Một trong những tranh luận lớn của bộ môn văn học so sánh, đó là cho
đến nay, rất nhiều nhà nghiên cứu vẫn còn bất đồng với nhau về vấn đề
liệu có hay không những trào lưu và trường phái văn học so sánh. Gs
Phương Lựu trong Từ văn học so sánh đến thi học so sánh đã phân chia
văn học so sánh thành một số trường phái cơ bản, đó là trường phái văn
học so sánh Pháp với đặc trưng nghiên cứu ảnh hưởng, trường phái văn
học so sánh Hoa kỳ với đặc trưng nghiên cứu song song và trường phái
văn học Nga – Xô với đặc trưng dung hợp cả hai đối tượng nghiên cứu
của hai trường phái trên. Tuy nhiên, ý kiến của PGS.TS Nguyễn Văn Dân
trong Lý luận văn học so sánh thì lại hoàn toàn phản đối cách nhận
định này. Theo Nguyễn Văn Dân, việc nói tới những trường phái văn học
so sánh bao gồm toàn bộ những nhà nghiên cứu trong một nền văn học dân
tộc là quá ôm đồm, quá rộng. Việc xem xét lịch sử văn học so sánh theo
những trường phái gồm toàn bộ nền nghiên cứu của cả một dân tộc theo
Nguyễn Văn Dân là “vừa thừa lại vừa thiếu”. Thừa là bởi trong một nền
nghiên cứu văn học so sánh ở một nước nhất định, không phải nhà nghiên
cứu nào cũng có chung quan điểm về phương pháp và đối tượng nghiên cứu
với những người còn lại. Thiếu là bởi, có nhiều nhà nghiên cứu văn học
so sánh nước ngoài, nhưng lại có cùng quan điểm về phương pháp và đối
tượng nghiên cứu với một số nhà so sánh luận thuộc một quốc gia khác
thì lại bị bỏ rơi, không tính đến. “Thừa vì thực tế không có trường
phái nào là của cả một quốc gia, thiếu vì nếu thế thì phải liệt kê hết
tất cả các quốc gia khác nữa”.
Nguyễn Văn Dân cho rằng việc phân định các trường phái văn học so
sánh từ ranh giới những quốc gia, dựa trên căn cứ là những phương pháp
nghiên cứu cũng không ổn. Vì không chỉ có những nhà nghiên cứu văn học
so sánh Mỹ mới độc quyền phương pháp nghiên cứu cấu trúc, cũng không
chỉ các nhà văn học so sánh Nga mới được độc quyền phương pháp loại
hình, cũng như không chỉ có các nhà văn học so sánh Pháp mới độc quyền
phương pháp thực chứng – lịch sử. Theo Nguyễn Văn Dân, chỉ có thể nói
đến trường phái thực chứng lịch sử của một số nhà so sánh luận Pháp
vào đầu thế kỉ XX; trường phái cấu trúc Mỹ của Wellek và Warren. “Còn
nói chung, những cái gọi là “trường phái” trong văn học so sánh hầu
hết chỉ là những xu hướng, chủ trương, ít nhiều có sự khác nhau về sắc
thái ứng dụng cũng như về mức độ nhất trí”.
Trong vấn đề này, chúng tôi cho rằng, đúng là cách phân loại như Gs
Phương Lựu quả rằng có hơi ôm đồm và thiếu cụ thể, nhưng cũng không
hẳn hoàn toàn sai. Không hiếm trường hợp có những trào lưu đôi khi vì
quá nổi bật, nên đã được đặt tên cho cả tổng quan ngành nghiên cứu của
một dân tộc. Điều này cũng giống như khi nói đến văn học Mỹ Latinh
chúng ta thường hay nghĩ ngay đến trào lưu lớn nhất của nền văn học
này, đó là chủ nghĩa hiện thực huyền ảo. Tất nhiên, một trào lưu không
thể bao quát và là toàn bộ nội dung một nền văn học dân tộc, nhưng có
thể nó đại diện cho diện mạo chính, phản ánh trình độ và tính chất của
nền văn học dân tộc đó. Trong thể thao và nghệ thuật cũng tuân theo
đặc điểm này, hệt như trường phái bóng đá tiqui – taca không là cách
chơi của mọi đội bóng ở Tây Ban Nha, nhưng nói đến bóng đá Tây Ban Nha
thì tiqui – taca chính là biểu tượng lớn nhất. Bóng đá Ý cũng không
bắt buộc mọi câu lạc bộ đều chơi catenacio, cũng như nhiều đội bóng
trên thế giới ngoài biên giới Ý cũng chơi theo chiến thuật này, nhưng
nhắc đến catenacio là người ta nghĩ ngay đến trường phái bóng đá Ý.
