Fwd: [ykhoahue] Fwd: Lại nói về "ôn" LÊ KHẮC QUYẾN và "chiết" gia PHẠM CÔNG THIỆN

321 views
Skip to first unread message

ThuBa

unread,
Dec 18, 2016, 10:37:18 AM12/18/16
to ant...@yahoogroups.com, 'ThuBa' via quangte


Sent from my iPad

Begin forwarded message:

From: Dung Ma <vand...@hotmail.com>
Date: December 17, 2016 at 11:30:44 PM PST
To: "cho...@yahoo.com" <cho...@yahoo.com>
Subject: Fwd: [ykhoahue] Fwd: Lại nói về "ôn" LÊ KHẮC QUYẾN và "chiết" gia  PHẠM CÔNG THIỆN

Mời đọc và tuỳ nghi phán xét 

Sent from my iPhone

Begin forwarded message:

From: Giao Le <giao...@yahoo.com>
Date: December 17, 2016 at 7:34:58 PM PST
Subject: Fw:  Fwd: [ykhoahue] Fwd: Lại nói về "ôn" LÊ KHẮC QUYẾN và "chiết" gia  PHẠM CÔNG THIỆN
Reply-To: Giao Le <giao...@yahoo.com>




Date: October 28, 2016 at 12:28:17 AM PDT
Subject: Lại nói về "ôn" LÊ KHẮC QUYẾN và "chiết" gia NGUYỄN CHÍ THIỆN :-) !


Cuối tuần nói chút chút về
"ôn" LÊ KHẮC QUYẾN và
"chiết" gia PHẠM CÔNG THIỆN

Thưa đại sư ca Khôi Hoàng và các quí hữu,

Cám ơn đại sư ca giới thiệu bài viết cảm động, soi sáng rõ hơn về triết gia Phạm Công Thiện. Riêng Mõ có một đôi điều muốn thưa ở đây, mong được các cao nhân chỉ giáo thêm.

1/
Về bác sĩ LÊ KHẮC QUYẾN. Theo em biết ở Huế dòng họ Lê Khắc rất nổi tiếng. Chính vì thế mà ông Quyến tốt nghiệp đại học Y Hà Nội và trình luận án năm 1943 với đề tài Étude expérimentale et essais clinique d'une eau sulfatée calcique et magnésienne au Tokin. La source de Ban Kai.

Ông là một bác sĩ của giới bình dân trong  nhiều năm tại Huế, nên được nhiều người yêu thương. Ông đã tích cực tham gia thành lập trường Y ở Huế, nên được giới trí thức ở Huế mến mộ. Không ít người được ông nâng đỡ, để sau này trở thành trụ cột của y khoa Huế.

Một con người tài cao có lòng bác ái vị tha như ông, không thể nào không trăn trở trước tình hình quê hương đất nước. Tuy nhiên dấu hỏi lớn ở đây ông có phải là một trí thức Cộng Sản hay thiên tả như không ít người đã dám khẳng định qua giấy trắng mực đen ! (xem comment bên dưới bài viết giới thiệu sách mới của bà Lê Khắc Thanh Hoài của ông Phạm Trọng Chánh)
Rất may là ông chưa đến nỗi bị người ta kết án phạm tội giết người như anh em nhà Hoàng Phủ Ngọc Phan và Ngọc Tường trong thảm sát Tết Mậu Thân ở Huế.

Mõ tôi biết sơ sơ về ông hồi còn sinh viên. Số là lên năm thứ năm (niên khóa 1972-73) tôi đi thực tập môn sản phụ khoa ở bệnh viện Nguyễn Văn Học (đã xây lại hoàn toàn mới và mang tên mới Trung tâm Thực tập Y khoa Gia định). Mỗi tuần một lần vào khoảng 12 giờ trưa tại giảng đường nhỏ xíu ở khu ngoại chẩn có Staff Meeting dành riêng cho khu Sản phụ khoa. Tôi rất thích nên thường cố tham dự, bởi thày trưởng khu Nguyễn Ngọc Giệp giảng giải hấp dẫn, dễ hiểu và dễ nhớ, nhất là thày cực kỳ dễ thương.
Xin được phép nói thêm luôn ở đây Mõ tôi thấy ở trường Y có một vài người giảng dậy rất hay. Trong số đó có hai ông Nguyễn Văn Điềm khi giảng lâm sàng (tại giường bệnh) về tim, và ông Nguyễn Ngọc Giệp. Ông Điềm tính tình lỗ mãng, nên học trò xếp hàng đi theo đuôi ông thụ giáo, nhưng lại rất ngại tính khí "cà chớn" của ông. Ngược lại ông Giệp luôn luôn hòa nhã, tỏ ra vô cùng thông thái về chuyên môn, nhất là trong các  buổi Staff Meeting (chẳng hạn của liên khu Sản hai bệnh viện Nguyễn Văn Học và Từ Dũ tại giảng đường Từ Dũ, dành cho sinh viên, resident và sage-filles). Lớp tôi đã học ông Giệp một số giờ hồi năm thứ hai qua môn Dược Liệu học (Pharmacology). Ông giảng thao thao bất tuyệt, rất uyên bác và hấp dẫn. Lúc đó tôi đâu biết ông là giáo sư Sản phụ khoa !
Staff Meeting ở Nguyễn Văn Học thường qui tụ chừng 10 người, bao gồm sinh viên thực tập và một vài bác sĩ trong khu. Có lần tình cờ tôi thấy ông Giệp hướng về cuối giảng đường hỏi to: Anh Quyến có ý kiến gì không ? Tôi quay lại thấy một người đàn ông lớn tuổi mặc thường phục ngồi im lặng từ đầu đến cuối ở một góc cuối phòng. Ông này chỉ lắc đầu nhè nhẹ và tôi cũng "chả thèm" để ý đến. Sau buổi họp tôi có hỏi bạn bè và được biết đó là bs Lê Khắc Quyến. Thê thôi.

Thú thật trong Sản khoa ngoài các thày bà quen thuộc đang giảng dậy, tôi chỉ nghe tiếng ông Đặng Hóa Long. Nghe tiếng ông này cũng chỉ qua bộ sách về Sản khoa viết bằng tiếng Việt, mà tôi tìm đọc để hiểu cho kỹ bài của thày Hồ Trung Dung giảng cours hoàn toàn bằng tiếng Pháp, trên giảng đường, về các ngôi thai (présentation) từ đầu phô (présentation céphalique), đít phô (présentation du siège), vai phô (présentation de l'épaule), lưng phô cho đến ngôi thai nằm ngang (présentation transversale) ... Có lúc tôi lẫn lộn hai ông này với nhau.

Tôi còn nghe nói sau đó là khi rời bỏ Huế vào Sài Gòn lập nghiệp, ông Lê Khắc Quyền chỉ làm nhà thương Tàu ở trong Chợ Lớn. Và lúc đó tôi cho là chuyện bình thường, bởi trước đó tôi có biết chuyện ông Nguyễn Văn Điềm bỏ Huế "lưu vong" vào Sài Gòn, cố trụ lại ở khu Nội thương (phụ nữ) bv Nguyễn Văn Học, sau khi được Huế gửi đi tu nghiệp về Tim ở Mỹ, tôi nghe đồn như thế.

Chuyện hoạt động của ông Quyến ra sao ở Huế, tôi mới biết chi tiết chừng hơn 15 năm nay thôi, nhất là khi tìm hiểu về trường y Huế. Tôi tò mò về vai trò của ông Bùi Duy Tâm (Tâm nhỏ) ở yk Huế, khi muốn viết bài về yksg, giới thiệu các giáo sư ở yksg thuộc thế hệ trẻ đào tạo từ Mỹ về. Và tôi mới biết được công lao to lớn của ông Quyến ở đó.
Có lúc tôi tham gia tranh luận ở web Đàn Chim Việt, tôi đọc được những comment kết án nặng nề ông Quyền, nên tôi mới cố tìm hiểu sâu hơn nữa về ông Quyến. (Thêm một chi tiết nhỏ bà xã cũ tôi cũng thuộc dòng họ Lê Khắc, có họ hàng chi đó với ông Quyền tôi ko rõ lắm, bởi bố vợ tôi di cư vào Nam từ nhiều năm rồi, nên gia đình đứt liên lạc với cánh bên nội ở Huế)

Cá nhân tôi luôn luôn kính trọng ông Quyến, bởi như tôi trình bày trong thư trước với đại sư ca Hoàng Ngọc Khôi về quan điểm chính trị của người dân Việt, nhất là trong giới trí thức miền Nam, không thể đánh đồng cho tiện việc chính phủ bằng cách qui chụp vào hai cực xanh (quốc gia) hay đỏ (cộng sản); hay chi tiết hơn một chút có thêm thành phần thứ ba (nửa xanh nửa đỏ), mà phía xanh kết tội là thiên tả, thậm chí chửi rủa đó là những kẻ xanh vỏ đỏ lòng, ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản; cộng sản cũng chẳng tha, kết án đó là những kẻ "hữu khuynh" !
Thực tế thì đấy là hình ảnh của quang phổ ánh sáng bao gồm các màu căn bản trải dài giữa hai cực: đỏ, cam, vàng, lục, lam, chàm, tím ... Và chúng rất sinh động, không đứng yên, trái lại biến thái liên tục theo từng thời gian và không gian !
Cứ xem các đại trí thức trong ngành Y thì rõ. Thí dụ như ông Tâm lớn hay ông Tâm nhỏ chẳng hạn. Thay đổi như "cắc kè bông" ��
Ông Tâm lớn ban đầu theo phân công ở lại vùng Tề, để cánh Tôn Thất Tùng theo Boác Hù làm chuyện "khiến chán" ! Rồi ông Tâm lớn theo Tây di cư vào Nam sau khi được "hưởng ơn mưa móc" (từ ông thày ruột Pierre Huard) làm khoa trường trong 13 năm dài ! (Xin lỗi nếu Mõ tôi có mạo phạm ai đó, bởi làm khoa học là phải biết liên tục đặt dấu hỏi nhớ ☹! Có phải thân ở một nơi và hồn một nói nên ông thày cứ như Từ Thứ khi khuất thân về với Tào Tháo chăng ?) Cho nên chi ông ở lại sau 1975 chờ ông anh lớn Tôn Thất Đức (như một số đàn anh viết bài trong số đặc biệt tập san y học Canada để tưởng niệm thày Tâm lớn)  vô Nam thăm !???
Ông Tâm nhỏ xin miễn bàn, ông này lắm chiêu nhiều phép, quậy tới bến ��

Nói chơi cho dzui, tôi cố tình bày đặt chế ra các dấu hỏi nhỏ đó trong ca ông Tâm lớn, để ai đó có ý kết án ông Lê Khắc Quyến nên suy nghĩ cho thật kỹ trước khi đặt các dấu hỏi vô tội vạ như tôi cố ý thực hiện bên trên !
Tôi cho rằng trước tiên ông Quyến là một trí thức lớn, tài ba và rất yêu nước, không phe phái cụ thể nào hết. Xin lý giải ngay dưới đây.

1.1/
Nếu theo CS ông đã theo chúng ngay từ hồi 1945 như các bạn đồng trang lứa. Hay sau 9 năm kháng chiến, tức ngay sau Hiệp định Geneva 1954. Ngược lại ông ở lại trong Nam và sau này giúp linh mục Cao Văn Luận thành lập trường Y Huế nói riêng và Viện đại học Huế nói chung.
Chỉ đến khi anh em ông Diệm ló mòi độc tài gia đình trị gây bất mãn sâu rộng trong Nam, và tìm mọi các trấn áp Phật giáo, nhất là cánh Phật giáo miền Trung, ông mới tỏ thái độ chính trị quyết liệt hơn.

1.2/
Dĩ nhiên là một trí thức Phật giáo đức cao trọng vọng ông không khỏi đau xót trước cảnh chiến tranh ngày một lên cao, do Mỹ tự động leo thang chiến tranh cốt để giải quyết thật mau nan đề Việt Nam bằng giải pháp quân sự.
Triệt để tuân thủ theo đức hiếu sinh của thuyết nhà Phật, dĩ nhiên ông cũng như các tu sĩ Phật giáo chủ trương rất ôn hòa, tức muốn dùng giải pháp ôn hòa nhất, nói rõ là phương sách "hòa giải hòa hợp dân tộc", để làm áp lực các bên chấm dứt chiến tranh.
Tất nhiên CS có thừa kinh nghiệm và thủ đoạn để xâm nhập vào hàng ngũ Phật giáo (như chúng đã làm với các tôn giáo khác và cả với phía chính quyền, lẫn các đảng phái và tổ chức dân sự khác ở trong Nam). Có thể nói là CS tìm mọi cách lợi dụng sự ngây thơ của các tu sĩ và trí thức để làm lợi cho chúng.
Tất nhiên phía chính quyền quân phiệt miền Nam cũng không bỏ qua cơ hội để đập tan mọi chống đối, nhằm thâu tóm quyền lực gọn trong tay.
Nói chung, Phật giáo trong cơn pháp nạn chưa từng thấy trong lịch sử Phật giáo thời hiện đại. Đến nay giáo hội PG vẫn còn đang chịu nhiều tai ương nghiệp chướng, từ mọi phía và cũng từ trong nội bộ rất nhiều. Đó là hình ảnh năm cha ba mẹ chung của các đoàn thể chính trị, tôn giáo, xã hội ... VN

1.3/
Tứ khi ông Quyến "di cư" vào Sài Gòn tôi không thấy có ai bàn tán đến vụ ông Quyến và cũng ko thấy ông tham gia hoạt động chính chị chính em nào thì phải !
Tôi ko rõ ông mất năm nào. Và nếu ông là V+ thì cũng ko thấy chúng đá động, thậm chí vinh danh chi ông hết cả.

Hôm nay tôi sưu tầm được một tin quan trọng sau đây:
Một thời gian phục vụ cho đời, đóng góp cho Đạo, Cư sĩ đã thuận thế vô thường, với căn bệnh nan y, Cư sĩ đã ra đi năm 1978, thọ 63 tuổi.

1.4/
Bên dưới thư này, tôi sưu tầm được bài viết của tác giả Lê Văn Lân, ko rõ có phải của bác sĩ đàn anh Lê Văn Lân hay chăng !???
Bài viết phân tích có tình có lý. Tôi đọc nó sau khi đã giải bày tâm sự ở phần trên về ông Quyến. Tôi đã muốn viết về ông từ lâu, bởi thấy ông là một trong những cây đại thụ ở thời kỳ khởi đầu nền Tây y bản xứ. Ông lại có công lớn trong công cuộc xây dựng ngành Y nước nhà, thế mà rất ít người biết đến ông. Đó là chưa kể không ít kẻ biết về ông rất mơ hồ và lại manh tâm bóp méo khiến số người hiểu sai lạc về ông càng nhiều.

Nói thật tôi thực sự buồn cho dân mình ở điểm PHÍ PHẠM NHÂN TÀI ! Đã nghèo không biết quí trọng và tôn vinh người tài người có tâm huyết, lại đang tâm vùi dập vì nhiều lý do, trong đó do lòng đố kỵ, ganh ghét, vì ngu dốt ...
Chẳng hạn V+ tìm mọi cách trù dập các cá nhân có lòng với đất nước, điển hình như MC Phan Anh chẳng hạn. Đơn giản Phan Anh bỗng chốc trở nên quá nổi danh, thậm chí át cả toàn cộng đảng trong hai vụ liên tiếp là cứu trợ nhân đạo cho nạn nhân Formosa và lũ lụt do thiên tai và nhân tai (xả lũ "đúng qui trinh" của đập thủy điện Hố Hô ở Hà Tĩnh), khiến V+ mất mặt, phải tìm cách một mặt "dằn mặt" Phan Anh ở tội "dám cầm đèn chạy trước ô-tô", thứ nữa để ngăn chặn làn sóng cách mạng đang bùng nổ mạnh là các phong trào đòi cải thiện dân sinh và dân chủ tự do !
CS muốn độc quyền thâu tóm tất cả trong tay, cho nên bất cứ cá nhân hay tổ chức đoàn thể nào ngoài đảng gây được tiếng vang, chiếm được cảm tình trong dân, là chúng tìm cách triệt hạ ngay tức khắc.
Cụ  thể ở T+ Pháp luân công bị đàn áp tàn bạo chưa từng thấy. Còn ở Ta hiện nay V+ đang soạn thảo các luật lệ về việc thành lập các xã hội công dân, tức các tổ chức đoàn thể dân sự (phi chính phủ), đứng ngoài đảng. Bởi lẽ chúng sợ một ngày nào đó các bất mãn từ quần chúng dưới tên phong trào DÂN SỰ BẤT TUÂN (DÂN SỰ BẤT PHỤC TÙNG CHÍNH PHỦ; CIVIL DISOBEDIANCE) dâng cao thành các ngọn sóng thần (tsunami) cuống phăng chúng ra biển Đông cùng với đám Tàu lạ và dìm tất cả vào lòng Thái Bình dương !

