Hà Nội, ngày 4 tháng 12 năm 2003
BÁO CÁO
KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KHUYẾN NGƯ 10 NĂM 1993 - 2003
PHƯƠNG HƯỚNG HOẠT ĐỘNG TRONG THỜI GIAN TỚI
Với sự quan tâm chỉ đạo của Ðảng, Nhà nước, lãnh đạo Bộ Thuỷ sản và sự
ủng hộ của các cơ quan hữu quan, hệ thống khuyến ngư trong mười năm
qua không ngừng lớn mạnh. Ban đầu chỉ là một bộ phận khuyến ngư trong
Vụ Nghề cá, đến nay ở cấp trung ương đã có Trung tâm Khuyến ngư Quốc
gia với hệ thống khuyến ngư đã được hình thành ở hầu hết 61 tỉnh,
thành trong cả nước. Các tỉnh ven biển có Sở Thuỷ sản đã thành lập
Trung tâm Khuyến ngư trực thuộc Sở; Các tỉnh không có Sở Thuỷ sản,
công tác khuyến ngư được giao cho các Trung tâm Khuyến nông, Trung tâm
Thuỷ sản hoặc Chi cục BVNLTS trực thuộc Sở NN & PTNT. Sau chặng đường
10 năm hoạt động, với sự phấn đấu, nỗ lực không ngừng của những người
làm công tác khuyến ngư, các hoạt động khuyến ngư đã góp phần đưa
ngành thuỷ sản trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, giúp dân xoá đói,
giảm nghèo và vươn lên khát vọng làm giàu trên mảnh đất, vùng biển của
mình.
Mười năm với biết bao khó khăn, thuận lợi - một khoảng thời gian chưa
thật dài nhưng cũng đủ để thấy rõ rằng khuyến ngư đã thực sự đi vào
lòng dân, làm cầu nối giữa khoa học, công nghệ với sản xuất, thúc đẩy
sản xuất không ngừng phát triển, đem lại cuộc sống ấm no cho những
người làm nghề cá trong cả nước.
Hôm nay, chúng ta cùng nhau nhìn lại 10 năm hoạt động khuyến ngư để
tổng kết đánh giá những mặt được và chưa được. Phát huy những mặt đã
làm tốt, rút kinh nghiệm những gì làm chưa được để vững bước tiến vào
tương lai.
Phần I
Hoạt động khuyến ngư đóng góp vào sự lớn mạnh của ngành thuỷ sản trong
thời gian qua.
Thực hiện Nghị định 13- CP ngày 2/3/1993 của Chính phủ ban hành bản
quy định công tác khuyến nông, trong đó có khuyến ngư nhằm giúp nông
ngư dân đẩy mạnh phát triển sản xuất, từ đó hệ thống khuyến ngư bắt
đầu được hình thành trong cả nước và triển khai các hoạt động trong
mọi lĩnh vực của ngành.
Với nuôi trồng thuỷ sản, hoạt động khuyến ngư đã đẩy mạnh phong trào
ứng dụng khoa học kỹ thuật, đưa các giống nuôi mới, giống nuôi có giá
trị kinh tế cao vào sản xuất, thay đổi tập quán cũ chủ yếu là nuôi
quảng canh bằng thức ăn tự nhiên và các đối tượng nuôi truyền thống
sang nuôi quảng canh cải tiến, bán thâm canh và thâm canh bằng thức ăn
công nghiệp. Ðưa các đối tượng thuỷ đặc sản, đặc biệt là các đối tượng
nuôi biển có giá trị kinh tế cao vào sản xuất. Mở rộng quy mô và diện
tích nuôi trồng, chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp, không ngừng tăng năng
suất và hiệu quả kinh tế. Ngay cả với những vùng đất cát từ xưa chỉ bỏ
hoang nay với kỹ thuật nuôi tôm trên cát nhiều vùng đang chuyển mình
thành vùng nuôi tôm với năng suất, sản lượng cao, tạo nguyên liệu cho
xuất khẩu thuỷ sản cũng như làm thay đổi cơ cấu kinh tế và đời sống
của người dân vùng ven biển. Một số mô hình nuôi tôm he chân trắng đã
cho năng suất 8-10 tấn/ha, cá biệt 10-12tấn/ha mang lại hàng trăm
triệu đồng tiền lãi /ha/năm.
Trong lĩnh vực khai thác và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản: Với định hướng
phát triển chung của ngành, công tác khuyến ngư đã đến với người dân,
vận động, khuyến khích, cũng như tuyên truyền và tập huấn, hướng dẫn
để người dân bỏ những thói quen khai thác ven bờ với những phương tiện
nhỏ, thủ công. Mạnh dạn đóng mới tàu to, máy lớn, trang bị máy móc
hiện đại, ứng dụng các thiết bị mới, cải tiến ngư cụ để vươn khơi làm
chủ vùng biển của tổ quốc, mở ra những ngư trường mới, khai thác những
đối tượng mới. Có thể nói đây thực sự là một bước tiến, một hướng đi
tất yếu để phát triển bền vững ngành khai thác thuỷ sản theo hướng: "
ổn định khai thác ven bờ phát triển khai thác hải sản xa bờ". Hoạt
động khuyến ngư đã cùng ngư dân vượt qua những khó khăn, trăn trở
trong sự đổi thay chuyển mình vươn lên. Các mô hình cải tiến ngư lưới
cụ như cải tiến lưới kéo đôi, cải tiến lưới vây ngày kết hợp vây đêm,
mô hình khai thác kiêm nghề, mô hình khai thác bằng lồng bẫy đã giúp
ngư dân khai thác có hiệu quả, nâng cao sản lượng và khai thác chọn
lọc các đối tượng có giá trị kinh tế cao. Với các thiết bị máy móc
hiện đại, cán bộ khuyến ngư đã lăn lộn đi biển cùng ngư dân để hướng
dẫn họ cách vận hành, sử dụng, khai thác hết các tính năng ưu việt của
thiết bị. Với mục tiêu công nghiệp hoá hiện đại hoá nghề khai thác hải
sản, các mô hình như máy thu lưới bằng tời thuỷ lực, máy thu câu, phun
phủ vỏ tàu bằng composite,v.v.. đã từng bước được ứng dụng vào sản
xuất.
Trong lĩnh vực bảo quản chế biến nguyên liệu thuỷ sản: Từ sản xuất nhỏ
khai thác ven bờ, sản phẩm chủ yếu bán tươi trong ngày hoặc ướp muối,
phơi khô; chuyển sang sản xuất lớn vươn khơi bám biển dài ngày, đòi
hỏi phải cải tiến công nghệ bảo quản để sản phẩm đủ chất lượng phục vụ
xuất khẩu. Với những mô hình bảo quản sản phẩm theo cách ướp lạnh, rồi
tới mô hình dùng khay để ướp lạnh, sản phẩm bảo đảm được chất lượng,
cá không bị giập nát, kéo dài thời gian bảo quản, nâng cao chất lượng
nguyên liệu, chấm dứt hoàn toàn việc ướp cá bằng muối mà sản phẩm chỉ
có thể làm nước mắm.
Với sự phấn đấu nỗ lực không ngừng, công tác khuyến ngư trong thời
gian qua đã thực sự góp phần làm nên những thành công của ngành thuỷ
sản với những bước tiến đáng ghi nhận:
- Năm 1993: Tổng sản lượng thuỷ sản 1,2 triệu tấn ( trong đó nuôi
trồng 400.000 tấn; khai thác 800.000 tấn). Giá trị xuất khẩu đạt 450
triệu USD.
- Năm 2002: Tổng sản lượng đạt gần 2.410.900 tấn (trong đó nuôi trồng
976.100 tấn, khai thác 1.434.800 tấn). Diện tích mặt nước nuôi trồng
thuỷ sản 955.000 ha trong đó nuôi nước ngọt 425.000 ha, nuôi mặn, lợ
530.000 ha. Giá trị xuất khẩu đạt 2,014 tỷ USD.
- Năm 2003: Tổng sản lượng dự kiến đạt 2,49 triệu tấn (trong đó khai
thác 1,4 triệu tấn, nuôi trồng 1,09 triệu tấn). Giá trị xuất khẩu đạt
2,25 - 2,3 tỷ USD.
I. NHỮNG HOẠT ĐỘNG CỤ THỂ CỦA CÔNG TÁC KHUYẾN NGƯ TRONG LĨNH VỰC NUÔI
TRỒNG THUỶ SẢN
Bám sát 3 chương trình khuyến ngư trọng điểm về nuôi trồng thuỷ sản và
chương trình phát triển nuôi trồng thuỷ sản, hoạt động khuyến ngư
trong 10 năm qua đã tập trung chủ yếu vào các nội dung chuyển giao các
tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất thông qua các mô hình trình diễn kỹ
thuật, tập huấn hội thảo, thông tin tuyên truyền để người dân nắm được
các quy trình kỹ thuật nhất là với các đối tượng nuôi mới, đối tượng
nuôi có giá trị kinh tế cao như: tôm sú, tôm hùm; cua biển; trai ngọc;
nhuyễn thể; hàu; điệp; ốc hương; bào ngư; nghêu; sò huyết; sò lông;
hải sâm; cá song; cá giò; cá măng biển,? đối với các tỉnh ven biển;
Các đối tượng cá tra; cá ba sa; mè; trôi; trắm; chép; ếch; ba ba; tôm
càng xanh; cá rô phi đơn tính; cá chim nước ngọt? đối với tất cả các
tỉnh, nhất là các tỉnh nội đồng.
1. Chương trình khuyến ngư phát triển nuôi tôm sú: Tôm sú được xác
định là đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao, có thể phát triển ở
diện rộng khắp cả nước, là nguồn cung cấp nguyên liệu chủ yếu cho chế
biến xuất khẩu; đồng thời cũng là đối tượng giúp dân xoá đói giảm
nghèo. Do đó, nuôi tôm sú đã được đưa thành một chương trình khuyến
ngư trọng điểm để khuyến khích phát triển xứng đáng với vị trí của nó
trong cơ cấu nghề nghiệp cũng như trong xuất khẩu. Công tác khuyến ngư
trong những năm qua đã tập trung đẩy mạnh công tác tập huấn kỹ thuật
cho nông dân. Hàng năm, Trung tâm Khuyến ngư Quốc gia đã phối hợp với
các địa phương xây dựng hàng chục mô hình trình diễn kỹ thuật cũng như
hội thảo đầu bờ để người dân tham quan học hỏi trực tiếp, biết áp dụng
các tiến bộ kỹ thuật và có thể nuôi thâm canh tôm sú đạt năng suất
cao, kể cả nuôi tôm trên cát. Công tác khuyến ngư đã tập trung đào tạo
tập huấn cho nông, ngư dân các kiến thức cơ bản trong nuôi tôm như :
Chọn con giống tốt sạch bệnh, kỹ thuật quản lý và chăm sóc ao, đầm
nuôi, công tác phòng và trị bệnh cho tôm.
