Mai Dao
unread,Jan 18, 2013, 2:14:54 PM1/18/13You do not have permission to delete messages in this group
Either email addresses are anonymous for this group or you need the view member email addresses permission to view the original message
to
Cách chức Trần Xuân Bách
Ông Bách sinh năm 1926, cùng quê với ông Lê Đức Thọ.
Cuối năm 1977, khi Lê Đức Thọ được Lê Duẩn giao phụ
trách “công tác đặc biệt” - tên gọi của một kế hoạch bí mật
chuẩn bị cho cuộc tiến đánh Pol Pot trên đất Campuchia -
Trần Xuân Bách được tham gia với vai trò phụ tá. Cuối năm
1978, ông Bách được cử làm phó chính ủy của chiến dịch.
Ông Trần Xuân Bách ở lại Phnom Penh cho tới năm 1982
với chức danh chính thức là “Trưởng Đoàn B68”, chuyên gia
giúp Đảng và Nhà nước Campuchia. Năm 1982, ông Trần
Xuân Bách được bầu vào Ban Bí thư kiêm giữ chức chánh
Văn phòng Trung ương Đảng. Tại Đại hội Đảng lần thứ VI,
ông được bầu vào Bộ Chính trị.
Vợ ông, bà Trần Thị Đức Thịnh cho biết: “Trước Đại hội VI
(1986), lấy phiếu thăm dò tổng bí thư, anh Bách hơn phiếu
Phạm Hùng và chỉ kém Nguyễn Văn Linh hai phiếu”. Theo
ông Nguyễn Đình Hương, phó Ban Tổ chức Trung ương khóa
VI: “Khi ông Phạm Văn Đồng và Lê Đức Thọ chọn Nguyễn
Văn Linh làm tổng bí thư, ông Trần Xuân Bách phản đối.
Ông Bách cho rằng Nguyễn Văn Linh chẳng có trình độ gì,
khi ông Linh làm tổng bí thư rồi, ông Bách vẫn coi thường ra
mặt”127. Cố vấn kinh tế của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh,
Tiến sỹ Lê Đăng Doanh nói: “Trần Xuân Bách được Lê Đức
Thọ rỉ tai: Nguyễn Văn Linh là nhân vật quá độ. Ông Linh
chỉ làm nửa khóa rồi đưa ông Bách lên”. Trong Trung ương
lúc bấy giờ bắt đầu có tin Bí thư Trần Xuân Bách ngầm xung
đột với Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh128.
Khi đề cập đến vấn đề “đa nguyên” trong Hội nghị Trung
ương 6, tháng 3-1986, và sau đó đưa ra Hội nghị Trung
ương 7, tháng 8-1989, như một nội dung chính của kỳ họp,
không những ông Nguyễn Văn Linh có thể làm suy yếu Trần
Xuân Bách mà còn có thể tập hợp được sự ủng hộ của một
nhà lý luận miền Bắc: Ủy viên Thường trực Bộ Chính trị Đào
Duy Tùng. Tất nhiên, “chống đa nguyên” còn phản ánh quan
điểm của ông Nguyễn Văn Linh trước những gì diễn ra trong
phe xã hội chủ nghĩa ở thời điểm ấy.
Những diễn tiến quốc tế ấy giải thích thêm vì sao sau Hội
nghị Trung ương 7 (8-1989) một nhà chính trị kinh nghiệm
như ông Trần Xuân Bách vẫn tiếp tục trình bày công khai
quan điểm của ông về đa nguyên. Theo ông Lê Đăng Doanh:
“Những lời rỉ tai của Lê Đức Thọ và sức khỏe của ông
Nguyễn Văn Linh có lẽ là một nguyên nhân khiến ông Trần
Xuân Bách nghĩ rằng thời cơ đã đến để Việt Nam có thể đi
theo xu thế chung của thời đại”.
Trong năm 1989, ông Nguyễn Văn Linh đã từng phải đi
Liên Xô làm phẫu thuật cắt một đoạn ruột. Ngày 23-10-
1989, khi từ Berlin trở về, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh
được đón tiếp rất trọng thể. Toàn bộ các ủy viên trong Bộ
Chính trị đã ra sân bay đón ông. Nhưng, ngay sau khi xuống
sân bay, ông Linh đã phải vào bệnh viện. Theo ông Lê Đăng
Doanh: “Ông Trần Xuân Bách càng đẩy nhanh các hoạt động
của mình”.
