BÀI GIẢNG
KỸ THUẬT SẢN XUẤT GIỐNG VÀ TRỒNG RONG BIỂN
Người biên soạn
Nguyễn Thị Thuý Hằng
Huế, 11/2007
MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU 8
BÀI MỞ ĐẦU 9
1.ĐỊNH NGHĨA VÀ NHIỆM VỤ CỦA MÔN HỌC 9
1.1. Định nghĩa 9
1.2. Nhiệm vụ 9
2. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ SỬ DỤNG RONG BIỂN TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC
9
2.1. Sản lượng rong biển trên thế giới 9
2.1.1. Tình hình nghiên cứu sản xuất và sử dụng rong biển ở trên thế
giới 11
2.1.2. Tình hình nghiên cứu và sản xuất rong biển ở Việt Nam 13
2.2. Tình hình sản xuất và sử dụng rong biển 15
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN TRONG NUÔI TRỒNG RONG BIỂN
1. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CHỦ YẾU CỦA RONG BIỂN 21
1.1. Các đối tượng rong biển được nuôi trồng 21
1.2. Đặc điểm sinh học của rong biển giai đoạn giống 22
1.2.1. Giống trong nuôi trồng rong biển 22
1.2.2. Đặc điểm sinh thái của bào tử rong biển 23
1.3. Đặc điểm phân chia giai đoạn phát triển của rong biển 25
1.3.1. Sự phân chia giai đoạn phát triển của rong biển trong sinh
học 25
1.3.2. Sự phân chia giai đoạn phát triển của rong biển trong sản
xuất 28
2. MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC YẾU TỐ RONG BIỂN, MÔI TRƯỜNG VÀ KỸ THUẬT 30
2.1. Các khái niệm 30
2.2. Mối quan hệ giữa rong biển, môi trường và kỹ thuật 30
2.2.1.Yếu tố động lực 30
2.2.2. Yếu tố vật lý 32
2.2.3. Yếu tố hóa học 35
2.2.4. Yếu tố sinh vật 36
3. CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỐI TƯỢNG RONG BIỂN NUÔI TRỒNG
3.1. Phương pháp nghiên cứu sinh trưởng 36
3.1.1. Sự biểu hiện bên ngoài của quá trình sinh trưởng 36
3.1.2. Phương pháp xác định sinh trưởng của rong biển 37
3.2. Phương pháp nghiên cứu sinh sản 39
3.2.1. Sự biểu hiện bên ngoài của quá trình phát dục 39
3.2.2. Phương pháp xác định sự phát dục của rong biển qua sinh sản
39
4. CÁC HÌNH THỨC NUÔI TRỒNG RONG BIỂN 41
4.1. Phân chia theo trình độ kỹ thuật 41
4.1.1. Khai thác và bảo vệ nguồn lợi rong biển tự nhiên 41
4.1.2. Phương pháp di giống, nhân giống (nuôi trồng thô) 41
4.1.3. Nuôi trồng nhân tạo 42
4.2. Phân chia theo đặc tính môi trường 44
4.2.1. Phương pháp nuôi trồng ở vùng triều 44
4.2.2. Phương pháp nuôi trồng ở vùng dưới triều 44
CHƯƠNG 2: KỸ THUẬT NUÔI TRỒNG RONG NGUYÊN LIỆU CHIẾT XUẤT AGAR
(AGAROPHYTES) 45
RONG CÂU (Gracilaria)
1. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC 45
1.1. Đặc điểm phân loại và phân bố 45
1.2. Hình thái và cấu tạo 48
1.2.1. Hình thái 48
1.2.2. Cấu tạo 49
1.3. Đặc điểm sinh sản và vòng đời 51
2. KỸ THUẬT NUÔI TRỒNG 52
2.1. Lựa chọn vị trí 52
2.2. Chuẩn bị cây giống 52
2.2.1. Thu bào tử và ương giống ở biển 52
2.2.2. Thu bào tử và ương giống ở trong phòng 54
2.2.3. Sản xuất giống cây mầm 55
2.2.4. Sự khác nhau của 2 hình thức sản xuất giống 56
2.3. Kỹ thuật nuôi trồng thương phẩm 57
2.3.1. Kỹ thuật trồng đáy 57
2.3.2. Kỹ thuật trồng cắt ngang tầng nước 62
2.3.3. Phương pháp làm tăng sản lượng rong 66
2.4. Kỹ thuật thu hoạch và sơ chế 67
2.4.1. Những căn cứ để thu hoạch rong câu 67
2.4.2. Phương pháp thu hoạch và sơ chế 67
RONG THẠCH (Gelidium)
1. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC 68
1.1. Đặc điểm phân loại và phân bố 68
1.2. Hình thái và cấu tạo 68
1.3. Đặc điểm sinh sản và vòng đời 69
2. KỸ THUẬT NUÔI TRỒNG 70
2.1. Lựa chọn vị trí 70
2.2. Chuẩn bị cây giống 70
2.3. Kỹ thuật trồng thương phẩm 71
2.4. Kỹ thuật thu hoạch và sơ chế 71
CHƯƠNG 4: KỸ THUẬT NUÔI TRỒNG RONG NGUYÊN LIỆU CHIẾT XUẤT
CARRAGEENAN (CARRAGEENOPHYTES) 72
RONG SỤN (Kappaphycus)
1. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC 72
1.1. Đặc điểm phân loại và phân bố 72
1.2. Hình thái và cấu tạo 73
1.3. Đặc điểm sinh sản và vòng đời 74
2. KỸ THUẬT NUÔI TRỒNG 74
2.1. Lựa chọn vị trí 74
2.1.1. Các chỉ thị vật lý trong nuôi trồng rong biển 74
2.1.2. Các chỉ thị sinh học trong lựa chọn vị trí 74
2.1.3. Các chỉ thị sinh thái trong lựa chọn vị trí 77
2.2. Chuẩn bị cây giống 77
2.3. Kỹ thuật trồng thương phẩm 78
2.3.1. Chuẩn bị vật liệu nuôi trồng 78
2.3.2. Nuôi trồng đơn 78
2.3.3. Kỹ thuật nuôi trồng ghép 84
2.4. Một số kết quả nghiên cứu triển khai mô hình kỹ thuật trồng rong
sụn ở Việt Nam gần đây 84
2.4.1. Các mô hình trồng rong sụn ở các vùng nước tự nhiên ven biển
84
2.4.2. Mô hình trồng rong sụn luân canh trong ao đầm nuôi tôm sú ven
biển 86
2.4.3. Những kết quả triển khai các mô hình trong các vùng nước tự
nhiên 87
2.5. Kỹ thuật thu hoạch và sơ chế 87
2.5.1. Thu hoạch 87
2.5.2. Sơ chế 88
RONG HỒNG VÂN (Eucheuma)
1. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC 89
1.1. Đặc điểm phân loại và phân bố 89
1.2. Hình thái và cấu tạo 89
1.3. Đặc điểm sinh sản và vòng đời 90
2. KỸ THUẬT NUÔI TRỒNG 90
2.1. Lựa chọn vị trí 90
2.2. Chuẩn bị cây giống 90
2.3. Kỹ thuật trồng thương phẩm 91
2.3.1. Phương pháp dây đơn ngang cố định 91
2.3.2. Phương pháp bè dây đơn 92
2.3.3. Phương pháp bè dây ghép 92
2.4. Kỹ thuật thu hoạch và sơ chế 93
2.4.1. Thu hoạch 93
2.4.2. Sơ chế 93
CHƯƠNG 4: KỸ THUẬT NUÔI TRỒNG RONG NGUYÊN LIỆU CHIẾT XUẤT ALGINATE
(ALGINOPHYTES) 94
RONG BẸ (Laminaria)
1. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC 95
1.1. Đặc điểm phân loại phân bố 95
1.2. Hình thái và cấu tạo 95
1.3. Đặc điểm sinh sản và vòng đời 96
2. KỸ THUẬT NUÔI TRỒNG 98
2.1. Lựa chọn vị trí 98
2.2. Chuẩn bị cây giống 98
2.3. Kỹ thuật trồng thương phẩm 99
2.3.1. Kỹ thuật trồng đơn 99
2.3.2. Kỹ thuật nuôi trồng ghép 103
2.3.3. Bệnh và biện pháp phòng trị 104
2.4. Kỹ thuật thu hoạch và sơ chế 105
RONG UNDA (Undaria)
1. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC 106
1.1. Đặc điểm phân loại phân bố 106
1.2. Hình thái và cấu tạo 106
1.3. Đặc điểm sinh sản và vòng đời 107
2. KỸ THUẬT NUÔI TRỒNG 107
2.1. Lựa chọn vị trí 107
2.2. Chuẩn bị cây giống 108
2.3. Kỹ thuật trồng thương phẩm 108
2.3.1. Phương pháp dây đơn ngang 108
2.3.2. Phương pháp bè dây ngang 109
2.3.3. Phương pháp dây dọc 109
2.4. Kỹ thuật thu hoạch và sơ chế 110
CHƯƠNG 5: KỸ THUẬT NUÔI TRỒNG RONG THỰC PHẨM (EDIBLE SEAWEEDS) 111
RONG GUỘT (Caulerpa)
1. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC 112
1.1. Đặc điểm phân loại và phân bố 112
1.2. Hình thái và cấu tạo 113
1.3. Đặc điểm sinh sản và vòng đời 113
2. KỸ THUẬT NUÔI TRỒNG 114
2.1. Lựa chọn vị trí 114
2.2. Chuẩn bị cây giống 114
2.3. Kỹ thuật trồng thương phẩm 114
2.3.1. Phương pháp trồng ao 114
2.3.2. Phương pháp trồng lập thể 115
2.3.3. Phương pháp trồng lưới ngang cố định 116
2.3.4. Phương pháp trồng trong bể 116
2.4. Kỹ thuật thu hoạch và sơ chế 117
RONG MỨT (Porphyra)
1. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC 117
1.1. Đặc điểm phân loại và phân bố 117
1.2. Hình thái và cấu tạo 118
1.3. Đặc điểm sinh sản và vòng đời 118
2. KỸ THUẬT NUÔI TRỒNG 119
2.1. Lựa chọn vị trí 119
2.2. Chuẩn bị cây giống 120
2.3. Kỹ thuật trồng thương phẩm 122
2.3.1. Phương pháp lưới ngang bán cố định 122
2.3.2. Phương pháp lưới ngang nổi 123
2.3.3. Hệ thống cọc đỡ 124
2.4. Kỹ thuật thu hoạch và sơ chế 124
RONG GIẤY (Monostroma)
1. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC 124
1.1. Đặc điểm phân loại và phân bố 124
1.2. Hình thái và cấu tạo 124
1.3. Đặc điểm sinh sản và vòng đời 125
2. KỸ THUẬT NUÔI TRỒNG 125
2.1. Lựa chọn vị trí 125
2.2. Chuẩn bị cây giống 126
2.3. Kỹ thuật trồng thương phẩm 126
2.3.1. Phương pháp lưới ngang cố định 126
2.3.2. Phương pháp lưới ngang nổi 127
2.4. Kỹ thuật thu hoạch và sơ chế 127
RONG BÚN (Enteromorpha)
1. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC 127
1.1. Đặc điểm phân loại và phân bố 127
1.2. Hình thái và cấu tạo 128
1.3. Đặc điểm sinh sản và vòng đời 128
2. KỸ THUẬT NUÔI TRỒNG 129
2.1. Lựa chọn vị trí 129
2.2. Chuẩn bị cây giống 129
2.3. Kỹ thuật trồng thương phẩm 129
2.3.1. Phương pháp lưới ngang cố định 129
2.3.2. Phương pháp lưới ngang nổi 130
2.4. Kỹ thuật thu hoạch và sơ chế 130
CHƯƠNG 6: KHAI THÁC VÀ BẢO VỆ NGUỒN LỢI RONG BIỂN VIỆT NAM
1. NGUỒN LỢI RONG BIỂN 131
1.1. Các khái niệm 131
1.2. Tình hình nguồn lợi rong biển Việt Nam 131
1.3. Cơ sở đánh giá nguồn lợi rong biển 132
1.4. Phương pháp đánh giá nguồn lợi rong biển 132
2. KHAI THÁC VÀ BẢO VỆ NGUỒN LỢI RONG BIỂN VIỆT NAM 137
2.1. Hiện trạng khai thác nguồn lợi rong biển ở Việt Nam 137
2.2. Những mối đe doạ chính hiện nay đến nguồn lợi rong biển 139
2.2.1 Các tác động từ thiên nhiên 139
2.2.2. Các tác động từ con người 140
2.3. Các biện pháp bảo vệ nguồn lợi rong biển 140
TÀI LIỆU THAM KHẢO 144
LỜI NÓI ĐẦU
Hiện nay, thức ăn có nguồn gốc từ biển ngày càng đóng vai trò quan
trọng trong đời sống hàng ngày của con người do chúng có hàm lượng
dinh dưỡng cao, có giá trị kinh tế và y học. Rong biển là một trong
những loài thực vật biển quý giá được dùng làm nguyên liệu chế biến
các sản phẩm có giá trị trong công nghiệp và thực phẩm. Rong biển được
sử dụng để sản xuất các loại keo rong quan trọng như: agar,
carrageenan, alginate và nhiều hợp chất khác. Các sản phẩm này được
ứng dụng vào nhiều lĩnh vực như công nghiệp, nông nghiệp, chăn nuôi, y
học, công nghệ sinh học và thực phẩm. Tính đến nay, nhiều loài rong
biển đã và đang được nghiên cứu đưa vào nuôi trồng mở ra một tiềm năng
mới cho ngành nuôi trồng thuỷ sản không chỉ đa dạng đối tượng nuôi mà
còn làm giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm môi trường bởi các đặc tính sinh
học của rong biển.
Trên cơ sở đó, bài giảng Kỹ thuật sản xuất giống và trồng rong biển
được biên soạn nhằm giúp cho sinh viên nắm bắt được các khái niệm cơ
bản về rong biển, đặc điểm sinh học, biện pháp kỹ thuật sản xuất giống
và trồng một số đối tượng rong biển có giá trị như rong câu
(Gracilaria), rong sụn (Kappaphycus), rong nho (Caulerpa)... được dùng
làm nguyên liệu chiết xuất agar, carrageenan, alginate, thực phẩm cũng
như các phương pháp sử dụng hợp lý các loại hình mặt nước để đưa các
loài rong biển có giá trị kinh tế vào nuôi trồng. Bên cạnh đó, bài
giảng này còn cung cấp một số biện pháp khai thác và bảo vệ nguồn lợi
rong biển ở Việt Nam.
Trong quá trình hoàn thành bài giảng, tôi đã nhận được rất nhiều sự
giúp đỡ, góp ý, trao đổi của quý thầy cô giáo, các bạn đồng nghiệp
trong khoa Thuỷ sản - Đại học Nông lâm - Huế, đặc biệt là sự chỉ bảo
tận tình của thầy giáo hướng dẫn ThS. Tôn Thất Chất. Tôi xin chân
thành cám ơn những sự giúp đỡ quý báu đó. Mặc dù đã có nhiều cố gắng
nhưng trong quá trình biên soạn không thể tránh khỏi những thiếu sót.
Tôi hy vọng nhận được nhiều ý kiến đóng góp để bài giảng được hoàn
thiện, phong phú hơn và đáp ứng được yêu cầu trong đào tạo, nghiên cứu
khoa học và sản xuất.
Nguyễn Thị Thuý Hằng
PHẦN MỞ ĐẦU
1. ĐỊNH NGHĨA VÀ NHIỆM VỤ MÔN HỌC
1.1. Định nghĩa
Nuôi trồng thủy sản (Aquaculture): là nuôi trồng các đối tượng cá,
động vật thân mềm, rong biển trong môi trường nước bao gồm nước ngọt,
lợ, mặn.
Nuôi trồng (Farming, culture): Là quá trình có sự can thiệp của con
người nhằm làm tăng sản lượng như; chọn giống, cho ăn, phòng trừ địch
hại (FAO, 1990).
Nuôi trồng rong biển (Seaweed culture): Là một bộ phận của nuôi trồng
thủy sản.Chuyên nuôi trồng các loại rong biển ở biển, vùng nước lợ.
Môn học nuôi trồng rong biển là môn học kỹ thuật nuôi trồng thủy sản
chuyên nghiên cứu kỹ thuật nuôi trồng rong biển có giá trị kinh tế.
1.2. Nhiệm vụ
Nghiên cứu đặc điểm sinh học của đối tượng rong biển nuôi trồng.
Nghiên cứu đặc điểm môi trường các vị trí để nuôi trồng rong biển
Nghiên cứu, xây dựng nguyên lý về các giải pháp kỹ thuật trong nuôi
trồng rong biển
Nghiên cứu vận dụng các quy luật và các nguyên lý để xây dựng các quy
trình nuôi trồng rong biển.
2. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ SỬ DỤNG RONG BIỂN TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC
2.1. Sản lượng rong biển trên thế giới
Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc là những nước tiêu thụ rong biển
thực phẩm lớn nhất và có cơ sở là nghề nuôi trồng thủy sản với sản
lượng thu hoạch toàn thế giới đạt khoảng 6.000.000 tấn rong tươi/năm
có giá trị lên đến 5 tỉ đô la Mỹ.
Trong suốt năm mươi năm qua, do nhu cầu ngày càng tăng đã vượt qua
khả năng đáp ứng từ các nguồn rong khai thác tự nhiên. Việc nghiên cứu
vòng đời của các loài rong đã dẫn đến sự phát triển nghề nuôi trồng
rong biển và hiện nay đã tạo ra các sản phẩm đáp ứng hơn 90% nhu cầu
của thị trường.
Trung Quốc là nước cung cấp rong biển thực phẩm lớn nhất trên thế
giới, với sản lượng khoảng 5 triệu tấn và phần lớn là kombu (Laminaria
japonica. Hàn Quốc cung cấp khoảng 800.000 tấn rong thuộc ba loài khác
nhau, trong đó 50% là wakame được sản xuất từ Undaria pinnatifida. Sản
lượng của Nhật Bản khoảng 600.000 tấn và 75% là nori, được tạo thành
từ rong mứt Porphyra, đây là một sản phẩm có giá trị cao, khoảng
16.000 đô la Mỹ/tấn, so với kombu có giá 2.800 đô la Mỹ/tấn và wakame
có giá 6.900 đô la Mỹ/tấn. Vào năm 1976, khoảng 176.000 tấn tươi rong
bẹ Laminaria sp được thu từ các nguồn tự nhiên ở Nhật và khoảng 22.000
tấn được trồng.
Dưới đây là mười quốc gia hàng đầu về rong biển góp phần tới 96% sản
lượng rong biển trên toàn thế giới (hơn 2 triệu tấn). Khoảng 50% rong
biển trên thế giới được nuôi trồng. Trong đó Đông Á và Tây Âu chiếm ưu
thế.
Bảng 1: Tổng sản lượng rong biển (tấn /năm) ở các quốc gia
Tổng sản lượng rong biển (tấn/năm)(nuôi trồng+tự nhiên)
STT Quốc gia Tổng
(tấn/năm) %
Tổng %
Tích trữ
Thế giới 2,165,675 100 n/a
1 China
698,529 32 32
2 France
616,762 28 60
3 U K
205,500 9 70
4 Japan
123,074 6 76
5 Chile
109,308 5 81
6 Philippines
95,912 4 85
7 Korea, N
71,435 3 88
8 Korea, S
67,050 3 92
9 Indonesia
46,894 2 94
10 Norway
40,632 2 96
11 USA
15,143 1 96
12 Canada
12,702 1 97
13 Ireland
10,614 0 97
14 Mexico
10,405 0 98
15 Morocco
6,950 0 98
16 Russia
5,000 0 98
17 Tanzania
5,000 0 99
18 Iceland
4,400 0 99
19 Australia
4,020 0 99
20 Malaysia
4,001 0 99
21 India
3,003 0 99
22 Argentina
2,321 0 99
23 Portugal
1,302 0 99
24 S. Africa
1,278 0 100
25 Spain
1,266 0 100
26 Namibia
835 0 100
27 Madagascar
800 0 100
28 Kiribati
496 0 100
29 Vietnam
400 0 100
30 Thailand
200 0 100
31 Peru
194 0 100
32 Denmark
100 0 100
33 Fiji
100 0 100
34 N. Zealand
50 0 100
Tổng sản lượng rong biển (tấn/năm)(chỉ nuôi trồng)
Quốc gia
Tổng (tấn/năm) %
Tổng %
Thế giới 1,100,199 100 n/a
China
675,229 61 61
Japan
107,360 10 71
Philippines
90,912 8 79
Korea, N
70,045 6 85
Korea, S
65,740 6 91
Indonesia
46,894 4 96
Chile
34,218 3 99
Tanzania
5,000 0 100
Malaysia
4,001 0 100
Kiribati
496 0 100
Thailand
200 0 100
Fiji
100 0 100
Canada
n/a n/a n/a
India
n/a n/a n/a
Madagascar
n/a n/a n/a
* Nguồn: Zemke-White, W. L. & M. Ohno, 1999. World seaweed
utilisation: an end-of-century summary. Journal of Applied Phycology
11: pp. 369-376
Vào những năm của thập kỷ 60, Na Uy đã đi tiên phong trong việc sản
xuất bột rong biển, làm từ rong nâu được sấy khô và nghiền thành bột.
Khoảng 50.000 tấn rong tươi được thu hoạch hàng năm để cho ra 10.000
tấn bột rong, có giá bán là 5 triệu đô la Mỹ.
Tổng giá trị của các sản phẩm công nghiệp từ rong biển là 590 triệu
đô la Mỹ. Và tổng giá trị của tất cả các sản phẩm từ công nghiệp rong
biển vào khoảng 5,6 tỷ đô la Mỹ.
Các nước và lãnh thổ cung cấp rong thực phẩm là Trung Quốc, Nhật Bản,
Hàn Quốc và Đài Loan. Trong khi đó, các nước cung cấp sản phẩm rong
biển dùng trong công nghiệp là Đan Mạch, Pháp, Na-Uy, Tây Ban Nha, Mỹ
và Nhật.
2.1.1. Tình hình nghiên cứu sản xuất và sử dụng rong biển ở trên thế
giới
Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc là những quốc gia dẫn đầu của Châu Á
và trên thế giới trong nghiên cứu, sản xuất và tiêu thụ rong biển.
Trong khu vực Đông Nam Á, Indonesia và Philippines chiếm vị trí hàng
đầu.
Bảng 2: Tình hình nghiên cứu sản xuất rong biển ở các nước Châu Á
Quốc gia Loài kinh tế Sản lượng (tấn tươi/năm) Hình thức sản xuất Sử
dụng Chế biến Khó khăn Nghiên cứu và triển khai
Trung Quốc Eucheuma Gracilaria
Undaria
Porphyra
Gelidium
Laminaria 1.250.000 Nuôi trồng Thức ăn, keo Nhà máy Thị trường; chất
lượng sản phẩm; vốn Nuôi trồng rong biển chất lượng cao; phòng bệnh
Hàn Quốc Porphyla
Undaria
Laminaria 483.000 Nuôi trồng Thức ăn, keo Nhà máy Chất lượng sản phẩm;
bệnh rong Nuôi cấy mô, tạo loài chịu bệnh; di truyền
Nhật Bản Porphyla
Undaria
Laminaria 650.000 Nuôi trồng hiện đại Thức ăn, keo. Nhà máy hiện đại
Thị trường Công nghệ sinh học
Indonesia Eucheuma Gracilaria
Undaria 73.000 (khô) Nuôi trồng, khai thác Thức ăn, keo Nhà máy Thị
trường; ô nhiễm môi trường Nuôi trồng quy mô nhỏ và quy mô thương mại
Philippines Eucheuma Gracilaria
Caulerpa 268.700 Nuôi trồng, khai thác Thức ăn; keo; xuất khẩu. Nhà
máy Công nghệ chế biến Chế biến carrageen trình độ cao
Banglades 15 Khai thác Thức ăn Sơ chế Phân loại, sinh thái; nuôi
trồng
Malaysia Eucheuma
Gracilaria 80 (khô) Nuôi trồng, khai thác Thức ăn, keo Nhà máy nhỏ Con
người Nuôi trồng quy mô nhỏ và quy mô thương mại; chế biến
Myanmar Gracilaria
Sargassum
Hypnea
Catenella
Enteromorpha 15.000 Nuôi trồng Thức ăn, keo Nhà máy Chưa nghiên cứu
sâu Phân loại, khai thác, nuôi trồng
Sri Lanka Gracilaria
Sargassum 900 Nuôi trồng, khai thác Thức ăn; xuất khẩu Sơ chế Nuôi
trồng; chế biến còn kém Nuôi trồng; chế biến
Thái Lan Gracilaria
Polyvavernosa 100 Nuôi trồng, khai thác Thức ăn; xuất khẩu Nhà máy nhỏ
Nuôi trồng quy mô nhỏ, chế biến còn yếu Nuôi trồng, chế biến
Việt Nam Eucheuma Gracilaria
Sargassum
Kappaphycus
Caulerpa 1.000 Nuôi trồng, khai thác Thức ăn; keo; xuất khẩu. Nhà máy
nhỏ Nuôi trồng, chế biến còn kém; thị trường Nuôi trồng, chế biến
* Nguồn: Lê Anh Tuấn, 2004
2.1.2. Tình hình nghiên cứu và sản xuất rong biển ở Việt Nam
Nghiên cứu và sản xuất rong biển ở Việt Nam đã có một lịch sử lâu
đời. Sự ra đời của Viện Hải dương học Nha Trang (1923) càng thúc đẩy
việc nghiên cứu phân loại rong biển có định hướng và được tổ chức tốt
hơn so với trước đây.
Nghiên cứu sinh học rong biển phục vụ nuôi trồng được bắt đầu vào
những năm đầu của thập kỷ 60 với sự ra đời của các trạm trại tiền thân
của Viện Nghiên cứu Hải sản Hải Phòng và Phân viện Hải dương học Hải
phòng sau này.
Ngày nay, việc nghiên cứu phân loại, sinh học và nuôi trồng rong biển
được triển khai ở nhiều cơ quan nghiên cứu trong cả nước trong đó phải
kể đến Trường Đại học Thuỷ sản Nha Trang, Phân viện vật liệu Nha
Trang, Viện Nghiên cứu Hải sản Hải Phòng, Viện Hải dương học Nha
Trang.
Bảng 3: Tình hình nghiên cứu rong biển ở Việt Nam
Thời gian Công trình Tác giả Đóng góp
Nghiên cứu phân loại rong biển
1790 “Flora Cochinchinensis" Leureiro J Thành phần rong biển. Theo
Phạm Hoàng Hộ, các loài mà Leureiro đề cập đã không được tìm thấy.
1923 Viện Hải dương học Nha Trang ra đời. Việc điều tra rong biển
được tổ chức và khuyến khích.
1954 “Marine plants in the vicinity of Nha Trang, Vietnam” Dawson E.Y
Đây là tài liệu căn bản đầu tiên về tảo học Việt Nam (209 taxon/VN, 7
taxon/KH)
1963 Viện Nghiên cứu biển Hải Phòng được thành lập Việc nghiên cứu
rong biển ở miền Bắc được thúc đẩy.
1969 “ Rong biển Việt Nam”
Luận án PTS Phạm Hoàng Hộ
Lê Nguyên Hiếu Công trình có giá trị lớn đối với Việt Nam và thế giới
(489 taxon/VN, 4 taxon/KH).
Nghiên cứu phân loại rong biển ở miền Bắc.
1972 Luận án PTS Nguyễn Hữu Dinh Nghiên cứu phân loại rong biển ở miền
Bắc.
1978
Báo cáo tổng kết công trình nghiên cứu rong biển Việt Nam Huỳnh Quang
Năng, Nguyễn Hữu Đại Tổng hợp các kết quả nghiên cứu phân loại rong
biển (310 loài, 5 thứ, 8 dạng/MB; 4 loài, 1 thứ, 3 dạng/KH; 484 loài,
17 thứ, 12 dạng/MN; 34 loài, 4 thứ, 4 dạng/KH).
1985 “Thực vật đảo Phú Quốc” Phạm Hoàng Hộ Phát hiện một số loài mới
cho Việt Nam và khoa học (108 taxon: 11loài/VN; 2 loài/KH)
1992 Luận án PTS Nguyễn Hữu Đại Phát hiện một số loài mới cho Việt Nam
và khoa học (5 loài, 3 thứ/VN; 2 loài, 2 thứ/KH)
1993 Luận án PTS Tôn Thất Pháp Nghiên cứu thực vật thuỷ sinh ở phá Tam
Giang
Nghiên cứu sinh học phục vụ nuôi trồng
1963 Khảo sát nguồn lợi rong biển ở miền Bắc W.Brucker và cộng sự việt
Nam Mẫu rong câu Việt Nam được chiết xuất cho agar lần đầu tiên tại
nhà máy cá hộp Hạ Long (Hải Phòng)
1971 - 73 "Nghiên cứu tổng hợp nguồn lợi rong câu Việt Nam" (Đề tài
cấp bộ) Trạm nghiên cứu nuôi thủy sản nước lợ Cơ sở cho nghiên cứu
nuôi trồng rong câu
1974 - 77 " Nghiên cứu nuôi trồng rong câu ở Việt Nam nhằm đảm bảo
nguyên liệu cho công nghiệp chế biến agar" (Chương trình hợp tác Việt
Nam - CHDC Đức) Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản nước lợ, ĐH thủy
sản, Viện nghiên cứu biển Hải Phòng Quy trình kỹ thuật nuôi trồng rong
câu trong đầm nước lợ với năng suất 10 tấn tươi/ha/năm.
Quy trình này được áp dụng có kết quả tại các cơ sở trồng rong câu:
Cát Hải, Đình Vũ (Hải Phòng), Hải Hậu (Hà Nam Ninh), Thuận An (Huế)
trong các năm 1977 - 1980.
1977 - 82 Nghiên cứu triển khai trồng rong câu tại Đầm Chuồng, Thuận
An, Thừa Thiên - Huế
1980 - 85 "Nghiên cứu kỹ thuật trồng thâm canh rong câu chỉ vàng " (Đề
tài cấp nhà nước) Viện Nghiên cứu Hải sản Hải Phòng Quy trình kỹ thuật
trồng thâm canh rong câu chỉ vàng đạt năng suất 2 tấn khô/ha/năm.
1986 - 90 "Nghiên cứu đặc điểm sinh học, kỹ thuật sản xuất giống và
trồng rong câu chỉ vàng" (Đề tài cấp nhà nước) Viện Nghiên cứu Hải sản
Hải Phòng Xây dựng được mô hình ao đầm, thay nước, bón phân, hạn chế
rong tạp. Đã xuất hiện các điểm thử nghiệm trồng rong câu đạt năng
suất cao: 3-4 tấn khô/ha/năm ở HTX Phù Long, Bến Gót, Cát Hải (Hải
Phòng), Hộ Diêm (Thuận Hải), và 1,5-3 tấn khô/ha/năm tại Huế.
1993 "Sản xuất thử rong câu" (Dự án cấp nhà nước) Viện Nghiên cứu Hải
sản Hải Phòng Xây dựng quy mô kỹ thuật toàn diện
1993 - 94 Nhập và trồng thử nghiệm rong sụn Kappaphycus alvarezii
Nguyễn Hữu Dinh Nhập nội và thuần hóa thành công
2002 "Seaweed farming and production in Vietnam, present situation and
possibilities" Danida và SUMA Đánh giá hiện trạng và tiềm năng phát
triển nuôi trồng và chế biến rong biển ở Việt Nam
2002 - 04 "Một số kết quả nghiên cứu triển khai mô hình kỹ thuật trồng
rong sụn - Kappaphycus alvarezii trong các loại thủy vực ven biển"
Huỳnh Quang Năng Giới thiệu một số mô hình trồng rong sụn thành công ở
các loại thủy vực ven biển các tỉnh phía Nam. Làm cơ sở để phát triển
trồng trên diện rộng.
2005 Trồng thử nghiệm thành công rong nho Viện Hải dương học Nha Trang
Tìm ra một chủng rong biển mới để ngư dân lựa chọn, bổ sung vào danh
mục thuỷ sản nuôi trồng.
* Nguồn: Lê Anh Tuấn, 2004
2.2. Tình hình sản xuất và sử dụng rong biển
Rong biển được sử dụng ở nhiều nước như là một nguồn thực phẩm (phổ
biến nhất là ở Châu Á), dùng trong các ứng dụng công nghiệp và làm
phân bón, chiết xuất để thu các loại keo thực vật/ keo công nghiệp
(phycocoloids/industrial gums) và hóa chất.
Rong biển cũng được sử dụng như là chất thu năng lượng và các chất có
tiềm năng sử dụng có thể được chiết xuất từ sự lên men và sự nhiệt
phân.
Bảng 4: Các hướng sử dụng và các đối tượng rong biển được nuôi trồng
Ngành Thực phẩm cho con người Keo công nghiệp
Rhodophyta
Phần lớn gồm những giống loài đa bào, cấu tạo phức tạp Rong mứt
Porphyra, rong câu Gracilaria, rong thạch Gelidium, rong đông Hypnea,
rong sần Eucheuma, rong sụn Kappaphycus… Rong câu Gracilaria, rong
thạch Gelidium, rong đông Hypnea cho keo agar, rong sần Eucheuma, rong
sụn Kappaphycus cho keo carrageenan.
Phaeophyta
Chỉ gồm những loài đa bào cỡ lớn hoặc trung bình Rong bẹ Laminaria,
rong Undaria Rong bẹ Laminaria, rong Undaria, rong mơ Sargassum, rong
chân ngỗng Ecklonia… cho keo alginate.
Chlorophyta
Gồm rong đơn và rong đa bào Rong tiểu cầu Chlorella, rong cải biển
Ulva, rong bún Enteromorpha, rong giấy Monostroma, rong cây đại
Codium, rong guột Caulerpa…
Các hướng sử dụng rong biển hiện nay được tóm tắt trong hình dưới đây:
Sơ đồ 1: Các hình thức sử dụng rong biển (Indergaard, 1983)
Những sản phẩm được sử dụng phổ biến hiện nay được biểu thị bằng dấu
*; những sản phẩm khác là tiềm năng hoặc chỉ mới được sử dụng trong
giới hạn. Phycocolloids là keo công nghiệp như agar, carrageenan và
alginate.
Rong biển dùng làm thực phẩm cho con người
Rong biển là thức ăn ưa chuộng ở Nhật Bản và Trung Quốc kể từ thời
tiền sử. Việc sử dụng rong biển làm thực phẩm được bắt đầu ở Nhật Bản
từ thế kỷ thứ IV và ở Trung Quốc từ thế kỷ thứ VI. Khoảng 21 loài được
sử dụng trong nấu ăn hàng ngày ở Nhật Bản. Rong biển chiếm khoảng 10%
thực đơn của người Nhật, và việc tiêu thụ rong biển đạt mức trung bình
là 3,5kg/hộ vào năm 1973, và tăng 20% trong vòng 10 năm qua. Loài thực
phẩm quan trọng nhất ở Nhật Bản là Nori (Porphyra), Kombu (Laminaria)
và Wakame (Undaria pinnatifida).
Ở phương Tây, rong biển chủ yếu được nói đến như là một loại thức ăn
bồi bổ sức khỏe. Trong truyện dân gian Ireland vào thế kỷ thứ 10, các
quy định về khai thác Palmaria palmata, một loại rong đỏ, đã được nói
đến và sau đó được sử dụng ở Ireland và Scotland trong một thời gian
dài. Đầu thế kỷ XIX, Chondrus crispus được sử dụng như là một phương
thuốc ở Ireland. Nhiều loại rong đỏ khác cũng được dùng như là thuốc
trừ giun sán và chất bồi bổ sức khỏe ở vùng Địa Trung Hải vào thời kỳ
trước công nguyên.
Việc sử dụng rong bẹ Laminaria đã diễn ra từ lâu, loài chính là
Laminaria japonica, nhưng có 8-11 loài khác cũng được sử dụng, chủ yếu
ở Nhật Bản. Rong được phơi khô sau khi thu hoạch và được cắt thành
từng dải hoặc nghiền thành bột. Ở Nhật, rong bẹ sử dụng trong chế biến
món cá, món thịt, món súp và dùng làm rau khi ăn với cơm. Rong bẹ dạng
bột được đưa vào trong nước sốt hoặc súp hoặc được nêm nếm giống như
cà ri. Một số dạng sử dụng trong chế biến món nước uống tương tự như
trà.
Một loài rong khác thuộc nhóm rong bẹ, rong unda Undaria pinnatifida
sử dụng rộng rãi ở Nhật hơn Laminaria cả giá trị lẫn sản lượng. Rong
thu hoạch được rửa sạch bằng nước ngọt rồi phơi khô. Sau khi rửa lại,
rong được dùng như là một chất phụ gia đưa vào súp (súp wakame là món
ăn thường ngày ở Nhật); dùng ngay với cơm; nướng (Yaki - wakame); và
tẩm đường hoặc đóng hộp (Ito - wakame). Tại Trung Quốc, rong Undaria
dùng làm thực phẩm không phổ biến như Laminaria vì thế sản lượng rất
thấp, khoảng vài trăm tấn rong khô mỗi năm.
Rong mứt Porphyra được bán dưới dạng các phiến, khi nướng có màu xanh
và thường được bóp vụn, cho vào sốt, súp và nước thịt rong cũng có thể
được rửa và ăn ngay. Các phiến rong mứt khô, nhỏ dùng để bọc các viên
cơm nguội và dùng làm bữa ăn lỡ cho trẻ em Nhật. Giá trị dinh dưỡng
của rong mứt: có hàm lượng protein cao (25-35% khối lượng khô), các
vitamin, các muối khoáng đặc biệt là Iodine. Hàm lượng vitamin C gấp
khoảng 1,5 lần hàm lượng có trong cam và 75% protein và các
carbohydrate tiêu hóa được bởi con người, đây là một tỉ lệ rất cao đối
với rong biển.
Bánh làm bằng rong biển (chủ yếu là Porphyra dioica và P. purpurea)
là rong thu được dọc theo bờ biển xứ Wales trên các ghềnh đá khi thủy
triều rút đi. Bánh rong biển có hàm lượng dinh dưỡng rất cao, chủ yếu
là protein, carbohydrate, vitamin B, B2, A, C cùng nhiều nguyên tố vi
lượng và khoáng, nổi bật nhất trong số đó là Iodine. Ngoài ra, chúng
có hàm lượng calo rất thấp vì thế thích hợp cho những người ăn kiêng.
Các chiết xuất dạng lỏng của rong biển
Các chiết xuất dạng lỏng của rong nâu được dùng trong nông nghiệp và
làm vườn. Phần lớn những chiết xuất này được làm từ bột khô của rong
Ascophyllum nodosum (chẳng hạn như "Maxxicrop" được sản xuất tại Anh)
hoặc từ rong khô trôi nổi, thường nói đến như là "rong đen", nhưng một
số nơi sử dụng loài khác như Fucus serrratus và Laminaria (chẳng hạn
SM3 ở Anh). Một sản phẩm hiện có mặt trên thị trường được chế biến từ
cuống của Ecklonia maxima từ Nam Phi ("Kelpak 66")… Các chất này được
dùng để tăng sản lượng cây trồng, giúp cây trồng chống chịu tốt với
sương giá, các điều kiện bất lợi, tăng cường việc thu nhận các chất vô
cơ từ đất và giảm thất thoát khi bảo quản quả.
Keo công nghiệp từ rong biển
Các loại keo công nghiệp chiết xuất từ rong biển chia thành ba loại:
Alginate (các dẫn xuất của alginic acid), agar và carrageenan.
Alginate được chiết xuất chủ yếu từ các loại rong nâu trong khi đó
agar và carrageenan được chiết xuất từ rong đỏ. Có nhiều sản phẩm nhân
tạo là những chất thay thế thích hợp cho keo rong biển nhưng không có
sản phẩm nào có những tính chất đông và kết dính giống như keo rong
biển nên trong tương lai gần khó có thể có loại vật liệu nào thay thế
được chúng.
Alginate, agar, carrageenan là những chất đông tụ và keo hóa và cả ba
chất này đã đặt nền tảng cho việc sử dụng rong trong công nghiệp. Năm
1658 tại Nhật, các tính chất keo hóa của agar được chiết xuất bằng
nước nóng từ một loài rong đỏ cho thấy rong biển dưới dạng là nguồn
gốc của các chất keo thực vật. Các chiết xuất từ rong Ailen (Chondrus
crispus) chứa carrageenan đã phổ biến trong thế kỷ XIX vì tính chất
đông tụ của nó. Còn các chiết xuất của rong nâu chứa keo alginate, mãi
đến những năm của thập kỷ 30 của thế kỷ XX mới được sản xuất theo quy
mô thương mại. Việc sử dụng các chiết xuất của rong trong công nghiệp
phát triển nhanh chóng sau chiến tranh thế giới lần thứ hai nhưng do
thiếu hụt nguyên liệu nên đôi lúc còn hạn chế.
Hiện nay, khoảng 1triệu tấn rong tươi được thu hoạch và chiết xuất để
tạo ra ba loại keo thực vật nói trên. Khoảng 55.000 tấn keo thực vật
được sản xuất với tổng giá trị là 585 triệu đô la Mỹ. Sản lượng
alginate (213 triệu đô la Mỹ) qua chiết xuất rong nâu chủ yếu được
khai thác trong tự nhiên do việc nuôi trồng rong nâu để cung cấp
nguyên liệu cho công nghiệp rất tốn kém. Sản lượng agar (123 triệu đô
la Mỹ) chủ yếu từ hai dạng rong đỏ, một trong số đó đã từng được nuôi
trồng từ những năm 1960 - 1970 và đã trồng trên quy mô lớn hơn từ năm
1990, điều này cho phép mở rộng công nghiệp sản xuất agar. Sản lượng
carrageenan (240 triệu đô la Mỹ) chủ yếu phụ thuộc vào rong biển tự
nhiên. Tuy nhiên, từ những năm đầu của thập kỷ 70, công nghiệp
carrageenan đã phát triển nhanh chóng nhờ vào các rong biển có chứa
carrageenan được nuôi trồng thành công ở các quốc gia có vùng nước ấm
với giá nhân công thấp. Hiện nay, phần lớn rong biển được dùng để sản
xuất carrageenan đều có nguồn gốc từ nuôi trồng.
Bảng 5: Sản lượng và giá trị của thị trường keo rong biển quốc tế,
1995
Keo rong biển Tổng sản lượng (tấn) Giá (USD/kg) Tổng giá trị (triệu
USD)
Agars 10,161 20 203
Carrageenans 25,403 8 203
Alginates >25,000 6 150
Tổng cộng >61,000 - 560
* Nguồn: Quest International, Cork and IMR International, San Diego
Rong biển sử dụng trong lĩnh vực y dược
Việt Nam có nhiều loài rong có thể góp phần quan trọng trong phòng
chữa bệnh nhưng gần như chưa được khai thác chế biến sử dụng.