Ðể phục vụ tốt cho chương trình nuôi tôm sú, vấn đề chủ động con giống
đóng vai trò quyết định. Từ chỗ nuôi với con giống trông chờ ở tự
nhiên đến nay việc sản xuất nhân tạo con giống đã đáp ứng đủ nhu cầu
cho nghề nuôi tôm sú cả nước với những thành công đáng ghi nhận: năm
1994 các trại sản xuất tôm sú giống chủ yếu tập trung ở các tỉnh Nam
Trung Bộ nhất là ở Khánh Hoà, với sản lượng khoảng 1 tỷ con giống
PL15, đến nay hầu hết các tỉnh ven biển trong cả nước đã có cơ sở sản
xuất tôm giống, sản lượng đã lên tới hơn 19,11 tỷ con giống PL15.
Từ chỗ chỉ nuôi ở dạng quảng canh, đến nay, người nuôi tôm ở hầu hết
các tỉnh ven biển đã biết nuôi với các hình thức khác như quảng canh
cải tiến, bán thâm canh và thâm canh, và không ít người nuôi đã làm
chủ được sản xuất với kỹ thuật cao, đưa năng suất nuôi thâm canh từ
chỗ chỉ 1,4 tấn/ ha năm 1994 đến nay đã đạt 8-10 tấn /ha, lợi nhuận
hàng năm lên đến hàng trăm triệu đồng /ha và không ít chủ đầm đã trở
thành tỷ phú có nhờ nuôi tôm sú xuất khẩu.
Diện tích nuôi tôm sú đã tăng đáng kể, năm 1994 đạt 150.000 ha, đến
nay đã tăng đến hơn 500.000 ha, chiếm gần 50% tổng diện tích nuôi
trồng thuỷ sản.
Chương trình khuyến ngư phát triển nuôi tôm sú đã góp phần làm cho
người dân trở nên giàu có, Nhà nước có nguồn hàng xuất khẩu đem ngoại
tệ về cho đất nước.
Từ năm 1993 đến nay, Trung tâm Khuyến ngư Quốc gia và các Trung tâm
Khuyến ngư, Khuyến nông, Chi cục BVNLTS các tỉnh ven biển đã xây dựng
946 mô hình nuôi tôm sú với các hình thức nuôi khác nhau, tổ chức
10.844 lớp tập huấn với 672.179 số lượt người tham dự .
Năm 2003 Trung tâm Khuyến ngư Quốc gia phối hợp với các địa phương
thực hiện 33 mô hình trình diễn về nuôi tôm sú thâm canh, bán thâm
canh và nuôi tôm trên đất cát, trong đó có những mô hình đạt năng suất
cao, 7 tấn/ha. Nhìn chung, các mô hình đều đạt và vượt chỉ tiêu kế
hoạch đề ra.
( Chi tiết tại phụ lục 1)
2. Chương trình khuyến ngư nuôi thuỷ sản nước mặn, lợ: Thuỷ sản nước
mặn, nước lợ là những đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao, đòi hỏi
người nuôi phải có hiểu biết về đối tượng nuôi, môi trường sinh thái
cũng như kỹ thuật nuôi, trong khi hầu hết nông ngư dân đều thiếu những
kiến thức này. Khuyến ngư đã tìm đến với họ, là người bạn đồng hành
luôn có mặt với nông, ngư dân để giải quyết những khó khăn vướng mắc
trong sản xuất, xây dựng các mô hình trình diễn kỹ thuật nuôi các loại
cá biển; cua; tôm hùm; nhuyễn thể; trồng rong sụn.
Người dân được tập huấn và tham quan trực tiếp từ mô hình trình diễn
kỹ thuật, trao đổi những vấn đề thắc mắc để có thể vận dụng vào sản
xuất của gia đình, địa phương mình. Ngoài ra, còn tổ chức các lớp tập
huấn lý thuyết và tham quan thực hành cho nông ngư dân để họ có được
các kiến thức cơ bản về nuôi thuỷ sản biển. Từ năm 1993 đến nay, Trung
tâm Khuyến ngư Quốc gia và các Trung tâm Khuyến ngư, Khuyến nông, Chi
cục BVNLTS các tỉnh ven biển đã xây dựng được 456 mô hình nuôi; tổ
chức 1.833 lớp tập huấn với 98.165 số lượt người tham dự. Nhiều mô
hình đạt kết quả cao, là điểm sáng để bà con học hỏi, đồng thời động
viên được phong trào nuôi biển ở địa phương.
( xem chi tiết tại phụ lục 1)
3. Chương trình nuôi thuỷ sản nước ngọt: Nuôi cá nước ngọt tạo nguồn
thực phẩm tại chỗ cho người dân, tạo thêm công ăn việc làm cho người
lao động, góp phần xoá đói giảm nghèo cũng đã được chú trọng khuyến
khích phát triển. Từ chỗ chỉ nuôi truyền thống với thức ăn tự nhiên,
thông qua các mô hình khuyến ngư, các lớp tập huấn dạy nghề, người dân
đã biết nuôi thâm canh cá ao với năng suất 10 -15 tấn/ha. Các mô hình
trình diễn đã tập trung vào các đối tượng nuôi cá lồng; nuôi cá ao
thâm canh; nuôi cá rô phi đơn tính; nuôi tôm càng xanh, cá tra, cá ba
sa; cá rô đồng, cá chim trắng nước ngọt, cá thát lát, cá sặc rằn; nuôi
luân canh, xen canh cá - lúa, tôm - lúa,... Thông qua các mô hình
trình diễn và các lớp tập huấn, người dân đã có được những kiến thức
cơ bản trong kỹ thuật quản lý ao nuôi, phòng trừ dịch bệnh, chăm sóc
đối tượng nuôi.
II. NHỮNG HOẠT ĐỘNG KHUYẾN NGƯ TRONG KHAI THÁC, BẢO VỆ NGUỒN LỢI, SƠ
CHẾ VÀ BẢO QUẢN SẢN PHẨM THUỶ SẢN
Thực hiện chủ trương công nghiệp hoá và hiện đại hoá nghề cá, hình
thành đội tàu khai thác hải sản xa bờ tương xứng với khả năng nguồn
lợi, gắn kinh tế với bảo vệ quốc phòng an ninh vùng biển của tổ quốc,
tăng sản phẩm xuất khẩu, tạo thêm công ăn việc làm, đồng thời giảm áp
lực khai thác vùng biển ven bờ nhằm tái tạo và bảo vệ nguồn lợi hải
sản, chương trình khai thác hải sản xa bờ trong những năm qua đã tạo
nên một sức sống mới góp phần cho lĩnh vực khai thác hải sản đạt được
những thành công:
- Tính đến năm 2003 số lượng tàu thuyền là 73.600 chiếc trong đó tàu
khai thác xa bờ hơn 6.000 chiếc.
- Năm 2002 tổng sản lượng thủy sản ước đạt 2.410.000 tấn bằng 104,82%
kế hoạch và tăng 5,4 % so với thực hiện năm 2001; trong đó sản lượng
khai thác 1.434.800 tấn đạt 106,28% kế hoạch và tăng 2,8% so với năm
2001. NTTS và khai thác nội địa 976.000 tấn đạt 102,75% kế hoạch và
tăng 9,47% so với thực hiện năm 2001.
Tuy nhiên, khai thác hải sản của nước ta còn rất nhiều khó khăn, và
vẫn mang đặc điểm của nghề cá qui mô nhỏ, thô sơ, riêng lẻ, lâu nay
mới chỉ hoạt động gần bờ:
- Kỹ thuật khai thác chưa có tính chọn lọc, sản phẩm khai thác được có
giá trị kinh tế không cao, cá tạp chiếm tỷ lệ lớn trong sản lượng khai
thác, chưa có biện pháp chế biến và tổ chức tiêu thụ sản phẩm cá tạp,
nhất là ở các tỉnh phía Bắc.
- Hiện nay số lao động trong khai thác hải sản có khoảng 500.000
người, trong đó lao động đánh bắt xa bờ có 114.000 người (khoảng 23%).
Trình độ tay nghề của lao động kỹ thuật cho khai thác hải sản xa bờ
của một số tỉnh còn thấp, chưa tương xứng với những tàu được trang bị
hiện đại.
- Ngư dân thiếu thông tin về ngư trường, nguồn lợi cũng như về thị
trường giá cả.
Từ những tồn tại nêu trên, công tác khuyến ngư trong khai thác, sơ chế
và bảo quản sản phẩm đã tập trung vào các nội dung:
Phối hợp với các địa phương mở nhiều lớp tập huấn kỹ thuật về khai
thác xa bờ như sử dụng các thiết bị thông tin liên lạc, máy dò cá, máy
định vị, bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, nhiều cuộc hội thảo về cải tiến
nghề nghiệp, kỹ thuật khai thác. Ngư dân vươn khơi bao vấn đề khó khăn
cần được tháo gỡ, trong đó có vấn đề công nghệ. Thông qua các mô hình
trình diễn kỹ thuật, các lớp tập huấn, dạy nghề, công tác khuyến ngư
đã từng bước giúp ngư dân ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất.
Từ chỗ chỉ biết đi biển bằng kinh nghiệm, nay ngư dân đã có thể vận
hành những tàu to máy lớn với các thiết bị máy móc hàng hải hiện đại
như: máy định vị vệ tinh GPS; máy đo sâu dò cá; ra đa hàng hải; máy
thu lưới, thu câu; máy tời thuỷ lực. Ngư lưới cụ cũng không ngừng được
cải tiến để khai thác có năng suất, hiệu quả kinh tế cao, khai thác có
tính chọn lọc và bảo vệ được nguồn lợi hải sản. Từ chỗ chỉ biết phơi
khô, ướp muối sản phẩm nay ngư dân đã biết ứng dụng kỹ thuật làm lạnh
bằng ướp đá lạnh, máy lạnh, thùng nước biển lạnh, kể cả công nghệ hiện
đại bằng máy sản xuất đá vảy trên biển nhằm bảo quản tốt nguyên liệu,
nâng cao giá trị sản phẩm. Ngoài ra thông qua công tác tuyên truyền,
tập huấn khuyến ngư đã chuyển tải đến ngư dân các thông tin ngư
trường, nguồn lợi, các kiến thức về phòng chống lụt, bão và an toàn
trên biển, giúp ngư dân giảm thiểu những thiệt hại do thiên tai gây
nên.
Về tập huấn, hội thảo:
Phối hợp với Cục Bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản tổ chức các lớp tập huấn để
tuyên truyền giáo dục ngư dân có ý thức trong khai thác đi đôi với bảo
vệ nguồn lợi thuỷ sản và trang bị cho ngư dân các kiến thức cơ bản về
phòng tránh bão và cứu hộ, cứu nạn trên biển.
Phối hợp với các địa phương tổ chức các lớp tập huấn về kỹ thuật khai
thác, cải tiến ngư lưới cụ, hướng dẫn sử dụng các thiết bị máy móc
hàng hải trên tàu, phòng chống lụt bão, an toàn trên biển và bảo vệ
nguồn lợi thuỷ sản.
Tổ chức hội thảo về một số nghề khai thác hải sản xa bờ nhằm giúp các
cán bộ khuyến ngư, cán bộ kỹ thuật nắm được những khó khăn vướng mắc
của ngư dân trong sản xuất và có phương án hoạt động phù hợp với thực
tế sản xuất.
