tai lieu ne hee

67 views
Skip to first unread message

thang nguyen

unread,
Sep 26, 2011, 5:47:38 AM9/26/11
to ntts43

BỘ NN&PTNT
TT KHUYẾN NGƯ QG CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc
Số: / BC- KN Hà Nội, ngày 31 tháng 12 năm 2007

BÁO CÁO TỔNG KẾT HOẠT ĐỘNG
KHUYẾN NGƯ NĂM 2007, TRIỂN KHAI KẾ HOẠCH 2008

Thực hiện chỉ đạo của Bộ trưởng, Trung tâm khuyến ngư Quốc
gia báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch khuyến ngư năm 2007 và kế hoạch
năm 2008 như sau:
A. Tình hình thực hiện kế hoạch khuyến ngư năm 2007
1. Thuận lợi
Được sự quan tâm và chỉ đạo chặt chẽ của Lãnh đạo Bộ Thuỷ sản (cũ) và
Bộ NN&PTNT, sự phối hợp chặt chẽ về chuyên môn của các Viện nghiên
cứu, các trường Đại học, các đơn vị hoạt động khuyến ngư trên toàn
quốc… được sự hỗ trợ đắc lực của các Bộ, Ban, Ngành ( Văn phòng chính
phủ; Bộ Kế hoạch đầu tư; Bộ Tài chính…. Các chương trình khuyến ngư đã
bám sát mục tiêu chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật, cung cấp
các thông tin thị trường, giá cả, các chủ trương chính sách của Đảng
và Nhà nước, cung cấp các tài liệu, ấn phẩm kỹ thuật và phối hợp với
các cơ quan truyền thông đại chúng tuyên truyền đến ngư dân. Hoạt động
khuyến ngư đã nhanh chóng chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật,
các thông tin kinh tế đến người sản xuất trên cả nước.
2. Khó khăn
Vào những tháng đầu năm 2007 tình hình thời tiết tương đối bất lợi cho
ngành thuỷ sản. Nắng nóng và khô hạn kéo dài, độ mặn tăng cao, một số
khu vực hệ thống thuỷ lợi và thuỷ nông nội đồng chưa đáp ứng với sự
phát triển của nghề nuôi thuỷ sản, lũ lụt lớn đã xảy ra diện rộng trên
cả nước, nhất là các tỉnh Miền Bắc và Miền Trung đã gây ra nhiều thiệt
hại cả người và tài sản cho nhân dân nhất là công đồng ngư dân, nhiều
hộ nuôi trồng thuỷ sản đã bị mất trắng, nhiều mô hình thiệt hại hoàn
toàn do lũ lụt, nhiều tàu thuyền bị bão đánh chìm, nhiều ngư dân bị
thiệt mạng…. Giá cả tăng cao đặc biệt là giá thức ăn nuôi trồng thuỷ
sản, giá nhiên liệu đã tác động mạnh đến sản xuất, gây khó khăn lớn
cho ngư dân, chi phí sản xuất tăng, giá đầu ra sản phẩm tăng ít đã dẫn
đến nhiều tàu phải nằm bờ trong đó kể đến nghề lưới kéo và kể cả nghề
câu cá ngừ đại dương.
- Về nuôi trồng thuỷ sản phải đối mặt với dịch bệnh, nhất là các tỉnh
duyên hải Miền Trung (nghề nuôi tôm hùm đã bị bệnh hàng loạt) do môi
trường ô nhiễm, người dân chưa làm tốt công tác phòng trị bệnh cho
tôm.
- Về khai thác thuỷ sản phải đối mặt với sự giảm sút nguồn lợi nghiêm
trọng đặc biệt là nguồn lợi thuỷ sản gần bờ, công nghệ khai thác lạc
hậu, gia dầu tăng cao, công tác quản lý sản xuất còn nhiều bất cập,
vẫn còn số lượng lớn tàu thuyền khai thác ở vùng nước ven bờ, ngư dân
chưa có đủ trình độ kỹ thuật và kinh nghiệm để vươn khơi có hiệu quả.
- Về bảo quản và chế biến sản phẩm với chất lượng nguyên liệu thuỷ sản
còn thấp do công tác sơ chế bảo quản chưa đạt yêu cầu, hoặc do nguyên
liệu thuỷ sản còn bị bơm, chích tạp chất. Thị trường ngày càng có
nhiều rào cản, thiếu ổn định và cạnh tranh rất quyết liệt.
Trước những khó khăn thử thách đó, đòi hỏi công tác khuyến ngư đã phải
cố gắng rất nhiều để thúc đẩy phát triển sản xuất thuỷ sản, góp phần
đưa Ngành Nông nghiệp &Phát triển nông thôn đạt được các chỉ tiêu kinh
tế đề ra năm 2007. Các cán bộ khuyến ngư/nông đã không quản ngại gian
khổ bám sát thực tế sản xuất, cùng người dân khắc phục những khó khăn
và vướng mắc.
Mặc dù với những khó khăn như trên nhưng với sự cố gắng của toàn thể
cán bộ, nhân viên khuyến ngư/ngư trên cả nước đã sát cánh cùng nông
ngư dân đưa sản xuất không ngừng phát triển:
- Năm 2007 hoạt động khuyến ngư được triển khai mạnh mẽ trên địa bàn
cả nước góp phần đáng kể vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đưa nhanh
tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tăng nhanh sản lượng và giá
trị thuỷ sản đặc biệt là lĩnh vực nuôi trồng thuỷ sản.
- Hoạt động khuyến ngư từng bước được xã hội hoá, được các tổ chức
quan tâm coi là giải pháp quan trọng tăng năng lực sản xuất, tăng sản
phẩm đáp ứng cho tiêu dùng nội địa và xuất khẩu.
I. Chương trình khuyến ngư thường xuyên.
1. Theo Quyết định số: 156/QĐ-BTS ngày 2/2/2007 giao dự toán ngân sách
nhà nước năm 2007, tổng kinh phí khuyến ngư năm 2007 Bộ giao Trung tâm
khuyến ngư Quốc gia quản lý là 30.983 triệu đồng. Cụ thể như sau:
- Chương trình khuyến ngư thường xuyên 19.500 triệu đồng
- Chương trình khuyến ngư phát triển giống thuỷ sản 10.000 triệu đồng
- Chi kinh phí bộ máy: 808 triệu đồng
- Chi sự nghiệp khoa học: 275 triệu đồng
- Chi xoá đói giảm nghèo: 400 triệu đồng
2. Kết quả thực hiện:
Bộ trưởng Bộ Thuỷ sản (cũ) có và Quyết định số: 1033/QĐ-BTS ngày
30/7/2007 phê duyệt điều chỉnh dự toán chi tiết kinh phí khuyến ngư
thường xuyên năm 2007: 19.500 triệu đồng được phân bổ như sau:
- Xây dựng mô hình trình diễn 13.084 triệu đồng,
- Tập huấn khuyến ngư: 4.321 triệu đồng,
- Thông tin tuyên truyền khuyến ngư: 1.050 triệu đồng,
- Chi phí hành chính và nghiệp vụ khuyến ngư: 1.045 triệu đồng.
