn...@yahoo.com, trinhdu...@gmail.com, huong...@yahoo.com, thuychu...@yahoo.com, quanp...@msn.com, nnl...@yahoo.com, backieu...@gmail.com, hoangra...@yahoo.com, hoabinhdanch...@gmail.com, JP...@santa-ana.org, vn-ta...@yahoogroups.com, gopgi...@yahoo.com, tqhnt...@yahoo.com, thi...@yahoo.com, vietle...@yahoo.com, vov...@hn.vnn.vn, web...@hcmup.edu.vn, webm...@hcmuns.edu.vn, webm...@qdnd.vn, nguyen_...@yahoo.com, lawb4...@yahoo.com, LyTon...@yahoo.com, tyvn...@yahoo.com, aph...@yahoo.com, hoan...@gmail.com, namk...@yahoo.com, hoang_du...@yahoo.com, dantu...@yahoo.com, nt...@yahoo.com, quai...@gmail.com, vietba...@gmail.com, thibu...@yahoo.com, VN-T...@yahoogroups.com, cdnv...@yahoo.com, backieu...@yahoo.com, chinhng...@yahoogroups.com, pho...@yahoogroups.com, vn-...@yahoogroups.com, vn-po...@yahoogroups.com, vn-ex...@yahoogroups.com, thao...@yahoogroups.com, goi...@yahoogroups.com, backieu...@yahoo.com, Chau Vu <chaul...@yahoo.com>, DD Cong Luan <DienDan...@gmail.com>, diendan...@yahoogroups.com


 

LeVanThang viết thật hay về nguyên nhân Đệ Nhất Cộng Hòa bị xụp đổ: Trước nhất là Phật Giáo Thống Nhất Ấn Quang tức tổ chức ngoại vi của Phật Giáo Cứu Quốc Liên Khu 5 Việt Cộng tuân lệnh VC đánh phá, biểu tình tuyệt thực liên tục cho đến năm 1963 và Nguyên Nhân Đệ Nhị Cộng Hòa bị sụp đổ cũng bị Phật Giáo Thống Nhất Ấn Quang biểu tình đánh phá từ 1963 cho đến 1975, khi giúp VC lấy được toàn bộ Miền Nam thì hết biểu tình, tuyệt thực...

--- On Thu, 12/23/10, vanthang le <levant...@gmail.com> wrote:

From: vanthang le <levant...@gmail.com>
Subject: [GoiDan] Nguyên Nhân Nền Đệ Nhất VNCH Bị Sụp Đỗ [ II]
To: Goi...@yahoogroups.com, "phonang" <Pho...@yahoogroups.com>, nguoivie...@yahoogroups.com, diendan...@yahoogroups.com, DienDan...@yahoogroups.com, vn-t...@yahoogroups.com, dienda...@yahoogroups.com
Date: Thursday, December 23, 2010, 11:50 AM

 
Nguyên Nhân Nền Đệ Nhất VNCH Bị Sụp Đỗ [ II]


