Ý NGHĨA TAM QUY
Đức Phật kể chuyện : Ông trưởng giả có 4 người bạn. Với bạn 1 ông chìu
chuộng. Muốn ăn được ăn, muốn áo được áo. Cho đến muốn đi chơi ông cũng lo xe
kiệu cho đi chơi.
Ông thương quý bạn 2 không rời. Hơi xa vắng ông liền sợ hãi lo âu.
Bạn 3 ông coi như ruột thịt tay chân. Bạn vui, ông an tâm. Bạn buồn, ông
chia sẻ. Mong cho bạn tất cả phú quý vinh hoa hạnh phúc.
Chỉ có bạn 4, nếu anh đến thì ông cũng tiếp chớ không đến nỗi nào. Nếu anh
không đến thì ông còn bận phụng sự 3 người bạn kia, đâu có thời giờ để đi tìm
anh.
Chợt vua cho lính tới bắt trưởng giả bỏ ngục. Bạn 1 tuyên bố bất lực chẳng
giúp được gì. Bạn 2 lạnh như tiền đi chơi với người khác. Bạn 3 khóc như mưa,
đưa trưởng giả tới cửa quan. Lại tru tréo lên khóc nữa. Nhưng rồi cũng trở về
nhà. Ai cũng có nồi cơm phải nấu, manh áo phải may, đâu có thể đứng mãi đấy. Chi
chi rồi cũng thành dĩ vãng, thành không. Chỉ có bạn 4 len lỏi vào tới cung vua.
Xin cho trưởng giả trắng án.
Phật dạy tất cả chúng ta đều có 4 bạn này. Bạn 1 là tấm thân yêu quý. Nó
đòi ăn mặc, tắm rửa, đòi nhà cửa, giày dép... đòi cả trăm thứ. Nhất nhất ta trọn
đời tận tình phụng sự. Nay vâng lời Phật, chúng ta hãy nhìn lại xem, thân này là
cái gì ?
Hư không chẳng sáng thì tối. Tinh thần chúng ta chẳng tỉnh thì mê. Mê đến
nỗi theo nghiệp vào tử cung mẹ. Uống máu tanh hôi, kết làm da thịt, thành bào
thai, tự nhận là thân thể. Mẹ do ăn cơm uống nước mới có máu cho ta. Nay ra khỏi
bụng mẹ rồi, ta cũng ăn cơm uống nước, tự chế tạo ra máu để tự nuôi thân. Vậy
toàn thân ta là máu. Máu từ cơm gạo thành. Gạo từ cây lúa mà có. Cây lúa từ đất
mọc lên. Vậy cơm gạo tức là đất. Ta mượn đất làm thân. Của đi vay ắt có ngày
phải trả. Ai đã ăn cơm để sống quyết có ngày phải trả thân về đất. Ta gọi chết
là đại hạn.
Bạn 2 là tiền bạc. Trọn đời chúng ta lo kiếm tiền. Đồng tiền là nơi nương
tựa. Vắng bóng nó, chúng ta lo âu sợ hãi. Nhưng tới ngày đại hạn, nó làm gì cho
ta ? Nó lạnh lùng sang tay người khác.
Bạn 3 là cha mẹ, vợ chồng, anh em, con cháu, họ hàng, bạn bè. Tên nó là
Tình Ái. Thế gian cho người không có bạn này là kẻ cô độc, cô quả, bạc phước,
không nơi nương tựa. Nhưng hỏi ngày đại hạn, con cháu làm gì cho cha mẹ ? Chúng
nó đau xót lắm, nước mắt như mưa, đưa cha mẹ tới mộ địa, chắp tay ba xá. Nhất từ
vạn kiếp chia ly, vĩnh viễn không bao giờ gặp nhau nữa.
Bạn 4 là tâm từ thiện. Vua Diêm Vương thấy trong tâm thức chúng ta lấp lánh
ánh sáng từ thiện thì đâu dám bắt. Hẳn phải vội vàng đón rước cung nghênh tiễn
thỉnh lên cảnh giới Thánh Hiền.
Thiện ác tuy từ tâm khởi nhưng phải đợi các duyên tịnh nhiễm. Chúng ta đã
mê muội đến nỗi chui vào tử cung mẹ, hút máu nhơ, quyện chặt làm thân. Ngạc
nhiên gì chẳng thiếu sáng suốt đến nỗi Thiện thấy ra Ác, Ác thấy ra Thiện. Đức
Phật xuất thế để nhắc nhở chúng ta quan tâm đến bạn 4.
Ngài vạch sẵn cho chúng ta một con đường gọi là đạo Phật. Đạo là tiếng Tàu.
Việt Nam dịch là đường đi. Phật là tiếng Ấn Độ. Việt Nam dịch là giác tỉnh, là
sáng suốt, là trí tuệ.
Từ Sài Gòn lên Đà Lạt, chúng ta đi nhanh chóng dễ dàng lại quyết chắc đến
nơi vì đã có một con đường vạch sẵn. Đường đời như thế, đường đạo cũng vậy.
Nhưng đường đời ở ngay trước mắt. Còn đường đạo ở đâu ? Ai cũng biết đạo Phật tu
tâm. Tâm không hình không sắc nhưng thật vẫn hiện tướng trên lời nói và hành
động. Vâng lời đức Phật, chúng ta dùng khẩu nghiệp và thân nghiệp để luyện
tâm.
Người theo đạo Phật, miệng không nói dối, không hai lưỡi, không thêu dệt,
không ác khẩu. Chỉ nói lời hòa nhã chân thật, trí tuệ và từ bi.
Miệng ta như đóa hoa sen
Mỗi khi hé mở một phen thơm lừng.
Tiếng ta như tiếng chuông ngân,
Vang vang cảnh giác xa gần khắp nơi.
Phật dạy : Không được sát sanh. Con gà cũng như ta, ăn bằng miệng, đi bằng
chân, nhìn bằng hai mắt, nghe bằng hai tai. Cũng ruột gan tim phổi, khác gì
chúng ta ? Ta có phước hơn nó nên có sức mạnh và khôn ngoan hơn nó. Nếu dùng
phước này để bắt nạt nó, cướp thịt xương nó, vui miệng trong chốc lát. Phước sẽ
thành tội. Mai đây sẽ như nó, đem thân đền nợ miệng thiên hạ. Người trí tuệ sáng
suốt dùng phước đức để hộ sanh phóng sanh nên phước đức còn hoài. Vậy đệ tử Phật
không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không uống rượu. Rượu tuy làm bằng
ngũ cốc trái cây nhưng khiến mê say. Mê si là gốc ác nên người học Phật, một
giọt cũng không thấm môi.
Tóm lại, từ vô thủy chúng ta đã lầm lạc nên nay quay về nương tựa Phật,
Pháp, Tăng gọi là quy y Tam-bảo (Quy : quay về ; Y : nương tựa ; Tam : 3 ; Bảo :
báu).
PHẬT nói đủ là Phật đà. Tàu phiên âm là Bồ-đề. Anh phiên âm là Boddhi. Pháp
là Bouddha. Việt Nam xưa gọi là ông Bụt. Bậc hoàn toàn trí tuệ vì đã dẹp sạch vô
minh vọng tưởng, trở về sống với chân tâm bản tánh thường trụ ở khắp pháp giới.
Ngài đã khám phá ra chân lý là tánh Phật, tất cả chúng sanh bổn chất sẵn
đủ.
PHÁP gốc chữ Phạn là Dharma tức là những phương pháp tu hành Phật đã phát
minh để giúp chúng ta ra khỏi đường mê. Pháp gồm 3 tạng Kinh, Luật, Luận.
TĂNG phiên âm từ chữ Phạn Shanga. Tàu dịch là hòa hợp chúng, nghĩa là một
đoàn thể tu hành từ 4 người sắp lên, cống hiến trọn đời học pháp để thành
Phật.
Trước hết chúng ta quy y TRỤ TRÌ TAM-BẢO.
Trụ trì Phật bảo là xá lợi Phật hoặc hình tượng Phật để nhớ tới đức Thích
Ca Mâu Ni đã hiện thân ở xứ Ấn Độ. Một vị Phật bằng xương bằng thịt đã ghi một
nét son rực rỡ trong lịch sử nhân loại về nếp sống thanh cao, đạo hạnh tuyệt
vời, chứng tỏ một trí tuệ không thể nghĩ bàn.
