- Phiên thảo luận sáng nay (16/11) về Luật Ngân hàng Nhà nước sửa đổi nóng ngay từ đầu bởi ý kiến của Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Lê Thị Nga (Thái Nguyên) về việc dự thảo luật đã bỏ quy định về lãi suất cơ bản trong luật hiện hành.
4 lần bị Thường vụ Quốc hội "bác"
![]() |
|
Phó Chủ nhiệm UB Tư pháp Lê Thị Nga: NHNN kiên trì đề nghị sửa đổi luật để bảo vệ cho lợi ích của Nhà nước, của nhân dân hay lợi ích cục bộ của các tổ chức tín dụng? |
Khoản 12, điều 9, Luật Ngân hàng Nhà nước hiện hành quy định: "Lãi suất cơ bản là lãi suất do Ngân hàng Nhà nước công bố làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh".
Các nền kinh tế lớn như Mỹ, Nga, Trung Quốc, Nhật đều dùng công cụ lãi suất cơ bản với mục tiêu góp phần điều tiết thị trường lãi suất.
Gần đây nhất, ngày 11/11, báo Lao Động đăng một tin rất đáng chú ý: Ngân hàng Trung ương Nga sẽ cắt giảm 0,5% lãi suất cơ bản trong tháng này. Trong 6 tháng qua ngân hàng này đã cắt giảm lãi suất cơ bản 8 lần, dự kiến sắp tới lãi suất cho vay sẽ ở mức thấp kỷ lục là 9,25%.
Lãi suất cơ bản được quy định trong nhiều văn bản pháp luật. Đây là công cụ để Nhà nước định hướng và kiểm soát lãi suất thị trường.
Lãi suất cơ bản cũng là tiêu chí để Nhà nước xác định mức trần lãi suất cho vay của các tổ chức, cá nhân, trong đó có các tổ chức tín dụng.
Theo điều 476 Bộ luật Dân sự, mức trần này không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản.
Đây cũng là tiêu chí để xác định mức của nghĩa vụ dân sự theo quy định tại điều 305, 436, 474, 576, 709 Bộ luật Dân sự.
Lãi suất cơ bản là tiêu chí để xác định mức lãi suất cao nhất nên đây là căn cứ để xác định tội cho vay lãi nặng theo điều 163 của Bộ luật Hình sự.
"12 năm qua, bằng quy định về lãi suất cơ bản trong hệ thống pháp luật, Nhà nước đã thể hiện vai trò định hướng của mình trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội về cho vay vốn, để các quan hệ này diễn ra một cách trật tự, lành mạnh, ổn định cơ bản thị trường tiền tệ, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng cho vay lãi nặng, mang tính bóc lột", bà Nga khẳng định.
|
"Về quyết định nhập vàng khi giá vàng lên đỉnh, nếu công bố sớm hơn một chút thì đâu đến nỗi giá vàng của mình cao hơn 5 triệu đồng một lạng so với thế giới. Như thế làm giàu cho ai và thiệt hại như thế nào?" ĐBQH Nguyễn Lân Dũng |
Theo bà Nga, từ 2006 đến nay, tình trạng các tổ chức tín dụng cho vay vượt trần lãi suất cơ bản trở nên phổ biến, đặt các ngân hàng thương mại trước một nguy cơ bất lợi lớn về mặt pháp lý. Đó là nếu người đi vay khởi kiện thì các hợp đồng này sẽ bị tòa án tuyên vô hiệu và hậu quả là các ngân hàng sẽ không nhận được phần lãi theo thỏa thuận.
Bà Nga góp ý, để giải quyết tình trạng vi phạm trên, với vai trò là thành viên Chính phủ quản lý nhà nước về lĩnh vực này, thay vì phải xử lý các tổ chức vi phạm và làm bình ổn thị trường lãi suất thì Ngân hàng Nhà nước lại "ra tay" cứu các tổ chức tín dụng.
Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp lần lượt điểm lại bốn lần Ngân hàng can thiệp về chuyện lãi suất.
Ngày 22/11/2006, Thống đốc Lê Đức Thúy đề nghị Thường vụ QH khóa XI, trình QH ra nghị quyết cho phép các tổ chức tín dụng không bị điều chỉnh bởi quy định về trần lãi suất tại Điều 476 Bộ luật dân sự.
Ủy ban Pháp luật không đồng ý.
Ngày 15/2/2007, ông Thúy lại "đổi hướng" bằng cách đề nghị Ủy ban Thường vụ QH giải thích điều 476 theo hướng là điều luật này không điều chỉnh các tổ chức tín dụng.
Ủy ban Pháp luật không đồng ý vì quy định đã rõ, không thể giải thích theo ý muốn chủ quan của Ngân hàng.
Không dừng lại ở đó, đến ngày 23/3/2008, vị Thống đốc kế nhiệm, ông Nguyễn Văn Giàu tiếp tục trình Thường vụ Quốc hội đề nghị sửa Bộ luật Dân sự theo hướng quy định lãi suất huy động và cho vay của các tổ chức tín dụng không tuân theo Bộ luật Dân sự, mà tuân theo quy định của Pháp luật về ngân hàng.
Hơn thế nữa, Thống đốc NHNN còn đề nghị cho phép áp dụng hồi tố sau khi sửa luật để hợp thức hóa cho những vi phạm của các tổ chức tín dụng đã xảy ra từ ngày 1/1/2006 đến nay.
Thường vụ Quốc hội không đồng ý và yêu cầu xem xét cùng một lúc cả Luật Ngân hàng Nhà nước, Luật Các tổ chức tín dụng và Bộ luật Dân sự, với mục đích đảm bảo đồng bộ về chính sách.
Cuối cùng, ngày 14/4/2008, Thống đốc Nguyễn Văn Giàu lại ký tờ trình, trình Thường vụ Quốc hội sửa điều 476 Bộ luật Dân sự theo hướng nâng trần lãi suất cho vay bằng 200% lãi suất cơ bản.
Ủy ban Pháp luật tiếp tục phản bác và khẳng định, nguyên nhân của những vi phạm trong thời gian qua của các ngân hàng thương mại trong việc cho vay vượt trần lãi suất không phải do quy định về lãi suất cơ bản trong Luật Ngân hàng Nhà nước, cũng không phải do lỗi của điều 476, mà do Ngân hàng Nhà nước chưa làm tròn trách nhiệm, chưa sử dụng tốt công cụ này để điều tiết ổn định thị trường tiền tệ và do các tổ chức tín dụng không thực hiện đúng quy định của Bộ luật Dân sự.
"Với mục đích giúp các ngân hàng thương mại tránh hậu quả pháp lý do vi phạm trần lãi suất cho vay đã, đang và sẽ xảy ra, sau 4 lần trình Thường vụ Quốc hội không thông qua được, lần này Ngân hàng Nhà nước lấy danh nghĩa Chính phủ chọn một giải pháp khác là lặng lẽ bỏ quy định về lãi suất cơ bản tại điều 9 của luật hiện hành, không hề có một lời giải thích là vì sao phải bỏ", bà Nga nói.
Đồng thời, tại điều 91, dự thảo Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi) cũng đang được xem xét lần, này, Ngân hàng Nhà nước đã đưa các tổ chức tín dụng thoát khỏi trần lãi suất trong Bộ luật Dân sự.
Theo bà Nga, cả hai dự thảo này đều để một van khóa rất mù mờ là trong trường hợp cần thiết hoặc trường hợp có diễn biến bất thường của thị trường, Ngân hàng Nhà nước có quy định về cơ chế xác định lãi suất của các tổ chức tín dụng.
Trong khi đó, cơ chế lãi suất và trần lãi suất là hai vấn đề khác nhau, trường hợp cần thiết là trường hợp nào cũng không thấy quy định rõ, do đó sẽ rất khó kiểm soát thị trường lãi suất.
Bà Nga khẳng định, từ năm 2006 đến nay, Ngân hàng Nhà nước theo đuổi một mục tiêu rất kiên trì là đưa các tổ chức tín dụng thoát khỏi sự điều chỉnh của Bộ luật Dân sự, hợp thức hóa cho các vi phạm của các tổ chức tín dụng về tự do hóa lãi suất.
"Một câu hỏi lớn được đặt ra ở đây là việc kiên trì đề nghị sửa đổi luật như vậy nhằm mục tiêu bảo vệ cho lợi ích của ai, của Nhà nước, của nhân dân để ngăn chặn việc cho vay lãi nặng, ổn định thị trường tiền tệ, hay bảo vệ lợi ích cục bộ của các tổ chức tín dụng?", bà Nga băn khoăn.
Theo ĐB này, nếu bỏ quy định về lãi suất cơ bản Nhà nước sẽ mất vai trò định hướng, thị trường lãi suất có thể dẫn đến cuộc chạy đua lãi suất huy động và lãi suất cho vay, gây rối loạn thị trường, đẩy người dân và doanh nghiệp phải vay với lãi suất cao và góp phần làm mất giá đồng Việt Nam.
Mặt khác, sẽ không kiểm soát được tình trạng cho vay lãi nặng của các tổ chức tín dụng và vay lãi nặng trong dân cư.
Và quan trọng là sẽ làm vô hiệu hóa 6 điều của Bộ luật Dân sự, 1 điều của Bộ luật Hình sự và đẩy hoạt động của cơ quan điều tra, viện kiểm sát và tòa án vào bế tắc vì không còn căn cứ để giải quyết, đặc biệt trong các vụ án dân sự.
Bà Nga đề nghị Chính phủ giải trình rõ điều này, đồng thời đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội đưa nội dung bỏ lãi suất cơ bản trong Luật Ngân hàng Nhà nước và nội dung tự do hóa lãi suất trong điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng để thảo luận và xin ý kiến của Quốc hội.
Các ĐBQH phát biểu sau đó đã bày tỏ thái độ đồng thuận với bà Nga./.
Tại sao không dựa vào cái hơi lợi ích quốc gia, đồng bào, đồng chí mà
bỏ mà thay, mà tăng mà giảm, mà thò mà thụt, mà lên mà xuống.
Có nhiều cách làm, nhưng chúng ta chọn cách khó nhất, kém thuyết phục
nhất. Rất nhiều chuyên gia kinh tế và pháp lý không đồng tình (bà Nga
học KT6 Trường Đại học Luật HN đấy). Cửa tử tiếp tục mở rộng toang
hoác.
Tôi đã viết nhiều câu nặng lời trên báo chí phê phán chỗ này. Nhưng
tôi cũng không đồng tình bỏ lãi suất cơ bản, nếu không có Lê Lai cứu
chúa!
PS.
On 16 Tháng Mười Một, 16:13, Son Nguyen <doanthai...@gmail.com> wrote:
> http://vietnamnet.vn/chinhtri/200911/Bo-quy-dinh-lai-suat-vi-loi-ich-...
>
> Bỏ quy định lãi suất:
> Vì dân hay vì lợi ích cục bộ?
> Cập nhật lúc 15:45, Thứ Hai, 16/11/2009 (GMT+7)
> ,
>
> * - Phiên thảo luận sáng nay (16/11) về Luật Ngân hàng Nhà nước sửa đổi nóng
> ngay từ đầu bởi ý kiến của Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Lê Thị Nga (Thái
> Nguyên) về việc dự thảo luật đã bỏ quy định về lãi suất cơ bản trong luật
> hiện hành.*
>
> *4 lần bị Thường vụ Quốc hội "bác"*
> Theo bà Nga, lãi suất cơ bản là một nội dung quan trọng, là vấn đề chính
> trị, xã hội, thể hiện vai trò định hướng của Nhà nước trong nền kinh tế thị
> trường, nhằm góp phần ổn định kinh tế - xã hội.
>
> [image: Mô tả
> ảnh.]<http://images.vietnamnet.vn/dataimages/200911/original/images1882238_...>
>
> Phó Chủ nhiệm UB Tư pháp Lê Thị Nga: NHNN kiên trì đề nghị sửa đổi luật để
> bảo vệ cho lợi ích của Nhà nước, của nhân dân hay lợi ích cục bộ của các tổ
> chức tín dụng?
>
> Khoản 12, điều 9, Luật Ngân hàng Nhà nước hiện hành quy định: *"Lãi suất cơ
> bản là lãi suất do Ngân hàng Nhà nước công bố làm cơ sở cho các tổ chức tín
> dụng ấn định lãi suất kinh doanh".*
>
> Các nền kinh tế lớn như Mỹ, Nga, Trung Quốc, Nhật đều dùng công cụ lãi suất
> cơ bản với mục tiêu góp phần điều tiết thị trường lãi suất.
>
> Gần đây nhất, ngày 11/11, báo Lao Động đăng một tin rất đáng chú ý: Ngân
> hàng Trung ương Nga sẽ cắt giảm 0,5% lãi suất cơ bản trong tháng này. Trong
> 6 tháng qua ngân hàng này đã cắt giảm lãi suất cơ bản 8 lần, dự kiến sắp tới
> lãi suất cho vay sẽ ở mức thấp kỷ lục là 9,25%.
>
> Lãi suất cơ bản được quy định trong nhiều văn bản pháp luật. Đây là công cụ
> để Nhà nước định hướng và kiểm soát lãi suất thị trường.
>
> Lãi suất cơ bản cũng là tiêu chí để Nhà nước xác định mức trần lãi suất cho
> vay của các tổ chức, cá nhân, trong đó có các tổ chức tín dụng.
>
> Theo điều 476 Bộ luật Dân sự, mức trần này không được vượt quá 150% của lãi
> suất cơ bản.
>
> Đây cũng là tiêu chí để xác định mức của nghĩa vụ dân sự theo quy định tại
> điều 305, 436, 474, 576, 709 Bộ luật Dân sự.
>
> Lãi suất cơ bản là tiêu chí để xác định mức lãi suất cao nhất nên đây là căn
> cứ để xác định tội cho vay lãi nặng theo điều 163 của Bộ luật Hình sự.
>
> *"12 năm qua, bằng quy định về lãi suất cơ bản trong hệ thống pháp luật, Nhà
> nước đã thể hiện vai trò định hướng của mình trong việc điều chỉnh các quan
> hệ xã hội về cho vay vốn, để các quan hệ này diễn ra một cách trật tự, lành
> mạnh, ổn định cơ bản thị trường tiền tệ, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng
> cho vay lãi nặng, mang tính bóc lột",* bà Nga khẳng định.
>
> *"Về quyết định nhập vàng khi giá vàng lên đỉnh, nếu công bố sớm hơn một
> chút thì đâu đến nỗi giá vàng của mình cao hơn 5 triệu đồng một lạng so với
> thế giới. Như thế làm giàu cho ai và thiệt hại như thế nào?"*
>
> *ĐBQH Nguyễn Lân Dũng*
> *"Với mục đích giúp các ngân hàng thương mại tránh hậu quả pháp lý do vi
> phạm trần lãi suất cho vay đã, đang và sẽ xảy ra, sau 4 lần trình Thường vụ
> Quốc hội không thông qua được, lần này Ngân hàng Nhà nước lấy danh nghĩa
> Chính phủ chọn một giải pháp khác là lặng lẽ bỏ quy định về lãi suất cơ bản
> tại điều 9 của luật hiện hành, không hề có một lời giải thích là vì sao phải
> bỏ", *bà Nga nói.
>
> Đồng thời, tại điều 91, dự thảo Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi) cũng
> đang được xem xét lần, này, Ngân hàng Nhà nước đã đưa các tổ chức tín dụng
> thoát khỏi trần lãi suất trong Bộ luật Dân sự.
>
> Theo bà Nga, cả hai dự thảo này đều để một van khóa rất mù mờ là trong
> trường hợp cần thiết hoặc trường hợp có diễn biến bất thường của thị trường,
> Ngân hàng Nhà nước có quy định về cơ chế xác định lãi suất của các tổ chức
> tín dụng.
>
> Trong khi đó, cơ chế lãi suất và trần lãi suất là hai vấn đề khác nhau,
> trường hợp cần thiết là trường hợp nào cũng không thấy quy định rõ, do đó sẽ
> rất khó kiểm soát thị trường lãi suất.
