Những Năng Lực và Cảm Giác c��Người Lúc Lâm Chung

405 views
Skip to first unread message

Unknown

unread,
Aug 11, 2012, 10:59:10 PM8/11/12
to
Những Năng Lực và Cảm Giác của Người Lúc Lâm Chung
 
Kính gửi đến quí vị liên hữu đồng tu:
 
Mọi người đều có một năng lực tiềm tàng để có thể giúp chính mình vượt qua khó khăn trắc trở vào lúc lâm chung. Phật, Bồ-tát và các Chư Tổ Sư thông rõ việc này nên các Ngài bày ra pháp môn niệm Phật để làm phương tiện giúp chúng sanh khai mở và sử dụng năng lực tiềm tàng vô biên, vốn có sẵn ở trong mỗi chúng sanh. Phương tiện của các Ngài là gì? Thật đơn giản, gọn gàng và dễ hiểu: chính là Tín-Nguyện-Hạnh niệm Phật cầu vãng sanh Cực Lạc.
 
Tuy là đơn giản như vậy, nhưng công năng của nó có thể giúp độ trọn cả ba căn (Thượng, Trung và Hạ), mới thấy thật vô cùng thù thắng. Một giáo pháp viên đốn bậc nhất, đến ngay chính các bậc Đẳng Giác Bồ-tát như Đức Quán Thế Âm, Đại Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền v.v… cũng đã áp dụng để sanh về cõi Tây Phương Cực Lạc, để có thể thành Phật. Trong Kinh Vô Lượng Thọ, Kinh Thủ Lăng Nghiêm và Kinh Hoa Nghiêm, Đức Thế Tôn đã khai thị rất rõ ràng, nên không cần phải nói rộng ra thêm. Vậy cái công năng của Tín-Nguyện-Hạnh là gì? Nó chính là cách thức giúp quy động năng lực sẵn có của bạn để đạt đến trạng thái thiền định ở trong bất cứ sinh hoạt nào (đi, đứng, nằm, ngồi và ngay trong khi đang ngủ). Vì vậy, pháp môn niệm Phật còn gọi là “Thâm Diệu Thiền”.
 
Dưới đây tôi sẽ xin trình bày cho bạn, Vì sao Tín-Nguyện-Hạnh có thể giúp bạn quy động được toàn bộ năng lực Thiền Định của bạn để lúc lâm chung bạn có thể liễu sanh thoát tử, vãng sanh Cực Lạc, một đời thành Phật.
 
Năng lực của Tự Lực qui động từ Tín-Nguyện-Hạnh
 
· Tâm tín thành nơi Phật A Di Đà và cõi nước Cực Lạc chính là năng lực vô biên giúp bạn vượt qua tất cả khó khăn trở ngại trong việc thực hành chí thiết niệm Phật, để đạt thành tâm nguyện vãng sanh. Trong Kinh Hoa Nghiêm, Phật có dạy rằng “Duy tâm sở hiện, duy thức sở biến”. Khi bạn đặt một niềm tin mãnh liệt tuyệt đối vào điều gì, điều đó sẽ thành. Nên Tín có năng lực không thể nghĩ bàn; ví dụ như nếu bạn tin rằng bạn có thể học để trở thành một bác sĩ, niềm tự tin này chính là năng lực thúc đẩy bạn chăm học, chăm làm, vượt qua mọi trở ngại khó khăn để đạt thành tâm nguyện.
· Nguyện lực tha thiết muốn sanh về nước Cực Lạc là nguồn năng lực vô lượng thúc đẩy bạn nhất tâm niệm Phật chí thiết ngày đêm không ngừng dứt. Cũng giống như một học sinh hiếu học vì muốn (nguyện) đạt thành công danh nên ngày đêm phải miệt mài bên đèn sách.
· Hạnh: Hạnh là năng lực kết tụ do công phu tu tập từ trong quá khứ cho đến nay; quá khứ có thể là từ nhiều đời nhiều kiếp về trước hay chỉ là quá khứ ở hiện đời.  Người có công phu tu tập, phải đoạn trừ được tất cả các tật đố tham lam, sân si, mạn, nghi. Vì đây là cội nguồn của chướng ngại, sẽ làm cho tâm bạn bị dính mắc, không thể buông xả.  Nó cũng là nguyên nhân, là yếu tố đưa bạn rơi vào trong trạng thái u minh, mất chánh giác, rồi sau đó nó dẫn dắt bạn đi vào tam ác đạo (địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh).
 
Nếu muốn cho tâm của bạn an trú không dính mắc, thanh tịnh, thư thái, bạn nên thực hiện các pháp như sau:
 
(a) Đoạn trừ bất cứ nghi hoặc, hối hận hay do dự trong lòng. Ngay cả những việc làm bất thiện đã phạm trong quá khứ cũng không cho vướng mắc, bận tâm bạn. Biết mình đã làm lỗi là “giác”, biết lỗi rồi, sửa lỗi và quyết không phạm lại nữa, như vậy là làm xong công việc sám hối. Làm xong rồi phải buông xả nó ra một cách rốt ráo, không nên để chút gì sót lại, hay dính mắc trong tâm của bạn.
(b)Ngay cả những việc thiện lành, khi làm xong cũng phải xả, chẳng để cho nó dính mắc trong tâm. Những suy nghĩ này là vọng tâm làm cho tâm bạn không được rỗng lặng, thanh tịnh. Đừng để những việc thiện này làm cho tâm bạn đắc ý, rồi sanh ra cái niệm hay hành động cống cao ngã mạn làm luống uổng công phu và công đức bạn đã tạo được.
(c) Buông bỏ tất cả những sự dính mắc đối với bất cứ ai mà bạn có mối liên quan mạnh mẽ nhất trong đời này, kể cả những sự quan hệ thương hay ghét, thân hay oán.
(d)Nhiếp tâm niệm Phật không tán loạn, không vọng tưởng. Lấy danh hiệu Phật A Di Đà làm công cụ phá vọng, phá mê để đạt và giữ được trạng thái thanh tịnh, thư thả của tâm. Nếu bạn làm được như thế, mặc dầu thân bạn tuy vẫn ở trong hình tướng con người, nhưng tâm bạn thì bình đẳng với Phật A Di Đà – rỗng lặng như hư không. Muốn làm được như vậy, lúc niệm Phật nên dừng tất cả chuyện nói, làm người bị câm mà niệm. Niệm theo từng nhịp thở, từng cơn đau, từng cơn lạnh buốt giá, ngay cả lúc vui hay buồn v.v… Khi bạn đang được an trụ vào trong câu Phật hiệu cũng chính là bạn đang được an trụ vào trong tự tánh của chính mình, không dính mắc và thư thái, không vọng tưởng. Lúc đó, bạn hãy cố giữ cho tâm của bạn ở trong trạng thái vắng lặng, trống rỗng, chỉ còn lại một niệm “A Di Đà Phật” ở trong tâm.
Bạn phải hiểu Tâm không có màu sắc hoặc hình tướng để nhận biết ra được nó, nhưng tự nó tuyệt đối trống rỗng và nhận biết hoàn toàn sáng tỏ thấu suốt (viên minh), vì đó chính là tự tánh của tâm bạn. Nhận biết tâm như thế, trở thành chắc chắn về tâm, đó là kiến (thấy biết). Để duy trì tâm không bị tán loạn trong trạng thái tịnh chỉ, không vọng niệm hoặc chấp thủ đó là trạng thái thiền định. Ở trong trạng thái đó không bị dính mắc vào chấp thủ hoặc tham luyến, chấp nhận hoặc đối kháng, mong cầu hoặc sợ hãi, đối với bất cứ vọng thức nào nữa cả.
(e) Đừng gửi lòng cư trú ở các nơi của người sống bình thường; chỉ gửi lòng mình nơi cõi Tây Phương Cực Lạc của Phật A Di Đà mà thôi.
 
Vào thời điểm chết, bạn nên biết là bạn sẽ phải trải qua những cảm giác thế nào?
 
Vào lúc sắp lâm chung bạn phải trải qua nhiều cảm giác khổ đau cùng cực, những cảm giác này gây ra bởi những nguyên nhân như sau:
 
1. Vào lúc địa đại hòa nhập hay tan biến vào trong thủy đại, thân thể trở nên nặng nề và thân không thể tự nương nhờ thân.
2. Vào lúc thủy đại hòa nhập vào trong hỏa đại, miệng và mũi khô khan, ngưng nói bí lời.
3. Vào lúc hỏa đại hòa nhập vào trong phong đại, thân nhiệt biến mất.
4. Vào lúc phong đại hòa nhập vào trong thức đại, bạn chỉ có thể thở ra khò khè và hít vào nấc nghẹn.
 
Vào lúc đó, bạn sẽ có cái cảm giác như đương bị đè nặng bởi một ngọn núi rất lớn, đương bị sập bẫy trong bóng tối, đương bị buông rơi vào vô tận của hư không. Nếu tâm bạn nghe nhận và niệm được câu Phật hiệu một cách thanh tịnh, toàn thể bầu trời sẽ tự nhiên tươi sáng rực rỡ như một tấm gấm trải rộng. Những bóng tối và sự đè nặng trong tâm tức khắc liền tan biến. Hơn thế nữa, hình tướng của Phật A Di Đà tự nhiên hiện ra ở trong tâm của bạn, cùng với những ánh quang minh sáng diệu vô thượng như trăm nghìn ánh mặt trời chiếu sáng cùng một lúc. Quang minh sáng rực, nhưng minh diệu lạ thường, nó không làm bạn chói mắt khó chịu; ngược lại, nó làm cho bạn tươi tỉnh, sáng suốt và rỗng lặng lạ thường. Tự nhiên bạn không còn cái cảm giác khổ đau gây ra bởi do thân tứ đại của bạn đang phân ly nữa. Đây chính là thành quả của năng lực niệm Phật của bạn (Tự lực) cùng năng lực tiếp dẫn của Phật A Di Đà (Tha lực).
 
Vào lúc này tính giác viên minh của bạn sẽ nhắc nhở bạn: Đừng bị tán loạn! Đừng xúc động! Không lâu nữa Phật A Di Đà sẽ đến tiếp dẫn bạn về cõi Cực Lạc. Bạn phải ráng giữ cho tâm của bạn luôn rỗng lặng, thanh thản và tiếp tục niệm Phật không ngừng, ngay cả khi gặp được Đức Phật A Di Đà xuất hiện. Tại sao vậy? Vì nếu bạn giữ được tâm rỗng lặng như hư không, không xúc động vì vui mừng theo thói tục của thế gian chúng sanh, khi gặp Phật, bạn sẽ sanh về cõi Cực Lạc với phẩm vị rất là cao. Vì ngay lúc này với sự trợ lực của Phật A Di Đà, bạn đã đạt được Niệm Phật Tam Muội hay Nhất Tâm Bất Loạn. Nếu bạn còn có cái niệm vui mừng xúc động khi gặp Phật, phẩm vị vãng sanh của bạn bị hạ thấp xuống, vì tâm bạn vẫn còn dính mắc vọng niệm của người phàm phu.
 
Khi bạn thấy Phật A Di Đà xuất hiện, bạn cũng đồng thấy vô số Phật, Bồ-tát và Thánh Chúng đồng xuất hiện để nhiếp thọ tiếp dẫn bạn. Hình tướng và dung mạo của các vị Phật ở cõi Tây Phương, cũng giống hệt như Phật A Di Đà. Hình tướng và dung mạo của các Bồ-tát cũng đồng giống hệt như Quán Thế Âm và Đại Thế Chí, không có tướng sai khác. Bạn cũng được nghe tiếng của thánh chúng niệm Phật vang động cả bầu trời với những âm thanh vi diệu hòa nhã và tùy hỷ.
 
Nên lưu ý, trước khi gặp Phật, ma chướng (nghiệp chướng) cùng sinh của bạn sẽ loạn động cái tâm của bạn làm cho chánh niệm của bạn bị sụp đổ, bạn muốn niệm Phật cũng rất là khó khăn hay chẳng thể niệm được; nó phát ra những âm thanh chói tai, uy mãnh và làm mê mờ bạn. Ở vào thời điểm này, bạn hãy tuệ tri điều này:
1. Cái cảm giác đương bị đè ép xuống bởi một ngọn núi, không phải là bạn đương bị đè ép xuống bởi một ngọn núi. Đó là khi các đại của bạn đang hòa nhập. Hãy đừng sợ hãi chuyện đó!
2. Cái cảm giác đương bị sập bẫy trong bóng tối, không phải là đang bị sập bẫy trong bóng tối. Đó là khi năm quan năng của bạn đang hoà nhập!
3. Cái cảm giác đương bị buông rơi vào trong vô tận của hư không, không phải là bạn đương bị buông rơi. Đó là tâm của bạn không có cái gì để nương nhờ, bởi thân và tâm của bạn đã ly biệt và hơi thở của bạn đã ngừng lại.
Vậy bạn phải cố gắng nương vào câu Phật hiệu không gián đoạn để tâm của bạn không bị mê mờ bởi những cảm giác hư vọng này. Tất cả những quang cảnh, các hình tướng, các âm thanh, ánh sáng đều là của chính bạn, đều là do tâm của bạn ảnh hiện bởi do nghiệp lực chiêu cảm. Hãy đừng nghi hoặc gì về điều đó.
 
Nếu bạn cứ cảm thấy nghi hoặc, bạn sẽ bị ném trở vào trong sinh tử luân chuyển. Hãy quyết định sáng tỏ hơn để thấy đó chỉ là chuyện tự diễn-hiện, và nếu bạn nương nhờ an trú vào câu Phật hiệu (nó cũng chính là tính viên minh trong chân không diệu hữu quang minh biến chiếu), trong tính chân không diệu hữu quang minh biến chiếu đó bạn sẽ chứng đạt ba thân – Pháp thân, Báo thân, Ứng Hoá thân – và trở thành giác ngộ. Ngay lúc đó dù nếu bạn có bị ném vào trong sinh tử luân chuyển, bạn cũng sẽ không đi vào đó.
 
Bạn nên biết rằng A Di Đà Phật chính là vị Phật bảo hộ và cũng là tự tánh hiện hữu của bạn để duy trì tâm bạn với chánh niệm không bị tán loạn. Từ thời điểm này, điều rất quan trọng là ở trạng thái không mong cầu và sợ hãi gì cả, không chấp và thủ đối với tất cả các đối tượng và quan năng của sáu thức, cũng như đối với những dẫn dụ mê đắm, hạnh phúc và sầu muộn. Và từ bây giờ trở đi, nếu bạn đã đạt “tịnh chỉ an định”, bạn sẽ có thể bắt đầu có khả năng đảm lĩnh bản tính ở trong trung hữu và trở thành giác ngộ. Thế nên điểm tối yếu cho sinh mệnh của tuệ mệnh là chấp trì câu hồng danh A Di Đà Phật liên tục, không gián đoạn, không tán loạn từ chính thời điểm này.
 
Ma chướng cùng sinh là tập khí hiện tại đưa đến vô minh, nghi hoặc và do dự của bạn. Nên vào lúc ở tử địa, bất cứ hiện tượng dễ sợ nào xuất hiện, thí dụ như những âm thanh, những màu sắc và những ánh sáng, hãy đừng bị mê đắm dẫn dụ, hãy đừng nghi hoặc và hãy đừng sợ hãi. Nếu bạn bị rơi vào nghi hoặc dù chỉ một thời điểm, bạn sẽ lang thang trong cõi sinh tử luân chuyển, vì thế nên hãy đạt được “tịnh chỉ an định” hoàn toàn, không thay đổi và không bị chấm dứt bất thình lình.
 
Ở thời điểm này, những lối dẫn vào tử cung (cửa ngõ tái sinh) hiện ra như những cung điện cõi trời. Hãy đừng bị tham luyến đối với chúng. Hãy tin chắc chắn vào điều nhận biết sáng tỏ thấu suốt đó. Hãy tự tại, không mong cầu và sợ hãi! Vào thời điểm đó, tính giác viên minh trong sáng thấu suốt của chính bạn (tự lực) cùng với quang minh tiếp dẫn của Phật A Di Đà (tha lực) sẽ là cộng lực cứu độ bạn.
 
Khi đạt được Pháp thân giống như hư không cho lợi ích chính mình, bạn sẽ thành tựu lợi ích cho tất cả hữu tình trong tận hư không vô lượng pháp giới. Bạn có thể hoá hiện các thứ báo thân và ứng hoá thân làm lợi ích cho tất cả hữu tình trong tận hư không vô lượng pháp giới, và lúc ấy tâm của bạn sẽ lan tỏa vạn hữu vô tận xứ.
 
