Những điển tích trong bản nhạc Hương Xưa của NS Cung TiếnNgười ơi, môt chiều nắng tơ vàng hiền hòa hồn có mơ xa.Ngươi ơi, đường xa lắm con đường về làng dìu mấy thuyền đò..
Còn đó tiếng tre êm ru.
Còn đó bóng đa hẹn hò.
Còn đó những đêm sao mờ hồn ta mênh mông nghe sáo vi vu.
Người ơi, còn nhớ mãi trưa nào thời nào vàng bướm bên ao.
Người ơi, còn nghe mãi tiếng ru êm êm buồn trong ca dao.
Còn đó tiếng khung quay tơ.
Còn đó con diều vật vờ.
Còn đó nói bao nhiêu lời thương yêu đến kiếp nào cho vừa.
Ôi, những đêm dài hồn vẫn mơ hoài một kiếp xa xôi.
Buồn sớm đưa chân cuộc đời.
Lời Ðường Thi nghe vẫn rền trong sương mưa.
Dù có bao giờ lắng men đợi chờ.
Tình Nhị Hồ vẫn yêu âm xưa.
Cung Nguyệt Cầm vẫn thương Cô-tô.
Nên hồn tôi vẫn nghe trong mơ tiếng đàn đợi chờ mơ hồ.
Vẫn thương muôn đời nàng Quỳnh Như thuở đó.
Ôi, những đêm dài hồn vẫn mơ hoài một giấc ai mơ.
Dù đã quên lời hẹn hò.
Thời Hoàng Kim xa quá chìm trong phôi pha.
Chờ đến bao giờ tái sinh cho người.
Ðời lập từ những đêm hoang sơ.
Thanh bình như bóng trưa đơn sơ.
Nay đời tan biến trong hư vô,
chết đầy từng mồ oán thù.
máu xương tơi bời nhiều mùa thu...
Người ơi, chiều nào có nắng vàng hiền hòa sưởi ấm nơi nơi.
Người ơi, chiều nào có thu về cho tôi nhặt lá thu rơỉ.
Tình có ghi lên đôi môi.
Sầu có phai nhòa cuộc đời.
Người có thương yêu loài người và yên vui sống cuộc sống vui.
Ðời êm như tiếng hát của lứa đôi.
Ðời êm như tiếng hát của lứa đôi...Trong bản nhạc “Hương Xưa” ở trên của nhạc sĩ Cung Tiến, có những câu như sau:
"Tình Nhị Hồ vẫn yêu âm xưa
Cung Nguyệt Cầm vẫn thương Cô-tô
Nên hồn tôi vẫn nghe trong mơ tiếng đàn đợi chờ mơ hồ
Vẫn thương muôn đời nàng Quỳnh Như thuở đó."
Nếu giải thích được những điển tích về Nhị Hồ, Nguyệt Cầm, Cô Tô, Quỳnh Như thì sẽ hiểu ngay được ý nghĩa mà NS Cung Tiến đã gói ghém trong bản nhạc.Đọc lại hết bản nhạc thì mình thấy bản nhạc muốn nói đến một mối tình trắc trở có thể vì chiến tranh, khắc khoải đợi chờ ngày hội tụ lại được với người yêu dấu.
Vì trắc trở nên khi nghĩ đến người yêu chỉ như là trong mơ.
Đầu bản nhạc, NS Cung Tiến đã vẽ lên một bức tranh quá đẹp, thật thơ mộng trong khung cảnh thanh bình của hai người yêu nhau.
Người ơi, môt chiều nắng tơ vàng hiền hòa hồn có mơ xa.
Ngươi ơi, đường xa lắm con đường về làng dìu mấy thuyền đò..
Còn đó tiếng tre êm ru.
Còn đó bóng đa hẹn hò.
Còn đó những đêm sao mờ hồn ta mênh mông nghe sáo vi vu.
Người ơi, còn nhớ mãi trưa nào thời nào vàng bướm bên ao.
Người ơi, còn nghe mãi tiếng ru êm êm buồn trong ca dao.
Còn đó tiếng khung quay tơ.
Còn đó con diều vật vờ.
