http://www.vietthuc.org/tu-maspero-den-nguyen-hy-vong-mot-buoc-khong-lo-tim-ve-nguon/
---
www.vietthuc.org
2014 JULY 18 Tu Dien NGTV.jpg B300
Người Việt đầu tiên nhìn ra tiếng Việt đời Trần (TK 13) khác tiếng Việt đời ông là nhà bách khoa Lê Quý Đôn (1726-1784) ở thế-kỷ thứ 18, tức 500 năm sau. Mày mò trong thư-tịch Trung-hoa về VN, ông đã tìm ra mười mấy chữ tiếng Việt do sứ Trần Cang-trung của nhà Nguyên ghi lại trong Sứ Giao-châu thi-tập, như “trời” của ta ngày nay được ghi lại là “bột lồi” (tức “blời”), “mặt trăng” là “bột văn” (tức “bwăng” hay “blăng”), “mẹ” là “na” (tức “nạ” như trong “nạ dòng”), “con gái” là “can ái” (tức “con gái” như ngày nay) v.v.
Nhưng phải đợi đến Henri Maspero với bài nghiên cứu vĩ đại của ông đăng trong Bulletin de l’Ecole française d’Extrême Orient số 1, Tập XII (1912), trang 1-127, mang tên “Etudes sur la phonétique historique de la langue annamite: Les initiales” (“Nghiên cứu về âm-học lịch-sử của tiếng Việt: Các âm đầu”), chúng ta mới có một bản nghiên cứu khoa-học dựa trên ngôn-ngữ-học hiện-đại để chứng minh là trong tiếng Việt:
“Những tiếng [gốc] Môn-Mên vừa nhiều vừa quan-trọng: các tên số, nhiều từ thông-dụng,” như “rú” (nghĩa là “rừng”), “sông” (>klong), “con” (> kôn), “cháu” (> chau), “tay” (> đăy), “mắt” (> mòt), “mũi” (> muh), ngày (> tngay), cá (> ka), “áo,” “xống” (> sarong), “chim,” “chó” (> klo), “lúa,” v.v.
“Những tiếng nói về nền văn-minh [nông-nghiệp] là [gốc] Thái.” Đó là những từ như “đồng” ruộng, “gà,” “vịt” (>pệt), gạo (>khảo), “nhíp” (= khâu) v.v.
Song nếu Maspero mới hé trông ra những nguồn gốc Đông-Nam-Á của tiếng Việt, có cả nghìn cả vạn năm trước khi tổ-tiên chúng ta chung đụng với tiếng Hán, thì Bác-sĩ Nguyễn Hy Vọng, làm việc miệt mài trong 33 năm trời, đã nhận diện được 27.500 từ tiếng Việt gốc từ 57 thứ tiếng Nam-Á và Đông-Nam-Á mà ông liệt-kê trong bộ từ-điển đồ sộ của ông. Sự-kiện về sau, trong hơn 2000 năm chung đụng với tiếng Hán, nhất là sau khi tiếng Hán (và nhất là chữ Hán, chữ nho) trở thành chuyển-ngữ trong các văn-kiện của triều-đình, tiếng nước ta đã vay mượn một số vốn từ-ngữ khổng-lồ từ tiếng Trung-hoa vẫn không xóa nhòa được những nguồn gốc Đông-Nam-Á và Nam-Á, Nam-đảo của tiếng nước ta.
Chính đây là nguồn cội của sự hãnh-diện mà người Việt vẫn giữ được về tiếng mẹ đẻ của chúng ta. Có lần tôi nghe (và được đọc cả) ông Giáo-sư P.J. Honey, một người Ăng-lê rất giỏi tiếng Việt, nói là tiếng Việt lệ-thuộc vào tiếng Tàu nhiều quá. Tôi liền phản-pháo: Các thứ tiếng Âu-châu, trong đó có tiếng Anh của ông, hầu như mất gần hết ngữ-vựng gốc của mình sau khi bị tiếng La-tinh tràn sang, do đó mà các thứ tiếng Âu-châu ngày nay, chẳng hạn, chỉ còn một cách gọi các con số:
Pháp: un, deux, trois, quatre, cinq, six, sept, huit, neuf, dix…
Ý: uno/a, due, tre, quatro, cinque, sei, sette, otto, nove, dieci…
Y-pha-nho: uno/a, dos, tres, cuatro, cinco, sei, siete, ocho, nueve, diez…
Anh: one, two, three, four, five, six, seen, eight, nine, ten…
Đức: ein, zwei, drei, vier, fűnf, sechs, sieben, acht, neun, zehn…
tất cả đều là gốc tiếng La-tinh, không còn dấu vết đâu cách đếm tiếng Celtic gốc của tiếng Pháp (Gaulois) hay tiếng Anh (Irish hay Welsh).