2/
Ai nsao tôi ko rõ, nhưng thuở học dự bị y khoa (APM = Année Préparatoire au Médecine) nhân lúc đi gác đêm quân sự học đường hồi Tết Mậu thân 1968 trong khuôn viên trường Khoa học. Tôi mượn cuốn sách đang ăn khác nhất lúc đó của thằng bạn thân từ trung học Trần Trung Hòa (đang hành nghề bác sĩ gia đình ở Úc) để đọc giải trí. Hình như đó là quyển "Hố thẳm của tư tưởng" mà tác giả là Phạm Công Thiện. Mới đọc được vài trang tôi bắt gặp câu chữ "tôi hiếp dâm mặt trời đẻ ra mặt trăng" làm tôi hãi hùng quăng trả lại sách cho thằng bạn rồi sách súng Carabine tìm cắc kè bắn cho nó im tiếng kêu vang trong đêm thanh vắng khiến mọi người mất ngủ (phải mài dũa đẻ gỡ đầu đạn và bỏ bớt thuốc súng hơn phân nửa, rồi khéo léo nhét cái đầu lọc thuốc là Salem hay Capstan)

Nếu tôi nhớ không lầm ông PCT ca tụng triết gia Đức Heidegger ghê lắm trong tác phẩm ấy thì phải. Lâu quá rồi, nhất là tôi dị ứng với hiện tượng PCT, nên ko còn nhớ kỹ nữa.
Thú thật hiện tượng này với hiện tượng BÙI GIÁNG tôi muốt ko trôi ! Chỉ có ông Võ Phiến hình như trong tác phẩm Tổng quan phê bình văn học miền Nam (? ) là khen ông "Boàng Dzúi" mần thơ như móc đồ trong túi, mà thơ không từng bài mà từng chùm ! Đúng là thứ nho .. chùm (trùm) hay nho thùng !

Lại thêm ông Võ Văn Ái, ca tụng ông BG hết mức trong tập san Quê Mẹ xuất bản ở Paris !

Bàn loạn mua dzui một chút cuối tuần, có gì trái tai gai mắt xin bỏ quan dùm.



TB:
Tôi quên kể một chi tiết nhỏ là bà vợ cũ của tôi mua được ở Parsi quyển Danh từ Y học của ông Lê Khắc Quyến có bìa màu xanh da trời. Tôi xem sơ qua thấy ko hay lắm nên để trưng bày chơi trong tủ sách chứ hầu như ko bao giờ đụng đến.


=====
==============

Đọc Sách “Chuyện Một Người Đàn Bà.. Năm Con”
của Lê Khắc Thanh Hoài

Phạm Trọng Chánh

Bà Thanh Hoài này là con của BS Lê khắc Quyến, đảng viên chủ chốt CS nằm vùng, như bài báo CS xác nhận sau :

Bác sĩ Lê Khắc Quyến trong phong trào đô thị

Những năm 1950 ở Huế có Chi bộ trí thức, nhiều người nói vui “Chi bộ bơ sữa” và nói như đồng chí Trần Hân, nguyên Bí thư Thị ủy Huế thời đó: “Người dân làm gì có bơ sữa để ăn”.

Những người trong Chi bộ trí thức phần lớn là những người “Tây học”, có uy tín lớn trong xã hội, hiểu rõ nền dân chủ phương Tây. Ông là một trong những đảng viên chủ chốt trong chi bộ (Nguyễn Hữu Đính, Tôn Thất Dương Kị, Thân Trọng Phước, Tôn Thất Dương Tiềm, Nguyễn Ngọc Bang…) chủ lực trong Phong trào hòa bình sau hiệp định Genève. Phong trào hòa bình và tập văn Ngày Mai đã tập hợp đông đảo các nhân sĩ trí thức lớn ở Huế đấu tranh đòi hòa bình, đòi thi hành hiệp định Genève, đòi thống nhất Tổ quốc, đòi dân sinh dân chủ… Với nhiều yêu sách và những cuộc xuống đường thu hút hàng vạn người.



====
=========
================


Chuyện về bác sĩ Lê Khắc Quyến

15:24 | 12/10/2015

LÊ VĂN LÂN

Trong phong trào đô thị Huế, từ phong trào hòa bình 1954 - 1955, phong trào Phật giáo ở Huế những năm 1963 - 1964 đến phong trào li khai ở Huế 1966, có một nhân vật khi nhắc đến hầu như ai cũng biết - đó là bác sĩ Lê Khắc Quyến, nguyên Giám đốc Bệnh viện Trung ương Huế, nguyên Khoa trưởng Đại học Y khoa Huế.
Chuyện về bác sĩ Lê Khắc Quyến
Bác sĩ Lê Khắc Quyến
Ông là một bác sĩ tài năng và đức độ, là một yếu nhân trong sáng lập và là người có những tác động mang tính quyết định việc ra đời Đại học Y khoa Huế; là Chủ tịch Hội đồng Nhân dân Cứu quốc và là thành viên Thượng Hội đồng Quốc gia thời tam đầu chế “Minh-Khiêm- Khánh”. Có nhiều cái nhìn khác nhau từ hai phía về bác sĩ Lê Khắc Quyến, kể cả những người trong họ tộc. Nhưng, có một cái nhìn chung nhất: Ông là một người yêu nước chân chính, yêu nước quyết liệt và dữ dội.

Bác sĩ Lê Khắc Quyến là ai?

Những người hoạt động cùng thời với ông đều đã mất nên việc tìm hiểu về bác sĩ Lê Khắc Quyến là rất khó khăn, tài liệu về ông lại rất hạn hẹp, trong họ tộc hiểu về ông cũng mơ hồ, đồng nghiệp hiểu về ông cũng có mức độ. Trong tình hình chính trị phức tạp thời đó cũng như mối quan hệ rộng rãi của ông khó có cái nhìn đầy đủ. Qua những điều thu thập được, chúng tôi thử phát thảo chân dung ông và mong muốn những góp ý bổ sung để có một chân dung nhân vật lịch sử này một cách hoàn chỉnh.

Bác sĩ Lê Khắc Quyến sinh năm 1915 và mất năm 1978. Ông quê gốc làng Văn Xá, Hương Trà, Thừa Thiên Huế nhưng sinh ra và lớn lên ở Quảng Bình, bố ông là ông Lê Khắc Tuệ, là “ông phán đầu tòa” dinh phó sứ Quảng Bình. Gia đình ông lập đồn điền Văn Lương 45 mẫu (Trung Bộ). Từ nhỏ ông học hành nổi tiếng ở Đồng Hới. Có một chuyện vui, lần thi tốt nghiệp tiểu học ông đã làm cho cả nhà “hết hồn”. Buổi sáng treo bảng, ông bỏ trường chạy về nhà, khóc như mưa như gió, gia đình an ủi ông. Cũng vừa lúc ấy chú Trợ Mân (Lê Khắc Mân) cũng dạy trường ấy hớt hải chạy về tìm, bế xốc ông lên xe kéo vù vù về trường. Thì ra ông đỗ thủ khoa! Xướng tên thủ khoa, không thấy học trò bước lên lĩnh thưởng, bà đầm chánh chủ khảo bắt chú Trợ Mân về tận nhà đưa ông tới. Rồi chính bà đầm chánh chủ khảo bế xốc ông lên cho thầy trò cả trường tung hô. Từ ấy cho tới năm tốt nghiệp y khoa ông luôn được cấp học bổng.

Trung học ông học tại Albert Sarrault (Hà Nội) và tốt nghiệp trung học ở đây, sau đó học trường y và tốt nghiệp bác sĩ y khoa 1943. Cùng thời với ông học trường y Hà Nội có các bác sĩ Tô Đình Cự, Phạm Biểu Tâm, Tôn Thất Tùng, Đặng Văn Chung,… thế hệ vàng của ngành y Việt Nam. Ra trường ông lần lượt đảm nhận những chức vụ quan trọng trong ngành y: Giám đốc Bệnh viện Nha Trang, giám đốc Bệnh viện Trung ương Huế, giám đốc y tế trung phần, khoa trưởng Đại học Y khoa Huế, Tổng Biên tập nguyệt san y khoa lấy tên Lành Mạnh. Trong cách mạng tháng 8 thời kỳ 1945 - 1947 ông cùng bác sĩ Trần Hữu Nghiệp phụ trách Quân y viện Mang Cá cứu chữa thương bệnh binh khu vực Trung - Trung Bộ. Và từ năm 1970 đến lúc mất ông là Giám đốc Bệnh viện Sùng Chính (TP. HCM).

Người dân Huế những năm 1950 - 1970 không ai là không biết ông. Ông có phòng mạch ở 7 Thượng Tứ, đối diện phòng mạch, ông mở “nhà thương thí”. Người khá giả muốn tới đây hưởng thuốc hay thầy giỏi thì phải thanh toán đầy đủ để gánh vác phần chi phí cho người kém may mắn kể cả tiền nuôi y tá, điều dưỡng viên. Người nghèo khổ cô đơn được miễn cả tiền thuốc, tiền phòng, tiền ăn (rõ ràng đây là một mô hình ưu việt của ngành y cùng lúc chăm sóc sức khỏe cho người giàu lẫn người nghèo). Ông không hưởng một chút lợi nhuận thù lao nào từ “nhà thương thí”. Người nghèo bệnh nặng qua đời ông còn cho tiền mua vải liệm, tiền thuê xe chở thi hài về quê…

Là người ở cạnh nhà bác sĩ Quyến, Quế chi Hồ Đăng Định trong Thượng Tứ ngày xưa nhớ nhớ… quên quên đã viết: “Ôn Đốc nổi tiếng là một bác sĩ giỏi khắp thành phố Huế và các miền phụ cận cũng như tiếng tăm lan ra đến cả vùng quê xa xôi hẻo lánh. Nhiều khi người ta dùng đò để chở bệnh nhân từ dưới biển, từ các quận, huyện hay dùng xe chở bệnh nhân nặng từ Quảng Trị nhờ quan Đốc cứu chữa và không chỉ là “May thầy phước chủ”. Mà chính là nhờ tài năng và tấm lòng lương y nên ôn Đốc đã cứu sống nhiều mạng người mà trong nhiều trường hợp tưởng chừng đã tuyệt vọng.

Một bằng chứng mà tôi được biết, Ôn Đốc Quyến là người có xe hơi đầu tiên trong xóm Thượng Tứ nhờ chính tài ba của Ôn. Tôi nhớ rất rõ chiếc xe Peugeot 202 màu nâu trông như con bọ hung là quà tặng của ông bà chủ lò bánh mì Lí Lâm Tinh tặng ông vì ông đã chữa trị cho bà mẹ ông bà Lí Lâm Tinh qua cơn nguy kịch”.

Theo bác sĩ Đoàn Văn Quýnh, học trò ông kể lại: Ông là người có cuộc sống giản dị, mặc dù có ô tô nhưng từ nhà đến trường Y, từ trường Y đến bệnh viện ông đều đi xe đạp là chính. Những năm 60, Huế có trận dịch tả lớn, khu truyền nhiễm Trần Hưng Đạo thuộc Bệnh viện Trung ương Huế rất đông bệnh nhân và mất vệ sinh (thậm chí bệnh nhân đi ngoài ở trong phòng phải dùng vòi nước để xịt) y bác sĩ ai cũng ngại vào thăm khám. Ông buộc cán bộ y tế vào phòng bệnh phải đi guốc mứt, mặc quần “cháo lòng”… Rất an toàn. Tâm lý e ngại không còn nữa. Trong sự kiện Phật giáo tại Đài Phát thanh Huế ông là người trực tiếp đến thăm khám các thánh tử đạo.

Bác sĩ Lê Khắc Quyến có quan hệ mật thiết với gia đình Ngô Đình Diệm ở Huế, thậm chí là người có ơn với gia đình họ Ngô. Hễ mẹ đau yếu là Ngô Đình Cẩn mời ông đến khám chữa. Gia đình họ Ngô đã biếu ông một chiếc Mezcedes choáng lộn “Để bác sĩ có phương tiện tới giúp mẹ tôi cấp thời…”. Những năm 1955 - 1956, loại xe này được quy định là xa xỉ phẩm. Thuộc chế độ ưu tiên nhập cảng dành riêng cho các quan chức cao cấp chính phủ, người dân không được sử dụng, trị giá của chiếc xe đó khoảng 200.000đ, trong lúc đó lương của công chức khoảng 1800đ đủ để nuôi vợ con. Sau sự kiện Đài Phát thanh Huế năm 1963, ông Diệm đã mời ông vào Sài Gòn để nói về vấn đề Phật giáo…

Công lao của bác sĩ Lê Khắc Quyến đối với Đại học Y khoa Huế rất lớn. Khi xây dựng trường có nhiều trở lực lớn, không chỉ ở trong ngành mà ngay cả các quan chức của chính phủ. Ông và linh mục Cao Văn Luận bằng uy tín, năng lực và nỗ lực của mình vận động thuyết phục cả trong và ngoài nước, và là một trong những thành viên sáng lập, điều hành Đại học Y khoa Huế trong một thời gian dài; ông đã góp phần đào tạo những lớp bác sĩ đầu tiên cho Huế và cả miền Trung. Những học trò cưng của ông đều trở thành những bác sĩ giỏi có tiếng khắp nước như Đặng Ngọc Hồ, Hoàng Quỳnh, Trần Tiễn Sum,…

Bác sĩ Lê Khắc Quyến là một Phật tử thuần thành. Ông có 10 người con. Người con trai út của ông là Lê Khắc Nhàn, pháp danh Hằng Trường, là một đại đức nổi danh đang thực hành Bồ tát hạnh ở California, Mỹ. Ông có quan hệ mật thiết với các cao tăng ở Huế. Trong cuốn tự truyện của Hòa thượng Thích Trí Quang, viết về ông khá đậm nét: “Bác sĩ Lê Khắc Quyến, pháp danh Nhật Thắng, đệ tử tổ đình Quốc Ân, người Huế. Tôi là bệnh nhân đến khám bệnh tại phòng mạch tư của ông ở cửa Thượng Tứ. Bấy giờ ông là Giám đốc Bệnh viện Trung ương Huế. Sau đó được biết bà cụ thân sinh ông là em ruột cụ bà Lê Văn Định. Mối liên hệ Phật giáo của ông là như vậy, chưa kể thân sinh của ông cũng là đệ tử tổ đình Quốc Ân, bổn sư là ngài Đắc Quang, tăng cang quốc tự Linh Mụ,… Ông có nhà mới, lớn và đẹp ở phía Nam thành phố, nhưng chưa kịp ở. Ông tham gia cuộc vận động 1963 của Phật giáo, mất hết chức và nhà, bị bắt bị tù. Khi tham gia, ông tự biết sẽ phải như vậy.

Sau Phật Đản dăm ba ngày, một buổi sáng gặp tôi, ông cho biết ông Diệm mời ông vào Sài Gòn để nói về vấn đề Phật giáo. Ông hỏi tôi muốn nói gì, tôi nói, xin nói rất thật tâm của tôi. Tôi không mưu đồ gì cả, chỉ phản ứng vì hết mức chịu đựng sự xúc phạm quá đáng đến Đức Phật và Phật giáo của tôi mà thôi. Vấn đề như vậy quá dễ giải quyết cho tổng thống chứ không thương tổn gì.