>
> Bà Nga khẳng định, từ năm 2006 đến nay, Ngân hàng Nhà nước theo đuổi một mục
> tiêu rất kiên trì là đưa các tổ chức tín dụng thoát khỏi sự điều chỉnh của
> Bộ luật Dân sự, hợp thức hóa cho các vi phạm của các tổ chức tín dụng về tự
> do hóa lãi suất.
>
> *"Một câu hỏi lớn được đặt ra ở đây là việc kiên trì đề nghị sửa đổi luật
> như vậy nhằm mục tiêu bảo vệ cho lợi ích của ai, của Nhà nước, của nhân dân
> để ngăn chặn việc cho vay lãi nặng, ổn định thị trường tiền tệ, hay bảo vệ
> lợi ích cục bộ của các tổ chức tín dụng?",* bà Nga băn khoăn.
Kính thưa Quốc hội.
Tôi xin phát biểu về vấn đề bỏ quy định về lãi suất cơ bản trong Luật Ngân hàng Nhà nước.
Thưa Quốc hội,
Lãi suất cơ bản là một nội dung rất quan trọng, đây không chỉ đơn thuần là vấn đề kinh tế mà còn là vấn đề chính trị, xã hội, thể hiện vai trò định hướng của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường, nhằm góp phần ổn định kinh tế - xã hội. Khoản 12, Điều 9, Luật Ngân hàng Nhà nước hiện hành quy định: "Lãi suất cơ bản là lãi suất do Ngân hàng Nhà nước công bố làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh". Trên thế giới các nền kinh tế lớn như Mỹ, Nga, Trung Quốc, Nhật đều dùng công cụ lãi suất cơ bản với mục tiêu góp phần điều tiết thị trường lãi suất. Gần đây nhất, ngày 11/11 vừa qua Báo Lao động có đưa một tin rất đáng chú ý Ngân hàng Trung ương Nga sẽ cắt giảm 0,5% lãi suất cơ bản trong tháng này. Trong 6 tháng qua ngân hàng này đã cắt giảm lãi suất cơ bản 8 lần, sau lần cắt giảm, dự kiến sắp tới lãi suất cho vay sẽ ở mức thấp kỷ lục là 9,25%. Như vậy tại thời điểm này Nga vẫn sử dụng công cụ này để điều tiết thị trường lãi suất cho vay. Báo Tài chính ngày 12/11 cũng đưa một tin là Ngân hàng Trung ương Nhật đã quyết định giữ nguyên lãi suất cơ bản ở mức 0,1%.
Kính thưa Quốc hội!
Ở Việt Nam lãi suất cơ bản được quy định trong nhiều văn bản pháp luật và có ý nghĩa hết sức quan trọng thể hiện trên các mặt sau:
Một, lãi suất cơ bản là công cụ để Nhà nước định hướng và kiểm soát lãi suất thị trường.
Hai, lãi suất cơ bản là tiêu chí để Nhà nước xác định mức trần lãi suất cho vay của các tổ chức, cá nhân, trong đó có các tổ chức tín dụng theo Điều 476 Bộ luật dân sự mức trần này không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản.
Ba, lãi suất cơ bản là tiêu chí để xác định mức của nghĩa vụ dân sự theo quy định tại Điều 305, 436, 474, 576, 709 Bộ luật dân sự.
Lãi suất cơ bản là tiêu chí để xác định mức lãi suất, cao nhất nên đây là căn cứ để xác định tội cho vay lãi nặng theo Điều 163 của Bộ luật hình sự.
Như vậy có thể nói trong 12 năm qua bằng quy định về lãi suất cơ bản trong hệ thống pháp luật thì Nhà nước đã thể hiện vai trò định hướng của mình trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội về cho vay vốn, để các quan hệ này diễn ra một cách trật tự, lành mạnh, ổn định cơ bản thị trường tiền tệ, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng cho vay lãi nặng, mang tính bóc lột không phù hợp với bản chất của Nhà nước ta.
Vậy trong thực tế thị trường tiền tệ thời gian gần đây nảy sinh vấn đề gì, có liên quan đến lãi suất cơ bản và cách giải quyết của Ngân hàng Nhà nước như thế nào? Từ năm 2006 đến nay tình trạng các tổ chức tín dụng cho vay vượt trần lãi suất cơ bản, đã trở nên khá phổ biến. Điều này đặt các ngân hàng thương mại trước một nguy cơ bất lợi lớn về mặt pháp lý là, nếu người đi vay khởi kiện thì các hợp đồng vay này sẽ bị tòa án tuyên vô hiệu và hậu quả là các ngân hàng sẽ không nhận được phần lãi theo thỏa thuận. Để giải quyết tình trạng vi phạm trên, với vai trò là thành viên Chính phủ quản lý Nhà nước về lĩnh vực này, thay vì phải xử lý các tổ chức vi phạm và làm bình ổn thị trường lãi suất thì Ngân hàng Nhà nước lại ra tay cứu các tổ chức tín dụng bằng các động thái như sau:
Ngày 22-11-2006 Thống đốc Lê Đức Thúy thay mặt Chính phủ có Tờ trình số 15 đề nghị Thường vụ Quốc hội Khóa XI, trình Quốc hội ra nghị quyết cho phép các tổ chức tín dụng không bị điều chỉnh bởi quy định về trần lãi suất tại Điều 476 Bộ luật dân sự, Ủy ban Pháp luật của Quốc hội không đồng ý với đề nghị này.
Ngày 15-2-2007 Thống đốc Lê Đức Thúy lại có Tờ trình số 13 và đề nghị Thường vụ Quốc hội giải thích Điều 476 cũng theo hướng là điều luật này không điều chỉnh các tổ chức tín dụng, Ủy ban Pháp luật không đồng ý với lý do là điều luật này đã rõ. Phải áp dụng cho cả tổ chức tín dụng và cho cả cho vay trong dân cư, không thể giải thích theo ý muốn chủ quan của Ngân hàng Nhà nước.
Ngày 23-3-2008 Thống đốc Nguyễn Văn Giàu tiếp tục có Tờ trình số 23, trình Thường vụ Quốc hội đề nghị sửa Bộ luật dân sự theo hướng quy định lãi suất huy động và cho vay của các tổ chức tín dụng không tuân theo Bộ luật dân sự, mà tuân theo quy định của Pháp luật về ngân hàng. Và hơn thế nữa còn đề nghị cho phép áp dụng hồi tố sau khi sửa luật để hợp thức hóa cho những vi phạm của các tổ chức tín dụng đã xảy ra từ ngày 1-1-2006 đến nay. Thường vụ Quốc hội không đồng ý và yêu cầu xem xét cùng một lúc cả Luật Ngân hàng Nhà nước, Luật các tổ chức tín dụng và Bộ luật dân sự với mục đích để đảm bảo đồng bộ về mặt chính sách.
Ngày 14-4-2008 Thống đốc Nguyễn Văn Giàu lại ký Tờ trình, trình Thường vụ Quốc hội sửa Điều 476 Bộ luật dân sự theo hướng nâng trần lãi suất cho vay bằng 200% lãi suất cơ bản, Ủy ban Pháp luật không đồng ý và khẳng định tại Báo cáo Thẩm tra số 306 là nguyên nhân của những vi phạm trong thời gian qua của các ngân hàng thương mại trong việc cho vay vượt trần lãi suất, không phải do lỗi của quy định về lãi suất cơ bản trong Luật ngân hàng Nhà nước, cũng không phải do lỗi của Điều 476 Bộ luật dân sự, mà chính là do Ngân hàng Nhà nước chưa làm tròn trách nhiệm, chưa nhận thức đúng ý nghĩa, vai trò của lãi suất cơ bản, nên chưa sử dụng tốt công cụ này để điều tiết ổn định thị trường tiền tệ và do các tổ chức tín dụng không thực hiện đúng quy định của Bộ luật dân sự, kết quả là Uỷ ban Thường vụ Quốc hội sửa đổi Bộ luật dân sự.
Với mục đích giúp các ngân hàng thương mại tránh hậu quả pháp lý do vi phạm trần lãi suất cho vay đã, đang và sẽ xảy ra, sau 4 lần trình Thường vụ Quốc hội không thông qua được, lần này Ngân hàng Nhà nước lấy danh nghĩa Chính phủ chọn một giải pháp khác là lặng lẽ bỏ quy định về lãi suất cơ bản tại Điều 9 của luật hiện hành. Trong Tờ trình của Chính phủ không hề có một lời giải thích với Quốc hội là vì sao phải bỏ.
Tại Điều 91, dự thảo Luật các tổ chức tín dụng (sửa đổi) đã đưa các tổ chức tín dụng thoát khỏi trần lãi suất trong Bộ luật dân sự. Cả hai dự thảo này đều để một van khóa rất mù mờ là trong trường hợp cần thiết hoặc trong trường hợp có diễn biến bất thường của thị trường, thì Ngân hàng Nhà nước có quy định về cơ chế xác định lãi suất của các tổ chức tín dụng. Xin lưu ý Quốc hội, cơ chế lãi suất và trần lãi suất là hai vấn đề khác nhau, trường hợp cần thiết là trường hợp nào cũng không thấy quy định rõ, do đó rất khó kiểm soát thị trường lãi suất.
Như vậy từ năm 2006 đến nay Ngân hàng Nhà nước theo đuổi một mục tiêu rất kiên trì là đưa các tổ chức tín dụng thoát khỏi sự điều chỉnh của Bộ luật dân sự, hợp thức hóa cho các vi phạm của các tổ chức tín dụng về tự do hóa lãi suất. Vậy một câu hỏi lớn được đặt ra ở đây là việc kiên trì đề nghị sửa đổi luật như vậy là nhằm mục tiêu bảo vệ cho lợi ích của ai, của Nhà nước, của nhân dân để ngăn chặn việc cho vay lãi nặng, ổn định thị trường tiền tệ, hay bảo vệ lợi ích cục bộ của các tổ chức tín dụng. Chúng tôi thấy rằng việc bỏ quy định về lãi suất cơ bản trong Luật ngân hàng Nhà nước sẽ dẫn đến những mâu thuẫn lớn sau:
Một, Nhà nước sẽ mất vai trò định hướng, thị trường lãi suất có thể dẫn đến cuộc chạy đua lãi suất huy động và lãi suất cho vay gây rối loạn thị trường đẩy người dân và doanh nghiệp phải vay với lãi suất cao và góp phần làm mất giá đồng Việt Nam.
Hai, không kiểm soát được tình trạng cho vay lãi nặng của các tổ chức tín dụng và vay lãi nặng trong dân cư.
Ba, điều quan trọng là làm vô hiệu hóa 6 điều của Bộ luật dân sự, 1 điều của Bộ luật hình sự và đẩy hoạt động của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và tòa án vào bế tắc vì không còn căn cứ để giải quyết. Đặc biệt là bế tắc trong giải quyết các vụ án dân sự.
Từ những phân tích trên chúng tôi đề nghị:
Một, đề nghị Chính phủ phải giải trình rõ với Quốc hội vì sao phải bỏ lãi suất cơ bản, về mặt chính sách vĩ mô của Nhà nước thì việc bỏ lãi suất cơ bản sẽ được gì và mất gì, có gây mâu thuẫn gì trong hệ thống pháp luật và điều quan trọng là kinh nghiệm của quốc tế về vấn đề này như thế nào, trong tờ trình hiện nay chưa hề có một dòng nào đề cập đến những vấn đề trên.
Hai, đề nghị Ủy ban pháp luật của Quốc hội có phát biểu chính thức trước Quốc hội về việc đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật đối với hai dự thảo Luật ngân hàng Nhà nước và Luật các tổ chức tín dụng sửa đổi.
Thứ ba, đề nghị chánh án tòa án nhân dân tối vao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phát biểu ý kiến của hai ngành về cách giải quyết những bế tắc trong hoạt động tư pháp nếu quy định về bỏ lãi suất cơ bản được Quốc hội thông qua.
Thứ tư, đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội đưa nội dung bỏ lãi suất cơ bản trong Luật ngân hàng Nhà nước và nội dung tự do hóa lãi suất trong Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng để thảo luận và xin ý kiến của Quốc hội, đây là vấn đề rất quan trọng và ảnh hưởng đến kinh tế vĩ mô. Xin cảm ơn Quốc hội.
Lê Văn Cuông - Thanh Hoá
Kính thưa Quốc hội,
Tôi xin được tham gia vào 4 vấn đề của dự án Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Trước hết về lãi suất cơ bản tôi nhất trí với ý kiến của đại biểu Lê Thị Nga, vừa qua trước khi ngân hàng Nhà nước quyết định về lãi suất cơ bản thì tình hình huy động của các ngân hàng phải nói là chạy đua làm cho rối loạn cả vấn đề hoạt động của các ngân hàng và làm cho cử tri hoang mang trong vấn đề vay và ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của các doanh nghiệp. Nhưng khi Ngân hàng Nhà nước ban hành quyết định về lãi suất cơ bản thì tình hình nó đi vào ổn định và có thể nói hạ dần đến nay nó đi vào ổn định, cho nên đã có một thực tiễn về vấn đề này, nhưng tại sao trong dự thảo luật lại bỏ ra không đề cập đến. Việc không đề cập đến thì nó ảnh hưởng không những về mặt kinh tế mà ảnh hưởng về các bộ luật khác như đại biểu Lê Thị Nga đã đề cập. Cho nên đề nghị với Ban soạn thảo giải trình cụ thể lý do như thế nào mà lại đưa lãi suất cơ bản ra khỏi dự án luật. Thứ hai, chúng tôi kiến nghị Quốc hội xem xét nên đưa vấn đề này trong dự án Luật Ngân hàng Nhà nước sửa đổi lần này.
Kính thưa quý vị đại biểu,
Kính thưa Quốc hội,
Kính thưa Đoàn Chủ tọa,
Thứ tư, về lãi suất, Khoản 1, Điều 15 của dự án luật tôi nhất trí với ý kiến của các đại biểu phát biểu trước tôi là đại biểu Nga, đại biểu Cuông thì cần bổ sung thêm về quy định lãi suất cơ bản và lý do thì đại biểu Nga đã phân tích hết sức sâu sắc nên tôi không đề cập đến nữa. Tuy nhiên, tôi đề nghị Ban soạn thảo, cần phải làm rõ các loại lãi suất điều hành khác là những loại lãi suất nào? Có phải là lãi suất thị trường mở, lãi suất liên ngân hàng hay là lãi suất thanh toán bù trừ, quy định như dự án luật sẽ không bảo đảm yêu cầu tăng cường khả năng giám sát của cơ quan có thẩm quyền đối với hoạt động Ngân hàng Nhà nước, mặt khác không đảm bảo cho các tổ chức tín dụng, khả năng chủ động trong quan hệ với Ngân hàng Nhà nước cũng như trong quan hệ với khách hàng.
Nguyễn Đình Quyền - Hà Nội
Kính thưa Quốc hội,
Thứ hai, quy định của dự thảo mâu thuẫn với các dự án luật khác là Bộ luật dân sự, Bộ luật hình sự, như đồng chí Nga đã nói rồi, vậy chúng ta có bỏ Điều 163 tội cho vay lãi nặng không với định hướng xã hội chủ nghĩa và chúng ta sẽ xử lý như thế nào với quy định tại Điều 174 và Điều 176 của Bộ luật dân sự. Hay lãi suất của Ngân hàng Nhà nước chỉ có liên quan đến các giao dịch của các tổ chức tín dụng, còn liên quan đến các giao dịch dân sự thì được điều chỉnh bằng pháp luật nào? Trong khi đó chúng ta biết tình hình thế giới hiện nay vai trò của lãi suất cơ bản đóng vai trò rất quan trọng trong việc ổn định kinh tế vĩ mô. Chúng ta cứ tưởng tượng rằng bây giờ nếu bỏ lãi suất cơ bản, bỏ cả quy định về Ngân hàng Nhà nước xác định tỷ giá hối đoái của đồng tiền Việt Nam, thì giá đô la ngày hôm nay không phải là 18, 19 mà có thể nó đã lên đến 25, 30 rồi. Vậy vai trò của Ngân hàng Nhà nước trong việc điều hành kinh tế vĩ mô là thế nào?