Ông Lê Đăng Doanh cho rằng, Văn phòng Trung ương cho
tới sau này vẫn in dấu ấn của Trần Xuân Bách, người thiết
lập một mô hình và cung cách làm việc khá là khoa học kể
từ khi nhậm chức chánh văn phòng. Sau Đại hội V, theo ông
Lê Đăng Doanh: “Thường Lê Đức Thọ không dự họp Bộ
Chính trị. Họp xong, ông Bách đi báo cáo cho ông Thọ và
ông Thọ thường cho những ý kiến khác khiến ông Bách phải
tìm cách lèo lái”.
Năm 1989, với tư cách là người phụ trách công tác lý luận
của Đảng, ông Trần Xuân Bách chính thức hình thành một
nhóm nghiên cứu gồm năm người: Lê Hồng Tâm, nhà kinh
tế, Vũ Cao Đàm, viện trưởng Viện Nghiên cứu Chính sách
thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ, Bùi Thế Vĩnh, viện trưởng
Viện Hành chính học, Học viện Hành chính Quốc gia,
Nguyễn Mạnh Tôn, chuyên viên Ngân hàng Ngoại thương và
Nguyễn Thanh Sơn, chuyên viên Ban Công nghiệp Trung
ương.
Theo ông Vũ Cao Đàm: “Anh Bách giao cho mỗi người
chúng tôi phụ trách một chuyên đề: Lê Hồng Tâm nghiên
cứu về chính sách kinh tế để phục hưng đất nước. Bùi Thế
Vĩnh nghiên cứu biện pháp giải phóng lực lượng sản xuất.
Vũ Cao Đàm nghiên cứu hệ thống chính trị trong tiến trình
cải cách kinh tế. Nguyễn Thanh Sơn nghiên cứu chính sách
phát triển nhân lực. Nguyễn Mạnh Tôn nghiên cứu biện
pháp chống lạm phát”129.
Ông Vũ Cao Đàm nói: “Trước khi khai mạc Hội nghị Trung
ương 7, anh Trần Xuân Bách chuẩn bị bài phát biểu, trong
đó đề cập hai nội dung về kinh tế thị trường và đa nguyên
chính trị. Anh đưa bài phát biểu cho nhóm chúng tôi thảo
luận để đóng góp ý kiến. Khi đó, tôi có nêu câu hỏi: ‘Anh
cân nhắc thêm, xem phát biểu bây giờ liệu có quá sớm
không?’. Anh Bách đã trả lời ý là không quá sớm và cũng
không quá muộn”.
Bà Trần Thị Đức Thịnh kể, ông tỏ ra rất quyết tâm. Khi bà
Thịnh khuyên: “Anh ơi, chưa đúng lúc, anh đưa ra bây giờ
không ai ủng hộ đâu”. Ông suy nghĩ một lúc rồi nhỏ nhẹ nói
với vợ: “Hay để anh lo nhà cửa cho ba mẹ con em rồi chúng
ta li dị để ba mẹ con em không phải liên lụy nhé!”. Họ đã
không li dị cho dù sau đó ông Trần Xuân Bách vẫn phát biểu
về “đa nguyên” trước Trung ương.
Theo ông Vũ Cao Đàm, ông Trần Xuân Bách có hai lần
đưa quan điểm của mình thảo luận trong khuôn khổ những
diễn đàn rộng hơn: một lần với các nhà khoa học tại phòng
họp của Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam ở
số 53 Nguyễn Du, Hà Nội; một lần cũng với các nhà khoa
học tại phòng họp của Ban Khoa giáo Trung ương Đảng ở số
10 Nguyễn Cảnh Chân. Còn một cuộc nói chuyện công khai
nữa của ông Bách ở Ký túc xá Ngô Gia Tự, Sài Gòn, thì ngay
cả những người giúp việc cũng không biết đến. Theo ông
Kiều Xuân Long, vụ phó Vụ Công tác phía Nam của Ban
Khoa giáo Trung ương tại Thành phố Hồ Chí Minh, người đưa
ông Trần Xuân Bách xuống Ký túc xá Ngô Gia Tự: “Chuyến
đi của ông Trần Xuân Bách làm cho Thành ủy và nhiều
người không thích. Về sau ông Bách bị quy kết là đã thực
hiện mục đích lôi kéo sinh viên”.
