CHỮ YÊU
(Thứ Năm Tuần Thánh, năm B)
Trầm
Thiên Thu
Xưa
nay, từ cổ chí kim, chưa có một định nghĩa nào về tình yêu trọn vẹn nhất khiến
người ta thoả mãn. Chữ Yêu rất đơn giản mà cũng rất nhiêu khê. Chỉ có một tình
yêu đích thực nhưng được nhìn với nhiều lăng kính, mỗi người yêu mỗi cách và
mức độ cũng rất khác nhau. Nói chung, yêu là CHO nhiều hơn NHẬN, yêu đến quên
mình, đó mới là Tình Yêu chân chính. Việt Nam có chuyện tình Đồi Thông Hai Mộ
và chuyện tình Lan và Điệp, còn Tây phương có chuyện tình Romeo và Juliette.
Những chuyện tình thật lãng mạn và đẹp nhưng cũng đầy chất bi thương!
Yêu là chết trong lòng một ít. Yêu
là khổ, không yêu thì lỗ, nên thà chịu khổ hơn chịu lỗ. Người ta còn có cách
gọi đó là “thú đau thương”. Chúa Giêsu đã xác định: “Không có tình thương nào
cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga
15,13). Sau những ngày tháng hoang đàng, Thánh Giám mục Tiến sĩ Augustinô đã
hối tiếc: “Con yêu Chúa quá muộn màng”, và rồi ngài nói: “Mức độ yêu Chúa là
yêu vô hạn”. Một mức độ kỳ lạ: mức-độ-không-giới-hạn!
DẤU HIỆU
TÌNH YÊU
Trình thuật sách Xuất hành (Xh
12,1-8.11-14) cho biết chi tiết: “Đức Chúa phán với ông Môsê và ông Aharon
trên đất Ai Cập: “Tháng này, các ngươi phải kể là tháng đứng đầu các tháng,
tháng thứ nhất trong năm. Hãy nói với toàn thể cộng đồng Israel: Mồng mười
tháng này, ai nấy phải bắt một con chiên cho gia đình mình, mỗi nhà một con.
Nếu nhà ít người, không ăn hết một con, thì chung với người hàng xóm gần nhà
mình nhất, tuỳ theo số người. Các ngươi sẽ tuỳ theo sức mỗi người ăn được bao
nhiêu mà chọn con chiên. Con chiên đó phải toàn vẹn, phải là con đực, không quá
một tuổi. Các ngươi bắt chiên hay dê cũng được. Phải nhốt nó cho tới ngày mười
bốn tháng này, rồi toàn thể đại hội cộng đồng Israel đem sát tế vào lúc xế
chiều, lấy máu bôi lên khung cửa những nhà có ăn thịt chiên. Còn thịt, sẽ ăn
ngay đêm ấy, nướng lên, ăn với bánh không men và rau đắng”. Luật cũ chú
trọng cách sống tự nhiên của con người, và cách hành lễ cũng “thực tế” hơn ngày
nay, nhưng đó là thể hiện sự vâng lời - vâng lời Chúa nghĩa là yêu mến Chúa.
Cách ăn cũng có luật: lưng thắt gọn,
chân đi dép, tay cầm gậy. Cách ăn “lạ” nhất là “phải ăn vội vã”, vì đó là lễ
Vượt Qua mừng Đức Chúa. Đêm ấy Thiên Chúa rảo khắp đất Ai Cập, sát hại các con
đầu lòng trong đất Ai Cập, từ loài người cho đến loài thú vật, và sẽ trị tội
chư thần Ai Cập. Nghe vậy chúng ta cảm thấy Chúa “dữ tợn” quá. Nhưng không,
luật cũ là luật tự nhiên, những gì là “đầu tiên” được dành ưu tiên cho Thiên
Chúa, gọi là “của lễ đầu mùa”, kể cả con đầu lòng. Ngày nay, một số dân tộc vẫn
có cách mừng thu hoạch như lễ mừng lúa mới, lễ mừng thu hoạch…
Vết máu bôi trên nhà là dấu hiệu
“giữ luật”, là “dấu hiệu tình yêu”, và người trong nhà đó sẽ không bị tai ương
tiêu diệt khi Thiên Chúa giáng hoạ trên đất Ai Cập. Ngày đó được chọn làm ngày
tưởng niệm, ngày đại lễ mừng Đức Chúa. Đó là luật quy định cho đến muôn đời.
