Dear cả nhà,
1. Bên cạnh việc học rất chính quy, bài bản những kỹ năng: tin học văn phòng, lễ tân, quản lý dự án ... (theo ý chỉ của Huệ Chi tổng quản)... thiết nghĩ còn việc tự học cũng quan trọng!
2. Ngoài việc tích cực học hỏi kiến thức Phương Tây , còn mảng kiến thức Phương Đông cần tham khảo đúng mực!
3. Nhằm xây dựng những bước tiến vững chắc, bền vững trong hoạt động thiện nguyện, tôi xin mạnh dạn chia sẻ một số tài liệu, cũng mong nhân đây được học hỏi thêm các kiến thức từ các anh chị em!
Tài liệu này trích từ : "Liễu Phàm tứ huấn- Bốn lời dạy của Liễu Phàm" theo bản dịch của Dịch giả Bùi Dư Long, cách nay đã mấy trăm năm, tuy kiến thức có vẻ cổ kính, xưa cũ, nhưng có nhiều điều đáng học hỏi!
Chúc cả nhà vui vẻ!
Định nghĩa chữ thiện
Làm việc có ích cho người là thiện, còn chỉ có lợi cho riêng mình là ác. Có ích cho người thì dù đánh hay mắng chửi họ cũng gọi là thiện, chỉ có ích cho riêng mình dù tôn kính, lễ phép đối với người cũng kể là ác. Bởi vậy, người làm việc thiện mà có lợi ích cho người là công, chỉ lợi cho mình là tư, công là chân, còn tư là giả.
Lại nữa, làm việc thiện mà phát xuất từ tấm lòng thành là chân thiện, còn hời hợt, chiếu lệ mà làm là giả thiện. Hơn nữa, hành thiện mà không nghĩ tới một sự báo đáp nào cả là chân thiện, trái lại còn hy vọng có sự đền đáp là giả thiện, đó là những điều tự mình cần khảo sát kĩ lưỡng.
Thế nào là ngay thẳng, khuất khúc?
Phàm muốn tích lũy thiện tất phải phát xuất từ chỗ tiềm ẩn của chân tâm đã được thanh lọc hết ý ác, quyết không để tai, mắt sai khiến hành thiện vì tự tư tự lợi. Một lòng một dạ cứu giúp đời là ngay thẳng, còn nếu có chút lòng lừa mị thế gian, lấy lòng người để được danh vọng, tiền tài thì là hành động khuất khúc, chỉ một lòng một dạ tôn kính người là ngay thẳng, còn có chút lòng bỡn cợt, coi khinh người là khuất khúc; đều nên bàn luận tường tận.
Thế nào là âm thiện, dương thiện?
Phàm làm việc thiện mà mọi người đều hay biết được thì gọi là dương thiện, hành thiện mà không một ai biết là âm đức, thực ra đã có thiên địa quỷ thần biết rõ, nên có âm đức thì tự nhiên sẽ được cảm ứng quả báo; dương thiện được hưởng danh tiếng ở đời, đã có danh tiếng tức là đã được phúc báo rồi. Xưa nay những người có danh, có tiếng thường bị tạo hóa ganh ghét đố kỵ; vì thế những người có danh tiếng lừng lẫy mà thực sự không có nhiều công đức xứng đáng với danh tiếng đó, thường gặp phải nhiều tai họa bất kì xảy ra. Người không có tội lỗi gì mà bỗng phải chịu mang tiếng xấu một cách oan uổng thì con cháu họ sẽ được đáp đền, mau chóng phát đạt. Chỗ sai biệt của dương thiện và âm thiện cần phải cẩn thận suy xét cho kỹ.
Thế nào là phải và chẳng phải?
Nước Lỗ xưa có luật người Lỗ nào chuộc được người bị bắt làm kẻ hầu hạ ở các nước chư hầu về đều được phủ quan thưởng tiền. Tử Cống (học trò đức Khổng tên là Tứ) chuộc người về mà không nhận tiền thưởng. Đức Khổng nghe biết lấy làm buồn phiền mà bảo rằng: Tứ làm việc thất sách rồi. Ôi, thánh nhân xử sự nhất cử nhất động có thể cải sửa phong tục, thay đổi tập quán, làm gương mẫu cho bách tính noi theo, chẳng phải cứ nhiệm ý làm những việc thích hợp với riêng mình. Nay nước Lỗ, người giàu ít, người nghèo thì nhiều, nếu nhận thưởng cho là tham tiền, là không liêm khiết, còn không lãnh thưởng thì người nghèo sao có tiền tiếp tục chuộc người? Từ nay về sau chắc không ai chuộc người ở các nước chư hầu về nữa.
Tử Lộ (tên Do, học trò đức Khổng) cứu người khỏi chết đuối, được tạ ân một con trâu. Tử Lộ nhận lãnh, đức Khổng hay chuyện hoan hỷ bảo rằng: Từ nay về sau nước Lỗ sẽ có nhiều người lo cấp cứu kẻ chết đuối. Cứ lấy con mắt phàm tục mà xét thì Tử Cống không lãnh tiền thưởng là hay, còn Tử Lộ nhận tặng trâu là kém. Nhưng kiến giải của thánh nhân khác với người phàm nên trái lại đức Khổng lại chọn Do mà truất Tứ. Vậy nên biết người hành thiện không nên chỉ nghĩ tới lợi ích nhãn tiền mà cần xét xem hành động đó có ảnh hưởng tệ hại gì về sau này hay không, không nên bàn đến lợi ích nhất thời ở đời này mà phải nghĩ tới tương lai xa, mà cũng chẳng nên chỉ nghĩ riêng cho cá nhân mình mà phải nghĩ cho cả thiên hạ đại chúng nữa.
Việc làm hiện nay tuy bề ngoài là thiện nhưng trong tương lai lại để hại cho người, thì thiện mà thực chẳng phải thiện, còn việc làm hiện thời tuy chẳng phải thiện nhưng về sau này lại có lợi ích cứu giúp người thì tuy ngày nay chẳng phải thiện mà chính thực là thiện vậy. Chẳng qua ở đây chỉ lấy một vài sự việc mà bàn thế nào là thiện và không phải thiện mà thôi. Tuy nhiên, ở đời có nhiều sự tình tương tự, chẳng hạn như tưởng là hợp lễ nghĩa, là có trung tín, từ tâm mà thực ra lại trái lễ nghĩa, không phải trung tín hay từ tâm; đều phải quyết đoán chọn lựa kỹ càng.
Thế nào là thiên lệch và chính đáng? Xưa, ông Lã Văn Ý, lúc mới từ chức tể tướng, cáo lỗi hồi hương, dân chúng bốn phương nghênh đón như Thái sơn, Bắc đẩu. Nhưng có một người say rượu chửi bởi, nhục mạ ông. Lã công điềm nhiên bất động bảo gia nhân: Kẻ say chẳng chấp làm gì, đóng cửa lại mặc kệ hắn. Qua một năm sau, người đó phạm tội tử hình bị giam vào ngục. Lã công hay biết sự tình mới hối hận rằng: giá mà ngày ấy ta bắt hắn đưa quan nha xử phạt thì hắn có thể chỉ bị trừng giới với một tội phạm nhẹ mà tránh khỏi phạm trọng tội về sau. Ta lúc đó chỉ muốn giữ lòng nhân hậu tha thứ cho hắn, không ngờ lại hóa ra nuôi dưỡng tính ngông cuồng của hắn để phạm phải tội tử hình như ngày nay vậy. Đó là một sự việc do lòng thiện mà hóa ra làm ác.
Lại nữa, có khi làm việc thiện với tâm ác, như một nhà đại phú nọ gặp năm mất mùa, dân nghèo giữa ban ngày cướp bóc thóc gạo ở ngay nơi thị tứ, báo cáo lên huyện thì huyện không xử lý, dân nghèo được thể càng lộng hành. Gia đình nọ bèn tự xử sự cho bắt những kẻ cướp bóc giam giữ trị tội nên ổn định được tình hình, nếu không hành động như vậy cướp sẽ làm loạn.
Sở dĩ ai cũng đều biết làm thiện là chính đáng và làm ác là thiên lệch nhưng tâm tuy thiện là chính, mà việc làm hóa ra ác là thiên lệch nên gọi đó là thiên ở trong chính; còn tâm tuy ác mà việc làm hóa ra thiện, đó là chính ở trong thiên vậy. Sự lý này không thể không hiểu cho thật rõ ràng.
Thế nào là đầy và vơi ( bán và mãn)? Kinh Dịch nói việc thiện mà chẳng tích lũy lại cho nhiều không đủ để được danh thơm tiếng tốt, việc ác mà không đọng lại nhiều chẳng đủ để bị họa sát thân. Kinh Thư có nói nhà Thương tội ác quá nhiều như nước vỡ bờ vì thế mà Trụ vương bị diệt. Việc tích thiện cũng như lưu trữ vật dụng, nếu chăm chỉ cất giữ ắt sẽ đầy kho, còn biếng nhác không chịu tích lại thì vơi chứ không đầy. Chuyện làm thiện được đầy hay vơi, bán hay mãn là như vậy.
Xưa có một nữ thí chủ vào chùa lễ Phật, muốn cúng dường nhưng lại không có tiền, trong túi chỉ còn hai đồng bèn đem cả ra để cúng. Vị trụ trì đích thân làm lễ bái sám hồi hướng cho. Sau nữ nhân đó được tuyển vào cung, tiền tài, phú quý có thừa, đến chùa lễ Phật đem cả ngàn lượng bạc cúng dường. Hòa thượng trụ trì sai đồ đệ thay mình làm lễ hồi hướng mà thôi. Nữ thí chủ nọ thấy vậy liền hỏi: Trước đây tôi chỉ cúng dường có hai đồng mà phương trượng đích thân làm lễ bái sám hồi hướng cho, nay cúng dường cả ngàn lượng bạc mà sư lại không tự mình làm lễ là vì sao vậy? Vị hòa thượng đáp: Trước kia tiền bố thí quả là ít ỏi, nhưng phát xuất từ tấm lòng thật chân thành, nếu bần tăng không đích thân bái sám hồi hướng thì không đủ báo đáp được ân đức ấy. Nay tiền cúng dường tuy thật quá hậu, nhưng tâm bố thí không được chân thành như trước, nên bảo đồ đệ thay bần tăng làm lễ cũng đủ. Với lòng chí thành bố thí cúng dường chỉ hai đồng mà việc thiện được viên mãn, còn bố thí cả ngàn lượng bạc mà lòng không được chí thiết thì công đức đó chỉ được bán phần mà thôi. Trên đây là một thuyết nói về làm thiện được bán và mãn hay vơi và đầy vậy.
Chung Ly Quyền chỉ dạy cho Lã Đồng Tân cách luyện đan điểm sắt thành vàng có thể đem dùng để cứu giúp người đời. Lã Đồng Tân hỏi rằng vàng đó sau có thể biến chất hay không? Chung Ly Quyền bảo năm trăm năm sau vàng ấy sẽ trở lại nguyên bản chất cũ là sắt, thì họ Lã nói: Như vậy là sẽ gia hại cho người đời 500 năm về sau, ta chẳng muốn học phép ấy làm gì. Chung Ly Quyền bảo: Muốn tu tiên cần phải tích công lũy đức 3000 điều, nhưng chỉ một lời của nhà ngươi nói đó cũng đủ mãn 3000 công đức rồi. Đây lại thêm một thuyết nữa về đầy vơi hay bán mãn vậy.
Hơn nữa, làm việc thiện mà tâm không hề chấp trước là mình làm thiện, cứ tùy theo công việc nào mình làm mà được thành tựu thì hành động đó gọi là mãn. Nếu tâm còn chấp việc mình làm là thiện thì dẫu cả đời chăm chỉ hành động cũng chỉ là bán thiện mà thôi. Giả như mang tiền tài cứu giúp người, nội tâm không nghĩ tới mình là người bố thí, ngoài mặt không cần biết người nhận tiền là ai, ở khoảng trung gian cũng không nghĩ tới số tài vật bố thí là bao nhiêu, đó gọi là tam luân thể không, bố thí với tấm lòng thanh tịnh như vậy thì một đấu thóc cũng có thể trồng thành vô lượng vô biên phúc đức, dù một xu cũng có thể tiêu diệt được tội nghiệp của ngàn kiếp trước. Nếu như còn tồn tâm nghĩ tới mình là người làm thiện, số tài vật đem bố thí và người nhận vật là ai, thì dù có vạn lượng bạc đem cho, phúc cũng không được viên mãn. Đây cũng là một thuyết nữa về bán hay mãn thiện, thiện đầy hay vơi.
Thế nào là đại và tiểu? Xưa Vệ Trọng Đạt, một quan chức ở Hàn Lâm Viện bị nhiếp hồn đưa xuống âm phủ. Diêm vương sai các phán quan trình những cuốn sổ ghi việc thiện và ác ra để xét. Nếu đem so sánh thì sổ ghi những việc ác thực quá nhiều, còn sổ ghi việc thiện chỉ có một cuốn nhỏ mỏng như que đũa mà thôi. Diêm vương sai bắc lên cân, cân thử thì bên 1 cuốn sổ ghi việc thiện lại nặng nhiều hơn tất cả những cuốn sổ ghi việc ác hợp lại . Trọng Đạt nhân thế mới hỏi: Năm nay, bản chức chưa đến 40 tuổi đời mà sao tội lỗi lại có thể nhiều đến như thế? Thì Diêm vương bảo: Mỗi một niệm ác kể là một tội không cần đợi tới lúc có thực sự phạm phải hay không. Trọng Đạt lại hỏi thêm là trong cuốn sổ nhỏ đó ghi việc thiện gì vậy. Diêm vương bảo: Triều đình đã từng dự tính khởi đại công tác tu sửa cầu đá ở Tam Sơn, nhà ngươi dâng sớ can gián. Sớ văn đó có ghi chép vào sổ vậy. Trọng Đạt thưa: Bản chức tuy có dâng sớ, nhưng triều đình không y theo lời tấu trình, thì sự việc đâu có ích gì? Thì Diêm vương lại bảo cho hay là: Triều đình không y theo lời tấu, nhưng một niệm thiện đó của nhà ngươi là vì lợi ích của toàn dân, muốn cho họ khỏi bị lao công vất vả, khỏi bị sưu cao thuế nặng, nếu mà lời tấu được triều đình y theo thì công đức của nhà ngươi thực vô cùng lớn lao. Cho nên nếu có chí nguyện làm việc lợi ích cho quốc gia thiên hạ, cho đại chúng thì tuy việc làm đó có nhỏ mà công đức lại lớn, còn nếu chỉ nghĩ làm lợi riêng cho thân mình thì tuy có làm nhiều mà công đức lại nhỏ vậy.
Thế nào là khó và dễ? Các vị tiên nho xưa có nói muốn khắc phục mình, muốn thắng được tâm mình thì nên bắt đầu từ chỗ khó khắc phục mà khởi công trước. Đức Khổng Tử bàn về nhân ái cũng nói bắt đầu từ chỗ khó mà thi hành trước, tức là từ chỗ phải thắng được lòng mình vậy, bởi lẽ khó mà làm được thì dễ ắt cũng làm xong.
Như ông họ Thư ở Giang Tây bỏ hết cả tiền lương gom góp trong hai năm dạy học đem nộp quan để trừ vào tiền thiếu nợ giúp cho hai vợ chồng nhà nọ được sum họp khỏi bị bắt đi làm gia nhân nhà người; đó đều có thể gọi là chỗ khó xả bỏ mà xả bỏ được. Lại như ông già họ Cận ở Trấn Giang tuổi đã cao, không con nối dõi, lân gia có người đem đứa con gái còn trẻ đến cho nạp làm thiếp, nhưng ông không nhẫn tâm thu nạp mà đem hoàn trả lại. Đó là chỗ khó có thể nhẫn mà nhẫn được. Vậy nên phúc báo trời cho hưởng sẽ được hậu.
Phàm những người có tiền tài, có quyền thế mà họ muốn làm phúc thì thực là dễ, dễ mà chẳng làm là tự hủy hoại mình, người nghèo hèn khốn cùng muốn làm phúc thì thật là khó, khó nhưng mà làm được, đó mới thực là đáng quý vậy.
Hiệu ứng bươm bướm
Lan truyền và khuyếch đại, cộng hưởng…
hiệu ứng bươm bướm còn cho ta thấy một khía cạnh khác rất thú vị, đó là một số rung động tích cực, đúng lúc, đúng tần số có thể được cộng hưởng, giao thoa và khuyếch đại, tạo nên các trào lưu mới trong xã hội.
Trong khí tượng học, có một hiện tượng đã được quan sát thấy nhiều lần, gọi là "Hiệu ứng bươm bướm": Một con bướm đập cánh ở một nơi nào đó - chẳng hạn như tại Bắc Kinh - gây những rung động nhỏ trong không khí. Những rung động này tích tụ lại, được khuyếch đại lên và có thể biến thành một cơn bão kinh hoàng sau đó một tháng tại Florida ở Mỹ!!! Điều này nghe khó tin, nhưng lại là một hiện tượng phổ biến, cho thấy một năng lượng ban đầu rất nhỏ, gần như không đáng kể, lại có thể gây ra những biến cố phi thường sau một quá trình, trong những điều kiện phù hợp.
Các hệ thống mở, có tính lặp lại như thời tiết, giao thông, thị trường chứng khoán, dân số, xã hội thường có 2 tính chất: Lan truyền và khuyếch đại. Hai tính chất này tạo nên hiệu ứng bươm bướm, là nguyên nhân của hàng loạt biến cố lớn lao xảy ra hàng ngày, mà đôi khi chúng ta không đủ thời gian và sự tĩnh tâm để hiểu hết nguồn gốc. Giao thông trên đường phố Việt Nam là một ví dụ đáng xấu hổ. Môi trường cũng bị huỷ hoại theo cấp số nhân do hiệu ứng bươm bướm. Nền giáo dục mục ruỗng từ mấy chục năm nay đã gây ra bao nhiêu "rung động nhỏ" trong mỗi con người, mỗi gia đình, để biến thiên thành hàng chục công trình xây dựng sập đổ, hàng chục km2 ngập lụt do tàn phá rừng đầu nguồn,… Những ví dụ còn nhiều lắm. …
Tuy nhiên, hiệu ứng bươm bướm còn cho ta thấy một khía cạnh khác rất thú vị, đó là một số rung động tích cực, đúng lúc, đúng tần số có thể được cộng hưởng, giao thoa và khuyếch đại, tạo nên các trào lưu mới trong xã hội.
Sức mạnh của hiệu ứng bươm bướm cũng có thể ví như phản ứng dây chuyền trong bom nguyên tử, tuy chúng khác nhau về bản chất giữa một hệ thống mở và đóng, giữa một hệ tự điều hoà và một hệ kín tới hạn.
Hãy cùng nhau tạo nên các âm hưởng mới để những làn sóng tích cực của tương lai tràn lên, vang âm trong cuộc sống của chúng ta …
(tg: Vu Trung Kien)
Tinh thần "khai sáng" (Theo Duy Linh - Tuổi Trẻ)
Giới trẻ Việt Nam hiện nay rất "sành điệu" trong tiêu dùng, hưởng thụ. Nhưng nhiều bạn trẻ đang thiếu chính một tinh thần "khai sáng" - tinh thần dám suy nghĩ một cách độc lập, tự tin vào khả năng của bản thân để có thể thực hiện được ước mơ và hoài bão của mình.
Thế giới tranh nhau mua ipod, nội trong một tuần, ipod đã xuất hiện tại Việt Nam.
Cả nước Mỹ lên cơn sốt vì PlayStation 3, Việt Nam cũng đâu tầm thường, cần thì cứ rao trên mạng là có người cung cấp ngay.
Một nha sĩ Việt kiều Mỹ nói với tôi: "Ngày lễ Valentine ở Việt Nam cũng hoành tráng, không thua kém gì Mỹ".
Trào lưu mua sắm hiện đại, sành điệu làm cho tôi cũng cảm thấy choáng ngợp. Nhiều khi, tôi cứ ngỡ như mình đang sống trong một thế giới phẳng - một thế giới toàn cầu hóa không còn khoảng cách về biên giới mà Thomas Friedman mô tả. Thế giới có gì mình có đó, ở Việt Nam có thiếu gì đâu.
Thế nhưng một anh bạn của tôi là một Tiến sĩ chuyên ngành kinh tế học ở Nhật Bản kể lại một câu chuyện làm tôi suy nghĩ. Số là trong một cuộc trò chuyện có một đồng nghiệp của anh nói một câu rất bâng quơ: "Thanh niên bên đây được Fukuzawa khai sáng rồi, chừng nào thanh niên bên đó được khai sáng?".
Anh bảo: "Về đến nhà ngồi vắt tay lên trán ngẫm nghĩ thì mới thấy thấm thía câu nói đó". Tôi cũng phải suy nghĩ rất nhiều về câu đó bởi vì tôi biết Phúc Ông là ai và ông đã khai sáng, giúp cho dân tộc Nhật Bản phát triển như thế nào.
Fukuzawa Yukichi, tên theo âm tiếng Việt gọi là Phúc Trạch Dạ Cát nên còn gọi là Phúc Ông, là một nhà tư tưởng, giáo dục đã khai sáng cho tầng lớp thanh niên Nhật Bản lúc bấy giờ. Những tư tưởng về chính trị, xã hội, kinh tế mà Fukuzawa truyền bá là một căn nguyên phát triển của Nhật Bản cận hiện đại.
Trước một thực trạng giáo dục chỉ coi trọng hình thức bên ngoài, chỉ chú trọng đến việc dạy đọc/ viết, nghĩa là chỉ quan tâm đến việc truyền bá kiến thức mà không quan tâm đến sự khuyến khích phát triển tư duy sáng tạo và độc lập, coi trọng chân lý và nguyên tắc, Fukuzawa đã dám "vượt lên chính mình" kêu gọi người dân hãy theo đuổi nền giáo dục thực học của phương Tây, dựa trên nền tảng khoa học và kỹ thuật.
Quan niệm của ông là học để thực hiện tốt hơn công việc của mình đang làm, để từ đó góp phần xây dựng đất nước chứ không phải học để có bằng cấp cao, để ra làm quan.
Fukuzawa là người đưa ra nguyên tắc nổi tiếng: "Độc lập quốc gia thông qua độc lập cá nhân", tức là một xã hội muốn phát triển phải dựa trên những cá nhân có khả năng tư duy độc lập và sáng tạo, chứ không phải dựa vào chính phủ.
Ông khuyên thanh niên tự tin vào sức mạnh cá nhân, sự suy nghĩ độc lập sáng tạo, mà không phụ thuộc vào sức mạnh của người khác, sự chỉ đạo từ bên trên.
Nghĩa là hãy tự tin vào chính mình, đừng trông chờ, ỷ lại vào sự trợ giúp của chính phủ, đừng than van mà hãy bắt tay "làm một cái gì cho quê nhà tôi".
Phúc Ông đã giúp cho thanh niên Nhật Bản "thoát khỏi trạng thái vị thành niên" nghĩa là dám tin vào tư duy độc lập của mình mà không bị phụ thuộc hay ràng buộc bởi tư duy của người khác.
Với câu hỏi: "Cơ hội sẽ đến nếu chúng ta sẵn sàng. Còn bạn, bạn đã chuẩn bị những gì? Khả năng ngoại ngữ, tin học, kiến thức chuyên môn, văn hóa, khả năng ứng xử, sự năng động... và gì nữa", tôi cho rằng cái mà tôi và nhiều bạn trẻ khác đang thiếu chính là một tinh thần "khai sáng".
Đó là tinh thần dám suy nghĩ một cách độc lập, tự tin vào khả năng của bản thân để có thể thực hiện được ước mơ và hoài bão của mình.
Rất nhiều, sẽ không thể biết hết và nói hết, nhưng cũng có thể chỉ tóm gọn lại trong một chữ: Cơ hội. Trong cuốn Thế giới phẳng đang gây xôn xao dư luận, Friedman đã viết một câu ngắn gọn và chí lý "Cơ hội đến với người luôn sẵn sàng".
Và các bạn, hẳn các bạn cũng mong muốn mình có thể nắm bắt được nhiều cơ hội mới. Với những bạn trẻ đã đủ tự tin: tôi đang sẵn sàng - có lẽ đang rất háo hức đón chờ những thử thách phía trước. Song có người chắc rằng vẫn còn e ngại: tôi không đủ sức cạnh tranh với những bạn trẻ nước ngoài, những du học sinh VN khi mà vài năm nữa, tôi phải đứng trước nhà tuyển dụng song song với họ....
Vậy, theo bạn, chúng ta cần phải được trang bị những gì để có thể biết đâu là cơ hội và có cách nắm bắt lấy nó! Hãy cùng TTO chia sẻ sự chuẩn bị của mình và những cơ hội bạn đang tìm kiếm, bởi tất cả chúng ta đang và sẽ cùng với nhau nắm tay tiến bước ra thế giới...
TTO
http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=174928&ChannelID=7Ứng dụng Sơ đồ học tập Kolb trong việc đọc sách
Định nghĩa mới về việc học
Ngọc bất trác, bất thành khí
Nhân bất học, bất tri lý
Từ hồi còn rất nhỏ tôi đã được ông nội đọc dạy cho hai câu trên trong Tam tự kinh. Nhưng đối với một đứa con nít mà bảo là học để tri lý, biết được lẽ phải trên đời, thì không khỏi là quá mơ hồ. Lớn lên một chút nữa thì tôi được dạy là học để được lên lớp hoặc để được điểm cao (?), lớn lên một chút nữa thì cố gắng học để có bằng giỏi (?), rồi để ra trường có việc làm ổn định (?). Và kết quả là vào đại học, mặc dù không thích thú gì lắm nhưng tôi vẫn cố gắng học hành rất chăm chỉ đúng theo những gì được dạy để đạt được những tiêu chí trên. Và quan trọng nhất để ra trường không phải … học nữa. Nhưng thực tế không hẳn như vậy. Khối lượng sách mà tôi phải đọc, hoặc thông tin cần phân tích kể từ khi ra trường nhiều gấp bội so với hồi tôi còn đang học. Và việc thú vị hơn rất nhiều vì tôi được chọn học/ làm những thứ mà tôi quan tâm và thực sự hứng thú.
Theo Learning: the Treasure Within, một báo cáo của UNESCO xuất hiện lần đầu từ năm 1996, nhìn chung việc học được quan niệm trên là để hiểu biết (learn to know) và để làm (learn to do), để có thể giao tiếp với người khác và chung sống hoà bình (learn to live together). Trên hết, học là để tồn tại, học là chính bản thân mình (learn to be). Cũng trong tài liệu này, cụm từ "lifelong education" được nhắc đến rất nhiều lần với ý nghĩa việc học phải được tiến hành liên tục suốt đời. Còn trong một tài liệu khác Qualifications and Lifelong Learning của OECD, cụm từ này được thay bằng "lifelong learning" với ý nghĩa tương tự. Có lẽ dụng ý của OECD là trách nhiệm chính trong quá trình học tập suốt đời này phải được chuyển từ người dạy (educator) sang người học (learner).