Sargassum cho alginic acid, mannitol, iod... là những sản phẩm có thể
sử dụng trực tiếp hoặc qua phản ứng hóa được các muối khác nhau để
phòng nhiễm xạ, bệnh tim mạch, nhiễm trùng máu, bệnh thận, bệnh màng
não, bệnh các tuyến nội tiết...
Agarophyte cho chế phẩm agar, loại polysaccharid có tác dụng ngừa,
chữa bệnh ung thư đường tiêu hóa, tăng hiệu ứng các loại thuốc, chất
phụ gia để sản xuất rất nhiều loại thuốc tân dược; là môi trường duy
nhất không thể thay thế trong nghiên cứu sinh học sinh thái các loại
vi sinh vật và dung môi sản xuất kháng sinh.
Làm sạch ruột, ngừa táo bón
Thành phần Alga alkane mannitol có trong rong biển là loại đường có
hàm lượng calo thấp, giúp nuôi dưỡng các vi khuẩn có lợi cho ruột, làm
cho thức ăn tiêu hoá nhanh và sớm loại bỏ các các chất cặn bã lưu lại
trong ruột. Nhờ đó, ruột trở nên sạch sẽ, tăng khả năng hấp thụ canxi.
Cũng chính vì vậy mà rong biển trở thành thực phẩm ngừa táo bón và
thúc đẩy sự bài tiết hữu hiệu.
Giảm huyết áp
Trong rong biển chứa một hàm lượng chất khoáng rất phong phú. Thực
tế, khoa học đã chứng minh rằng rong biển hấp thu từ nước biển hơn 90
loại khoáng chất với hàm lượng muối thấp và canxi cao. Chính vì lẽ đó
mà rong biển là thực phẩm được ưu tiên hàng đầu đối với những người bị
cao huyết áp.
Giảm cholesterol
Do trong rong biển có hàm lượng calo thấp nên giảm cholesterol -
nguyên nhân gây nên bệnh béo phì. Sử dụng món canh rong biển hàng ngày
sẽ rất tốt cho lưu thông máu.
Diệt khuẩn, làm sạch máu
Thành phần quan trọng nhất có trong rong biển là fertile clement. Đây
là chất có tác dụng điều tiết máu lưu thông, tiêu độc, loại bỏ các cặn
bã có trong cơ thể. Thêm vào đó, nó còn là chất không thể thiếu của
tuyến giáp trạng, nơi tiết ra hooc-môn sinh trưởng, giúp cơ thể phát
triển. Do vậy phụ nữ có thai và trẻ em được khuyên dùng thực phẩm làm
từ rong biển.
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN TRONG NUÔI TRỒNG RONG BIỂN
1. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CHỦ YẾU CỦA RONG BIỂN
1.1. Các đối tượng rong biển được nuôi trồng
Rong biển là các thực vật dạng tản (Thallus), cơ thể gồm một hay nhiều
tế bào tập hợp với nhau tạo thành. Rong biển phân bố ở vùng cửa sông,
các đầm nước lợ, vùng triều hay các vùng biển sâu. Là sinh vật tự
dưỡng, có khả năng hấp thụ các chất dinh dưỡng từ trong môi trường
thuỷ vực tạo thành chất hữu cơ nuôi dưỡng cơ thể, chúng có khả năng hô
hấp hay quang hợp trên toàn bộ bề mặt cơ thể.
Ở Việt Nam, tổng số loài rong biển gần 1000 loài. Khoảng 638 loài
rong biển (239 Rhodophyta, 123 Phaeophyta, 15 Chlorophyta và 76
Cyanophyta) đã được định loại. Trong số đó, 310 loài xuất hiện ở vùng
biển phía Bắc, 484 loài ở vùng biển phía Nam và 156 loài được phát
hiện ở các vùng biển từ Bắc vào Nam. Hiện nay, có khoảng 6 loài rong
biển được trồng trong các thủy vực ở Việt Nam.
Bảng 1.1: Các đối tượng rong biển được nuôi trồng ở Việt Nam
Tên khoa học Tên Việt Nam Vùng nuôi trồng Hình thức sử dụng
Gracilaria asiatica Rong câu chỉ vàng Hải Phòng Thực phẩm, nguyên liệu
sản xuất agar
Gracilaria blodgettii Rong câu thô Hải Phòng Thực phẩm, nguyên liệu
sản xuất agar
Gracilaria tenuistipitata Rong câu mảnh Thừa Thiên Huế Thực phẩm,
nguyên liệu sản xuất agar
Gracilaria heteroclada Rong câu Bình Định đến Kiên Giang Thực phẩm,
nguyên liệu sản xuất agar
Kappaphycus alvarezii Rong sụn Đà Nẵng đến Kiên Giang Thực phẩm,
nguyên liệu sản xuất carrageenan
Caulerpa lentillifera Rong nho Khánh Hòa Thực phẩm
* Nguyên tắc lựa chọn đối tượng rong biển nuôi trồng
Việc lựa chọn đối tượng rong biển để nuôi trồng dựa trên các nguyên
tắc sau:
Rong có chất lượng, sản phẩm tốt:
• Rong thực phẩm: giàu dinh dưỡng
• Rong nguyên liệu chiết keo: có sức đông lớn
Rong có sản lượng cao: Sinh lượng lớn, cơ thể lớn, sinh trưởng nhanh,
thích ứng với môi trường nhanh, dễ lai tạo, nhanh chóng trở thành
giống ổn định.
Sản xuất và tiêu thụ dễ: nguyên liệu; nhân lực; vốn đầu tư; chăm sóc,
quản lý; thị trường tiêu thụ.
1.2. Đặc điểm sinh học của rong biển giai đoạn giống
1.2.1. Giống trong nuôi trồng rong biển
* Khái niệm
Giống là khâu đầu tiên, cơ bản trong dây chuyền nuôi trồng rong biển.
Đó là sản phẩm sinh sản của rong biển.
* Nguồn giống
- Giống thiên nhiên: Giống thu hoạch được do quá trình hình thành
trong điều kiện tự nhiên không qua tác động của con người.
- Giống nhân tạo: Giống do sản xuất hoặc lai tạo mà hình thành.
* Các hình thức sinh sản và sản phẩm sinh sản dùng làm giống của rong
biển
Các hình thức sinh sản của rong biển rất đa dạng và vì thế các sản
phẩm sinh sản dùng làm giống trong nuôi trồng rong biển cũng đa dạng.
Bảng 1.2: Các hình thức và sản phẩm sinh sản dùng làm giống của rong
biển
Đặc điểm Hình thức sinh sản
Dinh dưỡng Vô tính Hữu tính
Tính đực cái Không Không Có
Hoạt động sinh sản Được thực hiện bằng những phần tử riêng lẻ (đơn
hoặc đa bào) của cơ thể. Được thực hiện bằng những tế bào chuyên hóa
về chức phận sinh sản gọi là bào tử. Được thực hiện bằng những tế bào
chuyên hóa về chức phận sinh sản gọi là giao tử, bào tử quả.
Cơ quan sinh sản Không chuyên hóa Túi bào tử Túi giao tử;
Túi bào tử quả
Dạng sinh sản Phân chia tế bào;
Hình thành tập đoàn nhỏ;
Đứt đoạn;
Đâm chồi. Tự giao;
Đơn tính;
Giao tử giả. Đẳng giao (Isogamy)
Dị giao (Heterogamy)
Noãn giao (Oogamy)
Tiếp giao (Zygogamy)
Sản phẩm sinh sản Tế bào mới (Chorella);
Tập đoàn nhỏ (Volvox);
Mầm sinh sản hay nhánh sinh sản (Chara, Caulerpha, Gracilaria) Bào tử
động: có tiêm mao, vận động được (rong xanh, rong nâu);
Bào tử bất động: không có tiêm mao như bào tử đơn, bào tử bốn (rong
đỏ, rong nâu) Giao tử
Bào tử quả
Dạng rong Đơn và đa bào Đa bào Đa bào
1.2.2. Đặc điểm sinh thái của bào tử rong biển
1.2.2.1. Sự phát tán
Phát tán là quá trình bào tử thoát khỏi cơ thể mẹ ra môi trường nước.
Đó là một biểu hiện của thời kỳ hậu sinh sản.
Sự phát tán của giống tuân theo các quy luật:
Phát tán theo tháng: Mỗi năm chỉ có một tháng mà trong tháng đó bào tử
được phóng ra nhiều nhất. Quy luật này đúng với rong biển nhiều năm,
có quy luật sinh trưởng, sinh sản nhất định ở các tháng trong năm.
Phát tán theo con nước: Mức độ phát tán phụ thuộc biên độ thủy triều.
Trong ngày triều cường, nước rút xuống ở mức thấp nhất, thời gian cơ
quan sinh sản của rong biển lộ ra ngoài không khí dài và số lượng rong
biển được kích thích khô tăng lên. Khi nước lên cao, xuống mạnh càng
làm tăng nhân tố chấn động nên bào tử phóng ra ngoài càng nhiều. Quy
luật này đúng với rong phân bố vùng triều.
Phát tán theo giờ: Vào ngày triều cường, giờ phát tán trùng với giờ
cao điểm của con nước triều. Ngày thường, giờ phát tán trùng với giờ
cao điểm của tổng hợp các yếu tố: nhiệt độ, độ mặn, chấn động…
Ứng dụng: Căn cứ mùa vụ sinh sản và quy luật phát tán của từng loài để
dự báo lấy giống (vớt giống tự nhiên, kích thích cho phóng bào tử).
1.2.2.2. Sự di động
Sự di động là quá trình vận động của bào tử trong môi trường sau khi
phát tán và trước khi bám vào vật bám.
Các loại bào tử khác nhau có sự di động khác nhau.
Bào tử di động chủ động nhờ tiên mao.
Bào tử bất động di động bị động nhờ tác động vận chuyển của nước
hoặc chuyển động biến hình
Thời gian di động của bào tử phụ thuộc vào yếu tố ngoại cảnh đặc biệt
là nhiệt độ. Ngoài ra, nó còn phụ thuộc vào sự chín muồi của bào tử.
Ví dụ: thời gian di động của bào tử được phóng thích nhân tạo ngắn hơn
so với bào tử được phóng thích tự nhiên.
Bảng 1.3: Ảnh hưởng của nhiệt độ lên sự di động của bào tử rong biển
Loài Dạng bào tử Nhiệt độ (0C) Thời gian di động (phút)
Laminaria Động 5 - 10 45 - 60
20 - 25 10 - 15
Gracilaria asiatica Bất động 10 -15 >30
> 25 10 - 15
Ứng dụng: Xác định thời điểm thả vật bám (đúng lúc bào tử ngừng di
động). Điều này giúp cho bào tử bám được nhiều và tránh bào tử rong
tạp, sinh vật có hại tranh chiếm địa bàn.
1.2.2.3. Quá trình bám của bào tử
Quá trình bám của bào tử là sự cố định của bào tử vào vật bám để phân
cắt và phát triển sau khi di động.
Các loại bào tử khác nhau có phương thức bám và hướng bám khác nhau.
Bảng 1.4: Phương thức bám và hướng bám của bào tử
Bào tử động Bào tử bất động
Phương thức bám Tiên mao chúc xuống sát giá thể; bào tử bám sát và
rụng dần tiêm mao Bào tử ép sát vật bám; bào tử bám sát vào vật bám.
Hướng bám Lúc đầu bào tử và vật bám tạo góc 450, sau đó là 900 Loại
hướng bám 900 Loại hướng bám khác 900
Trục thẳng góc trùng với trục bám / trục phân cắt; bào tử được gọi
là bào tử bám có hướng/có cực. Quá trình phân cắt hình thành khối đa
bào cân đối. Cơ thể hình thành dạng đơn nhánh. Bào tử được gọi là bào
tử bám không hướng/không cực. Quá trình phân cắt hình thành khối đa
bào không cân đối. Cơ thể hình thành có dạng không phân nhánh.
Phân biệt bào tử bám và chưa bám
Bào tử bám Bào tử chưa bám
Có dạng hình cầu; kích thước bé, chuyển động khi lay động, có tiên mao
(bào tử động). Có dạng hình đĩa dẹp; kích thước lớn, không chuyển động
khi lay động, không có tiên mao (bào tử động)
Ứng dụng: Xác định thời điểm thu giống.
1.2.2.4. Quá trình phân cắt và sự phát sinh của rong biển
Sau khi hình thành cơ quan bám, ở trung tâm khối đa bào xuất hiện tế
bào phân sinh (tế bào mầm). Tế bào mầm phát triển thành mầm, cây mầm,
và cuối cùng là cây trưởng thành.
* Rong biển cao đẳng: có 2 dạng hình thái và 2 dạng cấu tạo. Đó là
dạng phân nhánh có cấu tạo đa trụ và dạng đơn nhánh có cấu tạo đơn trụ
do kết quả của hai hình thức khác nhau:
Dạng đơn trụ: Tế bào mầm phân cắt lần I là phân cắt chéo/vát 450 so
với trục đỉnh, cho ra 2 tế bào. Tế bào TB' (trên) và TB'' (dưới). Tế
bào TB' phân cắt lần II, III là phân cắt dọc cho 4 tế bào, sau này
thành 4 hàng tế bào vây trụ. Tế bào TB'' chỉ phân cắt ngang, hình
thành 1 hàng tế bào trung trụ.
Dạng đa trụ: Quá trình phân cắt lần I như trên. Phân cắt lần II, III
thì cả TB' và TB'' đều phân cắt dọc. TB' hình thành những tế bào vây
trụ. TB'' hình thành những hàng tế bào trung trụ. Tế bào vây trụ phân
cắt dọc, ngang hình thành những tế bào nội, ngoại bì.
Quá trình phân nhánh: Tương tự quá trình hình thành thân. Tế bào mầm
được hình thành do một trong các tế bào ngoài cùng của tầng lõi (gồm
tế bào trung trụ và vây trụ) và khi phát triển ra mặt ngoài của cơ
thể. Phân cắt lần I là phân cắt chéo như tế bào mầm của khối đa bào
đầu tiên ở dạng đĩa. Nếu thân chính có cấu tạo đơn trụ thì nhánh có
cấu tạo đơn trụ. Nếu thân chính có cấu tạo đa trụ thì nhánh có cấu tạo
đa trụ.
* Rong hình bản, hình lá: Sau khi hình thành khối đa bào và cơ quan
bám, tất cả các tế bào trong khối đa bào dạng đĩa đều phân cắt không
quy tắc ra nhiều hướng khac nhau hình thành dạng hình bản, hình lá,
hình ống... Phát sinh theo dạng này, dạng đĩa của khối đa bào không
hình thành tế bào mầm.
* Rong hình sợi: Là dạng có tế bào mầm nhưng tế bào này chỉ phân cắt
ngang do đó các tế bào con chỉ phát triển theo một hướng nhất định,
kéo thành sợi. Vì vậy, hình sợi thực chất do một hàng tế bào tạo nên.
Chỗ phân nhánh trên sợi là do một tế bào phát triển mạnh hơn tế bào
khác, rồi phân cắt mà thành.
1.3. Đặc điểm phân chia giai đoạn phát triển của rong biển
1.3.1. Sự phân chia giai đoạn phát triển của rong biển trong sinh học
Toàn bộ chu kỳ sinh sản của một loài rong biển được chia làm 5 giai
đoạn như sau: phát sinh, sinh trưởng, tích lũy, sinh sản, tàn lụi.
Bảng 1.5: Đặc điểm các giai đoạn phát triển của rong biển trong sinh
học
Giai đoạn Khởi đầu - Kết thúc Số lượng tế bào Chất lượng tế bào Hình
dạng cơ thể Kích thước cơ thể
Phát sinh Sản phẩm sinh sản ® cây mầm (2-4 tháng hoặc hơn tùy loài)
Tăng lên Tích lũy chưa nhiều Một tế bào ® khối đa bào dạng đĩa ® cây
mầm Mắt thường không quan sát được ® quan sát được. Kích thước khác
nhau tùy loài: E.intertinalis 18-24mm; Sargassum fusiform 35-50mm;
G.asiatica 40-48mm; L.japonica 30-45mm; Gelidium amansii 30-40mm
Nhìn chung: Rong có bào tử bất động > Rong có bào tử động
Hình 1.1: Quá trình phát triển bào tử con từ bào tử quả ở rong câu
(Gracilaria asiatica)
a. Giai đoạn tròn hình đĩa trong suốt quá trình phát triển của bào tử
con từ bào tử quả. Những tế bào sắc tố ở vị trí trung tâm và chất keo
trong suốt xung quanh đĩa, đường kẻ ngang = 100 µm.
b. Sự liên kết của các đĩa cơ bản; Những bào tử con thẳng đứng u lên
từ lớp mặt của những đĩa cơ bản. Thanh ngang = 150 µm;
c. Hai bào tử con xuất hiện từ sự kết hợp hai đĩa cơ bản. Thanh ngang
=75µm.
Hình 1.2: Sự phát triển của các bào tử con và lá dạng sợi ở rong câu
(Gracilaria asiatica)
a. Sự phát triển của các bào tử con và lá dạng sợi mới. Thanh ngang =
100 µm;
b. Sự phóng đại của một phần hình 3a cho thấy sự khác nhau giữa lá
dạng sợi và bào tử con. Thanh ngang = 50 µm;
c. Sinh trưởng của bào tử và lá dạng sợi. Thanh ngang = 150 µm.
d. Hình nhìn một bên của cả bào tử con và lá dạng sợi mới. Hai tế bào
mới tách ra từ sợi (hướng mũi tên). Thanh ngang =150 µm.
Sinh trưởng
ST 1
ST 2
Cây mầm ® cây con
Cây con ® cây trưởng thành
Tăng lên rất nhanh
Tăng lên
Tích lũy tăng lên
Tích lũy nhiều hơn
Hình thành nhánh cấp 1 hãn hữu có nhánh cấp 2, 3.
Có đầy đủ nhánh cấp 1, 2, 3.
Mắt thường trông thấy ® 10cm.
Cơ thể có kích thước tối đa.
Hình 1.3: Cây con Laminaria japonica gắn trên chất nền (dây thừng bằng
cọ)
Hình 1.4: Giống rong biển (Gracilaria sp) bên phía trái và rong trưởng
thành sau 8 tuần trồng phía bên phải
Tích lũy Cây trưởng thành ® sinh sản Hầu như không tăng Tích lũy đạt
cực đại: tỷ lệ K/T max Số nhánh các cấp lớn, nhánh dài, màu sắc đậm
đà; rong mập, bóng bẩy. Cơ thể có kích thước tối đa.
Hình 1.5: Rong câu (Gracilaria sp) trưởng thành
Sinh sản Sinh trưởng; tích lũy ® tàn lụi Giảm dần theo sự phóng sản
phẩm sinh sản Tế bào dinh dưỡng ® sinh sản Xuất hiện cơ quan và sản
phẩm sinh sản rồi phóng ra ngoài ® màu sắc nhạt. Sau giai đoạn này
kích thước, khối lượng cơ thể giảm.
Hình 1.6: Quả túi (cystocarp) ở Gracilaria
vermiculophyll
Tàn lụi (Sinh trưởng), sinh sản ® tàn lụi Giảm mạnh do dị hóa tăng,
nhiều tế bào bị phân hủy Chất dinh dưỡng bị tiêu hao nhiều, sinh khối
giảm. Sắc tố cơ thể bị phân hủy biến màu; cơ thể tan rửa, nhất là phần
ở đỉnh đầu các nhánh về sau lan dần khắp cơ thể. Kích thước rong giảm
mạnh (nhiều khi không còn).
Việc nắm vững sự phân chia giai đoạn phát triển trong sinh học của một
loài rong biển nào đó sẽ giúp chúng ta chủ động đề ra các kế hoạch sản
xuất.
Ở giai đoạn phát sinh, tỷ lệ sống của rong rất thấp; trong tự nhiên tỷ
lệ nảy mầm là 2-5%. Giai đoạn sinh trưởng: Giai đoạn sinh trưởng 1
trùng với giai đoạn ưom giống trong chu trình sản xuất. Giai đoạn sinh
trưởng 2 trùng với giai đoạn trồng thương phẩm trong chu trình sản
xuất hay còn được gọi là "mùa rộ/mùa vụ sinh trưởng". Trong sản xuất,
căn cứ vào giai đoạn tích lũy để đề ra kế hoạch và lựa giống cho vụ
sau. Giai đoạn sinh sản được gọi là "mùa vụ sinh sản"; được lợi dụng
để chọn và sản xuất giống bào tử, giống cây mầm. Giai đoạn tàn lụi,
trong sản xuất cần lưu ý hiện tượng tàn lụi sớm, đó là hiện tượng xảy
ra khi rong chưa đến giai đoạn tàn lụi thường gặp ở nơi trồng mật độ
cao, các yếu tố môi trường không phù hợp chứ không phải do di truyền.
Biện pháp cứu chữa: cách ly, khoang vùng những nơi có tàn lụi sớm; cắt
ngọn chỗ có bệnh không cho lây lan; "thu hoạch chạy" trước khi rong
tàn lụi.
1.3.2. Sự phân chia giai đoạn phát triển của rong biển trong sản
xuất
1.3.2.1. Giai đoạn cây mầm
Là giai đoạn phát sinh từ bào tử, phân cắt phát triển thành mầm rồi
cây mầm, là khâu đầu tiên trong chu kỳ sản xuất. Tỷ lệ thành mầm của
bào tử rất thấp nhưng khi đã thành mầm chúng sẽ nhanh chóng tăng
trưởng để chuyển sang giai đoạn cây mầm. Các đặc điểm về hình thái cấu
tạo và chức năng sinh lý như giai đoạn phát sinh đã nói ở trên.
Thời gian của giai đoạn này phụ thuộc thời kỳ phát sinh của mỗi loài
rong biển. Phần lớn các loài rong có mầm phát sinh từ bào tử có kích
thước bé hơn cây mầm phát sinh từ sinh sản dinh dưỡng. Thời gian phát
sinh của mầm cũng dài hơn.
Ví dụ: Cây mầm của rong câu chỉ vàng G. asiatica kích thước 1cm phát
sinh từ bào tử mất 40 - 45 ngày, từ mầm dinh dưỡng mất 18 - 20 ngày.
1.3.2.2. Giai đoạn cây giống
Là thời kỳ tiếp theo của giai đoạn cây mầm, ứng với giai đoạn sinh
trưởng 1. Kích thước của cơ thể ở giai đoạn này thường căn cứ vào thời
gian sinh trưởng, được gọi là các đơn vị thời gian sinh trưởng: ngày
tuổi, tháng tuổi. Kích thước lớn bé phụ thuộc vào kích thước cây rong
ở giai đoạn trưởng thành.
Ví dụ:
Cây giống của Laminaria japonica 10 - 20 cm: 2 - 2,5 tháng tuổi
(phát sinh từ bào tử).
Cây giống của Gracilaria asiatica 5- 10 cm: 3 - 3,5 tháng tuổi (phát
sinh từ bào tử).
Về hình dạng, ở giai đoạn này có những phân nhánh, phần lớn chưa xuất
hiện nhánh cấp 2, 3, tương đương với giai đoạn sinh trưởng 1. Về mặt
các chức năng sinh lý, rong ở giai đoạn này có khả năng thích ứng cao
với điều kiện môi trường. Nếu ra giống đúng lúc, mật độ thích hợp, kỹ
thuật chăm bón tốt giống sẽ phát triển nhanh chóng sang giai đoạn
trưởng thành.
Hình 1.7: Cây giống của rong sụn Kappaphycus sp
1.3.2.3. Giai đoạn cây trưởng thành
Về hình thái, cây trưởng thành phát triển hoàn chỉnh các bộ phận của
cơ thể. Những loài phân nhánh đã có đầy đủ nhánh các cấp. Ở thời kỳ
sau, trên cơ thể đã xuất hiện các loại cơ quan sinh sản, màu sắc cơ
thể bóng bẩy, đậm đà, rong bụ bẩm, nhánh vươn dài, sự tích lũy chất đã
tăng lên, hiện tượng tàn lụi cũng xuất hiện lẻ tẻ ở các đầu nhánh.
Hình 1.8: Cây trưởng thành của rong sụn Kappaphycus sp
Giai đoạn cây trưởng thành ứng với các giai đoạn: sinh trưởng 2, tích
lũy, sinh sản và một phần giai đoạn tàn lụi. Đây là giai đoạn cây rong
đang trong thời gian nuôi trồng hoặc là giai đoạn cây sản phẩm, là
thời kỳ cuối cùng trong chu kỳ sản xuất. Việc xác định đúng giai đoạn
cây trưởng thành có ý nghĩa quan trọng trong kế hoạch sản xuất như
vạch ra thời gian chăm bón, thời gian thu hoạch, lịch sản xuất cho vụ
sau.
Tóm lại, sự phân chia các giai đoạn phát triển trong một chu kỳ sống
của rong chưa được nghiên cứu nhiều để có một ranh giới rõ ràng giữa
các giai đoạn, song phần nào nó cũng phản ánh được những nét cơ bản và
sự liên quan giữa các giai đoạn.
2. MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC YẾU TỐ RONG BIỂN, MÔI TRƯỜNG VÀ KỸ THUẬT
2.1. Các khái niệm
Rong biển: Là những loài tảo thuộc thực vật bậc thấp, phân bố ở các
vùng cửa sông, vùng nước lợ, vùng triều cho đến các vùng biển sâu; có
cấu tạo đơn bào hoặc đa bào, cơ thể chưa phân hóa thành rễ, thân, lá
thật nên gọi là tản (thallus); toàn bộ cơ thể có chung một chức năng
tự dưỡng; quá trình phát sinh không có giai đoạn phôi thai, chỉ có hợp
tử, hợp tử có khả năng phát triển độc lập với cơ thể mẹ.
Môi trường: Trong nuôi trồng rong biển, môi trường được hiểu là toàn
bộ các yếu tố vô sinh, hữu sinh tác động lên đối tượng rong biển nuôi
trồng
Kỹ thuật: Thao tác kỹ thuật là hoạt động cụ thể của con người, bằng
thủ công hay máy móc, tác động một cách khoa học đến đối tượng nuôi
trồng và môi trường nhằm đem lại lợi ích nhất định cho con người.
Quy trình kỹ thuật sản xuất một đối tượng rong biển nào đó là một tập
hợp các thao tác kỹ thuật được sắp xếp theo một trình tự nhất định,
hoàn chỉnh.
2.2. Mối quan hệ giữa rong biển, môi trường và kỹ thuật
Các yếu tố sinh thái biển có ảnh hưởng đến đời sống của rong biển được
chia ra như sau:
2.2.1.Yếu tố động lực
2.2.1.1. Thủy triều
Hình 1.9: Triều cường và triều xuống tại vịnh Fundy
Thủy triều ảnh hưởng tới sự phân bố của rong biển. Rong biển hầu hết
sống ở vùng trung triều trở xuống. Ở vùng trên triều, rong ít phân bố
thường chỉ có bọn rong nhỏ, có tính chịu khô cao, đại diện có giống
Bostrychia (rong đỏ). Vùng trung triều và hạ triều, và nhất là tầng
trên của vùng dưới triều thường tập trung các loại rong có kích thước
lớn.
Do thành phần sắc tố khác nhau và khả năng hấp thu các tia sáng khác
nhau, sự phân bố của các ngành rong cũng khác nhau. Rong đỏ phân bố
sâu hơn, thường có mặt ở vùng hạ triều và dưới triều. Rong nâu phân bố
vùng hạ triều và trung triều. Rong xanh phân bố nông hơn, chủ yếu ở
vùng trung triều và cao triều. Tuy nhiên, có một số giống loài không
phân bố theo quy luật như trên, như: trong rong đỏ có các giống
Bostrychia, Porphyra phân bố vùng cao triều, Gracilaria asiatica phân
bố vùng trung, cao triều. Hoặc rong guột Caulerpa thuộc ngàng rong
xanh nhưng phân bố được ở vùng hạ triều.
Sự lên xuống của thủy triều còn tác động đến quá trình phóng bào tử
của rong biển. Rong mơ Sargassum, rong quạt Padina chu kỳ phóng thích
bào tử phụ thuộc vào chu kỳ thủy triều. Rong câu chỉ vàng Gracilaria
asiatica phân bố vùng triều, khi nước triều rút, rong bị khô có tác
dụng kích thích cho bào tử quả phóng khi nước triều dâng lên.
2.2.1.2. Sóng gió
Hình 1.10: Chuyển động của từng phân tử nước biển trong sóng biển
A=Nước sâu, B=Nước nông (với nước nông, các hạt chuyển động thành
hình elip thay cho hình tròn tại gần đáy). 1=Chiều lan truyền, 2=Đỉnh
sóng, 3=Đáy sóng.
Nhưng loài rong ưa sóng thường phân bố ở vùng có sóng lớn, thường ở
vùng triều. Đại diện cho nhóm này là: Gelidium amansii, Hypnea,
Ecklonia, Chaetomorpha… nhóm rong này có cơ quan bám phát triển, cấu
tạo cơ thể rắn chắc.
Những loài rong sợ sóng thường phân bố ở vùng sóng yếu, hoặc ở vùng
nước tĩnh như trong các ao đầm nước lợ. Đại diện cho nhóm này là:
Gracilaria, Enteromorpha, Ulva, Monostroma… nhóm rong này cơ thể mềm
mại, cấu tạo trong lỏng lẻo.
Quá trình bám của bào tử rong biển phụ thuộc vào sóng gió. Những loài
rong sống ở vùng sóng lớn, bào tử phóng ra thường có tốc độ bám nhanh
hơn những loài rong phân bố vùng yên sóng. Sóng gió còn là yếu tố có
tác dụng cơ học cho quá trình phóng bào tử của rong biển.
2.2.1.3. Hải lưu
Hải lưu là sự di chuyển của dòng nước biển có quy luật, có liên quan
đến sự thay đổi nhiệt độ của vùng nước. Dòng nước nóng quan trọng của
đại dương là dòng chảy Gulf Stream chảy từ vịnh Mexico qua Bắc Mỹ, qua
Đại Tây Dương sang bờ biển Châu Âu.
Nguồn: NASA
Hình 1.11: Hải lưu Gon strim có màu da cam và vàng trong bản đồ nhiệt
độ nước Đại Tây Dương
Hải lưu có ảnh hưởng lớn đến sự di động phát tán của bào tử rong biển,
đến hoạt động dinh dưỡng và phân bố của rong biển.
2.2.2. Yếu tố vật lý
2.2.2.1. Địa bàn sinh trưởng của rong biển
Căn cứ vào tập tính sống có thể chia rong biển thành hai dạng: sống cố
định và sống phù du.
Rong biển sống phù du thường được phân bố ở các tầng nước khác nhau,
đảm bảo cho chúng có khả năng hấp thu năng lượng ánh sáng mặt trời để
quang hợp. Chúng thường không có cơ quan bám.
Rong biển sống cố định thì trong quá trình sống chúng cần có địa bàn
sinh trưởng. Địa bàn sinh trưởng của rong biển có thể là đáy cứng như
đá tảng, đá cuội, san hô… hoặc đáy mềm như bùn, bùn cát, cát bùn hoặc
cơ thể thực vật khác cùng phân bố với chúng. Rong biển hấp thụ nước,
muối khoáng từ môi trường xung quanh chứ không phải từ địa bàn sinh
trưởng. Địa bàn sinh trưởng chỉ giúp chúng cố định ở một tầng nước
nhất định trong quá trình sống để đảm bảo cho quá trình quang hợp được
tiến hành tốt.
Địa bàn sinh trưởng có quan hệ đến quá trình hình thành cơ quan bám và
khả năng bám của rong biển. Yêu cầu về dạng địa bàn sinh trưởng ở rong
biển có khác nhau. Rong sống vùng triều có cơ quan bám phát triển,
thích bám trên các dạng đáy cứng. Chẳng hạn như rong thạch Gelidium
thích phân bố trên tảng đá có nhiều động vật nhuyễn thể khác.
Hình 1.12: Rong thạch Gelidium
Rong chuỗi Chaetomorpha thích bám trên đáy có nhiều cát sỏi… Rong sống
trong đầm nước lợ, cơ quan bám kém phát triển, chúng thường sống tự do
cài quấn hoặc một phần gốc vùi trong lớp bùn cát; một số loài sống bám
trên thực vật thủy sinh khác. Chẳng hạn như rong guột Caulerpa có rễ
giả phát triển đâm sâu trong lòng cát, rong đen đầu Sphacellaria
thường bám trên gốc rong mơ, rong nhiều ống Polysiphonia thường bám
trên rong câu.
Hình 1.13: Rong Caulerpa taxifolia
2.2.2.2. Nhiệt độ
Nhiệt độ ảnh hưởng đến sự phân bố của rong biển. Căn cứ vào quan hệ
giữa nhiệt độ và phân bố của rong biển, Kjellman và Sberkoj đã phân
khu hệ rong biển theo thang nhiệt độ như sau:
+ Nhiệt độ 0 – 50C ứng với khu hệ rong hàn đới;
+ Nhiệt độ 5 – 150C ứng với khu hệ rong á hàn đới;
+ Nhiệt độ 10 – 200C ứng với khu hệ rong ôn đới;
+ Nhiệt độ 15 – 250C ứng với khu hệ rong á nhiệt đới;
+ Nhiệt độ ≥ 250C ứng với khu hệ rong nhiệt đới.
Dựa theo cách chia này thì khu hệ rong biển của Việt Nam mang tính
chất á nhiệt đới và nhiệt đới từ Bắc vào Nam. Đặc điểm của rong biển ở
các khu hệ đó có sự khác nhau rõ ràng. Rong trong khu hệ rong hàn đới
và ôn đới có kích thước cơ thể tương đối lớn, thời gian sinh sản muộn
và kéo dài, số lượng cá thể loài nhiều và thành phần loài ít. Rong
trong khu hệ rong nhiệt đới thì có các đặc điểm ngược lại.
Nhiệt độ ảnh hưởng đến sinh trưởng của rong biển. Trong phạm vi nhiệt
độ thích hợp, khi nhiệt độ tăng thì quá trình sinh trưởng của rong
biển tăng và ngược lại. Yêu cầu nhiệt độ thích hợp cho quá trình sinh
trưởng của rong biển khác nhau. Rong mứt Porphyra tenera sinh trưởng
tốt ở nhiệt độ trên dưới 100C; rong quạt Padina sinh trưởng tốt ở
nhiệt độ 200C – 250C; rong unda Undaria pinnatifera sinh trưởng tốt ở
nhiệt độ 200C.
Nhiệt độ ảnh hưởng đến quá trình sinh lý của rong biển. Quá trình
quang hợp và hô hấp của rong biển được tiến hành thuận lợi trong phạm
vi nhiệt độ thích hợp. Rong câu chỉ vàng Gracilaria asiatica có cường
độ quang hợp lớn nhất trong giới hạn nhiệt độ từ 25 – 280C. Khi nhiệt
độ nước tăng lên quá 350C hoặc nhỏ hơn 100C thì quá trình quang hợp
của nó bị giảm đi nhanh chóng.
Nhiệt độ ảnh hưởng đến chức năng sinh sản của rong biển. Nhiệt độ thúc
đẩy quá trình sinh trưởng của rong biển và khi đạt đến giai đoạn sinh
trưởng phát triển nhất định, rong biển tiến hành sinh sản. Mùa vụ sinh
sản của rong biển phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường. Ở nước ta, mùa vụ
sinh sản của rong biển xảy ra vào khoảng tháng 3 – 5 khi mà nhiệt độ
nước thích hợp cho quá trình hình thành cơ quan sinh sản của rong
biển. Yêu cầu nhiệt độ thích hợp cho quá trình sinh sản của rong biển
khác nhau tùy loài. Rong quạt Padina là rong á nhiệt đới, ở nhiệt độ
20 – 250C mới có thể phát dục, khi loài rong này sống ở Thanh Đảo
(Trung Quốc) khoảng tháng 7 – 8 mới bắt đầu phát dục, đến tháng 10 –
11 hình thành bào tử và phối tử. Rong câu chỉ vàng Gracilaria asiatica
hình thành túi bào tử quả rộ trong thời gian tháng 4-5 và bào tử quả
phóng tốt trong điều kiện nhiệt độ 250C.
2.2.2.3. Ánh sáng
Năng lượng mặt trời chiếu xuống trái đất rất lớn nhưng thực vật trong
quá trình quang hợp chỉ đồng hóa 1-3% năng lượng mặt trời chiếu trên
lá. Đối với thực vật thủy sinh, năng lượng đồng hóa được còn nhỏ hơn
con số trên. Ánh sáng chiếu xuống thủy vực khuếch tán thành các phần
ánh sáng tán xạ, ánh sáng phản xạ và ánh sáng hấp thụ. Cường độ ánh
sáng tán xạ yếu nên thuận lợi cho sự phát triển của thực vật. Theo L.A
Ivanop, ánh sáng tán xạ có 50-60% tia sinh lý (tia có tác dụng tới
quang hợp), còn ánh sáng phản xạ và ánh sáng hấp thụ ít có tác dụng
cho sự phát triển của thực vật.
Hình 1.14: Lăng kính tách ánh sáng trắng thành các tia đơn sắc
Ánh sáng ảnh hưởng đến sự phân bố của rong biển theo chiều thẳng
đứng. Rong xanh (Chlorophyta) có nhiều diệp lục tố thích hợp hấp thu
các tia sáng đỏ, thường phân bố tầng mặt có độ sâu 5 - 6m. Rong nâu
(Phaeophyta) có nhiều sắc tố phụ Phycophein và Fucoxanthyl thích ánh
sáng da cam, vàng thường sống ở tầng nước giữa, sâu khoảng 30 - 60m.
Rong đỏ (Rhodophyta) có nhiều sắc tố phụ Phycoerythrin và Phycoxyanin
thích ánh sáng xanh sống ở tầng nước sâu nhất khoảng 100m. Rong mứt
Porphyra, rong cải biển Ulva, rong bún Enteromorpha thích ánh sáng
mạnh nên thường phân bố vùng cao và trung triều. Những rong này thích
ánh sáng mạnh như thực vật trên cạn nên gọi là thực vật dương tính.
Rong unda Undaria pinnatifera, Laminaria japonica thích vùng ánh sáng
yếu nên thường sống ở độ sâu 3-5m dưới tuyến hạ triều, thuộc thực vật
ánh sáng yếu giống như thực vật âm tính lục địa.
Ánh sáng ảnh hưởng đến sinh trưởng, sinh sản của rong biển. Ở Việt
Nam, vụ đông xuân có cường độ chiếu sáng thích hợp cho mùa vụ sinh
trưởng của rong biển. Yêu cầu ánh sáng cho quá trình quang hợp và hô
hấp của rong biển khác nhau. Rong câu chỉ vàng Gracilaria asiatica có
cường độ quang hợp lớn nhất khi cường độ ánh sáng đạt tới
40.000-50.000 lux. Rong mứt Porphyra quang hợp mạnh trong giới hạn ánh
sáng khoảng 100-1000 lux. Rong Undaria pinnatifera và Laminaria
japonica quang hợp tốt trong giới hạn ánh sáng khoảng 1000 lux. Ánh
sáng có ảnh hưởng đến quá trình nẩy mầm của rong biển. Rong mứt
Porphyra tenera khi cường độ ánh sáng trong khoảng 100 - 1200 lux thì
thể sợi sinh trưởng tốt, khi giảm xuống 6 - 16 lux, màu sắc rong nhạt,
thể sợi bị teo dần.
2.2.3. Yếu tố hóa học
2.2.3.1. Độ mặn
Độ mặn ảnh hưởng đến sự phân bố của rong biển. Khoảng 90% giống loài
rong đỏ, rong nâu phân bố ở biển trong khi chỉ có khoảng 10% giống
loài rong xanh phân bố ở nước mặn lợ. Dựa vào khả năng thích nghi với
độ mặn của môi trường, người ta chia rong biển ra thành các nhóm sau:
+ Nhóm hẹp muối ở độ mặn cao: bao gồm những loài rong đặc trưng của
vùng triều và vùng biển sâu, chúng phân bố và sinh trưởng được ở những
nơi có độ mặn cao khoảng 25-36‰.
+ Nhóm hẹp muối ở độ mặn thấp: gồm những loài rong chỉ xuất hiện
trong các đầm nước lợ vào những mùa mưa khi mà độ mặn môi trường thấp
chẳng hạn như Chara…
+ Nhóm rộng muối: gồm những loài rong có khả năng phân bố được từ
vùng triều đến các ao đầm nước lợ như rong bún Enteromorpha…
Độ mặn ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của rong biển. Yêu cầu độ
mặn thích hợp cho quá trình sinh trưởng của rong biển khác nhau. Rong
bẹ Laminaria japonica sống ở độ mặn 30-31‰, khi độ mặn giảm xuống 28‰
thì sinh trưởng kém. Rong mứt Porphyra tenera chịu sự biến đổi của độ
mặn tương đối lớn, nó sống được ở độ mặn 26-32‰, khi giảm xuống dưới
26‰ vẫn sống được. Rong câu chỉ vàng Gracilaria asiatica thuộc loài
rộng muối, có thể sống được ở vùng triều đến các ao đầm nước lợ, sống
trong giới hạn độ mặn 5-30‰, có khả năng quang hợp tốt nhất ở độ mặn
20-25‰.
Độ mặn còn ảnh hưởng đến quá trình mọc mầm của rong biển. Rong câu
chỉ vàng Gracilaria asiatica có khả năng mọc mầm tốt ở tỷ trọng nước
1,005 - 1,020; khả năng phóng bào tử tốt ở tỷ trọng 1,010 - 1,015 và
quá trình này bị ức chế khi tỷ trọng trên 1,030 hoặc dưới 1,005.
2.2.3.2. Độ pH
Độ pH của nước biển tương đối ổn định, thường trong khoảng 7,9 - 8,3.
Trong các ao đầm nước lợ, nước ngọt, sự biến đổi của pH lớn hơn vùng
biển và vùng triều.
pH có ảnh hưởng đến đời sống của rong biển. Đa số các loài rong biển
sinh trưởng và phát triển bình thường trong điều kiện pH của môi
trường đạt giá trị trung tính.
2.2.3.3. Muối dinh dưỡng
Các nguyên tố tạo sinh (biogen) gồm các hợp chất vô cơ và hữu cơ hòa
tan của N, P và Si là các chất cần thiết cho sự tạo thành cơ thể sống.
Ngoài ra còn phải kể thêm các loại muối khác như Ca, K, Na, Mg… gọi
chung là các muối dinh dưỡng.
Trong quá trình sinh trưởng, rong biển không thể thiếu các loại muối
dinh dưỡng chứa N và P. Hai loại muối này còn thúc đẩy quá trình sinh
sản của rong biển. Ngoài ra, muối dinh dưỡng còn có tác dụng thúc đẩy
sức chịu đựng với điều kiện môi trường bất lợi ở rong biển.