Luật đó là hồng ân Chúa ban. Ngài ban đủ thứ ân sủng để con người đủ sức “vượt
qua” biển đời. Thiên Chúa YÊU nhiều nên CHO nhiều, còn chúng ta NHẬN quá nhiều,
thế nên:
Lấy chi đáp đền Chúa đây
Vì bao ân huệ chính Ngài đã ban? (Tv
116,12)
Dù thật lòng muốn đền đáp ơn Chúa
nhưng chẳng có gì để dâng, nếu có cũng chẳng có gì xứng đáng. Thân phận bụi tro
mọn hèn cả dám thân thưa:
“Con nâng chén hồng ân cứu độ
Mà xưng tụng danh Chúa mãi thôi”.
(Tv 116,13)
Thời quân chủ, thần dân không được
ngước nhìn Long Nhan, ai nhìn sẽ bị tội khi quân và phải chết. Thần dân muốn
tâu trình điều gì phải quay hướng khác và không được tâu trực tiếp mà chỉ được
tâu với cái “bệ rồng” Vua ngồi: “Muôn tâu bệ hạ”. Thế nhưng, đối với Thiên Chúa
là Vua các vua và Chúa các chúa, thân sâu bọ chúng ta lại được diện kiến Tôn
Nhan thì quả là vô cùng diễm phúc: “Trước Thánh Nhan thật là quý giá, cái
chết của những ai hiếu nghĩa với Ngài” (Tv 116,15). Chúng ta chỉ là tôi tớ
Ngài, con của nữ tỳ Ngài, mà được diễm phúc thì phải ghi nhớ thâm ân: “Con
sẽ dâng hiến lễ tạ ơn mà xưng tụng danh Chúa” (Tv 116,17), đồng thời tự thề
hứa: “Lời khấn nguyền với Chúa, con xin giữ trọn, trước toàn thể Dân Ngài”
(Tv 116,18).
THỂ HIỆN
TÌNH YÊU
Thánh Phaolô cho biết: “Điều tôi
đã lãnh nhận từ nơi Chúa, tôi xin truyền lại cho anh em” (1 Cr 11,23). Rồi
ngài kể lại việc Chúa Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng tạ ơn, rồi bẻ ra
và nói: “Anh em cầm lấy mà ăn, đây là Mình Thầy, hiến tế vì anh em; anh em
hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy”, và cuối bữa thì Chúa Giêsu
nói: “Đây là chén Máu Thầy, Máu đổ ra để lập Giao Ước Mới; mỗi khi uống, anh em
hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy” (1 Cr 11,24-25). Thánh
Phaolô giải thích: “Từ nay cho tới ngày Chúa đến, mỗi lần ăn Bánh và uống
Chén này, là anh em loan truyền Chúa đã chịu chết” (1 Cr 11,26), do đó mà
chúng ta hằng ngày tuyên tín trong mỗi Thánh lễ: “Lạy Chúa, chúng con loan
truyền Chúa chịu chết, và tuyên xưng Chúa sống lại, cho tới khi Chúa đến”,
hoặc “Lạy Chúa, mỗi lần ăn Bánh và uống Chén này, chúng con loan truyền Chúa
chịu chết cho tới khi Chúa đến” (Ga 13,1-15).
Trước lễ Vượt Qua, Đức Giêsu biết
“giờ của Ngài” đã đến, đó là giờ Ngài phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Ngài
yêu thương mọi người đến giọt Nước và giọt Máu cuối cùng.
Đức Giêsu biết rõ Giuđa nghĩ gì,
tính toán ra sao, và sắp làm gì. Nhưng Thánh Ý Chúa Cha nhiệm mầu. Chúa Giêsu
bởi Thiên Chúa mà đến, và Ngài sắp trở về cùng Thiên Chúa. Do đó, trong một bữa
ăn, Ngài đứng dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra, và lấy khăn mà thắt lưng. Rồi
Ngài đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà
lau. Chắc hẳn môn đệ nào cũng ngạc nhiên vô cùng khi thấy Sư phụ hành động “kỳ
cục nhất thế gian”.
