|
----- Subject: Linh mục Gioan Lasan Nguyễn Văn Vinh, một chứng nhân của thời đại. (1912-1971) & Một tấm hình có giá trị bằng ngàn lời nói .... & TIẾNG GỌI ‘TRÂU-DÊ-VỀ-ĐI’ CỦA NGƯỜI ‘MỤC TỬ HÌNH SỰ’ Biếm họa: Trại giam cổng trời (NVCL.net) Bài đọc suy gẫm: Người Khâm Liệm Tù - Người Buôn Gió. Chú thích: Hình từ các nguồn internet chỉ có tính cách minh hoạ. Thưa quý vị: Câu chuyện sau đây của Người Buôn Gió – Bút danh của Bùi Thanh Hiếu, một người bạn ngoài công giáo – viết sau khi tìm hiểu một số tư liệu và cuốn “Hồi ký” của Đức Giám mục Phaolo Lê Đắc Trọng. Câu chuyện khá cảm động về một nhân vật đã đi vào lịch sử Tổng Giáo phận Hà Nội trong thời cộng sản: Cha Chính Gioan Lasan Nguyễn Văn Vinh của Nhà Thờ Lớn Hà Nội. Chúng tôi sẽ có phần giới thiệu về ngài ở cuối bài viết này... Từ nhỏ mình đã bị ấn tượng về những người bị bắt tù, mình luôn say sưa đọc về những chiến sĩ cách mạng bị giam ở Hỏa Lò, Sơn La, Côn Đảo, những vị anh hùng như Ngô Gia Tự, Nguyễn Văn Cừ, Trần Phú… đến Hồ Chí Minh. Thật ra hồi mình bé thời bao cấp chỉ có sách về các nhân vật này thôi. Lớn chút mới đọc được Pa Pi Lon, thiên hạ say mê anh chàng Bướm lắm, nhưng mình cũng chả thấy có gì hâm mộ anh chàng này, bá tước Monte của Đuy Ma cũng không ấn tượng lắm vì có lẽ thời kỳ của các nhân vật này khá xa lạ với Việt Nam, sau này có điều kiện mới lùng được sách của Solzenitsyn như cuốn Tầng Đầu Địa Ngục, Một Ngày Trong Đời của I Van , hay cuốn Lửa Yêu Thương, Lửa Ngục Tù của Re Mac, cuốn Chuyện Kể Năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn. Mỗi nhật vật đều để lại cho mình những ám ảnh, những ấn tượng. Nhưng có lẽ đoạn văn của Phùng Quán viết lại theo lời kể của Tuân Nguyễn khi Nguyễn ở trong tù là ám ảnh hơn cả. Nhưng điều may mắn này còn quan trọng hơn: trong mười năm qua, mình đã sống giữa những con người vô cùng phong phú và phức tạp, chất liệu sống vàng ròng cho các nhà văn. Mình chỉ đơn cử với cậu một người… Linh mục Gioan Lasan Nguyễn Văn Vinh, một chứng nhân của thời đại. (1912-1971). *** “… Anh ta vào trại trước mình khá lâu, bị trừng phạt vì tội gì, mình không rõ. Người thì bảo anh ta phạm tội hình sự, người lại bảo mắc tội chính trị. Nhưng cả hai tội mình đều thấy khó tin. Anh ta không có dáng dấp của kẻ cướp bóc, sát nhân, và cũng không có phong độ của người làm chính trị. Bộ dạng anh ta ngu ngơ, dở dại dở khùng. Mình có cảm giác anh ta là một khúc củi rều, do một trận lũ cuốn từ một xó rừng nào về, trôi ngang qua trại, bị vướng vào hàng rào của trại rồi mắc kẹt luôn ở đó. Nhìn anh ta, rất khó đoán tuổi, có thể ba mươi, mà cũng có thể năm mươi. Gương mặt anh ta gầy choắt, rúm ró, tàn tạ, nhưmột cái bị cói rách, lăn lóc ở các đống rác. Người anh ta cao lòng khòng, tay chân thắng đuồn đuỗn, đen cháy, chỉ toàn da, gân với xương.Trên người, tứ thời một mớ giẻ rách thay cho quần áo. Lúc đầu mình cứ tưởng anh ta bị câm vì suốt ngày ít khi thấy anh ta mở miệng dù là chỉ để nhếch mép cười. Thật ra anh ta chỉ là người quá ít lời. Gặp ai trong trại, cả cán bộ quản giáo lẫn phạm nhân, anh ta đều cúi chào cung kính, nhưng không chuyện trò với bất cứ ai. Nhưng không hiểu sao, ở con người anh ta có một cái gì đó làm mình đặc biệt chú ý, cứ muốn làm quen…Nhiều lần mình định bắt chuyện, nhưng anh ta nhìn mình với ánh mắt rất lạ, rồi lảng tránh sau khi đã cúi chào cung kính. Hầu như tất cả các trại viên, kể cả những tay hung dữ nhất, cũng đều thương anh ta. Những trại viên được gia đình tiếp tế người để dành cho anh ta viên kẹo, miếng bánh, người cho điếu thuốc. Ở trại, anh ta có một đặc quyền không ai tranh được, và cũng không ai muốn tranh. Đó là khâm liệm tù chết. Mỗi lần có tù chết, giám thị trại đều cho gọi “thằng khùng” (tên họ đặt cho anh ta) và giao cho việc khâm liệm. Với bất cứ trại viên chết nào, kể cả những trại viên đã từng đánh đập anh ta, anh ta đều khâm liệm chu đáo giống nhau. Anh ta nấu nước lá rừng, tắm rửa cho người chết, kỳ cọ ghét trên cái cơ thể lạnh ngắt cứng queo, với hai bàn tay của người mẹ tắm rửa cho đứa con nhỏ. Lúc tắm rửa, kỳ cọ, miệng anh ta cứ mấp máy nói cái gì đó không ai nghe rõ. Anh ta rút trong túi áo một mẩu lược gãy, chải tóc cho người chết, nếu người chết có tóc. Anh ta chọn bộ áo quần lành lặn nhất của người tù, mặc vào rồi nhẹ nhàng nâng xác đặt vào áo quan được đóng bằng gỗ tạp sơ sài. Anh ta cuộn những bộ áo quần khác thành cái gói vuông vắn, đặt làm gối cho người chết. Nếu người tù không có áo xống gì, anh ta đẽo gọt một khúc cây làm gối. Khi đã hoàn tất những việc trên, anh ta quỳ xuống bên áo quan, cúi hôn lên trán người tù chết, và bật khóc. Anh ta khóc đau đớn và thống thiết đến nỗi mọi người đều có cảm giác người nằm trong áo quan là anh em máu mủ ruột thịt của anh ta. Với bất cứ người tù nào anh ta cũng khóc như vậy. Một lần giám thị trại gọi anh ta lên: - Thằng tù chết ấy là cái gì với mày mà mày khóc như cha chết vậy? Anh ta chấp tay khúm núm thưa: - Thưa cán bộ, tôi khóc vờ ấy mà. Người chết mà không có tiếng khóc tống tiễn thì vong hồn cứ lẩn quẩn trong trại. Có thể nó tìm cách làm hại cán bộ. Lúc hắn còn sống, cán bộ có thể trừng trị hắn, nhưng đây là vong hồn hắn, cán bộ muốn xích cổ, cũng không xích được. Thằng khùng nói có lý. Giám thị trại mặc, cho nó muốn khóc bao nhiêu thì khóc. Nhưng mình không tin là anh ta khóc vờ. Lúc khóc, cả gương mặt vàng úa, nhăn nhúm của anh ta chan hòa nước mắt. Cả thân hình gầy guộc của anh ta run rẩy. Mình có cảm giác cả cái mớ giẻ rách khoác trên người anh ta cũng khóc...Trong tiếng khóc và nước mắt của anh ta chan chứa một niềm thương xót khôn tả. Nghe anh ta khóc, cả những trại viên khét tiếng lỳ lợm, chai sạn, “đầu chày, đít thớt, mặt bù loong” cũng phải rơm rớm nước. Chỉ có nỗi đau đớn chân thật mới có khả năng xuyên thẳng vào trái tim người. Mình thường nghĩ ngợi rất nhiều về anh ta. Con người này là ai vậy? Một thằng khùng hay người có mối từ tâm lớn lao của bậc đại hiền?