Tú Gàn
Làm chính trị lãng mạng
Trong số 6 nhân vật được nhà cầm quyền Hà Nội phóng thích vào dịp Tết
Con Gà vừa qua, Giáo sư Nguyễn Đình Huy được coi là một nhà hoạt động
chính trị chuyên nghiệp. Ông là một đảng viên kỳ cựu của Đại Việt Quốc
Dân Đảng và là lãnh tụ của nhóm Tân Đại Việt. Ông đã hoạt động chính
trị trên dưới 50 năm, trong đó có 32 năm ở tù: 3 dưới chế độ Đệ I Cộng
Hòa và 29 năm dưới chế độ cộng sản. Nhìn lại cách suy tư và và hành
động của ông và nhóm ông, chúng ta có thể hiểu được tại sao miền Nam
Việt Nam đã bị mất một cách quá nhanh chóng và tại sao các nỗ lực
chống cộng của người Việt quốc gia gần như đã thất bại. Từ đó, chúng
ta có thể rút ra những bài học hữu ích cho các thế hệ mai sau. Nói
theo kiểu của Nguyễn Thái Học: “Không thành công thì thành nhân”!
VÀI NÉT VỀ NGUYỄN ĐÌNH HUY
Giáo sư Nguyễn Đình Huy sinh tại Ninh Bình năm 1932, con một nhà giáo.
Lúc nhỏ ông học ở Nghĩa Hưng và Nam Định, rồi sau đó học ở Hà Nội. Năm
1946, cũng như nhiều gia đình khác thời đó, gia đình ông cũng phải đi
tản cư theo lệnh của Việt Minh. Năm 1947, sau khi Pháp bình định đồng
bằng miền Bắc, gia đình ông trở lại Hà Nội và ông đi học lại, sau đó
ông được kết nạp vào Đại Việt Quốc Dân Đảng và tham gia Đội Võ Trang
Tuyên Truyền của Đại Việt. Ông cho biết sở dĩ ông gia nhập đảng này vì
đọc các cuốn “Một vấn đề tối quan hệ cho người chiến sĩ Việt Nam:
tranh đấu cho dân tộc hay giai cấp?” và tuyển tập “Thử đặt nền tảng
cho một chủ nghĩa quốc gia khoa học” của Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy.
Như chúng ta đã biết Đại Việt Quốc Dân Đảng do các ông Nguyễn Tiến Hỷ,
Trương Tử Anh, Trương Bá Hoành, Nguyễn Tôn Hoàn, Võ Văn Hải, Nguyễn
Duy Sinh và một số cán bộ Việt Nam Quốc Dân Đảng thành lập năm 1939.
Trương Tử Anh đã được bầu làm Đảng Trưởng đầu tiên. Mục tiêu của đảng
là chống Pháp giành độc lập và xây dựng một chế độ cộng hòa.
Năm 1954, khi tình hình đến giai đoạn quyết định, các lãnh tụ Đại Việt
đã vận động ráo riết để được Mỹ và Pháp trao cho nắm chính quyền,
nhưng Bảo Đại lại trao cho ông Ngô Đình Diệm. Đại Việt gần như không
có ghế nào. Năm 1955, ông Diệm muốn thống nhất quân đội quốc gia, các
giáo phái quyết định chống lại để bảo vệ quyền lợi của họ. Nhân cơ hội
này, Đại Việt cũng đã thành lập 3 chiến khu để chống lại chính phủ Ngô
Đình Diệm: một tại Ba Lòng ở Quảng Trị, một tại vùng Đèo Cả ở Phú Yên
và một ở Châu Đốc. Lúc đó tại miền Nam, Đại Việt có một Đại Đội Võ
Trang Tuyên Truyền đưa từ Bắc vào. Đại Đội này do Nguyễn Văn Sinh tự
là Mười Mén làm Đại Đội Trưởng còn Nguyễn Đình Huy làm Đại Đội Phó.
Đại Việt ra lệnh cho đại đội này vào lập chiến khu ở vùng Núi Cấm và
Núi Voi trong vùng Thất Sơn để hợp với lực lượng của Ba Cụt chống lại
ông Diệm. Nhưng ngày 29.10.1955, chính phủ Ngô Đình Diệm đã ra lệnh mở
cuộc hành quân “Đinh Tiên Hoàng” bình định vùng này, tàn quân của Ba
Cụt ra hàng. Nguyễn Văn Sinh bị lính của Ba Cụt hạ sát. Ngày
19.11.1955 Nguyễn Đình Huy cũng đã ra hàng và bị bắt. Ông bị giam đến
năm 1959 mới được phóng thích.
Nguyễn Đình Huy cho biết sau khi ra tù ông đi viết báo và dạy học,
nhưng không cho biết ông học tới đâu, dạy ở trường nào và viết cho báo
nào.
Khi chế độ Ngô Đình Diệm bị CIA thuê các tướng lãnh Việt Nam lật đổ,
chính quyền nằm trong tay quân nhân, ba lãnh tụ Đại Việt đã tham gia
chính phủ Nguyễn Khánh là Nguyễn Tôn Hoàn, Phan Huy Quát và Hà Thúc
Ký. Nhưng vì có sự bất đồng về phân chia quyền hành, nhóm Đại Việt
Nguyễn Tôn Hoàn đã tổ chức đảo chánh lật đổ Nguyễn Khánh để lên nắm
chính quyền, nhưng bị thất bại thê thảm, Đại Việt đã bị bể làm ba.