Kết quả thực hiện cụ thể như sau:
3) Về xây dựng mô hình trình diễn:
Chương trình của Trung tâm khuyến ngư Quốc gia đã thực hiện trong năm
2007 cụ thể:
STT Tên chương trình khuyến ngư Năm 2007 Tỷ lệ so với tổng thể %
Số mô hình Diện tích Về số mô hình Về diện tích
1 Phát triển nuôi tôm sú 13 15,5 ha 4,1% 4,6%ha
2 Phát triển nuôi thuỷ sản mặn lợ 54 44 ha; 700 lồng; 1000 dây, 700
m3 lồng 16,3% 13% (ha)
23,8% (dây)
11,8% (m3)
Khuyến ngư nuôi biển và hải đảo 11 1.365m3 và 3.200 dây, khay tu
hài, vẹm xanh 3,4% 23% (m3);
76,2%
Dây

3 Phát triển nuôi thuỷ sản nước ngọt 240 281 ha; 3.868 m3 lồng 71,6%
82,4% (ha)
65,2% (m3)
4 Phát triển khai thác hải sản xa bờ 15 4,5%
5 Sơ chế và bảo quản sản phẩm 3 0,1%
Tổng cộng 336 340,5ha; 5.933m3;
700 lồng; 4.200 dây;
100%
Theo thống kê chưa đầy đủ (nguồn kinh phí địa phương) năm 2007 toàn
quốc đã xây dựng được 665 mô hình cho 3.581 hộ tham gia; riêng Trung
tâm khuyến ngư Quốc gia năm 2007 đã triển khai được 336 mô hình. ( chi
tiết tại phụ lục 1).
* Tập huấn, hội thảo, tham quan thực tế
Tập huấn kỹ thuật là một trong những nội dung hoạt động quan trọng của
khuyến ngư, để xây dựng được mô hình công tác tập huấn kỹ thuật cho
người dân phải được tiên phong đi trước, sau khi tập huấn người dân đã
nắm được các quy trình kỹ thuật lúc đó sẽ dùng các mô hình trình diễn
để minh hoạ cho người dân và giúp họ vận dụng các kiến thức đã được
trang bị vào từng nông hộ. Hàng năm công tác tập huấn kỹ thuật và
nghiệp vụ khuyến ngư đã được Trung tâm khuyến ngư Quốc và các cơ quan
làm công tác khuyến ngư trên cả nước thực hiện rất hiệu quả cả về quy
mô và chất lượng, kinh phí tập huấn đã chiếm khoảng 20% tổng kinh phí
khuyến ngư.
Năm 2007 toàn quốc đã triển khai được 4.526 lớp tập huấn cho 184.033
lượt người tham dự; tổ chức 531 cuộc hội thảo với 24.208 lượt người
tham gia; có 171 đợt tham quan cho 3.581 người tham gia. Riêng Trung
tâm khuyến ngư Quốc gia đã tổ chức được 2 đợt tham quan học tập nước
ngoài cho lãnh đạo địa phương các tỉnh với thời gian từ 7 – 10 ngày/
đợt, với 28 người tham gia.. ( Chi tiết tại phụ lục 2).
+ Triển khai kế hoạch nêu trên từ tháng 2/2007 Trung tâm khuyến ngư
Quốc gia đã thông báo nội dung cho các đơn vị hoạt động khuyến ngư
trên cả nước để xây dựng phương án làm việc cụ thể với Trung tâm
khuyến ngư Quốc gia.
+ Tháng 3/2007 Trung tâm khuyến ngư Quốc gia đã nhanh chóng ký kết các
hợp đồng kinh tế với các đơn vị phối hợp, để các nội dung triển khai
kịp mùa vụ sản xuất. Đến nay các nội dung mô hình khuyến ngư đã triển
khai được 335 mô hình, trên 336 mô hình được phê duyệt, đạt 99,7%.
4) Về tập huấn kỹ thuật nuôi trồng, khai thác và chế biến thuỷ sản:
Trung tâm đã tổ chức các lớp tập huấn, tham quan để phổ biến các tiến
bộ khoa học kỹ thuật đến người sản xuất: Đến 26/12/2007, đã triển khai
510 lớp tập huấn cho hơn 24.640 lượt người.
5) Về thông tin tuyên truyền:
Thông tin tuyên truyền là một trong những nội dung chính của công tác
khuyến ngư, là kênh quan trọng để chuyển tải đến nông ngư dân các
thông tin khoa học kỹ thuật mới, thông tin kinh tế và các chủ trương
chính sách của Đảng và Nhà nước. Đồng thời, cũng giới thiệu những
gương điển hình, những mô hình sản xuất tiên tiến cũng như những công
nghệ mới, phương pháp NTTS ở nước ngoài để bà con có thể tham khảo và
ứng dụng vào thực tế sản xuất. Thông qua nhiều hình thức tuyên truyền,
qua các phương tiện thông tin đại chúng,… các cơ quan báo chí, in ấn,
xuất bản để phát hành các ấn phẩm, tờ rơi phục vụ nhu cầu thông tin
cho sản xuất thuỷ sản.
Năm 2007, hoạt động thông tin tuyên truyền trong công tác khuyến ngư
đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, cung cấp thông tin về thủy
sản nói chung và khuyến ngư nói riêng, đáp ứng được yêu cầu của thực
tế, ngày càng đảm bảo tính chính xác, kịp thời cả trên diện rộng lẫn
chiều sâu. Thông qua hệ thống các phương tiện thông tin đại chúng từ
trung ương đến địa phương ngày càng hiện đại và nhanh chóng, hoạt động
thông tin tuyên truyền đã chuyển tải đến nông, ngư dân cả nước nhiều
thông tin về kinh tế, xã hội, các chính sách pháp luật của Nhà nước có
liên quan đến cả 3 lĩnh vực khai thác, nuôi trồng và chế biến thuỷ
sản, những kỹ thuật mới, những mô hình đạt hiệu quả cao giúp nông, ngư
dân tiếp cận với kỹ thuật mới và áp dụng vào sản xuất thực tế tại địa
phương ngày càng nhiều.