Giai Đoạn Khởi Thuỷ Sự Sụp Đỗ Của Nền Đệ Nhất VNCH

Năm Canh Tý ( 1960)- năm tuổi của Tổng Thống Ngô Đình Diệm- là năm khởi thuỷ sự sụp đỗ NĐNVNCH, vì hai biến cố chính trị và hai biến cố quân sự. Biến cố chính trị gồm bản tuyên ngôn của nhóm Caravelle ngày 26-4-1960 [32] và sự ra đời của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam ngày 20-12-1960 [33]. Biến cố quân sự gồm trận đánh Trảng Sập ngày 26-1-1960, và cuộc đảo chánh của Nhảy Dù ngày 11-11-1960 [22].
Trận đánh Trảng Sập ngày 26-1-1960 [21, 22, 28]
Xử uỷ Nam Bộ VC  chủ trương mở một trận đánh giành thắng lợi để thúc đẩy phong trào nổi dậy của quần chúng Miền Nam,  và thu vũ khí chiến lợi phẩm. Ban quân sự VC chọn lựa mục tiêu Trảng Sập cách tỉnh lỵ Tây Ninh khoảng 8 cây số, do Trung đoàn 32 BB [tiền thân của Trung đoàn Biệt lập 48 BB, rồi sau đó sát nhập vào SĐ 25BB]  thuộc Sư đoàn 21/QL VNCH trấn giữ [21,22,28]. Trung tá Trần Thanh Chiêu, Tư  lệnh SĐ21/QLVNCH, là một đảng viên Cần Lao, không có kinh nghiệm chỉ huy chiến trường, nhựng chỉ có 5 năm đã được thăng cấp từ Trung uý lên Trung tá [22]; thông thường một cấp trung uý thời ấy được thăng đại uý cũng mất 4 hay năm, rồi đại uý lên thiếu tá cũng mất ít nhất 4 hay 5 năm năm nữa. Dĩ nhiên thời gian việc thăng cấp trong thập niên 1970 khác hẳn vào những năm đầu của thập niên 1960.
Lực lượng VC gồm 3 đại đội bộ binh, một đơn vị đặc công dưới quyền chỉ huy của tên VC Nguyễn văn Xuyến [4]. Quan niệm hành quân của VC là kết hợp các yếu tố nội tuyến, bí mật  và bất ngờ tấn công vào một trung đoàn của SĐ 21. Trận đánh diễn ra rất nhanh vì địch hoàn toàn chủ động. Tổn thất bên ta là khoảng 400 tử trân, 500 bị địch bắt làm tù binh cùng vô số vũ khị bị lọt vào tay địch.
Vấn đề đặt ra là tại sao Trung đoàn 32 của SĐ21BB  vũ trang đầy đủ, gồm phần đông sĩ quan và binh sĩ có tinh thần chống Cộng cao độ và đầy kinh nghiệm chiến trường mà lại thua đậm trong trận nầy ?
Tôi khẳng định rằng QLVNCH là một quân đội thiện chiến và có chính nghĩa; vì vậy chúng ta không thể bị thua một cách nặng nề như vậy. Những năm trân mạc từ cấp trung đội trưởng đến tiểu đoàn trưởng xác minh cho lời khẳng định của tôi. Thế thì tại sao một trung đoàn thiện chiến của ta lại thua như thế???. Sau đây là những lý do quân ta bị thua:
Thứ nhất, tiêu chuẩn chọn lựa 9 vị tư lệnh sư đoàn tác chiến thời đó là sai nguyên tắc. TT Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu  bổ nhiệm
7 sĩ quan Cần Lao TCG  làm tư lệnh sư đoàn [22, tr. 403] mặc dù đa số thiếu kinh nghiệm chiến trường và kinh nghiệm tham mưu; Trung tá Trần Thanh Chiêu hay hai vị tư lệnh trong trận Ấp Bắc là một trường hợp điển hình. Thông thường tinh thần và khả năng thiện chiến của đơn vị tuỳ thuộc vào khả năng chỉ huy và kinh nghiệm chiến trường của cấp chỉ huy; trường hợp chiến thắng và can trường của Tiểu đoàn  1/8 SĐ5BB là một trường hợp điển hình vì TĐ được chỉ huy bởi một tiểu đoàn trưởng  ưu hạng-Châu Minh Kiến-;rồi khi Trung tá Kiến tử trận, một sĩ quan thiều kinh nghiệm chiến trường thay thế ông, đã đưa tiểu đoàn 1/8 từng là một đơn vị  thiện chiến nhất QĐ III, thành một tiểu đoàn với khả năng tác chiến và tinh thần xuống cấp  tới mức hạng tồi.
www.generalhieu.com
Thứ  hai là quan niệm hành quân sai lầm của Trung tá Trần Thanh Chiêu Tư Lệnh SĐ21 BB cho  cả trung đoàn bỏ súng trong kho, đề de phòng quân biến, chỉ để lại một trung đội ứng chiến canh gác với súng đạn đầy đủ mà thôi [28].
Thứ ba là chính sách tiêu diệt đạo Cao Đài; hậu quả là mất lòng dân cũng như mất tình báo nhân dân.  Chính Trung tá Trần Thanh Chiêu đã thú nhận dân chúng tại Tây Ninh không có cảm tình với quân đội [3]. Tại sao? Câu trả lời là tại đại đa số dân Tây Ninh theo đạo Cao Đài, mà chính phủ lại kỳ thị tôn giáo Cao Đài và tại cái chết bí ẩn của Tướng Trịnh Minh Thế, nên SĐ 21 thiếu yếu tố tình báo nhân dân tại Tây Ninh.
Thứ tư là có VC nội ứng. Phải chăng chính sách thất nhân tâm của chính phủ như kỳ thị tôn giáo, kỳ thị đảng phái chống Cộng... là một trong những nguyên nhân của nội ứng?
Vụ Đảo Chánh Ngày 11-11-1960
Vụ đảo chánh do lực lượng Nhảy Dù dưới quyền chỉ huy của Đại tá Nguyễn Chánh Thi là hậu quả dây chuyền của chính sách sai lầm của chính phủ.