Trụ trì Pháp bảo : Kho tàng giáo điển đầy đủ để giáo hóa từ thấp đến cao
cho tất cả căn cơ, sở thích, hoàn cảnh, dắt dẫn từng bước, từ sơ tâm đến vĩnh
viễn giải thoát an vui.
Trụ trì Tăng bảo. Tăng là hòa hợp. Học chúng 3 thừa hòa hợp chung sống,
đồng lấy việc tu chứng nhập Niết-bàn làm lý tưởng và mục đích. Tam thừa thánh
chúng, Thầy hiền bạn tốt, ai biết quay về nương tựa, thật là đại hạnh.
Ngôi Trụ trì Tam-bảo dạy chúng ta quỳ gối chắp tay ngưỡng cầu ngôi XUẤT THẾ
TAM-BẢO.
Phật bảo xuất thế gian : Mười phương ba đời tất cả những bậc chánh giác, đã
đầy đủ lục độ vạn hạnh. Nhập diệu trang nghiêm hải tức là từ bi cứu cánh
(Giải-thoát đức). Viên mãn Bồ-đề nhất thiết chủng trí tức trí tuệ cứu cánh
(Bát-nhã đức). Quy vô sở đắc, khế hợp tánh chân bản hữu tức là chân lý cứu cánh
(Pháp-thân đức).
Hiện tại các ngài thường trụ ở khắp mười phương. Tuy không hình không tướng
nhưng oai thần cứu độ chúng sanh không lúc nào ngơi nghỉ.
Pháp bảo xuất thế gian : Là những công năng cởi gỡ vô minh, đưa chúng sanh
lên thánh địa. Vọng tâm là căn bệnh chính phát khởi phiền não, thúc đẩy ngũ dục,
che mờ lương tri, khiến chúng sanh không thể nhận định chánh tà, thật giả, thiện
ác. Phật sáng kiến ra những pháp quán như sổ tức để an hòa thân tâm. Bất tịnh,
từ bi, nhân duyên, 18 giới v.v... dùng lý giải khai trí giác tỉnh. Lại phát minh
những phương pháp thực hành, dùng sự việc để hiển lý tánh như lục độ, giới luật,
4 vô lượng tâm v.v... Khiến mỗi Phật tử đủ phương tiện khí cụ thực hiện hoài bão
tự giác giác tha, sớm đạt tới giác hành viên mãn.
Tăng bảo xuất thế gian : Các Thánh Tăng và các Bồ-tát đã thực hiện chương
trình độ sanh vĩ đại của đức Phật, đã đạt tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Đang
cùng Phật kiến lập một nền giáo dục xuất thế cho vạn loại hữu tình ở khắp pháp
giới.
Nương ngôi Tam-bảo trụ trì, chúng ta tìm học ngôi ĐỒNG THỂ TAM-BẢO để viên
mãn pháp Tam quy nghĩa là có lợi ích thiết thật trên đường giải thoát.
Phật bảo đồng thể tức là tánh thấy nghe hay biết không sanh không diệt,
không cấu không tịnh, không tăng không giảm. Mây mù chỉ che khuất chớ không tiêu
diệt được vầng trăng. Gió thổi, mây tan, trăng vẫn sáng rỡ. Phật tánh bị vọng
tưởng, ác nghiệp, báo chướng trở ngại không thể hiển xuất diệu dụng. Nhưng vẫn
thường còn bất biến. Chúng ta học Phật, như pháp tu hành, sẽ phát huy vô biên
công đức.
Pháp bảo đồng thể. Từ bi hỷ xả, trí tuệ bình đẳng, nhẫn nhục thanh tịnh,
tinh tấn, bá thí... đâu có thể mượn ở bên ngoài. Tâm chúng ta hằng sa tánh đức,
chỉ cần đúng như lời Phật dạy mà khai thác thì cả pháp giới hữu tình đều được
chung hưởng.
Tăng bảo đồng thể. Biết vạn pháp duy tâm. Biết tâm là chủ nhân ông trong
pháp giới nên vận trí trở về chân lý cho đến khi Trí Lý hòa hợp đồng nhất.
Quy y đồng thể Pháp bảo là quay về nương tựa tâm mình. Quy y đồng thể Phật
bảo là khai vận trí tuệ, phát huy giác ngộ. Quy y đồng thể Tăng bảo là đem chân
trí soi chân lý. Sống hòa hợp với lẽ phải nên hằng thanh tịnh. Như thế Phật Pháp
Tăng không ngoài tâm ta nên cũng gọi là NHẤT THỂ TAM-BẢO.
Phật pháp lấy nhất thừa làm cứu cánh. Đạo pháp nhất thừa quan trọng ở chỗ
tu nhân. Nhân khai phát trọn vẹn, đạt mục đích cứu cánh là chứng nhập Pháp-thân.
Phật tánh là chánh nhân. Tu học là duyên nhân. Trí giác ngộ là liễu nhân.
Quy y Tam-bảo đích thực là quy y tự tánh chúng sanh. Chỗ thâm diệu của Phật
pháp khác với tất cả ngoại đạo chính ở chỗ này. Ngoại đạo chủ trương nương tựa
một oai quyền ở ngoài. Phật giáo dạy quy y bản tâm sẵn có của mình, hồi quang
phản chiếu Như Lai Tạng tánh.
Phật tử phải quy y cả 3 ngôi trụ trì, xuất thế và đồng thể. Như lấy đức
tướng Phật đối chiếu thân tướng mình. Lấy lời Phật dạy soi sáng tâm mình. Lấy
Tăng làm mô phạm cho hành vi cử chỉ của mình.
Đức tướng Phật trang nghiêm, xét thân tướng mình làm sao sai khác ? Pháp
Phật từ bi hỷ xả, bình đẳng giải thoát. Phản chiếu lại tâm ta đã thể hiện được
chút nào ? Tăng cắt ái từ thân, ly trần đoạn dục, miên mật chỉ quán, trọn đời
phụng sự đại nghĩa. Còn ta phàm tâm tục hạnh đã đoạn xong chưa ?
Nếu chỉ quy y Pháp và Tăng hoặc chỉ quy y Phật và Pháp gọi là phiến diện
quy y, không viên mãn pháp quy y. Nếu thâm tâm cung kính Phật, do căn bản từ
Phật mà quy y Pháp, quy y Tăng thì vẫn đủ tam quy. Ba ngôi Phật, Pháp, Tăng như
3 chân của cái đỉnh, không thể thiếu 1.
Hòa-thượng Thích Đức Niệm viết lời tựa kinh Thắng Man :
Trăm sông chảy về 4 biển nhưng nước biển chỉ có một vị mặn. Phật dạy trăm
ngàn pháp môn nhưng giáo pháp chỉ có một vị giải thoát.
Phật ra đời không ngoài mục đích “khai thị ngộ nhập Phật tri kiến” cho
chúng sanh. Nhưng vì căn cơ mỗi người mỗi khác nên Phật đã quyền tạm chia nhất
thừa thành ngũ thừa, tam thừa. Khiến tất cả nhân dân tùy trình độ đều được hưởng
ích.
Vừa giác ngộ, dưới gốc cây Bồ-đề, Phật nói kinh Hoa Nghiêm làm đề tựa một
đời giáo hóa. Cuối cùng Ngài kết luận bằng kinh Đại Niết Bàn. Trước sau vẫn chỉ
một vấn đề : Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh nên đều có khả năng thành
Phật.
Lời nói của Ngài đã thể hiện. Trải 3000 năm lịch sử, ai theo giáo pháp tu
hành đã thành thánh quả. Như ngài Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, từ xưa tới nay có
tới ngàn vạn. Bên nữ cũng có bà Đại Ái Đạo, Liên Hoa Sắc v.v... Thậm chí những
đại ác như Đề Bà Đạt Đa, A Xà Thế, Vô Não v.v... cuối cùng đều có phần giải
thoát. Các vương tử trọn đời vui nghiệp kiếm cung. Một khi biết tới đạo Phật, đã
trở thành hiền nhân quân tử. Như vua A Dục của Ấn Độ, Đường Thế Tông bên Tàu,
Thánh Đức thái tử xứ Nhật Bản. Đời Trần đời Lý, Việt Nam lấy đạo Phật làm quốc
giáo, ngọn đèn đạo đức được thắp sáng, đã tạo thành một thời thịnh trị huy
hoàng.
