TAI LIEU VIET VE GIA PHA

206 views
Skip to first unread message

toc lequang

unread,
Sep 11, 2011, 1:05:03 AM9/11/11
to lequangtoc
TAI LIEU VIET VE GIA PHA
1. Lớp tập huấn, đào tạo ngành gia phả/
2. Gia Phả.
3. “Phủ Ý” Loại Gia Phả Mới Bắt Đầu Làm Lại.../
4. Gia phả là gì?/
5. Tinh Thần Gia Phả Và Chữ Hiếu/
6. Nghiên cứu khoa học ứng dụng trong ngành gia phả học/
7. Người viết gia phả lớn nhất nước Việt./
8. Gia Phả Tân Biên/
9. Đưa gia phả lên mạng./
10. Khái niệm gia phả mới/
11. Di Ngôn
Lớp tập huấn, đào tạo ngành gia phả

Tập huấn, đào tạo các kiến thức phổ thông và chuyên sâu về ngành gia
phả là quan trọng bởI đây là một chuyên ngành đang được khôi phục, lâu
nay chưa có lớp, khoa đào tạo, nộI dung lạI chứa dựng nhiều điều
chuyên sâu và lạI liên hệ vớI nhiều ngành. Trung tâm gia phả thành phố
lên kế hoạch nầy nhằm:
Tag:

MỤC ĐÍCH YÊU CẦU:
BồI dưỡng, đào tạo ngành gia phả cho mọI ngườI hiểu và tự dựng được bộ
gia phả dòng họ mình.
Từ phổ thông, cơ bản, đến chuyên sâu.
Tự tổ chức hoặc liên kết vớI các nơi để tổ chức.
NỘI DUNG: NộI dung bài giảng, đốI tượng học và tổ chức, triển khai:
1. NộI dung bài giảng: Dân tộc và dòng họ Việt Nam - Dòng họ, gia đình
và gia phả Việt Nam – Lịch sử gia phả Việt Nam – Phương pháp viết phả
ký – Phương pháp viết phả hệ - Cách vẽ phả đồ - Cách viết mgoạI phả -
Vị trí Hán – nôm trong việc dựng phả - Các bài học kinh nghiệm trong
việc dựng phả - Bài thực tập.
Các bài giảng trong 12 tiết, 3 ngày. VớI tài liệu chuẩn bị kỷ.
2. ĐốI tượng: Những ngườI quan tâm đến gia phả, các cán bô ngành văn
hóa, đạI diện các dòng họ…
3. Quản lý lớp: Ông Nguyễn Thanh Bền cùng bà Đoàn Lê Phong, bà Trần
Kim Xuyến lo phụ trách lớp.
BIỆN PHÁP: Ông Nguyễn Thanh Bền, phụ trách việc đào tạo của Trung tâm.
Các thành viên được phân công đứng giảng. MỗI năm cần có mở lơp định
kỳ một hai lần.
Mở lớp cũng là một phương pháp quảng bá gia phả
TRUNG TÂM Gia phả Thành phố Hồ Chí Minh. Giám đốc: Ông VÕ NGỌC AN.
4 Bà Huyện Thanh Quang F.6, Q.3 ĐT: 9305440 0903813094
Ngày đăng: 27/4/2009 5:24:16 PM; Nguồn: Võ Ngọc An
(vietnamgiapha.com)
Gia Phả.

Gia phả không chỉ quan tâm đến nguồn gốc, giỗ Tết, mà nó còn chứa đựng
nhiều nghĩa lý sâu xa, khuyên răn việc thiện, việc nghĩa ở đời, nhờ
vậy mà trong họ giữ được tình hoà hiếu lâu dài.
Tag:

Ở Việt Nam, gia phả giữ một vai trò quan trọng trong gia đình, gia tộc
và ngoài xã hội. Việc làm gia phả của người người xưa nhằm hai mục
đích: trước hết, giúp người ta nhớ ngày giỗ của tổ tiên, ông bà, cha
mẹ. Sau đó, là cho con cháu biết nguồn gốc gia tộc từ đâu đến đâu, họ
hàng trên dưới xa gần ra sao. Nhờ có gia phả mà con cháu các đời sau
mới hiểu ngọn ngành, tông chỉ nhà mình.

Người xưa quan niệm: trong một nhà một họ mà gốc rễ không tường tận,
thì trong con cháu thường xảy ra những chuyện có hại cho gia đạo.

Gia phả không chỉ quan tâm đến nguồn gốc, giỗ Tết, mà nó còn chứa đựng
nhiều nghĩa lý sâu xa, khuyên răn việc thiện, việc nghĩa ở đời, nhờ
vậy mà trong họ giữ được tình hoà hiếu lâu dài. Gia đình là nơi thường
ngày những người cùng chung máu mủ quây quần sum họp. Nhưng trong phạm
vi gia đình, sợi dây thân ái đó chỉ có thể duy trì trong một giới hạn
nhất định rồi tự nó sẽ phai nhạt dần khi những người trong gia đình ấy
bắt đầu phân tán ra nhiều ngành. Số người trong gia đình càng đông thì
con cháu không thể nào biết hết được dòng họ xa gần từ các đời trước.
Do đó, chỉ có cách chép gia phả mới giúp con cháu nhớ hết tất cả mọi
người đã sinh ra trước họ và đã chết trước họ bao nhiêu đời. Bởi vậy,
gia phả là sợi dây liên lạc vô hình nhưng hữu hiệu nhất để cố kết hết
thảy con cháu của một dòng họ lại với nhau. Mối tương quan này không
những chỉ quan hệ đến con cháu ở hiện tại, mà còn quan hệ cả đến tương
lai nữa.

Đi xa hơn, việc chép gia phả còn ảnh hưởng tới cả quốc gia, góp phần
làm phong phú lịch sử nước nhà, bởi lịch sử quốc gia chính là lịch sử
của nhiều gia đình, dòng họ đúc kết lại. Chính những nhân vật có tên
tuổi lưu danh trong sử sách là nhờ vào gia phả của gia đình, họ được
lưu truyền tới các thế hệ mai sau.
Ngày đăng: 23/10/2008 4:15:25 PM; Nguồn: http://www.quehuong.org.vn

Kiến thức >> Gia phả


“Phủ Ý” Loại Gia Phả Mới Bắt Đầu Làm Lại...

Xưa kia, khi thành lập Tộc phả, tiền nhân cũng làm theo cách thăm hỏi
và ghi lại chớ chẳng phải do chính tay thủy tổ một Tộc họ làm ra. Việc
làm chánh thức đã khởi sự từ một hàng con cháu ý thức nào đó để chuyển
tiếp lại cho các thế hệ về sau.
Tag:

Đối với những Tộc họ, gia đình chẳng may bị thất lạc, tiêu hủy Gia
phả, Tộc phả trong thời kỳ chiến tranh muốn làm lại thì sao?

Có trường hợp đặc biệt của một số gia đình được kể sau:

Người trong Tộc họ tìm lại được một tập sách ghi các thế hệ lưu truyền
mà ở bìa không ghi chữ “Tộc phả” hay “Thế phổ” hoặc là “Gia phả”, “Gia
Phổ”, lại thấy đề chữ “Phủ Ý”.

Từ “Phủ Ý” nếu được viết bằng chữ Quốc ngữ ngày nay thì người ta dễ bị
hoang mang. Có trường hợp ghi là “Phú Ý” . Một vài sách viết về phong
tục tập quán biên soạn từ đầu thế kỷ này hoặc là vào khoảng trước thời
kỳ Đệ nhất, Đệ nhị thế chiến, nay được in lạ, có nhắc tới “Tập sách
Gia đình” này cũng in là “Phú Ý”.

“Phú Ý” thường vô nghĩa! Đây là trường hợp bỏ dấu sai chữ Quốc ngữ khi
viết hoặc là “lỗi chính tả” do sắp chữ nơi nhà in sách.

Đúng ra là “Phủ Ý”. Có người quan niệm rằng chữ “Phủ” này do chữ “Phổ”
mà ra, đã được người địa phương nào đó phát âm sai hay đọc trại.