Hôm sau bác sĩ Quyến về Huế nói, ông mời ông vào để nghe ông nói, chứ không phải để nói cho ông nghe! Bác sĩ Quyến tham gia hết lòng vào 1963, sau đó, đến nỗi mất sạch, bị bắt bị tù, vẫn không chán bỏ đạo pháp, không mưu đồ gì, cho đến hết đời.
Bác sĩ Lê Khắc Quyến và tướng Dương Văn Minh - Ảnh: TL

Bác sĩ Lê Khắc Quyến trong phong trào đô thị

Những năm 1950 ở Huế có Chi bộ trí thức, nhiều người nói vui “Chi bộ bơ sữa” và nói như đồng chí Trần Hân, nguyên Bí thư Thị ủy Huế thời đó: “Người dân làm gì có bơ sữa để ăn”. Những người trong Chi bộ trí thức phần lớn là những người “Tây học”, có uy tín lớn trong xã hội, hiểu rõ nền dân chủ phương Tây. Ông là một trong những đảng viên chủ chốt trong chi bộ (Nguyễn Hữu Đính, Tôn Thất Dương Kị, Thân Trọng Phước, Tôn Thất Dương Tiềm, Nguyễn Ngọc Bang…) chủ lực trong Phong trào hòa bình sau hiệp định Genève. Phong trào hòa bình và tập văn Ngày Mai đã tập hợp đông đảo các nhân sĩ trí thức lớn ở Huế đấu tranh đòi hòa bình, đòi thi hành hiệp định Genève, đòi thống nhất Tổ quốc, đòi dân sinh dân chủ… Với nhiều yêu sách và những cuộc xuống đường thu hút hàng vạn người.

Bác sĩ Lê Khắc Quyến là một người sống hòa nhã gần gũi với mọi người; nhưng khi xuất hiện trong phong trào đô thị ông như một mãnh tướng và rất lẫm liệt. Thời bảo hộ, cụ Nguyễn Hữu Đính kể lại: Có lần trong một dịp lễ, chính quyền động viên nhân dân treo cờ, gia đình ông không treo bị hối thúc và nhắc nhở mãi ông mới treo, nhưng cờ là chiếc quần đùi của ông. Khi tập văn Ngày Mai ra đời, ông là cây bút tiên phong trong việc vạch trần chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ.

Tham gia phong trào đô thị, ông đã tạo nên những sự kiện vang dội tác động sâu sắc đến phong trào ở Huế cũng như dư luận rộng rãi trên thế giới. Trong phong trào Phật giáo năm 1963, chính quyền Ngô Đình Diệm đã cách chức Viện trưởng Viện Đại học Huế - linh mục Cao Văn Luận và bổ nhiệm giáo sư Trần Hữu Thế, nguyên đại sứ tại Philippines, nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục làm Viện trưởng. Tại buổi lễ bàn giao Viện trưởng Viện Đại học Huế trước đông đủ các khoa trưởng trường đại học, và các giáo sư Viện Đại học Huế, ông đã đứng dậy tuyên bố kể từ hôm nay các giáo sư thuộc viện Đại học Huế từ chức để phản đối quyết định cách chức linh mục Cao Văn Luận. Thái độ quyết liệt này đã làm ngỡ ngàng những người dự họp. (Trước gia đình họ Ngô ít ai dám phản ứng mạnh mẽ và quyết liệt như vậy, ông lại là người có quan hệ mật thiết với gia đình này). Và như một phản ứng dây chuyền, sinh viên các trường đại học xuống đường bãi khóa để phản đối. Tất nhiên, thái độ quyết liệt này ông đã trả một giá rất đắt. Gia đình họ Ngô bắt giam hành hạ ở địa ngục Chín Hầm, ông ở đó cho đến ngày đảo chánh lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm 1/11/1963, sinh viên Huế lên đón ông trở lại mái trường Đại học Y khoa Huế.

Sau chính biến 1/11/1963, phong trào đô thị ở Huế lên cao, mà đỉnh điểm là sự ra đời của Hội đồng Nhân dân Cứu quốc mà ông là Chủ tịch Hội đồng. Hội đồng Nhân dân Cứu quốc tập hợp hầu hết các nhân sĩ trí thức lớn ở Huế, đặc biệt là trong giới đại học đấu tranh mạnh mẽ chính quyền độc tài Nguyễn Khánh, đòi nghiêm trị dư đảng Cần Lao, kêu gọi nhân dân chống quân phiệt... Cơ quan ngôn luận của Hội đồng Nhân dân Cứu quốc là báo Tranh Đấu ra hằng ngày. Báo Tranh Đấu cùng báo Lập Trường đã trở thành diễn đàn của người dân Huế đấu tranh cho một nền dân chủ thật sự, chống độc tài, chống dư đảng Cần Lao, chống quân phiệt. Cũng ở thời điểm này Hội đồng Nhân dân Cứu quốc đã ra một mệnh lệnh chấn động thời bấy giờ: Ra lệnh tập đoàn Cần Lao phải đến trình diện và tự thú trước Hội đồng trong vòng một tuần lễ từ 14/9 đến 21/9 năm 1964, quá thời hạn trên sẽ áp dụng những biện pháp cứng rắn. Tàn dư bộ máy cai trị của gia đình họ Ngô bị phá rã tan hoang trước thái độ quyết liệt này. Uy tín ông ngày càng lên cao, buộc chính quyền Sài Gòn phải mời ông cùng giáo sư Tôn Thất Hanh, khoa trưởng Đại học Khoa học Huế tham gia vào cơ quan tối cao “Thượng Hội đồng Quốc gia”. Đây cũng là thời điểm phong trào đô thị Huế phát triển mạnh mẽ, thành phố rầm rập những cuộc xuống đường mittinh, biểu tình, đình công bãi thị, đốt phòng Thông tin văn hóa Hoa Kỳ, đốt Tòa lãnh sự Mỹ, hình thành đoàn sinh viên quyết tử, chiến đoàn binh biến Nguyễn Đại Thức, các trường trung học đều hình thành tổ chức học sinh chiến đấu. Khi đề cập đến những biến động dữ dội tại miền Trung, thiếu tướng Đỗ Mâu trong hồi kí Việt Nam máu lửa quê hương tôi đã nhận xét về ông: “Trong hàng ngũ đấu tranh Phật giáo, trước hết có ông Lê Khắc Quyến, Chủ tịch Hội đồng Nhân dân Cứu quốc là một phần tử thân kháng chiến mà nhiều người ở Huế biết rõ”.

*

Hiểu về bác sĩ Lê Khắc Quyến đến nay nhiều người vẫn còn mù mờ. ngay trong gia tộc người ta cũng hiểu về ông không đúng. Những đồng nghiệp của ông cũng có người cho rằng ông không phải là con người của chính trị. Có nhiều ý kiến khác nhau về ông ở nhiều phía. Nhưng có điều, là kẻ sĩ thì không thể “trùm chăn” và phải có trách nhiệm với đất nước. Cuộc dấn thân bao giờ cũng đặt ra cho người trí thức một sự lựa chọn nghiệt ngã và cái giá phải trả không nhỏ. Ông phải trải qua những ngày tháng đen tối ở địa ngục trần gian Chín Hầm trong phong trào Phật giáo 1963. Ông phải rời trường Đại học Y khoa Huế sau sự kiện li khai 1966, ngôi trường mà ông đã dành bao công sức, tâm huyết, tình cảm của mình để xây dựng, (ông bị chỉ định cư trú tại Sài Gòn). Nhưng đất nước, nhân dân ghi công ông, người dân Huế tự hào về ông: Huế đã có con đường mang tên đường Lê Khắc Quyến.

L.V.L  
(SDB18/09-15)


======
=============


Cư sĩ Lê Khắc Quyến (1915 – 1978)
Pháp danh : Nhật Thắng

Cư sĩ Lê Khắc Quyến sinh ngày 15 – 9 – 1915 tại làng Văn Xá, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Cư sĩ sinh ra trong một gia đình kính tín Tam bảo. Cả nhà đều là đệ tử của chùa Quốc Ân. Cha mẹ là đệ tử quy y với Hòa thượng Đắc Quang, Trú trì chùa Quốc Ân bấy giờ, riêng Cư sĩ thì Quy y với Hòa thượng Huyền Không (1906 – 1983) Trú trì Tổ đình Quốc Ân hiện tại nên Bác sĩ có Pháp danh Nhật Thắng. Thuở nhỏ học tại Huế, sau đó ra Hà Nội học Trung học và tốt nghiệp Trung học tại Albert Sarrault.
Cư sĩ đã học nghành y tại Hà Nội và tốt nghiệp y khoa Bác sĩ tại Hà Nội năm 1943.
Sau khi ra trường, Cư sĩ đã được bổ nhiệm đảm đương các chức vụ: Năm 1945, Giám đốc bệnh viện Nha Trang. Năm 1946, Cục trưởng Quân y Trung bộ Huế. Năm 1947 – 1966, Bác sĩ bệnh viện Huế.  Năm 1958 đến năm 1963, Giám đốc Y tế và Giám đốc bệnh viện Huế. Năm 1958 – 1965, Khoa trưởng Đại học Y khoa Huế. Năm 1970 – 1978, Giám đốc bệnh viện Sùng Chính. Ngòai ra, Cư sĩ (.....)


Tổng biên tập Nguyệt san Y khoa Đại học Huế lấy tên Lành Mạnh và biên soạn quyển Từ điển Danh từ Y học.
Trong một tài liệu do Giáo sư Thạc sỹ Y khoa Trần Ngọc Ninh viết nơi trang 37 trong một tác phẩm một chút lịch sử y khoa Đại học đường Sài gòn 1954 – 1975 do Hội y sĩ Việt Nam tại Canada xuất bản năm 2002 viết như sau: trường y khoa Huế lập ra năm 1962 với một chương trình 5 năm, không có năm dự bị. Người chủ động chính trong sự lập ra trường này là Bác sĩ Lê Khắc Quyến, khi ấy là Bác sĩ riêng của ông Ngô Đình Cẩn, nhưng Bác sĩ Quyến chỉ lợi dụng ông Cẩn để được phép và có phương tiện mở trường. Chương trình của trường đặt nặng vào sự phòng bệnh và hướng về những bệnh nhiệt đới đặc biệt của Việt Nam. Nhưng vì ông Khoa trưởng có những khuynh hướng chính trị rõ ràng nên sự tranh đấu ở đây được sự đồng tâm của cả thầy và trò : tất cả chống lại những chính phủ quân nhân từ đời Nguyễn Khánh đến đời Nguyễn Văn Thiệu. Trường Y khoa Huế lại được Tây Đức viện trơ, với sự đánh giá của phái đồn viện trợ Mỹ, và một giáo sư Đức, dạy về sinh lý và Thần kinh học thì cho Bác sĩ là một người thân Cộng sản.
Tôi dạy ở trường Huế một khóa ba tháng về “những bệnh bẩm sinh chữa được” và tham gia cuộc vận động chống lại chính phủ Nguyễn Khánh trong đó các giáo sư mặc y phục đại học, có sinh viên hộ tống, biểu dương lực lượng từ Viện Đại học đến tòa Đại sứ Hoa Kỳ. Ở Huế không có vấn đề sinh viên tranh đấu phá trường, trường tự phá.
Bác sĩ Lê Khắc Quyến ở Huế là một Phật tử thuần thành, hễ có thầy cô nào đau ốm, xuống phòng mạch của Bác sĩ khám và cho thuốc về uống là lành ngay. Bác sĩ có nhiều kinh nghiệm về các loại bệnh nhất là bịnh của các vị tu sĩ Phật giáo.


Một thời gian phục vụ cho đời, đóng góp cho Đạo, Cư sĩ đã thuận thế vô thường, với căn bệnh nan y, Cư sĩ đã ra đi năm 1978, thọ 63 tuổi.