…Thế rồi, một lần, mình và anh ta cùng đi lùa trâu xuống con sông gần trại cho đầm nước. Trời nóng như dội lửa. Bãi sông đầy cát và sỏi bị nóng rang bỏng như than đỏ. Trên bãi sông mọc độc một cây mủng già gốc sần sùi tán lá xác xơ trải một mảng bóng râm bằng chiếc chiếu cá nhân xuống cát và sỏi. Người lính gác ngồi trên bờ sông dốc đứng, ôm súng trú nắng dưới một lùm cây. Anh ta và mình phải ngồi trú nắng dưới gốc cây mủng, canh đàn trâu ngụp lặn dưới sông. Vì mảng bóng râm quá hẹp nên hai người gần sát lưng nhau. Anh ta bỗng lên tiếng trước, hỏi mà đầu không quay lại: - Anh Tuân này – không rõ anh ta biết tên mình lúc nào – sống ở đây anh thèm cái gì nhất? Voltaire, nhà văn, nhà triết học của Pháp với tác phẩm nổi tiếng: "Cuộc Phiêu Lưu Của Candide". - Thèm được đọc sách – mình buột miệng trả lời, và chợt nghĩ, có lẽ anh ta chưa thấy một cuốn sách bao giờ, có thể anh ta cũng không biết đọc biết viết cũng nên. - Nếu bây giờ có sách thì anh thích đọc ai? – anh ta hỏi. - Voltaire! – một lần nữa mình lại buột miệng. Và lại nghĩ: Nói với anh ta về Voltaire thì cũng chẳng khác gì nói với gốc cây mủng mà mình đang ngồi dựa lưng. Nhưng nhu cầu được chuyện trò bộc bạch với con người nó cũng lớn như nhu cầu được ăn, được uống…Nhiều lúc chẳng cần biết có ai nghe mình, hiểu mình hay không. Đó chính là tâm trạng của anh công chức nát rượu Marmeladov bất chợt nói to lên những điều tủi hổ nung nấu trong lòng với những người vớ vẩn trong một quán rượu tồi tàn, mà Dostoievsky miêu tả trong “Tội ác và trừng phạt”. Anh ta ngồi bó gối, mắt không rời mặt sông loá nắng, hỏi lại: - Trong các tác phẩm của Voltaire, anh thích nhất tác phẩm nào? Mình sửng sốt nhìn anh ta, và tự nhiên trong đầu nảy ra một ý nghĩ kỳ lạ: một người nào khác đã ngồi thay vào chỗ anh ta…Mình lại liên tưởng đến một cậu làm việc cùng phòng hồi còn ở Đài phát thanh, tốt nghiệp đại học hẳn hoi, đọc tên nhạc sĩ Chopin (Sôpanh) là Cho Pin. Mình trả lời anh ta: - Tôi thích nhất là Candide. - Anh có thích đọc Candide ngay bây giờ không? Không đợi mình trả lời, anh ta nói tiếp: - Không phải đọc mà nghe…Tôi sẽ đọc cho anh nghe ngay bây giờ. Rồi anh ta cất giọng đều đều đọc nguyên bản Candide. Anh đọc chậm rãi, phát âm chuẩn và hay như mấy cha cố người Pháp, thầy dạy mình ở trường Providence. Mình trân trân nhìn cái miệng rúm ró, răng vàng khè đầy bựa của anh ta như nhìn phép lạ. Còn anh ta, mắt vẫn không rời dòng sông loá nắng, tưởng chừng như anh ta đang đọc thiên truyện Candide nguyên bản được chép lên mặt sông… Anh đọc đến câu cuối cùng thì kẻng ở trại cũng vang lên từng hồi, báo đến giờ lùa trâu về trại. Người lính gác trên bờ cao nói vọng xuống: “Hai đứa xuống lùa trâu, nhanh lên!”. - Chúng mình lùa trâu lên bờ đi! – anh nói. Lội ra đến giữa sông, mình hỏi anh ta: - Anh là ai vậy? Anh ta cỡi lên lưng một con trâu, vừa vung roi xua những con trâu khác, trả lời: - Tôi là cái thanh ngang trên cây thập tự đóng đinh Chúa. Rồi anh ta tiếp: - Đừng nói với bất cứ ai chuyện vừa rồi… Giáp mặt người lính canh, bộ mặt anh ta thay đổi hẳn – ngu ngơ, đần độn như thường ngày. Cuối mùa đông năm đó, anh ta ngã bệnh. Nghe các trại viên kháo nhau mình mới biết. Thằng chuyên gia khâm liệm e đi tong. Thế là nếu bọn mình ngoẻo, sẽ không còn được khâm liệm tử tế và chẳng có ai khóc tống tiễn vong hồn… – những người tù nói, giọng buồn. Mình gặp giám thị trại, xin được thăm anh ta.Giám thị hỏi: - Trước kia anh có quen biết gì thằng này không? Mình nói: - Thưa cán bộ, không. Chúng tôi hay đi lùa trâu với nhau nên quen nhau thôi. Giám thị đồng ý cho mình đến thăm, có lính đi kèm. Anh ta nằm cách ly trong gian lán dành cho người ốm nặng. Anh ta nằm như dán người xuống sạp nằm, hai hốc mắt sâu trũng, nhắm nghiền, chốc chốc lại lên cơn co giật…Mình cúi xuống sát người anh ta, gọi hai ba lần, anh ta mới mở mắt, chăm chăm nhìn mình. Trên khoé môi rúm ró như thoáng một nét cười. Nước mắt mình tự nhiên trào ra rơi lã chã xuống mặt anh ta. Anh ta thè luỡi liếm mấy giọt nước mắt rớt trúng vành môi. Anh ta thều thào nói: - Tuân ở lại, mình đi đây… Đưa bàn tay đây cho mình… Anh ta nắm chặt bàn tay mình hồi lâu. Một tay anh ta rờ rầm mớ giẻ rách khoác trên người, lấy ra một viên than củi, được mài tròn nhẵn như viên phấn viết. Với một sức cố gắng phi thường, anh ta dùng viên than viết vào lòng bàn tay mình một chữ nho. Chữ NHẪN. Viết xong, anh ta hoàn toàn kiệt sức, đánh rớt viên than, và lên cơn co giật. Người lính canh dẫn mình lên giám thị trại với bàn tay có viết chữ Nhẫn ngửa ra. Người lính canh ngờ rằng đó là một ám hiệu. Giám thị hỏi: - Cái hình nguệch ngoạc này có ý nghĩa gì? Anh mà không thành khẩn khai báo, tôi tống cổ anh ngay lập tức vào biệt giam. Mình nói: - Thưa cán bộ, thật tình tôi không rõ. Anh ta chỉ nói: tôi vẽ tặng cậu một đạo bùa để xua đuổi bệnh tật và tà khí. Nghe ra cũng có lý, giám thị trại tha cho mình về lán… *** Trong số bao nhiêu nhân vật tù đã được nổi tiếng nhờ tiểu thuyết hóa, người bạn tù của Tuân Nguyễn chỉ là hạt bụi bay qua so