Thế nên, khi Ngài đến chỗ ông Simon
Phêrô, ông liền thưa: “Thưa Thầy! Thầy mà lại rửa chân cho con sao?” (Ga
13,6). Không hề có bề trên nào dám làm chuyện “ngược đời” và “động trời” như
vậy. Nghe Phêrô nói, Đức Giêsu trả lời: “Việc Thầy làm, bây giờ anh chưa
hiểu, nhưng sau này anh sẽ hiểu” (Ga 13,7). Ông Phêrô chưa thể hiểu nên lại
thưa: “Thầy mà rửa chân cho con, không đời nào con chịu đâu!” (Ga
13,8a). Đức Giêsu đáp: “Nếu Thầy không rửa cho anh, anh sẽ chẳng được chung
phần với Thầy” (Ga 13,8b). Nghe Thầy nói “không được chung phần” thì ông
Phêrô liền thưa: “Vậy, thưa Thầy, xin cứ rửa, không những chân, mà cả tay và
đầu con nữa” (Ga 13,9). Nhưng Đức Giêsu bảo ông: “Ai đã tắm rồi, thì
không cần phải rửa nữa; toàn thân người ấy đã sạch. Về phần anh em, anh em đã
sạch, nhưng không phải tất cả đâu!” (Ga 13,10). Ông Phêrô cụt hứng, như bị
tạt ca nước lạnh. Rõ ràng Ý Chúa hoàn toàn khác ý loài người. Ngài rất thâm ý
nên mới nói: “Không phải tất cả anh em đều sạch”.
Rửa chân cho các môn đệ xong, Ngài
mặc áo vào, về chỗ và nói: “Anh em có hiểu việc Thầy mới làm cho anh em
không?” (Ga 13,11). Hỏi vậy thôi, chứ Ngài biết tỏng là chẳng ai hiểu, vì
ông nào cũng “mắt chữ O và miệng chữ A” và như trời trồng hết thảy. Thế nên
Ngài nói luôn: “Anh em gọi Thầy là Thầy, là Chúa, điều đó phải lắm, vì quả
thật, Thầy là Thầy, là Chúa. Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân
cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh
em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em” (Ga 13,13-15).
Thầy mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng
phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như
Thầy đã làm cho anh em. Đó là Luật Yêu của Chúa. Nhẹ nhàng mà thâm thuý. Và đó
cũng là điều chúng ta phải suy nghĩ, nhất là vì Chúa đã làm gương.
Chữ Yêu bắt đầu
bằng mẫu tự Y có hình “ngã ba”, nghĩa là có 3 hướng: hướng lên Chúa, hướng tới
tha nhân, và hướng về chính mình. Yêu Chúa hết linh hồn và hết trí khôn, yêu
người như chính mình, không được yêu mình thái quá (tự ái là yêu mình thái quá,
là ích kỷ). Yêu có những hệ lụy quan yếu. Yêu là điều luôn cần thiết: Cần thiết
à thiết tha à tha thứ. Đó là chu-trình-yêu. Và một hệ lụy khác lại phát sinh:
YÊU thì phải KÍNH, KÍNH thì phải NỂ, NỂ thì phải TRỌNG, TRỌNG thì phải VỌNG
(mong), MONG thì thấy NHỚ, NHỚ nghĩa là YÊU. Đó là vòng-tròn-yêu bắt đầu và kết
thúc bằng động từ YÊU. Chúa nhớ chúng ta và chúng ta cũng phải nhớ Chúa, mà nhớ
Ngài thì phải thực thi Thánh Ý Ngài.
Như nói về gia đình, chúng ta
áp dụng “hiếu đễ”. HIẾU thì phải ĐỄ (nhường), NHƯỜNG thì phải NHỊN. Nhờ đó mà
“trong ấm, ngoài êm”, tạo nên “tổ ấm”, tạo nên hạnh phúc gia đình. Xã hội cũng
vậy. Cộng đoàn cũng thế. Nói chung, tất cả tóm gọn trong một chữ YÊU. Yêu cũng
chính là biết thương xót.