Kết Luận:
 
Do vì tâm của chúng ta quá xa rời với giác ngộ và tỉnh thức, do vì nghiệp chướng và tội ác của chúng ta quá nhiều đến không thể tính kể, phước báu thì quá nhỏ bé như hạt mè. Do vì tập khí tham, sân, si, mạn, nghi của chúng ta quá nặng nề tạo thành một màn vô minh dầy đặc bao trùm che phủ Như Lai tánh thường chiếu.
 
Cho nên, ngay trong cuộc sống hiện tại chúng ta phải gặp nhiều ngang trái khổ đau, gặp nhiễm các thứ hồ đồ lộn xộn; cho đến lúc lâm chung, chúng ta không biết nơi nào để đi, chỗ nào để đến, phó mặc cho nghiệp lực dẫn dắt tiếp tục lang thang trôi trong sáu nẻo luân hồi sanh tử.
 
Nay nhờ chút phước mọn sót lại, chúng ta gặp được pháp môn niệm Phật quảng đại thù thắng của Phật A Di Đà do Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật tự trao truyền chỉ dạy. Những người có đại tín thành, đại nguyện lực, tinh tấn dõng mãnh, và thông tuệ, những người luôn nhớ đến thầy của họ là Ðức Thích Ca Mâu Ni Phật, những người luôn tín nhiệm vào Phật A Di Đà, những người thân tâm nỗ lực trong thực hành, những người có tâm an tịnh, và có khả năng buông bỏ các mối quan tâm đối với thế giới này. Ðây là những người được tất cả các Đức Như Lai đồng thanh khen ngợi; vì họ, ở trong đời trước, đã từng gặp Phật quá khứ quy y, chiêm bái, cúng dường và họ cũng đã từng được Phật thọ ký Bồ Đề. Những người tin nhận và chân thật tinh tấn tu tập giáo pháp này là những người được thừa hưởng của cải vô tận của các Đức Như Lai trong mười phương ba đời. Tại sao? Vì giáo pháp này đều được tất cả các Đức Như Lai trong mười Phương Thế Giới, mà mỗi Thế Giới lại có vô số vô lượng các Đức Như Lai nhiều như cát của sông Hằng, đồng thanh khen ngợi và tán thán không thể nghĩ bàn, không có sai khác.
 
Ánh Sáng Trí Tuệ và Từ Bi
 
Đức Thế Tôn nói, lúc lâm chung nếu tâm của chúng sanh có 5/10 phần tình (vọng tưởng, vô minh, phiền não, sân giận ...) và 5/10 phần tưởng (thanh tịnh, sáng suốt, hoan hỷ, từ bi ...), thì sẽ tái sanh vào cõi Người. Nếu phần tình nhiều hơn phần tưởng sẽ bị rơi vào ba đường ác đạo; và ngược lại nếu phần tình ít hơn phần tưởng thì sẽ được sanh vào cõi phước báo cao hơn như: A-tu-la, Trời, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát hay Phật.
 
Cõi Người mà chúng ta đang sống, giống như một ranh giới đứng giữa bóng tối và ánh sáng. Bóng tối là vô minh, tội lỗi, sân giận và phiền não; còn ánh sáng là trí tuệ và từ bi. Hằng mỗi sát na trong cuộc sống ở thế gian này, chúng ta đều đang chịu ảnh hưởng bởi thế lực trái nghịch của hai năng lượng này.
 
Mục đích chánh yếu của sự rèn luyện và tu tập trong đạo Phật là kết tập năng lượng thanh tịnh và từ bi ở trong nội tâm của chính mình, để phát triển phần tưởng vượt cao hơn phần tình, xa lìa bóng tối vô minh, và tiến sâu hơn vào trong ánh sáng của trí tuệ và từ bi. Khi đã được sống trong ánh sáng của trí tuệ từ bi rồi thì phải duy trì và phát khởi tác dụng quy lực của ánh sáng năng lượng vô biên này, trước là vì tự lợi sau là lợi tha.
 
“Phát tâm Bồ Đề, nhất tâm niệm Phật” là phát huy năng lượng ánh sáng trí tuệ và từ bi ở trong nội tâm, và cũng là duy trì và khởi tác dụng của năng lượng của ánh sáng này đến khắp quần sanh. Câu Phật hiệu A Di Đà có năng lực phá tan bóng tối của màn đêm ưu não, và làm cho không gian xung quanh xán lạn thơm ngát. Những chúng sanh hữu tình hay vô tình nào lọt vào khoảng không gian này, nghe đặng âm thanh, ngửi được hương thơm thảy đều an lạc mà phát khởi tâm từ  hành thiện. Người niệm Phật phát tâm Bồ Đề, từ bi, thanh tịnh, chánh trực và bình đẳng càng rộng xa bao nhiêu, thời không gian ảnh hưởng của ánh sáng trí tuệ từ bi này lại càng to lớn bấy nhiêu. Đấy cũng là nguyên nhân tại sao mà ánh sáng quang minh của Đức Phật A Di Đà lại được Phật Thích Ca Mâu Ni và mười phương chư Phật, xưng dương tán thán là “Quang Trung Cực Tôn. Phật Trung Chi Vương!”
 
Thường ngày trong cuộc sống, chúng ta đã và đang lãng phí rất nhiều năng lượng với những duyên trần và làm tay sai cho nó, chẳng hạn như những vọng niệm, tham muốn, tức giận, bất mãn... Tham lam và tức giận là trạng thái của nội tâm không được hài hòa ngay với chính mình và thế giới bên ngoài, tạo ra năng lượng bóng tối, tự gây khó khăn và chướng ngại duyên Phật của mình. Nên người niệm Phật phải luôn hoan hỷ và tự tại đối với tất cả các pháp, xem mọi ngoại cảnh thuận hay nghịch chỉ là sự thử nghiệm sức ‘định huệ’ của mình.
 
Nếu bạn không thể buông xả và tha thứ, mà lại tìm kiếm bất kỳ hình thức nào đó để trả thù hay chống trái lại đối phương (người gây phiền não cho bạn), thì bạn và họ đều như nhau. Vì nếu bạn tự nhận là nạn nhân của họ, tức bạn và họ sẽ cùng nhau liên kết hình thành ra năng lượng xấu ác, tạo ra màn bóng tối sân giận bao trùm cái không gian sinh hoạt nhỏ hẹp của bạn và những người cùng liên kết tạo nghiệp ấy. Họ có thể không xứng đáng được nhiều thiện cảm từ nơi bạn bởi những ý nghĩ, lời nói và hành động tàn ác của họ đối với bạn. Nhưng nếu bạn có trí tuệ và lòng từ bi, bạn sẽ hiểu mà không cùng họ liên kết tạo nghiệp, không tạo cơ hội cho bóng tối thêm phần dầy đặc. Muốn vậy bạn thường nên tư duy rằng: “Ta là một Phật tử (con Phật), và sẽ là một vị Phật trưởng thành trong tương lai. Do đó, ta phải học tập và vận dụng khả năng đang có để phát huy năng lượng của ánh sáng trí tuệ và từ bi để phá tan màn đêm u tối cho chính mình và mọi loài. Sự thành tựu này có được là do ở công phu buông xả và sự tu tập nghiêm mật để thành tựu sức ‘định huệ’.”
 
Có những người, tuy có kinh nghiệm tu tập, thông rõ các pháp học và hành của Phật giáo, nhưng vì tập khí vô minh hiện hữu từ vô thỉ vẫn chưa hết sạch, nên đôi khi có những hành động ngược với ‘tự tánh’ để bị rơi vào trong bóng tối. Nhưng nhờ vào sự huân tập hằng ngày nên họ có khả năng đảm lãnh nhanh chóng nhận biết về sự sai lạc, liền tự quay trở về với ánh sáng. Do sự giác ngộ nhanh chóng này, ác nghiệp chưa đủ duyên để thành hình, xem như họ vượt qua được những thách thức. Nên việc tu tập thường ngày như phụng kinh, trì giới, niệm Phật hay thiền định v.v... đều là những phương pháp do Phật và chư Tổ khuyên dạy, nhằm giúp chúng ta duy trì chánh kiến và sức định huệ, để luôn hiện hữu trong ánh sáng của trí tuệ từ bi.
 
Hòa Thượng Tịnh Không nói: “Thỉnh Phật trụ thế,” trong Phổ Hiền Thập Đại Nguyện Vương, cũng có nghĩa là phát khởi Phật tánh của chính mình ngay ở trong thế gian này. Nói cách khác, nếu chúng ta có thể thân chứng và phát khởi được Phật tánh trong thế giới ô trược này thì coi như đồng nghĩa với việc làm “thỉnh Phật trụ thế.” Cho nên, ‘thỉnh Phật trụ thế,’ không hẳn phải là thỉnh một vị Phật nào khác ở bên ngoài, mà nó bao gồm luôn cả vị Phật trong tự tánh của chính mình. Để thỉnh được vị Phật trong tự tánh của mình trụ thế, chúng ta phải tu chứng pháp Tam Muội (Chánh Định).
 
Trong kinh “Ðại Phương Ðẳng Như Lai Bất Tư Nghì Cảnh Giới”, Ngài Đức Tạng bạch với Ngài Phổ Hiền Đại Sĩ rằng: “Nếu có người muốn chứng tam muội cần phải tu phước đức bố thí, trì giới, trí huệ ra làm sao? Cúi xin ngài dạy bảo!”
 
Phổ Hiền Bồ Tát, là bậc hiện thân thành Chánh Giác giáo hóa chúng sanh khắp các thế giới thanh tịnh trong mười phương, bảo với ngài Đức Tạng rằng: “Nầy Phật tử! Nếu có người nào muốn chứng tam muội nầy trước tiên hết nên tu phước tích chứa căn lành là nên hằng thường cúng dường Phật, Pháp, Tăng và cha mẹ, luôn luôn chở che săn sóc cho tất cả kẻ nghèo cùng khổ sở không được ai cứu giúp không nơi nương tựa rất đáng thương xót, chính ngay thân thể mình cũng không tiếc rẻ. Tại sao? Vì cúng dường Phật được phước đức vĩ đại mau thành tựu trí giác vô thượng và cũng được năng lực làm cho chúng sanh đều được an lạc. Cúng dường pháp được báo trí huệ tăng trưởng chứng pháp tự tại có khả năng thấu rõ thật tánh của tất cả pháp. Cúng dường chư Tăng được tăng trưởng vô lượng tài sản phước đức trí huệ thành tựu được Phật đạo. Cúng dường cha mẹ, hòa thượng, tôn sư và các vị mà mình nhờ cậy, đó là những bậc có công ơn lớn nên phải thường nhớ đến thâm ơn, luôn nghĩ các báo đáp lại bội phần. Tại sao? Vì kẻ biết ơn dù ở trong sanh tử nhưng căn lành không bao giờ hư hoại, còn kẻ không biết ơn căn lành diệt mất sẽ tạo tác nghiệp ác, vì thế đức Như Lai ca ngợi kẻ biết ơn chỉ trích người vong ơn. Lại còn thường thương xót cứu giúp các chúng sanh khổ sở, Bồ Tát do căn lành rộng lớn nầy, không bao giờ thối thất nơi trí giác vô thượng.”
 
Nếu bây giờ bạn thật sự có cảm nhận tất cả chúng sanh muôn loài (vô tình và hữu tình) đều là Phật, đều là các bậc đáng được bạn cung kính cúng dường, là bạn đã đạt đến mức độ làm chủ của ánh sáng vô lượng, dầu ở bất cứ cảnh giới nào đi hay ở thì cảnh báo tuyệt vời, hương thơm và những ánh sáng vẫn luôn tỏa khắp. Lại nữa, nếu bạn còn có chủ ý đánh thức chúng sanh mau giác ngộ để cùng được giải thoát, tức bạn đang duy trì vững chắc trên con đường nhất định, đó là con đường thẳng tắp bảo đảm tiến tới thành Phật.
 
Nhờ vào Chánh Kiến, sức Định Huệ và lòng Từ Bi vô hạn của bạn, trong bất kỳ tình huống nào xảy ra, trực tiếp hoặc gián tiếp, bạn sẽ luôn giải quyết mọi việc một cách mạnh mẽ nhanh chóng, vì bạn đã quẳng lại sau lưng các nguồn năng lượng thấp kém của bóng tối, nên bạn rất vững chắc và rõ ràng trên con đường thẳng tiến tới thành Phật.
 
Thực tế, nhiều bạn cũng mong muốn đạt tới cảnh giới thuần thiện tinh khiết, nhưng nó lại là nguyên nhân gây ra mâu thuẫn giữa bạn với gia đình, người thân thuộc và bè bạn. Do điều kiện của bạn trong cuộc sống hiện tại trên trái đất này, làm những mối quan hệ gần gũi của bạn đối với những người thân yêu bị hạn chế – đặc biệt là khi bạn có xu hướng muốn nhập thể cùng với một nhóm hữu tình thiện-trí-thức – tất bạn sẽ gặp phải sự mâu thuẫn và nhiều khó khăn. Trong thực tế, những mối quan hệ tương quan thương ghét, thân thù… đều được hình thành do nghiệp nhân quả báo mà bạn cùng với những người thân thuộc đã cùng nhau kết tập từ trong thời gian rất dài ở quá khứ, có thể nói là từ nhiều đời nhiều kiếp trước.
 
Nhưng không thể vì những khó khăn này mà bạn đầu hàng, bạn phải có lòng tin mãnh liệt thuận theo cái sở nguyện riêng của chính mình để tiến đến mục tiêu vãng sanh thành Phật. Trong thời gian tự lực để thực hành đạo giải thoát, bạn sẽ tìm kiếm ra những người bạn thật sự (thiện trí thức) giúp bạn không bị lôi kéo bởi những ý kiến ​​của người không cùng chung chí hướng. Và sự cần thiết để giúp thăng hoa con đường đi của bạn là thường xuyên thúc liễm thân tâm bạn, cũng như giúp đỡ những người khác cùng thực hành như vậy. Bạn nên tôn trọng cũng như tuân theo trực giác của chúng sanh quanh bạn hầu giúp đỡ họ, chính nhờ vào sự liên kết tình yêu với lòng từ bi rộng lớn ấy sẽ giúp cho mọi việc dễ thành tựu.  “Từ bi biến pháp giới, thiện ý khắp nhân gian,” vì vậy mà Ngài Phổ Hiền Đại Sĩ đã dạy chúng ta nên “hằng thuận chúng sanh”.
 
Trong tương lai nếu bạn thành đạo, với ‘túc mạng thông’ bạn sẽ hiểu ra rằng: người bạn thù oán nhất lại chính là người mà bạn đã từng thân thiết nhất trong những đời trước. Có ‘tha tâm thông’ thì những người thân yêu của bạn, dầu ở trong bất cứ cảnh giới nào, cũng sẽ không bao giờ rời xa tầm mắt của bạn. Hơn thế nữa, lòng bàn tay của bạn có thể nắm trọn cả ‘tam thiên đại thiên thế giới,’ không có một tâm ý nào của chúng sanh mà bạn chẳng biết đến, không có một pháp nào để giáo hóa chúng sanh mà bạn chẳng thông rõ.
 
Khi bạn phát khởi được tâm tứ vô lượng (từ, bi, hỷ, xả), bạn có thể bắt đầu cảm nhận thấy được nhiều điều tốt hơn về cuộc sống. Niềm vui và hạnh phúc của bạn là luôn biết tri ân, cung kính và thương yêu. Bạn sẽ có năng lượng ánh sáng với tầm thước cao hơn, đó là hạnh phúc chân thiện mỹ. Bạn cũng sẽ cảm thấy yêu tất cả mọi thứ xung quanh bạn, đó là sự phấn khởi và yên bình, cho dù bạn rời bỏ để đi đến nơi nào khác, bạn vẫn hiện hữu trong ánh sáng đó mãi mãi.
 
Ánh sáng của trí tuệ và từ bi là nguồn năng lượng tạo ra hòa bình và sự hòa hợp tồn tại ở khắp mọi nơi. Nó tương tự như kinh nghiệm của một số bạn khi ra khỏi cơ thể và nhập vào các khu vực rộng lớn đầy ánh sáng, rời xa những cảnh ngục tù u tối. Với năng lực của ánh sáng vô tận này, bạn có thể cứu độ muôn loài chúng sanh hữu tình hay vô tình bằng cách khôi phục lại sự cân bằng giữa họ với thiên nhiên, và cùng hòa hợp với tất cả các dạng sống khác trong đại vũ trụ không cùng tận bao la.
 
