Người Việt ta từ ngàn
năm xưa đã có chữ viết riêng. Chữ Việt cổ là loại chữ tượng thanh, ghép những
chữ cái thành từ. Chữ Việt có trước cả chữ Hán hàng ngàn năm và hoàn toàn
khác chữ Hán. Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Việt nam đã có những khám phá và
còn tiếp tục truy tìm. Cùng với các nghiên cứu của nhiều nhà ngôn ngữ học Pháp,
Anh, Mỹ, Tiệp và nhất là Trung Hoa (Lục Lưu, Hứa Thân, Trịnh Tiểu) đều khẳng
định người Việt đã có chữ viết riêng từ trước kỷ Công nguyên (BC).
Bộ chữ này lưu lại
trong nền văn hóa tiền Việt – Mường. Trên các mặt Trống Đồng và nhiều di vật cổ
xưa khác đã được khai quật ở Bắc bộ, Bắc Trung bộ và rải rác ở vùng cực bắc
biên giới Việt Nam, đều có một dạng ký hiệu giống nhau, những hình con nòng nọc
là những tự dạng, biểu tượng để ghi chép lại những âm thanh cấu thành từ ngữ.
Đó chính là chữ Việt cổ, bộ chữ Việt cổ ấy dùng để ghi tiếng nói của người Việt
từ ngàn xưa.
Trống đồng
Đông Sơn tại Bảo tàng Guimet, Paris, Pháp
Tổ tiên chúng ta đã từng phải sống qua một quá trình đô hộ lâu dài của Trung
Hoa, với âm mưu hủy diệt nền văn hóa Việt Nam chúng đã bắt dân ta dùng chữ Hán
để bức tử, tuyệt diệt với chữ Việt cổ, với mục đích đồng hoá dân tộc. Chữ viết
tiếng Việt (bộ chữ Khoa đẩu) thời bấy giờ là đối tượng bị Trung Hoa hủy diệt trước
nhất, bởi nó phản ánh tư tưởng, linh hồn, văn hóa của dân tộc Việt. Hịch khởi
nghĩa của Hai Bà Trưng kêu gọi toàn dân đứng lên chống Tàu được viết bằng chữ
Khoa đẩu, chữ Việt cổ.
Trong sách Hậu Hán thư (後漢書), quyển 14 ghi: "Dân Giao Chỉ có linh vật là trống đồng,
nghe đánh lên họ rất hăng lúc lâm trận.... " Sách này còn viết rằng:
"Mã Viện sau khi dập tắt cuộc nổi dậy của Hai Bà Trưng, đã tịch thu các
trống đồng của các thủ lĩnh địa phương, một phần đem tặng, phần nấu chảy để đúc
ngựa và đúc cột đồng Mã Viện."
Sử xưa cũng ghi lại rằng: " Sau khi nước Nam Việt của Triệu Đà bị người
Hán xâm chiếm, văn hóa của Việt tộc bị chính sách đồng hoá. Nhâm Diên và
Sĩ Nhiếp đã bắt đốt hết sách Việt tộc, nhà nào cất giữ, lưu truyền thì bị giết
hại. Các trống đồng Việt tộc bị Mã Viện tịch thu (năm 43), tiếp theo sau là
cuộc cướp phá, tiêu hủy sách vở Việt tộc của nhà Minh đầu thế kỷ 15…"
Với chính sách tận diệt văn hóa Việt như trên, chữ “Khoa Đẩu” của người Việt cổ và có thể cả chữ “tượng hình” sơ
khai của thời Văn Lang, Âu Lạc, sau một ngàn năm bị đô hộ, đã bị xoá sạch, vì
thế không thể phổ biến được cũng là điều dễ hiểu.

Hịch khởi
nghĩa của Hai Bà Trưng, viết bằng chữ Khoa Đẩu.
Chữ Việt cổ
trên thân Trống Đồng Lũng Cú.
Tuy nhiên, với chí khí
bất khuất của người Việt, luôn khát vọng độc lập tự do, ông cha ta từ chữ Hán
tượng hình đã chế tác ra thứ chữ Nôm để sử dụng, nhằm mục đích giữ gìn nền văn
hoá Việt Nam cận đại và bản sắc văn hóa thuần túy dân tộc Việt.