Trong số các sinh viên dự nghe ông Trần Xuân Bách có
Nguyễn Sơn Thủy Hùng, người bị bắt trong vụ Công viên Kỳ
Hòa mùa hè năm 1989. Sau khi được tạm tha, Hùng cùng
ba sinh viên khác bị “cấm đi khỏi nơi cư trú”, bởi vậy, suốt
mùa hè năm 1989, anh phải ở lại ký túc xá Ngô Gia Tự tuy
đã hoàn thành năm học cuối cùng. Nguyễn Sơn Thủy Hùng
kể: Vào một ngày mưa lâm râm giữa tháng 9-1989, cô Mai
Vinh, trưởng Ban Quản lý Ký túc xá mời các sinh viên đến
hội trường “nghe lãnh đạo nói chuyện”. Từ khi được báo cho
đến khi ông đến chỉ trong vòng 15 phút, khoảng 200 sinh
viên trong ký túc xá ngồi nghe ông Bách nói chuyện suốt
gần ba giờ.
Theo ông Kiều Xuân Long, ông Trần Xuân Bách rất ấn
tượng khi thấy không có sinh viên nào nói đến cơm áo gạo
tiền cho dù lúc đó các em rất thiếu thốn. Sinh viên đặt
những câu hỏi, nêu những vấn đề ở tầm quốc tế, quốc gia,
cho thấy các em rất quan tâm tới chính trị và tình hình đất
nước.
Bằng một phong thái nhẹ nhàng, ông Trần Xuân Bách
phân tích tình hình Liên Xô và Đông Âu với sinh viên. Ông
nói: “Xu hướng thời đại giờ đây là phải chống độc đoán. Xã
hội muốn phát triển thì phải có đấu tranh giữa các mặt đối
lập. Muốn có đấu tranh, phải phát huy dân chủ, muốn dân
chủ thì phải tôn trọng nhân quyền. Mô hình các nước xã hội
chủ nghĩa thực chất là đã không tuân thủ các nguyên tắc
này. Hôm nay, chú chỉ nói với các cháu xu hướng của thời
đại, của thế giới. Các cháu lớn rồi, tự các cháu suy nghĩ và
quyết định”.
Cũng như khi nói chuyện ở Ký túc xá Ngô Gia Tự, trong
cuộc nói chuyện ở 53 Nguyễn Du, ông Trần Xuân Bách
không hề sử dụng trực tiếp từ “đa nguyên”. Dù rằng ông đã
khéo léo để trình bày khá đầy đủ quan điểm của ông: “cải
cách kinh tế phải đi đôi với cải cách chính trị”130. Ông Trần
Xuân Bách nhắc lại điều mà ông nói trước cuộc hội thảo của
các nhà xã hội học tháng 10-1988 rằng, “chủ nghĩa tư bản
hiện đại, có nhiều cái khác với thời Mác”. Ông nói, phải có
tư duy khoa học chứ “tụng từng câu Kinh Thánh trong sách
Mác không bảo vệ được chủ nghĩa Mác đâu”131.
Cuộc nói chuyện ở 53 Nguyễn Du vào ngày 13-12-1989
được coi như “giọt nước tràn ly”. Phát biểu của ông Trần
Xuân Bách được Câu lạc bộ Những người Kháng chiến cũ
lược ghi, quay ronéo và phổ biến. Bài viết định đăng trên tờ
báo Khoa Học & Tổ Quốc của Liên hiệp các hội Khoa học và
Kỹ thuật, số ra ngay sau đó nhưng không thành. Tới số 3-
1990, Khoa Học & Tổ Quốc mới cho đăng một tin ngắn về sự
kiện Trần Xuân Bách nói chuyện tại 53 Nguyễn Du, đồng
thời trên hai số liên tiếp, 3 và 4-1990, Khoa Học & Tổ Quốc
cho đăng hai bài viết, một của ông Đỗ Đức Dục, cựu tổng
thư ký Đảng Dân chủ và ông Đặng Kim Giang, ký tên là
Lương Dân, nói về “đa nguyên, đa đảng”.