Hoàng Văn Minh - Nghệ An
Kính thưa Quốc hội.
Thứ ba, về lãi suất cơ bản, về vấn đề này một số đại biểu cũng đã phát biểu, tôi xin phân tích thêm ở một khía cạnh khác. Luật hiện hành quy định về lãi suất cơ bản nhưng theo dự thảo thì nội dung này đã được bỏ. Chúng tôi cho rằng đây là vấn đề cần được cân nhắc bởi hai lý do như sau.
Thứ nhất, là hiện tại ngân hàng Nhà nước đang phát động vào lãi suất thông qua 3 hoạt động chủ yếu đó là lãi suất chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn.
Thứ hai, là điều hòa lượng tiền trong lưu thông.
Thứ ba, là công bố lãi suất cơ bản.
Theo quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước hiện hành thì lãi suất cơ bản là lãi suất do Ngân hàng Nhà nước công bố, làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh. Như vậy lãi suất cơ bản chính là lãi suất định hướng trên thị trường liên ngân hàng là một trong những mục tiêu công cụ để thực hiện chính sách tiền tệ bảo đảm Nhà nước quản lý và kiểm soát được lãi suất, không những đối với các tổ chức tín dụng, mà còn đối với các hoạt động cho vay và lãi suất trong cộng đồng dân cư. Với vai trò trách nhiệm của Nhà nước thì đây cũng là một yêu cầu rất quan trọng và nó là một thực thể đang tồn tại. Dù Nhà nước có đưa ra một lãi suất nào nói rằng để định hướng thì cũng phải có căn cứ phù hợp với các hoạt động giữa các tổ chức tín dụng với các hoạt động chung trong cộng đồng dân cư. Việc phù hợp này là phải có một mức trần, mức khung nhất định do vậy theo chúng tôi về tên gọi có thể nghiên cứu thay đổi cho phù hợp, nhưng về yêu cầu của quản lý Nhà nước, về hoạt động của ngân hàng thì việc sử dụng công cụ lãi suất định hướng mà luật hiện hành gọi là lãi suất cơ bản vẫn rất cần thiết, nhất là đối với điều kiện thực tế của chúng ta.
Mặt khác, pháp luật hiện hành của Nhà nước hiện cũng có rất nhiều văn bản luật quy định vấn đề liên quan đến lãi suất cơ bản như một số ý kiến của các đại biểu phát biểu trước tôi, tôi xin phép không nhắc lại. Với hai lý do như vậy chúng tôi thấy rằng cần phải cân nhắc để quy định lãi suất cơ bản trong dự thảo luật, không nên bỏ đi. Xin hết ý kiến.
Phạm Thị Loan - TP Hà Nội
Kính thưa Quốc hội,
Vấn đề thứ ba, về lãi suất cơ bản tôi đồng ý với đại biểu Nga, đại biểu Cuông và các đại biểu khác. Chúng ta không nên bỏ mục quy định về lãi suất cơ bản và đề nghị phải quy định rõ vai trò cũng như chức năng của lãi suất cơ bản để làm căn cứ cơ sở như thế nào trong việc hoạt động tín dụng, quy định rõ cho các tổ chức tín dụng sử dụng lãi suất cơ bản để làm căn cứ cho hoạt động tín dụng, tránh trường hợp là cho vay nặng lãi.
Phan Trung Lý - Nghệ An
Kính thưa Quốc hội.
Thứ hai, về lãi suất cơ bản chúng tôi hoàn toàn tán thành với các ý kiến đó, nhất là ý kiến của đại biểu Lê Thị Nga, đại biểu Trần Đình Long, đại biểu Nguyễn Đình Quyền, đại biểu Nguyễn Thị Mỹ Hương ở Đà Nẵng vàc các đại biểu khác. Chúng tôi thấy đại biểu Hoàng Văn Minh cũng phát biểu rất rõ vai trò của lãi suất cơ bản và sự cần thiết phải giữ quy định, xác định công bố lãi suất cơ bản. Ở đây tôi thấy có vấn đề chúng ta lúng túng giữa việc hiểu thế nào là tự do hoá lãi suất với có giữ lãi suất cơ bản hay không? Như các đại biểu khác nêu thì hầu hết tất cả các quốc gia trên thế giới trong quản lý Nhà nước cần có sự can thiệp của Nhà nước vào lĩnh vực tài chính tiền tệ thì vấn đề công bố về giữ lãi suất cơ bản là rất quan trọng. Ba, bốn năm liên tục gần đây do việc ngân hàng Nhà nước không chỉ đạo thực hiện kịp và công bố lãi suất cơ bản do vậy tình trạng để một số tổ chức tín dụng không thực hiện quy định này, không thực hiện quy định của Bộ luật dân sự, do đó lãi suất cơ bản không được bảo đảm, ngân hàng Nhà nước thay vào tình trạng khắc phục đó thì lại đi đề nghị sửa đổi vấn đề này và đã 5 lần đề nghị sửa đổi nhưng Ủy ban Pháp luật của Quốc hội không đồng ý, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng không đồng ý và cuối cùng Chính phủ cũng rút các dự án luật đó và không trình Quốc hội, lần này lại trình ra theo chúng tôi đề nghị phải xem lại vấn đề này. Ngoài ra những vấn đề diễn biến bất thường rồi những vấn đề khác liên quan đến những vấn đề này cần phải xem để quy định cụ thể hơn.
Trần Thế Vượng - Hải Dương
Kính thưa Quốc hội!
Vấn đề lãi suất cơ bản liên quan đến một quan điểm rất lớn của Đảng ta đó là chúng ta xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và quan điểm thứ hai là mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật. Chính quan điểm này đã được cụ thể hóa trong những đạo luật lớn của Nhà nước ta, ví dụ như Bộ luật dân sự khẳng định lãi suất vay là do các bên tự thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước công bố. Đấy là cụ thể hóa quan điểm là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thỏa thuận là do các bên. Nhưng các anh thỏa thuận gì cũng không được vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước công bố. Chính vì vậy cho nên trong Bộ luật Hình sự chúng ta mới có tội danh là tội cho vay lãi nặng mà muốn xử được tội này thì phải có căn cứ, anh nào cho vay vượt quá 150% lãi suất cơ bản do ngân hàng Nhà nước, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước công bố thì người đó tất nhiên là mức độ cụ thể sẽ tính nhưng mà về nguyên tắc như vậy là anh phạm tội cho vay lãi nặng. Bây giờ chúng ta bỏ quy định này đi thì chúng tôi thực sự cũng chưa hiểu như thế nào, vả lại nếu Quốc hội thông qua quy định này thì điều đó có nghĩa là các chủ thể khác mà vay của nhau thì theo quy định của Bộ luật Dân sự. Còn riêng tổ chức tín dụng thì theo quy định của luật này. Như vậy là cũng không được, nó trái với nguyên tắc là mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật thì đấy là vấn đề thứ hai.
Vũ Viết Ngoạn - Khánh Hoà
Kính thưa Đoàn Chủ tịch,
Kính thưa Quốc hội,
Tôi xin phép tham gia một ý kiến xung quanh vấn đề lãi suất:
Qua nghiên cứu dự thảo Luật Ngân hàng Nhà nước, Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế, cũng như qua theo dõi các ý kiến của các chuyên gia tại nhiều Hội thảo bàn về vấn đề lãi suất và các ý kiến của các đại biểu từ sáng đến nay, chúng tôi thấy xung quanh vấn đề lãi suất cơ bản các chuyên gia cũng như các đại biểu Quốc hội của chúng ta yêu cầu Ngân hàng Nhà nước với tư cách là Ngân hàng Trung ương phải đảm nhiệm được một số yêu cầu chính sau:
Thứ nhất, Ngân hàng Nhà nước phải công bố loại lãi suất để điều hành thị trường tiền tệ, làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng quy định lãi suất của mình áp dụng trong quan hệ với khách hàng và qua đó để Ngân hàng Nhà nước thực thi chính sách tiền tệ. Đó là yêu cầu thứ nhất.
Yêu cầu thứ hai, Ngân hàng Nhà nước cũng với tư cách là Ngân hàng Trung ương phải có trách nhiệm giám sát, kiểm soát hệ thống lãi suất của các tổ chức tín dụng để đảm bảo sự ổn định kinh tế vĩ mô, hài hòa giữa lợi ích của tổ chức tín dụng và khách hàng, hài hòa lợi ích của người gửi tiền và người cho vay.
Yêu cầu thứ ba, Ngân hàng Nhà nước phải công bố một loại lãi suất làm cơ sở để điều chỉnh các quan hệ dân sự khác, tức là không có tổ chức tín dụng và để đồng bộ với các quy định của các luật khác đang hiện hành, ví dụ như Bộ luật dân sự, cụ thể là để kiểm soát tình trạng cho vay nặng lãi trong xã hội. Chúng tôi thấy hầu hết các ý kiến của chúng ta tựu chung lại là có 3 yêu cầu đó. Ở đây có thêm một chi tiết là trong quá trình thảo luận có một số ý kiến tuy khác nhau, nhưng thực chất là thống nhất với nhau, bởi lẽ về yêu cầu nội dung và nội hàm của vấn đề trùng nhau, nhưng do tên gọi và khái niệm của lãi suất khác nhau cho nên có ý kiến khác nhau. Tôi xin đơn cử ví dụ là có nhiều đại biểu nêu là tất cả ngân hàng Trung ương của các nước đều công bố lãi suất cơ bản để điều hành thị trường và thực thi chính sách tiền tệ, cho nên không thể bỏ lãi suất cơ bản đi, điều đó là hoàn toàn đúng. Chi có một điều là tên gọi của lãi suất cơ bản hiện nay trong Luật Ngân hàng Nhà nước hiện hành, khái niệm khác với lãi suất cơ bản ở các nước đang vận hàng. Cho nên nhiều lúc chúng ta có những ý kiến khác nhau chính ở tên gọi đó. Vì vậy qua đây tôi đề nghị Ban soạn thảo luật nên cân nhắc nghiên cứu sử dụng các thuật ngữ về chuyên môn sao cho có tính hội nhập, đồng bộ với nền kinh tế thị trường mà chúng ta đang thực thi để tránh việc hiểu nhầm đối với các đại biểu Quốc hội cũng như đối với các chuyên gia trong nước của chúng ta.
Trên cơ sở đặt vấn đề với 3 yêu cầu đối với trách nhiệm của ngân hàng Nhà nước trong việc ban hành lãi suất và thực thi chính sách tiền tệ, chúng tôi xin đề nghị giao cho Ban soạn thảo luật phối hợp với cơ quan thẩm tra, tức là Ủy ban Kinh tế tiếp thu ý kiến của các đại biểu Quốc hội cũng như các chuyên gia thiết kế lại dự thảo luật để đảm bảo phản ánh được đầy đủ 3 yêu cầu mà các đại biểu cũng như các chuyên gia đã nêu về trách nhiệm của ngân hàng Nhà nước, xung quanh việc công bố và điều hành quy chế lãi suất của chúng ta hiện nay. Trên cơ sở đó để báo cáo với Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến và trình xin ý kiến của Quốc hội trong kỳ họp tiếp theo. Tôi nghĩ rằng tất cả các ý kiến của các đại biểu Quốc hội xoay quanh 3 nội dung đó thôi. Nếu như dự thảo Luật của chúng ta phản ảnh được, thiết kế lại được, điều chỉnh được đảm bảo được đúng và đầy đủ 3 điều kiện đó thì theo tôi là chúng ta đạt yêu cầu. Thì sẽ tránh được với các ý kiến có thể khác nhau một cách không cần thiết. Tôi xin hết. Xin chân thành cảm ơn Quốc hội. /.
Luật vị dân sinh chứ không vị luật
Dự thảo Luật Ngân hàng Nhà nước đã không đề cập đến "lãi suất cơ bản"
và trong phiên thảo luận tại Quốc hội Thống đốc đã bị nhiều đại biểu
chất vấn.
Bà phó chủ nhiệm Uỷ ban Tư pháp của Quốc hội truy tới tấp: Uỷ ban của
bà đã bốn lần bác bỏ những đề nghị của Ngân hàng Nhà nước về lãi suất
cơ bản; nay Dự thảo lại cố tình bỏ đi.
Bà không thoả mãn với trả lời của Thống đốc và cho rằng Ngân hàng Nhà
nước "đã trình hai dự án luật mà một trong những nội dung là đưa các
tổ chức tín dụng thoát khỏi trần lãi suất cơ bản quy định trong Luật
dân sự và có xu hướng của tự do hóa lãi suất huy động và lãi suất cho
vay.
Người dân lo ngại nếu thực hiện các chính sách như vậy liệu tỷ giá
đồng tiền có được giữ ổn định". Không hiểu bà dựa vào điều tra xã hội
học nào để khẳng định chắc nịch rằng "người dân lo ngại..." hay bà chỉ
suy diễn vậy. Bà viện dẫn đến các Điều 467, 305, 436, 474, 576, 709
của Bộ luật dân sự, đến điều 163 của Bộ luật Hình sự.
Bà cho rằng "12 năm qua, bằng quy định về lãi suất cơ bản trong hệ
thống pháp luật, Nhà nước đã thể hiện vai trò định hướng của mình
trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội về cho vay vốn, để các quan
hệ này diễn ra một cách trật tự, lành mạnh, ổn định cơ bản thị trường
tiền tệ, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng cho vay lãi nặng, mang tính
bóc lột".
Bà còn gay gắt đặt câu hỏi rằng việc làm đó của Ngân hàng Nhà nước
nhằm mục đích "bảo vệ cho lợi ích của ai, của Nhà nước, của nhân dân
để ngăn chặn việc cho vay lãi nặng, ổn định thị trường tiền tệ, hay
bảo vệ lợi ích cục bộ của các tổ chức tín dụng?"
Hãy xem xét kỹ hơn một chút các ý kiến của bà phó Chủ nhiệm.
Thứ nhất, cần xác định dứt khoát rằng mục đích tối thượng của các luật
là để phụng sự nhân dân, để phục vụ sự phát triển của đất nước, chứ
không phải để phục vụ các cơ quan Nhà nước, càng không phải để phục vụ
các luật khác. Luật vị dân sinh chứ không vị luật. Tôi hy vọng bà phó
Chủ nhiệm Uỷ ban Tư pháp của Quốc hội cũng thống nhất với quan điểm
này.
Thứ hai, ai cũng biết các luật hiện hành của chúng ta còn rất nhiều
quy định không sát với cuộc sống cần sửa đổi và cần sửa liên tục. Công
việc chính của các vị dân biểu là làm việc đó. Vấn đề là làm thế nào.
Nếu chỉ vin vào các điều luật hiện hành (có thể đã rất xa rời cuộc
sống) mà không xem xét kỹ nhu cầu của cuộc sống thì cải cách pháp luật
muôn đời dẫm chân tại chỗ. Bất cứ điều luật nào (kể cả của Hiến pháp)
nếu không thoả mãn mục tiêu tối thượng nêu ở trên đều cần sửa đổi.
Bây giờ hãy quay lại với "lãi suất cơ bản" và "trần lãi suất". Lãi
suất cơ sở hay cơ bản (base rate) là lãi suất mà các ngân hàng thương
mại lấy làm cơ sở để định ra lãi suất cho vay hay lãi suất tiền gửi
của mình. Thường các ngân hàng dựa vào lãi suất chiết khấu hay lãi
suất cho vay tối thiểu của ngân hàng trung ương (bank rate) làm cơ sở
(tham chiếu chứ không bắt buộc).