Nhìn chung Việt Nam
vào thời điểm lịch sử cổ, trung đại, vẫn chưa chính thức có trường lớp nào dạy
nói và viết tiếng Việt. Người Việt chúng ta ngày xưa đa số được học (nói) tiếng
Việt ngay từ lúc lọt lòng mẹ, trong sinh hoạt gia đình và thông qua những giao
tiếp hàng ngày ngoài xã hội là chính. Ở giai đoạn này chữ viết vì chưa truyền
bá phổ thông trong dân chúng nên các câu Ca Dao, Tục Ngữ,Thơ ngắn, dài (1)
nhờ có vần, có điệu, nên mau thuộc và
dễ nhớ; là loại văn chương ca dao truyền khẩu được phổ biến rộng rãi trong nhân
gian và ngày càng phong phú, súc tích.
Trong quá trình xã hội
phát triển, dân tộc Việt Nam ta đã tiếp xúc giao lưu với nhiều dân tộc khác.
Trong tiếp xúc trao đổi thông tin với nhau, vấn đề học hỏi và hiểu rõ ngôn ngữ
của nhau trở nên nhu cầu cần thiết.
Vào thế kỷ XV. Sứ thần
Trung Quốc đã phải nhờ đến các cơ quan phiên dịch ở Trung Quốc như Hội thông
quán, Tứ Di quán, Tứ Dịch quán làm nhiệm vụ phiên dịch mỗi khi giao tiếp với
Việt Nam. Các cuốn từ vựng đối chiếu tiếng Hán với một số thứ tiếng khác được
lần lượt biên soạn, trong đó có cuốn An Nam Dịch Ngữ (*) là cuốn từ điển dùng
để đối chiếu tiếng chữ Hán với chữ tiếng Việt.
(*) An Nam Dịch Ngữ là
bản từ vựng dùng cho cơ quan hành chánh (nhà Minh) đặc trách giao dịch với Việt
Nam từng phải triều cống.
Giai đoạn năm 939,
thời Vua Ngô Quyền lập quốc, các triều đại Vua Việt Nam đã mượn chữ Hán (chữ
Nho) để sử dụng trong hành chánh, học thuật. Tuy nhiên, người Việt vẫn nói
tiếng Việt, không công nhận chữ Hán (chữ Nho) là quốc ngữ. Tổ tiên ta
luôn tìm cách sáng tạo ra quốc ngữ riêng và đã dựa trên chữ Hán để chế ra
chữ Nôm. Chữ Nôm được ghi nhận chính thức xuất hiện vào thế kỷ 13, khi quan
Hình Bộ Thượng Thư: Nguyễn Thuyên, triều Trần Nhân Tông (1279-1293), làm bài
văn “Tế cá sấu” (2) bằng chữ
Nôm. Vào thời nầy, chữ Nôm được xem là Quốc ngữ bên cạnh chữ Nho, nên tập thơ
chữ Nôm của Chu Văn An (1292–1370) được ông gọi là Tiều ẩn quốc ngữ thi tập
(Tập thơ quốc ngữ). Đoạn Trường Tân Thanh (Kim Vân Kiều) của thi hào Nguyễn Du,
là một trong những tiêu biểu hàng đầu những thành tựu đáng kể của chữ Nôm
đã đóng góp cho nền văn hoá Việt Nam cận đại.
Tuy nhiên, chữ Nôm vì
được cấu tạo trên căn bản chữ Nho, nên khi muốn học chữ Nôm thì phải biết chữ
Nho (chữ Hán).Vì vậy chữ Nôm khó học, không phổ thông trong dân chúng, và ít
được sử dụng rộng rãi.