Tuy nhiên, nếu tập sách được viết bằng chữ Hán thì chữ Phủ có nhiều
nghĩa:

1. Tiếng gọi người Cha,

2. Mới vùa,

3. Đông nhiều,

4. Lớn.

Hán văn có cả chục chữ Phủ viết khác nhau với nhiều ý nghiã khác nhau.
Nhưng chữ Phủ dùng với nghĩa “mới vừa” trong “Phủ ý” là hợp lý hơn cả.
Vì là “mới vừa làm ra theo ý người khác”. Bản “Phủ ý” không được coi
như là Tộc phả hay Gia phả. Đây chỉ là bản văn có tính cách “chuẩn bị”
cho việc thiết lập Gia phả hay Tộc phả về sau. Ngày nay, chưa có sự
giải thích rõ ràng về ý nghĩa của bản “Phủ ý”. Ngay như những tài liệu
sách vở xưa của bản Phủ ý trong giai đoạn chuẩn bị thực hiện Gia phả.

Ở đây xin tạm giả thích như sau:

Có thể phân loại ba cấp:

1.Bản Phủ ý, có tính cách tạm thời, trong vòng 5 đời.

2. Gia phả đã thực hiện biên ghi từ 5 đời tới 10 đời.

3. Tộc phả đã có trên 10 đời...

Bản Phủ ý được thực hiện trong tình trạng không có Gia phả hay Gia
phả, Tộc phả bị thất lạc, tiêu hủy... Người muốn làm Gia Phả không
biết phải căn cứ vào đâu để ghi lại đúng hết những dữ kiện thuộc các
thế hệ tiền nhân cũng như không thể nào truy tầm nguồn gốc, quê quán
xuất xứ của Tộc họ.

Vì thế, người biên ghi chỉ có thể thực hiện được bằng cách hỏi lại
những người trên trước còn sống để những người này moi lại trong ký ức
những điều còn nhớ được về tên hiệu, húy, thụy, ngày tháng sinh tử,
cách ăn, nếp ở, ý muốn, tư tưởng, công đức xã hội hy nghề nghiệp chức
vụ phẩm hàm cùng những lời di ngôn, dạy bảo của một số người thuộc thế
hệ trước cận kề.

Thường thì những điều nhớ trong ký ức này cũng chưa hẳn là xác đúng,
đầy đủ cho nên không có giá trị đối với lễ nghi, nhất là các vẫn đề
thuộc về tên tuổi cũng như ngày sinh tử là những dữ kiện cần thiết cho
việc khấn vái trong giỗ kỵ ngày xưa.

Cho nên bản Phủ ý không được coi như hoàn toàn chuẩn xác cho thế hệ
sau noi theo để cúng quẩy.

Tuy nhiên, việc tưởng nhớ, ghi lại là điều cần thiết trong tinh thần
“nhớ ơn Tổ tiên, truy tầm nguồn cội, huyết thống”, nên có còn hơn là
không.

Thường, bàn Phủ ý này chỉ ghi được có 5 đời, do hàng ông, hàng bác,
chú còn sống nhớ lại kể ra. May cho những gia Tộc nào còn tồn tại được
năm đời chung sống với nhau (Ngũ đại đồng đường) thì bản Phủ ý có thể
được ghi nới rộng lên được 7 đời. Đây là kết quả thật hiếm hoi.

Có thể tạm kết luận ý nghĩa của bản Phủ ý là “một bước tiến chuẩn bị
thành lập, mới vừa thành hình theo ý, nhớ của một số người còn sống để
làm nền tảng tiếp nối bước tiến hình thành Gia phả, Tộc phả về sau”.

Do cách làm này, ta cũng có thể suy luận.

Xưa kia, khi thành lập Tộ phả, tiền nhân cũng làm theo cách thăm hỏi
và ghi lại chớ chẳng phải do chính tay thủy tổ một Tộc họ làm ra. Việc
làm chánh thức đã khởi sự từ một hàng con cháu ý thức nào đó để chuyển
tiếp lại cho các thế hệ về sau.

Chính các “Tộc phả” hay “thế phổ” các hoàng triều, tuy có ban Tư văn
hay một bộ phận trong hoàng Tộc như Tôn nhân phủ, chuyên trách ghi
chép, cũng vẫn khởi sự công việc bằng “Phủ ý”. Đây là căn bản lúc đầu
được coi là tạm thời nhưng về sau là nền tảng biên niên cho các nhà
viết sử.

Vậy thì, nay những gia đình nào muốn lập lại Gia phả cũng phải theo
tục lệ và cách làm này. Nghĩa là khởi đầu với bản Phủ ý bằng cách ghi
lại những tiết lộ nhớ được của những người còn sống, làm cách sao có
càng nhiều càng tốt những sự kiện liên quan tới 4 hoặc 5 đời, rồi sau
đó chuyển cho các thế hệ kế tiếp lập thành Gia phả. Việc lập Gia phả
cần phải hết sức cẩn trọng, không nên vội vã. Cần sự thu thập càng
nhiều dữ kiện càng tốt. Làm sao để đừng bỏ sót những chi tiết, nhất là
những chi tiết thuộc các vấn đề gia lễ và gia huấn là những điều cũng
rất thiết yếu cho ngày nay để cải tạo gia phong cho được hoàn mỹ,
chững chạc hơn...

Ngày đăng: 12/8/2008 10:48:34 AM; Nguồn: Gia Phả, Nhà xuất bản văn
hóa dân tộc 2007, tr 166, 168.
................................................................................

Kiến thức >> Gia phả


Gia phả là gì?

“Phả” còn gọi là phổ do nguồn gốc chữ Hán (theo Từ nguyên tự điển
Trung Quốc là bổ, (cũng đọc là Sổ) có nghĩa là “quyển sách hoặc là sổ
biên chép có thứ tự”, (theo sự giải thích của nhà làm tự điển Hán –
Việt Đào Duy Anh). “Phả” còn có nghĩa là ghi chép vào.
Tag:

Một trong những thứ quý báu nhất mà Tổ Tiên thường hay để lại trong
các gia đình vọng tộc, thư hương ngày xưa là Gia phả?

Ngày nay không còn mấy gia đình giữ được vật lưu truyền mang tính
thiêng liêng này, cho nên con cháu về sau có tinh thần và đời sống lạc
lõng. Đa số các bạn trẻ thời mới bây giờ không hiểu phả là gì.

“Phả” còn gọi là phổ do nguồn gốc chữ Hán (theo Từ nguyên tự điển
Trung Quốc là bổ, (cũng đọc là Sổ) có nghĩa là “quyển sách hoặc là sổ
biên chép có thứ tự”, (theo sự giải thích của nhà làm tự điển Hán –
Việt Đào Duy Anh). “Phả” còn có nghĩa là ghi chép vào.

Đọc lịch sử, thí dụ như cuốn “VIỆT NAM SỬ LƯỢC” của Trần Trọng Kim,
người ta thấy có sự lược kê trong phả đồ ghi là “Ghi chép có thứ tự về
các đời của họ Nguyễn”, hay là về “đời các Vua Triều Nguyễn”. Chữ
“Thế” ở đây có nghĩa là “đời”, đời người thường được quan niệm để làm
việc chỉ có ba mươi năm (theo xưa).

Trong thời kỳ văn học nước nhà còn dùng chữ Hán và mọi giao dịch đều
dùng Hán tự, “Thế Phổ” được biên ghi nghiêm chỉnh ở Hoàng gia, Quan
lại và các Gai đình sĩ phu.

Kể từ thời hậu Lê, chữ Nôm dần dần phát triển, đáng kể nhất là từ thời
Nguyễn Tây Sơn, chữ Nôm được áp dụng rộng rãi khắp cả nước, chữ “phả”
đã thay thế chữ “phổ”.