Lạy Chúa Giêsu, xin đổi mới
trái tim chúng con nên giống Chúa mỗi ngày càng nhiều “máu yêu” hơn, để chúng
con vừa yêu Chúa vừa yêu tha nhân, đồng thời dám sống và hành động “ngược đời”
như Ngài. Chúa là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời. Amen.
Khi hôn chân Chúa bạn nghĩ
về điều gì?
G.
Tuấn Anh
Mùa Chay-Phục Sinh của đạo Công giáo có vài nghi thức rất đáng để nghiền ngẫm.
Bao gồm các nghi thức: xức tro, Chúa rửa chân cho các tông đồ, hôn chân Chúa,
thắp nến phục sinh. Trong phạm vi bài này, xin chia sẻ một số ý liên quan tới
nghi thức thứ 3.
Khi hôn chân Chúa, cái quan trọng nhất không nằm ở các chuyển động cơ học:
quỳ, cuối rạp xuống, chạm môi vào chân Chúa, đứng lên mà nằm ở cái thần, nghĩa
là cái đang diễn ra trong đầu mỗi người trước hành vi hôn chân Ngài. Cái thần
ẩn trong hành vi hôn chân Chúa giúp ta chuyển tình yêu đối với Chúa sang tình
yêu đối với tha nhân, một cách nhẹ nhàng và đúng bản chất.
Những điều gợi ý từ võ đạo
Người ta bảo, cái hồn của võ thuật được nằm trong các bài quyền. Vậy quyền là
gì? Quyền là tổ hợp các động tác công thủ được sắp xếp theo một trình tự khoa
học, được tạo ra nhằm giả lập để giải quyết các tình huống có thể có trong thực
tế. Cao siêu hơn, một bài quyền còn chuyển tải triết lý bên trong: như nhu
thắng cương, ít thắng nhiều, tĩnh chế động, đơn giản hoá giải sự phức tạp...
Thậm chí một bài quyền còn thể hiện cả nhân sinh quan trong nội hàm của nó như
lòng khoan dung, tính quyết liệt-một mất một còn. Triết học và nhân sinh quan
tổng thể của các bài quyền sẽ chuyển tải chữ Đạo trong một môn phái. Nếu quyền
quan trọng như thế, làm thế nào để luyện tốt về quyền. Có một lần may mắn, tôi
có trao đổi với một vị võ sư người Nhật 8 đẳng, phụ trách phần kỹ thuật
Karatedo toàn châu Âu về việc này. Khi ngồi ở bàn hội đồng giám khảo, chấm một
võ sinh đi quyền, người võ sư cần chấm các điểm sau: lực các đòn đánh, tư
thế-kỹ thuật các đòn, độ thẩm mỹ và thần thái khi biểu diễn. Trong đó thần thái
là cái khó chấm nhưng là phần quan trọng nhất của một bài quyền. Thần là gì? Thần
có thể hiểu là thần kinh, chủ yếu là vỏ đại não. Thần cần phải trầm tĩnh, tư
tưởng tập trung, thần phải chuyên nhất, không có tạp niệm. Thần là sự bắt
nguồn, dẫn dắt mọi hành vi của một võ sĩ, thần cho ta biết cần tiến, lui, quay
trái hay phải. Nó chỉ đạo công, thủ, tránh né. Và các thứ này diễn ra bên trong
đầu của người diễn quyền. Đây là phần âm trong một bài quyền và người võ sinh
phải lột tả nó thành dương tính để bộc lộ ra bên ngoài, trong đó chủ yếu là nhờ
ánh mắt. Sự hoảng hốt, lòng kiêu hãnh, tính trầm tư... đều thể hiện qua hình
dáng và màu sắc của mắt. Vậy chấm thần là chấm chủ yếu các thuộc tính liên quan
đến mắt. Nên mắt là cửa số phản ánh những thứ đang diễn ra bên trong cơ thể.