Chính vì vậy, ở đây, theo chúng tôi các trường phái cơ bản vẫn hoàn
toàn có thể đại diện cho toàn bộ nền văn học so sánh mỗi nước. Tuy
nhiên, khi phân biệt, chỉ cần ta nói rõ hơn, cụ thể hơn là trường phái
đó lấy phương pháp nghiên cứu chính là gì thì sẽ tránh được sự hiểu
nhầm hoặc ôm đồm không cần thiết.
a. Trường phái thực chứng – lịch sử Pháp
Như chúng ta đã biết, nước Pháp là quê hương và cũng là nơi phát tích
của văn học so sánh. Vào khoảng những năm đầu thế kỷ XX, sự thịnh trị
của văn học so sánh Pháp cũng đồng thời chứng minh cho sự phổ biến đến
tuyệt đối của phương pháp thực chứng – lịch sử.
- Người mở đầu cho trường phái thực chứng – lịch sử Pháp những năm đầu
thế kỷ XX là Fernand Baldensperger. Có thể nói F.Baldensperger là vị
giáo sư thứ hai của nền văn học so sánh thế giới. Bởi ngay sau khi vị
giáo sư đầu tiên của lịch sử văn học so sánh thế giới là Joseff Texte
qua đời, F.Baldensperger liền đảm nhiệm giảng dạy bộ môn này tại đại
học Lyon, đồng thời tiến hành soạn tư liệu tham khảo về văn học so
sánh. Năm 1910, F.Baldensperger rời đại học Lyon lên đảm nhiệm chức
danh giáo sư văn học so sánh tại Đại học Paris. Dưới uy tín và những
công trình nghiên cứu của F.Baldensperger, Viện văn học so sánh cận
đại của Đại học Paris đã trở thành trung tâm của nền văn học so sánh
thế giới lúc bấy giờ. Có thể nói, trường phái thực chứng – lịch sử
Pháp đã ra đời từ uy tín và công lao của F.Baldensperger, và ông chính
là người đã khai sinh ra trường phái này.
Phương pháp nghiên cứu văn học so sánh kinh điển do F.Baldensperger
đặt ra, đó là khảo sát những mối quan hệ văn học một cách trực tiếp,
có thể kiểm chứng được bằng những tài liệu thực tế, có nguồn gốc rõ
ràng nhằm chứng minh sự ảnh hưởng hoặc vay mượn. F.Baldensperger viết:
“Chỉ có khi nào đôi mắt đồng thời nhìn trên hai đối tượng, thì mới gọi
là văn học so sánh”. Cách làm việc của F.Baldensperger luôn dựa trên
văn bản, tìm ra nguồn gốc cụ thể rõ ràng của những sự ảnh hưởng, ông
là một nhà thực chứng nghiêm ngặt và duy lý. F.Baldensperger luôn chú
trọng đến tính tư liệu minh xác trong chứng minh ảnh hưởng văn học,
bất kể đó là loại tài liệu gì, miễn phục vụ được cho mục tiêu thực
chứng thì cần phải khảo sát đến một cách chi tiết: thư từ, nhật kí,
sách báo… của các nhà văn.