Đoạn Trường
Tân Thanh (Truyện Kim Vân Kiều) của thi hào Nguyễn Du
(Sách cổ
viết chữ Nôm)

Đến giai đoạn thế kỷ 16, năm 1533. Khi các nhà truyền giáo phương Tây đến Việt
nam để truyền dạy ĐạoThiên Chúa, các giáo sĩ đã nghiên cứu, và soạn ra bộ chữ
từ chữ La tinh để viết và cách phiên âm tiếng Việt, dùng cho việc giảng đạo
bằng ngôn ngữ Việt . Từ bộ chữ này đã trở thành Chữ Quốc Ngữ. Đây cũng là giai
đoạn khởi đầu quan trọng nhất, có tính chất quyết định đã giúp cho ngôn ngữ
Việt, và nền Văn Hóa Việt Nam được phát triển nhanh chóng.Các giáo sĩ, tu sĩ Jesuit (Dòng Tên) http://en.wikipedia.org/wiki/Jesuit Người Bồ Đào Nha như Francisco de
Pina, Gaspar d’Amaral, Antonio Barbosa, v.v. Sử dụng chữ cái La tinh để ghi
chép, phiên âm Tiếng Việt. Năm 1618, linh mục Francisco De Pina cùng với linh
mục Phêrô, đã dịch Kinh Lạy Cha và các Kinh căn bản khác sang tiếng Việt, có
thể xem đây là khởi đầu cho việc soạn thảo chữ Quốc ngữ. Các Linh mục
tương đối hoàn tất hệ thống chuyển mẫu tự La-tinh thích hợp với cách giọng phát
âm và thanh điệu tiếng Việt. Nhưng giai đoạn nầy chưa được đầy đủ.
Bản Kinh
lạy Cha được viết tay năm 1632 nguyên bản như sau:
Người có công hoàn thiện công
trình này là Giáo sĩ Alexandre de Rhodes (Tác giả cuốn Từ điển Việt-Bồ-La , Ngữ
pháp tiếng An Nam, và “Bài giảng giáo lý Tám ngày” đầu tiên xuất bản vào
năm 1651.
Từ điển
Việt-Bồ-La
Phép Giảng
Giáo Lý Tám Ngày (trang đầu)
Hình
bìa “Sách Phép Giảng Giáo Lý Tám Ngày”
Ðây là sách
giáo lý được biên soạn để giúp cho các cha truyền dậy giáo lý tại Việt nam.
Cuốn sách được in bằng hai thứ tiếng: La tinh và Việt Nam. Trên mỗi trang sách
chia làm hai, có một gạch đôi từ trên xuống dưới: Bên tay trái của người đọc
sách là chữ La tinh, bên tay phải là chữ Việt. Ðể người đọc dễ dàng đối chiếu
song ngữ. Giáo sĩ Alexandre de Rhodes - Ðắc Lộ, đặt ở đầu mỗi ý tưởng chính mẫu
tự abc... cho hai phần La, Việt, rồi chính giữa trang sách cũng đặt mẫu tự
abc... cho hai phần La Việt song song. Cuốn sách gồm có 319 trang. Sách
không chia ra từng chương, mà lại chia theo từng ngày học (Tám ngày), được
trình bày in ấn có tính cách như một giáo trình sư phạm.
Giáo sĩ
Alexandre de Rhodes
Giáo sĩ Alexandre De Rhodes (Sinh năm1591 tại Avignon, Pháp; mất năm 1660 tại
Ispahan, Ba Tư). Ngài đã sang Việt Nam truyền đạo trong vòng sáu năm (1624
-1630). Ngài là người có công rất lớn trong
việc hệ thống hoá chữ viết tiếng Việt. Nhờ đó mà chữ Quốc Ngữ được hình thành
và trở thành hệ thống có quy tắc và khoa học, dễ viết, dễ phát âm, dễ học. Nhìn
chung, sự hình thành Quốc ngữ không phải do công sức cá nhân của một giáo sĩ,
mà là công sức tập thể của nhiều giáo sĩ thuộc nhiều nước khác nhau, nhiều thế
hệ khác nhau, đã đến truyền đạo tại Việt Nam. Và trong đó còn có sự đóng góp
trực tiếp nhưng âm thầm của rất nhiều giáo sĩ Việt Nam và đồng bào giáo dân lúc
bấy giờ.
Chữ Quốc ngữ tuy ra đời từ thế kỉ 17 (1651) ở
Việt Nam nhờ công lao tâm trí của các Tu sĩ truyền giáo, nhưng
bị giới hạn chỉ dùng để giúp các Cha giảng, truyền đạo. Vì lúc ấy triều đình
phong kiến Việt Nam, đàng Trong lẫn đàng Ngoài với chính sách cấm đạo, và giết
hại Giáo sĩ nên chữ Quốc ngữ đã không thể phát triển, truyền bá rộng rãi.NGHE
& Down load (AUDIO BOOK THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM)
Quá trình hình thành và phát triển của chữ Quốc ngữ được hoàn chỉnh có
thể chia làm 3 giai đoạn sau:
(Trích đoạn trong sách Lịch Sử Chữ Quốc Ngữ - Nghiên cứu của linh mục Ðỗ
Quang Chính, do nhà sách Ra Khơi xuất bản tại Sài gòn năm 1972).