Còn đó nói bao nhiêu lời thương yêu đến kiếp nào cho vừa.
Thế rồi đến lúc phải xa nhau và sống khắc khoải trong đợi chờ thì NS Cung Tiến đã ví sự mong muốn được sống với người yêu này như nàng Quỳnh Như trước đây đã mong được sống với người yêu là Phạm Thái.
Phạm Thái chống Tây Sơn mà Khái Hưng đã viết thành truyện tiểu thuyết “Tiêu Sơn tráng sĩ.”
Phạm Thái và Trương Quỳnh Như là một đôi trai tài gái sắc đã yêu nhau tha thiết nhưng không được sống cạnh nhau vì phụ thân của Quỳnh Như đã bắt nàng phải kết hôn với người khác.
Quỳnh Như đã tự vẫn và trước khi nàng có quyết định này thì nàng đã gặp Phạm Thái và hứa với chàng là kiếp sau sẽ lấy chàng.
Thế rồi khi chết đi nàng đã đầu thai vào người con gái khác và đã lấy Phạm Thái sau này.
Ôi, những đêm dài hồn vẫn mơ hoài một giấc ai mơ.
Dù đã quên lời hẹn hò.
Thời Hoàng Kim xa quá chìm trong phôi pha.
Chờ đến bao giờ tái sinh cho người.
Trở lại với 2 câu:
Tình Nhị Hồ vẫn yêu âm xưa
Cung Nguyệt Cầm vẫn thương Cô TôNhị là cây đàn nhị, loại đàn có 2 dây, âm thanh hơi giống vĩ cầm, Hồ còn gọi là Hồ Cầm , đàn 5 giây tượng của Ngủ Hành – Kim Mộc Thuỷ Thổ Hỏa , trổi lên Ngũ Âm – Thanh Thương Giốc Chủy Vũ , đàn làm bằng gổ ngô đồng nên tiếng trong và thanh - lệ luật đàn Cầm của người xưa rất là khắc khe.Nguyệt cầm là cây đàn nguyệt, là thứ đàn có thùng tròn (như mặt trăng).Tình Nhị Hồ vẫn yêu âm xưaCâu trên nói lên tâm trạng của Kim Trọng vẫn yêu Thuý Kiều tha thiết, dù rằng đã bị…Thuý Kiều gá nghĩa phu thê cho Thuý Vân!
Trong truyện Kiều thì Thuý Kiều là một giai nhân luân lạc vì số kiếp, ngoài tài văn chương thi phú nàng còn chơi đàn rất giỏi.… nhưng thường không là người tri kỷ quyết không đàn!Thuý Kiều có 2 người được Nguyễn Du miêu tả là tri kỷ : Kim Trọng và Từ Hải.
Đối với 2 người này Thuý Kiều có tâm tình khác biệt:
Với chàng Kim thì đây là mối tình đầu lưu luyến ngây thơ.
Với Từ Hải thì Kiều cảm ân nghĩa và khí thế độ lượng anh hùng.
Chàng Từ có thể là tri kỷ nhưng không thể nào là bạn tri âm cùng Kiều được, nếu so với Kim Trọng khi gặp lại Kiều sau 15 năm xa cách , chàng Kim vẫn xem Thuý Kiều như những …ngày xưa !
…tình xưa lai láng khôn hàn
thong dong lại hỏi tiếng đàn ngày xưa .
Câu “ Tình Nhị Hồ vẫn yêu âm xưa …”
là ám chỉ một chân tình tha thiết ấy!
Còn câu Cung Nguyệt Cầm vẫn thương Cô Tô là muốn nói đến chuyện tình Tây Thi với Phù Sai và Phạm Lãi.
Mặc dù sống trong Cô Tô thành với Phù Sai nhưng lúc nào Tây Thi cũng vẫn nhớ thương Phạm Lãi.
Vì Phù Sai mê sắc đẹp của Tây Thi và bỏ bê việc triều chính để rồi Câu Tiễn đã đem quân đánh chiếm được thành Cô Tô.
Sau khi Cô Tô Thành bị thất thủ thì Tây Thi gặp lại Phạm Lãi và cả hai cùng biệt tích để sống với nhau.