Chúng ta thường xuyên đọc được những thông tin kiểu như thế này Chưa học hết lớp 9 đã có 2 bằng đại học! trên báo chí. Không những người dân, các trường đại học, mà đến cả Ban Kiểm tra trung ương cũng bị kéo vào những gian lận trong cái mớ bòng bong liên quan đến thi cử, bằng cấp này (việc thí sinh Đào Ngọc Dung vi phạm quy chế thi tiến sĩ). Tôi thiết nghĩ có lẽ không nhiều nước có cơ chế thi tiến sĩ kiểu này. Và lại càng không có những sai phạm kiểu như thế này, ở cấp quan trọng đến vậy! Nếu thật sự một người chưa học hết lớp 9 mà có thể có hai bằng đại học (trong đó có một bằng về lý luận chính trị cao cấp?) thì đúng là cần phải "gióng lên một hồi chuông báo động". Nhưng không phải với người này! Thậm chí bà Võ Thị Nhị còn đáng phải được biểu dương nữa vì là một trong những người Việt Nam mở đầu trong xu hướng giáo dục tại gia (homeschooling) đang ngày càng phổ biến trên thế giới. Bà thậm chí còn đáng khen hơn nhiều vì tự học được từ lớp 10 đến lớp 12 khi đã đi làm trong khi hầu hết học sinh ở nhà tự học đều chỉ có mỗi việc học, và phần đông đều phải do bố hoặc mẹ nghỉ việc ở nhà hướng dẫn. Còn nếu bà Nhị không được biểu dương thì cần xem lại toàn bộ hệ thống giáo dục bậc cao, đặc biệt là các khoá học chuyên tu, tại chức đang mở tràn lan như hiện nay.
Sơ đồ học tập Kolb
Thôi thì hãy tạm gạt sang một bên những thực tế đáng báo động về hệ thống giáo dục của Việt Nam để nhìn lại căn bản về quá trình học. Tôi cho rằng Sơ đồ Học tập Thực nghiệm (the Experiential Learning Model) của David A. Kolb tuy ra đời từ đầu những năm 70 nhưng vẫn là một mô hình bổ trợ chặt chẽ cho định nghĩa về học tập suốt đời của UNESCO và OECD. Toàn bộ phần sau trong bài viết này của tôi sẽ dựa trên mục đích về học tập của UNESCO, và quá trình học tập của Kolb.
Trong bước thứ nhất "Kinh nghiệm thực tế", chúng ta trải nghiệm (tiếp nhận những thông tin bên ngoài nhưng chưa phân tích) và ghi lại nhận thức của chúng ta (suy nghĩ, tình cảm, thái độ, v.v…) về những trải nghiệm đó.
Bước thứ hai "Quan sát, Suy ngẫm", chúng ta nhớ lại những điều chúng ta đã quan sát trong phần kinh nghiệm thực tiễn, và suy ngẫm xem những điều chúng ta quan sát được có ý nghĩa gì từ những góc nhìn khác nhau. Chúng ta thử tự đặt mình vào những tình huống khác nhau để có những góc nhìn đa dạng và tự đặt những câu hỏi cho mình ví dụ như nếu người khác ở vị trí mình họ sẽ nghĩ gì, hoặc sẽ cảm thấy gì về những trải nghiệm đó, một người quan sát trung lập sẽ cảm thấy gì, những người có lợi ích liên quan sẽ suy nghĩ thế nào, nếu mình trẻ hơn, hoặc già đi liệu mình có suy nghĩ khác không, v.v…
Trong bước thứ ba "Tổng kết, khái quát hóa", trên cơ sở những thông tin, kiến thức thu lượm được, chúng ta xem xét liệu các trải nghiệm và quan sát đó có nằm trong một mô thức hoặc lý thuyết chung nào hay không. Ví dụ sau khi bạn nói dối (trải nghiệm thực tế) và cảm thấy rất hối hận (nhận thức), bạn đi nói chuyện với tất cả mọi người, hoặc bạn tự đặt mình vào vị trí của mọi người và nhận thấy hầu như ai cũng sẽ không đồng tình với việc bạn đã làm (quan sát và suy ngẫm), bạn rút ra kết luận là "nói dối là việc làm không tốt". Trong bước này, bạn có thể xem xét để lựa chọn ra những lý thuyết, tư tưởng hoặc mô hình nào có liên quan trên cơ sở những trải nghiệm, nhận thức và quan sát mà bạn đã thu lượm được. Sau đó bạn có thể nghiên cứu xem liệu những lý thuyết đó có làm bạn nhận thức rõ hơn về những trải nghiệm và quan sát của bạn hay không? Hoặc liệu những trải nghiệm và quan sát đó có giúp bạn nhận thức rõ hơn, giúp khẳng định, hoặc phủ nhận những lý thuyết kia hay không. Bạn không nhất thiết phải coi các lý thuyết đó là đúng. Chẳng hạn như trong ví dụ trên, nếu nói dối xong bạn không hề thấy có lỗi, và tất cả những người bạn hỏi ý kiến đều nói rằng việc đó không phải là việc quan trọng thì bạn cũng có thể cần phải xem lại tính chính xác của mệnh đề "cứ nói dối là xấu". Bạn có thể tự đưa ra một lý thuyết mới cho mình, ví dụ như "nói dối trong hầu hết các trường hợp, nhưng không phải tất cả mọi trường hợp, đều là không nên" chẳng hạn.
Trong bước tiếp theo "Áp dụng, triển khai trên thực tế", bạn bắt đầu triển khai trên thực tế một cách dựa trên những kinh nghiệm, quan sát và bài học rút ra. Bạn xác định xem những hành động nào sẽ mang lại hiệu quả tốt hơn. Bạn sẽ thử nghiệm các bài học và lý thuyết vừa xây dựng thế nào.
Về mặt lý thuyết, sơ đồ Kolb sẽ bắt đầu từ bước 1 đến bước 4 và bắt đầu trở lại ở bước 1 tạo thành một vòng tròn khép kín. Quá trình học luôn là tiếp diễn một cách liên tục và nhịp nhàng trên cở sở những thành tựu đã thu được, đúng như một câu danh ngôn của Vương Dương Minh: "Học như nghịch thủy hành châu, bất tiến tất thoái." Rõ ràng trong thời đại thông tin này, chúng ta cũng giống như con thuyền đi ngược dòng nước, không liên tục tiến lên phía trước ắt tức khắc sẽ bị đẩy lùi trở lại. Nếu coi bốn bước trên vòng tròn Kolb là bốn đầu của hai đường kính và chia sơ đồ Kolb thành bốn ô thì mỗi người chúng ta sẽ nằm ở một trong bốn ô này tùy theo thế mạnh của mình trong quá trình học. Có người thì giỏi về trải nghiệm, quan sát (ô 1: diverging), có người giỏi về quan sát, chiêm nghiệm (ô 2: assimilating), có người giỏi về chiêm nghiệm, thực hành (ô 3: converging), có người giỏi về thực hành, trải nghiệm (ô 4: accommodating).
Chúng ta cũng cần lưu ý rằng các bước trong sơ đồ Kolb có thể thay thế cho nhau. Ví dụ như một tác phẩm văn học xuất sắc (bước 2: quan sát, suy ngẫm) có thể tạo cho chúng ta những cảm giác giống như, thậm chí đôi khi còn mạnh hơn, những cảm giác chúng ta có thật ngoài đời (bước 1: kinh nghiệm thực tế). Những kinh nghiệm thực tế trong bước 1 nếu đủ rộng và đủ sâu sắc cũng có thể phát huy vai trò giống như những lý thuyết và nguyên tắc ở bước 4. Tuy nhiên, vòng tròn Kolb sẽ phát huy hiệu quả tối đa nếu chúng ta có thể kết hợp được tất cả 4 bước lại với nhau.
Vai trò của đọc sách trong Sơ đồ Kolb
Đọc sách sẽ mang đến cho chúng ta những ảnh hưởng tích cực đến cả bốn bước của sơ đồ Kolb. Ví dụ, khi chúng ta nghiên cứu về marketing, đọc sách về marketing có thể giúp chúng ta có thông tin về những hoạt động marketing khác nhau (bước 1), những góc nhìn đa dạng của các học giải và doanh nhân (bước 2), các lý thuyết và mô hình marketing (bước 3) và việc triển khai các lý thuyết và mô hình này trên thực tế ở các doanh nghiệp (bước 4). Tuy nhiên, đọc sách chưa hẳn sẽ nằm ở trung tâm vòng tròn Kolb mà hơi lệch một chút xuống góc phải dưới do tác động của đọc sách đến bước 2 và bước 3 rõ nét hơn nhiều so hai bước còn lại. Tuy đọc sách mang lại hiệu quả rất lớn với quá trình học, chúng ta cũng phải ý thức được giới hạn của việc đọc sách và làm sao để việc đọc sách mang lại hiệu quả bổ trợ cho bước 1 và bước 4. Một cách tối ưu, đọc sách vẫn cần phải kết hợp với trải nghiệm thực tế và áp dụng triển khai.
Tự phân loại và chọn sách
Rất nhiều người đặt câu hỏi về cách đọc sách với giả định trong đầu là làm thế nào để tăng được tốc độ đọc. Theo tôi, điều này là quan trọng, nhưng không nhất thiết. Một người hoàn toàn có thể đọc rất chậm, nhưng vẫn có thể là một người đọc, và một người học hiệu quả hơn những người đọc nhanh! Trong một ví dụ ví dụ kinh điển của cuốn sách "Bảy thói quen của người thành đạt", Stephan Covey nói quản lý là đạt được thành công dựa trên mục tiêu và hướng đi có sẵn, còn người lãnh đạo là người tìm đúng hướng đi (Management is efficiency in climbing the ladder of success; leadership determines whether the ladder is leaning against the right wall). Cũng tương tự như vậy trong việc đọc sách, người lãnh đạo là người tìm đúng quyển sách để đọc và những nội dung chính yếu trong quyển sách đó, chứ không nhất thiết phải đọc tất cả mọi thứ từ đầu đến cuối. Tuy rất nhiều nhà lãnh đạo giỏi không phải là người quản lý giỏi và ngược lại, nhưng trong giới hạn có thể, có lẽ chúng ta đều nên chú trọng vào cả khả năng lãnh đạo và khả năng quản lý, thể hiện cả trong việc đọc sách.
Trong phần này, với vị trí là người học, tôi sẽ sử dụng cả những ví dụ của bản thân. Giới hạn: Chú trọng vào đối tượng là sách về lãnh đạo, quản lý, xã hội, kinh doanh và chủ yếu bằng tiếng Anh
Ken Standfield trong cuốn "Intangible Management" in năm 1992 ước tính nếu năm 1800 phải mất 50 năm kho kiến thức của loài người mới tăng lên gấp đôi, thì đến năm 1950 khoảng thời gian này chỉ còn là 10 năm, và vào năm 1972 là 5 năm. Internet càng làm cho khoảng thời gian này giảm đi một cách đáng kể. Kể từ năm 2001 trở đi, cứ 90 ngày là lượng thông tin trên internet lại tăng lên gấp đôi. Căn cứ vào tốc độ phát triển của internet hiện nay, chúng ta sẽ ước tính được khối lượng thông tin khủng khiếp gia tăng hiện nay. Một ví dụ khác là hồi năm 1997-1998, khi tôi đang học cấp III, khi ở Hà Nội mới bắt đầu có máy tính thì một cái ổ cứng 650MB đã là một niềm tự hào đáng kể. Bởi vì theo theo lời thầy giáo tin học đầu tiên của tôi thì một quyển sách cả nghìn trang có thể chứa gọn trong 1 cái đĩa mềm khoảng 1MB. Sau đó một vài năm, thị trường bắt đầu phổ internet và đĩa CD-ROM với dung lượng khoảng 700-800 MB, bằng nguyên một ổ đĩa cứng, tiếp tục lại một bước nhảy vọt không thể tưởng tượng đối với tôi, khi đó bắt đầu là sinh viên đại học. Còn bây giờ, năm 2008, tức là đúng 10 năm kể từ khi tôi có chiếc máy tính đầu tiên với ổ cứng 650MB đó, những bộ phim HDDVD được upload phổ biến trên mạng ở Mỹ đều chiếm khoảng 6GB trong ổ cứng. Tôi tin là chỉ vài năm nữa người ta sẽ thường xuyên dùng từ TB (1 terabyte = 1000GB), cũng giống như từ GB đã soán chỗ của từ MB cách đây vài năm vậy!
Sự gia tăng liên tục của khối lượng thông tin và các ngành nghiên cứu mới đáng kể đến mức phải có riêng một môn quản trị mới – quản trị kiến thức (KM – Knowledge Management) để phân loại và quản lý khối lượng thông tin. Nhiệm vụ đầu tiên của KM là phân loại: Dữ liệu (data), Thông tin (information), Kiến thức (knowledge), và Chân lý (Wisdom) (chi tiết mời các bạn xem thêm trang web suy nghĩ hệ thống của Gene Bellinger). Một tập hợp đơn thuần các dữ liệu đơn lẻ chưa chắc đã là thông tin, và một tập hợp thông tin chưa hẳn đã là kiến thức. Liệu chúng ta có nhất thiết phải hốt hoảng vì nguy cơ bị chết chìm trong một biển dữ liệu và thông tin mà cứ vài tháng lại tăng gấp đôi như hiện nay hay không? Câu trả lời là chưa hẳn. Vì sự gia tăng đó không đồng nghĩa với việc gia tăng kiến thức. Và càng không phải là gia tăng chân lý. Với xu thế ngày càng nhiều người phương Tây bế tắc trong cuộc sống hiện đại và đi tập yoga, tập thiền để lấy lại cân bằng và tìm về các giá trị cũ, rất nhiều nhà nghiên cứu còn cho rằng chân lý (wisdom) của xã hội loài người thậm chí còn đang đi xuống!
Thế thì sách và kết quả do đọc sách mang lại sẽ được xếp vào loại dữ liệu, thông tin, kiến thức hay chân lý? Câu hỏi này chỉ có thể trả lời được khi các bạn xác định được mục đích đọc sách của mình. Vừa rồi có một quyển sách của một tác giả Việt Nam rất trẻ ở Mỹ The Boat của Nam Le. Nếu hiện nay bạn chỉ quan tâm thuần túy đến lĩnh vực quản trị/ lãnh đạo/ kinh doanh thì cuốn này chỉ được xếp vào dữ liệu, không liên quan gì cả về không gian và thời gian đến mục đích của bạn cả. Còn nếu bạn muốn thỉnh thoảng đọc vài cuốn tiểu thuyết để giải trí và học tiếng Anh chẳng hạn thì đây sẽ là một thông tin nào đó, có thể bạn sẽ quan tâm vì có liên quan đến mục đích của bạn. Nếu bạn đang nghiên cứu về những nhà văn gốc Việt trẻ ở Úc thì rõ ràng quyển sách này với rất nhiều bài báo liên quan và được đánh giá là một "sự kiện" có thể sẽ mang lại một kiến thức nào đó.
Về lý thuyết, việc phân loại một quyển sách là dữ liệu, thông tin, kiến thức hay chân lý chỉ có thể được thực hiện sau khi chúng ta đọc xong và phân tích thấu đáo về nó. Tuy nhiên, nếu chấp nhận một rủi ro nhất định nào đó (tôi sẽ phân tích thêm về rủi ro này trong phần cuối của bài viết), chúng ta hoàn toàn có thể phân loại một cách tương đối mà chưa cần phải đọc hết quyển sách đó. Có rất nhiều các phương tiện hữu ích mà khoa học và kỹ thuật có thể giúp chúng ta làm điều đó. Chỉ riêng việc xác định những quyển sách nào KHÔNG cần phải đọc đã giúp chúng ta loại ra khỏi phạm vi xem xét đến 99.99%. Các bạn có thể thêm tương đối nhiều những con số 9 đằng sau tỷ lệ này nữa vì theo một nghiên cứu của trường Berkely thì nhân loại đã in đến 65 triệu tiêu đề sách khác nhau. Nếu đọc hết thì liệu chúng ta sẽ đọc được bao nhiêu phần trong số lượng sách khổng lồ này?
Tự phân loại và chọn sách: Bức tranh lớn
Để có thể xây dựng một hệ thống các tiêu chí để phân loại và áp dụng nhuần nhuyễn và hữu hiệu hệ thống này nhằm giảm thiểu khả năng đọc nhầm (đọc nhầm một cuốn sách dở hoặc bỏ sót một cuốn sách hay), chúng ta cần xây dựng, và từng bước phát triển, một bức tranh lớn (the big picture) về những lĩnh vực quan tâm chính, hoặc mục đích trong một phạm vi thời gian nào đó của mình. Ví dụ tôi đang nghiên cứu sâu về lĩnh vực phát triển tổ chức trong quản trị kinh doanh (Master of Business Administration in Organization Development) thì bức tranh lớn của tôi sẽ có dạng như sau:
Đây chỉ là một ví dụ đơn giản được xây dựng bằng Mindmanager. Trong thực tế, chúng ta đều quan tâm đến rất nhiều các lĩnh vực cùng một lúc, và sự liên hệ, giao thoa giữa các vấn đề này là rất phức tạp, không thể thể hiện được một cách rõ ràng trên một sơ đồ 2 chiều đơn giản. Nhưng trong đầu chúng ta phải xây dựng được một bức tranh chi tiết và cụ thể về những lĩnh vực cần quan tâm và sự liên hệ giữa các lĩnh vực này. Có thể hiểu đây là một giá sách vô hình trong não bộ chúng ta. Hoặc cũng có thể hiểu là một cơ chế sàng lọc ban đầu. Ví dụ bức tranh lớn của tôi này sẽ ngay lập tức loại ra khỏi phạm vi quan tâm những tiêu đề sách như "Di truyền học phân tử", "Lịch sử phát triển ngành nông nghiệp Việt Nam" do không nằm trong bất cứ phạm vi quan tâm nào. Những tiêu đề như "Tài chính doanh nghiệp", "Tâm lý học đại cương", v.v… sẽ được xếp vào loại "cần đọc" hoặc "có thể cần đọc" do nằm trong, hoặc có liên quan đến một phạm vi quan tâm nào đó. Đặc biệt, những quyển sách có liên quan trực tiếp đến nhiều lĩnh vực ví dụ như ảnh hưởng của giá trị Mỹ đến văn hoá doanh nghiệp, hoặc các nhà lãnh đạo ở diễn đàn Davos nói gì về xu hướng quản trị nhân lực trong 10 năm tới, chẳng hạn, sẽ được đặc biệt quan tâm.
Phân loại và chọn sách dựa trên ý kiến người khác
Tuy nhiên, trong giai đoạn ban đầu, khi chúng ta mới bắt đầu nghiên cứu trong phạm vi quan tâm của mình thì số lượng sách cần đọc lọt qua sàng lọc này vẫn rất lớn, do chúng ta chưa biết nhiều lắm. Trong giai đoạn này, phương pháp hiệu quả hơn là nhờ người khác lọc hộ. Có rất nhiều cách để "đứng trên vai những người khổng lồ" như thế này. Đầu tiên, chúng ta có thể căn cứ vào danh sách những quyển kinh điển chính thống được thừa nhận rộng rãi, ví dụ như 100 quyển sách có ảnh hưởng nhất do wikipedia chọn (trong này cuốn Đạo đức kinh được xếp thứ 5), hoặc 20 quyển sách kinh doanh có ảnh hưởng nhất do Forbes chọn. Mới đây Financial Times mời một số những CEO của một loạt những tập đoàn lớn trong đó có GE, IBM, Sony, Philips, Reuters đưa ra những quyển sách mà họ thấy tâm đắc nhất. Nếu những người này mà còn phải bỏ thời gian ra đọc những quyển này, hoặc ít nhất, thư ký của họ đọc, và họ đồng ý bình chọn, thì đấy cũng là một lý do tương đối nặng ký để chúng ta … đọc theo.
Cách thứ hai là dựa vào danh sách tài liệu của các trường nổi tiếng. Hiện nay, các ông lớn trong làng đại học Mỹ và rất nhiều trường khác trên thế giới, trong đó có cả Việt Nam, đang có xu hướng xây dựng kho học liệu mở (OpenCourseWare). Đây là một kho dữ liệu khổng lồ mà chúng ta có thể khai thác, trong đó có cả những bài giảng ghi âm, đề cương môn học, tài liệu tham khảo, v.v… Nhiều trường thậm chí còn công khai cả bài giảng powerpoint của môn học đó, tức là toàn bộ những thứ chúng ta cần. Chỉ duy nhất có một khâu cuối cùng chúng ta không bằng những sinh viên trả tiền đi học môn đó là … không được chấm điểm.
Cách thứ ba là dựa vào lời khuyên của những người đã đi trước và có cùng mối quan tâm, ví dụ như sinh viên khoá trên, người học cùng ngành, người đã có kinh nghiệm trong lĩnh vực chúng ta quan tâm. Thường thì những lời khuyên này thiết thực và có thể áp dụng được ngay. Tôi có một số người bạn lớn tuổi hơn được coi là "sư phụ" (mentor). Cứ mỗi lần lâu lâu không gặp, câu đầu tiên chào nhau là "dạo này anh/ chị đọc sách gì?" Và những tựa sách được gợi ý này bao giờ cũng nằm trong những danh sách được ưu tiên nhất. Rất nhiều người đi trước cũng dần có thói quen chia sẻ những quyển sách mà mình tâm đắc, hoặc những vấn đề mình đang quan tâm trên blog, ví dụ như anh Tien Nguyen. Thường những người giống nhau thì hay chơi với nhau, và blog của họ chắc chắn sẽ kết nối với nhau, nên nếu các bạn để ý một chút thì từ người này có thể dễ dàng tìm đến những người khác. Một khi những người đầu ngành và đi trước bạn đã bỏ thời gian để viết một bài mới trong blog của họ thì bài đó rất đáng được quan tâm và phân tích.
Bắt đầu đọc sách
Trong bước tiếp theo, khi chúng ta đã tìm được một quyển sách được đánh giá là rất đáng để đọc. Lời khuyên là các bạn … đừng đọc vội. Bởi vì kể cả như vậy thì cũng còn quá nhiều những quyển tương tự. Chúng ta thử lấy ví dụ quyển Built to Last: Successful Habits of Visionary Companies của James C. Collins. Trước hết là tìm trên amazon xem phần đánh giá thế nào (cả editorial review và reader review), các thuật ngữ hoặc khái niệm được đưa ra, các công ty được nhắc đến. Sau đó, đến lượt google sẽ cho chúng ta tiếp một loạt thông tin liên quan đến các bài đánh giá, phê bình, tóm tắt, các bài trình bày bằng file ppt, các bài nghiên cứu bằng file pdf hoặc file doc. Tất nhiên là để quá trình tìm kiếm hiệu quả (ít nhất là phải nhanh hơn trực tiếp đọc sách từ đầu đến cuối) thì các bạn phải thông thạo với chức năng tìm kiếm của google. Trong một số trường hợp may mắn, chẳng hạn như đối với James Collins, google còn tìm được blog của tác giả này với rất nhiều thông tin bổ sung, hình minh hoạ, tóm tắt, bài giảng ghi âm (podcast), v.v…
Sau tất cả những công việc vừa rồi thì có lẽ các bạn cũng đã nắm tương đối được nội dung của quyển sách và những đánh giá về quyển sách đó, cũng như về tác giả và đi đến một quyết định quan trọng: vẫn phải đọc. Cần đọc rất kỹ phần giới thiệu (những tư tưởng chính và nội dung tóm tắt của tác giả) và mục lục (đề cương phát triển ý và cấu trúc của cuốn sách). Do vai trò rất quan trọng của mục lục nên sách in bằng tiếng Anh bao giờ mục lục cũng để lên đầu tiên. Trong khi đó sách của chúng ta thì mục lục để ở phần cuối sách. Phải chăng đây cũng là sự khác nhau trong cách tiếp cận giải quyết vấn đề (problem-solving) của hai nền văn hoá?
Một điểm các bạn có thể ghi nhớ và tận dụng là sách tiếng Anh thường có cấu trúc cực kỳ chặt chẽ từ trên xuống theo hình cây. Tiêu đề từng chương, từng phần, và từng mục nhỏ đều có dấu hiệu (in hoa, in đậm hoặc in nghiêng). Mỗi đoạn đều có câu mở đầu, các câu phát triển đoạn và có thể có cả câu kết luận. Phần cuối sách có index để chúng ta có thể tra nhanh. Tức là chỉ cần ghi nhớ bức tranh lớn trong đầu là chúng ta có thể đọc sách một cách rất chủ động. Có thời gian thì đọc kỹ, không có thời gian thì thậm chí chỉ cần đọc tiêu đề chương và câu chủ đề mỗi đoạn. Chỗ nào không hiểu hoặc thấy không cần thiết thì bỏ qua, lúc khác nếu cần thì quay lại.
Tục ngữ Nhật có một câu là nếu bạn tin vào tất cả những gì viết trong sách thì tốt nhất đừng nên đọc (If you believe everything you read, better not read). Khi đọc sách, và có lẽ cả trong cuộc sống nói chung, chúng ta không nên để mình bị cuốn theo một ai đó. Các điểm chính trong bất kỳ một quyển sách nào bao giờ cũng có liên hệ móc xích với nhau và đều theo mô hình: nêu luận điểm => dùng luận chứng và luận cứ để suy luận, chứng minh, tạo quan hệ nhân quả về luận điểm đó. Chúng ta bao giờ cũng có thể đồng ý hoặc không đồng ý kể cả về tất cả các điểm này của tác giả. Thói quen suy nghĩ phê phán (critical thinking) cũng sẽ làm chúng ta liên kết các vấn đề đang đọc với những vấn đề chúng ta đã biết, tạo điều kiện cho việc nhớ nhanh và lâu hơn. Cơ chế ghi nhớ của não bộ, khác với ổ cứng máy tính là não bộ lưu trữ thông tin dựa trên sự liên hệ giữa thông tin đó với các thông tin có sẵn chứ không phải bản thân thông tin đó. Chúng ta càng tạo ra nhiều liên hệ, càng phân tích mở rộng và xâu chuỗi vấn đề thì càng nhớ lâu. Và khi đã tích luỹ được đủ những liên kết này rồi thì việc đọc sách chỉ mang tính bổ sung vào những gì chúng ta đã tích luỹ được, và lại càng trở nên nhẹ nhàng.
Khi thông tin được nâng tầm lên thành kiến thức thì khả năng áp dụng cho các tình huống khác nhau đã tăng lên đáng kể. Khi kiến thức được áp dụng nhuần nhuyễn và chắt lọc sẽ mang tính chuyển đổi (transferable) để áp dụng cho nhiều hơn nữa các tình huống khác nhau, hoặc sẽ trở thành triết lý sống (wisdom). Ở mức này thì những điều chúng ta đúc rút được đã mang tính vận động của vũ trụ và thời đại vào trong đó. Và mọi cách tiếp cận, mọi nền văn hoá ở mức độ cao đều hội tụ ở đây. Vừa rồi ở Việt Nam mới in một quyển sách nhỏ về sự tương đồng đến ngạc nhiên giữa triết lý của Phật và vật lý học hiện đại. Gần đây tôi đọc nhiều về đạo Phật và nhận ra hầu hết những điều tôi tâm đắc từ lâu trong quyển "The Seven Habit of Highly Effective People" của Stephan Covey đều tương tự với những nguyên tắc và triết lý của đạo Phật. Chẳng hạn nguyên tắc lấy mình làm trung tâm (self-centered hoặc self-anchored) và phân định rõ thế giới của mình (circle of influence) và thế giới bên ngoài (circle of concern) rất giống với nguyên tắc "vô chấp" của đạo Phật. Hoặc nguyên tắc lãnh đạo theo quy tắc (principled leadership) có vẻ tương đồng với cách tư duy của người phương Đông là nương theo tự nhiên chứ không tìm cách chống lại nó, kiểu như "thuận thiên hành đạo", hoặc "dĩ nhu thắng cương" vậy. Nhiệm vụ cuối cùng, cao cả nhất của việc học và sống theo tôi có lẽ là để nhận ra và chiêm nghiệm những quy luật muôn đời này.