Đại chiến thế giới thứ 2 nổ ra, F.Baldensperger sang Hoa kỳ giảng dạy
về văn học so sánh tại Havard và California. Trong thời gian này, công
trình Thư mục văn học so sánh do F.Baldensperger đồng tác giả dày đến
33.000 mục đã xuất bản ở Mỹ. F.Baldensperger là một trong những người
đã góp phần khai sinh ra nền văn học so sánh Mỹ. Tuy nhiên, cách làm
việc quá thực chứng một cách duy lý của ông đã dần tỏ ra lỗi thời, bị
giới văn học so sánh Mỹ phản ứng rằng đó là một phương pháp “đầy phiền
toái mà hạn chế”, chỉ giỏi khảo sát những ảnh hưởng trong văn chương
hạng 2, hạng 3, mà không đi sâu được vào văn chương đích thực. Mặc dù
vậy, F.Baldensperger vẫn xứng đáng là người khai sinh ra lối nghiên
cứu ảnh hưởng (Effectual study) nổi tiếng của trường phái thực chứng –
lịch sử Pháp.
Bắt đầu từ F.Baldensperger, trường phái thực chứng – lịch sử Pháp đã
xây dựng nên phương pháp làm việc một cách nghiêm ngặt, dựa vào sự
khảo cứu các loại tư liệu văn học và phi văn học một cách minh xác, có
nguồn gốc rõ ràng nhằm chủ yếu nghiên cứu về sự ảnh hưởng văn học. Các
lĩnh vực ảnh hưởng được nghiên cứu một cách rộng rãi, phong phú, từ
chủ đề, tư tưởng, thế giới quan… cho đến những thủ pháp cụ thể. Con
đường ảnh hưởng cũng được phân loại và nghiên cứu kĩ gồm: phiên dịch,
cải biên, mô phỏng, trích dẫn… Khi nghiên cứu ảnh hưởng cần chú ý đến
những vấn đề tiếp thu, và cả những vấn đề bị loại bỏ, và không chỉ
khảo sát ảnh hưởng đến nhà văn mà còn cần chú đến ảnh hưởng đối với lí
luận và bạn đọc.
- Kế thừa những di sản từ F.Baldensperger, người có công lao hoàn
chỉnh trường phái thực chứng – lịch sử Pháp đó Van Tieghem. Là giáo sư
văn học so sánh trong hơn mười lăm năm tại Đại học Paris, Van Tieghem
đã viết công trình mang tính chất gối đầu giường cho nền văn học so
sánh thế giới, đó là công trình Lí luận văn học so sánh (1931). Trong
công trình nổi tiếng này, Van Tieghem đã lần đầu tiên xác định nhiệm
vụ cụ thể của văn học so sánh (nghiên cứu hai hiện tượng văn học cụ
thể có ảnh hưởng lẫn nhau), cũng như phân định vị trí của bộ môn văn
học so sánh trong tương quan với Văn học quốc gia và Văn học đại cương
(Văn học tổng thể). Tất nhiên, cách xác định nhiệm vụ cũng như xác
định vị trí của bộ môn văn học so sánh của Van Tieghem cho đến nay đã
lỗi thời, nhưng vào đầu thế kỉ XX, ông vẫn xứng đáng là người đặt ra
khung lí thuyết hoàn chỉnh cho trường phái thực chứng – lịch sử Pháp.
Van Tieghem đã kế thừa một cách nghiêm ngặt những nguyên tắc nền tảng
của trường phái thực chứng – lịch sử Pháp, để từ đó đề xuất nên cái
trục mô hình của sự lưu truyền văn học. Van Tieghem đã hình dung sự
ảnh hưởng văn học qua ba chủ thể, người phát, người nhận và kẻ môi
giới, ứng với một chủ thể sẽ là một ngành nghiên cứu khác nhau. Nếu
đặt trọng tâm ở người phát thì đó là bộ môn Lưu truyền học. Người phát
có thể là một nhà văn, cũng có thể là một phong trào, cả một nền văn
học. Lưu truyền học nghiên cứu các cấp độ ảnh hưởng bao gồm: cấp độ
tổng thể, cấp độ cá thể, cấp độ bối cảnh, cấp độ nội dung, cấp độ hình
tượng và cấp độ giao thoa. Lưu truyền học còn chú trọng nghiên cứu đến
các đặc trưng lưu truyền, phương tiện lưu truyền, những điểm lược bỏ
và những điểm tiếp thu khi lưu truyền.