==========

Nguồn : Internet

SỰ CẤU KẾT GIỮA THÍCH TRÍ QUANG & (bs) LÊ KHẮC QUYẾN

Trong phong trào Phật Giáo đấu tranh miền Trung năm 1963, do Trí Quang và một số tăng ni nằm vùng và toàn thể cán bộ CS trong chi bộ Thuận Hóa của Lê Khắc Quyến tích cực yểm trợ. Bọn CS nằm vùng này biết rõ hơn ai hết, các thầy trong chùa Từ Đàm chỉ có một số PT giới hạn, nhưng không có cán bộ xách động đấu tranh chuyên nghiệp. Bọn CS có cán bộ thành thạo việc xách động quần chúng, biết cách tổ chức đấu tranh có qui củ. Trong khi đó quần chúng VN đại đa số đều nghèo khổ, không có địa vị, nên thường dễ dàng nghe theo lời tuyên truyền rỉ tai, và dụ dỗ của CS nằm vùng. Nếu có kẻ nào cứng đầu, không nghe, bọn CS nằm vùng không ngần ngại gì áp dụng ngay biện pháp hù dọạ Có khi chúng dùng chính bàn tay của cơ quan an ninh và chánh quyền địa phương mù quáng, để thực thi những lời hăm dọa của chúng, khiến cho người dân thấp cổ bé họng chẳng còn biết nương tựa vào ai, phải khiếp sợ ngấm ngầm CS.
Ngay trong giai đoạn đầu, bọn cán bộ CS nằm vùng kể trên đã xuất hiện với lý do chính đáng là ủng hộ triệt để yêu sách của Phật Giáo, nguyện hy sinh tranh đấu cùng các tăng ni, Phật tử, rồi lại còn hô hào vận động thêm quần chúng tham gia đông đảo hơn nữạ Sau đó các thầy được đề cao lên đến tận chín tầng mây xanh, tưởng chừng như đức Phật Thích Ca sống lại cũng không bằng. Trong trường hợp này, dĩ nhiên các thầy đều không khỏi sướng rên lên. Vì các thầy đâu đã thành Phật hay Bồ Tát gì. Trong bụng ông thầy tu nào cũng vẫn có một phần cơm và một phần cứt như mọi chúng sinh thôi!
Từ đó các thầy chẳng khác nào những con cá đã ngậm phải lưỡi câu vô hình của bọn CS nằm vùng. Khi chợt biết ra, các thầy muốn nhả lưỡi câu trong họng cũng không còn kịp nữạ Vả lại, một khi đã được “thần thánh hoá” rồi còn ai dại gì muốn quay đầu trở lại, hiện nguyên hình làm một tên phàm phu tục tử nữả! Ay là chưa kể đến yếu tố TT Trí Quang chính là một cán bộ CS gộc. Điều này, tôi sẽ chứng minh trong một đoạn tớị Sau hơn 20 năm lưu vong, đồng bào tị nạn ở hải ngoại cũng như trong nước đều đã biết hết cả rồị
Trong đoạn này, tôi cần phải chứng minh cho mọi người thấy rõ cuộc đấu tranh của PG miền trung đã bị CS nằm vùng thao túng và lộng hành từ đầu đến cuối, như đang giữa thủ đô cờ đỏ sao vàng Hà Nộị Các sư Trí Quang, Thiện Minh chỉ là những kẻ cho mượn danh nghĩa, các chùa Từ Đàm, Diệu Đế chỉ là diễn trường của những vở bi hài kịch, và lá cờ PG chỉ là một cái vỏ bọc ngoài của một cái nhọt chánh trị đã tới hồi cương mủ, phải được xì rạ.
Nếu bạn đọc là những người từng theo dõi thời cuộc nước nhà trong những tháng từ 5 đến 11, năm 1963, chắc hẳn chưa quên tờ báo “LẬP TRƯỜNG”, với nhóm cán bộ CS nằm vùng đứng đầu là BS Lê Khắc Quyến.
Ngay từ lúc này, chi bộ Thuận Hóa của bác sĩ Lê Khắc Quyến, anh em nhà Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Lê Văn Hảo (hiện đã đào tẩu thiên đàng CS, chạy qua Paris rồi!), Tôn Thất Hanh, Lê Tuyên, Thân Trọng Phước, Võ Đình Cường, cư sĩ PG, tác gỉa cuốn “ÁNH ĐẠO VÀNG”… đã nhập cuộc.
Hiện nay Lê Khắc Quyến đã chết rồi, nhưng các đồng chí của ông ta vẫn còn sống và đang hoạt động cho CS. Bây giờ Võ Đình Cường đang phụ trách báo “GIÁC NGỘ”, ở đường Nguyễn Đình Chiểu, (tên cũ Phan Đình Phùng) là một tờ báo của tổ chức PG quốc doanh. Hơn thế nữa, nhóm CS nằm vùng này lại còn lập ra một tổ chức nhân dân hoàn toàn rập khuôn theo kiểu CS, với cái danh xưng cũng nồng nặc mùi CS là: “HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CỨU QUỐC”.
Chính Lê Khắc Quyến đã đứng tên chủ tịch của Hội Đồng. Nhóm ấy đã núp dưới danh nghĩa PG đấu tranh, lợi dụng tình thế rối loạn ở miền Trung, ngày 21. 9. 1964 đã tụ tập và kéo nhau đến đánh chiếm đài phát thanh Huế, đốt phá nhiều cơ sở chánh quyền ở Huế và Qui Nhơn…
Đêm 23.1.65, bọn “HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CỨU QUỐC” của Lê Khắc Quyến còn kéo nhau đến phòng thông tin Mỹ ném đá và đốt cháy thư viện Mỹ, gây thiệt hại trên 5000 quyển sách. Khi đó, ông phó lãnh sự Mỹ hay tin, đến nơi lo chữa cháy để cứu sách trong thư viện cũng đã bị bọn tay chân bộ hạ của Lê Khắc Quyến chọi đá vào ông ta, khiến ông ta đã bị thương trầm trọng, phải đưa vào nhà thương cấp cứu.
Hành động lợi dụng danh nghĩa PG đấu tranh chống kỳ thị tôn giáo, bọn Lê Khắc Quyến và HĐNDCQ của hắn đã phá rối nền trị an ở Huế đến cùng cực.
Những ai đã từng ở Huế trong thời gian này đều không khỏi ngao ngán, tưởng chừng như là một nơi “VÔ CHÁNH PHỦ” hay CSBV sắp vào tiếp thu đến nơi rồi!
Mặc dù Lê Khác Quyến và đồng bọn đã hành động phản bội quân dân miền Nam cách trắng trợn và công khai như thế – chỉ còn thiếu việc kéo cờ đỏ sao vàng lên Ngọ Môn Quan nữa mà thôi! – nhưng hắn vẫn không bị điều tra, và chẳng gặp chút khó khăn nào trước chánh quyền và luật pháp.
Ngược lại, bọn độc tài quân phiệt Dương Văn Minh, Nguyễn Khánh và Nguyễn Văn Thiệu… vẫn còn trọng dụng và ưu đãi hắn.
Ngày 8.9.1964, Lê Khắc Quyến và Tôn Thất Hanh đã được bổ nhiệm vào cái gọi là: “THƯỢNG HỘI ĐỒNG QUỐC GIA”.
Sau đó Lê Khắc Quyến lại còn được đổi vào Sài Gòn cho làm giám đốc bệnh viện Sùng Chính, trong Chợ Lớn.
Vậy, Lê Khắc Quyến là aỉ Nhân dân cố đô Huế không ai lạ gì ông bác sĩ đã được hưởng nhiều ơn mưa móc nhất của gia đình nhà họ Ngô trong suốt 9 năm trờị Đồng thời người dân xứ Huế cũng thừa biết ông ta là người “thân với bên kia”!
LÊ KHẮC QUYẾN LÀ AI?
Ngay từ khi ông Diệm chưa về nước chấp chánh, năm 1952, BS Lê Khắc Quyến đã được gia đình nhà họ Ngô mời làm y sĩ riêng cho thân mẫu của ông Diệm. Đến khi ông Diệm về nước, làm thủ tướng, rồi làm tổng thống, quyền uy lừng lẫy một thời, ở ngoài Trung, ông LK Quyến ra vào dinh Phủ Cam hàng ngày như ra vào nhà của ông.
Ngoài những ưu đãi về vật chất và thế lực chánh trị, LK Quyến còn được ông Diệm tặng riêng cho một chiếc xe du lịch hiệu Mercedes, trị gía khoảng 200.000 đồng.
Thời kỳ 1955-56, loại xe này được qui định là xa xỉ phẩm, cấm nhập cảng cho quần chúng xử dụng. Xe đó thuộc chế độ ưu tiên nhập cảng, chỉ dành riêng cho chánh phủ và một số dân biểu gia nô trong quốc hội đệ nhất Cộng Hòa.
Tưởng cũng nên nhắc lại một chút dữ kiện để bạn đọc trẻ tuởi ở hải ngoại dễ hình dung trị gía của số tiền 200.000 đồng VN thời 1955-56.
Lúc ấy, người công chức chỉ được lãnh mỗi tháng khoảng 1.800 đồng. Với số lương đó, người ta có thể nuôi được vợ và một đứa con!
Nhờ dựa vào thế lực nhà Ngô, LK Quyến còn được dạy học tại đại học Y Khoa Huế, và sau đó kiêm luôn chức khoa trưởng Y Khoa, thuộc viện đại học Huế.
Trong thời kỳ này chi bộ Thuận Hoá, dưới quyền chỉ huy của cán bộ LK Quyến vẫn âm thầm hoạt động, thật kín đáo, để không bị lộ tung tích.
Dù bận rộn một lúc nhiều chức vụ, nhiều công việc quan trọng, như: y sĩ riêng cho bà thân mẫu TT Diệm, giáo sư, khoa trưởng phân khoa y học, bác sĩ LK Quyến vẫn cố gắng duy trì phòng mạch của ông, đã mở từ trước năm 1952, tại gần cửa Thượng Tứ, Huế.
Vì chính nơi đây là trạm giao liên, đồng thời còn là trạm cứu thương, đặc biệt dành cho các cán bộ CS cao cấp thường lén về nằm điều trị. Phòng mạch của LK Quyến đã được trang bị chẳng khác nào như một bệnh xá, có nhiều giường điều trị, với đầy đủ tiện nghi tối tân cấp cứu và giải phẫu ngoại khoa.
Bệnh nhân, nếu là thường dân, muốn đến phòng mạch của BS Quyến để khám bệnh phải xin thẻ trước, lấy số trước, hoặc phải lấy ngày, giờ hẹn trước.
Nhưng các cán bộ CS, đồng chí của BS thì được ưu tiên nhận bệnh và ưu tiên điều trị, không cần phải có một thủ tục nào. Bởi các bệnh nhân đặc biệt ấy đã được thông báo trước bằng giao liên, hay bằng mật mã, ám hiệu, hoặc bằng khẩu hiệu đặc biệt của cơ sở, trong trường hợp nghiêm trọng và cấp bách.
Tôi xin đơn cử một trường hợp điển hình, cụ thể, mà tôi đã biết được. Dĩ nhiên, còn vô số trường hợp khác nữa, mà tôi không biết hết.
Vào khoảng mùa Hè, năm 1952, một cán bộ CS hạng gộc, tên Oanh, thuộc xã Hương Bình, quận Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên, con ông Viên Tứ, khá nổi tiếng ở Huế, đã bị “cảm sốt cấp tính” rất nặng, có thể nguy đến tính mệnh, đã được BS Quyến đặc cách nhận bệnh, và chữa trị trong phòng riêng của phòng mạch, không ghi vào sổ nhận bệnh hay danh sách bệnh nhân. Tóm lại không để lại một dấu vết nào của tên Oanh trong hồ sơ.
Nhân viên trong phòng mạch của BS Quyến đều là cán bộ giao liên của CS.
Ngoài một người y tá đàn ông, tên Nuôi, còn có một nữ y tá tên Thảo, người ở thôn Vỹ Dạ, Phú Vang, đã có chồng đi tập kết.
Đến sau năm 1954, nữ y tá Thảo của BS Quyến cũng bỗng nhiên biến mất khỏi phòng mạch, không ai biết đi đâu, và cũng chẳng ai tìm ra tông tích.
Về sau, trong thời kỳ Tết Mậu Thân, người dân đất Thần Kinh mới đột nhiên hoảng vía khi thấy vợ chồng nữ y tá Thảo thình lình xuất hiện.
Theo tôi, người biết rõ tông tích của BS Lê Khác Quyến nhất, hiện nay còn đang sống ở Pháp, là ông Võ Như Nguyện, người đã từng giữ chức giám đốc Công An Trung Phần từ trước năm 1954.
Còn thiếu tướng Đỗ Mậu, tuy đã từng nắm chức vụ giám đốc Nha An Ninh Quân Đội trong một thời gian khá lâu dài, dưới thời đệ nhất CH, nhưng cũng đã tỏ ra không biết gì nhiều về mặt trái của LK Quyến.
Có thể TT Đỗ Mậu đã e ngại tư thế của LK Quyến, y sĩ điều trị riêng cho thân mẫu của tổng thống Diệm, và là người đã được ông Cẩn rất trọng nể, nên không dám sờ đến.
Trong quyển hồi ký VNMLQHT, khi đề cập đến những biến động dữ dội tại miền Trung, dưới thời kỳ tướng râu dê Nguyễn Khánh cầm quyền, tác gỉa cũng chỉ nhận xét về BS Lê Khắc Quyến bằng một câu đơn giản như sau: “Trong hàng ngũ đấu tranh Phật Giáo, trước hết có các ông Lê Khắc Quyến, chủ tịch Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc là một phần tử thân kháng chiến mà nhiều người ở Huế biết rõ.” (trang 912).
Về mặt nổi LK Quyến làm chủ tịch HĐNDCQ, nhưng về mặt chìm, LK Quyến còn là chi bộ trưởng của chi bộ Thuận Hoá của CSBV.
Thành phần cán bộ đảng viên gồm những người có tên sau đây:
- Tướng Lê Văn Nghiêm, trước năm 1954, khi quân Pháp vừa thất trận Điện Biên Phủ, đồng thời cũng là lúc mặt trận chánh trị Quốc-Cộng ở VN đang sôi động nhất, đã vội vã đem dâng toàn bộ bản đồ hành quân, có chấm tọa độ sẵn, trao cho người thân tín đem ra khu cho CS. 
Người đó là thầu khoán Nguyễn Ngọc Bang, một đồng chí của Lê Khắc Quyến và Lê Văn Nghiêm.
Lúc bấy giờ Lê Văn Nghiêm đang mang lon trung tá. Ông ta vốn xuất thân lính khố xanh. Nhờ đã lập được nhiều công trạng hữu ích cho cách mạng từ nhiều năm qua, nên sau năm 1975, cựu tướng Lê Văn Nghiêm đã không bị quân CSBV bắt đi học tập cải tạo như hàng trăm ngàn sĩ quan khác trong quân đội Ngụy quyền miền Nam.
Ông ta đã được CSBV ưu đãi cho ở nhà hú hí với vợ con, tại đường Lý Thường Kiệt, ở Huế, cho đến khi chết.
Lê Văn Nghiêm vốn là bạn thân với BS Lê Khắc Quyến, Nguyễn Ngọc Bang và Thân Trọng Phước, Nguyễn Ngọc Bang vốn làm nghề thầu khoán xây cất, khá nổi tiếng ở miền Trung. Vào khoảng năm 1984, Nguyễn Ngọc Bang đã được sang Mỹ tị nạn theo diện đoàn tụ gia đình, nhưng ông ta đã qua đời khoảng năm 1991.
Một cán bộ CS khác tên Trí, làm nghề thợ mộc, có xưởng mộc tại đường Nguyễn Hoàng (tên cũ) ở Huế.
Trong vụ tàn sát ở Huế dịp tết Mậu Thân, tên Trí đã lập thành tích lớn, một tay đã giết khá nhiều người.
Theo hồi ký của tướng CS Lê Minh (nay đã chết) có đoạn ghi nguyên văn như sau: ”Riêng chuẩn bị cho Mậu Thân chúng tôi đã đưa 200 khẩu súng với chất nổ C4 vào bên trong nhà anh Lê Hữu Trí, Minh-Cận đều chứa vũ khí ”.
Ngoài ra, tôi còn được biết thêm: Tên Trí đã hoạt động cho CS từ thời Pháp còn ở VN, rồi đến đệ nhất và đệ nhị CH không hề bị khó dễ. Tôi càng ngạc nhiên khi thấy các cơ quan an ninh dân sự lẫn quân sự đều làm lơ trước những hành động phi pháp của hắn.
Tôi thấy, trước khi vụ tết Mậu Thân diễn ra, nếu chính quyền VNCH ở địa phương bắt tên Trí và đồng bọn, thì hàng vạn đồng bào ở cố đô Huế đâu đã bị chết thảm trong bàn tay tàn ác của quân CSBV!
Sau ngày 30.4.75, người dân xứ Huế đã thấy tên thợ mộc Trí, một đồng chí trong chi bộ Thuận Hóa của BS Quyến, đã xuất hiện hoạt động công khai cho chánh quyền CS tại địa phương.
Ngoài ra, chi bộ Thuận Hoá của BS Quyến còn có 2 vợ chồng tên Hiển, làm nghề bào chế thuốc tây (préparateur en pharmacie).
Vào khoảng năm 1950-51, tên Hiển đã bị Tây hành quân, phục kích bắn chết trong một đêm kia tại bến đò “BA BẾN”, nằm về phía quận Hương Thủy. Còn người vợ của Hiển, sau đó cũng đã bị khai trừ ra khỏi đảng, không hiểu vì lý do gì. Hiện nay người đàn bà này đang sống tị nạn tại Canada, gần chỗ tị nạn của mấy người con của BS Quyến, và mấy người con của tướng Lê Văn Nghiêm.
Nếu bạn đọc còn chưa hài lòng về những thành tích nằm vùng, ăn cơm quốc gia thờ ma CS của bác sĩ Lê Khắc Quyến, thì đây, tôi xin kể tiếp một bằng chứng nữa: Chuyện không may này bất ngờ đã xảy ra vào khoảng cuối năm 1962.
Hôm ấy, ty Công An tỉnh Thừa Thiên đã trình sang tòa hành chánh tỉnh một công văn “MẬT” có liên quan đến BS Quyến. Người tiếp phát công văn “MẬT” ấy là Công Tằng Tôn Nữ Như, một nữ tu xuất, em của ông Bửu Đồng (ở Đức) và là chị của ông Bửu Sao (ở Orlando, Mỹ), con ông Ưng Trạo, có trách nhiệm trước tiên vô sổ công văn, ghi trích yếu, rồi mới phân phối ra, đệ trình lên cấp thẩm quyền giải quyết. Vì công văn “MẬT” này có tầm mức quan trọng đặc biệt, nên giới chức trong tòa tỉnh đã phải cấp tốc trình thẳng lên ngay cho ông tỉnh trưởng Nguyễn Văn Đẳng duyệt xét. Nội dung công văn MẬT ấy như sau:
-”Một xe chở đầy thuốc tây đã bị lật trên lộ trình Cầu Hai – Lăng Cô, quốc lộ 1, thuộc địa phận quận Phú Lộc. Người phụ trách chuyến xe chở thuốc tây này tên là Phạm Văn Nhân, nhân viên tùng sự tại bệnh viện Huế. Trong cuộc thẩm vấn sơ khởi của công an, Phạm Văn Nhân khai là chở thuốc tây cung cấp cho chi y tế quận Phú lộc, theo lệnh của BS Lê Khắc Quyến, giám đốc bệnh viện…”
Theo tường trình của công an tỉnh thì lời khai của Phạm Văn Nhân hoàn toàn sai sự thật. Vì 2 lẽ sau đây:
-Vấn đề giao thuốc tây cho các Chi Y Tế thuộc phần việc và trách nhiệm của Ty Y Tế tỉnh, tuyệt nhiên không liên quan gì đến bệnh viện Huế, dưới quyền điều khiển của BS Quyến.
-Chi Y Tế Phú Lộc nằm tại Truồi, quận lỵ, chứ không phải Cầu Hai – Lăng Cô.
Nên biết rằng từ Lăng Cô đến đèo Hải Vân không xa mấỵ Nơi đây vốn là địa điểm giao liên quan trọng của Cộng Sản suốt trong thời kỳ chiến tranh.
Theo tường trình của công an tỉnh thì đây là vụ tiếp tế thuốc tây cho CS, và bởi thế nên công an đề nghị nên cần phải thẩm vấn BS Quyến, rồi lập các thủ tục cần thiết chiếu theo luật định.
Vì công văn này chỉ là bản sơ trình, nên cần phải được cấp trên cho phép tiến hành thủ tục thẩm vấn, nhiên hậu mới có thể thiết lập hồ sơ theo luật định.
Sau khi hồ sơ đã hoàn tất mới tái trình lên tòa tỉnh và các cơ quan thẩm quyền liên hệ, để thực hiện giai đoạn chót của thủ tục là truy tố can nhân và tòng phạm ra tòa án. Nhưng công văn MẬT này của Ty Công An tỉnh đã bị một bàn tay cao cấp nào đó trong guồng máy chánh quyền thủ tiêu luôn.
Thế là nội vụ bị xử chìm xuồng, và tội tiếp tế thuốc tây cho CS của BS Quyến cũng được ếm nhẹm luôn.
Điều đáng nói thêm ở đây, nhân viên có trách nhiệm tải thuốc tây cho CS tên Phạm Văn Nhân lại chính là cháu ruột của Phạm Văn Đồng, lúc bấy giờ đang làm thủ tướng chánh phủ CSBV, anh em với giáo sư Việt Văn Phạm Văn Diêu, ở Sài Gòn.
Anh Phạm Văn Diêu lớn hơn tôi vài tuổi và đã dạy chung với tôi trong nhiều trường tư thục ở Sài Gòn.
Dịch vụ tiếp tế thuốc tây cho CS ở miền Nam, trong suốt thời kỳ chiến tranh, nhất là dưới thời các tẩu tướng tham nhũng, thối nát cầm quyền, đã trở thành gần như “CÔNG KHAI PHỔ BIẾN”.
Chẳng tin, xin cứ hỏi các ông bà chủ các viện bào chế như: Trang Hai, La Thành Nghệ, Nguyễn Cao Thăng, Trương Văn Chôm, và các dược sĩ như: Ngô Khắc Tĩnh, Trần Văn Lắm, cựu chủ nhân nhà thuốc tây Cường Lắm, ở góc đường Thủ Khoa Huân và Lê Thánh Tôn, gần tiệm vàng con cọp Nguyễn Thế Tài…thì rõ!
Để có một cái nhìn chính xác về biến động miền Trung, tôi nhận thấy cá nhân ông Diệm là người có tư cách đạo đức hơn hẳn nhiều người khác mà tôi đã có dịp biết. Ông Ngô Đình Nhu xứng đáng là người trí thức, có mưu lược, tư tưởng phóng khoáng, quan niệm về tôn giáo và chánh trị rất dứt khoát.
Nên nhớ là vào khoảng năm 1956-57, tổng thống Ngô Đình Diệm đã duyệt y việc thành lập Phật giáo thống nhất, cho phép các khuôn hội, Niệm Phật Đường mở cửa tự do, và các Phật tử trên toàn quốc dược tự do đi lại hành lễ, không có ai cản trở hay làm khó dễ điều gì.
Ngày xưa, nếu nhà vua mù quáng mà có được bầy tôi trung thành, nghĩa khí, như Biển Thước dám mắng tận mặt vua Tần Vũ Vương, thì dù cho ông vua có hôn mê, đần độn đến đâu cũng phải tỉnh ngộ, và đất nước lo gì không có ngày hưng thịnh.
Ngược lại, ngay từ đầu, triều đình nhà Ngô đã bị bao vây bởi một số linh mục di cư chỉ biết có quyền lợi trước mắt. Đến khoảng cuối thập niên 50 sang đầu thập niên 60, triều đình này lại bị bao vây bởi một lũ văn quan, võ tướng bất tài, nhưng lại đặc biệt giỏi về tài nịnh hót, bợ đỡ. Đứng đầu sổ gia nô là các ông: Trương Vĩnh Lễ, cựu chủ tịch quốc hội bù nhìn, Nguyễn Phương Thiệp, tổng thơ ký quốc hội, Bùi Văn Lương, nguyên tổng ủy trưởng Dinh Điền, sau làm bộ trưởng Nội Vụ, thay thế thẩm phán Lâm Lễ Trinh.
Về phía quân đội thì có Tôn Thất Đính, Huỳnh Văn Cao, Trần Thiện Khiêm… đã từng được coi như con nuôi của ông Diệm.
Riêng Trí Quang và Lê Khắc Quyến cũng là những kẻ đã được hưởng ơn mưa móc rất dồi dào của chế độ. Nhưng về sau chính những kẻ thọ ơn ấy đã âm mưu giết chủ của họ. Lòng dạ con người thật là phản trắc vô thường.
Đáng ghê sợ thật!"
Trích báo Ba Cây Trúc