Ở phần trên tôi có nói tới khi sử dụng các bộ lọc chúng ta sẽ phải chấp nhận một rủi ro nào đó. Cũng giống như việc đầu tư mạo hiểm. Cho dù có đầy đủ các thông tin và các công cụ để phân tích thì bao giờ cũng có rủi ro là chúng ta mua trượt một cổ phiếu nào đó. Trong trường hợp này là đọc hụt một quyển sách hay. Vẫn có xác suất là một quyển sách có tiêu đề không liên quan gì đến lĩnh vực nghiên cứu của chúng ta, quá lạc hậu, không được nhiều người để ý, v.v… nhưng hóa ra lại rất cần thiết. Mới đây, trong khi tìm hiểu về kỹ năng lãnh đạo biến đổi (transformational leadership), tôi gặp một quyển sách không lấy gì làm hay lắm Leadership That Matters: The Critical Factors for Making a Difference in People's Lives and Organizations' Success (mặc dù được giáo sư khuyên đọc và được đánh giá tương đối cao). Nhưng quyển này lại nhắc đến một cuốn khác: Đạo đức kinh của Lão tử (Tao Te Ching/ Lao-zhi) mà tôi đọc được vài chương rồi vứt xó đến vài năm nay vì … chán! Tôi cũng chưa có thời gian để xem xét thấu đáo lại Đạo đức kinh, nhưng chỉ qua vài câu trích của Marshall Sashkin và Molly G Sashkin đã chiêm nghiệm được một số ý mà tôi phải mất bao nhiêu công đọc sách quản lý của phương Tây và so sánh với văn hóa phương Đông mới phát hiện ra.
Có lẽ trong việc đọc sách một cách khoa học, chúng ta cũng cần phải duy trì một khoảng trống cần thiết để tiếp nhận những thông tin ngoài lề, nhưng đôi khi lại có vai trò rất quan trọng. Những thông tin, đôi khi có vẻ rất mơ hồ và mâu thuẫn với nhau lại giúp nối các điểm rời (connecting the dots – Steve Jobs) để mang lại thành công vô cùng lớn về sau. Tất nhiên, việc xác định một tỷ lệ nào cho phù hợp là tùy từng cá nhân chúng ta, trên cơ sở quỹ thời gian và thế mạnh của mình. Suy cho cùng, đó chính là khoa học và nghệ thuật lãnh đạo bản thân (personal leadership) vậy.
Bước đầu tiên là chúng ta thử tìm ebook trên mạng. Tất nhiên là ở đây tôi không thể nói với các bạn một cách cụ thể ebook sẽ được tìm ở những trang nào nhưng nhìn chung là đối với những quyển kinh điển in lâu lâu một chút thì thường chúng ta chưa tìm thấy là do kỹ năng tìm kiếm của chúng ta chưa đủ mạnh mà thôi. Nhưng nếu bạn muốn tiết kiệm thời gian thì có thể đặt ngay trên mạng. Ngoài amazon thì trên mạng còn có rất nhiều những trang khác mà chúng ta có thể mua trực tuyến, đặc biệt là những trang có chức năng so sánh giá và mua sách cũ. Tất nhiên những bạn ở Việt Nam không có điều kiện, hoặc không thể chờ sách chuyển về thì có thể nhờ bạn bè, có rất nhiều kênh thong tin để chúng ta có thể làm được việc này. Cho dù sách là một trong những thứ nặng nhất mà bạn bè hay gửi nhưng đây bao giờ cũng là những thứ được ưu tiên nhất. Trước đây hầu như toàn bộ tài liệu của nhóm "Tài liệu du học" của các bạn luyện thi cho những kỳ thi tiêu chuẩn (TOEFL, GRE, GMATT, v.v…) được một Mạnh Thường Quân ở Mỹ thu thập và gửi về Việt Nam. Tuy nhóm này hiện nay không còn nhưng vẫn còn rất nhiều các kênh khác nhau mà các bạn có thể tận dụng: Nguyên, USFall 08 (khoảng gần 100 bạn vừa sang Mỹ học năm nay), Trái tim Việt Nam Online,
I. Những cái đã, đang được học mà không ứng dụng được:
Trả lời: Một số chủ điểm rất quan trọng: như Tin học, nhiều sinh viên chúng em có khi phải học và thi nhiều chương trình như MS-DOS, Pascal, Foxpro for Dos, những chương trình thế giới đã không dùng từ lâu.
Chúng em cũng được học vài ứng dụng văn phòng như : Word, excel, … nhưng vẫn ít được thực hành. Kỹ năng tìm tin hiệu quả trên Internet kém.
Nhiều sinh viên ra trường vẫn bị không nghe nói được ngoại ngữ.
Em mong mọi người đều có thể sử dụng thành thạo máy tính, ít nhất 1 ngoại ngữ như Tiếng Anh, ứng dụng hiệu quả Internet trong đời sống cũng như trong học tập.
II. Những cái cần mà chưa được học?
Trả lời:
Có nhiều kỹ năng chúng em đôi khi cũng chưa biết tìm học ở đâu, lẽ ra nên được đào tạo ngay trong trường. Chúng em được học lý thuyết nhiều, trong khi thực hành thực tế ít. Một số điều cần được đào tạo:
Kỹ năng tự học và tự học suốt đời
a. Khả năng phán đoán nhận định: Dù ít thông tin, khả năng phán đoán nhận xét càng sâu, càng nhiều, tài năng càng lớn. VD: Đứng trước vấn đề có phán đoán rồi hành động chứ không hành động bừa bãi dễ gây hậu quả nghiêm trọng.
b. Khả năng sáng tạo: Tạo ra điều chưa có. (Tạo ra bài học, môn học, sản phẩm mới…) đây là tài năng đến đỉnh cao.
Khả năng giao tiếp, thuyết trình, làm việc nhóm, đàm phán.
Rất nhiều người trẻ, trước áp lực công việc, học tập… đã stress, tự tử… do chưa làm chủ được bản thân, nên cần học thiền định em xin nói rõ hơn ở dưới
c. Phân biệt Đúng sai, Thiện ác.
d. Tránh điều ác: Điều gì sai không làm, nhất là trong thời đại rất nhiều cám dỗ. VD: từ chối vào web sex…
e. Khả năng thích làm điều thiện: có thể ta không làm điều xấu, nhưng chưa thích làm việc thiện thì chưa có đạo đức hoàn hảo. Khó khăn như khi ta khước từ làm việc xấu
f. Cảm hoá được người khác: khi người chung quanh còn xấu mà mình chưa cảm hoá, có trách nhiệm với người khác, thì chưa là đỉnh cao của đạo đức.
VD: Cảm hoá được người xấu…
g. Những bài học lý thuyết đạo đức đầy sức thuyết phục. Những bài học đạo đức có thể chưa cần giảng, chỉ cần đọc tiêu đề đã khiến học sinh, sinh viên xúc động. Các thày cô giáo luôn phản ánh kịp thời những điều chưa phù hợp để Bộ giáo dục kịp thời điều chỉnh.
h. Những bài tập thực hành đạo đức thực tế, thú vị: giúp đỡ các em mồ côi, người già cô đơn… Ở nhiều nước trên thế giới, việc cống hiến hoạt động từ thiện xã hội là bắt buộc, là một tín chỉ để tốt nghiệp ra trường.
i. Lý thuyết về nhân quả, nghiệp báo: Nguyên lý công bằng, văn minh này rất phức tạp nhưng một cách ngắn gọn thì "Nếu ta tác động vào người khác như thế nào, ta sẽ nhận kết quả tương xứng". Nếu ta đem hạnh phúc đến cho người, ta sẽ nhận nhiều hạnh phúc. Đó là sự công bằng. Sẽ không còn người tham ô tham nhũng làm thiệt hại cho người dân lương thiện rồi lễ bái khắp nơi với mong muốn thoát tội, hay những kẻ khủng bố ôm bom giết nhiều người vô tội với mong muốn được lên thiên đàng… vì điều đó đi ngược với luật nhân quả. Những người có ý định tham ô tham nhũng, lãng phí, khủng bố… sẽ biết dừng tay lại vì họ không thể gây đau khổ cho người khác mà lại được hạnh phúc.
k. Thiền Định:
Là khả năng điều phục, làm chủ được tâm hồn mình. Thiền là môn thể dục vệ sinh tinh thần. Có chuyện khiến ta buồn, nhưng ta không buồn nữa vì ta biết Thiền, có chuyện khiến ta phấn khích quá độ, ta không phấn khích nữa, ta trầm tĩnh, đó là Thiền. Những lúc ta mệt mỏi cơ thể, nhưng tâm hồn ta không suy nhược vì ta biết thiền. Thể xác có thể mệt, nhưng tâm hồn ta luôn vững vàng.
Khi ta làm chủ được tâm hồn, ta phát triển được cả đạo đức và tài năng.
Một người với tâm hồn thanh thản,lắng đọng không thể làm ác được. Điều ác, ích kỷ, tham lam chỉ phù hợp với tâm hồn luôn xao động. Nên Thiền hỗ trợ cho đạo đức.
Thiền hỗ trợ cho tài năng: Theo các nhà khoa học, con người chỉ mới sử dụng vài phần trăm bộ óc. Làm sao sử dụng thêm được bộ óc của mình. Thiền giúp vùng vỏ não của ta tĩnh lại, giúp những phần não sâu hơn bên trong hoạt động và con người sẽ sáng tạo hơn, tài năng hơn…
Tóm lại : Đạo đức sinh tài năng, Thiền định sinh tài năng.
III. Tại sao?
Trả lời:
Theo em
Mục tiêu của giáo dục là đào tạo Tài năng và Đạo đức
Tài năng lớn hay nhỏ tuỳ theo mục tiêu lớn hay nhỏ.
Tài năng và đạo đức cộng lại (kết hợp) thì tạo ra lý tưởng sống (khác với tham vọng). Tài năng và đạo đức lớn sẽ có lý tưởng lớn, lý tưởng lớn luôn là phụng sự. Lý tưởng là ước mơ cống hiến nhiều nhất cho cuộc đời. Người có đạo đức lớn mới nghĩ đến chuyện phục vụ lớn. Để giới trẻ có lý tưởng, hãy đào tạo tài năng và đạo đức. Khiến thanh thiếu niên biết ước mơ, luôn sống để không sống thừa sống phí.
Đạo đức là nhân, Tài năng là quả. Dạy Đạo đức trước. Lấy đạo đức làm nền. Đạo đức tốt sẽ dẫn đến Tài năng lớn.
Tóm lại:
Tài năng + Đạo Đức = Lý tưởng sống
Đạo đức là nhân, tại năng là quả.
Nếu bị mất ngủ, bạn có thể dùng khoảng nửa cân nhân trần và một ít hoa nhài để làm một cái gối. Còn nếu bị váng đầu, chiếc gối được làm từ một cân lá dâu và kinh giới sẽ có ích cho bạn.
Cho thuốc vào trong gối để gối đầu là một cách phòng chữa bệnh độc đáo của Đông y. Ưu điểm của nó là: Dễ, nhiều, tốt, rẻ.
Tác dụng của gối thuốc được phát huy với bệnh ở phần đầu - cổ - vai là chính. Nhưng nó vẫn tác động lên toàn thân vì cơ thể là một thể thống nhất, và tạo điều kiện cải thiện sức khỏe trong việc điều trị bệnh của các chức phận khác. Bệnh nào gối ấy. Gối thuốc thường được dùng chữa mất ngủ. Nhược điểm là công hiệu chữa bệnh chậm, phải kéo dài nên cần phối hợp với nhiều phương pháp.
Dược liệu cho vào gối
Nói chung đó là loại có tinh dầu thơm. Khi gối đầu, ta làm ấm nóng gối để bốc tinh dầu thơm đó, cho tác dụng dược lý theo yêu cầu chữa bệnh. Thuốc tác dụng cả khi ta thức và ngủ. Yêu cầu dược liệu phải mới chế biến, khô sạch, cỡ nhỏ hoặc tán bột cho gối được êm.
Thuốc phải được kiểm tra thường xuyên từ bên ngoài hoặc trong, đảm bảo tơi xốp, không bị ẩm mốc, vón cục và vẫn còn mùi thơm. Nếu có tình trạng giảm chất lượng thì phải thay thuốc mới. Về mùa mưa lạnh, ẩm thấp, gối thường bị ảnh hưởng bởi thời tiết nên cần làm khô ấm lên bằng cách hằng ngày hong nơi khô gió, nếu cần thì sấy. Trước khi gối, nên vỗ đập nhẹ cho gối xốp mềm.
Thuốc cho vào ruột gối có phéc-mơ-tuya kéo kín (nếu khâu kín sẽ trở ngại khi cần thay thuốc) rồi cho vào áo gối. Ruột và áo gối phải là loại vải bông mỏng thưa để thoáng. Không dùng loại nylon kín bí. Gối thường có khối hình chữ nhật dài khoảng 40 cm và rộng từ 20 cm trở lên, chiều cao khoảng 10-15 cm. Nếu nằm nghiêng sang một bên thì chiều cao của vai là chiều cao của gối.
Vỏ gối nên luôn giữ sạch sẽ, thường xuyên ngâm giặt.
Một số loại gối thuốc thông dụng
Gối thảo quyết minh (1.500 g) chữa khó ngủ.
Gối ngô thù du chữa các chứng do bị lạnh, dẫn đến đau đầu, đau cổ vai gáy, thần kinh mặt. Trước khi gối phải hơ nóng.
Gối đăng tâm (bấc đèn dầu lạc) chữa mất ngủ, luôn bồn chồn lo lắng không yên. Có thể phối hợp thêm đạm trúc diệp, hoa cúc để làm thành "gối thiên miên", chữa mất ngủ rất hiệu nghiệm.
Gối thạch xương bồ giúp an thần, trừ đàm, dùng cho người mất ngủ, hay quên, chóng mặt, mộng mị, tức ngực.
Gối bã chè trừ phiền, chữa suy nhược thần kinh.
Một số người mẫn cảm khi dùng gối thuốc bị ngứa, nổi mẩn vai gáy… hoặc khó ngủ hơn. Khi đó nên ngừng dùng gối thuốc, hoặc thay dược liệu khác thích hợp hơn, dịu hơn. Thường gối vỏ đậu xanh hay vỏ đậu đen (thanh nhiệt, dùng cho người hay bốc hỏa) là an toàn hơn cả. Chú ý đãi sạch vỏ, chỉ lấy vỏ chứ không lấy phần cám dưới vỏ).
Để phát huy tác dụng của gối thuốc, nên chọn kích cỡ thích hợp từng người (tuổi, tư thế quen nằm), kiểu dáng gối theo thị hiếu (kiểu cách, màu sắc, hoa văn), nên chọn loại mềm dịu. Không dùng gối to, cao quá, thêu dày, màu chói.
Gần 3.000 năm trước, các đạo sĩ Trung Quốc đã biết chế tạo những chiếc gối có tác dụng dưỡng sinh, gọi là dược chẩm. Việc chọn thuốc cho vào gối tùy thuộc vào mục đích chữa bệnh. Ví dụ, người suy nhược thần kinh, khó ngủ nên dùng bã chè; người can dương, hỏa vượng nên dùng vỏ đậu xanh.
Tương truyền, có lần Hán Vũ đế gặp một ông lão râu tóc bạc phơ mà dáng vóc tráng kiện như trai trẻ, ngỡ là đạo nhân có phép thuật, bèn hỏi về phép dưỡng sinh. Ông lão thưa: "Thần năm nay 120 tuổi; lúc 85 tuổi thì tóc răng rụng hết, suy nhược, sắp chết. Một hôm, có vị đạo sĩ đi qua dạy cho cách nghiền bạch truật thành bột rồi cho vào gối để nằm ngủ, lại chỉ ăn bột bạch truật chứ không dùng thức khác. Thần làm theo, qua 100 ngày trở nên khỏe mạnh, mắt sáng tai thính, tóc răng mọc lại, da dẻ hồng hào". Hán Vũ đế nghe xong liền sai ghi lại lời ông cụ để truyền cho mọi người làm theo.
Tuy có nhiều chi tiết khó tin nhưng câu chuyện trên cho thấy, người Trung Quốc đã sớm biết đến tầm quan trọng của chiếc gối đối với sức khỏe; và việc dồn các loại thuốc thích hợp vào gối sẽ có nhiều tác dụng tốt. Sau đây là một số loại gối thuốc dễ làm, mang lại hiệu quả cao:
- Gối thông thảo: Có công dụng giúp dễ ngủ, sáng mắt, thanh tâm, trừ phiền, rất thích hợp với những người bị đau mắt do âm hư, hỏa vượng hoặc mất ngủ do thần kinh suy nhược.
Cách làm: Thông thảo cắt nhỏ, cho vào lớp túi trong của gối, số lượng vừa đủ để gối có độ cao thích hợp (theo Dưỡng sinh tùy bút của Tào Đình Đống).
- Gối khử phong, tỉnh não: Có công dụng an thần, làm nhẹ đầu, chữa mắt nhiều dử, váng đầu, hoa mắt.
Cách làm: Đậu đen 200 g, phòng phong, thông thảo, cúc hoa, kinh tử, thạch xương bồ, cảo bản, mỗi thứ 10 g; xuyên khung, tế tân, bạch truật mỗi thứ 8 g; sừng trâu, sừng dê mỗi thứ 4 g. Tất cả nghiền thành bột, bọc vào vải lụa màu xanh cho thật chặt, tạo thành hình cái gối. Bỏ gối vào hộp gỗ đóng kín, khi nằm mới lấy ra dùng. Lâu ngày nên thêm thuốc theo tỷ lệ trên (theo Bảo sinh yếu lục của Bồ Kiến Quán).
(Theo Khoa Học & Đời Sống)
http://www.sgtt.com.vn/Detail45.aspx?ColumnId=45&NewsId=23791&fld=HTMG/2007/1017/23791
Làm từ thiện không dễ
Ngay cả khi bạn có lòng tốt và tiền, làm từ thiện cũng không phải là công việc dễ. Những bất cập nảy ra trong quá trình cứu trợ các gia đình nạn nhân vụ tai nạn cầu Cần Thơ (mà SGTT đã đề cập) là một trong những bằng chứng. Bài viết này của bạn đọc Kathy Nguyen nêu một số vấn đề mà người làm từ thiện cần lưu ý
|
|
Công việc từ thiện còn rất mới ở Việt Nam. Không chỉ người dân chưa quen với loại hình hoạt động xã hội mới này, mà chính quyền cũng chưa có quy định rõ ràng. Ảnh : Hải Thanh |
1. Nhận thức
Không phải tất cả những người làm từ thiện đều suy nghĩ hoặc có mục tiêu cuối cùng giống nhau, dù hình thức bên ngoài có thể cùng là đem tiền ra cho người bị nạn. Có người cho tiền để bớt mặc cảm tội lỗi và phần nào đó có thể hiểu làm từ thiện cho chính bản thân. Có người dâng hiến tất cả những gì mình có để phụng sự một lý tưởng nhân bản trong xã hội. Cũng có người coi từ thiện là phương pháp để xây dựng quan hệ, tạo hình ảnh chính trị.
Trước hết, bạn phải nhận rõ mình là người nào, mục tiêu là gì khi đi làm từ thiện. Ngay cả khi đơn thuần là chỉ muốn giúp người bị nạn, bạn cũng có thể, vô tình hoặc cố ý, qua hành động của mình, thay đổi trật tự xã hội, tầm nhận thức, hoặc hệ giá trị của cả một cộng đồng.
Ví dụ như khi thiếu nhận thức, bạn có thể làm thay đổi tập quán của cả quần thể dân cư, ví dụ như bạn tập cho họ thói quen và nhu cầu ăn mì gói (thứ họ phải mua) trong khi dân quê quen ăn gạo và trước đó hay dùng gạo (thứ họ có thể làm ra) để giúp nhau.
Vấn đề không phải là bạn áp đặt một mô hình từ thiện nào đó từ bên ngoài mà cần phải hiểu rõ bạn đang làm gì và truyền thống nơi đây thường làm gì. Cũng không nhất thiết phải làm theo truyền thống, chỉ cần bạn ý thức được là nếu làm khác đi mình sẽ thay đổi những gì trong xã hội và các thay đổi đó sẽ ảnh hưởng tốt hay xấu đến từng thành viên.
2. Chia sẻ, thông hiểu, và động viên (counselling)
Công việc từ thiện trước hết là cuộc gặp mặt giữa người với người. Một bên có thể đang ở mức tận cùng của đau khổ và bên kia là đỉnh điểm của sung sướng.
Nếu bạn là đôi vợ chồng hạnh phúc đến cho tiền một người đàn bà goá đang khóc chồng, bạn có nghĩ là người phụ nữ kia sẽ cảm thấy được chia sẻ chút nào không? Nhưng nếu bạn là người thành đạt, đem học bổng đến cho những em bé nghèo hiếu học, bạn có nghĩ mình sẽ là thần tượng để chúng phấn đấu? Có những lúc người ta cần được tặng một giấc mơ đẹp, một tia hy vọng, một lòng tin để đi vào tương lai, hơn là những đồng tiền có thể khiến họ ăn sung mặc sướng ngày hôm nay và quên mất mục tiêu sau này.
Chắc bạn đồng ý với tôi rằng làm từ thiện là giúp người ta đứng vững rồi chạy trên hai chân của mình, hơn là biến họ thành kẻ ăn mày chuyên nghiệp, sống bằng tiền của bạn trong suốt phần đời còn lại. Những thất bại đang bị chỉ trích của phương Tây ở châu Phi có thể được coi là bài học, khi tiền viện trợ biến nhiều cộng đồng trở thành ăn bám, chỉ biết chờ gạo và bột mì tiếp tế hàng năm, mà không biết khai phá đất đai trồng loại cây lương thực khác.
Counselling là ngành học khá phổ biến ở các nước phương Tây, các nhà từ thiện ở Việt Nam có thể học qua trao đổi với những người Việt đang làm việc trong các tổ chức thiện nguyện ở nước ngoài, thường xuyên về Việt Nam xây dựng và thực hiện dự án.
3. Lập dự án
Bạn có thể đơn giản là thảy một cục tiền và mặc kệ mọi chuyện ra sao thì ra, nhưng hành động đó có thể kéo theo nhiều vấn đề phức tạp, nhiều khi có hại cho người nhận tiền. Vì vậy, công tác từ thiện chuyên nghiệp thường đòi hỏi có kế hoạch rõ ràng là chi tiền như thế nào, nhằm các mục tiêu gì, và làm thế nào để kiểm tra kết quả. Đồng thời, cần có các tiêu chuẩn để kiểm tra xem tiền có được chi đúng và kế hoạch được thực hiện đúng hay không như hoá đơn tang lễ, sổ điểm và học bạ, mức chi tiêu trong gia đình, kết quả kinh doanh...
Trong nhiều trường hợp, dự án còn quan trọng hơn là số tiền bỏ ra. Nhiều người nghèo vẫn tiếp tục nghèo sau khi được ngân hàng cho vay xoá đói giảm nghèo. Vì cái họ cần nhiều khi là "know-how", là kỹ năng kinh doanh, tính toán, phương pháp gieo trồng và chăn nuôi mới, hay mối quan hệ để tiêu thụ hàng, tìm nguồn nguyên liệu rẻ, hơn là tiền.
Việc bạn cho họ vài chục triệu và mua một chiếc xe hai bánh tính về giá trị là bằng nhau, nhưng có thể khác rất xa. Người nhận tiền có khi không nhìn thấy chiếc xe là giải pháp giúp công việc kinh doanh của họ phát triển, và không biết đem vài chục triệu bạn cho đi mua xe, mà chỉ lo sửa nhà hoặc nhậu.
Qua việc mua xe, hay cho họ con bò, có thể bạn đã chuyển cho họ một ít kiến thức về kinh doanh, và đó chính là cái họ đang cần.
Bằng cách lập dự án và kiểm tra, có thể bạn đã đào tạo họ thích nghi với môi trường mới, tự bản thân vượt qua bức tường nghèo đói, hội nhập với xã hội.
|
Ngay cả khi đơn thuần là chỉ muốn giúp người bị nạn, bạn cũng có thể, vô tình hoặc cố ý, qua hành động của mình, thay đổi trật tự xã hội, tầm nhận thức, hoặc hệ giá trị của cả một cộng đồng |
4. Cấu trúc cộng đồng
Khi giúp một gia đình, có khi bạn nghĩ rằng không cần quan tâm đến những gia đình xung quanh, hay cả cái xã/huyện đó. Nhưng ở Việt Nam mối quan hệ làng xã rất là chặt chẽ, có khi bạn tốn bao nhiêu tiền của đổ vào một chỗ mà vẫn không cải thiện được gì vì nó bị tất cả các mối dây ràng buộc kéo lại.
Rất nhiều trường hợp những điều mà người làm từ thiện nghĩ là tốt cho dân làng, nhưng do không chú ý giải thích vận động từ đầu mà bị người dân phản đối vì cho rằng gây hại cho họ. Khi có kế hoạch từ thiện với hơn một gia đình, bạn cần chú ý đến mối quan hệ giữa họ và những gia đình còn lại trong khu. Trong nhiều trường hợp, thay vì chia tiền dàn trải, có thể chỉ cần dồn tiền vào một mắt xích nào đó, và như thế là cả khu vực sẽ được hưởng lợi ích.
5. Lý và tình
Cần chú ý đến các định chế đang tồn tại trong cộng đồng, từ các ràng buộc pháp lý cho đến các giá trị tình nghĩa, đạo đức. Nắm bắt các nguyên tắc này giúp bạn tránh cho bản thân và người được mình giúp khả năng bị rơi vào thế đối đầu với chính quyền hoặc bà con làng xóm. Bạn nghĩ thế nào khi nhận tiền của công ty bán súng để giúp nạn nhân chiến tranh? Không có câu trả lời rõ ràng và cụ thể. Cũng không có mô hình lý tưởng để làm theo.
Công việc từ thiện còn rất mới ở Việt Nam. Không chỉ người dân chưa quen với loại hình hoạt động xã hội mới này, mà chính quyền cũng chưa có quy định rõ ràng.
Để nâng cao hiểu biết và tránh các sai lầm đáng tiếc, bạn có thể tham gia hoặc liên kết với các tổ chức NGO (thiện nguyện, phi chính phủ) đang được phép hoạt động ở Việt Nam. Bạn cũng có thể tìm đọc thêm tài liệu trên mạng internet, hoặc có thể tìm đến các khoá đào tạo ngắn hạn ở nước ngoài. Một số quy định pháp lý về việc này ở các nước tại địa chỉ: http://en.wikipedia.org/wiki/Charitable_organization .