Đại tá  Nguyễn Chánh Thi là một người lính trận mạc từ năm 1941; giữ chức vụ Tư Lệnh Lữ Đoàn Nhảy dù từ năm từ 1956 đến ngày đảo chánh 11-11-1963 [10], đã quan tâm đến nguyên tắc đúng cách bổ nhiệm các cấp chỉ huy chiến trường trong QLVNCH;  việc bổ nhiệm không căn cứ vào khả năng mà chỉ chú trọng vào tiêu chuẩn đảng viên đảng CLNV hay sự nịnh bợ để tỏ lòng trung thành với đường lối chính trị và quân sự của chính phủ là một trong các căn nguyên khác của cuộc đảo chánh.
Về quân sự, có 27  thành phần ưu tú của QLVNCH tham gia như Thiếu tá Phan Trọng Chính-sau nầy là trung tướng trong sạch nhất của QLVNCH- như Thiếu tá Phạm Văn Liễu.... Về chính trị, có 35 thân hào nhân sĩ tham gia thuộc nhiều đảng phái chống cộng, như Phan Khắc Sửu, Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam, Phan Quang Đáng, Phan Bá Cầm, Nguyễn Chữ ...
Chính sách sử dụng các đảng viên đảng Cần Lao Nhân Vị
thiếu khả năng vào các chức vụ chỉ huy trong quân đội, chính sách tiêu diệt các đảng phái đối lập, chính sách gia đình trị cũng như chính sách kỳ thị tôn giáo là những căn nguyên của cuộc đảo chánh ngày 1-11-1960; xin đọc bài CLCMĐ của tôi.
Tiếc thay 5 năm cầm quyền của TT Diệm từ 1955 đến 1960 không tạo được một nền dân chủ đúng nghĩa , nên công trình chống Cộng của chính phủ đã thất bại từ năm 1958 trở đi. Đó là lý do cuộc đảo chánh trở thành trò chơi chính trị của HK và thực dân Pháp. HK tuyệt vọng thấy rõ mình bị phung phí tiền bạc và sức lực mà phía VNCH không tạo được một tiền đồn chống Cộng  hữu hiệu, lại còn bị chính phủ VN chống lại  nên HK phải ra tay cảnh cáo hạn chế [22,21,20 ]. Pháp thì thừa nước đục thả câu nên cũng nhảy vô để mong thủ lợi.  Phòng nhì Pháp nắm được nhóm thân Pháp Vương Quang Đông; trong khi Toà Đại Sứ Mỹ qua vai trò của W. Cloby nắm được nhóm dân sự Hoàng Cơ Thuỵ và Nguyễn Khánh. Chính Nguyễn Khánh đã đứng ra thương thuyết  để Dinh Độc Lập gọi quân tiếp viện từ vùng IV [3,5,7,8]. Đại tá Thi không tấn công dinh Độc Lập được vì bị HK, ngăn cản, khi W. Colby ra lệnh cho  Cố Vấn quân sự E. Miller bảo chấm dứt các cuộc tấn công [21]. Dĩ nhiên phòng nhì Pháp phải chịu lép vế trước thế lực của Mỹ.
Tổng Thống NĐD dùng kế " Trì Hoãn Chiến" để chờ quân viện từ miền Tây bằng cách đưa ra lời tuyên bố trên Đài Phát Thanh Sài Gòn, muốn thành lập một chính phủ liên hiệp và kêu gọi ngưng bắn [21, tr.202]. Sau đó
thừa lệnh Tổng Thống Đại Tướng Lê Văn Tỵ gởi Nhật Lệnh xác nhận những gì Tổng Thống tuyên bố. Trong Nhật Lệnh Đại Tướng đã nói rõ, TT uỷ thác cho một số sĩ quan trach nhiệm trách thành lập  một chính phủ quân nhân lâm thời [ 21, tr. 203].
Tiếp theo Tướng Trần Thiện Khiêm đem quân tiếp cứu chính phủ. Như vậy Tướng Thi đã mắc kế trì hoãn của chính phủ, để phải mang  tội tử hình khiếm diện và đem thân lưu đày tại Cam Bốt trong ba năm.
Sự kiện lịch sử chứng tỏ TT Ngô Đình Diệm không phải là một người quân tử  vì Ông đã nuốt lời sau khi Tướng Trần Thiện Khiêm cứu nguy ông. Sau khi cuộc đảo chánh thất bại chính phủ đã ra lệnh Mật vụ, Công an lùng bắt các Sĩ quan, Chính trị gia và Nhân sĩ tham dự chính biến  [5], mặc dù Ông Nhu và ông Diệm tuyên bố chính phú khoan hồng [5].
Ngày 5-7-1963 và những ngày kế tiếp 27 quân nhân và 35 nhân sĩ tham gia cuộc binh biến đã bị ra toà án Quân Sự đăc biệt tại Sài Gòn; ông Nguyễn Tường Tam đã tự tử để phản đối việc xử án nầy.
Chính hành động tráo trở bá đạo nầy là một trong một số nguyên nhân khác đã làm hai anh em TT Ngô Đình Diệm tự đào hố chôn mình trong ngày Cách Mạng 1-11-1963- tôi sẽ nói rõ sau trong một bài khác.
Kiến Nghị Của Nhóm Caravelle
Tháng 4/1960, mười tám nhân vật tên tuổi của miền Nam họp tại khách sạn Caravelle ở trung tâm thủ đô Sài Gòn để công bố một Bản Tuyên Ngôn chỉ trích và lên án ông Diệm đã không đem lại cho dân chúng một cuộc sống tốt đẹp, tự do.  Ký tên trên bản tuyên ngôn gồm các nhân vật Trần Văn Văn, Phan Khắc Sửu, Trần Văn Hương, Nguyễn Lưu Viên, Huỳnh Kim Hữu, Phan Huy Quát, Trần Văn Lý, Nguyễn Tiến Hỉ, Trần Văn Đỗ, Lê Ngọc Chấn, Lê Quang Luật, Lương Trọng Tường, Nguyễn Tăng Nguyên, Phạm Hữu Chương, Trần văn Tuyên, Tạ Chương Phùng, Trần Lê Chất và linh mục Hồ Văn Vui, là đại diện cho nhiều thành phần trí thức của cả ba miền Trung Nam Bắc, của các tôn giáo, các khuynh hướng chính trị khác nhau và có nhiều người từng cộng tác với chính quyền như Lê Quang Luật, Nguyễn Tăng Nguyên, Trần Văn Đỗ, v.v…