2.2.3.4. Khí hòa tan
Các loại khí hòa tan trong nước chủ yếu là CO2, O2, N2, NH3, H2S và
CH4. Khí CO2 và O2 có tác dụng trao đổi trong quá trình sống của rong
biển. Sự tăng giảm hai loại khí này có ảnh hưởng đến quang hợp của
rong biển. Trong các thủy vực nước tù, do sự phân hủy các hợp chất hữu
cơ hoặc do quá trình hoạt động của các vi khuẩn lưu huỳnh khử sulfat
trong nước lượng khí O2 giảm trong khi CO2, H2S và CH4 tăng lên, ức
chế quá trình sinh trưởng của rong.
2.2.4. Yếu tố sinh vật
Quan hệ giữa rong biển với một số sinh vật khác có thể là quan hệ có
lợi và bất lợi. Có một số loài rong, quá trình phát sinh không bám
trên đá mà bám ngay trên thân động, thực vật khác. Chẳng hạn, như rong
đen đầu Sphacellaria bám trên rong mơ Sargassum, rong nhiều ống
Polysiphonia bám trên rong câu Gracilaria. Sự bám ở các loài rong có
thể gây tác hại cho rong bị bám. Rong câu bị rong nhiều ống bám nhiều,
tốc độ sinh trưởng của nó chậm lại, có thể bị tàn lụi khi rong nhiều
ống đạt sinh trưởng tối đa.
Nhiều loài rong biển là thức ăn của một số động vật thủy sinh.
Chlorella có thể là thức ăn tốt cho hầu. Gracilaria, Sargassum là thức
ăn cho bào ngư, Ulva non là thức ăn của hải quỳ.
Trong tự nhiên, dưới tác động của các yếu tố môi trường như đã nêu
trên, rong biển trải qua sự chọn lọc tự nhiên, với kết quả là chỉ
những loài thích nghi được mới tồn tại và phát triển. Trong nuôi trồng
rong biển, bên cạnh chọn lọc tự nhiên (nếu điều kiện nuôi chưa được
kiểm soát hoàn toàn) còn có chọn lọc nhân tạo thông qua các can thiệp
kỹ thuật của con người để gia tăng sản lượng, chất lượng rong cao nhất
phục vụ lợi ích của con người.
Nhìn chung, trong nuôi trồng rong biển, mối quan hệ giữa các yếu tố
rong biển, môi trường và kỹ thuật luôn thể hiện dưới hai khía cạnh: có
lợi và bất lợi. Vì thế, con người bằng trí thức khoa học, công nghệ
ngày càng cao phải khai thác được các mặt có lợi, đồng thời hạn chế
đến mức thấp nhất các mặt bất lợi để nuôi trồng rong biển ngày càng
bền vững, hài hòa với môi trường sinh thái chung.
3. CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỐI TƯỢNG RONG BIỂN NUÔI TRỒNG
3.1. Phương pháp nghiên cứu sinh trưởng
3.1.1. Sự biểu hiện bên ngoài của quá trình sinh trưởng
* Tăng trưởng
Tăng trưởng là biểu hiện quá trình tăng lên về thể tích và khối lượng
của cơ thể. Cụ thể là dưới tác động của quá trình quang hợp, rong biển
tổng hợp các chất hữu cơ, một mặt cung cấp cho các quá trình khác như
hô hấp, sinh sản, tích lũy cho cơ thể.
Sự tăng lên về số lượng và khối lượng tế bào do quá trình phân cắt
của tế bào do đó sự tăng trưởng được biểu hiện ra bên ngoài cũng theo
một quy luật nhất định và có liên quan đến các đặc điểm về hình thái
cấu tạo của cơ thể rong. Nhìn chung:
+ Những loài rong có phân nhánh hoặc phân nhánh ít khi sinh trưởng sẽ
tăng số lượng nhánh các cấp; những loài rong không phân nhánh, hình
bản, hình lá ... khi sinh trưởng sẽ tăng lên về kích thước chiều dài,
chiều rộng.
+ Sự tăng lên về thể tích phụ thuộc vào các giai đoạn sinh trưởng và
điều kiện sống của rong. Ở giai đoạn phát sinh, cơ thể biểu hiện không
rõ ràng, chỉ tăng lên về số lượng tế bào nhưng khối lượng tăng không
đáng kể. Ở giai đoạn sinh trưởng, thể tích tăng. Ở giai đoạn tích lũy,
khối lượng tăng. Ở giai đoạn sinh sản và tàn lụi, sự phát triển về các
mặt không rõ ràng, thường ở mức ngang bằng, sau đó giảm thể tích và
khối lượng do sản phẩm sinh sản phóng ra, cơ thể tàn lụi dần.
* Phương thức sinh trưởng
Gồm sinh trưởng ở đỉnh, sinh trưởng phân tán... Mỗi phương thức có
một cách biểu hiện riêng.
* Tốc độ sinh trưởng
Là mức độ tăng trưởng về thể tích và khối lượng cơ thể trong một đơn
vị thời gian
3.1.2. Phương pháp xác định sinh trưởng của rong biển
3.1.2.1. Phương pháp thể tích
Đem cây rong cho vào dụng cụ có khắc độ thể tích. Lượng thể tích tăng
lên là thể tích của rong hiện tại. Nếu trừ đi thể tích ban đầu ở thời
điểm nào đó, ta có tốc độ tăng trưởng trên một đơn vị thời gian.
Phương pháp thể tích có thể ứng dụng để xác định sinh trưởng cho tất
cả các loài rong nhưng tốt nhất là cho các loài rong cỡ nhỏ, giai đoạn
giống và đặc biệt những loài rong phân nhánh phức tạp không thể xác
định bằng các phương pháp khác được.
3.1.2.2. Phương pháp khối lượng
Sử dụng cân để xác định khối lượng cơ thể rong ở các thời điểm khác
nhau. Sau đó trừ đi khối lượng ban đầu ta được tốc độ tăng trưởng
trong một đơn vị thời gian. Tốc độ tăng trưởng thường được tính theo
công thức sau:
Trong đó: GR - Tốc độ tăng trưởng
W0 - Khối lượng rong ban đầu
Wt - Khối lượng rong tại thời điểm t
N - Thời gian nuôi trồng tính theo ngày
Phương pháp này ứng dụng cho tất cả các loài rong biển. Có thể xác
định khối lượng cơ thể hoặc khối lượng bộ phận cơ thể. Khi xác định,
cần xác định từng cá thể sau đó lấy trung bình, số mẫu tối thiểu là 30
cá thể cho một lần xác định.
Ngoài ra dựa vào khối lượng cơ thể lúc khô, tươi để đánh giá mức độ
sinh trưởng và tích lũy của rong. Tỷ lệ khô tươi được xác định:
Trong đó: Pk - Khối lượng rong khô
Pt - Khối lượng rong tươi
Tỷ lệ khô tươi được ứng dụng trong khâu thu hoạch:
- T càng lớn thì rong sinh trưởng ở mức độ cao, tích lũy lớn. Rong
câu Gracilaria ở giai đoạn tích lũy lớn có Tmax ~10%, có khi Tmax ~12
% - 14%.
- T hạ xuống đột ngột thì rong chuyển sang giai đoạn sinh sản và tàn
lụi, lúc này cần thu hoạch để đảm bảo sản lượng.
3.1.2.3. Phương pháp chiều dài
Khi sinh trưởng, rong thể hiện rõ nhất là lớn lên về chiều dài, nhất
là những loài đơn nhánh hoặc phân nhánh rất ít. Phương pháp đo đạc
tương đối dễ.
L (thân) = khoảng cách từ cơ quan bám đến đỉnh của nhánh chính.
Với loài không phân nhánh chính, phụ thì:
L (thân) = khoảng cách từ cơ quan bám đến đỉnh của nhánh dài nhất.
Còn chiều dài nhánh được tính theo công thức:
Trong đó: : Giá trị chiều dài nhánh;
n: Số nhánh trên cơ thể;
xi: Độ dài của nhánh thứ i (tính từ gốc nhánh đến đỉnh nhánh).
Phương pháp này giúp ta xác định được độ dài trung bình cho một cá
thể trong quần thể rong.
3.1.2.4. Phương pháp xác định sinh trưởng bằng cường độ quang hợp của
rong
Khác với thực vật sống ở cạn, rong biển sống trong nước, quá trình
quang hợp xảy ra trong môi trường nước. Khi xác định cường độ quang
hợp, người ta thường tính thông qua lượng oxy thoát ra trong nước trên
một đơn vị khối lượng cơ thể trong một đơn vị thời gian (mg O2/g.h).
Hiện nay người ta dùng phương pháp "bình trắng - đen" và xác định O2
bằng phương pháp Winkler. Ngoài ra, còn có phương pháp đánh dấu bằng
phóng xạ C14 để xác định lượng O2 thoát ra, lượng chất Carbon trong cơ
thể được tổng hợp nên thành chất hữu cơ trong quá trình quang hợp..
3.2. Phương pháp nghiên cứu sinh sản
3.2.1. Sự biểu hiện bên ngoài của quá trình phát dục
Phát dục là quá trình biến đổi để hoàn thiện chức năng sinh lý sinh
sản của sinh vật. Đối với rong biển, sự biến đổi ấy diễn ra bên trong
và ngoài cơ thể: xuất hiện các cơ quan sinh sản, sản phẩm sinh sản.
Một số loài biểu hiện không rõ nét trừ khi những sản phẩm sinh sản
thành thục được phóng ra khỏi cơ thể mẹ.
Sự biểu hiện của quá trình phát dục được xác định thông qua các cơ
quan sinh sản của mỗi loài: ở rong xanh và rong nâu là túi bào tử và
túi giao tử. Một số ít giống loài như: Dictyota, Sargassum còn có túi
bào tử 4 và nhánh sinh sản; ở rong đỏ có túi bào tử 4, túi bào tử quả
(cystocarp, carposporophyte hay u lồi).
Hình 1.15: Các sản phẩm sinh sản của rong biển
Mỗi loại hình cơ quan sinh sản là kết quả biểu hiện một quá trình
sinh sản khác nhau. Trong cùng một loài, một lúc có thể tiến hành
nhiều hình thức sinh sản khác nhau. Lúc này hình thức sinh sản này
chiếm ưu thế, lúc khác hình thức sinh sản khác chiếm ưu thế. Hình thức
sinh sản cũng là một chỉ tiêu: sự biểu hiện quá trình phát dục ra bên
ngoài của hình thức sinh sản hữu tính rõ hơn vô tính, còn vô tính lại
rõ hơn dinh dưỡng.
3.2.2. Phương pháp xác định sự phát dục của rong biển qua sinh sản
3.2.2.1. Phương pháp xác định trực quan
Quan sát hình dạng, màu sắc bên ngoài của cơ quan sinh sản; xác định
hình thái, kích thước bằng cách đo đếm trực tiếp số lượng, độ dài,
chiều cao, chiều rộng, số cơ quan sinh sản trên một đơn vị khối lượng
cơ thể cây mẹ có mang cơ quan sinh sản. Dùng kính hiển vi quan sát
những bộ phận không biểu hiện ra bên ngoài hoặc rất bé. Dùng micromet
để đo kích thước những sản phẩm, cơ quan sinh sản hoặc cơ thể nhỏ bé
không đo được trực tiếp bằng dụng cụ đo lường cỡ lớn như thước mét,
cân tiểu ly.
Qua phương pháp trực quan kết hợp kinh nghiệm có thể xác định một
cách tương đối chính xác độ chín muồi của cơ quan và sản phẩm sinh
sản. Ví dụ: qua màu sắc - cơ quan sinh sản màu đậm, sẫm thì độ thành
thục lớn hơn loại có màu nhạt; ranh giới giữa các bào tử nằm trong cơ
quan sinh sản nếu rõ rệt thì thành thục. Chẳng hạn cystocarp của rong
câu chỉ vàng, nếu thấy chiều cao của cystocarp lớn hơn hoặc bằng đường
kính thân cộng với đỉnh có chấm đen, nếu chấm trắng lớn thì quá thành
thục và bào tử đã phóng ra ngoài. Khi quan sát túi bào tử 4 thành cụm
màu đỏ sẫm, giải phẫu thấy ranh giới giữa bào tử 4 rõ thì bào tử đã
chín muồi, chuẩn bị phá vỡ màng túi phóng ra ngoài.
3.2.2.2. Phương pháp xác định bằng thực nghiệm sinh học
Biểu hiện chức năng sinh sản cuối cùng là quá trình phóng ra ngoài
của bào tử (sản phẩm sinh sản). Bào tử phóng ra ngoài cần 2 yếu tố:
ngoại cảnh tác động như sự chấn động của sóng, sự kích thích của ánh
sáng và nhiệt độ; và tác nhân nội tại mà căn bản là sự chín muồi của
bào tử.
Dùng phương pháp thực nghiệm cho bào tử phóng ra ngoài sẽ xác định
được độ chín muồi của bào tử. Đây là phương pháp phổ thông trong kỹ
thuật lấy giống nhân tạo, gọi là phương pháp kích thích khô cho phóng
bào tử.
Nguyên lý của phương pháp
Nguyên lý vật lý: Dưới tác động của ánh sáng, nhiệt độ không khí ở
điều kiện độ ẩm thấp sẽ dẫn tới quá trình mất nước do bốc hơi của cơ
quan sinh sản. Điều này khiến cho có sự chênh lệch áp suất thẩm thấu
giữa cơ thể và môi trường nước. Khi đưa cơ quan sinh sản trở về môi
trường nước, cơ thể hút nước tăng lên đột ngột thúc đẩy bào tử trong
cơ thể sinh sản phải phóng ra ngoài môi trường nước.
Nguyên lý sinh học: Nhiệt độ không khí tăng lên kích thích bào tử
chín muồi hàng loạt.
Tiến hành
Chọn cây bố mẹ: Chọn cây bố mẹ ở giai đoạn sinh sản, có sự biểu hiện
bên ngoài rõ rệt với mức độ thành thục (theo kinh nghiệm); ít nhất cơ
thể phải hoàn chỉnh và ở trạng thái bình thường.
Xử lý: Rửa sạch tạp chất, rong tạp bằng nước hiện trường. Vớt ra, vẩy
nước. Trải mỏng đều trên sàn hoặc treo trên dây chỗ râm mát, thoáng
khi, tránh nhiệt độ cao và ánh sáng chiếu trực tiếp (quá trình kích
thích khô).
Kiểm tra độ chín muồi của bào tử: Tùy điều kiện độ ẩm, nhiệt độ không
khí mà thời gian kích thích nhanh hoặc chậm. Vì vậy ta phải kiểm tra 5
- 10 phút, lấy một đoạn nhỏ của cơ quan sinh sản để trên kính lõm hoặc
đĩa đồng hồ, nhỏ nước hiện trường, quan sát dưới kính hiển vi nếu bào
tử phóng ra thì đã chín muồi.
Cho bào tử phóng ra hàng loạt: Đem tất cả những cá thể được kích
thích khô cho vào lại nước hiện trường đã được lọc hoặc thanh trùng.
Chuẩn bị sẵn vật bám. Trước khi vớt cây giống bố mẹ ra, cần kiểm tra
số lượng bào tử trong một đơn vị thể tích nước, nếu chưa đạt yêu cầu
số lượng bào tử thì tiếp tục cho phóng kiệt mới vớt cây bố mẹ ra.
Vớt giống bào tử: Tạo điều kiện cho bào tử bám vào vật bám. Tùy yêu
cầu bám của bào tử mà chọn vật bám thích hợp: đá dăm, vỏ động vật thân
mềm, tre thanh, cọc gỗ, dây thừng... Hiện có 2 phương pháp vớt giống:
+ Vớt trực tiếp: Đem vật bám bày sẵn ở đáy đã có nước hiện trường rồi
cho cây bố mẹ đã được kích thích rồi để bào tử phóng ra bám ngay vào
vật bám. Sau đó, vớt cây bố mẹ ra.
+ Vớt gián tiếp (vớt bằng nước bào tử): Rong bố mẹ cho vào nước, bào
tử phóng ra xong mới vớt cây bố mẹ. Nước còn lại chứa bào tử (còn gọi
là "nước bào tử") được cho vào vật bám hoặc đổ nó vào chỗ có sẵn vật
bám. Cách này làm cho bào tử bám đều hơn, nước không bị bẩn, hiệu quả
cao, được sử dụng nhiều hơn.
4. CÁC HÌNH THỨC NUÔI TRỒNG RONG BIỂN
4.1. Phân chia theo trình độ kỹ thuật
4.1.1. Khai thác và bảo vệ nguồn lợi rong biển tự nhiên
- Chỉ khai thác rong biển tự nhiên.
- Cơ sở: Thăm dò, tìm hiểu, phát hiện ra những loài rong biển có giá
trị kinh tế; biết sơ bộ thành phần giống loài, mùa vụ xuất hiện và tàn
lụi; biết sơ bộ đặc điểm chủ yếu môi trường rong phân bố.
- Các hình thức:
* Khai thác luân phiên có định kỳ, định điểm
Căn cứ vào mùa vụ xuất hiện, sinh trưởng và phát triển của rong tiến
hành khai thác luân phiên đúng với thời gian sinh trưởng của rong. Ở
mức độ nào đó, việc khai thác chưa hợp lý, bừa bãi do chạy theo lợi
nhuận làm cho trữ lượng rong tự nhiên giảm, có nơi mất nguồn giống.
* Khai thác bán nhân công
Khai thác nhưng giữ lại một số giống hoặc giữ lại những thân cây
trưởng thành hoặc chỉ chừa lại một phần cơ thể để gây nuôi trong điều
kiện tự nhiên nhằm lưu lại nguồn giống cho vụ sau. Hình thức này có
tác dụng tăng nguồn giống.
* Quản lý tự nhiên, diệt trừ địch hại
Có chế độ thu hoạch và quản lý hợp lý để bảo vệ nguồn lợi rong biển
khai thác, ngăn ngừa sự phá hoại của con người, sinh vật; chống ô
nhiễm do các chất độc hại thải ra từ sản xuất công nghiệp. Một số nước
đã đưa vấn đề này thành pháp lệnh.
4.1.2. Phương pháp di giống, nhân giống (nuôi trồng thô)
Đây là hình thức khai thác, sản xuất rong biển đã có những tác động
bước đầu của con người, tạo điều kiện cho rong biển phát triển.
Cơ sở: Tương tự như ở hình thức trên, ngoài ra đã sơ bộ nghiên cứu
đặc điểm sinh học của rong biển, nghiên cứu đặc điểm môi trường và mối
quan hệ giữa môi trường và rong biển.
Các biện pháp chủ yếu:
+ Mở rộng diện tích phân bố của rong biển: nghiên cứu tính rộng
nhiệt, tính rộng muối để xem có thể đưa giống rong từ vùng này đến
vùng khác hay không. Lưu ý kỹ thuật di giống, nhân giống xem các khâu
vận chuyển, kiểm tra chất lượng cây giống, đặc điểm môi trường hai
nơi.
+ Tăng nguồn giống tự nhiên: Giống rong biển gồm giống tự nhiên và
giống nhân công. Khi chưa giải quyết được giống nhân công thì giống tự
nhiên đóng vai trò rất quan trọng. Giống tự nhiên xuất hiện theo quy
luật nhất định, phụ thuộc quy luật sinh sản tự nhiên của rong biển.
Sau khi nắm được đặc điểm sinh sản, chu kỳ sinh sản, mùa vụ xuật hiện
giống tự nhiên người ta thả vật bám để vớt giống, bồi dưỡng nguồn
giống tự nhiên thành cây giống đem cung cấp cho vùng nuôi trồng. Việc
nhân giống tự nhiên cũng như trên, sau khi vớt giống tự nhiên thì phải
ương thành cây giống, nhân rộng ra các khu vực nuôi trồng.
4.1.3. Nuôi trồng nhân tạo
Là hình thức nuôi trồng đã đạt đến trình độ cao về mặt kỹ thuật.
Trong toàn bộ quy trình sản xuất hay những khâu chủ yếu, con người đã
khống chế bằng những thao tác kỹ thuật cụ thể.
Cơ sở: Giống như trên, ngoài ra qua các nghiên cứu và sản xuất đã đúc
rút, nắm vững các đặc điểm sinh vật học các đối tượng nuôi trồng; bằng
thủ công hoặc máy móc đã khống chế quy luật sinh trưởng, phát triển
của rong theo hướng có lợi cho con người.
4.1.3.1. Nuôi trồng ở điều kiện tự nhiên ngoài trời
Quy mô và diện tích lớn. Các bãi trồng, dàn bè… đều đặt ở ngoài trời:
eo vịnh, đầm phá hoặc ao, bể xây dựng ngoài trời. Trang thiết bị đảm
bảo sự khống chế và cải tạo môi trường. Nguồn giống là nguồn giống
nhân công cũng có đối tượng được cung cấp do vớt giống tự nhiên bằng
phương pháp nhân công gồm:
* Phương pháp trồng đáy
Cơ sở: Dựa vào đặc điểm thích nghi tính chất đáy của rong. Tính chất
đáy: đáy mềm thì dùng phương pháp đóng cọc, cây rải đều; đáy cứng thì
rải giống có vật bám…
Đối tượng: Rong sống cố định ở mặt đáy.
Tiến hành: Đem cây giống cố định ở mặt đáy ở địa điểm nuôi trồng.
Dùng cọc tre, cọc xi măng cho rong bám hoặc là đem rải cả cây giống và
vật bám có giống bám sẵn trên đó như đá dăm, gạch ngói, vỏ động vật
thân mềm… trên mặt đáy của ao đầm, vịnh, phá nuôi trồng hoặc đem cấy
rong giống trực tiếp xuống dãy theo từng rãnh (như cấy lúa) đối với
những loài rong có khả năng sống vùi, sống có gốc cắm sâu vào chất
đáy; hoặc rải đồng đều trên mặt đáy với những loài rong có khả năng
sống lơ lửng sát đáy hoặc bò lan ra trên mặt đáy.
Hình 1.16: Trồng đáy Laminaria
* Phương pháp trồng cắt ngang tầng nước
Cơ sở: Dựa vào đặc điểm thích nghi ánh sáng mạnh của rong; các yếu tố
môi trường như: độ sâu lớn (≥1m), chất đáy: mềm có thể cắm cọc, cứng
thì phải thả neo…
Đối tượng: Rong ưa ánh sáng mạnh, nhiều, liên tục.
Tiến hành: Đem rong giống cố định trên các dàn bè nổi trên mặt nước
và tầng gần mặt nước cho những loài rong có khả năng thích nghi ánh
sáng mạnh, liên tục. Những dàn nổi được thiết kế, lắp ráp theo yêu cầu
thích nghi của các loài rong. Để có thể điều chỉnh được ánh sáng,
người ta dùng các phao nổi bằng chất dẻo hoặc bằng các loại ống tre,
thùng phuy… Rong giống được treo lên các phao nổi kết thành bè; đối
với một số loài lấy giống trực tiếp người ta đem cả vật bám treo sẵn
vào dàn; nhưũng loài lấy giống gián tiếp, khi đã ương thành cây giống,
tách khỏi vật bám, đem kẹp vào các dây thừng, đay hoặc sợi tổng hợp.
Hình 1.17: Trồng cắt ngang mặt nước
* Phương pháp trồng lập thể
Cơ sở: Dựa vào đặc điểm thích nghi sống bám, thích nghi ánh sáng
nhiều, độ trong lớn của rong biển và các yếu tố môi trường thích hợp
như: độ sâu lớn, tính chất đáy, độ trong…
Đối tượng: Rong kích thước cỡ vừa và lớn, thích nghi sống bám, yêu
cầu ánh sáng nhiều, độ trong lớn.
Tiến hành: Phương pháp thiết kế, thi công dàn bè nổi tương tự như
phương pháp trồng cắt ngang tầng nước nhưng kích thước lớn hơn. Giống
được kẹp cố định hoặc cho bám tự nhiên trên các vật bám. Vật bám được
treo sẵn thành từng chuỗi thẳng đứng trong nước do đó các dàn bè phải
có sức nổi nhất định, tăng dần theo sự tăng lên của trọng lượng rong
cho phù hợp với yêu cầu chiếu sáng của từng giai đoạn phát triển.
Hình 1.18: Hệ thống lưới nổi của Porphyra
Hình 1.19: Hệ thống nuôi trồng Laminaria japonica phổ biến
4.1.3.2. Nuôi trồng trong phòng
Quy mô và diện tích không lớn như nuôi trồng ở ngoài trời. Đây là
hình thức nuôi trồng trong nhà kính, bể xây đặt trong phòng. Trang
thiết bị rất hiện đại. Một số thao tác thủ công được thay thế bằng máy
móc. Nguồn giống là giống nhân công.
Đối tượng nuôi trồng: rong có kích thước rất bé, số lượng cá thể
nhiều như rong đơn bào hoặc đa bào kích thước bé, các khâu bồi dưỡng
mầm, cây mầm, bào tử của các loài rong đa bào (bào tử động của rong
bẹ; bào tử quả, bào tử bốn của rong câu; bào tử vỏ, bào tử quả, bào tử
đơn của rong mứt…).
Tiến hành: Dùng các hệ thống bể kính, bể xi măng, buồng điều hòa
nhiệt độ để ương nuôi. Các yếu tố thủy lý, thủy hóa được khống chế:
việc cung cấp nguồn nước, thành phần dinh dưỡng, O2, CO2 được thường
xuyên và tự động theo các hệ thống bình thông nhau và bơm van tự động
cho nước, khí ra và vào. Ánh sáng thường là ánh sáng nhân tạo từ hệ
thống đèn. Một số khâu được cơ giới hóa (thu hoạch, lựa chọn giống),
hóa học hóa (dùng hóa chất làm lắng đọng sản phẩm).
Hình 1.20: Trung tâm giống Hình 1.21: Lưới giống
4.2. Phân chia theo đặc tính môi trường
4.2.1. Phương pháp nuôi trồng ở vùng triều
Phương pháp trồng đáy trong ao (trồng đơn hoặc nuôi trồng ghép).
Phương pháp trồng đáy ngoài bãi triều (ngoài đê bao).
Phương pháp trồng cắt ngang tầng nước trong ao.
Phương pháp trồng cắt ngang tầng nước ngoài bãi triều.
4.2.2. Phương pháp nuôi trồng ở vùng dưới triều
Phương pháp trồng đáy trong ao quảng canh vùng đầm phá.
Phương pháp trồng đáy trong đăng quầng/đăng chắn/chuồng.
Phương pháp trồng cắt ngang tầng nước.
Phương pháp trồng lập thể.
CHƯƠNG 2: KỸ THUẬT NUÔI TRỒNG RONG NGUYÊN LIỆU CHIẾT XUẤT AGAR
(AGAROPHYTES)
Agar, tên chung dành cho các polysaccharide được chiết xuất từ một số
loài rong đỏ, được cấu thành từ các đơn vị luân phiên D - và L -
galactopyranose. Tên agar xuất phát từ một từ Malaysia "agar - agar",
mà theo tài liệu có nghĩa là rong biển. Nó được người Nhật biết đến từ
thế kỷ XVII, do có tác nhân gây đông tụ các chiết xuất từ rong đỏ được
mang lên núi để đông lạnh suốt đêm nhằm tránh tạp chất. Agar được sử
dụng rộng rãi trong phòng thí nghiệm như là môi trường nuôi cấy vi
sinh vật. Agar hiện đại ở dạng tinh chế chủ yếu gồm thành phần trung
tính dưới dạng agarose; bản chất không có ion của dạng này khiến nó
thích hợp trong nhiều ứng dụng trong phòng thí nghiệm. Agar ở dạng thô
hay dạng tinh chế cũng đều có ứng dụng rộng rãi trong công nghệ thực
phẩm và được sử dụng trong nhiều dạng kem, thức ăn đóng hộp và các sản
phẩm của lò bánh mì.
Agar chất lượng tốt nhất được chiết xuất từ các loài thuộc các giống
rong đỏ Pterocladia và Gelidium và được thu tự nhiên ở Tây Ban Nha, Bồ
Đào Nha, Ma-rốc, Hoa Kỳ, Mexico, New Zealand, Nam Phi, Ấn Độ, Chile,
Nhật Bản. Agar chất lượng thấp hơn được chiết xuất từ các loài
Gracilaria và Hypnea. Chất lượng agar mang tính mùa vụ, ở các loài
thuộc giống Pterocladia thấp vào các tháng lạnh và cao vào các tháng
ấm. Hiện nay, trên thế giới ít có nuôi trồng các loại rong cho agar
quy mô thương mại do kỹ thuật trồng rong có agar chất lượng tốt không
được phát triển. Hiện nay, khoảng 10.000 tấn agar được sản xuất trên
thế giới và trên 50% agar được sản xuất là agar từ Gracilaria được
cung cấp cho công nghệ thực phẩm.
RONG CÂU (Gracilaria)
1. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
1.1. Đặc điểm phân loại và phân bố
Hệ thống phân loại:
Ngành: Rhodophyta
Lớp: Florideae
Bộ: Gigartinales
Họ: Gracilariacea
Giống: Gracilaria
Danh pháp: Greville lập ra giống Gracilaria vào năm 1830, lúc đó giống
này chỉ gồm có 4 loài. Năm 1852, Agardh kiểm tra lại giống này và nâng
số loài lên 61 loài. Từ đó, nhiều loài trong giống Gracilaria được tìm
thấy ở nhiều nước trên thế giới và hiện nay có khoảng 100 loài.
Phân bố: Gracilaria phân bố cả ở đảo vùng khơi (S‰ cao), cửa sông (S‰
thấp), vùng biển cũng như trong các ao tĩnh. Chúng phân bố từ vùng cao
triều đến hạ triều và dưới triều. Gracilaria mang tính thế giới về
phân bố bao gồm các vùng nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới.
Điều kiện môi trường sống thích hợp của rong câu
Nguồn nước: Sạch và không tù đọng, độ trong cao.
Nhiệt độ: Rong sống được ở nhiệt độ 5 ÷ 380C, thích hợp với T0: 20 -
300C.
Độ mặn: Rong câu tồn tại trong giới hạn từ 3 ÷ 35‰, thích hợp ở 12 ÷
20‰
Ánh sáng: Rong sống được trong giới hạn 50 ÷ 30000lux, thích hợp từ
5000 đến 10000lux.
pH: Rong sống được ở pH từ 7-9, thích hợp nhất pH = 7,4 - 8,5.
Chất đáy: nền đáy bùn hoặc bùn cát.
Rong câu sinh trưởng tốt trong môi trường không có hoặc có lẫn rất ít
một số rong xanh (rong tóc, rong bún), rong đỏ (rong nhiều ống) hoặc
một số cỏ dại khác.
Quá trình sống rong câu cần được cung cấp các chất khoáng C, N, P và
một số vi lượng như Mn, Ti, Co, Bo. Trong đó C, N, P là những chất
không thể thiếu. Các chất này được cung cấp từ nguồn nước biển hoặc từ
nguồn phân bón bổ sung. đây là một trong những yếu tố quan trọng tác
động đến năng suất và chất lượng của rong câu.
Hiện nay có khoảng 100 loài phân bố như sau (Ekman, 1953):
20 loài ở biển nước ấm Châu Mỹ - Thái Bình Dương.
17 loài ở biển Malaysia.
9 loài ở biển Nhật Bản.
24 loài ở biển Ấn Độ Dương.
18 loài ở biển nước ấm Châu Mỹ - Đại Tây Dương.
10 loài ở biển bờ Đông Bắc Đại Tây Dương.
Các kiểu phân bố địa lý của các loài chính trong giống
Loài
Rong nhiệt đới ở vùng nhiệt đới
1. Gracilaria cacalia J.Ag Dawson
2. G. salicornia Ag Dawson
3. G. minor (Sond) C.F Chang et B.M.Xia
4. G. crassa Harv
5. G. purpurascens (Harv) J.Ag
6. G. coronopifolia J.Ag
7. G. constricta C.F Chang et B.M.Xia
8. G. hainanensis C.F Chang et B.M.Xia
Rong á nhiệt đới ở vùng á nhiệt đới
1. G. punctata (Okam) Yamada
2. G. gigas Harv
3. G. parvaspora (Gmel) Silva
4. G. tesengiana C.F Chang et B.M.Xia
5. G. tenuistipitata
Rong nhiệt đới ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới
1. G. arcuata Zahard
2. G. blodgettii Harv
3. G. corticaca J.Ag
Rong ôn đới ở vùng ôn đới đến nhiệt đới
1. G. asiatica
2. G. foliifera (Forsk) B.rg
1.2. Hình thái và cấu tạo
1.2.1. Hình thái
Thân rong thẳng, dạng trụ tròn hay dẹp. Bàn bám dạng đĩa. Rong chia
nhánh kiểu mọc chuyền, chạc hai, mọc chùm.
Một số loài (chẳng hạn như G. eucheumoides) có thân dẹp, mọc bò và
tạo thành các bàn bám phụ từ mép các nhánh. Một số loài (ví dụ như G.
textorii) thân có dạng lưỡi mác.
1.2.2. Cấu tạo
* Giải phẫu thân chính: Các lớp của vỏ, kích thước, số lượng tế bào
lõi, sự thay đổi của tế bào từ vỏ đến lõi là những căn cứ phân loại
đên loài.
Tầng lõi có một hàng tế bào trụ xuyên đỉnh, dạng đơn trụ, xung quanh
có 4 - 5 hàng tế bào vây trụ, có vách mỏng, không màu chứa nhiều chất
dự trữ.
Tầng vỏ: Nằm phía ngoài gồm các tế bào nội bì hình đa giác có vách
hơi dày sắp xếp khít nhau, có chứa một ít sắc tố nên có màu hơi sẫm
hơn, tiếp đến là những tế bào ngoại bì có kích thước nhỏ, vách tế bào
dày, sắp xếp khít nhau chứa nhiều sắc tố. Đây là tầng đồng hóa của
rong ngoài cùng là một lớp keo rong mỏng.
* Túi bào tử bốn: Phân bố dày trên bề mặt vỏ. Mỗi túi bào tử bốn gồm 4
bào tử được xếp theo hình chữ thập.
* Túi tinh tử: Túi tinh tử hình cầu hoặc hình oval, phân bố trên bề
mặt thân, vị trí và dạng phòng tế bào của túi tinh tử là những căn cứ
phân loại đến loài. Có 3 dạng:
Túi tinh tử được thấy trên bề mặt của tản với những hình dạng khác
nhau. Túi tinh tử có dạng hình trứng đến hình quả lê, đường kính 2,5 -
10 μm, nhuộm màu yếu hơn túi tinh tử của tế bào chính nơi mà sắp xếp
một cách chặt chẽ hoặc lỏng lẻo nơi phần mấu lồi trên tế bào mặt của
lỗ tinh tử.
- Dạng 1: Túi tinh tử phân bố trên bề mặt tản liên tục hoặc gián đoạn
bởi các tế bào vỏ.
- Dạng 2: Túi tinh tử ở trong các phòng tế bào ở vị trí cạn.
- Dạng 3: Túi tinh tử ở trong các phòng tế bào sâu hơn, dạng trứng
hoặc elip kéo dài theo mặt cắt dọc.
* Quả túi (Cystocarp): Dạng lồi, mấu lồi, cầu, bán cầu. Phân bố trên
bề mặt tản. Gồm 4 phần:
- Vỏ quả (Pericarp): Gồm nhiều lớp tế bào, lớp ngoài cùng gồm những tế
bào sắc tố.
- Chồi sinh sản (Gonimoblast): Ở trung tâm cystocarp, gồm các tế bào
nhu mô.
- Túi bào tử quả (Carposporangia): Được tạo thành ở đỉnh của chồi sinh
sản (sợi sản bào), hình tròn hoặc trứng.
- Các sợi hấp thu (Absorbing filaments): Từ mô sợi sản bào tỏa ra lớp
vỏ quả, ở một số loài có sợi hấp thu.
1.3. Đặc điểm sinh sản và vòng đời
Sinh sản: Gồm 3 hình thức sinh sản đó là sinh sản dinh dưỡng, sinh
sản vô tính và sinh sản hữu tính.
Vòng đời: Cây bào tử và cây giao tử của Gracilaria xảy ra luân phiên
trong vòng đời. Cây bào tử bốn thành thục (2n) sinh sản (giảm phân)
cho các bào tử bốn, chúng phát triển thành cây giao tử đực và cái. Cây
giao tử đực thành thục hình thành túi tinh tử, cây giao tử cái hình
thành túi trứng. Sau khi thụ tinh và cystocarp được hình thành trên
cây giao tử cái, bào tử quả (2n) được phóng ra và phát triển thành cây
bào tử bốn. Dạng cây dinh dưỡng của cây bào tử bốn, cây giao tử đực,
cây giao tử cái không có khác biệt rõ ràng.
2. KỸ THUẬT NUÔI TRỒNG
2.1. Lựa chọn vị trí
Yêu cầu cơ bản: có sự hiểu biết về các đặc điểm sinh thái của cây
rong và phương pháp nuôi trồng được lựa chọn. Nhìn chung có 3 dạng vị
trí nuôi trồng: các vùng bên trong vịnh, các vùng xa bờ và nuôi trong
ao.
* Tiêu chuẩn lựa chọn vị trí bên trong vịnh
Những vùng nước cạn, rộng, có đáy bằng cát bùn. Vùng có khả năng trao
đổi nước tốt. Gần nguồn nước ngọt.
Nơi tránh bão lụt, sóng lớn, nước bị ô nhiễm.
Có nước trong suốt thời gian triều rút; tỷ trọng 1.010 - 1.025; nhiệt
độ t0 < 350C. Nước biển giàu muối dinh dưỡng và có hàm lượng đạm [N]
> 100mg/m3 (>0.1 mg/l). Tiêu chuẩn đáy, độ sâu cần xem xét kỹ khi
trồng bằng phương pháp dàn, bè; ví dụ độ sâu ≥ 1,5m (lúc triều rút).
Độ mặn 10 - 30 ‰, mùa mưa không nhỏ hơn 7‰.
* Tiêu chuẩn lựa chọn vị trí xa bờ
Vùng nước yên tĩnh, tránh gió bão, nước bị ô nhiễm.
Độ sâu ≥ 1,5 m lúc triều rút. Độ mặn 10 - 30 ‰
Vùng nước sạch có độ trong cao; hàm lượng [N] trong nước > 50mg/m3
Chủ yếu là nuôi trồng theo phương pháp dàn bè.
* Tiêu chuẩn lựa chọn ao nuôi trồng
Đáy cát bùn, bùn cát.
Độ sâu 0,3 - 0,5 m; tỷ trọng 1.005 - 1.015; nhiệt độ 20 - 300C; pH =
8.
Độ mặn 10 - 30 ‰ (ngay cả mùa mưa).
2.2. Chuẩn bị cây giống
2.2.1. Thu bào tử và ương giống ở biển
* Chọn vị trí
Vị trí để thu bào tử và ương giống ở biển là nơi bằng phẳng; đáy
cứng, nếu tốt thì có vỏ động vật thân mềm, đá nhỏ, san hô vụn…; nước
sạch; tỷ trọng 1.010- 1.025; độ sâu: triều rút vẫn còn nước.
* Chuẩn bị vật bám
Vật bám đa dạng (đá nhỏ, vỏ động vật thân mềm, mảnh san hô …), bề mặt
vật bám cần sạch và nhám để bào tử dễ bám. Số lượng vật bám: 500 - 600
tấn đá nhiều góc cạnh / 1 hecta (1 viên đá ~ 0,5kg; do vậy có khoảng
100 - 120 viên đá/m2) hoặc 180 - 210 tấn vỏ động vật thân mềm / 1
hecta (mặt ngoài hướng lên trên).
* Chuẩn bị cây bố mẹ
Hình 2.12: Rong câu Gracilaria changii
Cây khỏe, nhánh xum xuê, nguyên vẹn, không xây xát, có nhiều túi bào
tử trên đó. Cystocarp lộ ra bên ngoài và dễ nhận thấy. Nhiều bào tử
bốn được tạo thành, nếu quan sát ngược ánh sáng sẽ thấy những đốm nhỏ
bên trong cây bào tử bốn.
Đặc điểm của túi bào tử quả thành thục: Cystocarp lộ ra bên ngoài;
phần đỉnh của cystocarp tròn và láng, lỗ của cystocarp trong suốt và
hơi trắng, chiều cao của cystocarp lớn hơn đường kính thân rong. Nếu
có một điểm trắng lớn, có nhiều lỗ chứng tỏ bào tử đã được phóng ra.
Hình 2.13: Quả túi (Cystocarp)
Đặc điểm của túi bào tử bốn thành thục: Bào tử bốn thành thục là những
chấm đỏ lớn phân bố đều khi quan sát ngược ánh sáng. Túi bào tử bốn có
một rãnh hình chữ nhật rất rõ khi quan sát qua kính hiển vi.
Hình 2.14: Bào tử bốn
* Xử lý cây bố mẹ và thu bào tử
+ Phương pháp 1: Một lượng cây bố mẹ được chừa lại khi thu hoạch. Vật
bám được vãi ra. Bào tử phóng ra sẽ bám vào vật bám và nẩy mầm. Phương
pháp này sử dụng ở nơi mà Gracilaria phát triển tự nhiên (bãi triều).
+ Phương pháp 2: Cây bố mẹ được kích thích khô để phóng bào tử. Cây
bố mẹ khỏe mạnh, thành thục được tuyển chọn, rửa sạch bằng nước hiện
trường. Sau đó chúng được phơi khô trong bóng râm hoặc dưới ánh sáng
mặt trời. Nếu phơi khô trong bóng râm, cây bố mẹ có thể được xếp lên
trên dàn tre hoặc treo thành từng bó trong 2 - 4 giờ. Thời gian phơi
khô thay đổi tùy thuộc nhiệt độ, độ ẩm và sự lưu chuyển không khí. Khi
bề mặt cây rong khô và xuất hiện vài nếp nhăn thì ngưng xử lý. Nếu
phơi khô dưới ánh sáng mặt trời, thỉnh thoảng cây phải được đảo. Thời
gian kích thích ngắn.
Sau khi kích thích khô, cây được cắt thành 2 - 3 đoạn dài. Cần khoảng
200 - 300 kg rong tươi/ha. Cây được rải lên vị trí nuôi trồng. Chúng
hấp thụ nước và phóng bào tử. Bào tử phóng ra bám vào vật bám và phát
triển.
Phương pháp này thích hợp những nơi không tìm được nhiều cây rong
thành thục. Công việc được tiến hành vào ngày đẹp trời, vào lúc chiều
tối.