Giai Ðoạn Sơ Khởi
(1620-1626):
Các nhà truyền giáo Âu Châu đã đến Hà Tiên và
Thừa Thiên từ giữa thế kỷ 16. Nhưng mãi sang đến đầu thế kỷ 17 những hoạt động
truyền giáo này mới được ghi lại khá đầy đủ. Khởi đầu, các nhà truyền giáo đã
đến Hội An để giúp đỡ các giáo hữu người Nhật. Hội An (Hội Phố) thời ấy là một
cảng buôn bán sầm uất, với những phố riêng cho người Nhật và người Hoa.
Theo sách cũ, người Âu Châu đầu tiên thạo
tiếng Việt là linh mục Francisco de Pina, người Bồ Ðào Nha (Portugal) (3) . Năm
1620, với sự công tác của người bản xứ, các tu sĩ Dòng Tên (Jésuite) tại Hội An
đã soạn thảo một sách giáo lý bằng chữ Nôm. Từ năm 1621 trở đi, các nhà truyền
giáo đã bắt đầu chuyển qua mẫu tự abc những địa danh, tên tộc, và từ-ngữ Việt
trong những bản tường trình cho giáo hội về hoạt động của họ.
Dựa vào những tài-liệu viết tay còn được lưu
trữ, trong giai-đoạn sơ khai của chữ Quốc Ngữ, các chữ thường được viết liền và
không có đánh dấu. Thí dụ:
- scin mocaij = xin một cái
- Tuijciam, Biet = Tôi chẳng biết
Giai Ðoạn Hai (1631-1648)
Những tài-liệu viết tay trong giai-đoạn này,
đặc biệt là của linh mục d’Amaral, cho thấy chiều hướng mới trong cách viết chữ
Quốc Ngữ. Các chữ được viết cách ra và đã được bỏ dấu. Nhiều chữ được viết như
ta hằng thấy ngày nay. Thí dụ như:
Nhiều chữ nhìn tương tự nhưng có lối đánh vần
và bỏ dấu hơi khác
Ngoài những bản tường trình, giai đoạn này còn
có ba tài-liệu quan-trọng khác. Một là biên-bản hội-nghị năm 1645 của 35 linh
mục Dòng Tên tại Macao để xác nhận mô thức rửa tội bằng tiếng Việt Nam (4) .
Hai là cuốn tự-điển Việt-Bồ-La của linh mục Gaspar d’Amaral (Diccionário
anamita-português-latim). Ba là cuốn tự-điển Bồ-Việt (Diccionário
português-anamita) của linh mục Antonio Barbosa (5) .
Ðến năm 1972, biên bản cuộc hội nghị được lưu
trữ tại Văn Khố Dòng Tên tại La Mã (6) . Còn hai cuốn tự-điển kia, lúc đầu được
tàng trữ tại Văn Khố Dòng Tên tỉnh Nhật Bản tại Macao, đã mất tích sau các cuộc
di chuyển của văn khố này từ Macao qua Manila (Phi Luật Tân), từ Manila qua
Madrid (Tây Ban Nha). Sở dĩ chúng ta còn biết đến hai cuốn tự-điển này là vì
chính Ðắc Lộ, trong lời tựa của cuốn tự-điển mà ông xuất-bản năm 1651, đã viết
rõ là ông đã dùng hai cuốn tự-điển trên để soạn-thảo cuốn tự-điển của mình.