Trái lại, nếu trong tiếng Việt chúng ta có lúc phải mượn của Trung-hoa cách đếm “nhất, nhị, tam, tứ, ngũ, lục…” thì bên cạnh đó ta vẫn giữ được cách đếm “một, hai, ba, bốn, năm…” mà ta chia xẻ với tiếng Miên (“muy, pir, bei, buon, pram…”), đặc-biệt chữ “prăm” ta vẫn còn dấu vết trong những chữ như “[mười] lăm, [hăm] lăm, [ngày] rằm”…
Cũng tương-tự, nếu ta có mượn của tiếng Hoa những chữ như sau thì bên cạnh đó ta vẫn giữ cách gọi thuần Việt mà gốc gác là tiếng Miên hay Mã-lai Đa-đảo như:
Tiếng Hán: diện (như trong “diện mạo”), mục, nhĩ, khẩu…
Tiếng Việt: mặt, mắt (>mata Mã-lai Đa-đảo), tai, mồm, miệng…
Giá trị cuốn Từ Điển Nguồn Gốc Tiếng Việt
Trên đây chỉ là vài thí dụ tôi xin đưa ra để chứng mình nguồn gốc của tiếng Việt rõ ràng không phải là từ tiếng Trung-hoa, tiếng Hán dù như trong tiếng Việt của chúng ta ngày nay chúng ta cũng có cả một kho tàng tiếng Hán-Việt (đủ nhiều để người ta có thể làm thành cả những bộ từ-điển Hán-Việt, như của Đào Duy Anh, Nguyễn Văn Khôn, v.v.).
Song giá-trị của bộ Từ Điển Nguồn Gốc Tiếng Việt của B.S. Nguyễn Hy Vọng nằm ở chỗ nó không chỉ chứng minh được vài trường-hợp lẻ tẻ (như trong sách Nguồn gốc Mã-lai của dân-tộc Việt-nam của Bình Nguyên Lộc). Sự-kiện ông đã chứng minh được nguồn gốc của gần 30 nghìn từ VN bằng cách so sánh những từ đó với các từ đồng-dạng (cognates) trong các thứ tiếng lân-cận đã biến bộ sách của ông thành một bước tiến khoa-học mà không còn ai có thể phủ-nhận được nữa. Có lẽ do đó mà Thư-viện Quốc gia Pháp đã chấp nhận bảo trợ bộ sách của ông như một đại-tác-phẩm trong việc nghiên cứu nguồn gốc của tiếng Việt từ những ngày thật xa xưa, xa ta cả hàng ngàn, hàng vạn năm, trước cả khi nhân-loại có chữ viết rất nhiều–nghĩa là hoàn-toàn dựa trên phát âm và những biến-dạng (có thể) của phát âm qua dòng lịch-sử, ngành mà ta gọi là âm-học lịch-đại (diachronic phonology).
