Bài số 17: Mạt-Na – Nhận diện mạng căn và ý căn
Ngày:
17/11/2019
Người
giảng: Thầy Chân Pháp Khâm
Bài giảng bắt đầu với vai trò điều hợp của hệ thần
kinh trung ương đối với các hệ cơ thể khác của con người. Cái mà chúng ta gọi là
não bộ (brain) đơn giản là những tế bào có vai trò ứng phó với những thay đổi
trong môi trường để cho cơ thể đó có khả năng sống sót tối đa. Các loài cây cỏ,
cá, ếch nhái, bò sát, chim, loài có vú và con người…. đều có não bộ.
Cá mập là loại động vật có mặt cách đây khoảng 500 triệu năm. Nó có thể ngửi mùi
máu từ một giọt máu rất nhỏ cách xa cả mấy cây số. Mới đầu thì não bộ của các loài
vật này chỉ có tính cách duy trì sự sống và điều hợp những sinh hoạt sống căn bản
nhất như thở, đi tiêu tiểu, ngủ, sinh hoạt tình dục ….. Não bộ này được gọi là não
bộ bò sát (reptilian brain). Trong khóa tu mùa đông năm 2013-2014, Thầy Nhất Hạnh
đã đem mạng căn trở lại thành một tâm sở biến hành như là trong Abhidharma của
Theravada . Theo tìm hiểu của thầy Pháp Khâm, thì hai bộ phận có tên là thẻ lưới
(recicular formation) và vùng dưới đồi (hyphothalamus) thuộc não bộ bò sát này thực
hiện những việc mà mạng căn mô tả.
Khi não bộ tiến hóa cho đến cách đây 50 triệu năm, thì những cấu trúc của não bộ
không chỉ thích ứng với những nhu cầu của sự sống còn mà còn thích ứng với những
cảm xúc được tạo ra do sự tiếp xúc của năm giác quan để tạo nên bộ phận não bộ bờ
vòng (limbic system). Khi tiếp xúc với các chất kích thích (như ánh sáng, âm
thanh, mùi vị, xúc chạm) thì có khuynh hướng chạy theo lạc thú và trốn tránh khổ
đau. Mạt na cũng là thức mà cũng là một bộ phận cơ thể. Theo tìm hiểu của thầy
Pháp Khâm, thì phần não bộ bờ vòng này làm những việc mà mạt-na mô tả, trong đó
có hạnh nhân (amygdala) đóng vai trò chủ yếu trong việc điều hợp các sinh hoạt
liên quan đến cảm xúc.
Khi Bụt và chư tổ Duy Biểu dạy về cách vận hành của tâm, thì các ngành khoa học thần kinh, tế bào học, sinh học như thời hiện đại chưa có. Thầy Nhất Hạnh nhắc nhở là học Duy Biểu bây giờ cần phải sử dụng kiến thức của các ngành trên để việc học Duy Biểu được rõ ràng và có thể phát triển thêm.
______________________________________________________