với những tác phẩm đồ sộ để đời ấy, mấy ai biết đến nhà thơ Tuân Nguyễn và mấy ai biết hơn về người bạn tù bí ẩn của ông. Người ta ấn tượng cách ông già của Solzennitsyn đầu rụng hết tóc, nhai bánh mỳ bằng lợi hay già Đô của Bùi Ngọc Tấn chết vất vưởng đâu đó trên phố phường Hà Nội khi mãn hạn tù..mình cũng ấn tượng những nhân vật ấy.Nhưng hình ảnh người tù xấu xí, nghèo khổ đọc nguyên bản Candide bằng tiếng Pháp khiến mình luôn bị ám ảnh trong đầu, Tuân Nguyễn cả Phùng Quán đều về thiên thu, giá như các cụ ấy còn sống mình cũng cất công đi tìm hỏi người mà các cụ nói ấy là ai. Tình cờ hôm nọ được cho tập hồi ký của Đức Cha Phao Lô Lê Đắc Trọng mới láng máng biết rằng đó là cha Chính Vinh của nhà thờ lớn Hà Nội, vì can tội không cho chính quyền trang trí trước cửa nhà thờ, cha Chính Vinh bị kết án 3 năm tù, nhưng đi tù mãi chả thấy về , tăm hơi biệt tích, hơn 40 năm sau nhờ bạn tù chỉ dẫn, người thân mới biết nơi cha Chinh Vinh chết để chuyển thi hài ngài về.Sau này cất công đi hỏi một vài vị cao tuổi nữa, mới càng khẳng định chính xác là Cha Chính Vinh. Đúng như lời Tuân Nguyễn nói, đây là chất liệu vàng ròng cho các nhà văn. Tuân Nguyễn thì mất rồi, liệu ai tiếp nối ước nguyện của ông để khai thác những chất liệu quý báu như thế này không. Người Buôn Gió Phụ lục: Linh mục Gioan Lasan Nguyễn Văn Vinh Cha Gioan Lasan Nguyễn Văn Vinh chào đời ngày 2 tháng 10 năm 1912 tại làng Ngọc Lũ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.Cậu Vinh, một thiếu niên vui vẻ, thông minh, có năng khiếu nghệ thuật bẩm sinh về âm nhạc, ca hát. Cậu biết kính trên, nhường dưới, trong xứ đạo, ai cũng quý yêu. Cha xứ Ngọc Lũ thời đó là Cố Hương, một cha người Pháp tên là Dépaulis giới thiệu cậu lên học tại trường Puginier Hà Nội. Năm 1928, cậu học Tiểu Chủng viện Hoàng Nguyên, Phú Xuyên, Hà Tây.Năm 1930, thầy Vinh được cố Hương dẫn sang Pháp du học. Năm 1935, thầy vào Đại Chủng viện St Sulpice, Paris. Ngày 20-6-1940, thầy được thụ phong linh mục ở Limoges.Chiến tranh thế giới xảy ra, cha Vinh phải ở lại Pháp và tiếp tục học tập. Ngài học Văn Khoa-Triết tại Đại Học Sorbone, học sáng tác và hòa âm tại Nhạc viện Quốc Gia. Ngài phải vừa học vừa làm. Vóc dáng nhỏ nhắn dễ thương của ngài đã làm cho nhiều người Pháp tưởng lầm ngài là phụ nữ nên cứ chào: Bonjour Madame! Nhưng ẩn trong cái dáng vóc nhỏ bé đó là một tâm hồn rộng lớn, sau đôi mắt sáng là tính cương trực, dưới nụ cười là ý chí sắt son.Sau khi tốt nghiệp cử nhân Văn Triết ở Sorbone, ngài gia nhập dòng khổ tu Biển Đức tại Đan Viện Ste Marie.Sau 17 năm du học, năm 1947 cha Vinh về nước, nhằm góp sức xây dựng một Giáo Hội Công Giáo Việt Nam vững mạnh về mọi mặt. Khi ấy, Đức cha François Chaize – Thịnh, Bề trên Giáo phận đã bổ nhiệm ngài làm cha xứ Nhà Thờ Lớn Hà Nội. Ngài xin Bề trên lập dòng Biển Đức ở Việt Nam, nhưng không thành. Cha Vinh, dù tu học ở Pháp nhưng luôn có tinh thần yêu nước, độc lập, không nệ Pháp. Năm 1951, Nhà Thờ Lớn Hà Nội tổ chức lễ an táng cho Bernard, con trai tướng De Lattre de Tassigni. Trong thánh lễ, tướng De Lattre kiêu căng đòi đặt ghế của ông trên cung thánh và bắt chuyển ghế của Trần Văn Hữu, Thủ tướng Việt Nam xuống dưới lòng nhà thờ. Vì lòng tự trọng dân tộc, danh dự quốc gia, cha Vinh cương quyết không chịu. Tướng De Lattre rất tức giận, gọi cha Vinh tới, đập bàn quát tháo, đe dọa. Cha Vinh cũng đập bàn, lớn tiếng đáp lại, quyết không nhượng bộ, nhưng Thủ tướng ngại khó nên tự nguyện rút lui. Sau vụ đó, để tránh căng thẳng, Đức Cha Khuê đã chuyển cha Vinh làm giáo sư của Tiểu Chủng Viện Piô XII, phụ trách Anh, Pháp văn, âm nhạc, triết học; ngài khiêm tốn vâng lời. Ngài cũng giảng dạy Văn Triết ở trường Chu Văn An. Năm 1954, Đức cha Trịnh Như Khuê cho phép cha Vinh và cha Nhân đưa chủng sinh đi Nam, nhưng cả hai đều xin ở lại sống chết với giáo phận Hà Nội, dù biết hoàn cảnh đầy khó khăn, nguy hiểm. Đức Cha Khuê bổ nhiệm ngài làm Cha Chính, kiêm Hiệu Trưởng trường Dũng Lạc. Ngài tổ chức lớp học giáo lý cho các giới, có những linh mục trẻ thông minh, đạo đức cộng tác, như cha Nguyễn Ngọc Oánh, cha Nguyễn Minh Thông, cha Phạm Hân Quynh. Lúc đầu, lớp học được tổ chức thành nhóm nhỏ tại phòng khách Tòa Giám Mục, về sau, con số người tham dự tăng dần, lớp học được chuyển tới nhà préau, và ngồi ra cả ngoài sân. Lớp học hiệu quả rất lớn, những tín hữu khô khan thành đạo đức nhiệt thành, ảnh hưởng lan tới cả giới sinh viên và giáo sư đại học, nhiều người gia nhập đạo. Sau chính quyền ra lệnh ngừng hoạt động vì lý do an ninh. Khi cha Vinh đang làm Hiệu Trưởng Dũng Lạc, Chính phủ ra chỉ thị phải treo ảnh lãnh tụ thay vào ảnh Thánh Giá ở các lớp học. Ngài không tuyên đọc chỉ thị cũng không tháo bỏ Thánh giá, nên năm 1957, trường bị đóng cửa.Thời bấy giờ, Đại học Y khoa Hà Nội thiếu giáo sư, nên đã đề nghị Đức Cha Khuê cử cha Vinh đến trường dạy La tinh. Nhiều sinh viên cảm phục ngài. Một hôm, Chu Ân Lai, thủ tướng Trung Quốc đến thăm trường, thấy bóng dáng chiếc áo chùng thâm linh mục, ông nói với đoàn tháp tùng: “Đến giờ này mà còn có linh mục dạy ở Đại Học quốc gia ư?”