Ngày nay trên thế giới lãi suất cơ sở không hoàn toàn dựa vào lãi suất
của Ngân hàng trung ương nữa mà được xác định bởi quan hệ cung cầu vốn
ngắn hạn được phản ánh qua lãi suất liên ngân hàng. Hiểu như thế thì
thấy "lãi suất cơ bản" được quy định bởi khoản 12, điều 9 Luật Ngân
hàng Nhà nước hiện hành - "lãi suất cơ bản là lãi suất do Ngân hàng
Nhà nước công bố làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất
kinh doanh" - là không chuẩn, không sát với cuộc sống.
Vấn đề không nằm ở lãi suất cơ bản
Thực ra, vấn đề rắc rối không phải là do lãi suất cơ bản mà là do quy
định về trần lãi suất. Theo điều 476 của Bộ Luật Dân sự, mức trần này
không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản và quy định này áp dụng
cả cho các các tổ chức tín dụng.
Bất kể ai theo dõi hoạt động của hệ thống ngân hàng trong hơn chục năm
qua đều thấy trần lãi suất như quy định hiện hành đã làm méo mó sự
hoạt động của hệ thống, gây ra vô vàn khó khăn cho hoạt động ngân hàng
và như thế thực sự đã cản trở sự phát triển của đất nước, chứ không
"thể hiện vai trò định hướng của mình trong việc điều chỉnh các quan
hệ xã hội về cho vay vốn, để các quan hệ này diễn ra một cách trật tự,
lành mạnh, ổn định cơ bản thị trường tiền tệ, ngăn chặn có hiệu quả
tình trạng cho vay lãi nặng, mang tính bóc lột" như bà phó Chủ nhiệm
khẳng định.
Để minh hoạ hãy lấy các số liệu của vài ngày qua. Lãi suất liên ngân
hàng ngày 17-11-2009 là: lãi suất qua đêm 10%/năm; lãi suất kỳ hạn 2
tuần 10,8%/năm; lãi suất kỳ hạn dài hơn ở mức 11-12%/năm vượt xa trần
lãi suất 10,5%/năm. Như thế lãi suất cơ sở của các ngân hàng thương
mại (dựa vào lãi suất liên ngân hàng) vượt "lãi suất trần" và chẳng ăn
nhập gì với "lãi suất cơ bản" theo luật định là 7%/năm cả.
Tình trạng này không chỉ bây giờ mới xảy ra mà đã xảy ra nhiều lần và
kéo khá dài. Luật không sát với cuộc sống. Lãi suất huy động vốn hiện
tại của các ngân hàng thương mại cũng khoảng 10%/năm. Để có thể hoạt
động các ngân hàng phải cho vay với mức lãi suất 12-14%/năm. Nếu họ
phải cho vay "theo quy định của luật" với lãi suất không quá 10,5%/năm
thì toàn bộ hệ thống ngân hàng mau chóng phá sản vì thua lỗ.
Chính vì thế ngân hàng nào cũng phải tìm cách "lách" bằng phí hay các
công cụ khác. Luật vô hình trung đã buộc toàn bộ hệ thống phải nói
dối. Đấy là thực tế cuộc sống và chỉ ra cái lỗi lớn của những người
làm luật.
Luật không sát cuộc sống, thì cuộc sống coi luật chẳng ra gì. Đấy là
một thực tế.
H. De Soto viết, "luật thịnh hành ngày nay ở phương Tây không đến từ
các bộ sách phủ đầy bụi hoặc từ các sách luật chính thức của chính
phủ. Nó là một thực thể sống, được sinh ra trong thế giới thực và được
nuôi dưỡng bởi người dân bình thường khá lâu trước khi nó rơi vào tay
của các luật sư chuyên nghiệp. Luật phải được khám phá ra trước khi nó
có thể được hệ thống hoá."
Ông trích dẫn nhà luật học Bruno Leoni, "...luật là cái gì đó phải
được phát hiện ra hơn là phải được ban hành và chẳng ai có uy quyền
trong xã hội đến mức có thể đồng nhất hoá ý chí riêng của mình với
luật của đất nước" (Sự bí ẩn của vốn, NXB Chính trị Quốc gia, tr.
192).
Việt Nam có bao nhiêu điều luật chẳng ăn nhập gì với cuộc sống? Hẳn là
không ít, và quy định về lãi suất cơ bản và lãi suất trần là như vậy.
Thế thì phải sửa các quy định đó, chứ không phải đi ra tay "xử các tổ
chức vi phạm và làm bình ổn thị trường lãi suất" [thị trường lãi
suất?] như đòi hỏi của bà phó Chủ nhiệm, vì nếu làm nghiêm theo lời
khuyên của bà thì cả hệ thống sẽ sụp đổ. Hệ thống ngân hàng sụp đổ thì
là tai hoạ cho nền kinh tế và cho nhân dân. Và xét cho cùng nếu làm
thế là không vì dân mà vì ý chí riêng của ai đó. May là Ngân hàng Nhà
nước đủ tỉnh táo để không nghe theo ý của bà.
Đúng là cần phải chống nạn cho vay nặng lãi. Song quy định hiện hành
không chống được nạn cho vay nặng lãi. Bà phó Chủ nhiệm và các vị đại
biểu Quốc hội hãy sát thực tế hơn và sẽ thấy ngay khẳng định của tôi
là đúng. Có lẽ phải tìm các giải pháp khác sát thực tế hơn.
Nếu vẫn cứ muốn giữ lấy cái điều 467 của Bộ luật dân sự, thì tôi kiến
nghị nên hành văn lại theo tinh thần thay "không quá 150% lãi suất cơ
bản" bằng "không quá 200% lãi suất liên ngân hàng có cùng kỳ hạn hay
có kỳ hạn gần nhất tương ứng" [ngưỡng 150% là quá thấp nên tôi kiến
nghị 200% nếu không phải cao hơn, con số cụ thể có thể xác định trên
cơ sở đo lường thực tiễn]. Chỉ cần thay như vậy là luật sát thực tế
hơn và có thể giải toả được vô vàn khó khăn do chính bản thân luật mà
các vị ban hành gây ra.
Mặt khác, cũng nên xem xét mức độ cho vay nặng lãi là bao nhiêu. Có
thể tiến hành điều tra xã hội học để đo lường hay ước lượng. Liệu đã
có điều tra nào như vậy để làm cơ sở cho các nhà làm luật. Tôi nghĩ là
chưa.
Theo cảm nhận của tôi, nếu so với tổng tín dụng cỡ 1.300 ngàn tỷ đồng
do hệ thống ngân hàng cung ứng cho nền kinh tế, thì tổng các khoản vay
của người dân với nhau và được người dân coi là cho vay nặng lãi không
thể quá 0,1% (một ngàn ba trăm tỷ). Nếu cảm nhận của tôi là đúng và
xét đến tính bất khả thi của các chế tài đối với cho vay nặng lãi thì
thực sự không cần mất quá nhiều công sức để bàn vấn đề này. Nên tìm
cách khác để giải quyết vấn đề cho vay nặng lãi. Còn nếu suy nghĩ như
bà phó Chủ nhiệm, thì theo tôi ít nhất 50% (tức khoảng 700 ngàn tỷ
đồng) tín dụng là cho vay nặng lãi, xử lý nghiêm chắc chắn khiến hệ
thống sụp đổ.
Độc giả có thể tự đánh giá giữa những người kiến nghị thay đổi quy
định lãi suất cơ bản, lãi suất trần và những người khăng khăng muốn
giữ chúng, thì ai vì dân và ai vì lợi ích cục bộ.
> tín dụng và vay lãi nặng trong ...
>
> đọc thêm »
On 19 Tháng Mười Một, 13:34, Pháp sư <luatsutruongthanh...@gmail.com>
wrote:
> bản" bằng ...
>
> đọc thêm »
On 19 Tháng Mười Một, 13:38, Pháp sư <luatsutruongthanh...@gmail.com>
wrote:
> ...
>
> đọc thêm »- Ẩn nội dung trích dẫn -
>
> - Hiển thị văn bản được để trong dấu trích dẫn -
2009/11/19 N.M.VỌNG <nguyenm...@gmail.com>
On 20 Tháng Mười Một, 08:54, Son Nguyen <doanthai...@gmail.com> wrote:
> Thực ra cách phát biểu của bà PCN UBTP không phải là do quan điểm chính trị
> chi phối mà do trình độ hạn chế nhưng lại thích thể hiện thôi.
>
> Về quan điểm chính trị, Nghị quyết ĐHĐ đã nói rất rõ rồi không thể hiểu
> khác: "*Thực hiện chính sách lãi suất thoả thuận theo nguyên tắc thị trường
> và đi tới loại bỏ hoàn toàn quy định hành chính đối với lãi suất ngoại tệ.*"
> Và như vậy, bà PCN đang nói sai NQ của Đảng.
>
> 2009/11/19 N.M.VỌNG <nguyenminhv...@gmail.com>
Kiểu gì thì cũng phải điều tiết bằng loại lãi suất nào đó. Xu thế mở
rộng cho thị trường tài chính tự điều tiết đã kết thúc từ năm ngoái do
khủng hoảng tài chính toàn cầu rồi. Bây giờ chỉ có đẻ thêm công cụ
kiểm soát chứ không bỏ bớt đi được đâu.
On 20 Tháng Mười Một, 10:35, luatgialam <luatgia...@gmail.com> wrote:
> Ủng hộ Bác Sơn, cùng dân luật mình cả đấy,
> LamBThttp://lam-associates.blogspot.com/
> ...
>
> đọc thêm »
| Lãi suất cơ bản và trần lãi suất Lao Động Cuối tuần số 47 Ngày 22/11/2009 Cập nhật: 7:18 AM, 22/11/2009
| ||
(LĐCT) - Trong thảo luận về Dự thảo Luật Ngân hàng Nhà nước, nhiều đại biểu Quốc hội đã không nhất trí với việc Ngân hàng Nhà nước tìm cách loại bỏ "lãi suất cơ bản", một công cụ hữu hiệu "để Nhà nước định hướng và kiểm soát lãi suất"; "để Nhà nước xác định mức trần lãi suất cho vay của các tổ chức, cá nhân, trong đó có các tổ chức tín dụng".
Một phó chủ nhiệm Uỷ ban Tư pháp của Quốc hội nói rằng Uỷ ban của bà đã bốn lần bác bỏ những đề nghị của Ngân hàng Nhà nước về lãi suất cơ bản. Thậm chí bà còn gay gắt đặt câu hỏi, rằng việc làm đó của Ngân hàng Nhà nước nhằm mục đích "bảo vệ cho lợi ích của ai, của Nhà nước, của nhân dân để ngăn chặn việc cho vay lãi nặng, ổn định thị trường tiền tệ, hay bảo vệ lợi ích cục bộ của các tổ chức tín dụng?".
Nguyễn Quang A |
Thông báo về việc điều chỉnh tăng lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp
vốn, lãi suất chiết khấu và tỷ giá
Nhằm mục tiêu góp phần duy trì sự ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm
phát, tăng trưởng kinh tế bền vững trong năm 2010, chủ động đối phó
với diễn biến phức tạp của thị trường tài chính và kinh tế thế giới,
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quyết định điều chỉnh lãi suất cơ bản tăng
từ 7%/năm lên 8%/năm, lãi suất tái cấp vốn tăng từ 7%/năm lên 8%/năm,
lãi suất chiết khấu tăng từ 5%/năm lên 6%/năm, thời điểm áp dụng là
01/12/2009. Việc điều chỉnh tăng các mức lãi suất cơ bản, lãi suất tái
cấp vốn, lãi suất chiết khấu với mục đích nhằm kiểm soát chặt chẽ quy
mô và chất lượng tín dụng, phù hợp với các mục tiêu kinh tế vĩ mô theo
Nghị quyết của Quốc hội và chủ trương của Chính phủ, đồng thời, tạo
điều kiện cho các Ngân hàng thương mại huy động các nguồn vốn từ nền
kinh tế.
Với mục tiêu điều hành tỷ giá trong mối quan hệ với lãi suất, chỉ số
giá tiêu dùng, diễn biến của cán cân thanh toán quốc tế, điều chỉnh
linh hoạt tỷ giá giao dịch bình quân liên ngân hàng tăng hoặc giảm ở
mức độ hợp lý, phù hợp với tín hiệu của thị trường, có sự điều tiết
của Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố mức tỷ giá bình quân
liên ngân hàng áp dụng cho ngày 26/11/2009 là 17.961 và áp dụng biên
độ tỷ giá mới cho giao dịch mua bán giao ngay giữa USD và VND là ± 3%
từ ngày 26/11/2009. Với các điều chỉnh này, mức tỷ giá sàn giao dịch
sẽ là 17.422 VND/USD và tỷ giá trần giao dịch sẽ là 18.500 VND/USD.
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
Ngày 25/11/2009
| Tôi tán thành ý kiến của Mr.Đức là vấn đề không phải ở "lãi suất cơ bản" (điều này cũng đồng nghĩa với việc tôi tán thành ý kiến của bà Nga là "cần có quy định về lãi suất cơ bản"), nhưng tôi thấy vấn đề không chỉ là ở "mức trần lãi suất cơ bản" như ý kiến của Mr. Đức, mà theo các nội dung MR.Đức phân tích thì hình như vấn đề còn ở cả "mức lãi suất cơ bản" do NHNN xác định!. Vì nếu NHNN xác định mức lãi suất cơ bản phù hợp với thực tế (phù hợp với nhu cầu) quan hệ cung - cầu vốn trên thị trường thì ngay cả trong trường hợp mức "trần' như hiện nay cũng không có vấn đề gì lớn, nói gì thì nói thì NHNN vẫn có "tội". "Dưng" mà đứng trên quan
điểm "người cho vay" mà nói thì mức "trần" theo ý kiến của MR.Đức "hấp dẫn" hơn, vả lại ý kiến này hợp lý và có thể thực hiện được trên thực tế trong điều kiện có " tranh cãi quyết liệt" như hiện nay. Theo tôi được biết, hiện các đối tượng "cho vay nặng lãi" tính lãi suất từ 1 đến 5% ngày --> từ 360 đến 1800%/năm, vậy mức "trần" Mr.Đức đưa ra có thấp không (thực tế hình như chưa bao giờ quá 21%/năm)? --- Ngày Thứ 5, 19/11/09, Pháp sư <luatsutruo...@gmail.com> đã viết:
|
|
Cao Sĩ Kiêm - Thái Bình
Kính thưa Đoàn Chủ tịch.
Kính thưa Quốc hội.
Tôi rất tán thành 18 điểm đã được Thường vụ Quốc hội giải trình, tiếp thu và chỉnh sửa. Ở những điểm sửa này, nó thể hiện rõ hơn hướng chỉ đạo và quan điểm chỉ đạo của chúng ta trong khi sửa luật.
Thứ hai là nó đảm bảo tính kế thừa và lộ trình hội nhập mà chúng ta đang cam kết.
Thứ ba là từng bước giải quyết các vấn đề ách tắc trong luật hiện hành chúng ta đang thi hành. Tôi tán thành những ý kiến còn khác nhau mà Thường vụ đã chọn để xử lý.
Trong ba vấn đề đồng chí Chủ tịch đoàn gợi ý, tôi xin trình bày một vấn đề thôi, còn hai vấn đề về trách nhiệm giới tiền tệ và vấn đề quản lý ngoại hối, tôi tán thành như đã ghi. Tôi xin bổ sung một nội dung lãi suất cơ bản hiện nay còn 2 ý kiến khác nhau là có hay không có việc ghi lãi suất cơ bản vào trong luật này. Trước hết để giải trình vấn đề này tôi xin nêu các quốc gia cũng như chúng ta sử dụng lãi suất cơ bản đều phải thể hiện 2 nội dung.
Một, đây là lãi suất thỏa thuận của Ngân hàng thương mại với khách hàng trong quá trình kinh doanh theo nguyên tắc thị trường và lãi suất này được hình thành bởi cung cầu vốn và hoạt động bình thường của 4, 5 ngân hàng tất nhiên trình độ khác nhau, nhưng nó là mức trung bình hình thành lãi suất ấy và có tham khảo lãi suất tái cấp vốn, tái chiết khấu của Ngân hàng Trung ương thì đấy là một nguyên tắc mà tất cả các nước khi sử dụng lãi suất cơ bản phải tuân theo cái này.