Từ “phả” không phải dùng riêng cho người thứ thế của từng đời mà còn
dùng cho hai trường hợp:

A. Về người và đời thì cuốn sổ (phả) ghi có những loại:

1. Tộc phả hay Thế phổ (ghi về tông tộc)

2. Gia phả (gia sử, chi nhánh họ)

3. Niên phả (cuốn ghi chép các năm)

4. Phả hệ (cũng như gia phả là cuốn sử của gia đình ghi hệ thống từng
đời của gia tộc)

Thông thường, dân gian ta từ xưa quen dùng “gia phả”, tuy nhiên gia
phả cũng có nhiều hình thức khác nhau.

1. Các vua chúa thời xưa không dùng chữ “gia phả” mà dùng “đại danh”
“Ngọc phả”, hay là “Ngọc điệp”.

2. Các làng xã (căn bản hạ tầng của xã hội) xưa dùng chữ “Thần phả”,
hay “Thánh phả” để biên chép cá sự tích của thần thánh.

3. Đối với gia đình đại chúng, đặc biệt là các gia đình có truyền
thống nền nếp gia phong còn dùng chữ “Tông phả”, Miền Nam nước ta xưa
kia còn biến đổi thành “Tông chi”.

B. Về vật, ẩm thực: cuốn sổ kê cứu biên ghi về các loại kể sau cũng
được gọi là phả (vì thực chất “phả” có nghĩa là biên ghi):

1. Chép các món ăn, gọi là Thực phả.

2. Dạy môn đánh cờ, gọi là Kỳ phả.

3. Ghi các âm thanh tiết tấu ca khúc lễ nghi, trình diễn, trưng bày
gọi là Lễ phả.

4. Định rõ ký hiệu, phù hiệu (sáng tạo) cho một ca khúc, gọi là Nhạc
phả, (Ngày nay, ta thường dùng thuật ngữ “phổ nhạc” để nói tới việc
sáng tác, chuyển ghi thơ thành nhạc điệu).

Trong văn học, người ta còn gặp những chữ Phả sử (có nghĩa là ghi chép
những sự kiện nhân vật thể chế, thời đại bên cạnh cuốn lịch sử chính
thức được công nhận), Phả ký (“Đặng gia phải ký tục biên” của Đặng
Ninh Hiên, khoảng năm 1763), Sự tích: (“Mộ Trạch Vũ tộc thế hệ sự
tích”), Thực lục (có tính cách xác nhận là nguồn gốc có thực, như
Trung Hưng thực lục 1676, của Hồ Sĩ Dương, 1621-1681, Đặng Công Chất
1616?, Thiều Sĩ Lâm 1642, Đại Nam thực lục chính biên, của Trương Minh
Giảng, ?-1841…)

Những sách này tuy chỉ đề cập tới lịch sự của một tộc họ, nhưng lại là
tộc họ, gia đình lập quốc. Điều cần lưu ý là riêng cuốn Phan gia thực
lục (1770) của Phan Huy Cần chú trọng thuật ghi lại những dữ kiện của
lịch sử có liên hệ tới gia đình họ Phan Huy.

“Phả” gồm có hai bậc:

- Tộc phả

- Gia phả
Ngày đăng: 11/8/2008 5:18:25 AM; Nguồn: Gia Phả, Nhà xuất bản van
hóa dân tộc 2007, tr 154
...............................................
Tinh Thần Gia Phả Và Chữ Hiếu

Truyền thống gia huấn và sự duy trì, củng cố nền nếp gia phong thêm
phần giá trị. Đây là sự kiện biểu dương một trình độ gia lễ của gia
đình có văn hóa, tri thức và danh vọng.
Tag:

Gia phả về lâu dài, trải qua nhiều đời chia ra phân chi, có thể sau
thời gian trăm năm, trở thành. Tộc phả. Điều này càng đúng đối với Gia
phả mở đầu một chi nhánh họ, chi nhánh ngày càng lớn ra.

Gia phả, phải được hiểu là căn bản của gia lễ và gia huấn trong mọi
gia đình có nền nếp. Gia phả luôn được đem ra áp dụng chớ không phải
để nằm yên một chỗ do cất giữ cẩn thận hay bị lãng quên.

Trong các lễ nghi gia tộc, Gia phả phải được đem ra đọc lại ở những
đoạn, đời thích hợp như:

- Trong hôn lễ, đọc Gia phả ngày nay được coi là nghi thức được cải
biến nhằm mục gây cho đôi lứa vợ chồng lập gia đình mới thấu triệt hệ
thống tôn ti huyết mạch và giữ gìn phong cách sóng của Tộc họ.

- Trong tang lễ, Gia phả được đem ra đọc để nhớ lại những lễ tục
truyền thống riêng biệt của Tộc họ cùng những tập quán cần phải noi
theo.

- Trong việc thờ phụng Tổ tiên, đối với những người còn sống, Gia phả
giúp cho việc đền ơn đáp nghĩa công lao dưỡng dục một cách thích đáng
và nuôi dưỡng lòng hiếu hạnh luôn có ở mọi con cháu. Đối với những
người mãn phần, Gia phả cũng nhắc nhỏ những bổn phận, những việc phải
làm của các con cháu trong việc thờ phụng, giỗ kỵ.

Gia phả luôn giúp cho người đời sau có nhiều kinh nghiệm, nhiều cơ hội
suy nghĩ để làm nhiều điều lành, điều tốt hơn.

Ngoài hôn lễ và tang lễ, Gia phả vì những điều nêu trên còn được đem
ra đọc những đoạn gia huấn, những đoạn nói về gia lễ trong các dịp kể
sau:

- Vào buổi sáng sum họp toàn bộ gia đình trong ngày mồng một Tết
Nguyên Đán. Buổi sáng đầu năm sum họp này là thời gian có ý nghĩa
thiêng liêng nhất đối với tất cả mọi người có ảnh hưởng lớn cho thời
gian sau. Gia phả đem ra đọc sẽ tắng thêm nhiều hạnh phúc.

- Vào những buổi lễ mừng Đại Thọ của các bậc trưởng thượng nhu Khánh
Thọ Lục Tuần, Thất Tuần, Bát Tuần... Gia phả đem ra đọc trong dịp này
sẽ giúp cho mọi người nhận thấy thêm nhiều ý nghĩa trong cuộc sống và
sự lưu truyền huyết thống cũng như sự thịnh vượng của Tộc họ.

- Vào những lễ giỗ kỵ Gia phả được đọc sẽ giúp cho mọi người trong
thân tộc thêm phần cảm xúc, suy nghĩ và ... như được khích lệ với mối
cảm thông giữa người sống và người chết, giữa các thế hệ con cháu với
các bậc tiền nhân.

Truyền thống gia huấn và sự duy trì, củng cố nền nếp gia phong thêm
phần giá trị. Đây là sự kiện biểu dương một trình độ gia lễ của gia
đình có văn hóa, tri thức và danh vọng.

Về các nghi thức gia lễ, mỗi nhà cần có và đọc thêm các cuốn “NỀN NẾP
GIA PHONG”, “GIA LỄ XƯA và NAY” (Tác giả Phạm Côn Sơn). Đây là những
cuốn sách cần thiết bồi dưỡng kiến thức về lòng hiếu thảo, sự ăn ở
xứng đáng của người có văn hóa và cũng để duy trì tập tục “thờ phụng
tổ tiên” ngày càng có ý nghĩa sâu sắc hon, trong đời sống lễ nghĩa của
dân Tộc Việt Nam. Đó là một truyền thống quan trọng bậc nhất của mọi
gia đình trong cộng đồng xã hội tiến bộ về tinh thần ở nước ta.
Ngày đăng: 12/8/2008 10:53:29 AM; Nguồn: Gia Phả, Nhà xuất bản văn
hóa dân tộc 2007, tr 223, 224.
............................................................................................................
Nghiên cứu khoa học ứng dụng trong ngành gia phả học

Đây là đề xuất ban đầu, cần tiếp tục suy nghĩ thấu đáo để bổ sung hoàn
chỉnh.
Tag:

Nghiên cứu khoa học nói chung, cần xác định rõ nộI dung, nguyên tắc và
phương pháp nghiên cứu. Nghiên cứu khoa học về dòng họ và gia phả, nộI
dung đã được đề câp tương đốI cụ thể, nay chỉ cần xác định rõ phương
pháp nghiên cứu, để căn cứ vào đó thực hiện mong mang lại kết quả tốt
nhứt và vị trí ngườI nghiên cứu sẽ được xác lập dần
CẦN XÁC ĐỊNH MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:
• Xác định đúng đắn đề tài nghiên cứu, tổ chức thực hiện với hiệu quả
cụ thể;
• Nổ lục cá nhân, kết hợp tập thể nghiên cứu (tổ, nhóm công tác);
• Trung thực.
YÊU CÂU:
@ Nghiên cứu gia phả trước tiên phảI nghiên cứu về dòng họ; nắm chắc
về dòng họ, quá trình xuất hiên, phát triển con ngườI – dòng họ.
@ Kế tiếp là nghiên cứu về gia phả. Nắm chắc phương pháp dựng phả,
thực hiện hoàn chỉnh bộ phả, trong đó kỷ sự các vị, lịch sử tổ quán,
các đờI, tên tuổI, thứ thế, ngày sanh, ngày mất, các chi…
@ Hiểu một số nộI dung chuyên ngành có liên quan
NỘI DUNG CUA NGHIÊN CỨU:
1. Nghiên cứu rút ra bài học kinh nghiệm và nghiên cứu lý luận, hai
mức độ đan xen, tác động nhau. Trong dòng họ và gia phả học, nộI dung
và mức độ nghiên cứu có những điểm như sau:
• Xây dựng các nhiệm vụ nhận thức về dòng họ và gia phả về lịch sử và
về bản chất hai nộI dung trên.
• Nghiên cứu những phương pháp và trí thức đã có về dóng họ và gia
phả.
• Đưa ra và phân tích lý thuyết những giả thuyết về dòng họ và gia
phả.
• Phân tích và khái quát hóa những kết quả đã nhận thức được về dòng
họ và gia phả.
• Kiểm tra các giả thuyết có được trên cơ sở tổng họp toàn bộ các sự
kiện vè dòng họ và gia phả.
• Xây dựng các lý thuyết và hình thành những qui luật về dòng họ và
gia phả.
• Nghiên cứu những dự báo khoa học về dòng họ và gia phả
2. Nổ lực cá nhân và họp tác trong nhóm công tác:
• Cá nhân tự đăng ký đề tài và Trung tâm phân giao đề tài.
• Tự trang bị kiến thức và Trung tâm bồI dưỡng kiến thức – Lâp tủ sách
gia đình – Tra cứu trên mạng – Liêt kê,trao đổi bất thường va định kỳ
kiên thức “mớ” trong tổ.
• Có bài đăng trên các báo, tạp chí chuyên ngành. Đúng tên xuất bản
sách..
• Chủ trì đề tài hộI nghị, hộI thảo. Sẵn sàng giữ trang về dòng họ và
gia phả trên báo và trên online.
3. Tranh thủ các biện pháp hổ trợ:
• Qua việc chỉ đạo quá trình dựng phả, viết địa chí xã ấp, thực hiện
chương trìng Hán – nôm, viết tiểu sử nhân vật,..Trung tâm Nghiên cứu
và Thực hành Gia phả, thực hiên hướng dẫn việc nghiên cứu nêu trên.
• MờI ông Huỳnh Lứa, chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử, chỉ đạo và góp sức
vào quá trình nghiên cứu.
• Các biện pháp tinh thần vàt chất kích thích việc nghiên cứu: tích
cực động viên, tạo làong tin, giúp tạo sản phẩm cụ thể; tích cực chăm
lo việc vận động tài trợ vật chất cho nghien cứu.
TIÊU CHÍ NGƯỜI THAM GIA VÀO CÔNG VIỆC NGHIÊN CỨU:
Về đạo đức: trung thực, trong sáng, khách quan; yêu, khát vọng xây
dựng sự nghiệp gia phả; trách nhiêm công dân cao. Gắn uy tín của mình
vớI Trung tâm, vớI sản phẩm tạo ra; xây dựng mốI quan hệ đúng đắn vớI
mọI đốI tác; đề cao kỷ luật tự giác.; có tinh thần chia sẻ, cầu thị,
tận tụy và tinh thần làm việc theo nhóm cao.
Về kỷ năng: kiến thức chung, kiến thức văn hóa nền chuyên sâu. Kỷ năng
nghiên cứu, khảo cứu sách vở, kho lưu trử; khả năng lưu giữ cá nhân
tốt; phân tích, tông hợp, phê phán, đề xuất thuần thục. Trong tác
nghiệp, xem trọng việc giao tiếp; tư duy đề tài xác định tính thực
tiển của đề tài. Sử dụng tiếng Việt trong khoa học lịch sử. Đề cao khả
năng tổ chức công việc cá nhân, kế hoạch tỉ mỉ. Kỷ thuật vi tính tốt..
Hoàn thiên: tự hôc tự nghiên cứu là chính, tinh thần khắc phục khó
khân cao.
Về hiệu quả: lấy hiệu quả công việc làm thước đo về đạo điức, kỷ năng
sự phấn đấu từng người.
Ngày đăng: 27/4/2009 5:20:01 PM; Nguồn: Võ Ngọc An
(vietnamgiapha.com)
.......................................................................................


Kiến thức >> Gia phả


Về người viết gia phả lớn nhất nước Việt.

Sinh năm 1919, Dã Lan Nguyễn Đức Dụ đã được giới nghiên cứu gia phả
trong và ngoài nước biết đến như nhà nghiên cứu gạo cội về lĩnh vực
này.
Tag:

Cho đến thời điểm này, mặc dầu ông đã khuất nhiều năm nay nhưng những
công trình biên khảo nghiên cứu
công phu độc đáo của Dã Lan Nguyễn Đức Dụ về gia phả vẫn được coi là
nhà phả trạng lớn nhất Việt Nam!
Đọc cuốn hồi ký của cụ Nguyễn Hiến Lê, số chữ cụ dành cho ông không
nhiều nhưng sao cứ ám mãi vào người đọc hình ảnh một ông già râu tóc
bạc cả, di chuyển trong thành phố rồi đi xa hơn nữa ra mấy tỉnh phụ
cận Sài Gòn mà toàn đạp xe đạp kể cũng kỳ...

Lạ hơn, ông cụ không quản mệt nhọc vì ông đang có niềm vui trong lòng,
niềm vui mà những người khác khó lòng mà có được, hơn cả cái sướng của
những người, những dòng họ được ông gây và tạo cho một cuốn phả!

Cách viết của Dã Lan thật duyên dáng độc đáo ông mô tả phong tục ở
từng nơi từng con người qua các thời đại lịch sử thật khéo và hấp dẫn.

Lúc sinh thời người viết cuốn hồi ký này đã có lần để suốt cả một tuần
lễ đọc đi đọc lại văn của Dã Lan và tập viết theo kiểu Dã Lan nhưng
đành chịu thua lối viết giản dị trong sáng mà chững chạc mà không biền
ngẫu của Dã Lan!

Nơi chôn nhau cắt rốn của ông không phải phương Nam mà là miền Bắc.
Làng Thượng Cốc, huyện Gia Lộc, Hải Dương. Cha là cựu công chức thời
Pháp. Mẹ họ Bùi quê ở Phương Điếm cùng huyện.

Ông là lớp hậu sinh, gần như thế hệ chót của những người đi mở đất vào
Nam làm ăn đầu những năm năm mươi. Như một thứ tiềm thức lặn bám vào
ông dai dẳng, thứ tiềm thức ấy bắt đầu cựa quậy trước sự thật xứ Nam
này việc làm phả quả là còi cọc.Liên miên tao loạn. Trập trùng không
dứt chuyện nhà tan cửa nát...
Chuyện người ta sao nhãng việc làm phả lập phả cũng là điều dễ hiểu.
Ông bàng hoàng. Nhưng ông không hoảng hốt...