STT Tên Năm sinh Quê quán Tôn giáo Đảng phái Ghi chú
(tại thời điểm ký tên)
1 Trần Văn Văn 1907 Long Xuyên Tam giáo Đảng Phục Hưng Thạc sĩ Thương mại, cựu Bộ trưởng Kinh tế và Kế hoạch.
2 Phan Khắc Sửu 1905 Cần Thơ Cao Đài Mặt trận Đại đoàn kết Quốc dân Kỹ sư Canh Nông, cựu Bộ trưởng Canh Nông.
3 Trần Văn Hương 1902 Vĩnh Long Tam giáo Đảng Phục Hưng Giáo sư Trung học, cựu Đô trưởng Sài Gòn-Chợ Lớn.
4 Nguyễn Lưu Viên 1919 Trà Vinh Tam giáo Không đảng phái Bác sĩ Y khoa, cựu Cao ủy Di cư.
5 Huỳnh Kim Hữu chưa rõ (quê quán miền Nam, chưa rõ) Tam giáo Nhóm Tinh thần Bác sĩ Y khoa, cựu Bộ trưởng Y tế.
6 Phan Huy Quát 1908 Nghệ An Tam giáo Đảng Đại Việt Bác sĩ Y khoa, cựu Bộ trưởng Quốc phòng và Giáo Dục.
7 Trần Văn Lý 1901 Quảng Trị Thiên chúa giáo Liên đoàn Công giáo cựu Thủ hiến Trung phần.
8 Nguyễn Tiến Hỷ chưa rõ (quê quán miền Bắc, chưa rõ) Tam giáo Việt Nam Quốc dân đảng Bác sĩ Y khoa.
9 Trần Văn Đỗ 1903 Biên Hòa Tam giáo Nhóm Tinh thần Bác sĩ Y khoa, cựu Bộ trưởng Ngoại giao.
10 Lê Ngọc Chấn chưa rõ Thanh Hóa Tam giáo Việt Nam Quốc dân đảng Luật sư, cựu Bộ trưởng Quốc phòng.
11 Lê Quang Luật chưa rõ (quê quán miền Bắc, chưa rõ) Thiên chúa giáo Phong trào Liên hiệp Dân chúng Luật sư, cựu Bộ trưởng Thông tin.
12 Lương Trọng Tường 1904 Biên Hòa Hòa Hảo Đảng Dân Xã Kỹ sư công chánh, cựu Thứ trưởng Kinh tế Quốc gia.
13 Nguyễn Tăng Nguyên chưa rõ (quê quán miền Trung, chưa rõ) Phật giáo Đảng Cần Lao Bác sĩ Y khoa, cựu Bộ trưởng Lao Động và Thanh Niên.
14 Phạm Hữu Chương chưa rõ (quê quán miền Bắc, chưa rõ) Tam giáo chưa rõ Bác sĩ Y khoa, cựu Bộ trưởng Y tế và Công tác Xã hội.
15 Trần Văn Tuyên 1913 Tuyên Quang Tam giáo Việt Nam Quốc dân đảng Luật sư, cựu Bộ trưởng Thông tin và Tuyên truyền.
16 Tạ Chương Phùng chưa rõ Quảng Ngãi Tam giáo Không đảng phái cựu Tỉnh trưởng Bình Định.
17 Trần Lê Chất 1874 (quê quán miền Bắc, chưa rõ) Tam giáo Không đảng phái Tiến sĩ Hán học.
18 Hồ Văn Vui 1917 (quê quán miền Nam, chưa rõ) Thiên chúa giáo Không đảng phái Linh mục, Chánh xứ họ đạo Tha La, Tây Ninh.

Nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%B3m_Caravelle    [32]
Nội dung của Bản Kiến Nghị gởi cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm, xin Tổng Thống thay đổi phương thức lãnh đạo để tạo môt chế độ dân chủ tự do đúng nghĩa như : Tự do cá nhân, đừng bắt bớ dân lành một cách bất hợp pháp, tư do báo chí và xin hủy bỏ chế độ dinh điền [7].
Hầu hết 18 nhân sĩ đều bị bắt giam; có người được thả sớm trước ngày 1-11-1963, có người được thả sau ngày 1-11-1963 như ông Phan Khắc Sử và bác sĩ Phan Quang Đán [20].
Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam
Hơn một tháng sau cuộc binh biến 1-11-1960, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam được thành lập bởi đảng Lao Động CS.
" Dự định thành lập Mặt trận được công khai nói đến lần đầu tiên trong Đại hội toàn quốc lần thứ 3 của Đảng Lao động Việt Nam. Tại đại hội, Tôn Đức Thắng đã nói rằng Mặt trận sẽ được dựa trên các khái niệm của Lenin về liên minh 4 giai cấp, nhưng để phù hợp với sự phức tạp của xã hội miền Nam, Mặt trận cần bao gồm cả các nhóm tôn giáo và dân tộc khác nhau; mục tiêu đấu tranh của Mặt trận phải rộng để kêu gọi được đông đảo quần chúng; Mặt trận cần nhấn mạnh các chủ trương dân tộc và cải cách, đặt ra mục tiêu cuối cùng là sự xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, dân chủ và phồn vinh. Cũng như tiền thân Việt Minh của nó. Mặt trận mới này sẽ cần được tổ chức thành nhiều cấp, từ ủy ban trung ương đến các tổ chức ở cấp làng; chủ nghĩa cộng sản sẽ không được nói đến [3]. Mặt trận đặt dưới sự lãnh đạo của Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam và Trung ương cục Miền Nam. Những người cộng sản miền nam hoạt động dưới danh nghĩa Đảng Nhân dân cách mạng Việt Nam, hoạt động công khai và là thành viên tham gia Mặt trận. Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam được chính thức thành lập vào ngày 20 tháng 12 năm 1960 tại xã Tân Lập, huyện Châu Thành (nay là Tân Biên) trong vùng căn cứ của VC  ở tỉnh Tây Ninh, với thành phần chủ chốt là lực lượng Việt Cong hoạt động bí mật ở miền Nam. Lãnh đạo ban đầu là Võ Chí Công, Phùng Văn Cung, Huỳnh Tấn Phát. Huỳnh Tấn Phát giữ chức vụ Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Ủy ban Trung ương. Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận là Nguyễn Hữu Thọ (1961). Đại hội lần thứ nhất khai mạc ngày 16 tháng 2 năm 1962 chính thức bầu Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch, Phó Chủ tịch: Phùng Văn Cung, Võ Chí Công, Huỳnh Tấn Phát, Ybih Aleo, Đại đức Sơn Vọng, và Nguyễn Văn Hiếu là Tổng thư ký Mặt trận. Mặt trận đã ra "Tuyên ngôn" và "Chương trình hành động 10 điểm" với mục tiêu đại diện cho quyền lợi của nhân dân miền Nam Việt Nam đấu tranh nhằm đánh Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa, tiến tới sự thống nhất của Việt Nam." Tướng Nguyễn Chánh Thi đã chỉ trích đường lối sai lầm về việc bổ nhiệm các thành phần Cần Lao thiếu khả năng và kinh nghiệm chiến trường vào các chức vụ trọng yếu của quân đội, như tư lệnh quân đoàn, sư đoàn, trung đoàn trưởng...Tuy nhiên Tướng Thi lại bị hăm doạ bởi ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu. Hậu quả của chính sách sai lầm nầy là trận Trảng Sập ngày 26-1-1960, như đã nói ở trên.           