Ngày 14.11,1964 nhóm Nguyễn Ngọc Huy, Lê Văn Hiệp, Phạm Thái (Nguyễn
Ngọc Tân), Lê Quốc Hưng, Nguyễn Văn Tại, v.v., đứng ra thành lập đảng
Tân Đại Việt, tách khỏi nhóm Nguyễn Tôn Hoàn. Ngày 20.4.1969, Đảng này
thành lập Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến do Giáo sư Nguyễn Văn Bông làm
Chủ Tịch và Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy làm Tổng Thư Ký, đặt trụ sở ở 164
Phan Đình Phùng, Saigon. Tổ chức này quy tụ được nhiều thành viên tốt
nghiệp trường Quốc Gia Hành Chánh, vốn là học trò cũ của GS. Bông và
GS. Huy. Trong đảng Tân Đại Việt, Nguyễn Ngọc Huy làm Tổng Bí Thư, còn
Nguyễn Đình Huy làm Phó Tổng Bí Thư. Trong Phong Trào Cấp Tiến, Nguyễn
Đình Huy là thành viên Chủ Tịch Đoàn đồng thời là Phó Chủ Nhiệm.
Ngày 25.12.1965, nhóm Đại Việt miền Trung của Hà Thúc Ký, Hoàng Xuân
Tửu, Lê Đình Cai, Nguyễn Văn Kim, Tôn Thất Tế... đã cùng với nhóm Phạm
Nam Sách, Trần Việt Sơn, Nguyễn Văn Ngãi họp tại Saigon và cho ra đời
một hệ phái Đại Việt khác lấy tên là Đại Việt Cách Mạng, do ông Hà
Thúc Ký làm Đảng Trưởng.
Sau khi Cộng Sản chiếm miền Nam, ngày 15.6.1975, Nguyễn Đình Huy phải
đi học tập cải tạo và đến ngày 16.1.1992, tức 17 năm sau, mới được
phóng thích.
Trong khi đó Nguyễn Ngọc Huy chạy thoát được ra hải ngoại và năm 1981
ông đã thành lâp “Liên Minh Dân Chủ Việt Nam’’ (LMDCVN) như một thứ
Tân Đại Việt hải ngoại. Năm 1986, ông lại thành lập Ủy Ban Quốc Tế Yểm
Trợ Việt Nam Tự Do.
Ngày 28.5.1988, ba hệ phái Đại Việt nói trên đã họp tại San José,
quyết định thống nhất Đại Việt Quốc Dân Đảng, nhưng không thành. Ngày
28.7.1990 Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy qua đời tại Paris. Cao Minh Châu,
một trong những người thân tín của Nguyễn Ngọc Huy, tạm thời thay
thế.
QUYẾT ĐỊNH “CHỚP THỜI CƠ”
Khi Giáo sư Nguyễn Đình Huy được phóng thích thì chế độ cộng sản ở
Liên Sô và Đông Âu vừa sụp đổ. Nhóm LMDCVN ở hải ngoại tin rằng sau
các chế độ cộng sản Đông Âu sẽ đến lượt chề độ cộng sản Việt Nam, nên
quyết định “chớp thời cơ”.
1.- Phục hồi Tân Đại Việt trong nước: Ngay sau khi Nguyễn Đình Huy vừa
được phóng thích, Cao Minh Châu đã cử một người tên Nguyễn về Việt Nam
gặp Nguyễn Đình Huy, thông báo cho ông biết anh em ở hải ngoại đã
quyết định cử ông làm Đảng Trưởng đảng Tân Đại Việt thay Nguyễn Ngọc
Huy và muốn ông phực hồi lại đảng này ở trong nước để vận động “giải
thể chế độ cộng sản”.
Ngày 16/7/1992, Nguyễn Đình Huy đã tổ chức một cuộc họp tại Sai Gòn và
tuyên bố thành lập một tổ chức mới có tên là “Phong trào thống nhất
dân tộc và xây dựng dân chủ’’ (Phong Trào TNDT & XDDC). Phong Prào có
một “Hội Đồng Chỉ Đạo” gồm 5 thành viên sau đây: Nguyễn Đình Huy làm
Chủ tịch, Nguyễn Ngọc Tân và Phạm Tường làm Phó Chủ tịch, Nguyễn Văn
Hữu và Đồng Tuy làm Uỷ viên. Về sau Nguyễn Đình Huy cải tổ “Hội Đồng
Chỉ Đạo’’ thành “Hội Đồng Chỉ Đạo Lâm Thời’’ gồm 7 thành viên như sau:
Chủ tịch: Nguyễn Đình Huy; Phó Chủ tịch: Nguyễn Ngọc Tân và Phạm
Tường; Tổng thư ký: Bùi Kim Đính; Các Uỷ viên: Đồng Tuy, Nguyễn Văn
Hữu và Hoàng Văn Khải.
Nguyễn Đình Huy đã cho soạn thảo “Cương Lĩnh Chính Trị” và bản “Tuyên
Ngôn” của Phong Trào rồi in ra phổ biến.
Điều đáng ngạc nhiên là mặc dầu đang sống dưới chế độ cộng sản, Phong
Trào TNDT & XDDC của Nguyễn Đình Huy đã hoạt động gần như công khai.