. Ít lâu sau trường Đại học Y khoa không mời cha dạy nữa. Biết tài năng và kiến thức âm nhạc của ngài, nhiều nhạc sĩ ở Hà Nội tìm cha Vinh tham khảo ý kiến và nhờ xem lại những bản nhạc, bài ca họ mới viết.Cha Vinh, một trong những nhạc sĩ tiên phong của Thánh nhạc Việt Nam, và là một nhạc sĩ toàn tài. Ngài chơi vĩ cầm và dương cầm thật tuyệt, ngài kể chính ngài là người Việt Nam đầu tiên chơi vĩ cầm ở Hà Nội. Ngài có năng khiếu đặc biệt về âm nhạc, lại được học tập chu đáo nên đã sáng tác và để lại nhiều nhạc phẩm tôn giáo tuyệt vời. Cha Vinh trình bày bản hợp tấu ‘Ở Dưới Vực Sâu’ nhân cuộc đón tiếp phái đoàn Việt Nam do ông Hồ Chí Minh dẫn đầu sang dự Hội Nghị Fontainebleau năm 1946.Cộng tác với Hùng Lân sáng tác ‘Tôn Giáo Nhạc Kịch Đa-Vít’. Ngài còn sáng tác nhiều nhạc phẩm lớn: ‘Mở Đường Phúc Thật’, ‘Tôn Vinh Thiên Chúa Ba Ngôi’, ‘Ôi GiaVi’, ‘Lạy Mừng Thánh Tử Đạo’. Ngài phổ nhạc cho các Ca Vịnh 8 , Ca vịnh 16, Ca vịnh 23, Ca vịnh 41, Ca vịnh 115 và nhiều bài hát khác như Đức Mẹ Vô Nhiễm, Thánh Tâm Giêsu. Ngài còn viết những bài ca sinh hoạt: Sao Mai, Đời Người, phổ nhạc bài ‘Bước Tới Đèo Ngang’ của Bà Huyện Thanh Quan.Hằng tuần ngài đến dạy nhạc, xướng âm và tập hát bên chủng viện Gioan. Cha Vinh có giọng nam cao, âm hưởng thanh thoát, lôi cuốn.Ngài tổ chức và chỉ huy đồng ca trong nhiều cuộc lễ và rước kiệu lớn như cuộc Cung Nghinh Thánh Thể từ Hàm Long về Nhà Thở Lớn Hà Nội. Cha Lasan Nguyễn Văn Vinh đang điều khiển ca đoàn hát lễ tại Nhà thờ Lớn- Hà Nội. Năm 1957, Nhà nước muốn tỏ cho dân chúng trong nước và thế giới thấy là ở Việt Nam Đạo Công giáo tự do hành đạo, và tổ chức được những lễ nghi long trọng, tưng bừng. Dip Lễ Noel, chính quyền tự động cho người đến chăng dây, kết đèn quanh Nhà Thờ Lớn, sau lễ họ vào đòi nhà xứ Hà Nội phải thanh toán một số tiền chi phí lớn về vật liệu và tiền công. Năm 1958 cũng thế, gần đến lễ Noel, không hề hỏi han, xin phép, một số người của Nhà nước ngang nhiên đưa xe ô tô chuyển vật liệu, tự động bắc thang, chăng dây treo bóng điện màu trang trí ở mặt tiền và trên hai tháp Nhà Thờ Lớn. Cha xứ thời đó là cha Trịnh Văn Căn bảo vệ chủ quyền Giáo Hội trong khuôn viên cơ sở tôn giáo, không đồng ý, nhưng họ cứ làm. Để phản đối, cha Căn liền cho kéo chuông nhà thờ cấp báo, giáo dân kéo đến quảng trường nhà thờ rất đông ủng hộ cha xứ, hai bên to tiếng. Cha Căn gọi Cha Vinh ra can thiệp, sau một hồi tranh luận không kết quả, cha Vinh kéo những người của Nhà nước đang leo thang chăng đèn xuống, rồi chính ngài leo lên thang, hai tay đưa cao trước mặt, hai bàn tay nắm lại, hai cườm tay đặt cho nhau, làm dấu hiệu còng tay số 8, và nói lớn: “Tự do thế này!” Vụ giằng co lộn xộn kéo dài suốt buổi sáng, công cuộc trang trí không thành. Cha Căn, cha Vinh cùng một số giáo dân bị cơ quan an ninh thẩm vấn, đem ra xét xử. Tòa án nhân dân Hà Nội tuyên án: Cha Trịnh Văn Căn, Chính xứ Nhà Thờ Lớn, người chịu trách nhiệm tổ chức lễ Noel năm 1958 chịu án 12 tháng tù treo. Cha Chính Nguyễn Văn Vinh chịu án 18 tháng tù giam, với tội danh: “Vô cớ tập hợp quần chúng trái phép, phá rối trị an, cố tình vu khống, xuyên tạc chế độ, gây chia rẽ trong nhân dân” (!). Sau phiên tòa, cha Vinh bị đưa đi giam ở Hỏa Lò, sau bị chuyển đi nhiều trại giam khác như Chợ Ngọc, Yên Bái, cuối cùng là trại “Cổng Trời”, nơi dành riêng cho các tù nhân tử tội. Trại giam "Cổng Trời" nơi dành riêng cho các tù nhân tử tội. Hình dưới: Tác phẩm đặc sắc của nhà văn Bùi Ngọc Tấn viết về địa ngục trần gian dưới chế độ cs.VN. Khi cha Vinh mới đến trại Yên Bái, ngài còn được ở chung với các tù nhân khác, nhiều giáo dân, chủng sinh, tu sĩ đến xin cha giải tội, vì thế ngài bị kỷ luật, phải biệt giam, bị cùm chân trong xà lim tối. Mấy tháng sau được ra, ngài lại ban phép giải tội. Cán bộ hỏi: “Tại sao bị cùm, bị kỷ luật, được ra, anh tiếp tục phạm quy?” Ngài đáp: “Cấm là việc của các ông, giải tội là việc của tôi, còn sống ngày nào, tôi phải làm bổn phận mình!”. Ở tù đói rét là đương nhiên, lúc nào cũng đói, hằng ngày mỗi bữa một bát sắn độn cơm, ăn với lá bắp cải già nấu muối, khi chia cơm phải cân đong từng chút một… Một lần cha Vinh nhận được gói bưu kiện do cha Cương, quản lý Nhà Chung Hà Nội, gửi lên, trong đó có ít thức ăn, lương khô và vài đồ dùng cá nhân, ngài đem chia sẻ cho anh em trong nhóm, cả Công giáo lẫn lương dân, ăn chung, dùng chung. Anh em tù hình sự thân thương gọi ngài là ‘bố’.Ngay trong nhà tù, cha Vinh vẫn can đảm bảo vệ người bị áp bức, có lần một tổ trưởng đánh đập tù nhân, ngài lên tiếng bênh vực, liền bị người tổ trưởng này xông đến giang tay đánh, ngài đưa tay gạt, anh ta ngã khụy. Từ đó trong trại có tiếng đồn cha Vinh giỏi võ, mọi người phải nể vì. Một cán bộ cao cấp ở Hà Nội lên Cổng Trời gặp cha Vinh, nói: “Đảng và Chính phủ muốn anh được tha về, nhưng với điều kiện phải cộng tác với linh mục Nguyễn Thế Vịnh (Chủ tịch Ủy Ban Liên Lạc Công Giáo). Nếu anh đồng ý, anh có thể về Hà Nội ngay bây giờ với tôi”. Ngài khẳng khái đáp: “Ông Vịnh có đường lối của ông Vịnh. Tôi có đường lối của tôi”. Vì không khuất phục được ngài, nên bản án của ngài từ 18 tháng tù giam, không qua một thủ tục pháp lý án lệnh nào, đã biến thành 12 năm tù kiên giam, xà lim biệt giam và án tử. Năm 1971, khi ngài từ trần không ai được biết, một năm sau, chính quyền mới báo cho Đức Cha Khuê và cha Cương quản lý Nhà Chung: “Ông Vinh đã chết. Không được làm lễ áo đỏ cho ông Vinh!”. Suốt đời mình, trong mọi tình huống cha Chính Vinh làm trọn trách vụ của mình. Ngài đã mạnh mẽ rao giảng Tin Mừng và làm chứng cho đức tin, khi thuận tiện cũng như khó khăn. Vượt mọi thử thách gian khó, không chịu khuất phục trước cường quyền, luôn trung kiên với Thiên Chúa và Giáo Hội. Cha Chính Gioan Lasan Nguyễn Văn Vinh là một chứng nhân của thời đại, một linh mục Công Giáo Việt Nam can trường, hậu thế kính tôn và ghi ân ngài. TGP Hà Nội