Ông rời cái chân thủ thư thư viện trường Đại học Kiến trúc Sài Gòn để
chuyên tâm với việc làm phả lập phả. Đó là những năm đầu sáu mươi.
Hàng chục rồi hàng trăm gia đình dòng họ được ông bỏ công sức lập
phả...
Họ mừng nhưng nỗi mừng ấy ở ông lớn hơn. Niềm vui thường tìm thấy ở
những tấm lòng tận tụy dâng hiến... Ông từng viết như thế này khuyến
người và hình như cũng cổ vũ cho chính mình nữa: Nôm na gọi có mấy
lời/ Nhắn ai nòi Việt ngàn đời đừng quên/ Chữ rằng “Mộc hữu bản, thủy
hữu nguyên’’/ Người mà bỏ gốc sao nên thân người...

Nhưng như vậy thì chả có chi đáng nói. Bất quá là ngợi khen một con
người hằng tâm mặc dầu ông không hằng sản. Ông phải chịu cực rất
nhiều, gia đình trở nên túng thiếu từ cái đận bỏ việc đi lập phả cho
thiên hạ.
Gia phả ở nước ta đã có từ lâu, ý nghĩa và lợi ích của việc làm phả
thì thiên hạ đã rõ. Nhưng cái gì là đặc điểm của gia phả Việt Nam? Xây
dựng một cuốn gia phả như thế nào cho khoa học và thiết thực?

Ông từng bộc bạch: lối chép sử ta thường dập khuôn theo lối chép biên
sử của Trung Quốc cũng có khi những việc ấy chưa từng nghe ai nhắc
tới. Một lẽ nữa các sử gia nói chung cũng ít quan tâm đến gia phả các
dòng tộc, ngoại trừ tông phả tộc phả của các triều đại phong kiến.

Ngoài ra tìm hiểu lai lịch cội nguồn có tên tuổi qua gia phả ta mới
thấy rõ sự cống hiến vô bờ bến của dòng tộc ấy.

Vốn tiếng Pháp, tiếng Anh và chữ Hán khá điêu luyện, đã khiến ông
bừng tỉnh ra nhiều điều khi nhìn ra xa hơn... Ông dõi ra xứ Bắc, chiêm
nghiệm lịch sử sâu hơn qua những thư viện Sài thành bấy giờ không
thiếu những kho sách tầy tặn nghiêm chỉnh.

Ông tham khảo dõi theo việc làm phả ở xứ Trung Hoa từ cổ đến kim. Rồi
ở bên Tây phương, Âu châu như Anh, Pháp, Mỹ, La Mã... Có gia phả không
và người ta làm phả như thế nào. Rồi ấn Độ và Nhật Bản cái sự làm phả
ra làm sao? vv...và vv...

Qua tư liệu và việc trao đổi thư từ với những nhà làm phả nổi tiếng ở
Pháp, Mỹ... (thời đó mà có sự giao lưu như vậy kể cũng đáng nể) trên
cơ sở nguồn lẫn nền tư liệu sẵn có và đặc thù của gia phả Việt, ông đã
làm cái việc “ nối mạng’’ đặt gia phả Việt Nam vào cái nền chung của
gia phả thế giới.

Ông đã cho công bố công trình “Gia phả, khảo luận và thực hành”. Mặc
dù lần xuất bản đầu tiên bằng Việt ngữ năm 1972 ( chưa phải những lần
sau được nước ngoài tái bản.

Và sau năm 1975 chính thể mới đã ba lần tái bản tác phẩm tày tặn công
phu về tư liệu chắc rõ nghiêm cẩn về kiến giải này) nhưng công trình
của Dã Lan Nguyễn Đức Dụ ngay lập tức có tiếng vang xa “Lần đầu trong
lịch sử gia phả Việt Nam gặp gia phả quốc tế.

Riêng nước Mỹ đã cử ngay một phái đoàn giáo sư đại học tới Việt Nam
xin gặp cụ Dã Lan sau khi tác phẩm của cụ được Viện Đại học Brigham
Young nhìn nhận là một tài liệu rất hữu ích.

Cho tới nay cụ Dã Lan vẫn nhất định từ chối mọi sự tài trợ của ngoại
quốc và vẫn mong sẽ được sự giúp đỡ của người Việt Nam để xuất bản tác
phẩm của cụ hầu phổ biến một ngành nghiên cứu văn hóa dân tộc cổ
truyền vẫn được nhiều quốc gia xem là một khoa học (Chính Luận, chủ
nhật 24/7/1972).

Bao năm rồi mà giới nghiên cứu vẫn phải lật lại những chương của cuốn
sách như Nguồn gốc ngành gia phả Á Châu/ Ngành gia phả học Âu Châu/ So
sánh và phân tách quan niệm của Đông và Tây trong việc lập phả/ Vấn đề
gia phả ở miền Nam/ Sự chuyển mình của gia phả Việt Nam/ Những nét đặc
thù của vài cuốn gia phả cũ và mới/ Tình hình gia phả ở miền Bắc/Cách
thức lập một cuốn phả mới vv... và vv...

Riêng công trình này của Dã Lan đã đoạt giải văn học nghệ thuật của
chính quyền cũ về bộ môn gia phả. 29 cơ sở văn hóa nước ngoài có lưu
trữ một số công trình nghiên cứu của Dã Lan đặc biệt là cuốn Gia phả
khảo luận thực hành. Cái tên Dã Lan Nguyễn Đức Dụ đã được đưa vào cuốn
Nhân vật Việt năm 1973 và cuốn Who’s who in Vietnam 1974.

Quả là những cuốn sách không phải đọc một lúc đọc một thời như cuốn
của Dã lan Nguyễn Đức Dụ bây giờ đang trở nên thưa vắng hiếm hoi. Ta
hãy cùng chia sẻ thưởng lãm với những nhận xét “Nghiên cứu cẩn trọng
bút pháp có vẻ sử gia nhưng lại diễn tả với bút pháp văn chương nên
những tác phẩm của Dã Lan có phong cách riêng khác với những cuốn gia
phả cổ truyền.

Dã Lan Nguyễn Đức Dụ đã kế thừa truyền thống lâu đời về gia phả đã tồn
tại ở Việt Nam hơn một ngàn năm mà còn chỉnh lý và tổng kết lại kiến
thức về môn học này so sánh với những phương pháp nghiên cứu của
phuơng Tây lý luận hóa và phong phú thêm phần di sản quý báu của dân
tộc Việt Nam.

Là một phụ nữ, tôi thích phương pháp nghiên cứu và quan điểm của nhà
khoa học này không ép buộc gò bó trong lề lối cũ mà trái lại được xây
dựng thêm một quan điểm mới nghĩa là thêm ngành ngoại tức là thêm đàn
bà con gái!”

Đó là nhận xét của Litana tức Lý Bảo Thạch, tác giả luận án tiến sĩ về
lịch sử Đàng Trong thời chúa Nguyễn. Hiện bà giảng dạy khoa lịch sử và
chính trị Trường đại học Quốc gia úc (Universite of Wollongong
Australia)
“Từ xa xưa nước ta đã có gia phả nhưng nghiên cứu, gia phả Việt Nam và
hướng dẫn cách viết, cách xây dựng cuốn gia phả như thế nào ở nước ta
thì chưa thấy ai viết thành sách.

Sau nhiều năm say mê nghiên cứu ông Dã Lan Nguyễn Đức Dụ đã thực sự
trở thành chuyên gia số một ở nước ta về gia phả học. Công trình gia
phả khảo luận và thực hành là một tác phẩm có giá trị khoa học và thực
hành cao’’ (cố giáo sư Thái Ninh)

“Gần cả đời mình để chuyên tâm miệt mài cho việc sưu tầm biên soạn gia
phả các dòng họ ở Việt Nam. Công việc xứng đáng được gọi là vấn tổ tầm
tông cho tiền đồ của dân tộc. Thật vậy cho đến nay có lẽ cũng mới chỉ
có cụ Dã Lan Nguyễn Đức Dụ dành hàng chục năm trời cho sự nghiệp gia
phả học Việt Nam” (Á Nam Trần Tuấn Khải”

... Tôi đã có nhiều buổi ngồi với GSTS Hoàng Lê, người đã có hàng chục
công trình nghiên cứu về cổ văn nổi tiếng. Chính những công trình của
nhà nghiên cứu Hoàng Lê đã khiến ông gần gụi với Dã Lan Nguyễn Đức Dụ
trong nhiều năm mặc dầu kẻ Nam người Bắc.