Tổ chức hội thảo khoa học về ứng dụng các thiết bị thuỷ lực trên tàu
cá và tham quan trực tiếp mô hình máy thu lưới bằng thuỷ lực. Sau khi
áp dụng máy thu lưới bằng thuỷ lực, thời gian thu lưới giảm một nửa so
với trước, giảm cường độ lao động của ngư dân, giảm 30% nhân lực, số
mẻ lưới trong ngày tăng gấp đôi, thu nhập của người lao động tăng từ
1,5 đến 1,7 lần so với trước. Ngoài ra, các mô hình trình diễn kỹ
thuật đều được tập huấn ban đầu và tổ chức hội thảo đầu bờ để phổ biến
và nhân rộng cho ngư dân.
Xây dựng mô hình
Với mức chi rất hạn chế, chỉ được hỗ trợ 20% kinh phí vật tư, thiết bị
cho các mô hình khai thác và sơ chế và bảo quản, nên công tác khuyến
ngư về lĩnh vực khai thác và bảo vệ nguồn lợi hải sản rất khó thực
hiện, vì các mô hình này thường phải có đầu tư lớn, ứng dụng những
tiến bộ kỹ thuật mới, đòi hỏi người dân phải mạnh dạn, nhiều lúc phải
chấp nhận rủi ro. Mức hỗ trợ này đã không khuyến khích ngư dân tham
gia công tác khuyến ngư cũng như phối hợp xây dựng mô hình, dẫn đến
các mô hình trình diễn kỹ thuật về khai thác và bảo quản sản phẩm thuỷ
sản ít được thực hiện. Có thể nói đây là một mảng gần như bị bỏ quên
trong thời gian dài từ 1993 -1997. Những năm tiếp theo, với sự nỗ lực
và cố gắng vận động bà con ngư dân của các cán bộ khuyến ngư, một số
mô hình đã được thực hiện như: Cải tiến lưới kéo đôi, máy thu lưới
vây, lắp máy đá vảy, cải tiến hầm bảo quản lạnh, khai thác kiêm nghề
trên tàu khai thác xa bờ, câu cá ngừ đại dương, cải tiến lưới kéo tôm,
khai thác ghẹ bằng lồng bẫy; phun phủ composite cho vỏ tàu, cải tiến
lưới vây ngày kết hợp vây đêm .v.v...
Kết luận:
Trong những năm qua, công tác khuyến ngư đã chuyển tải đến ngư dân
nhiều tiến bộ kỹ thuật trong khai thác cũng như trong bảo quản sản
phẩm thuỷ sản, đã cùng ngư dân tiếp cận, làm quen và tiến tới làm chủ
các thiết bị hiện đại, các kỹ thuật mới, không ngừng nâng cao sản
lượng cũng như chất lượng sản phẩm thuỷ sản. Ðồng thời thông qua công
tác khuyến ngư đã tạo điều kiện cho ngư dân giữa các miền có dịp giao
lưu, học hỏi, trao đổi thông tin, kinh nghiệm trong sản xuất.
Mặc dù vậy, khai thác hải sản vẫn là một nghề lao động trong điều kiện
sóng gió, nguy hiểm, đơn vị sản xuất là các tàu thuyền riêng lẻ ít có
cơ hội giao lưu học hỏi lẫn nhau, nhìn chung ngư dân có trình độ thấp.
Vì vậy họ rất cần được giúp đỡ nhiều hơn, học hỏi nhiều hơn thông qua
công tác khuyến ngư. Thực tế những năm qua, công tác khuyến ngư trong
lĩnh vực này còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được nhiều yêu cầu của
thực tế sản xuất đề ra.
Về xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật: Với mức hỗ trợ 20% vật tư
thiết bị, mô hình đã vô hình tạo nên một rào cản cho việc thực hiện,
vì mô hình khai thác thường đòi hỏi vốn đầu tư lớn, đồng thời đã là mô
hình thử nghiệm thì phải tiên phong đi trước, độ rủi ro cao nên ngư
dân không mạnh dạn bỏ vốn để phối hợp với khuyến ngư, dẫn đến việc tìm
đối tác xây dựng mô hình rất khó khăn.
Nghề cá nước ta là nghề cá nhân dân, nhất là trong khai thác hải sản.?
Ngư dân quen với nghề cá truyền thống, đánh bắt chủ yếu dựa theo kinh
nghiệm với ngư trường khai thác chủ yếu là vùng biển ven bờ. Tàu
thuyền nhỏ, khai thác thủ công lại chưa được trang bị các loại thiết
bị máy móc hiện đại để đánh bắt mang tính công nghiệp cao và đủ khả
năng vươn khơi. Do áp lực quá cao trong khai thác ven bờ, nguồn lợi
thuỷ sản suy giảm nghiêm trọng, có những vùng đã cạn kiệt, do đó vươn
khơi là giải pháp duy nhất của nghề khai thác hải sản.
III. HOẠT ĐỘNG KHUYẾN NGƯ HƯỚNG DẪN NGƯỜI NGHÈO LÀM ĂN
Thuỷ sản được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn, phát triển đa nghề
trong nhiều lĩnh vực sản xuất: khai thác, nuôi trồng, chế biến, dịch
vụ thuỷ sản. Phạm vi hoạt động sản xuất rộng: ngoài khơi, ven biển,
hải đảo, miền núi, trung du, đồng bằng. Lực lượng sản xuất chính là
ngư dân sống ven biển, hải đảo, ven sông, vùng hồ. Theo số liệu thống
kê chưa đầy đủ, cả nước có 29 tỉnh có biển với 113 huyện, thị ven
biển, trên 750 phường, xã với số dân khoảng trên 5 triệu người, trong
đó khoảng 1 triệu người sống ở đầm phá, trên nửa triệu người sống ở
vùng tuyến đảo. Ðồng thời có khoảng vài ngàn dân sống ở vùng hồ, ven
sông. Dân chí thấp, dân số lại tăng nhanh, kéo theo tăng nhanh lực
lượng lao động dư thừa không có việc làm.
Bên cạnh đó, cơ sở hạ tầng phục vụ dân sinh thiếu và yếu kém, nhất là
y tế, trường học và thiếu chợ, nước sạch. Nhiều ngư dân thiếu cả thông
tin, thiếu kiến thức về làm ăn, sinh hoạt. Trong khi đó sản xuất luôn
gặp rủi ro do bão, lụt, triều cường làm cho đời sống ngư dân luôn
trong tình trạng khó khăn, nhất là vùng bãi ngang, tuyến đảo. Tỷ lệ hộ
nghèo chiếm 25% trở lên tại các xã nghèo của 24 tỉnh thành phố có biển
(trừ Hải Phòng, Nam Ðịnh TP. Ðà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh) chiếm tỷ lệ
cao. Từ những đặc thù đó, công tác xoá đói giảm nghèo rất được ngành
quan tâm.
1. Hướng dẫn người nghèo cách làm ăn
Ngay từ năm 1998, khi có Quyết định 135 về chương
trình phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó khăn và đồng bào
dân tộc miền núi biên giới, vùng sâu, vùng xa và Chương trình mục tiêu
quốc gia XÐGN 1998-2000, trong nội dung hoạt động khuyến ngư về tập
huấn kỹ thuật , xây dựng mô hình trình diễn về nuôi cá ruộng, nuôi cá
mô hình VAC, nuôi cá lồng, tổ chức khuyến ngư đã tập trung hoạt động ở
các tỉnh miền núi vùng sâu, vùng xa, nhằm giúp cho nông dân biết áp
dụng kỹ thuật vào nuôi trồng thuỷ sản phù hợp với điều kiện đất đai,
mặt nước, sinh thái ở từng địa phương, tạo việc làm, cải thiện đời
sống cho dân ở vùng khó khăn. Mặt khác, đã phối hợp với Viện nghiên
cứu Nuôi trồng thủy sản I, dự án SAPA đưa những giống thuỷ sản có giá
trị kinh tế và những tiến bộ kỹ thuật về nuôi cá vào các địa phương
miền núi nhằm khôi phục và phát triển nghề cá ở các tỉnh miền núi.
Ðặc biệt, thực hiện Quyết định 333/2001/QÐ-TS của Bộ
trưởng Bộ Thuỷ sản về chương trình hướng dẫn người nghèo cách làm ăn
thông qua công tác khuyến ngư, Trung tâm Khuyến ngư Quốc gia cùng các
Trung tâm Khuyến ngư, Khuyến nông địa phương đã tổ chức hướng dẫn, phổ
biến chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, bồi dưỡng kỹ năng, kiến thức kỹ
thuật và quản lý kinh tế, cung cấp thông tin cho ngư dân, giúp cho hộ
nông, ngư dân mở rộng sản xuất nâng cao hiệu quả sản xuất thuỷ sản,
góp phần phát triển ngành thuỷ sản. Ðồng thời hướng dẫn người nghèo ở
vùng ven biển hải đảo, miền núi, vùng sâu, vùng xa cách làm ăn bằng
đưa kỹ thuật áp dụng vào sản xuất nuôi trồng, khai thác, chế biến, bảo
quản và tiêu thụ sản phẩm thuỷ sản nhằm tạo được nghề phù hợp với điều
kiện tự nhiên sinh thái từng vùng, cải thiện đời sống, tiến tới xoá
được đói nghèo ở địa phương.
Bằng nguồn kinh phí XÐGN được cấp năm 2001 là 400 triệu, kết hợp với
nguồn kinh phí khuyến ngư hàng năm, đã triển khai hoạt động ở 12 tỉnh:
Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế,
Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Ðịnh, Trà Vinh, Bạc Liêu và Sóc Trăng, mở
lớp tập huấn kiến thức, xây dựng mô hình chuyển giao, tham quan trao
đổi kinh nghiệm. Ðồng thời phối hợp với tổ chức khuyến ngư tự nguyện
của các cơ quan nghiên cứu trong ngành, khuyến ngư của các hội nghề
nghiệp, đoàn thể xã hội tạo mạng lưới khuyến ngư rộng khắp, đưa kiến
thức đến các xã nghèo. Kết quả thực hiện như sau:
Tập huấn kỹ thuật
Phối hợp với 9 địa phương: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình,
Quảng Trị, Quảng Ngãi, Bình Ðịnh, Trà Vinh, Bạc Liêu tổ chức 36 lớp
tập huấn với sự tham gia trên 2.700 lượt người, kinh phí tập huấn cho
mỗi tỉnh là 10 triệu đồng. Nội dung tập huấn gồm:
- Ðối với miền núi, vùng sâu vùng xa: Bồi dưỡng kiến thức và xây dựng
mô hình sản xuất tham quan cho người nghèo nuôi cá trong ao nước chảy,
nuôi cá VAC, nuôi cá xen trong ruộng cấy lúa, nuôi cá lồng trên hồ,
trên sông. Ðã giúp cho người nghèo sử dụng được diện tích sẵn có trong
gia đình như ao, ruộng và mặt nước công như hồ, sông phát triển nghề
nuôi tại nhiều địa phương, các hộ nghèo đã có nghề, có thu nhập, cải
thiện được đời sống, lôi cuốn người khác trong vùng nuôi thuỷ sản.