Phong Trào đặt trụ sở ở đường Nguyễn Tri Phương và cho người đi vận
động để kết nạp đoàn viên và thành lập các chi bộ của Phong Trào ở
nhiều tỉnh và thành phố trong nước, đồng thời cho phổ biến rộng rãi
các tuyên ngôn tuyên cáo của Phong Trào khắp nơi, trong nước cũng như
ở hải ngoại. Vì thế, các tổ chức chống cộng ở hải ngoại đã nghi ngờ
Phong Trào này muốn “hòa hợp hòa giải” với Cộng Sản hay làm “đối lập
cuội” cho Hà Nội.
Chỉ trong một thời gian ngắn, Phong Trào đã xây dựng được cơ sở ở 15
tỉnh và thành phố. Phong Trào đã lôi kéo được khá nhiều cựu quân nhân
và công chức chề độ cũ đi theo vì tin rằng “thời cơ đã đến rồi”. Trong
danh sách những người tham gia, chúng ta thấy có Nguyễn Chí Vi, Nguyễn
Văn Biên, Nguyễn Văn Châu, Đỗ Khanh, Phạm Duy Tuệ, Nguyễn Quốc
Thụy...
Trong một cuộc phỏng vấn của Chử Bá Anh ngày 30.10.1993, được đăng
trên báo Phụ Nữ Diễn Đàn số 118, tháng 11 năm 1993, ông Nguyễn Đình
Huy đã giải thích về chuyện lạ đó.
CBA: Dưới sự kiểm soát theo dõi một người tù chính trị quan trọng vừa
ra khỏi trại giam như ông, của màng lưới công an cộng sản, ông có thể
móc nối được ngay với các cán bộ của ông để thành lập một tổ chức đối
lập?
NĐH: Được chứ! Bởi vì công việc này tôi đã thai nghén từ cả chục năm
nay rồi ông ạ!
CBA: Như vậy dưới một chế độ nổi tiếng kềm kẹp công an trị của cộng
sản Hà Nội, với một hệ thống công an nhân dân, công an phường khóm,
không bỏ qua một hành động chính trị đối lập nào, mà ông vẫn có thể
liên lạc với các cán bộ của ông như vậy?
NĐH: Tôi biết tất cả những điều đó chứ. Nhưng tôi biết cách làm. Tôi
biết cách làm để có thể đưa đến thành công.
CBA: Điều mà tôi vẫn thắc mắc là ưu điểm của guồng máy chính quyền
cộng sản Hà Nội hiện tại là lực lượng công an, hệ thống này làm việc
rất chặt chẽ, vậy làm sao ông có thể liên lạc một cách dễ dàng như vậy
được?
NĐH: Mình phải hiểu nhu cầu của họ chứ. Nhu cầu của họ lúc này là muốn
cho thế giới bên ngoài biết được trong nước có thể có dân chủ. Ví dụ
như cuộc phỏng vấn của ông với tôi, nếu người ta cản thì làm sao xảy
ra được? Vì vậy mình phải biết lợi dụng cái nhu cầu của người ta để
mình làm công việc của mình, và công việc đó phải nằm trong lợi ích
chung của cả dân tộc.
CBA: Theo ông nói như thế, tức là guồng máy kiểm soát của công an cộng
sản Hà Nội bây giờ không còn như xưa nữa hay sao?
NĐH: Đúng như vậy. Những việc làm của tôi hiện nay họ đều biết cả.
Cuộc điện đàm này, có thể họ cũng đang nghe đấy.
CBA: Nếu họ đang nghe câu chuyện đối thoại giữa tôi và ông liệu ông có
gặp khó khăn gì không?
NĐH: Tôi thấy không sao hết. Bởi vì thứ nhứt là tôi không sợ, mà không
sợ thì đã là một sức mạnh. Rồi tôi có niềm tin, công việc của tôi là
một công việc có ý nghĩa, lợi ích cho đất nước. Công việc của tôi cứu
luôn cả họ nữa mà, vì vậy làm sao mà họ lại có thể cản trở tôi được,
mà dù họ có cản trở tôi, tôi cũng không sợ, bởi vì cùng lắm là cái
chết mà tôi cũng không sợ, thì còn điều gì phải sợ nữa!
2.- Tổ chức tại hải ngoại: Sau khi Nguyễn Đình Huy cho thành lập Phong
Trào TNDT & XDDC ở trong nước, Cao Minh Châu và nhóm LMDCVN cho thành
lập ngay tổ chức này tại hải ngoại.
Ngày 11/12/1992, với sự giúp đỡ của Giáo sư Stephen B. Young, nhóm đã
tổ chức ra mắt Phong Trào tại phòng hội của Hạ Viện Hoa Kỳ ở
Washington. Sau đó Phong Trào đã được chính thức thành lập tại Hoa Kỳ
ngày 11.12.1992 do Cao Minh Châu phụ trách, Úc ngày 20.2.1993 do
Trương Minh Hoàng phụ trách, Canada vào tháng 5/1993 và Anh vào tháng
9/1993.
Nhóm LMVNTD gọi cơ cấu tổ chức của họ lúc đó là “Phương trình Nguyễn
Ngọc Huy” gồm ba mặt trận như sau:
- Mặt trận quốc nội: Phong Trào Thống Nhứt Dân Tộc và Xây Dựng Dân Chủ
do Giáo sư Nguyễn Đình Huy lãnh đạo, đối đầu trực tiếp với Cộng sản
ngay tại quê nhà, có nhiệm vụ vận động chuyển từ độc đảng độc tài sang
tự do dân chủ Hiến định và Pháp trị.