Tổng thư ký tòa soạn tờ Khoa Học & Tổ Quốc lúc đó, ông
Phạm Quế Dương, kể: “Đoạn cuối trong bài của ông Đỗ Đức
Dục kêu gọi ‘đa nguyên, đa đảng’, tôi định cắt nhưng ông
Trần Văn Giàu khi đó là chủ tịch danh dự của Liên hiệp hội
đọc và không cho tôi cắt. Báo vừa ra thì bị tịch thu và công
an khởi tố vụ án”.
Đầu năm 1990, sau khi chủ nghĩa xã hội sụp đổ ở Đông
Âu, các tổ chức “người Việt chống Cộng” ở nước ngoài, kể cả
các tổ chức trước đó chủ trương vũ trang lật đổ, cũng bắt
đầu ra nhiều tuyên ngôn, tuyên cáo, kêu gọi “chuyển lửa về
quê hương”. Đặc biệt là bức tâm thư của nhóm các “trí thức
thiên tả” ở nước ngoài, những người một thời đã đứng về
phía Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam.
Theo ông Nguyễn Ngọc Giao, một trí thức Việt kiều tại
Pháp đã từng phiên dịch cho Lê Đức Thọ thời kỳ Hội đàm
Paris: “Ngay trong nội bộ phong trào Việt kiều ủng hộ cuộc
kháng chiến chống Mỹ, cũng đã có ít nhất bốn bản tâm thư
kêu gọi dân chủ hóa đời sống chính trị Việt Nam, song bản
tâm thư mà chúng tôi công bố có tiếng vang hơn cả, có lẽ vì
nó tập hợp rộng rãi những thành viên tiêu biểu ở các nước,
nội dung thể hiện một lập trường chân thành và trách
nhiệm, kiên quyết mà ôn hòa”132.
Ngày 22-1-1990, nhóm Nguyễn Ngọc Giao gửi về Việt
Nam bản Tâm Thư kêu gọi cải cách với mức khởi đầu có ba
mươi người ký, gồm: Vĩnh Anh (Canada), Lê Văn Cát (Tây
Đức), Huỳnh Trí Chánh (Nhật), Nguyễn Văn Chuyển (Nhật),
Lê Văn Cường (Pháp), Nguyễn Ngọc Giao (Pháp), Lê Thành
Khôi (Pháp), Lâm Thành Mỹ (Pháp), Bùi Văn Nam Sơn (Tây
Đức), Phạm Ngọc Thuần (Pháp), Trương Phước Trường (Úc)
…133.
Đầu năm 1990, bệnh tình của Lê Đức Thọ bắt đầu chuyển
nặng trong khi sức khỏe của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh
đã được cải thiện nhiều.
Theo ông Lê Đăng Doanh: “Ông Nguyễn Văn Linh bắt đầu
ra tay. Ông Đỗ Mười ủng hộ. Để có thể bàn việc kỷ luật Trần
Xuân Bách mà không có Trần Xuân Bách, thay vì Bộ Chính
trị họp chính thức, ông Linh có sáng kiến để cho Phạm Văn
Đồng, lúc này là cố vấn Ban Chấp hành Trung ương, mời các
ủy viên Bộ Chính trị tới nhà ông họp. Cuộc họp đầu tiên của
Bộ Chính trị để phê phán Trần Xuân Bách bắt đầu vào ngày
2-2-1990 tại nhà riêng Phạm Văn Đồng”.
Tại Hội nghị Trung ương 8, khóa VI, họp trong Nhà Rùa,
nằm cạnh khu Biệt thự Tây Hồ, kéo dài từ ngày 12 đến 27-
3-1990, Trần Xuân Bách bị phê phán nặng nề suốt gần một
tuần và theo ông Lê Đăng Doanh, người có mặt tại Nhà Rùa
trong suốt mười lăm ngày hội nghị: “Trong hai lần phát biểu
ý kiến vào ngày 17 và 27-3-1990, ông Bách đã đơn thương,
độc mã phê bình Nguyễn Văn Linh gay gắt”.