LMC: web Ba Cây Trúc này pro gia đinh Ngô Đình Diệm !


=====
===========
=====================


Huế
Viện Đại Học
Cha  Luận
và chúng tôi...
 
Nguyễn Văn Trường
 
 
Huế, trong hồi ức của tôi, qua suốt ba thập niên dài, 1945 - 1975, là Huế của những biến cố, những biến động, của những huy hoàng và tang thương. Cho đến 54, Huế là cơ ngơi của Nguyễn triều, sống với niềm kiêu hãnh của một đế đô, có chật hẹp, có tù túng, nhưng gạo vẫn trắng, nước vẫn trong.  Thành-phố của bình an và lặng lẽ. Nam Kỳ, tuy xa lạ với Nguyễn Triều suốt non một thế kỷ, vẫn nhìn Huế là Thủ Đô. Nhà Vua là linh hồn của giang sơn gấm vóc từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau. Rồi ông Bảo Đại đi, ông Diệm về, Huế cũng vẫn là xứ sở của một triều đại mới, và vẫn được nuông chiều. Huế chỉ thực sự đi vào dâu bể của lịch-sử từ những năm sau 63.  Năm đó, khởi đầu bằng một cuộc cách-mạng, Huế lần hồi trở thành thành phố của hận thù, của tranh chấp, của những cơn sốt chính trị. Cha, thầy, sư sải, quốc cộng, sinh-viên, chợ Đông Ba, lên đường, xuống đường. Rồi Mậu Thân 68, cuộc thãm sát. Rồi mùa hè lửa đỏ 72, Quảng Trị thất thủ, Huế trở thành vùng địa đầu giới tuyến. Phập phòng lo âu. Rồi tháng 3, 75. Cuộc rút quân thê thãm. Từ đó Huế như đi khỏi đời tôi. Hay nói một cách khác, tôi sợ, mỗi khi nghĩ về Huế.
Nhưng đó là chuyện cũ. Từ đó đến nay, cũng đã thêm gần một phần tư thế-kỷ trôi qua. Tôi bây giờ đã già, lòng đã lắng xuống, để có những cái nhìn chín chắn hơn. Tôi bây giờ đã biết nói tới, nói lui, đã biết nhìn xuôi, nhìn ngược. Trong một tâm trạng hồi niệm, tôi muốn viết về Huế của một giai-đoạn ngắn ngũi, từ 57-63, mà chúng tôi thường gọi là giai-đoạn phát-triễn đại học. Tôi muốn nói về Huế của những năm bừng lên trong một khí sắc mới, nói đến sự hình thành của đại-học Huế, nói đến Cha Luận, nói đến lũ trẻ chúng tôi, không sợ trời, không sợ đất, khuấy động cái yên tĩnh của thành phố lặng lờ như giòng Hương giang đó.  Tôi muốn nói một chút về phần đời của tôi và cái hạnh phúc nhỏ của riêng tôi, nhỏ mà thật bền, mà tôi đã tìm được trong thời gian 6 năm ở Huế.
Phải thành thật thú nhận, khi nhận sự vụ lệnh ra dạy ở Viện Đại-học Huế, cả gia đình, mẹ tôi và các anh chị tôi, không ai vui. Riêng tôi, tuy có cái thú phiêu lưu nơi đất lạ, nhưng nghe nói về Huế, thật  không có gì hấp dẫn cuốn lôi. Huế là một nước khác, ngoài nước Nam-kỳ. Huế xa xôi. Huế tù túng, chắc không hợp với một thằng người nam, thích ăn tục, nói lớn, không có ý niệm về quyền uy, thứ bậc của triều đình mà âm vang vẫn còn đâu đó trong các giai-tầng xã hội Huế. Đại-học thời tân lập, mới hiện-diện trên giấy tờ. Ông Viện-Trưởng lại là một ông cha, cha Cao Văn Luận. Ngày đó tôi còn trẻ lắm, chưa biết sống theo lề luật, chưa biết tôn-trọng những giá trị tinh-thần, nhất là những giá trị tinh-thần có tính áp đặt tôn giáo. Tôi không rõ học với ai hồi nào, nhưng trong tôi đã có một thành kiến rất mạnh về các nhà tu: học không xong, cua gái, gái chê, nên mới đi tu. Ngày còn nhỏ, tôi vẫn tin, sáng sớm ra đường gặp ông lục[i] là cả ngày xui không thể tả. Tôi là một thứ Lệnh Hồ Xung. -Lạy các cha, các thầy, tha cho con, tha cho những vọng tưởng, vọng ngôn, vọng ngữ tồi tệ, không xứng đáng này.
Vậy là tôi ra Huế, và ở lại nơi này 6 năm, từ 1957, ngày viện đại-học mới thành-lập, cho đến 1963, khi viện đã trở thành một định chế văn hóa vững chắc. Tôi rời Huế, vào Sài-gòn, nhận nhiệm-vụ mới. Tôi đi, mang theo một người Huế bên tôi, mẹ của mấy đứa con tôi, và bây giờ  là bà ngoại của đứa cháu suốt ngày gọi tôi: ”Ông Ngoại! Ông Ngoại!”. Huế không còn là Huế của những ngày tôi mới đến, Huế đã là một phần đời của tôi.
Với Viện Đại-Học Huế, với những em sinh-viên, học trò của tôi, tôi mang theo như những hành trang trân quý, mang theo cho đến bây giờ.
Với cha Luận, cái nhìn của tôi thuở ban sơ và bây giờ cũng khác đi nhiều. Cha là người linh mục độc nhất làm viện-trưởng một viện đại-học công lập. Nếu giáo sư  Nguyễn Quang Trình là ông Viện-Trưởng đầu tiên,  có công hóa giải sự chống đối việc thành lập Viện-Đại Học Huế của một số khoa bảng Sài gòn lúc bấy giờ thì cha Luận là ông Viện-Trưởng đã xây dựng và hình thành  những cơ sở chính yếu của Viện Đại Học Huế: khởi đầu là trường luật, văn-khoa, khoa-học, sư phạm. Sau đó thêm trường y. Tôi có lắm dị đồng với cha viện-trưởng của tôi, nhất là trong mấy niên học đầu. Dị đồng, và mâu thuẩn, ở cái nhìn, cách hành sử. Cha là nhân-vật nhiều người bàn cãi nhất ở Huế trong giai đoạn đó. Người không thích cha thường nói:"Cha Thích[ii], chết về trời; cha Luận chết,..kẹt..dưới thế gian."  Tôi nghĩ, vốn dĩ là con người, thì không ai là thánh, không ai hoàn hảo. Thiện ác, chánh tà, thời cũng do bởi ở tiêu chuẩn người đời đặt ra. Thương ghét, cũng tùy chủ quan được, mất của một người. Hôm nay, tôi viết về cha, lời viết sẽ không mang tính phán đoán.
Hôm nay, viết về Cha, tôi phân vân giữa hai từ: ngài hoặc cha. Có sự kính trọng người quá cố, nhưng không chỉ có bấy nhiêu. Tôi không viết một bài điếu văn để đọc tưởng niệm. Tôi chỉ muốn ghi lòng mến thương, và sự kính trọng chân thành từ trong sâu xa của tôi đối với Cha. Buổi đầu, trong giao tiếp hàng ngày, tôi xưng con và gọi ngài là Cha. Tôi không là người Ki-Tô-Giáo, nhập gia thì phải tùy tục, nên cũng có lắm ngở ngàng, lâu dần mới quen được với cách xưng hô đó. Bây giờ, tôi cũng chỉ muốn gọi ngài là cha, cha Luận, nhưng là do lòng kính mến.
Tôi cũng sẽ viết về Huế, viết về ngôi trường, viết về những đồng nghiệp, đồng sự, về những người sinh viên Huế, đến từ cái duyên tương ngộ với Cha.
Cha Luận là người đầu tàu, người tiên phong, lãnh-đạo trong việc xây dựng một viện đại-học công cho cả miền Trung Việt.
Ngài là người cho tôi duyên lành tương ngộ với cảnh đẹp, người đẹp của sông Hương, núi Ngự. Huế với tôi, đã trở thành là thơ, là mộng, là tình yêu, là tình người; tình người đồng sự, tình sư đệ, tình bạn. Huế mở đầu cho tôi một cuộc dấn thân, một tiến trình trách nhiệm, học hỏi, trăn trở, lo âu, sợ hãi, và hi vọng.
Huế, cảnh vật hiền lành, con người tao nhã, lễ nghi. Huế như một tiểu thơ, e ấp trong phòng the, mà lại muốn mọi người phải biết đến, phải trân trọng, không phải chỉ trong cái nhất thời, mà cả suốt chiều sâu lịch-sử. Huế muốn chuyển mình theo cuộc sống mới, mà vẫn muốn giữ nguyên nét cổ kính cố hữu không tìm thấy ở một nơi nào khác. Cho nên, viễn khách có bị cuốn lôi bởi nét tịch mịch, nên thơ của Huế, thì đồng thời cũng có chút khó chịu về những vẽ vời nghi thức. Người Huế không nói ăn, ngũ. Nói vậy là thô. Người Huế nói xơi, thời, ngơi, nghỉ. Cô gái Huế không mấy khi đầu trần, nhìn thẳng. Cô nhìn xuyên dưới vành nón lá, làm cô thêm vẽ thơ ngây, xinh đẹp. Lời không nói hết ý tình của Huế, vì lời không tải được hết ý, hết tình. Không hiểu được Huế nếu không hiểu ngôn ngữ của dấu hiệu, cử chỉ, thái độ, những biểu hiện trên gương mặt, trong ánh mắt, qua hơi thở nhẹ, hay trong tiếng cười thoảng.
Cứ nhìn những nét mâu thuẫn trong đời sống, trong cung cách của những con người xứ Huế... Từ sáng đến tối, cả một sư đoàn các cô, các bà bán bún bò, bánh canh, bánh nậm, cơm hến... đi khắp phố phường, đường hoàng trong chiếc áo dài cố hữu, có những mãnh vá, có chỗ bạc màu, có bụi đường, có mồi hôi, như thách thức với tiết trời nóng nực của mùa gió Lào, như nhắn nhủ phải gìn giữ cái nếp, cái nền, cái phong, cái cách.
Tôi nhìn thấy Huế như thế đó.
Tôi đến Huế như một kẻ lạc loài, ngây ngô, hoang dại. Không giống ai trong cách ăn mặc, trong cử chỉ, thái độ, ngôn từ. Sự ân cần của các vị đồng sự [iii] có thể là một việc đương nhiên trong tập tục xứ thần kinh: trọng kẻ sĩ.  Điều này cho tôi một khích lệ vô cùng lớn, nhưng cũng lắm ngại ngùng lo âu. Tôi ngại không đáp ứng được những yêu cầu, những mong đợi của sinh viên, của phụ huynh, của các bạn tôi, nói chung của người dân xứ Huế. Tôi đâu muốn làm kẻ sĩ, hay đóng vai kẻ sĩ. Tôi còn quá trẻ. Tôi chỉ là một giảng nghiệm viên[iv], và mong muốn có một cuộc sống bình thường.  Chỉ mới vài tháng trước, chớ đâu lâu lắc chi, tôi còn đi học, đi thi, còn làm giám thị nội trú cho một trường trung học, còn dạy mỗi tuần tám tiếng cho một trường trung-học ở Pháp để kiếm sống. Giờ đây, bỗng nhiên trở thành quan trọng, được đứng lớp dạy Toán Học Đại Cương, Toán Lý Hoá, Năm Thứ Nhất Trường Đại Học Sư Phạm; đôi lần được hứa hẹn sẽ là một ông quyền Khoa Trưởng; tương lai thật “xáng lạng”. Tuy nhiên, lúc bấy giờ, tôi lại nhìn sự việc tối tăm hơn. Thư viện quá thô sơ, lai rai vài quyển sách cho học trò. Ngoài phố, lơ sơ mấy tiệm sách nghèo nàn, nghèo như người học trò xứ Huế. Đồng nghiệp cùng chia nhau công việc dạy toán, chỉ có một: anh Nguyễn Văn Hai[v]. Cả hai đều là cá mè một lứa. Trên không có thầy, dưới không phụ tá, vì giảng nghiệm viên là cấp bậc thấp nhất đếm từ trên xuống trong đẳng cấp đại-học, và trong hầu hết các khoa, là bậc cao nhất từ dưới lên, trong trạng huống không mấy bình thường của Đại Học Huế buổi đầu.
Còn bên ngoài, nói chung Huế hiền mà không hiền. Thành phố nhỏ, đi xuống, đi lên, chỉ có hai con phố. Bên dưới cái trầm yên, tĩnh mịch ấy, là những cơn sóng. Dễ mà khó, cái khó gấp trăm lần những cơn giông bảo gào thét của miền Nam. Huế có Tổng Thống, có “Ông Cậu”, có Đức Tổng Giám Mục, có Thượng Tọa Trí Quang, Thiện Minh, Trí Thủ,... Huế còn là cái nôi của chế độ[vi]. Nhưng  Huế có những dồn nén...Huế nghèo,  Huế  cũng là nôi của những tham vọng của những người làm tôn giáo, làm chính trị. Nhưng cũng vì đó mà Huế đáng thương biết bao nhiêu, cũng cơ cực biết bao nhiêu, thiệt thòi biết bao nhiêu. Và việc mở một trường đại-học cho những con người cần cù, hiếu học vào lúc đó, âu cũng là một đền bù. Chỉ tiếc rằng trong lúc mọi nguời đang chăm lo mở mang cuộc sống của người dân Huế, trong lúc mà viện đại-học đang trên đà phát triển, thì bỗng dưng Huế lại phiêu lưu vào những đấu tranh chính trị, dành dựt  phe phái, làm cho cuộc sống đã khó khăn, trở nên khó khăn hơn gấp bội. Âu đó cũng là mệnh trời.
Có lẽ vì Huế là vậy mà đông đảo những người con của Huế tìm phương lập nghiệp ở những nơi khác. Thoảng hoặc họ có trở về, cũng chỉ để thăm viếng, cúng kÿ mà thôi. Huế đi để mà nhớ, chứ không phải sống để mà thương. Cha Viện Trưởng, vài năm trước khi thành lập Viện Đại Học Huế, đã có kế hoạch trồng người. Cha gởi nhiều học trò giỏi đi du học. Muốn là giáo chủ, khai đạo, phải có tông đồ. Nhưng tông đồ của cha, người đi thì có, người về không mấy ai. Cha tự an ủi: “Ở Sài gòn, tức là thủ đô thời bấy giờ, quí vị  ấy giúp Cha nhiều hơn.”