Mắt cũng là giác quan quan trọng nhất trong 6 giác quan thu nhận dữ liệu, thông
tin từ thế giới bên ngoài chuyển về cho bộ não xử lý.
Tóm lại, Thần mang hàm ý diễn đạt ta đang nghĩ về cái gì trước mỗi hành vi
khi diễn quyền. Thần là quan trọng vì nó giúp ta chuyển tiếp các tri thức trong
quyền để giải quyết các tình huống thực tế, không được lập trình từ trước, một
cách ổn thoả.
Cũng vậy, khi hôn chân Chúa, cái quan trọng nhất không nằm ở các chuyển động cơ
học: quỳ, cuối rạp xuống, chạm môi vào chân Chúa, đứng lên mà nằm ở cái thần,
nghĩa là cái đang diễn ra trong đầu mỗi người trước hành vi hôn chân Ngài. Cái
thần ẩn trong hành vi hôn chân Chúa giúp ta chuyển tình yêu đối với Chúa sang
tình yêu đối với tha nhân, một cách nhẹ nhàng và đúng bản chất.
Tại sao là hôn chân?
Hôn là một hành động nhằm biểu đạt tình yêu. Cũng giống như mọi thứ khác, tình
yêu có thật lẫn giả. Và thật bao giờ cũng ít hơn nhiều lần so với giả, hay
những thứ trông gần thật. Trong Tân ước có mô tả về 2 nụ hôn khá tương phản.
Một của Giuda, một của phụ nữ tội lỗi trong Phúc Âm Thánh Luca (7,37)…
Trong khi Giuđa chọn điểm rơi của nụ hôn là má của Thầy để chứng tỏ đang đứng ở
một khoảng cách gần trong quan hệ với Chúa Giêsu thì người phụ nữ tội lỗi lại
chọn chân Thầy để biểu lộ tình yêu nghĩa là bà tự đặt mình ở khoảng cách rất xa
trong quan hệ cả trong tâm hồn. Một nụ hôn của một môn đệ nạp Thầy tiềm ẩn
trong thần thái và một nụ hôn của người đàn bà phàm tục chứng tỏ lòng ăn năn,
quay về được chôn tận cõi lòng. Cùng một nụ hôn-tức cùng hình thức nhưng 2 suy
nghĩ hoàn toàn khác biệt-tức khác về nội dung, nghĩa là khác về thần thái. 2 nụ
hôn này không chỉ khác về vị trí mà quan trọng hơn là ánh mắt toát ra từ 2 nụ
hôn cũng rất khác lạ. Kinh Thánh không mô tả thần thái của 2 gương mặt này
trong khi hôn và chỉ có các võ sư cao đạo mới có thể đo được tình yêu của 2 nụ
hôn này nếu quan sát được đôi mắt. Người võ sư ấy chính là Chúa Giêsu, người
hiểu thấu tâm cang của mọi hành vi, ngay cả khi chúng ta chưa hành động.
Nhằm hiểu thêm vì sao là hôn chân? Chúng ta có thể tham khảo sách Tân ước khi
mô tả Bữa Tiệc Ly, Chúa cũng đã chọn chân để rửa cho các môn đệ. Chân chiếm một
vị trí thấp nhất về mặt cơ thể học, nhằm biểu diễn phần ít đáng được tôn trọng
nhất.
Chọn chân để rửa hay để hôn, người hôn và người rửa nhằm chứng minh tình yêu,
lòng khiêm cung hay sự bất tương xứng trong tình yêu ở cung bậc cao.
Các bức tranh tương phản và tính triết học
Ngồi trong nhà thờ những giây phút như thế này, tự dưng mình so sánh 2 biểu
tượng của 2 tôn giáo lớn: Phật giáo và Công giáo. Trong khi hình tượng Đức Phật
tại các Chùa trông thật thanh thản, tự tại thì hình ảnh của Chúa Giêsu trên
thập tự trông rất đau khổ, ưu phiền. Vậy mà của gia bảo Ngài thường ban cho
các Kitô hữu lại là sự bình an, hoàn toàn tương phản với cái hình tướng thuộc
biểu trưng của cây thánh giá. Mình ngẫm nghĩ mãi cái hàm ý gì mà Chúa Giêsu
đang muốn truyền tải qua sự mâu thuẫn thật khủng khiếp?