Giai Ðoạn Ba (1649-1651):
Giai đoạn này được đánh dấu bằng sự thống nhất
cách viết chữ Quốc Ngữ và việc ấn hành hai cuốn sách quốc ngữ đầu tiên của Ðắc
Lộ (7) . Hai cuốn ấy là:
· Dictionarivm annamiticvm, lvsitanvm, et
latinvm, ope Sacrae Congregationis de Propaganda Fide in lvcem editvm. Ab
Alexandro de Rhodes è Societate Iesv, ejusdemque Sacrae Congregationis
Missionario Apostolico, Roma, 1651, in-4°
· Cathechismvs pro iis, qui volunt suscipere
Baptismvm, in Octo dies diuisus. Phép giảng tám ngày cho kẻ muấn chiụ phép rứa
tọi, ma /beào (8) đạo thánh đức Chúa blời. Ope Sacrae Congregationis de
Propaganda Fide in lucem editus. Ab Alexandro de Rhodes è Societate Iesv, ejusdemque
Sacrae Congregationis Missionario Apostolico, Roma, 1651, in-4° . (Hết phần trích dẫn)
Toàn Quyền
Đông Dương Martial Merlin (Bên phải hình)
Mãi cho đến ngày 18 tháng 9 năm 1924 (Giai đoạn Pháp thuộc), toàn quyền
Đông Dương Martial Merlin (1923-1925) đã ký quyết định chính thức cho dạy chữ
Quốc Ngữ ở ba năm đầu cấp tiểu học, được phổ biến rộng rãi toàn quốc. Sự ra đời
và truyền bá chữ Quốc ngữ mọi nơi, trong các trường học, đã giúp cho người Việt
Nam, dễ dàng học hỏi, nghiên cứu khi tiếp xúc với văn hoá phương Tây qua sách
báo, nâng cao nhận thức, dân trí phát triển cao hơn và nhanh hơn so với các
nước trong vùng.
Cũng nhờ
từ đấy, người Việt, tiếng Việt đã thật sự hoàn toàn thoát được ảnh hưởng chính
sách Hán hóa của Trung Hoa đã đô hộ nước ta trong suốt gần 1000 năm.
Học sinh
trường Công giáo tỉnh Nam Định
Tinh thần sĩ phu (Nho
giáo) xưa, ít nhiều bị lệ thuộc chẳng những Nho giáo mà cả văn hóa Trung
Hoa. Việc bãi bỏ Nho học và thay đổi chữ viết từ chữ Nho (chữ Hán ) sang
Quốc ngữ, đã giúp Việt Nam chấm dứt vĩnh viễn giai đoạn lệ thuộc chữ Hán và văn
hóa Trung Hoa.
Vì đắm chìm lâu đời
trong văn hóa Trung Hoa, nên có người lầm tưởng rằng văn hóa Trung Hoa là văn
hóa dân tộc, và những anh hùng, liệt nữ Trung Hoa là khuôn vàng thước ngọc cho
văn hóa Việt, lịch sử Việt. Các tác giả chữ Nho xưa thường dùng điển tích về
những vua quan, anh hùng, thần thánh, phong tục, tập quán của Trung Hoa để làm
mẫu mực cho người Việt.
Nhưng từ khi có chữ
Quốc ngữ, dân tộc Việt Nam thoát ra khỏi văn hóa Trung Hoa, nhiều người mới có
cơ hội tìm thấy lại cội nguồn, trở lại bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam. Từ
đấy, nền văn hóa dân tộc càng ngày càng được đề cao trong nền văn học
Quốc ngữ, trong Sử sách giáo khoa: Hai Bà Trưng, Triệu Nữ Vương, Ngô Quyền,
Trần Hưng Đạo, Trần Bình Trọng, Lê Lợi, Quang Trung mới là những anh hùng đích
thực, những tấm gương sáng trong lịch sử của người Việt Nam.
Nhưng bất hạnh thay
cho đất nước Việt Nam ngày hôm nay, (Hiểm Họa Mất Nước) mà mọi người Việt Nam
khắp nơi đang phải lên tiếng báo động khi nhìn thấy cầm quyền cộng sản Việt nam
đã và đang đưa dân tộc ta trở về vòng u tối của lịch sử. Nhiều lễ hội trang trí
với hình thức, màu sắc nặng tính chất Trung Hoa, những phim ảnh Trung Hoa 24/24
giờ tràn ngập trên truyền hình, lập "viện nghiên cứu Khổng Tử", mưu
tính để chính thức đưa chương trình tiếng Hoa (Hán ngữ) vào trường phổ thông
toàn quốc nhằm mục đích Hán hóa người Việt trong nước hiện nay cùng với nhiều
hình thức khác. Song song là việc "Bộ giáo dục" cho xuất bản, in ấn
trên "Sách Giáo Khoa Lịch Sử" với những hình ảnh bôi bác, bất
kính, miệt thị, xúc phạm các bậc tiền nhân,tổ tiên của dân tộc Việt. Và còn
nhiều chuyện đã xảy xa mới đây trong chủ trương Hán hóa, mà những ai đang quan
tâm đến vận mệnh đất nước đều biết rõ.