Về cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận
Hôm nay 22/10, Vatican chính thức mở án điều tra phong chân phước cho Đức Hồng y (ĐHY) Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, nguyên Chủ tịch Hội đồng Tòa thánh Công lý và Hòa bình. Với việc mở án điều tra này, cùng với Mẹ Teresa Calcutta và Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II, Hồng y Thuận là một trong những trường hợp hiếm hoi được mở hồ sơ phong chân phước chỉ ít năm sau khi qua đời. Đâu là những yếu tố dẫn đến việc Đức Hồng y Thuận được nhận vinh dự và hồng phúc đó và sớm như vậy? 13 năm tù giam ĐHY Thuận sinh tại giáo xứ Phủ Cam, Huế ngày 17/04/1928. Thân phụ Ngài là ông Nguyễn Văn Ấm và thân mẫu là bà Ngô Đình Thị Hiệp, em gái ruột của tổng thống Ngô Đình Diệm. Ngài được thụ phong linh mục năm 1953 và sau đó được cử đi du học tại Roma và đậu bằng tiến sỹ tại đó năm 1959. Năm 1967 – khi mới 39 tuổi, Ngài được chọn làm Giám mục Giáo phận Nha Trang. Tám năm sau, vào ngày 24/04/1975, Ngài được bổ nhiệm làm Tổng Giám mục phó Tổng Giáo phận Sàigòn với quyền kế vị. Nhưng rồi thay vì vào Sàigòn để nhận nhiệm sở mới Ngài bị bắt, và cũng từ đó bắt đầu một ‘cuộc hành trình gian khổ’ với 13 năm tù giam, tại nhiều trại giam khác nhau, trong đó có chín năm biệt lập, mà không một bản án, không một lần xét xử. Nhưng cũng chính vì những năm tháng tù đày đó và đặc biệt những gì Ngài cảm nhận và sống trong những ngày lao tù khổ cực ấy, thế giới biết đến Ngài và Giáo hội tôn vinh Ngài. Hình chụp lúc ở tù. Sau 13 năm trong trại, TGM Nguyễn Văn Thuận được thả năm 1988. Sống giây phút hiện tại Một trong những đức tính của ĐHY Thuận được nhiều người biết đến đó là Ngài luôn đón nhận và vui sống ‘giây phút hiện tại’, dù đó có thể là những giây phút cô đơn, đau khổ, cùng cực nhất. Theo ‘Năm Chiếc Bánh và Hai Con Cá’, một trong những cuốn sách của Ngài được phát hành rộng rãi bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau, Ngài được mời vào Dinh Độc Lập và bị bắt tại đó chiều 15/08/1975. Tối hôm công an đưa Ngài về lại Nha Trang và bị quản thúc tại làng Cây Vông. Sống xa đoàn chiên trong lúc cô đơn, dày vò, Ngài đã chọn cho mình một quyết định: “sống phút hiện tại và làm cho nó đầy tình thương”, tuy đó không hoàn toàn là một cảm hứng đột xuất, mà là một xác tín Ngài đã ấp ủ ngay từ lúc còn ở tiểu chủng viện. Trong lúc băn khoăn suy nghĩ, một tia sáng đến với Ngài: “Con hãy bắt chước Thánh Phaolô. Khi Ngài ở tù, không hoạt động tông đồ được, Ngài đã viết thư cho các giáo đoàn”. Và cũng từ đó, trong suốt hơn một tháng rưỡi, nhờ những tờ lịch cũ mà một bé trai bảy tuổi mang tới, Ngài đã viết “Sứ điệp từ ngục tù” cho giáo dân. Đó là những suy nghĩ, cảm nhận và kinh nghiệm của Ngài về cuộc sống nói chung và đời sống đức tin nói riêng. Những góp nhặt đó được gói gọn lại trong “Đường Hy Vọng”, một cuốn sách không thể thiếu đối với người Công giáo Việt Nam và đã được dịch ra nhiều thứ tiếng khác nhau. Trong cuốn sách đó, Ngài viết: “Con chỉ có một giây phút đẹp nhất: giây phút hiện tại. Sống trong tình yêu Chúa cách trọn vẹn, đời con sẽ tuyệt đẹp nếu kết tinh bằng từng triệu giây phút đẹp nhất”. Giáo Hoàng Gioan Phaolô II bổ nhiệm Tổng Giám mục Nguyễn Văn Thuận làm chủ tịch Hội Đồng Giáo Hoàng Công Lý và Hòa Bình ngày 24 tháng 6 năm 1998. Chứng nhân của Hy vọng Và nhờ luôn ‘sống giây phút hiện tại’ đó Ngài không chỉ vượt qua những năm tháng tù giam mà còn luôn yêu thương, bao dung, tha thứ, không trách móc hay oán hận bất cứ ai dù bị bất công đối xử, bị đầy đọa, khổ nhục. Đó cũng là một đức tính khác của ĐHY Thuận. Trong Thánh lễ an táng của Hồng y Thuận hồi năm 2002, Giáo hoàng Gioan Phaolô II nhắc lại lời nói của Đức Hồng y: “Trong vực thẳm những đau khổ của tôi, tôi không bao giờ ngừng yêu mến tất cả mọi người, tôi không hề loại trừ một ai khỏi tâm hồn tôi”. ĐGH cũng nhắc lại chúc thư tinh thần của ĐHY: “Tôi thanh thản ra đi, và tôi không giữ lòng oán hận nào đối với ai. Tôi dâng tất cả những đau khổ tôi đã trải qua cho Đức Mẹ Vô Nhiễm và Thánh Giuse”. Nhưng có thể nói điều làm cho nhiều người ngưỡng mộ Ngài đó là dù phải sống những năm tháng tù đày, đen tối, Ngài luôn lạc quan, hy vọng. Cách đây ba năm, khi chính thức chấp nhận việc mở hồ sơ phong chân phước cho ĐHY, ĐGH Benedict XVI đã nói: “Đức Hồng y Thuận là một con người của Hy Vọng, Ngài sống bằng Hy Vọng, Ngài phổ biến Hy Vọng cho tất cả những ai Ngài gặp. Chính nhờ năng lực thiêng liêng này mà Ngài đã chống lại được tất cả những khó khăn thể lý và luân lý. “Niềm hy vọng ấy đã nâng đỡ Ngài khi bị cô lập, khi phải xa cách cộng đoàn giáo phận trong 13 năm. Niềm hy vọng đã giúp Ngài nhận thấy trong sự vô lý của các biến cố xảy ra cho mình, có một kế hoạch của Chúa Quan Phòng – Đức Hồng y không hề được xét xử trong thời gian lâu dài bị giam cầm” Được Giáo hội tôn vinh Vì những bất công, khổ cực Ngài phải chịu trong lao tù, và trên hết vì những gì Ngài cảm nhận và sống trong năm tháng giam cầm đó, thế giới ngưỡng mộ và Giáo hội tôn vinh Ngài. Được thả ngày 23/11/1988, và ba năm sau đó (1991) sang Roma chữa bệnh nhưng bị từ chối cho trở lại Việt Nam, Ngài buộc phải ở lại Roma. Năm 1994. Ngài được bổ nhiệm làm Phó Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh Công lý và Hòa bình. Và bốn năm sau đó Ngài được chọn làm Chủ tịch Hội Đồng này. Từ trước đến giờ chưa một người Việt Nam nào được trao một trọng trách như vậy tại Vatican. Vào tuần tĩnh tâm Mùa Chay năm 2000 – Năm Thánh