Phía những người muốn loại trừ ông Bách cũng có những
cân nhắc, theo ông Trần Trọng Tân: “Tôi có nói với Võ Chí
Công là kỷ luật Trần Xuân Bách phải nên tính toán thế nào
để tránh bị bên ngoài lợi dụng. Võ Chí Công nói Bộ Chính trị
đã có tính toán. Lúc đầu Ủy ban Kiểm tra cũng dự kiến chỉ
khiển trách trong Trung ương. Nhưng, Trần Xuân Bách
cương quá lại còn nói như dạy cho các ủy viên khác về đa
nguyên nên nhiều người tức”.
Ngày Chủ nhật 25-3-1990, Bộ Chính trị lại họp tại nhà
Phạm Văn Đồng. Cố vấn Phạm Văn Đồng được Bộ Chính trị
nhờ làm trung gian thương lượng với Trần Xuân Bách. Ngày
27-3-1990, vào lúc 6 giờ 30 sáng, Phạm Văn Đồng gọi Trần
Xuân Bách sang gặp, nói: “Nếu hôm nay anh nhận lỗi thì sẽ
giữ anh lại trong Trung ương. Nếu không nhận lỗi thì anh
chỉ còn là đảng viên thường thôi”. Trần Xuân Bách đứng lên:
“Tôi có lỗi gì đâu”. Phạm Văn Đồng khuyên: “Có lúc cũng
phải mềm dẻo để tồn tại, khi gặp thời thế lại đứng lên”.
Nhưng, Trần Xuân Bách nói: “Tôi có lỗi thì mới nhận được,
không có lỗi mà nhận sẽ tạo ra một tiền lệ xấu cho những
đồng chí khác”. Rồi Trần Xuân Bách đi về nhà, chọn bộ đồ
sang trọng nhất: sơ mi trắng, vét đen mặc vào, đàng hoàng
đi ra Nhà Rùa. Hôm ấy Trung ương biểu quyết, kỷ luật cách
hết mọi chức vụ của ông.
Vợ ông, bà Trần Thị Đức Thịnh được tin chồng mình bị kỷ
luật vào tối 28-3-1990, qua Đài Tiếng nói Việt Nam khi
đang công tác ở Quảng Ninh. Phần cuối “Thông báo của Ban
Chấp hành Trung ương” được đọc trên Đài và đăng trên các
báo vào sáng hôm sau viết: “Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp
hành Trung ương (Khóa VI) đã quyết định cách chức ủy viên
Bộ Chính trị, bí thư Trung ương, ủy viên Ban Chấp hành
Trung ương Đảng đối với đồng chí Trần Xuân Bách, vì đã vi
phạm nghiêm trọng nguyên tắc tổ chức và kỷ luật của
Đảng, gây ra nhiều hậu quả xấu”.
Bà Thịnh kể: Tối hôm đó về tới nhà, anh kêu tôi ngồi
xuống: “Em bình tĩnh, để anh nói em nghe”. Tôi bảo: “Trên
ô tô em đã nghe Đài nói rồi. Anh đã không đội ghế lên đầu,
từ bỏ những điều mà mình tin là đúng. Anh yên tâm, anh
của em sẽ có sự nghiệp”. Anh ôm lấy tôi, nước mắt hai
hàng: “Thịnh ơi anh đã không nhầm khi chọn em”134.
Đêm ấy, khi dọn đồ, bà Thịnh nhìn thấy một gói nhỏ
trong có hai bộ quần áo màu cứt ngựa, hai áo may ô, hai
quần đùi, vài thứ thông dụng và một mảnh giấy: “Nếu người
ta đưa anh đi luôn thì em gửi mấy thứ này vào cho anh”. Bà
sững sờ, thì ra, trong buổi sáng 27-3-1990, sau khi gặp
Phạm Văn Đồng, Trần Xuân Bách đã chuẩn bị cho mình khả
năng bị bắt. Ngay lúc đó, bà Thịnh tự nhủ: “Mình phải
không để cho ai biết là mình buồn, mình khổ, nhất là những
người ghét chồng mình nhất”. Bà nói với ông Bách: “Kể cả
em phải ra đường bưng mẹt thuốc lá để bán em cũng ráng
nuôi con ăn học, anh yên tâm”. Trong thời gian Trung ương
đang kiểm điểm Trần Xuân Bách, bà Thịnh cho biết: “Ông
Nguyễn Văn Linh mấy lần nhắn tôi sang nói chuyện để về
thuyết phục anh Bách. Nhưng tôi không sang”135.