- Ðối với vùng đồng bằng ven biển: Xây dựng mô hình trình diễn, tổ
chức tham quan trao đổi cho dân nuôi tôm trong ao đầm ven biển, nuôi
tôm trên cát, nuôi nghêu vùng cửa sông, chuyển đổi nghề trong khai
thác, sơ chế bảo quản sản phẩm sau thu hoạch. Kết quả nhiều ngư dân
nghèo đã tạo được nghề phù hợp với điều kiện tự nhiên và sinh thái ở
địa phương. Ðời sống nhiều hộ gia đình đã khá lên từ nuôi thuỷ sản.
Xây dựng mô hình trình diễn
Ðã chỉ đạo triển khai mô hình nuôi thuỷ sản quy mô hộ gia đình ở 5
tỉnh trọng điểm: Thừa Thiên Huế, Quảng Trị, Quảng Nam, Sóc Trăng, Bạc
Liêu.
- Tại Bạc Liêu: Mô hình nuôi tôm sú trong nước ngọt trên diện tích 4
ha của các xã nghèo thuộc huyện Vĩnh Lợi. Ðây là vùng đất bị nhiễm mặn
từ 1-3%o, sản xuất lúa năng suất thấp, vì vậy nông dân đã tự phát
chuyển đổi từ diện tích lớn từ trồng lúa sang nuôi tôm. Tuy nhiên,
trình độ kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý ao đầm nuôi còn hạn chế. Với
tổng kinh phí 60 triệu đồng, kết quả triển khai đạt năng suất từ
0,4-0,7 tấn/ha, thu lãi từ 17 đến 30 triệu đồng/ha.
- Tại Sóc Trăng: Mô hình nuôi tôm sú bán thâm canh tại huyện Vĩnh Châu
trên diện tích 4 ha, mỗi hộ được hỗ trợ về con giống, thức ăn, thuốc
phòng trị bệnh là 5.800.000 đ. Kết quả trong 10 hộ được đầu tư, năng
suất bình quân mỗi hộ đạt 451 kg/ha.
- Tại Quảng Nam: Mô hình nuôi cá nước ngọt với đối tượng trắm cỏ, rô
phi, chép với 273 hộ gia đình, được hỗ trợ về giống, thức ăn và thuốc
phòng trị bệnh. Kết quả sau 6 tháng, 243 mô hình đạt kết quả tốt, cá
trắm cỏ đạt trung bình 0,6-0,8 kg/con, rô phi đạt 0,2-0,25 kg/con,
chép đạt 0,5-0,75 kg/con.
- Tại Quảng Trị: Mô hình nuôi cá nước ngọt tại xã Gio Hải với sự tham
gia của 86 hộ gia đình. Kết quả đạt tốt, với sản lượng đạt 19.134 kg,
cỡ cá thu hoạch trung bình đạt 0,6-0,7 kg/con.
- Thừa Thiên-Huế. Mô hình cá nước ngọt quy mô 21 ha với số hộ tham gia
152 hộ, bình quân mỗi hộ có diện tích 300 m2. Mô hình đã đạt hiệu quả
kinh tế cao, bình quân mỗi hộ thu lãi từ 1 triệu đồng trở lên.
2. Các dự án xây dựng mô hình XĐGN tại các xã bãi ngang ven biển
Thanh Hoá
Căn cứ công văn 1351/LÐTBXH-BTXH ngày 31/1/ 2002 của Bộ Lao động -
Thương binh và Xã hội về tổ chức thực hiện xây dựng mô hình XÐGN ở
vùng đặc thù, Bộ Thuỷ sản chịu trách nhiệm chỉ đạo hướng dẫn xây dựng
mô hình tại tỉnh Thanh Hoá với kinh phí được cấp năm 2002 là 150 triệu
đồng, sử dụng theo chế độ tài chính quy định hiện hành cho những nội
dung cơ bản sau:
- Khảo sát xây dựng kế hoạch, hội nghị, hội thảo kiểm tra, giám sát
đánh giá, nhân rộng mô hình, làm việc ngoài giờ và chi phí hành chính
Dự án xây dựng mô hình phát triển nuôi trồng thủy sản XÐGN ở xã bãi
ngang ven biển Thanh Hoá là mô hình thí điểm của chương trình mục tiêu
quốc gia XÐGN và việc làm giai đoạn 2001-2005 để nhân rộng ra vùng bãi
ngang của các tỉnh khu 4 và miền Trung.
3. Tập huấn nâng cao năng lực cán bộ làm công tác XĐGN theo chưong
trình mục tiêu quốc gia XĐGN và việc làm giai đoạn 2001-2005
Tập huấn nâng cao năng lực cán bộ làm công tác XÐGN là một trong
những nội dung quan trọng của Chương trình mục tiêu quốc gia XÐGN và
việc làm giai đoạn 2001-2005, có ý nghĩa then chốt, tác dụng trực tiếp
đến thành công của việc thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia.
Chỉ tiêu của chương trình mục tiêu quốc gia từ
2001-2005, toàn quốc mở 1.720 lớp tập huấn, trong đó có 350 lớp tập
huấn đội ngũ giảng viên, báo cáo viên về tập huấn lại ở cơ sở, 1.379
lớp tập huấn cho cán bộ trực tiếp làm công tác XÐGN bảo đảm: 4.800
lượt người trực tiếp làm công tác XÐGN cấp tỉnh, cấp huyện và 128.000
cán bộ trực tiếp cấp xã, phường được tham gia.
Mục tiêu của tập huấn là làm cho cán bộ dự tập huấn
nhận thức đầy đủ nội dung của chương trình mục tiêu quốc gia, các cơ
chế chính sách vận hành chương trình mục tiêu quốc gia XÐGN và việc
làm. Ðồng thời nâng cao năng lực chuyên môn kỹ thuật trong lĩnh vực
ngành mà cán bộ phụ trách để cán bộ có khả năng theo rõi, giám sát,
phân tích tình hình đói nghèo tại địa phương, có khả năng xây dựng và
chỉ đạo thực hiện các dự án XÐGN tại địa phương gắn với mục tiêu phát
triển kinh tế ngành.
Từ năm 2002 Bộ Thuỷ sản mới được giao kinh phí và nhiệm vụ tập huấn
nâng cao năng lực cán bộ khuyến ngư làm công tác XÐGN
Kết quả thực hiện 2 năm (2002-2003) như sau:
* Năm 2002:
- Tổ chức tập huấn: Từ đặc điểm về đội ngũ cán bộ làm công tác XÐGN và
trong khuôn khổ nguồn kinh phí được cấp, năm 2002 Trung tâm Khuyến ngư
Quốc gia đã tổ chức tập huấn theo vùng trọng điểm cho các đối tượng là
cán bộ khuyến ngư tỉnh, huyện và xã,theo dạng bồi dưỡng cán bộ nòng
cốt cho địa phương cơ sở. Thời gian tập huấn mỗi lớp là 6 ngày.
- Tài liệu tập huấn: Với mục tiêu tập huấn nâng cao nhận thức về
chương trình mục tiêu quốc gia XÐGN và nâng cao năng lực chuyên môn kỹ
thuật, do đó tài liệu tập huấn đã được chuẩn bị chu đáo. 70% số bài
giảng nhằm trang bị cho cán bộ tập huấn nhận thức về chương trình mục
tiêu quốc gia XÐGN. 30% số bài giảng về định hướng phát triển ngành ở
từng vùng và về chuyên môn nhằm trang bị cho cán bộ nhận thức về phát
triển ngành gắn với XÐGN. Bên cạnh đó, Trung tâm phối hợp với Dự án
Việt - Ðức về XÐGN (GTZ), Sở LÐTBXH, Sở Tài chính. Ngân hàng phục vụ
người nghèo, Hội Phụ nữ ở các tỉnh nơi tập huấn biên soạn các tài liệu
về kinh nghiệm trong công tác XÐGN ở địa phương, giúp học viên có
những kiến thức thực tế.
Ngoài tài liệu chính, Trung tâm Khuyến ngư Quốc gia còn in và phát 500
cuốn tài liệu kỹ thuật nuôi trồng thủy sản cho các học viên để tham
khảo, trong đó có 200 cuốn thông tin Khuyến ngư Việt Nam và 300 cuốn
sách kỹ thuật
* Năm 2003
- Tổ chức tập huấn:
Nhằm tăng cường mạng lưới khuyến ngư ở cấp cơ sở tham gia trực tiếp
công tác XÐGN, năm 2003 việc mở lớp tập huấn được chia thành cụm, ở
từng vùng để hạn chế việc đi lại của các học viên, đồng thời tăng số
lượng học viên ở các huyện, phường, xã nơi tập huấn. Ðã tổ chức 5 lớp
ở 5 vùng, mỗi lớp từ 65-70 người, thời gian 6 ngày cho mỗi lớp. Ðịa
điểm tập huấn cụ thể như sau: 5 tỉnh miền núi Việt Bắc tổ chức ở Yên
Bái;? 6 tỉnh miền núi Ðông Bắc tổ chức ở Thái Nguyên; 5 tỉnh Ðông Nam
Bộ tổ chức ở Tây Ninh; 4 tỉnh Tây nguyên tổ chức tại Ðắc Lắc; Các tỉnh
ven biển nam miền Trung tổ chức tại Khánh Hoà.
- Tài liệu tập huấn: Do yêu cầu thực tế ở các địa phương cán bộ
khuyến ngư làm công tác XÐGN không những phải hiểu biết chính, chương
trình mục tiêu quốc gia XÐGN mà còn phải hiểu biết về chuyên môn kỹ
thuật, đặc biệt hiểu sâu về kỹ thuật phát triển nuôi trồng thuỷ sản
phù hợp với vùng sinh thái để giúp người nghèo phát triển sản xuất,
nên tài liệu tại mỗi lớp được cải tiến hơn. 50% số bài giảng thuộc về
chương trình mục tiêu XÐGN và việc làm, 50% số bài về kỹ thuật khai
thác, bảo quản chế biến, nuôi trồng thuỷ sản? phù hợp với điều kiện
phát triển ở từng vùng.
Ngoài ra, mỗi học viên đến dự tập huấn còn được trang bị thêm sách
kỹ thuật, cuốn thông tin Khuyến ngư Việt Nam làm tài liệu tham khảo.
* Ðánh giá chung:
Cán bộ khuyến ngư làm công tác XÐGN ở các địa phương hầu hết kiêm
nhiệm và đây là nhiệm vụ mới, thời gian làm công tác XÐGN chưa nhiều,
điều kiện tham gia đào tạo tập huấn ít, chưa nắm đầy đủ chủ trương
chính sách, nội dung của chương trình mục tiêu quốc gia XÐGN và phương
pháp tiếp cận cũng như các kỹ năng tổ chức thực hiện. Bên cạnh đó, đội
ngũ cán bộ khuyến ngư tham gia làm công tác XÐGN cũng rất đa dạng
(hoạt động trong Trung tâm Khuyến ngư, trong Trung tâm Khuyến nông,
Trung tâm Thủy sản, các khuyến ngư, khuyến nông viên ở các xã và địa
bàn ), tuy có nhiệt tình nhưng trình độ không đồng đều cả về văn hoá,
chuyên môn, tuổi đời và có nhiều học viên là nữ người dân tộc, chưa
được đi tập huấn bao giờ.