Hai câu vừa đối chữ mà lại vừa đối ý thật hay:Tình Nhị Hồ vẫn yêu âm xưa
Cung Nguyệt Cầm vẫn thương Cô TôHai chữ “yêu” và ‘thương” ngụ ý tình cảm giữa các nhân vật. tiếng đàn Nhị và Hồ Cầm đi với cung Nguyệt Cầm. Hơn nữa còn có một điểm tương đồng, đó là hai cuộc tình tay ba: Thúy Kiều với Từ Hải và Kim Trọng, Tây Thi với Phù Sai và Phạm Lãi.Thật đáng phục Cung Tiến ở tuổi 16 mà đã sáng tác một bản nhạc bán cổ điển thật hay, không những thế mà Cung Tiến còn dùng lời với các điển tích chứng tỏ sự uyên bác của Nhạc Sĩ.Thế rồi NS đã cho một kết cục thật vui khi được gặp lại cố nhân:Người ơi, chiều nào có nắng vàng hiền hòa sưởi ấm nơi nơi.
Người ơi, chiều nào có thu về cho tôi nhặt lá thu rơỉ.
Tình có ghi lên đôi môi.
Sầu có phai nhòa cuộc đời.
Người có thương yêu loài người và yên vui sống cuộc sống vui.
Ðời êm như tiếng hát của lứa đôi.
Ðời êm như tiếng hát của lứa đôi...Đoạn kết giống như Trương Quỳnh Như gặp lại Phạm Thái, Thúy Kiều gặp lại Kim Trọng, Tây Thi gặp lại Phạm Lãi.Sau khi đã đọc qua để biết thêm về lời của bản nhạc, hãy nghe lại bản “Hương Xưa” một lần nữa để thưởng thức những cái hay về các điển tích của bản nhạc.Nguyễn Thanh ThủyChuyện tình Phạm Thái - Trương Quỳnh Như
Phạm Thái (1777-1813) là một danh sĩ vào cuối thế kỷ 17, đầu thế kỷ 18, còn có tên là Phạm Đan Phượng (hay Phạm Phượng Sinh, Phạm Phụng), quê gốc ở Từ Sơn, Bắc Ninh (Gia Lâm, Hà Nội ngày nay). Năm 20 tuổi, chàng trai trẻ cùng Trương Quang Ngọc (Phổ Tỉnh thiền sư) và Nguyễn Đoàn tổ chức phong trào ‘phục Lê’, nhưng thất bại, bị truy nã, chàng phải trốn vào tu ở chùa Tiêu Sơn (Bắc Ninh) và có đạo hiệu là Phổ Chiếu thiền sư (hay Chiêu Lì). Vài năm sau, chàng được một vị quan ‘bảo lãnh’ đón về và rồi làm gia sư ở nhà một vị quan khác.
Ở đấy, chàng quen một người em gái của bạn mình, nàng tên là Trương Quỳnh Như – một nữ sĩ có tài sắc vẹn toàn. Thế là chàng và nàng bị ‘sa lưới tình’, cùng thư từ qua lại và hẹn hò yêu đương. Cha của nàng đồng ý, nhưng mẹ của nàng không đồng ý. Rồi trong khi chàng về quê để tìm người mai mối thì một chàng công tử nhà giàu là Trịnh Nhị đến đòi lấy nàng. Bị ép gả, nàng tự tử, còn chàng đi lang thang làm thơ văn thất tình rồi mất năm 36 tuổi, tại Thanh Hóa.
Vài nét về truyện ‘Sơ kính tân trang’:
‘Sơ’ là cái lược, ‘kính’ là cái gương, còn cổ trang hay ‘tân trang’ thì biết rồi, có thể hiểu nôm na đây là ‘Truyện gương-lược’ vậy.