Thời gian qua, Trung tâm Khuyến ngư Quốc gia đã phối hợp chặt chẽ với
các cơ quan thông tin đại chúng cả nước phát sóng và đăng tải các
chuyên mục thông tin tuyên truyền khuyến ngư để chuyển tải thông tin
đến nông, ngư dân như chuyên mục Giáo dục từ xa, Cùng nông dân bàn
cách làm giàu, các phóng sự, bản tin, phim kỹ thuật trên Đài Truyền
hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam cũng như đài phát thanh, truyền
hình địa phương; các báo: Kinh tế Nông thôn, Nông nghiệp Việt Nam, Tạp
chí Thủy sản, Bản tin Con Tôm, Thông tin Kinh tế và kỹ thuật thuỷ
sản ....
Ấn phẩm “Thông tin Khuyến ngư Việt Nam” vẫn duy trì phát hành đều đặn
hàng tháng, với số lượng phát hành ngày càng tăng, nhằm chuyển tải đến
nông ngư dân các thông tin được cập nhật, và có tính thực tế cao, được
nhiều bạn đọc cả nước nhiệt tình cộng tác. Trang web của Trung tâm
Khuyến ngư Quốc gia tại địa chỉ www.nafec.gov.vn và www.KhuyênngưViệtNam.vn
cũng liên tục được cập nhật tin tức, với số lượng lượt người truy cập
ngày càng tăng. Cùng với trang website của một số địa phương đã ngày
càng góp phần đắc lực vào công tác thông tin tuyên truyền khuyến ngư,
cập nhật thường xuyên những thông tin về các hoạt động khuyến ngư trên
toàn quốc, phổ biến kiến thức khoa học kỹ thuật nuôi trồng, khai thác,
chế biến thuỷ sản, các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và
Nhà nước, các văn bản liên quan đến công tác khuyến ngư, khuyến nông,
giải đáp những thắc mắc, đồng thời cập nhật thông tin hai chiều hàng
ngày một cách nhanh chóng và chính xác với nông ngư dân, cán bộ làm
công tác khuyến ngư nói riêng và cán bộ làm thuỷ sản nói chung... Đến
nay, Trung tâm Khuyến ngư Quốc gia và đa số các đơn vị làm công tác
khuyến ngư trên toàn quốc đã trao đổi công việc qua đường thư điện tử
một phương tiện trao đổi thông tin nhanh, thuận lợi và tiết kiệm nhất,
do đó hiệu quả công việc cao hơn.
Theo thống kê, các địa phương đã xuất bản được 31đầu sách kỹ thuật
với 170.137 bản in; 14 băng hình với 2.101 đĩa được in sao; 25 tờ gấp
với số bản in là 123.427 bản; 320 bài báo; 1.049 chương trình truyền
hình phát trên sóng trung phát trên sóng truyền hành và sóng đài phát
thanh.
Riêng Trung tâm Khuyến ngư Quốc gia đã xuất bản được 5 đầu sách, với
số lượng 1.700 bản, tờ rơi mang nội dung kỹ thuật nuôi một số đối
tượng thuỷ sản. Xây dựng 6 phim kỹ thuật sản xuất giống và nuôi một số
đối tượng thuỷ sản với số lượng in sao hàng nghìn chiếc, đồng thời
Trung tâm kết hợp với Đài Truyền hình Việt Nam thực hiện nhiều nội
dung trong chương trình “Cùng nông dân bàn cách làm giàu” trên VTV 2,
đặc biệt là mục “Mách nhỏ nhà nông” trong chương trình “Chào buổi
sáng” trên VTV1 với số lượng 20 tiểu mục được nhiều người ưa thích.
Ngoài ra, còn phối hợp với Đài Tiếng nói Việt Nam thực hiện chương
trình thuỷ sản hoặc chương trình khuyến ngư dành cho ngư dân, phát
sóng hàng ngày hoặc chuyên mục “Thanh thiếu nhi phát triển kinh tế
thuỷ sản - Chương trình Thanh Thiếu nhi” phát sóng 2 chuyên đề/tuần,
mỗi chuyên đề phát sóng 2 lần/ngày. Trong năm, Trung tâm Khuyến ngư
Quốc gia phối hợp với Hội Nông dân Việt Nam và các địa phương tổ chức
Hội thi “Nông ngư thi tài lần I” trên phạm vi cả nước, đã đạt được
những hiệu quả tuyên truyền đáng kể.
Cùng với thời gian, đến nay hoạt động thông tin tuyên truyền khuyến
ngư đã xây dựng được mạng lưới cộng tác viên khuyến ngư nhiệt tình
tham gia rộng khắp cả nước. Họ gồm nhiều đối tượng khác nhau, họ là
nhà quản lý, nhà khoa học, nhà nghiên cứu, người sản xuất. Vì vậy,
nguồn thông tin từ họ rất đa dạng, phong phú và được thể hiện ở nhiều
loại hình và các cấp độ khác nhau, phản ảnh kịp thời các yêu cầu, bức
xúc của bà con ngư dân trong sản xuất thủy sản tại địa phương, giúp bà
con chủ động trong kế hoạch sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, nâng cao hiệu
quả kinh tế, góp phần hạn chế những thiệt hại do biến động thời tiết,
ô nhiễm môi trường, dịch bệnh lây lan, giá cả thị trường biến động.
Tuy nhiên, số đông cộng tác viên khuyến ngư cũng mới chỉ tập trung ở
một số nơi hoạt động sản xuất thuỷ sản phát triển nên thông tin ở cùng
một thời điểm cũng có sự khác nhau, nên rất khó trong việc xử lý thông
tin.
Công tác thông tin tuyên truyền những năm qua đã tạo được mối liên kết
ngày càng chặt chẽ giữa các cơ quan làm công tác khuyến ngư và các tổ
chức hội, nghề nghiệp khác liên quan, tạo được mạng lưới hoạt động
khuyến ngư rộng khắp. Tuy nhiên, ở một số địa phương hoạt động này vẫn
còn bị bó hẹp trong phạm vi nhỏ, tính lan truyền chưa cao, đặc biệt là
ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số.
Cán bộ khuyến ngư làm nhiệm vụ thông tin tuyên truyền ở nhiều địa
phương chưa được tập huấn đào tạo về nghiệp vụ cũng như chuyên môn,
trình độ xử lý các thiết bị máy móc chưa cao nên khả năng đáp ứng yêu
cầu của việc thông tin còn hạn chế.