Và cũng vì thế, cha phải tuyển các hộ pháp, thời quân, sứ giả của cha ở nhiều nguồn khác nhau: tại chỗ, Sài gòn, Pháp, Anh, Mỹ, Đức, Bĩ,..và đa số thì rất trẻ. Bên những bậc cha anh--như Cụ Nhu, Cha Thích--bọn trẻ học hỏi và trưởng thành. Tôi bỗng dưng trở thành thời quân của Cha. Cũng tội cho tôi. Nhưng tôi đã được đền bù. Cuộc đời tôi nhờ đó mà đi lên.
Triều đình của Cha lúc bấy giờ có: Lê Khắc Pho[vii], “Tổng Bí Thơ” và một “Ban Bí Thơ Trung Ương” gồm toàn những hiền tài, quí ông, bà: Đỗ Ngọc Châu, Trần Đinh, Mệ Viễn Dung, Đinh Văn Kinh, Trần Thị Như Chương, Bùi Trí, Nguyễn Văn Thùy, Tôn Thất Quỳnh Thọ, Paul Vogle, Lương Hoàng Phiệt, Nguyễn Bính... Nói chung, nhân sự tương đối khá mỏng và hầu hết đều là bậc trưởng lão. Thế nhưng, sự hiểu biết, lòng tích cực và chân thành trong công tác đã giúp cho Viện Đại Học qua những khó khăn lớn nhỏ của thuở ban đầu. Chí đến ngài “Tổng Bí Thơ”, với một bên ngoài khắc khổ và khắc khe, và lúc nào cũng đạo mạo trong âu phục, chẳng mấy khi rời cái áo bành tô, như sợ lạnh, nhưng thật sự, không “lạnh chân”, “lạnh cẳng”,  không ngại khó như dáng vẽ của anh. Lòng anh lúc nào cũng nhiệt tình với đồng nghiệp, với sinh viên, với sự mở mang của Viện.
Viện Đại Học Huế thành lập do Sắc Lệnh ngày 1 tháng 3 1957 (SL 45/GD, do Bộ Trưởng Nguyễn Dương Đôn ký), và khai giảng vào tháng 9, 1957.
Về việc sáng lập Viện Đại Học Huế, giáo sư Nguyễn Văn Hai có viết[viii]:
“...Số là sau khi mới về Việt Nam nhậm chức, ông Ngô Đình Diệm ra Huế.  Lẽ tất nhiên ông ấy cần một sự tiếp đón nồng hậu của dân Huế nói chung và của học sinh Huế nói riêng.  Linh Mục Cao Văn Luận lúc bấy giờ là giáo sư Triết học tại trường[ix]. Ngài năn nỉ tôi tổ chức diễn hành tiếp đón. Tôi bàn với một số giáo sư, trưởng lớp và trưởng ban sinh hoạt của trường. Tất cả đồng ý đặt điều kiện là Ông Diệm phải hứa sau này có quyền hành thời phải mở một Đại Học tại Huế để con em miền Trung nghèo có cơ hội cầu tiến.  Lời yêu cầu cũng vừa hợp ý ông Diệm. Sau khi được đoan chắc như vậy, chúng tôi mới mặc đồng phục quần trắng có thắt cà vạt xanh lơ mang biểu ngữ đòi mở Đại Học Huế đi hàng lối chỉnh tề diễn hành chào đón.  Sau đó, Tổng thống Ngô Đình Diệm giữ lời hứa cho mở Đại Học Huế mặc dầu có sự phản đối dữ dội của các vị khoa bảng ở Sài gòn. Đại học Huế được thành lập, con em miền Trung có chỗ trau dồi chuyên môn, và nhiều lớp sinh viên tốt nghiệp đã góp công xây dựng nước Việt Nam.”
Trực thuộc Viện có Viện Hán Học, Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật và các Khoa: Văn Khoa, Khoa Học, Sư Phạm, Luật Khoa, Y Khoa[x].
Nói chung cấu trúc Viện khá qui mô.
Triều đình mõng. Lực lượng sứ giả truyền giáo lúc bấy giờ cũng rất  mỏng so với qui mô các khoa viện, trường trực thuộc. Một số lớp trường Khoa Học, Văn Khoa và Sư Phạm được ghép học chung, một số giáo sư được mời từ Saigòn ra dạy, vì thiếu nhân viên giảng huấn.
Sau đây là danh sách quí vị Khoa Trưởng và Giám Đốc đầu tiên của Viện Đại Học Huế:
Văn Khoa: Ông Lê Văn Diệm
Khoa Học: Bs. Vũ Đình Chính, Ông Trần Văn Bé.
Sư Phạm: Ông Lê Văn
Luật Khoa: Bà Tăng Thị Thành Trai, Ông Phan Văn Thiết.
Y Khoa: Ông Lê Tấn Vĩnh, Ông Lê Khắc Quyến.
Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật: Ông Tôn Thất Đào
Viện Hán Học: LM Nguyễn Văn Thích.
Ban Giảng Huấn của những năm đầu của các khoa, trường, viện: Trần văn Bé, Nguyễn Thị Bão Xuyến, LM Urbain, Lê Thanh Minh Châu, Tôn Thất Đào, Lê Văn Diệm, Sư Huynh Ferdinand, Nguyễn Văn Hai, Trần Kinh Hòa, Tôn Thất Hanh,  Hồ Thị Hường, Lê Hữu Mục, Bùi Nam, Trần Quang Ngọc, LM Nguyễn Phương, Cụ Nhu, Lê Đình Phòng, Lê Khắc Quyến, Phan Xuân Sanh, Krainick, Trần Nhật Tân, Trần Văn Tấn, LM Nguyễn Văn Thích, Bùi Hòe Thực, Nguyễn Toại, Tăng Thị Thành Trai, Nguyễn Hữu Trí, Nguyễn Văn Trung, Nguyễn văn Trường, Lê Tuyên, Lê Văn, Lê Bá Vận, Nguyễn văn Vĩnh, Lê Trọng Vinh, Trương  Đình Ý, Lê Yên,......
Ban Thỉnh  Giảng của những năm đầu: Đặng Đình Áng, Nguyễn Chánh, Trương Văn Chình, LM Trần Thái Đỉnh, Âu Ngọc Hồ, Phạm Hoàng Hộ, Trương Bữu Lâm, LM. Lê Văn Lý, Lê Tôn Nghiêm, Từ Ngọc Tỉnh, Nguyễn Quang Tuân, Thái Công Tụng, Bùi Quang Tung, Phạm Việt Tuyền,  LM Thanh Lảng, Lê Tài Triển...
Nghĩ cho cùng người sứ giả hữu hiệu nhất để giới thiệu Viện Đại Học Huế chỉ có thể là các sinh viên của Viện. Rời khuôn viên đại-học, họ tung cánh bay đi. Họ là quân nhân, là công nhân viên chức, là giáo chức, luật sư, bác sĩ, hành nghề tự do. “Họ đã góp phần xây dựng nước Việt nam.”[xi]. Hiện nay họ rải rác khắp năm châu, và hầu hết đều minh chứng một cá tính, một khả năng đáng kính phục.
Tôi may mắn được sớm biết Tiến Sĩ Dzương Đức Như[xii], giáo sư Anh Văn, học giả, nghiên cứu Hán, Nôm, hát chèo, hát nói, thật đa tài, Tiến Sĩ Ngô Đồng, nguyên Viện Trưởng Viện Đại Học Quảng Đà, Tiến Sĩ Nguyễn Đức Kiên, nguyên là Khoa Trưởng Trường Đại Học Sư Phạm Huế, Bác sĩ Trần Đình Tùng, nguyên Trưởng Khoa Sản Bệnh viện Triều Châu, Tiến sĩ Võ Văn Thơ, hiện nay là giáo sư của một Đại Học Canada.
Tôi có  duyên học đạo với  Ni Sư Trí Hãi trong một thời gian khá dài. Và khi đến Houston được  duyên may tương ngộ với  Bác Sĩ Nguyễn Văn Thuận[xiii]. Tôi không những  được thưởng thức văn của Từ Nguyên, Trần Hoàng, mà còn đàm thoại, đổi trao cái nhìn về  thế sự. Có khi tôi nhờ Từ Nguyên, đọc, góp ý, giúp cho lời văn của tôi trôi chảy, mạch lạc hơn. Từ Nguyên, Trần Hoàng có một thể văn đa dạng  có cái sắc bén của ngòi viết đấu tranh, có cái trung thực của con người cầm bút.  Khi nói về tình, tình mẹ, tình cha con, tình chồng vợ, tình anh lính chiến, tình quê hương, Từ Nguyên có thể làm cho người đọc dễ sa nước mắt. Tôi có cái duyên tương ngộ với những con người nhiều khả năng, nhiều sắc thái đặc thù, hơn hẳn các thế hệ đàn anh trong nhiều bình diện.
Và còn nhiều người khác nữa.
Tên của họ: Bùi Thị Ấu Lăng, Bùi Xuân Diêu, Phan Bang, Trịnh Viết Bách, Nguyễn Mộng Giác, Lê Thanh Hà, Tôn Thất Hà, Phạm Hòa, Đoàn Khoách, Hồng Khuê, Nguyễn Phụng Hoàng, Nguyễn Văn Hường, Trương Thị Lệ Khanh, Trương Thị Kim Sa, Nguyễn Ký, Nguyễn Khắc Lãng, Nguyễn Phú Liễm, Lê Thị Liên, Tôn Thất Liệu, Vương Thúy Nga, Nguyễn Nhuận, Hồ Thanh Phác, Tôn Thất Quÿ, Tôn Quang Sung, Nguyễn Bá Tiết, Tôn Nữ Tiểu Bích, Nguyễn Ngọc Thanh, Nguyễn Ngọc Thọ, Lê Mậu Thống, Dương Đình Tri, Lê Thị Tường Loan, Võ Văn Thơ, Trần Tuệ, Dư Tế Xuân, Vĩnh Quyền, Vĩnh Thiều, Nguyễn Gia Ứng...  Gặp lại họ, gương mặt, mái tóc họ đã có nhuộm chút  nét thời gian, nhưng mỗi người đều có một nét đẹp riêng, nói lên những khả năng, nghị lực, cá tính, ẩn tàng đâu đó như cái đẹp cố hữu của xứ thần kinh.
Và còn biết bao nhiêu người tôi muốn nhắc tên.
Tên tuổi họ có thể không nói nên nhiều. Nhưng với tôi, như gắn liền khắc cốt. Cũng dễ hiểu vì cuộc sống thầy giáo của tôi khi về nước bắt đầu với họ. Cho nên, tôi không thể quên một Châu Khắc Túy, nhỏ người, thư sinh, rất vui nhưng cũng rất liếng láu, chuyên viên “câu giờ”, mà tránh được mọi khắc khe của kỷ luật thời bấy giờ. Được biết anh không còn nữa, anh là nạn nhân của Việt Cộng trong Tết Mậu Thân. Ngay hai năm đầu, hai sinh viên của tôi, một ở ban Toán cấp tốc, một ở ban Lý Hoá, viết thơ, ghi rõ tên họ và địa chỉ quở rằng tôi quá nóng tính, mà nóng tính thì chẳng dạy “mô tê”[xiv] gì được; chỉ làm cho người học rối rắm, chẳng học được “mô tê” gì.
Tôi tìm gặp ở các em cái đẹp đặc thù ấy.
Tôi học ở các em sự khiêm cung, độc lập, thẳng thắn, chân tình, cần cù chịu khó và trách nhiệm.
Tôi học ở các em nghề dạy học, học sống trong tình sư đệ; nhờ các em tôi học tình đồng liêu, tình quê, tình người. Nhưng chắc chắn không chỉ là có bao nhiêu đó. Thật khó mô tả cái đa dạng, đa màu, những cảm nhận của một thời, thành lời, thành ý.
Sáu niên học ở Viện Đại Học Huế (1957-1963), bể dâu lắm chuyện. Nhưng đặt thù cho giai đoạn “lập quốc” này, thiết nghĩ các sự việc sau đây là nổi bật nhất:
Trong một chừng mực nào đó, Viện Đại Học độc lập đối với các đảng phái chính trị, tôn giáo và tự trị đối với chính quyền. Tự trị và độc lập là hai từ lớn. Nếu không nói rõ nghĩa thì hoặc chúng  trống nghĩa hoặc có nhiều nghĩa nên dễ ngộ nhận.
Theo văn bản, thì Viện Đại Học tùy thuộc Bộ Giáo Dục. Cụ thể như sau đây:
“Về học vụ, sự thành lập các khoa, trường, ngành học, văn bằng, chứng chỉ phải do Bộ Giáo Dục chấp thuận.
Về nhân viên, việc tuyển dụng, lương bổng, thăng thưởng, sa thải phải do Bộ Giáo và Tổng Nha Công Vụ chấp thuận.
Về Ngân sách: Quyền chuẩn chi[xv] được ủy nhiệm cho Viện Trưởng.”[xvi]
Như vậy, về hành chánh,Viện Đại Học trực thuộc Bộ Giáo Dục, và có thể bị chi phối bởi Bộ Giáo Dục và Tổng Nha Công Vụ.
Tuy nhiên, trong thực tế, chúng tôi không cảm thấy một sức ép nào từ những cơ quan nêu trên.  Sự duyệt y các kết quả thi cử, các văn bản thành lập phòng ban, v.v.  có khi là cần thiết. Tự trị không có nghĩa là không luật pháp. Nhà nước cung cấp ngân sách cho Viện, sự biện minh các chi tiêu, sự kiểm soát đương nhiên là cần thiết. Có điều là khi mình thấy thong dong trong luật pháp, mình không cảm nhận bị buộc ràng, gọi như thế là tự trị, một sự tự trị thực tế, chủ quan  và tương đối.
Viện đứng ngoài mọi đảng phái chính trị kể cả đảng chính quyền, các tổ chức tôn giáo. Gọi như thế là độc lập. Nhưng trên hết, tư trị và độc lập của nền giáo-dục đại-học nằm ở chỗ tự do truyền bá, phát huy, và thu nhận của giáo chức và sinh viên. Lẽ dĩ nhiên là trong một giới hạn khả chấp. Điều này là một giá trị hiễn nhiên của nền giáo dục Miền Nam, và là một điểm son của chế-độ.
Sứ mạng, nhiệm vụ, mục tiêu, đường lối của Viện Đại Học được minh định rõ trong những văn bản mà đôi bên, chính quyền và viện đại học đều nghiêm túc tôn trọng.
Từ nào cũng có nhiều nghĩa, tùy cái nhìn chủ quan của mỗi người. Cho nên, những văn bản có thể giải thích khác nhau, và trong việc này đôi bên đều tỏ thiện chí, và biết tương nhượng trong những giới hạn của khả năng của đôi bên.
Giáo dục là đường dài. Cổ văn viết đó là việc trăm năm trồng người. Nhà cầm quyền thời bấy giờ, có hiểu điều này và có dành cho chúng tôi một sự cảm thông ít có.
Dầu vậy, vẫn có những va chạm, xung đột gây ra nhiều thử thách. Sau đây là những thử thách mà tôi còn nhớ.
 