Nguồn gốc học là bộ môn gắn với chủ thể là người thu, chú trọng
nghiên cứu nguồn gốc những tác phẩm văn học nước ngoài trên mọi lĩnh
vực. Nguồn gốc học phân chia thành những con đường ảnh hưởng như sau:
Nguồn gốc bút mực, nguồn gốc truyền miệng, nguồn gốc ấn tượng (từ du
lịch), nguồn gốc cô lập (ảnh hưởng đơn tuyến), nguồn gốc tổng thể.
Môi giới học là bộ môn lấy chủ thể là những người môi giới văn học,
là bộ môn chuyên nghiên cứu các phương tiện, con đường và chủ thể
truyền bá văn học giữa các dân tộc. Môi giới học chia con đường truyền
bá văn học thành 3 kiểu: môi giới cá nhân (người cải biên, người giới
thiệu, nhà phê bình, dịch giả), môi giới hoàn cảnh (xa lông văn học,
hội nghị văn học quốc tế), môi giới văn tự (các bài bình luận, giới
thiệu, ấn phẩm dịch). Ngoài ra, Van Tieghem còn đề xuất Văn loại học,
là bộ môn nghiên cứu một lĩnh vực cụ thể, song lại bao quát cả nhiệm
vụ khoa học của cả 3 bộ môn trên.
Nhìn chung, trường phái văn học so sánh thực chứng – lịch sử Pháp từ
những người đặt nền móng như Baldensperger, Van Tieghem cho đến một
loạt các nhà kế tục như M.Carre, M.F.Guyard đã đạt những thành tựu đồ
sộ, đặt nền móng vững chắc cho sự ra đời của bộ môn khoa học văn học
so sánh. Hiện nay, đương nhiên trường phái này thường bị nói đến với
những hạn chế, cực đoan, cách làm việc cúi mặt xuống đất, bỏ qua tính
thẩm mỹ trong so sánh, đặt nặng tính thực chứng tư liệu chứ không quan
tâm đúng mức đến tính nghệ thuật… nhưng đặt trong hoàn cảnh lịch sử cụ
thể, trường phái thực chứng – lịch sử Pháp đã thực hiện nhiệm vụ lịch
sử của mình một cách vẻ vang. Bởi vì, trong tiến trình phát triển của
bộ môn văn học so sánh, trường phái thực chứng – lịch sử Pháp đã quan
tâm đến đối tượng nghiên cứu phổ biến và cơ bản nhất: nghiên cứu ảnh
hưởng. Và dù có phê phán đi thế nào chăng nữa, phương pháp thực chứng
lịch sử trong văn học so sánh cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị thực
tiễn của nó, một phương pháp mang tính cổ điển không thể nào bỏ qua
khi làm văn học so sánh.
b. Trường phái cấu trúc Hoa Kỳ
Nhằm kế tục một cách phê phán và có tính chất phản biện những thành
tựu mà trường phái thực chứng – lịch sử Pháp đã đạt được, vào giữa thế
kỉ XX ở Mỹ, nổi bật trường phái nghiên cứu văn học so sánh với phương
pháp cấu trúc hay còn gọi là trường phái nghiên cứu song song. Văn học
so sánh Mỹ có thời điểm xuất hiện muộn hơn so với văn học so sánh
Pháp. Thậm chí, trong thời kì đầu, văn học so sánh Mỹ còn chịu ảnh
hưởng một cách sâu sắc từ những người đồng nghiệp Pháp, bởi vì, một
trong những người truyền bá văn học so sánh sang bên kia bờ Đại tây
dương là Baldensperger. Tuy nhiên, trường phái văn học so sánh Mỹ
trong quá trình nghiên cứu và học tập những đồng nghiệp Pháp, sớm nhận
ra những hạn chế và thiên kiến của trường phái thực chứng – lịch sử.
