--
You received this message because you are subscribed to the Google Groups "NVSP_K16_N11" group.
To unsubscribe from this group and stop receiving emails from it, send an email to nvsp_k16_n11...@googlegroups.com.
For more options, visit https://groups.google.com/groups/opt_out.
BẢNG BÁO CÁO TỔNG HỢP NHÓM 11
1. Tâm lý lành mạnh:
1.1. Khái niệm của tổ chức y tế thế giới (WHO) về sức khỏe được hiểu như sau:
"Health is a state of complete physical, mental and social well-being and not merely the absence of disease or infirmity".
Như vậy sức khỏe bao gồm:
- Sức khỏe thân thể (sinh lý)
- Sức khỏe tinh thần (tâm lý)
Tâm lý và sinh lý có quan hệ mật thiết với nhau, một con người thực sự khỏe mạnh phải có tâm - sinh lý tốt, có khả năng thích ứng với mọi hoàn cảnh.
1.2 Diễn giải cho mối quan hệ của tâm lý và sinh lý:
Sức khỏe phải bao gồm thân thể khỏe mạnh và tâm lý khỏe mạnh. Chỉ khi nào một người có sức khỏe và tâm lý tốt thì mới có thể thích ứng được với mọi hoàn cảnh của xã hội, mới gọi là con người thực sự khỏe mạnh. Thế nhưng trong đời sống thực tế ngày nay, người ta chỉ chú ý tới sức khỏe thân thể mà xem nhẹ sức khỏe tâm lý, ngay cả bị ốm người ta cũng chỉ chú ý đến việc chữa trị và đảm bảo sức khỏe về mặt sinh lý mà không chú ý đến việc điều chỉnh tinh thần và gạt bỏ những trở ngại về mặt tâm lý, vì thế việc chữa trị không đem lại hiệu quả như mong muốn. Có thể nói sức khỏe là biện chứng thống nhất của hai mặt thâ thể và tâm lý.
Tâm lý và sinh lý phải dựa vào nhau để tồn tại, chúng ảnh hưởng và ràng buộc lẫn nhau. Sinh lý là cơ sở vật chất của tâm lý, trạng thái sinh lí của con người ảnh hưởng và ràng buộc mọi hoạt động của sinh lí. Ví dụ một người có thân hình khỏe mạnh bao giò tinh thần cũng vui tươi phấn khởi, còn người mắc bệnh lâu ngày thường hay buồn bã, không thể nào vực dậy nổi tinh thần.
Tâm lý khỏe mạnh ở đây là chỉ một người có năng lực trí tuệ tốt, tính cách vững vàng, có năng lực chịu đựng mọi sự kích thích về tinh thần và áp lực xã hội, mọi hoạt động tâm lý đều thích ứng với môi trường bên ngoài, tinh thần ổn định, giải quyết tốt mọi vấn đề nảy sinh.
1.3 Một người có tâm lí tốt hay lành mạnh là người có
các phẩm chất sau:
· Có trí tuệ tốt;
· Tính cách vững vàng;
· Hoạt động tâm lí có khả năng thích ứng tốt với môi trường sống và môi trường làm việc;
· Tinh thần ổn định, có khả năng giải quyết tốt các vấn đề phát sinh;
2. Người Giảng viên có biện pháp hay cách thức gì để duy trì tâm lý lành mạnh.
2.1 Một số áp lực thường gặp đối với Giảng viên:
Cũng như mọi ngành nghề khác, nghề Giảng viên cũng có nhiều áp lực khác nhau như:
ü Áp lực về việc giảng dạy.
- Phải giảng dạy sao cho SV có thể nắm được kiến thức chuyên môn và kỹ năng về nghề nghiệp cũng như xã hội;
- Sinh viên có mong muốn rất lớn về việc giảng viên có thể đề cập và hướng dẫn những công nghệ mới bên ngoài àCông nghệ phải thay đổi hàng ngày, nhất là những ngành công nghệ, do đó GV có áp lực cần phải cập nhật kiến thức thường xuyên để có thể giảng dạy tốt hơn, gây hứng thú cho sinh viên.
- Áp lực phải nâng cao chuyên môn: học Thạc sĩ, Tiến sĩ.
- Áp lực về việc nâng cao kỹ năng: Tiếng Anh, nghiệp vụ sư phạm,..
ü Áp lực về các công việc khác.
- Đối với giảng viên, ngoài công việc giảng dạy, giảng viên còn phải thực hiện nhiều công việc khác nhau. Các công việc này cũng gây ra nhiều áp lực cho GV.