Kathy Nguyen
| Sống phù hợp theo thời tiết | |
| Người, trời, đất và vạn vật đồng nhất thế nên chương 'Tứ khí điêu thần đại luân' của Tô Vân viết : "Âm dương bốn mùa là căn bản của vạn vật. Vì thế Thánh nhân dưỡng dương vào mùa Xuân, mùa hạ, dưỡng âm vào mùa thu, mùa đông cùng với vạn vật nổi chìm nơi cửa sinh trưởng. Nghịch với bốn mùa tổn hại tới sinh mạng, còn thuận theo thì không ốm đau, đó gọi là đắc đạo". | |
| Về mùa xuân, Tô Vân viết : "Ba tháng mùa xuân là thời phô bày cái mới đầy sinh khí, vạn vật hớn hở, đêm ngủ sáng nên dậy sớm, đi bộ trong sân, y phục rộng rãi, để cho tinh thần và ý chí thuận sinh cùng thời tiết, đó là ứng với khí mát mẻ của mùa xuân ". Mùa xuân: ăn uống nên bớt vị chua mà tăng vị ngọt để nuôi cái khí của tỳ. Về mùa hạ :Tô Vân nói : "Ba tháng mùa hạ là thời cây cối sum suê xinh đẹp, khí âm dương của trời đất giao nhau, vạn vật đươm hoa kết trái, đêm ngủ thời sáng dậy sớm, đừng sợ ánh nắng mùa hạ, để cho dương khí trong thân thể tiết ra ngoài làm vậy sẽ thích ứng với khí hậu mùa hạ ". Mùa hạ: hoả vượng vị đắng, hoả khắc kim (phổi), phổi chủ về cay, nên thức ăn cần giảm vị đắng mà tăng vị cay để nuôi khí của tim và phổi. Về mùa thu: Tô Vân viết : "Ba tháng mùa thu là thời trạng thái của vạn vật đã ổn định, khí trời vội vã, khí đất trong sáng, nên ngủ sớm dậy sớm, để cho thân chí được yên ổn mà giảm bớt khí thu, đối với con người phải thu gom thần khí để khí của phổi được thanh tịnh. Như vậy sẽ thích ứng với khí thu". Mùa thu khí ở phổi vượng, vị cay, kim khắc mộc (gan), gan chủ chua, nên mùa thu giảm vị cay tăng vị chua để nuôi cái Khí của gan. Về mùa đông: Tô Vân viết : "Ba tháng mùa đông là lúc bể tàng, nên ngủ sớm dậy sớm. Trong sinh hoạt tránh lạnh lẽo và tìm ấm áp, đừng để tiết mồ hôi dương khí hao tổn." Mùa đông thận thuỷ có vị mặn, sơ thuỷ khắc hoả tim sẽ bị bịnh, nên phải dưỡng tim ở phòng kín, mặc ấm, ăn uống phải thích hợp, người già kiêng ra ngoài gió lạnh. Tóm lại luyện theo mùa là theo sự vận động tự nhiên: xuân sinh, hạ trưởng, thu liễu, đông tàng. Mùa xuân nên ăn ngọt, mùa hạ nên ăn cay, mùa thu nên ăn chua, mùa đông nên ăn lạt, đắng. Nhờ vậy bồi bổ ngũ tạng, ích khí huyết. |
| Quyết định số phận của mình | |
| Leonardo da Vinci vẽ bức "Bữa ăn chiều cuối cùng" (The last supper) mất bảy năm liền. Đó là bức tranh vẽ Đức chúa trời và mười hai vị tông đồ trong bữa ăn cuối cùng trước khi Chúa bị Judas phản bội. | |
|
Leonardo tìm người mẫu rất công phu. Giữa hàng ngàn thanh niên, ông chọn được một chàng trai 19 tuổi có gương mặt thánh thiện, một nhân cách tinh khiết tuyệt đối để làm mẫu vẽ Chúa Jesus. Da Vinci làm việc không mệt mỏi suốt sáu tháng trước chàng trai, và hình ảnh Chúa Jesus được hiện trên bức vẽ. Sáu năm tiếp theo ông lần lượt vẽ xong 12 vị tông đồ, chỉ còn có Judas, vị môn đồ đã phản bội Chúa vì 30 đồng bạc, tương đương 16.96 đô la Mỹ và tương đương 254.400 đồng Việt Nam. Hoạ sĩ muốn tìm một người đàn ông có khuôn mặt hằn lên sự hám lợi, lừa lọc, đạo đức giả và cực kỳ tàn ác. Khuôn mặt đó phải toát lên tính cách của kẻ sẵn sàng bán đứng người bạn thân nhất, người thầy kính yêu nhất của chính mình... Cuộc tìm kiếm dường như vô vọng. Bao nhiêu gương mặt xấu xa nhất, độc ác nhất, Vinci đều thấy rằng chưa đủ để bộ lộ cái ác của Judas. Một hôm, Vinci được thông báo rằng có một kẻ mà ngoại hình có thể đáp ứng được yêu cầu của ông. Hắn đang ở trong một hầm ngục ở Roma, bị kết án tử hình vì ********** và phạm rất nhiều tội ác tày trời khác. Da Vinci lập tức lên đường đến Roma. Trước mắt ông là một gã đàn ông nước da đen sậm với mái tóc dài bẩn thỉu phủ xoà xuống mặt, một khuôn mặt xấu xa, độc ác tự nó nói lên nhân cách của một kẻ hoàn toàn bị tha hoá. Đúng, đây là Judas! Được sự cho phép đặc biệt của Đức Vua, người tù được đưa tới Milan nơi bức tranh đang được vẽ dở. Mỗi ngày, tên tù im lặng ngồi trước Da Vinci và hoạ sĩ thiên tài cần mẫn với công viêc truyền tải vào bức tranh diện mạo của kẻ phản phúc. Khi nét vẽ cuối cùng hoàn thành, kiệt sức vì phải đối mặt với cái ác một thời gian dài, Vinci quay sang bảo lính gác "Các ngươi đem hắn đi đi...". Lính canh túm lấy kẻ tử tù, nhưng hắn đột nhiên vùng ra và lao đến quì xuống bên chân Da Vanci, khóc nấc lên: "Ôi, ngài Da Vinci! Hãy nhìn con! Ngài không nhận ra con ư?" Da Vinci quan sát kẻ mà suốt sáu tháng qua ông đã liên tục nhìn mặt. Cuối cùng ông đáp: "Không, ta chưa từng nhìn thấy ngươi cho đến khi ngươi được đưa đến cho ta từ hầm ngục ở Roma...". Tên tử tù kêu lên "Ngài Vinci... Hãy nhìn kỹ lại tôi! Tôi chính là người mà bảy năm trước ông đã chọn làm mẫu để vẽ Chúa Trời..." Câu chuyện này có thật, như bức tranh "Bữa ăn chiều cuối cùng" là có thật. Chàng trai đã từng được chọn làm hình mẫu của Chúa Trời chỉ sau hơn hai ngàn ngày, đã tự biến mình thành hình tượng hoàn hảo của kẻ phản bội ghê gớm nhất trong lịch sử. |
Lý thuyết Cửa Sổ Vỡ (Broken Windows) về giảm thiểu tình trạng tội phạm– vốn nổi tiếng nhờ tác phẩm Điểm Bùng Phát (The Tipping Point) do Malcolm Glawell chấp bút– giờ đây lại nhận được hỗ trợ thực nghiệm thiết thực từ hàng loạt nghiên cứu của các nhà khoa học Hà Lan.
Theo lý thuyết này, các loại tội phạm nguy hiểm có thể được ngăn chặn và đẩy lùi nhờ việc giảm thiểu các vi phạm ở mức độ thấp như chuyện xả rác và sơn vẽ trên tường (graffiti).
Lý thuyết này do hai nhà tội phạm học James Q. Willson và George Kelling đưa ra. Hai ông cho rằng tội phạm là hệ quả tất yếu của sự mất trật tự, vô tổ chức. Nếu một chiếc cửa sổ bị phá hỏng, vỡ vụn mà cứ để vậy không sửa chữa thì những người đi ngang qua sẽ kết luận rằng không ai quan tâm và không ai chịu trách nhiệm trước hiện trạng này. Rồi không lâu sau, nhiều cánh cửa sổ khác sẽ bị đập vỡ, dần dà ý thức về sự vô chủ, hỗn loạn sẽ lan rộng, truyền tải đi dấu hiệu về những gì đang diễn ra. Cũng theo hai ông, trong một thành phố, những vấn đề tương đối nhỏ như sơn vẽ lên tường, gây mất trật tự công cộng và kiểu ăn xin "đểu" đều là những chuyện tương tự như những cánh cửa sổ vỡ, những "tấm vé qua cửa" cho ngày càng nhiều tội ác nghiêm trọng.
Với các nghiên cứu mới, TS. Kees Keizer cùng cộng sự tiến hành điều chỉnh những dấu hiệu ngăn nắp, trật tự trong một bối cảnh xã hội rồi quan sát xem khách vãng lai qua đường có tuân thủ một số chuẩn tắc đã quy định hay không, như việc vứt rác bừa bãi chẳng hạn.
Phát hiện chính yếu của họ là các dấu hiệu hành vi chống đối xã hội cứ ngỡ nhỏ nhặt thực sự lại gây ra một tác động ghê gớm đủ khiến người ta nảy sinh khuynh hướng vi phạm các nguyên tắc căn bản, thậm chí còn làm tăng lên xu hướng lén lút ăn trộm.
Dưới đây là danh sách cụ thể:
- Số lượng xe đạp dựng dựa (phụ thuộc tay lái) và việc xả rác vô tội vạ dọc các ngõ hẻm tăng gấp đôi, nếu bức tường phủ đầy hình sơn vẽ bậy bạ;
- mật độ chen chúc nhau gần sát lối ra vào cấm đậu đỗ tăng trên 2 lần, nếu kề cạnh địa điểm đấy xe đạp cứ buộc xích thoải mái vào hàng rào cách bất hợp pháp;
- thiên hạ thản nhiên tống rác xuống đường (phụ thuộc vào kính chắn gió trên xe) nếu các xe tải chở hàng 4 bánh không quay trở lại cửa hiệu nào đó nữa, hoặc nếu gần đấy xảy ra các cuộc đốt pháo bông bất hợp pháp;
- và cuối cùng, khách vãng lai cực kỳ thích đánh thó các phong bì có chứa tiền tòi ra từ thùng thư nếu xung quanh khu vực đó vương vãi rác rưởi hoặc trên thùng thư bị sơn vẽ nguệch ngoạc.
"Thông điệp rõ ràng cho các nhà hoạch định chính sách và cảnh sát," các nhà nghiên cứu phát biểu. "Phát hiện và ngăn chặn sớm sự bừa bãi, mất trật tự là điều hết sức quan trọng trong nỗ lực chống lại sự lan rộng tình trạng vô tổ chức. Các dấu hiệu của hành vi không thích hợp như chuyện sơn vẽ trên tường hoặc cửa sổ vỡ dẫn tới hành vi không thích hợp khác (ví dụ, vứt rác lung tung hoặc lén lút ăn trộm)."
Đại sư Tinh Vân có một người đệ tử, sau khi tốt nghiệp đại học, liền học Thạc sĩ, rồi lại học Tiến sĩ. Sau nhiều năm, cuối cùng cũng đã hoàn thành luận án tiến sĩ nên vô cùng mừng vui.
Một hôm người đồ đệ này trở về, thưa với ngài Tinh Vân: "Bạch Sư Phụ nay con đã có học vị Tiến sĩ rồi, sau này con phải học những gì nữa?" Ngài Tinh Vân bảo: "Học làm người", học làm người là việc học suốt đời chẳng thể nào tốt nghiệp được.
Ngài Tinh Vân cho rằng, bất luận là sĩ nông công thương, người ở tầng lớp nào có học tập là có tiến bộ, nay cùng chia sẻ với mọi người về những điều cần phải học.
Thứ nhất, "học nhận lỗi". Con người thường không chịu nhận lỗi lầm về mình, tất cả mọi lỗi lầm đều đổ cho người khác, cho rằng bản thân mình mới đúng, thật ra không biết nhận lỗi chính là một lỗi lầm lớn. Đối tượng mà mình nhận lỗi có thể là cha mẹ, bạn bè, mọi người trong xã hội, thậm chí nhận lỗi với con cái hay là người không tốt đối với mình, nhận lỗi như vậy bản thân chẳng mất mát gì, ngược lại còn thể hiện được sự độ lượng của bản thân. Học nhận lỗi là một điều rất tốt, là sự tu tập lớn.
Thứ hai "học nhu hòa". Răng người ta rất cứng, lưỡi người ta lại mềm, đi hết cuộc đời răng người ta lại rụng hết, nhưng lưỡi thì vẫn còn nguyên, cho nên cần phải học mềm mỏng, nhu hòa thì đời con người ta mới có thể tồn tại dài lâu được, chứ cứng làm chi cho chịu thiệt thòi. Tâm nhu hòa là một tiến bộ lớn trong việc tu tập. Người ta thường hình dung những người cố chấp, thì tấm lòng của họ, tính cách của họ rất lạnh, rất cứng y như một miếng sắt vậy. Nếu chúng ta có thể điều hòa hơi thở, điều hòa thân tâm, dần dần điều phục tâm như ngựa hoang, như vượn chuyền cành này khiến cho nó nhu hòa mềm mại, thì cuộc sống mới vui tươi hơn, mới lâu dài được.
Thứ ba "học nhẫn nhục". Thế gian này nếu nhẫn được một chút thì sóng yên biển lặng, lùi một bước thì biển rộng trời cao. Nhẫn, vạn sự được tiêu trừ. Nhẫn chính là biết xử sự, biết hóa giải, dùng trí tuệ và năng lực làm cho chuyện lớn hóa thành nhỏ, chuyện nhỏ hóa thành không. Các vị muốn sống, muốn sinh tồn, muốn sinh mạng này thì cần phải biết nhẫn, có thể hiểu rõ những đúng sai, thiện ác, tốt xấu của thế gian, thậm chí chấp nhận nó.
Thứ tư "học thấu hiểu". Thiếu thấu hiểu lẫn nhau sẽ nảy sinh những thị phi, tranh chấp, hiểu lầm. Mọi người nên thấu hiểu thông cảm lẫn nhau, để giúp đỡ lẫn nhau. Không thông cảm lẫn nhau làm sao có thể hòa bình được?
Thứ năm, "học buông bỏ". Cuộc đời như một chiếc va li, lúc cần dùng thì xách lên, không cần dùng nữa thì đặt nó xuống, lúc cần đặt xuống lại không đặt xuống, cũng như kéo một túi hành lý nặng nề không tự tại chút nào cả. Năm tháng cuộc đời có hạn, nhận lỗi, tôn trọng, bao dung, mới làm cho người ta chấp nhận mình, biết buông bỏ thì mới có thể tự tại được.
Thứ sáu "học cảm động". Nhìn thấy ưu điểm của người khác chúng ta nên hoan hỷ, nhìn thấy điều không may của người khác nên cảm động. Cảm động là tâm thương yêu, tâm bồ tát, tâm bồ đề; trong cuộc đời mấy mươi năm của tôi, có rất nhiều câu chuyện, nhiều lời nói làm tôi cảm động, cho nên tôi cũng rất nỗ lực tìm cách làm cho người khác cảm động.
Thứ bảy "học sinh tồn". Để sinh tồn chúng ta phải duy trì bảo vệ thân thể khỏe mạnh, thân thể khỏe mạnh không những có lợi cho bản thân, mà còn làm cho gia đình bạn bè yên tâm, cho nên đó cũng là hành vi hiếu để với người thân.
| Lòng tốt, lòng tin và… lòng vòng | ||||
| 19/10/2008 07:50 (GMT + 7) | ||||
| Một bạn đọc có nhã ý giúp đỡ sau khi đọc bài về gia đình nghèo có bảy nạn nhân tật nguyền ở Năm Căn. Bạn nói bạn muốn tặng họ một số tiền không nhỏ. Mình mừng quá, bảo vậy anh chuyển tiền vào tài khoản này, của cơ quan hội này... Anh gạt ngang, thôi, nếu thế thì không giúp nữa. | ||||
|
Gì kỳ vậy? Liên quan tới Nhà nước thì vòng vo, chậm lụt, hao hụt lắm, anh bảo. Mình không cãi vì không thể cãi. Những vụ bê bối liên quan đến tiền cứu trợ thiên tai đã từng diễn ra khá nhiều năm, làm tổn thương đến lòng tin của anh. Mà mỗi khi nhận được thông báo của cơ quan bảo là tháng này trừ hai ngày lương ủng hộ cho bà con bị lũ, bão ở X, ở Y, thì mình cũng nghĩ ngay, chẳng biết có tới được tay người bị nạn hay không nữa…
Nguồn: flickr.com Hôm đó, mình trực tiếp mang số tiền khá lớn đến ba mẹ Mai, nhưng vẫn bất an. Bất an như thấy nhiều người nhận tiền từ quỹ "vì người nghèo" để đi mua… điện thoại di động, hay ti vi, hoặc sắm mấy món trang sức đeo chơi. Bất an như khi tình cờ gặp vài gia đình ung dung ngồi… uống rượu, chơi bài trong lúc chờ dọn vào căn nhà tình thương do Nhà nước hỗ trợ cất cho. Lòng tốt những lúc ấy bị tổn thương theo tỷ lệ thuận với lòng tin. Dù bằng cách nào, trực tiếp hay gián tiếp, thì rủi ro vẫn chực chờ, khi gửi chút lòng mình đến với người. Mình cũng có lần lăng xăng đi làm trung gian xin cho quê mình mấy cây cầu nông thôn. Mấy anh tài trợ có lòng tốt, nhưng tất nhiên, lòng tin thì cũng đã có phần nào giảm sút. Các anh bảo các anh chỉ tin mình. Vì lẽ đó mình thấy hăng hái lắm, có điều, việc không đơn giản như cầm tiền đi chợ mua cây cầu về… lắp ráp. Phải có định vị, bản vẽ kỹ thuật, phải giám sát thi công, phải hợp đồng trách nhiệm… Đó không phải là chuyện một cá nhân thơ thẩn và ngơ ngác làm được, mình chọn cách đứng giữa, chạy đi chạy lại giữa anh đầu tư và một tổ chức chuyên bắc cầu.
Nguồn: imageshack.us Mình mắc cỡ với những người đã tin mình. Thấy buồn. Hôm trước còn nghĩ, xong mấy cây cầu này, mình rao trên blog, mấy web bạn bè xin tiền làm thêm mấy cây nữa. Dân không cần những cuộc họp hành vô nghĩa, vậy thì đi làm cầu. Nhưng bây giờ thì mình nản lòng, chẳng muốn làm gì bởi không còn đủ tin. Hình như, khi mình cho người hành khất ít tiền, cho đứa bé ở bãi rác vài tấm áo, viết lên những thân phận đang ngụp lặn trong quên lãng và nghèo khó… là mình tặng chính mình một lời an ủi nhỏ, rịt thuốc cho lương tâm, một kiểu chữa thẹn, để đỡ áy náy vì sự sung sướng no đủ này. May, thì giúp được cho đời vài bữa cơm no trước mắt, chứ không dám tin, với tấm lòng này sẽ thay đổi một cuộc đời, một số phận… Nên có những người vẫn loay hoay không biết trao tấm lòng của mình đi bằng cách nào, cách nào thì thiết thực và ít bị tổn thương nhất, ít bất trắc nhất, để mà còn có lần sau….
|
Ta là sản phẩm của chính mình! | ||||
|
http://www.thesaigontimes.vn/Home/doanhnghiep/quantri/14328/ Thứ Sáu, 30/1/2009, 22:26 (GMT+7) | ||||
| ||||
Nghien cuu khao sat ve "Phong cach song ben vung"
Các b
ạn có thể xem thông tin chi tiết và tham gia trả lời câu hỏi phỏng vấn tại www.unep.fr/gssl chọn Vietnamese và bắt đầu bằng cách nhấn nút START). Nếu không vào trực tiếp được bằng liên kết trên, các bạn có thể thử lại qua http://62.160.8.20/gssl/Default.aspx Hãy chia sẻ ý kiến, kinh nghiệm của bạn và tham gia trả lời câu hỏi phỏng vấn. Chúng ta hãy cùng nhau bảo vệ môi trýờng và hýớng tới phát triển bền vữngÝ tưởng "lạ" cho SachHay.com
Mới ra đời từ tháng 4/2008, nhưng www.SachHay.com đã thành công ngoài sức tưởng tượng, thu hút hàng triệu lượt độc giả cũng như các nhà trí thức tham gia. Điều này đã gây trí tò mò đối với độc giả về ý tưởng xây dựng trang web...?
Trong một đại dương mênh mông của tri thức, làm thế nào để lọc ra tinh hoa tri thức và làm lan tỏa đến với càng nhiều người càng tốt?... Rõ ràng, một trong những cách hiệu quả nhất và nhanh nhất là dùng sách. Vậy có cách nào để giúp mọi trong xã hội đều biết phân biệt đâu là sách hay, đâu là sách rác... trong tất cả mọi lĩnh vực? Lúc đầu, chúng tôi quyết định làm một trang web cá nhân nhằm đưa những quyển sách hay mà mình biết lên, và nó đã trở thành tiền đề cho sự ra đời của SachHay.com. Mục tiêu của SachHay.com là trở thành địa chỉ để mỗi người có thể tìm kiếm được những cuốn sách tốt cho mình và giới thiệu được những cuốn sách "đắt giá", có ý nghĩa mà mình biết cho mọi người. Mọi cuốn sách giới thiệu trên SachHay.com đều đã được phép xuất bản tại Việt Nam, phù hợp với thuần phong mỹ tục của người Việt.
Theo ông, yếu tố quan trọng nào khiến SachHay.com thành công?
Nếu muốn thành công đột phá thì ta phải đi con đường chưa ai từng đi, làm những việc chưa ai từng làm. Chúng ta cũng đừng nghĩ chỉ học theo thế giới, mà phải sáng tạo ra những thứ để thế giới phải học lại. Nghĩ thì chưa chắc đã làm được, nhưng trước hết phải dám nghĩ đã. Tuy nhiên, thời đại ngày nay, dám nghĩ hay dám làm không thôi thì chưa đủ, mà phải biết cách làm và làm tới cùng. SachHay.com đã làm được điều đó.
Những lợi ích mà SachHay.com đem lại cho xã hội, cho cộng đồng không cần phải bàn cãi. Tuy nhiên, nó có những đòi hỏi nhất định như phải có máy tính, internet và có tiền mua sách. Vậy thì những người dân nghèo và những người ở vùng sâu, vùng xa sẽ khó tiếp cận được...?
Song song với dự án SachHay.com, Hội đồng sáng lập SachHay.com chúng tôi cũng đã phối hợp với các nhà xuất bản, các tác giả trên cả nước để hình thành ThuVienOnline, một thư viện trên mạng, có tính mở, có bản quyền và hoàn toàn miễn phí, và đồng triển khai Dự án Giáo dục OneBook (một cuốn sách) để đáp ứng nhu cầu đọc cho những đối tượng còn nhiều khó khăn. Mục đích của Dự án OneBook là kêu gọi mỗi người dân Việt Nam hãy gửi tặng ít nhất một cuốn sách (sách hay) cho con vùng sâu vùng xa, trẻ em đường phố, công nhân lao động nghèo, sinh viên nghèo, chiến sĩ biên giới hải đảo... và cả phạm nhân nhà tù. Điều đáng mừng là suốt từ đó đến nay, chúng tôi liên tục nhận được hàng vạn cuốn sách hay từ các nơi gửi về để gửi đến những người đang cần sách mà không có điều kiện. Mỗi cuốn sách trị giá trung bình là 30.000 đồng. Chúng tôi đang nhận được sự ủng hộ rất lớn của xã hội trong dự án này.
"Vì người" là cách "vì mình" khôn ngoan nhất
Thời gian gần đây, cái tên Giản Tư Chung còn được gắn với Dự án "Phát triển hạt giống lãnh đạo doanh nghiệp". Ông có thể chia sẻ một chút về dự án này?
Dự án này do những doanh nhân, những trí thức tâm huyết và Trường Doanh Nhân PACE - một thành viên của Tổ chức Giáo dục PACE, cùng phối hợp sáng lập và triển khai thực hiện. Mục tiêu của Dự án là tuyển chọn những người trẻ ưu tú, có khát vọng và có tố chất lãnh đạo trên cả nước để đào tạo miễn phí, nhằm giúp họ trở thành những nhà lãnh đạo doanh nghiệp tài năng, sau này góp phần hướng đến một thế hệ doanh nhân mới có khát vọng và có khả năng đua tranh mạnh mẽ cùng thế giới.
Những dự án giáo dục mà ông cùng cộng sự đang làm cho thấy không đơn giản. Song điều mà người ta băn khoăn chính là tại sao ông cứ phải lao mình vào những công việc đầy thách thức đó trong khi không có lợi nhuận gì cả?
Trong các khóa học mà tôi có cơ hội đứng lớp, thì tôi vẫn thường chia sẻ với các anh, chị và các bạn học viên rằng: "vì người là cách vì mình khôn ngoan nhất". Khi làm một điều gì đó mà muốn bền vững thực sự thì phải đặt trên nền tảng là "vì mình". Có rất nhiều cách "vì mình", nhưng đâu là cách "vì mình" khôn ngoan nhất? Theo tôi, cách "vì mình" khôn ngoan nhất là "vì người". Khi biết đặt cái riêng nằm lọt trong cái chung thì vì cái chung sẽ có cái riêng. Tuy nhiên, quan điểm này còn tùy thuộc vào "ý thức hệ" của mỗi người rằng tôi tìm thấy ý nghĩa của cuộc đời mình ở đâu, ở tiền tài, địa vị, danh vọng hay ở những giá trị đóng góp cho đời.
Do vậy, cái quan trọng nhất là mình có làm được điều gì đó thực sự có ích cho xã hội hay không. Khi bạn làm được điều gì đó thực sự có giá trị cho xã hội thì tất cả những điều bạn muốn có sẽ có hết, xã hội sẽ cho bạn đủ, thậm chí là dư thừa... với điều kiện bạn phải xả thân.
Giá như có nhiều người trong xã hội, nhất là những người làm trong lĩnh vực giáo dục muốn "vì mình" theo cách như trên thì chắc hẳn chất lượng giáo dục, đào tạo của Việt Nam sẽ khác...?
Tôi nghĩ, trong ngành giáo dục của nước nhà cũng có rất nhiều người tâm huyết, sẵn lòng dốc sức vào sự nghiệp chung. Nhưng có lẽ, tâm huyết không thì vẫn chưa đủ và còn phải biết cách làm nữa. Như trong giáo dục đại học của ta hiện nay, ai cũng biết so với thế giới, chúng ta còn một khoảng cách khá xa. Có rất nhiều nguyên nhân, từ cơ chế vĩ mô, cho đến nhà trường, nhà giáo và cả người học nữa... Nhưng ở đây tôi chỉ muốn đề cập đến nguyên nhân từ nhà trường. Đã đến lúc ta phải thay đổi tư duy và nhận thức về nhà trường. Đại học và doanh nghiệp khác nhau ở chỗ, doanh nghiệp hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, còn đại học thì không thể vì mục tiêu lợi nhuận, mà phải vì mục tiêu giáo dục, tức là, phải tạo ra được những "con người sản phẩm" như mong đợi. Tuy nhiên, đại học hoàn toàn có thể được quản lý như một doanh nghiệp, chỉ khác doanh nghiệp về mục tiêu mà thôi. Nghĩa là dùng cơ chế doanh nghiệp để quản lý một trường học, khi đó mọi thứ sẽ khác đi rất nhiều. Và khi đó, hiệu trưởng vừa là một nhà quản trị chuyên nghiệp, vừa là một nhà giáo dục.
Người trồng "cây khát vọng"
Theo ông, sự khác biệt lớn nhất để đánh giá "sản phẩm" giữa các trường nổi tiếng và những trường tầm thường là gì?