Từ đó, các nhà văn học so sánh Mỹ mới liên kết nhau lại, xây dựng một
trường phái văn học so sánh mới, với nhiều cách tân và thay đổi căn
bản trong phương pháp làm việc và đối tượng nghiên cứu.
- Tháng 9/1958, trong Đại hội lần thứ II của Hội văn học so sánh quốc
tế được tổ chức lại Hoa Kỳ, dưới sự điều hành của giáo sư Friederich –
người bạn chí thân của Baldensperger và cũng là người chịu ảnh hưởng
văn học so sánh Pháp ở Mỹ, nhà nghiên cứu Hoa Kỳ gốc Tiệp Wellek đã
thẳng thắn phê phán dữ dội trường phái văn học so sánh Pháp. Với báo
cáo mang tên Nguy cơ của văn học so sánh, Wellek gần như đã đưa ra
tuyên ngôn nhằm đánh dấu cho sự ra đời của văn học so sánh Mỹ nói
chung và trường phái cấu trúc Hoa kỳ giữa thế kỷ XX nói riêng. Wellek
đã phê phán trường phái văn học so sánh thực chứng – lịch sử Pháp chưa
xác định được nội dung nghiên cứu cụ thể cùng phương pháp luận chuyên
ngành. Cách làm của các đồng nghiệp người Pháp như Baldensperger,
Tieghem, Carre, Guyard là nặng về tính khảo sát vụn vặt những dạng văn
chương loại hai, những thứ môi giới phi văn học, chỉ thấy cây mà không
thấy rừng. Tóm lại, trường phái thực chứng – lịch sử Pháp là cách làm
văn học so sánh nặng về chủ nghĩa chép thực, chủ nghĩa duy lý khoa
học.
Ngoài ra, Wellek còn phản đối một cách kịch liệt cách chia nghiên
cứu văn học thành Văn học tổng thể, Văn học dân tộc và Văn học so sánh
của Van Tieghem. Wellek cho rằng cách phân chia đối tượng nghiên cứu
như thế là quá hẹp cho văn học so sánh (chỉ khảo sát những quan hệ nhị
nguyên. Wellek khẳng định rằng, văn học so sánh ra đời nhằm chống lại
chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, nhưng theo chiều hướng phát triển của các
nhà thực chứng – lịch sử Pháp, thì bộ môn này đi đến nguy cơ ủng hộ
cho tính sô vanh của nền văn học dân tộc bản địa. Bởi vì, các nhà thực
chứng – lịch sử Pháp đa phần chỉ nhăm nhăm chứng minh sự ảnh hưởng văn
học từ những trung tâm văn học lớn thế giới đến phần còn lại.
Từ những phê phán có tính chất xây dựng và phản biện trên, Wellek chủ
trương cần lấy tác phẩm văn học với giá trị thẩm mỹ làm trung tâm
nghiên cứu văn học so sánh, chứ không phải dựa trên những tư liệu và
sự kiện lịch sử, hoàn cảnh xã hội bên ngoài làm căn cứ chính. Khi
nghiên cứu một ảnh hưởng nào đó từ bên ngoài, cần đặt nó trong chỉnh
thể chung của tác phẩm, chứ không được tách rời để khảo sát những yếu
tố ảnh hưởng này như là nhiệm vụ chính yếu của bộ môn văn học so sánh.
Bởi vì, khi yếu tố ngoại lai xâm nhập vào trong cấu trúc một tác phẩm,
nó đã trở thành bộ phận hữu cơ không thể tách rời của tác phẩm.
