
Việc
học kỹ thuật kỷ sư đã đưa anh đến Anh mặc dù cha anh không muốn điều
đó. Chỉ sau khi Bakht Singh hứa với mẹ rằng anh sẽ không thay đổi tôn
giáo, bà mới thuyết phục được cha anh cho phép anh đi du học. Khi đến
Anh, ông đã từ bỏ đạo Sikh, cắt tóc và coi mình là một người vô thần,
ham mê mọi thú vui. Anh ta tiêu hết bảy tháng tiết kiệm trong một tháng
và bắt đầu hút thuốc và uống rượu, điều mà với tư cách là một người theo
đạo Sikh, anh ta chưa bao giờ làm trước đây. Anh ta đã gửi tài khoản
giả cho cha mình. Những sự phản bội bản thân này khiến anh vô cùng đau
khổ. Anh bắt đầu coi cuộc sống là “sự phù phiếm của những điều phù
phiếm”.
Đi thuyền đến Canada trong một chuyến du lịch thú vị, anh
quyết định tham dự một buổi lễ của nhà thờ Cơ Đốc trên tàu để xem nó
nói về điều gì. Ngủ gật trong khi nghe thuyết giảng, anh tỉnh dậy và
thấy mọi người đang quỳ gối. Lúc đầu, anh ấy phản đối việc quỳ gối,
nhưng sau đó lại hạ mình xuống và nghĩ: “Tôi đã đến các nhà thờ Hồi giáo
và đền thờ Ấn Độ giáo. Tôi đã cởi giày, rửa chân để tỏ lòng kính trọng
đối với những nơi đó. Tôi cũng phải tôn vinh nơi này vì phép lịch sự.”
Anh quỳ xuống. Ngay lập tức ông cảm nhận được quyền năng của Đấng
Christ. Sau đó, anh kể lại: “Tôi bắt đầu nói: ‘Ôi, Chúa Giê-su, đáng
ngợi khen danh Ngài, đáng ngợi khen danh Ngài.’” Sự biến đổi bắt đầu vào
ngày hôm đó đã khiến anh đọc Kinh thánh và trở thành một Cơ-đốc nhân
nhiệt tình..
Sau
lễ báp têm, Bakht Singh bắt đầu chia sẻ câu chuyện của mình. Lần đầu
tiên đứng lên làm chứng, anh run rẩy dữ dội. Anh chỉ có thể nói: “Chúa
Jesus đã cứu cả tôi. Tôi là kẻ đáng bị thiêu thành tro vì tay tôi đã xé
cuốn Kinh thánh. Tôi là kẻ báng bổ Kinh Thánh và danh của Chúa Giê-su
Christ, đồng thời chế giễu các Cơ-đốc nhân nhưng Ngài đã cứu cả tôi”.
Khi
dâng mình cho Chúa Giê-su, Bakht Singh cảm nhận được rằng Thiên Chúa
đang yêu cầu ông chấp nhận ba nguyên tắc. (1) Anh ta phải sống bằng đức
tin, (2) Anh ta không được xin ai bất cứ điều gì (dù chỉ một tách cà
phê), và (3) Anh ta không được tự mình lập kế hoạch. Tự ràng buộc mình
với ba yêu cầu này, anh lên đường trở về Ấn Độ. Ở đó, anh thấy mình vô
gia cư vì anh không chấp nhận yêu cầu của cha mẹ rằng anh phải giữ im
lặng để cải đạo. Tuy nhiên, cha anh cũng sớm trở thành một Cơ đốc nhân.
Nhờ
sự vâng phục Đức Chúa Trời của Bakht Singh, ông đã đưa hàng ngàn người
Ấn Độ đến với Đấng Christ và góp tay xây dựng nhiều hội thánh. Ông có
ảnh hưởng và được yêu quý đến mức sáu trăm nghìn người đã đến dự đám
tang của ông.
—Dan Graves
-
Nhà
truyền giáo Tin Lành người Pháp William Farel chỉ huy Viret rao giảng
Phúc âm. Giống như Calvin khi Farel đặt anh ta vào một nghĩa vụ tương
tự, Viret đã phản đối. Nhưng giống như Calvin, cuối cùng anh ấy cũng
phải nhượng bộ. Ông trở thành một nhà thuyết giáo xuất sắc. Không phải ở
quê hương Thụy Sĩ mà ở nước láng giềng Pháp, nơi ông có ảnh hưởng lớn
nhất. Ví dụ, ông đã hoán cải toàn bộ giảng viên của trường cao đẳng y
tế Montpellier sang các quan điểm Cải chánh. Hàng ngàn người đã nghe ông
giảng ở Paris, Orleans, Avignon, Montauban và các thành phố khác và đã
được thuyết phục. Trên thực tế, phong trào Huguenot phần lớn mắc nợ từ
lời chứng của ông. Ông là nhà truyền giáo Tin lành nổi tiếng nhất ở Pháp
thế kỷ XVI. Nhưng ông không thành lập một phong trào lớn nào và tránh
tất cả trừ những tranh cãi cốt yếu nhất. Mặc dù ông đã viết gần 50 cuốn
sách nhưng chúng chưa bao giờ nhận được sự chú ý của Luther hay Calvin.
Viret
gần như không còn sống để đảm nhận công việc này. Người Công giáo đã cố
gắng đâm anh ta ngay sau khi anh ta thành công ở Orde. Hai năm sau, khi
ông đang ở Geneva, một người phụ nữ đã đầu độc món súp rau bina phục vụ
cho Farel, Viret và bạn của họ là nhà cải cách người Pháp Antoine
Froment. Viret suýt chết và sức khỏe của anh bị tổn thương vĩnh viễn.
Người phụ nữ đã thú tội và liên lụy đến hai linh mục. Cô đã bị treo cổ
nhưng các nhà giáo phẩm được trả tự do sau khi thề rằng họ đã không tham
gia vào âm mưu này.
Viret
không cho phép những đòn tấn công này gây sát thương cho mình. Ông vẫn
rất hiền lành nên đã giành được sự tôn trọng của nhiều người Công giáo.
Cả người Công giáo lẫn người Tin lành đều tin tưởng ông là người phân xử
những khác biệt của họ, và ông đã nỗ lực mang lại sự hòa giải giữa hai
phe. Cuối đời, Viret và 11 mục tử bị lực lượng quân đội Công giáo bắt
giữ. Họ tôn trọng Viret đến mức cả nhóm đã trả tự do cho anh ta nhưng
lại xử tử bảy người khác.
Trong khi Viret ở Lyons, Pháp, nằm
trong tay người Huguenot, người Công giáo đã giành lại quyền kiểm soát
khu vực. Vào ngày này, ngày 27 tháng 8 năm 1565, họ ra lệnh cho ông ra
đi. Ông chuyển đến Navarre, nơi được cai trị bởi nữ hoàng theo đạo Tin
lành Jeanne d'Albret.
Đúng như người ta tưởng tượng, một người đàn ông hiền lành như vậy lại rất vui vẻ với gia đình. Anh có niềm vui khi chinh phục được cha mẹ mình cho Đấng Christ. Nhưng nỗi buồn cũng đi ngang qua anh. Người vợ đầu tiên của ông và tất cả con cái của họ đều chết vì bệnh dịch hạch; người vợ thứ hai của ông và hai đứa con của họ cũng vậy. Viret sống đến sáu mươi tuổi.
—Dan Graves