Ngày nay, nhờ sự phát triển của giao thông và truyền thông, nên có nhiều sự bình đẳng hơn về mặt tri thức giữa các quốc gia. Bây giờ sinh viên Đại học Harvard đọc sách gì thì sinh viên ở một trường đại học bất kỳ ở Việt Nam cũng có thể đọc những cuốn sách đó. Do vậy, quan trọng là học cái tinh thần, cái tư tưởng, triết lý của nhà trường. Chẳng hạn như, bất cứ ai bước vào một trường danh tiếng trên thế giới đều có một điểm giống nhau là sau khi ra trường, dù làm kinh doanh hay bất cứ nghề gì, chắc chắn họ luôn luôn ấp ủ trong mình một điều "How to change the world make it better?" (làm thế nào để thay đổi thế giới và làm cho nó trở nên tốt đẹp hơn). Đó mới là điều quan trọng, đó mới là sự khác biệt lớn nhất giữa các nhà trường và các nền giáo dục.
Là người làm trong lĩnh vực giáo dục, ông có tâm đắc với một triết lý giáo dục nào đó không?
Rousseau, một nhà khai sáng vĩ đại của châu Âu đã từng nói về giáo dục: "Cái cây được hình thành nhờ vun trồng, con người được hình thành nhờ giáo dục". Quan điểm mà tôi tin tưởng cũng gần giống như thế. Con người cũng ví như cái cây gồm có 3 phần: phần gốc, thân và phần hoa trái. Ở đây "gốc" của con người là tinh thần, tư tưởng, là nền tảng văn hoá; "thân" chính là năng lực chuyên môn, năng lực làm việc, và "hoa trái" chính là thành tích học tập, thành tích lao động, là tiền tài, địa vị, danh vọng. Do vậy, cái chúng ta cần phấn đấu chính là gốc và thân, còn hoa quả thì tự nhiên nó sẽ có. Gốc và thân tốt, đương nhiên nó sẽ được đơm hoa kết trái.
Ngoài ra, quan điểm của tôi thiên về sự học và người học nhiều hơn. Tôi vẫn thường chia sẻ là cần định nghĩa lại sự học và nhận thức lại vai trò của người học để mỗi người học tự hiểu rằng ta là "ông chủ" của cả quá trình giáo dục, là "nhà quản trị sự học" của bản thân, với tâm thế "Ta là sản phẩm của chính mình".
Nói một cách ngắn gọn, một nền giáo dục tốt của một quốc gia thì phải như thế nào?
Đó là phải tạo ra được những con người phù hợp cho xã hội tương lai mà mình mong đợi. Đó chính là cái "cây khát vọng" mà chúng ta đang hướng đến.
Xin cảm ơn ông!
Dưỡng sinh năm Kỷ Sửu
Tuế vận năm Kỷ Sửu là "Thổ vận bất cập" nên toàn năm "phong khí" thiên thịnh, cần chú ý phòng ngừa các chứng bệnh do phong tà gây nên.
Nửa năm đầu thái âm thấp thổ tư thiên, thấp khí chủ sự, khí hậu ẩm ướt, mưa nhiều, cần chú ý phòng ngừa bệnh ở hai tạng tỳ, thận.
1. Từ đại hàn đến xuân phân (sơ khí): Cần tuân theo phép “thời dưỡng sinh”: Trời tối là đi ngủ, sáng dậy sớm hơn, tản bộ ngoài sân, điều nhiếp tinh thần, giữ cho tình chí thoải mái, vui vẻ, để thích ứng với sinh khí thăng phát của mùa xuân. Dư hàn của mùa đông vẫn còn, người bẩm sinh yếu ớt, cơ thể suy nhược do mắc bệnh lâu ngày, hoặc làm việc trí óc hay thể lực quá độ, khả năng điều tiết giảm, sức chống bệnh hạ thấp, dễ cảm phong hàn hoặc thương phong cảm mạo.
2. Từ xuân phân đến tiểu mãn (nhị khí): Nhiệt độ tăng dần, từ ấm chuyển sang nóng, mưa gió điều hòa. Theo phép "thời dưỡng sinh" cần ngủ muộn một chút, dậy sớm một chút, giữ tinh thần lạc quan vui vẻ, chớ chán ghét ngày dài, chớ nên cáu giận, để tinh thần thăng hoa cùng trạng thái thành thục rực rỡ của mùa hè. Ăn uống thanh đạm, không uống rượu, không ăn những thức ăn cay nóng kích thích.
3. Từ tiểu mãn đến đại thử (tam khí): Khí hậu viêm nhiệt, ẩm thấp, mưa nhiều. Người thể chất âm hư nội nhiệt, cần hạn chế những thức ăn cay nóng có tính kích thích, nên bổ sung thêm những thức ăn thanh nhiệt sinh tân như dưa hấu, lê, mía. Người tỳ hư thấp trệ, nên dùng những thứ có tác dụng kiện tỳ lợi thấp, như bạch biển đậu, hạt ý dĩ, gạo rang sắc nước uống thay trà trong ngày.
4. Từ đại thử đến thu phân (tứ khí): Khí hậu chính thường, từ nóng chuyển sang mát, độ ẩm không khí giảm. Người âm hư cần đặc biệt chú ý phòng các chứng bệnh do táo tà gây nên.
5.Từ thu phân đến tiểu tuyết (ngũ khí): Khí hậu chính thường, mát mẻ dễ chịu. Người phế vị hư nhược hoặc can hư dễ bị mắc bệnh, để dự phòng có thể sử dụng những vị thuốc có tác dụng bổ phế nhuận táo, ôn vị hoãn can như bách hợp, hạnh nhân, ngũ vị tử, tỳ bà diệp, đương quy, bạch thược, sài hồ, câu kỷ tử, mộc qua sắc nước uống thay trà trong ngày.
6. Từ tiểu tuyết đến đại hàn (chung khí): Khí hậu chính thường, trời lạnh. Cần chú ý giữ ấm. Theo phép "thời dưỡng sinh" cần dậy muộn một chút, mặt trời mọc mới thức dậy hoạt động, điềm đạm an tĩnh, tiết chế tình dục, không khinh dị nhiễu động dương khí.
(Theo Sức Khỏe và và Đời Sống)
-Thứ nhất là bảo vệ sinh mạng
Ý thức được những khổ đau do sự sát hại gây ra, tôi xin học theo hạnh đại bi để bảo vệ sự sống của mọi người và mọi loài. Tôi nguyện không giết hại sinh mạng, không tán thành sự giết chóc và không để kẻ khác giết hại, dù là trong tâm tưởng hay trong cách sống hàng ngày của tôi.
-thứ hai là tôn trọng quyền tư hữu
Ý thức được những khổ đau do lường gạt, trộm cướp và bất công xã hội gây ra, Tôi xin học theo hạnh đại từ để đem niềm vui sống và an lạc cho mọi người và mọi loài, để chia xẻ thì giờ và năng lực của tôi với những kẻ thiếu thốn. Tôi nguyện không lấy làm của riêng bất cứ một tài vật nào không phải do mình tạo ra. Tôi nguyện tôn trọng quyền tư hữu của kẻ khác, và cũng nguyện ngăn ngừa kẻ khác không cho họ tích trữ và làm giàu một cách bất lương trên sự đau khổ của con người và của muôn loại.
-Thứ ba là bảo vệ tiết hạnh
Ý thức được những khổ đau do thói tà dâm gây ra, tôi xin học theo tinh thần trách nhiệm để giúp bảo vệ tiết hạnh và sự an toàn của mọi người và mọi gia đình trong xã hội. Tôi nguyện không ăn nằm với những người không phải là vợ hay chồng của tôi. Tôi ý thức được rằng những hành động bất chánh sẽ gây ra những khổ đau cho kẻ khác và cho chính tôi. Tôi biết muốn bảo vệ hạnh phúc của mình và của kẻ khác thì phải biết tôn trọng những cam kết của mình và của kẻ khác. Tôi sẽ làm mọi cách có thể, để bảo vệ trẻ em, không cho nạn tà dâm tiếp tục gây nên sự đổ vỡ của các gia đình và của đời sống đôi lứa.
-Thứ tư là thực tập chánh ngữ và lắng nghe
Ý thức được những khổ đau do lời nói thiếu chánh niệm gây ra, tôi xin học theo hạnh ái ngữ và lắng nghe để dâng tặng niềm vui cho người và làm vơi bớt khổ đau của người. Biết rằng lời nói có thể đem lại hạnh phúc hoặc khổ đau cho người, tôi nguyện chỉ nói những lời gây thêm niềm tự tin, an vui, và hy vọng, những lời chân thật có giá trị xây dựng sự hiểu biết và hòa giải. Tôi nguyện không nói những điều sai với sự thật, không nói những lời gây chia rẽ và căm thù. Tôi nguyện không loan truyền những tin mà tôi không biết chắc là có thật, không phê bình và lên án những điều tôi không biết chắc. Tôi nguyện không nói những điều có thể tạo nên sự bất hòa trong gia đình và đoàn thể, những điều có thể làm tan vỡ gia đình và đoàn thể.
- thứ năm là bảo vệ và nuôi dưỡng thân tâm, không sử dụng rượu, các chất ma túy và tiêu thụ những sản phẩm có độc tố
Ý thức được những khổ đau do sự sử dụng ma túy và độc tố gây ra, tôi xin học cách chuyển hóa thân tâm, xây dựng sức khỏe thân thể và tâm hồn bằng cách thực tập chánh niệm trong cách ăn uống và tiêu thụ. Tôi nguyện chỉ tiêu thụ những gì có thể đem lại an lạc cho thân tâm tôi, và cho thân tâm gia đình và xã hội tôi. Tôi nguyện không uống rượu, không sử dụng các chất ma túy, không ăn uống hoặc tiêu thụ những sản phẩm có độc tố, trong đó có một số sản phẩm truyền thanh, truyền hình, sách báo, phim ảnh, và chuyện trò. Tôi biết rằng tàn hoại thân tâm bằng rượu và các độc tố ấy là phản bội tổ tiên, cha mẹ, và cũng là phản bội các thế hệ tương lai. Tôi nguyện chuyển hóa bạo động, căm thù, sợ hãi, và buồn giận bằng cách thực tập phép kiêng cữ cho tôi, cho gia đình tôi, và cho xã hội. Tôi biết phép kiêng khem này rất thiết yếu để chuyển hóa tự thân, tâm thức cộng đồng và xã hội.
Quy luật Pareto (80/20)
Có thể bạn đã biết đến quy luật này dưới cái tên “Quy luật Pareto” hay “Quy luật nỗ lực tối thiểu”. Đây là một khái niệm tiềm ẩn bên trong nó nguồn sức mạnh to lớn. Điều thú vị về quy tắc 80/20 là bạn không cần phải hiểu về lý thuyết thống kê nhưng bạn vẫn có thể nắm bắt và “tin” quy tắc này. Tất nhiên nó xuất phát từ kinh tế học và nó được Pareto “chứng minh” bằng phân tích số liệu thống kê, nhưng điều đó không có nghĩa là chỉ có các chuyên gia kinh tế học mới có thể hiểu được.
Quy tắc này lần đầu tiên được nhà tư tưởng quản lý Joseph M.Juran gợi ý. Sau đó nó được đặt tên theo tên của nhà kinh tế học người Italia Vilfredo Pareto, ông đã quan sát thấy rằng 80% thu nhập của Italia thuộc về 20% dân số của nước này. Giả thuyết được đưa ra là phần lớn kết quả trong bất kỳ tình huống nào đều do một phần nhỏ nguyên nhân tạo ra.
Quy tắc 80/20 chính xác là gì?
Theo ý nghĩa về mặt con số, nó có nghĩa là 80% kết quả bạn thu được chỉ xuất phát từ 20% những gì bạn bỏ ra. Kết quả nghiên cứu của Pareto đã chứng minh rằng “quy tắc” này nhìn chung là chính xác và đã trở thành tỉ lệ 80/20 nổi tiếng trong lịch sử. Tuy vậy, trong một số trường hợp tỉ lệ này có thể cao hơn rất nhiều, lên tới 99/1: 99% kết quả thu được chỉ xuất phát từ 1% công sức bỏ ra!
Bạn có thể đưa bất kỳ con số nào vào “công thức” này, điều quan trọng nhất là bạn càn hiểu rằng trong cuộc sống chắc chắn có những hoạt động bạn làm (20% của bạn) chiếm phần lớn (80% của bạn) niềm hạnh phúc và kết quả đạt được.
Bạn có thể quy nạp rằng 20% hoạt động của bạn tạo ra 80% tài chính của bạn, và điều đó đúng, cũng có thể chỉ một phần nhỏ hoạt động bạn làm mỗi tuần tạo ra thu nhập của bạn. Bạn có thể áp dụng Quy tắc 80/20 cho mọi khía cạnh của đời sống công việc, tuy vậy có lẽ bạn nên tập trung chủ yếu vào niềm hạnh phúc và sự thỏa mãn của bản thân.
Chắc chắn tiền đóng một vai trò quan trọng tạo nên niềm hạnh phúc của bạn và tiền bị tác động bởi những mối quan hệ 80/20, nhưng nó cũng chỉ là một thành phần tạo nên toàn bộ sự giàu có và niềm hạnh phúc - là mối quan tâm đầu tiên của bạn.
Quy tắc 80/20 do Vilfredo Pareto phát hiện ra.
Trong khi đang học về sự phân bố của cải và thu nhập tại nước Anh, Vilfredo Pareto đã phát hiện ra, phần lớn diện tích đất đai và thu nhập được kiểm soát bởi một lượng nhỏ số người trong xã hội. Trên thực tế, 20% dân số kiểm soát đến 80% của cải và thu nhập.
Trong những phân tích và nghiên cứu tiếp theo, nhà kinh tế học lừng danh này đã phát hiện ra rằng, nguyên tắc này không chỉ đúng trong nhiều quốc gia, giai đoạn lịch sử mà còn đúng với những gì xảy ra ngay trong khu vườn ông ta. Ở đây, ông ta thấy được, chỉ 20% cây đậu Hà Lan ông trồng đã cho ra đến 80% hạt đậu mà ông thu hoạch được.
Từ khi quy luật này ra đời, nhiều nhà nghiên cứu khác đã phát biểu tương tự như: 20% tội phạm là nguyên nhân của 80% các vụ phạm tội. 20% số người lưu thông trên đường tạo ra 80% các vụ tai nạn. 20% tuyến đường chiếm 80% lưu lượng xe cộ hàng ngày. 20% những lỗi hàng hoá làm nảy sinh 80% các vấn đề rắc rối.
Thường gặp nhất là chúng ta vẫn nghe nói rằng, 20% khách hàng tạo ra 80% lợi nhuận cho một doanh nghiệp và 20% việc chúng làm mang lại 80% kết quả.
Các ví dụ về quy tắc 80/20
Trong rất nhiều các điều kiện kinh tế khác nhau, ví dụ như quá trình phân bổ sự giàu có và nguồn lực trên trái đất, chỉ có một số phần trăm nhỏ bé dân số kiểm soát những phần nguồn lực lớn nhất, đây chính là một ví dụ điển hình của quy tắc 80/20. Các ví dụ trong kinh doanh như chỉ 20% số nhân viên chịu trách nhiệm cho 80% doanh thu của công ty (hoặc thường là thậm chỉ tỉ lệ nhỏ hơn). Đây không phải là quy tắc “cứng”, vì vậy tất nhiên không phải công ty nào cũng như vậy và tỉ lệ không phải lúc nào cũng chính xác là 80/20, nhưng nhìn chung trong kinh doanh luôn luôn là phần thiểu số tạo ra một phần lớn.
Và ở tầm vi mô, hãy nhìn những thói quen hàng ngày của bạn và bạn có thể thấy rất nhiều những ví dụ quanh quy tắc 80/20. Bạn có thể chỉ gọi điện cho một số rất ít những người trong danh mục điện thoại của bạn. Bạn chắc chắn sử dụng một phần lớn số tiền có được cho một vài thứ (có lẽ là thuê nhà hay thực phẩm, mua sắm). Và đặc biệt bạn chỉ dành phần lớn thời gian của bạn cho một số ít những người bạn trong khi bạn có hàng tá bạn bè.
Bạn có thể sống một cuộc sống 80/20 như thế nào?
Khi bạn bắt đầu phân tích và “mổ xẻ” cuộc sống của bạn, bạn có thể thấy tỉ lệ 80/20 xuất hiện ở khắp mọi nơi. Khi bạn xác định được chính xác những yếu tố quyết định, làm nên niềm hạnh phúc của bản thân, thì hãy hài hòa trong mọi hoạt động và tránh lãng phí thời gian vào những hoạt động chiếm 80% nhưng tạo ra rất ít sự thỏa mãn cho bản thân.
Thông điệp rất đơn giản: Hãy tập trung vào những hoạt động tạo ra thành quả tốt nhất. Điều này áp dụng cho cả công việc/đời sống của bạn và cả đời sống “khác” nữa. Vấn đề mà hầu hết mọi người đều vấp phải đó là làm sao có thể kiếm sống từ thứ bạn thực sự yêu thích, vì vậy hãy tập trung vào đó.
Chắc hẳn bạn đã từng nghe thấy cụm từ “nghệ sĩ sống chật vật”. Hình mẫu chính là một cá nhân sáng tạo, những nhạc sĩ, diễn viên, nhà văn và nghệ sĩ vật lộn để được công chúng biết tới, làm việc cật lực trong nhiều giờ đồng hồ cho tới khi cuối cùng chỉ một số ít trong số họ được công chúng khám phá ra và trở lên nổi tiếng.
Cũng không có gì đáng ngạc nhiên khi tỉ lệ những nghệ sĩ sống chật vật trở lên nổi tiếng, giàu có cũng tuân theo quy tắc 80/20 - chỉ một phần nhỏ trong toàn bộ nỗ lực cố gắng đã bỏ ra để đạt được thành công đó.
Có một thực tế đáng buồn là hầu hết mọi người trên thế giới đều không yêu thích công việc họ đang làm (vốn được coi là công việc “chính”) và chỉ thực sự duy trì niềm đam mê của họ vào những ngày cuối tuần và bên ngoài giờ làm việc. Chỉ một số rất ít sống với niềm đam mê trong chính giờ làm việc thường nhật.
Lên kế hoạch tạo dựng phong cách sống 80/20
Để bắt đầu cuộc sống 80/20, bạn chỉ phải làm một việc: tập trung nguồn lực bạn có vào thứ bạn yêu thích.
Nhiều người làm công việc toàn thời gian và làm một công việc khác ngoài giờ. Nếu đó là trường hợp của bạn thì có lẽ tỉ lệ của bạn không phải là 80/20 mà có lẽ là gần 20/80. Bạn sử dụng quá nhiều thời gian vào một công việc bạn không thích, bạn có thể không có động lực làm công việc “chính” tốt. Vì vậy, bạn không thuộc vào tốp 80/20 nhân viên của công ty đó, và đồng thời khi trở về nhà bạn quá mệt mỏi, bạn không còn đủ sức cho niềm đam mê thực sự nữa.
Phong cách sống này quả là tệ hại bởi vì 80% mối quan hệ tạo ra 20% giá trị. Bạn dành được rất ít từ đó và công ty mà bạn làm việc cho thu được rất ít từ bạn.
Nếu hiện tại bạn đang rơi vào tình trạng này, điều mà bạn cần phải làm đó là bắt đầu thay đổi tỉ lệ. Giảm thời gian dành cho công việc bạn không thích và tăng thời gian cho niềm đam mê. Bạn có thể “phản bác” lại ý kiến trên rằng bạn không thể làm điều này bởi vì ban cần tiền nhưng có một thực tế chắc chắn rằng bạn không thực sự cần nhiều như bạn nghĩ. Hầu hết mọi người đều có thể đủ sống với công việc bán thời gian nhưng đều lựa chọn làm việc nhiều hơn bởi vì họ muốn có nhiều thứ hơn nữa.
Khi những mong muốn của bạn bắt đầu vượt quá mức so với nhu cầu, đó chính là cái hố sai lầm lớn nhất trong xã hội thực dụng, hiện đại của chúng ta.
Nhận định trên cũng không khuyến khích bạn sống một cuộc sống “thanh đạm” nhưng chắc chắn rằng niềm hạnh phúc thực sự trong mỗi con người đều xuất phát từ việc dành thời gian cho những thứ bạn yêu thích nhất, chứ không phải từ việc kiếm nhiều tiền. Theo đuổi niềm đam mê thường dẫn tới nguồn thu nhập lớn hơn bởi vì chất lượng đầu ra của bạn thường cao hơn rất nhiều. Tập trung nguồn lực của bạn vào đầu tư nhiều hơn vào những điểm mạnh và bạn sẽ thu được thành quả.
Không để nỗi sợ hãi cản đường
Nhân tố lớn nhất ngăn cản hầu hết mọi người khỏi công cuộc theo đuổi niềm ước mơ và làm việc hướng tới những mục tiêu thực sự đó là nỗi sợ hãi. Nỗi sợ hãi không được đảm bảo an toàn, giảm lương, và lo ngại về một tương lai “mù mịt” thường khiến con người bị “khóa chặt” vào những công việc hàng ngày không mấy yêu thích và không tạo ra sự thỏa mãn.
Không để nỗi sợ hãi trở thành nguyên nhân cho sự thất bại của bạn. Hãy tự xem xét lại niềm đam mê của bản thân, loại bỏ tạm thời sự cần thiết của đồng tiền để có thể suy nghĩ mà không lo lắng về tài chính và lập ra kế hoạch hướng tới những hoạt động của phong cách sống 80/20. Tối đa hóa thứ mà bạn am hiểu và thành thạo. Tìm kiếm những hoạt động tạo ra phần lớn kết quả và đặt nguồn lực của bản thân vào nơi thành quả lớn nhất có thể đạt được.
Quy tắc 80/20 giúp nhà lãnh đạo làm việc hiệu quả hơn
Giá trị của quy tắc “số ít quan trọng và số nhiều không quan trọng” chính là nó nhắc nhở nhà lãnh đạo hãy tập trung vào 20% phần quan trọng. Trong số những việc bạn làm hàng ngày, chỉ có 20% là thực sự có ý nghĩa. Nếu có một phần nào đó trong lịch làm việc hàng ngày có thể bỏ qua, hãy chắc chắn rằng nó không nằm trong phần 20%.
Có một lý thuyết quản lý đã hiểu Nguyên lý của Pareto theo góc độ do chỉ 20% cấp dưới tạo ra 80% kết quả đạt được, vậy bạn chỉ nên tập trung quỹ thời gian hạn hẹp của bạn vào 20% những người này - những siêu sao trong tổ chức của bạn. Lý thuyết quản lý này có một lỗ hổng bởi vì nó đã bỏ qua thực tế là 80% quỹ thời gian của bạn nên được tập trung vào làm những thứ thực sự quan trọng. Làm việc để biến thứ tốt thành tốt hơn chắc chắn là cách sử dụng thời gian tốt hơn là biến thứ vĩ đại trở thành thứ xuất sắc.
Hãy áp dụng Nguyên lý Pareto trong mọi việc bạn làm và hãy sử dụng nó một cách thông minh. Tuy vậy không chỉ làm việc thông minh mà hãy làm việc một cách thông minh với những việc đúng đắn.
Tập Kích Não
Đây là một phương pháp suất sắc dùng để phát triển nhiều giải đáp sáng tạo cho một vấn đề. Phương pháp này hoạt động bằng cách tập trung trên vấn đề, và rút ra rất nhiều đáp án căn bản cho nó. Các ý niệm/hình ảnh về vấn đề trước hết được nêu ra một cách rất phóng khoáng và ngẫu nhiên theo dòng suy nghĩ càng nhiều càng đủ càng tốt. Chúng có thể rất rộng và sâu cũng như không giới hạn bởi các khiá cạnh nhỏ nhặt nhất cuả vấn đề. Trong "tập kích não" thì vấn đề được đào bới từ nhiều khía cạnh va nhiều cách (nhìn) khác nhau. Sau cùng các ý kiến sẽ được phân nhóm và đánh giá.
Phương pháp này có thể tiến hành bởi từ 1 đến nhiều người. số lượng người tham gia nhiều sẽ giúp cho phương pháp tìm ra lời giải được nhanh hơn hay toàn diện hơn nhờ vao nhiều góc nhìn khác nhau bởi các trình độ, trình tự khác nhau cuả mỗi người.
Lịch sử phát triển: Chữ tập kích não (brainstorming) được đề cập đầu tiên bởi Alex Osborn năm 1941. Ông đã mô tả tập kích não như là "Một kĩ thuật hội ý bao gồm một nhóm người nhằm tìm ra lời giải cho vấn đề đặc trưng bằng cách góp nhặt tất cả ý kiến cuả nhóm người đó nảy sinh trong cùng một thời gian theo một nguyên tắc nhất định (mà sẽ được mô tả trong phần tiếp theo). Ngày nay, phương pháp này không nhất thiết phải cần có nhiều người mà một người cũng có thể tiến hành (Một mai một cuốc một cần câu -- Thơ cuả cụ Tam Nguyên )
Các đặc điểm chính khi sử dụng tập kích não:
a) Định nghiã vấn đề một cách thật rõ ràng phải đưa ra được các chuẩn mực cần đạt được cuả 1 lời giải. Trong bước này thì vấn đề sẽ được cô lập hoá với môi trường và các nhiễu loạn.
b) Tập trung vào vấn đề. Tránh các ý kiến hay các điều kiện bên ngoài có thể làm lạc hướng buổi làm việc. Trong giai đoạn này người ta thu thập tất cả các ý niệm, ý kiến và ngay cả các từ chuyên môn có liên quan trực tiếp đến vấn đề cần giải quyết. (thường có thể viết lên giấy hoặc bảng tất cả)
c) Không được phép đưa bất kì một bình luận hay phê phán gì về các ý kiến hay ý niệm trong lúc thu thập. Những ý tưởng thoáng qua trong đầu nếu bị các thành kiến hay phê bình sẽ dể bị gạt bỏ và như thế sẽ làm mất sự tổng quan cuả buổi tập kích não
d) Khuyến khích tinh thần tích cực. Mỗi thành viên đều cố gắng dóng góp và phát triển các ý kiến
e) Hãy dưa ra càng nhiều ý càng tốt về mọi mặt cuả vấn đề kể cả những ý kiến không thực tiễn hay ý kiến hoàn toàn lạ lẫm sáng tạo.
Các bước tiến hành:
a) Trong nhóm lựa ra 1 người đầu nhóm (để điều khiển) và 1 người thư kí (để ghi lại tất cả ý kiến) (cả hai công việc có thể do cùng 1 người tiến hành)
b) Xác định vấ đề hay ý kiến sẽ được tập kích. Phải làm cho mọi thành viên hiểu thấu đáo về đề tài sẽ được tìm hiểu.
c) Thiết lập các "luật chơi" cho buổi tập kích não. Chúng nên bao gồm
• Người đầu nhóm có quyền điều khiển buổi làm việc.
• không một thành viên nào có quyền đòi hỏi hay cản trở, đánh giá hay phê bình hay "xiá mũi" vào ý kiến hay giải đáp cuả thành viên khác
• Xác minh rằng không có câu trả lời nào là sai!
• Thu thập lại tất cả câu trả lời ngoại trừ nó đã được lập lại.