- Mặc dù Wellek là người đặt nền móng đầu tiên cho trường phái so sánh
cấu trúc Hoa Kỳ, nhưng người lập pháp hoàn chỉnh cho trường phái này
lại chính là Henry Remark - giáo sư văn học so sánh của Đại học
Indian. Dưới quan niệm mới của H.Remark, văn học so sánh có hai nhiệm
vụ nghiên cứu cơ bản:
+ Nghiên cứu mối quan hệ giữa các nền văn học dân tộc (hai nước hoặc
nhiều nước với nhau)
+ Nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học với các hình thái ý thức xã hội
khác giữa các dân tộc
Trong đó, nhiệm vụ và đối tượng nghiên cứu thứ hai là một đề xuất mới
mẻ và táo bạo, mang lại động lực mới cho bộ môn văn học so sánh tiếp
tục phát triển. Giới nghiên cứu định danh phương pháp này là “tiếp cận
đa ngành”, mặc dù còn nhiều tranh cãi và hồ nghi, nhưng đây vẫn là một
đề xuất dành cho thì tương lai, chúng ta chưa nên vội đánh giá. Các
nhà so sánh cấu trúc Hoa Kỳ chủ trương khảo sát văn học so sánh bằng
việc xác lập tương quan giữa văn học với những hình thái ý thức xã hội
khác như: lịch sử, đạo đức, chính trị, khoa học, nghệ thuật… Trong khi
tiếp cận tác phẩm văn học cũng cần áp dụng nhiều phương pháp của các
ngành khác: tâm lý học, xã hội học, ký hiệu học, ngôn ngữ học…
Một cách tổng quan, trường phái văn học so sánh cấu trúc Hoa Kỳ lấy
đặc trưng lý luận bằng chủ trương nghiên cứu song song, nhằm đối lập
lại với phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của trường phái thực chứng –
lịch sử Pháp. Đặc điểm của phương pháp song song đó là nghiên cứu sự
giống nhau và đối lập giữa các nền văn học dân tộc không có bất kì sự
giao lưu, ảnh hưởng, vay mượn nào, dưới việc xem xét những tương đồng
về mặt lịch sử và hoàn cảnh. Chính vì vậy, phương pháp nghiên cứu song
song có hai phân ngành nhỏ bao gồm:
+ Phân ngành nghiên cứu tương đồng (Affinity): khám phá những tương
đồng văn học mà bản thân giữa các nền văn học không có sự giao lưu,
ảnh hưởng. Từ đó, khái quát nên những quy luật chung của sự vận động
và phát triển văn học thế giới.
+ Phân ngành nghiên cứu đối lập (Contrast): khảo sát những điểm khác
biệt giữa các hệ thống văn học khác nhau. Từ đó, vạch ra những nguyên
nhân qui định sự khác nhau đó, từ những phương diện xã hội, chính trị,
kinh tế…
Về các chủ đề nghiên cứu chính của trường phái cấu trúc Hoa kỳ, có
thể kể đến một loạt những lĩnh vực sau: chủ đề học, motip lịch sử, văn
thể học, thi học so sánh.
Nhìn chung, trường phái văn học so sánh cấu trúc Hoa kỳ mặc dù xuất
hiện muộn hơn trường phái thực chứng – lịch sử Pháp, nhưng đã có công
đưa văn học so sánh thoát khỏi khủng hoảng, bổ sung những vấn đề có
tính chất phương pháp và đối tượng nghiên cứu mới mẻ. Nhờ có trường
phái cấu trúc Hoa Kỳ, văn học so sánh mới được bổ sung một đối tượng
nghiên cứu mới, đó là nghiên cứu tương đồng và dị biệt, góp phần quan
trọng làm hoàn chỉnh phương pháp luận của bộ môn văn học so sánh. Càng
về nửa cuối thế kỷ XX, hai trường phái thực chứng – lịch sử Pháp và
cấu trúc Hoa Kỳ, mà rộng hơn là cả nền văn học so sánh Pháp và văn học
so sánh Hoa Kỳ càng xích lại gần nhau, thông hiểu và hòa hợp lẫn nhau.
Trong quá trình xích lại gần nhau, xóa bỏ những bất đồng giữa hai
trường phái văn học so sánh lớn trên thế giới, nổi bật vai trò của
giáo sư người Pháp Rene Etiemble.
c. Trường phái loại hình Nga – Xô
Bên cạnh hai trung tâm văn học so sánh lớn trên thế giới là Pháp và
Mỹ, lịch sử văn học so sánh thế giới không thể có diện mạo như ngày
nay nếu thiếu đóng góp của những nhà so sánh luận văn học Nga – Xô.