Phật pháp mục đích đem giải thoát cho tất cả chúng sanh. Nhưng cảnh vui cõi
trời gây mê quá nặng. Nỗi khổ tam đồ tê liệt kiệt quệ hết khả năng. Duy chỉ có
loài người đủ trí tuệ phát tâm Bồ-đề và có hoàn cảnh tu hành tiến tới Phật quả.
Mất thân người rồi khó nói đến giải thoát.
Bước đầu vào đạo Phật là tam quy 5 giới. Liệt vị Tổ sư đều công nhận : Tất
cả biển khổ thế gian ngoài pháp tam quy không cách nào cứu vớt. Tất cả an vui
thế gian và xuất thế gian đều từ tam quy ngũ giới mà kiến lập.
Tam quy ngũ giới là 2 bước đầu tiên của chiếc thang chánh pháp đưa chúng ta
lên lầu Vô-thượng-giác.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
NGŨ GIỚI
An cư 1998
Tỳ-kheo-ni Đồng Nam
NGŨ GIỚI
Đạo Phật có 5 trình độ tu hành gọi là ngũ thừa :
I/- Nhân thừa : Giữ 5 giới :
1) Không giết hại.
2) Không trộm cướp.
3) Không tà dâm.
4) Không nói càn.
5) Không uống rượu.
Giữ được 5 điểm này thì hiện đời thân người mà tâm cũng
thật phẩm chất người. Nếu không giữ đủ 5 giới thì kiếp sau sẽ đọa lạc về ba
đường khổ là địa ngục, ngã quỷ, bàng sanh.
II/- Thiên thừa : Tu 10 thiện :
a) Thân không giết hại, không trộm cướp, không tà dâm.
b) Miệng không nói dối, không hai lưỡi, không thêu dệt, không độc ác.
c) Tâm không tham, sân, tà kiến.
Sau được sanh lên cõi trời.
III/- Tiểu thừa : Tu 4 trí tuệ quyết định :
a) Biết thế gian luân hồi là biển khổ.
b) Biết gốc khổ là do các phiền não tham sân si.
c) Trừ sạch gốc khổ sẽ hết quả khổ, hưởng vui Niết-bàn.
d) 8 chánh đạo là phương pháp diệt khổ luân hồi, chứng A-la-hán.
IV/- Trung thừa : Quan sát 12 nhân duyên là đường sanh tử.
Ngược chiều sẽ chứng Bích Chi Phật.
V/- Đại thừa : Minh tâm kiến tánh thành Phật.
Thân chúng ta là một bao máu mủ
tanh hôi. Hàng ngày 2 mắt ra ghèn, 2 tai ra ráy, 2 lỗ chảy mũi, miệng ra đờm
dãi, chân lông ra cáu ghét mồ hôi, 2 đường dưới ra phân tiểu. Thân đã nhơ nhớp
lại vô thường. Sanh già bệnh chết đau khổ. Sáu căn lãnh thọ cảnh trần, vinh nhục
buồn vui nhọc nhằn cay đắng. Nhưng tương đối với địa ngục, ngã quỷ, bàng sanh
thì thân người là cõi thiện, là quý báu vô ngần. Nương thân người, chúng ta có
thể tiến tu quả Thánh, vĩnh viễn thoát khổ.
Đọa lạc rồi cầu trở lên khó vô
cùng. Phật ví như rùa mù trong biển cả mong gặp bọng cây. Thân người khó được
như thế mà lại không bền. Bất chợt một cơn gió độc, một bệnh hoạn, một sẩy chân
vấp ngã… thế là vong mạng. Vậy nay đang được thân người, biết dùng nó làm bàn
đạp tiến lên quả vị Thánh Hiền là có trí tuệ sáng suốt. Ngược lại thì khác gì kẻ
đang ôm cái phao nổi ở giữa biển mà không cố gắng bơi vào bờ. Hẳn chỉ có nguy
hiểm đợi chờ. Phật dạy đây là việc cần gấp như cứu đầu mình đang bị cháy. Không
thể đội lửa mà đi, đợi có thời giờ thong thả sẽ dập tắt.
Không giết hại, đời sau được quả báo sống lâu khỏe mạnh
; không trộm cắp, đời sau giàu có, của cải không bị xâm hại ; không tà dâm, đời
sau thân tướng đoan chính ; không nói càn, mọi người kính tin ; không uống rượu,
trí tuệ thông minh. Tròn 5 giới, chẳng những lai sinh được thân người mà còn đủ
5 điều kiện hạnh phúc an vui. Nếu có khả năng tu lên, càng tiến càng hay. Ngũ
giới là căn bản, là thềm bực thiết yếu của tất cả an ninh thế gian và xuất thế
gian. Các Phật tử cần tự kiểm điểm. Nếu còn khiếm khuyết phần nào hãy lập tức tu
sửa kịp thời. Mất thân người rồi, bao giờ lại có dịp tu hành. Liệt vị Tăng Ni có
trách nhiệm chỉ bảo, nhắc nhở, khuyến tiến, để các Phật tử sống đúng chánh
pháp.
Tạo nghiệp ác, rơi xuống 3 đường dưới là điều đáng tiếc
vô cùng, đáng thương lắm lắm. Phật Bồ-tát đành không phương cứu vớt.
Hòa-thượng Thanh Từ dạy : "Đạo Phật cứu người ngay
từ lúc gieo nhân khổ chớ không phải chỉ cứu quả khổ. Song khi cứu quả khổ ta
được mang ơn còn khi cứu nhân khổ ta thường bị người đời oán ghét".
Hòa-thượng Quảng Bá dạy : "Phật đặt ra giới luật vì
thương các con. Như đứa trẻ mù lại hay nghịch dại, ra đường chơi sẽ bị xe chẹt.
Mẹ đặt chấn song ngăn cửa, khiến con an ổn trong nhà, đợi có thuốc hiệu nghiệm
sẽ giải bệnh cho con, khiến được vĩnh viễn an vui".
Tất cả sáu đạo chúng sanh đều
được thọ tam quy. Các Bồ-tát lăn lộn kết duyên với các nẻo luân hồi, đưa kẻ lạc
hướng trở về chánh đạo. Địa ngục khổ suốt đêm ngày, đau đớn bức bách liên miên,
khó khăn có được một tưởng niệm Thánh đức. Nếu có thể quy y Phật liền được hào
quang tiếp dẫn. Súc sanh cũng như quỷ thần, tình nhiều tưởng ít, hoàn toàn chịu
nghiệp thức kích thích, đắm đuối ăn ngủ, chơi giỡn, dâm dục, sân nộ, không thể
lóe một ánh sáng thiện từ, huống còn nói đến năng lực tự biết tự trị. Ngưỡng cửa
sa đọa dễ vào bao nhiêu thì đi ra cũng khó bấy nhiêu.
Duy chỉ loài người trở lên mới
có trí tuệ thọ trì giới luật. Những ai đã thọ 5 giới nên vui mừng, tự biết mình
có ngọc báu trong tâm. Cẩn thận, cẩn thận lắm mới được ! Sơ ý một chút, một lời
nói lỗi lầm cũng đủ vĩnh kiếp khốn khổ.
Luật Sadi kể chuyện : Một Tam
tạng Pháp sư, nhân nghe một Tỳ-kheo già lão tụng kinh, giọng ồ ề, liền diễu cợt
: "Ông tụng kinh như chó sủa”. Chỉ vì ngứa lưỡi một lời không đâu như thế mà
phải làm chó 500 đời liên tiếp. Thân cuối cùng vì ăn vụng bị chủ chặt cả bốn
chân, ném vào hố rác. Ngài Xá Lợi Phất đi qua, cho chó ăn cơm, thuyết pháp thức
tỉnh. Chó chết, đầu thai vào nhà trưởng giả. Lên 7 tuổi, thấy ngài Xá Lợi Phất
đi khất thực, mời vào nhà, xin cha mẹ cho xuất gia theo ngài. Sau chứng quả
A-la-hán. Nếu không phải là bậc thiện căn phúc đức sâu dầy thì biết bao giờ mới
có ngày ngóc đầu lên được".