Hai Bà
Trưng dâng rượu chuộc tội với Mã Viện
(Buổi lên
đồng của đoàn văn công Việt nam biểu diễn tại Quảng Tây, Trung quốc)
Trường
dạy Quốc Ngữ đầu tiên ở Việt Nam
Trường Trung học Adran (Collège d'Adran) (3) Là trường dạy Quốc Ngữ đầu tiên ở Việt Nam được các linh mục mở
ở Sài gòn từ năm 1861 - 1887.
Trường ADRAN Sài Gòn, đến năm 1954 được chia
thành 2 Trường Trung Học : Trung học Võ Trường Toản và Trung học Trưng Vương.
Hình một
lớp học trong buổi thực nghiệm ngoài trời.
Chấm
dứt thời kỳ của nền giáo dục chữ Hán, chữ Nôm: Lối học từ chương.
Một
lớp học trong giờ Địa lý.
Hình Thầy
đồ và các học sinh ngày xưa.
Quang cảnh
trường thi Nam Định khoa thi năm Nhâm Tý (1912)
Giấy Khai
Sinh năm 1938 còn sử dụng 4 ngôn ngữ (Hán, Nôm, Quốc ngữ và Pháp)
Gia Định
Báo in chữ Quốc ngữ lần đầu tiên phát hành tại Sài Gòn, ngày 15/4/1865.
Trương Vĩnh
Ký - Pétrus Ký (1837-1898)
Khi nói đến chữ Quốc ngữ, và Báo Chí Việt Nam
thì cũng không thể quên công lao của Ông Trương Vĩnh Ký, ông là người đầu tiên
sáng lập,khai sinh nền Báo Chí Quốc ngữ của Việt Nam, ông là Tổng biên tập tờ
Gia Định Báo in chữ Quốc ngữ đầu tiên:
Ông Pétrus - Trương Vĩnh Ký đã viết một bài
khuyến khích việc học chữ Quốc ngữ, trong đó có đoạn như sau:
“…Thầy Ký
dạy học có làm sách mẹo (văn phạm) dạy tiếng Lang Sa (Pháp), có làm ra chữ Quốc
ngữ (sic) để người ta dễ học. Những người ký lục (thư ký) giỏi cùng siêng năng
sẽ lo mà học chữ quốc ngữ vì có hai mươi bốn chữ và viết đặng muôn ngàn chuyện,
chữ chi mắc rẻ (khó dễ) cũng viết đặng, không phải như chữ Tàu học già đời mà
còn có chữ lạ viết không ra, ở đây có Phủ Tường (Tôn Thọ Tường) đã học đặng chữ
Quốc ngữ, viết đặng, đọc đặng. Chữ ấy chẳng khó đâu, ra công học một đôi tháng
thì thuộc hết…”
Ông Trương Vĩnh Ký là một nhà văn, nhà ngôn
ngữ học, nhà giáo dục, và chuyên khảo cứu văn hóa tiêu biểu của Việt Nam.Với
tri thức uyên bác, am tường và nhiều cống hiến lớn trên nhiều lĩnh vực văn hóa
cổ kim Đông Tây, nên ông được: - Tấn phong
Giáo sư Viện sĩ Pháp.- Được nêu tên trong Bách khoa Tự điển Larousse http://www.larousse.fr/archives/pages/recherche.aspx?keyword=Truong%20Vinh%20Ky,
- Đứng vào vị trí " Toàn Cầu Bác Học
Thập Bát Quân Tử" tức là một trong 18 nhà bác học hàng
đầu thế giới trong thế kỷ 19.- Đứng vào hàng
những người biết nhiều ngoại ngữ bậc nhất trên thế giới, ông viết và
đọc thông thạo 27 ngoại ngữ, một nhà thông thái biết nhiều thứ tiếng nhất ở
Việt Nam... (4) Ông đã để
lại cho kho tàng Văn học Việt Nam hơn 100 tác phẩm về văn học, lịch sử, địa lý,
từ điển và dịch thuật...Nhưng ngay sau tháng 4 năm 1975, khi cộng sản cưỡng
chiếm miền Nam, nhiều sách của ông đã bị cộng sản tiêu hủy trong chiến dịch
"Bài Trừ Văn Hóa Đồi Trụy, Phản Động", trường trung học Trương Vĩnh
Ký bị đổi tên là Lê Hồng Phong, và tượng đài vinh danh ông đặt cạnh Nhà Thờ Đức
Bà - Sài Gòn bị cộng sản phá hủy.