của Giáo hội, Ngài được Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II mời giảng tĩnh tâm cho Ngài và giáo triều. Chủ đề của bài giảng tĩnh tâm là ‘Hy vọng’. Đức Hồng y Thuận qua đời ngày 16/09/2002. Khi hay tin Ngài mất, Đức Cha Giampaolo Crepaldi, Tổng Thư ký Hội đồng Tòa Thánh Công lý và Hòa bình, đã tuyên bố với báo chí: “Một vị Thánh vừa qua đời”. Ba năm sau, đúng vào dịp tưởng nhớ năm năm ngày mất của Đức Hồng y Thuận, Tòa Thánh đã chính thức mở hồ sơ phong chân phước cho Ngài. Và ngày 22/10 này, án điều tra phong chân phước của Ngài được chính thức bắt đầu. Đó không chỉ là tin vui cho Giáo hội Việt Nam mà cho Giáo hội toàn cầu cũng như những ai yêu chuộng công lý, hòa bình. Ngoài ra, Đức Hồng y Thuận cũng được các nước trên thế giới, tổ chức quốc tế khác vinh danh bằng cách trao giải thưởng hay lập các tổ chức, quỹ, giải thưởng mang tên hay nhân danh Ngài. FYI From: HongDuong DNguyen Trân trọng chuyển tiếp một bức hoạ sơn dầu mô-tả cảnh Cố Hồng-Y Francois XavierNguyễn-văn-Thuận dâng thánh lễ trong lúc đang bị giam cầm. Sơ-lược tiểu sử Đức Hồng-Y FX. Nguyễn-văn-Thuận: 13 năm tù giam ĐHY Thuận sinh tại giáo xứ Phủ Cam, Huế ngày 17/04/1928. Thân phụ Ngài là ông Nguyễn Văn Ấm và thân mẫu là bà Ngô Đình Thị Hiệp, em gái ruột của tổng thống Ngô Đình Diệm. Ngài được thụ phong linh mục năm 1953 và sau đó được cử đi du học tại Roma và đậu bằng tiến sỹ tại đó năm 1959. Năm 1967 – khi mới 39 tuổi, Ngài được chọn làm Giám mục Giáo phận Nha Trang. Tám năm sau, vào ngày 24/04/1975, Ngài được bổ nhiệm làm Tổng Giám mục phó Tổng Giáo phận Sàigòn với quyền kế vị. Nhưng rồi thay vì vào Sàigòn để nhận nhiệm sở mới Ngài bị bắt, và cũng từ đó bắt đầu một ‘cuộc hành trình gian khổ’ với 13 năm tù giam, tại nhiều trại giam khác nhau, trong đó có chín năm biệt lập, mà không một bản án, không một lần xét xử. Nhưng cũng chính vì những năm tháng tù đày đó và đặc biệt những gì Ngài cảm nhận và sống trong những ngày lao tù khổ cực ấy, thế giới biết đến Ngài và Giáo hội tôn vinh Ngài. (Mời bấm vào ĐÂY để đọc thêm ... ) Dưới đây là bức hoạ rất hiếm có, sơn dầu với kích thước 1,5m x 2,5m do một họa sỹ nổi tiếng người Úc, tên là PAUL NEWTON vẽ (theo sự ủy quyền của Đức Hồng y PELL tại Úc). Bức họa mô tả cảnh Cố Hồng-Y Francois Xavier Nguyễn văn Thuận dâng thánh lễ trong lúc đang bị giam cầm. Bức họa hiện đang được treo trong nguyện đường DOMUS AUSTRALIA của Giáo hội Úc, mới được khánh thành tại ROME vào tháng 10-2011. Đức Giáo Hoàng Benedict XVI đã dừng lại đọc kinh trước tấm hình này trong buổi lễ khánh-thành nguyện-đường kể trên. ======================================================= taquanghoang Trên đường đi của trâu bò và dê Những bàn chân chai cứng lết lê Trông thật đáng ê chề!... Trên đồi cao đập đá nắng cháy da đầu Dưới đầm sâu kéo cày thay trâu!... (Nguyễn Văn Hồng) LTG: Trại tù NAM HÀ – còn có tên gọi khác là ‘BA SAO’, hay ‘HÀ NAM NINH’, và trước nữa, còn có tên rất nổi danh là Trại ‘ĐẦM ĐÙN’ - thuộc tỉnh Hà Nam Ninh, nằm cách thị xã Phủ Lý, Nam Định khoảng 15 cây số, và cách Hà Nội khoảng 80 cây số về phía Đông-Nam. Nguyên thủy, Trại được xây cất từ thời Pháp thuộc trước 1945, gồm có 6 dãy nhà tường gạch mái ngói, mỗi dãy gồm 2 buồng giam. Trại nằm trên một triền đồi cao của một thung lũng có núi vây quanh và phía dưới là một cái đầm rộng lớn đầy bùn và ... đỉa (leeches). Trước 1975, Cộng sản dùng Trại để nhốt tù hình sự. Kể từ Tháng 8.1976, Trại bắt đầu tiếp nhận tù chính trị được chuyễn từ miền Nam ra Bắc, sau khi Cộng sản cưỡng chiếm được miền Nam vào ngày 30.4.1975. Trong những năm tiếp theo sau đó, Trại được xây dựng thêm nhiều Phân Trại mới, và giam giữ khoảng 5.000 tù chính trị gồm các thành phần Dân-Quân-Cán-Chính của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) cũ. Vào khoảng cuối năm 1979, do tình hình chính trị quốc tế và quốc nội có nhiều thay đổi, Cộng sản cho chuyển dần tù chính trị về lại miền Nam, và đến cuối năm 1988, thì không còn một người tù chính trị miền Nam nào ở tại Trại Nam Hà. Về sau này, Cộng sản đã dùng Trại Nam Hà để giam giữ những người bất đồng chính kiến với chế độ như Linh Mục Nguyễn Văn Lý, các Luật Sư Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài, v.v... Trong những năm 1977-1978, Trại Nam-Hà chưa giam giữ nhiều tù chính trị từ miền Namchuyển ra. Tại Phân Trại A (Trại cũ nguyên thủy), chỉ mới có khoảng 1.000 tù chính trị, được giam tại 6 dãy nhà tù chính, gồm 12 buồng giam đánh số từ 1 đến 12. Tại Phân Trại này còn có mấy trăm tù hình sự (gốc miền Bắc) được giam riêng tại dãy nhà tù mới xây xong, mang số buồng 13 và 14, nằm gần khu nhà bếp của Trại. Trong công tác ‘lao động khổ sai’ để hành xác tù chính trị ở giai đoạn này, được chú trọng vào các loại công việc nặng như ‘Vác đá’ (vật liệu xây cất), ‘Xây dựng’ (xây thêm nhà tù),‘Thủy lợi’ (đắp đê ngân nước), và ‘Cải thiện đất’ (cày bừa). Còn một số công việc chuyên mônkhác như ‘Bắn đá’ (nổ mìn lấy đá), ‘Xẻ gỗ’ (cưa xẻ gổ), ‘Mộc’ (làm nhà), và ‘Trồng rau màu’ (trồng rau),…vẫn do tù hình sự phụ trách. Mỗi buổi sáng, các đội được tập trung tại sân Trại để điểm số xuất Trại đi lao động. Nếu là các đội lo về ‘Vác đá’ và ‘Xây dựng’, lúc ra khỏi cổng Trại sẽ rẽ về phía phải đi đến các công trường của mình ở gần Trại để làm việc. Còn các đội lo về ‘Thủy lợi’, ‘Cải thiện đất’ thì rẽ về phía trái lúc ra khỏi cổng, đi dọc theo bờ tường thành bao quanh Trại, dẫn tới một con đường mòn thoai thoải đi xuống triền núi dẫn tới khu