- Mặt trận hải ngoại: Liên Minh Dân Chủ Việt Nam, có nhiệm vụ yểm trợ
cho PTTNDT & XDDC ở trong nước, “dùng Dân sinh làm thế dựa, Nhân quyền
làm vũ khí, và đòi Tự do Tôn giáo, Tự do Ngôn luận... làm áp lực với
CSVN.”
- Vận động quốc tế: Ủy Ban Quốc Tế Yểm Trợ Việt Nam Tự Do có nhiệm vụ
yểm trợ tiến trình dân chủ tại Việt Nam, khởi đi từ Bỉ quốc rồi trải
rộng khắp Âu châu, sang Mỹ, Canada, Úc và toàn thế giới, đẩy Cộng Sản
Việt Nam lùi mau theo “Diễn biến Hòa bình”.
KẾ HOẠCH SÁU TẤM
Giáo sư Stephen B. Young đã yểm trợ mạnh mẻ các hoạt động của nhóm
LMDCVN và Phong Trào TNDT & XDDC. Sau khi vào Việt Nam gặp và bàn luận
với Giáo sư Nguyễn Đình Huy, ông đã viết một bài dưới đầu đề
“Vietnam’s turn” (Đến lượt Việt Nam) đăng trên tờ Washington Post số
ra ngày 13/7/1993 đưa ra những sự kiện cho thấy sắp có những thay đổi
quan trọng ở Việt Nam và một đề án giúp cho sự chuyển đổi này được tốt
đẹp.
Giáo sư Stephen B. Young là một nhân vật có thế giá tại Hoa Kỳ. Ông là
Phụ Tá Viện Trưởng Trường Đại Học Luật Khoa Harvard, Viện Trưởng và
Giáo sư Trường Đại Học Luật Khoa Hamline, Giáo sư Trường Đại Học
Minnesota và Minnesota State University. Ông đã viết rất nhiều bài
khảo cứu về chính trị, luật và lịch sử trên các báo The New York
Times, The Wall Street Journal, The Washington Post và The Star
Tribune. Ông cũng là người sáng lập và là Chủ Tịch “Center of the
American Experiment” và chủ tọa nhiều cuộc thảo luận về toàn cầu hóa
(globalization)... Thế nhưng khi đọc “Đề án dân chủ hóa Việt Nam” của
ông, chúng ta đều thất vọng. Đại lược, đề án gồm 6 giai đoạn như sau:
Giai đoạn 1: Thực hiện vào Tết Nguyên Đán 1996: Thả tất cả những người
bị giữ vì tin tưởng và hoạt động chính trị hay tôn giáo.
Hội Đồng Thống Nhất Dân Tộc sẽ thảo luận về số phận của Việt Nam và
tương lai của Việt Nam. Chủ Tịch Đoàn của các cuộc thảo luận này gồm
có Lê Quang Đạo và “một số nhân vật nổi tiếng” như Trần Văn Lắm, Đỗ
Mậu và cụ Năm Liểu. Mặt Trận Tổ Quốc đứng ra bảo trợ cuộc thảo luận
này.
Giai đoạn 2: Giải quyết trong Đại Hội Đảng Cộng Sản Việt Nam kỳ VIII.
Đại Hội sẽ biểu quyết chấp thuận các điểm sau đây:
1.- Thay đổi tên Đảng Cộng Sản thành Đảng Công Nông Việt Nam và đưa ra
kế hoạch “Đoàn Kết và Thắng Lợi” (Unity and Success). Đảng đóng vai
trò vận động dân chúng vào việc phát triển kinh tế quốc gia.
2.- Hữu sản hóa nhân dân và đảng viên: Chính quyền cấp giấy cho những
người này được làm chủ các tài sản mà họ đang chiếm hữu như đất đai,
nhà cửa, xe cộ, tàu bè, công ty.
Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Võ Văn Kiệt trở thành Cố Vấn Tối Cao của Đảng.
Đoàn Khuê, Đào Duy Tùng, Nguyễn Đức Bình và Võ Trần Chí từ chức để nắm
chức vụ giám đốc một hay hai cơ sở quốc doanh.
Giai đoạn 3: Thực hiện sau Đại Hội Đảng kỳ VIII: Hình thành các tổ
chức sau đây:
1.- Thành lập nhiều Khối (Groups) khác nhau được tổ chức và điều hành
bất bạo động để đưa ra các ý kiến cứu quốc, chẳng hạn như: Khối Dân
Chủ Xã Hội của những người như Nguyễn Hộ, Khối Thống Nhất Dân Tộc và
Xây Dựng Dân Chủ của nhóm Nguyễn Đình Huy, và những khối do các lãnh
tụ khác thành lập. Các Khối này không phải là đảng phái chính trị.
2.- Thành lập các Câu Lạc Bộ để trình bày các ý kiến khác nhau về
chính trị và văn hóa. Các Câu Lạc Bộ này cũng không phải là các đảng
phái chính trị.
3.- Thành lập các tổ chức thờ phụng của các tôn giáo cho những người
cùng đạo. Các tổ chức này không làm chính trị, chỉ hổ trợ cho các dịch
vụ xã hội và giáo dục.
Các Khối và các Câu Lạc Bộ nói trên sẽ gia nhập Mặt Trận Tổ Quốc, còn
các tổ chức thuộc các tôn giáo thì gia nhập Mặt Trận Thống Nhất Dân
Tộc.
Giai đoạn 4: Thực hiện trong năm 1996: Tách các lực lượng công an ra
khỏi tổ chức của Đảng và thành lập một chính phủ mới trong đó có 1/4
các thành phần không cộng sản.