Tuy vẫn được ở lại tòa biệt thự cũ thêm một thời gian,
nhưng năm ngày sau Hội nghị Trung ương 8, tiêu chuẩn sữa
tươi cho ủy viên Bộ Chính trị, 2 lít/ngày, mà Ban Tài chính
Quản trị Trung ương vẫn cung cấp cho ông, bị cắt. Khi ông
Bách còn tại chức, ngày nào cửa hàng Tôn Đản cũng mang
tới tận nhà ông nào thịt, nào cá tươi, gạo ngon, sau khi ông
ra khỏi Trung ương, mọi thứ không còn nữa.
Từ năm 1984-1989, bà Thịnh vừa làm việc ở Ban Tài
chính Quản trị Trung ương vừa đi học Đại học Thương mại
tại chức. Khi ông Trần Xuân Bách còn đương chức, đích thân
một thứ trưởng Bộ Thủy sản đến tận nhà “xin” bà Trần Thị
Đức Thịnh về công tác tại Seaprodex. Quyết định điều động
bà Thịnh về Seaprodex được ký vào ngày 15-2-1990. Chưa
kịp bố trí chức vụ cho bà thì ông Trần Xuân Bách mất chức.
Bà Thịnh nhớ lại: “Họ cử tôi ra đứng vỉa hè giữ xe gắn máy
cho khách đến liên hệ với cơ quan”. Bà nói: “Tôi không để
anh ấy biết, tôi không muốn anh ấy bị hẫng. Tôi tự đi mua
sữa tươi, vẫn ngày hai lít. Anh tưởng tôi vẫn lấy sữa của
Trung ương, kiên quyết bảo tôi phải từ chối. Suốt ba năm
người ta không trả lương cho anh, còn tôi thì cả năm không
được giao việc”.
Để nuôi chồng và hai con ăn học, bà Thịnh kể: “Tối tối,
tôi xin đi rửa chén ở các nhà hàng. Tôi phải đi xa, trùm
khăn kín mặt cả mùa đông lẫn mùa hè để không có ai nhận
ra. Có thời gian, cứ nửa đêm, tôi nhận đi áp tải các xe chở
sắt cho các công trường xây dựng. Chở sắt sang Gia Lâm, tôi
được trả ba đồng một đêm. Anh thấy tôi đi sớm, về khuya,
tưởng tôi vẫn được trọng dụng”.
Bà Thịnh kể tiếp: “Mấy năm sau, có người bạn cũ gặp lại
mời tôi đi ăn bún chả. Tôi ăn một mạch hết hai bát, không
còn nhớ đến có ai ở xung quanh. Ăn xong, tôi thú thật với
bạn tôi, suốt hai năm trời tôi không hề được ăn một miếng
thịt vì có miếng nào lại để dành cho chồng, cho con. Thỉnh
thoảng, đợi anh đi ngủ tôi mới lấy miếng cơm cháy, rưới ít
mỡ vào, đốt lên bếp may xo, ngồi ăn cho đỡ thèm chất mỡ.
Nhưng, điều khó khăn nhất của tôi là chứng kiến sự ghẻ
lạnh. Kể từ sau khi anh mất chức, những ai đã từng cười với
tôi mấy lần ở đâu, tôi vẫn còn nhớ rõ và vô cùng biết ơn
họ”.
Hơn một tháng sau ngày Trung ương kỷ luật Trần Xuân
Bách, tại miền Nam, Tạ Bá Tòng, Hồ Hiếu, Đỗ Trung Hiếu bị
bắt. Một người ủng hộ Câu lạc bộ Những người Kháng chiến
cũ, ông Lê Đình Mạnh, sau đó cũng bị bắt theo. Trước đó,
vào ngày 21-3-1990, ông Nguyễn Hộ bỏ Sài Gòn về Phú
Giáo, một vùng đất cách Sài Gòn sáu mươi cây số. Ngày 7-
9-1990, khi ông Nguyễn Hộ đang bơi xuồng trên sông Sài
Gòn thì bị bắt. Ông bị giam tại Xuân Lộc bốn tháng, sau đó
được đưa về quản thúc tại nhà riêng trên đường Võ Văn
Tần.