Phật đặt ra lệ bố tát vì con
người bạc phước hay quên, khó khăn giữ được thiện nguyện. Mỗi tháng 2 kỳ, ngày
rằm trăng sáng và 30 trăng tối, các đệ tử đã thọ 5 giới phải đến chùa cầu nghe
giới. Bố tát, Tàu dịch là Trưởng Tịnh (trưởng dưỡng công đức, tịnh trừ phiền
não), là ngày ta xem lại giới phẩm của ta. Nếu lỡ có khiếm khuyết phải sám hối
ngay. Chớ có lười biếng buông lung coi thường. Tánh đức tuy ai cũng ngang bằng
Như Lai song vọng thức đã sanh vọng tình, biến đủ 84.000 trần lao phiền não. Chỉ
trừ Bồ-tát giáng thế còn ai cũng mê cả. Tâm mê dễ phát nghiệp. Cũng mang tai mắt
con người đấy nhưng khác nhau xa lắm. Có cái thân thấm nhuần đạo đức. Mỗi lời
nói mỗi cử chỉ là một Thánh sự. Có cái thân trần phàm ma quỷ. Lồng ngực chứa
toàn tham sân tà kiến. Nếu không có giới luật của Phật thì hầu hết chúng ta đều
thuộc loại số 2. Kinh dạy : Đại thừa Bồ-tát mới thật sự là Phật tử. Xuất gia mới
hướng về Thánh quả chỉ là danh tự Phật tử.
Chăm sám
hối, chăm nghe giới như trồng cây chăm làm cỏ, chăm vun tưới. Hàng ngày không
thấy cây lớn nhưng ngày qua tháng lại sẽ có hoa thắm đầy cây, quả ngọt trĩu
cành. Cứ thủ thường mà đều đều bước. Không tham lam vội vàng cầu nhiều giới. Quá
lực không giữ nổi sanh chán nản dễ sa đọa. Chưa từng thấy trời đất có 5 – 6
tháng xuân một lúc, để lại cho cây nghỉ khai hoa vài mùa. Thiếu nhịp nhàng điều
hòa, đời sống không thể vững lập. Giới đức cũng vậy. An nhàn thư thái mà tu
hành. Còn ở tại gia, chớ tưởng mình xa Thánh đạo. Cốt yếu giữ vững đường chính.
Sĩ nông công thương đều là Bồ-tát nghiệp. Tài thí, pháp thí, bao nhiêu cơ hội
hành đạo. Đã có giới lại phát tâm quảng đại từ bi thì có thể tiếp dẫn cho cả chư
thiên bách thần. Biết vậy để mà cố gắng. Chẳng nên cậy mình, khinh người chưa
thọ giới.
Giới có 5 khoa :
1) Giới pháp của đức Tỳ Lư Giá Na.
2) Giới thể do Thầy truyền trao. Hoạn nạn nguy hiểm dù mất thân cũng không
bỏ. Lấy giới làm thể chất mạng sống nên gọi là giới thể.
3) Giới tướng : Hành động nói năng, oai nghi đúng pháp.
4) Giới hạnh : Ông quan không làm phận sự thì bị cách chức. Thọ giới không
thật hành thì mất giới.
5) Giới phẩm : Chức sắc, phẩm tước xuất thế gian".
Kinh Quán Đỉnh và Luận Pháp Uyển Châu Lâm chép danh hiệu 25 giới thần
:
I- 5 thần hộ giới không giết hại.
1) Sái Sô Tỳ Dũ Xa Ni trừ tà ác yêu tinh.
2) Du Da Lợi Du Đà Ni ủng hộ sáu căn mạnh đủ.
3) Tỳ Lâu Già Na Ba điều khiển bình hòa năm tạng (tim, gan, phổi, thận, lá
lách).
4) A Đa Long Ma giúp huyết mạch lưu thông.
5) Ba Na Hoàn Ni Hòa Ba bảo hộ tay chân và các móng.
II- 5 thần hộ giới không trộm cắp.
1) Đề Ma A Tỳ Bà Đà khiến ra vào đi lại được an ninh.
2) A Tu Luân Bà La Đà ủng hộ cho ăn uống ngon miệng.
3) Bà La Ma Đàn Hùng Thư hộ vệ giấc ngủ an ổn.
4) Bà La Môn Địa Bệ Đa trừ các thứ sâu độc, khiến các loài có nọc độc tránh
xa.
5) Na Ma Hu Đá Da Sa trừ các thứ độc sương gió nắng mưa.
III- 5 thần hộ giới không tà dâm.
1) Phật Đà Tiên Đà Lầu Đá trừ khẩu thiệt.
2) Bế Xà Na Tấu Đa Xa trừ quỷ ôn dịch.
3) Đát Mễ Hê Đà Đa Da giúp các việc quan lại được hanh thông.
4) A La Đa Lại Đô Da hộ trì nhà cửa.
5) Ba La Na Phật Đà bình định 8 thần trong nhà.
IV- 5 thần hộ giới không nói càn.
1) A Đề Phạm Dã Xan Da trừ ác quỷ ở mồ mả.
2) Nhân Đài La.
3) A Dà Lam Thi Bà Đa trừ thần ngoại khí.
4) Phật Đàm An Na Đa Đá trừ hỏa tai.
5) Đa Lại Xoa Tam Hát Đà trừ trộm cướp.
V- 5 thần hộ giới không uống rượu.
1) A Ma La Tứ Đâu Hy trừ hổ lang.
2) Na La Môn Là Đầu Đế giúp tránh thần chết.
3) Tát Bê Ni Càn Na Ba khiến các tiếng kêu của cú cáo v.v… không làm tổn
hại.
4) Đồ Bệ Xà Tỳ Xá La trừ những biến quái của chó chuột.
5) Dà Ma Tỳ Na Xà Ni Khư đề phòng các quan âm ghi chép.
Ngày xửa ngày xưa, ở một nước
kia, nhà vua bắt buộc nhân dân phải giữ 5 giới. Một người bạn ở nước khác về
chơi, vô tình đem một chai rượu biếu Lam Xoa. Lam Xoa nể bạn, cùng nhau ăn uống.
Tai vách mạch rừng đem chuyện đến vua. Lam Xoa bị trục xuất ra khỏi nước.
Lang thang đi mãi, tới mé rừng
nọ, trời sụp tối. Cây cối như thêm rậm rạp trong bóng đêm chập trùng.
May sao, xa xa le lói ánh đèn. Mừng quá, Lam Xoa vội tới gõ cửa xin ngủ đỡ.
Có tiếng trong nhà vọng ra : “Đây là nhà yêu tinh. Nó mà thấy thì ông mất mạng”.
Giật mình, Lam Xoa vội lùi bước. Rừng sâu thăm thẳm mịt mù. Biết chỗ nào không
có hùm beo rắn rết. Lam Xoa trở lại, liều gõ cửa. Chủ nhân là một công chúa bị
yêu tinh bắt về làm vợ đã mấy năm. Cô cho Lam Xoa ăn no. Gần tới giờ yêu tinh
về, cô bảo Lam Xoa ngồi vào trong một cái cóng lớn. Cô đậy nắp những lo yêu tinh
đánh hơi biết được thì nguy cả. Dong đèn chờ yêu tinh mãi tới sáng, chẳng thấy
yêu tinh về. Công chúa mở nắp cóng cho anh chàng tốt số trèo ra.
Tiễn
khách nắm cơm ít muối xong, cô quay vào lo việc nội trợ. Đến tối yêu tinh về.
Hỏi : Sao bữa qua không về ? Đáp : Hôm qua trong nhà có đệ tử Phật. Người này đã
thọ giới. Mấy chục ông thần theo hộ nên tôi không dám vào. Từ nay chớ cho đệ tử
Phật vào nhà, kẻo tôi mất về đấy !
Đi mãi
vẫn chẳng ra khỏi rừng, Lam Xoa nghĩ : “Ta nên trở lại rủ công chúa đi tìm cha
mẹ”. Gặp lại Lam Xoa, công chúa kể chuyện yêu tinh sợ anh vì anh là đệ tử Phật.