Nhìn chung, diễn trình phát triển văn học so sánh ở Nga – Xô khá phức
tạp, do sự thay đổi lớn lao và liên tục giữa các thể chế chính trị, từ
Nga – Xô – Nga, tức từ phong kiến nửa tư bản – chủ nghĩa xã hội – tư
bản toàn phần. Chính vì vậy, khó có thể nói đến một trường phái văn
học so sánh thống nhất, sự đoàn kết cao về phương pháp và mục tiêu làm
văn học so sánh ở những nhà nghiên cứu văn học so sánh xứ Bạch Dương.
Tuy nhiên, một cách khái quát chung có thể chấp nhận được, khuynh
hướng nghiên cứu loại hình vẫn phổ biến nhất trong giới nghiên cứu văn
học so sánh Nga – Xô. Và cho dù không phải là toàn thể thành tựu, cũng
như toàn bộ xu hướng nghiên cứu của một nền văn học so sánh dân tộc,
nhưng trường phái so sánh loại hình vẫn là đặc trưng lớn nhất, cống
hiến đáng ghi nhận nhất của giới nghiên cứu văn học Nga – Xô từ cuối
thế kỉ XIX cho đến nay.
- Người có công đặt nền móng cho trường phái so sánh loại hình Nga –
Xô đó là giáo sư Veselovsky tại Đại học Petesburg. Ban đầu, văn học so
sánh ở Nga mang tên “Văn học tổng thể”, và chỉ đóng vai trò bổ trợ cho
môn văn học Nga. Veselovsky sau nhiều chuyến đi khảo sát Tây Âu nhằm
nghiên cứu sự lưu truyền văn học dân gian, đã phát hiện ra có những sự
giống nhau giữa các nền văn học dân tộc không phải do ảnh hưởng trực
tiếp, mà bởi sự gần gũi về tư tưởng và lối tư duy nghệ thuật. Trong
công trình cuối đời của mình mang tên Thi học lịch sử, Veselovsky đã
tập trung khảo sát sự diễn biến của hình thức thơ theo phương pháp
loại hình học. Đây chính là một trong những công trình đầu tiên, đặt
nền móng cho sự ra đời của trường phái so sánh loại hình Nga – Xô.
- Sau những bước khai phá đầu tiên của Veselovsky, văn học so sánh Nga
– Xô có một thời gian dài chững lại bởi những định kiến quy kết bộ môn
này biểu trưng cho lý luận tư sản suy đồi và tư tưởng thế giới phản
động. Cho đến những năm 1953, trong cuốn Đại bách khoa toàn thư Xô –
viết vẫn xem văn học so sánh là một trào lưu lí luận văn nghệ tư sản
phản động. Tuy nhiên, sau giai đoạn Stalin qua đời, dưới tinh thần cởi
trói và đổi mới khoa học, văn học so sánh Nga – Xô lại tiếp tục phát
triển dưới công lao của Viện sĩ Alekseev – giáo sư Đại học Leningrad.
Dưới công lao Alekseev, uy tín, danh dự và phương pháp loại hình mà
giáo sư Veselovsky đặt nền móng được khôi phục. Trong giai đoạn này,
các nhà văn học so sánh Nga – Xô bắt đầu nhận ra những hạn chế của các
nhà so sánh thực chứng – lịch sử Pháp. Nhà nghiên cứu Konrad cho rằng
các nhà so sánh Pháp chưa quan tâm đúng mức tới các nền văn học phương
Đông và văn học Nga – Xô, Đông Âu trong quá trình làm văn học so
sánh. Chính vì vậy, các nhà so sánh Nga – Xô chủ trương mở rộng văn
học so sánh về mặt phạm vi khảo cứu.
- Người có vai trò lập thuyết cho trường phái văn học so sánh loại
hình Nga – Xô đó là viện sĩ Zhirmunsky, giáo sư Đại học Leningrad.