đầm lầy, nơi có con đê đang đắp dở dang để ngăn nước, do các đội ‘Thủy lợi’ phụ trách; hoặc tới khu đất ngập nước đang được làm giảm độ phèn trong nước, do các đội ‘Cải thiện đất’ lo, để cuốc đất hay cày bừa (do một hay hai người đi phía trước thay trâu, dùng giây cột vào cày để kéo, một người đi sau điều khiển cày.) Thời gian làm việc của tù là thông tầm. Buổi sáng rời Trại từ 7 giờ, và buổi chiều trở về Trại lúc 4 giờ. Buổi trưa có khoảng ½ giờ để nghỉ giải lao và ăn trưa. Cũng tại Phân Trại A, ở góc sân nằm giữa dãy buồng 13, 14 mới xây cất và bờ tường thàǹh có gắn kẽm gai, còn một khu đất trống khá rộng (sau này là nơi xây dãy buồng 15 và 16) được dùng làm nơi nuôi đàn trâu và dê của Trại, đúng hơn là của tên Trại trưởng, Trung tá công an TMX. Có khoảng 20 con trâu và gần 500 con dê. Tuy đàn trâu dê nhiều như vậy, nhưng chỉ do hai người tù hình sự trông coi, kể cả việc mỗi ngày dẫn chúng vào triền núi để tự đi tìm thức ăn. Sau khi các đội lao động tù chính trị xuất Trại xong, hai người tù hình sự mới bắt đầu mở cổng chuồng dẫn đàn trâu và dê đi vào các sườn đồi núi ở gần khu đầm nước dưới thung lũng đểchúng tìm thức ăn. Một người ngồi trên lưng trâu đi trước dẫn đường, và người còn lại đi sau cùng, phía sau đàn dê. Đàn trâu dê lúc ra khỏi cổng Trại cũng rẽ trái để đi xuống đầm, theo cùng lộ trình của các đội ‘Thủy lợi’ và ‘Cải thiện đất’. Lúc chúng đi đến gần cuối con đê, nơi anh em tù chính trị đang làm việc dưới đầm nước, thì rẽ vào các lối mòn dẫn vào sườn đồi trọc gần đó rồi tự động tản ra đi tìm thức ăn. Lúc đó là vào khoảng 8:30 sáng. Khi đàn trâu dê đã tản mác hết vào khu đồi núi, hai người tù hình sự thong thả tìm một mỏm đá cao, vừa ngồi phơi nắng vừa tâm tình năm ba câu chuyện gì đó rồi mang khẩu phần ăntrong ngày ra dùng.Xong bữa, chúng bước đến suối nước gần đó tắm rửa, giặt giũ, trông thật nhởn nha, và sau khi mọi sự đã hoàn tất, chúng tìm một bóng mát ngã lưng, đánh một giấc ngủ say,không một mảy may quan tâm đến sinh hoạt của đàn trâu dê. Khi tỉnh giấc, chúng đứng lên vươn vai cho tỉnh ngủ, rồi quay nhìn về hướng mặt trời, có lẽ để định lượng giờ giấc hầu đưa đàn trâu dê trở về Trại. Nếu chúng cho là đã đến giờ, cả hai đứng trên mỏm đá cao, hướng về phía triền đồi nơi trâu dê đang tản mác ở đó, đưa hai tay lên miệng làm loa rồi cất cao giọng gọi to một cách chậm rãi và kéo dài câu: ‘trâu…dê…về…đi…’ và cứ thế lập đi lập lại nhiều lần. Tiếng gọi theo hướng đi, dội vào sườn núi đá phía trước, rồi dội ngược lại, âm thanh như quyện vào nhau, kéo dài ra và chồng chéo lẫn lên nhau, ‘trâu...âu...dê...ê...về...ề...đi...i…’ Nghe tiếng gọi, những con trâu, dê, dù là đang ăn cỏ hay đang nằm nghỉ dưới bóng mát; dê đang đứng nhìn ngơ ngác, hay trâu đang ngâm mình dưới đầm nước cạn, tất cả đều ngẩng đầu lên và cùng hướng về phía phát ra tiếng gọi. Một thoáng sau, từng con bắt đầu đứng lên và từ từ rảo bước đi về phía hai người tù hình sự đang đứng. Càng đến gần, chúng càng chen chúc lấn vào nhau và bước nhanh hơn. Đến lúc này, hai người tù hình sự, từ trên mỏm đá cao, dõi mắt một vòng vào khu sườn đồi, như để biết chắc là không còn con nào lạc trong đó, tất cả đàn trâu dê đã tụ hợp đủ. Xong đâu đó, một người lại leo lên lưng con trâu đến đầu tiên, chân húc nhẹ vào hông trâu đi trước dẫn đường. Người tùhình sự thứ hai chờ cho tất cả đàn đi qua rồi rảo bước đi bộ theo sau. Đàn trâu dê chầm chậm bước đi theo lối cũ trở về Trại. Lúc bấy giờ là vào khoảng 2:30 chiều. * Anh em chúng tôi, những người tù chính trị, thuộc các đội ‘Thủy lợi’ và ‘Cải thiện đất’làm việc dưới đầm lầy, sát cạnh khu sườn đồi trâu dê được thả vào đó mỗi ngày, đã quá quen thuộc với những hình ảnh và âm thanh nói trên. Chúng tôi xuất Trại lúc 7 giờ sáng và đến hiện trường lao động khoảng nửa tiếng sau. Lúc hai người tù hình sự đưa đàn trâu dê đi dọc theo triền đồi xuống đầm, chúng tôi từ dưới đầm thỉnh thoảng dõi mắt nhìn lên – trong lúc đôi tay vẫn phảilàm việc liên tục như một cái máy vô hồn chạy đều -, cho đến khi cả đàn xuống đến gần, tiếp tục bước trên các con đê do chính những người tù chúng tôi đắp lên trong những ngày tháng lao động khổ sai miệt mài trước đó, rồi rẽ vào các lối cuối con đê tiến vào sườn đồi. Lúc đó, chúng tôi nhìn nhau như nói cho nhau biết: ‘Đã 8:30 rồi!’, hay ‘Đã lao động được một tiếng rồi đó!’… Và cho đến khi hai người tù hình sự tỉnh giấc ngủ trưa và bắt đầu leo lên đứng trên mõm đá, cất cao tiếnggọi ‘trâu…âu…dê…ê…về…ề…đi…i...’ thì hầu như mỗi chúng tôi, dù đang kéo cày thay trâu, hay đang cuốc đất, hay đang dùng sức ấn xẻng xuống để đào đất, hay đang chuyền trên tay nhau những khối đất vừa mới đào lên đến chỗ đắp đê,...đều gần như đồng loạt khựng lại, dừng thao tác, cho dù trong tư thế đang giơ cuốc lên cao, hay đang khòm người xuống để nâng khối đất lên,…và cùng hướng mắt về phía sườn đồi, nơi có tiếng gọi của hai người tù hình sự…Rồi chúng tôi lại nhìn nhau như thầm nhắc: ‘Đã 2:30 chiều rồi đó!’ hay ‘Chỉ còn lao động khoảng hơn một tiếng nữa thôi!’ (Lao động ngưng vào khoảng trước 4 giờ chiều.) Và kể từ đó, mỗi lần đi lao động dưới đầm sâu, đến lúc đôi tay, đôi chân, và toàn thân xác rã rời, mỏi nhừ, mỗi chúng tôi tuy không ai nói ra, nhưng trong lòng đều có chung một mong chờ. Mong chờ được nghe thấy những tiếng gọi quen thuộc ấy, những tiếng gọi ‘trâu…dê…về…đi...’,‘trâu…âu...dê...ê…về...ề...đi…i...’