Qua 2 năm thực hiện chương trình tập huấn nâng cao năng lực cán bộ
khuyến ngư làm công tác XÐGN đã đem lại kết quả đáng ghi nhận:
- Ðã thống nhất biên soạn xây dựng tài liệu với nội dung tập huấn bám
sát chương trình mục tiêu quốc gia về XÐGN và việc làm cũng như tài
liệu kỹ thuật chuyên môn của ngành phù hợp với đối tượng tập huấn và
từng vùng, khu vực.
- Tập huấn đúng đối tượng, cán bộ đi tập huấn bảo đảm trình độ và khả
năng làm nòng cốt cho công tác XÐGN ở địa phương, cơ sở. Thành phần dự
tập huấn phối hợp giữa ở tỉnh, huyện và cơ sở theo tỷ lệ phù hợp 25%
cán bộ tỉnh, 25% cán bộ huyện và 50% cán bộ xã, tập trung ở các huyện,
xã nghèo vùng sâu, vùng xa.
- Nguồn kinh phí được cấp không nhiều song Trung tâm Khuyến ngư Quốc
gia đã lồng ghép kinh phí tập huấn khuyến ngư hàng năm cho tập huấn
XÐGN, ví dụ: hỗ trợ kinh phí in ấn phát hành tài liệu, bồi dưỡng giảng
viên để đảm bảo chế độ cho học viên dự tập huấn.
- Các lớp tập huấn đã áp dụng những hình thức và phương pháp tập huấn
mới, kết hợp bài giảng với tham quan mô hình và trao đổi thảo luận, sử
dụng các thiết bị hiện đại trong truyền đạt, và cung cấp tài liệu kịp
thời cho học viên, tạo điều kiện cho tập huấn sôi động, hấp dẫn. Ðặc
biệt, năm 2003 sau mỗi lớp tập huấn, các học viên đã được cấp chứng
chỉ: Hoàn thành khoá tập huấn nâng cao năng lực cán bộ khyến ngư làm
công XÐGN, làm cơ sở cho các học viên được trực tiép tham gia vao
chương trình dự án XÐGN ở địa phương.
- Giảng viên ở các lớp tập huấn là những cán bộ ở cơ quan quản lý,
nghiên cứu chuyên sâu về chuyên môn, có kinh nghiệm truyền đạt nội
dung, trình bày bài giảng, góp phần quan trọng giúp học viên tăng khả
năng tiếp thu, nâng cao chất lượng tập huấn.
- Các lớp tập huấn tổ chức ở địa phương, nhất là các tỉnh miền núi,
được các đồng chí lãnh đạo UBND tỉnh đến dự khai mạc, động viên, lãnh
đạo Sở NN và PTNT, Sở LÐTBXH tạo điều kiện thuận lợi và trực tiếp dự,
chỉ đạo.
Tuy với kinh phí có hạn , diện giảm đói nghèo lại rộng, song tại những
nơi được tập huấn, xây dựng mô hình, các hộ nghèo đã biết cách sử dụng
tiềm năng đất nước và sức lao động của mình tạo ra việc làm từ nuôi
trồng thuỷ sản, nhờ đó nhiều gia đình đã cải thiện được một bước sinh
hoạt. Ðây cũng là bài học kinh nghiệm để tiếp tục mở rộng hướng dẫn
cho người nghèo cách làm ăn trong những năm tới nhằm XÐGN.
IV. CÁC HOẠT ĐỘNG CỤ THỂ TRONG 10 NĂM QUA
1. Chuyển giao kỹ thuật thông qua các mô hình trình diễn
Với phương châm đem khoa học kỹ thuật đến tận các hộ, người dân đồng
thời chuyển giao kỹ thuật bằng các mô hình trình diễn để dân thấy, dân
tin và dễ học, dễ làm, mô hình là một minh chứng thực tế nhất, là điểm
sáng để thông qua tập huấn, hội thảo đầu bờ phổ biến rộng rãi cho dân.
Ðây là phương pháp chuyển giao rất hiệu quả, có tính thuyết phục cao.
Theo thống kê chưa đầy đủ, trong 10 năm hệ thống khuyến ngư cả nước đã
thực hiện 4.404 mô hình trình diễn cho cả 3 lĩnh vực nuôi trồng, khai
thác, sơ chế và bảo quản sản phẩm thuỷ sản. Riêng Trung tâm Khuyến ngư
Quốc gia triển khai 694 mô hình.
Trong số đó có những mô hình đạt kết quả cao như nuôi tôm sú thâm
canh năng suất 7 tấn/ ha; nuôi cá tra, ba sa trong lồng đạt 400 tấn/
ha; nuôi cá rô phi đơn tính 15 tấn/ha; mô hình tời thu lưới vây nay đã
áp dụng rộng rãi trong cả nước góp phần làm giảm sức lao động thủ công
nặng nhọc cho ngư dân trên biển. Mô hình bảo quản lạnh sản phẩm bằng
khay đá đã áp dụng cho hầu hết các tàu đánh cá trong cả nước, cũng như
các chủ thu mua nguyên liệu thuỷ sản xuất khẩu.
Năm 2003, Trung tâm Khuyến ngư Quốc gia đã thực hiện trên 200 mô hình
trình diễn kỹ thuật, trong đó 190 mô hình phục vụ cho NTTS , tăng 90
điểm so với năm 2002. Ðã và đang triển khai 12 mô hình về khai thác
hải sản xa bờ, bảo quản sản phẩm thuỷ sản bao gôm các nội dung: Mô
hình nghề câu cá chân rạn; khai thác bằng lồng bẫy - là các mô hình
nhằm khai thác kết hợp BVNLTS; mô hình kiêm nghề trên tàu chụp mực; mô
hình cải tiến lưới vây đêm kết hợp vây ngày; câu cá ngừ đại dương; cải
tiến lưới giã tôm khơi - là các mô hình nhằm nâng cao hiệu quả sản
xuất của các tàu khai thác hải sản xa bờ, đồng thời khai thác có tính
chọn lọc các đối tượng có giá trị kinh tế cao. Nhìn chung, các mô hình
đều đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra.
Số liệu chi tiết tại phụ lục 2
2. Tập huấn, hội thảo, tham quan thực tế
Trong những thành công của công tác khuyến ngư, phải
kể đến vai trò cực kỳ quan trọng của công tác tập huấn, hội thảo, tham
quan thực tế. Ðây là phương pháp đào tạo không chính quy, cơ bản mà
chỉ mang tính hướng dẫn, dạy nghề ngắn gọn nhưng hiệu quả cao bởi việc
học được gắn liền với thực hành. Học ngay từ thực tế và cũng để áp
dụng ngay vào thực tế sản xuất. Từ năm 1993 đến nay, hệ thống khuyến
ngư đã tổ chức:
- 14.981 lớp tập huấn với 767.001 lượt người tham dự; 416 cuộc hội
thảo với 26.388 lượt người tham dự ; 290 đợt tham quan kể cả trong và
ngoài nước.
Trong đó riêng Trung tâm Khuyến ngư Quốc gia đã thực hiện được: 1.168
lớp tập huấn với 93.440 lượt người tham dự; 9 cuộc hội thảo với hơn
800 lượt người tham dự.
Trong lĩnh vực nuôi trồng, đã tổ chức các lớp tập
huấn về kỹ thuật nuôi, chọn con giống, phòng trừ dịch bệnh, quản lý ao
nuôi, môi trường sinh thái. v.v..
Trong khai thác, là các lớp tập huấn về sử dụng các thiết bị máy móc
hàng hải, các nghề khai thác xa bờ như câu cá ngừ đại dương, nghề rê
khơi, nghề lưới kéo, nghề lưới vây rút chì, chụp mực, các nghề khai
thác bằng lồng bẫy ..v.v.v..
Ngoài ra, để trang bị kiến thức chuyên môn nghiệp vụ cho các cán bộ
khuyến ngư, Trung tâm Khuyến ngư Quốc gia đã phối hợp với các dự án
như STOFA, SUMA, SUFA tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ khuyến ngư
cho các khuyến ngư viên cơ sở, với giáo viên là các chuyên gia nước
ngoài. Ngoài ra, một số cán bộ khuyến ngư còn được gửi đi học các lớp
học khuyến ngư ở ngoài nước như các lớp do SEAFDEC tổ chức.
Năm 2003, Trung tâm Khuyến ngư Quốc gia đã phối hợp với các địa
phương, đơn vị thực hiện được: 209 lớp tập huấn với 11.800 lượt người
tham dự với các nội dung về kỹ thuật nuôi trồng thuỷ sản, khai thác
hải sản, bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, PCLB, an toàn và cứu nạn trên
biển, vệ sinh an toàn thực phẩm.
Số liệu chi tiết tại phụ lục 3
3. Thông tin tuyên truyền
Trong mười năm qua, đã phối hợp chặt chẽ với các cơ
quan thông tin đại chúng trong cả nước như Ðài Tiếng nói Việt Nam; Ðài
Truyền hình Việt Nam; các cơ quan báo chí để chuyển tải đến nông ngư
dân các thông tin khoa học kỹ thuật cũng như thông tin kinh tế và các
chủ trương chính sách của Ðảng và Nhà nước.
Ðã phát hành:
- 107 đầu sách với 1.593.255 bản;
- 148 tờ gấp với 1.171.471 bản
- 40 loại băng hình với 2.285 bản in sao
- 117 loại băng cát sét với 416 bản in sao
- 2.269 bài báo về kỹ thuật, 3.174 bản tin và phóng sự.
Xem chi tiết tại bản phụ lục 4
Ngoài tờ thông tin Khuyến ngư Việt Nam do Trung tâm
Khuyến ngư Quốc gia xuất bản định kỳ hàng tháng, các chuyên mục Giáo
dục từ xa, các bản tin của Ðài Tiếng nói Việt Nam, các chuyên mục Cùng
nông dân bàn cách làm giàu, các phóng sự, các phim kỹ thuật phát trên
Ðài Truyền hình Việt Nam cũng như đài truyền hình các địa phương, các
báo Khoa học và Ðời sống, báo Kinh tế nông thôn, Tạp chí Thuỷ sản,
Thông tin Khoa học kinh tế thuỷ sản đều phối hợp chặt chẽ với hệ thống
khuyến ngư để chuyển tải thông tin đến nông, ngư dân. Ngoài ra các tài
liệu kỹ thuật, tờ gấp, poster, clipchart v..v.. đã được Khuyến ngư
khai thác triệt để, đưa thông tin khoa học kỹ thuật nhanh nhất, thuận
lợi nhất đến người lao động.