Lam Xoa mừng lắm , mang ngay điệp phái ngũ giới có dấu son đỏ chói lóe mắt, dán
ở ngoài cửa. Yêu tinh biết điều thì chớ có bén mảng ! Anh khuyên công chúa cùng
anh kết nghĩa vợ chồng rồi cùng nhau đi tìm cha mẹ. Anh chọn con gà to nhất của
yêu tinh, làm thịt để tế tơ hồng, cầu trời đất chứng minh. Công chúa lấy vàng
bạc của yêu tinh ra, cùng nhau bàn tính phần nào tậu ruộng, phần nào làm
nhà.
Vô tình,
hữu tình ở cõi Ta Bà lặng lẽ chuyển biến, sát na sát na sanh, sát na sát na
diệt, bóng tối nhẹ nhàng phủ kín non sông. Yêu tinh gọi cửa. Tiếng the thé như
gió thét trong rừng khuya. Hốt hoảng, Lam Xoa chạy tọt vào cóng. Công chúa vội
đậy nắp. Định lê ra mở ngõ nhưng sợ quá, ngã lăn xuống đất, chết ngất. Yêu tinh
nóng ruột, đấm cửa tưởng vỡ nhà.
Trong
chum, Lam Xoa suy nghĩ không biết làm sao yêu tinh lại dám về. Lá điệp ngũ giới
rõ ràng anh đã dán kỹ ở cửa. Giới thần đâu mà để cho yêu quái hoành hành như vậy
?
Nghĩ tới
giới thần, anh sực tỉnh. Anh đã phạm những gì ? Dỗ vợ người làm vợ mình, dù là
vợ yêu tinh, cũng là bất chính (tà dâm). Rủ nhau chiếm đoạt của yêu tinh (ăn
trộm). Bàn tay anh đã nhuốm máu gà (giết hại). Miệng anh đã nhiều lời không đúng
sự thật khi tự thuật về thân thế với công chúa (nói dối). Còn giới cấm uống rượu
thì anh đã phạm từ ở nhà. Vậy còn giữ được giới nào mà mong thần ủng hộ ? Anh
toát mồ hôi. Cái chết cầm chắc trong tay, cái chết đê hèn xấu xa, dưới bàn tay
yêu quái, vì sát đạo dâm vọng.
Năm điều
trong trắng anh vẫn giữ từ tấm bé. Mà nay, phút chốc mê si, anh đành để ma tà
cắt đứt đời sống đang tuổi xanh tươi khỏe mạnh. Hình ảnh mẹ anh hiền hậu ngồi
niệm Phật. Khói nhang nhẹ cuốn trên bàn thờ. Đêm nay, giờ khắc này, mẹ đang cầu
nguyện cho con"
Anh hối
hận vô cùng. Kiếp này đành lỡ. Chết là đáng ! Anh không khóc, chủng tử cường
tráng vụt nở bùng. Anh thề thế thế sinh sinh sẽ giữ tròn giới luật, thế thế sinh
sinh tu Bồ-tát nghiệp. Quyết mang hết tâm lực cứu giúp thức tỉnh những ai còn
lạc hướng. Nguyện rồi, thư thái, anh nhắm mắt niệm Phật, đợi giờ trả nghiệp. Anh
niệm Phật thật lâu, lâu lắm, tha thiết niệm, không bận lòng gì đến thời khắc
hoàn cảnh.
Ngoài
rừng chim ríu rít gọi đàn. Muôn vật tưng bừng đón ánh bình minh, quên hẳn những
lo âu của đêm tối. Anh lấy làm lạ. Sao yêu tinh chưa vào ? Anh nâng nắp cóng
đứng dậy.
Trên
bàn, mâm lễ tơ hồng vẫn còn nguyên. Công chúa nằm xoài dưới đất. Cửa ngõ vẫn
đóng. Lam Xoa chợt hiểu. Đồng thời, lúc anh tỉnh ngộ sám hối, giới thần đã trở
về. Ma tà phải tránh. Nhờ đã nghĩ tới giới hạnh, anh thoát nạn yêu tinh. Anh lại
được nối tiếp đời sống trong trẻo sáng tươi cường dũng. Anh lấy nước gừng đổ cho
công chúa tỉnh, nói cho công chúa biết chí nguyện của mình. Công chúa xin anh
đưa đến nơi có Tam-bảo để được quy y ánh sáng trí tuệ thanh tịnh và từ bi.
Đổi niệm
phu thê thành tình huynh muội, hai anh em mở cửa phóng sanh cho dê heo về rừng.
Vòm trời xanh thăm thẳm, lấp lánh những tia nắng kim cương. Tay không, lòng vui
vẻ, hai người con Phật nhanh chân trên bước đường về. Dưới khí ấm của mặt trời,
trên hơi mát của nước trong, vài chiếc lá non nho nhỏ màu ngọc thạch báo trước
một mùa sen mới sẽ khai hoa.
Một thuở
nọ, đức Thế Tôn an cư 3 tháng tại tinh xá Kỳ Hoàn ở thành Xá Vệ cùng với các đại
Tỳ-kheo. Một đêm, 2 thiên tử hào quang sáng rực tới đỉnh lễ Như Lai, nghe pháp,
ngộ lý vô sanh, chứng Tu-đà-hoàn, lễ tạ rồi bay về thiên cung. Ngài Anan thỉnh
Phật cho đại chúng biết 2 thiên tử đã tu hạnh gì mà được thân tướng trang nghiêm
như thế.
" Thời
Phật Ca Diếp, Phật Pháp đã diệt, có 2 Bà-la-môn thọ bát quan trai giới. Một
người nguyện sanh lên trời nhưng vì giới phẩm không tròn nên đọa làm rồng, ở
ngay tại quốc độ ấy. Ông kia cầu làm nhân vương. Vì giới phẩm tinh nghiêm nên
mệnh chung như nguyện sanh vào cung vua làm thái tử. Lớn lên kế nghiệp vua cha,
quốc gia thịnh trị thái bình. Một hôm, trong ngự uyển, một trái cây lạ, mùi thơm
ngào ngạt, nổi lên trên mặt giếng. Quan coi vườn vội dâng vua. Vua ăn thấy ngon
ngọt kỳ diệu, đòi nữa. Quan coi vườn thưa : “Đây không phải trái trong vườn mà
từ nước giếng nổi lên. Chỉ có 1 trái”. Vua cho là nói láo, nổi giận, dọa chém
đầu. Quan về bờ giếng tủi thân ngồi khóc. Bỗng một con rồng ngóc đầu lên khỏi
mặt giếng, nói tiếng người : “Thôi đừng khóc nữa. Ta dâng cho vua nhà ngươi một
mâm trái cây. Vua phải cho ta bản kinh Bát Quan Trai. Hẹn 70 ngày mà không có,
ta sẽ dâng nước ngập lụt khắp nơi cho vua quan nhà ngươi chết sạch".
Vua hết
sức lo rầu vì không tìm đâu ra kinh Bát Quan Trai để nộp cho rồng. Loan báo toàn
dân biết quốc nạn. Một lão ông từ miền cao nguyên về triều đình, trình rằng :
“Chùa làng có cây đa cổ thụ, lâu lâu hiển ánh sáng. Dân chúng lớn lên đã thấy
việc này nên chẳng cho là lạ. Nay vua cầu báu hiếm, xin cho các quan về tìm ở đó
xem sao”. Quả nhiên sau 3 ngày cả nước khấn cầu, người ta tìm thấy trên cây đa,
trong một cái hốc sâu, một hộp đá trong có cuốn Nghi Thức Thọ Giới Bát Quan
Trai.
Vua
thiết hương án đón kinh, sai đại thần sao lại một bản. Rồng được kinh, như pháp
tu hành, chuyển sanh được về cõi trời. Vua cũng được kinh, bắt tất cả nhân dân
cùng tu trai pháp. Mệnh chung đồng về cõi trời, 2 thiên tử ngày nay chính là 2
Bà-la-môn thời Phật Ca Diếp.
Kể từ
khi Kondadhana thọ giới Tỳ-kheo, mỗi khi ra đường, liền có một cô gái theo bén
gót. Ai ai cũng thấy. Đến nỗi thí chủ để bát cho Thầy, muỗng thứ nhất nói : Đây
là phần ngài. Muỗng thứ hai nói : Đây là phần cô bạn ngài.