Mặc dù địa hạt nghiên cứu của TS không phải là gia phả nhưng có lẽ vì
liên tài. Công phu, cẩn trọng... nhà nghiên cứu nào mà lại không có
phẩm chất đó nhưng TS Hoàng Lê cho hay vượt lên sự công phu, cẩn trọng
ấy Dã Lan Nguyễn Đức Dụ còn có một tố chất nữa mà không phải nhà
nghiên cứu nào cũng có là uyên bác là thông minh.

Khả năng phân tích tổng hợp khái quát của Dã Lan đã khiến ông không
chìm lút trong bể học nói chung cũng như khối tài liệu nói riêng. Cuốn
Gia phả khảo luận thực hành, Dã Lan Nguyễn Đức Dụ đã tham khảo trên 70
đầu sách Việt và nước ngoài.

Đó là chưa kể những lần tái bản sau này ông còn tham khảo thêm mấy
chục đầu sách nữa.

Nội việc nghiên cứu kỹ càng công phu gia phả của các dòng họ nổi tiếng
như Ngô Vương, Đinh Tiên Hoàng, Nguyễn Kim, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du,
Nguyễn Xí, Đào Tấn, Vũ Hồn, Mạc Thị, Phạm Ngũ Lão, Phạm Sư Mạnh, Trịnh
Kiểm, Nghè Tân, Vọng Sơn Niên phổ, Dương Khuê, Bùi Viện, Trần Trọng
Kim, Quang Trung, Hồ Xuân Hương, Vũ Phạm Hàm, Nguyễn Thượng Hiền, Chu
Mạnh Trinh, Nguyễn Sinh Huy, Nguyễn Khuyến, Lương Văn Can v.v... đã là
sự công phu lẫn vượt thoát rất lớn.

Cuốn Dõi tìm tông tích người xưa (tập I) số sách mà Dã Lan Nguyễn Đức
Dụ tham khảo đã lên 126 cuốn! TS Hoàng Lê cũng cho biết cụ Dã Lan cũng
đã định ra ngoài Bắc một thời gian hoặc thường xuyên ngõ hầu đáp ứng
nhu cầu của nhiều cơ quan nghiên cứu là để cụ giúp cho việc xây dựng
ngành gia phả học ở ngoài này.
Nhưng do nhiều nguyên nhân trong đó có việc cụ cuối đời vẫn dong xe
đạp khắp Sài Gòn như thế một bận bị ngã gẫy chân.Thế rồi liệt không đi
lại được mấy năm sau thì mất! TS Hoàng Lê cứ chép miệng than tiếc mãi
không thôi rằng có lẽ vì thế nên ngành gia phả học nước mình nói chung
hiện giờ vẫn cứ èo uột so với cái mốc từ khi có cụ Dã Lan đến nay hầu
như vẫn dẫm chân tại chỗ! TS Hoàng Lê cũng than phiền thêm không rõ
cuốn Dõi tìm tông tích người xưa ( tập II) và cuốn Lược khảo phổ trạng
các nhà văn rất có giá trị mà đến nay không hiểu vì lý do gì vẫn chưa
ra được?

Tôi bàng hoàng đọc lá thư viết tay của cụ Dã Lan gửi cho TS Hoàng Lê
trước khi cụ mất không lâu là cái việc cụ nhờ TS hỏi giùm cụ nhà xuất
bản nọ là tại sao sách ra muộn vậy!

Kèm theo là bài thơ của cụ Đào Tử Nghi, chắt đích tôn cụ Đào Tấn tặng
Dã Lan Nguyễn Đức Dụ: Ôi ngọn gió nào đưa hương thảo dã/ Ngỡ là tiên
hóa ra lan/ Từ nơi sơn dã mà vương giả/ Lạc chốn lầm than chẳng thở
than!

Thanh Minh năm Tuất
Xuân Ba

Ngày đăng: 23/10/2008 4:33:37 PM; Nguồn:
http://www.tienphongonline.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=46932&ChannelID=13
..........................................


Kiến thức >> Gia phả


Gia Phả Tân Biên

Gia phả Tân biên theo thể thức mới về các thập niên sau này đã sắp xếp
thế thứ của từng đời theo diễn tiến phát sinh của những con số, thậm
chí, dùng cả mã số để chỉ rõ đời một người trong tông Tộc như thế nào.
Đây cũng là một hình thức của khoa học thống kê.
Tag:

Gia phả xưa viết bằng chữ Hán, chữ Nôm đã dùng những từ riêng để chỉ
thế thứ của từng đời như Cao Tổ, Tằng Tổ, Viên Tổ khảo, Tổ Khảo, Viên
Tổ Tỷ, v.v... mà ngày nay ít ai còn hiểu rõ.

Gia phả Tân biên theo thể thức mới về các thập niên sau này đã sắp xếp
thế thứ của từng đời theo diễn tiến phát sinh của những con số, thậm
chí, dùng cả mã số để chỉ rõ đời một người trong tông Tộc như thế nào.
Đây cũng là một hình thức của khoa học thống kê.

Cách bố cục của Gia phả xưa thường do theo trí năng, ghi lại những gì
còn nhớ được, không theo một quy cách nào. Gia phả ngày nay, sắp xếp
những dữ kiện xưa lại có hệ thống hơn Gia phả ngày nay càn theo nguyên
tắc chung với phương pháp dung hợp ứng dụng để thực hiện một tác phẩm
đầy đủ.

Gia phả gồm có các phần mục kể sau:

I. Phần I: 1. Dẫn nhập (Lời mở đầu của người lập phả, cũng có thể là
“huấn lệnh” của Tộc trưởng).

2. Biên ghi truyền thuyết Tổ tông (nếu có) và diễn tiến của những
chuyển đổi thiên cư...

3. Kế truyền xuống (descendance) của Tông chi tức là Tộc hệ. Phần này
chép tên tuổi, thân thế tóm lược, kèm theo hình từng người và phả đồ
của từng đời (nếu có lập ra một chi họ riêng).

4. Ghi thêm những đoạn tiểu dẫn, biến cố thời cuộc, bản đồ nơi phần
mộ, hình chụp một phần, nhà thờ hoặc thêm bản đồ vị trí nơi định cư
phát triển chi nhánh họ.

II. Phần Phụ Lục: 1. Việc giỗ kỵ hàng năm (ghi rõ sử dụng tiền giỗ
quẩy như thế nào: Con cháu góp lại, hay là người thừa tự dùng của
hương hỏa v.v ...

2. Nói rõ về Nhà thờ, phần mộ và cách sử dụng của hương hỏa, có hay
không mua hậu (xem GIA LỄ XƯA VÀ NAY).

3. Kỵ điền: Ruộng, vườn sinh lợi dùng làm giỗ như thế nào, ở đâu? Bản
đồ vị trí và những chi tiết khai thác (cho mướn lấy tiền hay cho con
cháu trồng trọt nộp hoa lợi cho Nhà thờ...)

4. Các giỗ chính trong năm.

5. Các bài văn khấn (tham khảo GIA LỄ XƯA VÀ NAY).

III. Phụ Biên: Thống kê danh mục tác phẩm văn học, tài sản cơ nghiệp
(cách thức sử dụng điều hành các loại tài sản này).

Đời người, ở phần này có thêm công nghiệp và ảnh hưởng thế nào đến
phong tục tập quán, làng mạc.

Dư luận người đời, báo chí, sách vở đã nhận định, viết về người ấy như
thế nào (trích dẫn, ảnh chụp các tư liệu có liên hệ)...

Cách biên ghi theo từng đời có thể thêm những chi tiết kể sau:

1. Tên bao gồm tên Húy (tên trong khai sinh) cùng các tên Tự, Hiệu,
Thụy. Có thể kèm thêm tên tiếng nước ngoài hay chữ Hán các tên nêu
trên nếu muốn.