Giai đoạn 5: Thực hiện trong năm 1997 năm việc sau đây:
1.- Tổ chức bầu cử Hội Đồng Xã và Hội Đồng Thành Phố. Mặt Trận Tổ Quốc
giới thiệu các ứng cử viên thuộc Đảng Cộng Sản, các Khối hay các Câu
Lạc Bộ. Đảng Cộng Sản cũng có thể đưa ứng cử viên ra ứng cử. Số ứng cử
viên của các Khối và Câu Lạc Bộ không được quá 20% tổng số ghế.
2.- Trong và sau thời gian bầu cử, quyền tự do báo chí và quyền tự do
tôn giáo được công nhận, trừ trường hợp bảo vệ an ninh quốc gia và
đoàn kết xã hội.
3.- Các sĩ quan quân đội và các thẩm phán phải ra khỏi Đảng Cộng Sản.
Đảng không được mang ai ra xét xử trừ khi vi phạm các luật thành văn.
4.- Những người đã tham gia Phong Trào Việt Minh chống Pháp phải ra
khỏi Đảng, từ chức trong chính quyền, về hưu và được trả tiền hưu
dưỡng.
5.- Các sơ sở quốc doanh được tư nhân hóa.
Giai đoạn 6: Thực hiện trong năm 1998: Tổ chức bầu cử Quốc Hội gồm các
thành phần của Đảng Cộng Sản, của các Khối và các Câu Lạc Bộ. Các
thành phần này do Mặt Trận Tổ Quốc giới thiệu. Mỗi ghế phải có ít nhất
2 ứng cử viên của hai tổ chức khác nhau ra tranh cử.
Sau bầu cử, Quốc Hội sẽ sửa đổi Hiến Pháp, chấp nhận chế độ đa đảng.
Các Khối và các Câu Lạc Bộ có thể trở thành đảng chính trị nếu muốn.
Mặt Trận Tổ Quốc không còn được quyền giới thiệu các ứng cử viên. Các
vụ truy tố phải do Bồi Thẩm Đoàn xét xử (bắt chước Mỹ).
Với đề án này, “Phong trào thống nhất dân tộc và xây dựng dân chủ’’ sẽ
trở thành một tổ chức chính trị đối lập cùng tồn tại với Đảng Cộng Sản
Việt Nam, tham gia chánh quyền từ cấp cơ sở đến trung ương, tiến tới
thay đổi hiến pháp, lật đổ Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt
Nam, thiết lập ‘’Nhà Nước Việt Nam Cộng Hòa’’.
Lúc đó chúng tôi đã gọi “Đề án dân chủ hóa Việt Nam” của Giáo sư
Stephen B. Young là “Kế hoạch sáu tấm”, gồm 4 tấm dài và 2 tấm ngắn,
được dùng để đưa Việt Nam Cộng Hóa nối dài về nơi an nghỉ cuối
cùng...
VÕ KHÍ TẤN CÔNG: “ĐẠI PHẢN TĨNH”!
Trong khi đó, Phong Trào TNDT & XDDC của Nguyễn Đình Huy đưa ra phương
án “Đại phản tỉnh” như là một thứ võ khi đấu tranh nhằm “giải thể chế
độ cộng sản” ở trong nước. Bản Tuyên ngôn của Phong Trào viết rất rõ:
"Chỉ có một cuộc Đại Phản Tỉnh thật sự để đi đến thống nhất trên lập
trường dân tộc dân chủ mới hợp thời, hợp lý, hợp tình, và cứu được dân
tộc đau thương này. Chúng tôi tha thiết kêu gọi toàn thể đồng bào, kể
cả những người cộng sản hãy cùng chúng tôi tham gia vào cuộc Đại Phản
Tỉnh ấy. Chúng tôi tha thiết kêu gọi các tôn giáo, các lực lượng, các
cá nhân có lập trường dân tộc dân chủ hãy ủng h hoặc xiết tay với
chúng tôi trong cuộc vận động lịch sử hiện nay.
“Đại phản tỉnh để ra khỏi nghiệp chướng dày đặc của dân tộc, để ý thức
được tương lai tươi sáng của đất nước, của đồng bào đang ở đâu và đang
đi về đâu, hầu qui tụ được sức mạnh của toàn dân trong công cuộc tái
thiết xứ sở và bảo vệ bờ cõi. Đó là trách nhiệm của mọi người Việt Nam
yêu nước, cả phía bên này lẫn phía bên kia trong cuộc chiến nghiệt ngã
trước đây (dù là cuộc chiến đó do ý thức hay do vô thức của những
người đã tham gia chém giết).
Trong cuộc phỏng vấn của ký giả Nguyễn Vạn Hùng, được đăng trên báo
Thời Luận ở Los Angeles tháng 12/1992, Giáo sư Nguyễn Đình Huy cũng đã
gửi đến toàn thể đồng bào một thông điệp kêu gọi đại phản tỉnh, trong
đó có những đoạn như sau:
"Phản tỉnh toàn dân là một nhu cầu cấp thiết bằng cuộc vận động lịch
sử. Bởi vì những ai có liên hệ trực tiếp hay gián tiếp trong cuộc xung
đột mấy chục năm vừa qua để đưa đất nước này đến tình trạng ngày nay
đều phải phản tỉnh, đều phải kiểm điểm để nhận ra cái đúng cũng như
cái sai của mình. Không ai có quyền tự cho công việc làm của mình hoàn
toàn đúng. Do đó chúng tôi đề ra một cuộc đại phản tỉnh, nghĩa là mỗi
người phải vượt qua khỏi mọi ý thức hệ, giáo điều, phải vượt ra khỏi
mọi mặc cảm tự ty tự tôn, phải bỏ quyền lợi bè phái riêng tư, phải xóa
bỏ hận thù, phải làm việc với tình thương theo nghĩa "Bầu ơi thương
lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn"; "Nhiểu điều
phủ lấy giá gương, người chung một nước phải thương nhau cùng". Đó là
phương châm của cuộc phản tỉnh.