Tôi tin tưởng rằng Phật tử chúng ta, theo sự giáo hóa của Phật đà, đã và đang nâng cao trái tim và trí tuệ của mình. Do đó, khi chúng ta giúp đỡ hữu tình với lòng từ bi không điều kiện, chúng ta luôn mong muốn họ nhận được những gì tốt đẹp nhất, đó là ánh sáng của ‘Trí Tuệ và Từ Bi’.
 
Khuyến Tấn Huynh Đệ Đồng Tu Niệm Phật Cầu Sanh Tây Phương
 
Kính gửi đến anh chị,
 
Hôm nay được nói chuyện với chị qua điện thoại, em nhận thấy chị tâm hồn tỉnh táo, thảnh thơi vui vẻ, tư thế sẵn sàng xả bỏ xác thân thế tục, nhất hướng chuyên niệm A Di Đà Phật, chờ ngày vãng sanh. Lại nữa, chị có anh V., con cháu và bạn bè bên cạnh hết lòng hỗ trợ chị niệm Phật, thật là phước đức lớn, khó ai sánh bằng. Nhân duyên vãng sanh của chị xét ra rất là thuận lợi về cả hai mặt tự lực và tha lực.
 
Người chưa có tín lực trong pháp môn niệm Phật thì sợ chết; người có đầy đủ Tín-Nguyện-Hạnh, ngược lại, mong sao cho chóng vãng sanh thành tựu đạo cả. Vì vậy, anh V. và các cháu nên lưu ý, khi nghe bác sĩ cho biết thời gian của chị L. sắp ra đi, phải nên cho chị biết trước để có chuẩn bị tinh thần càng sớm càng tốt. Lúc đầu, chị L. có thể bị hoang mang sợ hãi, nhưng chỉ trong chốc lát sẽ hồi tỉnh và chấp nhận số mệnh sẵn bày. Nếu chị L. biết ngày ra đi quá trễ, chị sẽ không có đủ thời gian để chuẩn bị và an định tinh thần mà rốt ráo niệm Phật cầu sanh Cực Lạc. Khi người niệm Phật biết mình không còn sống bao lâu nữa, sức niệm Phật của họ sẽ tự nhiên gia tăng “ghê lắm”, có thể đạt đến chỗ nhất tâm bất loạn, vì họ chỉ có một con đường tốt nhất để đi, không còn sự lựa chọn nào khác. Anh V. và các cháu nhớ dùm cho điều nầy nhé! đừng nên dấu chị L., làm chị không đủ thời gian để chuẩn bị.
 
Trong chúng ta, có nhiều người đã nghe hoặc tận mắt thấy nhiều người do công phu niệm Phật đắc lực, được vãng sanh rất tự tại, biết trước giờ giấc ra đi, không một chút bệnh hoạn, gương mặt tươi đẹp hơn lúc bình thường. Cũng có nhiều người vào lúc sắp lâm chung, gặp được Thiện-trí-thức khai thị pháp môn niệm Phật, rồi phát lòng Tín-Nguyện-Hạnh niệm Phật cầu sanh Cực Lạc; sau đó vượt qua khỏi mọi ách nạn và nghiệp chướng, và cũng được vãng sanh tự tại. Chúng ta là hạng người nào giữa hai bậc vãng sanh trên? Nếu chúng ta còn có những suy nghĩ tham sống sợ chết, luyến tiếc trần cảnh thì e rằng “Hạ Hạ phẩm vãng sanh” cũng không có phần, rồi phải chịu trôi lăn mãi trong lục đạo luân hồi.
 
Tổ Ấn Quang Đại Sư đã dạy chúng ta phải lấy chữ “Tử” làm trọng đại, không phải là dạy chúng ta sợ chết, xa lánh cái chết, mà Ngài dạy chúng ta phải sáng suốt và phải có chuẩn bị thiết thực để lúc lâm chung có thể bình tĩnh và an nhiên thanh tịnh niệm Phật cầu vãng sanh Cực Lạc, vượt qua khỏi sanh tử luân hồi, nhập vào hàng Thánh.
 
Hòa Thượng Tịnh Không nói: “Pháp môn Niệm Phật không có sanh tử, vãng sanh không phải là chết, vãng sanh là sống mà ra đi. Còn chết là không thể Vãng Sanh”. Cho nên pháp môn nầy thật sự là “pháp môn không sanh, không diệt”, là “pháp môn tối thượng” như lời Thế Tôn tuyên bố.
 
Người niệm Phật tinh chuyên, chí nguyện kiên cố và sâu rộng, có lòng tín nhiệm nơi Phật A Di Đà, vào lúc lâm chung sẽ rất tỉnh táo, không kinh không sợ, tâm không điên đảo. Lúc đó, họ không cần cái xác thân tạm bợ vô thường nầy nữa. Lúc ấy, họ rất là vui mừng vì sắp được thấy Phật A Di Đà, Quán Âm, Thế Chí và chư vị Thánh Chúng tới rước. Khi lên đến cõi Tây Phương Cực Lạc rồi, họ sẽ được một thân tướng trang nghiêm đẹp đẽ y như đức Phật A Di Ðà. Như vậy, đâu thể gọi là chết, mà phải gọi cải tử hoàn sanh. Sống ở thế gian nầy luôn phải chịu đựng tám khổ đè nặng trên thân lẫn tâm, sống không bằng chết, chẳng có gì để vui thích. Xả bỏ được xác thân thế tục, vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc sẽ vĩnh viễn không còn chết và luôn thọ hưởng những sự vui sướng khoái lạc, thanh tịnh tối cực; vậy mới gọi là “thật sự cải tử hoàn sanh”.
 
Pháp môn niệm Phật là “Pháp môn Vô Lượng Thọ”, là “Pháp môn không già, không bệnh, không chết”. Chúng ta phải nên vững lòng, an tâm, dừng bước, lắng lòng nhất hướng chuyên tâm niệm danh hiệu Phật. Chỉ cần chuyên tâm niệm Phật, thì mọi chuyện khổ đều không còn nữa, thân tâm thanh tịnh, sắc mặt tự tại, hồn nhiên vui vẻ.
 
Hiện giờ chị L. còn đang mang cái nghiệp báo thân này, sống chết chẳng đặng theo ý muốn. Chị đã phát tâm niệm Phật cầu sanh Cực Lạc, và cũng đã cố gắng buông xuống hết rồi, chỉ còn câu hồng danh A Di Ðà Phật với niềm vui đạo hạnh tràn ngập trong lòng, đó gọi là pháp hỷ sung mãn. Điều cần thiết lúc nầy là: hoan hỷ vui vẻ, chuyên cần công phu niệm Phật cho thành khối; điều nầy sẽ giúp cho chị không còn bị ràng buộc bởi cái khổ của bệnh và chết nữa, chừng đó sanh tử tự tại, sự vãng sanh hoàn toàn mang theo ý nghĩa cao đẹp – thành Phật để cứu độ chúng sanh.
 
Người tu đạt đến mức biết mình sắp lâm chung mà vẫn an nhiên tự tại, như chị L. vậy, là người hội tụ đủ phước báo để được sanh về thế giới Tây Phương Cực Lạc. Người lão thực niệm Phật này, khi biết số mạng của mình không còn nữa, họ mong sớm được lên Tây Phương Cực Lạc để mau được nghe kinh pháp do Phật diễn xướng, gần gũi vạn ức Phật tu tập các pháp công đức, chóng thành Phật đạo. Sau khi lên đến thế giới Cực Lạc rồi, mỗi ngày đều được thấy Phật, được cúng dường vô lượng hằng hà sa số Phật, và có thể phân thân trở lại thăm thế gian bất cứ lúc nào. Có gì tự tại và vui sướng hơn nhỉ!
 
Thế giới Tây Phương Cực Lạc có đầy đủ vô lượng công đức trang nghiêm, thanh tịnh và đẹp đẽ. Phước báo tự nhiên đầy đủ, chẳng tơ hào ác, mọi nơi mọi vật đều là những thành tựu tốt đẹp. Chúng ta tranh thủ đi cho sớm nhé!
 
Chúng ta phải nên sáng suốt nhận thức sự thù thắng không thể nghĩ bàn của Phật A Di Đà, Thế Giới Cực Lạc và pháp môn niệm Phật, để tăng trưởng thêm niềm tin và thiện căn của mình hầu đem hết tâm nguyện của mình ra niệm Phật cầu sanh Tịnh Ðộ, chắc chắn sẽ được thành tựu.
 
Tâm Ngã Mạn
 
Phàm phu chúng ta vì quên mất tự tánh, nên tự tánh liền biến thành A-lại-da thức, trong A-lai-da-thức có Mạt-na thức sanh ra bốn thứ phiền não là ngã kiến, ngã ái, ngã si và ngã mạn. Trừ các vị đã chứng được quả A La Hán trở lên mới không còn tâm ngã mạn, tất cả các loài từ Trời trở xuống đều còn có tâm ngã mạn. Ngã mạn là vọng tưởng sanh sanh diệt diệt trong tâm của chúng ta không ngừng; theo như lời dạy của đức Di Lặc Bồ-tát: vận tốc sanh diệt của vọng tưởng trong tâm chúng sanh nhanh như thời gian của khoảng khảy móng tay. Chúng ta là phàm phu, do đó ai cũng có lòng ngã mạn, nhưng cường độ ngã mạn có khác nhau, có thô và có vi tế.
 
Người tu hành mà có lòng ngã mạn thì thường gặp ba thứ chướng ngại như sau:
 
· Người ngã mạn, dù cho thường đọc tụng kinh điển Phật, nhưng không thực hành được bởi do tâm ngã mạn. Tại sao? Vì họ không y giáo phụng hành, không làm theo đúng lời Phật dạy, tức là còn ngã mạn, còn chưa tin lời Phật dạy. Trong kinh Pháp Hoa Phật nói: “người tin ta, mà không làm theo lời ta dạy là người phỉ báng ta”.
· Người ngã mạn thường sanh tâm đố kỵ, ganh ghét người giỏi hơn mình và thành công hơn mình, hay phá hoại việc làm của người khác bằng lời nói và hành động. Họ tự ngăn ngại tâm thanh tịnh và từ bi của chính mình.
· Người ngã mạn thường sanh lòng tham dục vì muốn hơn người.
 
“Hoà thuận” là hai pháp dùng để đối trị tâm ngã mạn. Để có thể thực hiện được pháp “hoà thuận”, đức Phật lại dạy bốn pháp để nhiếp thọ chúng sanh, được gọi là Tứ nhiếp pháp. Tứ nhiếp pháp gồm có: Bố thí nhiếp, ái ngữ nhiếp, lợi hành nhiếp và đồng sự nhiếp.
 
1.Bố thí nhiếp có nghĩa là sự quan tâm, sự bố thí vô úy, khác với ý nghĩa của bố thí trong Lục Độ. Thí dụ: hiếu khách, tán thán, cám ơn, khuyên lơn, an ủi, tặng quà  v.v… là cách bố thí trong Tứ nhiếp pháp.
2.Ái ngữ nhiếp không phải là lời nói ngọt ngào nịnh bợ, mà là lời nói chân thật, thương yêu và từ bi.
3.Lợi hành nhiếp là làm những việc làm có lợi ích chung cho mọi người, lợi ích cho xã hội, lợi ích cho chúng sanh, không tự tư tự lợi. Tự tư tự lợi là tham, xem ra như có lợi ích trước mắt, nhưng đến lúc phải thọ quả báo, rơi vào chốn hỏa ngục, thì hối hận cũng không kịp. Lợi người mới là lợi mình. Tự lợi cho riêng mình là ác pháp, tự làm hại lấy chính mình.
4.Đồng sự nhiếp có nghĩa là làm cùng sự nghiệp với chúng sanh hữu tình, cùng lợi ích như nhau, cùng công việc khổ vui (nghiệp); gần gũi chúng sanh, dùng pháp nhãn thấy rõ căn tánh chúng sanh như thế nào, rồi tùy thuộc vào những thân căn y báo chánh báo cùng cái khổ cái vui của họ mà thị hiện thân hình ứng vào những thân căn đó mà hiện thân cứu vớt đưa họ vào chánh đạo, khiến cho họ cũng được những lợi ích. Cách thức Đồng sự nhiếp nầy chỉ có Phật Bồ-tát mới có thể làm được, phàm phu chúng ta không làm nổi. Chúng ta nhận biết cách làm nầy qua lịch sử của Phật Thích Ca Mâu Ni Phật. Ngài thị hiện ở thế gian nầy với thân của chúng sanh và phải chịu các thứ khổ vui như chúng sanh để giáo hoá họ  … Chúng sanh thấy Ngài có cần khổ tu hành và thành đạo, nhưng đối với Ngài thì không có vui và cũng chẳng có khổ, vì Ngài đã vượt qua tất cả các pháp đối đãi của thế gian.
Trong cuộc sống gia đình, đối với cha mẹ, vợ chồng, con cái, nếu chúng ta biết dùng Tứ nhiếp pháp để ứng xử, thì gia đình sẽ được an vui và hạnh phúc mỹ mãn. Trong đoàn thể cộng đồng xã hội, tăng đoàn hay đạo tràng v.v… nếu chúng ta thực hành Tứ nhiếp pháp, thì tập thể nầy sẽ được đoàn kết và có sức mạnh thành tựu mọi việc làm. Tóm lại, Tứ nhiếp pháp là pháp tu giúp chúng ta phá trừ tánh ngã mạn để có thể hằng thuận với chúng sanh.
Bồ-tát luôn thị hiện ở thế gian, luôn biểu diễn Tứ nhiếp pháp một cách viên mãn để cho chúng ta nương theo mà học tập. Các Ngài thị hiện với thân người giống như chúng ta, sinh sống lẫn lộn với chúng ta để dẫn dắt chúng ta vào Phật đạo. Việc nầy được Phật Thế Tôn nói trong kinh Vô Lượng Thọ như sau: “Trong cõi Phật đó, tất cả Bồ Tát, hiện tại vị lai, đều đang rốt ráo, nhất sanh bổ xứ. Duy trừ nguyện lớn, vào cõi sanh tử, vì độ quần sanh, làm sư tử hống, khoác đại giáp trụ, công đức hoằng thệ, dùng tự trang nghiêm. Tuy rằng sanh vào, đời ác năm trược, thị hiện giống họ, thẳng tới thành Phật, không thọ hướng ác, sanh đâu cũng thường biết mạng đời trước”.
 
Bồ-tát thị hiện ở thế gian, có lúc là người hiền minh làm gương mẫu, có lúc là người xấu ác để cảnh tỉnh, giúp chúng sanh nhận ra lý nhân quả mà làm lành tránh ác. Do đó, đối với người hiền hay dữ, tốt hay xấu, khiêm nhường hay ngã mạn, chúng ta đều phải chân thành và bình đẳng cung kính họ, chớ nên xem thường khinh dễ họ. Nếu chúng ta có lòng khinh thường người làm ác, chúng ta cũng chính là người có tâm ngã mạn. Có một điều mà chúng ta phải nên luôn hết sức thận trọng là: chớ nên vọng tưởng tự xem mình là Bồ-tát hay Nhất Sanh Bổ Sứ thị hiện cứu độ chúng sanh; bởi lẽ, khi chúng ta khởi lên cái tâm này, thì chúng ta đích thực là người ngã mạn. Vọng tưởng nầy rất là thường xảy ra với những người làm được các pháp lành, rồi xem thường người khác chưa làm được … Lại nữa, Bồ-tát có thể thị hiện là người xấu để giáo hoá chúng sanh, nhưng chúng ta không phải là Bồ-tát, nên không thể bắt chước các Ngài mà làm như vậy. Chúng ta chỉ có thể bắt chước những điều tốt lành và âm thầm quán chiếu những việc xấu ác để không bị phạm lổi.
 
Phật dạy chúng ta Tứ nhiếp pháp để đoạn trừ tâm ngã mạn, nếu chúng ta thường áp dụng pháp nầy trong cuộc sống hằng ngày, tâm ngã mạn của chúng sẽ dần dà giảm bớt, tánh đức và phước báu sẽ được hiển lộ, mọi nguyện ước sẽ được thành đạt mà không cần phải mong cầu ở bất cứ nơi nào khác.
 
Vì thế, trong kinh Vô Lượng Thọ, Phật dạy rằng:
 
“Tự tánh bản nhiên vốn sẵn thanh tịnh, chí nguyện vô thượng, thân tâm tịch định an lạc. Hốt nhiên khai đốn, minh bạch triệt ngộ, thấu được Thật Tướng các pháp, bản thể vũ trụ. Tự nhiên quang sắc xen nhau biến hiện như như, chuyển biến tối thắng. Uất Đan Việt tự nhiên thành bảy báu, từ hư không tự nhiên hiện ra vạn vật, hiển lộ từ Quang Minh tạng tinh diệu sáng sạch, tốt lành thật khôn sánh, tỏ soi không trên dưới, thông suốt không ngằn mé. Nỗ lực tự cầu đạo, tự thân siêng tinh tấn, ắt quyết được siêu tuyệt, vãng sanh cõi vô lượng thanh tịnh của Phật A Di Đà. Chặt ngang dứt năm đường, ác đạo tự đóng lấp.”
 