• Vạch định thời gian cho buổi làm việc và ngưng khi hết giờ.
d) Bắt đầu tập kích não: Người lãnh đạo chỉ định hay lựa chọn thành viện chia sẻ ý kiến trả lời (hay những ý niệm rời rạc). Người thư kí phải viết xuống tất cả các câu trả lời, nếu có thể công khai hóa cho mọi người thấy (viết lên bảng chẳng hạn). Không cho phép bất kì một ý kiến đánh giá hay bình luận nào về bất kì câu trả lời nào cho đến khi chấm dứt buổi tập kích
e) Sau khi kết thúc tập kích, hãy lượt lại tất cả và bắt đầu đánh giá các câu trả lời. Một số lưu ý về chất lượng câu trả lời bao gồm:
• Kiếm những câu ý trùng lặp hay tương tự
• Nhóm các câu trả lời có sư tương tự hay tương đồng về nguyên tắc hay nguyên lí
• Xóa bỏ nhũng ý kiến hoàn toàn không thích hợp
• Sau khi đã cô lập được danh sách các ý kiến, hãy bàn cãi thêm về câu trả lời chung
Ví du:
Một ví dụ đơn giản dùng tập kích não là vấn đề "thiết kế máy chuyển ngân của nhà băng" (ATM -Automated Teller Machine)
Thành viên mời tham dự buổi tập kích não có thể bao gồm: 1 người có gửi tiền nhà băng, 1 nhân viên làm việc chuyển ngân hàng ngày, 1 nhà thiết kế phần mềm, một người không có gửi tiền trong nhà băng.
Câu hỏi chính được cô lập lại thành: "Thao tác nào máy chuyển ngân có thể phục vụ được cho khách hàng?" (hay máy chuyển ngân đảm đương nhiệm vụ gì?)
Sau khi tập kích thì các ý kiến đã được thu thập về máy ATM đưọc đặt trong hình vẽ sau:
Sau khi có bảng các ý niệm thì nhóm làm việc sẽ phân loại theo "góc nhìn" cuả người dùng máy. Như vậy một số ý kiến như là "khám máy từ xa", "nâng cấp cho máy từ xa" hay "bảo trì máy" chỉ dùng cho người kĩ sư bảo trì.
Nếu đứng trên quan điểm các dịch vụ mà máy cung cấp thì có thể rút thành 3 nhóm dùng máy:
Như vậy dựa vào các thông tin thu nhập được người thiết kế có thể nắm được những tính năng chính cuả một ATM mà tiến hành
Simplex (Đơn Vận)
Simplex - Một phương pháp mạnh giải quyết vấn đề là đem nó vào sự vận chuyển đơn nhất
Khác với các bai trước, bài này có lẽ cần thiết cho những ai làm việc trong môi trường kỳ nghệ sản xuất.
Kĩ thuật sáng tạo này là công cụ quan trong cho các ngành công-kỹ-nghệ. Nó đưa phương pháp DOIT (xin xem thêm bài DOIT) lên một mức độ tinh tế hơn. Thay vì nhìn sự sáng tạo như là một quá trình tuyến tính thì cái nhìn cuả Simplex đưa quá trình này vào một vòng khép kín không đứt đoạn; nghià là, sự hoàn tất và sự thực hiện sáng tạo lập thành 1 chu kì dẫn tới chu kì mới nâng cao hơn cuả sự sáng tạo. (Để so sánh, bạn có thể xem thêm các triết lí vòng xoắn ốc về sự phát triển cuả xã hội)
Dưới đây là minh hoạ cuả 8 giai đoạn trong 1 chu kì cuả Simplex
Lich sử cuả phương pháp:
Phương pháp này được phát triển bởi tiến sĩ Min Basadur. Ông đề cập tới Simplex qua cuốn "Simplex: a Fly to Creativity" trong năm 1994. WEB site cuả ông http://www.business.mcmaster.ca/hrlr/profs/basadur/minbio.htm
Cách tiến hành
1. Tìm hiểu vấn đề:
Phát hiện đúng vấn đề để giải quyết là phần khó nhất cuả quá trình sáng tạo (vạn sự khởi đầu nan mà lị) Vấn đề có thê7 hiển nhiên hay phải được lược qua hệ thống câu hỏi để làm sáng tỏ hơn như là:
• Khách hàng muốn thay dổi chức năng gì?
• Khách hàng sẽ làm tốt hơn về mặt nào nếu chúng ta giúp họ?
• Gìới nào chúng ta có thể nới rộng ra khi dùng năng lực chính cuả chúng ta
• Những vấn đề nhỏ nào hiện có se lớn lên trở thành vấn đề lớn?
• Chỗ nào chậm chạp trong công việc gây thêm khó khăn? Cái gì thường gây thất bại?
• Làm sao để nâng cấp chất lượng?
• Những gì đối thủ cạnh tranh đang làm mà chúng ta cùng có thể làm?
• Cái gì đang làm nản lòng hay đang chọc tiết chúng ta?
• ...
Những câu hỏi trên sẽ làm rõ hơn vấn đề. Có thể sẽ không có đủ thông tin để mô tả chính xác vấn đề thì hãy tiếp tục các bước tới
2. Thu thập dữ liệu:
Giai đoạn này nhằm chỉ ra càng nhiều thông tin có liên hệ tới vấn đề càng tốt. Hãy tìm hiểu thấu và có đủ kiến thức cho các mặt sau:
• Việc xử dụng các ý kiến hay nhất mà ngưòi cạnh tranh đang có.
• Hiểu một cách chi tiết hơn nhu cầu cuả người tiêu thụ
• Biết rõ những biện pháp đã được thử nghiệm
• Nắm hoàn toàn tất cả các quá trình, các bộ phận, các dịch vụ, hay các kỹ thuật mà bạn có thể cần tới
• Lượng định được rõ ràng ích lợi khi giải quyết vấn đề phải xứng đáng với cái giá mà mình bỏ công ra
• ...
Giai doạn này cũng góp phần cho việc định mức chất lượng cuả thông tin mà ta hiện có (như là độ tin cậy, trị giá, tính đầy đủ, hiệu năng ... cuả lượng thông tin). Sẽ rất có lợi nếu bạn tổng kết và kiểm nghiệm lại sự chính xác cuả thông tin
3. Xác định vấn đề:
Lúc này bạn cũng đã nắm được vấn đề một cách thô thiển. Cũng như có sự hieu biết khá rõ về các dữ liệu liên quan. Bây giờ bạn nên đưa vấn đề lên một cách chính xác và các khó khăn mà bạn muốn giải quyết
Giải quyết dúng mực vấn đề thì rất quan trọng. Nếu vấn đề nêu ra quá rộng thì bạn sẽ không có đủ tài lực để trả lời nó một cách hiệu quả. Ngược lại, sẽ dẫn tới việc chỉ sưã chưã một biểu hiện hay 1 phần cuả vấn đề.
Tác giả cho rằng dùng hai chữ "tại sao?" để mở rộng vấn đề, và câu "Cái gì ngăn trở bạn?" để thu hẹp vấn đề đó.
Đối vơí những vấn đề lớn thường có thể "bẽ" nó ra thành những "mảnh vụn" hơn. Từ đó giải quyết từng phần.
4. Tìm ý:
Trong bước này bạn sẽ nêu lên càng nhiều ý càng tốt. Cách thức là đặt ra một loạt các câu hỏi với những người khác nhau để họ cho ý kiến qua các phưong tiện về sáng tạo (dùng software, dùng bảng câu hỏi gợi ý,...) và qua cách suy nghĩ định hướng để tập kích não.
Không đưọc đánh giá phê bình các ý kiến trong giai đoạn này. Thay vào đó tập trung vào việc tạo ra tất cả các ý kiến khả dĩ. Những ý tồi thường làm nảy sinh các ý tốt.
5. Lưạ chọn và đánh giá:
Khi đã có nhiều lời giải khả dĩ, thì bạn có thể tìm ra lời giải tốt nhất (xem thêm bài DOIT)
Sau khi đã lựa được lời giải thì đánh giá xem nó có đáng giá để đem ra xài hay không. Điều quan trọng là không để cho sự thuận lợi cuả riêng mình ảnh hưởng vào sự hợp lí chung. Nếu lời giải đề ra chưa đủ bõ công thì hày tạo thêm các ý mới va bắt đầu quá trình Simplex lại từ đầu. Nếu không có khi bạn uổng phí rất nhiều thì giờ để làm cái mà không ai thèm.
6. Hoạch định:
Sau khi đã yên tâ rằng lời giải đưa ra là đáng giá thì đây là lúc để lên kế hoạch thực hiện. Một phưong pháp hiệu quả là xếp lên thành "kế hoạch hành động" trong đó phân rõ ra Ai, Làm gì, Khi nào, Ở đâu, Tại Sao, và làm thế nào để cho no suông xẻ. Trong những đề án lớn có thể cần các kĩ thuật kế hoạch nghiêm chỉnh hơn.
7. Đề xuất:
Các giai đoạn trước có thể được bạn tự thực hiện hay tiến hành với 1 nhóm nhỏ (những thiết kế gia đầu não!) Đây là lúc phải đề xuất ý kiến với giới hữu trách có thể là xếp cuả bạn, là chính quyền, là giới lành đạo cuả 1 hãng, hay những người nào có thể tham gia vào đề án.
Trong khi đề xuất ý kiến bạn có thể dương đầu với vấn đề phe đảng, vấn đề chính trị và quan liêu hay là các sự chống đối do thủ cựu gây ra.
8. Tiến hành:
Sau sự sáng tạo và chuẩn bị, ... thì hành động thôi! Ðây là thời điểm mà tất cả kế hoạc câ7n thận được trả công. Hành động an toàn trên xa lộ! Trở lại giai doạn đầu tiên tìm cách nâng cấp các ý kiến cuả bạn lên thêm 1 lớp mới.
I believe that every creative act is an application of problem solving. That doesn’t mean that it can’t be fun as well; it can and should be enjoyable. Here are some of the best creative thinking strategies:
Wallis’ four stage sequence
Wallis formulated his theory way back in 1913. It may be old, but it’s still one of the best there is.
1. Preparation: the research phase during which information is gathered on the subject; the hard grind part of the process, requiring one to become very knowledgeable about the area of concern.
2. Incubation: the period following the grueling process of preparation in which one engages in other activities, not consciously working on the problem, but permitting consideration of the problem in the subconscious mind (often overlooked, but essential in the formation of many creative ideas).
3. Illumination (sometimes called the “aha’.” or “Eureka!”): that moment when a possible viable solution to the problem occurs to one.
4. Verification: the testing of the solution; involves the organization of data and conducting of experiments.
Creative Problem Solving (CPS)
This is a five-step process.
1. Fact-finding
2. Problem-finding
3. Idea-finding
4. Solution-finding
5. Acceptance-finding
Each Step has two phases.
1. Divergent thinking processes (curiosity, inventiveness, activity)
2. Convergent thinking processes (knowledge, decision, valuation)
“If the doors of perception were cleansed, everything would appear to man as it is, infinite.
–William Blake
Koberg and Bagnall’s Design Process
This process expands on the CPS model by adding a visual orientation. Some methods of visually considering the stages include:
- Circular: One step leads to the next and then returns to the beginning if necessary.
- Feedback: Reconsideration of previous stages occurs
- Branching: The order of the stages may be revised ac being considered.
Synectics (developed by W.J.J. Gordon)
The Synectics theory is built on the premise that success in problem solving is increased by using non-rational thought to lead to rational solutions. The process, therefore, involves making the strange familiar and the familiar strange. Synectics relies heavily on analogical and metaphorical thinking.
There are nine phases.
1. Problem as given
2. Analysis (making the strange familiar)
3. Problem as understood
4. Operational mechanisms (analogies, metaphors developed)
5. Making the familiar strange
6. Psychological states (involvement, detachment, deferment, speculation, commonplaceness)
7. States integrated with problem
8. Viewpoint
9. Solution or research target
“If the only tool you have is a hammer, you tend to see every problem as a nail.”
-Abraham Masfow
Morphological Approach (originated by Fritz Zwicky)
This approach involves making forced connections by the combination of items on different attribute lists. All possible connections are placed in a multidimensional matrix called a morphological box.
There are five steps.
I. A concisely formulated problem
2. Localization and analysis of all possible important parameters of the problem
3. Construction of the morphological box
4. Scrutinization and evaluation of all possible combinations
5. Practical application of the most suitable solutions
Transformation
This is the use of simple questions to trigger creative thinktn2 and offer alternative solutions. In this strategy, one begins with an already existing object or idea, and searches for ways it can be altered to provide possible solutions to a problem. Some of the transformational of manipulative verbs that can be used to activate ‘creative thinking are: transform, translate, transmute, transpose, magnify, mini minify, multiply, divide, concretize, abstract, distort, disguise, animate, fragment, dissect, rearrange, adapt, modify, combine, unify, integrate, manipulate, restate, repeat, reverse, substitute, and eliminate.
“All life is an experiment. The more experiments you make the better.”
–Ralph Waldo Emerson
Sociodrama
This strategy involves a seven-step model.
1. Defining the problem
2. Establishing a conflict or situation
3. Casting characters
4. Warming up actors and observers
5. Acting out the solution
6. Cutting the action
7. Evaluating situations
Brainstorming (developed by Osborn)
Brainstorming is a technique for finding alternatives, which can be used at all stages in the creative problem solving process. As it is entirely a divergent thinking strategy, convergent thinking must be provided at later point within each stage.
There are four rules of brainstorming.
- All criticism is forbidden to allow for free exploration of any and all ideas.
- “Freewheeling” is encouraged with zany ideas welcomed, as it is easier to later refine ideas than to make them more unique.
- Quantity of ideas is sought, as the more ideas are expounded, the better the likelihood becomes that useful ideas will be generated.
- Combining, improving on, and expanding on previous ideas is encouraged to allow for the best possibilities.
“But what we think is less than what we know; what we know is less than what we love; what we love is so much less than what there is. And to that precise extent we are so much less than what we are.”
–Laing
Reverse Brainstorming
This process involves listing ways of achieving a goal opposite of the one actually desired. What is most interesting about this process is that the ideas proposed using this technique are very often the ones currently in practice.
Other Strategies
There are many other creative thinking strategies. The ones I summarized here are my favorites, the ones I use most often when teaching, writing, painting, singing, acting, or just living my daily life. But perhaps some others would be more useful to you. Here is a quick list of some other well-know strategies.
- Basic questions
o Who
o What
o Where
o When
o Why
o How
- Speculating/”what if’ questions
- Attribute listing
- Attribute analogy chains
- Guided and unguided imaging
- Visual connections
- Clustering
- Free writing
- Synaesthesia Checklists
- Gestalt
- Bionics
- Idea files
- Spectrum policy
- Force fit
Nguồn: http://kycreative.mis.net
Thiện vẫn hơn ác
Tạp chí khoa học Nature trong số mới ra đăng kết quả một cuộc thí nghiệm của Giáo Sư Martin Nowak ở Ðại Học Havard. Kết luận của bài nghiên cứu này là, trong đời sống loài người, sau cùng cái thiện vẫn hơn cái ác...
Nowak không phải là một nhà dậy đạo đức học. Hồi nhỏ ông cũng được nghe cha mẹ khuyên đi học y khoa. Nhưng ông chọn ngành Sinh Hóa học. Ðậu cử nhân rồi, ông lại đổi, chuyển sang học về Lý Thuyết Trò Chơi (Game Theory), một ngành trong Toán học. Trong việc nghiên cứu bây giờ, ông chuyên về Thuyết Tiến Hóa. Tại sao trong lịch sử tiến hóa loài người đi tới một xã hội hay đề cao điều thiện?
Thuyết Tiến Hóa dựa trên ba điều, một là hiện tượng đột biến trong sinh học; hai là sự lựa chọn tự nhiên cho loài nào ưu thắng tồn tại được lâu dài; còn nguyên tắc thứ ba mà Marin Nowak tìm hiểu về hiện tượng là sự cộng tác. Sinh vật, từ tình trạng các hạt giống (gien) cho tới các tế bào, chúng đã phải cộng tác mới tồn tại được. Nếu các tế bào không cộng tác thì không thể tạo nên các bộ phận trong cơ thể, như tấm thân chúng ta đang sống đây. Ở lãnh vực cao hơn, các cá nhân có cộng tác thì loài người mới tiến đến trạng thái gọi là văn minh như bây giờ. Những “đức hạnh” mà ông bà chúng ta (loài người) dậy con cháu từ bao nhiêu đời đều nhắm khuyến khích sự cộng tác giữa người với người.
Những cuộc nghiên cứu của Nowak đã tìm hiểu hiện tượng cộng tác. Ðịnh nghĩa cộng tác rất đơn giản. Khi nào mình tìm cách làm cho người khác được lợi (nhiều hình thái lợi, không riêng gì lợi lộc về vật chất) trong khi biết rằng mình sẽ bị thiệt, bị tốn kém, như thế gọi là cộng tác.
Trong cuộc nghiên cứu mới phúc trình trong tạp chí Nature, Nowak đã thí nghiệm bằng phương pháp Trò Chơi, với 100 sinh viên ở Boston, thử coi trong việc tương giao, những người chọn chiến lược cộng tác, nghĩa là chọn con đường thiện, thì về lâu dài có lợi hơn những người chọn đường ác hay không. Kết luận của công trình nghiên cứu này, nói theo lối người Mỹ, là “Thiện vẫn lợi hơn,” It pays to play nice.
Cuộc thí nghiệm của Martin Nowak và các đồng nghiệp dựa trên một “trò chơi” gọi là Ngụ Ngôn Hai Người Tù, tên gọi đúng là “Thế Lưỡng Nan của Người Tù” - prisoner's dilemma. Lưỡng nan là khi chúng ta phải chọn giữa hai đường, đường nào cũng có cả lợi lẫn hại. Khi kiểu chuyện ngụ ngôn về thế lưỡng nan này chúng ta sẽ thưởng thức được ý nghĩa của cuộc thí nghiệm.
Chuyện ngụ ngôn hai người tù kể như vầy: Tanya và Cinque bị bắt trong lúc cướp ngân hàng Hibernia, họ bị giam ở hai phòng riêng. Mỗi người chỉ lo cho mình chứ không lo cho bạn. Một viên biện lý khôn ngoan biết mình không đủ bằng cớ, bảo riêng mỗi người tù rằng: “Mày có thể thú tội, hoặc giữ im lặng.” Nếu mày thú tội mà bạn mày không thú, mày sẽ được tha, còn bạn mày sẽ bị tù 10 năm vì có mày làm chứng. Ngược lại, nếu mày im lặng mà bạn mày tự thú thì nó sẽ được tha, còn mày ở tù 10 năm. Nếu cả hai cùng thú tội, cả hai sẽ bị tù, nhưng tòa sẽ cho án nhẹ thôi, mỗi đứa 5 năm. Nếu cả hai cùng im lặng, dù không đủ chứng cớ buộc tội ăn cướp, nhưng tòa vẫn buộc tội mang vũ khí bất hợp pháp và phạt ít nhất là 6 tháng tù. Bây giờ nghĩ đi, sáng mai viết cho tòa một tấm giấy thú tội nhé!”
Xét kỹ các điều kiện trên thì tốt nhất là cả 2 bị cáo đều nhất định chối, mỗi anh sẽ bị 6 tháng thôi. Còn nếu cả hai cùng thú tội, sẽ bị đến 5 năm. Nếu hai người có dịp bàn bạc với nhau, chắc họ sẽ cùng chối bay chối biến. Ðó là “giải pháp tối ưu!”
Nhưng liệu họ có thể tin nhau không? Nếu thằng bạn nó phản, đi thú tội thì sao? Nó sẽ được tha còn mình bị 10 năm tù!
Biết lựa chọn thế nào bây giờ? Ðó là thế lưỡng nan.
Mỗi người tù suy nghĩ, thấy chỉ có 2 trường hợp sẽ xẩy ra, mình không kiểm soát được. Hoặc tên đồng phạm sẽ im lặng. Hoặc hắn sẽ phản mình mà đi thú tội. Thử tính xem trong mỗi trường hợp đó mình quyết định như thế nào thì có lợi nhất.
Trường hợp thứ nhất: Nếu anh kia nó im lặng, mình có thể chọn hoặc cũng im lặng, hoặc sẽ thú tội. Nếu mình im lặng thì cả hai đều bị tù nhẹ chỉ vì tội mang súng bất hợp pháp. Ngược lại nếu mình thú tội, mang tiếng phản bội bạn bè, thì sẽ được tha. So sánh hai kết quả thì thấy thú tội tốt hơn!
Bây giờ đến trường hợp thứ hai: Nếu thằng kia không im lặng mà lại phản bội mình thì tính sao? Nếu mình im lặng, mình sẽ bị tù 10 năm, mà nó sẽ được tha. Còn nếu mình cũng thú tội, cả hai sẽ bị tù nhưng án tù chỉ có 5 năm, nhẹ hơn 10 năm. Kết luận, trong trường hợp này cứ thú tội vẫn hơn.
Cả hai người tù cùng suy nghĩ thuần lý sẽ thấy trong cả hai trường hợp, đằng nào thú tội cũng lợi hơn! Ðó là suy nghĩ thuần lý dựa trên quyền lợi của mỗi người, đứng trước điều không thể đoán trước là không biết anh kia nó sẽ làm gì. Dù có bàn với nó cũng không biết nó có phản hay không!
Nhưng khi họ lựa chọn như vậy, họ đã bỏ mất “giải pháp tối ưu” chỉ bị tù 6 tháng; mà đi chọn con đường tù tội 5 năm!
Câu chuyện này cho thấy trong xã hội lắm lúc mỗi người dùng tinh thần duy lý và duy lợi thì kết quả gây thiệt hại cho tất cả mọi người! Ở đời có rất nhiều trường hợp tương tự! Cho nên chuyện này được dùng trong phương pháp nghiên cứu kinh tế, chính trị, và chiến lược quân sự.
Câu chuyện “Mối lưỡng nan của hai người tù” do Merrill Flood và Melvin Dresher bịa ra đầu tiên, năm 1950. Sau đó, Albert Tucker kể lại câu chuyện cho có con số rõ ràng hơn, để các giáo sư tâm lý trong Ðại Học Stanford có thể hiểu và áp dụng! Cho tới cuối thập niên 1970 đã có cả ngàn bài nghiên cứu về câu chuyện này. Từ 1988 đến 1994 có hơn 200 cuốn sách viết đến chuyện này, và cứ thế bây giờ còn tiếp tục.
Cuộc thí nghiệm của Giáo Sư Marton Nowak dùng một trò chơi theo mẫu Prisoner's Dilemma, nhưng đặt ra những “luật chơi” mới. Hai sinh viên tham dự được quyết định bình đẳng không ai có quyền trên ai. Mỗi người phải lựa chọn, hoặc là đối xử theo đường thiện, hoặc theo đường ác. Họ được tham dự trò chơi nhiều lần, và thay đổi người cùng chơi. Nếu hai người cộng tác với nhau, mỗi người sẽ được thưởng 10 xu (cents); nếu cả hai phản bội, họ sẽ chỉ được 5 xu. Nếu một người cộng tác còn người kia phản bội, người thiện sẽ bị phạt 20 xu, và người ác được thưởng 30 xu.
Nếu theo lý luận của Ngụ Ngôn Hai Người Tù, thì cả hai thường thường sẽ phản bội, trừ khi tin tưởng ở bạn mình. Nhưng trong cuộc chơi này, giống như trong xã hội loài người, người bị phản có thể trừng phạt kẻ phản bội. Giáo Sư Nowak đặt thêm một quy luật, là người bị phản có thể bỏ ra thêm 10 xu để yêu cầu tòa án trừng phạt tên bội phản, và hắn sẽ bị phạt 40 xu. Mỗi lần phạt là kẻ phản bội mất toi 30 xu mới nhận được rồi lại lỗ thêm 10 xu nữa, còn người ra tay phạt cũng tốn thêm 10 xu!
Hơn 100 sinh viên đã tham dự trò chơi, kéo dài cuộc chơi nhiều lần. Mỗi sinh viên tự do chọn “cộng tác” hay “phản bội,” rồi sẽ chọn trừng phạt hay không trừng phạt. Họ quyết định một cách thoải mái, đúng là trò chơi, cốt xem cuối cùng sau 8,000 lần chơi chung thì ai sẽ giữ được nhiều tiền nhất.
Kết quả là khi chấm dứt cuộc chơi, đếm tiền thì thấy những người chọn đường cộng tác và không trừng phạt đối phương có nhiều xu nhất trong túi! Những người chọn đường ác và hay trừng phạt kẻ phản bội, họ còn ít tiền nhất! Ông Nowak kết luận, sống thiện vẫn có lợi - It pays to play nice!
Phải sống thiện. Có thể kết luận rằng sở dĩ loài người sau hàng trăm ngàn năm vẫn tồn tại vì ai cũng xiển dương điều thiện. Cuộc thí nghiệm của Martin Nowak khiến chúng ta tin rằng loài người tồn tại và tiến bộ chính vì đã chọn “chiến lược” sống thiện, từ mấy trăm ngàn năm nay mà những người thiện đã thắng. Cuối cùng, cái thiện là “chiến lược tối ưu.” Cái thiện có thật, không phải chỉ là một lý tưởng xa xôi. Chúng ta tin ở điều thiện, vì nhờ những người theo đường thiện, dậy dỗ đường thiện, đời này sang đời khác cả loài người sẽ được lợi lộc! Cũng vì vậy chúng ta cảm ơn những người nêu tấm gương thánh thiện ngay trong cuộc sống bên cạnh chúng ta. Họ tặng cho chúng ta niềm phấn khởi muốn tin vào cái thiện.
Một số ví dụ áp dụng việc lan tỏa lòng nhân ái bắt nguồn từ nguyên lý Pay It Forward
1. Thương yêu bệnh nhân
Mỗi người chuẩn bị túi quà đến một bệnh viện nọ để thăm bệnh nhân nghèo khổ. Những túi quà đó là những thực phẩm hỗ trợ cho sức khỏe cho họ như đường, sữa …Đặc biệt, trong mỗi túi quà có sẵn 3 giấy viết thư. Người tặng quà sẽ giúp bệnh nhân viết lời tri ân đến các vị bác sĩ hoặc nhân viên bệnh viện đã chăm sóc họ trong suốt thời gian điều trị ở bệnh viện. Cạnh đó, trong thư cũng đề nghị các vị bác sĩ/ nhân viên bệnh viện chuyển những lá thư này đến 3 người khác nữa bất kỳ đã từng cư xủ tử tế với họ trong cuộc sống.yêu yêu nhớ nhớ
thay mặt cho tất cả những j có thể thay mặt hí hí, gấu tớ mún gửi lời chúc mừng tới VCĐ và mong cho VCĐ sẽ ngày càng lớn mạnh và sẽ làm càng nhiều những việc ý nghĩa hơn nữa
@ thật tiếc là lần trước gấu gặp anh tuấn onl và anh hưng chẳng ôm được một cái
TRANG_CHIP85
![]() |
| hương yêu đấy ah gấu tiếc lắm ấy, gấu có nghe mọi người nói ^^ tớ chưa nghe hương hát bao giờ ấy hic hic TRANG_CHIP85
--- On Tue, 4/21/09, Nguyễn Hoàng Quỳnh Hương <bachqu...@gmail.com> wrote: |
Năm 2000, Lâm Thị Thanh Huyền sang Australia du học theo diện học bổng, thế nhưng liên tiếp những tai ương đã khiến cô mất trí nhớ và phiêu bạt khắp nơi. Gia đình đau đớn bởi tưởng đã mất con, thế nhưng thật kỳ lạ, 4 năm sau Huyền đã tìm được bố mẹ nhờ một sự trùng hợp ngẫu nhiên…
Lâm Thị Thanh Huyền là con gái út của ông Lâm Văn Bảng, người đã lập bảo tàng nhà tù Phú Quốc ngay tại gia đình ở thôn Nam Quất, xã Nam Triều, huyện Phú Xuyên, Hà Tây. Theo lời kể của ông Bảng, trong số mấy người con của ông, cô út Lâm Thị Thanh Huyền là người thông minh nhất. Hồi tuổi mới lên ba, chưa ai dạy chữ, thế mà nghe các anh, các chị học thuộc lòng chỉ một hai lần là Huyền đã đọc lại vanh vách những bài học của anh chị mình. Ông quyết tâm dồn tất cả mọi thứ cho cô những mong con mình phát huy được hết khả năng thiên phú.