"Về phía người quốc gia chống cộng cũng phải nhìn thấy sự thất bại của
mình và bây giờ cũng cần biến cải trở thành những nhân tố tích cực, ôn
hòa, phải có tinh thần dân chủ, như cố GS Nguyễn Ngọc Huy đã từng nói:
"Bản chất của chế độ dân chủ là phải chấp nhận những thế lực đối kháng
với nền dân chủ và tìm cách thuyết phục nó, chứ không phải tiêu diệt
nó.”
"Đối với những người cộng sản, họ phải thấy cái công và cái tội của
mình. Vì sao mà đất nước đi tới tình trạng ngày nay, nên họ cần phản
tỉnh để có những quyết định thật sáng suốt, phải có những tinh thần
như nhà văn Dương Thu Hương đã nói: "Đảng Cộng sản mà còn biết thương
nhân dân Việt Nam thì phải có những quyết định để đưa đất nước tiến
lên, bất kể những quyết định ấy mang đến hậu quả gì cho Đảng Cộng
Sản.”...
RƠI VÀO CÁI BẨY SẬP!
Khi để cho Phong Trào TNDT & XDDC hoạt động thoải mái ở trong nước,
Công An đã câu được những con mồi có tinh thần chống cộng tích cực
xuất đầu lộ diện vì tưởng “thời cơ đã đến rồi”. Sau khi nắm được danh
sách và tinh thần của từng người, Công An bắt đầu xiết vòng vây.
Vì Phong Trào TNDT & XDDC đã hoạt động với sự đồng ý và giúp đỡ ngầm
của nhà cầm quyền, nên nay muốn dẹp đi cũng cần “giữ đúng lễ” một
chút. Vì thế, vào tháng 4/1993, Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố đã ra lệnh
cho cơ quan công an thành phố lần lượt triệu tập những người lãnh đạo
Phong Trào đến và cho biết việc thành lập tổ chức Phong Trào TNDT &
XDDC là vi phạm pháp luật và phải đình chỉ hoạt động. Dĩ nhiên là
Nguyễn Đình Huy và nhóm của ông coi thường lời cảnh cáo này vì tin
rằng Đảng Cộng Sản VN đang cần sự giúp đỡ của nhóm ông để “giải thể”
một cách tốt đẹp, nên vẫn tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động.
Đỉnh cao hoạt động của Phong Trào là quyết định tổ tổ “Hội thảo quốc
tế về phát triển Việt Nam’’ vào ngày 27/11/1993 tại một khách sạn ở
Sài Gòn dưới sự bảo trợ của Ủy Ban Quốc Tế Yểm Trợ Việt Nam Tự Do và
Liên Minh Dân Chủ Việt Nam. Mục tiêu của cuộc hội thảo được nói là để
giúp ‘’làm cho dân giàu, nước mạnh’’. Ban tổ chức dự trù sẽ có khoảng
30 chánh khách quốc tế từ Âu Châu, Úc Châu, Mỹ Châu và Á Châu đến dự.
Cao Minh Châu đã cử một số cán bộ về nước tham dự, trong đó có Trần
Quang Liêm, Nguyễn Tấn Trí. Hai người này đã mang theo tiền bạc, tài
liệu, máy vi tính, máy in laser... để giúp điều hành cuộc hội thảo một
cách tốt đẹp.
Nhưng 10 ngày trước khi cuộc hội thảo diễn ra, hôm 17/11/1993 Công An
đã bủa lưới và bắt tất cả các thành phần cốt cán của Phong Trào trong
khắp cả nước. Theo bản tin của Công An phổ biến cho báo chí tại Sài
Gòn, họ đã bắt được những tang vật sau đây: Cương lĩnh chính trị,
tuyên ngôn, hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa, diễn văn, lời kêu gọi ‘’phản
tỉnh’’, điều lệ, sơ đồ tổ chức, cờ đảng Tân Đại Việt, cờ hiệu và mẫu
các loại huy hiệu, con dấu của Phong Trào TNDT & XDDC, xe gắn máy, máy
đánh chữ, máy vi tính, máy in laser, máy quay phim, dĩa cứng, dĩa mềm
lưu giữ nhiều tài liệu của Phong Trào...
Ngày 12.8.1995, Toà án nhân dân thành phố đã mở phiên xử những người
liên hệ đến vụ này về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chánh quyền nhân
dân’’, vi phạm điều 38 và 73 Bộ Luật Hình Sự. Tám bị cáo chính đã bị
tuyên phạt từ 4 đến 15 năm tù. Hầu hết các bị cáo đã kháng cáo.