2014 JULY 18 NhungNeoDuongTiengViet.jpg A 300
1. Giải thích một số trường-hợp
Là một người chú ý nhiều đến ngôn-ngữ-học lịch-sử, trong một thời-gian dài tôi (và có lẽ không ít người trong chúng ta) đã không hiểu một số âm hay từ mà ta thường cho là vô nghĩa như: nhạt nhẽo, xin xỏ, chim chóc, ngắn ngủi, rời rạc, lem luốc, trắng bóc, trắng muốt, đen kịt, gần sịt…
Chính thật, những chữ này không hề vô nghĩa. Tra từ-điển của B.S. Nguyễn Hy Vọng, chúng ta sẽ tìm được ra ngay những nghĩa của chúng như:
“nhẽo” là đến từ tiếng Miên “nhiâw” hay Mường “lạt lẽo”
“xỏ” > Tày, Thái, Nùng “xỏ” (= xin)
“chóc” > Tày, Thái, Nùng “chóc” (= chim sẻ)
“ngủi” > Miên “t’ngôy” (= rất ngắn)
“rạc” > Miên “chrak” (= rã rời)
“luốc” > Miên “pop’lok” hay Mường “luốc” (= dơ bẩn)
“bóc” > Miên “kbOh” (= rất trắng)
“muốt” > Miên “hmOt” (= hoàn-toàn)
“kịt” > Miên “kngit” (= rất tối)
“sịt” > Thái, Lào “sít” (= rất gần)
2014 JULY 18 NhungNeoDuongTiengViet.jpg A 300
2. Giải thích cả chữ Nôm, tiếng Nôm
Điều đặc-biệt làm tôi thích thú là cuốn Từ Điển Nguồn Gốc Tiếng Việt của B.S. Nguyễn Hy Vọng đã giúp tôi giải quyết một số từ ngữ thấy trong các bản văn Nôm cổ, tỷ như của Nguyễn Trãi (1380-1442), mà từ trước tới giờ các học-giả từ Bắc chí Nam, từ quốc-nội ra đến hải-ngoại đều hóc. Đó là những trường-hợp như:
- Hai chữ “song viết” (đọc theo cách Hán-Việt) tìm thấy trong thơ Nguyễn Trãi, Hồng-đức Quốc-âm thi-tập, thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585). Trong một thời-gian dài, không ai biết đọc thế nào là đúng và nghĩa là gì. Người đề nghị đọc là “rong vát,” người thì cho phải đọc là “song nhật,” người thì lại nghĩ phải đọc là “suông nhạt” hay “sớm hôm, sớm tối” song nghĩa chắc chắn là gì thì không ai biết. Cuối cùng, cách đây gần 20 năm, B.S. Nguyễn Hy Vọng đã cho tôi hay đây là một từ có nguồn gốc Lào (“song watr”) Thái (“song wat”) mà nghĩa là “nếp sống, cuộc sống, đời sống.” Như vậy, “Song viết ai bằng song viết ngư,” chẳng hạn, thì nên đọc là “Song wát ai bằng song wát ngư” (= Cuộc sống ai bằng được cuộc sống của người câu cá!).
- Chữ “địch” (đọc theo cách Hán-Việt) mà viết rất rõ ràng trong 2-3 cách trong thơ Nguyễn Trãi mà cụ Đào Duy Anh lúng ta lúng túng, cho rằng viết sai và phải đọc tất cả là “thú” một cách rất tùy tiện. Sau khi nghiên cứu kỹ càng, tôi cho rằng nhất quyết phải đọc là “rịt” theo cách phát âm của miền Nam, một cách đọc được G.S. Nguyễn Đình Hòa ủng-hộ hoàn-toàn, với nghĩa là “cột, buộc chặt” (như “rịt vết thương”). Mở từ-điển của B.S. Nguyễn Hy Vọng (trang 1571), ông cũng đồng-ý cách đọc này nhưng lại cho rằng nó có nghĩa là “trống, hở” như trong “trống gió, hở gió.” Cho tới nay, các học-giả ở trong nước vẫn chưa đồng-ý được với cách đọc của tôi nhưng cũng lại không biết đọc là gì nên tỏ ra rất bối rối.
- Cuối cùng, trong dịp tôi nghiên cứu tập thơ Lưu Hương Ký của nữ-sĩ Hồ Xuân Hương (1770?-1840?), tôi gặp hai chữ Nôm (trong bài “Thạch Đình tặng”) mà mặt chữ bắt buộc phải đọc là “vả vê” (Câu đầu bài: “Đường nghĩa bấy nay chót vả vê”). Tra không thấy đâu trong các từ-điển chữ Nôm hai chữ này, tôi cũng khá phân vân không biết mình phiên âm như vậy có đúng không. Nhưng khi nhận được bộ từ-điển của B.S. Nguyễn Hy Vọng, tôi đã tìm được ngay đồng-minh nơi trang 2024 mục “Vả” và “Vả vê” gốc Thái Lào có nghĩa là “vắng vẻ, trống vắng.”