Thứ hai là lãi suất cơ bản nó do ngân hàng Nhà nước công bố trên cơ sở căn cứ vào lãi suất hình thành của các Ngân hàng thương mại và các hoạt động của thị trường liên ngân hàng để Ngân hàng Nhà nước công bố một mức lãi suất, mức lãi suất này không phải là mức bắt buộc tất cả các ngân hàng, tổ chức tín dụng phải tuân theo, mà là mức để Ngân hàng Trung ương thông qua đây điều hành chính sách tiền tệ của mình, phục vụ cho việc kiểm soát, cạnh tranh lành mạnh trong thị trường vốn và các tổ chức tín dụng. Trong đó cũng có phần để ngăn chặn, giải quyết vấn đề cho vay nặng lãi, đấy là nguyên tắc hình thành lãi suất cơ bản, sử dụng lãi suất cơ bản trong tất cả các Quốc gia và chúng ta cũng phải tuân theo.
Bình thường, những năm trước đây Ngân hàng Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào hoạt động lãi suất của các Ngân hàng thương mại, nhưng trong trường hợp bất bình thường, có những biểu hiện không lành mạnh trong hoạt động thị trường tiền tệ thì Ngân hàng Nhà nước phải có sự can thiệp vào thị trường tiền tệ thông qua lãi suất mà mình chỉ đạo để các Ngân hàng thương mại căn cứ vào đây, xoay quanh cái này để thực hiện nhiệm vụ của mình, nếu không làm rối loạn thị trường tiền tệ và nó cũng đảm bảo bình đẳng, đảm bảo đúng thị trường. Từ nhận thức như thế nên Thường vụ ghi và biểu hiện hai điểm ở trong phần lãi suất này , tôi xin bình luận và bổ sung như sau.
Thứ nhất, Khoản 1, Điều 12 tức là điều lãi suất có ghi: Ngân hàng Nhà nước công bố lãi suất tái cấp vốn và các loại lãi suất khác để điều hành chính sách tiền tệ. Phải hiểu lãi suất khác ở đây có lãi suất cơ bản. Còn nếu sợ nó lờ mờ không rõ ràng thì có thể ghi thêm một câu đằng sau: lãi suất tái cấp vốn và lãi suất cơ bản, nhưng hiểu lãi suất cơ bản và điều hành lãi suất cơ bản phải đúng tinh thần và thực hiện nội dung như tôi vừa phân tích ở trên thì mới đúng là lãi suất cơ bản.
Điểm thứ hai của Điều 12 nên giữ nguyên để xử lý những vấn đề đột xuất khi thị trường có bất bình thường mà Ngân hàng Nhà nước phải can thiệp để giữ vững vai trò quản lý và điều tiết của mình. Hai điểm ghi như thế này thể hiện được 3 nội dung:
Một là chúng ta đảm bảo được tính ổn định luật và phù hợp với thông lệ quốc tế và theo nguyên tắc hoạt động của thị trường.
Hai là vừa có điều kiện để chúng ta giải quyết tình thế, giải quyết vai trò quản lý của Ngân hàng Nhà nước trong điều kiện thị trường tiền tệ bất ổn như những năm vừa qua. Ghi như thế này cũng không xung đột, không phải sửa đổi nhiều đến các luật khác mà chúng ta đang thi hành. Đó là chúng tôi xin phân tích một điểm cho rõ có sử dụng hay không sử dụng, sử dụng như thế nào, ở mức nào đối với lãi suất cơ bản trong sửa đổi luật lần này. Xin hết, xin cảm ơn Quốc hội.
Trần Đình Long - Đắc Lắk
Kính thưa Quốc hội!
Tôi xin tham gia vào Báo cáo giải trình và dự thảo mấy ý như sau:
Thứ nhất, về chính sách tiền tệ. Tôi thấy việc quy định chính sách tiền tệ tại Khoản 3, Điều 3 về thẩm quyền quyết định phê duyệt các điều ước quốc tế có liên quan đến tiền tệ, tôi cho rằng đúng, nhưng chưa đủ. Trong trường hợp các điều ước quốc tế đó mà trái với pháp luật trong nước cũng như những vấn đề tiền tệ mà liên quan quan trọng đối với quốc gia thì vấn đề đó phải là Quốc hội phê chuẩn điều ước. Giả thiết như trong tương lai chúng ta lại có chuyện cho lưu hành, lưu thông đồng tiền của khối ASEAN chẳng hạn, thì việc đó chắc chắn phải Quốc hội phê chuẩn, cho nên tôi đề nghị phải bổ sung.
Vấn đề thứ hai về lãi suất, tôi nhất trí với các ý kiến đã phát biểu trước và tôi nghĩ rằng định hướng về tự do lãi suất tín dụng ở Việt Nam là không có cơ sở. Bởi vì đối với các nước phát triển người ta thực hiện việc này hàng trăm năm rồi và có những ngân hàng có tuổi đời trên hàng trăm năm, mà trong những năm qua cũng đành phải phá sản, bởi những quy định trước hết là căn cứ để tự do hóa về lãi suất:
Trước hết nói về chế độ công hữu, về tư hữu nói chung và tư hữu về tiền tệ ngân hàng nói riêng.
Hai là thị trường vốn năng lực cạnh tranh giữa các tổ chức tín dụng trong nước cũng như là các tổ chức Ngân hàng của nước ngoài hoạt động tại Việt Nam là không đồng đều và sức cạnh tranh không ngang nhau.
Ba là sự tồn tại của một khu vực tài chính ngân hàng với tư cách là một chủ thể độc lập với Nhà nước kể cả về tổ chức bộ máy và chính sách tiền tệ.
Ba yếu tố đó tôi thấy không đủ để Việt Nam chúng ta tự do hóa lãi suất ngân hàng và chưa kể là những vấn đề liên quan đến vấn đề quản lý Nhà nước đối với lãi suất ngân hàng mà pháp luật hiện nay đang quy định. Do vậy chúng tôi thấy rằng việc soạn thảo tại quy định này chúng tôi nghĩ rằng là ở Khoản 1, Điều 12, chúng ta nói rằng ngân hàng Nhà nước công bố lãi suất tái cấp vốn và lãi suất chiết khấu khác để điều hành. Tôi cho rằng trong những năm qua cũng như từ khi có Ngân hàng đến giờ, Ngân hàng Nhà nước đều thực hiện 2 chức năng đó, vừa công bố lãi suất cơ bản vừa thực hiện lãi suất tái cấp vốn và lãi suất chiết khấu. Trong suốt thời gian ấy chúng ta gặp phải những khó khăn trong những thời điểm, mà đỉnh điểm là năm 2008, trong tay của Ngân hàng Nhà nước đều có 2 công cụ như vậy, nhưng vẫn rơi vào tình trạng gặp khó khăn. Nếu như Dự thảo qui định lại Khoản 1, Điều 12 này, tôi nghĩ là chưa đủ, nếu được thì chúng ta phải quy định vào đó, căn cứ vào lãi suất đó tổ các chức Ngân hàng tín dụng, cho vay không vượt quá 200% hoặc bao nhiêu đó thì mới đủ căn cứ để điều hành. Nếu công bố thì anh cứ công bố, bởi vì đây là một nguồn tài chính tái cấp vốn mà Ngân hàng Nhà nước cung ứng phương tiện thanh toán thông qua việc tái cấp vốn cho các tổ chức Ngân hàng, là một vấn đề mà các nước, người ta coi nguồn này là nguồn tài chính của chính họ, còn đây là tài sản của Nhà nước, mà Ngân hàng Nhà nước đại diện cho Nhà nước để cung ứng nguồn tiền này ra cho các tổ chức tín dụng, với lãi suất bằng 1/3 hoặc dưới đó so với lãi suất tín dụng ở thị trường. Chúng ta coi đó là một trong những điều kiện để điều hành lãi suất của xã hội, thì tôi cho rằng cũng cần phải cân nhắc.Trần Du Lịch - TP Hồ Chí Minh
Kính thưa Đoàn Chủ tịch,
Kính thưa Quốc hội,
Theo 3 gợi ý của đồng chí Phó Chủ tịch chủ trì Quốc hội, tôi xin tham gia trực tiếp vào 3 ý này.
Trước hết, tôi rất hoan nghênh và đồng tình rất cao giải trình 14 điểm của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tôi cho rằng dự thảo lần này so với các lần trước đã xử lý những ý kiến khác nhau và những nội dung có thể chấp nhận được để có thể thông qua về cơ bản. Để bày tỏ quan điểm của mình, tôi xin trình bày 3 vấn đề.
Thứ nhất, liên quan đến chính sách tiền tệ quốc gia ở Điều 3, tôi rất đồng tình ở 3 khoản, Khoản 1, 2, 3 là Quốc hội quyết định cái lớn nhất đó là quyết định chính sách tiền tệ quốc gia, đó là quyết định chỉ số tăng giá hay lạm phát thông qua chỉ số tăng giá. Bởi vì quyết cái này nó phải chi phối bao trùm các chính sách tiền tệ, kể cả chính sách tài khóa để bảo đảm thực tế, ví dụ Quốc hội kỳ họp trước quyết năm nay là 7% chỉ số tăng giá, nó chi phối toàn bộ cung tiền tín dụng tất cả tôi cho là quyết cái lớn nhất thì Quốc hội quyết là đúng.
Thứ hai, liên quan đến vai trò Chủ tịch nước theo Hiến pháp thì tôi không đồng tình, tuy nhiên theo quan điểm lần này Luật Ngân hàng Nhà nước mà theo giải trình nó có một nội dung là làm rạch ròi trách nhiệm tính chủ động, trách nhiệm của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước trong việc điều hành chính sách và tiền tệ. Như vậy sự chủ động này như thế nào, ở đây Khoản 4 ghi trong mục không rõ là Chính phủ ... và trình Quốc hội quyết định chỉ tiêu lạm phát hàng năm là đúng rồi. Nhưng ở đoạn "Thủ tướng Chính phủ và Thống đốc Ngân hàng Nhà nước phải quyết định việc sử dụng các công cụ, biện pháp" thì không rõ là cái nào Thủ tướng, cái nào là Thống đốc. Như vậy nếu như thế này thì trở lại tình trạng như cũ, không rõ trách nhiệm. Tôi chưa biết sửa thế nào. Ví dụ, vừa qua khi Thống đốc Ngân hàng Nhà nước điều hành các công cụ, biện pháp chính sách tiền tệ thì đầu năm dựa vào Nghị quyết 03 của Chính phủ về quan điểm về chính sách tiền tệ về định hướng, rồi gặp ngay Nghị quyết 18, có nghĩa là Chính phủ và Thủ tướng quyết những cái gì, ví dụ như tổng khung tiền hay là cái gì đó nó rõ ra. Còn trên cơ sở đó, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước chịu trách nhiệm vấn đề điều hành các công cụ như nghiệp vụ thị trường mở, mở rộng cho vay, mở rộng các nghiệp vụ thị trường mở, vấn đề có tăng dự trữ hay không dự trữ. Tất cả các công cụ, rất nhiều, rất linh hoạt và phải rõ ràng ra. Đó là vấn đề thứ nhất, tôi đồng tình nên đề nghị chỉnh lại cụ thể hơn Khoản 4 của Điều 3.
Vấn đề thứ hai, vấn đề lãi suất ở Điều 12. Xin thưa Quốc hội, đây là vấn đề có nhiều tranh luận. Trước hết tôi đồng tình là chúng ta hướng tới điều tiết lãi suất trong điều kiện bình thường thì phải điều tiết theo quan hệ thị trường, quan hệ cung cầu. Trên thực tế hai năm qua chúng ta sử dụng lãi suất trong điều kiện không bình thường, tức là quy định tại Khoản 2, Điều 12. Không thể lấy điều không bình thường để chế định một điều bình thường trong tương lai. Tôi xin thưa rằng lãi suất lên, xuống của thị trường tiền tệ là tùy thuộc vai trò của Ngân hàng Nhà nước Trung ương trong vấn đề thực hiện nhiệm vụ của nghiệp vụ thị trường mở. Anh tăng tổng cung tiền hay giảm tổng cung tiền, tăng dư nợ tín dụng hay giảm dư nợ tín dụng nó điều chỉnh. Vừa qua thực tế Quốc hội phải cho phép không dùng biện pháp hành chính để kìm thị trường tiền tệ được, lãi suất được, mà phải cho phép mở theo hình thức lãi suất thỏa thuận. Nếu vừa rồi mở theo lãi suất thỏa thuận nếu Ngân hàng Nhà nước không tăng cung tiền, không tăng nghiệp vụ thị trường mở hay nới tín dụng thì không thể nào có dấu hiệu giảm lãi suất như vừa qua được.
Như vậy thực tế Việt Nam cho thấy chúng ta không thể điều khiển một thị trường tiền tệ bằng biện pháp hành chính. Tuy nhiên, trong điều kiện bất thường phải dùng biện pháp hành chính như Khoản 2 là đúng. Như vậy luật hướng tới điều bình thường và quy định điều cá biệt để Nhà nước có thể điều chỉnh. Như vậy Khoản 1 và Khoản 2 là đúng.
Về lãi suất cơ bản, thực chất, bản chất nó là gì? Trên thế giới người ta sử dụng lãi suất cơ bản với nghĩa đó là lãi suất mà Ngân hàng Nhà nước Trung ương đưa ra để đối thoại với thị trường cho các ngân hàng thương mại định hướng đi theo. Nếu anh đưa ra một loại lãi suất mà thị trường không theo, giống như cha mẹ ra lệnh mà con không nghe thì xem lại 2 việc: hoặc là con hư hay tại cha mẹ đưa ra điều quá vô lý. Như vậy trong trường hợp, ví dụ một số nước lãi suất cơ bản họ hiểu đó là lãi suất tái chiết khấu của Ngân hàng Trung ương với tính chất người cho vay cuối cùng. Nếu đưa lãi suất tái chiết khấu mà Ngân hàng thương mại không theo thì Ngân hàng Trung ương xem lại lãi suất như thế nào. Trong đây đã quy định Ngân hàng Nhà nước hiện nay trong lãi suất cơ bản và lãi suất cho tái cấp vốn đều bằng nhau 8%. Như vậy đưa lãi suất tái cấp vốn mà thị trường không theo, có nghĩa là lãi suất đưa chưa phù hợp, như vậy chính là các công cụ của thị trường. Tôi cho rằng quy định Khoản 1 và Khoản 2, Điều 12 về lãi suất như vậy là ổn chứ không có vấn đề gì cả. Tôi rất chia sẻ, như vậy thì hiện nay Việt Nam một loạt những tình trạng với thị trường là chuyện cho vay nặng lãi, các tiệm cầm đồ, cho vay ở chợ, cho vay nông thôn mà Điều 404, Bộ luật dân sự đã đề cập.
Tôi rất chia sẻ trong điều kiện của ta và nhiều nước tình trạng cho vay nặng lãi, các tình trạng đó vẫn tiếp tục xảy ra, để giải quyết căn cơ vấn đề đó khi bàn về Luật các tổ chức tín dụng, tôi đề nghị nên làm rõ vai trò của các tổ chức tín dụng vi mô, các hợp tác xã tín dụng, chính sách của Nhà nước, vai trò của Ngân hàng chính sách, Ngân hàng phát triển làm sao mở rộng cái này để chúng ta giải quyết cung cầu về vốn trên thị trường, chứ chúng ta không thể giải quyết bằng biện pháp hành chính đặc biệt Luật Ngân hàng không thể giải quyết tất cả các vấn đề của một bài toán phát triển về mặt xã hội tình trạng cho vay nặng lãi tất cả bằng một đạo luật này, như vậy nó sẽ méo mó tất cả. Tôi đồng tình từ giải trình của Ủy ban Thường vụ là phải có các biện pháp, nhưng trước mắt Quốc hội có quyền và khi thông qua Luật các tổ chức tín dụng, chúng ta xem lại vai trò của các định chế tín dụng vi mô, vai trò hợp tác xã, chính sách của nó để giải quyết tình trạng của khu vực kinh tế không chính thức, tình trạng cho vay nặng lãi ở các chợ v.v... Đó là quan điểm tôi đồng tình như vậy.