Sức ép chính trị.
Có một lần chúng tôi được rỉ tai rằng là sinh viên và chúng tôi phải gia nhập Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia, đi học và đi làm phải mặc đồng phục màu xanh. Chúng tôi trình bày những thuận nghịch; lợi đâu không thấy, cái hại thì vô cùng. Các Viện Đại Học Quốc Gia không thể là nôi của một phong trào chính trị, huống chi phong trào này là tiền thân của Đảng Cần Lao Nhân Vị. Trong bối cảnh riêng của Huế, tổ chức đại học chưa được ổn định. Phụ huynh và sinh viên đã tõ thấu hiểu thực tế của đất nước, đã chấp nhận cái ban sơ thiếu thốn mọi điều của Viện Đại Học. Chính trị hóa môi trường sinh-hoạt đại-học chỉ làm cho mọi sự rối rắm thêm. Chúng tôi không thể để việc dạy, việc nghiên cứu ngưng đọng lại, hay trở thành phụ thuộc. Chúng tôi không muốn và không thể mang một nhản hiệu chính trị nào, để phụ huynh và sinh viên ngộ nhận rằng chúng tôi là những con rối chính trị, hay cố tình dùng Viện Đại Học làm bức thang cho sự nghiệp chính trị. Chúng tôi cũng không thể để học sinh mình và chính mình  bị ép buộc vào một đảng phái chỉ vì muốn học, muốn mở rộng kiến thức, muốn có một cái nghề, hay một sinh kế. Chính quyền cũng không thể vì nhu cầu của một khắc mà chà đạp trên những văn bản mà chính mình long trọng lập ra chỉ vài năm trước đây. Có người nói rằng trong chúng tôi có những con mọt, những con người muốn lập công, muốn tiến thân trên nấc thang chính trị. Thiết nghĩ, nghĩ khác và làm khác là việc bình thường; nhưng trong đội ngũ chúng tôi, rất khó có những con người phủ nhận những nguyên tắc sinh hoạt nghề nghiệp của mình.
Cơn lốc qua, chúng tôi trở lại cuộc sống bình thường thuở trước, mỗi người trở lại cái tự do chọn lựa chính trị hay phi chính trị của riêng mình.
Một lần khác, vào dịp hè Bộ Giáo Dục tổ chức một khóa Hội Thảo về Cần Lao Nhân Vị cho giáo chức đại học ở Suối Lồ ồ.  Chỉ thị là tất cả chúng tôi đều phải có mặt; dĩ nhiên là ngoại trừ có lý do thích đáng, nhưng bên trong qua lời lẽ các viên chức của Bộ Giáo Dục thì không có một lý do nào chính đáng cả. Học triết thuyết về đường lối chính sách của chính quyền chỉ có thể là một điều tốt. Nhưng một số chúng tôi, vì cái ương ngạnh của tuổi trẻ, đã nhẹ nhàng xin Cha Viện Trưởng ký một sự vụ lệnh  tổ chức trại hè ở Đà Lạt cho sinh viên Sư Phạm, ngay trong những ngày ấy. Ông Đổng Lý Văn Phòng Bộ Giáo Dục có thúc dục bảo dẹp tất cả, để đi học. Chúng  tôi không vâng dạ được, vì có nhiệm vụ lệnh trong tay. Sau đó ông có la to, dọa lớn, tay có dơ cao, nhưng rồi lẳng lặng rút về.
Được những điều này có thể là nhờ cái vị thế đặc thù của Cha Viện Trưởng. Cũng có thể là nhờ thái độ của quí vị đàn anh trong Viện Đại Học Sài Gòn. Cũng có thể là nhờ sự hiểu biết của chính quyền lúc bấy giờ. Cũng có thể là cái hồn ma tự trị đại học ghi trong  qui chế mà người Pháp để lại cho Viện Đại Học Sàigòn còn chập chờn đâu đó trong lòng người. Cũng có thể là Bộ Giáo Dục hay Chính Quyền chưa rãnh tay để đưa chúng tôi vào khuôn nếp. Sau mươi hôm khủng hoảng, gió lặng, cuộc sống trở lại bình thường, nhưng tôi cảm thấy gần Cha Viện Trưởng của tôi hơn: chúng tôi  đã cùng nhau trong một chiến tuyến.
 