Như vậy, rõ ràng là bộ Từ Điển Nguồn Gốc Tiếng Việt của B.S. Nguyễn Hy Vọng là một bước tiến khổng-lồ trong việc soi tìm về nguồn gốc của tiếng Việt nâng những ức-đoán của Henri Maspero, Nguyễn Bạt Tụy, André G. Haudricourt lên thành một khoa-học với đầy đủ bằng-chứng hùng-hồn về nguồn gốc KHÔNG TÀU của tiếng Việt mến yêu.
Nguyễn Ngọc Bích
Đồng Xuân, Bang Trinh Nữ, Hoa Kỳ Quốc Đêm 30/9/2014
www.vietthuc.org
2 Comments »
Quang Nguyễn says:
October 18, 2014 at 9:23 pm
Trích :
{ Hai chữ “song viết” (đọc theo cách Hán-Việt) tìm thấy trong thơ Nguyễn Trãi, Hồng-đức Quốc-âm thi-tập, thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585). Trong một thời-gian dài, không ai biết đọc thế nào là đúng và nghĩa là gì. Người đề nghị đọc là “rong vát,” người thì cho phải đọc là “song nhật,” người thì lại nghĩ phải đọc là “suông nhạt” hay “sớm hôm, sớm tối” song nghĩa chắc chắn là gì thì không ai biết. Cuối cùng, cách đây gần 20 năm, B.S. Nguyễn Hy Vọng đã cho tôi hay đây là một từ có nguồn gốc Lào (“song watr”) Thái (“song wat”) mà nghĩa là “nếp sống, cuộc sống, đời sống.” Như vậy, “Song viết ai bằng song viết ngư,” chẳng hạn, thì nên đọc là “Song wát ai bằng song wát ngư” (= Cuộc sống ai bằng được cuộc sống của người câu cá!). }
Font chữ Thái , font chữ Lào cũng không phải là khó tìm .
Đề nghị tác giả Nguyễn Hy Vọng công bố chữ viết của tiếng Thái (“song wat”) và tiếng Lào (“song watr”) để tiện việc tra cứu .
Quang Nguyễn says:
October 18, 2014 at 11:33 pm
Re: Đọc Nôm
Posted by: huongho&nguyen tien dung (—.lightspeed.irvnca.sbcglobal.net)
Date: October 18, 2014 08:26PM
Từ Maspero Đến Nguyễn Hy Vọng:
Một Bước Khổng-Lồ Tìm Về Nguồn
GS. Nguyễn Ngọc Bích
October 2, 2014
….
Cuối cùng, trong dịp tôi nghiên cứu tập thơ Lưu Hương Ký của nữ-sĩ Hồ Xuân Hương (1770?-1840?), tôi gặp hai chữ Nôm (trong bài “Thạch Đình tặng”) mà mặt chữ bắt buộc phải đọc là “vả vê” (Câu đầu bài: “Đường nghĩa bấy nay chót vả vê”). Tra không thấy đâu trong các từ-điển chữ Nôm hai chữ này, tôi cũng khá phân vân không biết mình phiên âm như vậy có đúng không. Nhưng khi nhận được bộ từ-điển của B.S. Nguyễn Hy Vọng, tôi đã tìm được ngay đồng-minh nơi trang 2024 mục “Vả” và “Vả vê” gốc Thái Lào có nghĩa là “vắng vẻ, trống vắng.”
Nguồn : [
www.vietthuc.org]
GS. Nguyễn Ngọc Bích kính ,
Ông GS đề cập đến 2 chữ VẢ VÊ ( Nôm ) mà lại không minh họa chữ viết . Đâu phải ai cũng có sách Lưu Hương Ký trong tay như ông đâu !
Tuy vậy , xin được mách với ông GS rằng :
1- Cụ Paulus Của có giải nghĩa 2 chữ VẢ VÊ ( Nôm ) trong tự vị của cụ đấy .
Đại Nam Quấc Âm Tự Vị – Huình TịnhPaulus Của
( 把 )VẢ VÊ = Ham muốn sự gì ( mục từ VẢ )
VẢ VÊ ( 潙 ) = sa mê , ham hố ( mục từ VÊ )
2- Ông Nguyễn Hy Vọng không biết một tí gì về Hán cũng như Nôm .
Trước đây , ở Viện Việt Học , có lần ông NH Vọng định viết chữ ĐAO 刀 thì lại viết lộn thành chữ LỰC 力 .
Sự việc này có giáo sư Lê Văn Đặng ở Viện Việt Học minh chứng cho chúng tôi .