+ Phương pháp 3 (phương pháp vãi nước bào tử): Cây thành thục qua
kích thích khô được cho vào thùng gỗ hay bể lớn sạch, chứa nước biển
hiện trường. Chúng được khuấy liên tục bằng cây (để giúp phóng bào
tử). Mật độ bào tử được coi là thích hợp khi có 30 - 40 bào tử trong
một thị trường của kính hiển vi. Cây rong bố mẹ sau đó được chuyển vào
thùng gỗ hoặc bể khác để tiếp tục thu bào tử. Bào tử được phóng ra
liên tục vì vậy cần chuẩn bị nhiều thùng, bể. Thời gian triều rút phải
được xác định trước đó để đổ "nước bào tử" lên vị trí nuôi trồng trong
thời gian này (bào tử mất khả năng bám sau khi phóng 36 giờ). Cần
khoảng 75 - 150 kg rong tươi/ha.
Phương pháp này giúp tiết kiệm rong bố mẹ.
* Ương giống
Ở biển, việc thu giống bào tử trên vật bám và việc ương giống được
tiến hành tại một vị trí. Công việc chăm sóc được tiến hành thường
xuyên. Nếu có rong tạp như: Enteromorpha prolifera, Ulva, Ectocarpus
và khuê tảo, Amphipoda, phù sa trên vật bám thì phải loại bỏ. Lưu ý
mức nước phải còn nước khi triều rút. Tỷ trọng ~ 1.010.
2.2.2. Thu bào tử và ương giống ở trong phòng
Đặc điểm của phương pháp này như sau: Rửa sạch cây rong bố mẹ, loại
bỏ sinh vật địch hại: khuê tảo, protozoa, giun…Vật bám được rửa sạch
và thanh trùng (thường dùng NaClO 1 - 3%, KMnO4 0,5%). Nước biển lọc
sạch đảm bảo: nhiệt độ 20 - 250C; tỷ trọng:1.020; [N] = 1ppm; cường độ
ánh sáng I as = 5000lux.
Việc thu bào tử được tiến hành trong phòng qua phương pháp kích thích
khô. Khi bào tử nảy mầm và phát triển đến giai đoạn thân thẳng thì
chúng được chuyển đi nuôi trồng ở biển.
Hình 2.15: Sự nảy mầm của bào tử Gracilaria
Phương pháp sản xuất trong phòng đòi hỏi phải xây dựng trại sản xuất
giống. Bao gồm: có hệ thống làm lạnh để khống chế nhiệt độ 20 -25 0C;
có hệ thống nước gồm hệ thống cấp và thoát, các phương tiện như bể
chứa, bể lọc, máy bơm, ống cấp thoát… Các bể chữ nhật sâu 40cm có ống
thoát, cấp nước và ốp gạch men ở bốn phía và đáy. Thể tích bể tùy theo
nhu cầu thực tế. Các bể được bố trí theo những cao trình khác nhau để
nước biển có thể chảy qua, kích thích cây giống sinh trưởng.
Công việc chăm sóc: Cây giống được ương trong trại sau khi thu bào tử.
Nước biển được thay từng phần mỗi ngày và duy trì dòng chảy ở một tốc
độ nhất định. Cường độ ánh sáng 5000lux. Muối dinh dưỡng được bón vào
để giữ độ phì của đất. Nhiệt độ: 20 - 250C.
Trước đây, cây giống không được ương trong phòng do tuần hoàn nước
biển trong bể yếu dẫn đến việc hấp thu và chuyển hóa dinh dưỡng ở rong
kém đồng thời chi phí sản xuất cao. Hiện nay, do phương pháp thu bào
tử và ương giống ở biển không đáp ứng được nhu cầu của sản xuất lớn,
đồng thời một số khó khăn đã được khắc phục nên cây giống được ương
trong phòng.
2.2.3. Sản xuất giống cây mầm
Cơ sở: Căn cứ đặc điểm của rong câu trong đầm nước lợ đó là có khả
năng sinh sản dinh dưỡng; căn cứ mùa vụ sinh sản của rong câu trong
đầm nước lợ (2 vụ: Đông xuân từ tháng 2-5, Hè thu từ tháng 10-12).
Tiến hành:
* Chuẩn bị ao đầm
Ao đầm sản xuất giống chiếm 1/4 - 1/5 tổng diện tích nuôi trồng,
diện tích ao 100 - 1000 - 4000 - 5000m2 tùy điều kiện thực tế.
Kỹ thuật cải tạo ban đầu ao đầm nước lợ:
Đầm cũ (đã trồng): Tháo cạn nước, vơ sạch rong cỏ tạp, bón lót phân
chuồng (bắc) 5-10 tấn/ha và vôi bột.
Đầm mới: Tháo cạn nước, vơ sạch rong cỏ tạp, bừa đáy tạo lớp bùn
nhuyễn 10cm, bón phân hữu cơ 5-10 tấn/ha và vôi bột.
* Chuẩn bị cây bố mẹ
Cây giống bố mẹ là rong trưởng thành, ít nhất là 2-2,5 tháng tuổi,
chiều dài 20 - 40cm, khối lượng tối thiểu 2,5g, màu sắc tươi sáng, cơ
thể hoàn chỉnh, không dập nát…
* Xử lý cây bố mẹ
Rửa sạch, nhặt tạp; rong được xé tơi ra; hồ phân vô cơ giúp cho cây
tăng nhanh sinh trưởng.
Kỹ thuật hồ phân:
Cơ sở: Khả năng hấp thụ muối dinh dưỡng qua bề mặt cơ thể của rong và
sử dụng dần, sự thẩm thấu và nhu cầu lớn về chất khoáng của rong.
Tiến hành: Loại phân cần hồ là N, P. Hàm lượng phân tùy thuộc loài
rong.
Ví dụ: G. asiatica cần 10kg urê, 10kg super photphat trong 50m3 nước
hiện trường cho 1 tấn rong nguyên cây. Thời gian hồ 12-24 giờ (nếu
rong được cắt thành từng đoạn ngắn thì thời gian hồ ngắn hơn). Hồ phân
được thực hiện trong bể xi măng hoặc ao đất (50 - 100m2).
* Gieo giống
Gieo giống thường vào lúc sáng sớm. Phương pháp: gồm gieo cạn và gieo
nước. Gieo cạn: phải tháo cạn nước, để lại một lớp bùn để có độ lún
nhất định; gieo như gieo mạ thành luống. Gieo nước: áp dụng nơi không
có điều kiện tháo nước, dùng thuyền chở giống và vãi theo cọc cắm sẵn.
Mật độ: gieo để trồng lớn, không san thưa mật độ 80 - 100 g/m2; gieo
để san thưa mật độ 200 - 300 g/m2.
* Quản lý chăm sóc
Thay nước theo thủy triều. Khống chế các yếu tố sinh thái ở điều kiện
thích hợp (nhiệt độ, độ mặn, pH, rong tạp…). Kiểm tra cây rong.
* Thu hoạch
Tiêu chuẩn rong thu hoạch: chiều dài 5 - 10cm, khối lượng 0,01 - 0,1
g/cây, có nhánh cấp 1, ít nhánh cấp 2, màu sáng hoặc vàng sẫm, sinh
lượng 1000 - 2000g/m2. Phương pháp: rút cạn nước còn 15 - 20cm, dùng
tay vơ rong, rửa sạch bỏ lên thuyền chở đến nơi trồng.
2.2.4. Sự khác nhau của 2 hình thức sản xuất giống
Sản xuất giống bào tử và sản xuất giống cây mầm có nhiều điểm khác
nhau về số lượng và chất lượng của sản phẩm sinh sản, thời gian và kỹ
thuật sản xuất… Những sự khác biệt này được trình bày trong bảng.
Bảng 2.1: So sánh đặc điểm của 2 hình thức sản xuất giống
Đặc điểm Hình thức sản xuất
Sản xuất giống bào tử Sản xuất giống cây mầm
Sản phẩm sinh sản Bào tử bốn, bào tử quả Mầm của sinh sản dinh dưỡng
Số lượng cây bố mẹ Ít Nhiều
Số lượng giống thu được Nhiều Ít
Số lượng mầm/1g cơ thể Nhiều Ít
Sức sống của mầm Cao Thấp
Thời gian tàn lụi Chậm Nhanh
Thời gian sản xuất (tháng) 3 - 4 2 - 2,5
Số vụ / năm Ít Nhiều
Kỹ thuật sản xuất Khó Dễ
Nhìn chung, sản xuất giống cây mầm dễ tiến hành hơn so với sản xuất
giống bào tử nên thích hợp cho việc trồng rong ở quy mô sản xuất nhỏ.
Ngược lại, sản xuất giống bào tử, mặc dù khó hơn nhưng với các ưu điểm
của mình, nó thích hợp cho sản xuất rong biển quy mô công nghiệp.
2.3. Kỹ thuật nuôi trồng thương phẩm
2.3.1. Kỹ thuật trồng đáy
2.3.1.1. Kỹ thuật trồng đáy ngoài đê bao
* Giống cây mầm
+ Chất đáy mềm: Các kỹ thuật khác nhau được triển khai để các tản
dinh dưỡng bị vùi lấp tự nhiên trong đáy mềm.
Các phương pháp:
1/ Phương pháp vãi giống có vật bám
Phương pháp 1: Chuyển các tản dinh dưỡng đính tự nhiên vào đá nhỏ và
vỏ động vật thân mềm đến những nơi cần mật độ dày hơn. Phương pháp này
đơn giản, cần nhiều nhân công, đạt hiệu quả cao nhất ở vùng mà
Gracilaria phát triển tự nhiên.
Phương pháp 2: Buộc Gracilaria vào các cục đá bằng dây cao su để định
tản trong chất đáy mềm.
2/ Phương pháp vãi giống không có vật bám
Phương pháp vãi giống theo cọc đóng sẵn.
Phương pháp cấy giống bằng tay.
Phương pháp cấy giống bằng chĩa: vùng dưới triều
Phương pháp trồng Gracilaria (Chile) được đưa ra ở hình 2.17-1: những
cành giâm được đưa vào trong cát bằng chĩa và thuổng và chôn vùi cành
giâm (ở giữa).
.
Hình 2.17: Một số phương pháp trồng đáy rong câu Gracilaria
(1), (2) - Cấy giống bằng chĩa hoặc thuổng trên nền đáy mềm;
(3) - Ra giống bằng ống nhựa trên nền đáy cứng.
+ Chất đáy cứng: Phương pháp vãi giống có vật bám.
Nguyên lý cơ bản: Dùng những vật liệu nặng làm neo cố định rong giống
trên nền đáy cứng.
Ở những vùng đáy cứng sử dụng phương pháp (hình 2.17 (3)): những cành
giâm được gắn với với túi nhựa hình dài với rây cát, nhiều khu nuôi
trồng được xây dựng bằng hình thức này vì cây giống được trồng một
cách nhanh chóng. Dùng ống nhựa (plastic) đổ đầy cát, kích thước 1m x
0,1mm x 40mm (dài x dày x đường kính). Rong giống được cố định vào ống
với mật độ khoảng 90g rong tươi/ống bằng dây cao su. Vị trí: Các ống
được bố trí vuông góc đường bờ biển, đặt song song và khoảng cách là
1m.
Thông qua xác định sinh khối hàng tháng, người ta xác định được thời
gian thu hoạch, chẳng hạn: khi 2 tháng liên tiếp độ biến thiên sinh
khối B ≤15% hoặc sinh khối B = 15.000 g/m2 (15kg/m2) thì thu hoạch.
Nếu không thu sẽ dẫn đến hậu quả: giảm sự sinh trưởng, gia tăng nguy
cơ mất mùa do sự tàn phá của thiên nhiên.
Năng suất tiềm năng của kỹ thuật này là 21 tấn khô/ha/năm (trong thời
gian sinh trưởng 6 tháng) đã đạt được ở Chile.
Nhược điểm: Sự phân huỷ các ống nhựa gây nên ô nhiễm (ít phổ biến).
* Giống bào tử
Nhìn chung, không có những khác biệt về mặt sinh trưởng hay sinh thái
của bào tử bốn và bào tử quả nếu chúng được sử dụng làm giống ở những
nền đáy thuộc vùng triều và dưới triều.
Phương pháp nuôi trồng: Phương pháp vãi giống có vật bám. Các vật bám
có cây giống bào tử bám vào, sau khi ương sẽ được san thưa đến những
vị trí thích hợp. Khoảng cách giữa các vật bám là 30cm. Thường rong
đạt 50 - 100 cm sau 3 - 4 tháng trồng. Năng suất tiềm năng: 750 kg/ha/
vụ.
Đánh giá phương pháp trồng đáy ngoài đê bao:
• Khả năng sống sót của rong thấp nếu môi trường nuôi trồng và môi
trường nơi rong sống có sự khác biệt lớn.
• Tản rong có thể bi rách nát do vật bám của chúng hay do gió bão làm
hao hụt trong quá trình thu hoạch.
• Rong tạp và các sinh vật bám.
• Cần nhiều nhân công.
2.3.1.2. Kỹ thuật trồng ao
Rong câu Gracilaria là một trong những loài rong biển được nuôi trồng
trong ao với sản lượng lớn. Chúng có thể được nuôi trồng trong các ao
đầm nước lợ (nước tĩnh) và ao nước chảy. Gracilaria đã được nuôi trồng
thương phẩm trong ao trên quy mô lớn ở Trung Quốc và Đài Loan. Hiệu
quả kinh tế của việc nuôi trồng này phần lớn dựa vào nguyên liệu và
lao động rẻ tiền.
Hình 2.18: Hồ sử dụng cho nuôi trồng Gracilaria ở Sulawesi, Indonesia.
Ở Việt Nam, rong câu mảnh (cũng còn được gọi là rong câu chỉ vàng)
Gracilaria tenuistipitata đã được nuôi trồng thâm canh trong ao với
các yêu cầu kỹ thuật như sau:
Lựa chọn vị trí nuôi trồng: Đầm nước lợ, vùng đất nhiễm mặn hoang hóa
hay canh tác nông nghiệp kém hiệu quả, vùng cao triều hoặc trên triều
ven biển. Gần nguồn nước ngọt và dễ dàng cấp thoát nước. Ao trồng
không nằm ở vùng có gió mạnh. Các yếu tố môi trường: t0: 15 - 300C, S
‰: 10 - 20‰, pH 7.0 - 8.0.
Hình 2.19: Sơ đồ đầm trồng rong câu ở khu vực thay nước tích cực nhờ
thuỷ triều lên xuống
(1) Cống tháo nước (2) Đê bao
Hình 2.20: Sơ đồ ao đầm trồng rong câu cần được thay nước bổ sung từ
hồ chứa
(1) Mương (2) Ao rong câu (3) Hồ chứa
Yêu cầu về xây dựng ao đầm
Dạng ao đầm: Tùy thuộc vào diện tích và địa hình vùng quy hoạch, có
thể xây dựng các hệ thống ao đơn hay liên hoàn. Có hệ thống cấp và
thoát nước mặn và ngọt thuận lợi cho việc điều chỉnh mực nước cao
thấp, điều chỉnh độ mặn và có thể tháo cạn được. Dạng ao đầm thường là
hình chữ nhật , trục dọc của ao thẳng góc với hướng gió mạnh nhất
trong năm. Trường hợp lớp đất phải đào lớn để đạt độ sâu của ao ≥
0,4m, việc di chuyển đất đi nơi khác khó khăn thì ao có thể có bờ thửa
zic-zăc, bên trong mỗi ao có diện tích 0,5-0,6 ha gồm 3-5 ao nhỏ,
chiều ngang của các ao nhỏ là 10-15m. Trường hợp lớp đất đào đi ít và
có thể di chuyển đi xa thì ta có thể xây thành các ao trống (không có
bờ thửa ngăn cách), có diện tích 0,3-0,5ha cho một ao.
Chất đáy: Chất đáy của ao tốt nhất là bùn cát đến cát bùn, nền đáy có
độ lún khoảng 20cm. Chất đáy phải trung tính và giàu chất dinh dưỡng.
Trong trường hợp đáy ao chưa đáp ứng các yêu cầu trên ta tiến hành cải
tạo bằng bón vôi, bón phân. Chẳng hạn có thể bón CaCO3 với liều lượng
50 kg cho ao 0,15 ha để ổn định pH.
Cống: Mỗi ao có hai cống đối diện hoặc chéo nhau, cống được làm bằng
xi măng, khẩu độ cống 0,8 - 1m, trên cống thường có cầu để tiện đi lại
chăm sóc quản lý ao nuôi trồng.
Mương: Có hệ thống mương bao xung quanh ao, nối với hệ thống mương
cung cấp nước mặn và nước ngọt. Hai hệ thống mương này có thể giao
nhau trước khi vào các ao hoặc hệ thống mương nước ngọt ở phía trên
(cao trình cao hơn), hệ thống mương nước mặn ở phía dưới (cao trình
thấp hơn); tùy thuộc vào điều kiện thi công của từng vùng. Cao trình
của đáy ao cao hơn đáy mương bao và đáy mương nước mặn ngọt 0,2m. Trên
hệ thống mương bao có các cống chắn để dễ dàng điều chỉnh nước khi lấy
vào, tháo ra, khi cung cấp nước mặn, cung cấp nước ngọt.
Kỹ thuật trồng
Ra giống: Nguồn giống có thể lấy tại chỗ hoặc di giống từ các nơi khác
đến nhưng trước khi trồng cần nắm được đặc tính sinh học của cây rong
giống, đặc biệt là khả năng thích ứng với độ mặn và hàm lượng các muối
dinh dưỡng N và P. Mật độ rong giống tùy thuộc vào điều kiện mùa
(nhiệt độ) trên nguyên tắc mật độ giống vào mùa có nhiệt độ cao thấp
hơn mùa có nhiệt độ thấp. Mật độ không dày quá nhưng cũng không thưa,
đảm bảo bình quân 30 ngày thu và san giống một lần. Thực tế sản xuất ở
các tỉnh phía Nam cho thấy mật độ giống thích hợp vào mùa nóng là 200
- 300 g/m2 và vào mùa mát là 400 g/m2.
Chăm sóc quản lý: Các yếu tố sau đây được theo dõi và điều chỉnh cho
phù hợp.
Môi trường nước: Nước trong ao nuôi trồng cần được trao đổi giữa nước
cũ và mới, tạo dòng chảy càng nhiều càng tốt. 2 - 3 ngày (tương ứng
mùa nóng và mùa mưa) nước phải được thay dần ½ hay toàn bộ. Vào mùa
nóng, duy trì độ mặn 18-20‰, giữ mức nước ≥ 40cm tạo dòng chảy vào ban
ngày, buổi chiều tối hạ thấp mực nước còn khoảng 20cm. Trong mùa nhiệt
độ thấp, mực nước được giữ khoảng 30cm vào ban ngày, độ mặn 12-15‰.
Đối với các ao có điều kiện (hay vào thời kỳ có điều kiện nguồn nước
ngọt đầy đủ) khi có nước thủy triều, việc thay nước được tiến hành
hàng ngày với chu kỳ khi triều lên lấy nước mặn vào, khi triều rút
tháo nước mặn ra cho nước ngọt vào tạo nên sự trao đổi nước liên tục
giữa nước mặn và nước ngọt. Trong thời kỳ không có thủy triều, sau khi
đã giữ nước thủy triều cũ vài ngày, xả bớt nước mặn, bổ sung nước
ngọt, hạ thấp độ mặn, khi có nước triều mới xả hết nước cũ thay bằng
nước ngọt.
Bón phân: Dùng các loại phân hữu cơ bón lót trước khi ra giống hoặc
sau khi thu hoạch với liều lượng 0,2-0,5 kg/m2. Bón thúc bằng phân urê
và lân trước 10-15 ngày thu hoạch, liều lượng tùy thuộc vào khả năng
hấp thụ của cây rong, điều kiện môi trường; thường mùa nóng hàm lượng
phân thấp hơn, tỷ lệ lân cao hơn mùa nhiệt độ thấp. Trong nuôi trồng
thâm canh, việc bón lót và thúc thường được tiến hành liên tục, thường
1 tháng / lần.
Diệt tạp: Thông qua điều chỉnh mức nước và độ mặn, thu tỉa thường
xuyên theo định kỳ hàng tháng sẽ hạn chế rong tạp trong các ao đầm
nuôi trồng. Với các loại rong tạp nước mặn, cần xả triệt để nước mặn,
bổ sung nước ngọt để S‰ ≤ 4‰, kéo dài 5-7 ngày. Với các loại rong
nước ngọt, cần nâng độ mặn kéo dài 2-3 ngày. Trường hợp các loại rong
tạp rộng muối xuất hiện, cần tạo đột biến về độ mặn như 2-3 ngày nước
mặn kế đến là 5-7 ngày nước ngọt.
Rong: Theo dõi tăng trưởng của rong, xem rong có bị tàn lụi sớm hay
không. Nếu có tàn lụi sớm thì cần phải khoanh vùng, thu hoạch chạy để
tránh lây lan sang các khu vực khác.
Năng suất tiềm năng: 4 tấn khô/ha/năm (số tháng sản xuất chưa đầy một
năm).
Hồ nuôi trồng rong biển thâm canh
Hệ thống bao gồm các hợp phần dưới đây: vị trí thuận lợi, diện tích
hồ từ 100-1500m2, hệ thống trang trại, hệ thống cung cấp nước, hệ
thống lưu chuyển nước, hệ thống làm giàu CO2¬, nguồn cung cấp phân
bón, thu hoạch rong, trạm sơ chế rong. Hồ được xử lý làm sạch và duy
trì hàng ngày và hàng tuần, theo dõi và hạn chế các loại rong tạp,
sinh vật địch hại và mầm bệnh. Sản lượng khô hàng năm 6 tấn/1000m2 cho
Gracilaria, 10 tấn cho Ulva và 2 tấn cho Porphyra
2.3.2. Kỹ thuật trồng cắt ngang tầng nước
2.3.2.1. Nuôi trồng ở vùng triều
* Phương pháp lưới ngang bán cố định
Công trình: Lưới (8m x 1m), 2a = 30cm. Hai đầu tấm lưới là hai ống
tre, mỗi ống dài 1,2m hai bên tấm lưới là hai dây thừng, mỗi dây 12m.
Tấm lưới được treo lên 4 cọc ở bốn góc bằng các dây treo. Cọc thường
dùng là cọc đước, gỗ tốt dài 1m, chôn sâu 50cm. Giữa hai ống tre có
thể bố trí hai, ba thanh tre nhỏ để lưới khỏi bị cuốn lại.
Hình 2.21: Hệ thống lưới ngang bán cố định
Ra giống: 180 búi/lưới. Trên diện tích một ha, bố trí 600 tấm lưới.
Do vậy, có khoảng 100.000 búi/ha (rong gắn vào nút mắt lưới).
Hình 2.22: Gracilaria gắn trong mắt lưới
Chăm sóc quản lý: Được tiến hành hàng ngày, lúc triều rút. Một công
nhân có thể quản lý 2/3 ha. Theo dõi các yếu tố sau đây:
Môi trường nước: Các yếu tố môi trường của nước như độ mặn, nhiệt độ,
pH, hàm lượng các muối dinh dưỡng, kim loại nặng… phải nằm trong giới
hạn thích hợp với sự sinh trưởng và phát triển của cây rong. Nếu chúng
nằm ngoài phạm vi cho phép thì phải điều chỉnh. Ví dụ: Độ mặn giảm đột
ngột do có mưa lớn hoặc trong mùa nắng nóng, nhiệt độ nước ở tầng mặt
thường tăng cao thì phải hạ dây giống rong xuống đây là biện pháp điều
chỉnh nhiệt độ rất hữu hiệu. Trường hợp nguồn nước tại vị trí nuôi
trồng bị ô nhiễm như ô nhiễm kim loại nặng, cần phải di chuyển công
trình nuôi trồng đến vị trí khác đã được khảo sát có các điều kiện môi
trường thích hợp cho rong.
Bón phân: Muối dinh dưỡng chủ yếu là muối đạm (NH4-N), muối lân (PO4-
P) có ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng của rong. Ở giai đoạn sinh trưởng,
rong yêu cầu hàm lượng đạm trên 2,2mg/l, lân trên 0,32 mg/l. Do vậy, ở
vùng biển nghèo dinh dưỡng, người ta phải bón phân.
Các phương pháp bón phân cho rong trồng trên biển bao gồm: dùng chai
hoặc túi nhựa bán thấm phun hoặc tưới phân lỏng, hồ phân và bón tự
nhiên qua nuôi trồng ghép. Phân bón (trong trường hợp dùng chai/túi
nhựa hoặc phun /tưới) là phân urê và lân, liều lượng tùy thuộc vào khả
năng hấp thu của cây rong, điều kiện môi trường. Cụ thể liều lượng là
> 12 ppm (tỷ lệ N:P = 2:1).
Diệt tạp: Thông qua điều chỉnh dây giống rong và thu tỉa thường xuyên
theo định kỳ hàng tháng sẽ hạn chế rong tạp ở các dàn bè nuôi trồng.
Rong: Cần theo dõi rong xem chỗ buộc có bị lỏng lẻo không, nếu có
phải buộc lại hoặc thay bằng cây rong mới nếu tại vị trí đó rong đã
rơi ra. Kiểm tra các loại rác bẩn, phù sa bám vào rong, nếu có phải
rung dây giống để loại bỏ chúng, tạo điều kiện cho rong dễ quang hợp.
Theo dõi tăng trưởng của rong để có kế hoạch thu tỉa. Thường sau một
tháng khi rong có kích cỡ 0,5 kg tươi/cây (búi) thì có thể thu hoạch.
Việc thu tỉa rong sẽ giúp hạn chế ảnh hưởng xấu của rong tạp và tăng
tuổi thọ của dàn bè.
Năng suất tiềm năng: 1500 kg rong khô/ha/3 tháng.
Sự khác biệt giữa hệ thống lưới ngang cố định, bán cố định và nổi
được tóm tắt trong bảng 2.2 dưới đây
Bảng 2.2 : Khác biệt căn bản của các hệ thống lưới ngang
Hệ thống lưới ngang Vị trí hệ thống Mặt lưới
Cố định Cọc đóng cố định Buộc trực tiếp vào cọc
Bán cố định Cọc đóng cố định Treo qua dây treo
Nổi Cơ động nhờ thả neo Nổi nhờ phao
* Phương pháp bè dây ngang bán cố định
Công trình: Tương tự phương pháp trên. Khác biệt cơ bản là dây thay
vì lưới.
Ra giống: Dùng dây polyetylen (P.E) để gắn cây giống. Có hai cách
gắn: cách thắt nơ và cách gắn trực tiếp (chèn). Dây giống được buộc
trực tiếp vào ống tre. Hai dây cách nhau 10 cm. Ống tre dài 1,2 m hai
ống ở hai đầu của bè. Các búi rong giống được gắn cách nhau 10 cm dọc
theo dây P.E có 750 búi/bè, 800 bè/ha. Do vậy có 600.000 búi/ha.
Chăm sóc quản lý: Công việc được tiến hàng hàng ngày lúc triều rút,
nội dung công việc tương tự như ở phương pháp lưới ngang bán cố định.
Một công nhân quản lý 2/3 ha.
Năng suất tiềm năng: 2.250 kg rong khô/ha/3 tháng.
2.3.2.2. Nuôi trồng ở vùng biển cạn
* Phương pháp bè dây ngang nổi
Hình 2.24: Hệ thống bè dây ngang nổi ở Caribbean và Trung Quốc.
Cây giống được giữ chặt gần tầng mặt ở triều thấp và dưới 5 đến 6 mét
nước lúc triều cường.
Công trình: Hai dây chính P.E, mỗi dây dài 28m, được nối hai đầu bằng
hai ống tre. Mỗi ống tre có đường kính 10 cm, chiều dài 2,2 m. Giữa
hai ống tre đó còn có sáu ống tre tương tự, cách nhau 4 m. Ngoài ra,
để tăng sức nổi, trên hai dây chính còn có thể bố trí ống tre phụ hoặc
phao. Bốn góc của bè được nối với bón neo thông qua các dây neo. Dây
giống là dây P.E. Có 15 dây giống, mỗi dây cách nhau 14 cm. Để những
dây này không bị xoắn vào nhau, người ta bố trí các thanh tre nhỏ cách
nhau 4 m.
Ra giống: Cây giống được gắn trên dây, cách nhau 10 cm dọc theo chiều
dài dây giống. Có 200 búi rong/dây giống, do vậy có 3000 búi rong/bè.
Có 75 bè/ha nên có 225.000 búi rong/ha.
Chăm sóc quản lý: Công việc chăm sóc được tiến hành trên thuyền, nội
dung công việc tương tự như ở phương pháp lưới ngang bán cố định. Định
kỳ vệ sinh dàn bè, rửa huyền phù và các loài rong tạp bám trên bè. Khi
mưa to, gió lớn thì cho bè xuống sâu hơn mức bình thường 20 - 40cm.
Một công nhân quản lý 1/3 ha.
Năng suất tiềm năng: 6.000 kg rong khô/ha/3 tháng.
Ngoài các phương pháp trên, một số nơi như Myanmar, Ấn Độ… còn dùng
phương pháp lưới dọc nổi và các phương pháp khác.
Hình 2.25: Hệ thống bè dây dọc ở Caribbean và Trung Quốc.
Cây giống được đặt nơi cách nhau 10 cm dọc theo dây thừng treo trong
nước.
Hệ thống dây thừng dài được sử dụng ở Chile và Caribbean: (hình 2.26)
Phương pháp này tương tự như phương pháp dây đơn ngang được sử dụng ở
Philippines cho Eucheuma. Nó được sử dụng khi đáy quá đục (nhiều bùn)
hoặc ngược lại đáy quá cứng. Rong biển lợi dụng không gian sinh trưởng
và luân chuyển nước cả trên và dưới cây. Với hệ thống này cây sinh
trưởng tốt và ít gặp rủi ro nhưng lại tiêu tốn nhiều thời gian cho
việc bố trí. Sản lượng từ 50 đến 60 tấn/ha/năm còn thể đạt được trong
mùa đông (mùa ấm nhất ở Chi lê).
Hình 2.26: Hệ thống dây thừng ở Caribbean
2.3.3. Phương pháp làm tăng sản lượng rong
Kỹ thuật hồ phân:
Cơ sở: Khả năng hấp thụ dinh dưỡng qua bề mặt thân rong, nhu cầu dinh
dưỡng lớn của rong.
Thường ngâm rong trong dung dịch phân bón (đạm, lân, phân hữu cơ) với
nồng độ cao trước khi đem ra môi trường nuôi trồng. Các loại phân bón
khác nhau có tác dụng kích thích tăng trưởng khác nhau. Phân hữu cơ
thường lớn hơn phân vô cơ.
Bảng 2.3: Ảnh hưởng của phân bón lên sinh trưởng của rong
L1 (cm) L2 (cm) SCR (cm/ngày/bụi) W1 (g) W2 (g)
Không hồ phân 25 130 1.5 9.2 105
Hồ phân 25 148 1.7 9.2 125
Bảng 2.4: Ảnh hưởng của các loại phân bón khác nhau lên tăng trưởng
của rong câu
Loại phân Tốc độ tăng trưởng TB (cm/ngày) Sự gia tăng chiều dài (cm)
Thời gian hồ phân (h)
Đối chứng (không sử dụng phân bón) 0.51 - 1.13 (max) 43.88
Đạm và phân hữu cơ 0.97 - 2.34 (max) 82.84 24
Đạm 0.68 - 2.26 (max) 58.3 24
Cắt đoạn
Dùng hormon sinh trưởng
2.4. Kỹ thuật thu hoạch và sơ chế
2.4.1. Những căn cứ để thu hoạch rong câu
Sau thời gian trồng, để xác định rong có thể thu hoạch hay chưa,
người ta thường dựa vào một số tiêu chí như: tiêu chuẩn chiều dài,
khối lượng; tiêu chuẩn trưởng thành; tiêu chuẩn sinh lượng; tỷ lệ khô
tươi và tiêu chuẩn agar.
Ví dụ: Rong câu chỉ vàng Gracilaria asiatica, tiêu chuẩn chiều dài L
= 30-40cm, khối lượng P = 2,5-3,5g/tản; tiêu chuẩn trưởng thành: rong
phải ở giai đoạn trưởng thành, thời gian sinh trưởng tối thiểu là 2
tháng từ khâu sản xuất giống, màu sắc đậm đà; tiêu chuẩn sinh lượng: B
= 800-1200 g/m2; tỷ lệ khô tươi: 10-12% và tiêu chuẩn agar: 20-30%
khối lượng khô.
Trong mùa mưa mát (tháng 9, tháng 3), tốc độ tăng trọng của rong câu
cao có thể đạt 6-7%/ngày, với mật độ giống 400 g/m2 thì sau 20-25 ngày
có thể thu hoạch một lần. Trong mùa nắng nóng, tốc độ tăng trọng của
rong có thể đạt 3%/ngày, với mật độ giống 200-300 g/m2 bình quân sau
30 ngày có thể thu hoạch một lần. Việc thu tỉa rong sẽ giúp hạn chế
ảnh hưởng xấu của rong tạp
2.4.2. Phương pháp thu hoạch và sơ chế
Thu hoạch: Gồm thu tỉa và tổng thu.
Thu tỉa: Thu hoạch được tiến hành khi bụi rong có đường kính từ 80
-100cm. Được tiến hành ở vùng trung triều và lặn dưới nước sâu. Rong
được cắt bằng dao hoặc liềm, cắt từng đoạn khoảng 15 - 20cm và từ đây
sẽ sinh ra những nhánh mới. Nếu việc gieo trồng được tiến hành vào
tháng 1, 2 hoặc 3, mùa vụ thu hoạch đầu tiên là vào tháng 5 và mùa vụ
tiếp theo là vào tháng 9-10, 12- 1, 4 -5....
Tổng thu: gồm thu cạn và thu nước. Thu cạn thì chừa nước còn 15 - 20
cm, vơ rong bằng tay, rửa rong bỏ lên thuyền. Thu nước thì dùng
thuyền, vớt rong bằng cào.
Sơ chế: Rửa sạch rong bằng nước hiện trường, phơi khô một hai nắng;
rửa lại băng nước ngọt 1-2 lần, phơi lại đến lúc còn 1-5% nước, đóng
gói, bảo quản nơi khô ráo.
RONG THẠCH (Gelidium)
1. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
1.1. Đặc điểm phân loại và phân bố
Hệ thống phân loại
Ngành: Rhodophyta
Lớp: Florideae
Bộ: Gelidiales
Họ: Gelidiaceae
Giống: Gelidium
Phân bố: Sống bám trên đá, vỏ động vật thân mềm ở vùng trung triều
đến hạ triều và vùng nước sâu trên 10 m. Chúng thích sống ở nơi có
nước trong và dòng chảy nhanh. Mùa vụ xuất hiện là xuân hè. Ở Việt
Nam, chúng phân bố từ Bắc vào Nam. Trên thế giới, chúng phân bố ở vùng
nước ấm, dọc bờ biển Thái Bình Dương, Đại Tây Dương. Các loài phổ biến
là: G. amansii, G. pacificum, G. divaricatum, G. japonicum…
1.2. Hình thái và cấu tạo
Hình thái: Tản Gelidium dẹp, thẳng và rậm. Phân nhánh kiểu lông chim
4-5 lần, có các nhánh nhỏ mọc cách hoặc mọc đối. Bán bám dạng rễ giả.
Kích thước thay đổi đáng kể theo loài: từ 1-2 cm đến 30-40 cm. Có màu
đỏ tía, đỏ nhạt hay nâu nhạt (ở vùng biển nghèo dinh dưỡng).
Cấu tạo: Gồm hai cấu trúc cơ bản là vỏ và lõi. Các tế bào ngoài cùng
ở các tầng vỏ sắp xếp thành hàng, mỗi tế bào có một sắc lạp; khoảng
trống giữa các tế bào được lấp đầy bởi các sợi nhỏ. Bên ngoài tầng vỏ
được phủ đầy bởi một lớp màng dày. Tầng lõi chủ yếu được tạo thành từ
hàng chục nhóm tế bào trụ kéo dài song song trục thân. Ở những phần
mềm của tản, có một khoảng trống tương đối lớn chứa đầy chất keo. Vì
vậy, Gelidium chứa hàm lượng keo rất cao. Ở những tản thành thục,
nhiều tế bào sợi chạy dọc xuyên qua chất keo làm cho mô của Gelidium
dai và chặt hơn.
Hình 2.29: Mặt cắt ngang của lá rong G. chilense, G. Lingulatum và G.
rex
1.3. Đặc điểm sinh sản và vòng đời
Sinh sản: Gồm sinh sản dinh dưỡng, sinh sản vô tính và sinh sản hữu
tính.
Sinh sản dinh dưỡng: gồm các hình thức sau:
- Sinh sản bằng thân bò: Từ gốc của thân bò non hoặc tản trưởng thành
nảy những chồi bên. Chúng kéo dài theo chiều ngang tạo thành thân bò.
Thân bò phát triển xuống dưới và lên trên tạo thành rễ giả và chồi
thẳng. Giống như cây mây, thân bò kéo dài để tạo thành chồi thẳng liên
tục.
- Sinh sản bằng mọc mầm: Gồm có mọc mầm ở gốc của tản và mọc rễ giả.
Đó là các mầm nhỏ mọc từ gốc và rễ giả của cây non, từ đó phát triển
thành những cá thể rậm rạp.
- Sinh sản bằng đứt đoạn: Sự đứt đoạn từ một cây mẹ cho ra những đoạn
rong. Chúng phát triển thành cá thể mới.
Sinh sản vô tính: Trên đỉnh các nhánh nhỏ, có nhiều nhánh túi bào tử
bốn dạng hình gậy. Tế bào mẹ túi bào tử bốn phát triển từ một tế bào
vỏ trên đỉnh nhánh nhỏ. Nó phân cắt tạo thành bốn bào tử bốn, sắp xếp
theo dạng chữ thập hoặc tứ diện thông qua giảm phân.
Sinh sản hữu tính: Các tế bào vỏ kéo dài, phát triển thành tế bào mẹ
túi giao tử. Chúng phân cắt tạo thành nhũng túi giao tử hình ôvan ở
đỉnh nhánh. Sau khi thành thục, túi giao tử sẽ sản xuất tinh tử. Còn
các nhánh túi trứng ở cây giao tử cái. Chúng phát triển từ những chồi
nhỏ trên nhánh chính hoặc các nhánh bên. Sau khi thụ tinh, tế bào túi
trứng biệt hóa và phân cắt thành một hoặc nhiều túi bào tử quả. Các tế
bào vỏ ở bên ngoài túi bào tử quả giãn và nhô ra trên bề mặt nhánh và
tạo thành các cystocarp. Nhìn theo mặt cắt dọc, cystocarp có hai
khoang, hai lỗ mà qua đó bào tử quả được phóng thích.
Vòng đời
Hình 2.30: Sơ đồ vòng đời của Gelidium
2. KỸ THUẬT NUÔI TRỒNG
2.1. Lựa chọn vị trí
Vùng ven bờ, dưới triều, độ sâu vài mét. Nơi nuôi trồng phải tránh
gió bão, sóng lớn, nước bị ô nhiễm…
2.2. Chuẩn bị cây giống
Chuẩn bị vật bám: Dây ni-lon, dây thừng, vỏ động vật thân mềm, đá… Vỏ
động vật thân mềm nên được đục lỗ để xâu với nhau thành chuỗi, đem
ngâm trong nước để phân hủy chất hữu cơ và cơ khép vỏ, sau đó rửa lại
bằng nước sạch.
Chuẩn bị cây bố mẹ: Chọn cây giao tử cái, cây bào tử có túi bào tử
bốn. Loại bỏ sinh vật địch hại. Rửa sạch bằng nước sạch.
Thu bào tử: Có 3 phương pháp.
- Thu bào tử trong nước tĩnh: Vật bám được sắp xếp trên đáy bể thu và
ngâm trong nước sạch. Mức nước trên vật bám 5-8cm. Cây giao tử cái
hoặc cây bào tử thành thục được đặt trên vật bám để phóng bào tử. Bào
tử phóng ra bám vào vật bám.
- Thu bào tử trong nước động: Tương tự như phương pháp trên tuy nhiên
người ta dùng máy khuấy (Arigator) để làm cho bào tử phân bố đều. Khi
số lượng bào tử đáp ứng nhu cầu ương giống thì đưa cây rong mẹ ra.
- Thu bằng nước bào tử: Cây giao tử cái hoặc cây bào tử thành thục
được cho vào bể. Thể tích cây và nước theo tỷ lệ Vcây:Vnước = 1:10
hoặc 1:20. Khi lượng bào tử đủ nhu cầu thì cây rong mẹ được đưa ra
khỏi bể và nước biển sẽ được lọc bằng vải mỏng. Nước lọc ("nước bào
tử") được tới đều lên vật bám ở trong bể.
Khi số lượng bào tử đạt 10-20 bào tử trên thị trường của kính hiển vi
thì có thể đáp ứng nhu cầu ương giống cho cả 3 phương pháp.
Ương giống: Khống chế các yếu tố môi trường như nhiệt độ 20-250C,
cường độ ánh sáng 1500-2500 lux, hàm lượng đạm 4-10 ppm, hàm lượng lân
0,4-1ppm. Loại bỏ rong tạp. Thay nước 3-7 ngày/lần.
2.3. Kỹ thuật trồng thương phẩm
Phương pháp bè dây ngang nổi
Nguyên tắc: Căn cứ vào đặc điểm dinh dưỡng của Gelidium, người ta cắt
rong thành những đoạn nhỏ sau đó chèn rong vào những sợi dây giống và
treo lên dàn bè trồng ngoài biển.
Hình 2.31: Hệ thống bè dây nổi
Công trình: Bè dây ngang nổi có hai dây chính bằng P.E, hai đầu nối
với hai ống tre. Mỗi dây dài 60 m; mỗi ống tre dài 1,2 m, đường kính
10 cm. Trên hai dây chính, cứ cách 0,5 m có một bè nhỏ gồm bốn dây
giống, mỗi dây dài 2 m. Hai đầu các dây này được buộc vào hai ống tre.
Các bè nhỏ hợp thành một bè lớn được neo ở bốn góc.
Kỹ thuật ra giống: Rong giống được gắn vào dây giống theo cách thắt nơ
hoặc gắn trực tiếp. Mật độ ra giống là 80 cây rong/dây giống, cây
giống cách nhau 2,5 cm dọc theo chiều dài dây giống.
Chăm sóc quản lý: Công việc chăm sóc quản lý được tiến hành hàng ngày
trên thuyền, nội dung công việc tương tự như ở phương pháp lưới ngang
bán cố định trong trồng rong câu Gracilaria.
Năng suất tiềm năng: 1 kg rong/dây giống.
2.4. Kỹ thuật thu hoạch và sơ chế
Thu rong tự nhiên: Gelidium trong tự nhiên mọc ở độ sâu vài mét nước
ở vùng dưới triều. Người ta thường thu bằng tay khi lặn xuống đáy.
Việc thu này làm cho nguồn lợi bị tàn phá nghiêm trọng và nguy hiểm
cho thợ lặn, đặc biệt ở vùng có cá mập.