II) Chương trình khuyến ngư giống thuỷ sản:
Theo Quyết định số: 514/QĐ-BTS ngày 19/4/2007, kinh phí chương trình
khuyến ngư giống thuỷ sản năm 2007 được giao: 10 tỷ đồng, phân bổ như
sau:
- Dự án nhập công nghệ từ nước ngoài: Bao gồm 9 dự án nhập công nghệ
sản xuất giống thuỷ sản. Các dự án đang triển khai theo đúng tiến độ
được phê duyệt, trong đó có dự án nhập công nghệ sản xuất giống cá
cảnh Lan Thọ đang tiếp tục chỉnh sửa trình phê duyệt.
- Dự án chuyển giao công nghệ sản xuất giống thuỷ sản từ các Viện,
Trường đến các cơ sở sản xuất giống bao gồm 6 dự án.
- Xây dựng mô hình ương nuôi giống thuỷ sản cho các tỉnh miền núi vùng
sâu, vùng xa là: 18 mô hình. Qua công tác kiểm tra và các báo cáo từ
các đơn vị, các mô hình đều đạt các chỉ tiêu theo hợp đồng đã ký kết.
Nhìn chung, các nội dung khuyến ngư giống thuỷ sản được tổ chức triển
khai đúng tiến độ và dự báo nguồn kinh phí khuyến ngư được giao năm
2007 được triển khai đúng kế hoạch và khả năng hoàn thành các nội dung
kế hoạch khuyến ngư đã được phê duyệt.
1) Các dự án chuyển giao công nghệ:
1.1) Dự án chuyển giao công nghệ sản xuất giống cá bống bớp: Đơn vị
chủ trì - Trung tâm chuyển giao công nghệ Miền Bắc – Viện NCHSHP.
Dự án được thực hiện cho các tỉnh: Hà Tĩnh; Nghệ An; Hải Phòng; Thái
Bình; Nam Định; Ninh Bình. Dự án đã tiến hành tập huấn cho 18 cán bộ
kỹ thuật của 6 tỉnh.
Kết quả thực hiện tại đơn vị:
Thái Bình: Sản xuất đựơc 2,77 vạn cá giống, đạt tỷ lệ sống từ bột lên
cá giống là 20-21,4% (TB 20,7%).
Nam Định: Sản xuất được 5,52 vạn cá giống tại 2 cơ sở. Như vậy trong
năm 2007 dự án đã hoàn thành xong công tác chuyển giao cho 2 tỉnh là
Nam Định và Thái Bình, các tỉnh còn lại chủ nhiệm dự án phải thực hiện
xong trong năm 2008.
1.2) Chuyển giao công nghệ sản xuất giống hàu – Viện NCNTTS I thực
hiện, đơn vị tiếp nhận Sở Thuỷ sản Trà Vinh; TT khuyến ngư Cà Mau; TT
khuyến ngư Nam Định. Kết quả đạt được:
- Tập huấn kỹ thuật cho 18 cán bộ kỹ thuật của dự án
- Tại Cà Mau, Trà Vinh đã cho đẻ 3 đợt: Sản xuất được 420 triệu ấu
trùng, 1.000.000 con giống cỡ 1mm.
- Tại Nam Định: đã sản xuất được 3.125.000 con giống vượt chỉ tiêu
2.125.000 con.
1.3) Dự án chuyển giao công nghệ sản xuất giống cá lăng chấm – Viện
NCNTTS I thực hiện.
Cán bộ Viện 1 đã hướng dẫn 2 cơ sở tiếp nhận công nghệ nuôi vỗ cá bố
mẹ theo quy trình, sử dụng hệ thống bơm nước tạo dòng chảy trong ao và
phun mưa nhân tạo từ tháng 12/2006 đến tháng 6/2007. Sử dụng thức ăn
là cá mè, cá tạp và tôm để nuôi vỗ thành thục cá bố mẹ theo đúng quy
trình.
Dự án đã triển khai tại hai tỉnh Nam Định và Hà Tây: Kết quả kiểm tra
cho thấy phần lớn đàn cá hậu bị chuyển xuống Nam Định vào tháng
7/2006 đã thành thục sinh dục, tốc độ tăng trưởng của cá rất tốt. Sau
1 năm nuôi vỗ (từ tháng 7/2006 đến tháng 6 năm 2007) cá bố mẹ tăng
trưởng trung bình 2,2kg/con, cá hậu bị tăng trọng trung bình 1,7kg/
con. Tỷ lệ sống của cá bố mẹ tại Nam Định đạt 96%. Tại Hà Tây: Chuyển
cá bố mẹ về nuôi trong ao tại Hà Tây từ ngày 31/6/2007. Sau hơn 1 tuần
nuôi trong ao cá đã bị chết. Số cá chết là 18 con trong đó có 8 con cá
bố mẹ và 10 cá hậu bị. Trung tâm đã báo cáo với Viện, cán bộ Viện đã
xuống hướng dẫn thay nước thường xuyên và sau đó cá đã ngừng chết, ăn
thức ăn bình thường.
- Tiến hành sinh sản nhân tạo tại Nam Định
Đã tiến hành cho cá đẻ 2 đợt tại Nam Định, lần 1 thu được trên 10.000
cá bột, lần 2 thu được 3.000 cá bột. Kết quả cụ thể được trình bày
trong bảng sau:
Ương cá bột trong bể kính, sử dụng thức ăn là trùng chỉ và động vật
phù du. Trong quá trình ương cá bị bệnh trùng bánh xe, điều trị bằng
cách tắm trong dung dịch Sunfat đồng cá đã khỏi bệnh, chỉ chết khoảng
250 con.
Số lượng cá hương hiện nay còn khoảng trên 10.000 con đang được ương
trong bể xi măng của trung tâm, đang tiến hành luyện cho cá ăn thức ăn
chế biến. Số cá này hiện nay phát triển rất tốt.
- Tiến hành sinh sản nhân tạo tại Hà Tây
Ngày 02/6/2007 cán bộ Viện 1 đã xuống kiểm tra cá bố mẹ, chọn được 4
cá cái và 2 cá đực để cho đẻ nhưng cá không rụng trứng. Đã thả lại số
cá này vào ao nuôi vỗ cá bố mẹ. Chất lượng trứng của những con cá này
không đảm bảo, trứng không đều nhau, hạt to hạt nhỏ nhiều giai đoạn,
mức độ đàn hồi của trứng kém chứng tỏ cá thành thục không tốt. Do
nhiều điều kiện nên việc chuyển giao công nghệ cá lăng chấm cho tỉnh
Hà Tây đã dừng lại theo đề nghị của cơ quan chuyển giao.