2. Thế thứ, đẳng cấp Tộc họ, các đời trước, nếu căn cứ theo người lập
phả thì dùng chữ Hán như Cao Tổ, Tằng Tổ Khảo v.v... hoặc theo cách
xưng hô đại chúng như Kỵ Nội, Cụ Nội, Ông Nội v.v... Nhưng muốn dễ
hiểu hơn và tránh sự sắp xếp lại như thứ bậc về đời các ông của các
đời sau thì sắp xếp từng đời theo diễn tiens của con số. Ông Tổ khai
sáng Tông tộc thì để chức vị là Sơ Tổ hay Tiên Tổ, kế tiếp xuống là
đời 1, đời 2, đời 3, viết tắt là Đ.1, Đ.2, Đ.3...

Kèm theo tên là ngày sinh, năm sinh theo Âm lịch và Dương lịch. Âm
lịch xưa còn theo niên đại của Triều đình.

3. Cách dùng mã số: Mỗi dời và mỗi người có một mã số riêng, được sắp
xếp theo thế thứ của từng đời liên hệ: thí dụ 13112321.

Giải thích từng con số, tính từ trái qua phải thì:
Số 1 là con số chỉ con trưởng của vị Sơ tổ. (Đời 1)
3 là con thứ ba của đời 1 (Đời 2)
1 là con trưởng của đời 2 (Đời 3)
1 là con trưởng của đời 3 (Đời 4)
2 là con thứ nhì của đời 4 (Đời 5)
3 là con thứ ba của đời 5 (Đời 6)
2 là con thứ nhì của đời 6 (Đời 7)
1 là con trưởng của đời 7 (Đời 8)

Đây là cách ghi mã số trước tên để chỉ rõ vịt rí trong Tông chi, mà họ
Dương đã áp dụng trong “Dương tộc Thế Phả” gốc làng Lạt Sơn (tỉnh ?).

Ngày đăng: 12/8/2008 10:25:58 AM; Nguồn: Gia Phả, Nhà xuất bản văn
hóa dân tộc 2007, tr 164, 166.
............................................................


.

.

LUUQUANGBINH

Theo tôi,đã nghiên cứu,tham khảo nhiều tài liệu về gia phả về cách
xưng hô với các bậc tiền nhân có nhiều điểm khó xác định thứ bậc,nếu
không nhìn vào phả đồ. Khi lập tộc phả hiện nay,nên ghi trước danh vị
thành viên một số thứ tự theo vị thứ trên của bao nhiêu thành viên có
trong đời đó và nếu cần ghi thêm chi tiết cụ thể hơn là con thứ mấy
trên bao nhiêu người con của cha,để khi chỉ đọc tộc phả,mọi người có
thể hiểu ngay cấp bậc và vị trí của thành viên đó trong gia tộc.Ví
dụ : ghi như sau Đời thứ 5: 2/40 Nguyễn x (Con 3/4 Nguyễn A)(có nghĩa
Nguyễn x là thành viên nam thứ 2 trên tổng số 40 thành viên nam có của
Đời thứ 5 (và là con trai thứ 3 trên tổng số 4 người con trai của
Nguyễn A)Chỉ áp dụng ghi số các "đinh"(nam giới)của tộc nội mà thôi.
Tôi đã lập tộc phả cho dòng họ Lưu Quang (Nam Xá,Nam Trực,Nam
Định)theo cách như trên,thấy rất rõ ràng các vai vế của các thành viên
trong gia tộc,rất chính xác,tránh nhầm lẫn từ thành viên đời này qua
thành viên ở đời khác hoặc con của ông này nhầm qua con của ông
khác,nhất là khi có sự trùng lặp tên tuổi với nhau. Với cách ghi chú
như trên,mỗi khi cần tra cứu,đọc đến thành viên nào thì chúng ta sẽ
biết rất chuẩn xác và nhanh chóng hơn. Tôi xin phổ biến để các
bạn,tham khảo nếu thấy hợp lý và hay thì áp dụng lập gia phả cho tộc
họ của mình.Và cũng xin thêm ý kiến của quý vị nào,có những cách ghi
khác phân cấp rõ ràng hơn,để chúng ta tham khảo, học hỏi thêm và nếu
thấy phương pháp của quý vị hay hơn thì sẽ tiếp thu áp dụng. /.

Đưa gia phả lên mạng.
Không như việc xây mới một nhà từ đường, tu sửa lại khu mộ tổ, hay như
bất cứ một động tác "phú quý sinh lễ nghĩa" nào, đưa gia phả lên mạng
là một bước đi phù hợp với thời đại.
Tag:
Chuyện những cuốn gia phả cũ

Trên 100 cuốn gia phả từ cũ đến mới trải dài từ thế kỷ 16 đến thế kỷ
20 với sự góp mặt của đông đảo các dòng họ, chi họ ở cả ba miền Bắc -
Trung - Nam, gần 20 panô tham gia trưng bày chuyên đề, hơn 60 bài tham
luận hội thảo. Bấy nhiêu trước hết là cố gắng của Bảo tàng Dân tộc
học, phối hợp với Viện Nghiên cứu Hán - Nôm và CLB UNESCO. Nhưng sâu
xa của câu chuyện giữ phả, là cả một quá trình dài bất chấp bom đạn,
thời gian của những người giữ phả mà ý nghĩa của nó, nói như nhà "gia
phả học" Dã Lan Nguyễn Đức Dụ: "Nếu như sử là gốc của một nước thì phả
chính là gốc của một nhà".

Một vài gia phả sớm nhất ở ta hiện còn giữ được từ thế kỷ 16-17 nhưng
phần lớn là được lập từ thế kỷ 18-19 hay đầu thế kỷ 20. Những mối liên
hệ về dòng tộc sau 5-7 đời thường hay bị quên lãng hoặc đứt quãng nên
về sau, nhiều dòng họ có kinh nghiệm và ý thức ghi chép và truyền giữ
gia phả liền hơi từ đời này sang đời khác.
Chuyện kể từ Hải Lăng - Quảng Trị: Phả được cuộn lại, cất trong một
ống quyển dài tới tận 70cm, to bằng cái phích nước, treo cạnh bàn thờ
họ. Điều đáng nói là luôn luôn, cái "ống quyển" đặc biệt đó được treo
một cách lỏng lẻo nhất để đề phòng bất kỳ lúc nào có sự cố cũng có thể
kịp gỡ ra mang đi ngay. Lặn lội đưa cái "ống quyển gia bảo" ấy từ
Quảng Trị ra Hà Nội để tham dự cuộc trưng bày, những người giữ phả ấy
kể: ề chỗ bọn tui, khi cháy nhà, việc đầu tiên người ta chưa lo cứu đồ
đoàn, tiền bạc mà lo trước nhất là cứu cái ống quyển này. Cả khi bom
đạn, tản cư cũng thế...

Cẩn thận hơn, họ Lê ở Nghệ An còn cho chép gia phả làm 6 bản. Sự cẩn
trọng quả không thừa: Sau 60, 70 năm, nay chỉ còn lại một bản. Nhiều
dòng họ, hễ khi có biến động, lại đem cất gia phả vào chum, chôn xuống
đất.

Gia phả họ một dòng người Tày ở bản Giạ (Xuân Nam, Văn Quan, Lạng Sơn)
do ông Hà Đức Thận viết năm 1714 có ghi ông tổ vốn người huyện Thanh
Oai, theo Lê Lợi khởi nghĩa lập nhiều công lớn rồi được phong đô đốc,
về trấn thủ ải Nam Quan. Hàng trăm gia đình người Tày này hiện đang
sống tại Văn Quan. Lần theo chỉ dẫn của gia phả, họ đã tìm thấy mộ tổ
và những người cùng dòng máu xa xưa tại xã Cao Viên, Thanh Oai, Hà
Tây.

