thuật ngữ Logistics

120 views
Skip to first unread message

Phiêu Dao

unread,
Apr 7, 2010, 10:11:20 AM4/7/10
to LOVAKA
Cách đây vài thế kỷ, thuật ngữ Logistics được sử dụng trong quân đội
và được hoàng đế Napoléon nhắc đến trong câu nói nổi tiếng "Kẻ nghiệp
dư bàn về chiến thuật, người chuyên nghiệp bàn về logistics".

Ngày nay, thuật ngữ logistics được sử dụng trong lĩnh vực kinh tế như
một ngành mang lại nhiều nguồn lợi to lớn. Theo Luật Thương mại Việt
Nam, logistics là một hoạt động thương mại do các thương nhân tổ chức
thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu
kho bãi, làm thủ tục hải quan và các loại giấy tờ, tư vấn khách hàng,
đóng gói, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa để
hưởng phí thù lao. Hoặc hiểu một cách đơn giản, logistics là việc thực
hiện và kiểm soát toàn bộ hàng hóa cùng những thông tin có liên quan
từ nơi hình thành nên hàng hóa cho đến điểm tiêu thụ cuối cùng.

Ngành đem lại nguồn lợi khổng lồ

Logistics là một hoạt động tổng hợp mang tính dây chuyền, hiệu quả của
quá trình này có tầm quan trọng quyết định đến tính cạnh tranh của
ngành công nghiệp và thương mại mỗi quốc gia. Đối với những nước phát
triển như Nhật và Mỹ logistics đóng góp khoảng 10% GDP. Đối với những
nước kém phát triển thì tỷ lệ này có thể hơn 30%. Sự phát triển dịch
vụ logistics có ý nghĩa đảm bảo cho việc vận hành sản xuất, kinh doanh
các dịch vụ khác được đảm bảo về thời gian và chất lượng. Logistics
phát triển tốt sẽ mang lại khả năng tiết giảm chi phí, nâng cao chất
lượng sản phẩm dịch vụ.

Dịch vụ logistics ở Việt Nam chiếm khoảng từ 15-20% GDP. Ước tính GDP
nước ta năm 2006 khoảng 57,5 tỷ USD. Như vậy, chi phí logistics chiếm
khoảng 8,6-11,1 tỷ USD. Đây là một khoản tiền rất lớn. Nếu chỉ tính
riêng khâu quan trọng nhất trong logistics là vận tải, chiếm từ 40-60%
chi phí thì cũng đã là một thị trường dịch vụ khổng lồ.

Thực tế logistics ở Việt Nam

Quy mô doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics nhỏ, kinh doanh manh
mún. Nguồn lợi hàng tỷ đô này lại đang chảy vào túi các nhà đầu tư
nước ngoài. Các DN Việt Nam mới chỉ có một phần rất nhỏ trong miếng
bánh khổng lồ và đang ngày càng phình to của thị trường dịch vụ
logistics. Theo tính toán mới nhất của Cục Hàng hải Việt Nam, lĩnh vực
quan trọng nhất trong logistics là vận tải biển thì DN trong nước mới
chỉ đáp ứng chuyên chở được 18% tổng lượng hàng hóa xuất nhập khẩu,
phần còn lại đang bị chi phối bởi các DN nước ngoài. Điều này thựcsự
là một thua thiệt lớn cho DN Việt Nam khi có đến 90% hàng hóa xuất
nhập khẩu được vận chuyển bằng đường biển. Năm 2006 lượng hàng qua các
cảng biển Việt Nam là 153 triệu tấn và tốc độ tăng trưởng lên đến
19,4%. Đây thực sự một thị trường mơ ước mà các tập đoàn nước ngoài
đang thèm muốn và tập trung khai phá.