Trong năm 2003, Trung tâm Khuyến ngư Quốc gia đã đưa
trang website "Khuyến ngư Việt Nam", tên miền http://www.nafec.gov.vn
chính thức kết nối và hoạt động trên mạng Internet, bổ sung một phương
tiện hiện đại trong hoạt động thông tin tuyên truyền khuyến ngư. Trang
website "Khuyến ngư Việt Nam" là trang web được thiết kế và hoạt động
dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Giám đốc Trung tâm Khuyến ngư Quốc gia,
được cập nhật thông tin về các hoạt động khuyến ngư trên toàn quốc,
phổ biến kiến thức khoa học kỹ thuật nuôi trồng, khai thác, chế biến
thuỷ sản, các chủ trương, đường lối, chính sách của Ðảng và Nhà nước,
các văn bản liên quan đến công tác khuyến ngư, khuyến nông trên toàn
quốc, cập nhật thông tin hai chiều hàng ngày nhanh chóng và chính xác,
cần thiết với nông ngư dân, cán bộ làm công tác khuyến ngư nói riêng
và cán bộ làm thuỷ sản nói chung,.
Ðể xây dựng trang website "Khuyến ngư Việt Nam " trở
thành trang web thực sự có hiệu quả phản ánh đầy đủ các hoạt động
khuyến ngư, Trung tâm Khuyến ngư Quốc gia đã và đang đề nghị các đơn
vị làm công tác khuyến ngư trên toàn quốc triển khai và phối hợp chặt
chẽ với Trung tâm Khuyến ngư Quốc gia trong các lĩnh vực như bố trí
cán bộ chuyên trách làm công tác thông tin tuyên truyền khuyến ngư,
xây dựng hệ thống cộng tác viên khuyến ngư cấp huyện, xã...
Song song việc triển khai, xây dựng trang website,
Trung tâm Khuyến ngư Quốc gia cũng đang từng bước tin học hoá, xây
dựng và phát triển công nghệ thông tin trong công tác khuyến ngư. Một
trong những hoạt động có ý nghĩa cho công tác này là việc tổ chức lớp
tập huấn với nội dung "Ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác
khuyến ngư " và phát cho 21 Trung tâm Khuyến ngư các tỉnh ven biển và
cấp cho mỗi tỉnh một thiết bị faxmodem dùng kết nối mạng Internet qua
đường điện thoại. Hiện nay, Trung tâm Khuyến ngư Quốc gia khuyến khích
các đơn vị làm công tác khuyến ngư trên toàn quốc trao đổi thông tin
qua đường thư điện tử một phương tiện trao đổi thông tin nhanh, thuận
lợi và tiết kiệm nhất. Theo thống kê đến thời điểm này, đã có 25/61
đơn vị làm công tác khuyến ngư trên toàn quốc đã có địa chỉ Email. Một
số đơn vị đã tiến hành trao đổi thông tin với Trung tâm Khuyến ngư
Quốc gia có địa chỉ email: na...@fpt.vn
Ðịa chỉ email của các Trung tâm Khuyến ngư, Trung tâm
Khuyến nông, Chi cục BV NLTS làm công tác khuyến ngư được kê tại phụ
lục 6
Xem chi tiết tại phụ lục 6
Với sự chỉ đạo sáng suốt của lãnh đạo Trung tâm, sự
lao động say mê sáng tạo của các cán bộ khuyến ngư và các nhà khoa
học, các tài liệu kỹ thuật có tính thực tiễn, tính áp dụng cao, đồng
thời cũng là những cẩm nang của các cán bộ kỹ thuật thuỷ sản và ngư
dân đã được dày công biên soạn và xuất bản như: Một số nghề khai thác
thuỷ sản ở Việt Nam; Kỹ thuật nuôi trồng hải đặc sản; Kỹ thuật sơ chế
và bảo quản sản phẩm thuỷ sản; Thông tin về đối tượng tôm he chân
trắng; Mười năm hoạt động khuyến ngư.
V. HOẠT ĐỘNG KHUYẾN NGƯ VỀ CHƯƠNG TRÌNH GIỐNG THUỶ SẢN
Trước yêu cầu cấp bách về con giống phục vụ sản xuất với mục tiêu đảm
bảo đủ số lượng, chất lượng và đa dạng hoá cơ cấu đàn giống nuôi ở
miền núi, vùng sâu, vùng xa và các vùng nuôi trọng điểm. Thủ tướng
Chính phủ đã ban hành Quyết định 103 /CP ngày 25/8/2000 về chính sách
khuyến ngư phát triển giống thuỷ sản.
Trung tâm Khuyến ngư Quốc gia đã phối hợp với các Viện, Trường, Trung
tâm nghiên cứu, các Sở Thuỷ sản, Sở NN&PTNT, các Trung tâm Khuyến
nông, Khuyến ngư, Trung tâm Thuỷ sản, Chi cục BVNLTS? các tỉnh tìm
công nghệ sản xuất giống một số loài thuỷ sản có giá trị kinh tế cao ở
cả trong và ngoài nước để phục vụ sản xuất, với các hoạt động chủ yếu
là nhập các công nghệ sản xuất giống một số loài thuỷ sản quý hiếm của
nước ngoài và các công nghệ sinh sản nhân tạo giống thuỷ sản mà trong
nước chưa thực hiện được. Chuyển giao các công nghệ từ các Viện,
Trường, Trung tâm, các cơ sở sản xuất giống, các doanh nghiệp đến các
cơ sở sản xuất khác. Tập trung xây dựng các mô hình ương nuôi cá giống
nhằm tạo ra mạng lưới ương nuôi cá giống, đáp ứng nhu cầu con giống
tại chỗ cho nhân dân ở các vùng sâu, vùng xa trong cả nước.
Từ năm 2000 đến nay, chương trình phát triển giống thuỷ sản đã đem lại
những hiệu quả kinh tế rõ rệt:
- Về ương nuôi cá bột, cá hương lên cá giống: Ðã triển khai 50 mô hình
ở 25 địa phương trong cả nước, chú trọng các tỉnh miền núi phía Bắc,
Tây Nguyên, quy mô mỗi mô hình từ 1 - 3 ha. Kết quả không những làm
cho nhân dân nắm được kỹ thuật ương nuôi cá giống, mà còn hình thành
mạng lưới ương nuôi cá giống trong dân, đáp ứng nhu cầu giống tại chỗ,
vừa chủ động thả nuôi, vừa hạ giá thành và hạn chế dịch bệnh. Từ đó
tạo nên phong trào phát triển nuôi thuỷ sản ở các vùng sâu, vùng xa,
vùng miền núi khó khăn, tạo công ăn việc làm cho người lao động, đồng
thời cung cấp thực phẩm tại chỗ cho nhân dân, góp phần XÐGN cho những
vùng khó khăn.
- Về nhập và chuyển giao công nghệ:
Sau 3 năm hoạt động, đã thực hiện được các dự án sau:
Các dự án nhập công nghệ sản xuất nhân tạo và ương nuôi giống thuỷ
sản:
- Nhập công nghệ ương nuôi giống cá song (Viện NCNTTS I) lên
giai đoạn cá giống (10cm/con) từ Ðài Loan vào Trạm nghiên cứu nước mặn
Cát Bà.
- Nhập công nghệ sinh sản nhân tạo và ương nuôi giống bào ngư
xanh (Viện NCNTTS I).
- Nhập công nghệ sinh sản nhân tạo và ương nuôi giống hầu Thái
Bình Dương (Viện NCNTTS I).
- Nhập công nghệ sản xuất giống tôm càng xanh toàn đực Israel
(Viện NCNTTS II)
- Nhập công nghệ sản xuất cá tiểu bạc (Trung tâm Thuỷ sản Yên
Bái).
( Bốn dự án: Nhập công nghệ sinh sản nhân tạo và ương nuôi giống bào
ngư xanh; Nhập công nghệ sinh sản nhân tạo và ương nuôi giống hầu Thái
Bình Dương; Nhập công nghệ sản xuất giống tôm càng xanh toàn đực
Israel; Nhập công nghệ sản xuất cá tiểu bạc chưa đạt kết quả theo yêu
cầu đề ra nên được phép kéo dài thời gian thực hiện hoặc điều chỉnh
nội dung, hạng mục để tiếp tục triển khai đạt kết quả theo yêu cầu,
mục tiêu đề ra).
- Dự án nhập công nghệ sản xuất giống cá chim trắng nước ngọt từ Trung
Quốc vào Quảng Ninh, với 54 cặp cá bố mẹ cỡ trung bình 9,5 kg/con, cá
5 tuổi và mới tham gia đẻ 1 năm. Với quy trình nuôi vỗ, cho đẻ do
chuyên gia Trung Quốc hướng dẫn, đã cho đẻ thành công 18 cặp bố mẹ,
thu 8 triệu cá bột. Kết quả này không những mở ra hướng cho sinh sản
nhân tạo cá chim trắng ở Việt Nam mà còn cung cấp lượng cá giống đáng
kể để phát triển nuôi ở các tỉnh Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Hà
Tây, Phú Thọ, Quảng Bình để gây đàn cá bố mẹ hậu bị.
Năm 2003, dự án tiếp tục được chuyển giao cho các địa phương, đơn vị:
Trung tâm Giống thuỷ sản Hà Tây; Trung tâm Khuyến nông, giống và kỹ
thuật nông lâm nghiệp Thái Nguyên; Công ty Giống cây trồng, vật nuôi
Ninh Bình; Trung tâm Giống thuỷ đặc sản Hà Nam; Công ty Dịch vụ nuôi
trồng thuỷ sản Trung ương để các địa phương có thể chủ động sản xuất
con giống phục vụ người nuôi.
Năm 2003, các dự án nhập công nghệ tiếp tục được triển khai bao gồm:
Công nghệ ương nuôi 5 loài cá biển quí hiếm (Viện NCNTTS I); Công nghệ
sản xuất giống cá dìa (đơn vị tiếp nhận Trung tâm khuyến ngư Thừa
Thiên - Huế; Cơ quan chuyển giao: Trung tâm phát triển nghề cá Ðông
Nam Châu Á SEAFDEC)
Các dự án chuyển giao công nghệ sinh sản nhân tạo con giống:
Sản xuất giống tôm sú chất lượng cao; Sản xuất giống cá thát lát; Sản
xuất giống tôm rảo; Sản xuất giống tôm càng xanh quy mô hộ gia đình;
Sản xuất giống cá bỗng; Sản xuất giống cá rô phi dòng GIFT; Sản xuất
giống cá rô phi đơn tính; Sản xuất giống ốc hương. Các công nghệ này
đã được nghiệm thu đánh giá đạt kết quả cao và tiếp tục mở rộng cho
các địa phương khác. Các dự án này đã đóng góp to lớn cho phong trào
phát triển nuôi trồng thuỷ sản, làm đa dạng giống nuôi, đồng thời cung
cấp con giống có chất lượng cao, đáp ứng được số lượng để phục vụ nhu
cầu về giống của người sản xuất.