Phan Trung Lý - Nghệ An
Kính thưa Quốc hội,
Tôi tán thành với nhiều nội dung trong Báo cáo tiếp thu, giải trình và chỉnh lý của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Dự án Luật Ngân hàng Nhà nước. Tôi thấy Dự thảo được trình Quốc hội xem xét hôm nay đã tiếp thu rất nhiều ý kiến của các đại biểu Quốc hội và chỉnh lý rất nhiều vấn đề. Tuy nhiên theo gợi ý của đồng chí Phó Chủ tịch Quốc hội điều hành phiên họp, tôi xin có 3 ý kiến như sau:
Thứ nhất là vấn đề chính sách tiền tệ quốc gia. Theo tôi chính sách tiền tệ quốc gia theo quy định Điều 84 của Hiến pháp là thuộc thẩm quyền của Quốc hội quyết định và những gì thuộc chính sách tiền tệ quốc gia thì phải do Quốc hội quyết định. Căn cứ vào đó tôi thấy phương án tiếp thu trong dự thảo luật này đưa ra tức là chính sách tiền tệ quốc gia là các quyết định về tiền tệ ở tầm quốc gia của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền bao gồm mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền, biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát được thể hiện thông qua chỉ số giá tiêu dùng và các công cụ, biện pháp để thực hiện mục tiêu đề ra. Như vậy, tôi thấy rằng quy định về chính sách tiền tệ Quốc gia cơ bản tôi nhất trí. Đây là những vấn đề liên quan đến tiền tệ, và tiền tệ thì Quốc hội quyết định, phải ở tầm Quốc gia. Nhưng báo cáo với Quốc hội, tôi không tán thành với ý tiếp theo là "gồm mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát". Theo tôi, chính sách tiền tệ Quốc gia không thể ở chỉ tiêu lạm phát và sau đấy có các công cụ khác nữa. Nếu như nói Quốc hội quyết định chính sách tiền tệ Quốc gia thì Quốc hội không chỉ quyết định chỉ tiêu lạm phát, theo tôi, chỉ tiêu lạm phát dù là lạm phát lành mạnh dưới 5% hay lạm phát tiêu cực trên 5% thì đấy không phải là chính sách tiền tệ mà đấy chỉ là biểu hiện, yếu tố, hậu quả chính sách tiền tệ mà thôi.
Nếu chúng ta thực hiện chính sách tiền tệ đúng thì ngưỡng thực hiện đó không vượt quá quỹ dự trữ cho phép, như vậy không thể có lạm phát. Do đó Quốc hội không thể quyết định cái bất thường, lạm phát là bất thường, lạm phát không thể là bình thường mà chính sách tiền tệ Quốc gia trước hết phải phục vụ trong lĩnh vực sử dụng đồng tiền, quyết định đồng tiền, sử dụng đồng tiền vào các mục tiêu giải quyết các vấn đề, các nhiệm vụ kinh tế - xã hội. Lạm phát không phải là giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội, vậy tại sao chúng ta lại quy định thẩm quyền của Quốc hội là quyết định chính sách tiền tệ Quốc gia và một việc là quyết định chỉ tiêu lạm phát và chống lạm phát? Lạm phát cũng chỉ trong một thời kỳ nhất định nên Quốc hội không thể năm nào quyết định chỉ tiêu lạm phát được, chính sách tiền tệ quốc gia ổn định, bền vững, còn lạm phát chỉ là biểu hiện nhất thời, biểu hiện trong thời điểm nào đó. Tôi không thống nhất với cách quy định đồng nhất khái niệm chính sách tiền tệ quốc gia với chỉ tiêu lạm phát, đề nghị vấn đề này phải xem lại định nghĩa này.
Nếu theo định nghĩa này có hai bộ phận, hai nội dung của chính sách tiền tệ quốc gia nhưng đó là chỉ tiêu, trong này gọi là các mục tiêu ổn định đồng tiền và thứ hai là các công cụ khác, các biện pháp các mục tiêu đề ra. Như vậy hai vấn đề này đều phải do chính Quốc hội quyết định, theo như quy định trong này Quốc hội chỉ quyết định chỉ tiêu lạm phát, đó là một phần rất nhỏ của nội dung ổn định tiền tệ. Vấn đề thứ hai, các công cụ biện pháp giao cho Ngân hàng Nhà nước quyết định là không đúng. Theo tôi chính sách tiền tệ quốc gia phải do Quốc hội quyết định, Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước chỉ là cơ quan điều hành,là cơ quan thực hiện mà thôi.
Vấn đề thứ hai, về lãi suất cơ bản tôi tán thành với nhiều ý kiến trước tôi đã phát biểu, đây là vấn đề rất quan trọng, bây giờ nói có giữ hay không giữ lãi suất cơ bản cần phải được tổng kết, cần phải được lý giải một cách thỏa đáng. Theo tôi vấn đề lãi suất cơ bản hiện nay rất quan trọng đối với đất nước ta hai năm qua khi khủng hoảng kinh tế vừa rồi thì rõ ràng chúng ta đã áp dụng lãi suất cơ bản để điều tiết ở trên thị trường tôi nhớ trước khi khủng hoảng thì Ngân hàng Nhà nước rất kiên quyết yêu cầu và phải sửa Điều 474, Điều 476 Bộ luật dân sự, nhưng Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Ủy ban pháp luật và các Ủy ban của Quốc hội không đồng ý và cuối cùng không sửa, sau đấy tôi nhớ ngân hàng lập tức cũng dùng lãi suất cơ bản để điều tiết trên thị trường từ 8% lến 12%, lên 16% sau đấy rút xuống 12%, xuống 8%.
Xin báo cáo với Quốc hội, lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố, Ngân hàng Nhà nước hoàn toàn có quyền điều chỉnh lãi suất cơ bản này, quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước không ảnh hưởng đến thẩm quyền của Ngân hàng Nhà nước trong việc điều tiết, trong việc công bố lãi suất cơ bản. Do đó theo tôi nếu như muốn sửa lãi suất cơ bản thì cần phải tổng kết và đặc biệt cần phải tổng kết những hiện tượng vi phạm pháp luật về quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước, của Bộ luật dân sự, của Bộ luật hình sự về vấn đề lãi suất cơ bản. Chứ không thể bây giờ chúng ta lại xóa đi cả một thời gian vừa rồi thực hiện như thế nào không rõ và bây giờ lại thay vào đấy để sửa cái này, sửa cái này lập luận không rõ theo tôi đề nghị không nên. Tôi đề nghị cần phải tổng kết, trước mắt cần phải giữ lãi suất cơ bản ở trong quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Phạm Thị Loan - TP Hà Nội
Kính thưa Chủ tọa kỳ họp.
Kính thưa Quốc hội.
Về dự án Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam (sửa đổi). Sau khi có gợi ý của Chủ tọa kỳ họp thì tôi cũng xin có đóng góp 4 vấn đề.
Vấn đề thứ nhất, vấn đề về điều hành lãi suất, tôi rất tán thành các ý kiến đã góp ý trước tôi là chúng ta cần có một lãi suất cơ bản hoặc một lãi suất cụ thể để làm công cụ điều tiết tiền tệ vĩ mô, cho nên tôi không tán thành việc bỏ lãi suất cơ bản, tôi đề nghị nên giữ lãi suất cơ bản và coi đấy là một công cụ để điều tiết. Như những năm vừa qua chúng ta đã thấy lãi suất cơ bản có hiệu quả nhất định và đặc biệt trong tình hình như hiện nay thì chúng ta phải có công cụ để điều hành. Đăc biệt các vấn đề này như chúng ta cũng thấy ở các nước trên thế giới họ cũng sử dụng lãi suất cơ bản rất hiệu quả, cho nên ý kiến cá nhân tôi rất đồng tình với cách phân tích của báo cáo thẩm tra. Và tôi đề nghị quy định cụ thể về phương tiện của lãi suất cơ bản trong việc điều hành chính sách tiền tệ.
Trần Thế Vượng - Trưởng Ban Dân nguyện
Kính thưa Chủ tịch Quốc hội,
Kính thưa các vị đại biểu Quốc hội,
Chúng tôi xin phát biểu một số ý kiến như sau:
Thứ nhất, chúng tôi thấy giải trình tiếp thu lần này chúng ta đã tiếp thu rất nhiều ý kiến của đại biểu Quốc hội và hoàn thiện các dự án. Tuy vậy, còn một số vấn đề sau đây theo gợi ý của đồng chí Phó Chủ tịch điều hành, chúng tôi xin được báo cáo thêm:
Vấn đề thứ nhất là chính sách tiền tệ Quốc gia, trước hết, chúng tôi đề nghị xem là thẩm quyền quyết định chính sách hay thẩm quyền thực hiện chính sách. Tên điều là "chính sách tiền tệ Quốc gia và thẩm quyền quyết định thực hiện", theo chúng tôi chắc là "quyết định" chứ không phải "quyết định thực hiện".
Vấn đề thứ hai, là nếu quyết định chính sách thì ở Khoản 2 có cần nói là "Quốc hội giám sát việc thực hiện chính sách tiền tệ Quốc gia" không?, vì "giám sát" đó là đương nhiên còn đây đang nói là vấn đề quyết định chính sách.
Thứ hai, nên cân nhắc khi chúng ta đưa ra khái niệm chính sách tiền tệ Quốc gia, có hai cụ thể hóa: Một là, mục tiêu được biểu hiện. Hai là các công cụ, biện pháp để thực hiện mục tiêu đề ra. Vì ta đưa ra hai vế, trong khi Hiến pháp nói "Quốc hội quyết định chính sách tài chính tiền tệ Quốc gia", nhưng trong luật này chúng ta lại chỉ quyết định chỉ tiêu lạm phát như vậy lại vướng. Do vậy, chúng tôi đề nghị xem xét lại vấn đề này như thế nào để tránh việc người ta cứ bắt bẻ giữa luật và Hiến pháp.
Vấn đề thứ hai, đại diện chủ sở hữu phần vốn của Nhà nước tại các tổ chức tín dụng và góp vốn thành lập doanh nghiệp. Trong giải trình này có nói về việc cần thiết phải có sự góp vốn. Nhưng ví dụ hình như không được thuyết phục lắm, là góp phần bảo đảm an toàn, hiệu quả trong hoạt động của chính mình và của các tổ chức tín dụng, bảo đảm lợi ích của các tổ chức tín dụng, người sử dụng dịch vụ ngân hàng và sự kiểm soát của Nhà nước như thành lập nhà máy in tiền quốc gia. Tôi nghĩ nhà máy in tiền quốc gia chắc Nhà nước phải nắm giữ toàn bộ, không góp vốn với ai cả. Cho nên vấn đề này phải xem xét lại, có ví dụ gì khác thuyết phục hơn không.
Về lãi suất, vấn đề này chúng tôi cũng phát biểu nhiều lần, trong dự luật trình ra Quốc hội lần này chúng ta bỏ lãi suất cơ bản, chúng tôi cho đây là một vấn đề phải hết sức cân nhắc. Tôi tán thành với ý kiến của đại biểu Cao Sĩ Kiêm về nguyên tắc và cách thức hình thành và công bố lãi suất cơ bản. Theo đại biểu Cao Sĩ Kiêm nó cũng rất cần thiết, các nước người ta cũng làm như vậy. Của ta thì rất rõ rồi, chúng tôi xin nhắc lại trong Bộ luật hình sự có tội cho vay lãi nặng, trong Bộ luật dân sự cũng có quy định tức là việc lãi vay mượn do các bên cho vay và bên vay thỏa thuận. Khẳng định một nguyên tắc trong dân sự là do các bên thỏa thuận, nhưng sự thỏa thuận đó không được vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước công bố.
Lần đầu tiên khi đặt ra vấn đề này, chúng ta nhớ có những lúc các Ngân hàng thương mại cho vay lãi suất tới 24 - 25%, thậm chí hơn như thế. Sau đó Chính phủ có chỉ đạo Ngân hàng Nhà nước sửa điều của Bộ luật Dân sự vẫn giữ nguyên lãi suất cơ bản, nhưng tăng lên là 2 bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 300% lãi suất cơ bản do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước công bố và khẳng định điều sửa đó có hiệu lực kể từ ngày ban hành Bộ luật dân sự. Nghĩa là nếu lúc đó ngân hàng từng cho vay tới 24, 25%, trước đó Thống đốc Ngân hàng cũng đã công bố lãi suất cơ bản là 8%, do đó nếu 300% thì cũng phù hợp với thực tế đã diễn ra trước đó là các Ngân hàng thương mại đã cho vay với lãi suất rất cao.
Trước tình hình đó đưa dự án luật này ra thì Ủy ban Thường vụ Quốc hội không đồng tình, thấy rằng nó không có ảnh hưởng gì mà phải làm như thế. Bây giờ lại đi đến một bước là bỏ đi, chỗ này chúng tôi thấy lý lẽ chưa thật rõ. Nhưng có một điều chúng tôi cũng nêu lên rất nhiều lần là nếu bỏ thì cũng phải có một lý lẽ rất rõ ràng là chúng ta có còn duy trì tội cho vay lãi nặng trong Bộ luật Hình sự không? Và có duy trì điều ở trong Bộ luật dân sự không? Nếu không thì cũng phải kịp thời sửa những quy định này. Nhưng từ xưa tới nay, từ lúc đầu đặt vấn đề này tuyệt nhiên không có đề cập gì đến vấn đề này, chúng tôi cũng rất khó hiểu. Bởi vì nếu không có lãi suất cơ bản thì điều đó cũng có nghĩa là tội cho vay lãi nặng là cũng không có căn cứ để cho các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện quy định của Bộ luật hình sự. Vậy thì bây giờ chúng ta lý giải vấn đề này như thế nào? Vì vậy đại biểu Cao Sĩ Kiêm có nói rằng nếu hiểu rằng các loại lãi suất khác để điều hành chính sách tiền tệ bao gồm cả lãi suất cơ bản thì cũng được, nhưng nếu không hiểu được như vậy thì phải viết rõ là lãi suất cơ bản có nghĩa là để điều hành chính sách tiền tệ thì ngân hàng toàn quyền có thể công bố lãi xuất tái cấp vốn, đấy là việc để điều hành. Nhưng mà Thống đốc Ngân hàng với tư cách là thành viên Chính phủ không phải chỉ để giải quyết vấn đề giữa các ngân hàng thương mại với khách hàng hoặc là giữa các ngân hàng thương mại với nhau. Mà một đồng chí thành viên Chính phủ, Bộ trưởng phải quản lý vấn đề đó trong toàn xã hội. Trong này chúng ta cũng khẳng định Ngân hàng Nhà nước là cơ quan ngang bộ. Cơ quan ngang bộ không phải chỉ giải quyết những vấn đề giữa các ngân hàng thương mại với nhau hoặc giữa ngân hàng thương mại với khách hàng mà còn phải chịu trách nhiệm trước Quốc hội, trước nhân dân về toàn bộ lĩnh vực này trong xã hội. Tôi cho rằng việc quy định như thế này hình như Thống đốc Ngân hàng chỉ có trách nhiệm quản lý các ngân hàng thương mại, mà không có trách nhiệm đối với tình hình tiền tệ, tình hình cho vay trong toàn bộ xã hội. Tôi thấy trách nhiệm của một thành viên Chính phủ như vậy không biết đã đúng chưa? Đó là vấn đề thứ hai, do đó chúng tôi đề nghị hết sức cân nhắc vấn đề này.
Một vấn đề nữa, chúng tôi cũng đã phát biểu nhiều lần đó là vấn đề thanh tra, giám sát. Chúng tôi cho rằng giám sát đúng là một biện pháp rất đặc thù ở trong lĩnh vực ngân hàng và rất cần thiết, nhưng quy định ở trong luật này nó không rõ ràng, thanh tra và giám sát là hai việc khác nhau nhưng mà trong này quy định chỉ có Ngân hàng Nhà nước làm việc này và khẳng định cơ quan thanh tra giám sát là thuộc ngân hàng.