Hiện tại, trên cả nước có khoảng 800-900 doanh nghiệp kinh doanh trong
lĩnh vực logistics. Trong đó, VIFFAS có 97 hội viên (77 hội viên chính
thức và 20 hội viên liên kết). Thời gian hoạt động trung bình của các
doanh nghiệp là 5 năm với vốn đăng ký trung bình khoảng 1,5 tỷ đồng/
doanh nghiệp. Tuy nhiên, các doanh nghiệp logistics tại Việt Nam hiện
chỉ đáp ứng được 1/4 nhu cầu thị trường logistics, và mới chỉ dừng lại
ở việc cung cấp dịch vụ cho một số công đoạn của chuỗi dịch vụ khổng
lồ này. Ngành công nghiệp logistics của Việt Nam hiện vẫn đang ở thời
kỳ phôi thai, phần lớn của hệ thống logistics chưa được thực hiện ở
một cách thức thống nhất.

Hiện nay hạ tầng cơ sở logistics tại VN nói chung còn nghèo nàn, qui
mô nhỏ, bố trí bất hợp lý. Hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông của VN
bao gồm trên 17.000 km đường nhựa, hơn 3.200 km đường sắt, 42.000 km
đường thuỷ, 266 cảng biển và 20 sân bay. Tuy nhiên chất lượng của hệ
thống này là không đồng đều, có những chỗ chưa đảm bảo về mặt kỹ
thuật. Hiện tại, chỉ có khoảng 20 cảng biển có thể tham gia việc vận
tải hàng hoá quốc tế, các cảng đang trong quá trình container hóa
nhưng chỉ có thể tiếp nhận các đội tàu nhỏ và chưa dược trang bị các
thiết bị xếp dỡ container hiện đại, còn thiếu kinh nghiệm trong điều
hành xếp dỡ container.

Đường hàng không hiện nay cũng không đủ phương tiện chở hàng (máy bay)
cho việc vận chuyển vào mùa cao điểm. Chỉ có sân bay Tân Sơn Nhất là
đón được các máy bay chở hàng quốc tế. Các sân bay quốc tế như TSN,
Nội Bài, Đà nẳng vẫn chưa có nhà ga hàng hóa, khu vực họat động cho
đại lý logistics thực hiện gom hàng và khai quan như các nước trong
khu vực đang làm. Khả năng bảo trì và phát triển đường bộ còn thấp,
dường không dược thiết kế để vận chuyển container, các đội xe tải
chuyên dùng hiện đang cũ kỹ, năng lực vận tải đường sắt không đựơc vận
dụng hiệu quả do chưa được hiện đại hóa. Theo số liệu của Tổng cục
Thống kê, lượng hàng hoá vận chuyển đường sắt chiếm khoảng 15% tổng
lượng hàng hoá lưu thông. Tuy nhiên, đường sắt VN vẫn đang đồng thời
sử dụng 2 loại khổ ray khác nhau (1.000 và 1.435 mm) với tải trọng
thấp. Chuyến tàu nhanh nhất chạy tuyến Hà Nội - TP Hồ Chí Minh (1.630
km) hiện vẫn cần đến 32 tiếng đồng hồ. Và khá nhiều tuyến đường liên
tỉnh, liên huyện đang ở tình trạng xuống cấp nghiêm trọng.

Cơ hội lớn

Theo dự báo, trong tương lai không xa, dịch vụ giao nhận kho vận
(logistics) sẽ trở thành một ngành kinh tế quan trọng tại Việt Nam,
đóng góp tới 15% GDP cả nước. Đặc biệt, trong 10 năm tới, khi kim
ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam có thể đạt mức 200 tỉ USD/năm thì
nhu cầu sử dụng dịch vụ logistics lại càng lớn. Dự báo, đến năm 2010,
hàng container qua cảng biển Việt Nam sẽ đạt từ 3,6-4,2 triệu TEU. Con
số này đến năm 2020 chắc chắn sẽ lên đến 7,7 triệu TEU.