Thu rong nuôi trồng: Thường dùng phương pháp thu tỉa. Cây lớn được
thu, cây nhỏ để lại, vị trí trống sẽ được trồng thay bằng cây khác.
Sơ chế: Tương tự như với Gracilaria.
CHƯƠNG 4: KỸ THUẬT NUÔI TRỒNG RONG NGUYÊN LIỆU CHIẾT XUẤT
CARRAGEENAN (CARRAGEENOPHYTES)
Carrageenan là tên chung của các polysaccharide được chiết xuất từ
một số loại rong mà chúng được tạo ra, ngược với agar, chỉ từ các đơn
vị D-galactopyranose.
Chiết xuất Carrageenan
Chondrus crispus được sử dụng làm nguồn nguyên liệu chủ yếu để chiết
xuất carrageenan nhưng các loài của Gymnogongrus, Eucheuma, Ahnfeltia
và Gigartina hiện cũng được sử dụng phổ biến. Khoảng 28.000 tấn
carrageenan được sản xuất trên thế giới và mặc dù Chondrus không còn
là nguồn nguyên liệu duy nhất nữa nhưng nó vẫn còn là nguồn chính.
Carrageenan hiện đại là một sản phẩm có nhãn mác được thiết kế bằng
cách phối trộn các loại carrageenan khác nhau để cho ra một loại keo
có chất lượng đặc thù. Phần lớn Chondrus được sử dụng trong công nghệ
carrageenan đến từ các tỉnh duyên hải của Canada (như Nova Scotia…),
nơi mà khoảng 50.000 tấn tươi C. crispus được thu mỗi năm từ tự nhiên.
Phần lớn rong được thu bằng cách dùng những cái cào có tay cầm dài
được kéo từ những chiếc thuyền nhỏ. Rong sau đó được phơi khô hoặc là
trải ra phơi khô nhờ không khí hoặc là dùng các máy sấy quay vòng và
được xuất sang Hoa Kỳ hoặc Đan Mạch để chế biển.
RONG SỤN (Kappaphycus)
1. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
1.1. Đặc điểm phân loại và phân bố
Hệ thống phân loại:
Ngành: Rhodophyta
Lớp: Florideae
Bộ: Gigartinales
Họ: Solieriaceae
Giống: Kappaphycus
Danh pháp: Vào năm 1989 dựa vào thành phần carrageenan người ta tách
từ giống Eucheuma thêm một giống mới đó là Kappaphycus. Hiện nay có 24
loài thuộc 2 giống này trên thế giới.
Phân bố: Vùng nhiệt đới Châu Á, nhất là vùng Tây Thái Bình Dương đặc
biệt ở Philippines, Indonesia. Rong sụn phát triển trên nền rạn nơi có
chất đáy cát - san hô, có lưu chuyển nước ở mức trung bình và nằm ở
vùng trung triều đến dưới triều.
Rong sụn Kappaphycus alvarezii hiện được trồng tại Việt Nam là loài
rong biển nhiệt đới, có nguồn gốc từ Philippines, được Phân viện khoa
học Vật liệu tại Nha Trang nhập nội và trồng từ tháng 2 năm 1993. Sự
sinh trưởng và phát triển của rong sụn chịu tác động trực tiếp của các
yếu tố sinh thái môi trường chủ yếu như sau:
Độ mặn: Rong sụn là loài rong ưa mặn chỉ sinh trưởng và phát triển ở
các vùng nước có độ mặn cao và tương đối ổn định tốt nhất là từ 30‰
trở lên, thấp hơn 20‰ và kéo dài nhiều ngày sẽ làm cho rong sụn ngừng
phát triển và chết dần.
Dòng chảy: Rong sụn phát triển tốt ở các vùng nước có dòng chảy hay
sự di chuyển của nước thông thoáng và thường xuyên. Nước bị tù hay sự
di chuyển kém làm cho tốc độ phát triển của rong sụn chậm lại đặc biệt
nếu kết hợp với nhiệt độ nước cao, chất huyền phù trong nước lớn, hàm
lượng các muối dinh dưỡng trong nước thấp sẽ dẫn đến sự tàn lụi của
cây rong.
Nhiệt độ: Nhiệt độ thích hợp cho rong sụn sinh trưởng và phát triển
nằm trong khoảng 25 -280C; nhiệt độ cao hơn 300C và nhất là thấp hơn
200C sẽ ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng của cây rong. Nhiệt độ thấp hơn
15-180C thì rong ngừng phát triển.
Cường độ ánh sáng: Yêu cầu ánh sáng đối với rong sụn không cao, thích
hợp nhất là trong khoảng 30.000-50.000 lux, cao quá hay thấp quá đều
gây ức chế sự phát triển của cây rong.
Muối dinh dưỡng: Nhu cầu muối dinh dưỡng (chủ yếu là muối Nitơ và
Phốtpho) của rong sụn không cao. Tuy nhiên tốc độ phát triển của rong
sụn càng cao ở những vùng hay những lúc hàm lượng muối N, P trong nước
cao. Trong điều kiện cường độ ánh sáng và nhiệt độ nước cao (vào mùa
nắng nóng), cường độ quang hợp và tốc độ phát triển của rong sụn tăng
khi hàm lượng N trong nước cao, nhưng chỉ đến nồng độ 2,8 mg/l; ngược
lại trong điều kiện cường độ ánh sáng thấp và nhiệt độ thấp, tác dụng
của N không rõ ràng. Đối với muối P, tốc độ phát triển của rong sụn
cao trong các vùng hay khi nồng độ P cao cả trong điều kiện ánh sáng
cao và thấp. Tỷ lệ N/P thích hợp cho sự phát triển của rong sụn là
10/1.
1.2. Hình thái và cấu tạo
Hình 3.1: Rong sụn Kappaphycus alvarezii
Rong sụn có cơ thể dài, phân nhánh rời rạc với vài nhánh phụ có đầu
vút nhọn hoặc tù. Các nhánh phụ phân nhánh không theo quy tắc nào cả
và không hình thành dạng tỏa vòng như ở rong sần Eucheuma
denticulatum. Cơ thể có cấu tạo đa trụ. Có ba dạng rong sụn hiện được
nuôi trồng thương phẩm. Những loại rong này khác nhau về phát triển
hình thái.
1.3. Đặc điểm sinh sản và vòng đời
Sinh sản: Chủ yếu là sinh sản vô tính, hữu tính.
Vòng đời: Tương tự như rong câu, trong vòng đời cây bào tử và cây
giao tử của Kappaphycus xảy ra luân phiên. Cây bào tử bốn thành thục
(2n) sinh sản (giảm phân) cho các bào tử bốn, chúng phát triển thành
cây giao tử đực và cái. Cây giao tử đực thành thục hình thành túi tinh
tử, cây giao tử cái hình thành túi trứng. Sau khi thụ tinh và
cystocarp được hình thành trên cây giao tử cái, bào tử quả (2n) được
phóng ra và phát triển thành cây bào tử bốn.
Hình 3.2: Vòng đời của rong sụn Kappaphycus
2. KỸ THUẬT NUÔI TRỒNG
2.1. Lựa chọn vị trí
2.1.1. Các chỉ thị vật lý trong nuôi trồng rong biển
Độ phì của vị trí nuôi trồng: Theo Doty (1986), ánh sáng, chất lượng
nước, lưu chuyển nước và nhiệt độ nước là các yếu tố môi trường quan
trọng xác định độ phì của một vị trí nuôi trồng nào đó. Tác động qua
lại giữa các yếu tố môi trường này có ý nghĩa quan trọng trong suốt
giai đoạn đầu tiên của quá trình nuôi trồng. Nó cho biết là thành công
hay thất bại.
Quá trình sản xuất: Khi việc nuôi trồng diễn ra, sự lưu chuyển nước
là yếu tố quan trọng nhất quyết định sản lượng rong và do vậy quyết
định tính bền vững của các hoạt động nuôi trồng rong biển.
2.1.2. Các chỉ thị sinh học trong lựa chọn vị trí
Các yếu tố sinh học như địch hại và bệnh có thể quyết định sự thành
công hay thất bại của hoạt động nuôi trồng rong biển.
Bọn sống bám và bệnh
Khống chế hoặc hạn chế rong tạp sống bám bề mặt và các loại bệnh là
điều cần phải làm để đảm bảo thành công. Màu sắc của tản và tốc độ
tăng trưởng thường là các chỉ thị về sức khỏe của cây rong. Dưới đây
là các tình trạng của tản thường gặp nhất:
"Đục lỗ" - Thường xảy ra ở tầng lõi mà ở đó lỗ được tạo thành chủ yếu
do vết thương cơ học, tuy nhiên tầng lõi sẽ được tái tạo lại.Tình
trạng này do ốc và nhím biển nhỏ gây nên.
"Đỉnh mất màu" - Là do việc lộ ra ngoài không khí và không chịu được
nước nóng; có sự biến đổi sang màu hồng và sau đó là các đỉnh mềm đi
tiếp theo là sự mất màu hơn nữa, cuối cùng trở nên trắng và tàn lụi
đi.
"Chậm tăng trưởng" - Điều này chủ yếu do sự xuất hiện của thực vật
biểu sinh, mất sắc tố, mềm mô, tàn lụi chung, trái mùa và vị trí nuôi
trồng không tốt.
"Chết đột ngột" - Trước tiên nó thể hiện bằng việc mất màu mà điều này
chủ yếu do các dòng nước ngọt đổ về.
Đứt đỉnh - Điều này xảy ra khi đỉnh sinh trưởng bị cắn đứt ra. Tất cả
các đỉnh của cây đều bị cắt đứt nhưng một số mầm mới sẽ sinh trưởng
trở lại. Đứt đỉnh thường xảy ra do cá dìa ...
Mất sắc tố của cây rong có thể trở nên nghiêm trọng và tỷ lệ sống sẽ
rất thấp.Ở giai đoạn này nếu cây được di chuyển tới “nước tốt” chúng
có thể hồi phục lại
Triệu chứng "kem" - Triệu chứng phổ biến nhất của tình trạng bất ổn
thường được đề cập đến là một căn bệnh; khi các mảng trắng xuất hiện
giữa các nhánh, nằm phía gốc của tản. Đó là hiện tượng gây ra bởi độ
mặn (< 20‰), nhiệt độ cao(>350C) và cường độ chiếu sáng thấp. Khi cây
rong ở trong tình trạng bất ổn (stress), nó tiết ra một chất hữu cơ và
sự xuất hiện của vi khuẩn cơ hội sống trong tầng nước làm các nhánh bị
trắng. Làm cho cây bị yếu đi và thậm chí bị hao mòn dần tế bào và gây
nên những đoạn gãy.
"Đỉnh thẫm màu" - do quá trình lão hóa và nước lạnh. Nó làm mất màu và
do vậy không thể đồng hóa tuy nhiên các đỉnh của rong có thể phát
triển trở lại.
Sự suy giảm do địch hại ăn rong
Địch hại ăn rong có thể tàn phá các trại nuôi trồng rong. Chúng có
thể ăn sạch toàn bộ rong trong một khu nuôi trồng đó bao gồm những
loài rất nhỏ (ốc táo, A) đến những loài khá lớn (rùa xanh Chelonia
mydas, B). Chúng thường xuất hiện ở những nơi trồng rong gần đáy cỏ
biển và những vùng khác gần các loài động vật ăn thực vật. Trong một
số trường hợp một số loài ăn thực vật di chuyển tới các trang trại
nuôi trồng.
Hình 3.3: Địch hại ăn rong
Địch hại ăn rong xuất hiện dưới hai dạng:
Địch hại cỡ nhỏ (micrograzers): Là những động vật có chiều dài cơ thể
nhỏ hơn 2 cm. Chúng sống trên tản rong và ăn rong (bọn giun tròn
Nematoda và giai đoạn phù du của bọn da gai Echinodermata). Cầu gai
(Tripneustes) và Synaptidae (Ophiodesma) sống trên rong sụn ở giai
đoạn phù du.
Địch hại cỡ lớn (macrograzers): Thường là những động vật trưởng thành
có kích thước lớn hơn 5 cm (chẳng hạn như bọn cầu gai, cá…). Loài sao
biển phổ biến Protoreaster nodusus bò vào các đám rong ở những vùng có
các nền đáy có nhiều bọn vi tảo phân bố. Cầu gai Diadema hoặc
Echinothrix thường xuất hiện dưới dạng một tập đoàn, chúng gây tác
động kết hợp với bọn Tripneustes và Protoreaster.
Cá dìa (Siganidae), cá xem sao (Tetraodontidae), cá bác sỹ
(Acanthuridae) và cá vẹt là các địch hại cỡ lớn phổ biến. Cá dìa lớn
lên, chúng ăn rong sụn có trong các quần thể cỏ biển. Khi cá dìa hoặc
cá bác sỹ ở giai đoạn trưởng thành, chúng cắn đứt các nhánh rong bắt
đầu ở đỉnh cho đến lúc chạm đến lưới bảo vệ.
Nếu rong không bị ăn sạch, chúng có thể tái sinh những nhánh non mới.
Sự xuất hiện thường xuyên của con người hoặc ngăn lưới bảo vệ sẽ hạn
chế địch hại ăn rong.
2.1.3. Các chỉ thị sinh thái trong lựa chọn vị trí
Nước trong và sạch; độ mặn > 30‰; lưu chuyển nước 20 - 40 m/phút; độ
sâu mức nước lúc triều thấp nhất >30 cm; vịnh được che chắn.
2.2. Chuẩn bị cây giống
Dùng dao bén cắt chọn các nhánh nhỏ, mỗi nhánh khoảng 100 - 150 g.
Dùng dây nhựa mềm buộc từng cá thể theo kiểu thắt nơ. Nhúng cây rong
vào nước biển để tránh bị khô.
2.3. Kỹ thuật trồng thương phẩm
Phạm vi các vị trí có thể tiến hành nuôi trồng và định hướng của hệ
thống trồng rong được chỉ ra ở hình dưới
Hình 3.7: Vị trí và định hướng hệ thống trồng rong biển
Lựa chọn và định hướng các vị trí chịu ảnh hưởng bởi những nhân tố bao
gồm không gian nuôi trồng, lưu tốc dòng chảy, độ sâu mực nước, giá
thành vật liệu và nguyên liệu.
Xu hướng của các hệ thống nuôi trồng là trồng bằng dây đơn ngang trên
mặt biển và dưới đáy biển tuy nhiên một số vị trí có thể tiến hành
trồng bằng phương pháp dây đơn dọc.
Hình 3.8: Hệ thống dây đơn Hình 3.9: Hệ thống dây dọc với
dây treo
ngang ở các trang trại Indonesian từ đỉnh xuống đáy
(chúng được cố định
dưới đáy biển và lơ lửng nhờ phao nổi)
2.3.1. Chuẩn bị vật liệu nuôi trồng
Dây giống: Bất kỳ loại nào trong các vật liệu sau đây đều có thể được
sử dụng: dây cước # 110, dây polyethylene # 6-7, dây nhựa dẹp.
Dây buộc: Dây nhựa mềm, dây cước # 160.
Vật liệu nâng đỡ: Tre, cọc đước, thanh thép, dây polythylene # 12
hoặc dây polythylene # 14.
Phao: Thùng phuy tròn hoặc vuông, chai nhựa rỗng.
2.3.2. Nuôi trồng đơn
2.3.2.1. Phương pháp dây đơn ngang cố định
Hình 3.10: Hệ thống dây đơn ngang cố định
Vị trí nuôi trồng: Nên có các đặc điểm: Nước cạn; Có sự hiện diện của
thảm cỏ biển; Đáy cát - san hô; Có sự hiện diện của rong biển khác như
là chỉ thị về tăng trưởng; Nước sạch có ít bùn.
Công trình: Các cọc đước dài 60-80 cm, đường kính 3-4 cm được đóng
xuống bãi nuôi trồng. Cọc được đóng thành hàng: khoảng cách giữa các
cọc kế nhau trong một hàng là 1 m; khoảng cách giữa hai hàng là 10 m.
Dây giống là dây polyethylene, dài 10,5 - 20,5 m. Dây giống được buộc
ở hai hàng đối nhau. Khoảng cách từ dây giống đến đáy là 0,3 - 0,5 m.
Kỹ thuật ra giống: Có hai cách ra giống như sau:
- Rong giống trước tiên được buộc bằng dây nhựa mềm theo kiểu thắt nơ
ở giữa các nhánh gốc. Việc buộc rong vào dây giống được tiến hành trên
cạn, sau đó dây giống có rong sẽ được cố định vào hai cọc ở vị trí
nuôi trồng.
- Cả hai đầu của dây giống được buộc vào hai cọc trước đó đã được
đóng vào nền đáy của vị trí nuôi trồng. Từng cây rong giống sau đó
được buộc vào dây giống (10-20 m) cách nhau khoảng 15 -20 cm. Phương
pháp này chỉ tiện lợi khi triều thấp nhất.
Hình 3.11: Kỹ thuật ra giống
Hệ thống “thòng lọng” được dùng để tiến hành thắt nút cành giâm (dùng
ở Bali hoặc Madura). Dây bện và cái móc có thể được dùng lại nhiều
lần. “Thọng lọng” dài khoảng 2cm được buộc chặt từ đầu đên cuối dây
bện khoảng cách 15 -20 cm (A). Phần cuối của thòng lọng được nới lỏng
về phía trái. Xuyên dây qua thòng lọng; chèn cây giống; kéo dây chặt
lại (B).
Hình 3.12: Các phương pháp ra giống
Các dây đơn được treo lơ lửng trên đáy biển nhờ đá (A; India; 2003)
hoặc cọc làm bằng xi măng, thép hoặc gỗ chống mục nát (B; Tanzania;
1991). Cọc thường dùng ở những nơi có đáy biển mềm, thường được dóng
hoặc khoan những lỗ trống (C, Bali, right; ca. 1989).
Chăm sóc quản lý: Công việc chăm sóc được tiến hành hàng ngày. Khi
cây rong đạt từ 1 kg trở lên thì có thể thu tỉa. Sau khi nuôi trồng 2-
3 tháng, rong có thể được thu kiểu tổng thu.
Năng suất tiềm năng: 9300 kg rong khô/ha.
2.3.2.2. Phương pháp dây đơn ngang nổi
Hệ thống dây đơn ngắn và dây đơn dài thường được dùng ở những nơi rong
sinh trưởng ở vùng nước sâu. Hệ thống này là một trong những hệ thống
thân thiện với môi trường.
Vị trí nuôi trồng: Nên có các đặc điểm sau: Nước sâu (5 - 10 m); Nước
có dòng chảy trung bình đến mạnh (cần hệ thống nâng đỡ tốt). Có đáy
quá bùn hoặc cát nơi các đoạn rong không thể gắn được.
Thuyền được dùng để hạn chế các nguy hiểm từ đáy biển.
Công trình: Dây giống là dây polyethylene (PE) cỡ số 7-8, dài khoảng
30,5 m. Dây giống được nối với phao nhựa (ø = 30cm). Khoảng cách giữa
hai phao kế cận nhau là 0,30 m. Dây neo là dây PE cỡ số 14, chiều dài
dây neo L = 3,5 x độ sâu mực nước. Neo có thể là khối bê tông hoặc túi
cát.
Hình 3.13: Dây đơn căng trên đáy có phao (sóng yên)
Hình 3.14: Dây nổi (trồng ở vùng nước sâu)
Hình 3.15: Các dây đơn có thể được gắn với nhau nếu cần thiết.
Người ta còn phân biệt hai phương pháp: dây đơn ngang nổi độc lập và
dây đơn ngang nổi ghép.
Dây đơn ngang nổi độc lập Dây đơn ngang nổi ghép
Một dây giống được neo ở hai đầu. Cả hai đầu của nhiều dây giống bố
trí song song, được buộc vào các dây nâng đỡ - được neo vào đáy bằng
khối bê tông; hoặc hai đầu của dây giống được buộc riêng lẻ vào cọc
tre được bố trí vuông góc với các cọc neo.
Hệ thống dây đơn dài đựoc sử dụng ở những vùng nước sâu dưới vài mét.
Hình 3.16: Hệ thống dây dài được sử dụng ở Sabah, Malaysia.
Kỹ thuật ra giống: Rong giống trước tiên được buộc bằng dây nhựa mềm
theo kiểu thắt nơ ở giữa các nhánh gốc. Việc buộc rong vào dây giống
được tiến hành trên cạn sau đó dây giống có rong sẽ được cố định vào
vị trí nuôi trồng.
Chăm sóc quản lý: Công việc chăm sóc được tiến hành hàng ngày.
Hình 3.17: Quản lý chăm sóc các dây đơn ở Sabah, Malaysia; 1996.
Năng suất tiềm năng: 7150 kg rong khô/ha.
2.3.2.3. Phương pháp bè dây đơn
Hệ thống bè sử dụng thích hợp ở những nơi rong sinh trưởng trong vùng
có tre nhiều và cây lớn và những đáy biển không thích hợp hoặc quá
sâu. Hệ thống này cũng thân thiện với môi trường.
Công trình: Một đơn vị gồm bốn ống tre, mỗi ống dài 10 m, được sắp xếp
thành bè dạng hình vuông. Hai đầu của bè được neo lại. Dây giống là
những sợi dây bằng polyethylene, dài tối thiểu 10 m được buộc hai đầu
vào hai ống tre, hai dây liền nhau cách nhau khoảng 40 cm.
Kỹ thuật ra giống: Cây giống được gắn vào dây, cách nhau 15 cm. Có
khoảng 400 cây rong giống/bè. Bè có thể được cố định trước tại vị trí
nuôi trồng và rong giống được buộc vào sau. Hoặc rong giống được buộc
vào bè khi đang còn ở trên cạn sau đó bè có rong được đưa ra vị trí
nuôi trồng.
Hình 3.18: K. alvarezii sinh trưởng trên lưới ở Sabah, Malaysia (1977)
Chăm sóc quản lý: công việc chăm sóc được tiến hành hàng ngày.
Hình 3.19: Kiểm tra bè rong ở Bali, Indonesia
Năng suất tiềm năng: 7647 kg rong khô/ha.
Hình 3.20: Euchema denticulatum và K. alvarezii trồng trong bè ở
Philippin
2.3.2.4. Phương pháp bè dây ghép
Vị trí nuôi trồng: Nên có đặc điểm sau: Lưu chuyển nước ở mức trung
bình đến mạnh; nơi tránh sóng lớn; có chỗ thả neo tốt; nước sâu (> 10
m).
Công trình: 7 - 10 ống tre (đường kính 10-12 cm, dài 7-10 m) thiết kế
song song, được nối với nhau bằng những dây nhựa dẹt mà rong giống sẽ
được buộc vào đó. Các dây giống nằm phía biên thường được tạo thành từ
4-5 mảnh dây nhựa dẹt trong khi các dây còn lại nằm phía trong thường
gồm hai mảnh. Cả hai đầu của bè được neo bằng 5-6 sợi dây
polypropylene (cỡ số 14) bằng cách dùng hai thanh thép cho mỗi dây
neo. Tùy thuộc vào tốc độ dòng chảy, các bên của bè cũng có thể được
hỗ trợ bằng các dây neo và các thanh thép. Chiều dài của bè ghép trong
khoảng 50-70 m. Phao nhựa tròn (ø = 30 cm) được buộc vào điểm giữa của
mỗi đoạn dây giống sau hai tuần để giữ rong ở một độ sâu không đổi
(25-30cm) bên dưới mặt nước.
Kỹ thuật ra giống: Cây giống được gắn vào dây, cách nhau 15 cm.
Chăm sóc quản lý: Công việc chăm sóc được tiến hành hàng ngày
Năng suất tiềm năng: 9256 kg rong khô/ha.
2.3.3. Kỹ thuật nuôi trồng ghép
Được tiến hành trong các lồng có cá ăn thịt như cá mú, cá hồng hoặc
cá chẽm là đối tượng nuôi chính. Rong biển là sản phẩm phụ được trồng
trên bè đơn bên trong lồng.
Quan hệ cộng sinh giữa cá và rong biển:
- Cá cung cấp chất dinh dưỡng bổ sung thông qua các thức ăn thừa và
phân;
- Rong biển cung cấp chỗ ẩn nấp cho cá.
2.4. Một số kết quả nghiên cứu triển khai mô hình kỹ thuật trồng rong
sụn ở Việt Nam gần đây
Sau đây là một số kết quả thu được trong việc triển khai thử nghiệm
các mô hình trồng rong sụn của Phân viện Khoa học Vật liệu Nha Trang
tại các thủy vực ven biển ở miền Nam.
2.4.1. Các mô hình trồng rong sụn ở các vùng nước tự nhiên ven biển
* Mô hình trồng rong sụn ở vùng nước cạn (0,6-1,5 m khi thủy triều
rút)
Dàn căng trên đáy trồng ở vùng nước cạn (0,6-1,2 m khi triều rút),
trong mùa mát, nước lưu chuyển tốt, có sóng gió vừa.
Hình 3.21: Mô hình dàn căng trên đáy
Dàn căng trên đáy có phao trồng ở vùng nước cạn (0,6-1,5 m khi triều
rút), trong mùa nóng, nước lưu chuyển không tốt và ít sóng gió, đáy
không bằng phẳng; hoặc ở vùng nước sâu (> 2 m) trong các đầm phá kín -
nửa kín.
Các kỹ thuật cơ bản cho hai mô hình này bao gồm:
- Diện tích một đơn vị dàn trồng không nên quá lớn, chiều ngang 20 -
25 m, chiều dài 50 -100 m, do đó diện tích là 100 - 2500 m2. Với diện
tích này thì người nuôi có thể tiết kiệm vật tư, dễ chăm sóc quản lý.
Hình 3.22: Mô hình dàn căng trên đáy có phao
- Các dàn rong đặt cách nhau (phải, trái, trên, dưới) ít nhất 2-3 m để
đảm bảo nước có thể lưu chuyển đều vào các dàn.
- Khối lượng giống ban đầu khoảng 80 g/búi.
- Khoảng cách rong giống là 20cm, khoảng cách giữa các dây rong là
35- 40cm.
- Các cây rong được bố trí song song với hướng sóng gió.
- Trong mô hình dàn căng trên đáy có phao, dây rong nên đặt gần mặt
nước (khoảng 20 - 30 cm) để tận dụng sự dao động của sóng bề mặt đồng
thời tránh nhiệt độ cao kéo dài do nền đáy hấp thụ nhiệt và giữ lại.
- Để hạn chế cá ăn rong có thể dùng lưới (mắt lưới 1-1,5 cm) bao xung
quanh dàn, song thường xuyên giũ lưới khỏi chất huyền phù bám lấp kín
lỗ lưới.
- Thời gian trồng: 60 ngày.
* Các mô hình trồng rong sụn ở vùng nước sâu (2-3 m trở lên)
Mô hình này cho phép trồng rong sụn ở các vùng nước sâu (> 2 m) ở
trong các đầm phá lớn, ven biển hở và các đảo nhiều sóng gió. Bao gồm:
Dàn phao có diện tích nhỏ (1000 m2)
Dàn phao có diện tích lớn (2500 m2).
Các kỹ thuật cơ bản:
- Dây làm khung chính ø = 12mm, dây ngang có phao nhỏ (dây đỡ) ø =
3-4mm.
- Chiều ngang dàn 20-25 m, chiều dài có thể dài ngắn tùy vào điều
kiện vùng nước nuôi trồng, bình quân 50-100 m, diện tích thích hợp là
1000 - 3000 m2/dàn.
- Dùng neo hay cọc gỗ, cọc sắt, đá, bao cát để giữ dàn.
- Giữ dàn cách mặt nước 20 - 30 cm (trong mùa mát hoặc mùa nóng, nước
lưu chuyển tốt, có sóng gió), 60 - 80 cm (trong mùa nóng, nước lưu
chuyển không tốt, ít sóng gió).
Khoảng cách cây rong giống là 20 cm, khoảng cách giữa các dây giống
là 25 - 30 cm (mùa mát), 35 - 40 cm (mùa nóng).
Thời gian trồng đến khi thu hoạch: 45-50 ngày.
2.4.2. Mô hình trồng rong sụn luân canh trong ao đầm nuôi tôm sú ven
biển
Mô hình này áp dụng để trồng rong sụn luân canh trong ao đìa nuôi tôm
sú ven biển trong thời gian nghỉ nuôi tôm (thường từ tháng 10 đến
tháng 3 năm sau).
Các kỹ thuật cơ bản:
- Chọn các ao có thể thay nước (bằng nước thủy triều) ít nhất 15 - 20
ngày/ tháng, đáy ao ít bùn.
- Dàn trồng được làm theo kiểu dàn căng trên đáy hoặc dàn trên đáy có
phao, diện tích các dàn thực trồng chiếm 60% tổng diện tích mặt nước
của ao tôm.
- Mật độ giống bình quân 5 tấn rong/ha (khoảng cách các búi rong
giống là 30 cm, khoảng cách các dây rong là 40 cm).
- Rong được bố trí cách đáy 30-40 cm tùy vào khả năng mức nước lấy
vào và giữ trong ao cao hay thấp hoặc dây rong được giữ cách mặt nước
30 cm bằng hệ thống phao.
- Thay nước hàng ngàag khi triều lên.
- Số vụ trồng và thu hoạch: 2 vụ, mỗi vụ 2,5 tháng.
2.4.3. Những kết quả triển khai các mô hình trong các vùng nước tự
nhiên
* Các mô hình trồng trong các vùng nước tự nhiên
Các mô hình kỹ thuật trên đã được triển khai trồng trên diện rộng ở
đầm Sơn Hải, vùng nước sâu ven biển Sơn Hải (Ninh Phước), vùng nước
nông đầm Nại (Ninh Hải), tỉnh Ninh Thuận; vùng nước nông Vĩnh Thọ,
Vĩnh Phước, vùng nước sâu Vĩnh Thạnh (Vạn Ninh), vùng nước nông ven
đầm Thủy Triều (Cam Ranh), tỉnh Khánh Hòa. Các địa phương khác (Phú
Yên, Bình Định, Đà Nẵng) cũng đang áp dụng các mô hình này trong
chương trình phát triển trồng rong sụn.
Có hai mùa rõ rệt trong trồng rong sụn ven biển Nam Trung Bộ: mùa từ
tháng 10 đến tháng 3 năm sau là các tháng mùa mát trong năm (nhiệt độ
nước bình quân thường dưới 300C), rong sụn có tốc độ tăng trưởng cao
(6-8%/ngày), sau 50-60 ngày trồng, khối lượng rong tăng bình quân 8
(10) lần so với lượng giống ban đầu, ít xảy ra các hiện tượng nguy hại
cho sản lượng (ví dụ: bệnh…) và là mùa trồng chính của rong sụn. Mùa
từ tháng 4 đến tháng 9 là là các tháng nắng nóng đặc biệt trong tháng
5-6, bệnh trắng nhũn thân (kem) dễ xuất hiện, nhất là trong các vùng
trồng có dòng chảy yếu hoặc quá kín gió.
Từ cuối năm 2002, khi đầu ra của của rong sụn cho xuất khẩu đã được
mở ra cần với số lượng yêu cầu lớn và ổn định với giá bình quân 5000đ/
kg, nhiều địa phương đã khởi động các chương trình đầu tư phát triển
trồng và thu mua rong sụn. Các mô hình kỹ thuật trồng trên đã góp phần
không nhỏ trong việc quy hoạch vùng trồng, tập huấn hướng dẫn kỹ thuật
cho người trồng rong.
* Mô hình trồng luân canh rong sụn trong ao đìa nuôi tôm sú ven biển
Mô hình này đã được tiến hành thử nghiệm theo đề tài của Phân viện
vào năm 2002 và sau đó có 15 hộ nuôi tôm ở Ninh Thuận đã triển khai mô
hình này ven đầm Nại (Ninh Hải). Kết quả bước đầu cho thấy có hiệu quả
kinh tế và môi trường.
2.5. Kỹ thuật thu hoạch và sơ chế
2.5.1. Thu hoạch: Rong được thu hoạch sau 45-60 ngày trồng.
Toàn bộ cây rong được thu hoạch theo ba cách:
- Từng cây rong được tháo ra hoặc được cắt khỏi dây giống - cách này
thường được tiến hành đối với phương pháp bè ghép và phương pháp dây
đơn ngang nổi.
- Cả hai đầu của dây giống được tháo ra khỏi cọc - cách này được tiến
hành đối với phương pháp dây đơn ngang cố định và đôi khi phương pháp
dây đơn ngang nổi.
- Toàn bộ bè đơn được mang vào bờ và rong được tháo hoặc cắt từng cây
trên cạn.
2.5.2. Sơ chế
Rửa - Cây rong mới thu hoạch được rửa sạch để giữ sản phẩm chất lượng
cao. Loại bỏ rong tạp, cát, dây buộc rong, đá, gỗ…
Phơi khô - Có hai phương pháp phơi khô:
+ Phơi rong trên mặt đất - các tấm bạt, lưới hoặc tàu dừa có thể được
sử dụng; thường xuyên đảo rong sẽ giúp chóng khô.
+ Phơi rong cách mặt đất - dùng sạp hoặc dây treo; phương pháp này
cho phép không khí lưu chuyển nhanh hơn vì thế rút ngắn thời gian phơi
rong.
Trong quá trình phơi nên: Phơi ngay sau khi thu hoạch đó là ngay sau
khi rửa sạch; Giữ rong luôn sạch; Phơi dưới ánh nắng mặt trời 2-3
ngày; Giữ độ ẩm của rong ở mức 35-39%; Giữ rong tránh xa nước ngọt vì
nó sẽ làm giảm lượng muối, giảm chất lượng carrageenan và giảm tính ổn
định khi bảo quản.
Độ ẩm của rong rất quan trọng. Nó xác định giá bán trên thị trường.
Dưới đây là các mức độ ẩm mà chúng có thể giúp người trồng rong hiểu
được chất lượng rong của họ.
Bảng 3.1: Các mức độ ẩm và tình trạng tương ứng của rong sụn
Độ ẩm Tình trạng rong
> 40 Bị giảm phẩm chất trong thời gian bảo quản
35 - 39 Ổn định nhất
25 - 35 Tương đối ổn định trong thời gian trên 12 tháng (đủ thời gian
để đóng hàng)
15 - 25 Cực kỳ ổn định nhưng tản có thể quá giòn; ảnh hưởng đến việc
đóng hàng đè nặng hoặc nhanh.
< 15 Ổn định nhưng có thể gây ra các vấn đề trong quá trình chế biến
* Nguồn: Theo Hurtado A.Q, Agbayani, R.F, 2000
Bảo quản - Rong khô phải được bảo quản trong thời gian ngắn nhất có
thể được ở nơi sạch, mát, khô và thoáng khí; không bao giờ bảo quản
rong tươi đặc biệt là dồn lại thành đống; rong chưa đóng kiện thường
hút ẩm.
RONG HỒNG VÂN (Eucheuma)
1. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
1.1. Đặc điểm phân loại và phân bố
Hệ thống phân loại
Ngành: Rhodophyta
Lớp: Florideae
Bộ: Gigartinales
Họ: Solieriaceae
Giống: Eucheuma
Danh pháp: Tên đầu tiên dùng cho giống Eucheuma là Fucus trong Fucus
denticulatus N.L. Burman 1768 và việc sử dụng tính từ đặc thù này vẫn
còn được giữ lại cho đến hôm nay với tên Eucheuma denticulatum
(Burman) Collins et Hervey 1917. Năm 1847, J. Agardh tách ra và lập
giống có tên là Eucheuma gồm 7 loài. Năm 1989, dựa vào thành phần
carrageenan người ta tách từ giống Eucheuma thêm một giống mới là
Kappaphycus. Hiện nay có 48 loài thuộc 2 giống này trên thế giới
(Dawes, 1974). 6 loài hiện diện ở Philippine Eucheuma (Trono, 1974).
Đó là Eucheuma serra, E. arnoldii, E. procrusteanum, E. cottonii, E.
spinosum
Phân bố: Vùng nhiệt đới Châu Á nhất là vùng Tây Thái Bình Dương đặc
biệt ở Philippines, Indonesia.
1.2. Hình thái và cấu tạo
Hình thái: Cơ thể lớn có thể đạt khối lượng 1kg, nhiều loài như K.
cotonii có thể đạt 56 kg tươi/cá thể. Hình thái thay đổi lớn tùy theo
môi trường sống. Thân dạng bò hoặc thẳng.
Cấu tạo: Đây là giống rong đỏ đa trụ có nhiều tế bào giả nhu mô.
1.3. Đặc điểm sinh sản và vòng đời
Sinh sản: Chủ yếu là sinh sản vô tính, hữu tính.
Vòng đời: Là loài rong đỏ sống nhiều năm, trong vòng đời có 3 thế hệ
là cây giao tử, cây bào tử và cây bào tử quả. Trong mùa sinh sản không
phân biệt được cây bào tử và cây giao tử bằng hình dạng ngoài. Cây bào
tử ký sinh trên cây giao tử cái. Cây bào tử và cây giao tử của
Eucheuma xảy ra luân phiên trong vòng đời. Cây bào tử bốn thành thục
(2n) sinh sản (giảm phân) cho các bào tử bốn, chúng phát triển thành
cây giao tử đực và cái. Sau khi thụ tinh và cystocarp được hình thành
trên cây giao tử cái, bào tử quả (2n) được phóng ra và phát triển
thành cây bào tử bốn.
Hình 3.23: Vòng đời của rong hồng vân Eucheuma
2. KỸ THUẬT NUÔI TRỒNG
2.1. Lựa chọn vị trí
Nơi tránh sóng gió lớn, có sự trao đổi nước tốt, xa nguồn nước ngọt.
Đáy có san hô càng tốt, đặc biệt là bọn Acropoda. Độ trong h > 5 m,
những nơi có độ sâu lớn (chủ yếu với các phương pháp dàn bè), tỷ trọng
> 1,020 (S‰ > 30 ‰), độ sâu phải lớn hơn 1 m. Ít rong tạp, đặc biệt là
bọn Hypnea, Laurentica, Corallina, Caulerpa, Turbinaria… Ít địch hại
như bọn cầu gai, sao biển, cá dìa…
2.2. Chuẩn bị cây giống
Chọn cây rong khỏe mạnh, màu sắc tươi sáng. Nếu được thì lấy rong tại
chỗ nếu không thì phải vận chuyển. Vận chuyển trong thời gian dài,
thỉnh thoảng phải nhúng rong vào nước biển, để thoáng khí, khi đến vị
trí nuôi trồng phải đưa rong vào ngay nước biển. Sau đó, cắt rong
thành từng đoạn (công việc được tiến hành vào buổi sáng). Một kg rong
được cắt thành 80 - 100 đoạn nhỏ, mỗi đoạn cắt khoảng 10 - 12,5g.
2.3. Kỹ thuật trồng thương phẩm
2.3.1. Phương pháp dây đơn ngang cố định
Hình 3.24: Hệ thống dây đơn ngang cố định
Đây là phương pháp phổ biến được sử dụng để nuôi trồng Eucheuma và
Kappaphycus. Phương pháp này rẻ, dễ tiến hành mặc dầu không thâm canh
như phương pháp khác (phương pháp lưới).
Công trình: Các cọc đước dài 60 - 80 cm, đường kính 3 - 4 cm được
đóng xuống bãi nuôi trồng. Cọc được đóng thành hàng: khoảng cách giữa
các cọc kế nhau trong một hàng là 1 m; khoảng cách giữa hai hàng là 10
m. Dây giống là dây polyethylene dài 10,5 m. Dây giống được buộc ở hai
hàng đối nhau. Khoảng cách từ hai dây giống đến đáy là 0,3 - 0,5 m.
Kỹ thuật ra giống: Rong giống có kích cỡ 50 - 100 g được buộc vào dây
giống theo cách thắt nơ. Rong giống cách nhau 25 - 30 cm dọc theo dây
giống. Có 1000 dây giống/ha.
Chăm sóc quản lý: Công việc chăm sóc được tiến hành hàng ngày.
Năng suất tiềm năng: 6000 kg rong khô/ha.
Hình 3.25: Hệ thống dây đơn của Eucheuma (Veloso, 1990)
2.3.2. Phương pháp bè dây đơn
Hình 3.26: Hệ thống bè dây đơn của Eucheuma (Veloso, 1990)
Công trình: Sáu sợi dây ngắn bằng polyethylene, dài tối thiểu 10 m
được buộc hai đầu vào hai ống tre, mỗi ống dài 2 m. Ngoài ra, để tăng
sức nổi và đề phòng dây giống xoắn lại với nhau, người ta bố trí thêm
một ống tre ở điểm giữa. Toàn bộ thiết bị được gọi là một bè đơn dây
dài. Bốn góc của bè được neo lại.
Kỹ thuật ra giống: Cây giống được gắn vào dây, cách nhau 15 cm. Có
khoảng 400 cây rong giống/bè.
Chăm sóc quản lý: Công việc chăm sóc được tiến hành hàng ngày, nội
dung công việc tương tự như ở phương pháp lưới ngang bán cố định trong
trồng rong câu Gracilaria. Khi cây rong đạt từ 1 kg trở lên thì có thể
thu tỉa. Sau khi nuôi trồng 2 - 3 tháng, rong có thể được thu theo
kiểu tổng thu.
Năng suất tiềm năng: 100 bè đơn dây dài tương đương 1 ha nuôi trồng
theo phương pháp dây đơn ngang cố định.
2.3.3. Phương pháp bè dây ghép
Công trình: Bè dây gồm một khung gỗ có kích cỡ 3 x 4m, hai bên khung
gỗ là những ống tre hoặc phao để tăng sức nổi. Bè có 15 dây giống là
dây polyethylene, mỗi dây có chiều dài 4,5 m. Dây giống được buộc trên
khung gỗ cách nhau 20 cm. Năm bè hợp lại với nhau thành một đơn vị
trồng. bốn góc của đơn vị được neo lại.
Kỹ thuật ra giống: Cây giống được gắn vào dây theo kiểu thắt nơ, cách
nhau 15 cm. Có khoảng 300 - 400 cây rong giống/bè.
Chăm sóc quản lý: Công việc chăm sóc được tiến hành hàng ngày.
Cần lưu ý ở những vùng điều kiện không gian để trồng theo phương pháp
dây đơn ngang cố định không thỏa mãn hoặc những nơi phương pháp đó
không thể thực hiện được (do vấn đề địch hại nhiều, bệnh, những biến
động về lưu chuyển nước do gió mùa…) người ta thường dùng phương pháp
bè dây ngang. Phương pháp bè dây ngang có ưu điểm hạn chế địch hại ở
đáy do cây rong giống được nâng cao lên. Những cây gần bề mặt tầng
nước được tiếp xúc với sự lưu chuyển nước nhiều nhờ sóng qua đó việc
hấp thụ và chuyển hóa chất dinh dưỡng diễn ra tốt hơn. Mật độ rong
trong phương pháp bè dây ngang dày hơn phương pháp dây đơn ngang cố
định. Tuy nhiên không nên sử dụng phương pháp này ở nơi có hoạt động
sóng mạnh.