Tiếp theo là nhóm Caravelle gồm đủ các đại diện các đảng phái quốc gia chống cộng và tôn giáo đã lập bản Kiến nghị với chính phủ để xin chính phủ thay đổi chính sách chống Cộng để có hiệu quả hơn, như chú trong vào chủ nghĩa tự do, dân chủ, để thu hút nhân tâm- yếu tố chủ yếu. Sự thật đau lòng, chính phủ đã xem thường bản Kiến Nghị chiến lược nầy của nhóm Caravelle,       mà hậu quả
là cuộc đảo chánh ngày 11-11-1960.
CSVN đã xảo quyệt bằng cách lợi dụng chính sách chia rẽ tôn giáo, đảng phái của ông Ngô Đình Nhu và TT Ngô Đình Diệm để tuyên truyền chủ trương của Mặt trận GPMT là:" Đoàn kết tất cả các tầng lớp nhân dân, các giai cấp, các dân tộc, các đảng phái, các đoàn thể, các tôn giáo và nhân sĩ yêu nước không phân biệt xu hướng chính trị khác nhau để thu hút quần chúng cho           mục tiêu cuối cùng là  xây dựng một nước Việt Nam hòa  bình, thống nhất, dân chủ và phồn vinh.".
  http://vi.wikipedia.org/wiki/M%E1%BA%B7t_tr%E1%BA%ADn_D%C3%A2n_t%E1%BB%99c_Gi%E1%BA%A3i_ph%C3%B3ng_mi%E1%BB%81n_Nam_Vi%E1%BB%87t_Nam
Chính sách của Ông Nhu và TT Diệm đã thiếu hai yếu tố chủ yếu để chiến thắng CSVN: Đoàn kết toàn dân và đắc nhân tâm. Chính CSVN đã lợi dụng  hai sơ hở ấy của chính phủ để chúng thừa cơ tạo ra MTGPMN.
Thử hỏi nếu không có trận Trảng Sập, cũng như chính phủ nghe theo lời kiến nghị của nhóm Caravelle hay những đề nghị chân thành của Tướng Nguyễn Chánh Thi, thì làm sao CSVN thừa nước đục thả câu để thành lập MTGPMN? Thử hỏi nếu chính phủ VNCH chịu thay đổi đường lối lãnh đạo mới cho có hiệu quả chống Cộng, thì đâu có hiện tượng HK đặt điều kiện quân và kinh tế viện với chính phủ VNCH hay áp dụng chính sách can thiệp hạn chế đối với chính phủ VNCH?
Một cách tổng quát Quân Cán miền Nam đã anh dũng chiến đấu chống chủ nghĩa CSVN, hoàn toàn không có trách nhiệm về  những sai lầm của cấp lãnh đạo ngoại trừ một số tội phạm của các đảng viên đảng CLCMĐ. Quân Cán miền Nam chúng ta thua vì chính sách lãnh đạo sai.  Oái ăm thay chính sách lại là  nguồn gốc của chiến lược chống Cộng, nên dù QLVNCH đã anh dũng chiến đấu để dành thắng lợi chiến thuật trên chiến trường, cũng đành cam tâm bại trận vì sự sai lầm chiến lược chống cộng của cấp lãnh đạo; chiến lược quyết định sự thành bại của chiến tranh.
Tại sao chúng ta phải biết sự thật của lịch sử? Hiện tượng một số đông giới trẻ có tinh thần chống Cộng cao nhưng không biết sự thật của lịch sử là một động lực trong các động lực khác, làm tôi chú trọng đến sự thật của lịch sử cận đại. Hiện tượng "Biến Động Hải  Ngoại" hay hiện tượng chia rẽ tôn giáo là hai trường hợp điển hình trên Net hiện nay. Ai là ngư ông thủ lợi cho sự ngu dốt về lịch sử cận đại của người chống Cộng? Đó là CSVN.
Biết rõ sự thật lịch sử để hiểu nhau hơn rồi đoàn kết cùng nhau tìm phương sách chống Cộng một cách hữu hiệu. Đó là lý do tôi đã mất thì giờ đi tìm sự thật của lịch sử cận đại. Biết sự thật của lịch sử để chúng ta mới tránh khỏi những lỗi lầm khi thiết kế và hành động chống Cộng. Phải chăng TT Thiệu không quên trò chơi bá đạo của CSVN, lợi dụng ba ngày tết để tấn công QLVNCH trong trận Trảng Sập, thì đâu có việc Ông về nghĩ Tết ở Mỹ Tho hay có thể không có trận Mậu Thân? Nếu không có chiến trận Mậu Thân  thì đâu có hiện tượng phản chiến quá mạnh ở HK! Phải chăng không có hiện tượng phản chiến, thì đâu có hiệp định Paris năm 1973, để mất nước? Không có hiệp định quái gỡ nầy thì chúng ta đâu phải tự dung thân ở đất khách, quê người!
Kính mời đọc thêm:
http://www.vietnamdaily.com/index.php?c=article&p=43484 