Rồi buổi tối Thứ Sáu Tuần Thánh, chợt nhận ra cái ẩn ý bị che khuất này:
trong tận cùng của đau khổ mà ta vẫn thấy sự bình an. Đây mới thật sự là cảnh
giới của bình an, nghĩa là thấy cả bình an trong giông bão, bình an trong thánh
giá, chứ không phải đi tìm bình an trong tĩnh lặng.
Các đoạn Tin Mừng trong những ngày này mô tả Chúa chịu nạn, đã vẽ các bức tranh
đầy tương phản và các bài học đậm tính triết qua những bức tranh này thật hấp
dẫn.
Suốt 3 năm rao giảng, Ngài chỉ chọn 12 tông đồ, 12 học trò đời thứ nhất, vậy mà
một trong số đó đã nạp Ngài vì 30 đồng bạc - một thứ tiêu biểu cho “nước” trần
gian - trong khi Ngài đang rao giảng về Nước Trời, nơi rất xa lạ với tiền của.
Người học trò được Ngài chọn là trưởng tràng, dễ dàng từ chối Thầy ngay phút
giây đầu tiên khi bị thử thách, mà người thử thách chỉ là một tớ gái, và không
chỉ 1 lần mà chối đến 3 lần. Trong khi Ngài vừa mới nhắc lại tình yêu thương
giữa thầy trò trong bữa tiệc ly hôm trước.
Khi vác thánh giá lên đồi Gongotha và chịu chết ở đó, 12 người học trò mà Ngài
ra sức dạy dỗ, yêu thương, chúng ta chỉ tìm thấy Thánh Gioan, trong khi đó Ngài
truyền rằng có 2 điều quan trọng nhất trong đạo của Ngài: mến Chúa và yêu
người.
Chúa Cha đã đưa người Con của mình nhập thế để cứu chuộc tội lỗi vậy mà Ngài
được treo lên và chết cùng với 2 tên trộm cướp - một loại tội ác điển hình. Cái
chết của Chúa cũng bắt nguồn từ các tội lỗi là những hận thù, các đanh ác của
nhân loại.
Thủ phạm trong cuộc hành quyết Chúa Giêsu chính là con người, loại thụ tạo mà
Thiên Chúa đã tạo dựng giống hình ảnh Ngài. Một dân tộc mà Thiên Chúa chọn cũng
chính là dân tộc treo Ngài lên thập tự với những lời hò reo “đóng đinh nó đi”.
Dẫn dắt câu chuyện đến các nút thắt của sự mẫu thuẫn và trình bày cách giải
quyết các mẫu thuẫn rất dễ làm người đọc cuốn hút. Một vài mẫu chuyện cần giải
quyết mâu thuẫn 1-1 ta cũng thấy trong Tân ước: đoạn người đàn bà ngoại tình bị
ném đá, đoạn yêu cầu Chúa Giêsu đóng thuế, đoạn Chúa Giêsu bị cám đỗ.
Trong Tây du ký, có đoạn mô tả tình huống mâu thuẫn hấp dẫn sau: Tổ sư
yêu cầu Tề Thiên đi đổ chén đờm của Tổ vào chỗ “không phải trời không phải
đất”. Quá mâu thuẫn. Tề Thiên nghĩ tới, nghĩ lui rồi đổ vào luôn trong miệng.
Giải quyết câu hỏi hóc xương này, Tề Thiên liền được Thầy đặt tên là Ngộ Không
(ngộ nghĩa là nhận biết).
Đưa các bức tranh, màu sắc tương phản nhau, có phải chính Chúa đã dạy cho ta
một bài học cao thâm: khi giải quyết được các mâu thuẫn đỉnh điểm này, chúng ta
sẽ vượt qua ranh giới của sự tầm thường để đạt tới một cảnh giới khác cao hơn
mà bình an là một trường hợp.
Một năm chúng ta hôn chân Chúa bao nhiêu lần?