.jpg)
Tượng đài
lịch sử, vinh danh ông Trương Vĩnh Ký cạnh Nhà Thờ Đức Bà trước 1975.
Mãi đến
thời gian gần đây, phần tượng lịch sử còn
lại của ông được đem ra triển lãm "mỹ
thuật" trong Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp HCM.
Các nhà khoa bảng, trí thức, cách mạng như
Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng, kết hợp với
nhiều nhà trí thức cấp tiến thời đó, khởi xướng ra các phong trào Duy Tân, Đông
Du nhằm vận động cải cách văn hóa, chính trị trên toàn quốc, kêu gọi bãi bỏ Nho
(Hán) học, kêu gọi việc học Quốc ngữ để nâng cao dân trí, với lý do đơn giản:
Quốc ngữ dễ học, dễ viết, dễ phổ cập hơn chữ Nho (Hán). Các ông đã vận động mở
trường dạy quốc ngữ khắp nước, rầm rộ nhất là ở Quảng Nam (1905), Bình Thuận
(Trường Dục Thanh, 1907) và Hà Nội (Đông Kinh Nghĩa Thục,1907). Trong một bài
thơ khuyến khích việc học quốc ngữ của Đông Kinh Nghĩa Thục, có đoạn viết:“… Chữ quốc ngữ là hồn trong nước, Phải đem ra tỉnh
trước dân ta, Sách các nước, sách Chi-na, Chữ nào nghĩa ấy, dịch ra cho tường…”
Các sĩ phu
của Trường Đông Kinh Nghĩa Thục.
Khi phong trào Duy Tân, và Đông Kinh
Nghĩa Thục ngày càng lớn mạnh, khiến cầm quyền thuộc địa Pháp lo ngại tinh thần
yêu nước và chống thực dân Pháp của đồng bào Việt Nam. Việt Nam Vong Quốc Sử
của nhà ái quốc Phan Bội Châu xuất hiện lúc bấy giờ là một trong những tiếng
chuông thức tỉnh tinh thần dân tộc. Làn sóng yêu nước nổi lên khắp nơi, làm
thực dân Pháp phải lo sợ, nên đã ngưng trợ cấp và đóng cửa một số trường.
Bài mở đầu
sách Việt Nam vong quốc sử, Phan Bội Châu.
(Không
có gì đau bằng người mất nước, cũng không có gì đau bằng người bị mất nước mà
bàn việc nước! Tôi muốn viết đoạn sử mất nước này, nhưng đã bao phen lệ cạn
huyết khô, mà cơ hồ không viết nổi chữ nào...)
Chữ Quốc ngữ trong
giai đoạn này vẫn ngày càng phổ biến, đã giúp dân chúng dễ dàng học, hiểu biết
những sơ đẳng cần thiết trong đời sống, theo dõi sát các tin tức thời sự, các
chuyển biến thời cuộc chính trị trong nước và thế giới qua sách báo, truyền
đơn.Từ năm 1925 nhiều đảng phái chống Pháp được thành lập, truyền đơn, lời kêu
gọi, sáng tác thơ văn yêu nước… đều viết bằng chữ Quốc ngữ.

