hota...@gmail.com
unread,Nov 7, 2013, 9:24:18 AM11/7/13You do not have permission to delete messages in this group
Either email addresses are anonymous for this group or you need the view member email addresses permission to view the original message
to
Địa bàn giao thông tình báo chiến lược.
1.- Địa bàn giao thông Quảng Trị.
2.- Địa bàn giao thông Huế.
3.- Địa bàn giao thông bản lề Đà Nẵng.
4.- Địa bàn giao thông Sài Gòn.
Cán bộ giao thông tình báo chiến lược bị bắt
1.- Tư Đặng: Địa bàn bản lề Đà Nẵng.
2.- Bích: Địa bàn Huế.
3.- Tân: Địa bàn Quảng Trị.
4.- Quí tức Độ: Địa bàn Sài Gòn.
Cục 2 quân báo việt cộng.
(Tổ chức quân báo việt cộng hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa)
Đại Tá Lê Câu: Chỉ huy cục 2 quân báo việt cộng, căn cứ địa đóng tại vùng núi Tỉnh Pleiku, thuộc Cao Nguyên Trung Phần, có một tiểu đội võ trang bảo vệ, có điện đài để liên lạc với cục trưởng, Đại Tá Lê trọng Nghĩa.
Trước 1954, Lê Cầu là Thiếu Tá quân báo phụ trách các lưới quân báo việt cộng hoạt động trong khu vực liên Tỉnh: Bình-Trị-Thiên-Quảng-Đà, tức là các Tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam và Đà Nẵng.
Bị bắt năm 1961 khi y đột xuất từ căn cứ về Sài Gòn để thu thập tài liệu tại nhà Phạm bá Lương, Công Cán Ủy Viên Bộ Ngoại Giao Việt Nam Cộng Hòa thời kỳ ông Vũ Văn Mẫu làm Ngoại Trưởng. Đương sự bị đưa ra Côn Đảo.
Năm 1975 khi việt cộng đã chiếm được miền Nam, các phạm nhân tại Côn Đảo tôn Đại Tá Lê Câu làm chúa đảo. Ủy ban tiếp quản Sài Gòn tổ chức lễ đón chào Đại Tá Lê Câu từ Côn Đảo trở về Sài Gòn rất trọng thể. Trung ương đảng cử Lê Câu giữ chức tổng thanh tra ngành cảnh sát công an. Được ít năm sau Đại Tá Lê Câu bị thất sủng vì cục bảo vệ đảng thẩm tra quá trình lịch sử chính trị của đương sự đã đặt nhiều nghi vấn về y, vì có liên hệ đến ‘’Tù Mật Vụ Ngô Đình Cẩn-Dương Văn Hiếu’’.
Đại Tá Lê Câu đã bị khai trừ khỏi đảng, tước hết quyền lợi, y phải ngồi và lốp xe tại Đường Trần Quốc Toản Sài Gòn và đi buôn củi để kiếm sống.
Cán bộ thuộc cục 2 quân báo bị bắt.
1.- Đại Tá: Lê Câu, chỉ huy cục 2 quân báo miền Nam. (lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa)
2.- Thiếu Tá: Trần quang Tính, Nguyễn văn Thiện, Trương Thành, cựu trưởng ban.
3.- Trung tá: Lê thiên Tào, Nguyễn Tiến, Trần thị Mỹ tức Đinh thị Vân.
4.- Phái khiển: Trần ngọc Hiền, em Trung Tá Việt Nam Cộng Hòa Trần Ngọc Châu, Tỉnh Trưởng Kiến Hòa.
5.- Đại úy: Tạ Hẵn
6.- Thiếu Úy: Lê hữu Thúy, Trưởng Phòng An Ninh Quân Đội (điệp viên)
7.- Đại Úy (VNCH): Nguyễn văn Nam, nội tuyến.
Thường thì Trung Úy Đạt bên Nha An Ninh Quân Đội An Ninh Quân Đội của Đại Tá Đỗ Mậu, vẫn sang liên lạc với Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung để xin các tài liệu liên quan đến các sĩ quan hoạt động cho việt cộng để theo dõi và xử trí. Vì vậy mà vô tình khi tài liệu đến tay Thiếu Úy Lê hữu Thúy, thì chính y đã thông báo, hoặc báo động bằng một hình thức nào đó như vô tình để cho chạy. Sau khi Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung phát hiện Lê hữu Thúy là một điệp viên của cục 2 quân báo, tôi đã trực tiếp trình Tổng Thống xin phép được bắt y cách kín đáo để điều tra. Kết quả là số sĩ quan như Trung Úy Thịnh làm ở Phòng 1 Bộ Tổng Tham Mưu đã cầu cứu bên tình báo chiến lược liên lạc với xứ ủy, xin giao liên dẫn cả gia đình y ra mật khu Bời Lời, vì y sợ Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung bắt.