1.4) Dự án chuyển giao công nghệ sản xuất giống tôm càng xanh – Do
Viện NCNTTS II thực hiện, đơn vị tiếp nhận Bến Tre; Long an. Qua kiểm
tra và báo cáo của cơ quan tiếp nhận công nghệ, dự án đã đạt được mục
tiêu đề ra.
2) Dự án nhập công nghệ sinh sản nhân tạo giống thuỷ sản:
2.1) Dự án nhập công nghệ sản xuất giống cá măng biển – Viện Nghiên
cứu NTTS II. Kết quả dự án đã đạt được:
- Đàn cá măng bố mẹ 11 con; Cá thành thục 9 con; Cá tham gia sinh sản
4 con; Cá bột đạt được 1,6 triệu con; Cá hương 0,5 triệu con; Cá giống
60 con; Đàn cá hậu bị 50 con.
2.2) Dự án nhập công nghệ sản xuất giống cá sủ đất – Trường Cao đẳng
thuỷ sản, kết quả đạt được:
- Tỷ lệ thành thục của cá bố mẹ: Ngày 6/10/2007 tiến hành kiểm tra cá
bố mẹ tỷ lệ thành thục thấp, cá cái 3/20 đạt 15%; cá đực 4/20 đạt 20%.
Sinh sản: 2 con cá cái đẻ thu được 105.000 trứng, tỷ lệ thu tinh đạt
71,8%. Tiếp nhận công nghệ ương trứng và ương ấu trùng: Số trứng thụ
tinh đưa vào ấp là 74.000 trứng, tỷ lệ nở đạt 81% thu được 60.000 cá
bột đưa vào ao ương. Tiếp nhận công nghệ ương cá bột lên cá giống, kết
quả thu được 15.000 cá giống sử đất cỡ 3-4 cm sau 45 ngày nuôi. Tiếp
nhận công nghệ gây nuôi và thu hoạch tảo, luân trùng làm thức ăn cho
cá, ấp nở artemia.
2.3) Dự án nhập công nghệ sản xuất giống ngao lụa – Viện NCNTTS I thực
hiện. Kết quả đạt được:
- Nuôi cấy tảo làm thức ăn cho ngao với quy mô công nghiệp.
- Tập kết nuôi ngao bố mẹ
- Mua sắm vật tư thiết bị
- Cho ngao đẻ, ương nuôi ấu trùng: Đã cho đẻ trong và ngoài trời với
40 kg ngao bố mẹ đã sản xuất được trên 5 triệu con ngao giống cỡ 1 –
1,5 cm, nhìn chung dự án đã triển khai đúng tiến độ và đạt các chỉ
tiêu theo hợp đồng đã ký.
2.4) Dự án nhập công nghệ sản xuất giống cá chim vây vàng – Trường Cao
đẳng thuỷ sản, kết quả đạt được:
Kỹ thuật: Dự án đã nhập 30 cặp cá bố mẹ của Viện NCNTTS I về nuôi tại
Vân đồn – Quảng Ninh, tiếp tục nuôi vỗ cá bố mẹ, các cán bộ kỹ thuật
của dự án đã tiến hành cho sinh sản nhân tạo đàn cá bố mẹ nhập từ Viện
NCNTTS I, tiến hành cho ương nuôi thu được 5 vạn cá giống cỡ 4-6 cm.
Tiến hành cho đẻ đàn cá bố mẹ nhập về từ Trung Quốc thu được 5 vạn cá
bột hiện đang ương nuôi và cá hương đạt cỡ 1,2 – 1,5 cm. Cho đẻ tái
phát dục lần 1 thu được khoảng 25 vạn cá bột, số cá bột hiện đang ương
nuôi đạt kích cỡ 2-3cm.
Đã chủ đông ương nuôi được thức ăn tươi sống cung cấp đủ cho quá trình
ương nuôi ấu trùng. Đã nuôi vỗ thành thục được đàn cá bố mẹ tại Việt
Nam. Chủ động cho sinh sản nhân tạo được cá chim vây vàng nuôi vỗ
thành thục tại Việt Nam, chủ động ương nuôi đựơc cá bột thành cá
giống.
2.5) Dự án nhập công nghệ sản xuất giống cá đối mục – Viện NCNTTS –
Trường Đại Học Nha Trang thực hiện, Kết quả đạt được:
- Viện NCNTT - ĐH Nha Trang đã cùng chuyên gia Trung Quốc khảo sát và
thu gom được 40 con cá bố mẹ đạt tiêu chuẩn tại Nghệ An.
- Tiến hành chuyển cá bố mẹ đợt I từ Nghệ An vào Cam Ranh – Khánh Hoà
được 15 con.
- Tiếp tục thu gom đàn cá bố mẹ đạt đủ số lượng 150 con.
- Tiến hành nuôi tảo và luân trùng làm thức ăn cho ấu trùng cá.
2.6) Dự án nhập công nghệ sinh sản nhân tạo giống cá Hường chấm:
Cá Hường chấm Lutjanus Johni là loài cá có chất lượng thịt thơm ngon,
giá trị dinh dưỡng cao nên chúng là đối tượng nuôi phổ biến của các
ngư dân ven biển các tỉnh Quảng Ninh, Hài Phũng.
Năm 2007, Trung tâm khuyến ngư Quốc gia đó phối hợp với trường Cao
đẳng Thuỷ sản tiến hành nhập công nghệ sản xuất giống cá Hường chấm.
- Từ tháng 6 năm 2007 tiến hành thu gom và nuôi vỗ tại bè nuôi vỗ cá
trường Cao đẳng thuỷ sản: Đàn cá bố mẹ nuôi vỗ được thu gom từ các bè
nuôi thương phẩm gồm 40 con trong đó 20 con đực và 20 con cái. Hiện
nay do thời tiết lạnh, không phù hợp cho cá bố mẹ sinh sản nên cá bố
mẹ vẫn được nuôi giữ ngoài bè để tiếp tục nuôi vỗ và cho sinh sản vào
thời gian tới.
- Từ tháng 7/2007 đến tháng 9/2007 đó tiến hành tiêm kích dục tố LR-
HA2 kết hợp HCG cho cá bố mẹ sinh sản 3 lần.
+ Tỷ lệ cá tham gia sinh sản sau khi tiêm kích dục tố đạt khoảng 90%
+ Tỷ lệ trứng thụ tinh đạt gần 69,04 %
+ Tỷ lệ nở trong 3 lần đạt khoảng 86,2%.
Qua bước đầu triển khai dự án, chúng tôi đó có thể tiếp nhận cơ bản
những kỹ thuật sau:
+ Kỹ thuật nuôi vỗ thành thục cá bố mẹ trong điều kiện tự nhiên
+ Kỹ thuật kích thích cá bố mẹ sinh sản trong điều kiện tự nhiên
+ Bước đầu đó tiếp cận với kỹ thuật gõy nuôi thức ăn tươi sống (luân
trùng, tảo ngoài tự nhiên) phục vụ việc ương nuôi cá bột.