Sự kỳ vọng của ông và mọi người trong gia đình đã không uổng phí, Huyền năm nào cũng là một học sinh xuất sắc được thầy cô và bạn bè mến yêu, nể phục. Tốt nghiệp cấp III năm 1997, Huyền trúng tuyển vào Đại học Giao thông vận tải với số điểm cao chót vót. Học hết năm thứ nhất ở ĐH Giao thông vận tải, thấy mình không hợp, cô quyết định chuyển trường. Huyền thi đậu Khoa Toán tin của ĐH Quốc gia Hà Nội mà chẳng khó khăn gì. Sự tự hào của gia đình ông Bảng được nhân lên gấp bội khi đang là sinh viên năm thứ 2, Huyền được nhà trường cử đi du học nước ngoài.
Trước ngày sang Australia học, ông Bảng đã ngồi suốt tối dặn dò con gái yêu những điều cần thiết khi một mình ở nơi xứ lạ. Ông Bảng tặng con một cuốn sách đã được gói ghém rất cẩn thận. Đó là cuốn Nhân Quả, ông mua từ năm 1995 và thuộc lòng từng câu chữ. Bởi là sách quý nên ông tỉ mẩn bọc bằng mấy lớp bìa, ngoài cùng là lớp giấy nilon phẳng phiu, sáng bóng.
Đưa cuốn sách ấy cho con, ông rưng rưng bảo: "Ba chẳng có quà gì cho con trước lúc đi xa cả, chỉ có cuốn sách này thôi. Đây là cuốn sách mà ba thích nhất, sang đó, cứ khi nào khó khăn nhất, con hãy đọc nó, nó sẽ chỉ cho con cách vượt qua khó khăn ấy con ạ!". Nhận cuốn sách từ tay người cha già cả đời lam lũ, Huyền cũng nước mắt nghẹn ngào.
Ông Bảng có thói quen hễ mua được cuốn sách nào việc đầu tiên ông ghi ngay tên, địa chỉ của mình lên đó. Cuốn Nhân Quả cũng vậy, tên ông, số điện thoại gia đình, ông đã nắn nót ghi ngay gáy trước. Thế nhưng, chẳng hiểu tại sao, khác với những cuốn sách khác, cuốn sách ấy ông lại ghi tên mình theo kiểu viết không có dấu (Bảng thành Bang) và chỉ ghi mỗi số điện thoại nhà mình chứ không ghi địa chỉ rõ ràng.
Huyền sang Australia học, cô vẫn đều đặn viết thư về cho gia đình. Cuốn sách người cha ở quê tặng, cô cất cẩn thận trong hòm và thỉnh thoảng vẫn lấy ra đọc mỗi khi buồn, mỗi khi "gặp khó khăn" như lời cha cô dặn trước lúc xa nhà. Cạnh nơi Huyền ở có một bà người Pháp bởi không có con nên thấy Huyền hiền lành thì đem lòng quý mến. Bà nhận Huyền làm con nuôi và hai người thường xuyên qua lại chăm sóc nhau như ruột thịt.
Học được gần một năm thì tai họa ập xuống. Huyền bị ốm nặng. Mấy ngày liền nằm liệt giường bởi những cơn sốt ly bì hành hạ. Lâu không thấy cô con nuôi ngoan hiền ghé qua, bà mẹ nuôi người Pháp đã tất tưởi đến thăm. Thấy Huyền sốt cao, bà vội vàng gọi bác sĩ và lập tức đưa Huyền nhập viện. Tại viện, các bác sĩ đã chẩn đoán, Huyền bị viêm não đã biến chứng, nếu không đưa sang một bệnh viện tốt nhất của Mỹ thì tính mạng cô sẽ vô cùng nguy hiểm.
Vậy là, từ viện, Huyền đã được bà mẹ nuôi vội vàng làm thủ tục để cấp tốc sang Mỹ chạy chữa. Đến Mỹ, phẫu thuật xong và sau gần một tháng điều trị, bệnh tình của Huyền đã có dấu hiệu thuyên giảm. Sốt ruột vì việc học, dù sức khỏe vẫn chưa phục hồi hoàn toàn nhưng hai mẹ con vẫn cập rập làm thủ tục để quay lại Australia.
Họa vô đơn chí, chiều ấy, trên đường sân bay, một tai họa kinh hoàng khác đã ập xuống, chiếc taxi chở hai mẹ con đã va vào xe tải, nát bươm. Lần tai nạn ấy đã khiến mẹ nuôi Huyền thiệt mạng ngay tại chỗ, còn Huyền thì bất tỉnh nhân sự và được mọi người đưa trở lại bệnh viện. Nằm miên man suốt mấy ngày trời, khi tỉnh dậy, Huyền ú ớ khi không còn nhận ra chính mình nữa. Cô đã mất trí hoàn toàn. Cô không biết mình là ai, không biết tại sao lại ở nơi này…
Sau tai nạn kinh hoàng trên, mọi đồ đạc của Huyền đã bị mất hết, kể cả giấy tờ tùy thân. Ra viện, không biết đi đâu về đâu, Huyền đành ở lại Mỹ và kiếm sống bằng nghề rửa vỏ chai, lọ trong một nhà hàng ở New York.
Trong cuốn sách Nhân Quả mà cha cô tặng, có nhắc nhiều đến chuyện ở hiền gặp lành. Và điều ấy đã đúng với Huyền. Thấy Huyền chăm chỉ lại ở trong một cảnh ngộ rất đỗi bi thương, một phụ nữ lái buôn người Trung Quốc đã đón Huyền lên tàu chở hàng của bà, nhận Huyền làm con nuôi và Huyền giúp bà những việc vặt hàng ngày.
Lúc này, Huyền vẫn không nhớ một chút gì về quá khứ của mình. Cô chỉ thấy văng vẳng trong đầu mình mấy câu "Việt Nam, Hồ Chí Minh" mà cô không biết đã nghe từ đâu. Tiếng Trung Quốc cô không biết, vậy nên khi bà lái buôn người Hoa ra hiệu hỏi quê quán, cô đã nói với bà câu ấy. Biết chắc Huyền là người Việt Nam, bà mẹ nuôi hứa sẽ đưa Huyền về quê cũ khi có chuyến hàng ngược về đại lục.
Hơn 2 tháng sau, trên chuyến tàu chở toàn đồ điện tử ấy, tạm biệt nước Mỹ phồn hoa, Huyền lênh đênh trở về Trung Quốc. Đến nơi, nghỉ ngơi vài ngày, Huyền được bà mẹ nuôi cho người đưa đến tận Lạng Sơn. Từ đây, Huyền tìm về Hà Nội, bởi nghĩ ở đó dễ kiếm sống và cơ hội tìm được người nhà sẽ lớn hơn nhiều.
Ở Australia, sau khi thấy Huyền đi chữa bệnh rồi mãi không quay lại trường, tưởng cô đã về nước, bạn bè của cô đã gom tất cả đồ đạc trong đó có cuốn Nhân Quả và gửi về Việt Nam. Thế nhưng, địa chỉ họ gửi không rõ ràng nên những thứ đồ đó không đến được tay người nhận.
Những ngày đầu ở Hà Nội, Huyền kiếm sống bằng nghề rửa bát thuê cho những hàng phở, hàng cơm bụi ở quanh Cầu Giấy. Tối, cô lang thang ở khắp các đình, chùa quanh đó tìm chỗ nghỉ chứ không thuê nhà bởi chẳng có tiền.
Gặp Huyền, chẳng biết vì mục đích gì, một bà buôn ở mãi Lạng Sơn cứ nằng nặc nhận cô chính là người con mất tích của bà. Sau nhiều lần thuyết phục, tưởng thật, cô đã theo người đàn bà đó ngược về xứ sở hoa hồi. Lên đó, thấy anh em, họ hàng của người đàn bà ấy không thân thiện với mình, nghĩ chắc chắn đây không phải nơi mình đã sinh ra nên ở được hơn một tuần, Huyền đã bỏ về Hà Nội và chuyển sang nghề bán bánh mì dạo.
Bởi lo ốm đau không ai chăm sóc nên gần năm trời đội bánh mỳ đi bán ở khắp các hang cùng ngõ hẻm, Huyền đã dành dụm được chút tiền. Biết Huyền có vốn, một ả buôn sách cũ ở đường Láng đã ngọt nhạt mời Huyền về để cùng nhau hùn vốn làm ăn. "Hợp tác" được vài tháng thì ả ôm sạch tiền bỏ trốn, vứt lại cho Huyền mớ sách cũ cuốn nhàu, cuốn rách.
Không còn sự lựa chọn nào khác, Huyền đành "tiếp quản" "gia tài" của ả lừa đảo kia để lại. Mong gỡ lại chút tiền, thôi nghề bán bánh mỳ, Huyền đi bán sách. Huyền là người ham đọc, nên cứ nhập được đợt sách nào là cô đọc hết rồi mới bày ra bán.
Chính sở thích ấy mà một ngày cuối năm 2004, nhập đợt hàng mới, thấy cuốn Nhân Quả hấp dẫn, cô đã giữ lại và đọc rất say mê. Có lẽ, có giàu trí tưởng tượng đến mấy, Huyền cũng chẳng thể ngờ rằng, cuốn sách cô đang cầm trên tay lại chính là cuốn sách mà cha cô tặng khi cô lên đường đi học 4 năm về trước.
Tò mò muốn ngắm nghía trang bìa của cuốn sách quý nên Huyền đã bóc dần những lớp giấy bọc ấy để xem. Bóc hết lớp bọc thứ nhất, cô giật mình khi thấy kẹp giữa hai bìa sách là tấm chứng minh nhân dân có ảnh một cô gái rất giống mình. Và, càng ngạc nhiên hơn khi thấy cái tên Lâm Thị Thanh Huyền trên chứng minh nhân dân là một cái tên rất quen mà hình như cô đã thấy ở đâu đó mà cô không thể nào nhớ rõ.
Không rõ quá khứ nên Huyền đâu biết rằng, trước đây, khi ở Australia, bởi quý món quà cha tặng, cô đã cất giữ cuốn sách ấy rất cẩn thận, đi đâu cô cũng mang bên mình. Chứng minh nhân dân của cô, sợ rơi mất nên cô gài luôn vào giữa hai bìa cuốn sách. Không ai biết cuốn sách đã lưu lạc bao nhiêu nơi, qua bao nhiêu chủ và giờ, chẳng hiểu lẽ gì mà lại quay về với Huyền.
Sao ở trên đời lại có người giống nhau đến thế? Hay người trong chứng minh nhân dân lại chính là mình? Những câu hỏi ấy đã khiến cô để ý đến chữ Bang và số điện thoại đã mờ ghi trên gáy sách. Và, để giải tỏa sự tò mò của mình, Huyền bấm máy theo số điện thoại ấy.
Chuông đổ một hồi dài thì đầu dây bên kia có tiếng alô. "Thưa bác, đây có phải nhà bác Bang không ạ?". "Không phải, cô nhầm rồi!". Nói vừa dứt câu, đầu bên kia cúp máy đánh rụp. Thấy tiếng người phụ nữ ở đầu dây bên kia rất quen, nên Huyền đã kiên nhẫn bấm máy lần thứ hai. "Đã bảo không phải rồi mà, cô buồn cười thế nhỉ!". Vẫn một tiếng "rụp" cất lên khô khốc.
Lại nói chuyện ở quê nhà, sau nhiều lần viết thư không thấy con trả lời, bố mẹ Huyền đã nghi ngại về một chuyện chẳng lành đã đến với con mình. Quá sốt ruột, ông đã tìm số điện thoại của trường con mình học và điện thẳng sang. Câu trả lời "Huyền không còn học ở đây nữa, em đã chuyển đi đâu thì chúng tôi không được rõ!" của nhà trường làm ông bà Bảng rụng rời chân tay.
Sau một thời gian không thấy Huyền trở về, bạn bè cô đã gom đồ dùng, sách vở của Huyền để lại gửi một người đưa về Việt Nam cho gia đình. Và có lẽ do địa chỉ ghi không rõ ràng, nên số đồ dùng, sách vở đó đã không đến được gia đình ông Bảng.
Sau khi đã khóc lóc suốt mấy ngày ròng, mọi người trong gia đình đã mỗi người một hướng bằng mọi cách có thể để tìm tin tức của Huyền nhưng đều vô vọng. Lúc ấy, ông Bảng nghĩ mình đã thật sự mất con.
Từng bị bắt và giam giữ ở địa ngục trần gian Phú Quốc thời Mỹ, ngụy nên ông Bảng đam mê sưu tầm những kỷ vật của đồng đội thời chiến. Cuối năm 2004, ông cho xây ngay trong khu vườn, cạnh mấy gian phòng trưng bày kỷ vật đồng đội một ngôi đền nhỏ để ngày ngày hương khói cho những anh linh đã ngã xuống vì đất nước. Sau gần một tháng thi công, đền thờ liệt sĩ đã được khánh thành vào đúng ngày 26 Tết. Đó cũng chính là ngày Huyền gọi điện về nhà.
Bà Nguyễn Thị Lan, mẹ Huyền kể, hôm ấy, đang bận rộn bởi khách khứa nên cứ thấy một cô gái gọi điện hỏi nhà ông Bang, bà đã phát bực và nói nặng lời. Ngoài Hà Nội, Huyền cứ nằm ngắm nghía tấm ảnh "giống mình" trong chứng minh nhân dân ấy chẳng hiểu vì lẽ gì cô đã bấm máy lần thứ ba.
Đang tiếp khách ở ngoài sân, thấy chuông điện thoại lại đổ dài, mẹ Huyền làu bàu bảo: "Chắc lại điện thoại của con bé ấy, đã bảo không phải lại cứ hỏi mãi! Rõ bực!". Thấy vợ mình khó chịu, ông Bảng vội chạy lại nghe máy. Vừa nghe giọng cô gái, khuôn mặt ông đã tái mét vì ở đầu dây bên kia là một giọng nói rất quen. "A lô! Ai đấy!? A lô! A lô…".
Không chờ đầu dây bên kia trả lời, ông hấp tấp hỏi như người đang ở tận cùng hoảng loạn. "Dạ, thưa bác nhà bác có ai tên là Huyền không ạ!?". "Có, có! Ai đấy!? Huyền đấy à con!? Ôi, ba đây mà! Ba của con đây mà! Con không nhận ra ba sao!? Thế con đang ở đâu để ba lên đón con về!?".
Nghe cô gái nói nơi mình ở, ông Bảng đã vội vàng vơ chiếc áo rét gọi thêm vài người nữa rồi ào lên Hà Nội. Chạy xe một lèo đến nơi Huyền ở, ngách 18 phố Trương Định, ông Bảng mừng như điên dại và không tin vào mắt mình nữa bởi cô gái đang đứng trước mặt chính là Huyền, con gái của ông.
Thế nhưng, Huyền vẫn không nhận ra ông và vẫn gọi ông bằng bác như người xa lạ. Mất một lúc lâu, nghe ông Bảng kể lại quãng thời gian ngày trước, kể tỉ mỉ việc gia đình đã cho Huyền đi du học thế nào thì cô mới tin người đàn ông tóc bạc như cước ấy chính là cha mình. Ngay đêm đó, cô theo ông về lại quê nhà sau gần 4 năm xa cách.
Năm ấy, nhà ông Bảng đã có một cái Tết đáng nhớ nhất trong đời. Họ hàng, làng xóm lúc nào cũng đến kín nhà chúc mừng cho sự trở về lạ kỳ của cô gái con ông. Và, để giúp Huyền dần dần phục hồi trí nhớ, ai đến, ông cũng giới thiệu kỹ lưỡng với cô để cô biết đâu là anh, là em, là cô, dì, chú, bác của mình.
Huyền bây giờ đã có một mái ấm hạnh phúc. Cô mới xây dựng gia đình tháng 1. Hiện đôi vợ chồng trẻ đang sống tại phòng 318/No 4B khu chung cư Linh Đàm, Hà Nội. Nhờ sự giúp đỡ tận tình của gia đình cũng như người chồng hiền lành, chu đáo, trí nhớ của Huyền cũng đã khôi phục nhiều. Tuy thế, vết thương ở đầu do tai nạn vẫn hành hạ cô mỗi khi trái gió trở trời. Những khi ấy, cô ôm đầu quằn quại như người điên dại.
Thế nhưng, có một điều lạ là những kiến thức Huyền đã được học thì cô lại nhớ lại rất nhanh và chính xác. Chính vậy mà hơn một năm nay, Huyền luôn có một khoản thu nhập ổn định nhờ nghề dạy học. Cô mở lớp dạy thêm ngay tại nhà và nơi đó đã là một địa chỉ tin cậy để nhiều học sinh tìm đến…
Cuốn sách Nhân Quả giờ ông Bảng giữ như báu vật đời mình. Ông bảo, nhờ nó mà con ông tìm được gia đình thế nên sau này trước khi qua đời, ông sẽ lại cẩn thận giao lại cuốn sách ấy cho Huyền cất giữ..
| gấu hỉu hí hí, giọt nước làm tràn đi sự sung sướng đi khắp nơi đúng ko? chả bít anh minh có hát bài nào ko nhỉ ^^ bạn còm hát hay cực ấy, gấu được ngất một lần rùi TRANG_CHIP85
--- On Thu, 4/23/09, Huệ Chi <huechi....@gmail.com> wrote: |
Ẹc, thật sự đọc xong câu truyện này của anh Hoàng Hà hay thật, ko thể ngờ là có thể xảy ra những truyện như thế.Ở hiền gặp lành :D
| Acts of Kindness |
|
He was driving home one evening, on a two-lane country road. Work, in this small mid-western community, was almost as slow as his beat-up Pontiac. But he never quit looking. Ever since the Levis factory closed, he'd been unemployed, and with winter raging on, the chill had finally hit home. It was a lonely road. Not very many people had a reason to be on it, unless they were leaving. Most of his friends had already left. They had families to feed and dreams to fulfill. But he stayed on. After all, this was where he buried his mother and father. He was born here and knew the country. He could go down this road blind, and tell you what was on either side, and with his headlights not working, that came in handy. It was starting to get dark and light snow flurries were coming down. He'd better get a move on. You know, he almost didn't see the old lady, stranded on the side of the road. But even in the dim light of day, he could see she needed help. So he pulled up in front of her Mercedes and got out. His Pontiac was still sputtering when he approached her. Even with the smile on his face, she was worried. No one had stopped to help for the last hour or so. Was he going to hurt her? He didn't look safe, he looked poor and hungry. He could see that she was frightened, standing out there in the cold. He knew how she felt. It was that chill that only fear can put in you. He said, "I'm here to help you m'am. Why don't you wait in the car where it's warm. By the way, my name is Joe." Well, all she had was a flat tire, but for an old lady, that was bad enough Joe crawled under the car looking for a place to put the jack, skinning his knuckles a time or two. Soon he was able to change the tire. But he had to get dirty and his hands hurt. As he was tightening up the lug nuts, she rolled down her window and began to talk to him. She told him that she was from St. Louis and was only just passing through. She couldn't thank him enough for coming to her aid. Joe just smiled as he closed her trunk. She asked him how much she owed him. Any amount would have been alright with her. She had already imagined all the awful things that could have happened had he not stopped. Joe never thought twice about the money. This was not a job to him. This was helping someone in need, and God knows there were plenty who had given him a hand in the past. He had lived his whole life that way, and it never occurred to him to act any other way. He told her that if she really wanted to pay him back, the next time she saw someone who needed help, she could give that person the assistance that they needed, and Joe added "...and think of me". He waited until she started her car and drove off. It had been a cold and depressing day, but he felt good as he headed for home, disappearing into the twilight. A few miles down the road the lady saw a small cafe. She went in to grab a bite to eat, and take the chill off before she made the last leg of her trip home. It was a dingy looking restaurant. Outside were two old gas pumps. The whole scene was unfamiliar to her. The cash register was like the telephone of an out of work actor, it didn't ring much. Her waitress came over and brought a clean towel to wipe her wet hair. She had a sweet smile, one that even being on her feet for the whole day couldn't erase. The lady noticed that the waitress was nearly eight months pregnant, but she never let the strain and aches change her attitude. The old lady wondered how someone who had so little could be so giving to a stranger. Then she remembered Joe. After the lady finished her meal, and the waitress went to get her change from a hundred dollar bill, the lady slipped right out the door. She was gone by the time the waitress came back. She wondered where the lady could be, then she noticed something written on a napkin. There were tears in her eyes, when she read what the lady wrote. It said, "You don't owe me a thing, I've been there too. Someone once helped me out, the way I'm helping you. If you really want to pay me back, here's what you do. Don't let the chain of love end with you." Well, there were tables to clear, sugar bowls to fill, and people to serve, but the waitress made it through another day. That night when she got home from work and climbed into bed, she was thinking about the money and what the lady had written. How could she have known how much she and her husband needed it? With the baby due next month, it was going to be hard. She knew how worried her husband was, and as he lay sleeping next to her, she gave him a soft kiss and whispered soft and low, "Everything's gonna be alright, I love you Joe." http://www.inspire21.com/site/stories/05-Stories/acts_kindness.html |
Tối ngày 23 tháng 12 vừa qua, tại khách sạn Palace Saigon, đã diễn ra hội thảo “Khai mở bí mật thịnh vượng tài chính bằng trí tuệ Phật giáo”. Diễn giả của chương trình này là Geshe Michael Roach cùng phái đoàn giáo viên của trường Đại học Núi Kim cương (Diamond Mountain University). Đây lầ lần thứ hai tác giả của cuốn Năng đoạn Kim cương (Diamond Cutter) đến Việt Nam trong năm 2009. Lần đầu là vào tháng 4, nhân dịp cuốn sách này được tái bản lần 2 tại Việt Nam với sự tài trợ của ngân hàng Liên Việt. Còn lần này, để chào mừng sự trở lại Việt Nam của Geshe Michael Roach, công ty sách Thái Hà đã cho xuất bản cuốn sách mới nhất của ông, Quản lý Nghiệp.
Buổi hội thảo kéo dài 4 tiếng (từ 18 giờ đến 22 giờ) của nhà sư – doanh nhân cùng phái đoàn đã thành công ngoài mong đợi, với hơn 200 khách mời tham dự. Đa số trong đó là những doanh nhân trẻ, có tri thức và thành đạt. Họ đến để tìm hiểu xem làm thế nào mà một nhà sư đã sống 20 năm trong các tu viện lại có thể khởi nghiệp kinh doanh chi với 7 đôla và nay đã kiếm được 250 triệu đôla Mỹ một năm. Và trong buổi hội thảo này, Michael Roach đã chia sẻ rằng, ông không biết gì về việc lập doanh nghiệp, về tiếp thị hay kế toán… Tất cả những gì ông biết là những giáo lý nhà Phật trong kinh Kim cương. Và ông đã áp dụng những giáo lý đó vào sự nghiệp kinh doanh cùa mình để đạt được thành công như ngày nay. Đấy cũng chính là những gì ông đã chia sẻ trong cuốn Năng đoạn Kim cương.
Vậy Michael Roach đã áp dụng giáo lý nào vậy? Chính là luật nhân quả. Ông nói: “Nếu bạn muốn có nhiều tiền, Vậy thì trước hết bạn phải cho tiền đi.” Và ông đã làm theo đúng cách đó để khởi nghiệp. Khi ấy ông còn ở Ấn Độ, một lần ông tình cờ thấy ba người phụ nữ đang cần tiền mua kim chỉ để kiếm tiền bằng việc may vá. Ông đã bảo họ có thể bắt đầu một sự nghiệp khác, phù hợp với thời đại hơn, với những chiếc máy vi tinh. Và ông đã mua tặng họ ba chiếc máy vi tính để bắt đầu kinh doanh. Đến nay doanh nghiệp của họ đã có 108 nhân viên, còn doanh nghiệp của Michael Roach thì đã vượt quá con số 10.000.
Theo cùng cách như vậy, người ta có thể áp dụng để tìm cách cho mình một người bạn đời như ý bằng cách dành thời gian đi thăm nom, chăm sóc những người già cô đơn ở các trại dưỡng lão. Người ta có thể cải thiện những mối quan hệ thông qua việc sống hữu hảo với những người khác. «Bạn phải làm gì khi những người thân thường nói những lời khó nghe, tiêu cực với bạn?» Michael Roach hỏi. «Đơn giản thôi, bạn hãy nói những lời ái ngữ với mọi người bạn gặp,» ông giải đáp. Còn nếu bạn muốn có một trí tuệ sắc bén, bạn phải làm gì? Bạn hãy đi giảng giải cho người khác những tri thức sâu sắc, hiểu biết mà bạn tâm đắc. Bạn muốn có một nhan sắc tuyệt vời? Vậy hãy từ bỏ thói quen phản ứng tiêu cực, dễ dàng giận dữ của mình. Hãy tập mỉm cười, ngay cả khi người ta nói khó nghe với bạn. Đó chính là cách để giữ gìn vẻ bề ngoài như ý. Thế còn sức khoẻ tốt thì sao? Muốn khoẻ mạnh, đương nhiên là bạn phải tự rèn luyện. Nhưng điều đầu tiên, và quan trọng hơn cả là, bạn cần phải quan tâm đến những người ốm đau xung quanh mình. Hãy động viên, chăm sóc họ, hãy dành thời gian cho họ thì việc rèn luyện thân thể của bạn móí đem lại kết quả được. Cứ thế, cứ thế... Michael Roach chỉ dẫn cho mọi người đạt được những điều họ muốn một cách đơn giản và dễ hiểu. Nhiều người gật đầu tán thưởng, bởi họ cũng tin vào nhân quả, tin vào những gì ông nói. Biết chắc rằng trong số các cử toạ ngồi nghe, còn không ít người đang hoài nghi những gì mình chia sẻ, ông thẳng thắn chia sẻ: «Ai đó trong các bạn có thể nghĩ tôi đang nói những điều gàn dở giống người bị điên khùng vậy, nhưng tôi có thể nói với các bạn, tôi là người điên khùng đã tự mình kiếm được 250 triệu đôla một năm đấy! Bạn tin không thì tuỳ, nhưng có thể thử áp dụng những điều tôi vừa chia sẻ vào cuộc sống của mình và xem kết quả sẽ ra sao.»