Trong báo cáo Vấn đề nghiên cứu so sánh lịch sử trong văn học trình
bày năm 1960, Zhirmunsky đã áp dụng phương pháp Mác – xít và chủ nghĩa
duy vật lịch sử nhằm đưa ra luận điểm: trong những thời kì lịch sử
nhất định, trong những xã hội tương đồng, thì những nền văn học sẽ có
những điểm giống nhau nhất định mang tính chất loại hình. Ví dụ: thời
trung cổ ở các nền văn học dân tộc thường nảy sinh thơ tự sự anh hùng
do những cuộc chiến xảy ra thường xuyên, thời cận hiện đại thường xuất
hiện chủ nghĩa Phục Hưng, chủ nghĩa cổ điển, chủ nghĩa lãng mạn… bởi
sự đấu tranh tư tưởng nghệ thuật giữa giai cấp phong kiến và giai cấp
tư sản. Zhirmunsky viết: “khi nghiên cứu các trào lưu tiến hóa văn học
quốc tế, chúng ta cần phải phân biệt những điểm tương đồng về loại
hình với những sự du nhập văn học hoặc sự “ảnh hưởng”.
Có thể nói, Zhirmunsky là người có công Phục Hưng cho trường phái so
sánh loại hình Nga – Xô, sau một thời gian dài những ý kiến cực đoan
phủ nhận văn học so sánh như của Neupocoeva chiếm lĩnh văn đàn và gây
hoang mang, sợ hãi cho các nhà so sánh luận. Chính Zhirmunsky là người
đã phụ trách viết mục từ Văn học so sánh trong Đại bách khoa toàn thư
Xô – viết. Phương pháp làm văn học so sánh của Zhirmunsky đó chính là
sự dung hòa giữa hai trường phái nghiên cứu ảnh hưởng của các nhà thực
chứng – lịch sử Pháp và nghiên cứu song song của các nhà cấu trúc Hoa
kỳ. Mặc dù Zhirmunsky thừa nhận hướng nghiên cứu song song là rộng rãi
và phong phú hơn, nhưng ông lại không thừa nhận phương pháp so sánh
liên ngành, đối chiếu phức hợp của các nhà so sánh luận người Mỹ.
Tại đại hội lần thứ 3 của Hiệp hội văn học so sánh thế giới (1961),
họp tại Utrecht (Hà Lan), chính nhờ công lao của những nhà so sánh
loại hình Nga – Xô mà bộ môn Văn học so sánh đã tránh được những khủng
hoảng. Các nhà so sánh luận loại hình Nga – Xô đã nhấn mạnh yếu tố dân
tộc trong quá trình phát triển của văn học, chứ không phải sự ảnh
hưởng từ bên ngoài. Do vậy, động lực thúc đẩy nền văn học dân tộc đi
lên là từ bản thân nội lực, chứ không phải do những nguồn lực từ bên
ngoài. Chúng ta chỉ có thể nghiên cứu cái ảnh hưởng từ bản thân những
đặc thù dân tộc, do cái ảnh hưởng khi du nhập vào đã được đồng hóa.
Nhìn chung, người ta hay nói đến phương pháp nghiên cứu song song là
thành tựu chủ yếu của các nhà so sánh cấu trúc Hoa Kỳ, tuy nhiên, xét
một cách chi tiết, công lao đó trước tiên phải thuộc về những nhà so
sánh loại hình Nga – Xô. Trường phái văn học so sánh loại hình Nga –
Xô mặc dù mang những hạn chế như không tập trung về mặt lý luận, không
thực sự thống nhất và có một tuyên bố nghệ thuật rõ ràng, nhưng những
đóng góp của trường phái này đối với nền tảng lí luận văn học so sánh
thế giới là không thể phủ nhận. Họ chính là những người đi tiên phong
trong việc đề cao tính dân tộc trong nghiên cứu văn học so sánh, chống
lại thuyết trung tâm và những tư tưởng sô vanh. Ngoài ra, khuynh hướng
nghiên cứu sự tương đồng văn học trước tiên cần phải tính đến công lao
của các nhà so sánh luận loại hình Nga – Xô.