- Coi thi. Nhiều GV thấy việc coi thi mất thời gian và không có hứng thú.
- Nghiên cứu khoa học. Hiện nay việc nghiên cứu khoa học là nhiệm vụ bắt buộc của tất cả GV. Tuy nhiên không phải GV nào cũng có đủ điều kiện (không đăng ký được đề tài, không có người định hướng, hướng dẫ,…) để NCKH. Điều này cũng gây áp lực không nhỏ cho GV.
- Một số công việc khác: công việc hành chính, làm GV cố vấn, tham gia hội họp, phong trào,… Mặc dù các công việc này giúp ích cho hoạt động giảng dạy của GV. Tuy nhiên nếu công việc quá nhiều thì lại gặp áp lực không nhỏ cho GV.
ü Áp lực về mối quan hệ trong nhà trường.
Nhà trường là môi trường xã hội khá phức tạp. Nhà trường thường quy mô rất lớn, gồm rất nhiều phòng, ban và Khoa. Bản thân người GV phải có mối quan hệ và từ đó có những áp lực khác nhau.
- Giữa các GV trong Khoa: áp lực về xung đột trong môn dạy, cách dạy, cách phân công nhiệm vụ giữa các GV.
- Giữa GV với các phòng, ban: nhiều qui định mới,…
- Giữa GV và SV: SV không hiểu, SV không chịu học, SV vô lễ, ….
ü Áp lực về hòa hợp giữa nghề nghiệp và gia đình riêng.
ü Áp lực về kinh tế.
2.2 Phát triển tâm lý lành mạnh ở Giảng viên:
Từ những áp lực GV gặp phải và định nghĩa về tâm lý lành mạnh ở trên. Tiếp theo một số ý kiến để phát triển tâm lý lành mạnh ở GV.
Một người muốn có tâm lý lành mạnh nếu có thể có được:
- Thành công trong công việc, có vị thế, thành công nhất định trong công việc của mình.
- Hòa hợp được công việc và gia đình.
- Có sự giao tiếp tốt với mọi người xung quanh.
- Có tinh thần lạc quan, sẵn sàng đối mặt và xử lý công việc.
Từ đó đối với giảng viên:
a. Tự giác nâng cao năng lực chuyên môn: học thạc sĩ, tiến sĩ, tham gia các đề tài nghiên cứu khoa học.
b. Tự giác nâng cao kiến thức thực tế: đi thực tế các nhà máy, công ty thực tế,... Điều này cũng giúp ích cho công việc giảng dạy,
c. Tự giác nâng cao các kiến thức xã hội khác: tham gia nâng cao ngoại ngữ, nghiệp vụ sư phạm.
Việc nâng cao chuyên môn là công việc bắt buộc nên GV cần tự giác để GV tự chủ động trong công việc này.
Đừng để tới lúc trường học bắt buộc rồi cảm thấy áp lực. Việc tham gia nghiên cứu khoa học sẽ giúp giảng viên có kinh nghiệm nghiên cứu, kinh nghiệm thực tiễn từ đó giúp cho bài giảng mình phong phú, sinh động hơn. Từ đó sinh viên sẽ có hứng thú với môn học và yêu thích môn học. Khi sinh viên tham gia đông đủ thì bản thân GV sẽ có cảm giác thỏa mãn, tự tin trong công việc.
Các kiến thức xã hội cũng đóng vai trò rất quan trọng trong giảng dạy của GV. Người có kiến thức xã hội tốt sẽ có cách ứng xử tốt trong lớp học, có thể xử lý tình huống phát sinh một cách thích hợp, từ đó sẽ được sinh viên yêu mến.
Người có các kiến thức xã hội tốt cũng sẽ có mối quan hệ tốt với đồng nghiệp. Người có kiến thức sâu rộng dễ lý giải được tại sao người khác có hành động nào đó, từ đó sẽ có sự thông cảm với người khác. Người có kiến thức xã hội và chuyên môn tốt cũng rất tự tin trong giao tiếp, từ đó sẽ có quan hệ tốt với đồng nghiệp.
Một khi thành công trong giảng dạy, GV đó sẽ dần dần có được uy tín nghề nghiệp và người GV đó sẽ có mức thu nhập ổn định hơn nhằm đảm bảo kinh tế.
--
muoi nghi yeu to ve kinh te va moi truong song cung rat quan trong gop phan tao nen mot tam ly tot/lanh manh.