Riêng Đại Úy Nguyễn văn Nam, đã bị một nữ sĩ quan quân báo mua chuộc, y thị đã mua cho Đại Úy Nam một xe Peugeot 403 mới. Khi Thiếu Úy Lê hữu Thúy bị bắt, Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung mới kiểm tra lại tất cả các tin tức tài liệu đã phổ biến cho Trung Úy Đạt và An Ninh Quân Đội, như Phòng 1 Bộ Tổng Tham Mưu, Phòng Bản Đồ Bộ Tổng Tham Mưu, một số sĩ quan phục vụ tại Quân Đoàn III, bằng cách nhờ Đại Tá Phước Trưởng Phòng 2 xem lại thì Đại Tá Phước cho biết: Số sĩ quan có tên trong danh sách do Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung gửi tới vì bị tình nghi hoạt động cho tình báo việt cộng, đã đào ngũ hết. Lê hữu Thúy được tra hỏi về số sĩ quan bên Quân Đội đào ngũ có phải do ý thông báo cho họ biết hoạt động cộng sản của họ đã bị bại lộ không? Đương sự nhất mực khai không biết gì hết.
Cũng như vụ bắt chỉ ủy việt cộng ở Tổng Liên Đoàn Lao Công của ông Trần Quốc Bửu, vụ bắt Lê hữu Thúy, Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung đã bị Đại Tá Đỗ Mậu Giám Đốc Nha Quân Đội phản ứng mạnh. Trước hết ông vào gặp Bộ Trưởng Phủ Tổng Thống kiêm Bộ Trưởng Phụ Tá Quốc Phòng Nguyễn Đình Thuần, đả kích nặng nề Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung như: Ỷ thế làm phách không coi ai ra gì, bắt cóc cả sĩ quan An Ninh Quân Đội, không chịu hợp tác cho biết Lê hữu Thúy bị bắt vì tội gì v.v... mục đích gây cho ông Thuần ác cảm với Đoàn Công Tác Đặc Biệt để ông Thuần hậu thuẫn cho ông trước Tổng Thống. Sau đó ông vào trình Tổng Thống: Dương Văn Hiếu bắt cóc Thiếu Úy Lê hữu Thúy mà không báo, cũng không cộng tác với Nha An Ninh Quân Đội. Nghe Đại Tá Đỗ Mậu trình bày xong, Tổng Thống nói: Ông Hiếu trước khi bắt Lê hữu Thúy có xin phép tôi. Tôi quên chưa nói cho Đại Tá biết. Nghe nói hắn (Thúy) làm gián điệp cho Hà Nội, Hiếu có trình tôi hồ sơ của Lê hữu Thúy.
Những điều kể trên đây đã được Tổng Thống nói với tôi khi tôi vào trình một số công việc khác.
Từ sau vụ Lê hữu Thúy bị bắt vì sự liên lạc về công tác giữa Nha An Ninh Quân Đội và Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung bị cắt đứt hẳn.
Lê hữu Thúy được giải ra Huế để điều tra thêm, vì y có liên hệ đến số cán bộ tình báo đang bị giam tại đó.
Sau ngày 1.11.1963, Lê hữu Thúy được trả tự do, y trở lại tiếp tục hoạt động cho việt cộng.
Năm 1969 Lê hữu Thúy bị bắt cùng với Vũ ngọc Nhạ, cố vấn của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu về tội hoạt động cho tình báo chiến lược việt cộng. Lúc đó Lê hữu Thúy đã được Nhạ giới thiệu vào làm Chánh Sự Vụ Bộ Chiêu Hồi.
Bộ phận giao thông đường thủy của cục 2 quân báo việt cộng.
1.- Thiếu Úy: Đặng An, tên thật Trương văn Quí.Thuyền trưởng
2.- Trung Úy: Hà Phượng, thuyền phó. Trần Đáng, Trần Tâm, Trần Di, tổ viên.
Bộ phận giao thông đường thủy gồm 5 thành viên trên đây, dân gốc Phú Yên, làm nghề đánh cá biển, đã qua khóa huấn luyện tại cục 2 về ngành quân báo và giao thông. Các đương sự bị bắt tại bờ biển Đà Nẵng với vũ khí và điện đài.
Từ trước, hai ngành tình báo chiến lược và quân báo của việt cộng vẫn tự hào rằng: Tổ chức điệp báo của họ rất khoa học: ‘’đơn tuyến, chia cách, nhẹ nhõm, bảo mật đến mức tối đa’’, và rằng: Các Cơ Quan An Ninh của Việt Nam Cộng Hòa, nhất là Công An Cảnh Sát không phải là đối tượng của họ.
Vì cao ngạo như thế nên khi các cán bộ chỉ huy hai ngành tình báo chiến lược và quân báo của họ bị bắt, toàn bộ tổ chức tình báo chiến lược của họ bị sụp đổ, kéo theo cả hệ thống đảng bộ liên khu ủy 5 và một phần xứ ủy nam bộ. Phạm Hùng, ủy viên bộ chính trị, trưởng ban miền nam phải xin triệu tập bộ chính trị để nghe y báo cáo về tình hình miền Nam.
Kết quả, Trần Hiệu cục trưởng cục tình báo chiến lược, tức nha liên lạc, bị hạ tầng công tác với lý do: Yếu kém về kỹ thuật, vụng về, sơ hở về tổ chức nên bị địch phá vỡ, cán bộ bị bắt. Và kể từ cuối năm 1959, Đại Tá Lê trọng Nghĩa kiêm nhiệm luôn cục tình báo chiến lược để sắp xếp tổ chức lại.
Đại Tá Lê trọng Nghĩa là phe cánh của Phạm Hùng, nên nhân cơ hội xảy ra sự kiện màng lưới tình báo chiến lược bị phá, Phạm Hùng với tư cách ủy viên bộ chính trị, trưởng ban đặc trách miền nam, đổ hết lên đầu Trần Hiệu để có cớ hạ tầng công tác y và cho phe cánh của mình là Đại Tá Lê trọng Nghĩa nắm luôn quyền chỉ huy màng lưới tình báo chiến lược.