Bản trường thi này (chữ quốc ngữ, 1.482 câu) được Nhà xuất bản Nam Kỳ in năm 1932, rồi Nhà xuất bản văn hóa in năm 1960, rồi Nhà xuất bản giáo dục in năm 1990 (do GS Hoàng Hữu Yên giới thiệu và chú thích)… Ngoài ra, theo wikipedia thì Phạm Thái viết bản ‘Sơ kính tân trang’ vào năm 21 tuổi, nhưng chắc là chàng viết vào năm 25-26 tuổi (cuối đời vua Cảnh Thịnh), sau khi Trương Quỳnh Như chết.
Trong truyện này, chàng lấy tên là Phạm Kim, còn nàng vẫn tên là Trương Quỳnh Như.
Về phần đầu câu chuyện thì vẫn gần giống như ở đời thực của hai người (đã nói ở trên), nhưng phần sau rất hay.
*
Chuyện tình Phạm Kim - Trương Quỳnh Như:
Thuở ấy, có 2 gia đình là họ Phạm (ở Bắc Ninh) và họ Trương (ở Thái Bình) đã có ‘giao ước’ với nhau là nếu một bên sinh con trai, một bên sinh con gái thì sẽ cho lấy nhau và họ trao đổi một cái lược ngọc và một cái gương vàng để làm tin. Rồi chiến tranh loạn lạc xảy ra, hai bên thất lạc nhau.
Gia đình họ Phạm sinh con trai và đặt tên là Phạm Kim... Sau đó, cha của Phạm Kim tham gia phong trào ‘phục Lê’, bị thất bại, gia đình rơi vào cảnh nhà tan cửa nát. Phạm Kim buồn tình đi ngao du thiên hạ, khi đến khu thắng cảnh Thú Hoa Dương, chàng tình cờ quen biết nữ sĩ Trương Quỳnh Như.
Nguyên Phạm Kim là một danh sĩ tuấn tú và tài hoa cả về cầm, kỳ, thi tửu, và là một trang tuấn kiệt trong mộng dưới cặp mắt của mỹ nhân, còn Trương Quỳnh Như cũng là một nữ sĩ tài hoa và có vẻ đẹp ‘chim sa, cá lặn’ chả kém gì Vương Chiêu Quân hay Tây Thi.
Vì thế, Phạm Kim đã lọt vào mắt xanh của Quỳnh Như và đem lại cho nàng bao nhiêu nỗi tương tư sầu nhớ, ngược lại Phạm Kim cũng bị đôi mắt hồ thu của Quỳnh Như hút hồn mà sa lưới tình. Thế là chàng trai đã bỏ ‘giang san’ để chọn mỹ nhân, hai người tự nguyện đến với nhau và bí mật yêu đương luyến ái.
Rồi có một ngày, trong khi chàng bận việc phải về quê thì có một vị Đô đốc đầy giàu sang quyền thế đến hỏi cưới Quỳnh Như, gia đình nàng buộc phải đồng ý.
Biết mình không thể thoát khỏi cuộc ép hôn này, Trương Quỳnh Như có viết thư hẹn gặp riêng Phạm Kim để nói lời ‘vĩnh biệt’. Hai người thề nguyền rằng sẽ lấy nhau vào kiếp sau, trong đó nàng viết hai chữ ‘Quỳnh Nương’ vào tay để làm tin, rồi mới về nhà tự tử. Sau đó, chàng thất tình và chán đời, đi tìm cõi hư vô nơi cửa Phật.
…Rồi bỗng nhiên tại một nơi khác trên trần thế, vợ lẽ của Trương công (mà có 'giao ước' với Phạm công ngày xưa) lại sinh ra một quý nữ là Thụy Châu.
Lớn lên, nàng rất có nhan sắc, tính tình rất cởi mở và thích giao du kết bạn. Nhân lúc triều đình có lệnh tuyển cung nữ, nàng bèn cải trang thành một đạo sĩ và đi ngao du đây đó.
Trên đường ghé vào ngôi chùa nọ, nàng gặp nhà sư Phạm Kim, họ cùng xướng họa thơ văn rất tâm đầu ý hợp. Sau khi đạo sĩ này ra về, chàng có cảm giác ‘y’ là nữ nên sinh lòng vọng tưởng và không chăm lo đến việc tu hành nữa, rồi chàng đến gặp Trương công và được ông nhận làm gia sư.