Trong kinh Vô Lượng Thọ, phẩm 20, Gió đức mưa hoa, có đoạn kinh văn: “Gió lại thổi qua rừng cây bảy báu, cuốn hoa rơi kết lại thành vầng, từng sắc từng quang, trải khắp cõi Phật. Hoa lần lượt tụ lại riêng biệt từng màu, chẳng xen tạp loạn, nhu nhuyễn sáng sạch, như Đâu La Miên. Chân giẫm trên hoa, lún sâu xuống bốn ngón, khi giở chân lên, hoàn phẳng như cũ. Quá khỏi giờ ăn, hoa ấy tự mất, mặt đất thanh tịnh, lại mưa hoa mới. Tùy thời tùy tiết, tuần hoàn trọn khắp như trên chẳng khác, như vậy sáu thời cho mỗi ngày đêm.”
 
Phật học là nội học; do đó, tất cả những gì Phật dạy đều quy hướng về Tâm: cảnh cũng là tâm, tướng cũng là tâm, âm thanh cũng là tâm, hương thơm cũng là tâm v.v… Tánh Tướng Đồng Nguyên: trong Tướng thấy Tánh, trong Tánh thấy Tướng, sự sự vô ngại. Lại nữa, cảnh giới Tây Phương thù thắng, từng thứ từng thứ một đều là Pháp của A Di Đà Phật dùng để giáo hoá chúng sanh trong cõi nước ấy. Dựa trên căn bản hiểu biết này, khi ta thấy tướng mà không dính mắc vào tướng thì liền hiểu được bí tạng (mật tạng) của kinh Phật và liễu ngộ được tự tâm. Pháp Phật nhiệm mầu, thâm sâu và vi diệu vô cùng tận, không thể dùng lời nói văn tự mà diễn tả cho hết, chỉ phải dụng tâm mà quán niệm. Vài đặc điểm của đoạn kinh văn trên xin được trình bày dưới đây, trong góc độ tư duy của riêng tôi, để chúng ta có vài nhận biết rằng Phật nói cảnh sắc, cũng là nói tâm, và tâm cũng là cảnh sắc:
§  “Gió lại thổi vào rừng cây bảy báu, hoa rơi kết nhóm, từng sắc từng quang, đầy khắp cõi Phật”: nghĩa bóng là trong cõi Cực Lạc có vô số Thánh Chúng, mỗi vị đều có tánh đức (giới, định và huệ) như hoa thơm đầy khắp nước Phật.
§  “Từng màu từng sắc, không xen không tạp, uyển chuyển sáng suốt, như Ðâu La Miên”: nghĩa bóng là mỗi vị thánh chúng trong cõi Cực Lạc trí huệ sáng suốt, thần thông tự tại, họ uyển chuyển và thích nghi trong Trung đạo đối với tất cả pháp, không vọng tưởng, không phân biệt và chấp trước, không chấp pháp, không dính mắc, không buộc, không mở, không xen tạp v.v...
§  “Chân bước lên hoa, lún sâu bốn lóng, theo bước chân giở, phẳng lại như cũ”: Vì các thánh chúng vẫn chưa thành Phật, nên tâm của họ vẫn còn có những vọng tưởng vi tế chưa đoạn; thế nhưng khi nó vừa khởi lên, chưa lún sâu lắm, thí dụ như chỉ vừa lún sâu bốn lóng, thì các Ngài liền nhận biết và nhanh chóng an trụ tâm trở lại trong chánh định, trở lại phẳng lặng thanh tịnh như trước.
§  “Qua bữa ăn xong, hoa kia tự mất, mặt đất thanh tịnh, lại giăng hoa mới. Tùy thời tùy tiết, trở lại biến khắp, như trước không khác, sáu lần như thế”: Sự tu tập của các Ngài mỗi bữa, mỗi thời đều là như vậy, đều là an trụ tâm trong chánh định, phá trừ vọng tưởng, phân biệt và chấp trước cho đến khi chứng đặng quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Trong kinh Vô Lượng Thọ Phật cũng nói: đây là cái quả thù thắng Tối Cực của người được sanh về cõi Tây Phương Cực Lạc. Nếu là những người có tà kiến và tà định, tức là những người có lòng ngã mạn không tin lời Phật dạy, thì chẳng thấu triệt nổi cái nhân tối cực này.
 
Tâm Sân Giận 
 
Trong kinh Sân giận, Đức Phật có nói đến những điều xảy ra đến với một người hay sân giận: “Nầy các Tỳ-kheo, hạng người nào phẫn nộ, bị phẫn nộ chinh phục, bị phẫn nộ chi phối: dầu cho người ấy khéo tắm rửa, khéo chải chuốt, rồi người ấy cũng trở thành xấu xí; dầu có nằm trên giường nệm, chăn len, họ vẫn ngủ một cách khổ sở; thâu hoạch bất lợi, lại nghĩ rằng: “Ta được lợi ích”, thâu hoạch điều bất lợi ích, lại nghĩ rằng: “Ta không được lợi ích”. Những pháp nầy được nắm giữ khiến người khác trở thành thù địch, đưa đến không hạnh phúc, đau khổ lâu dài; những tài sản nào của họ thâu hoạch do sự phấn chấn tinh cần, cất chứa do sức mạnh của cánh tay, chồng chất do những giọt mồ hôi, đúng pháp, thâu hoạch hợp pháp. Các tài sản ấy được nhà vua cho chở về ngân khố nhà vua; nếu có được danh tiếng gì nhờ không phóng dật thâu hoạch được, danh tiếng ấy lánh xa họ; nếu người đó có những bạn bè thân hữu, bà con huyết thống gì, họ sẽ xa lánh, từ bỏ người đó, vì người đó bị phẫn nộ chinh phục; người đó làm ác hạnh với thân, người đó nói lời ác hạnh với lời, người đó nghĩ đến điều ác hạnh với ý, khi thân hoại mạng chung, người đó sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.”
 
Nguyên nhân và hậu quả của tâm sân giận:
 
Trong thế gian này, ai có thể bảo là mình chưa hề sân giận? sân giận là một tập khí chung khó hàng khó chuyển của phàm phu chúng ta. Khi chúng ta đối diện trước một người hay một sự kiện nào đó không vừa lòng, liền khởi lòng sân giận, hoặc khi ta tham muốn một thứ gì mà không được, tâm sân giận cũng sanh ra. Sân giận là cánh cửa mở vào địa ngục!
 
Khi một người gặp phải sự chống đối, sự cản trở, hay bị đánh bại bởi một người nào đó, liền trở nên giận dữ. Sân giận là biểu hiện cho năng lượng của tâm khi tham ái không được thỏa mãn. Người đang sân giận, thường có cảm giác nóng nảy, chống đối, thù địch, hung dữ, lỗ mãng thiếu suy nghĩ và đưa đến những hành động tạo ác. Vì vậy, giận dữ không phải là cách để thỏa mãn tâm tham ái; ngược lại, nó luôn đưa đến cho ta những kết quả của đau khổ, buồn bực, sợ hãi và lo lắng. Người hay sân giận thường hiện ra các tướng rất xấu xí như: cặp mắt đỏ ngầu, mặt mày nhăn nhó dữ tợn, nghiến răng, bặm môi, siết tay, đấm ngực, la hét, đập phá, gây gỗ, đâm chém, giết chóc v.v… Cũng có một số người biểu hiện sự giận dữ một cách thâm trầm bằng cách im lặng mặc dù lửa nóng đang sôi sục trong lòng. Đó cũng không phải là biểu tượng tốt, những người sân giận thâm trầm nầy thường ôm kín trong lòng những cảm giác thù hận thâm sâu không thể giải toả. Do đó, nó cứ âm thầm tăng trưởng trong nội tâm cho đến khi đến một cường độ tột cùng nào đó, nó sẽ bùng nổ ra một cách khủng khiếp như một quả bom, và tai hại của nó có thể đưa đến chỗ trả thù, giết chóc, án mạng thảm khốc v.v… Đối với pháp luật thế gian, người nầy sẽ bị bỏ vào ngục tù hay bị xử tử; còn đối với định luật nhân quả, họ đã gieo những chủng tử điạ ngục, ngạ quỷ và súc sanh. Lúc lâm chung, khó tránh khỏi rơi vào ba đường ác đạo.
 
Cách đối trị tâm sân giận:
 
Sân giận không phải là vũ khí tốt để đấu tranh cho sự công bằng, bởi nó sẽ đem đến cho bản thân ta và mọi người xung quanh nhiều tai hại khó lường. Muốn cho những vấn đề bất công, trái ý, sai trái v.v… có thể được điều chỉnh và sửa đổi một cách tốt đẹp và hiệu quả nhất. Chúng ta phải biết áp dụng Phật pháp, trong mọi hành xử đối trị với tâm sân giận, với sức mạnh của trí tuệ, tâm từ bi và thanh tịnh bình đẳng không phân biệt nhân ngã. Trong mọi trường hợp của mâu thuẫn chúng ta phải dụng tâm xây dựng, sám hối và hoà kính …. chứ không phải với tâm phá hoại. Đôi lúc chúng ta cũng có thể dùng biện pháp mạnh, nhưng phải thể hiện nó trong tư thế ổn định, công bằng, không ác ý và thù hận. Sự bộc lộ cơn giận dữ có thể đem lại sự thỏa mãn nhất thời, nhưng không thể xua tan cơn giận; ngược lại, nó kích thích làm tăng thêm những khuấy động và kéo dài. Sân giận thường dẫn đến bệnh hoạn trong tâm lẫn ngoài thân.
1. Người Phật tử phải luôn giữ tâm an định và phải biết quán tất cả pháp đều như hóa, như huyễn. Lấy sức định huệ hàng phục ma oán ở trong tâm của chính mình, không phải tâm của người khác. Phải biết lánh xa những đối tượng và hoàn cảnh diễn hiện ra ở trước mắt có thể khơi động tâm sân giận của mình. Dù đây là một cách khá dễ dàng nhưng không phải khi nào chúng ta cũng làm được. Lại nữa, biện pháp nầy cũng không phải là biện pháp tốt nhất để diệt trừ tâm sân giận. Phương pháp tốt nhất là chúng ta nên học cách làm sao để có thể sống chung hoà bình với những gì chúng ta không thích, nếu ai làm được như vậy, người ấy đã xả bỏ được ái trước, hằng lìa được ba độc (tham, sân, si); tâm của người ấy lúc nào cũng có cảm giác vui sướng ví như tỳ kheo dứt sạch các lậu.
2. Thông thường, ta sân giận vì cảm thấy mình đúng, người khác sai. Ngã kiến của ta lúc đó đang lớn dần và che lấp tánh thanh tịnh bình đẳng của mình. Lúc này, chúng ta nên cố gắng an trụ tâm trong danh hiệu “A Di Đà Phật”, lấy tâm mình đồng hoá với tâm Phật thanh tịnh, và nhờ đó nó không bị đồng hoá với cơn giận hoặc đối tượng đang sân giận. Tâm không khởi sân giận; tức nhiên, thân và khẩu sẽ được thanh tịnh. Chúng ta, có thể đứng trên phương diện khách quan, quán chiếu những đặc tính và trạng thái tiến triển của cơn sân giận khởi đầu từ nguyên nhân gây ra cơn sân giận, rồi lớn dần và biến mất như thế nào. Phương pháp nầy giúp cho chúng ta phát khởi được chánh niệm và trí tuệ, chuyển các thức thành trí, đối trị với tâm sân giận trong cuộc sống hiện tại một cách lâu dài. Khi sắp nổi lên cơn giận, chúng ta nên như một người khách, lập tức dừng lại và quán sát nó, không đồng hoá với nó. Chúng ta không đè nén và cũng không bộc phát cơn sân giận, chúng ta chỉ quan sát và để cho nó tự nhiên biến mất.
3. Chúng ta cũng nên hỏi chính mình rằng: Nếu ta giận một người nào, ta sẽ có thể làm gì được họ? Nếu ta không làm gì được họ, thì sự giận dữ nầy chỉ là ngọn lửa lớn tự đốt chết lấy chính mình. Chúng ta phải nên tự trọng vì khi ta nổi cơn sân giận, ta sẽ tự hủy hoại đức hạnh, phẩm tính tốt, thân mạng và tuệ mạng của chính mình. Dù cho ta có tinh tấn trồng bao nhiêu ruộng phước lớn, những công đức nầy đều bị ta đốt sạch hết bằng ngọn lửa sân giận của chính mình.
4. Là người học Phật, chúng ta phải thực hiện cho được giáo pháp của Ngài, phải biết xả ly vọng tưởng, phân biệt chấp trước, hằng thuận với chúng sanh, đem chúng sanh xem như chính mình. Có nghĩa là đem tâm của mình đồng cảm với người khác, cảm nhận được những gì người khác đang cảm nhận. Từ đó, chúng ta sẽ tăng trưởng trí huệ, rõ biết tánh tướng của chúng sanh là thường hay vô minh sân giận làm tổn thương nhau. Cũng từ đó, ta phát tâm đại bi thương xót cho những nổi sân giận, đau khổ, không an và lo sợ trong lòng của họ. Đối với các người hay sân giận, ta nên phát lòng từ nhẫn, dùng những lời dễ thương, cử chỉ an hòa từ tốn để khuyên lơn, an ủi và xoa dịu những vết thương trong tâm của họ. Không nên buộc tội họ và chống trái với họ.
5. Để ngăn ngừa tâm sân giận một cách tích cực, chúng ta nên thay đổi cách suy nghĩ và luôn giữ chánh kiến với mọi sự việc và mọi người. Chúng ta nên bình thản trước những sự kiện đối lập không vừa lòng mình, nên phá trừ những yếu tố tiêu cực và nhìn vào những khía cạnh tích cực của một vấn đề. Khi một việc gì không được xuôi theo ý muốn hay sở thích, ta phải nên bình tĩnh tìm xem có biện pháp nào để khắc phục được không; nếu có, theo đó hành động, bằng không, cứ chấp nhận và cho qua.
Phải biết lấy tâm từ bi, tâm thanh tịnh bình đẳng (không vọng tưởng, phân biệt và chấp trước), tâm nhẫn nhục, tâm giác ngộ làm liều thuốc tốt nhất để chữa trị độc sân giận. Khi ta làm được đều này, ở nơi người không sanh tâm sân giận, ở nơi ta hoàn thành được đạo cả.
 
Ngã Chấp và Ngã Sở Chấp
 
Theo từ điển, Ngã: nghĩa là “Ta”, Sở: nghĩa là sở hữu hay “của Ta”, Chấp: nghĩa là cầm giữ, cố chấp, không buông ra. Ngã chấp: nghĩa là cố chấp cái Ta, Ngã Sở chấp: nghĩa là cố chấp vào cái của Ta.
 
Phàm phu chúng ta thường hiểu Ngã là Ta, được lập thành bởi năm uẩn: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành và Thức. Ngã là tổ hợp của năm uẩn, nghiệp và ái. Phật bảo cái Ngã đó là vọng Ngã, nhưng phàm phu chúng sinh mê chấp thân là thật cho nên yêu thích thân mình, bênh vực ý tưởng của mình, bảo vệ những sở hữu của mình như nhà cửa, ruộng vườn, cha mẹ, vợ con, họ hàng quyến thuộc, dân tộc v.v... Ngã sanh ra Tham ái; Vì tham ái nên muốn chiếm hữu, do đó, nên có thị phi, ganh tỵ và đấu tranh, từ đó sanh ra sân giận. Khi tâm sân giận thì mất đi trí tánh sáng suốt thường minh (tự tánh) và trở nên ngu si tạo ra nghiệp luân hồi sanh tử.
 
Đức Phật nhìn thấy các yếu tố lập thành Ngã đó, từ sắc đến thức của năm uẩn, đến nghiệp và ái đều chẳng phải là Ngã, mà chỉ là vọng tưởng của chúng sanh. Ngài dạy rằng: Ngã chấp và Sở chấp là nguồn gốc của phiền não khổ đau tạo ra lục đạo luân hồi sanh tử. Người giác ngộ là người không còn chấp vào “cái ta” và “cái của ta”, người nầy sẽ chứng được quả vị A La Hán, vĩnh viễn thoát ra khỏi lục đạo luân hồi sanh tử, an vui trong cảnh giới Niết Bàn.
 