Nhưng rồi Đại Tá Nghĩa cũng chẳng hơn gì Trần Hiệu, cũng mang bệnh chủ quan, không giữ được sự kín đáo, thận trọng đúng với đòi hỏi nghiệp vụ ‘’tình báo’’. Nhờ vậy mà Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung đã phá luôn được mang lưới quân báo của Đại Tá Lê trọng Nghĩa.
Điệp viên Phạm bá Lương bị phát giác.
Trong phần kể về việc đánh phá màng lưới quân báo của việt cộng ở trên, tôi đã nói: Đại Tá Lê Câu, chỉ huy cuộc 2 quân báo, tức tổ chức quân báo của việt cộng hoạt động tại miền Nam, bị Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung bắt khi y đột xuất đến nhà Phạm bá Lương Công Cán Ủy Viên Bộ Ngoại Giao Việt Nam Cộng Hòa tại Sài Gòn, thời ông Vũ Văn Mẫu làm Bộ Trưởng để thu thập tài liệu.
Việc khám phá ra Phạm bá Lương là điệp viên của việt cộng diễn tiến như sau:
Đại Tá Lê trọng Nghĩa, cục trưởng cục quân báo trung ương điều động Thiếu Tá Trần Quang Tính vào miền Nam. Trước khi lên đường, Thiếu Tá Tính đến văn phòng cục chào từ biệt Đại Tá Nghĩa và nhận thêm chỉ thị mới.
Trên bàn giấy Đại Tá nghĩa có sẵn bản báo cáo từ miền Nam gửi về kèm theo nguyên bản ‘’Kế Hoạch Kinh Tế Stanley-Vũ Quốc Thúc’’. Đại Tá Nghĩa chỉ vào bản kế hoạch khoe: Cục chúng ta có cơ sở rất quan trọng cung cấp cả kế hoạch Kinh Tế của miền Nam do Bạch Cung yểm trợ. Kế hoạch được các chuyên gia kinh tế của Mỹ do Tiến Sĩ Kinh Tế Stanley được Tòa Bạch Ốc gửi qua giúp Diệm cùng soạn thảo với các chuyên gia kinh tế của miền Nam do Vũ Quốc Thúc hướng dẫn. Vì vậy kế hoạch được gọi là ‘’Kế Hoạch Kinh Tế Stanley-Vũ Quốc Thúc’’.
Thiếu Tá Trần quang Tính vào Nam được ít lâu thì bị Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung bắt. Đương sự đã báo cáo chi tiết điều mà chính y đã mắt thấy tai nghe lúc đến chào biệt Đại Tá Nghĩa trước khi lên đường vào Nam.
Từ sự kiện này, Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung đã khẩn cấp điều tra thành phần có trách nhiệm về bản thảo Kế Hoạch Kinh Tế Stanley-Vũ Quốc Thúc. Và tôi tường trình sự việc lên Tổng Thống, đồng thời xin được mật cung cấp hồ sơ các viên chức cao cấp của Bộ Ngoại Giao Việt Nam Cộng Hòa để thẩm tra.
Kết quả cuộc điều tra được biết, Phạm bá Lương Công Cán Ủy Viên Bộ Ngoại Giao Việt Nam Cộng Hòa hiện còn một bà mẹ ruột ở Hà Nội, y còn có người bà con thân thuộc là Công Cán Ủy Viên tại Bộ Nội Vụ Việt Nam Cộng Hòa. Ngoài ra Lương và mẹ thường gửi thơ qua Pháp nhờ người quen làm trung gian chuyển thơ từ qua lại thăm hỏi nhau.
Kế hoạch bắt giam Phạm bá Lương:
Nhằm tìm tên phái kiểm trực tiếp chỉ huy Phạm bá Lương, muốn vậy, việc bắt y phải được sắp đặt và giữ tuyệt đối bí mật, không một người nào không có phận sự trong việc bắt giữ kể cả cơ quan quản trị và những người hàng ngày làm việc bên cạnh, cũng như gia đình vợ con y được biết. Vì thế mà ngay Ngoại Trưởng Vũ Văn Mẫu cũng không được thông báo về việc này.
Lợi dụng việc Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa mới được chính phủ Thái Lan thông báo, họ sẽ tống xuất một số Việt kiều đang sinh sống tại vùng Đông-Bắc Thái Lan về Việt Nam, vì số Việt kiều này thân cộng, ủng hộ cộng sản Bắc Việt. Tôi liền đề nghị xin Phủ Tổng Thống chỉ thị Bộ Ngoại Giao cử ông Phạm bá Lương Công Cán Ủy Viên, chuyên về Công Pháp Quốc Tế, cùng đi với một viên chức Phủ Tổng Thống, ông Dương Văn Hiếu, qua Tòa Đại Sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Thái Lan bàn thảo tại chỗ về vấn đề trên và tường trình về Tổng Thống.