Nếu xem cử chỉ hôn chân Chúa là cách biểu lộ tình yêu của ta với Chúa Giêsu,
với thánh giá mà Ngài đang gánh chịu, vậy một năm chúng ta chỉ cần hôn chân
Chúa một lần sao? Hãy cứ đếm các lần chúng ta đã hôn chân ấy cả hình thức lẫn
nội dung. Và nếu nói rằng chúng ta yêu Ngài, thì biểu hiện của tình yêu đích
thực với Ngài là gì?
Trước ngày chịu nạn, Ngài đã rửa chân cho các môn đệ và truyền dạy tôn chỉ các
con hãy yêu thương nhau. Trong môt đoạn khác trong Tân ước, Chúa bảo chỉ có 2
điều quan trọng nhất - “yêu Chúa và yêu người”. Trên cây thập tự, trong khi
đang chịu cực hình về cả thể xác lẫn tinh thần Ngài vẫn cầu xin với Chúa Cha
hãy tha cho họ vì họ chẳng biết việc họ làm. Yêu thương đến thế là cùng. Đúng
là, không có tình yêu nào lớn bằng tình yêu của kẻ thí mạng sống vì người mình
yêu.
Vậy khi bảo rằng ta yêu mến Chúa, thì có nghĩa chúng ta cần nhớ lại lời đầu
tiên của Kinh Hoà Bình “lạy Chúa xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa
trong mọi người”.
Vấn đề đặt ra: Lấy gì để bảo chứng tình yêu của ta với Chúa là đáng tin cậy?
Có một phương pháp trong lĩnh vực công nghệ phầm mềm mà ta có thể áp dụng. Muốn
chứng minh chất lượng của tình yêu, tình yêu ấy phải trải qua các cuộc thử
nghiệm với các mẫu dữ liệu sau đây:
1. Dữ liệu kiểm chứng phải đủ lớn: nghĩa là chúng ta có thể liệt kê số lần mà
ta yêu Ngài là không đếm xuể.
2. Dữ liệu kiểm chứng phải khá đặc biệt: nghĩa là thay vì chỉ yêu người nghèo,
ta còn phải yêu cả kẻ đói nhưng mang đầy mầm bệnh hiểm nghèo lây lan như HIV,
lại còn là người côi cút, thậm chí trước đây chính họ đã hãm hại chính chúng
ta.
3. Dữ liệu phải vét cạn hết mọi khả năng: nghĩa là các mẫu người có thể tồn tại
trên thế giới này đều được đem ra để thử tình yêu của chúng ta với tất cả hình
thể muôn màu muôn vẻ, mọi nơi, mọi lúc.
Mẹ Terasa là một trong các Chân phước hiện đại đã thoả các mẫu dữ liệu kiểm
chứng trên. Thật ra trong hành trình tăng trưởng đức tin tình yêu với Thiên
Chúa, đức tin ấy cần trải qua các cung bậc từ thấp đến cao. Phương pháp kiểm
định trên chỉ phù hợp cho thứ bậc cao nhất. Các thứ bậc khác được sắp xếp để
bước trước là tiệm tiến của bước ở mức cao hơn và thường được trưởng thành
trong thử thách và cầu xin.
Hôn chỉ là một biểu trưng về hình tính của tình yêu, thật ra chúng ta luôn
phấn đấu để tình yêu ấy không chỉ dừng ở biểu hiện bề ngoài mà nó phải thường
trú mãi mãi tận trong tâm, để mỗi suy nghĩ, mỗi lời nói, mỗi hành vi của chúng
ta đều xuất phát từ 2 chữ tình yêu. Đạt được như thế nghĩa là chúng ta tin rằng
Chúa luôn luôn ngự trì trong tâm trí mình.
Nhưng phận người vốn mỏng dòn, yếu đuối và nhiều tội lỗi nên chúng ta cần liên
lũy khiêm tốn cầu xin sức mạnh của Ngài đổ xuống và nâng đở ta từng tíc tắc
trong cả đời sống. Lạy Chúa, xin cho chúng con biết hôn chân Chúa từng giây,
từng phút trong cuộc đời con.