Một đêm nọ, chàng cảm thấy buồn bã, đau thương, sầu nhớ, bèn đem đàn ra đánh, không ngờ chàng nhận được một tiếng đàn họa lại cũng chứa chan tình cảm và đầy nữ tính, thế là Phạm Kim và nàng ‘đạo sĩ’ nhận ra nhau.
Sau khi tìm hiểu xuất thân của hai bên, một người lấy cái gương vàng ra, còn một người lấy cái lược ngọc ra, quả là trùng hợp với lời ‘giao ước’ của hai họ Phạm-Trương ngày xưa! Vì thế, Trương công đồng ý cho hai người lấy nhau.
Mặc dù đã có vợ là Thụy Châu nhưng chàng vẫn luôn nhớ và ngoại tình tư tưởng với nàng Trương Quỳnh Như. Bị vợ gặn hỏi, chàng mới kể hết sự thật, rồi khi nàng sè tay ra, trên đó có 2 chữ ‘Quỳnh Nương’. Lúc đó chàng mới biết Thụy Châu chính là nàng Trương Quỳnh Như đầu thai chuyển thế và tái hợp nhân duyên với chàng.
Tại sao chuyện tình Phạm Thái – Trương Quỳnh Như không được nhắc đến nhiều ngoài xã hội hiện nay? Tại vì họ yêu nhau vượt vòng lễ giáo? Tại vì Phạm Thái không theo nhà Tây Sơn? Tại vì họ không tôn thờ chủ nghĩa lạc quan?... Thì ngày nay chuyện ‘Khổng-Mạnh’ không còn tác dụng nữa!, thì thiếu gì bậc Nho gia không theo nhà Tây Sơn! (do tính ‘hoài cổ’ chẳng hạn), thì lạc quan quá suy ra ảo tưởng! Lịch sử đã sang trang rồi, quan trọng nhất, đây là thiên tình sử của Việt Nam, là văn hóa của Việt Nam, và cần phải làm cho thế giới biết.
‘Họ là những người muốn được yêu và muốn vượt khỏi vòng lễ giáo khắt khe của xã hội. Họ yêu nhau dẫu có sự ngăn cản của gia đình. Nhưng vì không thể lấy chữ Tình để thắng lướt niềm Hiếu đạo của kẻ làm con, lại càng không muốn phụ bạc với người yêu, tình yêu của họ đã đưa đến thảm cảnh xót xa. Họ là những nhà thơ, nhưng thi ca với họ không chỉ là phương tiện để ngâm ca suông trong thú giải sầu mà còn là chút Hương, chút Gió trao gởi tâm tình của mình cho người mình yêu. Họ đã sống, yêu và viết cho tình yêu. Họ cũng đã chết bởi tình yêu’.
Cảm thông về mối tình này, Bùi Giáng viết:
Thưa em rượu uống bây giờ
Là thiên cổ lụy còn trơ bên mình
Tài hoa tiếng vọng điêu linh
Phạm Đan Phượng chết theo Quỳnh Như sao.
Tình yêu của hai người đã không bị hạn chế bởi cái vòng luân lý (cổ điển) thời đó, và đặc biệt là đã vượt qua bức tường ‘Khổng-Mạnh’. Trương Quỳnh Như đã chết để mãi mãi ôm người tình trong quả tim mình và do đó nàng đã đạt được ‘khát vọng của tự do’, không những thế, cái chết của nàng cũng như mối tình của hai người đã và đang làm rung động bao quả tim của hậu thế. Và tình yêu không hẳn là được sống bao nhiêu năm, không hẳn là được luôn nằm trong vòng tay của người tình, mà tình yêu là… khát vọng được yêu rực cháy trong trái tim ta không bao giờ tắt!
Mối tình tay 3 nổi tiếng thời Xuân Thu
Phù Sai – Tây Thi – Phạm Lãi
Tô Châu không cách Hàng Châu bao xa, nằm trong đồng bằng hạ lưu sông Trường Giang, thuộc tỉnh Giang Tô. Tô Châu cũng được xem là thiên đường hạ giới như Hàng Châu, đã là kinh đô của nhiều triều đại rất cổ, trong đó có nhà Ngô cách đây trên hai ngàn năm.