Khi Sự Vụ Lệnh, Lộ Trình Thư, giấy máy bay đã đầy đủ, đến ngày giờ lên đường, xe chở ông Dương Văn Hiếu và Phạm bá Lương thay vì ra phi trường thì đi thẳng đến một địa điểm định trước. Cuộc đối thoại bắt đầu vào thẳng vấn đề, Phạm bá Lương bị buộc tội đã gửi bản Kế Hoạch Kinh Tế Stanley-Vũ Quốc Thúc và các tài liệu liên quan đến công tác đối ngoại của Việt Nam Cộng Hòa cho cục 2 quân báo việt cộng tại Hà Nội, và bị cật vấn làm thế nào, qua ai mà y đã gửi được bản Kế Hoạch ra cho Hà Nội.
Qua các cuộc mạn đàm với Phạm bá Lương, tôi giải quyết các thắc mắc, lo lắng sợ hãi, về tương lai, về gia đình để ổn định tâm lý cho đương sự.
Cuối cùng Phạm bá Lương đã thú nhận việc làm nội gián cho cục tình báo việt cộng tại Hà Nội, và đã cung cấp các tài liệu đối ngoại cũng như bản văn Kế Hoạch Kinh Tế Stanley-Vũ Quốc Thúc của Việt Nam Cộng Hòa cho họ.
Đương sự xác nhận việt cộng đã lợi dụng tình cảm mẫu tử của y, móc nối với mẹ ruột y, giúp đỡ vật chất, vận dụng tranh thủ, giáo dục, khống chế thơ tín liên lạc giữa hai mẹ con để buộc y phải cộng tác hoạt động cho chúng. Và xin được cộng tác với Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung để thực hiện kế hoạch bủa lưới phục kích bắt tên phái khiển chỉ đạo công tác y.
Phạm bá Lương trình bày chi tiết về tất cả hoạt động của y với cơ quan điệp báo của việt cộng. Chúng làm việc rất thận trọng và kỹ lưỡng nên việc chuyển tài liệu không có quy định thời gian cán bộ cộng sản tới lấy. Họ đến nhà bất chợt, lấy tài liệu, phổ biến đại cương chỉ thị mới cho Phạm bá Lương rồi đi ngay.
Được yêu cầu tả hình dáng tên cán bộ việt cộng thường đột xuất đến nhà y nhận tài liệu, Phạm bá Lương mô tả: Người dong dỏng, tuổi độ 38-40, mặt rỗ nhẹ vì bị bệnh đậu mùa, giọng nói phát âm Quảng Nam, Lương gọi y là ‘’anh Hai’’.
Thời gian liên lạc nhận tài liệu không hề được quy định, nhưng có những ám hiệu như sau:
- Nếu có tài liệu quan trọng cần chuyển gấp, thì ám tín hiệu duy nhất là: Tấm bảng kẽm hình con chó đóng trước cổng sẽ được bẻ cong ở phía bên mặt, còn nếu bẻ cong bên góc trái, báo hiệu cho biết là có tài liệu sẵn ở trong nhà.
Những ám tín hiệu khác thì dùng cửa sổ trên lầu:
- Đóng cánh cửa bên phải, là dấu báo cho biết có nhân viên An Ninh xuất hiện trong khu phố nhiều lần, có nhân viên theo dõi, bị Cảnh Sát mời, không nên vào nhà, không nên xuất hiện ở khu vực các phố gần nhà y ở.
- Đóng cánh cửa bên trái, là dấu báo cho biết không có giấu hiệu gì nguy hiểm, mọi sự bình thường, có thể vào trong nhà y.
- Trường hợp Phạm bá Lương bị cơ quan An Ninh bắt, thì ám hiệu đặc biệt báo cho cục quân báo biết là: Chữ thập vẽ bằng phấn trắng trên cột đèn điện, phía mặt đường, tại Đường Pétrus Ký, chỗ tiếp giáp với Đường Phan Đình Phùng Sài Gòn.
Đại Tá Lê Cầu chỉ huy cục 2 quân báo việt cộng bị bắt.
Phạm bá Lương nhận tội và xin cộng tác với Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung để bắt ‘’anh Hai’’, cấp chỉ huy trực tiếp của y. Sau khi nghe Lương mô tả vóc dáng và giọng nói của tên phái khiển quân báo đã từng về nhà y lấy tài liệu và chỉ thị cho Lương mục tiêu công tác mới. Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung khẳng định ‘’anh Hai’’ đó chính là Đại Tá Lê Câu, chỉ huy cục 2 quân báo việt cộng tại miền Nam, căn cứ đóng tại vùng núi Pleiku.
Vì Phạm bá Lương là một điệp viên đã chức nghiệp hóa nằm trong Bộ Ngoại Giao, có chức vụ cao, đã cung cấp nhiều tài liệu có giá trị về chiến lược, và những công tác đối ngoại của Việt Nam Cộng Hòa, nên Đại Tá Lê trọng Nghĩa, cục trưởng cục quân báo trung ương chỉ thị cho Đại Tá Lê Câu phải trực tiếp chỉ đảo Lương.
Phạm bá Lương được trả tự do đúng theo kế hoạch định trước. Thời gian giữ y để điều tra, Bộ Ngoại Giao không hay biết. Ngay cả gia đình vợ con y cũng không biết gì.