Thưa các đồng chí và các vị đại biểu Quốc hội, khi nói thanh tra thì dứt khoát anh đi thanh tra thì cơ quan thanh tra của bất cứ cơ quan nào phải có thanh tra viên, phải được một cơ quan Nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm và được cấp thẻ thanh tra viên và khi đi tiến hành thanh tra việc đầu tiên là anh phải xuất trình thẻ thanh tra viên chứ không phải là bất cứ ai có thể đến tiến hành thanh tra, còn việc giám sát là việc khác. Do đó cơ quan thanh tra, giám sát thuộc Ngân hàng Nhà nước vừa đi làm việc thanh tra, rồi đi làm việc giám sát.
Thứ hai, trong luật này dự thảo quy định có căn cứ ra quyết định thanh tra nhưng mà lại không có căn cứ ra quyết định về việc giám sát. Như vậy vấn đề đặt ra trong trường hợp nào thì tiến hành thanh tra và trong trường hợp nào tiến hành giám sát và cách thức, phương thức rồi hệ quả pháp lý như nhiều lần chúng tôi phát biểu là nó cũng không được quy định ở trong này. Do đó tôi cho rằng việc quy định thế này thì việc thực hiện trên thực tế sẽ rất khó khăn, do đó chúng tôi đề nghị cân nhắc.
Một điểm nữa về vấn đề bảo hiểm, nói Ngân hàng Nhà nước quản lý bảo hiểm tiền gửi theo quy định của Chính phủ và pháp luật về bảo hiểm tiền gửi thì theo tôi không đúng, bởi vì khi nói pháp luật thì nó bao gồm các văn bản từ Hiến pháp, đến Luật, Nghị quyết của Quốc hội, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đến văn bản của Chủ tịch nước, của Chính phủ, của các Bộ, đấy gọi là pháp luật. Bây giờ lại theo quy định của Chính phủ và pháp luật về bảo hiểm tiền gửi thì làm như quy định của Chính phủ là không phải pháp luật. Nếu chúng ta có luật về bảo hiểm tiền gửi trong đó có quy định về quản lý Nhà nước về bảo hiểm tiền gửi thì Chính phủ sẽ ban hành những nghị định, những nghị quyết để cụ thể hóa những quy định của luật. Ở đây chúng ta viết ở trong này là "theo quy định của Chính phủ và pháp luật về bảo hiểm tiền gửi" thì làm cho người ta hiểu rằng quy định của Chính phủ không phải là pháp luật. Tôi xin hết.
Ngô Văn Minh - Quảng Nam
Kính thưa Quốc hội,
Tôi xin tham gia mấy vấn đề sau đây:
Thứ nhất về chính sách tiền tệ quốc gia và thẩm quyền quyết định. Tôi cũng đồng ý rất nhiều ý kiến và đề nghị chúng ta chỉnh lý thế nào để bảo đảm quyền quyết định về chính sách tiền tệ quốc gia là thuộc thẩm quyền của Quốc hội, còn một số trường hợp cụ thể chúng ta giao cho Chủ tịch nước và Thủ tướng Chính phủ, còn những biện pháp điều hành thì tôi thấy vấn đề này không nên giao cho Thống đốc mà cái này phải giao cho Thủ tướng Chính phủ thì nó hợp lý hơn.
Và tôi cũng đồng ý một ý kiến nói là trong chính sách tiền tệ quốc gia thì chúng ta nói rằng nó bao gồm cả mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền, nó biểu hiện thông qua chỉ tiêu lạm phát trong đó nó thể hiện, thuật ngữ trong này dùng là biểu hiện qua chỉ tiêu lạm phát, thể hiện qua chỉ số hàng tiêu dùng thì tôi nghĩ cái này cũng là cách dùng chữ, tôi đề nghị vấn đề này phải cân nhắc làm như thế nào cho nó rõ khái niệm này như có ý kiến đã phát biểu trước. Đó là vấn đề thứ nhất.
Vấn đề thứ hai, về cơ chế tài chính và chế độ chính sách ở Điều 9 đối với cán bộ, công chức ngân hàng, bây giờ xuất phát từ trước đây là chúng ta ưu tiên cho lực lượng vũ trang thì đúng rồi, sau đó chúng ta ưu tiên cho những lĩnh vực đặc thù như giáo dục và y tế thì rất hợp lý, sau này chúng ta lại có một số ngành đề nghị, khi ban hành những luật chuyên ngành là chúng ta cũng ưu tiên đầu tư công nghệ tin học, cơ chế chính sách cho tổ chức bộ máy cán bộ, công chức ở đó và dẫn đến một tình trạng các đại biểu Quốc hội đã biết, hiện nay trong xã hội người ta cũng nói có những ngành đúng ra toàn bộ vốn, tài sản thiết bị Nhà nước đầu tư hoàn toàn vậy cán bộ, công chức được vào đó làm việc cũng là người của Nhà nước mà có những đặc thù quá lớn. Đúng ra không phải đặc thù đâu, nó là đặc gì chứ không phải đặc thù, tôi thấy không nên. Ví dụ bảo hiểm xã hội các đồng chí thấy bây giờ chúng ta không có luật này, hồi trước tôi nhớ chỉ có việc là bao nhiêu phần trăm trong tổng thu bảo hiểm xã hội để chi cho hoạt động quản lý bảo hiểm xã hội. Bây giờ lương cao ngất ngưởng, đại biểu Quốc hội không chấp nhận mức cao hạ xuống mức thấp thì bây giờ vẫn cao. Ngành ngân hàng bây giờ người ta vẫn nói là lương cao lắm, bây giờ chúng ta vẫn tiếp tục cái này thì theo tôi là thôi không nên để đảm bảo công bằng chung nếu có phụ cấp công vụ nào đó, trước kia tôi nghe là Bộ Nội vụ sắp tới sửa vấn đề này thì phải sửa cho cụ thể là ngành nào có phụ cấp này và bao nhiêu, phải hết sức cụ thể để đảm bảo công bằng chung trong lực lượng cán bộ, công chức, viên chức. Tôi đề nghị không nên quy định Điều 9 này.
Vấn đề thứ ba là vấn đề tôi nghĩ nhiều đại biểu hết sức quan tâm mà tôi cũng muốn bày tỏ chính kiến của mình là đề nghị chúng ta nên xem lại Điều 12 về lãi suất. Các đại biểu nói nhiều rồi, tôi chỉ tham gia thêm mấy ý. Có đại biểu nói là tổng kết đi, tôi cũng hoàn toàn đồng ý nhưng theo tôi chắc là gấp quá rồi không tổng kết được, các đồng chí giải thích hộ cho là tại sao phải bỏ, để đó thì bất lợi cái gì và được lợi gì, nó có hại gì cho chúng ta không. Như các đại biểu trước nói là hoàn toàn từ các công cụ này chúng ta điều hành được chính sách tiền tệ quốc gia, chúng ta bảo đảm được ổn định kinh tế vĩ mô trong những thời điểm bất thường, để đó nó không có hại mà tại sao chúng ta lại bỏ, nếu bỏ tôi cho tiếp thu này là một sự khó hiểu, chúng ta dung hòa quá. Tiếp thu như thế này Điều 474 và Điều 476 của Bộ luật hình sự áp dụng, nếu như thế bỏ hai điều đó đi, một luật xử nhiều luật, tại sao vẫn còn điều ấy như đồng chí Trần Thế Vượng viện dẫn. Cho nên tôi đề nghị phải để thế này, không bỏ lãi suất cơ bản và bổ sung ngay vào Khoản 1 "công bố lãi suất tái cấp vốn, lãi suất cơ bản và các lãi suất khác để điều hành chính sách tiền tệ"
Nguyễn Văn Bình - TP Hải Phòng
Kính thưa Chủ tọa kỳ họp.
Kính thưa các vị đại biểu Quốc hội.
Tôi xin góp ý vào Điều 12 của dự án luật. Quan điểm của tôi thì tôi hoàn toàn đồng ý với loại ý kiến thứ nhất trong Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về điều này. Nhưng tôi có giải thích thêm về tại sao lại bỏ lãi suất cơ bản trong điều kiện bình thường và qua thực tế điều này đã chứng minh.
Thứ nhất, về các tổ chức tín dụng phải huy động vốn và huy động vốn này là huy động từ dân, các tổ chức mà có nguồn tín dụng chưa hoạt động đến. Thứ hai các tổ chức tín dụng phải dùng nguồn vốn mẹ để cho vay và các doanh nghiệp đều vay từ nguồn vốn này. Từ thực tế theo Luật dân sự thì chúng ta có 150% lãi suất so với lãi suất cơ bản. Từ thực tế trong hai năm 2008-2009 và nhất là năm 2010 lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước đưa ra các tổ chức tín dụng trong hợp đồng tín dụng đều cho vay là 150% so với lãi suất cơ bản. Đối với Ngân hàng Nhà nước điều này hoàn toàn hợp lý như các ngân hàng cổ phần khác thì sẽ lách luật và đưa ra các hợp đồng, các hợp đồng đó là những hợp đồng tư vấn về vấn đề vay tín dụng. Vấn đề này sẽ tăng thêm khoảng 2 đến 5% nếu so với Luật dân sự về thực tế chúng ta đã sai. Điều này chứng minh cho chúng ta rằng khi thị trường bình thường thì chúng ta nên bỏ lãi suất cơ bản và chứng minh bằng quý I năm 2010 Ngân hàng Nhà nước đã đưa ra lãi suất thỏa thuận tức khắc lãi suất tự nhiên xuống. Nếu để lành mạnh thị trường tiền tệ thì tôi đề nghị khi thành lập các ngân hàng thì Ngân hàng Nhà nước phải đưa ra các điều kiện khắt khe để khi các ngân hàng này vào thị trường có đủ mạnh để có thể hoạt động một cách tốt.
Thứ hai nữa, đối với doanh nghiệp nếu hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả thì mới dám vay còn những doanh nghiệp không có hiệu quả thì lãi suất có thấp chăng nữa cũng không dám vay. Từ thực tế tôi nghĩ rằng chỉ có những ngân hàng không có đủ điều kiện và không có đủ sức mạnh thì chúng ta có thể huy động vốn bằng bất kể một lãi suất nào và ngược lại các doanh nghiệp không hoạt động sản xuất kinh doanh mà vì một động cơ khác thì cũng có thể vay bằng bất cứ một lãi suất nào. Vì vậy, theo quan điểm của tôi thì chúng ta nên bỏ lãi suất cơ bản trong điều kiện của thị trường bình thường. Xin hết, xin cảm ơn Quốc hội.
Nguyễn Đăng Trừng - TP Hồ Chí Minh
Kính thưa các vị đại biểu Quốc hội,
Cho phép tôi được tham gia ý kiến về 2 nội dung mà đồng chí Phó Chủ tịch đã gợi ý.
Thứ nhất là nội hàm của chính sách tiền tệ và thẩm quyền của Quốc hội đối với chính sách tiền tệ. Nội hàm chính sách tiền tệ đã được định nghĩa trong Khoản 1, Điều 3 của dự thảo là chính sách tiền tệ quốc gia, là các quyết định về tiền tệ ở tầm quốc gia của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền bao gồm mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chính sách, bằng chỉ tiêu lạm phát được thể hiện thông qua chỉ số tiêu dùng và các công cụ, biện pháp để thực hiện các mục tiêu đặt ra. Theo tôi nội hàm của chính sách tiền tệ được định nghĩa ở đây là phù hợp, lý do là trong nội hàm chính sách tiền tệ tuy khá rộng, các nhà khoa học, các chuyên gia các nước trên thế giới hiểu và tiếp cận khác nhau. Nhưng tựu chung vẫn là nội dung chính yếu được định nghĩa trong dự thảo này.
Điều 3, Khoản 2 dự thảo luật quy định là Quốc hội quyết định chỉ tiêu lạm phát thể hiện qua chỉ số tiêu dùng hàng năm. Tôi cho như thế hoàn toàn phù hợp. Lý do: Trước hết là phù hợp với Hiến pháp và Luật tổ chức Quốc hội cũng quy định thẩm quyền quyết định các chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu hàng năm cũng là Quốc hội.
Thứ hai, lạm phát là một chỉ tiêu kinh tế rất quan trọng, vừa phản ảnh giá trị đồng tiền, vừa chi phối các chỉ tiêu kinh tế khác, nên chỉ tiêu này phải do Quốc hội quyết định.
Thứ ba, trong thực tế những năm qua Quốc hội đã quyết định chỉ số tiêu dùng và được ghi trực tiếp trong các nghị quyết của Quốc hội về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Tôi xin tham gia nội dung thứ hai về vấn đề lãi suất cơ bản. Theo tôi, tại diễn dàn này đang có ý kiến khác nhau. Tôi nghĩ ý kiến của chúng tôi trình bày ở đây có tính chất tranh luận. Lãi suất cơ bản phải hiểu như thế nào? Tôi rất đồng tình cách hiểu lãi suất cơ bản được giải trình trong bản giải trình của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Lãi suất cơ bản không phải là một mức lãi suất, mà một số lãi suất chủ yếu trong đó có một lãi suất chủ đạo, các quan hệ vay, cho vay tuân thủ sự chi phối của các lãi suất chủ yếu này. Từ đó tôi đồng ý dự thảo không quy định về lãi suất cơ bản, nói rõ ra là bỏ lãi suất cơ bản. Cần thiết khi có diễn biến bất thường trên thị trường tiền tệ thì Ngân hàng Nhà nước hoàn toàn có những công cụ quan trọng khác để điều tiết thị trường. Thí dụ như trong thực tế vừa qua không phải chúng ta chỉ có điều tiết thị trường bằng lãi suất cơ bản mà thực tế là chúng ta đã điều tiết lãi suất cơ bản bằng công cụ khác. Thí dụ như lãi suất tái chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn, thí dụ như tăng dự trữ bắt buộc của các tổ chức tín dụng tại Ngân hàng Nhà nước.
Nên theo tôi cần phải để trong tình hình chúng ta phấn đấu để cho nền kinh tế của chúng ta trở thành nền kinh tế thị trường hoàn chỉnh và Chính phủ ta các vị lãnh đạo của ta đi các nước cũng mong yêu cầu các nước trên thế giới công nhận nền kinh tế của ta là nền kinh tế thị trường. Do đó các tổ chức tín dụng ở Việt Nam ngay từ bây giờ phải theo quy luật kinh tế thị trường, theo quy luật tiền tệ, do đó tôi đề nghị bỏ lãi suất cơ bản.
Vậy ta bỏ lãi suất cơ bản như thế ta có bị ràng buộc bởi quy định 150% tại Khoản 1, Điều 476 của Bộ luật dân sự không? Theo tôi là không. Bởi vì Khoản 2, Điều 12 dự thảo đã quy định "trong trường hợp thị trường tiền tệ có diễn biến bất thường thì Nhà nước quy định cơ chế điều hành lãi suất áp dụng trong quan hệ các tổ chức tín dụng của nhau với khách hàng và các quan hệ tín dụng khác", như thế ở đây là mở lối rồi. Nghĩa là trong tình hình cần thiết thì Ngân hàng Nhà nước có thể quy định một cơ chế lãi suất áp dụng cho các quan hệ lãi suất khác. Nghĩa là ví dụ như cho vay nặng lãi thì ta có một cơ chế áp dụng và đó là cơ sở để các cơ quan bảo vệ pháp luật xử lý các hành vi cho vay nặng lãi.
Trên đây là những ý kiến chúng tôi đóng góp với 2 nội dung mà đồng chí Phó Chủ tịch Quốc hội đã gửi xin ý kiến. Xin cảm ơn các vị đại biểu Quốc hội.
