Mình có 1 tình huống thực tế rất cần sự chia sẻ của mọi người liên
quan đến việc thế chấp của chủ Doanh nghiệp tư nhân (DNTN) cho DNTN
vay vốn tại ngân hàng.
Hiện giờ bên mình đang có khoản vay của chủ DNTN tại ngân hàng với dư
nợ là 7 tỷ, tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và căn nhà đứng tên 2
vợ chồng chủ DNTN với giá trị TSBĐ là 9 tỷ. Hợp đồng thế chấp trên đã
được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm.
Sau đó DNTN lại vay vốn ngân hàng với số tiền vay là 1,5 tỷ đồng cũng
bằng chính quyền sử dụng đất và căn nhà nói trên. Vậy trong trường hợp
này có cần phải ra công chứng ký HĐ thế chấp giữa Ngân hàng với DNTN
và đăng ký lại giao dịch bảo đảm hay vẫn có thể sử dụng chính HĐ thế
chấp đã ký và không cần phải đăng ký lại giao dịch bảo đảm cho khoản
vay thứ 2??
Theo quan điểm của cá nhân mình thì:
- Thứ 1: Toàn bộ vốn và tài sản kể cả vốn vay và tài sản thuê được sử
dụng vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phải được ghi chép đầy
đủ vào sổ kế toán và báo cáo tài chính của doanh nghiệp theo quy định
của pháp luật. Do vậy, lãi vay, các chi phí liên quan đến việc vay vốn
đều được ghi chép và hạch toán vào số sách kế toán của doanh nghiệp,
độc lập với chủ sở hữu;
- Thứ 2: Việc DNTN tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình
về mọi hoạt động của mình chỉ được xem xét trong trường hợp khi Doanh
nghiệp tiến hành thủ tục giải thể hoặc bị lâm vào tình trạng phá sản,
còn ngoài ra trong quan hệ giữa chủ sở hữu và DNTN khi tham gia các
quan hệ dân sự là có sự độc lập và tách rời nhau. Quyền và nghĩa vụ
tương ứng phát sinh từ các giao dịch do các bên tự cam kết và tự chịu
trách nhiệm.
- Đối với tài sản của chủ Doanh nghiệp tư nhân chấp để bảo đảm nghĩa
vụ của DNTN, trường hợp cụ thể ở đây là BĐS thuộc sở hữu chung thì về
nguyên tắc khi ký kết hợp đồng thế chấp bảo đảm khoản vay phải có sự
đồng ý của cả 2/nhiều đồng chủ sở hữu (tài sản chung của vợ chồng/Tài
sản chung của Hộ gia đình) và việc thế chấp Hợp đồng thế chấp trước đó
bảo đảm nghĩa vụ cho vợ/chồng không có nghĩa những người đồng sở hữu
đồng ý bảo đảm cho nghĩa vụ sau đó.
Từ một số lý do trên, để bảo đảm tối đa quyền lợi của ngân hàng trong
trường hợp phải xử lý TSBĐ của chủ sở hữu trong DNTN thì trước khi
giải ngân khoản vay nên ký HĐ Thế chấp giữa DNTN và ngân hàng có bảo
đảm bằng tài sản của Chủ sở hữu (trên cơ sở có sự đồng ý của những
người đồng sở hữu) và Đăng ký giao dịch bảo đảm bổ sung trong trường
hợp đã ĐK GDBĐ của BĐS (nói trên) trước đó, làm căn cứ pháp lý cần
thiết và phù hợp theo quy định của Pháp luật để bảo đảm quyền lợi của
ngân hàng.
Trên đây là một số trao đổi liên quan đến trường hợp chủ DNTN thế chấp
tài sản để bảo đảm khoản vay của DNTN. Rất mong nhận được ý kiến phản
hồi và trao đổi của các thành viên.
Nếu vợ chồng nhà kia thế chấp cho công ty (công mình hay công khác),
thì vấn đề bắt buộc phải có sự liên kết chặt chẽ máu thịt giữa tiền
vay và tiền tài (sản). Nếu không thì bọn chúng nó sẵn sàng phủi tay
chối ngay tức thì.
Riêng trường hợp tài sản của vợ chồng mình, thế chấp cho DNTN của nhà
mình, thì không bao giờ rũ được. Tuy nhiên cần khép kín để đề phòng có
thằng cha vơ chú váo nào đó bỗng dưng trở thành chủ nợ của thể nhân
hay doanh nhân vợ chồng nhà kia. Lúc ý Toà mình phán như đinh rằng
HĐTC hình như vô hiệu!
TTĐ
> > hồi và trao đổi của các thành viên.- Ẩn nội dung trích dẫn -
>
> - Hiển thị văn bản được để trong dấu trích dẫn -
BS:
- Theo quy định của Bộ Tài Môi thì Đất vẫn có thể mang tên của DNTN
đấy.
- “Nếu vợ chồng nhà kia thế chấp cho công ty (công mình)” Quả này
theo Dân Luật là không được đâu bác nha.
2. Xác định được phạm vi bảo đảm nghĩa vụ hiện tại hay trong tương lai
(Dân Luật, 163, 05, 03):
Trường hợp có tương lai không phải đăng ký TC, cũng không phải
đăng ký thay đổi.
Trường hợp không có tương lai (phát sinh một TC mới cho một nghĩa vụ
mới, khác trên) Phải đăng ký (đừng nhầm đăng ký thay đổi nhé).
3. Công chứng hay không trong trường hợp này Phải CC, nếu:
- Ký kết HĐ TC mới vì không có tương lai như 3: theo Luật Đất và 05
- Lập Phụ lục hoặc văn bản về sửa đổi, bổ sung HĐ đã công chứng: Theo
Luật Chứng, 04.
4. Vợ đã đồng ý trước thì có đương nhiên với đồng ý sau không (theo
gạch thứ 3 tại phần ý kiến của Lan PGbank):
- Nếu có lai, thị đương nhiên từ thời điểm ký đã “đồng ý” việc sẽ xác
lập tiếp nghĩa vụ sau (nghĩa vụ lai). Tuy nhiên, với tư cách NHa, nếu
lập Phụ lục, khế ước xxx thì nên bắt vợ ký vào hoặc có văn bản đồng ý
cho nó chắc cục gạch.
- Nếu không có lai và phát sinh TC mới như trên (ký HĐ TC mới), thì vợ
phải đồng ý (ký vào HĐ hoặc có VB thể hiện sự đồng ý): theo Luật Hôn
và Luật Dân.
4. Các vấn đề như chi phí, hoạch toán; quan hệ chủ SH với DNTN, …
không nên quan tâm vì chẳng liên quan đến việc có đăng, có chứng
không.