Kế hoạch dăng bẫy bắt Đại Tá Lê Câu đã 5 tháng trôi qua, y chưa một lần đột xuất về Sài Gòn để đến nhà Lương. Kế hoạch được đem ra mổ xẻ, nhiều giả thuyết được đưa ra duyệt xét. Trọng tâm là tăng cường kiểm soát, kỹ thuật theo dõi phải thay đổi, tập trung công sức hoạt động của cơ quan vào các ngày lễ lớn, đặc biệt là vào lúc tranh tối tranh sáng, vào các ngày nghỉ cuối tuần, vì Lê Câu có thể nghĩ, phần lớn nhân viên An Ninh của ta lơ là, bỏ bê công tác đi ăn chơi hoặc về nhà nghỉ sớm.
Quả thật, hơn một tháng sau khi Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung duyệt xét lại kế hoạch, thì bộ phận theo dõi trên đường phố phát hiện một chiếc xe máy dầu đã chạy qua các phố quanh Đường Phan Đình Phùng, chỗ nhà Phạm bá Lương, nhiều lần, lúc đó vào khoảng hơn 5 giờ chiều ngày thứ bảy. Đúng lúc trời đổ tối đèn trên đường phố vừa bật sáng, một chiếc xe taxi chạy trên đường Pétrus Ký đến góc Pétrus Ký-Phan Đình Phùng thì dừng lại, một người đàn ông từ trong xe mở cửa bước xuống, thả bộ trên vỉa hè Đường Phan Đình Phùng, đi được chừng 200 thước đến khúc đối diện nhà Phạm bá Lương ở bên kia đường, y vừa bước xuống định băng qua đường vào nhà Phạm bá Lương thì nhân viên Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung tiến tới khoác tay dìu y lên xe taxi đi về cơ quan.
Vũ ngọc Nhạ
Vũ ngọc Nhạ là điệp viên thuộc cục tình báo chiến lược, nhưng đến cuối phần này mới được đề cập tới.
Một mặt, vì y đã được cơ quan tình báo chiến lược việt cộng sử dụng trong các hoạt động điệp báo tại những vùng có tình hình đặc biệt từ những ngày đầu của cuộc chiến tranh Pháp-Việt Minh, cho đến khi bị bắt lần thứ hai, lúc đã lọt được vào đến tận Dinh Độc Lập, với chức vụ Cố Vấn của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Nhờ vào hành động phản đạo, tướng mạo lù đù nhưng lại rất láu cá, mặc dù chẳng được huấn luyện gì về tình báo.
Mặt khác, nhân vật Vũ ngọc Nhạ, sau ngày 30.4.1975, phần tự ‘’đánh bóng’’, phần được đảng ‘’đánh bóng’’ quá lố, đến mức khôi hài. Phong quân hàm thiếu tướng cho y, việc cuộc đời ‘’điệp viên’’ của y thành truyện và còn cho dàn dựng thành phim. Mặc dầu tập truyện được cả một ban biên tập của đảng bố cục và thực hiện dưới cái tên Hữu Mai, nhưng từ đầu đến cuối chỉ là những sự bịa đặt, tưởng tượng, có chỗ ấu trĩ, có nơi rất ngây ngô, với toàn bộ thật trắng trợn.
Vì vậy, tôi thấy cần phải nói rõ hơn về tình hình từng giai đoạn đã đưa đẩy y từ một tên bộ đội trở thành một điệp viên được đưa vào hoạt động tại Hà Nội, rồi Phát Diệm và Sài Gòn, cho đến khi bị bắt lần thứ hai, bị kết án tù chung thân khổ sai, và cuối cùng được trao trả cho Bắc Việt theo thỏa hiệu trao trả tù binh của hiệp định Paris.
Nhưng trước khi nói về lý lịch và hoạt động điệp báo của y, tôi xin được kể một vài điều khôi hài do y, hoặc do nhóm chuyên viên ‘’hóa trang’’ của y tô vẽ cho y, để quý độc giả giải trí ít phút.
Vũ ngọc Nhạ bị Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung bắt năm 1958. Năm 1961, sau khi chấp nhận chuyển hướng và hợp tác với Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung, y được chuyển từ trại cải tạo Tòa Khâm Huế, về Sài Gòn, sống với gia đình và hàng tháng phải trình diện báo cáo công tác với tôi (Hiếu). Vậy mà y dám huênh hoang là đã làm Cố Vấn cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm từ năm 1960.
Vũ ngọc Nhạ khoác lác với nguyệt san thế giới mới của cộng sản như sau:
‘’Năm 1960, một vị Linh Mục đã chuyển tới tay Tổng Thống Diệm một tập tài liệu với bọc ngoài ghi hai chữ ‘’Quốc Sách’’. Chưa đầy một tuần sau, Ngô Đình Nhu đích thân đi mời tác giả tập tài liệu vào Dinh để gặp Tổng Thống’’.
Đọc đoạn báo này, người dân đã sinh sống ở miền Nam thời Đệ I Cộng Hòa, dù chưa một lần trực tiếp tiếp xúc với Tổng Thống Ngô Đình Diệm hay ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu, cũng khó mà nín cười được. Vì ai lại không biết, ông Ngô Đình Nhu đâu phải là con người nhẹ dạ, bồng bột như thế. Dù cho kế hoạch của Nhạ có sâu sắc bao nhiêu đi nữa.
Và Nhạ còn tiếp:
‘’Tôi trở thành quân sư của Tổng Thống từ đấy, ông Nhạ mỉm cười nói, cũng từ đấy trong Dinh Độc Lập, ngoài Ngô Đình Nhu còn có thêm một ông cố vấn nữa: Vũ ngọc Nhạ. Trong Dinh cũng có thêm một con rồng, ngoài con Bạch Long Ngô Đình Diệm, con Thanh Long Ngô Đình Nhu, còn có thêm con Hoàng Long Vũ ngọc Nhạ’’.