2.7) Dự án nhập công nghệ sản xuất giống rô phi lai khác loài phục vụ
vùng nuôi xuất khẩu.
- Tổng cá cái tuổi sinh sản: 10.940 con
- Kết quả các phép lai xa thì công thức lai giữa cá rô phi cái
O.niloticus Đài Loàn lai với đực O. aureus Trung Quốc cho tỷ lệ đực ở
con lai cao hơn cả, đạt 88,71%; Cái O.niloticus Israel lai với đực O.
aureus Israel đạt 81,31%; thấp nhất là công thức lai giữa cái
O.niloticus Israel với đực O. aureus Trung Quốc đạt 42,95%.
- Số lượng con lai từ các công thức lai: Con lai sản xuất ra chỉ phục
vụ cho thí nghiệm (kiểm tra giới tính) khoảng 7.650 con; trọng lượng
trung bình 3-4g/con.
III. Khuyến ngư do địa phương trực tiếp quản lý:
Để đáp ứng nhu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp trong
đó việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ trồng cói, trồng lúa, làm
muối năng suất, hiệu quả thấp sang nuôi trồng thuỷ sản, hoạt động
khuyến ngư được hầu hết các tỉnh quan tâm. Theo thông tin tổng hợp từ
các địa phương, ngân sách địa phương đã chi 30 tỷ đồng cho hoạt động
khuyến ngư. Các nội dung khuyến ngư tập trung vào nội dung xây dựng
các mô hình trình diễn về nuôi trồng, khai thác và chế biến thuỷ sản,
tập huấn, tham quan mô hình sản xuất tốt và thông tin tuyên truyền
khoa học kỹ thuật sản xuất, kinh doanh thuỷ sản trên các phương tiện
thông tin đại chúng.
Việc triển khai các hoạt động khuyến ngư ở địa phương đã có nền nếp từ
nhiều năm và bám sát mùa vụ sản xuất nên đã góp phần chuyển giao kinh
nghiệm, kỹ thuật sản xuất cũng như tổ chức sản xuất nuôi trồng, khai
thác và chế biến thuỷ sản cho nông, ngư dân.
IV. Đầu tư xây dựng cơ bản:
Bộ Thủy sản (cũ) đã giao cho Trung tâm khuyến ngư Quốc gia là chủ đầu
tư dự án đầu tư xây dựng Trung tâm tập huấn và chuyển giao công nghệ
thuỷ sản đồng bằng sông Cửu Long và đã có Quyết định 347/QĐ-BTS ngày
9/3/2007 phê duyệt điều chỉnh tổng mức đầu tư, tổng dự toán dự án nêu
trên với tổng mức đầu tư được duyệt là: 35.390.246.340 đồng.
Tiếp đó, Bộ đã ban hành Quyết định số 1253/QĐ-BTS ngày 28/10/2005 của
Bộ trưởng Bộ Thuỷ sản phê duyệt Thiết kế kỹ thuật thi công và tổng dự
toán Dự án đầu tư xây dựng Trung tâm tập huấn và chuyển giao công nghệ
thuỷ sản Đồng bằng sông Cửu Long và Quyết định số: 452/QĐ-BTS ngày
27/4/2005 của Bộ trưởng Bộ Thuỷ sản Phê duyệt kế hoạch đấu thầu Dự án
đầu tư xây dựng Trung tâm tập huấn chuyển giao công nghệ Thuỷ sản đồng
bằng sông Cửu Long; Theo đó kể cả gói thầu tư vấn quản lý dự án, dự án
được chia làm 16 gói thầu. Năm 2007 Trung tâm khuyến ngư Quốc gia đã
tiến hành tổ chức đấu thầu và chọn được 2 nhà thầu cụ thể như sau:
Đối với Dự án đầu tư xây dựng TT tập huấn và chuyển giao công nghệ
Thuỷ sản ĐBSCL, năm 2007, Chủ đầu tư đã tổ chức đấu thầu và lựa chọn
được nhà thầu cho các gói thầu sau:
STT Tên gói thầu Hình thức đấu thầu Giá trị gói thầu được duyệt
(1000 đồng) Nhà thầu trúng thầu Giá trị trúng thầu
(1000 đồng)
1 - Gói thầu số 7: Xây dựng khu văn phòng học tập Đấu thầu rộng rãi
7.883.022 Công ty cổ phần xây lắp thuỷ sản II 7.401.786
2 - Gói thầu số 8: Xây dựng khu sản xuất thực nghiệm Đấu thầu rộng rãi
15.535.208 Công ty cổ phần xây dựng và phát triển nông thôn 6
12.874.571
3 - Gói thầu số 13: Tư vấn quản lý dự án đối với phần việc còn lại Chỉ
định thầu 272.263 Công ty cổ phần tư vấn và xây dựng Thịnh Long
272.263
4 - Gói thầu số 4: Tư vấn giám sát thi công xây dựng Chỉ định thầu
435.397 Công ty cổ phần kiến trúc và xây dựng Hoàn Thành 435.397
Hiện nay tiến độ thực hiện dự án bị chậm dẫn đến không thực hiện hết
khối lượng vốn kế hoạch năm 2007 do những nguyên nhân chủ yếu sau:
Việc chậm tiến độ và không hoàn thành kế hoạch của nhà thầu thi công
gói thầu số 8 chủ yếu do ảnh hưởng của thời tiết (mưa nhiều) và việc
lấy nước cho các diện tích nuôi thuỷ sản khu vực dự án; đồng thời biện
pháp thi công của nhà thầu chưa phù hợp với điều kiện thực tế. Hiện
nay nhà thầu đã tăng cường máy móc thiết bị (5 máy) để đẩy nhanh tiến
độ thi công.
Nhà thầu thi công gói thầu số 7 chưa thể triển khai vì mặt bằng thi
công của gói thầu này lại phụ thuộc vào gói công tác đắp đất mặt bằng
của gói thầu số 8. Hơn nữa, do giá cả vật liệu xây dựng trên thị
trường hiện nay đang có biến động tăng giá quá lớn nên nhà thầu thi
công gói thầu số 7 đã có văn bản đề nghị Chủ đầu tư kiến nghị lên các
cấp có thẩm quyền xin điều chỉnh giá trị hợp đồng đã ký.