Đại chúng rất công phẫn, đã bạch Phật nhiều lần. Phật chỉ gật đầu rồi bỏ
qua. Không thể chịu nổi, người ta yêu cầu trưởng giả Cấp Cô Độc can thiệp.
Trưởng giả không dám. Không còn cách nào hơn, vua Ba Tư Nặc cho lính đột xuất
bao vây tinh xá. Vua cho thỉnh Thầy ra nói chuyện. Rõ ràng cô gái đi theo sau.
Vua không đỉnh lễ, mời Thầy trở vào phòng để được nói chuyện riêng với một mình
Thầy. Nhưng cô gái cứ theo sau Thầy. Thầy vào trong phòng thì cô gái biến mất.
Vua sai quân lính lục soát khắp trong ngoài phòng không thấy cô gái. Vua hỏi :
"Bạch ngài, cô gái vừa đi sau ngài nay đâu rồi ?"
- Bần
đạo chẳng thấy ai.
- Chính
mắt trẫm thấy một phụ nữ đứng sau ngài mà !
- Bần
đạo không biết.
Thầy bực
mình trả lời rồi bỏ đi ra. Lập tức cô gái theo sau lưng Thầy. Vua mời cả 2 trở
vào. Thầy vào phòng. Cô gái biến mất. Ba lần thử đều như vậy. Vua hiểu vì sao
Phật không quở trách Kondadhana. Biết Thầy phải chịu lắm khó khăn vì rắc rối
này, vua thỉnh Thầy từ nay vào cung để vua cúng dường khỏi đi khất thực.
Các
Tỳ-kheo tức lắm, có người lớn tiếng quở trách. Từ xưa Thầy vẫn nhẫn nhịn đủ thứ
sỉ nhục. Nay vì đã được vua Ba Tư Nặc thông cảm, Thầy liền đáp : “Chính các
ngươi phá giới”. Được dịp, các Tỳ-kheo liền cử tội hiềm mắng chúng Tăng. Phật
nhóm chúng, kể rằng :
Thời
Phật Ca Diếp, có 2 Tỳ-kheo rất thân nhau. Ngày tự tứ, 2 Thầy cùng về chúng. Một
thiên tử cõi Đao Lợi khởi tâm trêu chọc. Chợt một Thầy đau bụng, bảo bạn đứng
đợi rồi đi về bụi cây ở xa để đi sông. Công việc xong xuôi, Thầy từ bụi cây đi
ra. Cũng từ bụi cây ấy đi ra, liền sau gót Thầy, một cô gái, một tay vén tóc,
một tay nắm quần, tựa hồ mới làm việc ân ái. Đợi vị Tỳ-kheo ở xa kia trông thấy
đủ rồi, cô gái mới ẩn vào đám cây mà biến đi. Khi Thầy đi sông về đến nơi,
Tỳ-kheo kia liền nói : Anh phá giới, anh vào bụi cây với gái, chính mắt tôi
trông thấy.
- Thưa,
tôi đau bụng đi sông. Bụi cây giữa đường làm gì có gái.
Rốt cuộc
đôi bên không thể nhìn mặt nhau. Thiên tử vội hiện thân người đến nói sự thật.
Hai Tỳ-kheo mới chịu cùng nhau tiếp tục đi dự lễ.
Tinh
nghịch chơi đùa một chút như thế, thiên tử đã phải vào địa ngục 1 kiếp. Cô phụ
nữ ngày nay chỉ là dư báo. Kondadhana hãy cẩn thận ! Chớ tạo thêm khẩu nghiệp
nữa. Mạ nhục chúng Tăng tội báo nặng lắm. Khổ mãi đến bao giờ mới xong. Phật nói
kệ rằng :
Lời nói
bất nhã sẽ có bất nhã đáp lại.
Đánh đập
người sẽ bị đánh đập lại.
Giữ tâm
bất động, im lặng như câm.
Mới hy
vọng Niết-bàn !
Kondadhana sau chứng A-la-hán.
CÔNG ĐỨC TRÌ 5 GIỚI
- 5 giới
là nền tảng của tất cả pháp lành.
- Giàu
sang, trường thọ, danh dự, lợi dưỡng, sanh thiên, thành Phật… chỉ việc trì 5
giới ước nguyện gì cũng thành.
- Người
trì 5 giới, lâm chung, dao gió chẻ xương, cắt đứt gân mạch, vẫn không sợ hãi vì
tự biết thanh tịnh.
- Đại ác
bệnh, 5 giới là thuốc.
Sợ hãi nguy hiểm, 5 giới che chở.
Chết tối tăm, 5 giới soi đường.
Biển khổ ác đạo, 5 giới là cầu thuyền.
Già bệnh chết, chỉ nương giới định tuệ mà giải thoát.
- Không thân mạng, của báu dùng làm gì ? Nên thân mạng
quý hơn của báu. Nhưng bốn đại vô thường sẽ tan rã sau khi chết. Chỉ giới thể
không mất.
Khách
hỏi : Thế nào là ý Tổ từ Ấn Độ sang ? Thiền sư Tánh Không đáp : Có người bị té
xuống giếng sâu 1000 trượng, không một tấc giây cứu tế. Đợi người ấy lên, tôi sẽ
trả lời.
Khách
đem việc này thưa ngài Đàm Nguyên, được một lời quở : “Kẻ si, ai ở dưới giếng
?”
Sau đến Quy Sơn. Quy Sơn liền gọi : Huệ Tịch !
- Dạ !
- Ra rồi
! Ra rồi !
Khách tỉnh ngộ : Tôi ở Đàm Nguyên được danh, ở Quy Sơn được thể.
Bình luận : Huệ Tịch đinh ninh có người ở dưới giếng. Ngờ đâu bị gạt. Đàm Nguyên
gỡ cho bảo : Kẻ si ! Ai ở dưới giếng ? Huệ Tịch nhận được lý không người dưới
giếng mà chưa thật thấy mình. Đến câu “ra rồi” mới vỡ lẽ.
(Trích Lá Bồ Đề của Hòa-thượng Thanh Từ)
Lời phụ
: Chúng ta đã biết độc ác vào địa ngục. Bỏn sẻn tham lam phải làm quỷ đói. Ngu
si tà kiến chịu thân bàng sanh. Phật dạy trì 5 giới để được thân người, tu 10
thiện được sanh lên trời.
Vào địa
ngục là đi đường hỏa đồ, chịu nướng trong lò lửa, ninh trong vạc dầu. Thân quỷ
là đi đường đao đồ, đối xử với nhau quanh năm bằng dao gươm dùi gậy. Bàng sanh
đi đường huyết đồ, ăn tươi nuốt sống lẫn nhau. Lại còn bị loài người phanh thây
xé xác, chặt đầu mổ bụng.
Được
thân người tương đối đỡ khổ nhưng vẫn già bệnh chết, sinh sống nhọc nhằn, ân ái
biệt ly, oán thù gặp gỡ v.v" Được thân trời gọi là nơi sung sướng nghĩa là sáu
căn suốt đời bị gây mê, đợi chờ 5 tướng suy xuất hiện để lại trở về luân hồi các
nẻo.
Cứ mê
muội nhận sắc thân báo chướng là mình. Nhận sáu trần do sáu căn chiếu ra là cảnh
có thật ở bên ngoài. Nhận thức tình khổ vui (thọ), yêu ghét (tưởng), thiện ác
(hành), phân biệt (thức) là tâm ta. Ngài Tánh Không gọi cái vô minh mê muội ấy
là giếng sâu ngàn trượng. Không một sợi giây cứu tế vì chúng ta vẫn ở trong hầm
vực sanh tử đó từ vô thủy. Nào có nghĩ đến giải thoát ! Cho nên Tổ Sư mới phải
từ Ấn Độ qua Trung Hoa thòng giây cứu vớt.
Đợi
người ấy lên, tôi sẽ trả lời : Đợi khi nào ông tỉnh ra, ông sẽ tự biết. Hầm hố
vô minh thật sâu nhưng không thật có. Đức Quán Tự Tại chiếu soi 5 uẩn đều không,
độ hết thảy khổ ách. Người té : Ngã chấp. Xuống giếng : Pháp chấp. Tu chứng rồi
mới biết vô biên sanh tử từ vô thủy chỉ là giấc mộng đêm qua. Còn ở trong vô
minh, chúng ta cứ đinh ninh thân 4 đại là mình. Mừng giận yêu ghét là tâm ta.