Cá nhân Vũ ngọc Nhạ khoác lác là điều dễ hiểu. Điều khó hiểu là sau ngày 30.4.1975, có lẽ còn đang bị chóa mắt vì hào quang chiến thắng, cơ quan tuyên truyền của nhà nước cộng sản đã cho ra đời cuốn tiểu thuyết hồi ký mang tên Nhạ, nhan đề ‘’ông cố vấn’’, để tên người viết là Hữu Mai. Cuốn sách nói về những kỳ công của con ‘’rồng vàng’’ Vũ ngọc Nhạ trong hoạt động tình báo chiến lược, tại miền Nam Việt Nam thời Đệ I và Đệ II Cộng Hòa.
Một điểm ‘’ngộ nghĩnh’’ tự tố cáo sự láo khoét của mình (hay là của nhóm thợ hóa trang) là: Trong cuốn hồi ký này Nhạ kể, tài liệu ‘’quốc sách’’ đã được y nhờ ông Lê Văn Dư, Trưởng Ty Công An Thừa Thiên lúc bấy giờ, trình cho ông Ngô Đình Cẩn, và được ông Cẩn chuyển vào Sài Gòn. (Hồi ký của một điệp viên. Trang 60) chứ không phải do một vị Linh Mục như y nói với nguyệt san thế giới mới vừa kể trên đây.
Cuốn truyện được đóng thành phim. Cuộc đời con ‘’rồng vàng’’ tưởng là lên hương từ đó. Không dè chỉ 5 năm sau, năm 1980 cũng như các ‘’đồng chí’’ khác, bị đảng ra soát lại lý lịch chính trị ‘’con rồng vàng’’ đã bị lộ chân tướng là loại ‘’vàng mã’’ (vàng giả làm bằng giấy người ta đem đốt sau khi cúng người chết) chứ không phải vàng thiệt, do chính những cán bộ cộng sản đã cùng ở tù Mật Vụ Ngô Đình Cẩn với Nhạ khai báo với đảng. Không còn đường chối cãi, con ‘’rồng’’ phải tử vận 3 lần mà vẫn không chết. Có lẽ ‘’nợ đời’’ còn quá nặng.
Vũ ngọc Nhạ người Tỉnh Thái Bình, Bắc Việt , gốc Công Giáo. Hồi nhỏ vì nhà nghèo, Nhạ chỉ học qua bậc tiểu học rồi đi làm kiếm sống và tham gia bộ đội Việt Minh khi Việt Minh cướp chính quyền năm 1945.
Tháng 12.1946, chiến tranh Pháp-Việt bùng nổ, chính quyền Việt Minh rút khỏi Hà Nội. Vì nhu cầu nắm bắt địch tình. Trần Hiệu được ủy thác tổ chức cục tình báo chiến lược, tung người vào hoạt động gián điệp trong vùng Pháp chiếm đóng, gọi là vùng hậu địch.
Vũ ngọc Nhạ, là tín đồ Công Giáo, với dáng vẻ bề ngoài nhỏ thó, điệu bộ quê mùa chất phác, ăn nói nhỏ nhẹ. Nhưng bên trong, Nhạ lại chứa đựng nhiều chất láu cá, lưu manh, đáp ứng đúng nhu cầu của cơ quan tình báo việt cộng đang cần một mẫu người như thế để hoạt động trong vùng Pháp chiếm đóng. Vì vậy, ít lâu sau, Nhạ khi ấy đang ở trong bộ đội việt cộng, được đưa vào công tác hậu địch tại Hà Nội. Đến khi khu an toàn Phát Diệm được thiết lập, Nhạ lại được rút từ vùng hậu địch Hà Nội đưa về đây.
Để quý độc giả, đặc biệt là độc giả thuộc các thế hệ sau thấy được lý do tại sao ‘’Khu An Toàn Phát Diệm’’ được chính ông Hồ chí Minh chấp thuận cho thành lập mà lại bị việt cộng coi như ‘’vùng địch’’ cần thiết phải tổ chức hoạt động ‘’tình báo gián điệp’’ trong đó. Tôi xin được kể sơ qua về tình hình đã đưa đến việc thiết lập khu an toàn này.
Ngay từ khi mặt trận Việt Minh với chủ tịch là ông Hồ chí Minh cướp được chính quyền, tháng 8 năm 1945. Nhiều người đã nghi ông ta chính là Nguyễn ái Quốc, một cán bộ cộng sản quốc tế, và Việt Minh là đảng cộng sản trá hình, nhưng chưa có bằng chứng gì cụ thể. Đến ngày lễ thụ phong của Đức Cha Lê Hữu Từ, ông Nguyễn mạnh Hà, một thành viên trong phái đoàn chính phủ Hồ chí Minh về Phát Diệm dự lễ. Ông Hà đã cho các Giám Mục và Linh Mục Tổng Đại Diện các Giáo Phận hiện diện biết: ‘’Đích thực chính phủ Việt Minh là cộng sản’’.