Song hành cùng sự phát triển kinh tế là tăng trưởng trong hoạt động
xuất nhập khẩu, do đó, ngành logistics lại thêm nhiều cơ hội phát
triển. Theo dự báo của Bộ Thương Mại, trong 10 năm tới kim ngạch xuất
nhập khẩu của cả nước sẽ đạt tới 200 tỷ USD. Điều đó cho thấy tiềm
năng phát triển dịch vụ logistics Việt Nam còn khá lớn.

Những năm gần đây, vận tải biển VN đang có những bước phát triển vượt
đáng kể. Hiện 90% hàng hóa XNK được vận chuyển bằng đường biển. Đặc
biệt, lĩnh vực vận chuyển container luôn đạt tốc độ tăng trưởng 2 chữ
số trong những năm gần đây. Tuy vậy, điều này lại dẫn đến hệ luỵ là VN
đang rất cần các cảng nước sâu để có thể thoả mãn được nhu cầu xuất
nhập khẩu ngày càng tăng. Tổng khối lượng hàng qua các cảng biển VN
hiện nay vào khoảng 140 triệu tấn/năm (năm 2006: 153 triệu tấn), tốc
độ tăng trưởng hàng năm trong vòng 10 năm tới theo dự đoán là 20 -
25%. Hiện chính phủ VN và các nhà đầu tư quốc tế đang triển khai một
loạt dự án xây dựng các cụm cảng nước sâu như ở khu vực Cái Mép - Thị
Vải ở phía Nam cũng như Hải Phòng ở phía Bắc. Các dự án này đang phấn
đấu hoàn thành vào năm 2009.

Việc dịch chuyển cơ sở sản xuất của nhiều DN nước ngoài từ nơi khác
đến VN đã tạo ra cơ hội rất lớn trong việc xây dựng một mạng lưới giao
nhận kho vận hoạt động hiệu quả.

Khó khăn cũng không nhỏ

Hạn định 2009 mở cửa lĩnh vực logistic không còn xa. Theo cam kết gia
nhập WTO, Việt Nam sẽ cho phép các công ty dịch vụ hàng hải, logistics
100% vốn nước ngoài hoạt động bình đẳng tại Việt Nam. Điều này đặt DN
Việt Nam trước thách thức cạnh tranh gay gắt trên sân nhà. Áp lực cạnh
tranh rất lớn từ việc hội nhập quốc tế, sự lớn mạnh không ngừng của
thị trường cũng như những đòi hỏi ngày càng tăng từ phía khách hàng
cũng đang đặt ra những thách thức không nhỏ cho các DN logistic.

Một điều đáng buồn là các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics
trong nước tuy quy mô nhỏ, manh mún nhưng lại chưa biết liên kết lại,
mà kinh doanh theo kiểu chụp giật, cạnh tranh thiếu lành mạnh, thi
nhau hạ giá dịch vụ để giành được hợp đồng. Và chủ yếu là hạ giá thành
thuê container, điều này chỉ có các doanh nghiệp trong nước bị thiệt,
còn doanh nghiệp nước ngoài là những người chủ tàu sẽ đóng vai trò ngư
ông đắc lợi. Một thực tế khác là trong khi các doanh nghiệp của ta còn
đang mải “đá nhau” thì các tập đoàn hàng hải lớn trên thế giới như
APL, Mitsui OSK, Maerk Logistics, NYK Logistics..., những tập đoàn
hùng mạnh với khả năng cạnh tranh lớn, bề dày kinh nghiệm và nguồn tài
chính khổng lồ với hệ thống mạng lưới đại lý dày đặc, hệ thống kho
hàng chuyên dụng, dịch vụ khép kín trên toàn thế giới, mạng lưới thông
tin rộng khắp, trình độ tổ chức quản lý cao, đã và đang từng bước xâm
nhập, củng cố, chiếm lĩnh thị trường trong nước.

Ví dụ khi nhà máy Canon ở Quế Võ, Bắc Ninh chào dịch vụ logistics trọn
gói vận chuyển phân phối sản phẩm thì NYK Logistics, LOGITEM, MOL
Vietnam, Dragon Logistics đều tham gia đấu thầu. Cuối cùng doanh
nghiệp thắng là doanh nghiệp chào giá dưới giá thành ở công đoạn
chuyên chở bằng xe tải nặng và lấy giá vận tải biển bù lại. Như vậy,
các doanh nghiệp không có tàu biển chắc chắn phải chịu thua độc chiêu
này.