Lê Quốc Dung - Thái Bình
Kính thưa Quốc hội,
Tôi xin phát biểu một nội dung về cơ chế lãi suất, tôi cho rằng cơ chế lãi suất là nội dung rất quan trọng để nó vận động dòng tiền làm sao cho mềm mại uyển chuyển mà vay của người vay và cho vay đúng vào người muốn vay một cách tốt nhất, nền kinh tế sẽ tốt. Nhưng chúng ta đang đổi mới mô hình Ngân hàng Nhà nước, một nửa là Ngân hàng Nhà nước, một nửa là Ngân hàng Trung ương, nên hoàn toàn bằng biện pháp thị trường cũng không được, hoàn toàn bằng biện pháp hành chính cũng không được, phải kết hợp hai biện pháp này trong cơ chế lãi suất vận hành dòng tiền này như thế nào là tốt nhất. Qua dòng tiền ta đang vận động vừa qua, chúng tôi thấy cơ chế lãi suất cơ bản điều hành dòng tiền cũng nhảy sốc lên, đã có nhiều lúc bế tắc, dùng đến cơ chế thỏa thuận cũng nhảy sốc lên, một số ngân hàng muốn tắc thở. Rõ ràng nếu cứng nhắc dùng riêng như thế, không tính đến hoàn cảnh của chúng ta đồng tiền vẫn nhảy sốc, nền kinh tế không vận động được.
Có vấn đề tại sao lại nhảy sốc lên như thế, tại sao dòng tiền lẽ ra vận chuyển mềm mại lại cứ sốc lên như xe đi trên đường gập gềnh ổ voi, ổ gà? Cơ chế lãi suất vừa qua, tôi xin lỗi dùng từ hình tượng một chút, các Ngân hàng thương mại ăn cả hai đầu, ăn cả đầu cho vay, vay càng cao thì ngân hàng càng lãi, huy động tiền càng thấp thì ngân hàng càng lãi. Chính vì vậy, trong lúc khó khăn nhất, một số ngân hàng lãi rất lớn, cao nhất là 5.000 tỷ đồng, những ngân hàng nhỏ mới thành lập, ngân hàng cổ phần cũng 2.300 tỷ đồng. Vậy xem lại sự phân chia 3 lợi ích này như thế nào? Nếu càng đẩy lên thì phanh càng kẹt, nếu quả đào ở giữa hai má phanh càng đẩy, tức là ngân hàng thương mại càng ăn được nhiều lãi thì lợi ích người vay càng chết, người ta cũng không muốn vay, vay trong trường hợp bất đắc dĩ, càng lãi, huy động càng thấp, người gửi không gửi, đồng tiền chúng ta không uyển chuyển. Chính vì vậy, chúng tôi cho phù hợp với cơ chế đổi mới Ngân hàng, vừa Ngân hàng Nhà nước, vừa Ngân hàng Trung ương, trong điều kiện chúng ta chưa có cạnh tranh một cách trong suốt, cạnh tranh của chúng ta còn thời gian dài nữa mới trong suốt được, thậm chí hiện nay còn có sự thao túng trong đồng tiền nữa.
Chúng tôi đề nghị nên chọn cái gì làm cơ bản, đâu có phải chỉ lãi suất để chúng ta điều hành, cái gì cơ bản để chúng ta điều hành đồng tiền mềm mại vậy đó mới là cơ bản, còn vấn đề này khác chúng ta xử lý làm sao? Chúng tôi đề nghị cơ chế điều hành lãi suất đầu vào, đầu ra của các Ngân hàng thương mại là thỏa thuận theo thị trường nhưng không phải Ngân hàng ăn được cái này đâu, Nhà nước khung lại trong đó Ngân hàng được bao nhiêu phần trăm, ví dụ chỉ 2,5 hay 3% các Ngân hàng thương mại được duyệt, anh đẩy lên cao anh cũng được từng ấy, anh huy động bao nhiêu anh cũng được vào đây, như vậy anh cho vay cao anh phải huy động cao, sẽ được nhiều tiền, anh cho vay thấp thì có nhiều người vay, anh phải sắp xếp các hệ thống để giảm chi phí của anh, anh sẽ huy động được nhiều tiền, nền kinh tế sẽ rất tốt, không nhảy lên nữa.
Chúng tôi đề nghị trong điều kiện hiện nay chúng ta đổi mới lại mô hình Ngân hàng Nhà nước nửa vời như thế phải dùng biện pháp đó. Nếu cứ cơ bản như lúc thỏa thuận như thế này, Ngân hàng thương mại ăn cả hai đầu tôi tin không bao giờ dòng tiền sẽ mềm mại được. Và như vậy ngân hàng chúng ta phải kiểm tra, kiểm soát điều đó. Nếu như điều tiết khó khăn, chúng ta điều tiết bằng tỷ lệ dự trữ, bằng tái cấp vốn và bằng các nghiệp vụ thị trường mở đối với ngân hàng. Tôi xin hết ý kiến. Xin cảm ơn.
Lê Thị Thu Ba - Đồng Nai
Kính thưa Chủ tịch Quốc hội.
Kính thưa toàn thể Quốc hội.
Tôi xin tham gia ý kiến vào dự án Luật Ngân hàng Nhà nước ở hai điểm.
Thứ nhất chúng tôi thấy rằng ở Điều 3 chúng ta đang nói về chính sách tiền tệ quốc gia và thẩm quyền quyết định. Tôi quan tâm đến vấn đề chính sách tiền tệ quốc gia bởi một lẽ như thế này. Chúng ta đang xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và việc điều hành đất nước là phải theo quy định của Hiến pháp và luật. Điều 84 của Hiến pháp quy định Quốc hội có trách nhiệm quyết định chính sách tiền tệ quốc gia. Trong Luật Ngân hàng này chúng ta phải thể chế hóa Điều 84 của Hiến pháp về vấn đề chính sách tiền tệ quốc gia là gồm những vấn đề gì? Ở đây trong dự thảo Luật Điều 3 chúng ta nói rằng chính sách tiền tệ quốc gia là các quyết định về tiền tệ ở tầm quốc gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đoạn đó tôi cho rằng được nhưng lẽ ra ở chỗ bao gồm thì mình phải nói rằng bao gồm các quyết định gì chứ sao lại bao gồm các mục tiêu. Vì nếu như nói là các mục tiêu thì phải nói nhằm các mục tiêu cho nên tôi vẫn cho rằng Điều 3 nói về chính sách tiền tệ quốc gia là chưa đúng và chưa ổn.
Thứ hai, Điều 3 này nói về chính sách tiền tệ quốc gia, tôi có cảm giác chúng ta nói để phù hợp với những việc hiện nay Quốc hội đang làm. Quốc hội hiện nay chỉ quyết định về chỉ tiêu lạm phát, cho nên chúng ta quy định dự thảo luật này làm sao để hướng nó vào chuyện Quốc hội hiện nay chỉ quyết định về chỉ tiêu lạm phát. Cho nên khái niệm về chính sách tiền tệ quốc gia cũng chỉ hướng nào đó thôi, tôi cho rõ ràng nó không theo khách quan, mà đây là do chúng ta định hướng cho nó, làm cho nó không đúng với các quy luật, đấy là một vấn đề tôi đề nghị Ban soạn thảo cần xem lại.
Vấn đề thứ hai, chúng tôi muốn nói đến lãi suất cơ bản. Đây là công cụ để điều hành tiền tệ và điều hành về lĩnh vực tín dụng và cho vay trong toàn xã hội, không phải chỉ đối với các ngân hàng với nhau hoặc ngân hàng với các khách hàng của mình. Như anh Vượng đã phân tích Ngân hàng Nhà nước hiện nay tuy có yếu tố là Ngân hàng Trung ương nhưng vẫn là Ngân hàng Nhà nước và đồng chí Thống đốc vẫn là thành viên của Chính phủ. Cho nên trách nhiệm của Ngân hàng Nhà nước phải làm sao quản lý cho được tình hình về vay. Tức là tình hình về tín dụng trong ngân hàng cũng như trong nhân dân. Đấy là nhiệm vụ rất quan trọng của ngân hàng và giữ cho được ổn định về tiền tệ. Đấy là 2 nhiệm vụ rất quan trọng của ngân hàng.
Phát biểu trước tôi nhiều đại biểu cho rằng nên bỏ lãi suất cơ bản, mà điều hành theo cơ chế thị trường. Xin báo cáo với các đồng chí, chúng ta vẫn khẳng định mục tiêu của chúng ta là Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Và trong thời kỳ quá độ chúng ta thực hiện cơ chế thị trường nhưng có định hướng xã hội chủ nghĩa. Vậy thì định hướng xã hội chủ nghĩa ở đây là cái gì. Thì tôi cho rằng lãi suất cơ bản chính là định hướng xã hội chủ nghĩa để làm gì? Để : Một là giữ cho được vấn đề chống cho vay nặng lãi và chống việc người nắm giữ tiền trong xã hội lợi dụng những lúc các doanh nghiệp, các tổ chức và cá nhân khó khăn về tiền mặt thì đòi hỏi mức lãi suất cao ngất ngưởng mà trước đây khi năm 2008 đã xảy ra tình trạng này rồi. Báo cáo các đồng chí có vấn đề như thế. Đấy là nhiệm vụ rất quan trọng để làm sao người khó khăn không phải đi vay với lãi suất cao ngất ngưởng trong những thời kỳ đó.
Thứ hai là quản lý cho được tình hình về tiền tệ, về tín dụng trong xã hội. Nếu như bỏ lãi suất cơ bản đi thì rõ ràng sẽ rối loạn về tiền tệ. Tôi thấy phát biểu trước tôi có nhiều đồng chí nói rằng khi nào có tình hình khó khăn, tình hình đặc biệt thì mới quy định lãi suất cơ bản. Theo tôi đó là rất sai lầm. Vì Bộ luật dân sự quy định rồi, anh có thể thỏa thuận nhưng thỏa thuận không được vượt quá lãi suất cơ bản, điều này có nghĩa là Ngân hàng Nhà nước phải công bố lãi suất cơ bản. Còn trong những tình hình có diễn biến đặc biệt thì anh có quyền điều chỉnh lãi suất cơ bản đó, còn trong lãi suất cơ bản đó thì tất cả các ngân hàng và kể cả nhân dân là anh có quyền thỏa thuận với nhau, nhưng anh không được vượt quá như Bộ luật dân sự hiện nay là 150% lãi suất cơ bản, vì nếu vượt quá như thế thì sẽ dẫn đến rối loạn. Rối loạn là vì tôi báo cáo với các đồng chí trong thực tiễn những năm đổ vỡ tín dụng, khó khăn ngân hàng là vì sao? là khi các doanh nghiệp khó khăn, người dân khó khăn người ta sẵn sàng chấp nhận một mức vay cao ngất ngưởng, người ta chỉ biết là giải quyết những khó khăn trước mắt thôi còn sau đó có trả được hay không đó là chuyện sau này mới tính và như vậy sẽ dẫn đến là gì? dẫn đến phá sản, dẫn đến mất khả năng thanh toán và như vậy rõ ràng ngân hàng nó cũng sẽ không làm sao thu được vốn. Chính vì vậy cho nên lãi suất cơ bản nó giúp cho ổn định tình hình về cho vay và thị trường về tài chính.
Tôi đề nghị nên cân nhắc không nên bỏ lãi suất cơ bản và như thế cũng không bó buộc gì đối với Ngân hàng Nhà nước và các Ngân hàng bởi vì anh được quyền điều chỉnh trong tình hình có khó khăn thì anh sẽ điều chỉnh, còn thường xuyên anh phải có lãi suất cơ bản để cho các cơ quan tư pháp người ta căn cứ vào cái này khi có tranh chấp về vấn đề vay vốn thì người ta sẽ căn cứ vào đó người ta quyết định, thứ nhất là theo dân sự. Còn đối với loại hình sự thì nếu anh cho vay mà vi phạm Bộ luật hình sự về vấn đề cho vay nặng lãi thì người ta sẽ xử anh vào tội cho vay nặng lãi, như vậy nó mới đảm bảo cho được ổn định tình hình thị trường cho vay, chứ còn nếu không thì tôi cho rằng chúng ta buông một công cụ rất quan trọng của Ngân hàng Nhà nước. Xin hết.Lê Thị Nga - Thái Nguyên
Kính thưa Quốc hội,
Tôi thấy dự án luật này được chỉnh lý khá công phu và Báo cáo giải trình cũng khá rõ ràng. Tôi chỉ xin phát biểu về một vấn đề là vấn đề tự do hóa lãi suất và bỏ trần lãi suất quy định tại Điều 91 của dự án luật này.
Kính thưa Quốc hội, câu chuyện tự do hóa lãi suất và bỏ trần lãi suất có thể nói dăm năm nay đã làm tốn rất nhiều giấy mực của các nhà khoa học về luật, của các nhà hoạt động ngân hàng và câu chuyện này ý kiến khác nhau cũng rất nhiều. Vấn đề trần lãi suất thì liên quan đến Luật ngân hàng, Luật các tổ chức tín dụng, Bộ luật dân sự, Bộ luật tố tụng dân sự và Bộ luật hình sự. Hôm qua thảo luận về Luật ngân hàng cũng có nhiều ý kiến phát biểu có liên quan đến vấn đề này.
Hiện nay luật này ở Điều 91 có quy định tại Khoản 2 và Khoản 3 như sau. Khoản 2 quy định: tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, trừ trường hợp quy định tại Khoản 3 điều này. Khoản 3 quy định: trong trường hợp cần thiết để đảm bảo an toàn của hệ thống tổ chức tín dụng, Ngân hàng Nhà nước có quyền quy định về cơ chế xác định lãi suất trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng. Với quy định này chúng ta có thể hiểu được rằng luật cho phép khách hàng và tổ chức tín dụng có quyền thỏa thuận về lãi suất. Lãi suất ở đây có thể hiểu là cả lãi suất huy động và lãi suất cho vay về cơ bản là được thỏa thuận còn trong trường hợp cần thiết để đảm bảo an toàn hệ thống thì Khoản 3 quy định Ngân hàng Nhà nước sẽ có quyền quy định cơ chế xác định lãi suất chứ không quy định về lãi suất. Như vậy có thể hiểu là bằng hai khoản này đã quy định về tự do hoá lãi suất và bỏ trần lãi suất, chúng tôi thấy có băn khoăn về quy định này. Chúng ta đã biết quy định tại Điều 476 của Bộ luật dân sự có quy định về lãi suất trong hợp đồng vay, quy định lãi suất cho vay là do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước quy định. Vấn đề này chúng ta đã nêu ra rất nhiều lần rồi. Chúng tôi đề nghị giải trình rõ có phải bằng quy định này, với quy định của Bộ luật dân sự thì còn thực hiện được không, hay là nếu có quy định này thì theo nguyên tắc luật quy định sau thì có hiệu lực với tầm luật là như nhau. Bằng quy định này thì Điều 476 đương nhiên không thực hiện nữa. Chúng ta cần giải trình rõ thêm nếu chúng ta quy định về bỏ trần lãi suất và tự do hoá lãi suất, cần giải trình cho đại biểu rõ nếu định tự do hoá lãi suất thì mặt được và mặt chưa được ở chỗ nào, cái nào thuận lợi hơn thì chúng tôi đề nghị cần giải trình rõ để qua thực tiễn thực hiện chúng ta có thể tạo sự đồng thuận trong dư luận. Tôi xin hết.
--~--~---------~--~----~------------~-------~--~----~
Bạn đã nhận được bài viết này vì bạn đã tham gia Diễn đàn "Pháp
chế Ngân hàng".
Để đăng bài lên Diễn đàn, hãy gửi email đến
phap-che-...@googlegroups.com
Để bỏ đăng ký khỏi nhóm này, gửi email tới
phap-che-ngan-h...@googlegroups.com
Để có thêm tuỳ chọn, hãy truy cập vào nhóm này tại
http://groups.google.com/group/phap-che-ngan-hang?hl=vi
Lưu ý: Tất cả các bài viết bạn phải dùng Tiếng Việt có dấu font Unicode để tiện cho người sử dụng.
-~----------~----~----~----~------~----~------~--~---