Đã được biết chắc chắn bộ mặt thật của ông Hồ chí Minh, ngay sau lễ tấn phong Đức Cha Từ, các Giám Mục và Linh Mục Tổng Đại Diện họp quyết định: Tại tất cả các Giáo Phận trong toàn quốc, nhất loạt thành lập Liên Đoàn Công Giáo đứng ngoài chính quyền, đồng thời tổ chức một bộ phận mang tên ‘’Công Giáo Cứu Quốc’’ nằm trong mặt trận Việt Minh. Hai tổ chức hoạt động song hành để đối phó với cộng sản.
Càng về sau, bộ mặt cộng sản của Việt Minh càng lộ rõ. Sự liên hệ giữa họ với khối Công Giáo, đặc biệt là tại hai Giáo Phận Phát Diệm và Bùi Chu mỗi ngày thêm căng thẳng.
Hạ bán niên 1947, vụ Đức Cha Lê Hữu Từ bị ám sát hụt trong lúc ngài đang chủ trì lễ an táng anh Tống Viết Dung, một cán bộ Công Giáo bị công an việt cộng bắt và tra tấn đến chết, làm tràn ly nước đã quá đầy. Dân chúng hộ tống Đức Cha từ địa điểm hành lễ trở về lại Tòa Giám Mục có chủ tịch ủy ban hành-kháng (hành chánh-kháng chiến) Huyện Kim Sơn, Nguyễn ngọc Ái cùng đi. Đang đi song hàng với Đức Cha, không biết vô tình hay cố ý, y đã lui lại phía sau lưng ngài. Dân chúng tưởng y định thực hiện bằng được mưu đồ ám hại Đức Cha, họ liền xúm lại đánh y chết ngay tại chỗ và bắt giữ một số nhân viên công an.
Trước sự kiện này, ông Hồ chí Minh thấy cần phải tránh tình trạng có thể đưa đến một cuộc đối đầu công khai giữa toàn thể khối Công Giáo với chính quyền của ông, một chính quyền mà ông đang phải tìm cách che giấu bộ mặt thật ‘’cộng sản’’ ông Hồ Chí Minh, một mặt ra lệnh cho chính quyền Tỉnh Ninh Bình đến hòa giải, xin Đức Cha chỉ thị giáo dân tha cho những người bị bắt, đồng thời thông báo: ‘’chủ tịch Hồ chí Minh sẽ gởi phái đoàn cao cấp về trình với Cố Vấn (Đức Cha Từ là Cố Vấn Tối Cao của chính phủ và của riêng ông Hồ chí Minh) một giải pháp có lợi cho cả đôi bên’’.
Cuối tháng 9.1947, chính phủ cử một phái đoàn do Linh Mục Phạm bá Trực, đại biểu quốc hội, quốc vụ khanh, dẫn đầu về Phát Diệm hội kiến với Đức Cha Từ. Linh Mục Trực chuyển trình một văn thư do chủ tịch Hồ chí Minh ký, đề nghị đặt toàn Huyện Kim Sơn gồm 40 xã ấp với dân số khoảng 150.000 người dưới quyền cai trị của Cố Vấn Lê Hữu Từ, Cố Vấn toàn quyền tổ chức. Các cơ quan hành chánh, quân sự... của chính quyền sẽ rút đi hết.
Ông Hồ chí Minh tưởng đó là miếng mồi ngon, đưa ra để xập bẫy vị Cố Vấn của mình. Nhưng Đức Cha Từ đã sáng suốt nhìn thấy mưu mô hiểm độc của họ Hồ. Tuy vậy, vì thấy cần phải có một khu vực khả dĩ làm nơi ẩn tránh an toàn tạm thời cho những thành phần quốc gia đang bị Việt Minh cộng sản truy diệt. Đức Cha lợi dụng ngay âm mưu ấy, thực hiện cho Phát Diệm một khu an toàn bằng cách yêu cầu công khai hóa vấn đề này.
Trước lời yêu cầu ấy, Linh Mục Phạm bá Trực, với quyền quốc vụ khanh, được ông Hồ chí Minh ủy nhiệm toàn quyền, triệu tập chính quyền Huyện Kim Sơn, hành chánh, công an, bộ đội, với sự tham dự của đại diện Công Giáo và Phật Giáo trong huyện, tuyên đọc văn thư của ông Hồ chí Minh giao Quận Kim Sơn cho Cố Vấn Lê Hữu Từ toàn quyền cai trị.
Nhưng khi phát biểu, đại diện Cố Vấn Lê Hữu Từ xin từ chối quyền cai trị toàn Quận Kim Sơn. Ông chỉ xin nhận lãnh trách nhiệm trên một khu vực nhỏ để tượng trưng lòng biết ơn của Đức Cha đối với sự ưu ái đặc biệt chủ tịch Hồ chí Minh đã dành cho ngài với điều kiện. Trong khu vực này, Giám Mục Cố Vấn có toàn quyền tổ chức những cơ cấu cần thiết cho việc an ninh và sinh hoạt. Nhân viên và cán bộ của chính quyền không được xâm nhập khi chưa có phép của Cố Vấn. Khu vực này là Xã Phát Diệm, với diện tích chừng 3 cây số vuông.
Lời yêu cầu này quá khiêm nhượng so với đề nghị do chính ông Hồ chí Minh đưa ra. Vì vậy ông ta đã phải buộc lòng chấp nhận, và ‘’Khu An Toàn Phát Diệm’’ được khai sinh từ đó.