Nắng mưa vinh nhục là cảnh thật hiện tại của ta. Được ngài Đàm Nguyên đánh thức,
Huệ Tịch ngộ được thân và giếng đều không. Nhưng phải đến Tổ Quy Sơn mới vỡ lẽ
tánh Phật của mình bản lai vẫn viên thông tự tại.
Vì thế
Tịnh-độ tông dạy niệm Nam mô A Di Đà Phật.
Niệm :
nhớ đến không quên.
Nam mô :
quy y : quay về nương tựa.
A Di Đà
: vô lượng quang, vô lượng thọ, vô biên công đức.
Phật :
người đã hoàn mãn sự nghiệp giác tỉnh, không còn ở trong giấc mộng vô minh sanh
tử. Cũng như đức Thích Ca, Phật A Di Đà đã thấy rõ bản lai chúng sanh nào cũng
đủ đức tướng trí tuệ Như Lai. Nghĩa là ai cũng có tánh Phật (vô lượng quang),
không sanh không diệt (vô lượng thọ), đều có khả năng thành Phật (vô biên công
đức).
Ngài phát 48 nguyện, đưa người niệm danh hiệu A Di Đà về cảnh giới bảo đảm quả
vị Phật. Bởi vì nhận được tự tánh A Di Đà tức là Ra rồi ! Ra rồi !
Kinh A
Di Đà chỉ đòi ở người tu một điều kiện là nhất tâm bất loạn, một lòng sống với
tánh A Di Đà. Không còn loạn tưởng là không còn tơ vương đến 5 uẩn (căn trần
thức sanh tử). Nhà Thiền gọi là đả tâm thành một phiến. Phải quyết định buông
hẳn những mơ mộng sanh tử, chiếu soi 5 uẩn thật sự là không, trở về hoàn toàn
với căn bản trí. Lăng Nghiêm gọi là thấy nghe bằng căn bản Bồ-đề. Kinh Pháp Hoa
gọi là Phật tri kiến.
Niệm
Phật A Di Đà, cầm xâu chuỗi 108 hạt là tuyệt đối sống với thật tướng diệu minh
vô sanh bất diệt, không còn ở trong 108 thọ cảnh của căn trần thức.
6 căn + 6 trần = 12 ;
12 x 3 thọ (khổ vui si) = 36 ;
36 x 3 thời (quá khứ, hiện tại,
vị lai) = 108.
VĂN KẾT
Dịch dịch châu chuyển, lãnh lãnh ngọc chân.
Dịch dịch : Theo duyên chuyển động thì hạt châu chân tánh biến đủ 4 Thánh 6
phàm.
Lãnh lãnh : Lặng lẽ thanh nhàn. Não phiền cùng từ lành đồng thể. Địa ngục
rừng kiếm sánh sắc với bạch hào tướng quang. Quán Bát Nhã xét giả không thì tự
an ổn. Tín ngưỡng chân không thì thấy được then chốt huyền vi của pháp
giới.
Đức Địa Tạng nắm được ngọc chân
rồi lại dịch dịch châu chuyển, đem diệu hữu độ quần mê :
Địa ngục chưa không, thề chẳng thành Phật.
Chúng sanh độ tận, mới chứng Bồ-đề.
Ai đọc
kinh Địa Tạng cũng thấy rõ ràng Bồ-tát chỉ dùng 2 pháp môn ngũ giới và niệm Phật
để dạy chúng sanh phá địa ngục chứng Bồ-đề.
LỄ VU LAN
Thế gian
đặt ra ngày Thầy thuốc, ngày Thầy giáo v.v… để nhắc con người nhớ đến bổn phận.
Đức Phật đặt ra lễ Vu Lan để 4 chúng đệ tử nhớ đến cha mẹ ông bà, thân quyến âm
dương, hiện đang còn ở trong vòng luân hồi sanh tử.
Vu Lan
nói đủ là Vu Lan Bồn. Phiên âm từ chữ Ấn Độ Ullambana. Tàu dịch là Cứu-đảo-
huyền, cứu cái khổ bị treo ngược để tra tấn ở trong địa ngục. Địa ngục có muôn
ngàn hình phạt. Nay chỉ lấy một tướng khổ để nêu biểu.
Ngài Mục Kiền Liên hỏi cách nào thoát khổ ? Phật đáp : “Chờ giờ tự tứ của
chúng Tăng mà cúng dường”.
Như thế
là chỉ liệt vị Tăng Ni, hiện hình của giới luật, mới có chìa khóa mở cửa địa
ngục. Mà cũng chỉ những vị có an cư có tự tứ nghĩa là như pháp, như lời Phật
dạy, mới sử dụng được chìa khóa này.
Trong
kinh Vu Lan, đức Phật đã đích xác gọi ngày chúng Tăng tự tứ là ngày mở cửa địa
ngục. Việt Nam vâng Phật, gọi ngày rằm tháng 7 là ngày xá tội vong nhân. Tội địa
ngục còn cứu được huống chi các tội khác.
Đức Thế
Tôn đã giao cho tu sĩ chúng ta trách nhiệm nương pháp môn tự tứ để cứu khổ đảo
huyền. Vậy chúng ta phải chân thành làm lễ tự tứ. Bản thân ba nghiệp cần cầu sám
hối, thiết tha đỉnh lễ đại chúng cầu được chỉ lỗi. Được quở trách là được vàng
ngọc. Vì cha mẹ thí chủ do đây thoát địa ngục, ông bà cha mẹ mình do đây hưởng
vạn sự bình an.
Ngày rằm
tháng 7 là ngày xá tội vong nhân. Mười phương cõi âm chờ đợi. Còn cõi dương,
ngày này có xá tội không ? " Chẳng biết ai đâu, chính tu sĩ chúng ta, nhân sám
hối và tự tứ, chắc chắn được giải nghiệp báo. Cha mẹ chúng ta cùng các thí chủ
là những người trồng cây và vun bón hẳn được hưởng quả lành.
Nhưng
muốn đạt mục đích này 3 nghiệp chúng ta phải đúng pháp. Ngày đêm giới định tuệ
phải trang
nghiêm.
Trên thực tế, vừa đãng tâm liền mất định. Mắt tai vừa tạp cảnh trần liền mất
tuệ. Không định tuệ thì giới phẩm dễ sơ sót hàng ngày mà nào có hay.
Đầy chùa
lễ vật cúng dường. Hàng Phật tử tại gia sốt sắng vâng lời Phật, mở hội Vu Lan.
Liệu thí chủ có được như ý không ? Nếu không thì chúng ta mắc nợ. Ai trả nổi nợ
này cho chúng ta ? Chúng ta phải biết kính trọng ngày lễ Vu Lan. Tất cả 4 ân 3
cõi pháp giới hữu tình đều trông mong một ngày này.
Lễ Vu
Lan là ngày các tu sĩ đền ơn Phật Tổ, mãn nguyện Bồ-đề. Nhưng hạ căn chúng ta
làm thế nào để có thể tát cạn biển trầm luân mông mênh bát ngát ? Đức Phật đại
trí tuệ lẽ nào lại đặt lên vai chúng ta một gánh nặng đến nỗi chúng ta phải ngã
quỵ ? – Xin thưa, gáo để tát biển khổ Ta Bà là 3 học Giới Định Tuệ. Nhận được tự
tánh A Di Đà (vô lượng quang, vô lượng thọ) là Tuệ. Nhất tâm niệm Phật không
loạn là định tuệ cân phân. Như thế, sống với căn bản Bồ-đề, hàng phục ý thức
phan duyên là đủ cả thiền giới, vô lậu giới. Huống chi Ba-la-đề-mộc-xoa đức Phật
đã để lại cả kho. Lịch đại Tổ Sư trải 2500 năm đã nối tiếp truyền trao đầy đủ.
Các bậc Thầy hiện nay đang cặn kẽ tỉ mỉ giảng rõ từng sự tướng phải giữ gìn. Nội
quy xuất thế hàng năm cho chúng ta 3 tháng an cư để chuyên ròng ôn tập giới
luật. Lại đặt ra lễ tự tứ để nhờ cậy những con mắt sáng chỉ cho bao thiếu sót.