Năng suất tiềm năng: 20 đơn vị tương đương với 1 ha nuôi trồng theo
phương pháp dây đơn ngang cố định.
2.4. Kỹ thuật thu hoạch và sơ chế
2.4.1. Thu hoạch
Tiêu chuẩn rong thu hoạch: Rong phải có khối lượng tối thiểu là 1 kg/
cây rong.
Thời gian: Thời gian tính từ lúc ra giống đến lúc thu hoạch dài hay
ngắn tùy thuộc vào tốc độ tăng trưởng của cây rong trong điều kiện
sinh thái đặc thù của vị trí nuôi trồng. Ở vị trí nuôi trồng tốt, rong
có thể được thu hoạch sau 6 - 8 tuần, còn thường là sau 2 - 3 tháng.
Tiến hành: Thu toàn bộ rong và trồng lại bằng những đoạn rong mới.
Những cây rong tốt nhất được giữ lại dùng làm giống cho vụ sau.
2.4.2. Sơ chế
Cây rong được rửa sạch, loại bỏ rong tạp, động vật… Sau đó được phơi
dưới ánh sáng mặt trời cho đến lúc khô, tránh bị mưa. Nếu trời nóng,
rong có thể được phơi trong thời gian 2 - 3 ngày. Rong khô nên còn độ
ẩm là 40 %. Rong khô được bó chặt trong những túi nhựa và bảo quản nơi
khô ráo trước khi được chuyển đi bán.
Hiện nay, Eucheuma được bán dưới bốn dạng: rong nguyên liệu khô,
miếng nhỏ được xử lý kiềm, bột sơ chế và carrageenan nguyên chất. Hai
dạng sau hiện đang được chuộng trong thương mại quốc tế.
CHƯƠNG 4: KỸ THUẬT NUÔI TRỒNG RONG NGUYÊN LIỆU CHIẾT XUẤT ALGINATE
(ALGINOPHYTES)
Alginate là những thành phần cấu tạo thành tế bào của rong nâu
(Phaeophyta). Chúng là các hetero-polysaccharides tạo chuỗi được hình
thành từ các khối mannuronic acid và guluronic acid. Thành phần của
các khối phụ thuộc vào loài và bộ phận của tản rong được dùng để chiết
xuất. Các thủ tục chiết xuất cũng có thể ảnh hưởng đến chất lượng
alginate. Các dạng alginate có trong hầu hết các loại rong nâu nhưng
chúng chủ yếu xuất hiện trong bọn rong thuộc hai bộ rong cỡ lớn là
Laminariales và Fucales với lượng có thể khai thác được (30-45 % trọng
lượng khô). Không phải tất cả rong nâu cỡ lớn đều có nhiều lượng
alginate, chẳng hạn Sargassum muticum chỉ chứa 16 -18 % alginate.
Các muối amonia và kim loại kiềm của alginic acid dễ bị hòa tan trong
nước lạnh ở các nồng độ thấp tạo ra các dung dịch nhớt. Các muối
alginate đặc biệt là sodium alginate được sử dụng rộng rãi trong công
nghiệp dệt vì chúng tạo thành một vật liệu hồ và làm bóng vải cực tốt.
Calcium alginate, tan trong nước, được sử dụng trong việc sản xuất lớp
bọc y tế dùng để chữa trị cho các vết cháy và các vết thương lớn nơi
mà một lớp bọc thông thường sẽ rất khó tháo ra sau này; calcium
alginate được đùn ép để tạo thành sợi và sau đó được dệt lại thành sản
phẩm giống như tấm gạc băng vết thương; các alginate có tỷ lệ cao về
các thành phần guluronic acid là thích hợp nhất cho mục đích này.
Alginate cũng được sử dụng làm chất hồ màu trong in hoa lên vải dệt,
chất làm cứng và làm dày sợi trong dệt; các alginate sau đó được hòa
tan, cho hiệu quả đặc biệt đối với vật liệu. Các hướng sử dụng khác
bao gồm đánh bóng, hồ giấy đặc biệt là các loại mực in, mỹ phẩm, thuốc
diệt côn trùng và các vật liệu dược phẩm…
Tất cả rong nâu đều chứa alginate nhưng có một sự biến thiên lớn về số
lượng và chất lượng keo. Rong thương phẩm chứa khoảng 20% alginate
khối lượng khô của rong. Chất lượng của alginate dựa trên độ nhớt được
tạo ra dưới dạng một dung dịch 1 % trong nước; độ nhớt càng cao, keo
được xem là có chất lượng cao. Rong nâu phát triển ở các vùng nước
lạnh thường cho alginate chất lượng tốt hơn vì rong phát triển ở các
vùng nước ôn đới đến nhiệt đới thường cho alginate có độ nhớt thấp.
Khoảng 32 - 39.000 tấn alginic acid mỗi năm được chiết xuất trên thế
giới. Các nhà sản xuất chính là Scotland, Nauy, Trung Quốc và Hoa Kỳ
sau đó là Nhật Bản, Chile và Pháp. Các loài rong thương phẩm chính là
Ascophyllum và Laminaria (Châu Âu, Trung Quốc), Lessonia (Nam Mỹ),
Ecklonia (Nam Phi), Durvillaea (Australia và Chile) và Macrocystis
(Mỹ). Các loài Sargassum và Turbinaria là được thu từ các vùng nước ấm
nhưng thường chỉ cung cấp alginate chất lượng thấp.
Tất cả các nguyên liệu chiết xuất alginate đều là rong biển tự nhiên
ngoại trừ rong bẹ Laminaria japonica được trồng tại Trung Quốc và
thường được sử dụng làm thực phẩm và chiết xuất alginate. Khoảng
85.000 tấn rong khô được thu và tạo ra 23.000 tấn alginate với giá trị
211 triệu đô la Mỹ hiện nay.
RONG BẸ (Laminaria)
1. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
1.1. Đặc điểm phân loại và phân bố
Hệ thống phân loại:
Ngành: Phaeophyta
Lớp: Phaeosporeae
Bộ: Laminariales
Họ: Laminariaceae
Giống: Laminaria
Loài: Laminaria japonica
Phân bố: Có hơn 50 loài rong bẹ Laminaria trên thế giới và khoảng 20
loài ở vùng Châu Á - Thái Bình Dương, trong đó loài L. japonica
(Aresch) là loài có giá trị kinh tế nhất. Rong thuộc giống Laminaria
được biết đến dưới những cái tên thông dụng sau: Ở Châu Âu và Bắc Mỹ
có tên "kelp"; ở Nhật có tên "kombu" (large cloth); ở Trung Quốc có
tên "Haidai" (sea ribbon).
L. japonica phân bố ở vùng nước lạnh ôn đới. Ở khu vực Châu Á - Thái
Bình Dương chúng phân bố về phía Nam đến vĩ độ 360 Bắc (Shangdong trở
lên); cho đến nay chúng được nuôi trồng đên 250 Bắc (Fujian) vì ảnh
hưởng lớn của nhiệt độ.
Rong phát triển tốt ở nơi có san hô, đá tảng, vùng dưới triều có độ
sâu 2-15m (max 30m), khoảng nhiệt độ thích nghi 3-200C. Rong ôn đới
sống nhiều năm.
1.2. Hình thái và cấu tạo
Hình thái: Kích thước lớn, cây rong dài 2 - 6 m, rộng 35 - 50 cm lúc
trưởng thành. Bề mặt khum vào lộ ra với ánh sáng. Trong tự nhiên, L.
japonica sống đến 3 năm, trong nuôi trồng người ta thu hoạch hằng năm:
8 tháng/vụ.
Cấu tạo
Phiến: Gồm 3 cấu trúc cơ bản
Lớp vỏ ngoài: Là lớp mô ngoài cùng bao gồm các tế bào đậu và tế bào
nhỏ sắp xếp đều đặn, cạnh nhau.
Tầng bì: Nằm dưới lớp vỏ ngoài , biệt hóa thành ngoại bì và nội bì.
Tế bào ở tầng ngoại bì nhỏ hơn tế bào ở tầng nội bì.
Tầng lõi: Gồm hai dạng tế bào đó là tế bào lõi và tế bào sợi dạng
kèn. Cả hai dạng tế bào này nhỏ hơn nhiều so với tế bào nội bì. Mạng
lưới tế bào kèn cho phép các sản phẩm dự trữ chuyển từ nơi này sang
nơi khác. Chúng hoạt động giống như hệ thống mạch ở thực vật cao đẳng.
Các tuyến keo: Phân bố khắp tầng nội bì, cuống, bàn bám.
Cấu trúc của vách tế bào: Vách tế bào có hai lớp, lớp sợi và lớp gian
bào không định hình. Lớp sợi chủ yếu gồm cellulose, chúng tạo thành
khung cấu trúc vững chắc của vách tế bào. Lớp gian bào tạo thành thể
gốc (chất cơ bản) mà các vách tế bào sợi được giữ chắc trong đó.
Hình 4.3 : Cấu tạo phiến của Laminaria japonica
A. Mặt cắt ngang của phiến: 1- Lớp vỏ ngoài, 2- Tầng ngoại bì, 3 -
Tầng nội bì và 4 - Tầng lõi - B. Mặt cắt dọc của phiến: 5 - Tế bào
liên kết dạng kèn - C. Tuyến keo - D. Mặt cắt ngang của phiến có tế
bào túi bào tử chứa bào tử động: 6 - Sợi dinh dưỡng và 7 - Túi bào tử
chứa bào tử động
1.3. Đặc điểm sinh sản và vòng đời
Sinh sản: Chủ yếu sinh sản vô tính, hữu tính.
Vòng đời: Cây bào tử thành thục chứa túi bào tử nằm gần gốc của
phiến. Sinh sản vô tính đã xảy ra hiện tượng giảm phân ở các túi bào
tử do đó các bào tử động có bộ nhiễm sắc thể n. Khi chín muồi, các bào
tử động phóng thích ra khỏi cây mẹ. Chúng phát triển hình thành nên
cây giao tử. Khi cây giao tử thành thục, tinh tử kết hợp với trứng tạo
thành hợp tử. Hợp tử qua quá trình phát triển hình thành nên cây bào
tử.
Trong thời gian sinh sản, tản bị tàn lụi và phân hủy hàng loạt. Cuống
còn lại mô phân sinh. Phiến rong khôi phục trở lại do hoạt động của mô
phân sinh lóng. Phiến mới được hình thành một cách chủ động, loại bỏ
dần phiến cũ. Phiến rong 2 tuổi dài hơn và có chất lượng hơn cây một
năm, sau khi phóng bào tử ở mùa thứ 2 rong sẽ chết.
Hình 4.4: Vòng đời của Laminaria japonica.
1- Bào tử động; 2 - Embryospore; 3. Sự nảy mầm của embryospore; 4.
Hình dạng của giao tử ; 5a. Giao tử cái; 5b. Giao tử đực; 6a. Túi
trứng trưởng thành; 6b. Sự phóng thích của tinh trùng; 7. Trứng trong
túi trứng; 8. Sperma-tozoid; 9. Sự thụ tinh; 10.Hợp tử; 11. 7 bào tử;
12. Bào tử; 13. Cây bào tử; 14. Cây bào tử giống và 15. Cây bào tử
trưởng thành và các túi bào tử.
Ảnh hưởng của nhiệt độ lên sinh trưởng, sinh sản của Laminaria
japonica
Cây bào tử không thể hoàn thành vòng đời ở các vĩ độ phía Nam nơi mà
nhiệt độ nước trên 18 - 200C trong thời gian dài. Nhiệt độ trên 270C
gây chết cây bào tử. Nhiệt độ trên 21 - 220C túi bào tử không sản xuất
bào tử động, cây giao tử ngừng sản xuất trứng.
Bảng 4.1: Ảnh hưởng của nhiệt độ lên sinh trưởng, sinh sản của
L.japonica
Loại cây Nhiệt dộ thích hợp cho sinh trưởng (0C) Nhiệt độ thích hợp
cho sinh sản (0C)
Cây giao tử <= 260C 5 - 150C (180C)
Cây bào tử 1 - 150C 15 - 200C
Ảnh hưởng của muối dinh dưỡng lên sinh trưởng của L. japonica
Muối dinh dưỡng chủ yếu là muối đạm, có ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng
của L. japonica. Hàm lượng đạm nhỏ hơn 0,005 mg/l gây hại cho rong. Ở
giai đoạn sinh trưởng, rong yêu cầu lượng đạm trên 0,02 mg/l. Do vậy,
ở vùng biển nghèo dinh dưỡng, người ta phải bón phân. Các phương pháp:
1. Dùng chai thấm được. 4. Tưới phân lỏng.
2. Dùng túi nhựa thấm được. 5. Hồ phân.
3. Phun phân lỏng. 6. Bón tự nhiên qua nuôi trồng ghép.
2. KỸ THUẬT NUÔI TRỒNG
2.1. Lựa chọn vị trí
Đáy bằng phẳng, bùn hoặc bùn cát. Độ sâu mực nước phụ thuộc chiều dài
dây giống và phương pháp nuôi trồng, thường d ≥ 5 m lúc triều rút,
khoảng 20 -30 m. Hoạt động thủy triều ở mức trung bình, hoạt động sóng
tương đối yên tĩnh. Lưu tốc dòng chảy thích hợp: 25 - 40 m/phút. Nhiệt
độ nước ≤ 26 0C. Độ trong lớn. Muối dinh dưỡng: nếu hàm lượng đạm [N]
< 0,01 mg/l thì phải bón phân.
Có hai vùng nước thường được chọn để nuôi trồng L. japonica:
Vùng 1: Độ sâu trên 20 m. Cần lưu ý bảo vệ công trình khỏi ảnh hưởng
của dòng triều, sức gió; bè nổi được bố trí cùng hướng với những dòng
chảy thường xuyên của biển, đại dương.
Vùng 2: Độ sâu 10 - 20 m. Hoạt động dòng chảy ở mức trung bình nhưng
vùng nuôi trồng cũng cần được che chắn.
2.2. Chuẩn bị cây giống
Vớt giống tự nhiên (giống mùa thu): Dùng vật bám là các thanh tre
được buộc lại như cái thang. Thang dây được treo ở bè để lấy giống bào
tử động khoảng giữa tháng 10 (ở Trung Quốc). Cây giống được ương 3
tháng, đến cuối tháng giêng đạt 8 - 10 cm. Chuyển cây giống sang trồng
thương phẩm, khoảng 5,5 tháng, tức đến giữa tháng 6 thì thu.
Sản xuất giống nhân tạo (giống mùa hè): Tiến hành trong phòng, kiểm
soát các yếu tố môi trường.
Vật bám: dây thừng hay sợi tổng hợp (P.E) quấn quanh khung bằng
plastic đặt sẵn trong bể, trong trại.
Rong bố mẹ: Cây rong có 2 năm tuổi phát triển tốt được thu trước khi
tổng thu hoạch. Rửa sạch bằng nước biển và kích thích khô vài giờ.
Rong đã qua xử lý được thu bào tử trong bể (t0: 150C, S‰: 32 - 33‰),
thời gian 30 - 60 phút.
Nước bào tử: có màu nâu được san qua bể thu bào tử (mật độ bào tử
5-10 bào tử/thị trường kính hiển vi), thời gian 24 giờ.
Ương giống
Điều kiện bể ương: S‰=32 - 33‰, pH: 8,2 - 8,4
Ánh sáng: Tuần 1: 2000lux; tuần 2: 4000 lux
Tuần 3 trở đi: 6000 lux; thời gian chiếu sáng: 12 h
Chăm sóc quản lý
Thay nước: Sau khi thu bào tử 2 tuần, thay 50% thể tích/tuần
Ở giai đoạn ương giống: rong có thể mắc một số bệnh do nấm
Acteromonas sp. Thân rong xuất hiện đốm đỏ sau đó lan rộng ra, rong
chết và tách khỏi vật bám.
Xử lý rong bố mẹ: Ngâm trong dung dịch hydrogen peroxide 1000ppm,
thời gian 10 phút, nhiệt độ 180C hoặc duy trì nhiệt độ nước < 100C.
Việc nuôi trồng được tiếp tục trong nước lạnh (nhân tạo) cho đến khi
cây đạt chiều dài 20 - 50 cm thì chuyển đi trồng thương phẩm ở bè.
2.3. Kỹ thuật trồng thương phẩm
Hình 4.5: Laminaria japonica trồng trong môi trường đá nhân tạo
2.3.1. Kỹ thuật trồng đơn
2.3.1.1. Phương pháp dây đơn ngang
Công trình: Dây phao dài 50 -120 m, hai đầu được neo lại. Dây giống
(P.E) được nối với dây phao qua các sợi dây treo. Các dây treo được bố
trí cách nhau 1,5 m. Độ dài dây treo tùy điều kiện thực tế của vùng
nước. Vật nặng có thể là đá .v.v. Phương pháp này thích hợp cho nơi
hoặc là vùng nước gần bờ, độ trong thấp hoặc là vùng nước sâu có dòng
chảy mạnh.
1- Dây phao; 2 - Phao; 3 - Dây neo; 4 - Neo; 5 - Dây treo; 6- Vật
nặng; 7 - Dây giống; 8 - Cây giống
1. Neo gỗ 2. Dây neo 3. Phao nổi 4.Dây treo
5. Dây giống 6. Cây giống 7. Vật nặng
1: Dây phao 2: Phao nổi 3: Dây treo 4: Dây neo 5: Cọc neo gỗ 6: Dây
nối 7: Cây rong giống 8: Dây treo 9: Vật nặng
Hình 4.6: Hệ thống dây đơn ngang
Ra giống: Giống được cố định trên dây giống bằng phương pháp gắn trực
tiếp. Hai rong giống liền kề nhau cách nhau khoảng 30 cm.
Chăm sóc quản lý: Công việc chăm sóc được tiến hành hàng ngày.
Ưu điểm: Phương pháp này đơn giản, tương đối an toàn, dễ quản lý. Mỗi
dây được neo độc lập do đó tránh hoặc giảm thiệt hại khi một dây bị
tác động mạnh của sóng, gió lớn. Ít có sức cản lại sóng, gió, nước
trồi so với bè. Do dây ngang nên cây nhận ánh sáng đồng nhất nên tốc
độ sinh trưởng qua một ngày cao và đều.
Nhược điểm: Phương pháp này chiếm nhiều không gian nuôi trồng do mật
độ nuôi trồng thấp. Để nâng sản lượng bằng với sản lượng của phương
pháp bè dây ngang thì cần một diện tích gấp bốn lần của phương pháp bè
dây ngang và giá thành cao.
2.3.1.2. Phương pháp bè dây ngang
Công trình: Một số khái niệm cần lưu ý liên quan đến phương pháp nuôi
trồng này. Đó là:
Bè cơ bản: Là dây phao đơn.
Khối cơ bản: Khi hai bè cơ bản được bố trí song song cách nhau 3 - 5
m nối với nhau thành một bè kép.
Đơn vị nuôi trồng: Gồm 10 - 40 dây phao đơn được bố trí theo kiểu của
khối cơ bản tạo nên một khối hình chữ nhật hay hình vuông. Người ta
còn bố trí thêm dây ngang cho vững chắc. Ngoài ra, để tăng sức nổi,
các ống tre có thể được thêm vào. Khu nuôi trồng thường gồm nhiều đơn
vị nuôi trồng bố trí cách nhau 30 - 40 m.
Hình 4.7: Hệ thống bè dây ngang
A - Bè cơ bản; B - Khối cơ bản: 1- Dây phao; 2 - Phao; 3 -Dây nổi; 4 -
Cây giống; 5 - Dây giống; 6 - Dây căng; 7- Vật nặng; 8 - Dây neo; 9 -
Neo
Ra giống: Giống được cố định trên dây giống bằng phương pháp gắn trực
tiếp. Hai rong giống liền kề nhau cách nhau khoảng 30 cm.
Chăm sóc quản lý: Công việc chăm sóc được tiến hành hàng ngày.
Phương pháp này có thể sử dụng ở vùng biển cạn có độ đục cao hoặc vùng
biển có dòng chảy yếu hoặc vùng biển sâu có dòng chảy mạnh.
Ưu điểm: Vùng biển cạn nước đục, tăng cường độ ánh sáng và đảm bảo
cây rong nhận ánh sáng đều.
Vùng biển có dòng chảy yếu, các dòng chảy tỏa đều cây giống hơn nhờ
đó cường độ ánh sáng và trao đổi muối dinh dưỡng đảm bảo thích hợp.
Vùng biển sâu có dòng chảy mạnh, cây luôn ngập trong các dòng nước,
nên gia tăng sự trao đổi khí và muối dinh dưỡng. Ánh sáng được khúc
xạ, tán xạ bởi sự lưu chuyển nước nên việc cung cấp ánh sáng đến cây
giống đều cây phát triển mạnh. Dòng chảy mạnh hạn chế rong tạp, sinh
vật địch hại, bùn bám vào rong. Dễ điều chỉnh độ dài các dây nối nên
dễ thay đổi độ sâu của dây giống.
Nhược điểm: Khi các dây phao được bố trí vuông góc dòng chảy, cây
giống có xu hướng xoắn lại với nhau, nhất là khi có dòng chảy mạnh lúc
mưa bão. Để cây phát triển tốt, cần phải sắp xếp lại, mất thời gian và
lao động. Ở giai đoạn đầu, cây giống phát triển mạnh nhưng bám chưa
chắc nên dễ bứt ra khỏi dây.
1. Neo gỗ 2. Dây neo 3. Phao nổi 4. Dây phao 5. Dây giống ngang
6. Cây giống 7. Mắt nối hoặc thắt nút
1: Dây phao 2: Đoạn tre nổi 3: Dây neo 4: Cọc neo gỗ 5: Dây giống
Hình 4.8: Hệ thống bè dây ngang Laminaria japonica (Yanti, China).
2.3.1.3. Phương pháp dây dọc
Công trình: Dây giống bằng sợi tổng hợp polypropylene (có đường kính
2r = 9 - 16 mm và chiều dài thường là L = 2,5 - 4,5 m) được treo dọc
từ dây chính cách nhau 2 m. Một đầu dây giống được nối với dây treo,
đầu kia nối với dây căng có gắn vật nặng (~ 400g). Dây chính thường
được treo ở độ sâu 2 m, tính từ bề mặt; dây chính là sợi tổng hợp (2r
= 12 mm và L = 120 m). Hai đầu dây chính được nối với hai dây neo
chính, bằng sợi tổng hợp (2r = 24 mm, L = 3 x độ sâu); hai dây neo này
được nối với neo là những khối bê tông 2 - 3 tấn. Hai bên dây chính,
cứ cách 15 m lại có hai dây neo bên, cũng bằng sợi tổng hợp (2r = 18 -
20 mm, L = 1,5 x độ sâu); hai dây neo này được nối với neo bên là
những khối bê tông nặng khoảng 1 tấn.
Ra giống: Giống được cố định trên dây giống bằng phương pháp gắn trực
tiếp. Hai rong giống liền kề nhau cách nhau khoảng 30 cm.
Chăm sóc quản lý: Công việc chăm sóc được tiến hành hàng ngày. Cần
lưu ý phương pháp này thường cho năng suất cao nhưng chất lượng rong
không được tốt bằng hai phương pháp trên do rong không được nhận ánh
sáng đều, cho nên cần phải đảo dây giống định kỳ (phần dưới lên trên,
phần trên xuống dưới).
Hình 4.9: Phương pháp ra giống trên dây dọc
2.3.2. Kỹ thuật nuôi trồng ghép
2.3.2.1. Nuôi trồng ghép Laminaria và Vẹm
Hai dây phao, mỗi dây dài 60 - 65 m, được bố trí song song, cách nhau
5 m và liên kết với nhau qua các dây giống rong. Dây giống rong dài
1,5 m; có 30 dây trên mỗi dây phao và mỗi dây giống được gắn 34 cây
rong. Dây giống vẹm dài 1,2 m; có 40 dây trên một dây phao; và mỗi dây
mang 800 - 1000 g giống. Tỉ lệ ghép có thể là: dây rong/dây vẹm = 1/1,
2/1, 3/2, 3/4, 1/2… tùy theo việc chọn đối tượng chính và điều kiện
vùng nước.
2.3.2.2. Nuôi trồng ghép Laminaria và Điệp
Bố trí bè như trên, chỉ có thay dây giống vẹm bằng túi lưới điệp nếu
điệp giống < 3 cm. Nếu điệp giống có kích thước ≥ 3 cm thì túi lưới
được thay bằng lồng lưới. Lồng được bố trí ở độ sâu 1,5 - 2 m. Lồng
gồm hai khung mây uốn tròn, được liên kết bởi lưới (phủ toàn bộ) và
dây nối. Một đầu dây nối được treo vật nặng, đầu kia để nối vào dây
phao của bè. Lồng dài 1 - 2 m, đường kính thiết diện là 40 - 50 cm.
Bên trong lồng có 6 - 8 đĩa nhựa được đục lỗ nhỏ. Trên mỗi đĩa nhựa bố
trí 40 con điệp giống (kích thước ≥ 3 cm).
Hình 4.11:Lồng lưới
1- Dây nối
2 – Lưới
3 - Đĩa nhựa
4 – Khung lồng
5 – Vật nặng
2.3.2.3. Nuôi trồng ghép Laminaria và rong Undaria
Phương pháp 1:
Tương tự nhu trồng ghép Laminaria và vẹm nhưng thay dây giống vẹm
bằng dây giống Undaria. Nghĩa là Undaria được trồng theo phương pháp
dây dọc trên cùng một bè. Laminaria được thu vào tháng 7 còn Undaria
đã được thu trước đó nên không ảnh hưởng lắm đến sức tải của bè.
Phương pháp 2:
Gồm 2 giai đoạn, giai đoạn 1 cả Laminaria và Undaria đều được trồng
theo phương pháp dây dọc. Đến tháng 3, khi Undaria được thu hoạch thì
Laminaria được trồng theo phương pháp dây ngang, bằng cách nối các dây
giống ở các dây phao lại với nhau. Đến tháng 7 thì thu Laminaria. Giai
đoạn 2 bắt đầu khi chỉ còn Laminaria trên bè.
Phương pháp 3:
Gồm 3 giai đoạn. Giai đoạn 1 người ta trồng Laminaria và Undaria
riêng biệt theo phương pháp dây dọc trong thời gian 15 ngày. Giai đoạn
2, Undaria được trồng theo phương pháp dây ngang và các dây giống
Laminaria được chuyển đến, mắc vào bè Undaria. Đến khi Undaria được
thu hoạch thì chuyển sang giai đoạn 3. Ở giai đoạn này, Laminaria được
trồng theo phương pháp dây ngang cho đến khi thu hoạch.
Kể từ cây giống 8 - 10 cm, Undaria được trồng sau 3 tháng mới thu
hoạch, còn Lamianaria là 5,5 - 6 tháng.
2.3.3. Bệnh và biện pháp phòng trị
Người ta chia bệnh thành hai loại: Bệnh do môi trường và bệnh do bệnh
lý. Tuy nhiên, sự phân chia này không có ranh giới rõ ràng.
2.3.3.1. Bệnh thuộc về môi trường
Loại bệnh Đặc điểm Nguyên nhân Phòng trị
Bệnh chấm xanh Cơ thể rong xuất hiện chấm xanh Nghèo ánh sáng Nâng dây
giống, đổi dây giống
Bệnh chấm trắng Trên phiến xuất hiện chấm trắng Thay đổi độ trong,
thiếu dinh dưỡng Bón phân đạm, hạ thấp dây giống để giảm cường độ
chiếu sáng
Bệnh phòng rộp Cơ thể xuất hiện những chỗ phòng rộp lên Độ mặn giảm
sau khi mưa lớn Hạ dây giống một thời gian
Bệnh phiến xoắn lại Phiến rong xoắn lại đặc biệt ở mép Giàu ánh sáng
Hạ thấp dây giống 1- 2 m
2.3.3.2. Bệnh thuộc về bệnh lý
Loại bệnh Đặc điểm Nguyên nhân Phòng trị
Bệnh dị dạng Cơ thể có dạng khác thường H2S, vi khuẩn hoại sinh
Macrococcus Xử lý dây giống
Bệnh bàn bám Rong rời khỏi dây, rơi Pseudomonas và ánh sáng quá mức Xử
lý dây, hạ dây
2.4. Kỹ thuật thu hoạch và sơ chế
Thu hoạch: Thời gian thu hoạch rong bẹ Laminaria phụ thuộc độ dày của
phiến do đó phụ thuộc thời gian nuôi trồng, điều kiện ánh sáng thường
là sau tám tháng. Tỷ lệ khô : tươi tốt nhất là 1: 6,5. Thu kiểu tổng
thu.
Hình 4.12 : Thu hoạch và sơ chế rong bẹ Laminaria japonica
1- Rong bẹ sắp được thu hoạch; 2- Thu hoạch rong; 3-Phơi khô trên nền;
4- Phân loại sản phẩm
Sơ chế: Nếu trời nắng thì phơi. Thường sau 3 - 4 giờ phải đảo mặt,
ngày nắng nóng có thể đảo sau 2 - 3 giờ. Thời gian phơi xong cả hai
mặt là 5 - 6 giờ. Nếu trời mưa người ta dùng máy sấy. Sau khi phơi
khô, rong được cắt bỏ phần cuống và bàn bám, xếp phần thân lại cho vào
túi, bảo quản nơi khô ráo.
Hình 4.13: Rong bẹ Laminaria được phơi khô dưới ánh nắng mặt trời (ở
Nhật Bản)
RONG UNDA (Undaria)
1. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
1.1. Đặc điểm phân loại và phân bố
Hệ thống phân loại:
Ngành: Phaeophyta
Lớp: Phaeosporeae
Bộ: Laminariales
Họ: Laminariaceae
Giống: Undaria
Phân bố: Giống này gồm ba loài đó là Undaria pinnatifida, U.
undarioides và U. peteroseniana. Chúng phân bố ở vùng bờ biển ôn đới
Đông Bắc Á. Gần đây (1979), người ta phát hiện chúng ở Pháp và New
Zealand. Là loài rong sống nhiều năm, phát triển mạnh ở những vùng có
chất đáy là đá, ran san hô ở độ sâu 1- 8 m dưới triều (tối đa là 10
m), vùng biển mở hoặc gần cửa biển, nơi chịu ảnh hưởng của các dòng
hải lưu nước ấm.
1.2. Hình thái và cấu tạo
Cây có phiến phân chia kiểu lông chim, có gân giữa; cuống dẹp, bàn
bám dạng rễ giả. Chiều dài thân 1 - 2 m, rộng 0,6 - 1 m. Rong có màu
nâu đen, xanh nâu. Khi trưởng thành, lá bào tử gấp lại và lượn sóng,
hình thành ở hai bên cuống lá.
Có hai dạng cây: Cây phương nam và cây phương bắc. Cây phương bắc có
cuống dài hơn, lá bào tử ở vị trí thấp hơn, phân cắt sâu hơn.
Hình 4.14: Rong Undaria
1.3. Đặc điểm sinh sản và vòng đời
Sinh sản: Chủ yếu là sinh sản vô tính và hữu tính.
Vòng đời: Cây bào tử trưởng thành mang lá bào tử. Lá bào tử thành
thục chứa túi bào tử với các bào tử động (n).
Khi nhiệt độ nước trung bình 140C - 230C bào tử được phóng ra ngoài
môi trường để hình thành những cây bào tử ở phía dưới tản. Ở nhiệt độ
17-220C quá trình phóng bào tử xảy ra mạnh nhất. Sau khi phóng ra
ngoài môi trường bào tử sẽ bám vào vật bám và nảy mầm thành cây giao
tử, nhiệt độ nước < 240C. Rong sẽ ngừng sinh trưởng khi nhiệt độ >
240C và hình thành dạng giao tử nghỉ có thành tế bào dày, chịu được
nhiệt độ cao.
Cây giao tử thực hiện quá trình sinh sản hữu tính khi thành thục sinh
sản ở nhiệt độ khoảng 200C. Giao tử đực thụ tinh với trứng để hình
thành nên thể bào tử phát triển tốt ở nhiệt độ < 170C. Vào mùa xuân,
cây bào tử hình thành nên túi bào tử ở phần dưới của tản để tiếp tục
quá trình sinh sản hữu tính.
Hình 4.15: Vòng đời của Undaria
(1) Bào tử động ; (2, 3, 4) Sự nảy mầm ; (5, 6) Giao tử đực; (c) Tinh
trùng ; (7, 8, 9) Giao tử cái ; (a) Túi trứng ; (b) Trứng ; (10) Sự
thụ tinh ở noãn cầu ; (11) Bào tử ; (d) Rễ giả ; (12) Chồi mầm ; (13)
Cây bào tử ; (e) Lá bào tử
2. KỸ THUẬT NUÔI TRỒNG
2.1. Lựa chọn vị trí
Vùng nước được lựa chọn để nuôi trồng rong Undaria có những tiêu
chuẩn tương tự như vùng nước để nuôi trồng rong bẹ Laminaria japonica.
Đó là đáy bằng phẳng, bùn hoặc bùn cát. Độ sâu mực nước thường ≥ 5 m
khi triều rút, khoảng 20 -30 m. Hoạt động thủy triều ở mức trung bình,
hoạt động sóng tương đối yên tĩnh. Lưu tốc thích hợp 25 - 40 m/phút.
Nhiệt độ nước ≤ 26 0C. Độ trong lớn. Nơi tránh vùng nước ô nhiễm,
tránh nguồn nước ngọt.
Có hai vùng nước thường được chọn để nuôi trồng: Độ sâu trên 20 m và
10 - 20 m.
2.2. Chuẩn bị cây giống
Thu bào tử động: Lá bào tử thành thục (chứa túi bào tử) được thu vào
cuối xuân, đầu hè. Người ta chọn loại tốt, rửa sạch bằng nước biển.
Phơi khô lá 30 - 60 phút tùy thuộc độ ẩm không khí, trong bóng râm.
Cho lá bào tử được kích thích khô vào nước để phóng bào tử động. Vật
bám là khung nhựa 50 cm x 50 cm được căng sợi PE (ø = 3 - 5 cm), các
sợi cách nhau 1 cm.
Ương cây giao tử: Bào tử động đính vào sợi PE, phát triển thành cây
giao tử đực và cây giao tử cái. Những sợi này được gọi là dây giống.
Vật bám được đưa vào bể ương (tức khung dây), các điều kiện được khống
chế: tỷ trọng 1,020 trở lên, nhiệt độ nước 20 - 25 0C, cường độ ánh
sáng 2000 - 6000 lux. Thời gian ương là 3 tháng. Sau đó cây giao tử
phóng giao tử.
Khi trứng thụ tinh (hợp tử) nay mầm thì tăng cường độ ánh sáng lên
4000 - 10000lux; tăng trao đổi nước, muối dinh dưỡng; nhiệt độ khống
chế ở 20 0C. Hợp tử phát triển thành cây bào tử. Việc ương giống ngừng
lại khi cây giống dài 2 - 3 cm.
2.3. Kỹ thuật trồng thương phẩm
Hình 4.15: Undaria pinnatifida sinh trưởng trong vùng nước
2.3.1. Phương pháp dây đơn ngang
Nhìn chung, tương tự như phương pháp dây đơn ngang trong nuôi trồng
rong bẹ Laminaria. Dây phao dài 50 - 120 m, hai đầu được neo lại. Dây
giống (PE) được nối với dây phao qua các sợi dây treo. Các dây treo
được bố trí cách nhau 1,5 m. Độ dài dây treo tùy điều kiện thực tế của
vùng nước.
Hình 4.17: Hệ thống dây đơn ngang
1- Dây phao; 2 - Phao; 3 - Dây neo; 4 - Neo; 5 - Dây treo; 6 - Vật
nặng; 7 - Dây giống; 8 - Cây giống
2.3.2. Phương pháp bè dây ngang
Tương tự như phương pháp bè dây ngang trong nuôi trồng rong bẹ
Laminaria.
2.3.3. Phương pháp dây dọc
Công trình: Dây phao bằng polyethylene có độ dài tùy nhu cầu và điều
kiện thực tế. Hai đầu dây phao được neo lại. Trên dây phao có nhiều
phao; số lượng phao tùy theo sức nổi thực tế. Dây giống dài 2 m, được
bố trí cách nhau 0,5 - 1 m. Dây giống được nối với dây phao qua dây
nối. Dây nối có chiều dài khoảng ¼ độ trong của vùng nước. Đầu còn lại
của dây giống được buộc vật nặng, vật nặng có thể là đá khoảng 500 g.
Hình 4.18: Hệ thống dây dọc
1 - Dây phao; 2 - Phao; 3 - Dây nối; 4 - Rong giống; 5 - Dây giống; 6
- Dây căng; 7 - Vật nặng; 8 - Dây neo; 9 - Neo
Ra giống: Rong giống được gắn vào dây giống, khoảng 10 cây rong/dây
giống. Trên mỗi dây giống, cây rong cách nhau 18 - 20 cm.
Chăm sóc quản lý: Công việc chăm sóc được tiến hành hàng ngày.
Phương pháp này đơn giản, dễ tiến hành, rất thích hợp cho cây non.
Tuy nhiên, khi cây lớn lên thì cây ở phần thấp (gần đáy hơn) bị cây ở
phần cao (gần bề mặt) của dây giống che ánh sáng nên sinh trưởng của
rong không đều. Do đó, phương pháp này thường cho năng suất cao nhưng
chất lượng rong không được tốt bằng hai phương pháp trên vì rong không
được nhận ánh sáng đều vì thế cần phải đảo dây giống định kỳ (phần
dưới lên trên, phần trên xuống dưới).
2.4. Kỹ thuật thu hoạch và sơ chế
Thu hoạch: Thời gian nuôi trồng là ba tháng kể từ giai đoạn cây
giống. Khi đó kích thước rong đạt 0,5 - 1 m/dây. Thu theo lối tổng
thu. Trước đó, nếu có những cá thể phát triển vượt trội thì ta thu
tỉa. Undaria được cắt bằng lưỡi liềm sau khi dây giống được kéo lên
một bên thuyền.
Sơ chế: Có thể nhúng Undaria vào nước sôi rồi đem muối, bảo quản ở
nhiệt độ thấp như ở Nhật hoặc phơi khô như ở Hàn Quốc.
Hình 4.19: Phơi khô rong Undaria
CHƯƠNG 5: KỸ THUẬT NUÔI TRỒNG RONG THỰC PHẨM (EDIBLE SEAWEEDS)
Rong biển được sử dụng rộng rãi làm thực phẩm. Nhu cầu về rong làm
thực phẩm ở Châu Á chiếm tới 90% toàn thế giới nhưng ở Châu Âu chỉ
chiếm 1%. Tiêu thụ rong thực phẩm nhiều nhất là ở Nhật, Nam Triều
Tiên, Trung Quốc chiếm 70 - 90 nghìn tấn/ năm, ở Bắc Mỹ tiêu thụ 240
tấn/năm (riêng Pháp chiếm 24 tấn/năm).
Gần đây, rong biển trở thành nguồn thực phẩm quý giá và có nhu cầu
ngày càng tăng vì có nhiều ý kiến cho rằng rong là thực phẩm tự nhiên
quý có tác dụng đến sức khoẻ và sự ổn định của cơ thể con người. Như
đã biết giá trị của rong biển mà trước hết là rong câu được xác định
bằng hàm lượng các chất hữu cơ và khoáng chất cần thiết cho cơ thể
người chứa trong rong. Trong rong Laminaria có chứa nhiều cellulose,
gluxit, axit alginic, Fucoidin, các muối của axit alginic. Tính chống
nhiễm xạ cao của axit alginit và các muối của nó cũng được sử dụng
nhiều.
Giá trị của rong còn ở chỗ trong chúng chứa nhiều vitamin, iod,
sterol và các muối khoáng. Rong biển có hàm lượng lipid rất thấp (ít
hơn 2%). Nhưng axit licozopentae khá cao tới 20 - 25% tổng số lượng
các axit béo, trong rong biển còn tìm thấy nhiều Fucosterol và nhiều
nguyên tố vi lượng khác.
Do có giá trị dinh dưỡng và phòng chữa bệnh cao nên ngày nay nhiều
nước phát triển công nghiệp chế biến rong thành các sản phẩm thực
phẩm, thuốc để bán rộng rãi trong các cửa hàng thực phẩm và hiệu
thuốc. Sự chú ý được hướng tới chất lượng của các loài rong biển, các
sản phẩm cuối cùng và bán thành phẩm.
Nhờ các tính chất vật lý của mình, rong được chế biến cùng với đậu,
nhiều loại ngũ cốc và rau quả khác thành các món ăn đặc sắc, ở dang tự
nhiên hay qua sơ chế. Rong được sử dụng làm phụ gia trong các món ăn
chế biến từ cá, giáp xác, nhuyễn thể, giò chả, kẹo bánh, đồ uống.
Mức trung bình sử dụng rong biển vào mục đích thực phẩm hiện nay rất
chênh lệch nhau. Mức cao nhất thế giới là Nhật Bản từ 8 - 10 kg rong
khô/người/năm. Trong khi đó Pháp là quốc gia sử dụng rong thực phẩm
lớn nhất Châu Âu, chỉ tiêu này chỉ là 10 g/người/năm.
RONG GUỘT (Caulerpa)
Giống rong guột Caulerpa là thành phần rong biển phổ biến trong quần
xã rong biển nhiệt đới và á nhiệt đới. Rất nhiều loài trong giống rong
này có thể ăn được và sử dụng như những món ăn truyền thống dưới dạng
rau xanh hay salad ở Nhật Bản và Philippines. Rong nho Caulerpa
lentillifera là một loài được yêu thích nhất do có cấu trúc tản mềm và
mọng nước. Nhu cầu đối với sản phẩm tươi của loài rong này gia tăng ở
Nhật Bản và Philippines trong những năm gần đây.
Theo Tiến sĩ Nguyễn Hữu Đại, Trưởng phòng Thực vật Biển-Viện Hải
Dương học Nha Trang, loại rong nho này là nguồn thực phẩm có giá trị
và cung cấp nhiều vitamin A,C và các nguyên tố vi lượng như sắt, iod,
calcium. Rong nho rất dễ nuôi trồng, chúng mọc trên nền đáy là đất bùn
cát, tại vùng biển có độ mặn cao, ở những vũng vịnh kín sóng, nước
trong. Người Nhật gọi cây này là Umibudo (nho biển) vì chúng giống
những chùm nho nhưng kích thước nhỏ hơn, là giống rau cao cấp được
nhập từ Nhật Bản, sử dụng trong nhiều món ăn như: Salát, nấu canh, làm
gia vị, ăn sống hay nấu lẩu...
1. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
1.1. Đặc điểm phân loại và phân bố
Hệ thống phân loại
Ngành: Chlorophyta
Lớp: Chlorophyceae
Bộ: Siphonales
Họ: Caulerpaceae
Giống: Caulerpa
Phân bố: Có khoảng 20 loài thuộc giống rong này phân bố ở các vùng
biển nhiệt đới và á nhiệt đới nhưng chỉ có hai loài sau được nuôi
trồng làm thực phẩm đó là: Caulerpa lentillifera và C. racemosa. Ở
Việt Nam, loài này phân bố ở các vùng biển nước ấm phía Nam nhất là ở
Khánh Hòa. Hiện nay, Viện Hải dương học Nha Trang đã nuôi trồng thành
công loài rong nho Caulerpa lentillifera đã mở ra một triển vọng lớn
cho nghề trồng rong biển.
Hình 5.1: Một số loài rong thuộc giống Caulerpa
a. Caulerpa lentillifera
b. Caulerpa racemosa ecad macrodisca
c. Caulerpa racemosa ecad racemosa
d. Caulerpa serrulata
Caulerpa lentillifera phân bố chủ yếu ở những vùng có chất đáy bùn cát
trong những vùng vịnh và nơi nước nông có chất đáy cứng. Ở những vùng
này chúng phân bố thành từng thảm dày có màu xanh hoặc hình thành
những thảm không liên tục trên vật bám. Chúng cũng có thể sinh trưởng
ở những nơi có chất đáy là than bùn, cát và mảnh vụn san hô ở những
vùng hướng ra biển có chất đáy
cứng
1.2. Hình thái và cấu tạo
Hình thái: Nhìn bên ngoài rong có lá, thân và rễ biệt hóa. Các đại
diện hoặc các loài đặc trưng bao gồm: Caulerpa brachypus, Caulerpa
serrulata.
Hình 5.2: Hình dạng của rong Caulerpa
Caulerpa lentillifera có nhánh thẳng (cao khoảng 8 cm), được bao phủ
bởi những quả cầu nhỏ màu xanh (đường kính khoảng 2 mm), hình dạng
giống như trái nho. Mỗi nhánh nhỏ có một cuống và phần đầu cuống có
hình dùi trống, đường kính 1-3 mm. Các quả cầu khít lại ở phần gốc.
Loài này phân biệt với những loài khác trong giống Caulerpa bởi có sự
co thắt và sắp xếp khít nhau của cuống và các khối hình cầu trên đỉnh
các nhánh nhỏ trên thân mọc thẳng.
Cấu tạo: Loài rong có đặc trưng bởi đó là có tế bào đa nhân, giống
như một ống được lấp đầy tế bào chất.
1.3. Đặc điểm sinh sản và vòng đời
Sinh sản:
Sinh sản hữu tính: sinh sản hữu tính ở rong guột diễn ra trong khoảng
thời gian nước ấm từ mùa xuân đến mùa hè. Bề mặt của tản thành thục
thường có các kiểu hình mắt lưới với nhiều lỗ u lồi. Toàn bộ tế bào
chất được chuyển hóa thành các tế bào sinh sản và các giao tử (hai
tiên mao) đực và cái. Các giao tử này được phóng thích qua các u lồi,
kết hợp với nhau hình thành các hợp tử và bám vào vật bám để nảy mầm.
Rong bố mẹ nhạt màu dần và tàn lụi sau khi phóng giao tử.
Sinh sản dinh dưỡng: Sự phân chia tự nhiên của các tản rong guột diễn
ra liên tục trong các ao nuôi trồng. Mỗi một tản tách ra (dài 5 - 10
cm) lại tái sinh và tăng trưởng đến kích thước tối đa. Trong điều kiện
môi trường thuận lợi, thậm chí sau khi được làm đứt đoạn nhân tạo, các
nhánh sinh trưởng khoảng 2 cm/ngày. Đây là đặc điểm được lợi dụng
nhiều trong nuôi trồng. Một quả cầu đơn (đường kính 2 - 4 mm, theo
loài) có thể phát sinh thành một tản hoàn chỉnh. Vì thế, có thể bảo
quản nhũng lượng lớn các quả cầu nhỏ này làm giống. Chúng có thể phát
triển thành các tản vài cm sau khoảng hai tháng.
Vòng đời: Trong quá trình phát triển, trên cây bào tử (2n) các tế bào
sinh sản hình thành túi bào tử, sau đó giảm phân hình thành giao tử
đực và giao tử cái (n). Hai loại giao tử này kết hợp với nhau, hình
thành hợp tử (2n). Hợp tử không qua phân chia giảm nhiễm, phát triển
trực tiếp thành cây bào tử (2n). Trong chu kỳ sinh sản, có sự luân
phiên thay thế giữa cây bào tử và cây giao tử.
Hình 5.3: Vòng đời của Caulerpa taxifolia
2. KỸ THUẬT NUÔI TRỒNG
2.1. Lựa chọn vị trí
Với loài Caulerpa lentillifera dòng chảy thích hợp rất quan trọng.
Các quả cầu xanh của rong có màu thẫm hơn ở nơi có dòng chảy mạnh. Tốc
độ dòng chảy nên nằm trong khoảng 20- 30cm/giây. Độ mặn thích hợp nằm
trong khoảng 30 -35‰. Độ sâu thường ở mức 8 m. Đáy cát hoặc đáy bùn
nhưng không chọn những nơi có lớp mùn quá mềm và quá dày, vùng nước
yên tĩnh. Nhiệt độ nước trong khoảng 20 - 30 0C.
2.2. Chuẩn bị cây giống
Giống chủ yếu là do sinh sản dinh dưỡng (giống cây mầm). Rong giống
được cắt ra từ cây rong bố mẹ, rong giống thường là những đoạn rong
nhỏ (10 g).
2.3. Kỹ thuật trồng thương phẩm
2.3.1. Phương pháp trồng ao
Hình 5.4: Rong Caulerpa phát triển trong ao
Ao được chia nhỏ thành những ao có diện tích nhỏ 0,5-1.0 ha. Những
đơn vị nuôi nhỏ hơn phải được thiết kế sao cho bố trí hệ thống nước
chảy một cách dễ dàng. Hệ thống cống chính và phụ sao cho nước trao
đổi dễ dàng trong suốt quá trình cấp và thoát nước. Mỗi ao có một cống
cấp và thoát nước. Hệ thống kênh mương phụ phải được xây dựng dọc theo
bờ ao. Rong tương đối dễ trồng thông qua sinh sản dinh dưỡng trên nền
đáy bùn. Những ao mới có pH thấp tiến hành bón vôi có liều lượng
0,5-1.0 tấn/ha.
Tiến hành trồng rong:
Tháo nước trong ao ra còn khoảng 30 cm cho dễ trồng. Mật độ ban đầu:
100g/m2. Giống được cố định vào chất đáy như cấy lúa, khoảng cách giữa
2 bụi là 1m sau khi gieo giống xong tiến hành cấp nước vào ao với độ
sâu 0,5-0,8m.
Có thể để nguyên nước và dùng thuyền thả cho rong lắng xuống nhưng
phương pháp này không đều, rong dễ bị dồn tụ trong ao. Mức nước tốt
nhất là có thể nhìn thấy rong từ bề mặt.
Quản lý chăm sóc:
Nhiệt độ nước cao trên 380C và pH thay đổi lớn ảnh hưởng xấu đến rong.
Rong mẫn cảm với ánh sáng, nếu cường độ ánh sáng quá mạnh thì sinh
trưởng của rong bị kìm hãm. Điều này cho thấy, loài này sinh trưởng
tốt ở các vùng nước đục so với nước trong và chúng có thể tồn tại lâu
khi được bao phủ bởi lớp bùn, phù sa. Sau 45 ngày trồng có thể thu
hoạch đợt đầu tiên. Sau dó, cứ cách hai tuần thì thu một lần và thu
hầu như quanh năm trong nhiều năm. Tiến hành nhổ cả rễ cây rong lên.
Khi thu để lại 20 - 25% rong trong ao làm giống cho vụ sau. Rong được
rửa sạch bùn và các vật bẩn khác trước khi đưa vào sơ chế.
Hình 5.5: Hồ nuôi Caulerpa xây dựng ở Balong Bato, Philippines
2.3.2. Phương pháp trồng lập thể
Các lồng hình trụ nhiều ngăn được sử dụng để trồng rong. Các bó nhỏ
của tản rong (khoảng 10 g), được cắt thành những đoạn 10 cm, được buộc
vào các vị trí trung tâm của từng ngăn của lồng treo trong nước biển.
Các túi lưới chứa các mẫu rong cũng có thể được buộc xung quanh các
lồng. Lồng thường được bố trí ở độ sâu 8 m.
Lồng cần được vệ sinh định kỳ. Khi mưa to độ mặn tầng mặt giảm đột
ngột phải đưa lồng xuống sâu hơn 0,5 m (rong sẽ bị ảnh hưởng nếu S‰ <
25‰). Phần rong phát triển ra khỏi lồng được thu tỉa bằng dao. Phần
rong còn lại trong lồng nhanh chóng tái sinh và mỗi tháng có thể thu
tỉa nhiều lần. Sau khi thu hoạch, lồng còn rong hoặc là được treo lại
để thu lần nữa hoặc là được bảo quản cho đến vụ sau.
Hình 5.6: Hệ thống trồng lập thể
1- Phao ( = 60cm x 100cm); 2- Ống sắt bọc kẽm (= 50 mm); 3- Lồng lưới
nhiều ngăn (50 cm x 100cm); 4 - Dây neo; 5 - Neo
2.3.3. Phương pháp trồng lưới ngang cố định
Nếu bãi nuôi trồng quá cạn, không thể treo lồng được, thì lưới mùng
(1 m x 10 m) có các bó rong giống (khoảng 10g) được buộc ở các khoảng
cách 0,5 - 1 m được bố trí trên đáy, song song với dòng chảy. Lưới cần
được vệ sinh định kỳ.
2.3.4. Phương pháp trồng trong bể
Các thử nghiệm trồng loại rong này với quy mô nhỏ được tiến hành tại
Trạm Thực nghiệm thủy sản Okinawa trong các bể bê tông (1 x 2 m). Một
nhóm gồm mười mẫu rong (10 g) được buộc vào những viên đá nhỏ. Một
nhóm được bố trí trên nền của mỗi bể. Bể chứa nước biển có độ sâu 40
cm. Ba viên đá bọt được bố trí trong mỗi bể và nước được trao đổi từ
từ. Sự lưu chuyển nước trong bể khi chưa có rong là 5 và 6 cm/giây ở
nơi sát thành bể và có đá bọt. Kết quả cho thấy, tốc độ tăng trưởng
hàng ngày của rong là 2,76 - 2,92 %/ngày, tương tự với việc nuôi trồng
bằng lồng. Trong điều kiện tốt hơn (chẳng hạn tăng tốc độ dòng chảy và
trao đổi nước thường xuyên hơn) kết quả còn khả quan hơn. Điều đó cho
thấy, việc nuôi trồng loại này trong bể là khả thi.
Hình 5.7: Rong Caulerpa trồng trong bể
2.4. Kỹ thuật thu hoạch và sơ chế
Thu hoạch: Rong thường được thu tỉa. Rong được cắt tại bè trong bóng
râm. Bè cũng có một lồng đặt chính giữa để lưu tạm rong thu hoạch.
Hình 5.8: Thu hoạch Caulerpa lentillifera trong hồ
Sơ chế: Phương pháp bảo quản thường được áp dụng ở Nhật là cho rong
vào trong chai nước biển và giữ lạnh ở nhiệt độ 5 - 10 0C, rong sẽ
được giữ tươi trong khoảng ba tháng. Để bảo quản lâu và phân phối với
lượng lớn, người ta thường muối rong. Rong guột muối khử nước, nhanh
chóng phình ra và trở về hình dạng nguyên thủy khi thêm nước vào nhưng
tình trạng này chỉ duy trì được trong vài phút. Vì vậy, khi phân phối
dưới dạng các túi có thể dùng ngay, rong và gia vị kèm theo (ví dụ hỗn
hợp nước sốt giấm và nước tương) nên được đóng túi riêng.
RONG MỨT (Porphyra)
1. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
1.1. Đặc điểm phân loại và phân bố
Hệ thống phân loại
Ngành: Rhodophyta
Lớp: Protoflorideae
Bộ: Bangiales
Họ: Bangiaceae
Giống: Porphyra
Phân bố: Có khoảng 70 loài trên thế giới, phân bố chủ yếu ở vùng Châu
Á - Thái Bình Dương, đặc biệt là Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc. Đây
là những giống loài phân bố rộng. Phân bố ở nhiều vĩ độ khác nhau ở cả
ôn đới lẫn nhiệt đới.
Sự phân bố theo tuyến triều: Chủ yếu ở vùng trung và cao triều. Thích
sống bám trên nền chất đáy cứng đặc biệt là chất đá vôi, vỏ ĐVTM.
Thông thường rong mứt phân bố cùng một số loài rong xanh như Ulva,
Monostroma. Rong mứt thích nghi ở những vùng biển có độ trong cao,
thích nghi với sóng gió mạnh.
Ở Việt Nam có các loài: P. crispata phân bố từ vùng trung triều đến
cao triều; P. vietnamensis phân bố ở vùng trung triều; P.
suborbiculata phân bố ở vùng trung, hạ triều.
1.2. Hình thái và cấu tạo
Hình thái: Rong dạng phiến thùy nguyên hoặc xẻ thùy dạng bông hoa.
Phiến nhẵn, mép gấp hoặc nhăn gấp, thon nhỏ về phía gốc thành cuống
nhỏ và bàn bám.
Cấu tạo: Gốc, cuống và bàn bám là tập hợp các tế bào gốc dạng quả lê,
dạng con nòng nọc có đuôi dài xoắn bện với nhau. Phiến gồm 1 - 2 lớp
tế bào sắp xếp chặt khít nhau.
1.3. Đặc điểm sinh sản và vòng đời
Sinh sản: Sinh sản vô tính bằng bào tử đơn. Sinh sản hữu tính qua sự
kết hợp tinh tử và trứng.
Vòng đời: Các giao tử cái và đực được hình thành dọc theo các viền
mép từ tháng 12 đến tháng 3. Những phần này khác biệt rất rõ với các
mô tế bào dinh dưỡng xung quanh. Các túi tinh tử chín muồi được phóng
thích với số lượng lớn và di chuyển thụ động đến các giao tử cái. Sau
khi thụ tinh, trứng thụ tinh phân cắt để hình thành các bào tử quả.
Như vậy, sinh sản hữu tính bằng giao phối giữa tinh tử và trứng trong
quả bào, có thể hình thành trên cùng một cây hoặc ở các cây khác nhau,
phân bố dọc theo viền mép hoặc trên toàn bộ một phần nửa phiến. Sau
khi các tế bào sinh dục đã thoát ra khỏi thì viền mép, thậm chí cả nửa
phiến bị nhũn nát. Các bào tử quả được phóng thích, nảy mầm phát triển
đến giai đoạn Conchocelis dạng sợi sống trong vỏ động vật hai mảnh vỏ.
Từ cuối hè đến đầu thu, các túi bào tử vỏ (conchosporangia) được hình
thành trên các sợi Conchocelis. Từ cuối tháng 9 đến đầu tháng 10, các
bào tử vỏ được phóng thích, đính vào các vật bám, nảy mầm và phát
triển thành những tản rong con.
10 – 14 ngày sau khi nảy mầm, các bào tử đơn được hình thành trên các
viền mép trên của tản rong. Các bào tử đơn được phóng thích, cùng bám
vào vật bám và phát triển thành các tản rong mới. Đây là hình thức
sinh sản vô tính. Hình thức sinh sản này thường xảy ra khi môi trường
sống của rong có nhiều bất lợi đối với hình thức sinh sản hữu tính như
tỷ trọng của nước biển < 1,020, cường độ chiếu sáng < 1 - 1.500 lux,
nhiệt độ nước < 100C hoặc > 150C…
Trong chu kỳ sinh sản của rong mứt tồn tại ba loại cây:
Rong mứt lớn: có hình lá, thường gặp ở vụ đông xuân (tháng 12-3 năm
sau).
Rong mứt con: giống rong mứt lớn về hình dạng nhưng kích thước nhỏ hơn
nhiều. Thường xuất hiện vào mùa hè hoặc đầu màu thu, do các bào tử vỏ
hoạc bào tử đơn hình thành nên trong mùa hè chưa chuyển lên thành rong
mứt lớn. Nếu nhiệt độ cao trong mùa hè (25-300C đối với P.crispata) và
17-200C đối với P.tenera thì rong mứt con không phát triển thành rong
mứt lớn mà hình thành bào tử đơn. Khi nhiệt độ hạ dưới 250C đối với
P.crispata hay < 170C đối với P.tenera thì mứt con mới phát triển
thành rong mứt lớn.
Thể sợi: Có dạng sợi, do bào tử quả hình thành nên, sống nhiều năm
trong vỏ ĐVTM. Phát triển và phân nhánh không có quy luật hình thành
dạng thể sợi. Sự phát triển của thể sợi xảy ra trong vỏ ĐVTM phức tạp
gồm có 3 giai đoạn:
+ Xoắn đơn dạng sợi (Conchosporangia cell) có thể coi đây là tế bào mẹ
túi bào tử vỏ, cơ thể có dạng ống, được nảy mầm từ bào tử quả.
+ Giai đoạn túi bào tử xoắn: Có từ 1-2 tế bào lúc ban đầu cho tới hàng
trăm tế bào khi thành thục. Mọc thành cụm có dạng chùm, túi bào tử
xoắn chịu ảnh hưởng rất lớn bởi nhiệt độ. Chẳng hạn P.haitanensis hình
thành ở nhiệt độ >200C, P. yezoensis hình thành ở nhiệt độ <100C.
+ Giai đoạn bào tử kép: Khi rong phát triển đến giai đoạn thành thục
(tế bào có chiều dài và chiều rộng gần bằng nhau) mỗi tế bào có 2 bào
tử nên gọi là giai đoạn bào tử kép. Lúc này thể sợi có dạng ống, tế
bào thể sợi phát triển mạnh ra phái ngoài của vỏ ĐVTM tạo thành lớp
nhung mịn trên bề mặt vỏ sò. Khi thành thục bào tử phá vỡ cấu trúc
dạng ống phóng thích ra ngoài môi trường, bám vào vật bám và phát
triển thành cơ thể hình lá.
Hình 5.9: Vòng đời của Porphyra
2. KỸ THUẬT NUÔI TRỒNG
2.1. Lựa chọn vị trí
Vị trí nuôi trồng là nơi có đáy tương đối bằng phẳng. Chất đáy là đáy
cát, cát bùn. Mức triều thuộc vùng trung triều. Dòng chảy và hoạt động
của sóng ở mức trung bình, không quá yếu để tảo độc, bùn ảnh hưởng
rong nuôi trồng. Muối dinh dưỡng, cần lưu ý hàm lượng đạm như sau:
[N] > 0,2 mg/l vùng biển giàu dinh dưỡng.
[N] ~ 0,1 mg/l vùng biển trung bình về dinh dưỡng.
[N] < 0,04 mg/l vùng biển nghèo về dinh dưỡng.
Ở vùng biển giàu dinh dưỡng, rong có màu tím đen. Ở vùng biển nghèo
dinh dưỡng, rong có màu xanh vàng.
2.2. Chuẩn bị cây giống
Giai đoạn 1: Vớt giống bào tử quả bồi dưỡng thành thể sợi thành thục →
hình thành bào tử vỏ bám vào vật bám.
Giai đoạn 2: Bồi dưỡng bào tử vỏ thành rong mứt con
Vớt giống bào tử quả:
Chọn rong bố mẹ: kích thước lớn, màu đỏ sẫm, có mang túi quả bào,
không bị bệnh, được rửa sạch bằng nước biển.
Chọn vật bám: vỏ ngao, hàu... mới, đường kính 6-8cm. Vỏ ĐVTM trước khi
sử dụng phải được rửa sạch các vết bẩn và vết cơ còn sót lại, phân
loại kích cỡ vật bám, đối với những vật bám sử dụng cho phương pháp
trồng dàn phải được khoan lỗ và xâu vào dây, khoảng cách giữa 2 vỏ là
5-6cm, chiều dài dây giống 30-35 cm. Vỏ động vật thân mềm được xếp ở
đáy bể có sẵn nước biển khử trùng, mức nước 5 cm.
Tiến hành vớt giống: dùng phương pháp kích thích khô và thu giống bằng
phương pháp nước bào tử. "Nước bào tử quả" được tạo thành bằng cách
giã cây mẹ và lọc qua nước biển khử trùng. Tưới nước bào tử quả vào
cho bào tử quả bám lên vỏ động vật thân mềm.
Ương nuôi thể sợi và chăm sóc
Sau khi vớt giống 2-3 tuần trên bề mặt vỏ sò xuất hiện những chấm màu
đỏ đó chính là thể sợi nảy mầm từ bào tử quả, chúng có thể xuyên qua
vỏ động vật thân mềm. Điều kiện tốt cho việc xuyên qua vỏ: tỷ trọng
1,020; cường độ ánh sáng 1.000 - 1.500 lux, tránh ánh sáng trực tiếp.
Sau hai tuần, vỏ được xâu thành chuỗi và được treo trong những thanh
ngang trong các bể lớn: yêu cầu cường độ chiếu sáng 2000 - 3000lux, cứ
10-15 ngày rửa vỏ sò một lần để loại bỏ rong tạp. Đối với những khu
vực áp dụng phương pháp treo dây lập thể phải đảo ngược dây và thay
đổi vị trí treo 1- 2 lần trong một tháng. Ổn định các điều kiện: nhiệt
độ dưới 28 0C, tỷ trọng nhỏ hơn 1,028, cường độ ánh sáng 2.000 - 5.000
lux và bón phân N, P. Khi thể sợi hình thành túi bào tử xoắn thì giảm
ánh sáng xuống khoảng 1000 lux, thời gian chiếu sáng 8 - 10 h/ngày.
Thời gian ương nuôi 2 – 3 tháng. Phương pháp này áp dụng cho kỹ thuật
trồng lớn trên bè lưới nổi.
Vớt giống bào tử vỏ - ương thành rong mứt con
Tiến hành sau khi thể sợi đã thành thục sinh sản
Kiểm tra và lựa chọn thể sợi thành thục: Có thể quan sát theo kinh
nghiệm nếu thể sợi phân bố đồng đều, dày đặc hoặc quan sát dưới kính
hiển vi bằng cách hoà tan đá vôi bằng acid acetic 7% hay dùng dung
dịch Pyrenys (HNO3: C2H5OH 95%:Cr2O3 0,5% theo thể tích 4:3:3) hoà tan
đá vôi và quan sát thể sợi.
Kích thích bào tử phóng:
Kích thích ngoài biển: Chuyển thể sợi thành thục bám trên vỏ sò vào
lưới đem cố định trên bè hoặc hai bên thuyền ở ngoài khơi vào buổi
chiều tối và đem chúng trở lại nơi vớt giống trước khi trời sáng, rửa
sạch bùn và thu bào tử theo phương pháp nước bào tử.
Hạ thấp nhiệt độ: Chủ động hạ nhiệt độ cũng kích thích bào tử phóng
hàng loạt.
Dòng chảy: Giữ cho nước trong ao nuôi trồng lưu chuyển suốt đêm cũng
kích thích bào tử phóng hàng loạt.
Phương pháp vớt bào tử vỏ:
Vớt bào tử vỏ trong phòng: Được tiến hành trong phòng trong điều
kiện môi trường được kiểm soát hoàn toàn. Về nguyên tắc giống như vớt
trực tiếp bào tử. Vật bám được sử dụng là lưới nylon (đã xử lý) đặt
nằm ngang đáy ao để lấy giống, 4-5m2 đặt một lưới.
Dùng máy bơm để bơm nước biển vào nơi thu bào tử. Có thể dùng nhân
công rảy nước lên rong, 10 phút /lần. Tiến hành từ sáng sớm tới chiều
tối.
Thu bào tử vỏ bằng dòng chảy: có thể dùng máy bơm bơm nước vào tạo
dòng tuần hoàn hoặc dùng hệ thống cánh quạt bằng mô tơ. Để nước chảy
mạnh và thường xuyên đặt hai cánh quạt ở hai bên ao.
Thu bào tử ngoài trời: Tại vị trí nuôi trồng lưới được căng sẵn trên
bề mặt biển ở vị trí thích hợp. Sau đó đem nước bào tử rảy đều trên
lưới. Lưu ý, lưới chỉ được căng ngay khi tiến hành thu bào tử, bào tử
phải được vớt trong vòng 6 h sau khi phóng và lưới phải được giữ lại
trong môi trường nước ít nhất 3 h sau khi quá trình vớt bào tử bắt
đầu. Đối với vùng triều quá trình rảy nước bào tử phải được kết thúc
trước lúc triều lên.
Chăm sóc và quản lý: Lưới phải được thả nổi trên mặt nước và
cách mặt nước 10 cm, lưới căng. Rửa lưới thường xuyên sau khi
thu bào tử cho đến khi nảy mầm.
Thu bào tử vỏ trực tiếp: Vỏ sò có chứa thể sợi và lưới được cố định
trên khung thả nổi trên biển khoảng 2-3 ngày sau khi kiểm tra quá
trình bám và nảy mầm của bào tử. Nếu mật độ đạt yêu cầu, chuyển lưới
khung đến bè để trồng.
Ưu điểm: hiệu quả cao, linh động, dễ tiến hành, dụng cụ đơn giản.
Thu bào tử vỏ bằng túi vỏ sò: Vỏ sò chứa thể sợi được cho vào túi
đan bằng chất dẻo hay tre được treo trực tiếp tại các bè nuôi, lưới
cũng được cố định lên bè. Bào tử được kích thích bằng dòng chảy và
sóng.
Ương bào tử vỏ: đặt 2- 3 vỏ vào một túi vinyl và treo vào lưới trồng
lớn. Đến lúc mầm phát triển cho cây giống 2 - 3 mm thì đem đi trồng
thương phẩm.
Hình 5.11: Quá trình ương Porphyra
1 - Hệ thống bánh xe để thu giống; 2 - Lưới giống có treo các bào tử
thể sợi conchospores lơ lửng ; 3 - Lưới Porphyra có chứa cây giống
trong nước biển; 4 - Mầm Conchospore thu được từ các sợi lưới nori; 5
- Lá Porphyra có chiều dài 1,2 cm sau khi trồng trên lưới ở nhiệt độ
12 - 150C
2.3. Kỹ thuật trồng thương phẩm
2.3.1. Phương pháp lưới ngang bán cố định
Công trình: Lưới (18m x 1,5m), 2a = 30 cm. Hai đầu tấm lưới là hai
ống tre, mỗi ống dài 1,6 m; hai bên tấm lưới là hai dây thừng, mỗi dây
dài 19m. Giữa hai ống tre chính có thể bố trí 3 - 5 ống tre tương tự.
Tấm lưới được treo lên 4 - 5 cọc mỗi bên. Cọc thường dùng là cọc đước,
gỗ tốt dài 1 m, chôn sâu 50 cm hay hơn tùy điều kiện vùng nước, đảm
bảo lúc triều rút; lưới chỉ lộ ra không khí 2 - 5 giờ.
Ra giống: Cho 2- 3 vỏ hầu mang Conchocelis vào túi vinyl nhỏ và treo
vào lưới trồng thương phẩm. Sự phóng thích bào tử vỏ được kích thích
bởi ánh sáng có cường độ thấp (đó là 300 - 500 lux). Tuy nhiên, các
bào tử vỏ không thể bám vào lưới trồng các mức ánh sáng thấp như thế.
Cường độ ánh sáng nằm trong khoảng 800 - 1000 lux là thích hợp cho
việc thúc đẩy bào tử bám, phát triển thành rong thương phẩm.
Hình 5.12: Hệ thống bè bán cố định
1- Cọc đước; 2 – Dây treo; 3 – Thanh tre; 4 – Lưới
Chăm sóc quản lý: Công việc chăm sóc được tiến hành hàng ngày.
Lưu ý: sau khi bào tử vỏ bám vào lưới trồng, cần phải ngâm lưới trong
nước ít nhất là 6 giờ để tránh bị khô. Tuy nhiên, sau thời gian này,
lưới giống dễ bị các loại tảo nhất là tảo silic phát triển trên đó.
Các sinh vật địch hại này không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển của
mầm cây rong mứt mà còn tranh vật bám của các bào tử đơn trên các tấm
lưới. Tảo silic và các loại tảo khác phát triển nhanh hơn nhưng chúng
chịu đựng sự phơi khô kém hơn các mầm của rong mứt. Vì thế lưới được
nâng lên, lộ ra không khí 15 - 20 ngày sau khi có giống bám vào lưới
nhằm tạo điều kiện chỉ cho các mầm rong mứt phát triển. Đây là một
biện pháp xử lý cần thiết để thúc đẩy sự phát triển của tản rong mứt.
Tuy nhiên, sau khi cây rong đạt được chiều dài 2 - 3 cm, việc xử lý
như thế không luôn luôn cần thiết.
Hình 5.13:Hệ thống lưới ngang bán cố định trong nuôi trồng Porphyra
2.3.2. Phương pháp lưới ngang nổi
Hình 5.14: Hệ thống lưới ngang nổi
1. Phao
2. Lưới
3. Dây neo
4. Neo
Dùng lưới như trên nhưng lưới được căng nổi nhờ hai dây phao. Bốn góc
lưới được neo lại. Phương pháp này được sử dụng ở độ sâu khoảng 5 m.
Bè luôn chìm trong nước, thích hợp cho nơi có vùng trung triều hẹp,
vực nước ven bờ.
2.3.3. Hệ thống cọc đỡ
Áp dụng nơi ít có sóng gió, độ sâu thấp, thuỷ triều lên xuống yếu. Cọc
tre hoặc gỗ được đóng xuống nền đáy, lưới được treo trên các cọc và
được điều chỉnh ở những độ sâu khác nhau phù hợp với giai đoạn phát
triển của rong.
2.4. Kỹ thuật thu hoạch và sơ chế
Thu hoạch: Thường mất hai tháng từ bào tử vỏ đến lần thu thứ nhất.
Bào tử vỏ (tháng 9 - 10) thu lần thứ nhất (tháng 11 - 12) tổng thu
(tháng 3 - 5). Sau lần thu thứ nhất thì cứ 15 - 20 ngày thu một lần, ở
giai đoạn sinh trưởng mạnh (từ tháng 12 đến tháng 3) thì cứ 7 - 10
ngày thu một lần. Rong đạt 15 - 20 cm thì thu còn mầm 5 - 8 cm thì
chừa lại.
Sơ chế: Thu rong rồi đem rửa sạch; cắt rong, loại bỏ bàn bám; phơi
khô còn độ ẩm là 12 %. Sau đó phân loại, đóng túi; bảo quản nơi khô
ráo, nhiệt độ bảo quản 20 0C là tốt nhất.
RONG GIẤY (Monostroma)
1. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
1.1. Đặc điểm phân loại và phân bố
Hệ thống phân loại
Ngành: Chlorophyta
Lớp: Chlorophyceae
Bộ: Ulvales
Họ: Monostromacaea
Giống: Monostroma
Phân bố: Vùng biển Châu Á đặc biệt là khu vực Châu Á - Thái Bình
Dương. Phân bố từ vùng nước lợ đến biển.
1.2. Hình thái và cấu tạo
Hình thái: Rong lúc đầu có dạng túi, sau rách thành nhiều phiến rộng,
phẳng, dẹt hoặc thành các thùy hẹp. Ban đầu rong sống bám về sau rời
khỏi vật bám, trôi trong nước. Rong có màu lục hoặc màu thẫm.
Hình 5.15: Hình thái và cấu tạo của rong giấy
Cấu tạo: Ngoài phần gốc ra, thân rong chỉ gồm một lớp tế bào. Nhìn từ
bề mặt, tế bào có dạng hình vuông hoặc chữ nhật. Tế bào có một nhân, 1
- 2 thể sắc tố hình bản, 1 hạt tạo bột.
1.3. Đặc điểm sinh sản và vòng đời
Sinh sản: Sinh sản vô tính bằng bào tử động (4 tiên mao) hình thành
từ phối tử (giao tử) một tế bào; sinh sản hữu tính là sự kết hợp của
các giao tử (2 tiên mao) hình thành từ bất kỳ tế bào nào trên bề mặt
rong.
Hình 5.16: Giao tử của rong giấy Monostroma angicava
A. Giao tử đực; B. Giao tử cái
Vòng đời: Cây giao tử cái và giao tử đực thành thục phóng thích giao
tử cái và giao tử đực. Chúng kết hợp với nhau tạo thành hợp tử. Hợp tử
(2n) qua quá trình giảm phân tạo ra túi bào tử động (n). Số giao tử
cái và giao tử đực không kết hợp với nhau thì phát triển thành các thể
sinh sản đơn tính, các thể này cũng tạo ra các túi bào tử động. Sự
xuất hiện các túi bào tử động đặc trưng cho thế hệ cây bào tử. Bào tử
động (n) bốn tiên mao được phóng thích ra từ các túi bào tử động và
chúng phát triển thành cây giao tử cái và cây giao tử đực - thế hệ cây
giao tử. Như vậy, trong vòng đời của rong giấy Monostroma xuất hiện
hai thế hệ cây: thế hệ cây giao tử và thế hệ cây bào tử.
Hình 5.17: Vòng đời của rong giấy
2. KỸ THUẬT NUÔI TRỒNG
2.1. Lựa chọn vị trí
Vị trí nuôi trồng là vùng biển cạn, yên tĩnh ở trong vịnh hay cửa
sông nơi có nước ngọt. Gần đây, người ta chọn những vùng sâu hơn. Bãi
nuôi trồng tương đối bằng phẳng. Vị trí nuôi trồng nên tránh xa vùng
nước lợ bị ô nhiễm, tránh gió bão.
2.2. Chuẩn bị cây giống
Vớt giống tự nhiên: Đem lưới căng ngập trong nước ở vùng có các quần
thể Monostroma xuất hiện vào đầu mùa thu.
Sản xuất giống nhân tạo: Cây giao tử thành thục phóng thích giao tử
trong kỳ nước kém vào tháng 4, tháng 5. Sản xuất giống nhân tạo được
bắt đầu bằng việc vớt giao tử vào tháng 4. Việc phóng giao tử có thể
được kích thích bằng cách làm khô cây bố mẹ suốt đêm trong tối. Một
"dung dịch giao tử" được hòa trộn (đực, cái) cùng với nước biển sạch
để tạo thành hợp tử. Hợp tử sau đó sẽ bám vào các tấm vật bám bằng
nhựa dai 20 - 30 cm, rộng 10 cm, có hai mặt nhám. Suốt màu hè, các tấm
vật bám có hợp tử được giữ trong những bể nước lợ, đặt trong phòng có
ánh sáng khuếch tán từ mái (lợp tôn nhựa).
Hợp tử đủ lớn vào tháng 8 và thành thục vào đầu tháng 9. Lúc này, vật
bám có hợp tử được đặt vào các bể nhỏ, được kích thích ánh sáng mạnh
để cho hợp tử rời vật bám tạo thành "dung dịch hợp tử".
Chuyển dung dịch hợp tử vào một bể lớn, ở đó đã đặt sẵn các tấm lưới
vớt giống. Để cho bào tử đồng loạt thành thục trong túi bào tử (tức
hợp tử thành thục), cần phủ bạt lên bể 30 phút. Bào tử phóng ra bám
vào lưới. Lưới có bào tử chuyển đi ương vào ngày sau đó. Trong thời
gian nảy mầm, lưới giống được sắp xếp thành từng đơn vị gồm 5 lưới
ương. Khi cây giống đạt kích thước 1 - 2 cm, người ta tách riêng từng
lưới để trồng thương phẩm.
2.3. Kỹ thuật trồng thương phẩm
2.3.1. Phương pháp lưới ngang cố định
Công trình: Lưới có kích thước mắt lưới 2a = 15 cm và chiều dài,
chiều rộng tùy thuộc vào điều kiện thực tế thường là 1,5 m x 18 m.
Lưới được buộc vào các cọc đước, gỗ tốt. Cọc dài 1 m, chôn sâu 50 cm.
Lưới thường được cố định ở mức mà khi triều rút cây rong lộ ra không
khí khoảng 4 giờ.
Chăm sóc quản lý: Công việc chăm sóc được tiến hành hàng ngày.
Hình 5.18: Hệ thống lưới ngang cố định
2.3.2. Phương pháp lưới ngang nổi
Công trình: Lưới tương tự như trên. Hai bên tấm lưới là hai dây
thừng, trên đó có bố trí phao để tăng sức nổi. Bốn góc lưới được neo
lại. Lưới luôn được giữ dưới mặt nước.
Hình 5.19: Hệ thống lưới ngang nổi
1. Phao – 2. Lưới - 3. Dây neo - 4. Neo
Chăm sóc quản lý: Tương tự như trên.
2.4. Kỹ thuật thu hoạch và sơ chế
Thu hoạch: Tùy theo loài mà kích thước rong lúc thu hoạch có thể dao
động trong khoảng 2 - 12 cm. Khi rong đạt đến kích thước thu hoạch thì
ta thu tỉa. Mỗi vụ có thể thu 3 - 4 lần. Việc thu tỉa nhiều lần trong
một vụ cho sản lượng lớn hơn so với việc để rong tổng thu một lần.
Sơ chế: Rửa sạch, phơi khô và bào quản nơi khô ráo.
RONG BÚN (Enteromorpha)
1. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
1.1. Đặc điểm phân loại và phân bố
Hệ thống phân loại
Ngành: Chlorophyta
Lớp: Chlorophyceae
Bộ: Ulvales
Họ: Ulvaceae
Giống: Enteromorpha
Giống rong này có nhiều loài như Enteromorpha stipitata, E. linza, E.
torta, E. chaetomorphoides, E. pilifera, E. prolifera, E. clathrata,
E. intertinalis, E. flexuosa và E.kylimi. Nhưng trong đó E. prolifera
là loài có giá trị kinh tế và đang được nuôi trồng phổ biến.
Phân bố: Enteromorpha prolifera là rong bám đá, vỏ động vật thân mềm
và các rong khác ở vùng trung triều. Mùa vụ xuất hiện là xuân - hè. Ở
Việt Nam chúng được tìm thấy ở nhiều nơi nhưng tập trung nhiều ở Quảng
Ninh. Trên thế giới, chúng phân bố rộng từ Địa Trung Hải đến Đại Tây
Dương và Thái Bình Dương đặc biệt là ở vùng biển Châu Á - Thái Bình
Dương.
1.2. Hình thái và cấu tạo
Hình thái: Rong màu lục thẫm, cao 16 - 17 cm hay hơn. Rong có dạng
hình ống dẹp, có thể thấy được thân chính, chia nhánh theo kiểu mọc
đối, lông chim hay kiểu mọc cách đôi khi mọc nhiều nhánh phụ. Thân
chính mảnh hay rỗng, thường thon dần về phía gốc. Nhánh phụ dài mảnh,
có chiều rộng đều nhau. Gốc có bàn bám dạng đĩa.
Hình 5.20: Hình thái và cấu tạo của rong Enteromorpha
Cấu tạo: Rong có xoang bên trong thân. Nhìn từ bề mặt, tế bào dạng
hình chữ nhật hay hình vuông, sắp xếp thành hàng dọc tương đối rõ
ràng. Tế bào có chiều dài khoảng 10 - 17 µm, thường có một thể sắc tố
dạng hình bản, mang một hạt tạo bột lớn.
1.3. Đặc điểm sinh sản và vòng đời
Sinh sản: Sinh sản vô tính bằng bào tử động có 4 hoặc 2 tiên mao.
Sinh sản hữu tính bằng phối tử (giao tử) cùng hình hay khác hình, có 2
tiên mao.Phối tử có thể nảy mầm đơn tính không có sự giao phối.Phối tử
và bào tử động phát sinh thành những dạng sợi chỉ có một hàng tế bào.
Sợi hoặc chia cắt ngay thành các chồi hình ống thẳng đứng hoặc hình
thành bàn bám một lớp tế bào. Trên bàn bám xuất hiện chồi thẳng đứng
một hàng tế bào sau đó tế bào phân cắt dọc, ngang hình thành nhiều
hàng tế bào và có dạng ống.
Vòng đời: Vòng đời Enteromorpha có sự luân phiên các giai đoạn cây
bào tử lưỡng bội (2n) và cây giao tử đơn bội (n). Các tản của hai giai
đoạn có cùng hình thái (loại hình sinh sản bằng nhau).
2. KỸ THUẬT NUÔI TRỒNG
2.1. Lựa chọn vị trí
Vị trí nuôi trồng Enteromorpha là những vùng nước cạn cho đến vùng có
độ sâu 3 m, trong các vịnh yên tĩnh hoặc các cửa sông. Đáy có thể là
nền đáy cát, cũng có thể có nhiều mảnh đá nơi có Enteromorpha đính tự
nhiên.
2.2. Chuẩn bị cây giống
Có hai phương pháp thu giống Enteromorpha
Thu giống nhân tạo: Các tản thành thục của Entermorpha xuất hiện ở
vùng cửa sông quanh năm và được thu. Tản được giữ trong các bể nước
nhỏ được cấp nước biển lọc sạch. Dung dịch bào tử được thu sau khi
kích thích khô rong bố mẹ trong tối khoảng 20 giờ. Chuyển dung dịch
bào tử vào một bể lớn, ở đó đã đặt sẵn các tấm lưới vớt giống. Sau khi
xử lý trong tối, lưới có bào tử được giữ trong một đêm và sau đó được
chuyển đến các vị trí trồng thương phẩm. Dù sao hều hết các cơ sở nuôi
trồng Enteromorpha thương mại đều thu giống tự nhiên vì họ có thể tạo
ra đủ lưới (có) giống để đáp ứng nhu cầu thị trường hiện nay.
Thu giống tự nhiên: Lưới vớt giống được đặt chìm ở bãi thu giống. Bãi
thu giống được chọn là vùng yên tĩnh, có nền đáy cát cũng có thể có
nhiều mảnh đá mà Enteromorpha đính lên đó một cách tự nhiên. Lưới vớt
giống được cố định theo chiều ngang ở bãi vớt giống sao cho nó không
lộ ra không khí khi triều rút. Việc thu giống được tiến hành trong
suốt kỳ triều cường vào giữa tháng 9 (sự phóng thích bào tử theo kỳ
trăng). Lưới vớt giống được giữ tại bãi vớt giống cho đến đầu tháng
11. Lưới được chuyển đến bãi trồng thương phẩm khi quan sát thấy cây
giống (1- 2 cm).
2.3. Kỹ thuật trồng thương phẩm
Lưới Enteromorpha có thể được nâng đỡ theo hai cách, tương tự với các
kỹ thuật nuôi trồng được sử dụng cho rong giấy Monostroma và rong mứt
Porphyra đó là hệ thống cọc và hệ thống nổi.
2.3.1. Phương pháp lưới ngang cố định
Lưới được cố định vào các cọc tre được sử dụng ở vùng nước cạn. Lưới
được cố định ở mức nước thấp của triều cường.