Năm 1962: Khúc Quanh Của Lịch Sử Chính Sách Bang Giao Của HK Đối Với Nền ĐNVNCH


Hậu quả các căn nguyên nội tại đã được đề cập trong phần I, xu hướng chống Mỹ của TT Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu, chế độ gia trình trị, tư cách lộng hành của bà Ngô Đình Nhu... là căn nguyên của cuộc giội bom xuống dinh Độc Lập vào ngày 27-2-1962 do hai sĩ quan Không quân QLVNCH, Trung uý Phạm Phú Quốc và Trung uý Nguyễn Văn Cử.
Căn nguyên chính cũng vì chính sách tiêu diệt đảng phái chống Cộng nói chung và Viêt Nam Quốc Dân Đảng nói riêng của chính phủ. Ông Phạm Hữu Anh, đảng viên VNQDĐ đã bị chính phủ bắt giam với bọn CSVN vì chỉ vì tham gia nhóm Caravelle trong tư cách một đảng viên của VNQDĐ [10, tr. 108]
Hồi 7 giờ sáng trong khi vợ chồng Ngô Đình Nhu đang ngũ và dân chúng đô thành Sài Gòn  vừa thức dậy, thì bỗng nhiên ai nấy đều ngạc nhiên vì thấy và nghe hai phi cơ  và  tiếng nổ bom xuống dinh Độc Lập [5,21]. Bà Ngô Dình Nhu bị thương nhẹ khi trái bom thứ nhất phát nổ, còn trái thứ hai thì không nổ trên hầm trú ẩn của gia đình anh em TT Ngô Đình Diệm. Trung Úy Nguyễn Văn Cử  bay qua Cam Bốt để xin tỵ nạn chính trị trong khi Trung uý Phạm Phú Quốc bị bắt sống. Sau ngày 1-11.1963 Trung uý Quốc được phục hồi lại cấp bậc và trở thành một anh hùng của QLVNCH khi ông tử trận một cách anh dũng khi thi hành phi vụ oanh tạc tại miền Bắc năm 1965; không ai có thể quên bài ca bất hủ " Huyền Sử Ca Một Người MangTên Quốc" [36] .
Cuộc oanh tạc nầy chỉ do một tổ chức của Việt Nam Quốc Dân Đảng  của nhà cách mạng yêu nước Nguyễn Văn Lực cầm đầu [21], không có HK hay bất cứ cơ quan tình báo ngoại bang nào xúi dục.
Cuộc oanh tạc dinh Độc Lập bị thất bại về phương diện chiến thuật và thắng lợi về chiến lược. Thất bại chiến thuật vì không giết được đối tượng oanh tạc, còn thành công chiến lược vì hai lý do: Dinh Độc Lập- tượng trương uy quyền của TT Ngô Đình Diệm, đã bị xâm phạm và đánh thức HK thay đổi chính sách ngoại giao đối với nền ĐNVNCH. Căn cứ vào tài liệu "The Pentagon Papers"  và Trung Tướng Tôn Thất Đính [1,21] Tổng Thống J.F. Kennedy không muốn HK can thiệp vào nội bộ của VN, khác hẳn với quan niệm của BQP, BNG và CIA trước năm 1962.
Phản ứng của chính phủ đối với vụ oanh tạc là như thế nào? Lẽ ra chính phủ phải thức tỉnh để thay đổi đường lối lãnh đạo quốc gia để hầu mong lật ngược tình thế bất lợi vì cuộc oanh kích, chính phủ lại tiếp tục sa lầy thêm các lỗi lầm như  quyết định Quân Uỷ Cần lao phải chỉ huy quân đội, các cấp chỉ huy cao cấp quân đội phải là đảng viên của đảng CLNV. Ngoài ra chính sách ngoại giao của chính phủ đối với HK và các nước tự do trên thế giới hoàn toàn sai lầm; đối nghịch với HK và thiếu mở rộng bang giao mật thiết với khối tự do dân chủ để tìm thêm đồng minh. Vì thế TT Ngô Đình Diệm và gia đình của ông đã mở đường cho một khúc quanh lịch sử bang giao của HK đối với
chính phủ ĐNVNCH từ ủng hộ TT Diệm đến loại bỏ cả gia đ2nh họ Ngô. Căn cứ vào phúc trình  phái đoàn Tư Vấn Chính Trị của TT Kennedy của TNS Chester Bowles [34] và Joseph Mendehall- Cố Vấn TT Kennedy về Việt Nam và Lào - vào khoảng tháng 8 năm 1962 [1,21,35], có nội dung chính như sau:
".... Chúng ta không thể chiến thắng cuộc chiến tranh nầy theo phương cách của hai ông Diệm-Nhu và chúng ta không có cách ép buộc hai ông thay đổi phương cách đó được! Đề nghị: Hãy loại bỏ hai ông Diệm-Nhu và toàn gia đình họ Ngô. ....." [ 21, 1]

Ông Nguyễn Thái, một trí thức chân chính TCG, một công thần của nhà  Ngô , đã thấy rõ được thực chất sai lầm của chính phủ, nên đã sáng suốt ly khai với chính phủ ĐNVNCH từ khoảng đầu thập niên 1960, rồi viết sách " Is South Vietnam Viable? ( Manila, 1962). Đây là lời mở đầu của cuốn sách: Attachment.
 
Giai Đoạn Kết Thúc Nền Đệ Nhất VNCH: 1963  (còn tiếp)
 

Trần Văn Thưởng  ( 23/12/2010)