Bổn phận làm đạo sư, Phật Tổ đã quả tình chu đáo. Nay chỉ còn phận sự của chúng
ta. Hãy cố gắng ! Cố gắng dâng Phật một tấc lòng thành ! Việc này ai cũng làm
được vì ai cũng có Tâm.
Lại nữa
ngài Mục Liên đã được lục thông
Muốn cho
cha mẹ khỏi vòng trầm luân.
Dùng tuệ
nhãn dưới trên tìm kiếm,
Thấy
vong mẫu sanh làm quỷ đói.
Vội đem
cơm lòng hiếu kính dâng.
Ai ngờ
đến miệng hóa than hồng.
Phật mới
bảo :
Dầu ông
thần lực nhiệm mầu,
Một mình
không thể ai cầu được đâu.
Lòng
hiếu thảo của ông dầu lớn,
Tiếng
vang đồn thấu đến cửu thiên.
Dù rằng
các bậc thần kỳ,
Quỷ ma
ngoại đạo, bốn vì thiên vương.
Cả ba
cõi mười phương tụ tập
Cũng
không sao cứu được mẹ ngươi.
Muốn cho
giải thoát tội này,
Phải nhờ
thần lực của mười phương Tăng.
Tăng có
3 ngôi :
1) Tánh
tướng bất nhị, minh hợp vô vi là ngôi tối thượng như đức Thích Ca, đức Địa Tạng
đã thành Phật mà vẫn hiện tướng tu sĩ đắp cà sa cầm tích trượng.
2) Thập
địa, tam hiền, ngũ quả, tứ hướng là ngôi xuất thế như các Bồ-tát, liệt vị Tổ sư
v.v…
3)
Tỳ-kheo 5 chúng hòa hợp vô tranh là ngôi trụ trì như các nam nữ tu sĩ đệ tử
Phật.
Chữ Tăng
nghĩa là một chúng từ 4 người trở lên. Bởi vì là một chúng nên lấy chữ Hòa làm
căn bản. Ai phá sự hòa hợp của Tăng tội rất nặng.
Vậy hàng Phật tử khi dâng lễ Vu
Lan, tâm nên tưởng đến mười phương Tăng mà vị trụ trì là đại diện. Sách nói :
Cung kính phàm Tăng liền được Thánh Tăng chứng minh. Cộng đồng đệ tử Phật dù
Thánh dù phàm chỉ có một hoài bão tự giác giác tha. Đồng chí, đồng nguyện, đồng
hạnh, các ngài là những đám mây Từ đi rải mưa pháp khắp các địa cầu, chuyển trăm
họ tội lỗi thành thanh sạch. Rưới tắt lửa thiêu hỏa trạch, cùng nhau khỏa tan
sông mê biển ái. Dùng tịnh duyên đưa vạn loài đi lên.
Cây quế
sanh ở non cao, sương phủ như mưa không ướt nổi cánh hoa. Sen mọc trên nước, bụi
bay không thể làm nhơ ngọn lá. Đây là nhờ trợ duyên cao thượng nên chẳng bị vật
hèn ô lụy. Nhưng cũng bởi tánh quế vốn kiên trinh, tánh sen vốn khiết sạch nên
mới duyên phước khánh mà thêm phước khánh. Tam-bảo sở dĩ có thể rộng cứu vớt hàm
linh, ân thấu tận xương khô, đức thấm tận côn trùng, oai linh ngửa lên không thể
ai hơn, thần lực cúi xuống không bỏ con sâu cái kiến. Chỉ vì đã khám phá ra thể
chất bình đẳng, không sanh không diệt, diệu minh bất động chu viên của vạn loài
muôn pháp.
Nắm được giềng mối càn
khôn thì đâu chỉ tát cạn một đại dương mà còn vần xoay cả vũ trụ. Vô lượng thọ,
ngàn kiếp không cũ không mới. Vô lượng quang, diệu tánh tịch huyền, ta cứ vâng
theo sẽ tới nơi tới chốn. Phật Pháp vô thượng thậm thâm cao tít mù xanh nhưng đã
có giáo điển làm thang bắc ngay trên mặt đất cho chúng ta leo dần :
Bởi vì
ngã và ngã sở là nhà của 5 ấm. Trí Bát Nhã chiếu soi 5 ấm là không, phá tận gốc
ngã chấp pháp chấp. Sáu căn tham thọ sáu trần khiến ngã ái, từ lịch kiếp, sừng
sững như bức tường, sát na sát na tô đắp thêm dầy thêm cao.
Đắp móng xây nền cho Ngã là
Tưởng. Tưởng đã không thì Ngã sao tồn. Danh (vọng tâm) hệ trói uẩn. Biết danh là
giả thì uẩn không chỗ gá. Rõ ràng thế tục đang ngổn ngang rối rít trên bất động.
Phàm ngu đang vào ra sanh tử ở vô sanh. Từ hang rỗng vang ra trăm thứ âm thanh.
Gương vẫn bình lặng chiếu soi vạn tượng. Đặt nơm cốt để bắt cá. Cá bắt được rồi,
nơm trở thành vô dụng. Quyền giáo đặt ra cho phàm phu chúng ta giác tỉnh 4 đảo,
nhị thừa giác tỉnh 4 đảo. Đảo kiến đã trở thành chánh kiến thì từ nay chỉ dùng
nhất thừa mà tự độ độ tha quy vô sở đắc. Giả có dẹp sạch thì bổn quang của Thật
mới rực rỡ. Quy củ tiêu chuẩn đã thi hành thì diệu đạo về sau sẽ an lập. Những
ai là bậc đại tâm pháp khí, đã phát nguyện phụng sự Tam-bảo, hãy suy xét kỹ
càng, không kinh không sợ, cứ thong thả đi dần, từ thấp bước lên. Nghiên cứu
Phật Pháp cho tinh tường, y giới luật mà tự độ, độ tha vững vàng chắc
chắn.
Tổ Châu Hoằng ở chùa Vân Thê tới cầu pháp ngài Biện Dung, được dạy : “Ngươi
nên giữ bổn phận. Không cầu danh lợi, đừng chạy theo duyên ngoài. Cần phân minh
lý nhân quả, một lòng niệm Phật”.
Các bạn
đồng hành cười : "Từ ngàn dặm đến đây mong nghe giáo nghĩa cao huyền, té ra chỉ
được một câu mà ai cũng đã biết".
Châu Hoằng đáp : “Đây mới là chỗ
hay của Thiền sư. Biết ta từ ngàn dặm tới nên không nỡ nói huyền nói diệu để lấn
lướt lòe người cầu học. Chỉ thật thà giản dị đem điều tinh yếu chính mình đã thể
nhận để dặn dò”.
Chẳng phải bậc đã từng kinh
nghiệm như ngài Biện Dung không thể có lời dạy này.
Chẳng phải bậc chân tu như Tổ
Châu Hoằng đâu biết lãnh thọ lời dạy này.
Cảm
thương thân phận chứa si mê,
Luỹ kiếp
lang thang chẳng biết về,
Mải miết
đua đòi nơi danh tướng,
Còn đâu
nghĩ nhớ đến xưa quê.
Xưa quê
vô nhiễm ấy chân tâm,
Linh tri
ly niệm dễ đâu tầm,
Ân Phật
chỉ bày trời biển rộng,
Trùng
vây nào dễ thoát phàm tâm.
Phàm tâm
một niệm quyết quy y,
Tin theo
kim khẩu, chẳng tin chi,
48
nguyện kia tầy nhật nguyệt,
Lòng từ
soi sáng đức A Di.
A Di Đà
Phật niệm hồng danh,
Chứa
muôn công hạnh, đấng an lành,
Đem thân
quyết gởi nơi chín phẩm,
Đời đời
bất tuyệt chứng vô sanh.
_()_南無大願地藏王菩薩_()_
地獄不空誓不成佛
- 眾生度盡方證菩提
靈光念佛堂
_()_南無阿彌陀佛_()_
P L E A S E
If you forward this
email please delete the forwarding history, which includes my email address. It
is a courtesy to me and others who may not wish to have their email addresses
sent all over the world! Deleting the history helps prevent spammers from mining
addresses and sending out viruses.
Thanks