Đan xen giữa những bài giảng đầy trí tuệ và thực tế ấy là những tiết mục biểu diễn hết sức ấn tượng của phái đoàn giáo viên đến từ trường Đại học Núi Kim cương. Buổi hội thảo bắt đầu bằng một tiết mục âm nhạc của Geshe Michael Roach chơi đàn sita và hát cùng với cô Mercedes Bahleda. Tiếng đàn nhẹ nhàng, réo rắt khiến khuôn mặt của các thính giả sau một ngày làm việc căng thẳng trở nên thư thái lạ kỳ, Và cuối buổi, có rất nhiều người đã mua đĩa nhạc của hai nghệ sỹ nghiệp dư nhưng truyền đạt rất tốt chiều sâu tâm linh này. Đến khi giảng về việc làm thế nào để có sức khoẻ tốt, Michael Roach đã biểu diễn asana (tư thế yoga) «trồng cây chuối» khiến cử toạ sững sờ trước sự khoẻ mạnh và dẻo dai của người đàn ông đã có tuổi này. Nhưng màn biểu diễn gây ấn tượng nhất thì phải kể đến hai vở kịch ngắn tả lại những buổi học về giáo lý nhà Phật trong thời gian Geshe sống trong các tu viện ở Ấn Độ.
Vở kịch đầu tiên nói về sự khác biệt giữa cách nhìn nhận giữa con người và con chó trước cùng một sự vật: cây bút. Với con người, cây bút thì để viết nhưng với con chó thì đó không khác gì một cục xương... để gặm. Vậy đâu là bản chất của cây bút? Nó là cây bút hay cục xương? «Nó không phải cây bút, nó cũng không phải là cục xương cho chó gặm, bởi nếu cả bạn và con chó đi ra khỏi phòng này, thì nó chẳng là vật gì cả.» Vậy bản chất của nó là gì vậy? Nó là không có bản chất. Đây là điều mà nhà Phật gọi là tính không của mọi sự. «Bản chất của cây bút cũng giống như tấm phông trắng kia vậy. Và những gì chúng ta và con chó nhìn thấy chỉ như những hình ảnh được phóng chiếu lên tấm phông, được quy định bởi những dấu ấn bạn đã ghi vào tâm thức mình thông qua các hành động của bạn trong quá khứ,» Michael Roach nói.
Còn vở kịch thứ hai nói về giáo lý tương tức: anh là tôi và tôi cũng là anh, không có sự tách biệt giữa hai chúng ta. «Khi bạn cho người khác tiền, thực ra bạn không cho họ, bởi không có sự khác biệt giữa bạn và họ. Nó chỉ giống như chuyển tiền từ bàn tay trái sang bàn tay phải,» Michael Roach giải thích. Sau đó ông còn hóm hỉnh bình luận: «Bàn tay phải không nói rằng: Cám ơn bàn tay trái, vì cậu đã chuyển tiền sang cho tớ. Thực ra không có sự tách biệt giữa tôi và bạn, chúng ta là hai cơ thể, nhưng cùng là một người.»
Ngoài việc giáo lý được biểu đạt bằng những câu chuyện sinh động, vở kịch còn gây ấn tượng bởi cách truy vấn bằng giọng như thét vào tai, cùng với tiếng vỗ tay, đập chân của Michael Roach trong vai một vị thầy. Ba giáo viên đến từ trường Đại học Núi Kim cương thì đóng vai những thiền sinh thông minh và điềm tĩnh. Hai vở kịch tạo ra bầu không khí vui vẻ nhưng cũng không kém phần sâu sắc cho một buổi tối vốn đã giúp cử toạ khai mở được nhiều điều cho mình.
Cuối hội thảo, nhiều câu hỏi hay đã được cử toạ gửi đến phái đoàn của Michael Roach như: Làm sao ông lại có thể vừa là một nhà sư, lại vừa là một doanh nhân? Liệu có phải việc cho tiền người khác để mong nhận lại tiền là điều ích kỷ, không trong sáng hay không? Tại sao một người bạn tôi đã cho đi nhiều tiền mà đến giờ anh ta vẫn chưa được nhận lại gì?... Tất cả đều được các giáo viên trong phái đoàn trả lời rành mạch và chi tiết. Nhưng có một sự chia sẻ của Michael Roach mà người viết bài này tâm đắc nhất. Đó là về việc gieo một hạt giống vào trong tâm thức mình thì thường mất thời gian, có khi phải đến kiếp sau mới nhận được trái ngọt mà mình đã gieo từ kiếp này. Với con người hiện đại, kiếp sau dưỡng như là một điều quá xa vời, họ muốn thu hoạch sớm hơn, liệu có cách nào cho họ? Michael Roach chia sẻ rằng bạn có thể rút ngắn thời gian sinh trưởng của hạt giống bằng cách thực tập thiền quán. Và đó cũng là cách ông dẫn dắt cử tọa vào hai bài tập thiền ngắn với sự hướng dọn của hai giảng viên trường Đại học Núi Kim cương. Điều đặc biệt là cả hai người họ đều còn rất trẻ, và đều là người Mỹ gốc Việt. Michael Roach nói rằng chinh những phương pháp quán tưởng «giúp cho người bớt khổ, trao tặng người niềm vui» là cách để những hạt giống tốt đẹp mà bạn đã gieo trồng trên mảnh vườn – tâm thức sẽ sớm đơm hoa kết trái.
Cho đến phút cuối, gần như không có ai rời khỏi hội thảo, khuôn mặt ai cũng toả một niềm vui rạng rỡ, bởi họ biết mình đã được truyền cảm hứng cũng như trí tuệ để sống một cuộc đời thành đạt và mãn nguyện hơn. Sau buổi hội thảo này, phái đoàn của Michael Roach còn tổ chức thêm một khóa tu 2 ngày dành riêng cho doanh nhân, dạy họ cách sống dung dị và tri túc bằng những khóa ngồi thiền, tập yoga, học cách áp dụng giáo lý đạo Phật vào kinh doanh và đời sống... những điều đã được nói đến chi tiết trong Quản lý Nghiệp, cuốn sách mới ra mắt của Geshe Michael Roach và hai tác giả Lama Christie McNally và Michael Gordon.
Đỗ Hoàng Tùng
Những hiện tượng ở quy mô lớn là sự tổng hợp của hàng triệu, hoặc hàng tỷ các hành động riêng lẻ. Apple mới đây làm lễ kỷ niệm 10 tỉ ca khúc được tải xuống từ mạng internet đã khẳng định 10 tỉ lựa chọn của người tiêu dùng khi quyết định tải bài hát về chứ không phải là mua chúng theo các dạng thức khác.
Trong lĩnh vực y tế, Cơ quan kiểm soát dịch bệnh Hoa Kỳ báo cáo các nhiễm trùng đường hô hấp ở trẻ em đã giảm 50 phần trăm một phần vì chiến dịch giáo dục hàng hàng triệu trẻ em thay đổi hành vi bằng việc khuyên khích rửa tay bằng xà phòng.
Những chuyện đó đã dẫn đến sự thay đổi hành vi ở số đông như thế nào? Có phương pháp nào mà doanh nghiệp cũng có thể sử dụng để ảnh hưởng tới hành vi ở cấp độ vi mô, và thu được lợi ích ở cấp độ vĩ mô hay không?
Tim Brown, Giám đốc Điều hành của hãng thiết kế IDEO, chia sẻ những phương pháp đó. Tim Brown chỉ ra một lĩnh vực mới nổi mà anh gọi tên là "thiết kế nhằm thay đổi hành vi" như là một nguồn phương pháp và công cụ để tạo ra những tác động trong quản lý sự thay đổi của tổ chức hay dịch chuyển hành vi mua sắm hoặc rộng hơn là những sáng kiến xã hội mà các công ty theo đuổi vì lợi ích cộng đồng.
Một trong những thách thức của thiết kế nhằm thay đổi hành vi là câu hỏi đã quá cũ về sự khuyến khích, cái mà Brown gọi là "các luật lệ và quy định khuyến khích một hành vi nào đó và ngăn ngừa những hành vi khác", ví dụ như là giao hàng miễn phí hoặc các khoản phạt và phí giao dịch muộn, có thể là những công cụ khuyến khích rất mạnh và có thể được coi là yếu tố thiết kế sản phẩm hay dịch vụ.
Nhưng câu chuyện không chỉ dừng ở đây. Brown cũng đưa ra 3 bí quyết để dần dần đưa người tiêu dùng tới việc hình thành những hành vi mới:
1. Tạo nhưng công cụ kỹ thuật số mới và đơn giản để cung cấp thông tin phản hồi. Hãy nghĩ về ứng dụng iPhone có tên "Lose it" cho phép việc kiểm tra việc hấp thu thực phẩm hay ứng dụng PowerMeter của Google, khuyến khích cộng đồng chia sẻ dữ liệu về việc sử dụng năng lượng. Các ứng dụng dành cho điện thoại thông minh và các phần mềm trên nền web không quá đắt để xây dựng và triển khai.
Tuy nhiên, hãy nhớ rằng những công cụ như thế cũng chỉ tốt giống như thông tin mà chúng truyền tải. Đối với Lose it của Iphone, Brown lưu ý là nó "sẽ chỉ thành công nếu dữ liệu tốt hơn liên quan tới đặc tính liên quan tới sức khoẻ của các loại thức ăn, ví dụ như là ở New York, nơi nhà hàng phải công bố tổng số calo trong các bữa ăn của họ cung cấp".
2. Phát minh cho người tiêu dùng tương lai, không phải khách hàng hiện có. Điều này có thể khó làm, khi mà các nghiên cứu về người tiêu dùng thường chỉ chú trọng vào thói quen mua sắm ở hiện tại. Brown gợi ý rằng các ham muốn ở tương lai có thể dự đoán tốt nhất thông qua quá trình động não hài hước được cấu trúc đơn giản.
Chẳng hạn, đề xuất với nhóm thiết kế, một số điểm đặc biệt để kích thích sự sáng tạo của họ, hơn là chỉ cần hỏi "những gì sẽ khách hàng muốn mười năm sau?", Brown nêu ra một ví dụ gần đây từ IDEO.
"Trong trang web về biến đổi khí hậu của chúng tôi, www.livingclimatechange.com, chúng tôi đã tạo ra các kịch bản mô tả các đổi mới có thể để đạt được mục tiêu hiện thời của chúng ta nhằm giảm carbon", Brown nói. "Chúng tôi cũng mời các nhà thiết kế đóng góp kịch bản bổ sung để cũng tập trung đàm thoại ít hơn về những gì chúng ta sẽ phải từ bỏ và và nhiều hơn về những gì chúng ta sẽ tạo ra".
Thay vì chỉ hỏi cách làm thế nào để cho mọi người cắt giảm sử dụng năng lượng, mục tiêu của IDEO là cung cấp các công cụ có thể giúp mọi người điều chỉnh thói quen hiện có. IDEO cũng đang yêu cầu nhân viên nghĩ về các sản phẩm tiết kiệm nhiên liệu mới.
3. Kiên nhẫn với giám sát "thành công". Hành vi tập thể không thể thay đổi một sớm một chiều. Doanh số bán hàng và hay các thước đo khác không nên được sử dụng đơn lẻ để đánh giá kết quả đổi mới tức thì. Một lần nữa, Brown lấy ví dụ từ IDEO: Health Buddy, một hệ thống giám sát bệnh nhân tại nhà mà hãng tạo ra cho Health Hero Network - được thành lập cách đây hơn một thập niên.
"Khi giới thiệu trong một nghiên cứu vào tháng sáu năm 2009, bang Virginia cho biết số trường hợp phải nhập viện từ năm 2003-2007 đã giảm 60%. Luận đề là do việc hỏi bệnh nhân về tình trạng sức khỏe của họ mỗi ngày thông qua một thiết bị với giao diện rất đơn giản. Bệnh nhân sẽ làm những công việc quan trọng như kiểm tra trọng lượng, uống thuốc", Brown nói thêm. "Việc giám sát liên tục này cho phép bác sĩ phát hiện vấn đề rất sớm. IDEO đã không mong đợi kết quả thật ấn tượng như vậy chỉ hơn 3 tháng hoặc một năm. Họ chỉ trông đợi kết quả khả quan sau nhiều năm thử thách, những những con số mà họ đạt được gây ấn tượng rõ ràng qua thời gian".
Ví dụ mà Brown chia sẻ tập trung vào hành vi của công dân, nhưng đừng phạm sai lầm khi nghĩ chúng không thể áp dụng cho các nhân viên và các khách hàng. Hãy nghĩ như thế này: Nếu thiết kế nhằm thay đổi hành vi có thể xác lập hướng đi mới cho xã hội, tại sao nó không thể tốt cho công việc kinh doanh?
- Bài viết của Reena Jana trên Harvard Business Publishing. Reena Jana là nhà báo tự do, đang sống ở thành phố New York.
Ngọc Thịnh dịch
http://www.tuanvietnam.net/2010-04-01-hanh-dong-nho-thay-doi-lonThư viện từ tâm nguyện của một bà mẹ VN anh hùng
http://222.255.31.151/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=111406&ChannelID=71
TP - 7 năm sau ngày mẹ Rau mất (2007), người con trai duy nhất còn lại của mẹ- ông Phạm Ngọc Hùng đã lập ra thư viện tư nhân Dương Thị Rau (64 Ngô Gia Tự, phường Phú Lâm- TP Tuy Hòa) để thực hiện tâm nguyện của mẹ lúc sinh thời...
| Thư viện mang tên mẹ Việt Nam Anh hùng Dương Thị Rau |
Mẹ Việt Nam Anh hùng Dương Thị Rau sinh năm 1915 (tại Phú Yên) có chồng và 2 con là liệt sĩ.
Mười mấy năm thực hiện một tâm nguyện
Một buổi chiều lành lạnh, ông Phạm Ngọc Hùng tiếp chúng tôi tại thư viện mang tên người mẹ của mình - mẹ Việt Nam anh hùng Dương Thị Rau. Căn phòng nhỏ ấm cúng, chừng 30m2 và vài ba cô cậu học trò tranh thủ về ngang đọc sách.
Vừa qua Tết, bạn đọc chưa nhiều, nên ông đã cất bớt vài cái bàn, lấy chỗ tiếp khách. Dáng dấp của một thư viện tư nhân còn chưa lộ rõ nhưng để có được ngày hôm nay quả không dễ dàng.
Ông Hùng bùi ngùi kể lại: “Lúc còn sống, bà già tui thấy các cháu trong xóm đi học về là tụ tập, la cà. Bả nói với tui bả muốn có một nơi cho con cháu ngồi đọc sách để khỏi nhiễm các thói hư tật xấu, để mở mang cái đầu”.
Nhưng mẹ nghèo, tiền phụ cấp danh hiệu chỉ đủ lo ngày ba bữa thì lấy đâu ra tiền lập thư viện. 10 năm sau (năm 2000), mẹ Rau qua đời mà mong mỏi chưa thành hiện thực. Ông Hùng hiểu tâm nguyện của mẹ, ông cũng nghĩ như vậy.
Nhưng hai vợ chồng với đồng lương hưu trí cọc cạch và 4 đứa con đang độ tuổi ăn học thì biết xoay xở làm sao. Mãi cho đến năm 2007, khi gánh nặng gia đình đã đỡ phần nào, ông quyết tâm thực hiện tâm nguyện của mẹ. Năm đó, ông Hùng đã gần 70 tuổi, vẫn một mình đi “gõ cửa” khắp nơi xin giấy phép.
| Các em học sinh đến thư viện đọc sách |
Ông kể: “Tui cũng trình bày với nhiều nơi lắm. Họ bảo hay nhưng không biết giúp thế nào. Mãi sau này, tui gặp được Giám đốc Thư viện Hải Phú (tỉnh Phú Yên), mới đầu ổng cũng ngại nhưng sau nghe tui nói rõ ràng, ổng giúp đỡ nhiệt tình lắm”. Có được giấy phép rồi, ông lại bỏ tiền tích góp cả đời ra mua sách, lo đi vận động mọi người đóng góp...
Cuối cùng, ngày 20/11/2007, Thư viện tư nhân mang tên mẹ Việt Nam anh hùng Dương Thị Rau cũng chính thức được thành lập. “Ngày đó, chính quyền và bà con đến dự đông quá trời. Tui đọc bài phát biểu mà vừa mừng vừa run...”. Ông Hùng kể lại mà trên khuôn mặt còn rạng rỡ một ngày vui. Hẳn mẹ Rau cũng vui nhiều lắm...
Mỗi người một tay vì niềm vui chung
Thư viện mở cửa từ 6 giờ sáng đến 6 giờ tối. Hai vợ chồng ông Hùng thay phiên nhau trông. Tối đến, nếu có ai muốn mượn sách, cứ gõ cửa, ông bà sẽ tiếp không ngại gì cả.
Từ ngày có thư viện, mỗi sáng các cụ đi tập thể dục lại tạt vào đọc báo, các cháu đi học về thì ghé vô đọc truyện. Bạn Trần Đắc Phước (lớp 10B4- trường THPT Ngô Gia Tự) nói: “Em thấy thư viện này rất có ích. Em đã đọc khá nhiều rồi đó. Mỗi tuần em đến đây 5, 6 lần”.
| Hai vợ chồng ông Phạm Ngọc Hùng |
Để có được cái thư viện như hôm nay, gia đình ông Hùng đã bỏ gần 10 triệu đồng để sửa nhà và mua sách. Trong khi, lương hưu của ông bà chỉ có 3 triệu đồng lại phải chi hơn nửa cho cậu con trai đang học ở TPHCM.
Cảm tấm lòng đó, nhiều cá nhân đơn vị đã chung tay góp sức cùng ông xây dựng thư viện.
Ông Nguyễn Trung - nguyên đại tá Quân đội tài trợ báo An Ninh Thế Giới, Trường Quân sự Phú Yên tặng một đầu báo Quân đội nhân dân, Thư viện Hải Phú cho mượn 500 cuốn sách trị giá 2 triệu đồng, luân phiên cho mượn 200 cuốn sách từ 3 đến 6 tháng, Vụ Thư viện (Bộ Văn hóa- Thể Thao & Du Lịch) cũng hứa tặng một số sách trị giá 5 triệu đồng...
Thư viện hiện có 1.400 đầu sách và các loại báo. Ông Hùng bảo: “Mấy cụ hưu trí thường mang báo đến góp, nhiều bạn đọc mang sách đến tặng. Mới đây, Công ty TNHH Tuấn Dậu (gần nhà ông) tặng 1 triệu đồng, biểu tui mua sách giùm, về bỏ đây cho bà con đọc...”.
Trên kệ sách khiêm tốn ấy, mỗi người góp một ít, sách mới sách cũ có đủ cả. Bản thân ông Hùng là dân cơ khí nhưng mê sách đến quên ăn quên ngủ. Những cuốn sách ngả màu thời gian như: Sông đông êm đềm, Thời thanh niên sôi nổi... ghi dấu những năm tháng tu nghiệp của ông ở Liên Xô nay lại tiếp tục phục vụ mọi người.
Khi được hỏi về công sức và tiền bạc, ông Hùng cười: “Ở đời phải có chi có thu. Thứ tui thu về được là niềm vui”. Xa hơn, ông nói: “Tui muốn thư viện sẽ mở rộng. Nếu phòng này chật quá sẽ dùng luôn cả phòng bên cạnh. Thư viện Hải Phú có giúp tui về nghiệp vụ, tui đã cho cháu gái đi học rồi”.
Kết thúc câu chuyện với chúng tôi, ông Hùng vẫn chỉ có một niềm mong mỏi: Mọi người hãy cùng ông góp sức thực hiện tâm nguyện cuối cùng của mẹ, dù chỉ là một quyển sách cũ, một tờ báo... Ông nói: “Tui không muốn “giữa đường đứt gánh”. Tui đã dặn con cháu rồi: “Tao mất mà bọn bay bỏ thư viện là tao buồn lắm đó!”.
Phan Phạm
Dưỡng sinh ăn uống trong mùa hạ
Mùa hạ có 3 tháng, tính từ tháng 4 - 6 âm lịch, bắt đầu từ ngày lập hạ cho đến ngày lập thu, bao gồm 6 tiết khí: lập hạ, tiểu mãn, mang chủng, hạ chí, tiểu thử và đại thử. Đây là mùa dương khí vượng nhất trong năm, thời tiết nóng bức và ẩm thấp. Quá trình trao đổi chất trong cơ thể con người diễn ra mạnh mẽ, dương khí phát ra ngoài, âm khí tiềm phục ở trong. Các lỗ chân lông giãn rộng, mồ hôi tiết ra nhiều để điều hòa thân nhiệt nhưng cũng vì thế mà tà khí dễ xâm nhập vào trong. Hệ thống mao mạch ngoại vi cũng giãn ra, khí huyết lưu thông nhanh và mạnh hơn. Công năng của tỳ vị có xu hướng suy giảm vì nóng bức uống nhiều làm cho dịch vị bị pha loãng, quá trình tiêu hóa và hấp thu thức ăn dễ bị rối loạn. Bởi vậy, cổ nhân khuyên rằng: mùa hạ nên ăn những thức ăn thanh đạm, hạn chế đồ béo bổ, chiên xào, sống lạnh để giảm bớt gánh nặng cho tỳ vị. Sách Dưỡng sinh thư đã viết: “Hạ chí hậu thu phân tiền, kỵ thực phì nhi bính, hoắc du tô chi thuộc, thử đẳng vật dữ tửu tương qua quả thực vi tương phỏng, hạ nguyệt đa tật dĩ thử” (mùa hạ nên kiêng ăn đồ béo ngậy, bơ sữa và rượu, những thứ này dễ gây nhiều bệnh tật). Tiết trời nóng ẩm cũng là điều kiện thuận lợi cho các vi sinh vật phát triển mạnh (Đông y gọi là tà khí) làm cho thực phẩm dễ ôi thiu, biến chất, trong khi đó vì uống nhiều nước dịch dạ dày bị pha loãng nên khả năng sát khuẩn giảm thấp càng làm cho nguy cơ ngộ độc thức ăn tăng cao. Bởi vậy, vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm trở nên hết sức cấp bách. Để dự phòng “bệnh tòng nhập khẩu” cần chú ý giữ gìn vệ sinh ăn uống, không dùng thực phẩm ôi thiu, không uống nước lã, nước nhiễm bẩn, rau quả tươi phải được rửa thật sạch... Đông y cho rằng: Thử (nắng nóng) là chủ khí mùa hạ, là dương tà, tính thăng tán dễ làm hao tổn khí và tân dịch. Thử tà xâm nhập vào cơ thể gây ra nhiều mồ hôi làm tổn thương tân dịch, nếu không kịp thời bù đắp thậm chí có thể làm hao tổn nguyên khí, biểu hiện ra bên ngoài bằng các triệu chứng như mệt lả, khó thở, ngại nói, có khi đột nhiên ngã lăn bất tỉnh (say nắng, say nóng). Hơn nữa, thử thường kiêm với thấp (độ ẩm), thấp là âm tà dễ làm tổn thương dương khí. Đặc điểm của thấp tà là nặng trệ, kết dính, dễ gây thương tổn tỳ dương. Biểu hiện trên lâm sàng bằng các triệu chứng như chân tay tê mỏi, mình mẩy nặng nề, đầu nặng như đeo đá, không muốn ăn, hay đầy bụng, dễ đi lỏng, thậm chí có thể phù nhẹ hai chân... Bởi vậy, trong mùa hạ, Đông y khuyên nên chú trọng dùng nhiều đồ ăn thức uống có tác dụng thanh nhiệt giải thử, lợi niệu trừ thấp như dưa hấu, mướp đắng, dưa chuột, bí đao, đậu xanh, đậu đen, cháo ngũ đậu, cháo ý dĩ, cháo đậu xanh, cháo biển đậu, cháo lá sen, trà nhân trần, trà hoa cúc, trà nụ hoặc lá vối, trà actiso, trà khổ qua... Những ngày quá nóng bức có thể dùng một chút nước lạnh hoặc nước đá để giúp cơ thể giải nhiệt nhưng không được dùng nhiều để tránh làm thương tổn tỳ vị, tạo điều kiện cho thấp tà gây bệnh bên trong. Khi mồ hôi ra nhiều phải chú ý bổ sung đủ lượng nước đã mất bằng đường ăn uống. Cổ nhân có câu: “Hãn vi tâm dịch” (mồ hôi là dịch của tâm), bởi thế khi mất mồ hôi âm dịch trong cơ thể nói chung và âm dịch trong tạng tâm nói riêng (gọi là tâm âm) cần chú ý trọng dụng những đồ ăn thức uống có công dụng thanh nhiệt dưỡng âm như thạch đen, chè đậu đen, trà mạch môn, nước ép quả lê, nước ép ngó sen, nước mơ, nước mận, nước dâu, trà bát bảo... Ngoài việc thanh nhiệt giải thử và dưỡng âm, ăn uống trong mùa hạ còn phải hết sức chú ý tránh làm thương tổn tỳ vị. Theo Đông y, các thực phẩm có công dụng phương hương tỉnh tỳ, kiện tỳ hóa thấp, giải thử đều trực tiếp hoặc gián tiếp giữ gìn và nâng cao năng lực hoạt động của tỳ vị, ví như các loại cháo chế từ đậu xanh, đậu côve, bạch biển đậu, ý dĩ, hạt sen, củ mài...; các loại trà hoắc hương, trà nụ vối, trà hương nhu, trà lá sen... Nên chú ý dùng thêm các đồ ăn thức uống có vị chua ngọt, cay thơm để nhằm mục đích khai vị, kích thích cảm giác thèm ăn như các loại canh chua chế từ quả sấu, me, khế, quả dọc, tai chua, quả chay, chua me đất hoa vàng... và các loại nước cam, nước chanh, nước mơ, nước sấu... Tuy nhiên, cần chú ý không nên dùng quá nhiều đường tinh luyện khi pha chế các loại nước giải khát. Để bảo vệ nguyên khí, cổ nhân khuyên “bảy mươi hai ngày mùa hạ nên bớt vị đắng, tăng vị cay để dưỡng phế khí (Thiên kim yếu phương)”. Bởi vì căn cứ vào quy luật ngũ hành, tâm thuộc hỏa, phế thuộc kim, hoả khắc kim, tâm hỏa quá thịnh sẽ khắc phạt phế kim, vị đắng vào tâm, vị cay vào phế, nếu ăn thêm một ít vị cay thì phế khí sẽ được trợ dưỡng, nếu ăn bớt vị đắng thì tâm hỏa sẽ không quá vượng thịnh mà hại phế khí. Cuối cùng, trong vấn đề dưỡng sinh ăn uống mùa hạ, Đông y còn có một quan điểm hết sức độc đáo, đó là “xuân hạ dưỡng dương”. Mùa hạ nóng nực tuy phải dùng nhiều đồ ăn thức uống có tác dụng thanh nhiệt giải thử nhưng vẫn cần lấy ôn ấm làm chính để trợ giúp khí dương. Bởi vì, các nhà dưỡng sinh Đông y cho rằng mùa hạ tuy dương khí vượng thịnh bên ngoài nhưng khí âm lại tiềm ẩn bên trong cơ thể, vậy nên “trời tuy nóng chớ tham mát, dưa tuy ngon chớ ăn nhiều”. Nếu không biết giữ gìn dương khí trong mùa hạ thì mùa đông sẽ mắc nhiều bệnh tật, phải biết thuận ứng thiên thời để bồi bổ dương khí, trừ khử âm hàn có như vậy mới gọi là phòng bệnh triệt để. Bởi vậy, trong mùa hạ, việc chọn dùng một số đồ ăn uống có tính ôn bổ cũng là rất cần thiết, đặc biệt đối với những người có bệnh mạn tính và thể chất vốn suy nhược do dương khí kém. BS. Khánh Hiển