Dù vậy, các nhà trí thức trong nước vẫn lên tiếng mạnh
mẽ: Hà Sĩ Phu viết bài Dắt Tay Nhau Đi Dưới Những Tấm
Biển Chỉ Đường Của Trí Tuệ. Hoàng Minh Chính viết Ǵop Ý
Kiế n Vê ̀ Dự Thả o Cương Li ̃ nh. Lương Dân “Bà n Vê ̀ Sự L̃anh
Đạ o Củ a Đả ng”. Phan Đình Diệu “Kiế n Nghi ̣ Vê ̀ Mộ t Chương
Trì nh Cấ p Bá ch Nhă ̀ m Khắ c Phụ c Khủ ng Hoả ng Và Tạ o Điê ̀ u
Kịên Là nh Ṃanh Cho Sự Ph́at Trỉên Đ́ât Nứơc”. Trần Quốc
Vượng viết Nô ̃ i Ám Ảnh Củ a Quá Khứ . Nữ nhà văn Dương
Thu Hương dự đoán “nếu Đảng không cải cách sẽ có một
cuộc lưu huyết”136.
Cuối năm 1990, Đại tá Bùi Tín, phó tổng biên tập báo
Nhân Dân, quyết định ở lại Paris sau chuyến đi Pháp dự lễ
kỷ niệm ngày thành lập báo Humanité. Từ Paris, vào lúc 21
giờ 30 ngày 26-11-1990, Đại tá Bùi Tín gửi về nước “Bản
Kiến nghị của một công dân” và sau đó liên tục trả lời phỏng
vấn Trưởng ban Việt ngữ BBC Đỗ Văn, kêu gọi “xây dựng
một chế độ dân chủ thực sự có tính chất nhân dân” và đề
nghị “đổi tên nước thành Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đổi
tên Đảng thành Đảng Lao động Việt Nam, thực hiện hòa giải
dân tộc, thực hiện chính sách hòa bình, hữu nghị không liên
kết và hợp tác với tất cả các dân tộc”.
Trong khi dân chúng, đặc biệt là cán bộ đảng viên, lặng lẽ
đón nghe từng buổi phát thanh của đài BBC, nhân bản các
phát biểu của nhà báo Bùi Tín, truyền đọc và bình luận thì
Ban B́ i thư có hai thông báo cho rằng “Bùi Tín đã có những
hoạ t độ ng sai trá i ở
Ph́ap”. Sau khi nhắc lại “ṃôt śô quan ḥê
nam nữ b́ât ch́ inh” của Bùi Tín và tố cáo ông “ćo con trai
chạ y sang Hô ̀ ng Kông giữ a năm 1989 nhưng không b́ao ćao
v́ơi cơ quan và chi ḅô Đ̉ang”, Ban Bí thư cho rằng: “Ćac th́ê
lự c ph̉an đ̣ông đ̃a lợ i dụ ng và lôi ḱeo Bùi T́ in đ̉ê phụ c vụ âm
mưu c̉ua ch́ung hò ng ch́ông ph́a ćach ṃang nứơc ta, thự c
hiệ n diê ̃ n bíên hò a b̀inh, bôi x́âu Đ̉ang và Nhà nứơc ta, chia
r̃e nhân dân và Đ̉ang”137. Sự kiện Bùi Tín càng củng cố
những lo lắng của ông Nguyễn Văn Linh đối với giới văn
nghệ sỹ.
Cũng trong thời gian đó, một số tổ chức Việt kiều và các
nhà văn nước ngoài bắt đầu liên lạc gặp gỡ, mời các nhà văn
trong nước đi ra nước ngoài. Trong một số lần gặp gỡ những
chức sắc văn nghệ, ông Nguyễn Văn Linh cho rằng những
người này đã được các “thế lực phản động nước ngoài nuôi
dưỡng”. Các văn kiện chính thức cũng xếp những phát biểu
này vào danh mục những “bà i ńoi, bà i víêt ch́ông đ́ôi ch́ê đ̣ô
và sự l̃anh đ̣ao c̉ua Đ̉ang”138. Trước Đại hội lần thứ VII, tháng
6-1991, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh ra lệnh bắt giam nhà
văn Dương Thu Hương139.