Sức ép quyền thế.
Viện Đại Học cũng đứng ngoài các thế lực phong kiến.
Lúc nào thời nào cũng có thế lực phong kiến.
Thế lực phong kiến trong bối cảnh Viện Đại Học Huế, thời bấy giờ, phải hiểu là quí vị cố vấn của Tổng Thống, quí vị cận thần có nhiều ảnh hưởng, có quyền thế, có khả năng khuynh đảo thế sự. Người ta có đồn đãi về uy quyền của quí vị này rất nhiều, tốt có, xấu có.
Trước mỗi kỳ thi vào Trường Đại Học Sư Phạm, Cha Viện Trưởng đều có họp chúng tôi, nhắc đi nhắc lại là học bổng 1500 đồng của người sinh viên Huế có thể là lợi tức sống cho một gia đình đông con, nhắc nhở chúng tôi phải thận trọng, cân nhắc, liêm chính, công minh. Suốt thời gian cộng sự với Cha, Cha cùng các đồng nghiệp của tôi, chẳng một ai gởi gấm trong các kỳ thi. Hình như mọi đồng nghiệp tôi xem đó là đương nhiên.
Tuy nhiên, có một lần, một nhân vật quan trọng hàng đầu đã nhắn  gởi một em vào Ban Lý Hoá Trường Đại Học Sư Phạm. Sự gởi gắm từ bên trên, và Ban Giám Đốc Đại Học Sư Phạm được yêu cầu đặc biệt  giúp đỡ. Chúng tôi  đã chối từ sự gởi gắm này với cung cách lễ độ rất là Huế.
Trong thực tế em này lãnh 0/20 với Nguyễn Hữu Trí (Lý), 1,5/20 với Trần Nhật Tân (Toán), 8,5/20 với Tôn Thất Hanh (Hoá Học). Nói cách khác là em rớt ở mọi bộ môn. Chúng tôi không có gì hãnh diện ở thành quả này, chúng tôi không có ý ác, cũng không có ý thiện, cũng không có cái thương ghét riêng tư  trong vấn đề này. Tuy nhiên, phải nói là phước trời.
Nói là phước vì sau 1975, khi tìm đường vượt biên  ở một tỉnh lẻ trong Nam, tôi được biết em đó giờ là một ông bác sĩ có tiếng là giỏi, đi chui[xvii] không lọt, và  nhờ là giỏi nên đã được tỉnh ủy cho rước về, không phải tù. Con người không ra chi về toán lý, thì lại rất giỏi về y khoa. Cũng nói phước là chúng tôi tai qua nạn khỏi mà không hề hấn gì. Phước cũng  là được thấy được bạn bè tôi đẹp và gương mẫu trong thử thách. Phước cũng vì nhờ đó chúng tôi gần nhau hơn, có thêm một bước gần Cha Viện Trưởng hơn, an tâm hơn. Người có quyền thế đã thấy được thân phận và giữ được phẩm cách của mình.
Sau mỗi kỳ thi, thường là có một buổi cơm thịnh soạn khao quân. Tôi có cảm tưởng là sau kỳ thi đó, Cha Viện Trưởng, dầu biết rõ chuyện này, và có thể vì đó mà thọ thương, vẫn cho ăn ngon hơn, trân trọng hơn, đương nhiên là có rượu hà nàm, rượu vang, và những món quỉ quái khác của anh Vũ Đình Chính. Khao quân lớn hơn, nhưng nhẹ nhàng không thách thức, làm như không có chuyện gì xảy ra.
Tôi có cảm tưởng Cha là cây dù lớn. Cha có quyền, có thế. Nhưng không lấy quyền thế ấy mà bao che cho những điều xằng bậy. Ông đã dùng quyền thế ấy để tạo một không khí thích hợp với cái nhìn chung của đông đảo anh em chúng tôi về giáo dục và riêng về giáo dục đại học. Ông đã biết sử dụng vị thế hết sức đặc biệt của mình để đối thoại với các thế lực chính trị, tôn giáo, đoàn thể. Chính quyền đương thời cũng hiểu sức khỏe mong manh của một tổ chức đại học mới đâm chồi, và biết trân trọng với những thành quả đầu tiên. Những lời đồn đãi được nghe về Ông Cậu[xviii] làm cho tôi có thật sự lo âu, e ngại. Nhưng, sáu năm ở Viện Đại Học Huế, chẳng nghe Ông có gởi gắm một ai, hoặc tạo một sức ép chính trị hay làm bất cứ việc gì đem lại sự bất ổn cho giới đại học. Những lần ít oi mà chúng tôi được gặp Ông, chúng tôi được tiếp đãi với một sự trân trọng, ân ần, ưu ái ít có. Cho nên, riêng về Viện Đại Học Huế, có thể nói gia đình của Tổng Thống Ngô Đình Diệm có đóng góp  một phần quan trọng, trong đó phải ghi nhận cái không khí độc lập với các tôn giáo, đối với các đoàn thể chính trị (cả Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia và Cần Lao Nhân Vị), một không khí cởi mở, thích hợp cho việc dạy và học.
Chỉ tiếc rằng cuộc thế không cứ mãi là như vậy. Khi thời suy, vận nước mạt, nhiều điều không may xẩy đến. Cha Luận cũng vì muốn bảo vệ cái công trình mà ngài đã gầy dựng, muốn bảo vệ cái nguyên tắc tự trị đại học cao quý mà đành phải dứt tình với nhà Ngô. Cha mất dần cái quyền, cái thế, Cha chỉ còn cái tình của chúng tôi, và của anh chị em sinh viên.
Tháng 8, 1963,  Cha Luận bị huyền chức. Chánh quyền đã bổ nhậm Cha, thì đương nhiên có quyền thay thế Cha. Đó là bình thường. Nhưng trong bối cảnh bất ổn ngày đó, giáo chức, sinh viên, và nhân viên lại hoang mang, xao động tột độ. Ai cũng nghĩ phải vĩnh biệt một thời vàng son của không khí tự do. Từ đây, khởi đầu giai đoạn ô nhiễm chính trị.  Ông Viện Trưởng mới, giáo sư Trần Hữu Thế, là một cựu bộ trưởng, và là đương kim đại sứ ở Phi Luật Tân. Người của ngành ngoại giao, ắt phải mềm mỏng; nhưng  giữa mềm mỏng và mềm như bún thiu, khoảng cách có khi rất ít. Chưa thấy người vào việc,  chưa thấy diễn tiến sự việc, mà đã nghĩ thế này thế khác, là tiên kiến; ắt phải sai lầm. Có thể là thế. Nhưng khi đã mất niềm tin, không thấy còn tin ở một quyền lực nào có phương tiện điều hợp và quản lý thỏa đáng công việc, thì chỉ còn cách là từ nhiệm, trở về với chức năng dạy học của mình. Thế rồi, chúng tôi bị bắt giữ, kẻ năm ngày người vài tháng. Phòng ốc của Công An có chật hẹp, thiếu mọi tiện nghi, nhưng cách đối đải đứng đắn;  dầu vậy, lòng vẫn giao động, tâm không an; tuổi còn trẻ, nhưng muốn bắt chước người xưa lánh xa thế sự. Việc của Cố Đô sau đó trở thành của cả nước; thế giới bắt đầu nhìn vào.
Tháng 11, 1963, Đảo Chánh. Chấm dứt triều đại Nhà Ngô, và cũng là chấm dứt một giai-đoạn ổn định hiếm thấy.
Sinh viên, học sinh, thân hào nhân sĩ, cả thành phố Huế rước Cha Viện Trưởng trở về cơ ngơi cũ, trong vinh quang cùng tột. Nhưng chỉ 9 tháng sau,  Cha lại rời nhiệm sở, rời Huế, không phải do chính quyền, mà chính do đông đảo thành phần năng động nhất của Huế đuổi Cha đi.  Cha đi bỏ lại đàng sau tất cả của đời cha. Cha đi, vì đã hoàn tất một nhiệm vụ, hay cha đi vì bản chất phản bội cố hữu của con người?
Chúa Nhật Lá, dân chúng thành Nazareth đón rước Chúa Jésus trong vinh quang tột đỉnh, vài hôm sau, họ  đóng đinh Chúa Jésus trên Thập Tự Giá. Sự đổi thay, thương ghét trong lòng người, của quần chúng là thường tình. Lịch sử như lập lại. Có người lấy đó mà trách rằng Cha có học Kinh Thánh, nhưng không học được bài học của Chúa Jesus. Cha không nên trở lại chức vụ Viện Trưởng.
Thiết nghĩ  Cha cũng chỉ là cha, Cha không là Chúa Jesus, dầu rằng nhiệm vụ của cả hai đều là gieo ánh sáng. Nhưng  ánh sáng của Đức Chúa Trời khác cái ánh sáng hạn hẹp của tri thức và của cuộc đời, của những đứa con của Chúa. Việc trên Trời và việc dưới thế có khác. Người ăn thịt cầy không nên chê trách các nhà tu hành là không biết “nếm mùi đời cho đủ thứ mà chơi”, bậc chân tu không kết tội người ăn thịt cầy là phạm giới. Người ngoại cuộc, nên có một cái nhìn hiểu biết hơn.
Nhiều người trách cha Luận sao đã tàn nhẫn dứt tình với nhà Ngô trong những ngày mạt thế của Ngô triều, trách cha đã quên chữ trung, chữ nghĩa của kẻ sĩ.
Cũng nhiều người cũng đã trách cha sao không biết cái thế, cái thời, cái tiến, cái lui, ham chi chút đỉnh chung mà trở về tại Huế sau Cách Mạng 11-63. Sao Cha không làm một Bá Di, Thúc Tề, để tiếng cho người sau.
Trách thì cứ trách, chê thì cứ chê. Vì người chê, kẻ trách ai cũng có lý. Nhưng nói đi thì cũng phải nghĩ lại. Nghĩ cho cùng, ơn mưa móc nhà Ngô, Cha đã hưởng được gì. Cũng những bửa cơm đạm bạc, cũng chiếc áo choàng nhà tu. Lụa là, nem công chả phụng gì cho cam. Cái quyền, cái thế Cha có được, Cha cũng đã chỉ đem ra gầy dựng cho Viện-Đai-Học Huế. Nói “trung”, nói “nghĩa, sao không nói “đạo trời không thân riêng ai”. Đó cũng là câu của người xưa vậy.
Lại nói, khi Cha trở về sau tháng 11-63, không ai không thấy quyết định nông cạn của Cha. Nhưng cũng nên nghĩ lại mà thương Cha. Cha là cha triều  mà không có họ đạo, có khác chi kẻ vô gia cư. Cả cuộc đời, Cha lo công việc giáo dục, lấy học trò làm con, lấy ngôi trường làm nhà ở. Nhà ở của Cha, cuộc đời của Cha là Viện-Đại-Học Huế. Hành động của Cha cũng  nên được nhìn như là một lần trở về với gia đình, với mái nhà của Cha, để tìm ở đó một chút thân thương cuối cùng trong cuộc sống. Cha đã không tìm được điều đó, điều mong ước độc nhất trong cuộc đời Cha. Và người ta đã đuổi Cha đi, đuổi Cha ra khỏi mái ấm gia đình của Cha. Sao lại nở trách Cha, mà không hiểu cho Cha!
Trong việc thế tục, Viện Đại Học Huế chỉ là một điểm nhỏ tì ti trong không gian, và thời khoảng sáu bảy năm chỉ là khoảnh khắc trong chiều dài vô tận của thời gian. Cá nhân còn nhỏ hơn nữa và lại giới hạn gần như ở mọi chiều, không gian, thời gian, tình cảm, kiến thức, tầm nhìn,... Không có gì để phê phán, biện minh, hay vinh danh.  Dầu vậy, thiết nghĩ “cái thuở ban đầu lưu luyến ấy” có lắm chuyện trọng đại mật thiết với Đại Học hoặc có một ảnh hưởng nhất định trên một số đông chúng tôi nên phải ghi:
Vào lúc giữa Đức Tổng Giám Mục và Cha Luận có chuyện cơm không lành, canh không ngọt, thì một hôm chúng tôi được hấp tấp vời đến nhà Đức Cha. Ông từ lầu trên bước xuống, nói chuyện với chúng tôi, hay cho  một huấn từ dạy dỗ, bằng một tiếng Pháp rất chuẩn và trong sáng. Đức Cha chê trách Viện Đại Học Huế nhiều điều, trong đó có chủ trương sử dụng tiếng Việt làm chuyển ngữ, và riêng Cha Luận, Đức Cha dành cho tỉnh từ không mấy dễ chịu: “prétentieux”.
Tôi không nghĩ như vậy.  Giáo dục đại-học sẽ không trọn vẹn chức năng nếu chuyễn- ngữ không là quốc-ngữ.
Dùng Quốc Ngữ làm chuyển ngữ cho các bộ môn đã được thực hiện tốt đẹp từ lớp 1 đến lớp 12, từ Văn, Triết, Sử, Địa cho đến Toán, Lý, Hoá, Sinh Vật. Ban đầu, cũng có cái loạn thuật ngữ, có cái loạn “trăm hoa đua nở”. Nhưng dần dần  trật tự được ổn định, các sách giáo khoa đã thống nhất danh từ. Nội dung bài dạy được diễn tả trong sáng. Việc sử dụng quốc ngữ làm chuyển ngử là một phép lạ kỳ diệu cho việc đại chúng hóa giáo dục học đường. Nhưng quí vị đàn anh chúng tôi ở Viện Đại Học Sài gòn có dè dặt, e ngại sử dụng tiếng Việt. Dè dặt là phải; chỉ nói riêng về khoa học, thì quyển Danh Từ Khoa Học của Cụ Hoàng Xuân Hản cần phải được tu chỉnh và bổ sung nhiều. Tiếng nói của người sử dụng rất cần thiết, cho nên cần tu chỉnh. Khoa học càng ngày càng tiến nhanh, phải thêm từ mới. Sự cập nhật hóa là đương nhiên cần thiết. Và trong khi chờ đợi có một cơ quan thẩm quyền minh định nghĩa các từ cho thống nhất, ai cũng ngại cái loạn từ ngữ. Nhưng nếu không bắt đầu, thì ai sẽ bắt đầu, và khi nào mới bắt đầu.
Ngoài ra, hồn ma người Pháp vẫn còn lãng vãng đâu đó trong đại học. Tiếng Pháp  chính xác, rõ ràng, xúc tích. Giới đại học lúc bấy giờ rất quen thuộc. Đông đảo những người biết thơ văn triết học, văn minh Đông Tây qua tiếng Pháp. Họ biết Lamartine, Chateaubriand, Apollinaire,..hơn Ôn Như Hầu, Bà Huyện Thanh Quan  hay Đoàn Thị Điểm.  Thay thế tiếng Pháp với họ là một mất mát. Không một ai muốn mất những sở đắc của mình. Sử dụng tiếng Việt trong đại học là mới mà cái mới nào cũng có tính phiêu lưu và những đau đầu nhất định của nó. Cho nên, nếu ý có muốn thì lòng không muốn. Tại sao phải rời bỏ những thói quen dễ chịu mà lại được xã hội “thượng lưu” xem trọng? Người giàu và có ảnh hưởng thì nghĩ con em mình phải du học ở Pháp; đọc, viết, nói, nghĩ như người Pháp để không gặp khó khăn khi vào một trường ở Pháp. Lúc bấy giờ, người Mỹ chỉ hiện diện qua một số cố vấn, tiếng Anh chưa được trọng. Người phụ huynh cũng có lý khi e ngại rằng con em họ không đọc được sách báo ngoại quốc, trong khi các quốc gia ngày càng tùy thuộc lẫn nhau, thế giới như thu hẹp lại. Thật ra, họ chưa thấy sử dụng tiếng Việt làm chuyển ngữ không  mâu thuẩn với việc học sinh ngữ, sử dụng sinh ngữ trong việc  xuất bản các nghiên cứu của mình.
Riêng tôi, tôi có khó khăn nói tiếng Pháp với người Việt: có một cái gì không tự nhiên, làm cho tôi ngượng trong lúc phát âm. Tiếng Việt thì tôi rất  trôi chảy, nhưng vốn liếng rất nhiêu khê. Có lần tôi  phê trong bài của một sinh viên là “dài giòng danh tự” để nói là “dài giòng văn tự”, may mà tôi chưa viết “vài vòng danh tự” hay những cái điên khùng tương tự. Miền Trung có thịt ba chỉ, mà trong Sài gòn  gọi là thịt ba rọi. Trong những tháng đầu tôi phải nói ba chỉ, nữa nạt nữa mở, và tôi phải tạm hài lòng với lối diễn tả kỳ cú ấy. Nữa nạt nữa mở không có nghĩa là nữa giọng Huế, nữa giọng Nam, mà là nữa Pháp nữa Việt. Vấn đề không là dịch, mà là nghĩ suy và diễn tả bằng Việt Ngữ. Dần dần tôi có được tự tin, và tin rằng quốc ngữ diễn tả được mọi vấn đề. Phải vượt qua những mặc cảm, phải sử dụng tiếng Việt mới làm giàu được tiếng Việt. Có lần tôi buộc  phải viết bài cho Tập San Đại Học Sư Phạm Huế, muốn góp mặt, phải đánh liều nhắm mắt đưa chân. May thay có anh Lê Tuyên còn “hoang dại” tình nguyện sữa chữa lời văn và chính tả. Thế là tôi đã đứng trên văn đàn đại học. Tôi được bạn bè khuyến khích. Điều này đã cho tôi nhiều phấn khởi nhất định.
Những người biết khả năng tiếng Việt của tôi thuở ấy, phải ngạc nhiên khi đọc những bài tôi viết gần đây. Anh Hai, anh Châu, anh Văn, và nhiều bạn trẻ khác có lần khen văn của tôi. Thưa quí anh chị, đó là nhờ Viện Đại Học Huế. Ở đó, tôi khởi sự học làm giàu tiếng mẹ đẻ của tôi.
Một việc khác nữa là Viện Đại Học Huế có được một nhà in khá tối tân, tương đối với thời bấy giờ, do Ông Đại Sứ Ngô Đình Luyện tặng. Và Nhà Xuất Bản Đại Học theo đó chào đời. Tôi không nhớ được những tác phẩm in ra. Tôi không nhớ rõ tôn chỉ và cũng không theo giỏi những hoạt động của Nhà Xuất Bản. Tôi chỉ nhớ là Nhà Xuất Bản ưu tiên và hổ trợ cho những công trình nghiên cứu mà đọc giả rất chi là chọn lọc. Thí dụ những tác phẩm phiên âm chữ nôm, dịch và phiên âm chữ Hán, hoặc một số sách giáo khoa. Thỉnh thoảng tôi có được tặng, nhưng phải nói thật rằng không mấy khi đọc, vì vốn liếng văn học còn non, và nhất là chưa có thói quen. Truyện Tàu hay truyện của Kim Dung lôi cuốn hấp dẫn hơn nhiều.
Viện Đại Học Huế có gởi một số giáo chức sang Paris để sang lại những microfilm mà Thư Viện thành phố Paris cho hay là sắp hư và không có ngân sách để sao chép lưu trử. Sau Nhà Xuất Bản có xuất bản những tài liệu này. Hai anh Lê Tuyên và Lê Hữu Mục rõ những điều này hơn tôi.
Đối với người trong Nam, Huế là nước ngoài vì phong tục tập quán, vì giọng nói, vì những ngôn ngữ địa phương. Giọng Huế nặng, nhưng không nặng như Nghệ An, Hà Tịnh[xix]. Tuy nhiên, muốn lãnh hội được hết cái âm hưởng tình ý trong lời nói của người Huế, cũng phải lắm công phu. Có khi, điều này buộc tâm phải trầm lặng như giòng sông Hương những ngày nắng tốt, hoặc nhẹ nhàng tịch mịch như các sân chùa lúc trưa hè. Người trong Nam ra Huế phải gột bỏ cái tính ào ào, bồng bột như mưa giông miền Nam  mới nghe thấy được một phần cái thật, gói trong lời của người Huế. Người không thích thì nói rằng người Huế thâm. Với tôi, nghe người Huế nói chuyện, như nghe hát Nam ai, Nam bình, hoặc nghe một bản nhạc cổ điển, cần có thời gian thấm thấu. Nói riêng, phải mất một thời gian khoảng một năm, và nhờ một sinh viên của tôi lặp lại từng chữ một, tôi mới nghe được câu: “Thưa thầy, con không biết đến nơi.”  Bạn đọc đừng vội chê trách rằng không hiểu được những lời lẻ đơn sơ như thế thì dạy dỗ được ai.  Lời chê có cơ sở. Nhưng ông Trời như đã sắp đặt trước cả cho chúng tôi rồi. Sinh viên chúng tôi có đủ khả năng biết phân phải trái, và biết bổ túc cho những thiếu sót của ông thầy.
Quí vị cũng nên nghĩ cho rằng chúng tôi bắt đầu từ cái bắt đầu, thư viện lưa thưa, phòng thí nghiệm thì phải trang bị từ A đến Z. Bôi bảng thì cả một cực hình, chưa bao giờ chúng tôi có những cái bảng ương ngạnh đến mức độ ấy. Người làm bảng thì chọn nước sơn tốt nhất, bóng láng nhất, thế nên có hiện tượng phản chiếu, bên trái thấy rõ thì bên phải không thấy, đó là lòng tốt mà hại người. Còn phấn, lắm khi viết  không ăn bảng,  nó trượt dài trên bảng.
Cho nên, nên thương chúng tôi nhiều hơn là trách.
Nói âm rồi phải nói dương. Huế đã dành cho Viện Đại Học những công ốc đẹp nhất, tiện nghi nhất, và những địa điểm trang trọng nhất: Tòa Đại Biểu Chính Phủ, Tòa Nhà Ngân Hàng Đông Dương, Thương Xá Morin, Toà Khâm. Nói riêng, nơi cư ngụ của giáo chức có những tiện nghi nhất định.
Để kết luận, thiết nghĩ nên ghi rằng:
Có một thời dân cư xứ Huế,  thân hào nhân sĩ, học giả, công nhân viên chức, ở mọi giai từng xã hội, cùng với một bọn trẻ, động cơ khác nhau, từ những nguồn gốc khác nhau, có người ngoại quốc, cùng nhau sát cánh với Linh Mục Cao Văn Luận xây dựng một Viện Đại Học cho con em hiếu học. Viện Đại Học này, trong phạm vi khả thể, đã  làm tròn trách vụ của mình. Bao nhiêu người trẻ hiếu học đã có được cơ hội học hỏi thăng tiến. Luật khoa, văn khoa, khoa học, y khoa đã đào tạo được bao nhiêu con người hữu dụng cho đất nước. Sư Phạm là một thành công lớn trong việc đào tạo được một đội ngũ giáo chức hùng hậu và nghiêm túc nhất, đủ để đáp ứng cho nhu cầu giáo dục của cả miền Trung.
Cuối cùng Đại Học Huế là niềm hãnh diện, hứng khởi, lò sinh khí cho miền Trung. Đã có một lúc nào đó, Huế, Viện Đại Học, Cha Luận, và chúng tôi (chữ chúng tôi xin được viết thật nhỏ) và những người sinh viên trẻ... đã là một khối, một khối tinh chất dưới ánh mặt trời.
Còn riêng tôi, tôi đã viết nên được một phần nào tâm trạng của tôi, một tâm trạng biến đỗi từ cực âm sang cực dương, qua 6 năm ở Huế.
Có điều là dầu đã cố gắng đến mức độ tối đa tôi cũng đã không trình bày được những ý tình của tôi, không ghi chép lại được những sự kiện, một cách mạch lạc và rõ ràng. Nhưng thử hỏi, có ai mà kể chuyện về Huế được rõ ràng, mạch lạc, nhất là khi không nói được tiếng Huế, giọng Huế, cử chỉ, thái độ Huế? Đó cũng vì cái tình, cái ý không bao giờ rõ ràng, mạch lạc đã trở thành bản chất của xứ Huế? Riêng tôi, tui có tội tình chi mô nà.
 
Tri Ơn: Tôi chân thành cám ơn giáo sư Lê Thanh Minh Châu, Nguyễn Văn Hai, Lê Văn, và Từ Nguyên đã góp một phần vào dữ kiện và hình thức, lời văn của bài này.
Houston, ngày 23 tháng 9 1997
 
 


[i] Sư sải người Miên, Theravada
[ii] Linh Mục Nguyễn Văn Thích, một giáo sư Hán Học của Viện Đại Học Huế
[iii] Các nhân viên giảng huấn, nhân viên các phòng ban của Viện Đại Học, của các Khoa, từ chức vụ khiêm tốn nhất đến quan trọng nhất, từ người trẻ tuổi nhất đến bậc đàn anh của tôi.
[iv] Cấp bậc thấp nhất trong ngạch trật giảng huấn thời bấy giờ. Ở Pháp, người giảng nghiệm viên thường được tuyển dụng làm trợ giáo cho một giáo sư, và nhờ đó được hướng dẫn trong luận án tiến sĩ.
[v] Ông Nguyễn Văn Hai lúc bấy giờ là Đại Diện Bộ Giáo Dục cho cả Miền Trung. Sau Ông sang Paris làm luận ánTiến Sĩ. Ông đổ Tiến Sĩ Khoa Học, học vị cao nhất trong Đại Học Pháp.
[vi] Đệ Nhất Cộng Hòa
[vii] Ông Lê Khắc Phò qua đời tại Sài gòn vì "infarctus", ngày 11 tháng 3 1997, thọ 69 tuổi.
[viii] Nguyễn Văn Hai. Giai Phẩm kỷ niêm 100 năm Trường Quốc Học. 1997. Hồi Tưởng
[ix] Trường Quốc Học
[x] Trường Y Khoa được thiết lập sau, do nghị định ngày 21, tháng 8 1959; lớp tốt nghiệp đầu tiên năm 1967.
[xi] Nguyễn Văn Hai. trích dẫn ở phần trên.
[xii] Tương tự như tôi, Ông Nhự là "học trò ra Huế đi thi, thấy cô gái Huế mà đi không đành"
[xiii] Bác Sĩ Nguyễn Văn Thuâạn, nguyên Trưởng Ban Ngoại Giao Quóc Hội Đệ Nhị Cọng Hòa, Tốt Nghiệp khóa I, Trường Đại Học Y Khoa Huế vầ Tốt Nghiệp Giải Phẩu Tổng Quát Đại Học Michigan. Hai tuần trước đây, ông đã cắt nhẹ cho tôi cái mật có sạn, chiều vào bệnh viện, sáng về nhà với 3 viên thuốc Tylenol 500mg loại thường làm thuốc giảm đau.
[xiv] Không là từ ngữ của thơ
[xv] Quyết định chi tiêu
[xvi] Theo lời của Giáo Sư Lê Thanh Minh Châu, nguyên Viện Trưởng Viện Đại Học Huế.
[xvii] Vượt biên.
[xviii] Ong Ngô Đình Cẩn
[xix] Giọng nói của Cha Luận.




 
 

Đọc Sách Chuyện Một Người Đàn Bà.. Năm Con của Lê Khắc Thanh Hoài

Đọc Sách Chuyện Một Người Đàn Bà.. Năm Con của Lê Khắc Thanh Hoài Phạm Trọng Chánh http://www.tvvn...
 
 
 


____________________________________________________________
This Man Cured His Nasty Nail Fungus in 10 Minutes
adclk.co
http://thirdpartyoffers.juno.com/TGL3142/5810d2b3572e252b35a46st02vuc
SponsoredBy Content.Ad

__._,_.___
Reply via web post Reply to sender Reply to group Start a New Topic Messages in this topic (1)

Have you tried the highest rated email app?
With 4.5 stars in iTunes, the Yahoo Mail app is the highest rated email app on the market. What are you waiting for? Now you can access all your inboxes (Gmail, Outlook, AOL and more) in one place. Never delete an email again with 1000GB of free cloud storage.


.

__,_._,___




Reply all
Reply to author
Forward
0 new messages