Thời Đông Chu liệt quốc có một nhà vua nước Ngô tên là Ngô Hạp Lư. Năm 484 trước công nguyên, Hạp Lư lấy Tô Châu làm kinh đô và xây một cái thành bao quanh Tô Châu, đặt tên là thành Cô Tô. Theo một tài liệu cũ thì thành Cô Tô dài 23,5km và có 16 cổng thành. Ngày nay thành Cô Tô không còn dấu tích gì nữa, chỉ còn hai cổng thành đã đổ nát.Tây Thi là thôn nữ giặt lụa bên sông Trữ La của nước Việt thời Xuân Thu, có nhan sắc chim sa cá lặn, tinh thông cầm nghệ. Vì cha cự tuyệt làm theo mưu kế hiểm độc: “Tự sát để đánh lạc hướng quân Ngô” của Việt vương Câu Tiễn trên sa trường nên toàn gia bị khép tội, Tây Thi cùng Trịnh Đán phải chạy trốn vào rừng sâu. Được Phạm Lãi cứu giúp, cảm mến vẻ kỳ tài và tâm tư tương thông khúc cầm “Thanh phong minh nguyệt” nên cả hai yêu nhau sâu sắc, cùng có những tháng ngày hạnh phúc nơi sơn lâm.
Khi Ngô Vương Phù Sai đánh đến nước Việt để trả mối thù giết cha cũng là lúc Câu Tiễn bái Phạm Lãi làm tướng quốc mong chỉ lối cứu nguy. Một mặt, Phạm Lãi khuyên Câu Tiễn nên đầu hàng Phù Sai để toàn mạng, mặt khác trì hoãn thời gian và dâng mỹ nữ mê hoặc nhằm lung lạc tinh thần của Phù Sai.
Vô tình gặp Tây Thi và Trịnh Đán, Phù Sai đã thầm nhớ thương nên khi biết chuyện, Phạm Lãi đành dâng tặng người yêu cho Ngô vương.
Không muốn phản bội Phạm Lãi và đau lòng vì mình chỉ là tặng phẩm, Tây Thi đã tự vẫn nhưng được Phù Sai cứu sống. Khi Câu Tiễn sang Ngô sống 10 năm lưu vong “nếm mật nằm gai” thì cũng là lúc Tây Thi và Trịnh Đán bắt đầu hành trình bước vào Ngô cung và trải qua thiên tình sử 10 năm cảm động và bi thương với Phù Sai, cùng hồi kết của cuộc chiến Ngô – Việt nổi tiếng dưới thời Xuân Thu chiến quốc.
Phù Sai được cả hai người đẹp nhưng yêu Tây Thi hơn và cho xây một cái đài gọi là Cô Tô đài.
Cô Tô đài được xây trên núi Linh Nham, cách Cô Tô thành khoảng 12km. Núi Linh Nham chỉ cao có 82m nhưng đá núi có hình thù kỳ dị, Tây Thi đi guốc lượn lên đó nghe tiếng "leng keng". Cũng theo sách xưa kể lại, đài Cô Tô xây năm năm mới xong, "cao năm trăm trượng, rộng tám mươi bốn trượng". Sau đó Phù Sai ở riết trong đài Cô Tô với Tây Thi, bỏ bê chính sự, cuối cùng quả nhiên bị Câu Tiễn diệt. Câu Tiễn lên ngôi vua thì Phạm Lãi thấy nên xa lánh triều đình, vì hoạn nạn thì Câu Tiễn chia xẻ nhưng danh lọi thì chưa chắc ! Cuối cùng Phạm Lãi, con người đầy minh triết và nghệ sĩ đó, bỏ đi, cùng Tây Thi "giong chơi ngũ hồ rồi biệt tích".
Về sau Lý Bạch là Bạch Cư Dị đến Linh Nham để sáng tác những bài thơ bất hủ về Tây Thi và mối tình khó kiếm đó. Ngày nay trên núi Linh Nham không còn dấu vết gì của Cô Tô đài cả.