- Công nghệ sản xuất cá bỗng từ Trung tâm thủy sản Hà Giang cho 7 tỉnh
miền núi là Sơn La, Cao Bằng, Lạng Sơn, Hoà Bình, Lao Cai, Yên Bái,
Tuyên Quang. Ðã có 20 cán bộ được đào tạo kỹ thuật sinh sản nhân tạo
cá bỗng. Ngay trong vụ đẻ đầu tiên, Yên Bái, Tuyên Quang đã thu được
trên 12 vạn cá bột. Kết quả này đã mở ra hướng cho các tỉnh miền núi
chủ động được giống cá bỗng bằng sinh sản nhân tạo cung cấp cho dân
nuôi, không bị lệ thuộc vào tự nhiên.
- Chuyển giao công nghệ sinh sản nhân tạo tôm rảo của Trạm nghiên cứu
cá nước mặn Cát Bà cho 12 tỉnh: Quảng Ninh, Hải Phòng, Nam Ðịnh, Ninh
Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Phú Yên, Ninh Thuận, Sóc
Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau. Ðã có 44 cán bộ kỹ thuật được bồi dưỡng lý
thuyết và thực hành về sinh sản nhân tạo tôm rảo. Các tỉnh phía Bắc
tiếp nhận công nghệ đã cho đẻ thành công vụ đầu tiên và trong những
năm tới, sẽ chủ động được nguồn giống tôm rảo cho nuôi bằng sinh sản
nhân tạo.
- Chuyển giao công nghệ sinh sản nhân tạo tôm càng xanh quy mô nông hộ
từ Viện Thuỷ sản - Ðại học Cần Thơ cho 9 tỉnh: TP Hồ Chí Minh, An
Giang, Cần Thơ, Ðồng Tháp, Ðồng Nai, Tiền Giang, Long An, Trà Vinh,
Kiên Giang. Năm 2001 đã có 44 cán bộ được bồi dưỡng kỹ thuật (lý
thuyết và thực hành), nhiều nơi đã thực hành sản xuất được giống. Kết
quả cho thấy hướng sinh sản nhân tạo tôm càng xanh quy mô hộ gia đình
là phù hợp.
- Các dự án chuyển giao công nghệ tiếp tục được mở rộng trong năm 2003
bao gồm: Công nghệ sản xuất giống ốc hương; Công nghệ sản xuất giống
cá rô phi đơn tính đực; công nghệ sản xuất nhân tạo giống bào ngư vành
tai; Công nghệ sản xuất tôm càng xanh; Công nghệ sản xuất giống cua
biển Scylla sp; Công nghệ sản xuất giống cá chẽm; Công nghệ sản giống
cá chép lai V1; Công nghệ sản xuất giống nghêu Bến Tre; Công nghệ sản
xuất giống cá lóc; Công nghệ sản xuất giống ghẹ xanh. Ðây là những dự
án đã chuyển giao thành công trong các năm trước và con giống nuôi đạt
kết quả tốt đem lại hiệu quả kinh tế thiết thực cho các địa phương
tiếp nhận công nghệ. Trên cơ sở nghiệm thu kết quả chuyển giao của năm
trước, các dự án này đã được phê duyệt và mở rộng phạm vi chuyển giao
cho các địa phương khác có nhu cầu giống phục vụ sản xuất.
VI. HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG TỔ CHỨC KHUYẾN NGƯ
1. Tổng quan hệ thống tổ chức khuyến ngư Việt Nam
Công tác khuyến ngư trong 10 năm qua đã đem lại hiệu
quả thiết thực góp phần quan trọng đẩy mạnh tăng trưởng về sản xuất
nuôi trồng, khai thác, chế biến thủy sản. Nuôi trồng thủy sản trong 10
năm qua đã có bước phát triển liên tục, tăng nhanh về diện tích, năng
suất, giá trị sản phẩm thủy sản, giải quyết việc làm cho nhiều lao
động, góp phần XÐGN ở vùng nông thôn ven biển.
Tuy nhiên, hệ thống tổ chức và hoạt động khuyến ngư
của ngành còn nhiều bất cập, chưa tương xứng với tiềm năng và phạm vi
hoạt động của ngành, nhất là trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại
hoá.
1.1. Về hệ thống tổ chức:
- Ở Bộ Thủy sản có Trung tâm Khuyến ngư Quốc gia; ở 61 tỉnh thành
trong cả nước đều có tổ chức hoạt động khuyến ngư:
- 26 trong số 29 tỉnh có biển thành lập Trung tâm Khuyến ngư
- 9 tỉnh miền núi trung du phía Bắc, công tác khuyến ngư giao cho
Trung tâm Thủy sản.
- 3 tỉnh, công tác khuyến ngư giao cho Chi cục BVNLTS.
- 23 tỉnh, công tác khuyến ngư giao cho Trung tâm Khuyến nông.
- Ở các Viện nghiên cứu:
+ Phòng khuyến ngư của Viện nghiên cứu NTTS I
+ Bộ phận khuyến ngư Viện nghiên cứu NTTS II
+ Bộ phận khuyến ngư của Trung tâm nghiên cứu Thủy sản III
+ Trung tâm dạy nghề và chuyển giao công nghệ miền Bắc của Viện nghiên
cứu Hải sản.
Hoạt động khuyến ngư của các đơn vị này dựa vào kinh phí của của các
đề tài nghiên cứu. Các tổ chức khuyến ngư này phối hợp với các Trung
tâm Khuyến ngư, Khuyến nông địa phương tổ chức hoạt động khuyến ngư
theo địa bàn, nhưng chủ yếu là chuyển giao kỹ thuật theo đề tài.
Chi tiết về hệ thống tổ chức hoạt động khuyến ngư xem phụ lục 5
1.2. Những tồn tại cần được tăng cường năng lực và cơ sở vật chất đối
với khuyến ngư ở Trung ương và địa phương:
1.2.1. Kiện toàn tổ chức khuyến ngư ở Trung ương và địa phương:
- Ở Trung ương, Trung tâm Khuyến ngư Quốc gia có đại diện ở 2 vùng
miền Trung và miền Nam; 3 Trung tâm đào tạo huấn luyện xây dựng mô
hình chuyển giao công nghệ ở 3 khu vực.
- Các tỉnh có biển kiện toàn tổ chức khuyến ngư ở tỉnh và thành lập
các trạm khuyến ngư ở huyện, các xã ven biển có cán bộ khuyến ngư.
- Ở các tỉnh nội đồng, công tác khuyến ngư giao cho các chi cục
BVNLTS; Các Trung tâm Thuỷ sản đảm nhiệm; các tỉnh chưa có Trung tâm
Thuỷ sản hoặc chi cục BVNLTS, công tác khuyến ngư giao các Trung tâm
Khuyến nông tỉnh đảm nhiệm.
- Phát triển tổ chức khuyến ngư tự nguyện ở các hội nghề nghiệp, các
đoàn thể quần chúng, các câu lạc bộ khuyến ngư, nhóm sở thích, nhằm xã
hội hoá công tác khuyến ngư, đưa khuyến ngư đến với lao động nghề cá,
tạo động lực phát triển nghề cá theo hướng hiệu quả và bền vững.
1.2.2 . Bồi dưỡng cán bộ khuyến ngư
Các cán bộ khuyến ngư hiện nay vừa thiếu vừa yếu về năng lực chuyên
môn, nghiệp vụ khuyến ngư. Vì thế cần được đào tạo bồi dưỡng, kể cả
đào tạo lại về chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ, ở trong nước và nước
ngoài.
1.2.3. Tăng cường năng lực cho hoạt động khuyến ngư
Mua sắm các trang thiết bị làm việc tại các văn phòng và các trung tâm
vùng và các phương tiện , những dụng cụ cần thiết cho cán bộ khuyến
ngư đi tập huấn tại hiện trường, những thiết bị khảo sát, máy tính và
thiết bị đào tạo, giảng dạy.
Tăng cường năng lực, cải thiện điều kiện làm việc cho hoạt
động khuyến ngư cấp Trung ương, cấp tỉnh, huyện và cơ sở sẽ giúp làm
tốt hơn việc tập huấn bồi dưỡng kiến thức, xây dựng mô hình, chuyển
giao công nghệ, mang lại lợi ích hơn cho người sản xuất.
Về trang thiết bị phục vụ cho khuyến ngư
Ða số các Trung tâm chưa được đầu tư đầy đủ trang thiết bị phục vụ cho
hoạt động nghiệp vụ khuyến ngư, chỉ có một số Trung tâm như Bến Tre,
Bạc Liêu có trang bị máy xét nghiệm PCR. Hoạt động chủ yếu hiện nay là
tập huấn kỹ thuật cho người nuôi, xây dựng các mô hình trình diễn. Do
thiếu nhiều trang thiết bị, nhất là dụng cụ quản lý môi trường, nên
hạn chế việc hỗ trợ kỹ thuật cho người dân.
Ðể đẩy mạnh hoạt động khuyến ngư trong toàn ngành, Trung tâm Khuyến
ngư Quốc gia một mặt mở rộng hợp đồng khuyến ngư với những cán bộ kỹ
thuật mới ra trường và những cán bộ làm khoa học, làm quản lý đã nghỉ
hưu trong và ngoài ngành, đồng thời phối hợp chặt chẽ hoạt động khuyến
ngư với các hội nghề nghiệp (Hội VAC, Hội Nghề cá) tổ chức xã hội
chính trị (Hội Phụ nữ, Ðoàn Thanh niên, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến
binh) các Viện, Trung tâm nghiên cứu của ngành. Các cơ quan thông tin
đại chúng để hình thành nên mạng lưới hoạt động khuyến ngư rộng khắp
đáp ứng được nhu cầu về thông tin kỹ thuật của nông ngư dân, nhờ đó có
tác động lớn thúc đẩy sản xuất phát triển.
Ðẩy mạnh quan hệ với tất cả các tổ chức, các đơn vị để hoàn thành
nhiệm vụ được giao.
Phần II
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG KHUYẾN NGƯ NĂM 2004 VÀ NHỮNG NĂM
TỚI
Năm 2004, với những cơ hội và thách thức mới, đòi hỏi công tác khuyến
ngư phải bám sát sản xuất nhiều hơn nữa, đưa hàm lượng khoa học công
nghệ vào sản xuất ngày càng cao hơn để giảm giá thành, bảo vệ môi
trường, nguồn lợi cũng như đảm bảo sản phẩm sạch, đáp ứng yêu cầu vệ
sinh an toàn thực phẩm của các thị trường xuất khẩu cũng như người
tiêu dùng trong nước.
Bám sát các chương trình khuyến ngư trọng điểm cũng như các chương
trình kinh tế lớn của ngành, trong đó phát triển nuôi trồng thuỷ sản
được coi là trọng tâm với các đối tượng có giá trị xuất khẩu cao và
phát triển kinh tế ở các vùng sâu vùng xa, các đối tượng nuôi ở vùng
chuyển đổi cơ cấu sản xuất theo hướng nâng cao hiệu quả sản xuất và
các đối tượng nuôi phục vụ XÐGN.
Phát triển khai thác hải sản xa bờ theo hướng công nghiệp hoá nghề
khai thác bằng ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, ổn định
khai thác hải sản ven bờ, bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, PCLB và công tác
an toàn trên biển. ưu tiên các mô hình khai thác chọn lọc các đối
tượng có giá trị kinh tế cao.