Bên cạnh đó, một trong những khó khăn không nhỏ cho ngành logistics
của Việt Nam là nguồn nhân lực đang thiếu một cách trầm trọng. Theo
ứơc tính của VIFFAS, nếu chỉ tính các nhân viên trong các công ty hội
viên (khỏang 140 ) thì tổng số khỏang 4000 người. Ðây là lực lượng
chuyên nghiệp, ngoài ra ước tính khỏang 4000-5000 người thực hiện bán
chuyên nghiệp. Nguồn nhân lực được đào tạo từ nhiều nguồn khác nhau.
Từ trước tới nay, các trường đại học, cao đẳng chuyên ngành ngoại
thương, hàng hải, giao thông vận tải cũng chỉ đào tạo chung các kiến
thức cơ bản về nghiệp vụ ngoại thương, vận tải. Sách giáo khoa, tài
liệu tham khảo về loại hình dịch vụ này cũng chưa nhiều. Ngay cả như
các chuyên gia được đào tạo chuyên nghiệp trong lĩnh vực này vẫn còn
quá ít so với yêu cầu phát triển.

Thay lời kết

Do đã phân tích ở trên, logistics không chỉ là ngành đem lại nguồn lợi
khổng lồ mà còn có vai trò to lớn, liên quan mật thiết tới sự cạnh
tranh sống còn của doanh nghiệp. Khái niệm logistics, theo ESCAP, là
quá trình tối ưu hóa về vị trí, lưu trữ và bao gồm cả vận chuyển các
tài nguyên - yếu tố đầu vào và đầu ra từ nhà cung cấp, nhà sản xuất,
nhà phân phối và đến tay người tiêu dùng cuối cùng thông qua hàng loạt
các hoạt động kinh tế.

Đối với nền kinh tế quốc dân, logistics đóng một vai trò quan trọng
không thể thiếu trong sản xuất, lưu thông, phân phối. Các nghiên cứu
gần đây cho thấy, chỉ riêng họat động logistics đã chiếm từ 10 đến 15%
GDP của hầu hết các nước tại Châu Âu, Bắc Mỹ và Châu á Thái Binh
Dương.Vì vậy nếu nâng cao hiệu quả họat động logistics sẽ góp phần
nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội của đất nước.

Đối với doanh nghiệp, logistics đóng vai trò to lớn trong việc giải
quyết bài tóan đầu vào và đầu ra một cách có hiệu quả. Logistics có
thể thay đổi nguồn tài nguyên đầu vào hoặc tối ưu hóa quá trình chu
chuyển nguyên vật liệu, hàng hóa, dịch vụ…logistics còn giúp giảm chi
phí, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.

Hiện đối với các DN VN, chi phí cho giao nhận kho vận còn chiếm tới
20% giá thành sản phẩm; trong khi tỷ lệ này ở các nước phát triển chỉ
vào khoảng 8 - 12%. Điều này làm giảm khả năng cạnh tranh của hàng hóa
của các doanh nghiệp Việt Nam so với các doanh nghiệp nước ngoài vốn
đã rất mạnh.

Phân phối giống như mạch máu của nền kinh tế. Nắm được hệ thống phân
phối chính là nắm được phần thắng trong tay. Và logistics là một mắt
xích quan trọng trong hệ thống phân phối ấy. Chính vì vậy ngành
logistics cần được quan tâm một cách thích đáng bởi thời hạn mở cửa
ngành logistics trong lộ trình gia nhập WTO đang đến gần, và thua ngay
trên sân nhà sẽ không chỉ dừng lại ở nguy cơ nữa mà có thể sẽ trở
thành sự thật.

Reply all
Reply to author
Forward
0 new messages