Hình 5.23: Lưới nổi khi triều xuống Sinh trưởng của
tản trên lưới tre
(Gyuhwa Chung, 2007)
(Sangmi Sun, 2007)
2.3.2. Phương pháp lưới ngang nổi
Lưới được cố định 30 - 50 cm bên dưới bề mặt nước và không được lộ ra
không khí. Hệ thống lưới nổi thường được sử dụng ở những vùng có độ
sâu 3 m, trong các vịnh yên tĩnh hoặc các cửa sông.
Các tản Enteromorpha đem nuôi trồng thể hiện hai thời kỳ sinh trưởng
trong năm ứng với hai dạng cây: cây mùa đông và cây mùa xuân. Cây mùa
đông sinh trưởng từ tháng 11 đến đầu tháng 2 và tàn lụi trong tháng 2.
Cây mùa xuân xuất hiện đầu tháng 4 (2 - 3 cm) và phát triển đến đầu
tháng 5 sau đó thì tàn lụi.
2.4. Kỹ thuật thu hoạch và sơ chế
Thu hoạch: Việc thu hoạch Enteromorpha được tiến hành 2 - 3 lần/vụ
đối với cả hai loại cây (mùa đông và mùa xuân). Phương pháp thu hoạch
là thu bằng tay hoặc bằng máy. Thu bằng tay cho chất lượng sản phẩm
cao hơn nhưng thu bằng máy thì nhanh hơn.
Hình 5.24: Thu hoạch bằng tay (Gyuhwa Chung, 2007)
Sơ chế: Sau khi thu, rong được rửa trong nước ngọt và được phơi khô
hoặc sấy khô. Các tản Enteromorpha khô dưới dạng "bánh rong xanh"
thường được nướng sơ, ép và làm lớp phủ bề mặt nhiều loại thức ăn;
chúng còn được sử dụng nhiều trong súp và làm chất bọc thực phẩm. Giá
của sản phẩm Enteromorpha thay đổi theo thị trường và chất lượng màu
xanh của nó.
CHƯƠNG 6: KHAI THÁC VÀ BẢO VỆ NGUỒN LỢI RONG BIỂN VIỆT NAM
1. NGUỒN LỢI RONG BIỂN
1.1. Các khái niệm
Biển và đại dương có ba chức năng chính: cung cấp nguyên liệu, thực
phẩm; đồng hóa các chất thải và đóng vai trò làm bình diện, giá đỡ cho
mọi hoạt động của con người. Vì vậy, ta có thể đánh giá tài nguyên
biển qua ba khía cạnh đó.
Cần lưu ý phần tài nguyên thiên nhiên nguyên khai ở biển và đại dương
chưa có sự can thiệp của xã hội loài người, được xếp vào dạng tiềm
năng; còn phần mà con người tác động được xếp vào hệ thống nguồn lợi.
Do vậy, nguồn lợi rong biển gồm thực thể rong biển và môi trường tự
nhiên chúng sống.
Môi trường tự nhiên là nhân tố khách quan, đóng vai trò chi phối quá
trình sinh học của thực thể rong biển. Thực thể rong biển là chủ thể,
bản thân nó không ngừng biến đổi để thích nghi với quy luật của môi
trường để phát triển hoặc bị đào thải. Như vây, thực chất của vấn đề
điều tra nguồn lợi rong biển là tìm ra quy luật tương quan nhân quả
giữa rong biển và môi trường sinh thái. Từ đó, có các tác động tích
cực của con người bù vào những chỗ thiếu của cả môi trường và thực thể
rong biển để làm cho cây rong phát triển tốt hơn, cho năng suất ổn
định và chất lượng cao.
1.2. Tình hình nguồn lợi rong biển Việt Nam
Việt Nam có khoảng gần 1000 loài rong biển. Khoảng 638 loài rong biển
(239 Rhodophyta, 123 Phaeophyta, 15 Chlorophyta và 76 Cyanophyta) đã
được định loại. Trong số đó, 310 loài xuất hiện ở vùng biển phía Bắc,
484 loài ở vùng biển phía Nam và 156 loài được phát hiện thấy ở các
vùng biển từ Bắc vào Nam.
Nguồn lợi các đối tượng rong biển kinh tế chủ yếu được tiến hành điều
tra nhiều ở các tỉnh phía Bắc song cũng chỉ mới tập trung vào rong câu
(Gracilaria) và chủ yếu là loài rong câu chỉ vàng G. asiatica ở vùng
nước lợ từ Hải Phòng đến Thanh Hóa. Các vùng ven biển miền Nam, hàng
năm có thể khai thác khoảng 2000 tấn rong tươi các loại và hiện nay có
nhiều đối tượng đang được khai thác và nuôi trồng. Nhìn chung các kết
quả nghiên cứu chỉ mới nêu được vùng phân bố, chứ chưa phản ánh được
tình hình nguồn lợi của các đối tượng rong biển kinh tế ở Việt Nam.
Sau đây là trữ lượng một số loài rong kinh tế:
Rong mơ Sargassum: Trữ lượng các loài rong mơ ở ven biển nước ta ước
tính khoảng 30.000 - 35.000 tấn. Trong đó S. mcclurei có trữ lượng lớn
nhất chiếm khoảng 30%, loài S. binderi 15%, loài S. siliquosum 10%,
loài S. herklotsii 13%. Những loài còn lại chiếm 32% tổng trữ lượng.
Phú Yên, Khánh Hòa và Quảng Ninh là những nơi có trữ lượng rong mơ lớn
(khoảng 27.200 tấn chiếm gần 78% tổng trữ lượng).
Hình 6.1: Rong mơ Sargassum
Rong câu Gracilaria: Trữ lượng rong câu ở ven biển Việt Nam ước tính
khoảng 9.300 tấn tươi. Khu vực Quảng Ninh, Hải Phòng, Thừa Thiên Huế
có sản lượng rong câu lớn (khoảng gần 6.000 tấn tươi chiếm trên 60%
tổng trữ lượng). Trong các loài rong câu, loài G. asiatica có trữ
lượng lớn nhất khoảng 7.000 - 8.000 tấn, loài G. blodgettii 850 tấn,
G. chordra 620 tấn, loài rong câu cong G. arcuata 120 tấn. Khu vực
Quảng Ninh, Hải Phòng, loài G. asiatica phân bố trong nhiều ao đầm
nước lợ, chiếm diện tích khoảng trên 2000 ha, hàng năm cho sản lượng
trên 3.000 tấn tươi.
Rong đông Hypnea: Trữ lượng của ba loài rong đông H.japonica, H.
boergesenii và H. flagelliormis xác định ở khu vực Quảng Bình, Quảng
Trị, Thừa Thiên Huế ước tính khoảng trên 70 tấn tươi trên diện tích
phân bố khoảng 3 ha.
Hình 6.2: Rong đông móc câu Hypnea japonica
1.3. Cơ sở đánh giá nguồn lợi rong biển
Để đánh giá khả năng nguồn lợi rong biển của một vùng nào đó, các
tiêu chuẩn sau đây thường được lấy làm cơ sở chính:
- Giá trị sử dụng của rong biển và các chế phẩm từ rong biển từ trước
đến nay, đặc biệt có cơ sở dự báo tới vài thập kỷ trong tương lai.
- Chất lượng, năng suất giống cây trồng tại chỗ, di giống và nhập
giống.
- Đặc điểm sinh thái (thời vụ sản xuất ngắn hay dài) và hiệu quả kinh
tế;
- Khả năng diện tích cho sản xuất đại trà phù hợp với kỹ thuật nuôi
trồng cho từng đối tượng cụ thể;
- Các giải pháp kỹ thuật để đạt được năng suất và chất lượng rong cao
nhất.
1.4. Phương pháp đánh giá nguồn lợi rong biển
Tóm tắt
Phương pháp này đánh giá cấu trúc cộng đồng và sinh khối của các bãi
rong biển dọc theo các đường cắt ngang chạy vuông góc với đường ven
bờ. Thành phần loài, phần trăm độ phủ và sinh khối được xác định bên
trong các khung vuông (quadrat) được đặt tại các khoảng cách đều nhau
dọc theo chiều dài của đường cắt ngang. Các mẫu này được sử dụng để mô
tả toàn bộ bãi rong biển.
Yêu cầu
Nhân sự: Một nhóm nghiên cứu có ít nhất là 2 thợ lặn. Nếu việc điều
tra được tiến hành từ trên thuyền thì cần thêm một người nữa ở trên
thuyền.
Trang thiết bị:
Thuyền nhỏ, có động cơ bên ngoài thuyền và thiết bị bảo hộ.
Thiết bị lặn.
Khung vuông (quadrat) (50 cm x 50 cm) có phao. Khung vuông nên được
chia thành các ô 10 cm x 10 cm. Các khung vuông nên bằng đồng hoặc
bằng nhôm vì chúng sáng và bền.
Hình 6.3: Các thao tác đánh giá nguồn lợi
Thước dây bằng thủy tinh sợi dài 100 m.
Dao lặn.
La bàn dưới nước.
Giá bảng và bút chì.
Bảng dữ liệu in trước trên giấy sử dụng dưới nước khổ A4. Bảng dữ
liệu được đính vào giá bảng và được giữ để ghi chép thường xuyên.
Các túi nhựa (khoảng 8 cm x 11 cm).
Dung dịch bảo quản - dung dịch 5% của formalin trong nước biển.
Nhãn không thấm nước. Nhãn được in trước đảm bào mọi dữ liệu cần
thiết được lưu cho mỗi mẫu.
Các túi lưới.
Thước kẻ.
Kính lúp cầm tay.
Cân phòng thí nghiệm.
Máy sấy và lò nung.
Chén sứ chịu nhiệt.
Lựa chọn vị trí
Các bức không ảnh sẽ giúp xác định địa điểm và phạm vi các bãi rong
biển.
Một cuộc điều tra khỏa sát sơ bộ vùng nghiên cứu là cần thiết để vẽ
bản đồ, xác lập và mô tả thỏa đáng những sự khác biệt và phạm vi thực
sự của các bãi rong biển. Manta tow (phương pháp khảo sát bằng cách
dùng thuyền kéo người quan sát lướt qua vùng nghiên cứu) là phương
pháp hữu ích cho khảo sát tổng thể này nhưng có thể không thích hợp ở
những vùng có tầm nhìn kém.
Chọn điểm để bố trí các đường cắt ngang (bên trong mỗi vị trí) sau
khi khảo sát sơ bộ bãi rong. Các đường cắt ngang nên mang tính đại
diện cho toàn bãi rong và nên tương tự nhau (chẳng hạn các đặc điểm
vật lý).
Thủ tục chung
Xác định điểm của đường cắt ngang. Điểm bắt đầu (điểm phía bờ) của
đường cắt ngang là điểm tham khảo hữu ích nhất.
Một hệ thống định vị toàn cầu (GPS) có thể là rất hữu ích nếu sẵn có.
Hoặc sử dụng một la bàn cầm tay để xác định phương hướng, liên quan
đến ít nhất là hai mốc bờ cố định hoặc là các điểm đánh dấu làm điểm
tham chiếu.
Điều tra ít nhất 3 đường cắt ngang tại mỗi vị trí. Bơi qua các đường
cắt ngang theo một hướng la bàn, vuông góc với đường bờ biển. Chiều
dài cảu đường cắt ngang tùy thuộc vào kích cỡ của bãi rong và nên kéo
dài đến giới hạn ngoài của bãi (nơi mà không có rong biển).
Các đường cắt ngang nên cắt nhau theo một khoảng cách hợp lý (50 -
100 m) và nên song song với nhau và vuông góc với đường bờ biển.
Các mẫu nên được lấy tại các khoảng cách đều nhau (thường là 5 m) dọc
theo đường cắt ngang để cho các thang bậc về cấu trúc cộng đồng được
mô tả.
Ít nhất 4 khung vuông (50 cm x 50 cm) được thực hiện tại mỗi điểm/
trạm thu mẫu.
Lưu các thông số môi trường cho mỗi đường cắt ngang.
Ước tính phần trăm độ phủ của rong (loài/quần thể) được phát hiện
trong khung vuông. Bằng việc sử dụng các ô 10 cm trên khung vuông, cho
điểm mỗi loài trong ô bằng cách áp dụng các cấp độ được xây dựng bởi
Saito và Atobe (1970).
Lưu các ước tính trên bảng dữ liệu.
Lưu độ sâu tại mỗi trạm nơi mà rong biển được thu mẫu.
Cắt xung quanh mép của khung vuông bằng cách dùng một dao lặn và sau
đó cận thẩn xới thảm thực vật bên trong khung. Thu toàn bộ thảm thực
vật đáy bên trong khung vuông (kể cả rễ giả).
Cho mẫu từ mỗi khung vuông vào từng túi nhựa riêng biệt có nhãn không
thấm nước xác định mẫu.
Dùng một cái bay nhỏ thu 3 mẫu chất đáy nằm gần khung vuông tại mỗi
trạm thu mẫu. Lấy mỗi mẫu đất từ 10 cm đầu tiên của nền đáy. Khoảng
500 g chất đáy được thu (khoảng nửa túi nhựa 8 x 11 cm).
Khi hoàn tất việc lặn thêm dung dịch nước biển 5 % fomalin vào mỗi
mẫu rong đã được cho vào túi sau đó bịt kín túi có nhãn lại.
Mang các mẫu rong và đất về phòng thí nghiệm để phân tích.
Hình 6.4: Sơ đồ thu mẫu điều tra nguồn lợi rong biển
Thủ tục phòng thí nghiệm
Rửa nhẹ nhàng mẫu rong từ mỗi khung vuông trong nước. Nếu có thể các
dung dịch bảo quản nên được tái sử dụng.
Rửa sạch rác khỏi các mẫu.
Định loại mẫu theo loài. Hầu hết các đặc điểm hình thái thô sử dụng
có thể được nhân thấy bằng mắt thường. Một kính lúp cầm tay là hữu ích
đối với một số đặc điểm nhỏ.
Đếm tổng số tản rong cho mỗi loài, thấm khô và cân (khối lượng tươi
theog).
Xác định chiều dài của ít nhất là 10 tản cho mỗi loài và tính giá trị
trung bình.
Kết hợp tất cả các đối tượng của cùng một loài từ 4 mẫu khung vuông
được thu tại mỗi trạm.
Lấy mẫu nhỏ gồm 50 tản từ mỗi mẫu kết hợp (mỗi mẫu nhỏ bây giờ chỉ có
một loài). Ở các bãi rong biển nơi mà thảm thực vật thưa, mẫu tối
thiểu là 10 tản cho mỗi loài.
Lấy mẫu nhỏ cho từng loài và tách thành thân và bàn bám, thấm khô và
cân mỗi phần (khối lượng tươi theo g).
Để thu khối lượng khô cho mỗi phần, đặt từng phần vào trong các túi
giấy bạc có đánh dấu/nhãn và sấy khô trong máy sấy ở 40 - 500C đến
khối lượng không đổi.
Lấy 10 g rong khô. Cho mẫu nhỏ vào chén sứ chịu nhiệt và đưa vào lò
nung ở 5550C trong ít nhất là 5 giờ để xác định sinh khối của các mẫu
(theo g chất hữu cơ/m2).
Phân tích mẫu đất (tham khảo học phần Quản lý chất lượng nước trong
nuôi trồng thủy sản).
Lưu số liệu
Lưu các thông số môi trường trước khi bơi qua đường cắt ngang.
Lưu độ sâu cho mỗi điểm/trạm thu mẫu dọc theo đường cắt ngang. Các
giá trị này sau đó được chuẩn hóa thông qua chuyển đổi các số đo mức
nước biển trung bình bằng cách dùng các bảng thủy triều địa phương.
Lưu độ phủ ước tính cho mỗi khung vuông bằng cách dùng các ô 10 cm.
Định loại các loài rong biển bằng cách dùng các tài liệu hướng dẫn
phân loại.
Chia các mẫu thành các loài và lưu số lượng tản, chiều dài trung bình
của tản, khối lượng tươi và khối lượng khô.
Ước tính độ phủ phỏng theo phương pháp của Saito và Atobe (1970)
Đặt khung vuông 50 cm x 50 cm trên nền đáy. Khung vuông nên được chia
thành 25 ô có kích thước 10 x 10 cm.
Lưu cấp độ ưu thế của mỗi loài trong mỗi một ô nhỏ trong 25 ô bằng
cách dùng các cấp độ được xác định trong bảng… Quá trình này được lặp
lại cho mỗi loài trong khung vuông.
Bảng 6.1: Các cấp độ được sử dụng để xác định độ phủ
Cấp Lượng nền đáy bị phủ % nền đáy bị phủ Điểm giữa % (M)
5 1/2 đến tất cả 50 - 100 75
4 1/4 đến 1/2 25 - 50 37,5
3 1/8 đến 1/4 12,5 - 25 18,75
2 1/16 đến 1/8 6,25 - 12,5 9,38
1 Ít hơn 1/16 < 6,25 3,13
0 Không có 0 0
Độ phủ (C) của mỗi loài trong mỗi khung vuông 50 cm x 50 cm được tính
như sau:
(1)
Trong đó: Mi: Phần trăm điểm giữa của cấp I;
fi: Tần suất (số ô nhỏ có cùng cấp độ ưu thế (i)).
Một ví dụ của phương pháp này, thông qua việc dùng loài Sargassum sp.
như sau. Các ước tính cấp độ ưu thế được thực hiện cho 25 ô trong
khung vuông.
0 1 2 2 3
0 0 3 2 2
1 2 5 4 5
3 5 5 1 4
5 5 4 1 2
Từ ví dụ trên:
Cấp Điểm giữa % (M) Tần suất (f) M x f
5 75 6 450
4 37,5 3 112,5
3 18,75 3 56,25
2 9,38 6 56,28
1 3,13 4 12,52
0 0 3 0
Tổng cộng 25 687,55
Do đó, khi áp dụng phương trình (1), độ phủ của rong mơ Sargassum sp.
sẽ là:
C = 687,55 / 25 = 27,5 %
Lặp lại cho các loài khác được phát hiện thấy trong khung vuông.
Lưu ý, độ phủ tối đa có thể lưu được cho một loài là 75 %. Vì thế,
nếu loài nào đó được kiểm tra chiếm ưu thế hơn số đó thì phương pháp
tính sẽ là một ước lượng dưới mức.
2. KHAI THÁC VÀ BẢO VỆ NGUỒN LỢI RONG BIỂN VIỆT NAM
2.1. Hiện trạng khai thác nguồn lợi rong biển ở Việt Nam
Ở Việt Nam, rất nhiều năm trước đây nhân dân vùng ven biển đã biết
khai thác rong biển làm thức ăn thay rau xanh hàng ngày hoặc nấu thành
thạch để giải khát. Tuy nhiên số lượng khai thác không nhiều và chưa
thực sự trở thành hàng hoá. Từ những năm 1960, mức độ khai thác và sử
dụng rong biển đã tăng lên rất nhanh do kết quả của các công trình
nghiên cứu xác định giá trị kinh tế và công nghệ chế biến một số loài
rong biển. Các loài rong thực phẩm đã được phơi khô, rửa sạch bán trên
thị trường. Một số rong nguyên liệu chiết xuất keo công nghiệp như
agar, alginate được khai thác với số lượng lớn.
Sau ngày thống nhất đất nước nhu cầu phát triển kinh tế xã hội cao,
công nghệ chế biến agar, alginate cũng đạt trình độ cao và hoàn chỉnh
hơn thì mức khai thác rong biển ngày càng mạnh, rong câu khô và agar
còn được xuất khẩu ra nước ngoài. Nguồn lợi rong tự nhiên không đủ,
riêng rong câu và rong sụn đã được thay thế bằng rong nuôi trồng.
Những năm 1990 - 1991 sản lượng rong câu khô đạt trên dưới 2000 - 2500
tấn khô/năm, đã sản xuất được khoảng 150 tấn agar từ các cơ sở sản
xuất trong nước. Sản lượng rong câu chủ yếu được khai thác từ các loài
rong câu sinh trưởng trong đầm phá nước lợ đó là Gracilaria asiatica,
G. blodgettii, G. tenuistipitata. Nhiều loài rong câu phân bố ở bãi
triều chưa được khai thác.
Trong các loài rong biển được khai thác, rong mơ Sargassum là nhóm
rong biển có giá trị kinh tế cao và là một trong các loài thực vật
biển có thể tự tái tạo đáng lưu ý nhất ở biển Việt Nam nói chung và
Khánh Hòa nói riêng. Rong mơ có kích thước lớn, phân bố phổ biến và
tập trung với sinh lượng lớn trên các vùng bãi triều đáy cứng ven biển
và các đảo. Tại Khánh Hòa, đã thu thập được khoảng 35 loài rong mơ và
ước tính có sản lượng cao nhất nước (khoảng 10.000 tấn/năm).
Việc khai thác rong mơ Sargassum ở nước ta hàng năm chỉ đạt khoảng 3 -
5% trữ lượng tự nhiên. Năm khai thác nhiều nhất chỉ đạt 25 - 30% trữ
lượng. Một lượng lớn rong mơ còn đang bị bỏ phí. Do việc khai thác còn
mang tính tự phát, chưa có hiệu quả; cộng thêm các số liệu điều tra
trước đây về rong mơ chưa phản ánh được đầy đủ hiện trạng phân bố và
khả năng khai thác nên chưa có hoạch định trong quản lý, khai thác và
sử dụng rong mơ. Trong những năm tới nếu việc nghiên cứu mở rộng phạm
vi ứng dụng khác của alginate đối với nền kinh tế quốc dân, có thể nhu
cầu về nguyên liệu rong mơ sẽ tăng lên.
Hiện nay, bằng sự kết hợp giữa phương pháp điều tra với công nghệ viễn
thám GIS, đề tài “Đánh giá hiện trạng và nghiên cứu giải pháp bảo vệ
nguồn lợi rong mơ (Sargassum) Khánh Hòa” do TS Bùi Minh Lý (Viện
trưởng Viện Nghiên cứu và Ứng dụng Công nghệ Nha Trang) làm chủ nhiệm
sẽ tiến hành điều tra, đánh giá hiện trạng và nghiên cứu các giải pháp
để bảo vệ nguồn rong mơ tại Khánh Hòa trong thời gian 24 tháng (2007 -
2009) thực hiện. Đề tài sẽ xây dựng một bộ bản đồ phân bố chi tiết về
rong mơ ở vùng ven biển Khánh Hòa tỉ lệ 1/50.000 cho toàn tỉnh Khánh
Hòa và tỉ lệ 1/25.000 ở các khu vực tập trung. Bộ bản đồ hoàn chỉnh,
chi tiết về phân bố và khả năng khai thác nguồn lợi rong mơ này sẽ góp
phần tích cực cho công tác quản lý, bảo vệ, khai thác sử dụng hợp lý
nguồn lợi rong mơ vùng ven bờ Khánh Hòa.
Bảng 6.2: Các đối tượng rong biển được khai thác và ý nghĩa của chúng
Các giống rong Số loài Ý nghĩa kinh tế
Tên khoa học Tên Việt Nam Thực phẩm Dược phẩm Keo công nghiệp
Porphyra Rong mứt 3 Có Cao huyết áp
Dermonema Rong nhớt 1 Có
Gracilaria Rong câu 13 Có Đại tràng, trĩ Agar
Eucheuma Rong hồng vân 4 Có Đại tràng, trĩ Carrageenan
Gelidiella Rong câu đá 1 Có
Grateloupia Rong chân rết 2 Có Kháng sinh
Gigartina Rong cạo 1 Có
Asparagopsis Rong tóc tiên 1 Có
Hypnea Rong đông 8 Có Kháng sinh Carrageenan
Acanthophora Rong gai 2 Có Carrageenan
Laurencia Rong mào gà / rong chưn 6 Có
Sargassum Rong mơ 22 Có Tiết niệu, phù nề Alginate
Enteromorpha Rong bún 10 Có Cao huyết áp
Ulva Rong cải biển 4 Có Cao huyết áp
Monostroma Rong giấy 1 Có
Caulerpa Rong guột 7 Có
Ngoài ra, các loài rong biển Việt Nam còn được sử dụng làm thực phẩm
như rong câu Gracilaria, rong mứt Porphyra, rong đông Hypnea, rong cạo
Gigartina, rong thun thút Catenella, rong cải biển Ulva, rong giấy
Monostroma… Các món ăn chế biến từ rong biển như nộm (gỏi), chè,
thạch, muối dữ, ăn tươi, nấu canh… Hơn thế nữa, rong biển còn có thế
sử dụng làm thức ăn cho gia súc, làm phân bón với mức khai thác đáng
kể. Vùng Trà Cổ, Vạn Hoa (Quảng Ninh) và một số xã ở An Hải (Hải
Phòng), người dân dùng rong câu Gracilaria, rong bún Enteromorpha làm
thức ăn cho lợn. Dân vùng đảo Cái Chiên, Vĩnh Thực, Cô Tô, Cái Bầu,
Quan Lạn, Cát Bà thường dùng rong mơ Sargassum làm phân bón cho lúa,
khoai sắn, đậu, cải, củ, mía, cà phê, cà chua, dưa hấu…Rong dược liệu
đang được các cơ quan chuyên ngành nghiên cứu sử dụng.
Hiện nay, việc khai thác rong biển ở nước ta nhìn chung vẫn còn mang
tính tự phát. Nhiều nơi do chạy theo lợi ích kinh tế trước mắt, không
những rong mà ngay cả địa bàn sinh trưởng của chúng cũng bị tàn phá
nghiêm trọng. Ngoài ra, việc sử dụng một số ngư cụ khai thác mang tính
hủy diệt như lưới giã cào, xiết điện… đã tiêu diệt nhiều nguồn lợi
thủy sản trong đó có rong biển.
Tóm lại, việc khai thác rong biển ở nước ta hiện chưa tận dụng hết khả
năng nguồn lợi nhưng có nơi có lúc việc khai thác không mang tính bền
vững. Nhiều năm gần đây, hầu hết nguồn lợi rong biển ở Việt Nam đã bị
bỏ phí và hầu như không sử dụng đến. Mặt khác, nếu muốn sử dụng cũng
gặp rất nhiều khó khăn do tập quá sử dụng rong biển trong nhân dân
chưa nhiều, nếu có sử dụng thì mới chỉ dùng làm phân bón (với các nhóm
có trữ lượng tự nhiên như Sargassum, Colpomenia…) hoặc làm thực phẩm.
Nhóm các loài có sinh lượng lớn như: Sargassum, Spatoglosum,
Chnoospora... vẫn phát triển và tàn lụi theo mùa vụ. Hầu hết nguồn lợi
này bị sóng đánh dạt vào bờ và thối rửa.
2.2. Những mối đe doạ chính hiện nay đến nguồn lợi rong biển
2.2.1 Các tác động từ thiên nhiên
Tác động của các nguồn nước ngọt từ lục địa vào mùa mưa và các chất lơ
lửng trong môi trường nước biển ảnh hưởng đến quang hợp của rong biển.
Các cơn bão nhiệt đới cũng ảnh hưởng không nhỏ tới rong biển. Đây là
những tác động bất lợi tới sự đa dạng sinh học rong biển vùng nghiên
cứu.
Bọn sống bám và bệnh: Các rong tạp sống bám bề mặt và các loại bệnh
làm ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng và thậm chí còn ảnh hưởng đến
khả năng sống sót của rong. Màu sắc của tản và tốc độ tăng trưởng
thường là các chỉ thị về sức khỏe của cây rong.
Sự suy giảm do địch hại ăn rong: Địch hại ăn rong có thể tàn phá các
trại nuôi trồng rong. Chúng có thể ăn sạch toàn bộ rong trong một khu
nuôi trồng. Địch hại có thể từ những loại rất nhỏ (ốc táo) đến những
loài khá lớn (như rùa xanh Chelonia mydas). Sự hiện diện của các loài
này thường xảy ra ở những nơi trồng rong gần đáy cỏ biển và những vùng
khác gần các loài động vật ăn thực vật. Ở nhiều nơi, một số loài ăn
thực vật di chuyển tới các vị trí trang trại trồng rong và phá huỷ
rong trồng.
2.2.2. Các tác động từ con người
Khai thác hải sản bằng lưới, chất nổ làm ảnh hưởng đến nền đáy, phá
huỷ nơi cư trú của rong biển. Đặc biệt trong những năm gần đây, số
lượng người khai thác nguồn lợi hải sản bằng chất nổ và chất độc hại
tại các vùng biển khá lớn.
Khai thác cạn kiệt tài nguyên do phần lớn người dân sống trong các
khu vực này thường xuyên khai thác nguồn lợi ngoài rong trên các rạn
san hô làm ảnh hưởng đến môi trường sống của rong biển.
Ô nhiễm môi trường do các hoạt động của con người như khai thác mỏ
(kim loại nặng, độ đục); các hoá chất bảo vệ thực vật (nông nghiệp,
lâm nghiệp); chất độc (khai thác hải sản bằng thuốc độc); ô nhiễm các
chất hữu cơ (du lịch), tốc độ đô thị hoá lớn làm thay đổi cảnh quan;
nước thải của nuôi trồng thuỷ sản, công nghiệp, dầu thải ra từ các bến
cảng, các tàu cá.... Môi trường sinh thái không ổn định và đang có
nguy cơ bị xâm hại do các hoạt động kinh tế xã hội ven biển gây ra.
Tập quán khai thác và sử dụng rong biển phục vụ đời sống của nhân dân
quanh vùng còn nhiều hạn chế. Chế biến rong biển chính là vấn đề còn
nhiều vướng mắc. Hiện nay các công trình nghiên cứu chế biến rong biển
rất ít, thực sự chưa có công nghệ chế biến rong biển. Chiết suất keo
alginate mới ở mức độ thử nghiệm, carrageenan mới bắt đầu nghiên cứu,
agar thì một số xí nghiệp tư nhân, quốc doanh còn sử dụng nhưng công
nghệ mang tính chất thủ công. Sản phẩm làm từ rong biển chưa trở thành
hàng hoá, do vậy rất ít được lưu thông trên thị trường trong nước, lại
càng khó xuất khẩu (trừ rong câu và agar trước đây đã có xuất khẩu).
Chế biến như vậy thì khai thác rong biển sẽ không phát triển và có sản
lượng cao. Do nhu cầu tiêu thụ rong biển không lớn, nguời sản xuất
chưa thu được nhiều lợi ích kinh tế nên chưa tích cực khai thác và
nuôi trồng rong biển.
Sự quan tâm đến phát triển, bảo vệ và khai thác bền vững tài nguyên
của các cấp chính quyền chưa rõ ràng, chưa có các biện pháp kịp thời
và hữu hiệu. Chưa có quy hoạch dài hạn và ngắn hạn trong quản lý nuôi
trồng rong biển. Chưa có định hướng cho nghiên cứu và sản xuất rong
biển, chỉ mới có một số kết quả nghiên cứu và phát triển nghề trồng
rong câu. Nhưng từ năm 2000 đến nay diện tích trồng bị thu hẹp lại rất
nhiều do giá rong nguyên liệu thấp, hiệu quả kinh tế không cao.
Một số đối tượng rong kinh tế chưa được đầu tư nghiên cứu sâu để tìm
ra những cơ sở khoa học và xác định dây chuyền công nghệ để quản lý
khai thác và nuôi trồng. Do vậy trước mắt các đối tượng này chưa thể
đưa vào nuôi trồng được, nếu nuôi trồng thì cũng chưa đạt hiệu quả
kinh tế. Vì vậy, nghiên cứu, thí nghiệm cần phải đi trước.
2.3. Các biện pháp bảo vệ nguồn lợi rong biển
Đánh giá khả năng nguồn lợi và xây dựng các biện pháp bảo vệ nguồn
lợi rong biển dựa trên các góc độ như sau:
Tài nguyên - môi trường: Đó là các vấn đề về sinh học cây rong như
sinh lượng quần thể tự nhiên, chất lượng giống, sinh trưởng, sinh
sản…; vấn đề môi trường như sự ô nhiễm, không gian vùng nước có thể
nuôi trồng, các điều kiện, khí hậu, thủy văn…
Kỹ thuật: Kỹ thuật khai thác, nuôi trồng thích hợp với điều kiện thực
tế của địa phương; đội ngũ cán bộ kỹ thuật sẵn có…
Kinh tế - xã hội: Ý nghĩa kinh tế của cây rong như giá trị thực phẩm
(protein, acid amin, vi lượng…), dược phẩm (manitol, Iod-tamine…),
nguyên liệu cho công nghiệp keo (alginate, agar, carrageenan); thị
trường tiêu thụ rong thương phẩm và chế phẩm từ nó, tính ổn định của
thị trường, sự cạnh tranh…; khả năng đầu tư, nguồn lao động tại chỗ,
trình độ dân trí, mức sống của người dân, khả năng thu nhập…
Dưới đây là mô hình chiến lược về phương hướng bảo vệ phát triển
nguồn lợi rong biển ở Việt Nam:
Muốn phát triển và bảo vệ nguồn lợi rong biển Việt Nam, cần xem xét
định hướng phát triển chúng về công nghệ rong biển, có nghĩa là phải
xem xét một cách tổng thể song song quá trình phát triển nguồn lợi
rong biển và đầu ra của nguồn lợi rong biển.
Trên mô hình chiến lược phát triển công nghệ rong biển ở Việt Nam cho
thấy để phát triển nguồn lợi rong biển cần có những biện pháp sau:
Một là: Đối với rong nuôi trồng: cần nghiên cứu chọn loại rong có
chất lượng cao, có khả năng sinh trưởng phát triển tốt trong điều kiện
khí hậu Việt Nam.
Đẩy mạnh nghiên cứu sinh học, di truyền, sinh sản, công nghệ sinh
học, kỹ thuật nuôi trồng… làm cơ sở cho nuôi trồng nhân tạo. Hiện nay,
do sự chuyên môn hóa sâu nên ngay cùng một góc độ đánh giá cũng đòi
hỏi sự tham gia của nhiều chuyên gia khác nhau. Ví dụ nghiên cứu đánh
giá các vấn đề sinh học của cây rong: có người chuyên nghiên cứu các
đặc điểm sinh trưởng, sinh sản, có người chuyên đánh giá sinh lượng…
Phổ biến kỹ thuật nuôi trồng tốt, giới thiệu giống có năng suất, chất
lượng cao. Các biện pháp này sẽ góp phần làm giảm áp lực khai thác lên
các quần thể rong tự nhiên có giá trị kinh tế và chủ động sản xuất
giống để tái tạo nguồn lợi đã bị khai thác quá mức.
Đối với nguồn lợi rong mọc tự nhiên: cần nâng cao các biện pháp quản
lý bảo vệ nguồn lợi như: không khai thác san hô bừa bãi để tạo giá
cho rong biển mọc và sinh sống, thu hoạch đúng mùa vụ theo chu kỳ sinh
trưởng và phát triển của rong biển, thường xuyên phát hiện sự xuất
hiện của đàn cầu gai để kịp thời đánh bắt chế biến cầu gai và bảo vệ
rong biển khỏi bị cầu gai ăn trụi.
Đa dạng hóa đối tượng khai thác: điều này sẽ làm giảm áp lực khai
thác lên một hoặc một nhóm loài nào đó, ví dụ, thay vì chỉ tập trung
khai thác các loài thuộc giống rong câu Gracilaria phục vụ cho việc
chiết xuất agar, ta có thể mở rộng khai thác sang các loài thuộc giống
rong thạch Gelidium. Để thực hiện tốt biện pháp này, ta phải nắm rõ
đặc điểm sinh học của các loài có tiềm năng khai thác, xem chúng thuộc
nhóm rong nào, là nguyên liệu để chiết xuất agar, alginate,
carrageeenan hay để làm thực phẩm.
Chỉ khai thác cây rong sau khi nó sinh sản (phóng bào tử) hoặc đổ
nước bào tử vào biển: biện pháp này nhằm tái tạo chủng quần bằng chính
nguồn lợi rong tự nhiên đang được khai thác.
Hai là: Cải tiến công nghệ sau thu hoạch để đảm bảo chất lượng nguyên
liệu rong biển cho các quá trình chế biến keo rong.
Ba là: Tăng cường quá trình chế biến và sử dụng nguyên liệu rong biển
trên các góc độ sau đây:
• Cải tiến quy trình công nghệ chế biến, sản xuất các loại keo rong có
chất lượng cao và hiệu suất quy trình cao.
• Tăng cường xúc tiến thương mại để xuất khẩu keo rong.
• Tăng cường nghiên cứu ứng dụng keo rong biển vào các ngành công
nghiệp, dịch vụ của nước ta.
Tiềm năng phát triển công nghệ vật liệu rong biển của Việt Nam là rất
lớn, vì vậy việc triển khai là vô cùng cần thiết cho sự phát triển
kinh tế bền vững của cả nước. Tại khu vực Nam Trung Bộ trước hết phải
mạnh dạn đầu tư vào công nghệ nuôi trồng các loài rong có giá trị kinh
tế cao như rong sụn Kappaphycus alvarezii (nguyên liệu chế biến
carrageenan), các loài rong câu có chất lượng agar cao (rong câu cước,
G. fisherii, G. changii, G. firma) (các loài rong này đều có thể sử
dụng làm thực phẩm). Đồng thời đầu tư khai thác một cách thật bài bản
nguồn lợi rong Mơ hết sức dồi dào tại vùng biển này. Sau khi có được
nguồn rong nguyên liệu ổn định sẽ tiến hành nhập khẩu các dây chuyền
thiết bị hiện đại để sản xuất các loại keo rong biển có chất lượng
tiêu chuẩn quốc tế.
Ngoài ra còn một số biện pháp nữa rất quan trọng đến bảo vệ nguồn lợi
rong biển:
- Ngăn chặn nghề lưới vét khai thác hải sản ở vùng ven bờ trong đó có
rong biển. Có biện pháp chuyển đổi ngay nghề khai thác hải sản bằng
lưới vét ven bờ sang các nghề khác.
- Xây dựng chương trình quản lý rong biển trên cơ sở quản lý cộng
đồng, trang bị các kiến thức cơ bản về sinh thái rong biển và công tác
quản lý, bảo tồn cho càn bộ địa phương nhất là các cơ quan chức năng
thuộc các địa phương có vùng biển.
- Các cơ quan có trách nhiệm quản lý ở địa phương (Chi cục bảo vệ
nguồn lợi thuỷ sản, Sở thuỷ sản) cần xác định rõ khu vực bãi rong biển
và cắm mốc chỉ giới cho khu bảo vệ rong biển. Điều tra lại một cách cơ
bản hệ sinh thái rong biển, xây dựng bản đồ phân bố rong cho các vùng
biển.
- Xây dựng chương trình quản lý chất thải như dầu mỡ, hoá chất, chất
thải sinh hoạt... đổ ra các vùng biển nói chung và các bãi rong biển
nói riêng.
- Ngăn chặn việc phá rừng đầu nguồn để hạn chế nước mưa đổ xuống vùng
ven biển làm giảm độ muối, tăng độ đục gây bất lợi cho rong biển phát
triển.
- Cấm triệt để việc khai thác các loài sinh vật biển và neo tàu thuyền
trong khu bảo vệ rong biển nghiêm ngặt.
- Lựa chọn một số địa điểm trồng phục hồi một số nhóm rong kinh tế
(Colpomenia, Sargassum, Ulva...).
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Vũ Văn Dũng, 1996. Luận án PTS Khoa học sinh học: Nghiên cứu đặc
điểm sinh học của một số loài rong tạp thường gặp và biện pháp phòng
trừ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng rong câu trồng trong đầm nước
lợ. Bộ GD và ĐT - Bộ Thuỷ sản - Viện nghiên cứu Hải sản Hải Phòng.
2. Châu Thị Tuyết Hạnh, 2002. Bài giảng Kỹ thuật nuôi trồng rong biển
(Seaweed culture). Trường ĐH Nông lâm Huế.
3. Châu Thị Tuyết Hạnh, 2001. Bài giảng Thực vật nước. Trường ĐH Nông
lâm Huế.
4. Thiều Lư, 1998. Luận án Thạc sĩ Nuôi trồng thuỷ sản: Điều tra nguồn
lợi rong biển kinh tế ở Hà Tiên - Kiên Giang. Bộ GD và ĐT - Trường ĐH
Thuỷ sản Nha Trang.
5. Trần Thị Luyến - Đỗ Minh Phụng - Nguyễn Anh Tuấn - Ngô Đăng Nghĩa,
2004. Chế biến rong biển. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Tp Hồ Chí Minh.
6. Lê Anh Tuấn, 2004. Kỹ thuật nuôi trồng rong biển (Seaweed culture).
Nhà xuất bản Nông nghiệp, Tp Hồ Chí Minh.
7. Trung tâm Khuyến ngư quốc gia - Bộ Thuỷ sản, 2005. Kỹ thuật nuôi
trồng một số đối tượng thuỷ sản ở biển. Nhà xuất bản Lao động xã hội,
Hà Nội.
8. Trang web: http://www.fao.org
9. Trang web: http://www.seaweed.ie
10. Trang web: http://www.surialink.com
• Khả năng sống sót của rong thấp nếu môi trườ...
Bạn có tài liệu nào về thành phần hóa học của loài rong porphyra không?
--
Bạn nhận được thư này vì bạn đã đăng ký vào nhóm Google Groups "ntts43".
Để hủy đăng ký khỏi nhóm này và ngừng nhận email từ nhóm, hãy gửi email đến ntts43+un...@googlegroups.com.
Để đăng lên nhóm này, hãy gửi email đến ntt...@googlegroups.com.
Hãy truy cập nhóm này tại http://groups.google.com/group/ntts43.
Để có thêm tùy chọn, hãy truy cập https://groups.google.com/d/optout.
Hi. Cảm ơn bạn
Bạn nhận được thư này vì bạn đã đăng ký vào một chủ đề trong nhóm Google Groups "ntts43".
Để hủy đăng ký khỏi chủ đề này, hãy truy cập https://groups.google.com/d/topic/ntts43/kwO2md4k8pY/unsubscribe.
Để hủy đăng ký khỏi nhóm này và tất cả chủ đề của nhóm, hãy gửi email đến ntts43+un...@googlegroups.com.
TRƯỜNG ĐH NÔNG LÂM
thể. Phân cắt lần I là phân cắt chéo như tế bào mầm của khối đ...
tế bào trung trụ và vây t...
A ko co.
Vào 20-10-2016 15:58, "Như Phước" <nphuo...@gmail.com> đã viết:
> --
> Bạn nhận được thư này vì bạn đã đăng ký vào nhóm Google Groups "ntts43".
> Để hủy đăng ký khỏi nhóm này và ngừng nhận email từ nhóm, hãy gửi email đến ntts43+un...@googlegroups.com.
> Để đăng lên nhóm này, hãy gửi email đến ntt...@googlegroups.com.
> Hãy truy cập nhóm này tại https://groups.google.com/group/ntts43.