Chủ đầu tư đề nghị điều chỉnh giảm vốn đầu tư XDCB năm 2007 như sau:
STT Nội dung Kinh phí theo Kế hoạch VĐT XDCB 2007 Kinh phí đã giải
ngân trong năm 2007 Kinh phí ước thực hiện 2007 Kinh phí còn lại
1 Dự án Đầu tư XD TT Tập huấn và CGCN Thuỷ sản ĐBSCL 8.000 3.551 5.620
2.380
Chính vì nguyên nhân chủ yếu trên nên Chủ đầu tư không thực hiện hết
vốn đầu tư XDCB năm 2007. Chủ đầu tư đề nghị điều chỉnh giảm kế hoạch
vốn đầu tư XDCB năm 2007 từ 8.000 triệu xuống 5.620 triệu đồng, còn
lại 2.380 triệu đồng (Hai tỷ ba trăm tám mươi triệu đồng) để Bộ NN &
PTNT tổng hợp và điều chỉnh vốn cho các dự án khác.
B. Kế hoạch hoạt động khuyến ngư năm 2008.
I. Các nội dung hoạt động khuyến ngư năm 2008:
- Xây dựng các đề án khuyến ngư giai đoạn 2009-2010 và từ 2010 đến
2015 bám sát các chương trình khuyến ngư trọng điểm cũng như các
chương trình kinh tế lớn của ngành, trong đó phát triển nuôi trồng
thuỷ sản nói chung và nuôi biển nói riêng được coi là trọng tâm với
các đối tượng có giá trị xuất khẩu cao, phát triển kinh tế ở các vùng
sâu vùng xa, các đối tượng nuôi ở vùng chuyển đổi cơ cấu sản xuất theo
hướng nâng cao hiệu quả sản xuất và các đối tượng nuôi phục vụ XĐGN.
Đẩy mạnh chương trình phát triển nuôi trồng thuỷ sản biển và hải đảo
bằng việc xây dựng các đề án cụ thể.
- Phát triển khai thác hải sản xa bờ theo hướng công nghiệp hoá nghề
khai thác bằng ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, ổn định
khai thác hải sản ven bờ, bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, PCLB và công tác
an toàn trên biển. Ưu tiên các mô hình khai thác chọn lọc các đối
tượng có giá trị kinh tế cao như khai thác Cá ngừ đại dương. Đưa các
tiến bộ khoa học công nghệ mới vào công tác bảo quản để nâng cao giá
trị sản phẩm sau thu hoạch.
- Hoạt động khuyến ngư bám chắc vào định hướng đã được xác định trong
Chiến lược khuyến ngư, Chương trình, đề án khuyến ngư trọng điểm và
phục vụ phát triển nuôi trồng, khai thác, chế biến xuất khẩu và hậu
cần dịch vụ thuỷ sản với chủ trương chuyển dịch nhanh chóng và mạnh ra
biển. Đẩy mạnh công tác tập huấn kỹ thuật, đào tạo tay nghề cho nông,
ngư dân. Tập huấn về vệ sinh an toàn thực phẩm, về BVNLTS, PCLB và an
toàn trên biển. Khuyến cáo cho người dân các tiến bộ kỹ thuật, các
công nghệ mới về khai thác, chế biến xuất khẩu và nuôi trồng thuỷ sản,
đặc biệt là lựa chọn các đối tượng mới, nhằm giúp người dân có được
thông tin một cách kịp thời nhất để họ cải tiến sản xuất, tăng năng
suất và hiệu quả.
Các hoạt động chủ yếu:
Xây dựng các mô hình
- Tập trung đầu tư xây dựng các mô hình nuôi biển chú trọng phát
triển ở vùng biển mở theo hình thức công nghiệp từ khâu dịch vụ hậu
cần như giống, thức ăn, công nghệ sau thu hoạch.
- Tiếp tục các chương trình khuyến ngư xoá đói giảm nghèo giúp cho một
bộ phận cồng đồng người nghèo sản xuất hàng hoá vươn lên làm giầu.
- Xây dựng những mô hình có tính trọng điểm, quy mô lớn có sản lượng
hàng hoá và hiệu quả cao để phổ biến rộng rãi cho người dân.
- Khuyến khích việc xây dựng mô hình quản lý cộng đồng các hoạt động
sản xuất thuỷ sản, trong đó phát triển nuôi trồng thuỷ sản theo hướng
bền vững; xây dung mô hình nuôi áp dụng quy trình GAP, BMP, CoC.
- Tổ chức tổng kết và khẩn trương nhân rộng các mô hình Hợp tác xã,
tổ hợp sản xuất và quản lý cộng đồng về giống, thức ăn, chế phẩm sinh
học, sử dụng kháng sinh, quản lý môi trường vùng nuôi, bảo quản sản
phẩm sau thu hoạch, đảm bảo VSTY thuỷ sản.
- Xây dựng các mô hình sản xuất công nghiệp, mô hình liên kết giữa các
nhóm hộ, hợp tác xã, doanh nghiệp nuôi trồng thuỷ sản với các doanh
nghiệp chế biến, các công ty, tập đoàn trong và ngoài nước có khả năng
tiêu thụ sản phẩm.
Việc xây dựng mô hình khuyến ngư cần xem xét các điều kiện khả thi,
hạn chế việc thay đổi hợp đồng khuyến ngư ( chỉ thay đổi trong trường
nhợp bất khả kháng).
- Về chương trình tập huấn:
+ Đổi mới xây dựng các chương trình tập huấn đầu bờ theo phương thức
vừa học vừa dạy các hộ nuôi điển hình ở địa phương, các cán bộ kỹ
thuật các doanh nghiệp thuỷ sẽ là các giảng viên- Cán bộ khuyến ngư
sẽ tổng kết những bài học và kinh nghiệm thực tế đó bằng những hướng
dẫn quy trình kỹ thuật cụ thể dễ hiểu.
+ Tập trung các nguồn lực cho “Chương trình tập huấn nâng cao nghiệp
vụ khuyến ngư” cho cán bộ khuyến ngư và khuyến ngư viên tự nguyện cho
các địa phương.
- Về chương trình nhập và chuyển giao công nghệ
- Các công nghệ đã nhập thành công, có hiệu quả phải nhanh chóng
chuyển giao cho các địa phương, các doanh nghiệp và nông dân.
- Phối hợp với các viện, trường tăng cường chuyển giao các công nghệ
mới cho các tỉnh: tập trung vào các đối tượng có giá trị kinh tế, các
đối tượng phục vụ cho nuôi biển.
Hiện có rất nhiều công nghệ nhập cũng như kết quả các đề tài nghiên
cứu thành công sẽ còn được chuyển giao.