Với hệ thống tổ chức rất chặt chẽ, tinh thần chống cộng sản hết sức hăng say của Liên Đoàn Công Giáo tại hai Giáo Phận Phát Diệm và Bùi Chu, nhiều vụ đụng chạm giữa công an Việt Minh và Lực Lượng Tự Vệ của Liên Đoàn đã xảy ra. Nay lại thua trí Đức Cha Từ, bề ngoài phải bấm bụng chấp nhận cho thành lập một khu vực An Toàn có quyền bất khả xâm phạm đối với chính quyền. Nhưng bề trong, việc hòa hợp với khối Công Giáo là chuyện không thể có. Vì vậy đối với chính quyền của ông Hồ chí Minh, việc phải nắm bắt được tình hình ‘’thực’’ bên trong khu An Toàn, phải biết được thực lực của Liên Đoàn Công Giáo cũng như ý đồ của cấp lãnh đạo khu An Toàn, đã trở thành một nhu cầu lớn lao và cấp thiết. Chính vì nhu cầu và môi trường đặc biệt này mà Vũ ngọc Nhạ được tuyển chọn.
Vũ ngọc Nhạ đang hoạt động trong vùng Hà Nội, được đưa về vùng Huyện Kim Sơn Phát Diệm. Y đã vào khu vực Phát Diệm như một giáo dân bình thường và hoạt động cho cục tình báo chiến lược. Vì biết, sống và hoạt động trong lòng một khu vực mà ngàn người như một, tinh thần chống cộng luôn luôn sôi sục, thì việc bảo mật hành hung là một điều tối hệ trọng. Hơn nữa, cũng nhằm đề phòng Nhạ có thể trở thành điệp viên nhị trùng của khối Công Giáo, Trần Hiệu cục trưởng cục tình báo chiến lược đã trực tiếp điều khiển y.
Nhiệm vụ chính yếu của Nhạ là ‘’chui sâu, trèo cao’’ vào các hoạt động của Giám Mục Lê Hữu Từ và Linh Mục Hoàng Quỳnh, Tủ Lãnh Lực Lượng Tự Vệ Công Giáo Phát Diệm. Nhưng vì khả năng quá yếu kém, y đã không thực hiện được nhiệm vụ này. Suốt thời gian từ khi khu An Toàn được thiết lập, cho đến khi di cư vào Nam, trong Tổng Bộ Tự Vệ, không ai biết mặt mũi Vũ ngọc Nhạ là tên nào. Ông Phan Khiêm, hiện đang định cư tại Thành Phố Santa Ana, người cận vệ đặc biệt của Linh Mục Hoàng Quỳnh, ngày đêm ở sát cạnh Linh Mục. Khi được hỏi về Vũ ngọc Nhạ, ông cho biết, cho đến khi di cư vào Nam ông chưa hề thấy mặt Nhạ lần nào. Nhạ chỉ thực hiện được nhiệm vụ thứ yếu là theo dõi, thu thập tin tức ở vòng ngoài, liên quan đến hoạt động của Lực Lượng Tự Vệ. Mặc dầu vậy, từ khi Nhạ lọt được vào khu An Toàn, sự thiệt hại về nhân mạng của Lực Lượng Tự Vệ Công Giáo Phát Diệm không ít. Vì những cán bộ của Lực Lượng ra ngoài hoạt động tổ chức, lấy tin tức, đã bị Nhạ báo cho lực lượng việt cộng truy diệt.
Sau khi hiệp định Genéva có hiệp lực, vì đòi hỏi của tình hình mới, Vũ ngọc Nhạ lại được điều vào Nam.
Cuộc di cư vĩ đại của hơn một triệu người dân miền Bắc vào miền Nam, xảy ra sau khi Pháp thất trận tại Điện Biên Phủ, buộc phải ký hiệp định đình chiến với việt cộng tại Genèva ngày 20.7.1954. Theo quy định của hiệp định thì nước Việt Nam tạm thời được chia làm hai phần tại vĩ tuyến thứ 17, do hai chính thể quản trị.
Từ vĩ tuyến 17 trở ra về phía Bắc do chính thể cộng sản quản trị.
Từ vĩ tuyến 17 trở vào về phía Nam do chính thể Quốc Gia quản trị.
Một cuộc tổng tuyển cử để dân chúng hai Miền chọn một chính thể, thống nhất đất nước sẽ được tổ chức vào tháng 7.1956, tức là đúng 2 năm sau ngày hiệp định được ký kết.
Trong thời gian hai năm chờ tổng tuyển cử, kể từ ngày hiệp định được ký kết:
- Dân hai Miền được tự do di chuyển đến miền mình chọn để sinh sống trong vòng 300 ngày.
- Lực lượng vũ trang cũng như công chức, cán bộ các ngành của chính thể nào phải rút về vùng do chính thể ấy quản trị, cũng trong thời gian 300 ngày.
Trong khi hòa hội Genèva đang tiến hành, ngày 7 tháng 5.1954 việt cộng chiến thắng tại Điện Biên Phủ. Thấy trước được phần nào kết quả hòa hội, giữa tháng 7.1954 trung ương đảng cộng sản Việt Nam họp lần thứ 6. Mục đích của khóa họp này nhằm phân tách tình tình trên thế giới và trong nước để đề ra nhiệm vụ mới, đặt kế hoạch ém quân tại miền Nam, vạch ra những công tác thiết thực cần phải tiến hành sau khi hiệp định Genèva được ký kết.