Theo lời giáo huấn của Phật, chúng ta biết rằng: cái thân thể của ta (Ngã Sở) chỉ là giả tạm do nhân duyên kết hợp, hết duyên thì nó cũng sẽ trở thành cát bụi. Do đó, chúng ta không nên cố chấp vào cái xác thân của ta. Vậy, điều chủ yếu của học Phật là phá Ngã chấp vì nó là nguồn gốc của phiền não, sanh tử luân hồi. Một khi Ngã chấp không còn, thì bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu cũng là Niết Bàn. Vì vậy, đức Phật nói: “Ngã và Ngã Sở là cha mẹ sanh ra luân hồi sanh tử, cần phải diệt bỏ mới có thể thoát ra khỏi lục đạo luân hồi sanh tử”.
 
Ngã chấp lại được chia ra làm bốn loại:
1. Chấp thân ngũ uẩn nầy là “Ta”,
2. Chấp thân ngũ uẩn nầy là “Của Ta”,
3. Chấp thân ngũ uẩn nầy không phải là “Ta”, cũng không phải là “Của Ta”, mà trong cái “Ta” có cái thân và trong cái thân có cái “Ta”,
4. Chấp vũ trụ là “Ta”, “Ta” là vũ trụ. Vũ trụ là thường trụ, là vĩnh cửu.
Khi nói đến Chấp, lại có hai thứ chấp: Ngã chấp và Pháp Chấp. Vì hai thứ chấp nầy mà con người không được sáng suốt:
· Ngã chấp là không nhận biết cái thân nầy là do ngũ uẩn tạm thời hòa hợp do một nhân duyên, hết duyên nó sẽ tan rã, nên nhận lầm cái thân nầy là thật; do đó, sanh ra các thứ phiền não, mê vọng và đau khổ.
· Pháp Chấp là không biết rằng tất cả vạn sự, vạn pháp đều do duyên sanh. Tất cả các pháp đều như ảo ảnh, như bọt bèo, như hóa, như sương, như điện chớp … thoạt có, thoạt không, không trường tồn vĩnh hằng. Đức Phật nói trong kinh Vô Lượng Thọ: “Liễu triệt tất cả pháp như dư vang mộng huyễn… biết các cõi đều chỉ là như bóng ảnh”.
Lại nữa, cái Ngã của phàm phu có đủ bốn tính xấu: Vô thường, Vô lạc, Vô ngã và Bất tịnh. Khi phá hết ngã thì sẽ được đại tự tại an vui. Ðại Tự Tại gồm có tám điều tự tại: (1) có thể thị hiện vô lượng diệu sắc thân, (2) có thể thị hiện đầy khắp các cõi trong tam thiên đại thiên thế giới không có chướng ngại, (3) có thể đem thân khắp cõi đại thiên nầy bay trên hư không nhẹ nhàng đến nơi hằng hà sa thế giới mà không có chướng ngại, (4) thân Như Lai thường ở một cõi mà làm cho tất cả chúng sinh ở các cõi khác đều thấy, (5) sáu căn đều tự tại, (6) chứng được tất cả các pháp (7) diễn thuyết tự tại, và (8) Như Lai khắp đầy tất cả chỗ như hư không. Phật gọi cảnh giới của Tám Đại Tự Tại nầy là Đại Bát Niết Bàn.
 
Theo quan điểm của Phật Giáo Ðại Thừa, Ngã cũng không mà pháp cũng không. Ðức Phật dạy: “Nầy thiện nam tử! Như người đời nói: có biển, có biển lớn; có sông, có sông lớn; có núi, có núi lớn... Niết bàn cũng như vậy: có Niết Bàn và có Ðại Niết Bàn. Thế nào là Niết Bàn? Như người đói được chút ít cơm ăn thời gọi là được an vui. Như người bệnh được lành thời được gọi là an vui. Như người kinh sợ được chỗ nương tựa thời được an vui. Như người nghèo cùng được châu báu thời được an vui ... Tất cả sự an vui trên đây cũng gọi là Niết Bàn, nhưng chẳng được gọi là Ðại Niết Bàn, vì còn trong phạm vi tương đối”.
 
Vì vậy, Niết bàn mà Thanh Văn chứng được khác với Niết Bàn của Bồ Tát, và Niết bàn mà Bồ Tát chứng được khác với Đại Niết bàn của Phật. Vì Đại Niết Bàn có tám thứ tự tại như trên đã nói, nên còn gọi là Đại Bát Niết Bàn.
 
Ðại Bát Niết Bàn cũng là Phật tánh, là Trung Ðạo. Bởi chúng sanh không thấy được Phật tánh nên cảnh giới là vô thường, vô lạc, vô ngã và vô tịnh. Thế nhưng, cái Phật tánh đó, cái Ðại Niết Bàn đó vẫn luôn thường hằng ở nơi mỗi chúng sinh, từ vô thỉ kiếp đến nay không hề thay đổi, nhưng vì do vô minh phiền não che phủ cho nên không thể nhận ra nó, mà nguồn gốc của vô minh phiền não nầy chính là Ngã chấp.
 
Như vậy để đạt đến cảnh giới Niết Bàn thực sự? Chúng ta phải lìa tất cả các khái niệm về: ngã và ngã sở, có và không, thường và đoạn, trong và ngoàị, trước và sau v.v… và phải vượt thoát ra khỏi mọi đối đãi của thế giới hiện tượng như thiện ác, tốt xấu, đúng sai, có không, sanh tử, niết bàn để đạt được trạng thái tịnh chỉ an định của tâm.
 
· Chấp có tức là thường kiến.
· Chấp không tức là đoạn kiến.
· Chấp cũng có cũng không tức là biên kiến
· Chấp chẳng có chẳng không tức là không kiến.
 
Xả bỏ hết tất cả các chấp, tâm liền được thông, tâm thông thì vạn pháp đều thông. Trong bài giảng của Hòa Thượng Tịnh Không, “Tu Hoa Nghiêm Áo Chỉ Vọng Tận Hoàn Nguyên”, Hoà Thượng nói lên cái ý nghĩa là: “Buông bỏ hết được tất cả các Ngã Chấp và Pháp Chấp do vọng tưởng, phân biệt và chấp trước sanh ra, tâm liền được thông, tâm thông thì vạn pháp đều thông”.
 
Do đó, chúng ta nhận thấy tất cả những kiến giải của xuất thế gian hay thế gian pháp đều là chướng ngại của tâm trên con đường tu Phật đạo. Pháp của Phật cũng chẳng nên chấp, vì nó chỉ là phương tiện giúp chúng sanh nhận ra bản thể của vũ trụ nhân sanh, khi biết rõ rồi thì là giác ngộ. Thế nhưng giác ngộ vẫn chưa thể giải thoát, phải làm được viên mãn thì mới có thể chứng đắc. Ngay cả danh từ chứng đắc cũng là giả danh mà Phật dùng để khai thị chúng sanh còn đang mê chấp. Chứ trên nghĩa của Chân đế, thì chẳng có chứng đắc vì không có sở đắc. Vì Như Lai tự tánh của mỗi chúng sanh là tự nhiên có sẵn, chúng sanh giác ngộ tự tánh là quay trở về với chân tâm của chính mình, chứ đâu phải là thu nhận được từ bên ngoài, thì làm gì có chứng đắc hay không chứng đắc. Từ nhận xét này, ta thấy các pháp mà Phật nói suốt 49 năm chỉ là phương tiện tạm dùng để đưa chúng sanh trở về với Như Lai tự tánh; Phật ví dụ nó như là chiếc thuyền dùng để đưa ta qua sông, qua sông rồi thì thuyền nầy phải xả bỏ cho được hoàn toàn tự tại và nhẹ nhàng. Chư Tổ Đại Đức dạy: Phật pháp còn phải bỏ huống nữa là phi pháp, cho ta thấy muốn đạt được cứu cánh Niết Bàn thì vạn pháp đều phải xả bỏ.
 
Trong Trung Quán Luận có đoạn văn viết và được dịch nghĩa rằng:
 
Các pháp do duyên sanh
Ta nói tức là không,
Cũng gọi là giả danh
Cũng là nghĩa trung đạọ
Chưa từng có một pháp
Chẳng từ nhân duyên sinh
Thế nên, tất cả pháp
Ðều là Không hết thảy.
 
Tất cả pháp trong thế giới nầy đều do nhân duyên sanh khởi, và do nhân duyên sanh nên cũng do nhân duyên mà hoại diệt, nên không có tự tánh, không có cố định, nên được gọi là “Không”. “Không” ở đây chẳng có cái nghĩa là tất cả rỗng không, không có gì hết. Vạn pháp sanh diệt lệ thuộc bởi nhân duyên, mà nhân duyên sanh và diệt đều không thật, chỉ tạm gọi là như thế, chỉ là giả danh, chỉ là giả có. Vì chúng sanh còn chấp nên Phật phải tùy thuộc vào căn tánh của chúng sanh mà nói vậy để chúng sanh có thể dùng sức định huệ mà quán niệm nhận ra nó trong Trung Ðạo. Trung Ðạo nghĩa là siêu việt ý niệm có và ý niệm không.
 
Nếu phàm phu chúng ta thấy được bản chất của Ngã, Ngã Sở và Ngã Chấp là Không, tức là cũng thấy được bản chất của Niết Bàn cũng là Không, tức là thấy được bản thể của Trung Ðạo. Trí tuệ Bát Nhã của Trung Đạo nầy có thể phá trừ được tất cả kiến chấp, thiên kiến và tà kiến, vượt thoát ra khỏi mọi thứ Ngã chấp và Pháp chấp, là nguyên nhân của phiền não, khổ đau và sanh tử luân hồi.
 
Vậy, con đường của Phật đạo là con đường Trung Ðạo: Thấy chúng sinh chấp vào Ngã tức là chấp vào thường, Phật nói đừng chấp vào thường. Khi nghe Phật nói vậy, chúng sinh lại chấp vào đoạn và cứ như thế Phật phải phá hết tất cả kiến chấp của chúng sinh để dẫn dắt chúng sinh đến một cái không thể nghĩ bàn được, mà cái đó chính chúng sinh phải tự mình nghiệm chứng qua sự giác ngộ trong nội tâm của mình, không thể dùng các tướng của sắc hay âm thanh (cũng nghĩa là ngôn từ hay văn từ) để nhận biết. Nếu chúng ta phóng tâm ra ngoài đeo đuổi theo các tướng của sắc và âm thanh mà hiểu ý Như Lai, thì như lời Ngài nói trong kinh Kim Cang rằng chúng ta đang hành tà đạo.
 
Bởi vì căn tánh của chúng sanh trong thời mạt pháp nầy không thể nào phá trừ được Ngã chấp và Ngã Sở, sanh ra ba thứ phiền não chướng: vọng tưởng, phân biệt và chấp trước, khó đạt đến Niết bàn tịch tĩnh. Đức Phật đã từ bi chỉ bày cho chúng ta pháp môn niệm Phật, tức là dùng lòng Tín và Nguyện mà nhất tâm trì niệm danh hiệu A Di Đà Phật để có thể được đới nghiệp vãng sanh về Phàm Thánh Đồng Cư Độ ở cõi Tây Phương Cực Lạc, được sống trong môi trường thuận lợi, được gần gũi Phật và làm bạn với chư vị Thánh chúng và Bồ Tát tu tập các pháp công đức. Đây là phương tiện vô cùng cứu cánh, là vô thượng thượng pháp môn của A Di Đà Phật, đưa chúng sanh rốt ráo vào pháp Nhất Thừa, tức là Phật Thừa. Vì thế Phật A Di Đà còn có danh hiệu là Vô Thượng Y Vương, có thuốc hay nhất để chữa căn bệnh khó trị của chúng sanh, đó là Ngã chấp và Ngã Sở Chấp, là nguồn gốc sanh ra luân hồi sanh tử khổ đau.
 
Tâm Từ Bi
 
Đạo Phật lấy từ bi làm gốc, nhẫn nhục làm hạnh. Do đó, khi nói đến đạo Phật, người đời đều nghĩ đến hai pháp “từ bi” và “nhẫn nhục”. Lại nữa, khi nói đến từ bi, Phật tử chúng ta đều liên tưởng đến Bồ-tát Quán Thế Âm, vì Ngài là đại biểu cho lòng đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn.
 
Vì từ bi là căn bản của đạo Phật, do đó, tất cả các pháp, tất cả các hạnh tu của đạo Phật đều quy hướng về “phát khởi tâm từ bi”.
 
Trong Thập Địa kinh luận, Bồ-tát Thiên Thân nói rằng: “từ là đồng với nhân quả hỷ lạc; bi là đồng với nhân quả ưu khổ”. Bồ-tát không những chỉ sanh tâm hỷ lạc với chúng sanh, mà còn phải đem đến cho chúng sanh quả hỷ lạc, đó mới gọi là từ. Thấy chúng sanh ưu bi khổ não không những chỉ khởi tâm thông cảm, mà còn phải tạo cho chúng sanh những quả lành khiến cho họ bớt đi sự thống khổ, đó mới gọi là bi.
 
Kinh Bồ-tát niệm Phật tam muội nói: “từ tâm quán chúng sanh, như mẫu niệm nhứt tử. Vu thù bất truy ác, cánh sanh lân mẫn tâm,” nghĩa là dùng tâm từ quán sát chúng sanh như người mẹ nghĩ nhớ đến con, đối với kẻ thù không sanh khởi tâm ác, ngược lại phải sanh tâm thương xót họ.
 
Trong Đại Trí Độ luận, Bồ-tát Long Thọ nói: “đại từ là vui với tất cả chúng sanh, đại bi là làm cho chúng sanh thoát khổ. Đại từ là đến với chúng sanh bằng tâm hỷ lạc, đại bi là cùng với chúng sanh chia sớt những nỗi thống khổ. Thí như có người giam những người con mình trong ngục. Lúc nó bị tử hình, lòng từ của người cha vì xót thương con nên dùng vô số phương tiện, khiến cho các con được thoát khổ, lòng đại bi ấy chính là khiến cho con lìa khổ; vì con mà cung cấp cho chúng các thứ yêu thích, ấy là lòng đại từ”.
 
Kinh Vô Lượng Thọ nói: “Bồ-tát đối với chúng sanh đem từ bi lớn, xả ly chấp trước, lợi ích quần sanh, thành tựu vô lượng vô biên công đức”. Nghĩa là Bồ-tát có lòng đại từ bi, nên đối với hết thảy chúng sanh đều bình đẳng, không phân biệt kẻ oán người thân, và đến với họ bằng tấm lòng thương yêu chân thành và thông cảm.
 
Kinh Vô Lượng Thọ, đức Thế Tôn lại nói hạnh từ bi của Bồ-tát đối với chúng sanh như sau: “Phát rộng lòng đại bi, thương xót hữu tình, nói lời từ ái, trao pháp nhãn, đóng đường ác, mở cửa lành. Chẳng bỏ chúng sanh giữ gìn không nghỉ, như thể thân mình, cứu vớt phò trợ, khiến độ chúng sanh đến bờ giác ngộ.” Vì muốn chúng sanh được cái lợi chân thật vĩnh viễn thoát ra khỏi bờ mê, Bồ-tát không ngừng đem Phật pháp giáo hoá chúng sanh, khiến cho chúng sanh được giác ngộ rốt ráo thành Phật.
 
Luận ngữ có câu: “bậc quân tử phải lo trước nỗi lo âu của thiên hạ, vui sau niềm vui của muôn dân”. Nghĩa là bậc hiền nhân đến với mọi người bằng tấm lòng “quên mình để cứu người” và “vô tư phụng sự”.
 
Pháp từ bi của đạo Phật được phân ra làm ba thể loại như sau:
1) Vì muốn cho tất cả chúng sanh thoát khổ được vui mà khởi tâm từ bi, gọi là “chúng sanh duyên từ bi”, hoặc “hữu tình từ bi”.
2) Vì chúng sanh có vô tận phiền não, nên đem Phật pháp giáo hoá chúng sanh, gọi là “pháp duyên từ bi”.
3) Vì quán tất cả pháp đều không tịch, sanh ra tâm phiền não, mà khởi tâm từ bi cứu khổ chúng sanh, gọi là “vô duyên từ bi”.
Bởi từ bi được phân ra thành ba thể loại: chúng sanh duyên từ bi, pháp duyên từ bi và vô duyên từ bi, nên Phật vì chúng sanh mà nói ba pháp: Vô thường, Vô ngã và Tính không, để dẫn dắt chúng sanh tiến lên dần dần thâm nhập vào Như Lai tánh.
 