- Tổ chức tổng kết, đánh giá toàn diện kết quả 15 năm hoạt động
khuyến ngư phục vụ phát triển Ngành Thủy sản. Công tác này phải làm
tốt từ cơ sở địa phương tới trung ương nhằm rút ra những thành công,
tồn tại cần khắc phục đưa ra được bài học kinh nghiệm hoạt động khuyến
ngư trong 15 năm qua để ngày càng nâng cao hiệu quả khuyến ngư.
Từ các nội dung trên dự toán kinh phí khuyến ngư năm 2008 được phân bổ
như sau:
Tổng kinh phí được cấp năm 2008 là 33.400 triệu đồng. Trong
đó kinh phí chương trình khuyến ngư thường xuyên là 23.400 triệu; kinh
phí chương trình khuyến ngư phát triển giống thuỷ sản là 10.000 triệu
đồng:
1) Chương trình khuyến ngư thường xuyên: 23.400 triệu đồng
cụ thể:
TT Nội dung Kinh phí
( triệu đồng)
1 Xây dựng mô hình trình diễn 15.686,0
2 Tập huấn khuyến ngư 5.364,0
3 Thông tin tuyên truyền khuyến ngư 1.350,0
4 Chi phí hành chính nghiệp vụ 1.000,0
Tổng 23.400,0
Đến nay Trung tâm khuyến ngư Quốc gia đã tiến hành giao kế hoạch cho
các tỉnh phía nam từ Quảng Trị trở vào và sẽ tiến hành giao kế hoạch
cho các tỉnh phía bắc vào ngày 5/1/2008 để các tỉnh tiến hành chương
trình khuyến ngư kịp mùa vụ của sản xuất. Năm 2008 sẽ tăng cường công
tác kiểm tra việc triển khai để giúp các địa phương thực hiện tốt kế
hoạch đã đề ra.
2) Chương trình khuyến ngư giống thủy sản: 10.000 triệu đồng cụ thể:
TT Nội dung dự án Đơn vị thực hiện Kinh phí
(triệu đồng)
I Các dự án nhập công nghệ sản xuất giống thuỷ sản 6.987,65
1 Dự án nhập công nghệ sản xuất giống cá đối mục Trường ĐHTS Nha Trang
1.066,36
2 Nhập công nghệ sinh sản nhân tạo giống ngao lụa Viện NCNTTS I 347,94
3 Nhập công nghệ sinh sản nhân tạo giống cá sủ đất Trường Cao đẳng
thuỷ sản 917,86
4 Nhập công nghệ sinh sản nhân tạo giống cá hường chấm TT khuyến ngư
QG 556,59
5 Nhập công nghệ sinh sản nhân tạo giống cá Tầm Trung Hoa TT khuyến
ngư Quốc gia 1.152,75
6 Nhập công nghệ sinh sản nhân tạo giống tôm hùm nước ngọt Viện NCNTTS
I 950,20
7 Nhập công nghệ sinh sản nhân tạo giống Hàu tam bội thể Viện NCNTTS
III 750,00
8 Nhập công nghệ sinh sản nhân tạo giống cá cảnh lan thọ Trường Cao
đẳng thuỷ sản 1.095,95
9 Dự án nhập công nghệ sản xuất sá sùng TT khuyến ngư Quảng Ninh
150,00
II Các dự án chuyển giao công nghệ giống thuỷ sản 1.505,13
1 Chuyển giao công nghệ sản xuất giống cá bống bớp Viện NCHS Hải Phòng
545,30
2 CGCNSX giống cá lăng chấm Viện NCNTTS I 119,83
3 CGCNSX giống cá tra Viện NCNTTS II 300,00
4 CGCNSX giống Tôm rảo Trường Đại học Nha Trang 390,00
III Các mô hình ương nuôi giống thuỷ sản Các đơn vị hoạt động khuyến
ngư các tỉnh vùng sâu, vùng xa 950,00
IV Thả cá giống tái tạo nguồn lợi thuỷ sản các hồ chứa Trung tâm
khuyến ngư Quốc gia, Các Viện Nghiên cứu NTTS 300,00
V Chi phí quản lý chương trình và thông tin tuyên truyền 226,00
1 Phối hợp với các báo (3 đơn vị x 12 triệu) + báo NNVN 18 triệu Các
cơ quan TT đại chúng 54,00
2 Thông tin tuyên truyền, phim kỹ thuật phát sóng truyền hình TTKNQG,
các cơ quan thông tin đại chúng 72,00
3 Tập huấn kỹ thuật sản xuất giống thuỷ sản Trung tâm khuyến ngư Quốc
gia, Các Viện Nghiên cứu NTTS 100,00
VI Chi phí hành chính quản lý chương trình 181,22
1 Xăng xe phục vụ chương trình TTKNQG 50,00
2 Công tác phí phục vụ chương trình TTKNQG 53,22
3 Bưu phẩm, báo chí, liên lạc điện thoại: 12 tháng x 4.000.000đ/tháng
TTKNQG 48,00
4 Văn phòng phẩm: 12 tháng x 2.500.000 đ/tháng TTKNQG 30,00
Tổng 10.000,00
D. Đề xuất, kiến nghị:
1. Bộ quan tâm để hoàn thiện hệ thống khuyến ngư từ Trung ương, tỉnh,
huyện xã đến cơ sở thôn bản nhất là các tỉnh có biển.
2. Thực hiện tốt Nghị quyết lần thứ 4 của BCH Trung ương khoá X và
Nghị quyết Chương trình hành động của Bộ Thuỷ sản và Chính phủ về
Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020. Trung tâm Khuyến ngư Quốc gia
đã xây dựng kế hoạch khuyến ngư hướng ra biển với các chương trình
nuôi biển, khai thác, bảo quản sản phẩm sau thu hoạch trên biển, tuy
nhiên đầu tư cho các mô hình này cần nhu cầu kinh phí lớn. Vì vậy đề
nghị Bộ quan tâm giải quyết đủ kinh phí theo kế hoạch mà Trung tâm đã
xây dựng.

TRUNG TÂM KHUYẾN NGƯ QUỐC GIA

Em vẫn đợi, vẫn chờ!
12/27/2005 9:47:11 PM

(Thân tặng phòng Kỹ thuật - Trung tâm Khuyến ngư Quốc gia)

Em chẳng muốn Anh tặng Em con cá
Cá "lặn rồi" Em biết ngả về đâu
Em muốn Anh tặng Em chiếc cần câu
Giúp đỡ Em mắc mồi, bủa lưới
Quê hương Em trắng trời sông, suối
Nuôi con này được không anh?!
Nuôi con gì
Anh nói - đi Anh!

Reply all
Reply to author
Forward
0 new messages