... Chỉ vì, khi tiếng gọi ấy bắt đầu vang vọng lên từ triền đồi kế cận, có nghĩa là không còn bao lâu nữa sẽ đến giờ nghỉ lao động và được trở về Trại. Và rồi sẽ được lãnh phần ăn chiều, được vào buồng nghỉ ngơi, và hoàn tất một ngày lao động khổ sai!Không biết khởi nguyên từ lúc nào, những tiếng gọi ‘trâu…dê…về…đi…’ đã trở nên thân thiết với anh em chúng tôi đến thế! Phải chăng chúng tôi đang trên tiến trình ‘hóa thú’ để rồi chỉ còn biết hành động và sống theo những ‘tín hiệu’?Mọi sinh hoạt hằng ngày của toàn thể trại viên đều lệ thuộc vào những hồi kẻng, hồi còi, hay những tiếng động lách cách lúc khóa cửa buồng giam được tên cai tù đến mở,...và cả tiếng gọi ‘trâu…dê…về…đi…’ của người ‘Mục tử hình sự’!. Đôi khi chúng tôi chợt có ý tưởng giá gì mình được như những con trâu dê kia để khỏi phải nghĩ suy gì, để khỏi phải bận tâm gì, ngày ngày được tự do đi đứng nhởn nha đó đây trong triền núi, ăn ngủ no say, mặc cho sự đời đổi thay, và rồi vào một ngày nào đó bị đem ra làm thịt, và thế là hết!… Nhưng Đấng Tạo Hóa đã cho chúng tôi làm người, một con người có tri giác, có kiến thức, có ý chí, có lòng tự trọng, và trên hết, có Tình Yêu Thương: Yêu Thương Tổ Quốc, Yêu Thương Dân Tộc, Yêu Thương Gia Đình. Những con trâu dê kia tuy có được tự do nhởn nha trong đồi núi, đứng ngơ ngác nhìn bâng quơ, hay ngâm mình dưới đầm nước mát, chẳng phải ‘lao động khổ sai’, và đến lúc bị đem đi giết để làm thịt cũng không biết tại sao, vì dù gì, chúng cũng chỉ là những con vật! Những người tù khổ sai chúng tôi rồi cũng sẽ đi đến điểm cuối của con đường ấy - sự chết - nhưng mỗi bước đi trong suốt hành trình đi đến điểm cuối đó, mỗi anh em chúng tôi không ngừng cố gắng khắc chế bản thân mình để có thể vượt qua mọi khổ cực về thể xác, nhẫn nhịn và tự chế trước những đe dọa, khủng bố tinh thần của kẻ thù – những cai tù -, luôn giữ vững niềm tin vào lý tưởng Quốc Gia của mình, và trên hết, phải luôn biết trân quý sự sống của bản thân và nuôi dưỡng niềm hy vọng, cho dù rất mong manh! Có biết quý trọng sự sống của chính mình thì mới mong vượt qua được mọi trở lực, mọi nghiệt ngã còn dẫy đầy trong những năm tháng dài tù đày trước mặt; có nuôi dưỡng niềm hy vọng thì mới có thể tiếp tục đứng vững, duy trì ý chí muốn sống, và phải sống! Về sau khi có dịp tìm hiểu, chúng tôi mới biết được tại sao cả đàn trâu dê kia luôn ngoan ngoãn nghe theo tiếng gọi ‘trâu…dê…về…đi…’ của hai người ‘Mục tử hình sự’ để trở về Trại, tức là để tự giam mình lại trong những cái chuồng, mà không trốn ở lại trong triền đồi để được tự do? Và cũng hiểu được tại sao cả một đàn khoảng 500 con mà chỉ cần có hai người tù hình sự trông coi? Mà thực ra, cả hai người này cũng chẳng trông coi gì về các sinh hoạt của đàn trâu dê, ngoại trừ sáng dẫn đi chiều dẫn về, trưa lại còn được một giấc ngủ say! Nguyên do là cả đàn trâu dê được cho ăn muối mỗi ngày trước khi bị nhốt vào chuồng, và đã trở thành thói quen nên không thể thiếu chất muối.Do đó, chúng phải theo đàn trở về để đượccho ăn muối, mà trước đó, một người tù hình sự khác ở nhà rải sẳn hay hòa sẳn với nước để ở trước cổng chuồng, chờ chúng về ăn hay uống.Khi chúng đã ăn hay uống nước muối đủ, hai người tù hình sự lúc này đã đứng sẳn trước cổng chuồng, điểm số từng con bước vào để biết chắc là đủ số, nhất là đàn trâu. Thì ra, không chỉ riêng chúng tôi, những người tù phải lao động khổ sai dưới đầm sâu, mới ngày ngày mong đợi được nghe tiếng gọi ‘trâu…dê…về…đi…’ của hai người ‘Mục tử hình sự’, mà chính những con trâu, con dê kia cũng ngày ngày mong chờ cùng tiếng gọi đó…Tất cả chúng tôi - người và thú vật - đều mong ngóng đến giờ được trở về Trại. Với trâu-dê, thì chỉ cần có được một bửa ăn muối cho ngày hôm đó là đủ, mặc cho ngày mai ra sao. Nhưng với chúng tôi, ngoài việc nhận một xuất bo bo chưa tróc vỏ với một muỗng nước muối cần có cho bửa ăn chiều để tiếp tục duy trì sự sống, chúng tôi còn cần được nghỉ ngơi, cần tĩnh dưỡng tinh thần, cần nhắc nhớ cho nhau phải luôn biết trân quý gìn giữ bản thân mình, phải nuôi dưỡng niềm hy vọng về một ngày được trở về với gia đình, vì con đường trước mặt còn dài, còn nhiều gian nan, phải cố gắng vượt qua, không thể gục ngã dễ dàng trước kẻ thù! * Nhiều năm đã trôi qua kể từ ngày ra khỏi ngục tù khổ sai của Cộng sản và đang đượcsống ở một đất nước Tự Do đầy tình người, tưởng đâu đã có thể quên đi được những ngày tháng đau buồn đầy nỗi nhọc nhằn cũ, song mỗi lần đọc thấy trên báo chí những tin tức liên quan đến những Nhà đấu tranh cho Dân Chủ hay bất đồng chính kiến ở trong nước đang bị giam cầm và phải chịu nhiều cực hình tại Trại tù Nam Hà như Linh Mục Nguyễn Văn Lý, hay các Luật sư Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài, v.v..., tự nhiên âm thanh của những tiếng gọi ‘trâu...dê…về...đi…’ của người ‘Mục tử hình sự’ một thời vang vọng từ triền đồi bên cạnh đầm sâu đầy đỉa hút máu người ở Trại Nam Hà đã trở về tâm trí tôi với tất cả sự xót xa và đắng cay của nó! Tôi chợt nhớ đến những câu đầu của một ‘Tù khúc’ do người bạn tù mang tên Nguyễn Văn Hồng, sáng tác vào dịp Tết Canh Thân đầu năm 1980 ở Trại Nam Hà, chỉ mấy tháng trước khi anh bị Ban Giám thị Trại bắt giam xà lim và bị đánh cho đến chết vào khoảng Tháng 5 năm đó:‘Trên đường đi của trâu bò và dê, những bàn chân chai cứng lết lê, trông thật đáng ê chề!... Trên đồi cao đập đá nắng cháy da đầu, dưới đầm sâu kéo cày thay trâu!...’ (Quý mến tặng các bạn tù NAM HÀ và HÀM TÂN Z.30D nhân dịp chuẫn bị Đại Hội Mừng Xuân Tân Mão tại Nam California, ngày 6.3.2011.) Westminster, CA, những ngày cuối năm 2010 taquanghoang | |||
|
|