Ngày 27.10.1995, Tòa Phúc Thẩm Tòa Án Nhân Dân Tối Cao ở Sài Gòn đã
tái thẩm và tuyên án như sau: Nguyễn Đình Huy 15 năm tù, Phạm Tường 14
năm tù, Bùi Kim Đính 12 năm tù. Nguyễn Ngọc Tân (tức Phạm Thái) 11 năm
tù, Đồng Tuy 11 năm tù, Nguyễn Văn Biên 08 năm tù, Nguyễn Tấn Trí 07
năm tù và Nguyễn Văn Châu 04 năm tù.
Một số nạn nhân khác liên hệ đến Phong Trào đã bị bắt và bị xét xử tại
địa phương hay bị đưa đi học tập cải tạo, chúng tôi chưa chưa có tài
liệu.
LÀM CHÍNH TRỊ LÃNG MẠNG
Đến năm 1992, Giáo sư Nguyễn Đình Huy ít ra cũng đã có trên 40 tuổi
đảng, tức 40 năm hoạt động chính trị, trong đó có 20 năm vào tù ra
khám. Lúc ở trong các trại tù của Cộng Sản, chắc chắn ông cũng đã gặp
rất nhiều thành phần bị bắt sau 30.4.1975 vì tham gia các tổ chức phục
quốc giả hay kháng chiến giả (theo kiểu Hoàng Việt Cương và Nguyễn Hữu
Chánh) do Việt Cộng lập ra để gài bắt những người có tinh thần chống
cộng còn lại trong nước. Họ đã kể đi kể lại cho chúng ta nghe nhiều
lần những cái bẩy sập mà Cộng Sản đã bung ra để gài bắt họ. Không hiểu
tại sao năm 1992, lúc mới ra tù Nguyễn Đình Huy lại để bị rơi vào cái
bẩy sập của Công An một cách dễ dàng như vậy!
Nói cho cùng, những khiếm khuyết của con người Nguyễn Đình Huy khi làm
chính trị cũng là những khiêm khuyết chung của các lãnh tụ đảng phái
quốc gia. Chính những khiếm khuyết đó đã đưa các đảng phái quốc gia và
các tổ chức chống cộng đến thất bại:
1.- Hiểu biết về Cộng Sản một cách lơ mơ nhưng cứ tưởng mình đã đi
guốc trong bụng chúng nó rồi! Từ Phan Bội Châu, Nguyễn Hải Thần, Vũ
Hồng Khanh, Chu Bá Phượng, Trương Tử Anh, Lý Đông A, Nguyễn Xuân Chữ,
Nguyễn Tường Tam đến Phan Huy Quát, Trần Văn Tuyên, Phạm Thái, Nguyễn
Đình Huy... đều đã bị Cộng Sản đánh lừa một cách thê thảm.
2.- Có tư tưởng chính chính trị và quyết định sai lầm vì thiếu nghiên
cứu và không nắm vững tình hình:
Về tư tưởng, cho đến nay, nhiều người vẫn còn bám chặt thuyết “Tam dân
chủ nghĩa” của Tôn Dật Tiên, thuyết “Duy dân” của Lý Đông A hay “dân
tộc sinh tồn chủ nghĩa” của Trương Tử Anh, mặc dầu các ý niệm đó chưa
hề được hệ thống hóa và xây dựng thành chủ nghĩa như chủ nghĩa cộng
sản và đến nay đã quá lỗi thời rồi.
Trong thế giới ngày nay không ai còn nghĩ rằng phải phát triển quốc
gia theo một chủ thuyết được lựa chọn, trừ một số nước Hồi Giáo. Bây
giờ các nhà chính trị thường dựa vào các dữ kiện thu lượm được để đưa
ra những mục tiêu mà quốc gia phải đạt tới trong 5 năm, 10 năm, 15 năm
hay 20 năm... rồi đưa ra kế hoạch để đạt tới những mục tiêu đó. Khi
đang thực hiện, nếu có những yếu tố mới, sẽ thay đổi kế hoạch cho phù
hợp với tình thế mới. Chỉ có thế thôi.
Về hàng động, các lãnh tụ đảng phái vì thiếu nghiên cứu kỹ càng nên đi
từ sai lầm này đến sai lầm khác. Năm 1945, khi Nhật đầu hành Đồng
Minh, Nguyễn Xuân Tiếu đề nghị phải dựa vào Nhật để cướp chính quyền
ngay, nhưng các lảnh tụ khác lại muốn duy trì giải pháp Bảo Đại nên
ngăn cản. Khi Việt Minh nổi dậy, Lê Khang đòi cướp chính quyền ngay,
đừng để lọt vào tay Việt Minh, nhưng các lãnh tụ khác nói rằng bây giờ
chưa có gì mà đánh nhau, tạo cảnh nồi da xáo thịt, lịch sử sẽ quy tội.
Lê Khang đã phải than: “Các anh vẫn chưa hiểu rõ Việt Minh Cộng Sản là
thế nào cả, huống hồ là dân chúng!”
Đầu thập niên 1990s, khi chế độ cộng sản Liên Sô và Đông Âu vừa sụp
đổ, Nguyễn Đình Huy và nhóm Liên Minh Dân Chủ cũng như Stephen B.
Young không nắm vững tính hình, cứ tưởng sau các nước Đông Âu sẽ đến
Việt Nam, đã nhảy ra “chớp thời cơ”, múa may quay cuồng với hy vọng sẽ
được tiếp nhận chính quyền từ tay Cộng Sản! Phương thức đấu tranh để
“giải thể chế độ cộng sản” được đưa ra lại quá đơn giản: kiêu gọi “Đại
phản tỉnh”!