Nền văn học Việt Nam
vào năm 1933 chuyển biến mạnh, xuất hiện một thể loại Văn mới, là Văn xuôi viết
bằng chữ Quốc ngữ do ông Nguyễn Tường Tam, bút hiệu Nhất Linh và nhóm văn sĩ
thành lập lấy tên: Tự Lực Văn Đoàn, với 10 năm sáng tác và hoạt động báo chí,
khai sinh nên dòng văn học lãng mạn Việt Nam. Nổi trôi trong những diễn biến
lịch sử bất lợi, khó khăn của thời cuộc đất nước lúc bấy giờ, nhưng nhóm Tự Lực
Văn Đoàn đã cống hiến nhiều vào sự phát triển Văn Học của Việt Nam trong giai
đoạn đầu thế kỷ 20. Toàn bộ những tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn vẫn được lưu
truyền tự do và được đưa vào trong giáo trình giảng dạy Văn học tại các trường
Trung học miền Nam sau 1954 mãi cho tới 1975.
Lớp học Mẫu
giáo trong giờ Tập Viết, giáo dục miền Nam trước 1975
Trước năm 1975, ở miền Nam hầu như không có
tranh cãi gì nhiều về tiếng Việt, chữ Việt, ngoại trừ một vài tranh cãi nhỏ về
chữ I và Y , Lí do hay Lý do, quý vị hay quí vị …) hoặc có G hay không có G
(sáng lạng hay xán lạn). Học sinh miền Nam khi học lên đến lớp 5 (Tiểu học),
lớp 6 (Trung học) mà còn viết sai lỗi chính tả là một điều không thể chấp nhận
được.
Nhưng từ khi Việt cộng cưỡng chiếm được miền
Nam, thì Tiếng Việt, Chữ Việt đã bị Việt cộng thay đổi rất nhiều, và đôi
lúc trở nên thứ ngôn ngữ quái thai. Thực ra thì chữ Việt đã được thay đổi từ
lâu, ngay từ 1945 khi cộng sản còn ẩn núp dưới hai chữ Việt Minh đã dùng bạo
lực,súng đạn để cưỡng đoạt, cướp đoạt chính quyền hợp pháp của chính phủ Trần
Trọng Kim.
Không phải trong chế độ cộng sản Việt Nam
không có người khá, người giỏi. Nhưng hầu hết những người này lại chẳng có
quyền hạn gì, trong khi đó thì hầu hết bọn lãnh đạo lại ngu dốt, độc tài, ngoan
cố, bạo lực nên chúng muốn nói ngang nói ngược, người dân ai cũng phải nghe
theo, chẳng ai dại gì mà lên tiếng, phê phán hay cải sửa để bị chụp mũ là phản
động và bị bỏ tù cải tạo, mang hoạ vào thân.
Để tạm kết thúc cho bài viết này, chúng ta
hãy cùng nhau nhìn lại nền Văn hóa Vẹm, ngôn ngữ Vẹm ngày nay đang tiến bao xa,
qua những hình dẫn chứng dưới đây:
Nhành Dẻ (Hình trích từ Sách Giáo
Khoa)
(Cấm Lái Xe ......Cài Quai)
Đèn Đỏ Được Đi Thẳng !!! ???
(XE THÔ SƠ)
(... NẤU
BÁNH CHƯNG , GIÃ BÁNH DÀY )
(Làng Văn Hóa Xóm ... ! ! )
(Thường Xẩy ra tai nạn)
(Xử Lý...)
(LÃNG PHÍ)
(BÁN HÀNG RONG...)
(Thích Quảng Đức)
(Nóng Lòng chờ hỗ trợ)
(Sông Sâu Chớ Lội)
(Tấm Gương...)
HCM chưa
bao giờ là Danh nhân Văn Hóa Thế Giới như VC tuyên truyền
Thay vì in là DANH NHÂN để tuyên truyền lừa gạt, thì VC in sai là DOANH NHÂN.
Tóm lại, ngôn ngữ (tiếng nói và chữ viết) là
phương cách để con người giao tiếp, thông tin với nhau, hoặc diễn đạt tư tưởng
của mình cho người khác biết. Ngôn ngữ cũng là một phần của văn hoá, là linh
hồn của một dân tộc. Trải qua thời gian và không gian, ngôn ngữ không ít, nhiều
đã phải thay đổi để cho phù hợp với nhu cầu, hoàn cảnh và đà tiến hoá của xã
hội.
Những tác phẩm văn học, thơ ca, những bài hát, tranh tượng, hình ảnh nghệ
thuật, của miền Nam trước 1975