Tài liệu dẫn chứng:
 [1] "Pentagon Papers"  gồm 47 bộ, khoảng 3000 trang, được soạn thảo năm 1968 bởi các chiến lược gia và nhân viên cao cấp hiểu biết các sự kiện lịch sử sau năm 1945 đến năm 1968. Uỷ ban nghiên cứu hoàn toàn vô tư về chính trị đảng phái, chỉ chú trọng vào nghiên cứu sự thật để tự học hỏi về sự thất bại của chính sách HK đối với Đông Nam Á. Kết quả họ đã thấy rõ các sự kiện của chính sách HK như không hiểu rõ phong tục, tôn giáo, bản tính kiêu ngạo của các vị lãnh đạo HK,  cũng như che dấu số lượng thậ sự quân lực HK tham chiếu ở VN đối với dân chúng HK. Đây là một tài liệu khả tín cao nhưng tối mật. Tuy nhiên tài liệu nầy đã bị tiết lộ bởi một nhân viên cao cấp trong nội bộ Pentagon. Hậu quả là một vụ kiện của chính phủ HK để ngăn cấm báo chí HK tung tin. Cuối cùng toà án Tối Cao Pháp Viện đã quyết định phần thắng về phe báo chí.
[2] Đảng Cần Lao do  Chu Bằng Lĩnh viết, được xuất bản năm 1971 bởi nhà xuất bản Đồng Nai. Cuốn sách đánh đúng sự thật về đảng Cần Lao, nên chính tác giả bị đe doạ và mua chuộc không phổ biến rộng rãi nữa và đình bản cuốn sách.
[3] Tài liệu ngày thành lập đảng Cần Lao của sử gia Vũ Ngự Chiêu có mức độ khả tín 100%
[4] Chuẩn úy Bùi Thương, Chuyện Kể Người Lính VNCH, 2006, http://www.generalhieu.com/chinhnghia_qlvnch-u.htm
[5] " Chín Năm Máu Lửa' do Nguyệt Đạm & Thần Phong viết, xuất bản ngày 2-3-1964. Văn Phòng Trung Tướng Uỷ Viên An Ninh cung cấp tài liệu và các tài liệu của toà án xét xử các tội phạm của các đảng viên Cần Lao. Sách có mức độ khả tín cao.
[6] Bài Nói Chuyện Của Bà Quả Phụ Trịnh Minh Thế do Báo Sài Gòn Nhỏ xuất bản trong số 437, trang 48, tháng 1/2007.
[7] " Cuộc Đọ Sức Thần Kỳ" của Thiếu Tướng CS Lê Quốc Sản
[8]
" 50 Năm Tranh Đấu Kiên Cường  của Đảng Bộ vs2 Nhân Dân Thành Phố"
[9] Nguyễn Trân, Công Và Tội, Xuân Thu, 1992. Ông Nguyễn Trân là một TCG tương đối chân chính và cũng là một nhân chứng lịch sử khả tín.
[10] Nguyễn Chánh Thi, Việt Nam: Một Trời Tâm Sự, Xuân Thu, 1987
[11] Tài liệu Phật giáo Hòa Hảo và Chương trình Ngiên cứu Lịch sử và Giáo lý.

[12] Vụ Án Phan Quang Đông, "https://mail.google.com/mail/images/cleardot
[13] "Chính Đề Việt Nam " Tôn  Thất Thiện, tháng 11 năm 2009, http://nguoivietboston.com/?p=17519
[14] "Thắc Mắc Của Ông Lê Xuân Nhuận về bài 
Chính Đề Việt Nam của GSTôn Thất Thiện", 26-11-2010, TTVN  26-11-2010.
[15 http://www.achievement.org/autodoc/page/she1bio-1
[16]
Trịnh Quốc Thiên, " Vụ tuyên  án ông Giuse Phan Quang Đông sau ngày 01-11-1963
[17] Pope John XXIII , http://en.wikipedia.org/wiki/Pope_John_XXIII
[18] Pope Pius XXII, http://en.wikipedia.org/wiki/Pope_Pius_XII
[19] http://en.wikipedia.org/wiki/John_Foster_Dulles
[20] " Việt Nam Nhân Chứng, Trần Văn Đôn, Xuân Thu 1989. Trung Tướng Trần Văn Đôn là một nhân chứng lịch sử có khả tín.
[21] " 20 Năm Binh Nghiệp", Tôn Thất Đính, Chánh Đạo 1998. Trung Tướng Tôn Thất Đính là một nhân chứng lịch sử có khả tín.
[22] " Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi, Đỗ Mậu, Quê Hương 1986. Thiếu Tướng Đỗ Mậu là một nhân chứng lịch sử có khả tín.
[23] " Bài Học Chiến Tranh Viet Nam Nhìn Từ Hậu Trường Chính Trị Hoa Kỳ", Lương Minh Sơn, Báo "Người Việt" 9-11-1996
[24] " VietNam Why Did We Go In", Avro Manhattan
[25] " The American Pope", John Cooney
[26]
Cablegram from Elbridge Durbrow, United States Ambassador in Saigon, to Secretary of State Christian A. Herter, Sept. 16, 1960, "Pentagon Papers"
[27] Lê Xuân Nhuận, "Quốc Sách Ấp Chiến Lược, diendancongluan, 23-10-2010
[28] Lê Kinh Lịch, "Trận Đánh Ba Mươi Năm", Nhà Xuất Bản Quân Đội Nhân Dân, Hà Nội, 1995
[29] Báo Cáo Của Phủ Tổng Uỷ Dinh Điền, "Thành Tích Sáu Năm Hoạt Động Của Chính Phủ VNCH,1960
[30] http://www.vietnam.ttu.edu/events/2002_Symposium/2002Papers_files/peoples.htm
[31] Francis Fitzgerald, " Fire in the Lake" 
[34] http://en.wikipedia.org/wiki/Chester_Bowles
[35] http://en.wikipedia.org/wiki/Joseph_Mendenhall
[36] http://en.wikipedia.org/wiki/Pham_Phu_Quoc
  













__._,_.___
Recent Activity:
.

__,_._,___

Reply all
Reply to author
Forward
0 new messages