Các lãnh tụ và một số lý thuyết gia Đại Việt đã lầm lẫn giữa làm tôn
giáo với làm chính trị hay làm cách mạng! Trong khi nhất cử nhất động
của Cộng Sản đều được tính toán kỹ càng và thực hiện với nhiều mưu
lược và thủ đoạn, các lãnh tụ Đại Việt đã kêu gọi “Đại phản tỉnh để ra
khỏi nghiệp chướng dày đặc của dân tộc” và “phải bỏ quyền lợi bè phái
riêng tư, phải xóa bỏ hận thù, phải làm việc với tình thương...”!
Quy vị cứ tưởng tượng coi, bây giờ chúng ta thử nói với Nguyễn Hữu
Chánh rằng “Chú lường gạt có quá nhiều án tích, đồng bào biết hết rồi,
không lừa được ai nữa đâu, hãy phản tỉnh và dẹp cái chính phủ bịp của
chú đi”, liệu Nguyễn Hữu Chánh có nghe lời quý vị không hay vẫn dùng
cái chính phủ bịp đó để tiếp tục lường gạt?
Nguyễn Bửu Thoại đang ôm chặt cái chức Chủ Tịch Tổng Hội SQTB Thủ Đức,
một chức vụ chỉ có hư danh chứ không có thực quyền, nhưng quý vị có
bảo anh ta buông ra được không?
Một chính phủ dỏm hay một chức vụ hữu danh vô thực mà “giải thể” còn
khó như thế, làm sao bảo Đảng Cộng Sản Việt Nam, một tổ chức đang có
quyền lực và quyền lợi trong tay, “tự phản tỉnh” và bỏ đi các quyền
lực và quyền lợi của họ được?
3.- Không có đường lối và chính sách rõ rệt. Mục tiêu chính của các
lãnh tụ đảng phái là cứ tìm cách chiếm được các ghế trong chính quyền
rồi sau đó tùy cơ ứng biến để giữ ghế. Chỉ có thế thôi.
4.- Thiếu tổ chức và kỷ luật chặt chẽ, thiếu huấn luyện về kỹ thuật
đấu tranh, ai cũng là lãnh tụ và ai muốn làm gì thì làm. Nếu có bất
đồng quan điểm thì ly khai và thành lập một hệ phái mới, nhưng hệ phái
nào cũng tự coi mình là chính thống!
Sau khi nhóm Nguyễn Đình Huy bị Cộng Sản dẹp tan, hai nhóm Nguyễn Tôn
Hoàn và Hà Thúc Ký ở hải ngoại mới tính đến chuyện hợp nhất lại. Năm
1994 hai nhóm đã họp và thành lập một Ban Chấp Hành thống nhất, do
Nguyễn Tôn Hoàn và Hà Thúc Ký đồng Chủ Tịch, Nguyễn Văn Canh và Phạm
Đăng Cảnh làm Phó Chủ Tịch, Đỗ Kiến Nhiễu làm Tổng Thư Ký. Tuy nhiên,
sự thống nhất chỉ kéo dài được một thời gian ngắn, sau đó hai hệ phái
lại tách ra và bể thành nhiều mãnh.
Riêng nhóm Tân Đại Việt hoạt động dưới cái tên Liên Minh Dân Chủ Việt
Nam cũng có nhiều bất đồng trong nội bộ. Khi “Đề án dân chủ hóa Việt
Nam” của Stephen B. Young được đưa ra, một nhóm đi theo đường lối của
Stephen Young còn một nhón chống lại đề án này và tự xưng là nhóm
“kiên định lập trường”. Nay Tân Đại Việt cũng chẳng còn gì.
Điều đáng tiếc là các tổ chức đấu tranh mới của người Việt hải ngoại
hiện nay không thấy được các sai lầm của người đi trước, vẫn đi vào
vết xe cũ của các đảng tiền bối:
Đảng Việt Tân, tức Mặt Trận Hoàng Cơ Minh, tuy đã xây dựng được cơ sở
và có một số cán bộ nồng cốt, nhưng vẫn chưa tím ra được hướng đi
trong thập niên đang tới và phương pháp đấu tranh phù hợp với thời đại
mới. Cuối cùng đã chọn giải pháp giản dị là đi “chớp thời cơ” và phô
trương thanh thế dỏm để may ra khi chế độ cộng sản trong nước sụp đổ,
sẽ được Mỹ đưa về lãnh đạo quốc gia như các chính khách Iraq hiện
nay!
Tập Thể Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tuy đã ra mắt rầm rộ, nhưng không
lập được một ban lãnh đạo có tầm vóc, không xây dựng được hệ thống cán
bộ có tâm huyết và khả năng, và không tìm ra được phương thức đấu
tranh mới để hoạt động, đành phải bám vào các hội ái hữu của các đoàn
thể cựu quân nhân ở hải ngoại để sinh tồn, trong khi các hội này đang
ngày càng nát ra như tương Tàu! Một lý thuyết gia về luân lý và quốc
văn giáo khoa thư lớp đồng ấu như Đỗ Thái Nhiên mà được chọn làm
trưởng ban kế hoạch, Tập Thể đi dần về “cõi trên” là chuyện đương
nhiên.
Chúng tôi mong rằng những người có khả năng và thiện chí trong cộng
đồng người Việt hải ngoại biết ngồi lại với nhau, duyết xét lại tiềm
lực và đưa ra những phương thức hoạt động mới, may ra có thể đưa các
cuộc đấu tranh đi lên.
Tú Gàn