Pháp từ bi có tiểu, trung và đại:
 
1.Tiểu từ bi: chỉ khởi tâm vui cùng với cái vui của chúng sanh và muốn cho họ thoát khổ, như tâm từ, tâm bi trong Tứ vô lượng tâm của bậc Tiểu thừa. Tứ vô lượng tâm là “bốn trạng thái tâm thức vô lượng”, còn được gọi là Tứ phạm trú, “bốn cách an trú trong cõi Trời Phạm Thiên”. Tứ vô lượng tâm là: (1) Từ vô lượng, (2) Bi vô lượng, (3) Hỷ vô lượng và (4) Xả vô lượng.
 
Bốn tâm nầy là phương pháp đối trị bốn phiền não là sân hận, ganh tị, buồn bực và tham muốn: nếu có tâm từ thì sẽ không bao giờ sân hận, nếu có tâm bi sẽ không bao giờ ganh tỵ, nếu có tâm hỷ thì sẽ không giờ buồn bực, và nếu có tâm xả thì sẽ không bao giờ tham. Người thực hành được Tứ vô lượng tâm, khi lâm chung sẽ được tái sinh tại cõi Thiên.
 
Đức Phật Thích Ca Mâu-ni dạy: “Có bốn vô lượng: Hỡi các tỳ kheo, một người tràn đầy tâm từ (bi, hỷ, xả) sẽ phóng tâm đó đi một phương, hai phương, ba phương, bốn phương, rồi phía trên, phía dưới, xung quanh mình. Người đó phóng tâm đi khắp thế giới, chiếu rọi khắp nơi với tâm từ (bi, hỷ, xả), tâm thức vô lượng của người đó sẽ vắng bóng sân hận và phiền não.”
 
2.Ðại từ bi: không những chỉ khởi tâm vui cùng với cái vui của chúng sanh và muốn cho họ thoát khổ, mà còn có khả năng làm cho họ thoát khổ được vui, như tâm đại từ bi của Phật.
 
3.Trung từ bi: Đại từ bi và Tiểu từ bi cũng chỉ là pháp tương đối; cho nên có Tiểu, có Đại, thì phải có Trung. Thí dụ: lòng từ bi của Bồ-tát so sánh với lòng từ bi của Thanh Văn và phàm phu chúng ta là Đại; nhưng nếu đem so sánh với lòng từ bi của đức Phật thì chỉ là Tiểu. Vì vậy, chữ “Đại từ bi” của bậc Bồ-tát vẫn là giả danh; nói cho đúng lý chân thật chỉ là Trung từ bi. Từ mức độ, phân loại và đẳng cấp của từ bi như trên, ta thấy “vô duyên từ bi” là từ bi ở mức độ cao nhất mà chỉ tìm thấy ở nơi Phật; vì vô duyên từ bi là “vô duyên đại từ và đồng thể đại bi”.
 
Nguyên nhân của sự khác biệt nơi tâm từ bi?
 
Tiểu Thừa Thanh Văn chưa phá được hết tất cả những phân biệt và chấp trước vi tế, nên chưa thể phát khởi được “vô duyên từ bi”. Bồ-tát chưa phá được hết tất cả những phân biệt vi tế, nên vẫn chưa thể phát khởi được “vô duyên từ bi”. Chỉ có Phật, đã phá hết tất cả mọi phân biệt và chấp trước một cách rốt ráo, nên mới phát khởi được tâm này. Tâm “vô duyên đại từ” của Phật hoàn toàn không có sự phân biệt của các đối tượng quan hệ như: cha mẹ, vợ chồng, con cái, anh em, bạn bè, người oán kẻ thân, người xấu kẻ tốt, người hiền kẻ dữ  v.v… Nói cách khác, Phật đối với chúng sanh với tâm hỷ lạc và phúc thiện, mà trong đó không có điều kiện, không có nguyên nhân, vô tư vô tưởng (vô ý thức) v.v… Phật ban cho chúng sanh sự hỷ lạc phúc thiện mà tâm không khởi một chút phân biệt, tuyệt đối thanh tịnh bình đẳng đối với tất cả chúng sanh. Vậy, đặc điểm của “đồng thể đại bi” là dùng tâm tuyệt đối bình đẳng, không phân biệt, tâm quảng đại vô tận, tâm như hư không; cho nên tâm nầy cũng được gọi là “vô tận đại bi”; có nghĩa là không còn có tâm nào rộng lớn hơn tâm này. Nói đến đây chúng ta cũng nên biết các vị Đại Bồ-tát như Quán Thế Âm, Đại Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền, Địa Tạng v.v… đều là các cổ Phật thị hiện với thân Bồ-tát, do đó tâm từ bi của các Ngài đều là “vô duyên đại từ, đồng thể/vô tận đại bi”.
 
Phật dạy chúng ta phải phát khởi tâm từ bi trong phạm vi lớn nhất, không có hạn lượng, từ cả hai mặt không gian và thời gian, bao trùm hết thảy thập phương pháp giới, và đối tượng để cứu độ là vô lượng vô biên vô số các loài chúng sanh không phân biệt chủng loại.
 
Dựa trên tư tưởng căn bản của tâm từ bi trong Phật giáo, “kiêng sát sanh” là việc cấm đầu tiên và “phóng sanh” việc nên làm đầu tiên. Không sát sanh là ngăn ngừa đoạn dứt sự sát hại, làm thương tổn đến sanh mạng của các loài hữu tình. Phóng sanh các loại động vật có tri giác, có tình cảm, có cảm thọ khổ vui, là thực hành hạnh từ bi cứu khổ và ban vui cho chúng sanh. Trong tất cả các pháp môn tu của Phật giáo, lòng từ bi hỷ xả là một nghĩa cử cao đẹp, với trí tuệ hiểu biết rằng ta và các loài chúng sanh cùng nhau chia sẽ sự sống trên quả đất này, do đó ta không nên vì lợi ích cá nhân của mình hoặc của chủng loại mình mà sát hại các loài chúng sanh khác. Ngược lại, ta phải hết lòng bảo vệ lợi ích mọi loài, hết lòng cứu tế chúng sanh khi họ gặp hoạn nạn. Nếu mọi người, từ trong mỗi gia đình, làng xóm, thành phố, quốc gia cho đến toàn thế giới đều mở rộng tâm từ bi, thương yêu, hằng thuận và hỗ trợ lẫn nhau, đoàn kết cùng nhau phấn đấu khắc phục khó khăn, cùng nhau tạo ra tài sản, cùng nhau làm phong phú cho cuộc sống nhân sanh; thì thiên hạ sẽ được thái bình, tai dịch chẳng khởi, nước thịnh dân an, binh đao chẳng động, mọi người đều trọng sùng nhân đức, không có trộm cướp, không có oan uổng, người người đều sống trong hỷ lạc và đắc ý. Nếu được như vậy, thì Tịnh Độ có thể được thiết lập ngay trong thế gian này.
 
Trong pháp môn Tịnh Độ, niệm Phật A Di Đà nguyện vãng sanh Tây Phương Cực Lạc, điều kiện tối yếu cần thiết để được vãng sanh là Phát vô thượng Bồ Đề tâm và nhất hướng chuyên niệm hồng danh A Di Đà Phật. Phát vô thượng Bồ Đề tâm cũng có nghĩa là phát tâm “vô duyên từ bi” hay “vô duyên đại từ và đồng thể đại bi”. Niệm “Nam Mô Đại Từ Đại Bi A Di Đà” hay rút ngắn nó lại thành “Nam Mô A Di Đà Phật” hay “A Di Đà Phật” đều là niệm cái tâm Đại Từ Đại Bi của chính mình, niệm niệm không gián đoạn cho đến khi tâm của mình đồng hoá với tâm của Phật A Di Đà, thì mọi vọng tưởng, phân biệt và chấp trước sẽ được phá trừ, và tâm “Đại từ đại bi” của ta sẽ tự nhiên được khởi tác dụng. Do đó, ta thấy Tịnh Đô Di Đà chẳng phải là ở ngoài tâm mà có thể tìm thấy.
 
Buông Xả là Đại Bố Thí
 
Chúng ta sống ở thế gian này, đối với tất cả mọi việc, dù mắt thấy tai nghe đều không nên giữ ở trong lòng, thấy như không thấy, nghe như không nghe, mỗi giờ mỗi phút cần nên gìn giữ tam nghiệp, thân khẩu ý, thanh tịnh. Nếu đã lỡ nghe hay thấy biết những chuyện nghịch ý không vừa lòng, thì nên buông bỏ, không nên đào sâu vào vấn đề và cũng đừng nên đem ra loan truyền gây mâu thuẫn, xáo trộn và đấu tranh. Không nên tranh đấu, hơn thua nhau trên từng ý nghĩ, hành động và lời nói. Đối với pháp thế gian và xuất thế gian, những sự đấu tranh không mang lại lợi ích gì, ngoài việc tạo thêm nghiệp oán thù. Những lý luận hay dở, đúng sai, cao thấp không phải là Phật tri kiến, nó chỉ là “sở tri chướng kiến”.
 
Sở tri chướng là thứ chướng ngại thuộc về tri kiến do bộ óc nhận thức được điều gì, rồi chấp dính vào đó, cho đó là chân lý bất biến làm chướng ngại sự kiến tánh. Khi một người học Phật chấp chặt vào pháp đã học, cho đó là thật pháp, chân trí tuệ như căn bản trí của họ liền bị ngăn che. Trong Phật pháp, ta gọi đó là vô minh căn bản, nó làm ta mờ mịt đối với cảnh giới sở tri, che lấp pháp tính mà trở thành chướng ngại cho chủng trí trung đạo, cho nên nó cũng được gọi là Trí ngại. Do đó, Phật dạy: “y trí, bất y thức”. Những kiến thức mà chúng ta học được từ trong kinh sách hay những lời giảng dạy của Chư Tổ Sư và Đại Đức cũng chỉ là những kiến thức phổ thông giúp chúng ta làm phương tiện để nhận ra tự tánh của vũ trụ nhân sanh, không nên bị chấp dính vào đó. Vì thế, trong kinh Kim Cang, Đức Thế Tôn bảo rằng: “Ai nói ta có cái pháp để nói là phỉ báng ta”. Thật vậy, nếu Phật có pháp để nói, tức là còn có “Thức”, còn có “Trí ngại” thì Phật đâu phải là Phật nữa.
 
Người học Phật dùng tri thức làm phương tiện để nhận biết chân thật pháp để đi vào chỗ vô tướng, vô thức, thì mới thấy rõ “vạn pháp vốn giai không, nhân quả thì bất không”. Người chấp pháp, chấp ngữ, chấp thức (kiến thức) thì liền rơi vào chướng ngại trong sự tu đạo, vì chưa phá được “căn bản vô minh phiền não” do ý thức phát động. Do đó, Phật dạy trong kinh Kim Cang rằng người nầy “hành tà đạo”. Tà ở đây có nghĩa là không Chánh, không đúng với pháp Trung Đạo mà Phật dạy, chấp có cái pháp để chứng, có cái trí để đạt, có cái đạo để thành, không nhận biết được cái gì là “hư huyễn”, cái gì “quyền”, cái gì là “thật”. Người nầy càng học Phật, ngã tướng càng lớn, vọng tưởng càng tăng, tức là sanh ra thêm nhiều phiền não.
 
Những người bị tri thức chướng ngại (sở tri chướng) thường hay tranh lý trong sự học Phật, làm cho tâm mình trở nên bất tịnh, ngăn ngại che mờ chân thật trí. Lúc lâm chung, thần thức mê muội, hoặc ở trên thân xác của người bệnh, hoặc ở trong thân trung ấm, tâm trí của họ thường bị rối loạn bởi những tập khí vọng tưởng hằng ngày. Do đó, sở tri chướng cũng là những chướng ngại cho sự nhất tâm niệm Phật cầu vãng sanh. Trong kinh Vô Lượng Thọ Phật dạy: “Liễu triệt tất cả pháp như tiếng vang mộng huyễn”, đã là huyễn và giả thì chẳng có gì để bàn cãi và tranh lý nữa. Chính lẽ đó, người lão tu thông thuộc kinh điển lại thường ít thích nói pháp; bởi vì, nói cách chi cũng chẳng vẹn toàn. Vì sao? bởi muốn nói cho đầy đủ vẹn toàn phù hợp với mọi căn cơ và cảnh giới của chúng sanh, cùng kiếp nói cũng chẳng hết. Lại nữa, khi các Ngài nói pháp, các Ngài cũng rõ biết là đang nói “huyễn pháp” hay “quyền pháp”, chẳng phải “thật pháp”. Thật pháp chẳng có ngôn từ để nói; vì vậy, trong kinh Kinh Cang, Phật nói, Ngài chưa hề nói pháp.
 
Trong Đại Trí Độ Luận, có một đoạn khai thị rằng: “Lâm chung khoảnh khắc tối thắng hơn sức tu cả đời”. Tất cả những gì chúng ta tu tập trong suốt cuộc đời này, chẳng khác nào những người lính đang tập trận. Khi giáp trận thật sự rồi mới biết công phu luyện tập của mình như thế nào trước lực lượng tấn công vô cùng hùng hậu và tới tấp của quân địch. Vào lúc lâm chung, hoàn cảnh của chúng ta cũng như thế, oán thân trái chủ kéo tới trả thù vô cùng mãnh liệt và liên tục, tâm thần của chúng ta lúc đó hoang mang, hốt hoảng và phản ứng tự nhiên là chạy trốn, ra sức đánh trả hay mê lầm đi theo, khó thể nhớ ra câu Phật hiệu. Cho nên với thời gian ngắn ngủi lúc lâm chung, chúng ta phải cố gắng làm cho nó trôi qua một cách êm đẹp và thanh tịnh bằng sự buông bỏ và nhất tâm niệm Phật. Người có Tín-Nguyện kiên cố và công phu niệm Phật đắc lực trong hiện đời, nhờ vào sự dũng mãnh tinh tấn và tâm thanh tịnh sáng suốt, sẽ vượt qua khỏi mọi chướng ngại. Buông bỏ vạn duyên, quy tụ tất cả năng lực vào việc niệm Phật trong thời điểm nầy sẽ là điều duy nhất có thể giúp ta liễu thoát luân hồi vãng sanh Cực Lạc.
 
Điều đáng sợ nhất là vào lúc lâm chung, tâm còn bị dính mắc, không buông bỏ được. Ðối với những người hay làm việc nghiên cứu Phật pháp, hoặc những người trong đời thường làm công việc hoằng pháp lợi sanh cũng không ngoại lệ, nếu họ quá chấp vào các công việc họ thường làm, cho đó là những việc quan trọng không thể dứt bỏ, tâm sẽ chẳng thể tự tại mà niệm Phật để được vãng sanh. Chúng ta phải nên cố gắng tu tập hạnh hỷ xả, đừng nên cố chấp vào bất cứ việc gì; Phật pháp cũng phải xả, huống chi là phi pháp, thì tâm mới nhẹ bớt phiền não, không bị dính mắc và sự niệm Phật mới có thể đạt được sức an định.
 
Hạnh buông xả:
 
*  Tùy duyên, không phan duyên, là hạnh buông xả: đối với thế gian hay xuất thế gian pháp, tuyệt đối không được phan duyên. Tùy duyên có nghĩa là hằng thuận với chúng sanh và hoàn cảnh, nếu có cơ hội tốt, có sẵn điều kiện thuận, thì chúng ta nghiêm chỉnh quyết tâm mà thực hiện, còn nếu không có duyên tốt, thì vẫn phải tùy hỷ, không nên khởi tâm động niệm vì lòng ham muốn của mình. Biết tùy duyên là biết buông xả, phan duyên là chấp trước. Chúng ta cũng biết, có rất nhiều người dù biết là không có cơ hội, không có điều kiện tốt, nhưng lại vẫn tìm mọi cách để tạo điều kiện, tạo cơ hội, thế là phan duyên rồi! Thế là tự gây phiền não và khó khăn cho chính mình; vậy thì làm sao có thể giữ cho tâm được luôn an nhiên tự tại mà niệm Phật. Người hay phan duyên, thì dù cho có niệm Phật nhiều, nhưng khó đạt được định tâm.
 