Cuốn phả hệ bằng vải đồ sộ dài 5,7m, rộng hơn 2m của họ Đàm ở Hà Nội
cho hay: Nhiều người Tày hiện nay ở Cao Bằng lại là vốn gốc họ Đàm ở
Hải Dương. Trong đó, có Thượng tướng Đàm Quang Trung. Cũng nhờ việc
tra cứu, chắp nối gia phả dòng họ bằng những cuốn gia phả vượt thời
gian này mà nhiều dòng họ ngày nay đã tìm được về với cội nguồn sâu
rộng của mình. Họ Mạc trải qua hàng thế kỷ phân ly phải thay tên đổi
họ, nay đã tập hợp được hơn 300 chi họ từ những người mang tên họ khác
nhau như: Bùi, Hoàng, Trần, Phan, Phạm, Nguyễn, Vũ... Chính vậy mới có
chuyện, có nhiều người họ Lều ở Thanh Trì - Hà Nội ngày nay lại thờ tổ
tiên là cụ Mạc Đĩnh Chi...

Khái niệm gia phả mới

"Đang hình thành một lớp người già về hưu có học thức cao và càng có ý
thức cao hơn trong câu chuyện giữ phả ở nước mình - PGS-TS Nguyễn Văn
Huy - Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học - nói, đó chính là một trong những
mảnh đất tốt cho chúng ta gieo truyền thống vào hiện đại, nói với lớp
trẻ ngày nay bằng những lời gan ruột, "có sách, có chứng". Nhưng vấn
đề mới ở đây cách lập mới hay viết tiếp một cuốn gia phả ngày nay nên
như thế nào. Không ít người cho rằng gia phả là phải lưu trên giấy,
trên gỗ, trên đá, trên lụa.. thì mới gây cho con cháu đời sau cảm giác
linh thiêng mỗi khi tìm về lần giở. Tôi không cho sự linh thiêng của
gia phả là nằm ở trong chất liệu chuyển tải nó mà phải là cái tinh tuý
trong lời văn của nó".

Lấy sự khuyến học làm đầu, gia phả họ Nguyễn, 1904, ở Lai Xá, Hoài
Đức, Hà Tây dặn: "Điều trọng yếu là con cháu phải lấy hiếu lễ làm đầu,
không thể nào quên điều đó. Số 300 bát thóc, trừ phần bán đi nộp thuế,
phần còn lại được bao nhiêu, mua khăn, nón, áo quần thưởng cho con
cháu theo học...". Cũng trong cuốn gia phả này, ngay từ năm 1904,
người ta đã thấy những lời răn dạy con cháu không được hút thuốc phiện
hết sức thấm lý thấm tình: "Nếu con cháu nào cố ý mắc phải, ai trông
thấy có bàn đèn, thì họ ta phạt tội, đuổi ra ngoài họ, không cho vào
nhà thờ và không được dự hưởng vào các khoản: Ruộng học, ruộng giỗ...
Nếu biết hối tâm nghĩ lại, mà hối cải sửa bỏ, thì phải sửa trầu cau
đến lạy tổ tiên, cảm ơn anh em và toàn tộc họ. Tộc họ sẽ thể tình mà
thứ lỗi cho...".

Ông Nguyễn Văn Huy nói thêm: "Phải bảo tồn những gia phả cũ, không chỉ
với tư cách là gia bảo của một dòng họ mà còn là tài sản tinh thần của
một đất nước. Nhưng đồng thời, cũng cần có những gia phả mới, với nội
dung và hình thức thể hiện mới. Trong đó, không thể và không nên bỏ
qua sự tiện lợi của máy tính và mạng trong việc lập những cây phả hệ
một cách nhanh nhất, chính xác, rõ ràng và có thể truyền đi rộng rãi,
bảo quản được một cách tốt nhất, lâu nhất. Trong xu hướng và trào lưu
về nguồn rộng rãi hiện nay, theo tôi, đó là một cách tốt nhất cho lớp
trẻ bây giờ".


Thủy Lê

Ngày đăng: 23/10/2008 4:19:38 PM; Nguồn:
http://www.laodong.com.vn/pls/bld/display$.htnoidung(40,4551)
.....................................................................

Di Ngôn

Ta không tu hành theo bất cứ tín ngưỡng tôn giáo nào. Ta tu tâm dưỡng
tánh. Ta tôn thờ ông bà, cha mẹ vừ do đó luôn kính trọng Tổ tiên nguồn
gốc. ta muốn gây ảnh hưởng này tới tất cả con cháu.
Tag:

Gia phả ngày nay, vì lý do cần ích cho giáo dục gia đình, rất cần có
phần di ngôn của các bậc tiên nhân. Nếu nhà nào có những “lời để lại”
này của các bậc ông cha thì nê chú trọng để vào Gia phả, chỗ thích hợp
nhất, có thể kế tiếp theo đoạn nói về “Thân thế, sự nghiệp”.

Thực hiện bằng một trong những cách thức kể sau:

1. Nếu di bút viết bằng chữ Hán Nôm thì diễn dịch, viết lại bằng quốc
ngữ ngày nay.

2. Nếu bằng quốc ngữ thì nên giữ lại thủ bút (Chữ viết bằng chính tay
người ấy) với một trong hai trường hợp:

a. Cắt “bài viết” (lời để lại) từ tập vở nguyên gốc hay là tờ giấy
xưa, dán lại trong cuốn Gia phả.

b. Làm bản chụp sao y (photocopy) dán vào Gia phả để làm mới hơn (giữ
được lâu hơn tờ giấy cũ ngày xưa).

Ảnh hưởng của “Di Ngôn” đối với các thế hệ sau rất sâu xa. Các con
cháu không những nghĩ ngợi về cung cách ăn ở của đời ông, đời cha mà
còn suy định tới tương lại đời sống của chính mình.

Sau đâu là một đoạn trích trong “Di Ngôn” của một cuốn Gia phả được
coi là thí dụ điển hình:

“Ta đang hồi bình tĩnh. Tâm hôn thanh thản. Cơn đau bệnh ở thể xác
không làm ta bói rối. Trong vũ trụ này, cái gì mở đầu rồi thì có lúc
kết thúc. Mọi sự sống có sinh là phải có tử. Ở ta cũng vậy.

Ta không để gì mấy lại cho các con cháu. Vật chất cũng như tinh thần.
Đó là định mạng. Nhưng ta tin rằng sẽ để lại cho con cháu một điều
hiểu biết, kinh nghiệm trong cuộc sống ở cõi đời này.

Ta thấy rằng cõi đời này rất đáng sống. Tiếc rằng ta không được sống
lâu nữa. Đáng sống vì có nhiều điều kiện hữu ích cho ta tu làm người.
Ta không tu hành theo bất cứ tín ngưỡng tôn giáo nào. Ta tu tâm dưỡng
tánh. Ta tôn thờ ông bà, cha mẹ vừ do đó luôn kính trọng Tổ tiên nguồn
gốc. ta muốn gây ảnh hưởng này tới tất cả con cháu.

Nên nhớ rằng, không có nguồn gốc Tổ tiên, không có ông bà, cha mẹ thì
không có ta. Vì đó nên luôn phụng dưỡng người sống cúng quẩy người
chết.

Vì thế, ta cảm thấy được hạnh phúc, luôn thư thái trong cuộc sống này.
Muốn được luôn an tâm, ta nên bằng lòng với cảnh ngộ, không làm bất cứ
gì xấu cho bất cứ ai. Sống đời nhẫn nhục và khiêm cung. Rộng lượng với
mọi lỗi lầm của kẻ khác. Tha thứ không cố chấp với người gây đau khổ,
thiệt hại ch mình. Làm cho mọi người chung quanh mình được hài lòng và
đem lại cho tất cả những ai đang sống cùng thời những niềm vui, tin
tưởng.

Tất cả là kinh nghiệm đời của ta, để lại cho con cháu. Đó là bài học
suốt cả đời người. Bài học đem lại bình an cho tâm hồn mình và hạnh
phúc toàn mãn trong cuộc sống”.

Ngày đăng: 12/8/2008 10:19:24 AM; Nguồn: Gia Phả, Nhà xuất bản văn
hóa dân tộc 2007, tr 224, 225.

Reply all
Reply to author
Forward
0 new messages