Ðưa các tiến bộ khoa học công nghệ mới vào công tác bảo quản để nâng
cao giá trị sản phẩm sau thu hoạch, các mô hình chế biến xuất khẩu.
Ðẩy mạnh công tác tập huấn kỹ thuật, đào tạo tay nghề cho nông, ngư
dân. Tập huấn về vệ sinh an toàn thực phẩm, về BVNLTS, PCLB và an toàn
trên biển.
Thông tin tuyên truyền: Tăng cường xuất bản sách, tài liệu kỹ thuật,
băng hình, các cơ quan thông tin đại chúng để chuyển tải đến nông ngư
dân các chủ trương, chính sách của Ðảng và Nhà nước, các thông tin
KHKT, thông tin kinh tế, thị trường và giá cả.
Nhập các công nghệ sản xuất các giống thuỷ sản quý hiếm nhằm tạo các
giống nuôi có giá trị kinh tế cao, có thị trường tiêu thụ và không ảnh
hưởng tới môi trường sinh thái, đồng thời làm đa dạng hoá cơ cấu đàn
giống nuôi. Tiếp tục chuyển giao rộng rãi các công nghệ sinh sản nhân
tạo đã thành công đến các địa phương trong cả nước với mục tiêu chủ
động đáp ứng đủ con giống chất lượng cao cho sản xuất, thúc đẩy sản
xuất phát triển.
Các nội dung hoạt động cụ thể:
1. Chương trình phát triển nuôi tôm sú:
Ðẩy mạnh sản xuất tôm sú, tạo nguồn nguyên liệu chế biến xuất khẩu
bằng cách đưa các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất để nâng cao năng suất,
sản lượng với các hình thức nuôi thâm canh, bán thâm canh , quảng canh
cải tiến và nuôi tôm sinh thái.
Khuyến khích sử dụng thức ăn công nghiệp, các chế phẩm sinh học gắn
liền với các biện pháp phòng trị bệnh và bảo vệ môi trường sinh thái.
Tiếp tục phát triển nuôi tôm trên vùng đất cát, phổ biến kỹ thuật nuôi
tôm trong các vùng có độ mặn thấp.
Tập huấn tuyên truyền cho nông ngư dân về kỹ thuật nuôi tôm sạch,
không sử dụng các loại hoá chất, kháng sinh nằm trong danh mục cấm sử
dụng của Bộ Thuỷ sản.
2. Chương trình khuyến ngư nuôi thuỷ sản mặn, lợ:
Ðẩy mạnh phát triển nuôi các đối tượng có giá trị kinh tế cao như cá
dò, cá mú, cá hồng, cá tráp, cá vược, tôm hùm, ngao, vẹm, hàu, bào
ngư, rong sụn. Nuôi trên các vùng đất cát và ao hồ nước mặn, lợ các
đối tượng tôm he, nhuyễn thể và cá biển. Các mô hình nuôi các đối
tượng thay thế ở các vùng nhiễm mặn ven biển miền Trung, Phá Tam Giang
như cá dìa, cá đối, cá măng, nhuyễn thể, rong biển, cua, ghẹ xanh,...
với các hình thức nuôi lồng, ao, đầm,...
3. Chương trình khuyến ngư nuôi thuỷ sản nước ngọt:
Ðẩy mạnh phát triển nuôi các đối tượng như: cá rô phi đơn tính, tôm
càng xanh, cá chim trắng, cá vược nước ngọt, cá song nước ngọt, cá
măng nước ngọt, cá quế, cá diếc lưng gù, cá tra, cá ba sa, cá sặc
rằn,v.v.. và các đối tượng nuôi truyền thống như mè, trôi, trắm,
chép,... Ngoài ra, đưa các đối tượng đặc hữu ở miền Nam ra miền Bắc
như cá lóc bông, cá rô đồng, cá thác lác,...
Các hình thức nuôi: nuôi cá ở các ao hồ nhỏ; nuôi theo mô hình VAC;
nuôi thuỷ sản ruộng trũng; nuôi lồng bè, hồ chứa...
4. Chương trình khuyến ngư về khai thác HSXB và BVNLTS
Phát triển khai thác hải sản xa bờ theo hướng công nghiệp hoá nghề
khai thác bằng ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, ổn định
khai thác hải sản ven bờ, đẩy mạnh công tác BVNLTS, PCLB và công tác
an toàn trên biển. Ưu tiên các mô hình khai thác chọn lọc các đối
tượng có giá trị kinh tế cao.
Xây dựng mô hình khai thác theo dự báo ngư trường, nguồn lợi ở cả 3
khu vực vịnh Bắc Bộ, Trung Bộ và vùng biển Miền Ðông, Tây Nam Bộ.
Phổ biến các sáng kiến, cải tiến ngư lưới cụ, tổng kết các mô hình,
các kinh nghiệm sản xuất giỏi để phổ biến nhân rộng
Phần III
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Hoạt động khuyến ngư trong mười năm qua đã kề vai sát cánh, đồng cam
cộng khổ cùng nông ngư dân để khắc phục những khó khăn, trở ngại trong
sản xuất, đưa sản xuất phát triển, đưa cuộc sống người dân ngày một ấm
no, hạnh phúc. Cán bộ khuyến ngư đã không ngừng học hỏi để có những
tri thức mới, đưa các công nghệ, các kỹ thuật tiến tiến vào sản xuất.
Ngày nay khuyến ngư thực sự trở thành người bạn đồng hành không thể
thiếu của nông ngư dân. Khuyến ngư đã trở thành kênh chính để chuyển
tải các thông tin khoa học kỹ thuật, các công nghệ mới tới sản xuất.
Với các chương trình khuyến ngư trọng điểm về khai thác, nuôi trồng và
chế biến thuỷ sản, đã thúc đẩy nuôi trồng và khai thác, chế biến phát
triển mạnh mẽ, góp phần quan trọng đưa thuỷ sản thành ngành kinh tế
mũi nhọn của đất nước. Chính sự phát triển mạnh mẽ của ngành thuỷ sản
đã tạo thêm hàng vạn lao động, nhất là lao động nông thôn, góp phần
XÐGN, nâng cao đời sống nhân dân và cải thiện bộ mặt nông thôn và vùng
ven biển.
Khuyến ngư đã giúp đỡ nông dân mạnh dạn chuyển dịch cơ cấu sản xuất
nông nghiệp, chuyển đổi một số diện tích đất nhiệm mặn, làm muối, làm
cói, hiệu quả kinh tế thấp sang nuôi trồng thuỷ sản. Diện tích chuyển
đổi trên toàn quốc ước đạt trên 220.000 ha.
Khuyến ngư đã khuyến cáo ngư dân phát triển khai thác hải sản xa bờ,
ổn định khai thác ven bờ, chuyển dần từ khai thác theo số lượng lớn
sang khai thác các đối tượng có giá trị kinh tế cao. Nhiều loại cá
trước đây chỉ dùng làm nước mắm, bột cá, nay nhờ có công nghệ chế biến
mới đã trở thành những mặt hàng có giá trị kinh tế như cá bò, cá chỉ
vàng, cá ngừ vây vàng, cá cơm,?
Khuyến ngư về bảo quản sản phẩm đã được quan tâm và đầu tư phát triển
đúng mức với những công nghệ bảo quản mới như đá vảy, bảo quản bằng
khay, bảo quản bằng nước muối lạnh,v.v..
Tuy nhiên, bên cạnh những thành công đã đạt được, hoạt
động khuyến ngư cũng còn không ít những khó khăn, tồn tại chưa khắc
phục được mà nguyên nhân chủ yếu như sau:
- Chưa có chính sách hỗ trợ kinh phí khuyến ngư cho xây dựng mô hình
khai thác và chế biến, bảo quản sản phẩm thuỷ sản. Vài năm gần đây,
việc hỗ trợ cho mô hình khai thác, chế biến chỉ là vận dụng với mức
20% kinh phí về trang thiết bị cho một mô hình. Mức kinh phí như vậy
chiếm tỷ lệ quá nhỏ so với tổng đầu tư trang thiết bị cho mô hình khai
thác, chế biến, nên chưa khuyến khích ngư dân mạnh dạn bỏ vốn đầu tư.
Do đó, việc tìm đối tác để xây dựng các mô hình trình diễn kỹ thuật ở
các địa phương gặp nhiều khó khăn.
- Công tác kiểm tra, tổng kết, đánh giá các mô hình thực hiện ở địa
phương chưa làm thường xuyên, nghiệm thu mô hình còn thiếu chặt chẽ,
chưa đánh giá đầy đủ được giá trị của mô hình về kinh tế kỹ thuật.
Nguyên nhân chính là do hệ thống khuyến ngư còn quá mỏng về lực lượng,
tổ chức chưa tương xứng với nhiệm vụ được giao.
Nội dung hoạt động của công tác khuyến ngư thời gian tới rất lớn, tập
trung vào phục vụ 3 chương trình lớn của ngành: khai thác hải sản xa
bờ, nuôi trồng thuỷ sản và chế biến xuất khẩu, đồng thời, thực hiện
chương trình mục tiêu quốc gia XÐGN và việc làm 2001 - 2005. Ðể tạo
điều kiện thực hiện có hiệu quả công tác khuyến ngư trong những năm
tới Trung tâm Khuyến ngư Quốc gia đề nghị Bộ:
- Làm việc với Bộ Tài chính có công văn hướng dẫn bổ sung hỗ trợ kinh
phí khuyến ngư xây dựng mô hình khai thác, chế biến bảo quản sản phẩm.
- Bổ sung 20 biên chế cho Trung tâm Khuyến ngư Quốc gia để Trung tâm
có đủ nhân lực thực hiện nhiệm vụ được giao.
- Ðồng thời, hệ thống khuyến ngư ở địa phương, cơ sở cũng cần được
quan tâm đầu tư đúng mức để hình thành mạng lưới khuyến ngư đến tận
huyện, xã. Mạng lưới khuyến ngư cơ sở này sẽ là khâu then chốt đưa
hoạt động khuyến ngư đến tận được thôn bản, xóm làng và người lao
động, là động lực lớn cho sản xuất thuỷ sản tiếp tục phát triển mạnh
và bền vững đáp ứng nhu cầu thực phẩm thuỷ sản ngày càng lớn khi cuộc
sống người dân ngày càng được nâng cao, cũng như nhu cầu về nguyên
liệu thuỷ sản phục vụ cho chế biến xuất khẩu.
- Cần có sự thống nhất về chỉ đạo công tác khuyến ngư ở các tỉnh không
có Sở Thủy sản. Nhiệm vụ khuyến ngư ở các địa phương này nên giao cho
các Trung tâm Thuỷ sản và Chi cục BVNLTS đảm nhiệm để thực hiện sự
chỉ đạo của Khuyến ngư Trung ương.
- Tăng cường công tác đào tạo cán bộ khuyến ngư cấp tỉnh, đổi mới, cải
tiến trang bị cập nhật kiến thức chuyên môn, để đủ năng lực theo sát
phong trào và kỹ thuật sản xuất.
TRUNG TÂM KHUYẾN NGƯ QUỐC GIA