*  Buông xả vọng tưởng tham sân si: tất cả nghiệp chướng đều phát sanh từ vọng tưởng tham sân si. Tự tư, tự lợi, thị phi, nhân ngã, ngũ dục lục trần , tham sân si mạn v.v… nếu không đoạn cho hết, không nhổ cho tận gốc, thì dù có niệm Phật cũng không thể vãng sanh! Cũng nên biết tham pháp cũng là tham, những người thích nghiên cứu, tranh lý trong Phật pháp cũng là do từ tham pháp và tâm ngã mạn mà hiển diện. Nếu chúng ta có thắc mắc gì trong pháp học, nên tìm câu giải đáp mà thực hành là việc cần phải làm. Nhưng không luận kẻ đúng, người sai v.v… mà tạo ra nhiều chủng tử không thanh tịnh. Nghiệp bất tịnh khi đã thành hình trong A-lại-da-thức của ta rồi, thì nó sẽ theo ta mãi như hình với bóng, rất khó mà đoạn trừ cho sạch. Bây giờ, ta chưa thấy rõ tác động của nó, nhưng đến lúc lâm chung, chúng hiện ra không ngừng nghỉ, làm cho ta mất đi chánh niệm, nhẫn đến làm cho ta điên đảo quên luôn câu Phật hiệu; đến lúc đó rồi, chúng ta đối phó sao đây?
 
Chúng ta nơi tự bản thân của mình mà luôn kiểm soát, đừng nên để ý đến chuyện bên ngoài, đừng để cho chỉ dù một vọng niệm bất tịnh sanh ra, phải tự mình có sự huân tập nghiêm khắc và chặt chẽ mới có thể đoạn được các thứ nghiệp chướng và phiền não. Ðược như vậy, lúc lâm chung, dù trong hoàn cảnh không được người trợ niệm, chúng ta cũng có thể nắm vững được phần vãng sanh. Chúng ta nên tự mình thật sự sửa lỗi, thay đổi hành vi và tập khí xấu của mình, nỗ lực tiến tu, phát tâm chân thật “thường niệm Phật không gián đoạn”, giữ câu Phật hiệu canh cánh trong lòng như gà ấp. Lúc lâm chung, Phật đến tiếp dẫn, từ bi gia hộ, khiến tâm trí sáng suốt, chẳng bị hôn mê, loạn động và điên đảo; như thế mới được vãng sanh.
 
Nghiệp lực là sức mạnh của những thói quen và tập khí xuất phát từ thân, khẩu và ý của chính mình trong sự đối vật tiếp người hằng ngày, chứ chẳng phải từ nơi đâu xa mà tới. Những chủng tử tranh đấu, lỗi phải, đúng sai, oán hận, ganh ghét v.v… trong A-lại-da-thức mà chúng ta tích trữ và mang theo từ nhiều đời nhiều kiếp, thật sự là khó đoạn. Tất cả đều là do từ tình chấp của chúng ta mà sinh ra oán hận. Nếu chúng ta không lo hóa giải những oán thù cũ, mà lại gây ra thêm nhiều oán thù mới, thì thật là phiền phức, đời đời kiếp kiếp phải luôn đối phó với oan gia trái chủ, không hề ngừng dứt, đôi bên đều phải lãnh chịu sự thống khổ. Ðến lúc lâm chung, kẻ thù đến bên thân chúng ta để báo oán, không để chúng ta vãng sinh, đó chính là ma chướng cùng sinh, là cận tử nghiệp. Cho nên sống ở đời, chúng ta nên “hằng thuận chúng sinh, tùy hỷ công đức,” chúng sinh muốn thứ gì, tất cả đều tùy thuận, không nên hơn thua tranh luận thì lúc lâm chung mới có thể đi vãng sanh được dễ dàng.
 
“Người chân thật niệm Phật, buông bỏ cả thân tâm thế giới là đại bố thí.
 
Phàm Sở Hữu Tướng Giai Thị Hư Vọng
 
Chúng ta tu đạo Phật là cầu Trí tuệ, chứ không phải cầu Trí thức. Trí tuệ và Trí thức không giống nhau: Trí thức thì có thể tìm học từ trong kinh sách, sách chú giảng, nghe băng chú giảng v.v… Nhưng trí tuệ thì chỉ có thể tìm được trong tự tánh, mà muốn tìm thấy tự tánh thì tâm phải có Định, phải thanh tịnh, không còn bị vướng mắc bởi những vọng tưởng, phân biệt và chấp trước (chấp ngã, chấp ngã sở, chấp pháp).
 
Làm sao để hạ công phu phá trừ phân biệt và chấp trước?
 
Hòa Thượng Tịnh Không dạy: trước hết là phải ngăn ngừa và giải trừ mọi xung đột, đối lập, mâu thuẫn, đấu tranh v.v... do các thứ tâm nầy sanh ra. Phân biệt và chấp trước là nguyên nhân làm chướng ngại tâm thanh tịnh và năng lực trí tuệ của chúng ta, và nó cũng là cái nhân tạo ra lục đạo luân hồi.
 
Học Phật trong kinh sách là để thu đạt kiến thức căn bản (Trí thức), làm phương tiện hướng về pháp Vô tướng vô vi của Như Lai, pháp nầy cũng được gọi là Nhất Thừa hay Phật Thừa. Vì pháp nầy là vô tướng vô vi, là chân thật pháp, là pháp Không, nên nó không có ngôn từ để diễn đạt, nó không thể tìm được trong kinh sách, mà nó phải tự mình giác ngộ trong tự tánh.
 
Trong kinh Vô Lượng Thọ, Phật nói: “Vì chúng hữu tình tuyên nói chánh pháp, vô tướng vô vi, không buộc không mở, không phân, không biệt, xa lìa điên đảo”.
 
Vậy, pháp vô vi vô tướng mới là thật pháp. Tất cả các pháp hữu vi đều là quyền pháp, là huyễn pháp ... dùng làm phương tiện giúp cho người chưa giác ngộ phát khởi Tín tâm mà tìm đến Phật đạo. Trong kinh Vô Lượng Thọ, đức Thế Tôn cũng nói:
 
“Nghiêm cầu Tịnh Độ Phật
Thọ ký sẽ thành Phật
Liễu triệt tất cả pháp như dư vang mộng huyễn”
 
Phật nói tất cả pháp đều là như mộng huyễn, đều là không thật. Vì vậy nếu ta ôm chặt, bám sát và không rời pháp hữu vi, thì ta còn Chấp pháp. Chấp pháp là thứ Sở tri chướng, sanh ra kiến tư phiền não, ngăn ngại cửa Bồ Đề, vì hết thảy Trí thức của thế gian đều là từ vọng thức. Người chấp pháp càng học Phật, càng nghiên cứu Phật pháp càng sanh ra các thứ vọng tưởng, phân biệt, chấp trước và phiền não. Vì vậy, Phật dạy cho ta không nên chấp pháp.
 
Trong tất cả các pháp môn của Phật đều nói đến Tín-Giải-Hành-Chứng. Phật dùng pháp hữu vi làm phương tiện giúp chúng sanh phát khởi Tín tâm (Tín) và có kiến thức (Giải) để hiểu biết về pháp môn mà mình tu. Một khi Tín-Giải đã vững vàng rồi, thì phải Hành. Hành trong Phật giáo tức là Buông Xả: buông xả tất cả các pháp, buông xả tự tư tự lợi, vọng tưởng phải quấy, nhân ngã, thị phi v.v…, ngay đến Phật pháp cũng phải buông bỏ nó ra, thì Tự tánh thanh tịnh viên minh thể mới hiện tiền. Khi đó ta gọi là Chứng đắc, tức là minh tâm kiến tánh. Minh tâm kiến tánh cũng không có nghĩa là thành Phật, vì mức độ của minh tâm kiến tánh có khác nhau:
 
· Thanh Văn chưa phá được hết chấp trước vi tế, nên chỉ chứng được Nhất thiết trí,
· Bồ-tát chưa phá được hết phân biệt vi tế, nên chỉ chứng được Đạo chủng trí
· Phật rốt ráo phá được hết vọng tưởng phân biệt chấp trước, nên đắc được Nhất thiết chủng trí.
 
Trong kinh Kim Cang, Phật dạy chúng ta phải xả bỏ bốn tướng: nhân, ngã, chúng sanh và thọ giả, để thể nhập Như Lai tánh.
 
Vì sao phải xả bỏ bốn tướng?
 
“Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng”: Tất cả những vật chất, tinh thần và hiện tượng của vật chật và tinh thần đều có sanh diệt, đều là pháp hữu vi. Phật dùng pháp hữu vi làm phương tiện giúp chúng ta nhìn thấy hết mọi chướng ngại của mình, để có thể quán nhập vào pháp vô vi vô tướng. Pháp vô vi vô tướng là pháp mà không có thể dùng ngôn từ để nói, pháp nầy chỉ có một, đó là Chân Như Vô Vi, Tự Tánh Thanh Tịnh Viên Minh Thể (chân như bổn tánh). Pháp nầy chỉ có thể tìm được trong tự tánh, không thể tìm thấy trong sách vở hay kinh sách. Do đó, nhà Thiền gọi chân thật kinh là “Vô tự Chân kinh”.
 
Tất cả pháp môn của Phật đều phải quy về Thiền định mà giác ngộ. Thiền định không chỉ có trong pháp môn Thiền. Niệm Phật, trì chú cũng là Thiền Định. Thiền nghĩa là Quán, Định nghĩa là Chỉ. Thiền Định có nghĩa là Chỉ Quán. Thiền Định hay Chỉ Quán là phương pháp để an trụ tâm và phát sanh trí tuệ. Tâm định và thanh tịnh thì trí tuệ phát sanh. Có định và tuệ thì vạn pháp sẽ tự nhiên được thông rõ một cách sáng suốt. Sự thông rõ nầy không thể do trí thức học được từ kinh sách mà có. Ngược lại, nếu chấp dính cứng ngắc vào kinh sách thì sẽ bị chướng ngại cho việc tu định và tuệ (huệ); vì vậy, nhà Thiền thường nói: “Tâm là kinh, kinh là tâm”.
 
Ngày xưa, Lục Tổ Huệ Năng, chẳng có học qua kinh sách, Ngài chỉ được nghe Ngũ Tổ giảng dạy sơ sơ đại khái về kinh Kim Cang, lúc Ngài giã gạo trong đêm khuya, Ngài liền giác ngộ tự tánh, nghĩa là minh tâm kiến tánh, và tự nhiên thông rõ mọi pháp và có thể giảng nói tất cả kinh pháp. Tại sao Ngài làm được như vậy? Vì tâm của Ngài vốn là rỗng không, còn tâm của chúng ta thì chất chứa đầy vọng tưởng, kiến chấp, ngã chấp v.v… chân thật trí tuệ khó thể phát chiếu.
 
Trong bài chú giảng “Tu Hoa Nghiêm Áo Chỉ Vọng Tận Hoàn Nguyên Quán”, Hòa Thượng Tịnh Không nói: Thái Tử Tất Đạt Đa ở dưới cội cây Bồ Đề giác ngộ được tự tánh, thành Phật, cũng do bởi Ngài có thể đem hết tất cả những kiến thức và pháp (pháp và phi pháp) mà Ngài học suốt một đời buông bỏ nó ra hết. Vì Ngài đã buông nó ra được hết sạch, một tơ hào cũng không còn sót lại, nên Ngài mới minh tâm kiến tánh thành Phật. Ngay lúc ấy, Ngài liền vì chúng sanh mà thuyết kinh Hoa Nghiêm nói rõ tánh tướng của vũ trụ nhân sanh trong mười phương pháp giới. Pháp nầy Ngài học ở đâu? Ngài chẳng học ở đâu cả, vì khi tâm thông, thì vạn pháp tự nhiên thông.
 
Chư Tổ Sư Đại Đức có nói: “Không dùng Chỉ Quán, không vào được cửa Bồ Đề”, cũng nhằm mục đích bảo chúng ta phải xả bỏ tất cả các pháp hữu vi, và phải dụng tâm để thông rõ pháp vô vi. Tất cả những gì có tướng, có âm thanh đều là pháp hữu vi.
 
Niệm Phật là phương pháp Chỉ Quán, định tâm vào câu Phật hiệu “Nam Mô A Di Đà Phật”, để đoạn trừ vọng niệm. Khi tâm được an trụ hoàn toàn trong tiếng niệm Phật, vọng niệm liền ngưng bặt. Đạo lý nầy thật rất là tự nhiên và dễ hiểu. Khi tất cả vọng niệm đều ngưng bặt, thì sẽ minh tâm kiến tánh, rõ thông tất cả pháp tánh và tướng của vũ trụ nhân sanh.
 
Đôn Luân Tận Phận, Nhàn Tà Tồn Thành, Lão Thật Niệm Phật, Cầu Sanh Tịnh Độ
 
Chắc là việc nhà và việc đời có lắm sự đa đoan ràng buộc, không có được những giây phút an nhàn thảnh thơi. Sống ở thế gian này, mọi người đều có bổn phận; người tục gia có cái bận buộc này, thì người xuất gia cũng có các bận rộn khác. Có ai trong thế gian nầy thật sự được hoàn toàn rãnh rổi và tự tại để tu hành, hoặc dạo khắp bốn phương tầm minh sư học đạo đâu? Người đa phước, giàu sang, rảnh rỗi thì lại không thích tu hành vì mê say và tham đắm trong dục lạc phước báu thế gian. Bởi thế Phật mới nói “phước báu là đại nạn”, “danh là nguy hiểm”, “phiền não là Bồ Đề”.
 
Những người giàu sang, danh vọng, an nhiên tự do v.v… mà biết tu hành nghiêm mật, biết làm phước thiện và hộ trì Phật pháp thì chắc phải là những vị Nhất Sanh Bổ Sứ, vì chúng sanh mà mặc giáp hoằng thệ, thị hiện ở đời để hoằng pháp lợi sanh và giáo hóa hữu tình.
 
Người có phiền não, mà thấy được Phật pháp, thì trong đời này, sẽ mau chóng được giác ngộ giải thoát. Phật pháp không có định pháp: Phật pháp vi diệu nhiệm mầu và thường biến để thích hợp với mọi hoàn cảnh và trí tánh của chúng sanh; thế mới biết trí rộng Đại Thừa, oai đức rộng lớn, trí vô đẳng vô luân, trí không nghĩ bàn của Phật.
 
Dù cho duyên sự có nhiều đến mấy, nếu Q.A. biết giữ cho tâm được điềm nhiên, không chuyển theo cảnh, thì lúc đang bận rộn cũng có thể được giải thoát an nhàn. Nếu không nhận biết rõ điều này, thì dù bỏ việc đời, nơi tâm cũng còn vương vấn, rộn ràng chẳng yên.
 
Ấn Quang Tổ Sư có dạy: "Đôn luân, tận phận, nhàn tà, tồn thành. Lão thật niệm Phật, cầu sanh Tịnh-độ"
 
Nghĩa là, chúng ta sống phải làm tròn luân thường đạo đức, tận hết bổn phận làm người trong gia đình và ngoài xã hội, ngăn ngừa tà tâm tà hạnh, giúp người khác làm điều thiện lành. Thật thà chuyên lòng niệm Phật, cầu vãng sanh Tịnh-độ.
 
Phật nói: Phật tử tu tại gia như vàng nung trong đống lửa, lửa càng lớn thì làm vàng càng thêm chói sáng. Người tu tại gia mà hành được thánh đạo của Phật thì khác nào hoa sen mọc trong lửa; hoa sen nầy chẳng phải là loài hoa tầm thường mọc trong nước bùn. Trong kinh Phạm Võng, Thế Tôn dạy Cận Sự Nam và Cận Sự Nữ (Phật tử tại gia) rằng: Nếu Bồ Tát tại gia có thể tu hành và giữ gìn giới cấm nghiêm mật, vững vàng không phạm, thì hiện đời là đấng trượng phu ở trong cõi nhân gian, lúc xả bỏ báo thân sẽ sanh về cõi Phật làm bạn hiền với Bồ Tát. Người học Phật nên biết an theo phận mình, giữ tròn nhiệm vụ, thì dù có tiếp xúc với muôn duyên, mỗi ngày vẫn thong dong ngoài cảnh vật. Đó chính là cái ý nghĩa của câu “Một lòng không trụ, muôn cảnh đều nhàn”.
 
Khi biết rõ sự thắng diệu của Phật pháp, thì có cái gì gọi là không tu? Có lúc nào mà không thể tu? Thậm chí rửa chén, quét nhà, nấu cơm, nuôi dưỡng người bệnh, đi làm v.v… cũng là tu. Tu những gì? Đầy đủ tất cả Giới, Định và Huệ. Trong Giới có chứa đựng cả bốn pháp: bố thí, trì giới, nhẫn nhục và tinh tấn; Giới thành thì được Ðịnh, Ðịnh thành thì được Huệ. Hơn nữa, chúng ta làm việc phụng sự cho gia đình và xã hội cũng là công việc bố thí, bao gồm cả tài và vô úy, cho tất cả chúng sanh quyến thuộc hay không quyến thuộc với ta. Hiểu được vậy, thì ta càng làm việc nhà hay việc xã hội, ta sẽ càng cảm thấy hăng say và hoan hỷ; không còn bị nhàm chán mà than thân trách phận nữa. Trong tất cả công việc hằng ngày, dù là bằng trí óc hay lao động chân tay, ta đều có thể thu đạt được các pháp công đức như: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí huệ (Lục Độ Ba La Mật). Vì sao? vì “Công” là việc làm, mà “Đức” là tánh thiện từ nơi tâm đặt trên việc làm; Vậy, khi ta đặt cái tâm thiện trên một việc làm nào đó, bất kể là Phật pháp hay phi Phật pháp, thì việc làm đó, đều biến thành “Công Đức”. Thế mới rõ biết: “Phật pháp bao gồm tất cả thế gian và xuất thế gian pháp”.
 
Người tu hành hay thường chấp pháp, cứ tưởng là phải ngồi một chỗ tọa thiền, niệm Phật, trì chú mới gọi là tu. Chứ có biết đâu làm cái gì mà chẳng phải là tu. Ý nghĩa chung của chữ “tu” là cải sửa hành vi và quan niệm của mình trong mọi sự đối vật tiếp người. Lại nữa, lúc làm các công việc này, ta vẫn có thể niệm Phật cơ mà!
 
Tóm lại, người biết tu là người biết sống một cuộc sống bình thường, làm những công việc bình thường, mà trong mọi công việc đều phát sanh thiện căn phước đức. Nếu có năng lực và phương tiện tốt, họ lại mở rộng tâm lượng bao dung, góp công sức vào việc đem Phật pháp giáo hoá và an lập chúng sanh trong Phật chánh đạo. Trong kinh Kim Cang, Thế Tôn dạy: “độ vô lượng chúng sanh, mà trong tâm chẳng thấy có một chúng sanh được độ”, như thế mới gọi là bố thí Ba La Mật.
 
Trong mọi hoàn cảnh.
 
Pháp Thân Phật – Tự Tánh Viên Minh Thể
 
Phật nói, vào thời mạt pháp thì “pháp nhược, ma cường”, ma chính là những loạn động và ô nhiễm ở bên ngoài. Vậy làm sao tránh được ảnh hưởng sức mê hoặc ở bên ngoài? Chỉ có một phương pháp duy nhất là thường xuyên tụng kinh, niệm Phật để tự mình nhắc nhở chính mình, không còn phương pháp nào khác hơn!
 
Cổ đức có dạy: “đọc sách ngàn lần, nghĩa kia tự hiểu,” nên nếu thường đọc tụng kinh Phật thì trong tâm của mình – những chỗ bí yếu hay mật nghĩa ở trong kinh sẽ từ từ hiển lộ ra. Do đó, phải nên thường xuyên đọc tụng kinh điển để “ôn cũ, biết mới”. Ca sĩ phải luôn luyện giọng mới ca hay, võ sĩ phải chuyên luyện quyền múa kiếm mới đánh giỏi, pháp sư phải thường nói pháp mới giảng được thông suốt, thì Phật tử chúng ta cũng phải siêng năng đọc kinh, nghe pháp và niệm Phật mới chữa được tâm bệnh và tập khí phiền não tích trữ trong tâm từ lâu đời.
 
Người học Phật phải tu tịnh nghiệp, thường nên quán thân bình đẳng, không đối lập với bất cứ người và vật nào. Tâm bình đẳng tức không còn chấp ngã, thì Tâm ý thức (thức thứ 6) sẽ chuyển thành Diệu Quán Sát Trí, thấy được thật tướng của vạn pháp vốn là bình đẳng và vô ngã, khi thấu suốt rồi thì chẳng có gì đáng để phân biệt và chấp trước nữa, những biên kiến hay đối lập không còn thì tâm tự nhiên trở nên vô vi, an nhiên, đạm bạc; ưu tư và phiền não chẳng thể khởi.
 
Không có đối lập tức hài hòa, hài hòa là trạng thái tương ưng hoàn toàn tự nhiên với tánh đức, đối lập và xung đột là trái ngược với Tự tánh của chính mình. Vì sao? Vì Tự tánh của mỗi chúng sanh vốn đồng thể tánh với vũ trụ. Chúng ta có thể nâng cao ‘linh tánh’ của chính mình bằng cách buông xả vạn duyên, trở về với Tự tánh, liễu Nhân thì thành Phật. Nếu tâm được an trụ trong trạng thái như như bất động, không khởi vọng niệm, thì tất cả vô minh phiền não liền được dừng dứt, tâm liền được giải thoát.
 
Trong kinh Địa Tạng nói rằng: “Chúng sinh trong cõi Nam Diêm Phù Đề, khởi tâm động niệm đều là tạo nghiệp tội lỗi.” Phật nói, vì có 41 phẩm vô minh nên có 41 phẩm vị Bồ Tát, đoạn được một phẩm vô minh thì chứng được một phần pháp thân. Ngài Di Lặc Bồ Tát nói: trong khoảng khảy móng tay, chúng sanh khởi lên 320 triệu ý niệm [Ngài thấy thấu suốt rất rõ ràng từng mỗi ý niệm sanh ra của mỗi mỗi chúng sanh]. Khởi tâm động niệm là vô thỉ vô minh, mà ngay cả các bậc A-la-hán và Thất địa Bồ Tát trở xuống cũng chưa thể thấy suốt rõ ràng, chỉ có Bồ Tát ở phẩm vị từ Bát địa trở lên mới nhận biết được một cách sáng suốt và tường tận những tác động vi tế của vọng niệm. Mỗi ý niệm khi phát khởi sẽ hình thành làn sóng có năng lượng tạo ra vật chất trong vạn pháp, nên Lục Tổ Huệ Năng nói: “Năng sanh vạn pháp!”
 
Khi Vô minh đã đoạn được, tập khí của Vô minh cũng phải tiếp tục đoạn thì phiền não mới mong dứt sạch được.
 
Ví như lấy một bình sạch đem chứa rượu – bình sạch biểu tượng cho Tự tánh, rượu biểu tượng cho Vô minh – nếu đem rượu đổ hết ra khỏi bình, một giọt cũng không còn sót lại, khi ngửi bình ta vẫn ngửi thấy mùi rượu. Mùi rượu còn sót lại đây ví như tập khí của vô thỉ vô minh khó trừ khử được sạch sẽ.
 
Trong cuộc sống thực tế cũng thế, có nhiều sự việc tuy biết rõ ràng là xấu (tức là hết vô minh), nhưng chúng ta vẫn chưa thể buông bỏ được những tập khí hay thói quen xấu này. Vì thế dù cho vô minh đã đoạn xong, thì tập khí của vô minh vẫn phải tiếp tục đoạn cho sạch thì mới có thể minh tâm kiến tánh, chứng được Tự tánh viên minh thể, siêu vượt Thanh Văn và Bích Chi Phật, nhập vào pháp môn không, vô vi vô tướng.
 
-Minh tâm là đoạn hết vô minh, ví như đem hết chất rượu đổ ra khỏi bình.
-Kiến tánh là đoạn trừ hết tập khí phiền não, ví như rửa sạch bình chứa rượu từ ngoài vào trong, từ trong ra ngoài để mùi hôi của rượu không còn nữa.
-Bình trống rỗng, không còn chứa chất rượu, không còn mùi hôi của rượu là biểu tượng của Chân như tự tánh hay Tự tánh viên minh thể (Pháp thân Phật).
 
Điều này còn cho thấy: chiếc bình dầu có chứa rượu hay rỗng không, dầu có mùi hôi của rượu hay không, trước sau chiếc bình vẫn nguyên vẹn là chiếc bình, nó vẫn giữ nguyên một dạng thể chẳng hề thay đổi, nó giống như cái Tự tánh của chúng ta vậy.
 
Đoạn trừ Vô minh phiền não là “Công”, Tự tánh viên minh thể là “Đức”.
 
Đoạn được tất cả phiền não chứng được Pháp thân Phật (Tự tánh viên minh thể) mới chính là Công Đức Chân Thật, không có công đức nào có thể sánh bằng!
 
Chúng ta có tụng kinh, trì chú, niệm Phật hay nói pháp đến hoa trời rơi rụng, nếu không thể đoạn trừ được Vô minh phiền não thì những việc làm này cũng chỉ có ‘Phước Đức’ mà thôi, không phải là ‘Công Đức Chân Thật’. Vì sao? Vì chúng ta vẫn chưa chứng được Pháp thân Phật, giống như chiếc bình vẫn còn chất rượu hoặc mùi hôi của rượu.
 
Trong pháp môn Tịnh Độ, tụng kinh niệm Phật là tu Giới-Định-Huệ. Khi đạt được công phu niệm Phật đến ‘Nhất Tâm Bất Loạn’, không còn khởi tâm động niệm nữa, sẽ chứng được Tự tánh viên minh thể, Vô minh phiền não sẽ được dừng dứt.
 
Khi tâm viên minh thì sẽ thấy Tánh và Tướng đều là một thể.
 
Tánh Tướng Đồng Nguyên: trong Tướng thấy Tánh, trong Tánh thấy Tướng, sự sự vô ngại. Tự tánh vốn vĩnh viễn không dơ cũng không sạch, không tăng cũng không giảm, không dư cũng không thiếu.
 
Phật thấy tất cả chúng sanh đều là Phật, không dơ cũng không sạch, không tăng cũng không giảm, không dư cũng không thiếu. Do vì Phật không thấy sự khác biệt giữa Phật và chúng sanh, Ngài cung kính đồng như nhau đối với tất cả Phật và chúng sanh, đó là Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác Tánh của Phật. Phật Bồ Tát chẳng hề khởi tâm động niệm, các Ngài chẳng có mong cầu, các Ngài chỉ tùy theo Tâm duyên cảm của chúng sanh mà ứng đáp. Như cái trống thời trống rỗng, cầm dùi đánh mạnh vào trống thời nó kêu to, đánh nhẹ thời nó kêu nhỏ!
 
Hễ chúng sanh cầu Phật Bồ Tát thời có ứng, tâm của Phật Bồ Tát thì vốn rỗng không tịch tĩnh, chẳng hề khởi tâm động niệm, còn tâm của chúng sanh thì có lớn có nhỏ! Trong kinh Phổ Môn nói: Quán Thế Âm Bồ Tát có ba mươi hai tướng ứng hóa thân, dạo khắp Tam thiên đại thiên thế giới hóa độ chúng sanh, tùy theo tâm lượng của chúng sanh cầu mà hóa hiện diệu sắc thân cho chúng sanh thấy, thể hiện sự đại tự tại của Phật Bồ Tát.
 
Người học Phật phải từ ở nơi Tự tánh mà thấy suốt vạn pháp. Ngoài tâm mà cầu pháp, Phật nói là “ngoại đạo!” Chúng ta hãy quán sát những người học Phật hiện nay, xem có bao nhiêu người hướng vào trong Tự tánh mà cầu đạo? Có bao nhiêu người phóng tâm ra bên ngoài mà cầu đạo? Sẽ thấy tỷ lệ của số người ‘trong đạo’ so với ‘ngoại đạo’ rất ít. Vậy mới biết Phật pháp ngày nay vì sao mà suy!
 
Phật pháp suy là do cách học và hành đạo của chúng ta không đúng với chánh pháp của Phật, chúng ta thường luôn phóng tâm ra bên ngoài để tìm kiếm những thứ không thật có, nên tâm thường bị nhiễm ô bởi ngoại cảnh, do vậy mà Phật gọi Phật tử chúng ta ngày nay là ‘ngoại đạo’.
 
Phật pháp không có định pháp, tất cả pháp đều là Phật pháp, người có trí tuệ và chỉ-quán niệm thì phi pháp cũng là Phật pháp, nếu ngược lại thì Phật pháp cũng biến thành phi pháp.
 
Vì tất cả pháp chẳng có liên hệ gì với Pháp tánh của chúng ta cả, bởi Pháp tánh của chúng ta lúc nào cũng như như bất động, một trần cũng không bị nhiễm! Tất cả những tâm ô nhiễm đều sanh ra từ sự hiểu lầm (mê lầm), khi hết hiểu lầm (hết mê lầm) rồi, thì Tự tánh liền được viên minh.
 
Tự tánh vốn đã có đầy đủ trí tuệ và đức tướng của Như Lai, nên gọi là Viên minh. Hòa Thượng Tịnh Không thường dạy: Tự tánh ví như là cái máy truyền hình (TV), hình ảnh trong TV là tướng. Hình ảnh trong TV dù có xấu tốt, có dơ sạch, nhỏ lớn … TV vẫn giữ nguyên vẹn hình dạng của nó, chẳng hề bị biến đổi theo hình ảnh trong TV. Vọng tưởng phân biệt chấp trước là những ô nhiễm làm che mờ Tự tánh nếu ta cho nó là thật; ngược lại, nếu ta biết rõ ràng nó là hư vọng như những hình ảnh trong TV thì nó hoàn toàn không có tác dụng làm che mờ Tự tánh viên minh của chính mình.
 
Người học Phật muốn có nền tảng vững chắc phải tuần tự bắt đầu học từ Tiểu thừa lên Trung thừa, rồi đến Đại thừa. Như trong thế gian, chúng ta cũng phải bắt đầu học thứ tự từ tiểu học lên trung học, rồi đến đại học, thì mới có thể thông đạt được chương trình giáo học. Nếu chưa học xong tiểu học và trung học thì không thể vào được đại học, để học và am hiểu chương trình cao cấp này. Vì vậy Phật cũng thường dùng phương tiện kết hợp nhị đế – Chân đế và Tục đế – để nói pháp, nếu Phật chỉ dùng Chân Đế thì chúng ta sẽ không thể hiểu nổi vì nó quá thâm sâu và vi tế, xa rời cảnh giới thấy biết của chúng ta. Ngay đến các chư vị A-la-hán đã chứng được Nhất Thiết Trí, và chư vị Bồ Tát đã chứng được Đạo Chủng Trí cũng còn không thể hiểu nổi.
 
Một khi ta đã thấu hiểu được hết Lý, Sự, Tánh, Tướng, Nhân Quả đều là do từ tâm tưởng sanh, ta có được nhân phước; nhưng vẫn chưa thể được đại tự tại, chỉ khi nào minh tâm kiến tánh rồi mới gọi là đại tự tại. Đại tự tại chính là cảnh giới của Thường Tịch Quang Độ.
 
Muốn đạt đại tự tại – then chốt của sự thành đạo giác ngộ – là buông bỏ mọi sự mọi vật, sanh sanh hóa hóa (quán pháp như hóa), không khởi tâm động niệm (tam muội thường tịch). An vui Niết Bàn có được là do có thể buông bỏ được ô nhiễm từ vọng tưởng phân biệt chấp trước hay không, buông bỏ càng nhiều thì càng được an vui. Những cảnh giới chứng đạt được cao hay thấp cũng do từ sự buông bỏ được nhiều hay ít.
 
· buông bỏ hết vọng tưởng chấp trước, thì chứng đặng quả A-la-hán[1]
· buông bỏ hết vọng tưởng phân biệt, thì chứng đặng quả vị Bồ Tát
· buông bỏ sạch hết tất cả vọng tưởng phân biệt và chấp trước thì thành Phật.
 
Khi đã buông bỏ được vạn pháp thì lúc mở quyển kinh ra, liền thấy bí yếu mật nghĩa trong kinh phát chiếu. Chưa buông bỏ được thì luôn bị dính kẹt vào trong những từ ngữ và sắc tướng trong kinh, chẳng thể tỏ rõ được lời dạy của Như Lai trong kinh. Vì sao? Vì bí yếu mật nghĩa (bí tạng) của kinh hàm chứa vô lượng nghĩa nhiệm mầu, nó tùy theo tâm duyên của chúng sanh mà phát chiếu!
 
[1] Các vị A-la-hán tuy rời khỏi lục đạo luân hồi nhưng đạt giải thoát chỉ có phân nửa, vì họ vẫn chưa chứng được Pháp thân, nên chưa có Trí tuệ bát nhã và đại tự tại (Đại Niết Bàn)
_()_南無大願地藏王菩薩_()_
地獄不空誓不成佛 - 眾生度盡方證菩提
_()_南無阿彌陀佛_()_

P L E A S E
If you forward this email please delete the forwarding history, which includes my email address. It is a courtesy to me and others who may not wish to have their email addresses sent all over the world! Deleting the history helps prevent spammers from mining addresses and sending out viruses. Thanks
Reply all
Reply to author
Forward
0 new messages